🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Một Số Vấn Đề Lý Luận - Thực Tiễn Cấp Thiết Liên Quan Trực Tiếp Đến Đổi Mới Nội Dung, Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Và Quản Lý Của Nhà Nước
Ebooks
Nhóm Zalo
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN ThS. PHẠM THỊ THINH
Biên tập nội dung: ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
TRẦN THỊ THANH PHIỆT
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa: ĐƯỜNG HỒNG MAI Chế bản vi tính: NGUYỄN THỊ HẰNG Đọc sách mẫu: BAN SÁCH KINH TẾ BÍCH LIỄU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: …2021/CXBIPH/..-../CTQG. Số quyết định xuất bản: ..-QĐ/NXBCTQG, ngày ../../2021. Nộp lưu chiểu: tháng .. năm 2021.
Mã ISBN: 978-604-57-….-…
Cu n sách c hình thành trên c s ch n l c các bài vi t thu c tài "Nh ng v n lý lu n và th c ti n c p thi t ph c v tr c ti p cho yêu c u i m i n i dung, ph ng th c lãnh o c a ng, qu n lý c a Nhà n c trong giai o n 2016-2021", Mã s : KX.04.30/16-20, do PGS.TS. Nguy n V n Th o làm ch nhi m.
H
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
ơn 30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Tư duy, nhận thức lý luận của Đảng trong từng lĩnh vực có sự đổi mới, phát triển mạnh mẽ; quan điểm về phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước cũng có những bước tiến lớn đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đất nước... Kết quả đổi mới, sự phát triển tư duy, nhận thức lý luận đó là cơ sở khoa học cho việc hình thành, phát triển quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, xây dựng hệ thống pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện. Đây là những nhân tố cơ bản, quan trọng nhất để đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Những thành tựu và bài học kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình đất nước và thế giới hiện nay, bên cạnh những kết quả đổi mới, phát triển tư duy, nhận thức lý luận đã đạt được, vẫn còn không ít vấn đề nhận thức lý luận chậm được làm rõ, hoặc chưa thống nhất; nhiều vấn đề mới đặt ra chưa được nghiên cứu, giải đáp có sức thuyết phục, nhất là trong các lĩnh vực về kinh tế và xây dựng, chỉnh đốn Đảng như: kinh tế
6 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế tri thức trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và tăng cường quản lý phát triển xã hội; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng; sắp xếp tổ chức bộ
máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra, kiểm soát quyền lực; đẩy mạnh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí;... Những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải được tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ, nhằm làm cho nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, sâu sắc, soi đường cho hoạt động thực tiễn kịp thời, có hiệu quả, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn.
Nhằm giúp bạn đọc có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về vấn đề nêu trên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Một số vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết liên quan trực tiếp đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước do PGS.TS. Nguyễn Văn Thạo - Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và PGS.TS. Nguyễn Viết Thông - Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương làm đồng chủ biên.
Kết cấu nội dung cuốn sách gồm bốn phần:
Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận chung về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; Phần thứ hai: Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và quản lý của Nhà nước;
Phần thứ ba: Thực tiễn đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ở Việt Nam;
LỜI NHÀ XUẤT BẢN 7
Phần thứ tư: Định hướng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Chủ đề của cuốn sách hàm chứa nội dung rộng lớn và phức tạp, nhiều nhận xét, kiến nghị nêu trong cuốn sách có giá trị tham khảo tốt, song cũng có ý kiến, nhận xét, kiến nghị cần được tiếp tục nghiên cứu, trao đổi và thảo luận thêm. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tôn trọng ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, đồng thời mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 6 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG,
QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP THIẾT LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC HIỆN NAY1
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THẠO*
T
rong hơn 30 năm đổi mới (1986-2018), tư duy, nhận thức của Đảng về nội dung, phương thức
lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đã có sự đổi mới, phát triển mạnh mẽ, được thể hiện trong Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011), Điều lệ Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị các nhiệm kỳ. Những kết quả đổi mới, phát triển tư duy, nhận thức đó là cơ sở cho việc hình thành, phát triển quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, là cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, xây dựng, bổ sung hệ thống pháp luật, cơ
chế, chính sách của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, nâng _______________
1. Báo cáo đề dẫn hội thảo của Đề tài KX.04-30/16-20.
* Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
12 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
cao năng lực, vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Đây là những nhân tố cơ bản, quan trọng nhất để đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài nhiều năm, thoát khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, đời sống nhân dân được cải thiện, quan hệ quốc tế được mở rộng, uy tín, vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới được nâng cao, tăng thêm thế và lực của đất nước; tạo tiền đề, điều kiện để đất nước tiếp tục phát triển trong những năm tới.
Là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt hoạt động của đất nước chủ yếu thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước. Quan điểm, đường lối của Đảng được thể chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo khung khổ pháp luật, tạo động lực và định hướng hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, của toàn dân để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng. Vì vậy, nội dung lãnh đạo của Đảng và nội dung quản lý của Nhà nước là thống nhất. Qua hơn 30 năm đổi mới, để
thực hiện mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (hay nói gọn hơn là để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hai mục tiêu này có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau), những nội dung lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đã được nhận thức ngày càng rõ, đầy đủ hơn. Cương lĩnh của Đảng đã xác định rõ những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, những phương hướng cơ bản cần phải thực hiện, những quan hệ lớn cần
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 13
phải giải quyết1. Những phương hướng, nhiệm vụ này được cụ thể hóa, bổ sung, phát triển trong Văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương trong những nhiệm kỳ qua. Cùng với nội dung lãnh đạo của Đảng, quản lý của
_______________
1. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: (1) dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; (2) do nhân dân làm chủ; (3) có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; (4) có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; (5) con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; (6) các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; (7) có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; (8) có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Các phương hướng cơ bản cần thực hiện: (1) đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; (2) phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (3) xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; (4) bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; (5) thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; (6) xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; (7) xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (8) xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Những mối quan hệ lớn phải giải quyết: (1) quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; (2) giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (3) giữa tuân theo các quy luật của thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; (4) giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; (5) giữa Nhà nước và thị trường; (6) giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; (7) giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; (8) giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (9) giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
14 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Nhà nước, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước trong hơn 30 năm đổi mới cũng không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu lãnh đạo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa1.
Tuy nhiên, khi nhìn lại 30 năm đổi mới Đại hội XII của Đảng (tháng 01-2016) đánh giá: những thành tựu đạt được còn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu của đất nước. Sự phát triển của đất nước chưa bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh chưa được giải quyết có hiệu quả. Những nguy cơ mà nhiều Đại hội Đảng đã chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt còn diễn biến phức tạp hơn. Nguyên nhân của tình hình này có nhiều, cả khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, trong đó, có nguyên nhân từ việc tổ chức thực hiện, nhưng cũng có nguyên nhân là một số vấn đề nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra chưa được làm rõ để
cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
_______________
1. Phương thức lãnh đạo của Đảng được xác định: (1) là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; (2) Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; (3) Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; (4) Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ...; (5) Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị...
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 15
Trên cơ sở những nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được nêu trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, Ban Chủ nhiệm Đề tài KX.04-30/16-20 đề xuất một số vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết liên quan đến nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cần được tập trung nghiên cứu. Trước hết, về nội dung lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, chúng tôi xin nêu những vấn đề lớn trong hai lĩnh vực kinh tế và xây dựng Đảng, hai lĩnh vực được xem là trọng tâm và then chốt trong lãnh đạo của Đảng hiện nay.
Trong lĩnh vực kinh tế, sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước nhiều năm qua đã tập trung vào hai nội dung lớn là xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; vừa xây dựng, phát triển lực lượng sản xuất, vừa xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp để thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và bảo đảm nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung và việc xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng, cũng như nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đạt được những kết quả to lớn; tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết đặt ra phải nghiên cứu, cần có câu trả lời, như:
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều hình thức sở hữu, hình thức tổ chức kinh doanh; các chủ thể
16 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Nhưng đồng thời, kinh tế nhà nước lại được xác định là giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Vậy, hiểu thế nào là chủ đạo? Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo có mâu thuẫn với các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật không? Làm sao nâng cao được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước nói chung (vốn, đất đai, tài nguyên...)? Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khuyến khích thu hút, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vậy, các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các hình thức phân phối này sẽ vận động, phát triển, biến đổi thế nào trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, để không trở thành lực cản hay làm chệch hướng đối với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế?
- Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vừa tuân theo đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm các yếu tố định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự
quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, gắn kết chặt chẽ sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường được xem là những yếu
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 17
tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Nhưng, vai trò, chức năng, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội thế nào để vừa tạo được động lực mạnh mẽ, vừa điều tiết, định hướng có hiệu quả hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cơ quan nghiên cứu, các đơn vị sự nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp đến người lao động, người tiêu dùng trong xã hội? Làm sao để huy động, phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; thúc đẩy việc đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới quản lý để
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế? Làm sao để phát huy được mặt tích cực, ngăn ngừa, khắc phục được những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, để gắn kết chặt chẽ được sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; phát triển bao trùm, bền vững, như mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đề ra?
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng, Nhà nước xác định là một trong những đột phá chiến lược cần phải tập trung thực hiện. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế. Rất nhiều lĩnh vực hiện nay gặp khó khăn, vướng mắc, cản trở về thể chế, cần phải được tháo gỡ. Làm sao thể chế hóa đầy đủ quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật để quyền sở hữu tài sản được bảo vệ, được đưa vào giao dịch phục vụ sự phát triển? Hoàn thiện thể chế làm sao để quản lý, khai thác, phân bổ hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực, cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực, tài sản xã hội; đặc biệt là
18 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
các nguồn lực, tài sản công của Nhà nước, như: đất đai, tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn của Nhà nước, khắc phục tình trạng tham nhũng, lãng phí, thất thoát lớn gây bức xúc xã hội trong các lĩnh vực này? Hoàn thiện thể chế làm sao để
tạo môi trường thật sự công khai, minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật cho mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế?; để thúc đẩy việc cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế?; để xây dựng được nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế? Hoàn thiện thể chế thế nào để phát triển, vận hành thông suốt các loại thị trường trong nước và gắn kết với thị trường quốc tế; đồng thời bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ chủ quyền kinh tế đất nước, bảo vệ người tiêu dùng?, v.v..
- Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đã được xem là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và được xác định là phương hướng đầu tiên trong tám phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội được nêu trong Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương ở nhiều nhiệm kỳ đã đề ra nhiều quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện chủ trương quan trọng này. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn rất hạn chế, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại mà nhiều Đại hội Đảng liên tục đề ra chưa đạt được. Rất nhiều vấn đề
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 19
lý luận và thực tiễn đặt ra cần phải được nghiên cứu, tổng kết, như: Thế nào là một nước công nghiệp hiện đại hay một nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong thời đại ngày nay? Những tiêu chí cơ bản để xác định một nước công nghiệp hiện đại hay một nước công nghiệp theo hướng hiện đại là gì? Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và trong bối cảnh trên thế giới cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, một nước mới ở thời kỳ cách mạng công nghiệp 2.0 theo chuẩn mực và phân loại quốc tế, phải làm gì, làm như thế nào để rút ngắn khoảng cách phát triển, tiến tới đuổi kịp các nước tiên tiến? Làm gì và làm như thế nào để có thể tham gia, có vai trò trong các chuỗi giá trị toàn cầu những sản phẩm quan trọng của các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới? Đâu là những ngành, lĩnh vực, sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế, có khả năng cạnh tranh cần được ưu tiên, khuyến khích, tập trung phát triển?
Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng là một yêu cầu lớn, cấp bách đã được Đảng, Nhà nước ta đề ra từ 1-2 nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây; do mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, mà nền kinh tế nước ta thực hiện nhiều năm qua đạt được tốc độ tăng trưởng cao trên cơ sở
tăng sử dụng các yếu tố đầu vào (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, năng lực, vốn và lực lượng lao động) nhưng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, đã trở thành trở ngại cản trở sự phát triển của đất nước, phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, chủ yếu là tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực có chất
20 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
lượng cao để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Nhưng kết quả cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế đạt được cũng rất hạn chế, còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có câu trả lời, như: để tái cơ
cấu nền nông nghiệp hiện nay, phát triển nền nông nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao, cần thiết phải làm rõ tính tất yếu, những đặc điểm (hay tính đặc thù) trong quá trình đi lên sản xuất lớn, công nghệ cao của nông nghiệp; phải giải quyết được vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển những hình thức tổ chức sản xuất lớn trong nông nghiệp như trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp; ứng dụng tiến bộ khoa học -công nghệ vào sản xuất, tổ chức chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới. Để cơ cấu lại nền công nghiệp, phải làm sao lựa chọn và có chiến lược đúng đắn, tập trung nguồn lực, phát triển những ngành công nghiệp nền tảng tạo nên sức mạnh, độc lập, tự chủ của một đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 (giảm dần những hoạt động chỉ thuần tuý gia công, lắp ráp, sử dụng lao động phổ thông, giá rẻ), để có thể tham gia và khẳng định được vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu nhiều sản phẩm công nghệ cao, quan trọng...
Trong lĩnh vực xây dựng Đảng, lĩnh vực được xác định là nhiệm vụ then chốt để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết phải được giải quyết, như:
- Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định là nền tảng tư tưởng của Đảng, là cơ sở để Đảng xây dựng Cương lĩnh, mục tiêu, nguyên tắc tổ chức hoạt
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 21
động của Đảng, nhiệm vụ, nội dung lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ. Nhưng ngày nay, trong bối cảnh mới của thời đại, xuất hiện nhiều hiện tượng mới, quá trình mới và trước sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang bị các lực lượng thù địch tấn công, phê phán, bôi nhọ, phủ định, bác bỏ. Yêu cầu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của đất nước, của thời đại để bảo vệ, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là hết sức cấp thiết, hết sức quan trọng.
- Cùng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, một trong những nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Đảng phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hiện nay là làm rõ vì sao, nguyên nhân gì dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu, vi phạm kỷ luật đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quan liêu, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nghiêm trọng như hiện nay? Phải làm gì, làm thế nào để đấu tranh ngăn chặn, tạo chuyển biến căn bản, đẩy lùi tình trạng này, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh?
- Nhiều mặt rất cơ bản trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, như: công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ, công tác kiểm tra, công tác dân vận, công tác phát triển Đảng..., mặc dù đã được quan tâm nghiên cứu, tổng kết, rất nhiều tìm tòi, đổi mới đã được thực hiện, nhưng chất lượng của các hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, còn nhiều vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết đòi hỏi phải được giải đáp, như: vì sao đã có rất nhiều quy định, quy chế, quy
22 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
trình nhưng vẫn không quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, không đánh giá đúng cán bộ, thực hiện đúng quy trình nhưng lựa chọn để bổ nhiệm, đề bạt không đúng cán bộ? Vì sao đã được Đảng giáo dục, rèn luyện, đã có nhiều quy định của Đảng về trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, nhưng nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vẫn quan liêu, hách dịch, vô cảm, vô trách nhiệm với người dân? Vì sao nhiều cán bộ sai phạm nghiêm trọng, kéo dài, nhưng chậm được phát hiện, nhất là rất ít khi do tổ chức cơ sở đảng nơi cán bộ đó sinh hoạt phát hiện và ngay cả khi được phát hiện thì xử lý kỷ luật và thay thế cán bộ đó cũng rất khó khăn, kéo dài? Làm thế nào để đẩy lùi, ngăn chặn được những tiêu cực này? Làm sao để nhân dân tham gia có hiệu quả vào những công tác này của Đảng...
- Trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, làm thế nào phát huy được dân chủ thật sự trong Đảng để sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng, tự phê bình và phê bình trong Đảng, việc thực hiện các quy trình, quy chế trong Đảng không phải là hình thức? Làm thế nào kiểm soát được quyền lực trong Đảng, nhất là của người đứng đầu cấp ủy các cấp để quyền lực Đảng giao cho được sử dụng đúng đắn, phục vụ lợi ích của Đảng, của nhân dân, của đất nước không vì lợi ích cá nhân?...
Thứ hai, về phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cũng còn nhiều vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết đặt ra đòi hỏi phải được nghiên cứu, tổng kết để có câu trả lời, như:
- Vấn đề phương thức cầm quyền của Đảng. Cần phải tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa lãnh đạo và cầm quyền, phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền; cần làm rõ
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 23
phương thức cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ số, internet kết nối vạn vật. Làm sao để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mọi vấn đề quan trọng của đất nước, của xã hội, không buông lỏng lãnh đạo, nhưng không làm thay Nhà nước, không biến quyền lực chính trị của Đảng thành quyền lực nhà nước, không làm ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả quản lý bằng pháp luật của Nhà nước, để thật sự Đảng hoạt động trong khung khổ Hiến pháp và pháp luật? Liên quan đến vấn đề này, nhiều vấn đề cụ thể thực tiễn đặt ra cần phải nghiên cứu, tổng kết, như: người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng nên hay không nên đồng thời là người đứng đầu chính quyền, cơ quan nhà nước cùng cấp? nên hay không nên hợp nhất một số cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy đảng và cơ quan tham mưu, quản lý của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ như nhau thành “một nhà hai cửa”? Việc cấp ủy đảng giới thiệu cán bộ, đảng viên của Đảng để các cơ quan nhà nước bầu vào các chức danh lãnh đạo của mình nên theo quy trình nào: “Đảng cử, dân bầu”, hay “dân bầu, Đảng cử” để chọn đúng người có đức, có tài, có uy tín?...
- Để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi phải giải quyết được mối quan hệ giữa bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo tập thể và việc nâng cao trách nhiệm của cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu; phải làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ giữa các cấp ủy, tổ
chức đảng ở từng cấp, nhất là của Đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đòi
24 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
hỏi phải đổi mới đồng bộ từ cách xây dựng, ban hành, phổ biến, quán triệt, tổ chức thực hiện, đến việc đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi phải nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tìm câu trả lời.
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
GS.TS. DƯƠNG XUÂN NGỌC*
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng Cộng sản cầm quyền
Vào thời kỳ của C. Mác và Ph. Ăngghen, do giai cấp vô sản trong thực tế chưa giành được chính quyền, chưa có một nhà nước của mình, nên các ông chưa có điều kiện đề cập đến và có những quan điểm cụ thể về vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền. C. Mác và Ph. Ăngghen chủ yếu mới đề cập đến vấn đề đấu tranh giai cấp trong các xã hội có giai cấp tất yếu sẽ
dẫn đến việc hình thành các đảng chính trị và các đảng chính trị đó sẽ đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khi bàn về Đảng Cộng sản, các ông mới đề cập đến một số phương diện sau:
_______________
* Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
26 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
- Về tính tất yếu ra đời của Đảng Cộng sản, các ông xác định: để bảo đảm thắng lợi của cách mạng xã hội và giành được mục đích cuối cùng của nó là thủ tiêu các giai cấp, giai cấp công nhân phải được tổ chức thành một chính đảng độc lập: “Trong cuộc đấu tranh của mình chống quyền lực liên hợp của các giai cấp hữu sản, giai cấp công nhân, chỉ khi được tổ chức thành một chính đảng độc lập với tất cả các chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập nên, thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp.
Việc tổ chức như vậy giai cấp công nhân thành một chính đảng là cần thiết để bảo đảm thắng lợi của cách mạng xã hội và giành được mục đích cuối cùng của nó là thủ tiêu các giai cấp”1.
- Về tính tiên phong của Đảng Cộng sản, các ông khẳng định: Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản. Họ chiến đấu cho những mục đích và những lợi ích trước mắt của giai cấp vô sản, nhưng đồng thời trong phong trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào2.
- Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản: Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, Đảng Cộng sản chỉ có thể phát triển vững mạnh khi dựa trên những nguyên tắc tổ chức và hoạt động dưới đây. Điều này cũng được hiểu như phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản:
_______________
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.18, tr.203.
2. Xem C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.614-615.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 27
(1) Đảng phải kết hợp lý luận tiên phong với thực tiễn phong trào công nhân, phong trào cách mạng. Về thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về lý luận, họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào.
(2) Đảng phải là tổ chức độc lập với tất cả các đảng khác: “... chừng nào giai cấp vô sản càng trưởng thành để có thể tự giải phóng mình thì họ sẽ tự tổ chức thành một đảng riêng biệt”1; “... chính đảng công nhân không được theo đuôi chính đảng tư sản này hoặc kia mà phải trở thành một đảng độc lập có mục đích của mình, chính sách của mình”2.
(3) Hợp tác và đoàn kết quốc tế: “Hội liên hiệp được thành lập để làm trung tâm liên lạc và hợp tác giữa các đoàn thể công nhân tồn tại ở các nước và theo đuổi cùng một mục đích là bảo vệ, phát triển và giải phóng hoàn toàn giai cấp công nhân”3.
(4) Liên minh công nông là cơ sở chính trị cơ bản và quan trọng nhất của Đảng. Để thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng tiến tới giành chính quyền, cần thiết lập khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Để có thể
giành và giữ được chính quyền, giai cấp vô sản thành thị phải liên minh với giai cấp nông dân, nếu không “bài ca” của giai cấp vô sản sẽ trở thành “bài ca ai điếu”.
(5) Thống nhất giữa tính dân tộc và tính quốc tế là một trong những nguyên tắc tổ chức và hành động của Đảng: _______________
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21, tr.257.
2, 3. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.17, tr.552, 584.
28 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
“... giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc,... Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ
bị xóa bỏ”1. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.
Vậy là, khi nói nội dung lãnh đạo của Đảng Cộng sản (chủ yếu chưa phải Đảng cầm quyền), C. Mác và Ph. Ăngghen mới đề cập đến lãnh đạo chính trị. Còn khi nói về phương thức lãnh đạo, các ông đề cập đến năm phương thức: Phải kết hợp lý luận tiên phong với thực tiễn phong trào công nhân; phải là tổ chức độc lập với tất cả các đảng khác; phải hợp tác và đoàn kết quốc tế; phải xây dựng liên minh công nông là cơ
sở chính trị cơ bản và quan trọng nhất của Đảng; phải thống nhất giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Bằng các phương thức này để lãnh đạo chính trị trong cuộc đấu tranh chung chống bọn tư bản và bọn địa chủ, và chống sự thống trị giai cấp của bọn chúng được tổ chức thành nhà nước.
Phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về Đảng Cộng sản, V.I. Lênin đã xây dựng lý luận đảng kiểu mới, trong đó có nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Theo V.I. Lênin, Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân: “Công cuộc giải phóng giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của chính bản thân những người công nhân...; trong tất cả các nước, chỉ có sự kết hợp giữa chủ
_______________
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.623-624.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 29
nghĩa xã hội với phong trào công nhân mới xây dựng được một cơ sở vững chắc cho cả hai. Nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy lại là một sản phẩm của lịch sử, lại được thực hiện bằng những con đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian”1. Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là một Đảng tiên phong về lý luận. Khi thành lập Đảng, V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lý luận cách mạng: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”2; và “... chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”3.
Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân gồm đội ngũ những người hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. V.I. Lênin viết: “Và tôi khẳng định rằng: 1) không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo; 2) càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc...; 3) một tổ chức như thế thì chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp của mình; 4) trong một nước chuyên chế, chúng ta càng thu hẹp số người của tổ chức ấy lại đến mức chỉ nhận vào tổ chức những người cách mạng chuyên nghiệp đã từng được rèn luyện về nghệ thuật chống bọn cảnh sát chính trị thì một tổ chức như thế càng khó bị “tóm”; và 5) số công nhân và những phần tử của các giai cấp _______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t.4, tr.470-471. 2, 3. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, t.6, tr.30, 32.
30 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
xã hội khác có thể tham gia phong trào và công tác tích cực trong phong trào, sẽ càng đông”1. Hơn nữa, V.I. Lênin còn chỉ rõ: Để giành quyền thống trị, nhất thiết giai cấp lãnh đạo phải đào tạo được lãnh tụ chính trị có đủ năng lực tổ chức và lãnh đạo phong trào: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”2.
Chính trị là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi giai cấp vô sản muốn thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự của mình có trí tuệ, năng lực và sáng tạo. V.I. Lênin nêu rõ: “Chính trị là một khoa học và một nghệ thuật không phải từ trên trời rơi xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn thắng giai cấp tư
sản thì phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”3.
Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là đội ngũ tiên tiến của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức công nhân. Là đội ngũ tiên tiến, hoạt động của Đảng phải giúp sức cho cuộc đấu tranh giai cấp của công nhân. Nhiệm vụ của Đảng phải là: giúp đỡ phát triển ý thức giai cấp công nhân; giúp đỡ tổ chức công nhân lại; giúp đỡ chỉ ra mục đích chân chính của cuộc đấu tranh, đó là cuộc đấu tranh chính trị, tìm cách ảnh hưởng đến công việc nhà nước, đến việc quản lý nhà nước,
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.158-159.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.473.
3. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.41, tr.80-81.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 31
đến việc ban hành các đạo luật...; “Trong lĩnh vực chính trị cũng thế: hiển nhiên là tư tưởng chung về đấu tranh chính trị thì chỉ có công nhân có tri thức mới tiếp thu được, còn quần chúng thì đi theo...”1. Hơn thế nữa, Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân không chỉ là đội tiên phong lãnh đạo giai cấp công nhân, mà còn lãnh đạo giai cấp nông dân và toàn dân để thực hiện chủ nghĩa xã hội. “Lãnh đạo toàn dân, và đặc biệt là lãnh đạo nông dân để giành lấy tự do hoàn toàn, để thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ triệt để, để thiết lập chế độ cộng hòa”2.
V.I. Lênin khẳng định Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là một chính đảng mang tính chất quốc tế. “Đảng dân chủ - xã hội Nga tự coi mình là một đội ngũ của đạo quân vô sản toàn thế giới, là một bộ phận của phong trào dân chủ - xã hội quốc tế”3. Đảng thống nhất về tư tưởng và tổ chức: “Trước hết, cần phải xây dựng sự thống nhất vững chắc về mặt tư tưởng, loại trừ những sự bất đồng ý kiến và sự mơ hồ
về tư tưởng hiện đang - ta cứ việc nói thẳng! - ngự trị trong hàng ngũ những người dân chủ - xã hội Nga; phải lấy cương lĩnh của đảng để củng cố sự thống nhất tư tưởng ấy. Thứ nữa, phải xây dựng một tổ chức chuyên trách giữ vững mối liên hệ giữa tất cả các trung tâm của phong trào, cung cấp kịp thời những tin tức đầy đủ về phong trào đó và cung cấp đều đặn báo chí định kỳ cho tất cả các địa phương ở nước Nga. Chỉ khi nào đã xây dựng được một tổ chức như vậy, chỉ khi nào lập được một bưu vụ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, thì
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.400.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.11, tr.133. 3. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.261.
32 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
khi ấy sự tồn tại của đảng mới được bảo đảm và đảng mới trở thành một sự thật hiện thực và do đó, cũng trở thành một lực lượng chính trị hùng mạnh”1. V.I. Lênin kêu gọi: “... hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!”2.
Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng vô sản kiểu mới, V.I. Lênin khẳng định đó là nguyên tắc tập trung dân chủ, bởi trước hết, Đảng phải được tổ chức và hoạt động tập trung thống nhất. Cần thống nhất cơ quan ngôn luận Trung ương với Ban Chấp hành Trung ương; Ban Chấp hành Trung ương phải lãnh đạo tất cả mọi mặt của phong trào địa phương và quản lý tất cả các cơ quan ở địa phương, nhân lực và vật lực của Đảng... Tổ chức và hoạt động của Đảng được thực hiện theo nguyên tắc tập trung và phân cấp trách nhiệm. Nếu trong việc lãnh đạo phong trào và cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản về mặt tư tưởng và thực tiễn cần có chế độ tập trung càng mạnh càng tốt, thì về phương diện làm cho Trung ương Đảng nắm lấy tình hình phong trào, về phương diện trách nhiệm trước Đảng, cần có chế độ phân cấp càng rộng rãi càng tốt... Chế độ phân cấp ấy là điều kiện cần thiết của chế độ tập trung cách mạng và là vật bổ sung tất yếu của nó3.
Tiếp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng phải thực hiện lấy tự phê bình và phê bình là nguyên tắc xây dựng và phát triển. Đó là “... một việc tuyệt đối cần thiết cho hết thảy
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.453.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.162.
3. Xem V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.7, tr.23-24.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 33
mọi chính đảng sống và đầy sức sống”1. Thống nhất hành động và tự do thảo luận, phê bình có quan hệ mật thiết với nhau: “Thống nhất hành động, tự do thảo luận và phê bình, đó là định nghĩa của chúng ta”2. Tự phê bình và phê bình được V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh trong thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế. Tự phê bình và phê bình để thấy sai lầm và sửa chữa sai lầm có quan hệ đến sự tồn vong của các đảng. V.I. Lênin cảnh báo: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình. Còn chúng ta, chúng ta sẽ không bị tiêu vong, vì chúng ta không sợ nói lên những nhược điểm của chúng ta, và những nhược điểm đó, chúng ta sẽ học được cách khắc phục”3.
Đồng thời, theo V.I. Lênin, Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân có quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. “Muốn phục vụ quần chúng và đại biểu cho lợi ích được nhận thức một cách đúng đắn của họ, thì đội tiên phong, tức là tổ
chức, phải tiến hành toàn bộ hoạt động của mình trong quần chúng, vừa thu hút ở trong quần chúng tất cả mọi lực lượng ưu tú nhất, không trừ một lực lượng nào, vừa kiểm tra trên mỗi bước đi, một cách cẩn thận và khách quan, xem mối liên hệ với quần chúng có được giữ vững không, mối liên hệ đó có mật thiết không. Như thế, và chỉ có như thế, đội tiên phong mới giáo dục và giác ngộ được quần chúng, đồng thời đại biểu cho những lợi ích của họ, dạy cho họ biết tổ chức lại, hướng
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.10, tr.395. 2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.14, tr.163. 3. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t.45, tr.141.
34 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
toàn bộ hoạt động của quần chúng đi theo một đường lối chính trị giai cấp tự giác”1.
Từ lý luận về Đảng vô sản kiểu mới, V.I. Lênin cũng chỉ rõ những vấn đề lý luận quan trọng về Đảng cầm quyền. Ngay từ trước Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917), V.I. Lênin đã cho rằng, Đảng Bônsêvích Nga “bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đứng ra nắm toàn bộ chính quyền”. Trong thời kỳ lãnh đạo giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lênin đã nhiều lần sử dụng trong các bài nói, bài viết của mình các thuật ngữ, khái niệm như “đảng cầm quyền”, “đảng chấp chính”, “đảng nắm chính quyền”, “đảng lãnh đạo”... Theo V.I. Lênin, Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo Nhà nước hay Đảng lãnh đạo Nhà nước khi đã cầm quyền. V.I. Lênin khẳng định, ở nước Nga “chỉ có một đảng cầm quyền duy nhất đang lãnh đạo”2.
Trong các luận điểm về Đảng Cộng sản cầm quyền, V.I. Lênin đã đề cập đến nhiều vấn đề về sự cầm quyền của Đảng, trong đó cốt lõi là nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước chính là nói lên các đặc điểm mang tính bản chất của nền chuyên chính vô sản. Trong nền chuyên chính vô sản, Nhà nước phải chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Khi trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề quan trọng trước hết là phải phân định chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng với chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước. Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đảng Cộng sản _______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.24, tr.51. 2. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.45, tr.136.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 35
Nga đã lãnh đạo bộ máy chính quyền xôviết thực hiện công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng chế độ xã hội mới, V.I. Lênin chỉ rõ, chừng nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng và toàn Đảng còn tiếp tục làm công tác quản lý hành chính, nghĩa là quản lý nhà nước, thì Đảng không thể gọi là người lãnh đạo được. Tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Nga (tháng 4-1922), đánh giá về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước khi đó, V.I. Lênin viết rằng: “Giữa đảng và các cơ quan xôviết, hiện đã có những quan hệ không đúng;... Phải chấm dứt tình trạng là bất kỳ vấn đề vụn vặt nào cũng đưa ra trước Ban chấp hành trung ương, mà phải nâng cao uy quyền của Hội đồng bộ trưởng dân uỷ...”1. Từ đó, V.I. Lênin khẳng định: “Nếu cứ lãnh đạo đảng bằng cách đó, thì chúng ta nhất định đi tới chỗ diệt vong... rằng cần phải phân rõ chức năng quyền hạn của bộ máy của đảng và của bộ máy của các xôviết”2. Để khắc phục sự lẫn lộn, chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan đảng và nhà nước, theo V.I. Lênin: “... cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của đảng (và của Ban chấp hành trung ương của nó) với nhiệm vụ của Chính quyền xôviết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ xôviết và các cơ quan xôviết, còn về đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt, như hiện nay”3.
Như vậy, V.I. Lênin đã khẳng định rất rõ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Lãnh đạo là _______________
1, 2, 3. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.45, tr.136-137, 145-146, 75.
36 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
công việc có những cách thức khác với quản lý. Quản lý của Nhà nước mang tính chất hành chính, có lúc cần thiết phải sử dụng cả sự cưỡng bức, còn lãnh đạo không thể có cưỡng bức. Lãnh đạo của Đảng cần đến uy tín và có sức thuyết phục cao, từ đó trong quá trình Đảng cầm quyền, cần phân định rõ chức năng, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Công đoàn. Trong nền chuyên chính vô sản, Nhà nước phải chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. V.I. Lênin đã viết: “Thực hiện nền chuyên chính, là do giai cấp vô sản được tổ chức trong các Xôviết và chịu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản bônsêvích...”1. Chỉ có Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước mới đáp ứng đúng mục tiêu của Đảng là xây dựng được một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Chừng nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng và toàn Đảng còn tiếp tục làm công tác quản lý hành chính, nghĩa là quản lý nhà nước, thì Đảng không thể gọi là người lãnh đạo được. V.I. Lênin cũng chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản (b) Nga cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội, và việc nhất thể hóa một số bộ phận hoặc cán bộ lãnh đạo của Đảng và chính quyền sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của cả Đảng và chính quyền: “Tuy tất cả chúng ta đều biết rằng với tư cách là đảng chấp chính, chúng ta không thể không nhập các “cao cấp” của chính quyền với các “cao cấp” của đảng làm một, - chúng ta đang làm như vậy và sẽ tiếp tục làm như vậy...”2. Theo V.I. Lênin, điều quan trọng là phải nhận thức sâu sắc rằng, đảng có chức năng lãnh đạo, còn Nhà nước có chức năng là quản lý hành chính. V.I. Lênin chỉ rõ: “Nhà nước là
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.37.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t.43, tr.17.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 37
lĩnh vực thực hành cưỡng bức. Chỉ có điên rồ mới từ bỏ cưỡng bức, nhất là trong thời đại chuyên chính vô sản. Dùng “mệnh lệnh hành chính” và đứng trên quan điểm hành chính để giải quyết vấn đề ở đây là tuyệt đối cần thiết. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiên phong trực tiếp nắm chính quyền, đó là người lãnh đạo. Khai trừ ra khỏi đảng chứ không phải cưỡng bức, chính là phương pháp hành động đặc biệt đối với đội tiên phong để làm cho đội đó được trong sạch và rèn luyện nó. Công đoàn là bể chứa chính quyền nhà nước, là trường học chủ nghĩa cộng sản, là trường học quản lý kinh tế”1.
Về nội dung lãnh đạo của Đảng cầm quyền, theo V.I. Lênin, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện trước hết ở nội dung lãnh đạo. Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đảng Cộng sản Nga đã lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền xôviết. Những nội dung lãnh đạo của Đảng đã có những điểm mới so với trước đó, tức là chuyển trọng tâm từ việc lãnh đạo giành chính quyền về tay giai cấp vô sản sang trọng tâm thực hiện công cuộc khôi phục phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Điều đó cho thấy, nội dung lãnh đạo của Đảng khi đã nắm chính quyền có những điểm khác so với nội dung lãnh đạo khi Đảng chưa nắm được chính quyền. Chỉ khi Đảng nắm được chính quyền, những nội dung lãnh đạo mới được hiểu và biểu hiện là những nội dung cầm quyền.
Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện chủ yếu và trước hết ở việc Đảng xác định các mục tiêu mang _______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.42, tr.369.
38 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
tính chất định hướng trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng cũng chính là mục tiêu xác định cho Nhà nước phải đạt tới, vì lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Mục tiêu được phân ra theo các góc độ khác nhau như: mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn; mục tiêu tổng quát và mục tiêu riêng biệt đối với từng lĩnh vực nào đó.
Mục tiêu lâu dài bao gồm những tiêu chí mà sự lãnh đạo của Đảng cần phải đạt sau một thời gian dài. Điều đó cũng có nghĩa là cương lĩnh của Đảng đòi hỏi phải có tầm nhìn xa trông rộng. Các mục tiêu hay những định hướng đường lối, chủ trương đó của Đảng cần phải được xây dựng một cách khoa học, tức là phải tuân theo những quy luật khách quan và xuất phát từ thực tiễn để bảo đảm sự đúng đắn của chúng.
Trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình, Đảng còn phải xác định cả những nhiệm vụ cho Đảng và Nhà nước. Có nhiệm vụ lâu dài, nhiệm vụ trước mắt trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội. Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết” viết vào tháng 4-1918, V.I. Lênin cho rằng, sau khi Đảng Cộng sản đã nắm được chính quyền thì “... nhiệm vụ tổ chức quản lý nước Nga - hiện đang được đề ra trước mắt chúng ta, đó là nhiệm vụ trước mắt..., nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm. Chúng ta, đảng bônsêvích, chúng ta đã thuyết phục được nước Nga. Chúng ta đã giành được nước Nga... Bây giờ, chúng ta phải quản lý nước Nga. Và toàn bộ đặc điểm của tình thế hiện thời, tất cả sự khó khăn là ở chỗ phải hiểu rõ những đặc điểm của bước chuyển từ nhiệm vụ chủ yếu là thuyết phục nhân dân và dùng lực
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 39
lượng quân sự trấn áp bọn bóc lột, sang nhiệm vụ chủ yếu là quản lý”1.
Theo quan điểm của V.I. Lênin, trong nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Đảng cần định ra các phương hướng, nhiệm vụ chung về các mặt và nguyên tắc chung về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, không nên đề ra các nhiệm vụ quá chi tiết, nội dung giải quyết các công việc quá cụ thể...
Khi trở thành Đảng cầm quyền, người cộng sản phải học tập cách thức quản lý phát triển kinh tế, bởi theo V.I. Lênin, cái còn thiếu của những người cộng sản sau khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền là kinh nghiệm quản lý kinh tế.
Theo V.I. Lênin, Đảng Cộng sản cầm quyền theo những nội dung sau:
- Thứ nhất, Đảng xác định các mục tiêu mang tính chất định hướng của Đảng trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình. Mục tiêu nói chung và mục tiêu lâu dài nói riêng của Đảng được xác định trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng tại các kỳ đại hội. Các mục tiêu hay những định hướng, đường lối, chủ trương của Đảng đó rất cần phải được xây dựng một cách khoa học, tức là phải tuân theo những quy luật khách quan và xuất phát từ thực tiễn để bảo đảm sự đúng đắn của chúng. V.I. Lênin nêu rõ: “Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự
đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”2. _______________
1, 2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.36, tr.209, 208.
40 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
- Thứ hai, trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình, Đảng còn phải xác định cả những nhiệm vụ cho Đảng và Nhà nước. Có nhiệm vụ lâu dài, nhiệm vụ trước mắt trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội. “Nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu đã được đề ra trong cương lĩnh của đảng ta, coi đó là một công tác rất lâu dài”1. 2.
- Thứ ba, việc xác định các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước cần phải có sự định hướng vào các nhiệm vụ cấp thiết và mấu chốt. Các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm: Công tác tư tưởng, xây dựng bộ máy nhà nước và các tổ chức quần chúng; công tác xây dựng Đảng, trong đó đặc biệt vấn đề tổ chức cán bộ và kiểm tra của Đảng; nhiệm vụ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nhiệm vụ kinh tế phải luôn được coi trọng và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội: “... trong nước ta, công tác kinh tế phải là sự nghiệp chung của tất cả mọi người. Đối với chúng ta, đó là hoạt động chính trị có ý nghĩa nhất”2. Theo quan điểm của V.I. Lênin, trong nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Đảng không nên đề ra các nhiệm vụ quá chi tiết, nội dung giải quyết các công việc quá cụ thể. Đảng cần định ra các phương hướng, nhiệm vụ chung về các mặt và nguyên tắc chung về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Về phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản, V.I. Lênin chỉ rõ:
_______________
1, 2. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.58, 396-397.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 41
- Thứ nhất, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng việc đề ra các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chỉ thị, nghị quyết của Đảng: “Trong nước cộng hòa của chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng”1.
Tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga, V.I. Lênin cũng chỉ rõ: “Nhiệm vụ của chúng ta chỉ là định những đường lối nguyên tắc và nêu ra khẩu hiệu. Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do đại hội của đảng thông qua là những điều mà toàn nước Cộng hòa phải tuân theo...”2. 3
- Thứ hai, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong bộ máy nhà nước. Theo V.I. Lênin, đây là một trong các phương thức lãnh đạo cơ bản, thể hiện như một trọng trách của Đảng cầm quyền: “Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga phải tham gia các Xôviết đại biểu công nhân phi đảng bằng cách lập ra những nhóm đảng viên hết sức mạnh trong mỗi Xôviết và làm cho hoạt động của những nhóm này liên hệ chặt chẽ
với hoạt động chung của đảng”3.4Chỉ có thông qua đội ngũ đảng viên của Đảng cầm quyền trong bộ máy nhà nước, mọi hoạt động của Nhà nước mới bảo đảm theo đúng mục tiêu của Đảng đã vạch ra. Những cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước phải hoạt động làm sao bảo đảm vừa với tư cách là người đại diện cho Đảng, vừa với tư cách là người đại biểu của dân, tức người đại diện cho chính quyền.
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.41, tr.38.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.74.
3. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.12, tr.272.
42 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Theo quan điểm của V.I. Lênin, đây là một trong các phương thức lãnh đạo cơ bản, thể hiện như một trọng trách của Đảng cầm quyền. Tại Đại hội VIII các Xôviết toàn Nga (tháng 2-1920), V.I. Lênin cũng viết rằng: “Chừng nào một đảng cầm quyền còn quản lý, chừng nào đảng ấy còn phải giải quyết tất cả mọi vấn đề về những sự bổ nhiệm khác nhau, thì anh không thể để có tình trạng là việc bổ nhiệm các chức vụ nhà nước quan trọng nhất lại do một đảng không lãnh đạo tiến hành”1.
- Thứ ba, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng công tác kiểm tra.
Kiểm tra được coi là công việc mấu chốt trong lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. V.I. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh: điểm trung tâm của công tác tổ chức là việc chọn người, giao việc và kiểm tra hiệu quả chấp hành. V.I. Lênin còn chỉ thị: Hãy dành thời gian để tiến hành kiểm tra công việc, kiểm tra công tác, “Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ
công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy”2. 3.
Thông qua công tác kiểm tra mà phát hiện, sáng tạo ra cái mới, cái tốt hơn, đề ra nội dung và phương thức lãnh đạo sát hợp hơn với thực tiễn cuộc sống.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng công tác kiểm tra, song để kiểm tra trong lãnh đạo bảo đảm có hiệu quả, Đảng cần phải biết cách kiểm tra, trong đó đặc biệt lưu ý đến
_______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.204-205.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.45, tr.19.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 43
việc lôi cuốn quần chúng nhân dân vào công việc kiểm tra: “... Mà phải kiểm tra công việc của hàng chục, hàng trăm người phụ giúp, tổ chức kiểm tra công việc của họ từ dưới lên, nghĩa là tổ chức sự kiểm tra của quần chúng chân chính”1. Do vậy, Đảng cần phải thường xuyên tổ chức cho quần chúng nhân dân thực hiện công việc kiểm tra, tham gia đóng góp phê bình, kiểm soát hoạt động của các cơ quan và cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước.
- Thứ tư, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước. Theo V.I. Lênin, “Chỉ có người nào tin tưởng vào nhân dân, dấn mình vào nguồn sáng tạo sinh động của nhân dân, mới là người chiến thắng và giữ được chính quyền”2. Để vận động, lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia vào các công việc quản lý nhà nước, V.I. Lênin còn cho rằng, Đảng cần phải sử dụng phương thức thuyết phục là chính: “Dù thế nào đi nữa thì trước hết chúng ta cũng phải thuyết phục rồi sau mới cưỡng bức. Chúng ta đã không biết thuyết phục quảng đại quần chúng và chúng ta đã phá rối mối quan hệ đúng đắn giữa đội tiền phong và quần chúng”3. Hơn nữa, để lôi cuốn được quần chúng nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, chấp hành các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng cần phải lấy những thực tế sinh động, những tấm gương điển hình trong cuộc sống mà thuyết phục. V.I. Lênin chỉ rõ: “... đảng làm được công tác tuyên truyền của mình bằng hành động thực tế hơn là bằng lời nói suông. Vì hiện giờ, bất luận đối _______________
1, 3. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.293, 65.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t.35, tr.68-69.
44 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
với công nhân hay nông dân, các đồng chí không thể lấy những lời nói suông mà thuyết phục họ được, mà phải lấy thực tế mới thuyết phục nổi họ”1. 2.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản: nội dung, phương thức lãnh đạo
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn làm cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng, Đảng có vững cách mạng mới thành công. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa chân chính làm cốt, chủ nghĩa như trí khôn của người, như la bàn của con tàu. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Muốn vậy, Đảng phải trong sạch, vững mạnh về mọi mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, kiên định mục tiêu, lý tưởng; có đường lối cách mạng đúng đắn; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hành tự phê bình và phê bình; thực sự đoàn kết nhất trí; mỗi đảng viên phải không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để thật sự
xứng đáng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, xứng đáng với niềm tin yêu của quần chúng nhân dân.
Về bản chất của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Người xác định: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc _______________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.45.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 45
Việt Nam”1. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mục tiêu của Đảng là chủ nghĩa cộng sản. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định mục tiêu đấu tranh của Đảng là lãnh đạo nhân dân giành lấy chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền mang lại lợi ích cho dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo cách mạng trong điều kiện đã có chính quyền, mục đích, tôn chỉ của Đảng là “tận tâm”, “tận lực”, “phụng sự” và “trung thành với lợi ích của dân tộc Việt Nam”. Trở thành Đảng cầm quyền, nhưng Đảng ta vẫn giữ vững bản chất, mục tiêu lý tưởng của mình. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chính sách, các định hướng về chủ trương công tác; bằng tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng lựa chọn, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, đạo đức và năng lực vào trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền theo đúng quy trình, thủ tục và pháp luật của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, liên hệ mật thiết với nhân dân và luôn luôn chịu sự giám sát của nhân dân.
Là lực lượng duy nhất cầm quyền, Đảng chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước nhân dân về sự bảo vệ toàn vẹn độc lập dân tộc, về sự phát triển của đất nước, về hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Người nhắc nhở: “Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”2. Mỗi cán bộ, đảng
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.41.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.432.
46 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
viên “đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân...”1.
Đảng cầm quyền, dân là chủ, Đảng phải coi “dân làm gốc”. Dân chỉ có thể làm chủ thực sự khi có sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh là để bảo đảm quyền làm chủ thực sự của mình.
Tư tưởng và những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản cầm quyền là định hướng, phương châm khoa học, cách mạng, để Đảng và nhân dân xây dựng Đảng trở thành Đảng cách mạng chân chính, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi tới thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng cho đến khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Tư tưởng đó của Người có thể khái quát thành các nội dung sau:
- Thứ nhất, xây dựng Đảng là yêu cầu tất yếu, thường xuyên để Đảng tồn tại và phát triển. Ngay từ năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: “... vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hóa khá nặng, v.v..”2. Do đó, xây dựng
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.64-65.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.414-415.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 47
Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng, ngày một tiến bộ hơn, trở thành người cách mạng chân chính. Trong Di chúc, Người nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”1. Người đã đưa ra yêu cầu cơ bản về đạo đức của cán bộ, đảng viên, xuất phát từ bản chất cách mạng của Đảng ta, từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.
- Thứ hai, trong xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Ngay trong tác phẩm Đường cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn luận điểm của V.I. Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”2.3Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Người viết: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế.
Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”3. Nghĩa là, muốn làm cách mạng phải có Đảng cách mạng, Đảng phải có một học thuyết, một chủ nghĩa cách mạng: “Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận
_______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr. 611-612.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.279.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.273-274.
48 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
của mình”1. “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”2. Người cũng phát hiện ra rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”3.
- Thứ ba, muốn Đảng vững mạnh, phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.
(1) Nguyên tắc tập trung, dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương... Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ
hoặc đảng viên mới, đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản”4. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng chặt chẽ, vững chắc, phát huy được sức mạnh tổng hợp. Theo nguyên tắc này, dân chủ và tập trung luôn song hành, có mối quan hệ khăng khít với nhau, đó là hai vế của một nguyên tắc. Người phân tích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Ðối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Ðó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.
_______________
1, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.277, 275.
2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.289.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 49
Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý.
Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”1. Nghĩa là, cần phòng và chống các biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, thói hách dịch, chụp mũ, trù dập; đồng thời phải phòng và chống những biểu hiện của dân chủ thái quá.
(2) Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo?
Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề.
Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó.
Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm”2. Về cá nhân phụ trách, Người viết: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ
trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”3. Thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây dựng Đảng phải chú ý khắc phục những biểu _______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.378.
2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.619.
50 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
hiện độc đoán, chuyên quyền, đồng thời phải chống lại tình trạng dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán và chịu trách nhiệm.
(3) Nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây là nguyên tắc khó thực hiện, phức tạp, nhưng là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí để rèn luyện đảng viên nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết trong nội bộ cho nên phải thực hiện; mục đích là để làm cho phần tốt trong mỗi người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi tổ chức tốt lên, phần xấu bị loại bỏ, vươn tới một sự hoàn thiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”1. Chức quyền càng cao, khi mắc phải sai lầm hậu quả càng lớn, do đó, tự phê bình và phê bình sẽ khiến cho mỗi người cán bộ, đảng viên luôn nhận thức đúng về những hành động của mình và tiến bộ hơn, sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc. Phải thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên như chúng ta rửa mặt hằng ngày; phải thẳng thắn, trung thực, không che giấu; phải kiên quyết, ráo riết. Phê bình và tự phê bình là biểu hiện của dân chủ trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi dân chủ là chiếc chìa khoá vạn năng trong công tác cách mạng. Người đề nghị: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát _______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.301.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 51
triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”1.
(4) Kỷ luật nghiêm minh, tự giác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu không có kỷ luật, “Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ”2. Có kỷ luật nghiêm minh, tự giác, Đảng ta sẽ có một sức mạnh vô cùng to lớn: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên”3. Bên cạnh việc chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, cần biến kỷ luật thành ý thức và hành động tự giác trong mỗi người cán bộ, đảng viên.
(5) Đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết, thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp: “Với sự đoàn kết nhất trí và lòng cương quyết quật cường của Đảng, của Chính phủ và của toàn dân, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn để đi đến hoàn toàn thắng lợi”4. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự
đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”5. Theo Người, muốn đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, tu dưỡng đạo đức cách mạng, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, phải yêu thương lẫn nhau, “sống có tình, có nghĩa”.
_______________
1, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.298.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.67.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.42.
52 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
- Thứ tư, phải xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”1. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, dựa vào dân, gắn
bó mật thiết với nhân dân là điều kiện tồn tại và phát triển của Đảng. Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài việc lãnh đạo để đem lại lợi ích cho nhân dân. Vì vậy, Đảng phải trở thành “người đầy tớ” của nhân dân. Để tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đi sâu vào đời sống quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân nhưng tuyệt đối không được theo đuôi quần chúng.
- Thứ năm, phải quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có trí tuệ, năng lực, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách đúng.
Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.
Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”2. Do đó, Đảng ta cần quan tâm tới việc xây dựng, phát hiện và sử _______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.232.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 53
dụng cán bộ: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém.
Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”1. Tuy nhiên, Người cũng yêu cầu: “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc.
Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo. Như thế rất có hại”2. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc. Người so sánh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”3.
- Thứ sáu, phải thường xuyên chỉnh đốn và đổi mới Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, cần thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vì bên cạnh số đông đảng viên ưu tú, thì vẫn còn không ít đảng viên chưa thật sự trong sạch, vững mạnh. Chỉnh đốn để gột rửa tất cả những lỗi lầm, sai trái, Người nhấn mạnh: “... việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ
_______________
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.313, 314, 292.
54 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”1. Người cũng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”2.3.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Là một Đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Chỉnh đốn Đảng nhằm tăng cường công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng thống nhất về tư tưởng, phát triển lý luận, mạnh mẽ về tổ chức, trong sạch, kiểu mẫu về
đạo đức, hướng tới thực hiện tốt nhất nhiệm vụ, mục tiêu chính trị của Đảng, của cách mạng và phát triển đất nước. Chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên trong xây dựng Đảng và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, nhằm tăng cường sức mạnh mọi mặt của Đảng và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, yếu kém trong Đảng như quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm đạo đức, chủ nghĩa cá nhân... Mục đích chỉnh Đảng là nâng cao tư tưởng và trình độ
chính trị của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản. Người nhắc nhở, chỉnh Đảng phải có trọng tâm: chỉnh đốn tư tưởng rồi mới chỉnh đốn tổ chức, chỉnh huấn cán bộ rồi mới chỉnh huấn toàn thể đảng viên.
- Thứ bảy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi bệnh tật, làm thất bại mọi ý đồ, âm mưu của các thế lực thù địch. Sửa chữa khuyết điểm, ngăn chặn, đẩy lùi “bệnh _______________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.616, 672.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 55
tật” cũng là để Đảng mạnh lên, nâng cao sức đề kháng, để tự bảo vệ Đảng trước nguy cơ tha hóa và sự tiến công, phá hoại của các thế lực thù địch. Thực tế xây dựng Đảng, thực hiện sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, nếu không kịp thời sửa chữa khuyết điểm, “chữa trị bệnh tật” thì những bệnh tật đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng. Các thế lực thù địch lợi dụng điều đó để phá hoại nội bộ Đảng, làm suy yếu và tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Để làm thất bại ý đồ và tham vọng của các thế lực thù địch, Đảng phải chăm lo xây dựng Đảng, coi đó là nhiệm vụ then chốt, làm cho Đảng thật sự mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Đảng luôn luôn tự nhìn lại để thấy rõ ưu điểm, thành tựu và cả những khuyết điểm, yếu kém. Đó là yêu cầu và cũng là trách nhiệm của một Đảng chân chính cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thái độ trước sai lầm, khuyết điểm cũng có sự khác nhau. Bọn phản động thì lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta. Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ. Đó là thái độ của đảng viên và cán bộ
đầu cơ. Có người thấy sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình. Đó là thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt. Có người lại có thái độ “... đối với những người có khuyết điểm và sai lầm đó, như đối với hổ mang, thuồng luồng”1. Họ đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ
cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất _______________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.304.
56 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh chủ quan. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, thái độ đúng là phân tích rõ ràng cái gì đúng, cái gì sai, ra sức nâng cao những kiểu mẫu tốt, khéo phê bình và tự phê bình để giúp người khác sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, không để khuyết điểm phát triển thêm, đoàn kết bằng đấu tranh nội bộ và nâng cao kỷ luật, uy tín của Đảng.
Đảng Cộng sản ra đời không phải là ngẫu nhiên, mà là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã đạt đến trình độ tự giác. Đảng Cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân, có quan hệ thống nhất, chặt chẽ với giai cấp công nhân cả ở mục tiêu, lý tưởng, lợi ích, cả ý chí và hành động. Đảng luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét, giải quyết mọi vấn đề. Cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng phải luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản. Tuy nhiên, hai ông cũng chỉ rõ, Đảng không phải là toàn bộ giai cấp công nhân. Đảng là một bộ phận của giai cấp, là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, bao gồm những người ưu tú nhất, giác ngộ cách mạng nhất trong giai cấp công nhân. Vì thế, Đảng tiên phong cả về lý luận và thực tiễn: “... về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở
tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 57
quả chung của phong trào vô sản”1. Chính tính tiên phong của Đảng bảo đảm cho Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, tập hợp được giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh để thực hiện mục tiêu cách mạng
Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp - Lời kêu gọi của Tổng Hội đồng Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (năm 1871), một lần nữa tính tiên phong của Đảng Cộng sản được C. Mác và Ph. Ăngghen đề cập: “giai cấp công nhân Pháp chỉ là đội tiên phong của toàn thể giai cấp vô sản hiện đại mà thôi”2, rằng “... Hội liên hiệp của chúng ta chỉ là một liên minh quốc tế đoàn kết những công nhân tiên tiến nhất của các nước trong thế giới văn minh lại. Dù cuộc đấu tranh giai cấp biểu hiện ra ở đâu và trong điều kiện nào, dù cuộc đấu tranh đó mang hình thức nào, đương nhiên là các hội viên của Hội liên hiệp chúng ta cũng đều đứng ở hàng đầu”3. Những chỉ dẫn của C. Mác và Ph. Ăngghen về tính tiên phong của Đảng Cộng sản là cơ sở khoa học quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng trong thực tiễn. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”4. Tính tiên phong của Đảng thể hiện ở mục đích, lý tưởng, ở nền tảng tư tưởng, ở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, ở vai trò cầm quyền duy nhất của Đảng và chủ nghĩa
_______________
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.614-615. 2, 3. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.17, tr.480, 481. 4. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr.4.
58 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
quốc tế mà Đảng thực hiện. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự thâm nhập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đảng mang đặc trưng là tiên phong của giai cấp, của nhân dân và của cả
dân tộc. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Lời kêu gọi thành lập Đảng thông qua trong Hội nghị hợp nhất Đảng tháng 02-1930 đã thể hiện tính tiên phong của Đảng. Ra đời trong bối cảnh một nước thuộc địa, nửa phong kiến, giai cấp công nhân chưa đông, với tính tiên phong, Đảng nhanh chóng chiếm được niềm tin yêu của đông đảo nhân dân. Đây cũng là yếu tố quan trọng để Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong gần 90 năm qua, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Những năm 1945-1946, trước muôn vàn khó khăn chồng chất bởi thù trong giặc ngoài, bởi tình trạng tài chính kiệt quệ và bởi “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” cùng nhau hoành hành, trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng vững vàng lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua khó khăn, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy oanh liệt. Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, từ đây Đảng lãnh đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Đảng đã đưa non sông đất nước ta thu về một mối, trên khắp đất nước ta sạch bóng quân thù. Từ sau thắng lợi đó, Đảng trở thành Đảng cầm quyền duy nhất trên đất nước Việt Nam thống nhất. Năm 1986, Đảng ta
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 59
mạnh dạn thừa nhận sai lầm, khuyết điểm của thời kỳ lãnh đạo theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Bằng đường lối đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm thay đổi tình hình, tháo gỡ
từng bước khó khăn, mở hướng đột phá trong phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và đưa đất nước tiến lên giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, ngày càng khẳng định và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
NHẬN THỨC, QUAN ĐIỂM VỀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
PGS.TS. NGUYỄN VIẾT THÔNG*
I. NHẬN THỨC, QUAN ĐIỂM VỀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
1. Những nhận thức đã rõ
Phương thức lãnh đạo của Đảng ngày càng được nhận thức rõ hơn qua các nhiệm kỳ đại hội.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991) xác định: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ
chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể”1.
_______________
* Ủy viên Thường trực, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương. 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.51, tr.147.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 61
Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII chỉ rõ tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Đảng đề ra đường lối, chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nắm vững tổ chức và cán bộ, bảo đảm thực hiện có kết quả đường lối. Đảng lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Lãnh đạo bằng cách theo dõi, cho ý kiến chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện, khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc, phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, chứ không điều hành thay Nhà nước.
Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) xác định: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước; nắm vững tổ chức và cán bộ để bảo đảm thực hiện có kết quả đường lối của Đảng. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉ
thông qua cá nhân đảng viên; lãnh đạo bằng các quyết định của tập thể. Đảng lãnh đạo phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước, chứ không điều hành thay Nhà nước. Đảng và mọi tổ chức đảng và đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Trong nhiệm kỳ Đại hội VIII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7 tiếp tục khẳng định những nội dung cụ thể trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và của hệ thống chính trị.
62 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa X (năm 2007), Đảng ta xác định rõ các quan điểm chỉ đạo về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.
Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 xác định: Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng ta nhận thức ngày càng rõ hơn phương thức lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị.
Phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng thể hiện ở các mặt, lĩnh vực chính sau: Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị, bao gồm định hướng tổ chức của hệ thống chính trị, xác định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, thành lập các tổ chức đảng theo quy định của Điều lệ Đảng trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo bằng các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của các tổ chức đảng, cấp ủy đảng với các tổ chức trong hệ thống chính
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 63
trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thường xuyên của Đảng trong hệ thống chính trị.
Phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua đảng viên trước hết là sự phân công, bố trí các đảng viên của Đảng tham gia (bằng các hình thức khác nhau) vào sự lãnh đạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt là đảng viên giữ những cương vị chủ chốt, nhất là người đứng đầu; phát huy vai trò của đảng viên là cấp ủy viên trong các tổ chức trong hệ thống chính trị; phát huy vai trò gương mẫu của cá nhân đảng viên, người lãnh đạo trong hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, trọng tâm là Nhà nước. Đại hội IX xác định: “Tăng cường vai trò lãnh đạo và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ
trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước”1. Đến Đại hội XI, Đảng ta xác định rõ: Trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền và có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân, phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước”2. Đại hội XII xác định: “Nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là với Nhà nước”3.
_______________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, ph.II, tr.113.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.144. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.214.
64 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Đảng xác định rõ mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực, hiệu lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội; nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; để nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Những nhận thức chưa rõ
Một là, nhận thức về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền, nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của Đảng còn chưa thật sáng tỏ, do đó việc đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn nhiều lúng túng.
Hai là, còn những bất cập về lý luận trong việc giải quyết hai xu hướng trong phương thức Đảng lãnh đạo là tình trạng Đảng bao biện, làm thay, lấn sân các công việc của Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và xu hướng Đảng buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra các tổ chức đó. Đặc biệt là việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền.
Ba là, việc xác định mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của các tổ chức đảng trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước chưa rõ ràng.
Bốn là, chưa làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nguyên tắc lãnh đạo tập thể và chủ trương đề cao vai trò của cá nhân phụ trách.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 65
Năm là, chưa có quy định, quy trình cụ thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
1. Ưu điểm
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới. Đã ban hành nhiều quy chế, quy định, quy trình công tác để thực hiện, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò, tính chủ
động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là vai trò của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc. Việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, cấp ủy viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; nói đi đôi với làm. Có những đổi mới trong việc ra nghị quyết, coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong Đảng theo hướng giảm bớt thủ tục, giấy tờ, hội họp.
Phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng cũng có những đổi mới: đã kiện toàn một bước tổ chức đảng ở cơ quan Trung ương. Việc lập Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán
66 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
sự Đảng Chính phủ, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng đoàn, Ban Cán sự đảng các tổ chức chính trị - xã hội, Ban Cán sự Đảng các bộ, ngành trung ương nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng. Đã sắp xếp, kiện toàn các cơ quan tham mưu của Trung ương Đảng; sắp xếp lại các Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương1. Kiện toàn tổ chức đảng ở các doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh phát triển đảng trong các loại hình doanh nghiệp và chủ trương thành lập tổ
chức đảng ở doanh nghiệp ngoài nhà nước. Củng cố, kiện toàn tổ chức đảng ở địa phương và cơ sở. Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở.
Phương thức lãnh đạo thông qua đảng viên đạt được những kết quả sau: Đa số đảng viên có quan điểm, lập trường tư tưởng, giữ vững phẩm chất đạo đức, vai trò tiên phong, gương mẫu thực hiện chức trách, nhiệm vụ; thu hút sự tham gia của hệ thống chính trị và nhân dân vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đối với phát huy trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu. Coi trọng việc phát huy vai trò của cấp ủy viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
2. Hạn chế, yếu kém
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị mà trọng tâm là Nhà nước còn chậm đổi mới, có mặt còn _______________
1. Khóa X sắp xếp còn 6 cơ quan tham mưu của Trung ương Đảng, khóa XI tái lập lại Ban Kinh tế Trung ương, Ban Nội chính Trung ương. Từ 7 Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương thành 9 Đảng bộ khối trực thuộc Trung ương (Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương, Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương và Đảng bộ Ngoài nước).
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 67
lúng túng. Vẫn còn tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị trên một số lĩnh vực. Chậm ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Thiếu những quy định cụ thể, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, công tác cán bộ đổi mới chậm; chất lượng công tác tư
tưởng, cán bộ còn nhiều hạn chế. Chưa thật sự phát huy vai trò của tổ chức đảng, đảng viên, cấp ủy viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, tình trạng họp hành nhiều, ban hành nhiều nghị quyết, nhưng chưa tập trung đúng mức lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng; nói chưa đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu gương mẫu còn xảy ra ở nhiều nơi.
Phương thức lãnh đạo thông qua tổ chức đảng còn hạn chế. Chức năng, nhiệm vụ của Đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng chưa được xác định rõ ràng, cụ thể nên hoạt động còn lúng túng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ
chức đảng còn thấp. Sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu. Việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ
chức đảng ở đây còn mờ nhạt. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu.
68 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Phương thức lãnh đạo thông qua đảng viên còn bất cập. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Chưa thật sự phát huy vai trò của đảng viên, cấp ủy viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở.
3. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm
Những khuyết điểm, yếu kém nói trên có những nguyên nhân khách quan và chủ quan:
Về khách quan, những diễn biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới; sự tấn công rất thâm độc của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng chính trị; những mặt trái của kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế... đã tác động nhiều mặt đến công tác xây dựng Ðảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng Ðảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huy dân chủ... là những vấn đề mới, khó khăn, phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải vừa làm, vừa tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện và phát triển đường lối.
Về chủ quan, chậm đổi mới tư duy về công tác xây dựng Ðảng trong điều kiện mới. Nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc, có mặt chưa rõ, chưa thống nhất một số vấn đề quan trọng ở tầm quan điểm, chủ trương; chưa cụ thể hóa và tổ
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 69
chức thực hiện kịp thời, đồng bộ một số quan điểm lớn, đúng đắn về xây dựng Ðảng đã đề ra trong Cương lĩnh và các nghị quyết của Ðảng. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng còn chậm, chưa đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế.
Việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương về xây dựng Ðảng chưa nghiêm, còn thiếu các biện pháp cụ thể, khả thi. Nhiều tổ chức, cấp ủy đảng và bí thư cấp ủy chưa đầu tư đúng mức thời gian, công sức cho công tác xây dựng Ðảng. Công tác kiểm tra còn nhiều hạn chế cả về tổ chức và hoạt động; chưa có cơ chế giám sát trong Ðảng và giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ðảng. Lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn tổ chức, đổi mới công tác cán bộ thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp, chưa đáp ứng yêu cầu. Chưa quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ Ðảng, bảo vệ tổ chức và cán bộ, đảng viên trong tình hình mới.
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức và năng lực, chạy theo chủ nghĩa cá nhân, không hoàn thành nhiệm vụ nhưng chưa được xử lý kịp thời, kiên quyết.
NHẬN THỨC, QUAN ĐIỂM
VỀ PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
PGS.TS. NGUYỄN VIẾT THÔNG*
I. NHẬN THỨC, QUAN ĐIỂM VỀ PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
Thành tựu lớn nhất trong phát triển lý luận về nhà nước của Đảng ta là nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã nhận thức được các đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền con người; do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật.
Bước tiến lớn của nhận thức về đổi mới bộ máy nhà nước là đặt trọng tâm vào cải cách hành chính: một là, chuyển _______________
* Ủy viên Thường trực, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương.
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 71
sang kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện vai trò rất quan trọng về quản lý kinh tế, xã hội theo phương thức mới; hai là, vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ sát hợp với chức năng chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
Về điều chỉnh cơ cấu tổ chức, tinh giản bộ máy hành chính các ngành, các cấp theo hướng tinh giản cơ cấu tổ chức của Chính phủ (kể cả các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ). Đối với cơ cấu tổ chức của từng bộ, làm rõ các bộ phận làm chức năng nghiên cứu, tham mưu cho bộ trưởng (các vụ), các cơ quan làm chức năng chỉ đạo, quản lý từng lĩnh vực công tác (các tổng cục và cục), các đơn vị sự nghiệp làm chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học (trường, viện) hoặc làm chức năng dịch vụ
công cộng1. Chính phủ đã tiến hành nhiều đợt sáp nhập, hợp nhất, điều chỉnh và giảm đáng kể số lượng các bộ và cơ quan ngang bộ, rõ nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế.
Nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã đạt được sự thống nhất về những điểm căn bản: (1) Bảo đảm tính pháp quyền của bản thân các thiết chế và thể chế của bộ máy nhà nước. Pháp luật không chỉ ghi nhận vị trí, giới hạn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước mà còn có hiệu lực ràng buộc các cơ quan đó phải hoạt động trong khuôn khổ và trên cơ sở các thẩm quyền luật định; (2) Tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước một cách khoa học và dân chủ trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật thể hiện ở nguyên tắc phân công quyền lực: giữa các phạm vi quyền lập pháp,
_______________
1. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.54, tr. 103.
72 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
quyền hành pháp và quyền tư pháp; giữa các cấp Trung ương với địa phương; (3) Bảo đảm tính dân chủ, minh bạch của pháp luật và tính hệ thống thứ bậc, hiệu lực chặt chẽ của các văn bản pháp luật...
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
1. Đánh giá của Đại hội VII
Sau 5 năm đổi mới phương thức quản lý của Nhà nước theo tinh thần của Đại hội VI (năm 1986), Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đánh giá: Đã có những chủ trương, biện pháp sửa đổi tổ chức và phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hoạt động lập pháp được đẩy mạnh. Bốn năm qua (tính đến hết năm 1990), Quốc hội, Hội đồng Nhà nước đã ban hành 24 luật và 33 pháp lệnh. Các kỳ họp Quốc hội đã thể hiện rõ hơn tinh thần dân chủ, quyền hạn và trách nhiệm của các đại biểu nhân dân. Hoạt động giám sát của Quốc hội được tăng cường và có hiệu quả hơn trước.
Hội đồng Bộ trưởng và ủy ban nhân dân các cấp đã bước đầu đổi mới phương thức hoạt động, có tiến bộ trong điều hành và quản lý nhà nước bằng pháp luật, giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng. Hội đồng Bộ trưởng và các bộ đã coi trọng chỉ đạo các hoạt động ở tầm vĩ mô; đã sắp xếp một bước tổ chức bộ máy các bộ, tổng cục và các cơ
quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện.
Các cơ quan toà án, kiểm sát đã được kiện toàn một bước. Nhiều tổ chức bổ trợ cho công tác xét xử đã hình thành. Tuy nhiên, sự điều hành và quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô nói chung còn lúng túng và có nhiều khuyết điểm, hạn
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 73
chế; một số quyết định còn sơ hở. Còn thiếu nhiều luật cần thiết. Không ít luật và pháp lệnh đã ban hành không được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Nhiều vụ phạm pháp không được xét xử hoặc xét xử chậm, xử chưa nghiêm. Tổ
chức các cơ quan xét xử còn yếu.
Chưa vận dụng tốt khoa học quản lý vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Sự phân công, phân nhiệm và các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp có những nhược điểm chưa rõ. Sự phân cấp quản lý giữa Trung ương với các địa phương và cơ sở vừa chưa đầy đủ, vừa chưa phù hợp với sự thay đổi của cơ chế quản lý. Đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước ít được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật và nghiệp vụ; thiếu kinh nghiệm về tổ chức và quản lý nhà nước, nhất là khi chuyển từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang cơ chế quản lý mới về kinh tế, xã hội; hiệu suất lao động và công tác còn thấp.
Khuyết điểm lớn là đến nay chưa thực hiện được cuộc cải cách cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước như Đại hội VI đã đề ra. Tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh, nặng nề, chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý và đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước. Việc sắp xếp lại tổ chức và giảm biên chế có những trường hợp còn hình thức, kém hiệu quả.
2. Đánh giá của Đại hội X
Sau 20 năm thực hiện đổi mới phương thức quản lý của Nhà nước, Đại hội X (năm 2006) đánh giá: Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy.
74 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Quốc hội có những đổi mới quan trọng trong công tác lập pháp, tiếp tục sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và hệ thống pháp luật; cải tiến quy trình xây dựng luật, đã thông qua 58 luật và 43 pháp lệnh mới, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước, vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
Đã tăng cường một bước tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; phân định cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp, đồng thời thực hiện sự phân cấp nhiều hơn. Các hoạt động tư pháp và công tác cải cách tư
pháp có những chuyển biến tích cực.
3. Đánh giá của Đại hội XI
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạt động được nâng lên. Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Hệ thống pháp luật được bổ sung. Hoạt động giám sát đã tập trung vào những vấn đề bức xúc, quan trọng nhất của đất nước. Việc thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia có chất lượng và thực chất hơn. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội có nhiều cải tiến nội dung, phương pháp công tác; đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội.
Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, điều chỉnh, giảm đầu mối theo hướng tổ chức các bộ quản lý đa
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 75
ngành, đa lĩnh vực1. Quản lý, điều hành của Chính phủ, các bộ năng động, tập trung nhiều hơn vào quản lý vĩ mô và giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng, đã rà soát, bước đầu tổng hợp thành bộ thủ tục hành chính thống nhất và công bố công khai. Việc thực hiện thí điểm đổi mới về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương (không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện,
phường) được tập trung chỉ đạo để rút kinh nghiệm. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp có một số đổi mới. Việc tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, đề cao vai trò của luật sư trong tố tụng được thực hiện bước đầu có kết quả. Việc thực hiện các thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội phạm. Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được chỉ đạo tích cực, đạt một số kết quả. Nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử. Trên một số lĩnh vực, lãng phí, tham nhũng từng bước được kiềm chế.
Bên cạnh đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước.
Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn yếu. Tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan _______________
1. Các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giảm từ 29 xuống còn 22.
76 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Năng lực dự
báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực yếu; phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát; trật tự, kỷ cương xã hội không nghiêm. Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ. Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn đọng, án bị huỷ, bị cải sửa còn nhiều.
Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra. Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội.
4. Đánh giá của Đại hội XII
Sau 30 năm đổi mới phương thức quản lý của Nhà nước, Đại hội XII (năm 2016) đã chỉ rõ:
4.1. Ưu điểm
Quan điểm và thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan trọng và cơ bản. Nhận thức của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân có bước phát triển. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG... 77
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được quy định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn và có những bước tiến trong hoạt động. Vai trò của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước được xác định rõ hơn và trong tổ chức thực hiện đã có những bước tiến nhất định.
Quốc hội có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã tập trung vào những vấn đề bức thiết, quan trọng của đất nước. Việc thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia có chất lượng và thực chất hơn. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội có nhiều đổi mới về tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động; trách nhiệm các đại biểu Quốc hội được nâng cao hơn.
Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt kết quả tích cực. Tổ chức thí điểm đổi mới về tổ chức chính quyền địa phương được tập trung chỉ đạo và tổng kết, rút kinh nghiệm.
78 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...
Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp được thể chế trong Hiến pháp, pháp luật và được triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả quan trọng. Tổ chức bộ máy của tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn; chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; hạn chế tình trạng oan, sai.
4.2. Hạn chế, khuyết điểm
Chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả. Chưa khắc phục được sự chồng chéo, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ giữa các thiết chế, làm ảnh hưởng tới sự thống nhất quyền lực nhà nước và hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế. Kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực thi công vụ còn nhiều yếu kém. Cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; thủ tục hành chính còn phức tạp, phiền hà, đang là rào cản lớn đối với việc tạo lập môi trường xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, hiệu quả cho sự phát triển. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương