
Trọng tâm tam giác là giao điểm của ba đường trung tuyến, thường ký hiệu là G. Trọng tâm nằm trên mỗi trung tuyến và cách đỉnh một đoạn bằng 2/3 độ dài trung tuyến đó. Với trung tuyến AM thì AG = 2/3 AM và GM = 1/3 AM, tức AG = 2GM. Trong mặt phẳng tọa độ, tọa độ của G là trung bình cộng tọa độ ba đỉnh: xG = (xA + xB + xC)/3 và yG = (yA + yB + yC)/3.
Tóm tắt nhanh:
Trước hết cần biết đường trung tuyến. Đường trung tuyến của tam giác là đoạn thẳng nối một đỉnh với trung điểm của cạnh đối diện. Mỗi tam giác có ba đường trung tuyến. Trong tam giác ABC, gọi M, N, P lần lượt là trung điểm của BC, CA, AB. Khi đó AM, BN, CP là ba trung tuyến.
Ba đường trung tuyến của một tam giác luôn cùng đi qua một điểm, tức là đồng quy. Điểm chung đó gọi là trọng tâm của tam giác, ký hiệu G.

G nằm trên đoạn trung tuyến AM. Đoạn AM nối đỉnh A với một điểm trên cạnh BC nên nằm trọn trong tam giác. Vì vậy trọng tâm luôn nằm bên trong tam giác, dù tam giác nhọn, vuông hay tù.
Tên gọi “trọng tâm” có ý nghĩa vật lý. Cắt một tam giác từ tấm bìa phẳng, dày đều và cùng một chất liệu. Đặt điểm G lên đầu một chiếc bút chì thì tấm bìa có thể nằm thăng bằng.
Trọng tâm chia mỗi trung tuyến thành hai đoạn theo tỉ lệ 2 : 1. Đoạn dài hơn nằm ở phía đỉnh:

Biết một trong ba đoạn AM, AG, GM thì tính được hai đoạn còn lại:
| Đề cho | Tính AG | Tính GM | Tính AM |
|---|---|---|---|
| AM | AG = 2/3 AM | GM = 1/3 AM | đã biết |
| AG | đã biết | GM = AG/2 | AM = 3/2 AG |
| GM | AG = 2GM | đã biết | AM = 3GM |
Cách chứng minh dưới đây chỉ dùng tính chất đường trung bình của tam giác. Cho tam giác ABC có hai trung tuyến BN và CP cắt nhau tại G. Gọi I, K lần lượt là trung điểm của GB và GC.
Áp dụng cùng lập luận cho cặp trung tuyến AM và BN. Giao điểm của chúng là điểm trên BN cách B một đoạn 2/3 BN, tức trùng với G. Vậy cả ba trung tuyến cùng đi qua G và AG = 2/3 AM.
Gọi S là diện tích tam giác ABC. Khi đó:
Lý do như sau. Tam giác GBC và tam giác ABC có chung đáy BC. G nằm trên AM với GM = 1/3 AM. Theo định lí Ta-lét, khoảng cách từ G đến BC bằng 1/3 khoảng cách từ A đến BC. Chung đáy, chiều cao bằng 1/3, nên SGBC = S/3. Hai tam giác GCA và GAB tính tương tự.
Tiếp theo, tam giác GBM và GMC có đáy BM = MC và chung chiều cao kẻ từ G. Vậy mỗi tam giác bằng nửa SGBC, tức S/6. Cách tính S cho từng loại tam giác có ở bài diện tích tam giác.

Phần này thuộc kiến thức lớp 10. Ký hiệu GA→ là vectơ GA, 0→ là vectơ không.
Hai đẳng thức này dễ lẫn. Đẳng thức thứ nhất chỉ đúng với chính điểm G. Với điểm O bất kỳ, tổng OA→ + OB→ + OC→ bằng 3OG→, và tổng đó chỉ bằng 0→ khi O trùng G.
Ba trung tuyến luôn đồng quy, nên chỉ cần vẽ hai trung tuyến là có G. Trung tuyến thứ ba dùng để kiểm tra hình vẽ.
Đo cạnh BC, đánh dấu trung điểm M, nối AM rồi đo độ dài AM. Lấy điểm G trên AM sao cho AG = 2/3 AM. Ví dụ đo được AM = 6,3 cm thì AG = 2/3 × 6,3 = 4,2 cm. Cách này nhanh nhưng phụ thuộc độ chính xác của phép đo, nên kẻ thêm một trung tuyến nữa để kiểm tra.
Tính chất AG = 2/3 AM đúng với mọi tam giác. Ở mỗi loại tam giác đặc biệt, độ dài trung tuyến có công thức riêng nên tính G nhanh hơn:
| Loại tam giác | G nằm ở đâu | Công thức nhanh | Trùng với tâm nào? |
|---|---|---|---|
| Tam giác nhọn | Bên trong, trên cả ba trung tuyến | AG = 2/3 AM | Không trùng trực tâm, tâm nội tiếp hay tâm ngoại tiếp (trừ tam giác đều) |
| Tam giác tù | Vẫn bên trong; trực tâm và tâm ngoại tiếp mới nằm ngoài | AG = 2/3 AM | Không trùng |
| Tam giác vuông tại A | Bên trong, trên trung tuyến AM ứng với cạnh huyền; không phải trung điểm M | AM = BC/2, AG = BC/3, GM = BC/6 | Không trùng; M là tâm ngoại tiếp, A là trực tâm |
| Tam giác cân tại A (AB = AC = b, BC = a) | Trên AM; AM vừa là trung tuyến vừa là đường cao, đường phân giác | AM = √(b² − a²/4), AG = 2/3 AM | Không trùng (trừ tam giác đều), nhưng cả bốn tâm cùng nằm trên đường thẳng AM |
| Tam giác vuông cân tại A (AB = AC = c) | Trên AM, cách A một đoạn c√2/3 | BC = c√2, AG = c√2/3, BN = CP = c√5/2 | Không trùng |
| Tam giác đều cạnh a | Cách đều ba đỉnh | AG = BG = CG = a√3/3, GM = a√3/6 | Trùng trực tâm, tâm nội tiếp và tâm ngoại tiếp |
Trong tam giác ABC vuông tại A, trung tuyến ứng với cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền: AM = BC/2. Điểm M cách đều A, B, C nên M là tâm đường tròn ngoại tiếp. Áp dụng tỉ lệ 2/3 được AG = 2/3 × BC/2 = BC/3 và GM = BC/6. Vậy G nằm trên đoạn AM, cách trung điểm M của cạnh huyền một đoạn BC/6, không trùng M.

Xét tam giác ABC vuông cân tại A, đặt AB = AC = c. Khi đó BC = c√2 và AG = BC/3 = c√2/3. Hai trung tuyến kẻ từ B và C bằng nhau: BN = CP = √(c² + c²/4) = c√5/2. Suy ra BG = CG = 2/3 × c√5/2 = c√5/3. Một số tài liệu ghi BN = AN = CP = AP cho tam giác vuông cân. Đẳng thức đó sai: AN = AP = c/2, còn BN = c√5/2, dài hơn AN.
Ở tam giác cân tại A, trung tuyến AM đồng thời là đường cao và đường phân giác. Vì vậy trọng tâm, trực tâm, tâm nội tiếp và tâm ngoại tiếp cùng nằm trên đường thẳng AM. Nếu tam giác không đều, đó là bốn điểm khác nhau. Tam giác cân có thể có góc ở đỉnh tù; khi đó G vẫn nằm trong tam giác.
Ở tam giác đều cạnh a, mỗi trung tuyến cũng là đường cao, dài a√3/2 (cách tính có ở bài đường cao tam giác đều). Do đó AG = BG = CG = a√3/3 và bốn tâm trùng nhau.
Với A(xA; yA), B(xB; yB), C(xC; yC), trọng tâm G có tọa độ:
xG = (xA + xB + xC)/3 ; yG = (yA + yB + yC)/3
Công thức này rút ra từ đẳng thức vectơ ở trên. Chọn O là gốc tọa độ thì OG→ = (OA→ + OB→ + OC→)/3. Tọa độ của vectơ OG→ chính là tọa độ của điểm G.
Ví dụ 1. Cho A(−1; 5), B(6; 2), C(1; −1). Ta có xG = (−1 + 6 + 1)/3 = 6/3 = 2 và yG = (5 + 2 + (−1))/3 = 6/3 = 2. Vậy G(2; 2).

Từ công thức trên suy ra xC = 3xG − xA − xB và yC = 3yG − yA − yB. Phải nhân tọa độ của G với 3 trước khi trừ.
Thêm cao độ z theo cùng cách: zG = (zA + zB + zC)/3. Hoành độ và tung độ tính như trong mặt phẳng.
Bốn điểm này đều là giao điểm của ba đường trong tam giác nên dễ nhầm. Chúng khác nhau ở loại đường và vị trí khi tam giác tù:
| Điểm | Giao của ba đường | Vị trí khi tam giác tù | Tính chất riêng |
|---|---|---|---|
| Trọng tâm G | Trung tuyến | Luôn ở trong (mọi loại tam giác) | AG = 2/3 AM; chia tam giác thành 3 phần diện tích bằng nhau |
| Trực tâm H | Đường cao | Ở ngoài (tam giác nhọn: ở trong; tam giác vuông: trùng đỉnh góc vuông) | AH vuông góc với BC |
| Tâm nội tiếp I | Phân giác | Luôn ở trong | Cách đều ba cạnh |
| Tâm ngoại tiếp O | Trung trực | Ở ngoài (tam giác nhọn: ở trong; tam giác vuông: trung điểm cạnh huyền) | Cách đều ba đỉnh |

Trừ tam giác đều, ba điểm O, G, H cùng nằm trên một đường thẳng, gọi là đường thẳng Euler, và GH = 2GO. Ở tam giác đều, ba điểm này trùng nhau. Cách xác định điểm H và các tính chất của nó có ở bài trực tâm tam giác.
Ví dụ 2. Tam giác ABC có trọng tâm G và trung tuyến AM = 42 cm. Tính AG và GM.
AG = 2/3 × 42 = 28 cm. GM = 42 − 28 = 14 cm. Kiểm lại: GM = 1/3 × 42 = 14 cm và AG = 2GM.
Ví dụ 3. Tam giác ABC có trung tuyến BN và trọng tâm G, biết BG = 22 cm. Tính GN và BN.
GN = BG/2 = 22/2 = 11 cm. BN = BG + GN = 22 + 11 = 33 cm, hay BN = 3/2 × 22 = 33 cm.
Ví dụ 4. Tam giác ABC vuông tại A có AB = 20 cm, AC = 21 cm, trọng tâm G. Tính AG.
BC = √(20² + 21²) = √(400 + 441) = √841 = 29 cm. Trung tuyến ứng với cạnh huyền là AM = BC/2 = 14,5 cm. Do đó AG = 2/3 × 14,5 = 29/3 cm ≈ 9,67 cm. G không trùng trung điểm M vì GM = 14,5 − 29/3 = 29/6 ≈ 4,83 cm.
Ví dụ 5. Tam giác đều ABC cạnh 6 cm. Tính khoảng cách từ trọng tâm G đến mỗi đỉnh và đến cạnh BC.
Trung tuyến AM cũng là đường cao, nên AM = 6√3/2 = 3√3 ≈ 5,20 cm. Suy ra AG = 2/3 × 3√3 = 2√3 cm ≈ 3,46 cm. Vì tam giác đều nên GA = GB = GC = 2√3 cm. AM vuông góc với BC tại M, nên khoảng cách từ G đến BC là GM = 3√3 − 2√3 = √3 cm ≈ 1,73 cm.
Ví dụ 6. Tam giác ABC có diện tích 96 cm², trọng tâm G, M là trung điểm BC. Tính SGBC và SGBM.
SGBC = 96/3 = 32 cm². Tam giác GBM là một trong sáu phần bằng nhau, nên SGBM = 96/6 = 16 cm².
Ví dụ 7. Trong mặt phẳng Oxy, tam giác ABC có A(2; −3), B(−4; 1) và trọng tâm G(1; 2). Tìm tọa độ C.
xC = 3 × 1 − 2 − (−4) = 3 − 2 + 4 = 5. yC = 3 × 2 − (−3) − 1 = 6 + 3 − 1 = 8. Vậy C(5; 8). Kiểm lại: (2 − 4 + 5)/3 = 1 và (−3 + 1 + 8)/3 = 2, đúng tọa độ của G.
Ví dụ 8. Trong không gian Oxyz, cho A(2; 0; 3), B(−1; 7; 1), C(5; 2; 5). Tìm trọng tâm G.
xG = (2 − 1 + 5)/3 = 2, yG = (0 + 7 + 2)/3 = 3, zG = (3 + 1 + 5)/3 = 3. Vậy G(2; 3; 3).
Ví dụ 9. Gọi M, N, P lần lượt là trung điểm của BC, CA, AB. Chứng minh tam giác MNP và tam giác ABC có cùng trọng tâm.
Gọi G là trọng tâm tam giác ABC. Vì M là trung điểm BC nên GM→ = (GB→ + GC→)/2. Tương tự, GN→ = (GC→ + GA→)/2 và GP→ = (GA→ + GB→)/2. Cộng ba đẳng thức được GM→ + GN→ + GP→ = GA→ + GB→ + GC→ = 0→. Vậy G thỏa đẳng thức trọng tâm đối với ba đỉnh M, N, P, nên G cũng là trọng tâm tam giác MNP.
Bạn tự làm trước, rồi mở đáp án để đối chiếu.
Bài 1. Tam giác ABC có trung tuyến BN = 4,5 cm và trọng tâm G. Tính BG và GN.
BG = 2/3 × 4,5 = 3 cm. GN = 1/3 × 4,5 = 1,5 cm.
Bài 2. G là trọng tâm tam giác ABC, M là trung điểm BC và GM = 19 mm. Tính AG và AM.
AG = 2GM = 38 mm. AM = 3GM = 57 mm.
Bài 3. Tam giác ABC vuông tại A có AB = 7 cm, AC = 24 cm. Tính trung tuyến AM và khoảng cách AG từ A đến trọng tâm.
BC = √(7² + 24²) = √625 = 25 cm. AM = BC/2 = 12,5 cm. AG = BC/3 = 25/3 cm ≈ 8,33 cm.
Bài 4. Trọng tâm của một tam giác đều cách mỗi đỉnh 4 cm. Tính cạnh tam giác.
Từ AG = a√3/3 suy ra a = 3AG/√3 = AG√3 = 4√3 cm ≈ 6,93 cm.
Bài 5. Tìm trọng tâm tam giác ABC với A(4; −2), B(−1; 6), C(6; 8).
xG = (4 − 1 + 6)/3 = 3, yG = (−2 + 6 + 8)/3 = 4. Vậy G(3; 4).
Bài 6. Tam giác ABC có A(3; −2), B(−5; 4) và trọng tâm G(0; 2). Tìm tọa độ C.
xC = 3 × 0 − 3 − (−5) = 2. yC = 3 × 2 − (−2) − 4 = 6 + 2 − 4 = 4. Vậy C(2; 4).
Bài 7. Trong không gian Oxyz, tìm trọng tâm tam giác có các đỉnh A(4; −2; 1), B(0; 5; 3), C(−1; 3; 8).
xG = (4 + 0 − 1)/3 = 1, yG = (−2 + 5 + 3)/3 = 2, zG = (1 + 3 + 8)/3 = 4. Vậy G(1; 2; 4).
Bài 8. G là trọng tâm tam giác ABC, N là trung điểm CA. Biết SGNC = 8,5 cm². Tính diện tích tam giác ABC và SGAB.
Tam giác GNC là một trong sáu phần bằng nhau, nên SABC = 6 × 8,5 = 51 cm². SGAB = 51/3 = 17 cm².
Bài 9. Hai tam giác ABC và A’B’C’ có trọng tâm lần lượt là G và G’. Chứng minh AA’→ + BB’→ + CC’→ = 3GG’→. Từ đó nêu điều kiện để hai tam giác có cùng trọng tâm.
Viết AA’→ = AG→ + GG’→ + G’A’→, làm tương tự với BB’→ và CC’→. Cộng ba đẳng thức được (AG→ + BG→ + CG→) + 3GG’→ + (G’A’→ + G’B’→ + G’C’→). Vì GA→ + GB→ + GC→ = 0→ nên cụm đầu bằng 0→. Cụm cuối bằng 0→ vì G’ là trọng tâm tam giác A’B’C’. Vậy tổng bằng 3GG’→. Hai tam giác có cùng trọng tâm khi và chỉ khi AA’→ + BB’→ + CC’→ = 0→.
Khoảng cách từ trọng tâm G đến một cạnh bằng 1/3 đường cao ứng với cạnh đó. Lý do: GM = 1/3 AM nên theo định lí Ta-lét, G gần BC gấp ba lần so với A. Ví dụ đường cao kẻ từ A xuống BC dài 16,5 cm thì G cách BC 5,5 cm.
Tính trung tuyến trước bằng công thức AM² = (2AB² + 2AC² − BC²)/4, rồi lấy AG = 2/3 AM. Ví dụ AB = 33 cm, AC = 39 cm, BC = 48 cm: AM² = (2 × 1089 + 2 × 1521 − 2304)/4 = 2916/4 = 729, nên AM = 27 cm và AG = 18 cm.
Là tam giác cân. Nếu BN = CP thì GB = GC (cùng bằng 2/3 trung tuyến) và GN = GP (cùng bằng 1/3). Hai tam giác GBP và GCN có góc ở G đối đỉnh nên bằng nhau, suy ra BP = CN, tức AB = AC. Ba trung tuyến bằng nhau khi và chỉ khi tam giác đều.
Không. Điểm P trong tam giác có S_PBC = S/3 phải cách BC một đoạn bằng 1/3 đường cao từ A, tức nằm trên một đường thẳng song song với BC. Điều kiện S_PCA = S/3 cho thêm một đường song song với CA. Hai đường này cắt nhau tại đúng một điểm, đó là trọng tâm G.