
Đường chéo hình thoi là đoạn thẳng nối hai đỉnh đối diện, nên mỗi hình thoi có đúng hai đường chéo. Hai đường chéo này vuông góc với nhau, cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường và là đường phân giác các góc của hình thoi. Cách tính độ dài một đường chéo tùy dữ kiện đề cho. Biết diện tích S và đường chéo kia thì d₁ = 2 × S : d₂. Biết cạnh a và đường chéo kia thì d₁ = 2 × √(a² − (d₂ : 2)²). Biết cạnh a và góc α tại đỉnh A thì BD = 2a·sin(α/2) và AC = 2a·cos(α/2).
Hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau. Trong hình thoi ABCD, đỉnh A đối diện đỉnh C và đỉnh B đối diện đỉnh D. Vì vậy hai đường chéo là AC và BD. Các đoạn AB, BC, CD, DA nối hai đỉnh kề nhau nên là cạnh, không phải đường chéo.
Quy ước dùng trong cả bài: d₁ = AC, d₂ = BD, a là độ dài cạnh, O là giao điểm của hai đường chéo, S là diện tích, P là chu vi.
Hình thoi có hai cặp cạnh đối song song nên là một hình bình hành đặc biệt. Vì thế mọi tính chất về đường chéo của hình bình hành đều đúng với hình thoi. Hình thoi còn có thêm những tính chất riêng, nêu ở mục dưới.
Trong hình thoi ABCD, hai đường chéo AC và BD có bốn tính chất sau:

Từ bốn tính chất trên, hai đường chéo chia hình thoi thành bốn tam giác vuông bằng nhau: AOB, BOC, COD, DOA. Mỗi tam giác có cạnh huyền là một cạnh a của hình thoi. Mỗi đường chéo lại chia hình thoi thành hai tam giác cân bằng nhau. Chẳng hạn AC tạo ra tam giác ABC cân tại B và tam giác ADC cân tại D.
Bước 1. Hình thoi là hình bình hành, nên O là trung điểm của cả AC và BD.
Bước 2. Tam giác ABC có BA = BC nên cân tại B. BO là đường trung tuyến ứng với đáy AC. Trong tam giác cân, đường trung tuyến này đồng thời là đường cao và đường phân giác. Vậy BO ⊥ AC và BO chia đôi góc ABC.
Bước 3. Lập luận tương tự với tam giác ABD cân tại A: AO chia đôi góc BAD.
Nói chung là không. Giả sử thêm điều kiện AC = BD. Khi đó hình thoi (cũng là hình bình hành) có hai đường chéo bằng nhau nên là hình chữ nhật. Tứ giác vừa là hình thoi vừa là hình chữ nhật thì là hình vuông.
Vậy hai đường chéo bằng nhau khi và chỉ khi hình thoi là hình vuông. Lúc đó mỗi đường chéo bằng a√2. Nếu hình thoi có góc nhọn thì đường chéo đi qua đỉnh góc nhọn dài hơn đường chéo còn lại.
Một tứ giác bất kỳ có hai đường chéo vuông góc chưa chắc là hình thoi, ví dụ hình cánh diều. Tứ giác chỉ là hình thoi khi hai đường chéo vừa vuông góc, vừa cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
| Đề cho | Công thức | Xem |
|---|---|---|
| Diện tích S và đường chéo d₂ | d₁ = 2 × S : d₂ | Ví dụ 1 |
| Cạnh a và đường chéo d₂ | d₁ = 2 × √(a² − (d₂/2)²) | Ví dụ 2 |
| Cạnh a và góc α tại đỉnh A | BD = 2a·sin(α/2); AC = 2a·cos(α/2) | Ví dụ 3 |
| Cạnh a và chiều cao h | d₁ × d₂ = 2ah và d₁² + d₂² = 4a², rồi giải hệ | Ví dụ 4 |
| Hiệu (hoặc tổng) và tỉ số hai đường chéo | Giải theo bài toán hiệu – tỉ (tổng – tỉ) | Ví dụ 5 |
| Hai đường chéo, cần tìm cạnh, chu vi, diện tích | a = ½√(d₁² + d₂²); P = 2√(d₁² + d₂²); S = d₁ × d₂ : 2 | Ví dụ 6 |
Diện tích hình thoi bằng nửa tích hai đường chéo: S = d₁ × d₂ : 2. Ở tiểu học, công thức này thường viết là S = (m × n) : 2, với m, n là độ dài hai đường chéo.
Lý do: hình thoi nằm vừa trong một hình chữ nhật có hai cạnh dài d₁ và d₂, và chiếm đúng một nửa diện tích hình chữ nhật đó. Từ công thức diện tích suy ra:
d₁ = 2 × S : d₂
Ví dụ 1. Hình thoi có diện tích 150 cm² và đường chéo BD = 12 cm. Tính AC.
Giải: AC = 2 × 150 : 12 = 300 : 12 = 25 cm.
Thử lại: 25 × 12 : 2 = 150 cm², khớp với đề.
Tam giác AOB vuông tại O. Cạnh huyền của nó là AB = a, hai cạnh góc vuông là OA = d₁/2 và OB = d₂/2. Theo định lí Pythagore:
(d₁/2)² + (d₂/2)² = a², suy ra d₁ = 2 × √(a² − (d₂/2)²).
Điều kiện để có hình thoi: đường chéo đã biết phải ngắn hơn 2a.

Ví dụ 2. Hình thoi có cạnh 17 cm và đường chéo BD = 16 cm. Tính AC.
Giải: OB = 16 : 2 = 8 cm. Ta có OA² = 17² − 8² = 289 − 64 = 225, nên OA = 15 cm. Vậy AC = 2 × 15 = 30 cm.
Gọi α là góc BAD (góc tại đỉnh A). Vì AC là phân giác nên góc OAB = α/2. Trong tam giác AOB vuông tại O:
Nhân đôi hai đoạn này được hai đường chéo:
BD = 2a·sin(α/2) và AC = 2a·cos(α/2)
Cách nhớ: đường chéo đi qua đỉnh góc α dùng cos, đường chéo nối hai đỉnh còn lại dùng sin. Góc B bằng 180° − α, nên tính theo góc B vẫn ra cùng kết quả.
Nếu chưa học sin, cos thì vẫn giải được bài có góc 60° hoặc 120° bằng tam giác đều. Ví dụ góc A = 60°: tam giác ABD cân tại A có góc ở đỉnh 60° nên là tam giác đều, suy ra BD = a. Sau đó dùng định lí Pythagore để tìm AC.

Ví dụ 3. Hình thoi ABCD có cạnh 8 cm, góc A = 60°. Tính hai đường chéo.
Cách 1 (tam giác đều).
Cách 2 (công thức). BD = 2 × 8 × sin 30° = 2 × 8 × 1/2 = 8 cm. AC = 2 × 8 × cos 30° = 2 × 8 × √3/2 = 8√3 cm.
Hai cách cho cùng kết quả. Đường chéo dài là AC, đi qua đỉnh A của góc 60°.
Hình thoi là hình bình hành nên S = a × h, với h là chiều cao ứng với cạnh a. Mọi cạnh của hình thoi có chiều cao bằng nhau.
Ghép hai công thức diện tích S = a × h và S = d₁ × d₂ : 2 với định lí Pythagore, ta được hệ:
Từ đó suy ra:
Lấy căn hai vế sẽ được tổng và hiệu của hai đường chéo. Điều kiện: h ≤ a. Khi h = a, hình thoi là hình vuông.

Ví dụ 4. Hình thoi có cạnh 10 cm, chiều cao 9,6 cm. Tính hai đường chéo.
Giải:
Thử lại: hai nửa đường chéo là 8 cm và 6 cm, có 8² + 6² = 100 = 10². Diện tích 16 × 12 : 2 = 96 cm², khớp với đề.
Ví dụ 5. Đường chéo dài hơn đường chéo ngắn 14 cm và dài gấp 3 lần đường chéo ngắn. Tính hai đường chéo và diện tích hình thoi.
Giải: coi đường chéo ngắn là 1 phần thì đường chéo dài là 3 phần, hiệu số phần là 3 − 1 = 2.
Nếu đề cho tổng thay cho hiệu thì làm tương tự: lấy tổng chia cho tổng số phần để được giá trị một phần.
Làm ngược lại với định lí Pythagore trong tam giác AOB:
Ví dụ 6. Hình thoi có hai đường chéo 18 cm và 24 cm. Tính cạnh, chu vi và diện tích.
Giải: hai nửa đường chéo là 9 cm và 12 cm.
Chiều ngược lại thì không làm được: chỉ biết cạnh (hoặc chu vi) thì không tính được đường chéo. Cùng một cạnh a có vô số hình thoi, từ rất dẹt đến gần như hình vuông. Đề cần cho thêm một dữ kiện nữa: một đường chéo, một góc, chiều cao hoặc diện tích.
Bạn tự làm trước, sau đó mở đáp án để đối chiếu. Kết quả không chẵn được làm tròn đến hai chữ số thập phân.
Bài 1. Hình thoi có diện tích 342 cm² và một đường chéo dài 36 cm. Tính đường chéo còn lại.
d = 2 × 342 : 36 = 684 : 36 = 19 cm.
Bài 2. Hình thoi có cạnh 53 cm và một đường chéo dài 56 cm. Tính đường chéo còn lại.
Nửa đường chéo đã biết là 56 : 2 = 28 cm. Nửa đường chéo cần tìm: √(53² − 28²) = √(2809 − 784) = √2025 = 45 cm. Vậy đường chéo còn lại dài 2 × 45 = 90 cm.
Bài 3. Hình thoi ABCD có cạnh 9 cm, góc A = 120°. Tính AC và BD.
Góc B = 180° − 120° = 60°, nên tam giác ABC cân tại B có góc 60° là tam giác đều. Suy ra AC = 9 cm và OA = 4,5 cm. OB² = 9² − 4,5² = 81 − 20,25 = 60,75, nên OB = 4,5√3 cm. Vậy BD = 9√3 ≈ 15,59 cm. Kiểm bằng công thức: AC = 2 × 9 × cos 60° = 9 cm; BD = 2 × 9 × sin 60° = 9√3 cm. Lần này AC là đường chéo ngắn, vì A là đỉnh góc tù.
Bài 4. Hình thoi có cạnh 55 cm và chiều cao 52,8 cm. Tính hai đường chéo.
S = 55 × 52,8 = 2904 cm², nên d₁ × d₂ = 5808. Ta có d₁² + d₂² = 4 × 55² = 12100. Suy ra (d₁ + d₂)² = 12100 + 11616 = 23716, nên d₁ + d₂ = 154. Và (d₁ − d₂)² = 12100 − 11616 = 484, nên d₁ − d₂ = 22. Vậy hai đường chéo dài 88 cm và 66 cm. Thử lại: 44² + 33² = 1936 + 1089 = 3025 = 55².
Có. Giao điểm O của hai đường chéo là tâm đối xứng của hình thoi, vì O là trung điểm của cả hai đường chéo. Ngoài ra hình thoi có hai trục đối xứng là hai đường chéo; riêng hình vuông có bốn trục đối xứng.
Lấy chu vi chia 4 để có cạnh, rồi dùng định lí Pythagore với nửa đường chéo. Ví dụ chu vi 52 cm, một đường chéo 10 cm: cạnh 52 : 4 = 13 cm, nửa đường chéo kia √(13² − 5²) = √144 = 12 cm, nên đường chéo còn lại dài 24 cm.
Chiều cao h = S : a = d₁ × d₂ : (2a). Ví dụ hai đường chéo 30 cm và 40 cm: cạnh a = √(15² + 20²) = 25 cm, diện tích 30 × 40 : 2 = 600 cm², nên h = 600 : 25 = 24 cm. Bán kính đường tròn nội tiếp hình thoi bằng nửa chiều cao, ở đây là 12 cm.
Giả sử BD = a. Khi đó tam giác ABD có ba cạnh bằng a nên là tam giác đều, suy ra góc A = góc C = 60° và góc B = góc D = 120°. Đường chéo còn lại AC = a√3.