
Muốn tìm chiều cao hình thang khi biết diện tích, lấy diện tích nhân 2 rồi chia cho tổng độ dài hai đáy: h = S × 2 : (a + b). Trong công thức, S là diện tích, a là đáy lớn, b là đáy bé và h là chiều cao. a, b, h dùng cùng một đơn vị độ dài, còn S dùng đơn vị diện tích tương ứng: cm đi với cm², m đi với m². Ví dụ hình thang có diện tích 112cm², hai đáy 19cm và 13cm thì h = 112 × 2 : (19 + 13) = 224 : 32 = 7cm.
Đề không cho diện tích vẫn có thể tìm được chiều cao trong bốn trường hợp: hình thang vuông, hình thang cân, biết một cạnh bên và góc ở đáy, hoặc biết đủ bốn cạnh.
Công thức diện tích hình thang là S = (a + b) × h : 2. Nhân hai vế với 2 được S × 2 = (a + b) × h, tức là tổng hai đáy nhân chiều cao bằng hai lần diện tích. Chia hai vế cho (a + b), ta có công thức tìm chiều cao:
h = S × 2 : (a + b) (viết gọn: h = 2S/(a + b))
Ví dụ 1. Hình thang có diện tích 112cm², đáy lớn 19cm, đáy bé 13cm.
Ví dụ 2 (có đổi đơn vị). Một tấm kính hình thang có diện tích 1,8m², hai đáy dài 14dm và 10dm. Tính chiều cao theo mét.
Từ đẳng thức S × 2 = (a + b) × h suy ra cả ba công thức:
Thử với số của Ví dụ 1: S = 112cm² và h = 7cm thì a + b = 224 : 7 = 32cm. Đáy lớn là 19cm nên đáy bé là 32 − 19 = 13cm, khớp với đề.
Hình thang là tứ giác có hai cạnh đối song song. Hai cạnh song song gọi là hai đáy, hai cạnh còn lại gọi là cạnh bên. Chiều cao hình thang là khoảng cách giữa hai đường thẳng chứa hai đáy, tức là độ dài đoạn thẳng nối hai đường thẳng đó và vuông góc với chúng. Hai đáy song song nên từ bất kỳ điểm nào trên đáy này, hạ vuông góc xuống đường thẳng chứa đáy kia cũng được cùng một độ dài h.

Đường cao thường được hạ từ đỉnh A hoặc B của đáy bé. Nếu hai góc ở đáy lớn đều nhọn, chân đường cao hạ từ A và từ B nằm trên đoạn DC. Nếu hình thang có một góc tù ở đáy lớn, chẳng hạn góc D, thì chân đường cao hạ từ A (đỉnh kề góc tù đó) rơi trên đường kéo dài của DC, ở ngoài đoạn DC. Độ dài AH lúc này vẫn là chiều cao.

Cạnh bên chỉ bằng chiều cao khi cạnh bên đó vuông góc với hai đáy, tức là trong hình thang vuông. Trong mọi trường hợp khác, cạnh bên dài hơn chiều cao.
Đường trung bình của hình thang là đoạn nối trung điểm hai cạnh bên. Độ dài của nó là m = (a + b) : 2. Thay vào công thức diện tích được S = m × h, nên h = S : m.
Ví dụ 3. Hình thang có diện tích 99cm², đường trung bình dài 11cm. Chiều cao h = 99 : 11 = 9cm.
Nếu đề cho “trung bình cộng hai đáy” thì đó chính là m. Đừng nhầm m với chiều cao: m là đoạn song song với hai đáy, còn h đo theo phương vuông góc với hai đáy.
Hình thang vuông có một cạnh bên vuông góc với cả hai đáy, nên chiều cao chính là cạnh bên vuông góc đó. Chẳng hạn hình thang ABCD vuông tại A và D thì h = AD. Nếu đề chỉ cho cạnh bên còn lại (cạnh xiên), không cho AD, thì hạ thêm một đường cao từ đỉnh của đáy bé rồi dùng định lí Pytago.
Ví dụ 4. Hình thang ABCD vuông tại A và D có đáy bé AB = 10cm, đáy lớn CD = 30cm, cạnh bên BC = 29cm. Tính chiều cao.

Viết gọn thành công thức: h = √(BC² − (a − b)²). Công thức chỉ dùng được khi cạnh xiên BC dài hơn hiệu hai đáy a − b.
Hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau, cùng dài c. Hạ hai đường cao AH và BK từ hai đỉnh của đáy bé xuống đáy lớn. Hai tam giác vuông ADH và BCK bằng nhau (cạnh huyền AD = BC, cạnh góc vuông AH = BK) và HK = AB = b. Vì vậy phần dư ở mỗi bên là DH = KC = (a − b) : 2. Áp dụng định lí Pytago cho tam giác vuông ADH:
h = √(c² − ((a − b) : 2)²), với điều kiện c > (a − b) : 2.
Ví dụ 5. Hình thang cân ABCD có đáy lớn DC = 20cm, đáy bé AB = 8cm, cạnh bên 10cm.

Nếu số dưới dấu căn không phải số chính phương, chiều cao là số vô tỉ; khi đó xem cách tính căn bậc 2 để lấy giá trị gần đúng.
Với hình thang cân có a > b, ta luôn có DH = (a − b) : 2 > 0, nên H và K nằm trên đoạn DC và hai góc ở đáy lớn đều nhọn.
Cách này cần tỉ số lượng giác của góc nhọn, học ở lớp 9. Giả sử cạnh bên AD dài c và tạo với đáy DC một góc α. Trong tam giác vuông ADH, chiều cao AH là cạnh đối diện với góc α, nên h = c × sin α.
Ví dụ 6. Hình thang ABCD có cạnh bên AD = 10cm và góc ADC = 30°. Vì sin 30° = 0,5 nên h = 10 × 0,5 = 5cm.
Công thức vẫn đúng khi góc ADC tù, vì sin α = sin(180° − α). Khi đó chân đường cao nằm trên đường kéo dài của DC, giống hình góc tù ở trên. Bạn cần dùng đúng góc tạo bởi chính cạnh bên đã biết độ dài với đáy. Nếu lấy góc ở đầu cạnh bên kia, kết quả sẽ sai.
Xét hình thang ABCD có đáy lớn DC = a, đáy bé AB = b (a > b), hai cạnh bên AD = c và BC = d. Từ B kẻ BE song song với AD (E nằm trên DC). Tứ giác ABED có hai cặp cạnh đối song song nên là hình bình hành, suy ra DE = b và BE = c. Tam giác BEC có ba cạnh là c, d và EC = a − b. Đường cao của tam giác này hạ từ B cũng chính là chiều cao của hình thang.
Ví dụ 7. Hình thang ABCD có DC = 20cm, AB = 6cm, AD = 13cm, BC = 15cm. Kẻ BE ∥ AD thì BE = 13cm và EC = 20 − 6 = 14cm. Vậy tam giác BEC có ba cạnh 13cm, 14cm, 15cm.

Điều kiện để dùng cách này:
Phương trình ở Cách 1 vẫn dùng được khi chân F nằm ngoài đoạn EC. Khi đó x tính ra một số âm hoặc lớn hơn EC.
| Đề cho biết | Công thức tìm h | Điều kiện, ghi chú |
|---|---|---|
| Diện tích S và hai đáy a, b | h = S × 2 : (a + b) | Dùng cho mọi hình thang; S, a, b cùng hệ đơn vị |
| Diện tích S và đường trung bình m | h = S : m | m = (a + b) : 2 |
| Hình thang vuông | h = cạnh bên vuông góc với hai đáy; nếu chỉ biết cạnh xiên BC: h = √(BC² − (a − b)²) | BC > a − b |
| Hình thang cân, biết a, b và cạnh bên c | h = √(c² − ((a − b) : 2)²) | c > (a − b) : 2 |
| Cạnh bên c và góc α giữa cạnh đó với đáy | h = c × sin α | Cần tỉ số lượng giác (lớp 9 trở lên) |
| Đủ bốn cạnh a, b, c, d | Dựng tam giác có ba cạnh c, d, a − b; h = 2 × diện tích tam giác : (a − b) | a ≠ b; c, d, a − b thoả bất đẳng thức tam giác |
Nhiều đề lớp 5 không cho sẵn độ dài hai đáy mà chỉ cho quan hệ giữa chúng (tổng, hiệu, tỉ số). Cách làm:
Ví dụ 8. Một thửa ruộng hình thang có diện tích 325m². Đáy lớn hơn đáy bé 10m, đáy bé bằng 2/3 đáy lớn. Tính chiều cao thửa ruộng.
Ví dụ 9. Một mảnh đất hình thang, nếu kéo dài đáy lớn thêm 6m thì diện tích tăng thêm 57m². Tính chiều cao mảnh đất.
Phần diện tích tăng thêm là một hình tam giác có đáy 6m, đỉnh nằm trên đường thẳng chứa đáy bé. Hai đáy song song nên chiều cao của tam giác này bằng chiều cao hình thang. Do đó h = 57 × 2 : 6 = 19m.
Cách kiểm đáp số: thay h vừa tìm vào S = (a + b) × h : 2 rồi so với diện tích đề cho.
Có thể thử thêm một bước nhanh: chiều cao không thể dài hơn bất kỳ cạnh bên nào của hình thang.
Hãy làm hết năm bài rồi mới đối chiếu với đáp án ở cuối mục.
Bài 1. Hình thang có diện tích 150cm², hai đáy dài 17cm và 13cm. Tính chiều cao.
Bài 2. Một tấm bìa hình thang có diện tích 54dm², đáy lớn 1,2m, đáy bé 60cm. Tính chiều cao theo đề-xi-mét.
Bài 3. Hình thang cân có hai đáy 34cm và 10cm, cạnh bên 37cm. Tính chiều cao.
Bài 4. Hình thang có đường trung bình 14cm và diện tích 238cm². Tính chiều cao.
Bài 5. Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 44m, đáy bé bằng 3/4 đáy lớn, diện tích 1001m². Tính chiều cao thửa ruộng.
Có. Chiều cao chỉ bị giới hạn bởi cạnh bên (không dài hơn cạnh bên), còn với hai đáy thì không có ràng buộc nào. Ví dụ hình thang có diện tích 56cm², hai đáy 5cm và 3cm thì h = 56 × 2 : 8 = 14cm, dài gần gấp ba đáy lớn.
Tam giác vuông tạo bởi cạnh bên, đường cao và phần dư ở đáy lớn là tam giác vuông cân, nên chiều cao bằng phần dư đó: h = (a − b) : 2. Ví dụ hai đáy 31cm và 9cm thì h = (31 − 9) : 2 = 11cm, không cần biết cạnh bên.
Chiều cao bằng nửa tổng hai đáy: h = (a + b) : 2. Lý do: giao điểm hai đường chéo chia hình thành hai tam giác vuông cân ở hai đáy, đường cao của mỗi tam giác bằng nửa đáy tương ứng. Ví dụ hai đáy 27cm và 19cm thì h = 46 : 2 = 23cm.
Tìm cạnh bên trước: c = (P − a − b) : 2, rồi dùng h = √(c² − ((a − b) : 2)²). Ví dụ chu vi 120cm, hai đáy 28cm và 10cm thì c = (120 − 38) : 2 = 41cm, phần dư (28 − 10) : 2 = 9cm, h = √(1681 − 81) = √1600 = 40cm.
Chiều cao giảm, vì tích (a + b) × h luôn bằng 2S. Tổng hai đáy tăng gấp bao nhiêu lần thì chiều cao giảm đi bấy nhiêu lần: tổng hai đáy gấp đôi thì chiều cao còn một nửa, gấp ba thì còn một phần ba.