
Đường trung tuyến của tam giác là đoạn thẳng nối một đỉnh với trung điểm của cạnh đối diện. Mỗi tam giác có đúng 3 đường trung tuyến, và cả 3 đường này luôn cắt nhau tại một điểm duy nhất gọi là trọng tâm. Ví dụ: nếu M là trung điểm cạnh BC của tam giác ABC thì đoạn thẳng AM chính là đường trung tuyến kẻ từ đỉnh A. Bài viết dưới đây trình bày đầy đủ tính chất, công thức tính độ dài, các trường hợp đặc biệt (tam giác vuông, cân, đều) kèm ví dụ số có lời giải.

Một đoạn thẳng chỉ được gọi là đường trung tuyến của tam giác khi thỏa đủ 2 điều kiện: (1) một đầu là đỉnh của tam giác, (2) đầu còn lại là trung điểm của cạnh đối diện đỉnh đó. Thiếu 1 trong 2 điều kiện thì đoạn thẳng đó KHÔNG phải là đường trung tuyến — ví dụ nếu điểm N nằm trên cạnh BC nhưng BN ≠ NC thì AN chỉ là một đoạn thẳng bình thường, không phải trung tuyến. Với tam giác ABC, 3 đường trung tuyến là AM (M là trung điểm BC), BN (N là trung điểm AC) và CP (P là trung điểm AB).

Gọi G là trọng tâm của tam giác ABC (giao điểm 3 đường trung tuyến). Trên đường trung tuyến AM, trọng tâm G luôn chia đoạn AM thành 2 phần theo đúng tỉ lệ:
AG = (2/3) × AM và GM = (1/3) × AM (tức AG = 2 × GM)
Ví dụ: Đường trung tuyến AM dài 21cm. Áp dụng tỉ lệ trên: AG = (2/3) × 21 = 14cm, GM = (1/3) × 21 = 7cm (14 + 7 = 21, đúng bằng AM). Tỉ lệ này áp dụng như nhau cho cả 3 đường trung tuyến BN, CP.
Mỗi đường trung tuyến chia tam giác thành 2 phần có diện tích bằng nhau. Khi vẽ đủ 3 đường trung tuyến, tam giác bị chia thành 6 tam giác nhỏ có diện tích bằng nhau, và 3 tam giác lớn hơn tạo bởi trọng tâm với từng cạnh (GAB, GBC, GCA) cũng có diện tích bằng nhau, mỗi tam giác bằng 1/3 diện tích tam giác gốc.
Ví dụ: Tam giác ABC có diện tích 48cm², AM là đường trung tuyến. Khi đó: S(ABM) = S(ACM) = 48/2 = 24cm². Nếu vẽ đủ 3 đường trung tuyến: mỗi tam giác nhỏ trong 6 phần = 48/6 = 8cm²; mỗi tam giác trong 3 phần lớn (GAB, GBC, GCA) = 48/3 = 16cm².
Đây là 4 đoạn/đường đặc biệt khác nhau của tam giác, rất dễ nhầm với nhau vì đều gắn với 1 đỉnh hoặc 1 cạnh:
Trong tam giác thường, 4 đường này là 4 đường hoàn toàn khác nhau. Chúng chỉ trùng nhau trong 2 trường hợp đặc biệt: tam giác cân (đường trung tuyến ứng với cạnh đáy đồng thời là đường cao, đường phân giác của góc ở đỉnh cân và đường trung trực của cạnh đáy) và tam giác đều (cả 3 đường trung tuyến đều có tính chất này; điểm đồng quy chung vừa là trọng tâm, vừa là trực tâm — xem trực tâm là gì — vừa là tâm đường tròn nội tiếp, vừa là tâm đường tròn ngoại tiếp).

Khi biết độ dài cả 3 cạnh của tam giác, có thể tính chính xác độ dài đường trung tuyến bằng công thức rút ra từ định lý Apollonius, không cần đo trực tiếp:
ma² = (2b² + 2c² − a²) / 4 → ma = ½ × √(2b² + 2c² − a²)
Trong đó: a là cạnh BC (cạnh đối diện đỉnh A), b là cạnh CA, c là cạnh AB, và ma là độ dài đường trung tuyến kẻ từ đỉnh A xuống trung điểm cạnh a. Lưu ý: chỉ số của trung tuyến (a, b hay c) luôn tương ứng với cạnh ĐỐI DIỆN đỉnh xuất phát, không phải cạnh đi qua đỉnh đó. Tương tự có mb² = (2a² + 2c² − b²)/4 và mc² = (2a² + 2b² − c²)/4.
Ví dụ: Tam giác ABC có a = BC = 8cm, b = CA = 7cm, c = AB = 9cm. Tính đường trung tuyến ma kẻ từ đỉnh A: ma = ½ × √(2×7² + 2×9² − 8²) = ½ × √(98 + 162 − 64) = ½ × √196 = ½ × 14 = 7cm.

Trong tam giác vuông, đường trung tuyến ứng với cạnh huyền có một tính chất đặc biệt: độ dài bằng đúng một nửa cạnh huyền. Nếu M là trung điểm cạnh huyền thì khoảng cách từ M đến cả 3 đỉnh đều bằng nhau (M cách đều 3 đỉnh vì M chính là tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác vuông đó).
Ví dụ: Tam giác vuông có 2 cạnh góc vuông 6cm và 8cm. Cạnh huyền tính theo Pythagoras: √(6² + 8²) = √100 = 10cm. Đường trung tuyến ứng với cạnh huyền = 10/2 = 5cm.
Mệnh đề đảo cũng đúng: nếu một tam giác có đường trung tuyến ứng với 1 cạnh bằng đúng một nửa cạnh đó, thì tam giác này là tam giác vuông, với cạnh đó là cạnh huyền. Lưu ý tính chất “bằng nửa cạnh” CHỈ áp dụng cho trung tuyến ứng với cạnh huyền — 2 đường trung tuyến còn lại (ứng với 2 cạnh góc vuông) vẫn phải tính theo công thức chung ở mục trên.

Trong tam giác cân tại đỉnh A (AB = AC), đường trung tuyến AM ứng với cạnh đáy BC đồng thời là đường cao (vuông góc với BC tại M), đường phân giác của góc A, và đường trung trực của cạnh BC. Nhờ đó có thể tính độ dài AM bằng định lý Pythagoras thay vì công thức Apollonius.
Ví dụ (đối chiếu 2 cách tính, cùng 1 tam giác): Tam giác cân có 2 cạnh bên 13cm, cạnh đáy 10cm. Cách 1 (Pythagoras, vì AM cũng là đường cao): AM = √(13² − 5²) = √(169 − 25) = √144 = 12cm. Cách 2 (công thức Apollonius với a = đáy = 10, b = c = cạnh bên = 13): AM = ½ × √(2×13² + 2×13² − 10²) = ½ × √(338 + 338 − 100) = ½ × √576 = ½ × 24 = 12cm — khớp với cách 1.

Trong tam giác đều, cả 3 cạnh bằng nhau nên cả 3 đường trung tuyến cũng bằng nhau, và mỗi đường vừa là trung tuyến, vừa là đường cao — xem thêm đường cao tam giác đều — vừa là đường phân giác, vừa là đường trung trực của cạnh tương ứng. Với cạnh a, độ dài mỗi đường trung tuyến là:
m = (a × √3) / 2
Điểm đồng quy của 3 đường trung tuyến trong tam giác đều đặc biệt ở chỗ nó trùng làm 4 vai trò cùng lúc: vừa là trọng tâm, vừa là trực tâm (xem trực tâm là gì), vừa là tâm đường tròn nội tiếp, vừa là tâm đường tròn ngoại tiếp của tam giác.
Ví dụ: Tam giác đều cạnh 8cm. Độ dài mỗi đường trung tuyến: m = (8 × √3)/2 = 4√3 ≈ 6,93cm. Tính chất chia diện tích ở mục trên cũng áp dụng: nếu biết diện tích tam giác đều này, vẫn có thể suy ra diện tích 6 phần nhỏ bằng cách chia đều cho 6 — xem thêm diện tích tam giác.
Để vẽ đường trung tuyến từ 1 đỉnh của tam giác bằng thước có vạch chia:
Lặp lại 3 bước trên với 2 đỉnh còn lại để vẽ đủ 3 đường trung tuyến. Nếu vẽ chính xác, cả 3 đường sẽ cắt nhau tại đúng 1 điểm (trọng tâm) — đây cũng là cách tự kiểm hình vẽ có đúng hay không.
| Trường hợp | Tính chất / công thức | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tam giác thường | ma = ½√(2b²+2c²−a²) | a: cạnh đối diện đỉnh A (BC) |
| Trọng tâm G | AG = ⅔ AM; GM = ⅓ AM | G là giao điểm 3 đường trung tuyến |
| Chia diện tích | S(ABM) = S(ACM) = ½ S(ABC) | 3 trung tuyến chia tam giác thành 6 phần bằng nhau |
| Tam giác vuông | trung tuyến ứng cạnh huyền = ½ cạnh huyền | 2 trung tuyến còn lại tính theo công thức chung |
| Tam giác cân (tại A) | AM ứng đáy = đường cao = phân giác = trung trực | chỉ đúng với trung tuyến ứng cạnh đáy |
| Tam giác đều | 3 trung tuyến bằng nhau, m = a√3/2 | điểm đồng quy = trọng tâm = trực tâm = tâm nội tiếp = tâm ngoại tiếp |
Tự làm trước khi xem đáp án để kiểm tra mức hiểu bài.
Bài 1. Đường trung tuyến AM của một tam giác dài 24cm. G là trọng tâm. Tính AG và GM.
AG = (2/3) × 24 = 16cm; GM = (1/3) × 24 = 8cm.
Bài 2. Tam giác ABC vuông tại A, cạnh huyền BC = 26cm. M là trung điểm BC. Tính độ dài đường trung tuyến AM.
Vì AM là trung tuyến ứng với cạnh huyền của tam giác vuông nên AM = BC/2 = 26/2 = 13cm.
Bài 3. Tam giác ABC cân tại A, AB = AC = 17cm, BC = 16cm. Tính độ dài đường trung tuyến AM ứng với cạnh đáy BC.
Vì AM cũng là đường cao nên dùng Pythagoras: AM = √(17² − 8²) = √(289 − 64) = √225 = 15cm.
Bài 4. Tính độ dài mỗi đường trung tuyến của một tam giác đều cạnh 10cm.
m = (10 × √3)/2 = 5√3 ≈ 8,66cm.
Bài 5. Tam giác ABC có a = BC = 9cm, b = CA = 10cm, c = AB = 11cm. Tính độ dài đường trung tuyến ma kẻ từ đỉnh A.
ma = ½ × √(2×10² + 2×11² − 9²) = ½ × √(200 + 242 − 81) = ½ × √361 = ½ × 19 = 9,5cm.
Bài 6. Tam giác ABC có diện tích 54cm². AM là đường trung tuyến. Tính diện tích tam giác ABM và diện tích mỗi phần khi chia tam giác ABC bằng đủ 3 đường trung tuyến.
S(ABM) = 54/2 = 27cm². Chia bằng đủ 3 đường trung tuyến được 6 phần bằng nhau: mỗi phần = 54/6 = 9cm².
Đường trung tuyến của tam giác là đoạn thẳng nối một đỉnh với trung điểm của cạnh đối diện đỉnh đó. Mỗi tam giác có đúng 3 đường trung tuyến, tương ứng với 3 đỉnh.
Gọi là trọng tâm của tam giác, thường ký hiệu G. Trọng tâm chia mỗi đường trung tuyến theo tỉ lệ 2:1, tức khoảng cách từ đỉnh đến trọng tâm gấp đôi khoảng cách từ trọng tâm đến trung điểm cạnh đối diện.
Cần chứng minh đủ 2 điều: một đầu đoạn thẳng là đỉnh của tam giác, đầu còn lại là trung điểm của cạnh đối diện đỉnh đó (tức chia cạnh đó thành 2 đoạn bằng nhau). Thiếu 1 trong 2 điều kiện thì không phải là đường trung tuyến.
Đường trung tuyến ứng với cạnh đáy của tam giác cân đồng thời là đường cao, đường phân giác của góc ở đỉnh và đường trung trực của cạnh đáy. Có thể tính độ dài bằng định lý Pythagoras thay vì công thức chung.
Trung tuyến m_a kẻ từ đỉnh A được tính theo 3 cạnh: m_a = ½ × căn bậc hai của (2b² + 2c² − a²), trong đó a là cạnh đối diện đỉnh A, b và c là 2 cạnh còn lại. Ví dụ a=8cm, b=7cm, c=9cm cho m_a = 7cm.
Đúng bằng một nửa cạnh huyền. Đây cũng là dấu hiệu nhận biết ngược lại: nếu một tam giác có đường trung tuyến ứng với 1 cạnh bằng đúng nửa cạnh đó thì tam giác này vuông, với cạnh đó là cạnh huyền.