
Dành hay giành đều đúng chính tả, nhưng nghĩa khác nhau. Dành là giữ lại để dùng về sau hoặc để riêng cho ai, cho việc gì: để dành, dành thời gian, dành tặng. Giành là tranh lấy về cho mình hoặc cố gắng để đạt được: giành chiến thắng, tranh giành, giành giật.
Hai từ đọc gần như giống nhau nên rất dễ viết lẫn. Cách chắc nhất là xem hành động trong câu là giữ lại, để riêng cho ai, hay là tranh lấy.
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, dành là động từ có hai nghĩa:
Thứ được “dành” thường vốn là của người nói, chỉ được giữ lại hoặc chia riêng ra, không phải giành từ tay ai.
Cụm dỗ dành nghĩa là vỗ về, an ủi cho ai đó yên lòng, ví dụ: “Cô dỗ dành bé nín khóc.” Chữ “dành” ở đây đi liền với “dỗ” thành một từ, không viết “dỗ giành”.
Cũng theo từ điển Hoàng Phê, giành (động từ) có ba nghĩa:
Điểm chung của ba nghĩa là có người hoặc điều khác cùng nhắm tới thứ đó, nên phải tranh hoặc phải cố mới có được.
Ở nghĩa danh từ, giành là đồ đan bằng tre, nứa, đáy phẳng, thành cao, dùng để đựng đồ, ví dụ: “cái giành đựng khoai”. Nghĩa này không liên quan tới “tranh giành”.

Hai phụ âm đầu d và gi được nhiều vùng đọc giống nhau, nên người viết dễ ghi theo âm nghe quen. Khi viết nhanh, ít ai dừng lại hỏi hành động trong câu là “để riêng cho” hay “tranh lấy”. Vì vậy lỗi hay lặp lại ở cùng một nhóm cụm: để dành, dành cho, dành dụm, dỗ dành, tranh giành, giành giật, giành chiến thắng.
Nhìn từ đi kèm là đoán được gần hết: “dụm”, “cho”, “tặng”, “dỗ” đi với dành; “giật”, “tranh”, “chiến thắng”, “giải thưởng” đi với giành.
| Cụm từ đúng | Cách viết sai | Cách hiểu |
|---|---|---|
| để dành | để giành | Giữ lại một phần cho sau này |
| dành dụm | giành dụm | Góp nhặt, tiết kiệm dần |
| dành thời gian | giành thời gian | Để riêng thời gian cho việc gì |
| dành tặng | giành tặng | Để riêng làm quà cho ai |
| dỗ dành | dỗ giành | Vỗ về cho yên lòng |
| tranh giành | tranh dành | Hai bên cùng muốn một thứ, giằng co nhau |
| giành giật | dành giật | Tranh lấy quyết liệt |
| giành chiến thắng, giành giải thưởng | dành chiến thắng, dành giải thưởng | Thi đấu, cố gắng để đạt kết quả |
Một số cụm không có cách viết sai cố định, vì đổi chữ là đổi nghĩa. Lúc này phải đọc cả câu:
Thay chữ đang phân vân bằng một cụm cùng nghĩa rồi đọc lại:
Thử với câu “Cô ___ phần quà cho học sinh”: “cô để riêng phần quà cho học sinh” nghe đúng ý, còn “cô tranh lấy phần quà” thì sai ngữ cảnh, nên viết “Cô dành phần quà cho học sinh”. Với câu “Hai đội ___ từng điểm số”, “hai đội tranh lấy từng điểm số” đúng ý nên viết “giành”.
Điền dành hoặc giành vào chỗ trống, rồi đối chiếu đáp án ngay sau mỗi câu.
Cả hai từ đều đúng, mỗi từ một nghĩa. Dành là giữ lại để dùng về sau hoặc để riêng cho ai, cho việc gì, ví dụ để dành, dành thời gian, dành tặng. Giành là tranh lấy về cho mình hoặc cố gắng để đạt được, ví dụ giành chiến thắng, tranh giành, giành giật.
Để dành mới đúng, nghĩa là giữ lại một phần cho sau này. Ví dụ: để dành tiền, để dành phần cơm. Để giành là viết sai trong nghĩa này.
Trong câu thường ngày như quà dành cho bạn, thời gian dành cho con thì viết dành cho, vì ý là để riêng cho ai đó. Chỉ viết giành khi có ý tranh lấy, ví dụ giành phần thắng cho đội nhà: phần thắng phải thi đấu mới có, không phải thứ sẵn có để chia.
Dành dụm mới đúng, nghĩa là góp nhặt, tiết kiệm dần dần. Ví dụ: dành dụm tiền sửa nhà. Giành dụm là viết sai.
Tranh giành và giành giật mới đúng, cả hai đều nói về việc hai bên cùng muốn một thứ và giằng co quyết liệt. Tranh dành và dành giật là viết sai.
Có. Ở nghĩa danh từ, giành là đồ đan bằng tre, nứa, đáy phẳng, thành cao, dùng để đựng đồ, ví dụ cái giành đựng khoai. Nghĩa này nay ít gặp và không liên quan tới tranh giành.