"Ý Nghĩa Của Lịch Sử - Trải Nghiệm Triết Học Số Phận Con Người - Nikolay Berdyaev & Nguyễn Văn Trọng (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Tham Khảo] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Ý Nghĩa Của Lịch Sử - Trải Nghiệm Triết Học Số Phận Con Người - Nikolay Berdyaev & Nguyễn Văn Trọng (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Tham Khảo] Ebooks Nhóm Zalo TỦ SÁCH TINH HOA TRI THỨC THẾ GIỚI NIKOLAY BERDYAEV Ý NGHĨA CỦA LỊCH SỬ Trải nghiệm triết học số phận con người Nguyễn Văn Trọng dịch và chú giải (Tài liệu tham khảo) NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC ebook♥tudonald78 | 01/2023 Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA SÁCH CŨ” của diễn đàn TVE-4U.ORG TÁC GIẢ -------- NIKOLAY BERDYAEV (1874-1948) Nikolay Berdyaev (1874 - 1948): triết gia Nga nổi tiếng của thế kỉ XX. Năm 1922, ông cùng nhiều trí thức và những người hoạt động văn hóa nổi tiếng khác bị trục xuất khỏi nước Nga Xô viết. Sau khi bị trục xuất, ông sống ở Đức rồi định cư tại Pháp.Ông cùng S.L.Frank và S.N.Bulgakov đặt cơ sở cho sự phục hưng nền triết học tôn giáo Nga. Ông đã xây dựng triết học về bản diện cá nhân và tự do trong tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh. Nikolay Berdyaev được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Pháp. Tác phẩm Ý nghĩa của lịch sử - Trải nghiệm triết học số phận con người của triết gia Nga N. Berdyaev trình bày một cách nhìn lịch sử nhân loại từ quan điểm của một triết gia Kitô giáo. Những tiền đề siêu hình học cho cách tiếp cận của ông mang đậm tinh thần của Kitô giáo nên rất có thể những người vô thần sẽ không thể tiếp thu được, và sẽ xem các tiên đề ấy như những điều huyền hoặc. Nhưng nếu vì vậy mà đóng cuốn sách lại không thèm đọc tiếp, thì sẽ mất đi cơ hội suy tưởng trầm tư những kiến giải sâu sắc của ông về quá trình lịch sử của nhân loại. Vào thế kỉ XVII giới trí thức châu Âu cũng đã từng gạt bỏ học thuyết cơ học của Newton suốt trong 70 năm chắc cũng vì lí do tương tự: tiền đề động lực học của Newton cho rằng vật thể chuyển động tuân theo phương trình toán học hẳn cũng đã bị coi là huyền hoặc! Dần dà rồi cũng có những người tò mò muốn kiểm chứng lí thuyết Newton và họ đều phải kinh ngạc về sự trùng khớp giữa lí thuyết và thực nghiệm. Những người có đầu óc thực dụng bắt đầu sử dụng cơ học của Newton như phương tiện cho những phát minh công nghệ. Họ đã tạo ra các máy móc với kết quả là sự ra đời của hệ thống sản xuất công nghiệp. Khoa học vật lí dần dần trở thành đức tin của mọi người, và các môn khoa học khác đều được xây dựng theo khuôn mẫu đó. Khoa học được sùng bái như chân lí và người ta lấy khoa học đối lập với tôn giáo. Trải nghiệm này gợi ý rằng, người ta nên đọc các kiến giải của Berdyaev và đối chiếu với những sự kiện lịch sử đã biết, để xem chúng có khớp nối được với nhau không. Mục lục Lời nhà xuất bản Lời dẫn Lời nói đầu Chương I: VỀ THỰC CHẤT CỦA TÍNH LỊCH SỬ. Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN THUYẾT Chương II: VỀ THỰC CHẤT CỦA TÍNH LỊCH SỬ. TÍHH SIÊU HÌNH VÀ TÍNH LỊCH SỬ Chương III: VỀ LỊCH SỬ Ở-TRÊN-TRỜI. THƯỢNG ĐẾ VÀ CON NGƯỜI Chương IV: VỀ LỊCH SỬ Ở-TRÊN-TRỜI. THỜI GIAN VÀ VĨNH HẰNG Chương V: SỐ PHẬN CỦA CỘNG ĐỒNG DO THÁI Chương VI: KITÔ GIÁO VÀ LỊCH SỬ Chương VII: PHỤC HƯNG VÀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN Chương VIII: KẾT THÚC THỜI PHỤC HƯNG VÀ KHỦNG HOÀNG CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN. CUỘC XÂM NHẬP CỦA MÁY MÓC Chương IX: KẾT THÚC THỜI PHỤC HƯNG VÀ KHỦNG HOÀNG CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN. SỰ TAN RÃ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI Chương X: HỌC THUYẾT VỀ TIẾN BỘ VÀ HỒI KẾT THÚC LỊCH SỬ Phụ lục: Ý CHÍ HƯỚNG TỚI ĐỜI SỐNG VÀ Ý CHÍ HƯỚNG TỚI VĂN HÓA Chú thích Lời nhà xuất bản Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu cuốn Ý nghĩa của lịch sử - Trải nghiệm triết học số phận con người của Nikolay Berdyaev, do Nguyễn Văn Trọng dịch và chú giải dựa trên nguyên bản tiếng Nga (nội dung bản dịch này đã lược bớt một số phần do không phù hợp). Chúng tôi cũng xin lưu ý bạn đọc đây là sách tham khảo, phản ánh hoàn toàn quan điểm của tác giả. Chúng tôi tôn trọng, nhưng không nhất thiết đồng tình với quan điểm, cách tiếp cận và lí giải riêng của tác giả về những vấn đề được đề cập trong cuốn sách. Chúng tôi mong độc giả đọc cuốn sách này như một tài liệu tham khảo với tinh thần phê phán và khai phóng. Xin chân thành cảm ơn! Lời dẫn Tác phẩm Ý nghĩa của lịch sử- Trải nghiệm triết học số phận con người của triết gia Nga N. Berdyaev trình bày một cách nhìn lich sử nhân loại từ quan điểm của một triết gia Kitô giáo. Những tiền đề siêu hình học cho cách tiếp cận của ông mang đậm tinh thần của Kitô giáo nên rất có thể những người vô thần sẽ không thể tiếp thu được, và sẽ xem các tiên đề ấy như những điều huyền hoặc. Nhưng nếu vì vậy mà đóng cuốn sách lại không thèm đọc tiếp, thì sẽ mất đi cơ hội suy tưởng trầm tư những kiến giải sâu sắc của ông về quá trình lịch sử của nhân loại. Vào thế kỉ XVII giới trí thức châu Âu cũng đã từng gạt bỏ học thuyết cơ học của Newton suốt trong 70 năm chắc cũng vì lí do tương tự: tiền đề động lực học của Newton cho rằng vật thể chuyển động tuân theo phương trình toán học hẳn cũng đã bị coi là huyền hoặc! Dần dà rồi cũng có những người tò mò muốn kiểm chứng lí thuyết Newton và họ đều phải kinh ngạc về sự trùng khớp giữa lí thuyết và thực nghiệm. Những người có đầu óc thực dụng bắt đầu sử dụng cơ học của Newton như phương tiện cho những phát minh công nghệ. Họ đã tạo ra các máy móc với kết quả là sự ra đời của hệ thống sản xuất công nghiệp. Khoa học vật lí dần dần trở thành đức tin của mọi người, và các môn khoa học khác đều được xây dựng theo khuôn mẫu đó. Khoa học được sùng bái như chân lí và người ta lấy khoa học đối lập với tôn giáo. Trải nghiệm này gợi ý rằng, người ta nên đọc các kiến giải của Berdyaev và đối chiếu với những sự kiện lịch sử đã biết, để xem chúng có khớp nối được với nhau không. Berdyaev nhận xét rằng khi con người sống trong một thời kì tương đối ổn định nào đó thì thường chưa có được nhận thức lịch sử về thời kì đó do thói quen tư duy tĩnh tại. Nhưng khi sự vận động lịch sử bắt đầu xảy ra với các tai biến và thảm họa, vốn là thứ xảy ra lặp đi lặp lại trong lịch sử nhân loại, những biến cố lịch sử ấy thường dẫn đến tình trạng chủ thể nhận thức lịch sử không cảm thấy mình hiện hữu trực tiếp và toàn vẹn ở trong đối tượng lịch sử. Những thời kì như vậy sẽ sinh ra phản tư nhận thức lịch sử. Thế nhưng tình trạng này không thuận lợi cho việc thấu hiểu đích thực quá trình lịch sử, vì xảy ra đứt đoạn giữa chủ thể và khách thể. Chỉ khi chủ thể nhận thức lịch sử vượt qua được tình trạng phân đôi ấy và tiếp nhận biến cố lịch sử như một thực tại ở bên trong thế giới tinh thần của chính mình, chứ không như một thứ từ bên ngoài áp đặt bạo lực đối với mình mà mình phải chống lại; chỉ khi đó nhận thức lịch sử chân chính mới là khả dĩ. Berdyaev hiểu lịch sử như một bi kịch của số phận con người, vì con người là đứa con của Thượng Đế (chứ không phải của thế giới tự nhiên). Con người được phú cho Tự Do, vốn là một thứ phi lí tính đầy huyền bí. Tự do ấy là ngọn nguồn của tính bi kịch trong lịch sử, bởi vì tự do hàm nghĩa cả tự do của điều thiện cũng như cả tự do của cái ác. Ông viết: “Con người như đứa con của Thượng Đế được phú cho cái tự do ấy, nền vì vậy tự do đó là ngọn nguồn tính bi kịch của số phận con người, bi kịch của lịch sử cùng với tất cả những xung đột và thảm cảnh, tự do theo chính thực chất của nó đề xuất tự do không chỉ của điều thiện, mà còn của cái ác nữa. Giả sử như chỉ hiện hữu có tự do của điều thiện, tự do của Thượng Đế, như một tiền định nào đó ở số phận con người, nếu thế thì hẳn đã chẳng có quá trình thế giới. Quá trình thế giới và quá trình lịch sử hiện hữu bởi vì tự do của điều thiện và của cái ác được đặt vào cơ sở của nó, tự do rời khỏi ngọn nguồn của đời sống Thượng Đế cao cả, tự do trở về và đi đến với nó. Tự do ấy của cái ấc là cơ sở đích thực của lịch sử”. Berdyaev cho rằng chính vì vậy mà ở trong phạm vi lịch sử thế giới, “Thượng Đế không cần đến bất kĩ cưỡng bức và thực hiện phi-tự-do nào ý chí cao cả của Thượng Đế và sự thật cao cả của Thượng Đế, rằng Thượng Đế bác bỏ ngay cả sự hoàn thiện con người như kết quả của các quá trình tất yếu, như việc cưỡng bức. Thượng Đế không mong muốn mọi thứ phi-tự-do”. Từ những tiền đề tôn giáo Berdyaev đưa ra những kiến giải về các thời kì của lịch sử nhân loại: thời cổ đại, Trung thế kỉ, Phục hưng, Khai sáng và Tân lịch sử. Những thời kì này diễn ra từ thời Hi Lạp Cổ đại cho đến cuối thế kỉ XIX. Những kiến giải của ông xung đột với các định kiến quen thuộc của khá nhiều người trong đó có tôi - một người chưa từng có đức tin tôn giáo và đã từng cả tin vào những kiến giải lịch sử của thời kì Khai sáng thế kỉ XVIII. Đại khái tôi đã từng hiểu thời kì Trung thế kỉ là thời kì tăm tối “đêm trường Trung thế kỉ” trước khi bừng lên thời kì Phục hưng và Khai sáng rồi đến thời hiện đại văn minh, diễn biến lịch sử đi theo hướng của đường thẳng tiến bộ. Có lẽ Berdyaev cũng biết rõ về những định kiến như thế và những phản bác của ông nhằm thẳng vào chúng. Berdyaev khẳng định khí thế và sức mạnh sáng tạo to lớn của con người đã được thể hiện ra vào thời Phục hưng. Ông phân tích những thành tựu của thời kì này đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của nó. Trái với định kiến xấu về thời kì “đêm trường Trung thế kỉ”, Berdyaev cho rằng đây chính là thời kì tích tụ các sức mạnh tinh thần của con người. Vào lúc hưng thịnh của Trung thế kỉ, bản diện con người được rèn đúc thông qua hai phương cách: đời sống tu hành và tinh thần hiệp sĩ. Toàn bộ nếp sống khổ hạnh Kitô giáo đã có ý nghĩa một sự tập trung các sức mạnh tinh thần của con người và không cho phép hoang phí chúng. Thế nhưng chế độ thần quyền thời Trung thế kỉ đã thất bại trong mục đích xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa. Berdyaev nhận xét: “Tôi cho rằng khiếm khuyết của ý thức Trung thế kỉ trước hết nằm ở chỗ đã không khai mở thực sự được sức mạnh sáng tạo tự do của con người và con người ở trong thế giới Trung thế kỉ đã không được cho phép có tự do hướng về sự nghiệp tự do sáng tạo, hướng về việc kiến tạo tự do một nền văn hóa, trong ý nghĩa đó những sức mạnh tinh thần của con người, vốn đã được rèn đúc nên bởi Kitô giáo và thời kì lịch sử Kitô giáo Trung thế kỉ, [những sức mạnh ấy] đã không được thử thách trong tự do. Nếp sống khổ hạnh Trung thế kỉ đã củng cố các sức mạnh của con người, nhưng các sức mạnh ấy đã không được đưa vào thử thách trong sáng tạo tự do của văn hóa”. Berdyaev chia Phục hưng thành hai giai đoạn: giai đoạn sơ kì các sáng tạo nghệ thuật còn giữ được mối liên hệ gắn bó với Kitô giáo và giai đoạn sau đó xa rời nhiều hơn với tôn giáo. Xuất hiện chủ nghĩa nhân văn như cơ sở tinh thần của thời kì Tân lịch sử. Ông nhận xét: “Tại buổi bình minh của Thời đại mới đã xảy ra tình trạng phi-tập trung-hóa, các sức mạnh sáng tạo của con người đã được thả cho tự do. Và đó, một lúc sủi bọt của các sức mạnh sáng tạo ấy đã tạo ra được cái mà chúng ta gọi là Phục hưng, những hệ lụy của nó còn tiếp tục cho đến tận thế kỉ XIX. Toàn bộ Tân lịch sử là thời kì mang tính chất Phục hưng của lịch sử. Thời kì lịch sử ấy đứng dưới dấu hiệu buông thả tự do cho các sức manh sáng tạo của con người, phi tập-trung-hóa về mặt tinh thần, bứt ra khỏi trung tâm tinh thần, phân tầng tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và văn hóa, là khi tất cả các lĩnh vực văn hóa của con người trở thành tự trị. Khoa học, nghệ thuật, đời sống nhà nước, đời sống kinh tế, toàn bộ tính chất xã hội và toàn bộ văn hóa đều là tự trị. Quá trình phân tầng và tự trị hóa ấy chính là sự việc được gọi là thế tục hóa văn hóa của con người. Thậm chí tôn giáo cũng được thế tục hóa. Nghệ thuật và nhận thức, nhà nước và xã hội trong Thời đại mới đều theo cung cách thế tục hóa. Tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và văn hóa không còn ràng buộc với nhau và trở thành tự do. Đây là điểm đặc thù đặc trưng cho toàn bộ Tân lịch sử. Quá độ từ lịch sử Trung thế kỉ chuyển sang Tân lịch sử hàm nghĩa một thái độ nào đó quay lưng lại với Thượng Đế và hướng về con người, quay lưng lại với chiều sâu Thượng Đế, với sự tập trung ở bên trong hạt nhân tinh thần và hướng ra bên ngoài, hướng ra thể hiện văn hóa bề ngoài. Thái độ quay lưng lại với chiều sâu tinh thần mà các sức mạnh của con người vốn gắn với nó và ràng buộc với nó từ bên trong, [thái độ ấy] không chỉ là giải phóng các sức mạnh của con người, mà còn là sự dịch chuyển lên bề mặt của đời sống con người, từ chiều sâu chuyển sang vùng phụ cận, dịch chuyển từ văn hóa tôn giáo Trung thế kỉ sang văn hóa thế tục, khi mà trọng tâm được chuyển từ chiều sâu Thượng Đế sang sáng tạo thuần túy con người. Mối gắn kết tinh thần với trung tâm đời sống bắt đầu suy yếu đi mỗi lúc một nhiều hơn. Toàn bộ tân lịch sử là sự việc con người châu Âu đi theo con đường ngày càng rời xa khỏi trung tâm tinh thần, con đường thử thách các sức mạnh sáng tạo của con người”. Berdyaev cho rằng, tinh thần bên trong của tân lịch sử, tinh thần cổ vũ Phục hưng và tiếp tục cổ vũ toàn bộ thời kì Phục hưng, không chỉ riêng có thế kỉ XV và XVI mà còn cả toàn bộ tân lịch sử, tinh thần ấy là chủ nghĩa nhân văn và nó nằm ở cơ sở của toàn bộ thế giới quan mới. Đã khởi đầu một kỉ nguyên mới mang tính nhân văn. Berdyaev nhận xét về chủ nghĩa nhân văn như sau: “Tôi cho rằng ở ngay trong cơ sở tiên khởi của chủ nghĩa nhân văn đã chứa đựng một mâu thuẫn sâu sắc, mà việc khai mở nó ra là đề tài triết học về tân lịch sử… Mâu thuẫn ấy là gì vậy? Chủ nghĩa nhân văn, theo ý nghĩa của nó và ngay cả theo tên gọi của nó, hàm nghĩa đề cao con người, đặt con người vào trung tâm, một cuộc nổi loạn của con người, sự khẳng định và khai mở con người. Đây là một phương diện của chủ nghĩa nhân văn. Người ta bảo chủ nghĩa nhân văn đã khai mở tính cá biệt của con người, cho phép vận hành đầy đủ, giải phóng nó khỏi tình trạng bị đè nén vốn có trong đời sống Trung thế kỉ, hướng nó đi theo những con đường tự khẳng định và sáng tạo. Tuy nhiên ở trong chủ nghĩa nhân văn còn có cả khởi nguyên đối lập lại trực tiếp… Chủ nghĩa nhân vẫn phủ nhận chuyện con người là hình tượng và đồng dạng của Thượng Đế. Trong hình thức chiếm ưu thế của mình, chủ nghĩa nhân văn khẳng định rằng bản chất con người là hình tượng và đồng dạng không phải với bản chất Thần Thánh, mà với bản chất của thế giới, rằng con người là thực thể thiên nhiên, đứa con của thế giới, đứa con của thiên nhiên, được tạo thành bởi tất yếu thiên nhiên, là máu thịt của thế giới thiên nhiên, nên chia sẻ tình trạng hữu hạn của nó cũng như tất cả các bệnh hoạn và các khiếm khuyết của nó, vốn đã được đặt vào trong hiện hữu thiên nhiên. Như vậy, chủ nghĩa nhân văn không phải chỉ có khẳng định tính tự tin quá mức của con người, không phải chỉ có đề cao con người, mà còn hạ nhục con người, vì rằng không còn xem con người là thực thể cao cả, xuất thân từ Thượng Đế nữa, không còn khẳng định quê hương ở-trên-trời của nó và bắt đầu đơn thuần khẳng định quê hương dưới trần-gian của nó và nguồn gốc dưới-trần-gian của nó. Bằng cách này chủ nghĩa nhân văn đã hạ thấp đẳng cấp của con người. Đã xảy ra tình trạng, ấy là việc tự khẳng định con người không có Thượng Đế, tự khẳng định con người không còn cảm nhận và ý thức được mối gắn kết của mình với bản chất cao cả Thần Thánh và tuyệt đối, với nguồn gốc cao cả ở đời sống của mình, [việc tự khẳng định như thế] đã dẫn đến phá hủy con người. Chủ nghĩa nhân văn đã lật đổ khởi nguyên đề cao con người vốn đã được đặt vào tinh thần Kitô giáo, theo đó con người là hình tượng và đồng dạng của Thượng Đế, là đứa con của Thượng Đế, là thực thể được Thượng Đế nhận làm con. Ý thức Kitô giáo về con người bắt đầu suy yếu. Như vậy, một phép biện chứng tự hủy diệt mình được khai mở ra ở bên trong chủ nghĩa nhân văn… Sự khẳng định mới thoạt nhìn đầy nghịch lí ấy xác nhận thật mạnh mẽ toàn bộ phép biện chứng về con người. Phép biện chứng ấy có nội dung như sau: tự khẳng định của con người dẫn đến tự hủy hoại con người, việc khai mở ra trò chơi tự do của các sức mạnh con người mà không gắn với mục đích cao cả, sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt các sức mạnh sáng tạo”. Berdyaev viết tiếp: “Sự bộc lộ ra thật hùng mạnh như thế cái tinh thần chủ nghĩa nhân văn của Tân lịch sử, cũng như của Phục hưng, của Cải cách, của Khai sáng thế kỉ XVIII, chúng ta nhìn thấy được ở chính cuộc cách mạng Pháp Vĩ Đại. Đây là một trong những thời khắc quan trọng ở số phận của thời kì lịch sử mang tính Phục hưng, ở số phận của thái độ tự khẳng định của con người mang tính chất chủ nghĩa nhân văn. Con người tự khẳng định mình theo kiểu chủ nghĩa nhân văn, không tránh khỏi phải đi đến những hành vi như đã diễn ra trong cuộc cách mạng Pháp Vĩ Đại, cuộc thử thách các sức mạnh tự do của con người phải dịch chuyển sang lĩnh vực ấy. Cái chuyện mà vào thời Phục hưng đã diễn ra ở trong khoa học và nghệ thuật, mà vào thời Cải cách đã diễn ra ở trong đời sống tôn giáo, mà vào thời đại Khai sáng đã xảy ra trong lĩnh vực lí trí, [chuyện như thế] phải dịch chuyển cả vào trong hành động xã hội tập thể nữa. Ở trong hành động xã hội tập thể phải bộc lộ ra niềm tin ấy của con người vào chuyện anh ta, như một thực thể thiên nhiên, hoàn toàn tự do và tùy tiện có thể thay đổi xã hội con người, thay đổi tiến trình lịch sử, rằng anh ta, về phương diện này, không bị ràng buộc bởi điều gì, rằng anh ta cần phải tuyên bố và thực hiện quyền của mình và tự do của mình. Cuộc cách mạng đã bước vào con đường ấy và đã thực hiện một trong những thí nghiệm nhân văn vĩ đại nhất. Cách mạng là cuộc thí nghiệm, bằng chính bản thân nó kiểm tra lại các mâu thuẫn bên trong của chủ nghĩa nhân văn, các nhiệm vụ của chủ nghĩa nhân văn và các kết quả của chủ nghĩa nhân văn, dà cái chủ nghĩa nhân văn đã tách rời khỏi cơ sở tinh thần. Cuộc cách mạng đã tỏ ra bất lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, nó đã không thực hiện được các quyền con người và cuộc sống tự do của con người. Cách mạng đã chịu một thất bại vĩ đại. Nó đã chỉ thực hiện được nền chuyên chế bạo hành và tình trạng lăng nhục con người. Nếu như đã có thất bại của Phục hưng, là cuộc trình diễn vĩ đại sự sáng tạo của con người, nhưng bất lực trong việc thực hiện sự hoàn hảo của các hình thức dưới-trần-gian, nếu như đã có thất bại của Cải cách, vốn bị quyến rũ bởi tự do, nhưng bộc lộ ra tình trạng bất lực tôn giáo và trở thành hình thức phủ định chứ không kiến tạo, thì thất bại diễn ra trong cách mạng còn to lớn hơn nữa. Cách mạng đã thất bại và toàn bộ thế kỉ XIX là tình trạng bộc lộ ra thất bại ấy của cách mạng Pháp và khai mở ra tình trạng phản ứng tinh thần, vốn đã xuất hiện vào đầu thế kỉ XIX và diễn ra cho đến tận bây giờ, bộc lộ ra thực chất và ý nghĩa của thất bại ấy. Bằng con đường mà cách mạng đã theo, con người không thể thực hiên dược các quyền của mình và tự do của mình, không thể đạt được hạnh phúc. Nếu như vào năm 89 cuộc cách mạng vận động bằng cảm hứng các quyền con người và quyền công dân, cảm hứng tự do, thì vào năm 93 nó đã đi đến chỗ phủ nhận bất cứ quyền nào và bất cứ tự do nào. Cách mạng tự ăn thịt mình, trong khi bộc lộ ra rằng ở trong cơ sở của nó không hề có khởi nguyên nào củng cố quyền con người về mặt bản thể luận. Bộc lộ ra rằng các quyền con người mà quên lãng các quyền của Thượng Đế thì sẽ tiêu hủy bản thân mình chứ không giải phóng con người. Phản ứng tinh thần đã chứng tỏ điều này vào đầu thế kỉ XIX, phản ứng ấy đã đóng góp những ý tưởng sâu sắc nhất làm phong phú suốt thế kỉ này. Thế kỉ XIX phần lớn là phản ứng chống đối lại thế kỉ XVIII và cách mạng”. Tuy nhiên, Berdyaev cũng không phủ nhận những thành quả của chủ nghĩa nhân văn trong quá trình lịch sử, khi nó giữ được thái độ trung dung, không chống đối lại tôn giáo. Ông nhận xét: “Cũng cần phải chỉ ra rằng, chủ nghĩa nhân văn đạt tới sự phát triển hoàn hảo của nó và đạt tới đỉnh cao của sáng tạo ở con người, khi nó giữ được mình ở vào khoảng giữa tính nhân bản thuần túy, thí dụ như ở trong Phục hưng ở nước Đức, ở trong cá nhân thiên tài Goethe. Đây là biểu lộ cuối cùng của chủ nghĩa nhân văn lí tưởng thuần túy. Herder1 đã nhìn thấy mục đích cao cả của lịch sử ở trong tính nhân bản. Ông là người theo chủ nghĩa nhân văn chân chính cuối cùng. Đối với Herder con người đứng thẳng lên như thực thể lần đầu tiên được buông ra tự do. Con người là ông vua xét theo tự do của nó. Ở trong chủ nghĩa nhân văn của Herder hình tượng con người vẫn còn gắn với hình tượng của Thượng Đế. Đó là chủ nghĩa nhân văn tôn giáo, thế nhưng tôn giáo của Herder lại toàn bộ nằm trong tính nhân văn. Con người là kẻ trung gian giữa hai thế giới. Con người được tạo ra cho sự bất tử, tính chất vô hạn được đặt vào trong các sức mạnh của con người. Cảm hứng của Herder, cũng như của Lessing, nằm ở công việc giáo dục giống loài con người. Mục đích của con người ở trong bản thân nó, tức là tính nhân văn. Sau Phục hưng Đức của Herder và Goethe, sau những người theo phong trào lãng mạn, chủ nghĩa nhân văn bị biến chất căn bản và mất đi mối gắn kết với thời đại Phục hưng. Thế kỉ XIX khai mở ra những khởi nguyên đối lập ngược hẳn lại. Bắt đầu cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa nhân văn và tình trạng cạn kiệt tinh thần Phục hưng. Những vực thẳm đối nghịch hẳn lại được khai mở ra”. Beidyaev cho rằng tình trạng cạn kiệt năng lượng sáng tạo của Phục hưng và Tân lịch sử gắn với những biến đổi quan trọng trong mối quan hệ tinh thần của con người với thiên nhiên. Thời Cổ đại tinh thần con người đắm chìm vào thiên nhiên tự phát và hòa hợp hữu cơ với thiên nhiên. Giai đoạn tiếp theo gắn với Kitô giáo và diễn ra trong toàn bộ Trung thế kỉ. Trong thời kì này tinh thần con người hướng tới đấu tranh với tự phát thiên nhiên thấp hèn và hướng tinh thần vào chiều sâu bên trong. Từ thời Phục hưng đã xuất hiện một thái độ mới mẻ của con người đối với đời sống thiên nhiên: chinh phục và chiếm đoạt các sức mạnh thiên nhiên nhằm biến chúng thành công cụ cho các mục đích của con người, cho lợi ích và sự yên ấm của con người. Không phải ngay từ đầu Phục hưng đã có thái độ này. Thoạt tiên nó chỉ là cảm hứng nghệ thuật và nhận thức các bí ẩn của thiên nhiên. Tiếp sau đó mới bộc lộ ra mối quan hệ mới của con người với thiên nhiên. Thiên nhiên ngoại tại bị chiếm đoạt và chinh phục cho con người và do đó mà chinh bản chất con người bị biến đổi. Sự chinh phục thiên nhiên ngoại tại làm thay đổi không chỉ có thiên nhiên, không chỉ tạo ra một môi trường mới, mà còn thay đổi cả bản thân con người. Bản thân con người chịu, ảnh hưởng của quá trình ấy đã thay đổi một cách triệt để và căn bản. Diễn ra việc chuyển đổi từ thể loại hữu cơ [của cơ thể con người tự nhiên] sang thể loại cơ giới. Berdyaev nhận xét: ‘“Chuyện gì đã xảy ra trong lịch sử nhân loại khiến cho toàn bộ nếp sống và nhịp điệu sống thay đổi thật căn bản, cái gì đã theo nhịp độ tăng tốc đặt khởi đầu cho hồi kết thúc của Phục hưng vốn được nhận ra vào thế kỉ XIX và đạt tới biểu hiện gay gắt nhất của nó vào thế kỉ XX? Theo niềm tin sâu sắc của tôi thì đã xảy ra một cuộc cách mạng vĩ đại nhất từng được biết đến trong lịch sử - cuộc khủng hoảng giống loài con người, một cuộc cách mạng không có những dấu hiệu bề ngoài hoàn thành vào năm này hay năm kia, giống như cuộc cách mạng Pháp, nhưng thật căn bản hơn nhiều, không thể so sánh được. Tôi đang nói về bước ngoặt gắn với sự gia nhập của máy móc vào đời sống của các xã hội con người. Tôi cho rằng sự xuất hiện thắng lợi của máy móc là một trong những cuộc cách mạng lớn lao nhất trong số phận con người. Chúng ta vẫn còn chưa đánh giá hết được sự kiện này. Bước ngoặt trong mọi lĩnh vực của đời sống đều khởi đầu từ sự xuất hiện của máy móc. Tựa hồ như xảy ra chuyện bứt con người ra khỏi lòng sâu của thiên nhiên, sự thay đổi được nhận thấy ở toàn bộ nhịp điệu đời sống. Trước kia con người đã gắn kết một cách hữu cơ với thiên nhiên và cuộc sống xã hội của con người được hình thành tương ứng với đời sống thiên nhiên. Máy móc đã thay đổi căn bản mối quan hệ ấy giữa con người và thiên nhiên. Nó hiện ra đứng giữa con người và thiên nhiên, nó không chỉ theo vẻ bề ngoài chinh phục các hiện tượng thiên nhiên giúp cho con người, mà nó còn chinh phục cả bản thân con người, nó không chỉ giải phóng con người trong chuyện nào đó, mà còn nô dịch cả con người theo một kiểu cách mới. Nếu như trước kia con người ở trong sự phụ thuộc vào thiên nhiên, nếu như đời sống của con người do sự phụ thuộc ấy mà nghèo nàn, thì việc sáng chế ra mấy móc và công cuộc cơ giới hóa đời sống đi kèm theo đó, một mặt làm cho giàu có, nhưng mặt khác lại tạo ra hình thức mới của sự phụ thuộc và một tình trạng nô lệ mạnh mẽ hơn rất nhiều so với tình trạng nô lệ cảm nhận được do tình trạng phụ thuộc trực tiếp của con người vào thiên nhiên. Một sức mạnh huyền bí nào đó, tựa hồ như xa lạ với con người theo chính bản chất của nó, bước vào đời sống con người, một yếu tố thứ ba nào đó, không có tính chất thiên nhiên và cũng không có tính chất con người, nhận được quyền lực khủng khiếp đối với cả con người lẫn thiên nhiên. Cái sức mạnh khủng khiếp mới mẻ này làm băng hoại các hình thức thiên nhiên của con người. Nó đưa con người vào một quá trình phân rã, chia cắt, khiến cho con người tựa hồ như không còn là một thực thể thiên nhiên như trước đây vốn là thế. Cái sức mạnh này làm được nhiều hơn hết để kết thúc Phục hưng”. […] Berdyaev đưa ra dự báo: “Đang đi đến hồi kết thúc của vương quốc văn hóa trung dung, đang xảy ra những vụ nổ từ bên trong, những phun trào núi lửa đang bộc lộ ra tình trạng không thỏa mãn với văn hóa và hồi kết thúc của Phục hưng trong những hình thức đa dạng nhất. Hoàng hôn của châu Âu đang buông xuống, cái châu Âu đã từng hưng thịnh sáng chói đến thế trong vòng nhiều thế kỉ, cái Ấ châu Ấu đã từng tự xem mình là người giữ độc quyền văn hóa cao nhất và áp đặt văn hóa của mình cho toàn thế giới còn lại, đôi khi bằng cả bạo lực. Đang đi đến hồi kết thúc cho châu Âu nhân văn, đang bắt đầu trở lại thời Trung thế kỉ. Chúng ta đang bước vào một đêm trường Trung thế kỉ mới. Sẽ xảy ra cuộc pha trộn mới về chủng tộc và về các kiểu cách văn hóa. Đây chính là một trong những kết quả nhận thức triết học lịch sử mà chúng ta cần phải nắm vững để biết được số phận nào đang chờ đợi tất cả các dân tộc châu Âu và nước Nga và hồi kết thúc ấy của châu Âu nhân văn hàm nghĩa gì, đó là việc bước vào một thời đại đêm tối của lịch sử”. Tuy nhiên, cũng không thể cho rằng Berdyaev là người bi quan tuyệt vọng về tương lai, bởi vì ông đã viết tiếp: “Tôi hình dung Thời đại mới ấy như thời đại mở ra hai con đường trước con người. Tại đỉnh cao của lịch sử xảy ra tình trạng phân đôi hoàn toàn. Con người có quyền tùy ý đi theo con đường tự tuân phục theo các khởi nguyên Thần Thánh cao cả và dựa trên nền tảng ấy mà củng cố bản diện con người của mình, và cũng có quyền tùy ý nô dịch bản thân, bắt bản thân mình tuân phục theo các khởi nguyên phi-Thần Thánh, phi nhân, đầy độc ác đứng trên con người. Đây là chủ đề về chuyện tại sao lịch sử toàn thế giới lại là khai mở Tận Thế Luận từ bên trong”. Berdyaev đưa ra kết luận: “Lịch sử và tất cả những gì mang tính lịch sử theo bản chất của nó là như sau: chẳng có thực hiện hoàn hảo nào trong dòng chảy thời gian là khả dĩ. Thế nhưng cái trải nghiệm khai mở ra trong số phận lịch sử có một ý nghĩa sâu sắc và nằm bên ngoài sự thực hiện và hiện thực hóa; nó khai mở ra ở ngoài phạm vi lịch sử. Thất bại ở thế giới bên này vốn đập vào mắt chúng ta thật đau đớn và làm chúng ta sửng sốt ở trong phạm vi thời gian lịch sử, ở trong giới hạn thực tại trần thế mang tính thời gian, [thất bại ấy] không có nghĩa là một thất bại tận cùng nào đó ở thế giới bên kia, mà chỉ chừng to rằng con người và nhân loại ở trong các số phận của mình được hiệu triệu hiện thực hóa các tiềm năng của mình ở mức cao nhất, vượt cao hơn vô cùng tất cả những hiện thực hóa mà con người đang cố đạt tới ở trong đời sống lịch sử của mình”. Ở phần cuối của tác phẩm, Berdyaev đưa vào một bài báo ông viết trước đó như một phụ lục. Bài báo có nhan đề “Ý chí hướng về đời sống và ý chí hướng về văn hóa”. Ở đây ông bàn về một hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện đại: văn hóa tinh thần sau thời kì hưng thịnh, phức tạp và tinh tế thì xảy ra quá trình cạn kiệt các sức mạnh sáng tạo, xa rời tinh thần và đi vào tàn lụi. Toàn bộ phương hướng của văn hóa thay đổi, hướng vào việc tổ chức thực tiễn đời sống vật chất, nhằm đạt được sự hùng mạnh. Berdyaev gọi hiện tượng này là sự dịch chuyển “văn hóa” vào “văn minh”. Sự phân biệt văn hóa và văn mình của ông chỉ mang tính ước lệ của ngôn từ, không phải là cách hiểu thông dụng, nhưng nó cũng không làm chúng ta hiểu lầm ý nghĩa mà ông gán cho nó. Berdyaev cho rằng thời kì tàn lụi của văn hóa bắt đầu khi mà những khí thế cao cả của sáng tạo nghệ thuật, thái độ chiêm nghiệm tính thiêng liêng và thiên tài - tất cả những thứ này không còn được cảm nhận như “đời sống” chân thực và hiện thực, không còn gây cảm hứng được nữa. Nảy sinh một ý chí căng thẳng hướng về thực tiễn đời sống. Ông viết: “Vào thời đại của ngày tàn văn hóa, người ta quá đỗi khao khát “sống”, xây dựng “đời sống”, tổ chức “đời sống”. Thời đại hưng thịnh văn hóa đề xuất sự hạn chế ý chí hướng về “đời sống”, sự khắc phục đầy hi sinh đối với tính ham hố đời sống. Khi mà trong khối quần chúng con người quá phổ biến lòng ham hố “đời sống”, thì khi đó mục đích thôi không còn được đặt vào văn hóa tinh thần cao cả nữa, là thứ văn hóa luôn mang tính quý tộc, luôn ở trong các phẩm tính chứ không ở trong số lượng. Mục đích bắt đầu được đặt vào bản thân “đời sống”, vào thực tiễn của nó, vào sức mạnh và hạnh phúc của nó. Văn hóa thôi không còn là mục đích tự thân nữa, nên vì vậy mà ý chí hướng tới văn hóa chết dần. Không còn ý chí hướng đến thiên tài nữa, thiên tài không còn sinh ra nữa. Người ta không còn mong muốn suy tưởng chiêm nghiệm vô vụ lợi, nhận thức và nghệ thuật nữa. Văn hóa không thể ở lại trên tầm cao, nó không sao tránh khỏi bị hạ thấp xuống, nó phải suy đồi. Văn hóa bất lực trong việc duy trì phẩm tính cao cả. Khởi nguyên số lượng phải chiến thắng phẩm tính ấy. Xảy ra [quy luật] Entropi xã hội, sự tản mạn năng lượng sáng tạo văn hóa. Văn hóa sụp đổ và suy đồi, nó không thể phát triển vĩnh hằng bởi vì nó không thực hiện các mục đích và các nhiệm vụ vốn đã sinh ra trong tinh thần của những người tạo tác ra nó”. Berdyaev cho rằng hiện tượng này xảy ra, vì ở trong một thang bậc nhất định trong sự phát triển của văn hóa, bộc lộ ra những khởi nguyên làm sụp đổ các cơ sở tinh thần của nó. Theo ông văn hóa phát triển ra từ trong thờ phụng tôn giáo: “Tư duy triết học, nhận thức khoa học, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, thi ca, đạo đức - mọi thứ đều bao hàm một cách hữu cơ toàn vẹn ở trong nghỉ lễ thờ phụng của giáo hội, ở trong một hình thức còn chưa được triển khai và còn chưa bị phân tầng. Nền văn hóa cổ xưa nhất - nền văn hóa Ai Cập, khởi đầu từ đền thờ, và những người sáng tạo đầu tiên của nó là các thầy tư tế. Văn hóa gắn với thờ phụng các tổ tiên, với truyền thuyết và truyền thống. Nó chứa đầy những biểu tượng, ở trong đó đưa ra các dấu hiệu và các đồng dạng của một thực tại tinh thần khác. Mọi nền văn hóa (ngay cả nền văn hóa duy vật) đều là văn hóa tinh thần; mọi nền văn hóa ffều có cơ sở tinh thần - nó là sản phẩm của công trình sáng tạo tinh thần trước các tự phát thiên nhiên. Thế nhưng ở trong bản thân văn hóa bộc lộ ra xu thế làm tan rã những cơ sở tôn giáo và tinh thần của nó, lật đổ biểu tượng của nó. Cả văn hóa cổ đại và cả văn hóa Tây- Âu đều dịch chuyển thông qua quá trình “Khai sáng”, đoạn tuyệt với các chân lí tôn giáo của văn hóa và làm suy đồi biểu tượng của văn hóa. Phép biện chứng đầy định mệnh của văn hóa bộc lộ ra trong điều này. Văn hóa đặc trưng bởi sự tình là ở một giai đoạn nhất định trên con đường của nó, tựa hồ như hoài nghi ở những cơ sở của mình và làm suy đồi những cơ sở ấy. Văn hóa tự chuẩn bị sự tiêu vong cho bản thân, trong khi tách rời khỏi những ngọn nguồn sự sống của mình. Văn hóa làm cạn kiệt bản thân mình về tinh thần, làm cho năng lượng của mình bị tản mạn đi. Từ giai đoạn “hữu cơ” nó chuyển sang giai đoạn “khủng hoảng””. Berdyaev viết tiếp: “Ý chí hướng tới sự hùng mạnh bằng mọi giá là xu thế văn minh ở trong văn hóa. Văn hóa mang tính vô vụ lợi ở trong những thành tựu cao nhất của nó, còn văn minh thì luôn luôn có tính vụ lợi. Khi lí trí “Khai sáng” quét sạch hết các trở ngại tinh thần để sử dụng “đời sống” và hưởng thụ “đời sống”, khi ý chí hướng đến sự hùng mạnh và sự chiếm lĩnh có tổ chức đời sống, đạt tới độ căng thẳng cào nhất, khi đó thì văn hóa đang chết dần và văn minh bắt đầu. Ở trong nền văn minh, cả trong chu nghĩa tư bản, lao động tập thể lấn át sáng tạo cá nhân. Văn minh làm cho vô diện mạo. Sự giải phóng con người cá nhân, là chuyện tựa hồ như nền văn minh phải chứa đựng trong bản thân nó, [sự giải phóng ấy] lại mang tính chết chóc đối với tính độc đáo cá nhân. Khởi nguyên cá nhân đã khai mở ra chỉ ở trong văn hóa. Ý chí hướng tới sức mạnh của “đời sống” hủy diệt con người cá nhân. Nghịch lí của lịch sử là như vậy. Tuy nhiên, Berdyaev cho rằng hiện tượng văn hóa suy tàn không có nghĩa là văn hóa đang chết. Trong một ý nghĩa sâu sắc hơn - văn hóa bất tử. Nền văn hóa cổ đại đã sụp đổ và tựa hồ như đã chết. Nhưng nó vẫn đang tiếp tục sống ở trong chúng ta, như một lớp sâu ở thực thể của chúng ta. Trong thời đại văn minh, văn hóa tiếp tục sống trong những phẩm tính, chứ không phải ở trong số lượng, nó đi vào chiều sâu. Berdyaev kết luận: “Ở trong văn minh bắt đầu bộc lộ ra những quá trình man rợ hóa, thô bỉ hóa, những mất mất của các hình thức hoàn hảo mà văn hóa đã rèn đúc nên. Tình trạng man rợ hóa ấy có thể có những hình thức khác nhau. Sau nền văn hóa Hi Lạp Cổ đại, sau nền văn minh toàn cầu La Mã đã bắt đầu một thời đại man rợ hóa của thời Trung thế kỉ sơ kì. Đây là tình trạng man rợ gắn với các tự phát thiên nhiên, tình trạng man rợ của làn sóng triều dâng những khối quần chúng mới mẻ với dòng mẩu tươi tắn mang theo mùi vị của những cánh rừng phương Bắc. Tình trạng man rợ có thể xuất hiện ở đỉnh cao của văn minh châu Âu và thế giới, sẽ không như vậy. Đây sẽ là tình trạng man rợ của bản thân nền văn minh, tình trạng man rợ có mùi vị của máy móc chứ không phải của những cánh rừng, tình trạng man rợ vốn có sẵn trong bản thân kĩ thuật của nền văn minh. Phép biện chứng của bản thân văn minh là như vậy. Năng lượng tinh thần đang cạn kiệt trong nền văn minh, tinh thần - nguồn gốc của văn hóa - đang tàn lụi. Khi đó, sẽ bắt đầu một sự thống trị trên các linh hồn con người, không phải của các sức mạnh thiên nhiên, không phải của các sức mạnh man khai trong ý nghĩa cao quý của từ ngữ ấy, mà là vương quốc ma quỷ của tính chất máy móc và tính chất cơ giới thế chỗ cho tồn tại chân chính. Văn minh đã sinh ra từ ý chí của con người hướng về “đời sống” hiện thực, hướng về sự hùng mạnh hiện thực, hướng về hạnh phúc hiện thực, đối lập lại với đặc tính biểu tượng và chiêm nghiệm của văn hóa, Một trong những con đường dẫn đi từ văn hóa đến “đời sống”, đến việc cải tạo đời sống, con đường cải tạo đời sống bằng kĩ thuật, [con đường ấy] là như vậy. Con người đã phải đi theo con đường ấy và khai mở ra cho đến tận cùng tất cả các sức mạnh kĩ thuật. Nhưng trên con đường ấy sẽ không đạt được tồn tại đích thực, trên con đường ấy sẽ tiêu vong hình tượng của con người”. Nguyễn Văn Trọng Lời nói đầu Tư tưởng Nga trong thế kỉ XIX quan tâm nhiều hơn hết với các vấn đề triết học lịch sử. Ý thức dân tộc của chúng ta được hình thành dựa trên các kiến tạo hệ thống triết học lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà các cuộc tranh luận về nước Nga và châu Âu, về phương Đông và phương Tây của những người slavyanofil2 và zapadnik3 đã nằm ở trung tâm các mối quan tâm tinh thần của chúng ta. Ngay Chaadaev4 và những người slavyanoffl cũng đã đưa ra chủ đề triết học lịch sử cho tư tưởng Nga, vì rằng câu đố về nước Nga và số phận lịch sử của nó chính là câu đố của triết học lịch sử. Kiến tạo triết học tôn giáo về lịch sử có lẽ là thiên chức của tư tưởng triết học Nga. Tư tưởng Nga độc đáo hướng về vấn đề kết thúc tận thế luận, nó mang đậm màu sắc khải huyền tận thế. Sự khác biệt của nó với tư tưởng phương Tây nằm trong điều này. Nhưng chính điều này khiến cho nó trước hết có đặc trưng của triết học tôn giáo về lịch sử. Tôi luôn luôn đặc biệt quan tâm tới các vấn đề triết học lịch sử. Cuộc chiến tranh thế giới và cuộc cách mạng làm cho mối quan tâm đó thêm căng thẳng và đã hướng công việc của tôi có ưu tiên về hướng đó. Tôi đã có một kế hoạch chín muồi cho cuốn sách bàn về những vấn đề cơ bản của triết học tôn giáo về lịch sử, vốn đã được làm cơ sở cho các bài giảng của tôi đọc ở Viện hàn lâm Tự dọ về văn hóa tinh thần tại Moscow trong khoảng thời gian mùa đông của các năm 1919-1920. Những ghi chép các bài giảng đó được đặt vào cơ sở của cuốn sách này. Tôi đưa thêm vào cuốn sách bài báo “Ý chí hướng về đời sống và ý chí hướng về văn hóa” được viết vào năm 1922, vốn rất quan trọng đối với quan niệm của tôi về triết học lịch sử. Chương I VỀ THỰC CHẤT CỦA TÍNH LỊCH SỬ. Ý NGHĨA CỦA TRUYỀN THUYẾT C ác tai họa và các bước ngoặt lịch sử, vốn đạt tới độ gay gắt đặc biệt vào những thời khắc nhất định của lịch sử thế giới, luôn gây ra những suy tưởng trong lĩnh vực triết học lịch sử, những toan tính thấu hiểu được quá trình lịch sử, kiến tạo ra triết học lịch sử này hay triết học lịch sử kia. Trong quá khứ vẫn luôn luôn như vậy. Triết học lịch sử tuyệt diệu đầu tiên, vốn được xây dựng vào thời kì Kitô giáo của lịch sử thế giới, triết học lịch sử của Saint Augustine, đã quyết định trước ở mức độ lớn cho các kiến tạo tiếp sau đó của triết học lịch sử, nó trùng khớp với một trong những thời khắc tai họa nhất của lịch sử thế giới, - với sự diệt vong của thế giới cổ đại và sự sụp đổ của La Mã. Triết học lịch sử độc đáo vốn đã có vào thời kì tiền-Kitô giáo, triết học lịch sử đầu tiên mà nhân loại biết đến - cuốn sách của nhà tiên tri Daniel, cũng gắn liền với những biến cố đặc biệt tai họa trong số phận của dân tộc Do Thái. Sau cuộc đại cách mạng Pháp, sau những cuộc chiến tranh của Napoleon, tư duy con người cũng đã hướng về những kiến tạo trong lĩnh vực triết học lịch sử, hướng về những toan tính thấu hiểu được quá trình lịch sử theo cách này hay cách khác. Trong ý thức thế giới quan của J. de Maistre và Bonald5 triết học lịch sử đóng một vai trò không nhỏ. Tôi cho rằng không thể có những tranh cãi đặc biệt nào về chuyện không phải chỉ có nước Nga, mà toàn bộ châa Âu và tất cả thế giới đang bước vào một thời kì tai họa trong sự phát triển của mình. Chúng ta đang sống trong những thời gian của một bước ngoặt lịch sử thật to lớn. Một thời đại lịch sử mới nào đó đã mở ra. Toàn bộ nhịp độ phát triển lịch sử đang thay đổi đáng kể. Nó đã không còn như là nhịp độ của thời kì trước khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới và các cuộc cách mạng Nga và châu Âu tiếp theo sau cuộc chiến tranh thế giới ấy - nó rất khác biệt. Và nhịp độ ấy phải gọi là tai họa chứ không thể nào khác được. Những ngọn nguồn mang tính hỏa diệm sơn đã khai mở ra ở trong lớp dưới nền đất của lịch sử. Mọi thứ đều dao động và ở nước ta có ấn tượng của một chuyển động có “tính lịch sử” đặc biệt mạnh mẽ, đặc biệt gáy gắt. Tôi cho rằng cảm giác gay gắt ấy đặc biệt quan trọng để cho tư duy của con người và ý thức của con người phải hướng về việc xem xét lại những vấn đề cơ bản của triết học lịch sử, hướng về toan tính kiến tạo lại triết học lịch sử theo kiểu mới. Chúng ta đang bước vào thời đại, khi mà ý thức con người sẽ hướng về những vấn đề ấy nhiều hơn thời kì trước đây. Tôi dự tính sẽ tập trung vào chính những vấn đề đó. Tuy nhiên, trước khi chuyển sang chính thực chất của các vấn đề triết học lịch sử, hay nói đúng hơn là siêu hình học lịch sử, tôi cần phải làm một dẫn nhập vào việc phân tích thực chất của “tính lịch sử”. “Tính lịch sử” là cái gì vậy? Để hiểu được “tính lịch sử”, để tư duy hướng về sự tiếp nhận “tính lịch sử” và thấu hiểu nó thì cần phải trải qua một tình trạng phân đôi nào đó. Vào những thời đại, khi mà tinh thần con người còn đang hiện hữu một cách toàn vẹn và hữu cơ ở trong một thời đại nào đó hoàn toàn trong sáng, hoàn toàn vững vàng, hoàn toàn lắng đọng, thì những vấn đề lịch sử, những vấn đề về vận động lịch sử và về ý nghĩa lịch sử không xuất hiện một cách gay gắt thích đáng. Hiện hữu ở trong một thời đại lịch sử mang tính toàn vẹn thì không thuận lợi cho việc nhận thức lịch sử, cho việc kiến tạo triết học lịch sử. Nhất thiết phải xảy ra phân rã, tách đôi ở trong đời sống lịch sử và trong ý thức con người, để cho xuất hiện khả năng đối lập nhau của đối tượng và chủ thể lịch sử, nhất thiết phải xuất hiện phản tư để cho nhận thức lịch sử được bắt đầu, để có được khả năng kiến tạo triết học lịch sử. Vì vậy, tôi cho rằng có thể trình bày một sơ đồ ba thời kì đối xử với “tính lịch sử”. Ngay bây giờ tôi sẽ xác định mỗi thời kì ấy đối xử với nhận thức lịch sử như thế nào. Thời kì thứ nhất - thời kì hiện hữu trực tiếp, toàn vẹn, hữu cơ ở trong một chế độ lịch sử ổn định nào đó. Tất nhiên thời kì này rất thú vị cho nhận thức lịch sử, thế nhưng ở trong nó vẫn chưa sinh ra nhận thức lịch sử. Đây là thời kì tư duy tĩnh tại, vì vậy mà trí tuệ con người tiếp thu rất tệ tính chất động lực ở đối tượng của nhận thức lịch sử. Thời kì thứ hai - thời kì tách đôi, phân rã, theo một cách thức định mệnh, tất yếu luôn luôn đi đến ở khắp mọi nơi, khi mà những trụ cột lịch sử thiết lập vững vàng bắt đầu lung lay ở trong nền tảng của chúng, sự vận động lịch sử bắt đầu xảy ra, các tai biến và thảm họa lịch sử vốn có thể có nhịp độ khác nhau, thế nhưng tình trạng hòa hợp hữu cơ và nhịp độ của một đời sống toàn vẹn chấm dứt. Chính khi tình trạng tách đôi và phân rã ấy bắt đầu: chủ thể nhận thức không cảm thấy bản thân mình hiện hữu trực tiếp và toàn vẹn ở ngay trong đối tượng lịch sử, khi đó sẽ sinh ra phản tư nhận thức lịch sử. Thời kì thứ hai này quan trọng cho khoa học lịch sử, thế nhưng dẫu sao nó vẫn còn chưa thuận lợi cho việc thấu hiểu đích thực quá trình lịch sử, bởi vì xảy ra đứt đoạn giữa chủ thể và khách thể, xảy ra việc đưa chủ thể phản tư ra khỏi cái cuộc sống mà nó đã trực tiếp hiện hữu ở đó. Xảy ra tình trạng tách rời với chính đời sống bên trong, với bản thân “tính lịch sử”. Xảy ra tình trạng đối lập giữa “tính lịch sử” và người nhận thức, khiến cho thực chất bên trong của “tính lịch sử” bị tách xa khỏi anh ta. Trong thời đại này xuất hiện khoa học lịch sử, thậm chí xuất hiện cả lịch sử luận trong ý nghĩa quan điểm chung về văn hóa. Tuy nhiên, - và đây là một trong nghịch lí ở lĩnh vực này mà chúng ta sẽ còn nhiều lần quay trở lại, - giữa “tính lịch sử” và “lịch sử luận” không tồn tại sự đồng nhất, mà là một khác biệt to lớn, thậm chí đối lập với nhau. Lịch sử luận, đặc trưng cho khoa học lịch sử, có đầy những thứ rất xa cách với bí ẩn của “tính lịch sử”. Nó không dẫn đến đó. Nó đánh mất đi tất cả các cách thức giao lưu với bí ẩn ấy. Lịch sử luận không nhận thức được, không hiểu được, mà hơn nữa còn phủ định cả “tính lịch sử”. Để tiếp cận được với bí ẩn bên trong của “tính lịch sử” mà con người vốn từng trực tiếp hiện hữu ở đó vào thời đại toàn vẹn hữu cơ của đời sống nhân bản, cái bí ẩn mà trong khi con người hiện hữu ở đó lại không nhận thức được, không phản tư về nó; để có thể thấu hiểu được “tính lịch sử”, - để làm được chuyện này thì cần phải vượt qua được tình trạng đối lập của chủ thể nhận thức với đối tượng nhận thức, cần phải theo cách thức mới mẻ, vượt qua được tình trạng phân đôi mà tiếp cận với bí ẩn của “tính lịch sử”. Cần phải quay trở về những chỗ cất giấu bí mật của đời sống lịch sử, trở về với ý nghĩa bên trong của nó, trở về với linh hồn bên trong của lịch sử để thấu hiểu nó và kiến tạo được triết học lịch sử đích thực. Đó là thời kì thứ ba, thời đại thứ ba, thời đại trở về với “tính lịch sử”. Và đó, khi tôi nói rằng những thời khắc tai họa của lịch sử đặc biệt thuận lợi cho việc kiến tạo triết học lịch sử, tôi có ý nói tới những tai họa tinh thần của con người, sau khi nó trải qua tình trạng sụp đổ của một chế độ đời sống và một nếp sống lịch sử nhất định, sau khi nó trải qua thời khắc phân rã và tách đôi, đã có thể đối chiếu và so sánh tương phản hai thời khắc ấy, - thời khắc hiện hữu trực tiếp trong tính lịch sử và thời khắc phân tách ra khỏi nó, đặng đi đến được trạng thái thứ ba của tinh thần vốn đem đến tính sắc bén đặc biệt của ý thức, khả năng đặc biệt cho phản tư, và đồng thời thực hiện được việc đặc biệt hướng tinh thần con người vào những bí ẩn của “tính lịch sử”. Đây chính là trạng thái đặc biệt thuận lợi cho việc đặt ra những vấn đề của triết học lịch sử. Để có thể sáng tỏ được tôi đang nói về điều gì, trong khi khẳng định, thời kì thứ hai của tình trạng phân đôi, phản tư vốn sinh ra nhận thức lịch sử và triết học lịch sử bắt đầu được xây dựng, thời kì đó luôn luôn tỏ ra không đủ sâu sắc, không thâm nhập được vào những chỗ cất giấu bí mật của lịch sử theo một cách thức đầy định mệnh, tôi cần phải dừng lại ở tính đặc trưng của cái thời vẫn được gọi là thời đại “Khai sáng” của văn hóa nhân bản. Khi chúng ta nói về thời đại “Khai sáng”, thì không phải chỉ nói về Khai sáng của thế kỉ XVIII, thời kì “Khai sáng” kinh điển của tân lịch sử. Tôi cho rằng các nền văn hóa của mọi thời đại và mọi dân tộc đều đi qua thời kì “có tính chất Khai sáng”. Trong sự phát triển của các nền văn hóa ở tất cả các dân tộc đều có tính chu kì nhất định. Tình trạng giống nhau này của các quá trình văn hóa chỉ ra tính chất hữu cơ trong phát triển văn hóa. Nền văn hóa Hi Lạp, một trong những nền văn hóa vĩ đại nhất mà nhân loại biết đến, cũng đã có thời đại “Khai sáng” của mình, giống nhau về nội tình với thời đại mà nhân loại đã trải qua ở thế kỉ XVIII. Thời kì các nhà ngụy triết (sophist) là một kiểu nở rộ của văn hóa Hi Lạp, hoàn toàn với cùng các đặc điểm vốn đặc trưng cho thời đại “Khai sáng” thế kỉ XVIII, mặc dù ở đó có những nét riêng mang tính Hi Lạp Cổ đại. Về cơ bản thời đại “Khai sáng” của văn hóa Hi Lạp Cổ đại cũng đã phá hủy tính thiêng liêng ở trong tính lịch sử, tính truyền thống hữu cơ, các huyền thoại mang tính lịch sử, như thời đại “Khai sáng” thế kỉ XVIII đã làm, như bất cứ thời đại “Khai sáng” nào cũng làm. Thời đại “Khai sáng” là thời đại ở trong cuộc sống của mỗi dân tộc, khi mà trí tuệ con người hữu hạn và quá tự tin, đặt mình cao hơn những bí ẩn của tồn tại, những bí ẩn của đời sống, những bí ẩn thần thánh của cuộc sống, vốn từ đó, như từ những cội nguồn mà toàn bộ văn hóa nhân bản và cuộc sống của tất cả các dân tộc trên trái đất xuất phát ra. Và đó, vào thời đại “Khai sáng”, bắt đầu đặt trí tuệ con người ở bên ngoài các bí ẩn trực tiếp đó của đời sống và đặt lên trên những thứ ấy. Mưu toan đặc trưng cho những thời đại đó là mưu toan biến cái trí tuệ nhỏ bé của con người thành quan tòa xét xử các bí ẩn tạo ra thế giới và các bí ẩn của lịch sử con người. Lẽ tất nhiên con người bị rớt ra khỏi hiện hữu trực tiếp ở trong tính lịch sử. Thời đại “Khai sáng” phủ nhận bí ẩn của “tính lịch sử”. Nó phủ định “tính lịch sử” như một hiện thực đặc thù. Thời đại ấy phân rã “tính lịch sử”, thực hiện những thao tác lên nó khiến cho nó không còn là một hiện thực toàn vẹn tiên khởi, vốn tạo ra “tính lịch sử” của nó. Thời đại ấy chia tách tinh thần con người và trí tuệ con người với “tính lịch sử”. Vì vậy thời đại “Khai sáng” thế kỉ XVIII mang tính chất phản lịch sử rất sâu sắc. Dẫu cho chính thuật ngữ “triết học lịch sử” đã xuất hiện vào thế kỉ XVIII, vốn được Voltaire sử dụng lần đầu và đã xuất hiện hàng loạt các cuốn sách và tác phẩm lịch sử, thế nhưng trào lưu phản-lịch-sử của thế kỉ XVIII được biết đến rộng rãi, cho nên chẳng cần thiết phải dừng lại đặc biệt về chuyện này. Chỉ có phong trào lãng mạn và phản ứng lãng mạn nhằm chống lại Khai sáng thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, lần đầu tiên khiến chúng ta tiếp xúc được với bí ẩn lịch sử và khiến cho việc nhận thức về sự vận động lịch sử trở nên thực sự khả dĩ; điều này đã trở thành chân lí được thừa nhận chung ở trong triết học lịch sử. Chỉ có cái phản ứng đó mới đưa chúng ta trở về lại về mặt tinh thần với cái mà thời đại Khai sáng đã truy bức và tiêu diệt, xem nó như những huyền thoại và truyền thuyết của thời lịch sử xưa cũ. Nó đã thực hiện những toan tính nhận thức và thấu hiểu chúng, nhưng theo cách thức riêng của nó. Trí tuệ “khai hóa”, trí tuệ của thời đại Khai sáng thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX, là trí tuệ tự khẳng định và tự hạn chế. Đó không phải Ià cái trí tuệ vốn tiếp xúc từ bên trong với trí tuệ của lịch sử thế giới, với trí tuệ của bản thân lịch sử, bởi vì rằng thực sự là tồn tại trí tuệ lịch sử mà cái trí tuệ khai hóa ấy tự tách ra khỏi nó từ bên trong và trở thành quan tòa phán xét nó. Trí tuệ “khai hóa” yêu sách làm quan tòa trí tuệ hữu cơ của lịch sử. Thế nhưng trí tuệ thực sự tối thượng phải chứa đựng trong nó không phải chỉ có cái dung lượng tự nhận thức của con người vốn đặc trưng cho thời đại hữu cơ, thí dụ như thời đại thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX với tất cả các thiếu sót và khuyết tật của nó. Trí tuệ phải tiếp xúc với minh triết nguyên sơ của con người, với những cảm nhận nguyên sơ của tồn tại, những cảm nhận nguyên sơ của đời sống, những thứ vốn sinh ra trong buổi bình minh của lịch sử con người và thậm chí còn sinh ra ngay cả trong buổi bình minh của đời sống tiền sử, trong cách hiểu biết thế giới mang tính vật linh, vốn đặc trưng cho tất cả các dân tộc ở trong giai đoạn nguyên thủy nhất. Minh triết ấy đặc trưng cho các thời đại nguyên thủy, sau đó đi qua những chiều sâu bên trong đầy huyền bí của đời sống ở toàn thể lịch sử tinh thần của con người, đi qua sự phát sinh Kitô giáo và đi qua các thế kỉ Trung đại cho đến thời hiện tại. Chỉ có cái trí tuệ như thế mới đạt tới ánh sáng bên trọng vốn cố hữu trong mỗi thời đại ấy. Chỉ có cái trí tuệ như thế mới là trí tuệ mang tính chân lí Khai sáng và khai ngộ. Nhưng còn cái trí tuệ “Khai sáng”, vốn đã ăn mừng chiến thắng kinh điển của mình vào thế kỉ XVIII, - cái trí tuệ ấy hiểu biết rất ít, tiếp cận bên trong được với rất ít, thấu hiểu được rất ít, nó bị tách rời không tiếp xúc được với đa phần các bí ẩn của đời sống lịch sử. Và đó, chính tình trạng mù lòa ấy của trí tuệ “có tính chất Khai sáng” là sự trừng phạt từ bên trong giáng vào nó vì cái thói tự khẳng định, vì cái thói tự mãn mà cái trí tuệ ấy áp đặt bắt phải lệ thuộc theo, không những tính con người, mà cả tính siêu nhân nữa theo bản chất của nó. Trong chiến thắng của trí tuệ “có tính chất Khai sáng” đã sinh ra cái khoa học, vốn đặt chủ thể nhận thức đối lập với đối tượng nhận thức của lịch sử, và đã thực hiện được rất nhiều thứ theo phương hướng ấy. Khoa học đó đã làm được việc phân chia, tập hợp, tích góp nhiều thứ mà nó phần nào nhận ra được. Nhưng tất cả những thứ này đi kèm với tình trạng bất lực sâu sắc trong việc nhận thức bản thân thực chất của “tính lịch sử”. Dần dần xảy ra một quá trình mà ở trong đó bản thân cái được nhận thức bị đẩy ra xa, không nhìn thấy nữa, không còn tồn tại ở trong cái hiện thực nguyên thủy của nó, mà chỉ ở đó thôi nó mới có thể được gọi là “tính lịch sử” và mới có thể khai mở ra bí ẩn của lịch sử. Quá trình này bộc lộ ra đặc biệt sáng tỏ ở lĩnh vực phê phán lịch sử. Chỉ vào thế kỉ XIX khoa học lịch sử đích thực mới trở thành khả dĩ, bởi vì rằng vào thế kỉ XVIII người ta đã cho là chuyện khả dĩ, thí dụ như, khẳng định rằng tôn giáo là giới tăng lữ bịa đặt ra nhằm lừa gạt nhân dân. Vào thế kỉ XIX điều này đã là bất khả dĩ. Tuy nhiên, có thể theo dõi quá trình ấy đặc biệt sáng tỏ ở trong cái công việc đã được thực hiện đối với Truyền thuyết Thiêng liêng ở lĩnh vực lịch sử giáo hội. Đây là một lĩnh vực mới, vốn trước kia bị cấm đoán. Thật lí thú theo dõi xem quá trình nào đã xảy ra ở công việc phê phán này? Ở thế giới Kitô giáo mọi thứ đều dựa trên Truyền thuyết Thiêng liêng, dựa trên sự thừa kế thiêng liêng Truyền thuyết ấy. Phê phán lịch sử trước hết bắt đầu phá hủy nó. Điều này khởi đầu từ thời đại Cải cách.6 Cải cách lần đầu tiên khởi sự việc nghi ngờ Truyền thuyết Thiêng liêng. Nó thôi không còn coi trọng nó, và do tình trạng nửa vời cố hữu ở mọi cuộc cải cách, nó chừa lại chỉ có Văn bản Thiêng liêng. Sau đó, công việc phá hoại Truyền thuyết Thiêng liêng này ngày càng đi xa hơn nữa, và rốt cuộc đã dẫn đến phá hủy cả bản thân Văn bản Thiêng liêng. Thực ra Văn bản Thiêng liêng chính là bộ phận không tách rời được của bản thân Truyền thuyết Thiêng liêng. Cho nên, một khi chối bỏ Truyền thuyết Thiêng liêng thì tất yếu sẽ phải chối bỏ cả Văn bản Thiêng liêng. Tôi dẫn ra thí dụ này để chứng tỏ rằng phê phán lịch sử đã trở thành hoàn toàn bất lực trong việc giải thích bản thân bí ẩn của hiện tượng tôn giáo. Nó xoay quanh bí ẩn đó, nhưng không sao có thể hiểu nổi bản thân bí ẩn của việc xuất hiện Kitô giáo. Toàn bộ tập hợp to lớn sách báo phê phán của nước Đức ở trong lĩnh vực này, vốn có những đóng góp hiển nhiên trong việc khai thác đủ loại tư liệu, cũng phải thú nhận không thể nào thấu hiểu nổi bí ẩn đó. Mọi thứ đều chẳng đi đến đâu, mọi thứ đều ra khỏi tầm mắt. Một bí ẩn cơ bản nào đó ở trong việc tiếp cận với truyền thuyết, tiếp cận của chủ thể với đối tượng, [bí ẩn đó] biến mất và chỉ còn lại tư liệu chết của lịch sử. Tôi cho rằng quá trình như thế, vốn xảy ra trong lĩnh vực phê phán lịch sử giáo hội, cũng xảy ra cả ở lĩnh vực lịch sử nói chung. Bởi vì không phải chỉ có Truyền thuyết Thiêng liêng của lịch sử giáo hội thực sự tồn tại, mà cả truyền thuyết thiêng liêng của lịch sử, truyền thuyết thiêng liêng của văn hóa, những truyền thống bên trong đầy thiêng liêng, [những thứ đó] cũng thực sự tồn tại. Và chỉ khi nào chủ thể nhận thức không đoạn tuyệt với cuộc sống bên trong ấy, thì mới có thể tiếp cận được với thực chất bên trong của nó. Còn khi đoạn tuyệt với nó, anh ta sẽ phải trải qua hết con đường tự phủ định bản thân cho đến tận cùng. Chỉ có được những mảnh vụn của lịch sử, chỉ có được toàn là sự vạch mặt các đấng thánh thần lịch sử. Tôi cho rằng công lao to lớn của một trong những phương hướng lí thú nhất ở lĩnh vực triết học lịch sử, vốn được mệnh danh là chủ nghĩa duy vật kinh tế luận và được Marx đặt cơ sở, [công lao ấy] nằm chính ở chỗ nó đưa quá trình vạch mặt các đấng thánh thần lịch sử và các truyền thuyết lịch sử đi đến kết luận tận cùng, đi đến kết quả tận cùng, quá trình vạch mặt ấy ở trong khoa học lịch sử vốn được bắt đầu từ thời đại Khai sáng, nhưng chưa đi đến tận cùng. Tôi chỉ biết được có một phương hướng duy nhất ở lĩnh vực đó, là phân rã và trừ khử toàn bộ các thần thánh lịch sử và các truyền thuyết lịch sử một cách nhất quán và cho đến tận cùng, không có thỏa hiệp, hoàn toàn nhất quán - ấy là phương hướng hiểu biết lịch sử kiểu mác-xít. Cái mối nghi ngờ về bí mật bên trong của “tính lịch sử”, vốn đã bắt đầu vào thời đại Khai sáng, ở trong lĩnh vực tôn giáo thì đã bắt đầu từ thời đại Cải cách, [mối nghi ngờ ấy] nở rộ vào thế kỉ XIX và trở thành tài sản của toàn bộ khoa học lịch sử, nhưng dừng lại ở giữa đường. Tất cả các phương hướng mang tính ý thức hệ trong ý nghĩa rộng của từ ngữ ở khoa học lịch sử đều không vạch mặt và trừ khử truyền thuyết lịch sử cho đến tận cùng. Những mảnh vụn nào đó của nó dẫu sao cũng vẫn còn lại. Chỉ riêng có chủ nghĩa duy vật kinh tế luận, ở trong mối nghi ngờ mọi truyền thuyết, mọi tính thừa kế thiêng liêng của lịch sử, là đi đến tận cùng và thực hiện hành động nổi loạn, nổi dậy cách mạng chống lại “tính lịch sử” cho đến những giới hạn và kết luận tận cùng. Trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật kinh tế luận, quá trình lịch sử hóa ra tuyệt đối không có linh hồn. Linh hồn, bí ẩn bên trong, đời sống huyền bí bên trong, [những thứ đó] không còn có ở đâu hết. Mối nghi ngờ vật thiêng liêng dấn đến việc cho rằng, hiện thực đích thực duy nhất của quá trình lịch sử hóa ra là quá trình sản xuất kinh tế và những hình thức kinh tế sinh ra từ nó mang tính tiên khởi, chân thực, bản thể và hiện thực. Mọi thứ khác chỉ là thứ cấp, chỉ là phản xạ lại, là thượng tầng kiến trúc. Toàn bộ đời sống tôn giáo, toàn bộ văn hóa tinh thần, toàn bộ văn hóa nhân bản, toàn bộ nghệ thuật, toàn bộ đời sống nhân bản chỉ là phản ánh lại, phản xạ lại, chứ không phải là hiện thực chân chính. […] Tri thức lịch sử và triết học lịch sử phải có nhận thức luận và lí luận nhận thức của mình, giống như mọi lĩnh vực nhận thức của con người. Những gì tôi nói cho đến bây giờ chính là có thể xếp vào lĩnh vực đó. Tất cả chuyện này rút cuộc dẫn đến một mục đích - nhận diện được thực chất của “tính lịch sử”, như là một hiện thực đặc biệt nào đó, vốn hiện hữu trong hệ thống ngôi thứ của các hiện thực, mà tồn tại bao gồm chúng. Đây là nhận diện một đối tượng hoàn toàn đặc biệt, hoàn toàn độc đáo, không thể phân giải ra các đối tượng khác mang tính vật chất hay là tinh thần. Tất nhiên không thể xem xét “tính lịch sử” như là hiện thực thuộc loại vật chất như sinh lí học, khoa học địa lí hay thứ gì đó khác. Cũng đúng là không thể hình dung được việc phân giải hiện thực lịch sử ra thành các hiện thực tâm lí nào đó. “Tính lịch sử” là một đặc thù, là một hiện thực loại đặc biệt, một thang bậc đặc biệt của tồn tại. Và đó, việc thừa nhận truyền thuyết lịch sử, truyền thống lịch sử, tính thừa kế lịch sử có một ý nghĩa đặc biệt đề nhận diện được cái “tính lịch sử” đặc thù ấy. Ở bên ngoài phạm trù truyền thuyết lịch sử thì không thể có suy luận lịch sử được. Thừa nhận truyền thuyết là một thứ tiên nghiệm (a priori) nào Ở đó - một phạm trù tuyệt đối nào đó đối với mọi nhận thức lịch sử. Ở bên ngoài nó thì chỉ có những mảnh vụn nào đó. Cái quá trình mà chủ nghĩa duy vật kinh tế luận tạo ra cho lịch sử, tất yếu sẽ dẫn đến việc biến hiện thực lịch sử thành tro bụi, biến lịch sử thành một đống cát tơi tả. Hiện thực lịch sử trước hết là cái hiện thực cụ thể chứ không phải trừu tượng và chẳng có cái hiện thực cụ thể nào khác là khả dĩ, ngoài cái hiện thực lịch sử. Chính “tính lịch sử” là cái hình thức kết dính lại của tồn tại. Bởi vì tính cụ thể theo nghĩa đen của nó có nghĩa là kết dính lại, đối lập với tính trừu tượng như là tính xé rách ra, tách rời, chẻ vụn ra. Trong lịch sử chẳng có gì là trừu tượng cả. Mọi thứ trừu tượng theo thực chất đều đối lập với tính lịch sử. Ấy là xã hội học làm việc với cái trừu tượng, còn lịch sử chỉ làm việc với cái cụ thể. Xã hội học thao tác với các khái niệm như khái niệm giai cấp, khái niệm nhóm xã hội - tất cả những thứ đó đều là các phạm trù trừu tượng. Nhóm xã hội, giai cấp, đó là kiến tạo hình dung trong suy tưởng, không hiện hữu trong thực tế. “Tính lịch sử” là đối tượng thuộc loại khác. “Tính lịch sử” chẳng những mang tính cụ thể, mà còn mang tính cá biệt nữa, trong khi đó thì tính chất xã hội học không những trừu tượng mà còn mang tính chung chung nữa. Xã hội học không thao tác với bất cứ khái niệm mang tính cá biệt nào, còn lịch sử chỉ thao tác với những thứ đó thôi. Mọi tính lịch sử đích thực đều mang tính cá biệt và cụ thể. Carlyle7 nói rằng vào ngày tháng đó John Lackland8 bước vào mảnh đất này, ông là sử gia có tính cụ thể và cá biệt hóa nhiều nhất trong các sử gia, thực chất lịch sử là như thế đó. Thậm chí có cả toan tính kiến tạo triết học lịch sử dựa trên nền tảng triết học của Kant, toan tính của Rickert thuộc trường phái Windelband,9 dựa trên cơ sở là: tri thức lịch sử khác biệt với tri thức khoa học tự nhiên chính ở chỗ nó luôn tạo ra khái niệm về tính cá biệt, trong khi tính chất khoa học tự nhiên là về cái chung. Trong cái hình thức mà Rickert đặt ra thì điều này khá phiến diện, thế nhưng ít ra ông ta đã đặt ra vấn đề lí thú rằng, ở trong tính lịch sử chúng ta quả thực có vấn đề với tính cụ thể và tính cá biệt. Cách đặt vấn đề cho rằng cái chung tự thân nó có thể có tính cá biệt, cách đặt vấn đề như thế là trá ngụy. Ta xét thí dụ như khái niệm “quốc gia mang tính lịch sử”. Đây là một khái niệm chung, thế nhưng trong khi đó một quốc gia mang tính lịch sử cụ thể là một khái niệm hoàn toàn mang tính cá biệt. Cuộc tranh cãi không bao giờ dứt giữa những người duy danh luận và những người hiện thực luận bộc lộ ra sự thâm nhập không đầy đủ vào bí ẩn của tính cá biệt. Tính cá biệt còn chưa được khai mở ra cho Plato. Nhận thức tồn-tại như là cấp độ tính cá biệt không hàm nghĩa duy danh luận, vì rằng “cái-chung” có thể được tính cá biệt thừa nhận. Thiết lập tình trạng đối lập giữa tính lịch sử và tính xã hội học là rất quan trọng cho toàn bộ phần tiếp theo. Các bài giảng của tôi cống hiến không phải cho các vấn đề xã hội học, mà cho các vấn đề triết học lịch sử, cho việc nhận diện các số phận lịch sử. Vì vậy mà tôi đã gọi các bài giảng của tôi là “Số phận con người”: đây là một nhiệm vụ cụ thể của triết học lịch sử. Triết học lịch sử, tri thức lịch sử, là một trong những phương cách nhận thức thực tại tinh thần. Đây là khoa học về tinh thần, đưa chúng ta tiếp cận với các bí ẩn của đời sống tinh thần. Nó làm việc với thực tại tinh thần cụ thể vốn phong phú hơn rất nhiều, và phức tạp hơn những gì khai mở ra, thí dụ như trong tâm lí học con người cá biệt. Chính triết học lịch sử xem xét con người trong tình trạng đầy đủ cụ thể thực chất tinh thần của anh ta, trong khi đó, như tâm lí học, sinh lí học và các lĩnh vực khác của kiến thức, vốn cũng đề cập đến con người, nhưng không xem xét anh ta cụ thể, mà chỉ ở những khía cạnh riêng biệt. Triết học lịch sử xem xét con người ở trong tập hợp tác động của tất cả các sức mạnh vũ trụ, tức là ở trong trình trạng đầy đủ to lớn nhất, trong tính cụ thể nhiều nhất. Tất cả các phương pháp khác xem xét con người đều là trừu tượng trong so sánh với tính cụ thể này. số phận con người được thấu hiểu chỉ ở trong tri thức cụ thể ấy của triết học lịch sử. Trong các môn khoa học khác số phận con người không được xem xét, bởi vì số phận con người là tập hợp các tác động của tất cả các sức mạnh vũ trụ. Và tập hợp ấy của các sức mạnh vũ trụ mới sinh ra thực tại cấp cao nhất mà chúng ta mệnh danh nó là thực tại lịch sử. Đây là một thực tại tinh thần đặc biệt và cao cấp nhất. Và dẫu rằng cả các sức mạnh vật chất, cả các yếu tố kinh tế cũng tác động và đóng vai trò to lớn trong lịch sử, cho nên ở trong chủ nghĩa duy vật kinh tế luận mà tôi phủ định về mặt tinh thần, không thể không thừa nhận cũng có một phần chân lí, tuy nhiên, yếu tố vật chất tác động trong thực tại lịch sử tự bản thân nó cũng có nền tảng tinh thần sâu sắc nhất. Suy đến cùng thì nó là sức mạnh tinh thần. Sức mạnh vật chất mang tính lịch sử là bộ phận của thực tại lịch sử tinh thần. Toàn bộ đời sống kinh tế của nhân loại có cơ sở tinh thần, có nền tảng tinh thần. Sẽ còn phải quay trở lại điều này, khi tôi sẽ nói về những vấn đề đa dạng của triết học lịch sử. Con người là thực thể lịch sử ở mức độ to lớn nhất. Con người ở trong tính lịch sử và tính lịch sử ở trong con người. Giữa con người và “tính lịch sử” tồn tại một sự kết dính thật sâu sắc, thật huyền bí ở trong cơ sở tiên khởi của nó, một tính chất tương hỗ thật cụ thể, đến mức không thể tách rời chúng được. Không thể tách con người ra khỏi lịch sử, không thể xem xét nó một cách trừu tượng và cũng không thể tách lịch sử ra khỏi con người, không thể xem xét lịch sử ở bên ngoài con người và theo cách thức phi-nhân-bản. Không thể xem xét con người ở bện ngoài hiện thực tinh thần sâu sắc nhất. Tôi cho rằng không thể xem xét “tính lịch sử” chỉ như một hiện tượng, chỉ như một biểu lộ của thế giới được cảm nhận qua vẻ bề ngoài, thông qua trải nghiệm của chúng ta, và đối lập nó trong ý nghĩa mà Kant đối lập với vật-tự-thân, với chính thực chất của tồn-tại, thực tại thầm kín bên trong, giống như đa số các phương hướng khác nhau trong triết học lịch sử vẫn toan tính thực hiện. Tôi cho rằng lịch sử và tính lịch sử không phải chỉ là hiện tượng. Tôi cho rằng, - và đây là tiên đề căn cơ nhất của triết học lịch sử - “tính lịch sử” là vật-tự-thân. Theo ý nghĩa đích thực của nó thì ở trong “tính lịch sử” khai mở ra thực chất của tồn-tại, khai mở ra thực chất tinh thần bên trong của vũ trụ, chứ không phải chỉ là hiện tượng bề ngoài, [khai mở ra] thực chất tinh thần bên trong của con người. “Tính lịch sử” mang tính bản thể sâu sắc theo thực chất của nó, chứ không phải mang tính hiện tượng. Nó áp dụng vào cơ sở tiên khởi sâu sắc nhất nào đó của tồn-tại, nó đưa chúng ta tiếp cận với cơ sở tiên khởi ấy và khiến cho nó có thể hiểu được. “Tính lịch sử” là một khải huyền nào đó về thực chất sâu sắc nhất của thực tại vũ trụ; về số phận vũ trụ, về số phận con người như tâm điểm của số phận vũ trụ. “Tính lịch sử” là khải huyền về thực tại mang tính vật-tự-thân. Cách tiếp cận với “tính lịch sử” mang tính vật tự-thân là khả dĩ thông qua mối liên kết cụ thể sâu sắc nhất giữa con người và lịch sử, giữa số phận con người và siêu hình học của các sức mạnh lịch sử. Để có thể thâm nhập vào bí ẩn ấy của “tính lịch sử”, trước hết tôi phải thấu hiểu được tính lịch sử ấy và lịch sử, như cái-của-tôi cho đến tận chiều sâu, như đến tận chiều sâu cái lịch sử của-tôi, như đến tận chiều sâu số phận của-tôi. Tôi phải đặt bản thân mình vào số phận lịch sử và đặt số phận lịch sử vào chiều sâu con người của chính mình. Sự hiện diện của số phận lịch sử nào đó được khai mở ra cho chính chiều sâu của tinh thần con người. Tất cả các thời đại lịch sử, khởi đầu từ những thời đại nguyên thủy nhất, cho đên tận đỉnh điểm của lịch sử, thời đại hiện nay, - tất cả đều là số phận lịch sử của tôi, tất cả đều là của tôi. Ở đây cần phải đi theo con đường ngược hẳn lại với con đường mà công trình phê phán phá hoại vẫn đi theo trong quan hệ với quá trình lịch sử, vốn chia tách con người, tinh thần của con người với lịch sử, khiến cho mọi thứ trở thành không thể hiểu được, thù địch, xa lạ đối với nhau, cần phải đi theo con đường ngược lại, cần phải thấu hiểu toàn bộ quá trình lịch sử không phải như thứ xa lạ đối với tôi, không phải như một quá trình mà tôi nổi loạn chống lại nó, không phải như một quá trình áp đặt lên tôi, đè nén tôi, nô dịch tôi mà tôi nổi loạn chống lại nó ở trong hoạt động của tôi và trong ý thức của tôi, - đi [theo con đường] như thế thì chỉ đến được một nơi trống rỗng toang hoác và một vực thẳm toang hoác trải ra trong lịch sử và trong chính con người. Con đường ngược lại cần phải đi theo và có thể kiến tạo được triết học chân chính về lịch sử, là con đường đồng nhất hóa thật sâu sắc giữa số phận lịch sử của-tôi và số phận của nhân loại, vốn thân thiết với tôi thật sâu sắc. Ở trong số phận của nhân loại tôi phải nhận ra được số phận thân thiết của tôi và tôi cũng phải nhận ra được số phận lịch sử ở trong số phận của tôi. Chỉ có đi theo con đường như thế mới có thể tiếp cận được với bí ẩn nội tại của “tính lịch sử”, mới khai mở ra được những sỗ phận tinh thần vĩ đại nhất của nhân loại. Và ngược lại, chỉ có đi theo con đường như thế mới có thể khai mở ra được ở trong chính bản thân mình, không phải là khoảng trống cô đơn của mình ở trong tình trạng đối lập bản thân mình với toàn bộ sự phong phú của đời sống lịch sử thế giới, mà nhận ra được toàn bộ sự phong phú và tính quý báu ở trong bản thân mình, kết nối được số phận cá nhân bên trong của mình với số phận lịch sử toàn thế giới. Vì vậy, con đường chân chính của triết học lịch sử là con đường thiết lập tính đồng nhất giữa con người và lịch sử, giữa số phận con người và siêu hình học lịch sử. Vì vậy mà tôi đã gọi các bài giảng của mình: số phận con người (siêu hình học lịch sử). Lịch sử, như là một hiện thực tinh thần vĩ đại nhất, không phải là dữ liệu thực chứng cho chúng ta, tư liệu vật thể trần trụi. Ở dưới dạng thức ấy lịch sử không tồn tại và không thể nhận diện được. Lịch sử được nhận diện thông qua kí ức lịch sử, như một hoạt tính tinh thần nào đó, như một thái độ tinh thần xác định nào đó đối với “tính lịch sử” ở trong nhận thức lịch sử, nhận thức ấy hóa ra là thứ được cải hóa về mặt tinh thần và trở thành có hồn. Chỉ có ở trong quá trình thổi hồn và cải hóa mới làm rõ được mối liên kết nội tại, cái hồn của lịch sử ở trong kí ức lịch sử. Điều này là xác đáng cho việc nhận diện linh hồn của lịch sử, cũng xác đáng cho việc nhận diện linh hồn con người, bởi vì bản diện con người mà không gắn kết bởi kí ức thành một thể thống nhất, thì không thể nào nhận diện được linh hồn con người như một thứ hiện thực nào đó. Thế nhưng kí ức lịch sử, như cách thức nhận diện “tính lịch sử”, gắn bó chặt chẽ với truyền thuyết lịch sử, ở bên ngoài nó thì không tồn tại cả kí ức lịch sử. Việc sử dụng các tài liệu lịch sử một cách trừu tượng không bao giờ cho được khả năng nhận diện “tính lịch sử”. Việc sử dụng như thế không tiếp cận được với nó. Ngoài công việc [phải làm] đối với các chứng tích lịch sử ấy, tất nhiên là công việc quan trọng và cần thiết, thì còn cần có cả tính thừa kế của truyền thuyết lịch sử vốn gắn liền với kí ức lịch sử. Chỉ có ở đây kết lại một nút thắt nào đó ở trong chiều sâu, gắn kết số phận tinh thần của con người với số phận tinh thần của lịch sử. Bạn sẽ không hiểu nổi bất cứ một thời đại lịch sử vĩ đại nào, dù đó là thời đại Phục hưng, thời đại rực rỡ của văn hóa Trung thế ki, thời đại khai sinh của Kitô giáo sơ kì, hay thời đại rực rỡ của văn hóa Hi Lạp cổ đại, bạn sẽ không hiểu nổi bất cứ thời đại nào trong những thời đại vĩ đại ấy bằng cách nào khác với phương cách kí ức lịch sử, mà ở trong những khải huyền của nó bạn nhận ra được quá khứ tinh thần của mình, văn hóa tinh thần của mình, quê hương của mình. Bạn cần phải chuyển dịch số phận tinh thần của mình vào tất cả những thời đại vĩ đại để thấu hiểu được chúng. Khi bạn xem xét chúng chỉ từ bên ngoài thôi, - chúng sẽ là những vật đã chết ở bên trong đối với bạn. Thế nhưng cái kí ức lịch sử ấy, vốn khiến cho bạn phải tiếp cận từ bên trong đối với “tính lịch sử”, kí ức ấy gắn liền với truyền thuyết lịch sử. Truyền thuyết lịch sử chính là cái kí ức lịch sử bên trong ấy được chuyển vào số phận lịch sử. Triết học lịch sử là một sự thổi hồn và cải hóa nào đó đối với quá trình lịch sử. Trong một ý nghĩa nhất định kí ức lịch sử tuyên cáo một cuộc đấu tranh khốc liệt của vĩnh hằng chống lại thời gian và triết học lịch sử luôn luôn chứng nhận những chiến thắng vĩ đại của vĩnh hằng trước thời gian và sự mục rữa. Kí ức lịch sử nói về chiến thắng của tính chất không mục-rữa. Nó là tượng đài chiến thắng của tinh thần không-mục-rữa trước tinh thần mục-rữa. Tri thức lịch sử và triết học trong thực chất hướng đến không phải những thứ thực chứng, - chúng có đối tượng là hiện hữu thuộc thế giới cõi âm. Tương tự như khi nói về hiện hữu cá nhân thì có thế giới cõi âm, cũng hệt như vậy, khi chúng ta hướng về quá khứ lịch sử vĩ đai, đó chính là hướng về thế giới bên kia. Vì vậy, ở trong kí ức lịch sử, ở trong việc hướng về quá khứ, bao giờ cũng có một cảm giác hoàn toàn đặc biệt nào đó tiếp cận với một thế giới khác, chứ không phải chỉ với cái thực tại thực chứng đang đè nén chúng ta từ mọi phía như một cơn ác mộng mà chúng ta nhất thiết phải chiến thắng để vươn lên một tầm cao mới nào đó, tới được thực tại lịch sử vốn dĩ là khải huyền đích thực của các thế giới khác. Và triết học lịch sử là triết học không phải của thực tại thực chứng, mà là triết học của các thế giới cõi âm. Khi bạn lang thang trong một Chiến dịch La Mã, nơi đã xảy ra hợp lưu huyền bí của thế giới cõi âm với thế giới lịch sử, nơi các di tích tượng đài lịch sử trở thành các hiển lộ tự nhiên, thì bạn đang tiếp xúc với một cuộc sống nào đó khác, với các bí ẩn của quá khứ, các bí ẩn của thế giới cõi âm, bạn đang tiếp xúc với các bí ẩn của vũ trụ mà ở đó vĩnh hằng đang chiến thắng mục rữa và cái chết. Vì vậy, triết học lịch sử đích thực là triết học - triết học chiến thắng của đời sống đích thực trước cái chết, là sự tiếp xúc của con người với một thực tại khác, vô cùng rộng lớn hơn và phong phú hơn cái thực tại mà con người bị thực chứng trực tiếp đẩy vào. Giả sử như đối với con người cá nhân không hề tồn tại các phương cách tiếp xúc với trải nghiệm lịch sử thì con người thật đáng thương, trống rỗng và đang chết, xét theo toàn bộ nội dung của mình! Thế nhưng con người trong cuộc sống hiện tại của mình, không phải chỉ trong lúc anh ta kiến tạo triết học lịch sử, - hiếm khi anh ta làm chuyện này - mà cả ở trong vô số các hoạt động tinh thần của cuộc đời mình, đều thấy được hiện thực đích thực của thế giới lịch sử vĩ đại thông qua kí ức lịch sử, thông qua truyền thuyết bên trong, thông qua tiếp xúc bên trong của các số phận tinh thần cá nhân của mình với các số phận lịch sử. Con người tiếp xúc với thực tại phong phú hơn vô hạn, anh ta bằng cách đó chiến thắng được tính chất mục rữa và thân phận nhỏ bé của mình, vượt qua được tầm nhìn hạn hẹp đáng tội nghiệp của mình. Chương II VỀ THỰC CHẤT CỦA TÍNH LỊCH SỬ. TÍHH SIÊU HÌNH VÀ TÍNH LỊCH SỬ L ịch sử không phải là dữ liệu thực chứng khách quan, lịch sử là huyền thoại. Huyền thoại không phải là chuyện bịa đặt, mà là hiện thực, nhưng là hiện thực thuộc một trật tự khác với cái hiện thực vẫn được gọi là dữ liệu thực chứng khách quan. Huyền thoại là câu chuyện kể được giữ lại ở trong kí ức nhân dân, nói về chuyện xảy ra trong quá khứ, vượt ra khỏi lằn ranh tính chất thực tế khách quan bề ngoài và khai mở ra tính chất thực tế lí tưởng, khách quan-chủ thể. Huyền thoại học, theo học thuyết có ý nghĩa sâu sắc của Schelling10, là lịch sử nguyên thủy của nhân loại. Thế nhưng ngoài các huyền thoại vốn đi vào chiều sâu của quá khứ, các thời đại lịch sử khác nhau đều có đầy những yếu tố huyền thoại. Mỗi thời đại lịch sử vĩ đại, thậm chí ngay cả ở trong tân lịch sử của nhân loại, vốn thật không thuận lợi cho huyền thoại, cũng đầy những huyền thoại, - ví dụ như cuộc cách mạng Pháp cách đây chưa lâu, diễn ra trong ánh sáng chói chang của buổi ban ngày duy lí. Lịch sử về cuộc cách mạng ấy đầy những huyền thoại; huyền thoại đó được các sử gia duy trì chứ không phá hủy trong một khoảng thời gian khá lâu, và chỉ vào thời gian tương đối muộn hơn các sử gia mới bắt đầu phá hủy nó, giống như Taine11 đã làm trong lịch sử cách mạng của mình. Những huyền thoại như thế tồn tại về thời đại Phục hưng, về thời đại Cải cách, về thời đại Trung thế kỉ, ấy là tôi chưa nói tới những thời đại lịch sử xa xôi hơn nữa, khi tư duy còn chưa được sáng tỏ nhờ ánh sáng chói chang của trí tuệ. Chúng ta không sao hiểu được lịch sử thuần túy khách quan. Chúng ta cần có được mối liên kết bên trong sâu sắc và huyền bí với đối tượng lịch sử. Không những đối tượng cần phải thấm đẫm lịch sử, mà cả chủ thể cũng phải thấm vào lịch sử, để sao cho chủ thể tri thức lịch sử cảm nhận được trong bản thân mình và khai mở được cho mình “tính lịch sử”. Chỉ trong chừng mực khai mở được ở trong bản thân mình “tính lịch sử”, thì chủ thể mới thấu hiểu được tất cả các thời đại vĩ đại của lịch sử. Không có mối liên kết ấy, không có được trạng thái “thấm đẫm lịch sử” từ bên trong của riêng mình, thì chủ thể ắt không thấu hiểu được lịch sử. Lịch sử đòi hỏi đức tin, lịch sử không phải là bạo lực đơn giản của các sự kiện khách quan bên ngoài tác động lên người nhận thức, đây là một hành động nào đó cải hóa quá khứ lịch sử vĩ đại, mà ở trong hành động ấy thực hiện được sự thấu hiểu đối tượng lịch sử từ bên trong, thực hiện được quá trình từ bên trong làm cho chủ thể trở thành thân thuộc với đối tượng. Tách rời hoàn toàn chủ thể với đối tượng thì không thể có sự thấu hiểu nào hết. Tất cả những điều này dẫn đưa tôi đến kết luận rằng, học thuyết nhận thức của Plato về nhận thức phải có một số biến đổi khi áp dụng vào nhận thức lịch sử. Thực sự là mọi thâm nhập vào một thời đại lịch sử vĩ đại chỉ có kết quả tốt đẹp, khi có được nhận thức đích thực, khi mà [sự thâm nhập ấy] là một hồi tưởng từ bên trong, là kí ức bên trong của tất cả những gì vĩ đại đã xảy ra trong lịch sử nhân loại, một sự kết nối sâu sắc nào đó, một sự đồng nhất hóa những gì xảy ra ở bên trong, ở chính trong chiều sâu tinh thần của người nhận thức với những gì đã xảy ra khi nào đó ở trong lịch sử, vào những thời đại lịch sử khác nhau. Mỗi một con người theo bản chất bên trong của mình là một thế giới vĩ đại nào đó, - một tiểu vũ trụ, mà ở trong đó toàn bộ vũ trụ hiện thực và tất cả các thời đại lịch sử vĩ đại được trải qua và phản ánh lại; con người không phải là một trích đoạn nào đó của toàn vũ trụ chứa đựng cái mẩu nhỏ nhoi đó, con người hiển lộ bản thân mình là một thế giới vĩ đại nào đó, vốn hãy còn bị đóng kín do trạng thái ý thức của một con người nhất định, nhưng trong chừng mực mở rộng và bừng sáng ở ý thức của anh ta, thế giới ấy sẽ khai mở ra từ bên trong. Trong quá trình đi vào chiều sâu của ý thức như thế thì sẽ khai mở ra tất cả các thời đại lịch sử, toàn bộ lịch sử thế giới, vốn là thứ mà khoa học lịch sử xem xét, tiến hành mọi chuyện thông qua phê phán các di tích tượng đài; các văn bản lịch sử, các chứng tích khảo cổ v.v. Thế nhưng nếu như có một duyên cớ, một cú hích, một điểm xuất phát nào đó từ bên ngoài nhằm vào một hồi tưởng sâu sắc nào đó, thì con người cần phải nhận thức lịch sử ở trong bản thân mình, thấu hiểu nó, ví dụ như khai mở ra những lớp sâu nhất của thế giới Hi Lạp cổ đại để thực sự thấu hiểu được lịch sử Hi Lạp, nhà sử học phải khai mở ra ở trong bản thân mình những lớp sâu của thế giới Do thái cổ đại, để thấu hiểu được lịch sử ấy. Như vậy, có thể nói rằng ở trong tiểu vũ trụ ấy chứa đựng tất cả các thời đại lịch sử của quá khứ, và con người không thể dập tắt nó bằng những lớp thời gian và đời sống lịch sử cận kề nhất; nó có thể bị đóng lại, nhưng không bao giờ có thể bị dập tắt hoàn toàn. Quá trình bừng sáng lên từ bên trong và đi vào chiều sâu từ bên trong ấy, sẽ phải dẫn đến tình huống con người thông qua những lớp đó mà đột nhập vào bên trong, vào chiều sâu thời gian, bởi vì đi vào chiều sâu thời gian có nghĩa là đi vào sâu trong bản thân mình. Chỉ có ở trong chiều sâu của chính bản thân mình con người mới có thể thực sự tìm được chiều sâu của thời gian, bởi vì chiều sâu của thời gian không phải là thứ gì đó ngoại tại, xa lạ với con người, mang tính dữ liệu từ bên ngoài đôi với anh ta, áp đặt từ bên ngoài vào anh ta, chiều sâu thời gian là những lớp thầm kín sâu sắc nhất ở bên trong chính bản thân con người, những lớp chỉ bị che kín lại, chỉ bị chèn ép bởi tình trạng hạn hẹp của ý thức đẩy nó vào hàng thứ hai hay thứ ba của mối quan tâm. Các huyền thoại lịch sử có ý nghĩa sâu sắc đối với quá trình hồi tưởng ấy; ở trong huyền thoại lịch sử có câu chuyện kể truyền lại trong kí ức nhân dân, giúp cho việc hồi tưởng lại lớp bên trong nào đó gắn với chiều sâu thời gian ở trong chiều sâu của tinh thần con người. Quá trình làm cho chủ thể xa lạ với đối tượng mà giới phê-bình-khai-sáng phê phán ý thức tạo ra, [quá trình đó] có thể cung cấp được tài liệu cho tri thức lịch sử, thế nhưng vì nó giết chết huyền thoại và bứt chiều sâu thời gian ra khỏi chiều sâu con người, cho nên nó bứt con người ra khỏi lịch sử. Tất cả chuyện này đưa chúng ta đến việc đánh giá lại và đưa ra đánh giá mới về ý nghĩa của truyền thuyết cho việc thấu hiểu lịch sử từ bên trong. Chính cái truyền thuyết lịch sử mà giới phê bình đã định phá hủy, lại là con đường hồi tưởng thầm kín vĩ đại, và quả thật là ở trong truyền thuyết lịch sử con người có phải một xung lực ngoại tại, không phải một sự kiện áp đặt từ bên ngoài vốn xa lạ với anh ta, mà là một xung lực thầm kín bên trong, ẩn giấu bên trong đời sống huyền bí mà ở đó con người nhận ra được bản thân mình, mà con người gắn kết với nó như một toàn thể không tách rời. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là không được phê phán truyền thuyết, không có nghĩa là phải tiếp thu vô điều kiện mọi truyền thuyết ở nguyên trạng như nó hiện hữu dựa vào lòng tin và khoa học lịch sử phải dừng lại ở đó, - tôi không hề muốn nói như vậy, - tôi cho rằng phê bình lịch sử đã làm được nhiều điều trong lĩnh vực phê phán truyền thuyết, có đặc tính dứt khoát-khách quan và khoa học-khách quan, [tôi cho rằng] không có cơ sở để phục hồi lại lịch sử truyền thống dựa trên truyền thuyết. Tôi muốn nói rằng ở trong truyền thuyết có giá trị bên trong, chỉ ra cho thấy, không phải là mọi thứ đã xảy ra như vậy, thí dụ như trong truyền thuyết xây dựng La Mã, cái truyền thuyết đã bị Niebuhr12 và các sử gia gần đây đập tan, mà cho thấy rằng ở trong truyền thuyết được gìn giữ trong kí ức nhân dân, có ẩn chứa một ám chỉ nào đó, một biểu tượng của các số phận lịch sử ở dân tộc đó, vốn là thứ có ý nghĩa hàng đầu cho việc kiến tạo triết học lịch sử và cho việc thấu hiểu được ý nghĩa bên trong của nó. Truyền thuyết lịch sử là một thứ gì đó lớn lao hơn cái trí thức lịch sử đời sống, bởi vì ở trong truyền thuyết mang tính biểu tượng khai mở ra đời sống bên trong, chiều sâu của thực tại, vốn gắn kết theo thừa kế với những gì mà con người khai mở ra bằng cách tự nhận thức bản thân từ bên trong. Mối liên kết ấy của truyền thuyết với những gì được khai mở ra ở trong tự nhận thức bản thân, là thứ có giá trị rất cao. Các sự kiện bề ngoài của lịch sử có ý nghĩa to lớn. Thế nhưng cái đời sống bên trong đầy huyền bí, vốn không bị đứt đoạn cả ở trong dòng chảy của thực tại, còn có ý nghĩa lớn hơn nhiều cho việc kiến tạo triết học lịch sử, - chính cái đời sống ấy nói cho ta biết lịch sử ta có không phải đến từ bên ngoài mà từ bên trong, và suy đến cùng, trong khi chúng ta tiếp thu lịch sử, kiến tạo nó, thì chúng ta ở trong tình trạng phụ thuộc và gắn bó với trạng thái bên trong ý thức của chúng ta, với độ rộng và độ sâu bên trong của nó ở mức độ lớn hơn. Và đó, cái trạng thái của tự nhận thức bản thân mà [giới] phê bình lịch sử, [giới] khoa học lịch sử khách quan đặt giả định tiên đề như là thứ duy nhất đúng đắn, lại là một trạng thái ý thức rất hạn hẹp và bị ném ra bề mặt. Sự sai lệch của phê phán lịch sử nằm trong chính điều này; nhiều thứ có vẻ như khách quan, không thể bác bỏ được, đầy thuyết phục ở trong phê phán ấy, chỉ là như thế đối với lớp nguyên thủy bề ngoài của ý thức, nhưng khi đi vào chiều sâu, khi mở rộng ý thức ra, thì nhận thấy rằng đó không phải là ý thức đích thực, và rằng chiều sâu nằm ở bên trong thực tại lịch sử. Khi bạn đọc một cuốn sách khoa học lịch sử, thí dụ như về lịch sử các dân tộc cổ đại, thì bạn sẽ cảm nhận thấy rõ ràng, linh hồn của lịch sử văn hóa ở các dân tộc ấy đã bị lấy đi mất, đời sống bên trong đã bị lấy đi mất, rằng bạn được đưa cho xem một tấm hình nào: đó có vẻ bề ngoài, một bức tranh vẽ bề ngoài. Tất cả những điều này dẫn đến kết luận, cái vẫn được gọi là “phê bình lịch sử” chỉ là một thời khắc trong sự phát triển lịch sử mà con người trải qua trong nhận thức của mình, một trong những thời khắc, không phải là đáng kể nhất và thật kém sâu sắc hơn cả, sau thời khắc ấy con người bước vào môt thời kì nào đó hoàn toàn khác, bước vào những mối quan hệ nào đó khác đối với quá trình lịch sử. Khi đó thì cái truyền thuyết bên trong, cái huyền thoại bên trong của lịch sử, vốn đã bị bác bỏ vào thời kì phê bình lịch sử, [những thứ đó] sẽ thay đổi và sẽ được tư duy lại theo lối mới. Như tôi đã nói ngay từ đầu, đề tài lịch sử là số phận con người ở trong đời sống trần gian và cái số phận ấy của con người, vốn được thực hiện trong lịch sử các dân tộc, được thấu hiểu trước hết như là số phận của con người ở trong tinh thần của người nhận thức. Lịch sử thế giới, lịch sử nhân loại diễn ra không phải chỉ ở trong đối tượng, diễn ra không phải chỉ ở trong thế giới vĩ mô một cách khách quan, nó còn diễn ra cả ở trong thế giới vi mô. Chính cái mối gắn kết này của thấu hiểu lịch sử ở trong vi mô với thấu hiểu lịch sử ở trong vĩ mô, vốn thật rất cần thiết cho siêu hình học lịch sử, đề xuất một tình trạng xích lại gần nhau và một mối tương quan đặc biệt giữa tính lịch sử và tính siêu hình học. Tình trạng đối lập của tính lịch sử và tính siêu hình học, vốn là cách hiểu chiếm ưu thế trong một khoảng thời gian dài ở trong khoa học và trong triết học, cũng ở trong một số hình thức nào đó của ý thức tôn giáo, thí dụ như trong ý thức của đạo Hindu, không đề xuất một khả năng biểu hiện siêu hình học ở trong lịch sử, [không đề xuất] một khả năng cho rằng sự kiện lịch sử không phải chỉ là sự kiện bề ngoài, mang tính kinh nghiệm thực chứng, vốn theo phương pháp luận thì phải luôn đặt đối lập với toàn bộ tính siêu hình. Một quan điểm khác đề xuất, tính siêu hình có thể trực tiếp chuyển thành tính lịch sử và biểu hiện ra ở trong đó. Như chúng ta sẽ thấy ở phần sau, quan điểm này, vốn đặc biệt thuận lợi cho việc kiến tạo triết học lịch sử, đề xuất một trung tâm lịch sử nào đó mà ở đó tính siêu hình học và tính lịch sử kết nối lại với nhau. Như tôi sẽ cố gắng chứng minh, chỉ ở trong triết học lịch sử Kitô giáo thì tính siêu hình học và tính lịch sử mới thực sự xích lại gần nhau và đồng nhất với nhau. Cái cách hiểu truyền thuyết mà tôi đã nói tới như là ngọn nguồn nhận thức sâu sắc nhất về thực tại lịch sử và thực tại tinh thần, chính là sự tiếp thu nó như đời sống bên trong của tinh thần nhận thức, chứ không phải như của quyền uy. Tình trạng xa lạ của tinh thần con người đối với truyền thuyết hẳn là hàm nghĩa một sự áp đặt truyền thuyết từ bên ngoài. Thực sự phải có mối quan hệ như sau đối với truyền thuyết: nó là mối gắn kết thừa kế nào đó mang tính tự do và tinh thần ở bên trong con người, nó có nghĩa không phải như một thứ gì đó mang tính siêu việt áp đặt cho con người, mà là mang tính nội tại. Chỉ có cách hiểu truyền thuyết như vậy mới là chân chính, cho ta khả năng kiến tạo được triết học. Bây giờ chúng ta sẽ đi từ những khía cạnh mới, từ những quan điểm mới, để tiếp cận với vấn đề thực chất của tính lịch sử. Tôi đặt ra câu hỏi: bằng cách nào “tính lịch sử” được kiến tạo nên ở trong lịch sử ý thức con người, ở trong lịch sử tinh thần con người? Bằng cách nào ý thức con người đã đi đến chỗ ý thức được diễn biến lịch sử, quá trình lịch sử? Bằng cách nào mà lần đầu tiên [sự việc] lịch sử xảy ra, [sự việc] hiện hữu một thực tại hiện thực đặc biệt mà chúng ta mệnh danh là thế giới lịch sử, chuyển động lịch sử, quá trình lịch sử, [bằng cách nào mà những thứ đó lần đầu tiên] đi vào trong ý thức? Để hiểu được chuyện này chúng ta phải hướng đến thế giới Hi Lạp Cổ đại và thế giới Do Thái, cần phải nói rằng thực sự ở trong cơ sở của ý thức châu Âu vốn đã có hai khởi nguyên ấy: khởi nguyên Hi Lạp Cổ đại và khởi nguyên Do Thái; thế giới Kitô giáo được tạo thành dựa trên sự kết hợp của chung, đã kết hợp một cách hữu cơ ở trong bản thân mình hai thế giới vĩ đại ở quá khứ của chúng ta và khai mở ra một đời sống mới. Tôi cho rằng bất cứ ai nghiên cứu lịch sử đều thấy rõ ràng rằng, ý thức lịch sử thật xa lạ với văn hóa Hi Lạp Cổ đại, với thế giới Hi Lạp cổ đại, với ý thức Hi Lạp Cổ đại. Khái niệm diễn biến lịch sử không hiện hữu trong thế giới Hi Lạp cổ đại; các triết gia vĩ đại nhất của Hi Lạp chưa thể vươn cao tới ý thức về diễn biến lịch sử, không thể tìm thấy triết học lịch sử ở các triết gia vĩ đại nhất của Hi Lạp. Không thể tìm thấy được một sự hiểu biết lịch sử ở cả Plato, ở cả Aristotle, cũng như ở bất cứ một ai trong các triết gia vĩ đại nhất của Hi Lạp. Tôi cho rằng điều này gắn bó mật thiết với với cảm nhận thế giới của Hi Lạp, với tri giác thế giới của Hi Lạp cổ đại. Người Hi Lạp tri giác thế giới theo [quan niệm] thẩm mĩ như một vũ trụ đã hoàn tất và hài hòa; những vĩ nhân lớn nhất của Hi lạp, mà ở họ biểu lộ ra nhiều nhất tinh thần Hi Lạp theo mức độ mạnh mẽ chứ không yếu ớt, đều tiếp thu tạo tác thế giới một cách tĩnh tại, như môt sự hoàn tất kinh điển của vũ trụ có thể đo đạc được. Điều này đặc trưng cho tất cả các nhà tư tưởng Hi Lạp, họ không thể tri giác quá trình lịch sử, diễn biến lịch sử, - nó không có điểm xuất phát, không có điểm kết thúc, nó không có khởi đầu, mọi thứ đều lặp lại ở trong đó, mọi thứ đều ở trong vòng tuần hoàn vĩnh cửu, đều ở trong sự quay trở về vĩnh cửu. Tính chu kì ấy của quá trình đặc trưng cho thế giới quan Hi Lạp, nó hình dung chuyển động lịch sử như như vòng tuần hoàn. Ý thức Hi Lạp cổ đại luôn luôn không hướng về tương lai mà lịch sử hoàn tất ở đó, mà trung tâm lịch sử và lối ra phải ở trong đó, nhưng bao giờ cũng hướng về quá khứ. Đối với ý thức Hi Lạp điều đặc trưng là sự chiêm ngưỡng một trạng thái hài hòa đã hoàn tất mà họ không bao giờ gắn nó với tương lai. Vì vậy, đối với ý thức Hi Lạp đã không hề có cái mối quan hệ với tương lai vốn ắt phải là điểm xuất phát cho việc tri giác quá trình lịch sử và khiến cho ý thức lịch sử như một tấn bi kịch đang diễn ra, trở thành khả dĩ. Lịch sử quả thực là tấn bi kịch có những hồi kịch của nó, từ hồi đầu đến hồi cuối, có khởi đầu của nó, có sự phát triển bên trong của nó, có hồi kết, có sự thanh tẩy của nó, có sự hoàn tất của nó. Cách hiểu lịch sử ấy như một tấn bi kịch là xa lạ với ý thức Hi Lạp cổ đại; ý thức diễn biến lịch sử phải tìm kiếm không phải ở trong thế giới Hi Lạp cổ đại, mà ở trong ý thức và tinh thần của Do Thái cổ đại. Những người Do Thái đã đưa ý tưởng tính lịch sử vào trong lịch sử thế giới, và tôi cho rằng sứ mệnh chủ yếu của nhân dân Do Thái là như sau: đưa vào lịch sử tinh thần con người cái ý thức đó của diễn biến mang tính lịch sử, khác biệt với cái vòng tuần hoàn mà ý thức Hi Lạp cổ đại vẫn hình dung về quá trình ấy. Đối với ý thức Do Thái-Cổ đại quá trình đó luôn luôn được tư duy trong mối gắn kết với cứu thế luận, trong mối gắn kết với ý tưởng cứu thế. Khác với ý thức Hi Lạp Cổ đại, ý thức Do Thái luôn luôn hướng về tương lai: ấy là một tình trạng trông đợi căng thẳng một biến cố vĩ đại nào đó nhằm phân giải các số phận của các dân tộc, số phận của Do Thái. Ý thức Do Thái tư duy toàn bộ lịch sử thế giới không phải như một vòng tuần hoàn khép kín. Ý tưởng lịch sử được sắp xếp trùng khớp với sự tình là sẽ có một biến cố nào đó trong tương lai phân giải lịch sử. Cái đặc tính ấy của cấu trúc quá trình lịch sử được kiến tạo nên lần đầu tiên ở trong ý thức Do Thái; ở đây lần đầu tiên xuất hiện ý thức về “tính lịch sử” và vì vậy phải tìm kiếm triết học lịch sử không phải ở trong lịch sử “Hi Lạp”, mà ở trong lịch sử của cộng đồng Do Thái. Triết học lịch sử như vậy chính là cuốn sách của nhà tiên tri Daniel; trong cuốn sách này cảm nhận được quá trình ở trong nhân loại như một tấn bi kịch nào đó vốn dẫn đến một mục đích xác định. Giải đoán của Daniel về giấc mơ của Nabuchodonosor là mưu toan đầu tiên trong lịch sử nhân loại tạo ra một sơ đồ lịch sử, mưu toan ấy sau đó được lặp lại và phát triển tiếp ở trong triết học Kitô giáo về lịch sử. Ở nhà tiên tri Jérémie có quan điểm về lịch sử là Thượng Đế trừng phạt các dân tộc. Jérémie yêu quý Nabuchodonosor như là công cụ của Thượng Đế. Cái tiên tri luận ấy của ý thức Do Thái hướng về tương lai, đã kiến tạo nên không chỉ có triết học lịch sử, mà nó còn kiến tạo nên “tính lịch sử”13. Trong khi chiêm nghiệm hài hòa vũ trụ là đặc trưng cho thế giới Hi Lạp cổ đại thì thế giới Do Thái lại xa lạ với sự chiêm nghiệm một vũ trụ bất động như thế; thế giới Do Thái được phú cho việc khai mở ra tấn bi kịch lịch sử của số phận con người, tấn bi kịch dựa trên diễn biến một biến cố vĩ đại nào đó ở trong số phận của dân tộc Do Thái, và đồng thời cũng ở trong số phận của toàn nhân loại. Đây là ý tưởng cứu thế Do Thái-Cổ đại, đặc trưng thuần túy cho dân tộc Do Thái. Ý tưởng cứu thế là ý tưởng đặc thù mà thế giới Do Thái đã đưa vào lịch sử tinh thần con người. Tôi muốn đưa ra một vài đối chiếu để làm sáng tỏ ỷ tưởng của mình. Do đâu mà những người Hi Lạp, vốn đã đưa vào lịch sử tinh thần con người những khải huyền vĩ đại nhất, lại không biết và không hiểu lịch sử, lại không biết và không hiểu “tính lịch sử”? Tôi cho rằng điều này liên quan đến sự tình là thế giới Hi Lạp cổ đại đã chưa thực sự biết đến tự do, - cả ở trong tôn giáo Hi Lạp, cả ở trong triết học Hi Lạp đều chưa thực sự khai mở ra [khái niệm] tự do. Thái độ phục tùng số phận thời cổ đại là nét đặc trưng nhiều hơn cho hình tượng tinh thần của thế giới Hi Lạp Cổ đại, của ý thức Hi Lạp cổ đại. Thế giới đó xa lạ với ý thức tự do của chủ thể sáng tạo ra lịch sử, thiếu điều này thì lịch sử là bất khả dĩ, cả diễn biến của nó lẫn tri giác nó đều là bất khả dĩ. Chuyện này gắn với sự tình là ở trong thế giới Hi Lạp cổ đại hình thức bao giờ cũng chiếm ưu thế trước nội dung; ở trong nghệ thuật Hi lạp Cổ đại, ở trong triết học, chính trị Hi Lạp Cổ đại, ở trong mọi lĩnh vực đời sống Hi Lạp Cổ đại, khởi nguyên tính hoàn hảo hình thức, khởi nguyên phối trí chiếm ưu thế trước khởi nguyên chất liệu, trước nội dung, vốn gắn liền với khởi nguyên phi-lí tinh của đời sống con người. Cái khởi nguyên phi-lí-tính ấy chính là khởi nguyên tự do, được Kitô giáo đưa vào thế giới ở thời kì muộn hơn. Trong thế giới Kitô giáo nội dung, chứ không phải hình thức, được khai mở ra, khởi nguyên phi-lí-tính được khai mở ra, và từ điều này cũng như từ mối liên hệ này khai mở ra cái tự do của con người, khai mở ra cái chủ thể tự do sáng tạo, mà thiếu nó thì không thể nào thấu hiểu được quá trình lịch sử. Tự do của cái ác được khai mở ra ở trong ý thức Kitô giáo, [điều này] ở trong mối liên hệ với ý thức Do Thái bởi vì ý thức Do Thái kiến tạo nên “tính lịch sử”, thiếu điều này thì không thể nào tri giác và thấu hiểu được quá trình lịch sử, bởi vì quả thực nếu giả sử như không có tự do của cái ác gắn liền với những khởi nguyên cơ bản của đời sống con người, nếu giả sử như không có cái khởi nguyên tăm tối ấy, thì hẳn là đã chẳng có lịch sử và thế giới hẳn đã bắt đầu không phải từ cái khởi đầu mà từ cái kết cuộc, từ cái Vương Quốc Thiên Chúa hoàn hảo ấy, vốn được suy tưởng như một vũ trụ hoàn hảo trong hình thức của điều thiện hoàn hảo và cái đẹp hoàn hảo. Thế nhưng lịch sử thế giới đã không bắt đầu từ cái vũ trụ hoàn hảo đó, bởi vì lịch sử thế giới đã bắt đầu từ tự do, tự do của cái ác. Sự thai nghén của quá trình lịch sử vĩ đại đã diễn ra như vậy. Và lịch sử được khai mở ra không phải do mối liên hệ với ý thức Hi Lạp cổ đại vốn trước hết hướng tói tính hoàn hảo hình thức của vũ trụ. Tôi cho rằng, đối với ý thức thuần túy trừu tượng [của người] Aryen14, đối với nhất nguyên luận Aryen thì “tính lịch sử” và “tính siêu hình” luôn luôn không thể kết nối vối nhau được. Không phải tình cờ mà các nhà tư tưởng thời đại hiện nay, những người vốn tự xem mình là đại diện cho tinh thần Aryen thuần túỵ như là Chamberlain và Drews, triết gia trường phái Hartmann15, những con người thú vị và độc đáo, đều ấn định sự đối lập sâu sắc nhất của siêu hình học và “tính lịch sử”. Toàn bộ phê phán của họ đối với yếu tố Do Thái ở trong Kitô giáo đều dựa trên cơ sở là họ nhìn thấy ở trong Kitô giáo sự kết hợp bất hợp pháp của siêu hình học và “tính lịch sử”, - [sự kết hợp bất hợp pháp ấy thừa nhận, tính siêu hình học đã đi vào trong các sự kiện lịch sử, thể hiện ra, nhập vào đó, rằng tính siêu hình học gắn kết không-tách-rời với lịch sử. Cái ý thức thuần túy Aryen đó chĩa [phê phán] vào thậm chí không phải chỉ có hình thức Hi Lạp Cổ đại của văn hóa Aryen, mà còn vào cả tính chất Ấn Độ, vốn mang tính chất cội nguồn nhiều hơn, rất có thể là hình thức tinh thần Aryen chặt chẽ hơn, thuần khiết hơn, vào cả những nơi mà ở trong ý thức Ấn Độ ấy tìm kiếm biểu hiện thuần túy tính chất siêu hình học, hoàn toàn thoát khỏi, không chút tì vết nào, không có pha trộn gì với “tính lịch sử”. Ý thức Ấn Độ là ý thức phản-lịch sử nhiều nhất trong tất cả các ý thức của thế giới và số phận Ấn Độ là số phận không mang tính lịch sử nhiều nhất trong tất cả các số phận. Tất cả những gì là sâu sắc hơn cả ở Ấn Độ đều không gắn với lịch sử; ở đó không có lịch sử đích thực, không có quá trình lịch sử đích thực; dân tộc Ấn Độ hình dung đời sống tinh thần trước hết như là đời sống tinh thần cá nhân, mà ở trong chiều sâu của nó khai mở ra một thế giới cao cả khai mở ra Thượng Đế, theo một cung cách đặc biệt, không gắn kết bằng bất cứ sợi chỉ nào với số phận lịch sử. Người Ấn Độ xem tính siêu hình học và tính lịch sử là đối lập với nhau; thái độ quay lưng lại và không để tâm đến thực tại lịch sử, đến số phận lịch sử, chính là sự đảm bảo cho tình trạng thanh khiết của ý thức đối với tinh thần Ấn Độ, vì rằng mọi ràng buộc đều làm cho tinh thần bị tăm tối. Tình trạng không kết nối được ấy của “tính lịch sử” và tính siêu hình học dẫn đến việc tri giác lịch sử chỉ như sự móc nối bề ngoài của các hiện tượng, không hề có bất cứ kế hoạch bên trong nào, không có ý nghĩa bên trong nào. Đó là thế giới thường nghiệm bề ngoài, thực tại bậc thấp nhất, trật tự thấp kém nhất, cần phải vượt qua và cần phải từ bỏ, để bước vào được chân lí của siêu hình học, vào được chân lí của thế giới tinh thần cao cả mà dấu ấn tinh thần yên giấc ngàn thu ở đó. Đây là nhất nguyên luận thuần túy Aryen mà người ta thường đặt đối lập với nhị nguyên luận của ý thức Do Thái và ý thức Kitô giáo. Triết học lịch sử, theo nguồn gốc lịch sử của mình, có mối gắn kết không-tách-rời với tận thế luận, nó giải thích cho chúng ta tại sao tính lịch sử sinh ra ở trong dân tộc Do Thái. Tận thế luận là học thuyết về hồi kết của lịch sử, về kết cuộc, về phân giải lịch sử thế giới, Ý tưởng tận thế ấy hoàn toàn thiết yếu để cho ý tưởng lịch sử được nhận thức và được kiến tạo nên, để nhận thức được diễn biến, chuyển động, vốn có ý nghĩa một sự hoàn tất. Thiếu ý tưởng hoàn tất lịch sử thì không thể có tri giác lịch sử, bởi vì lịch sử theo thực chất mang tính tận thế, bởi vì nó đề xuất một hồi kết phân giải, một kết cuộc phân giải, đề xuất một hoàn tất thảm họa mà ở đó khởi đầu một thế giới mới nào đó, một thực tại mới chứ không phải cái thực tại đã khai mở ra cho ý thức Hi Lạp vốn xa lạ với tận thế luận. Điều này được xác nhận về mặt lịch sử bởi sự tình là trong tất cả các dân tộc của thế giới cổ đại, ngoài dân tộc Do Thái thì chỉ có những người Ba Tư là có cảm nhận lịch sử và số phận lịch sử. Đó là dân tộc Aryen duy nhất được phú cho ý thức được “tính lịch sử”, và điều này gắn liền với sự tình là ở những người Ba Tư, trong ý thức tôn giáo của họ, thời khắc tận thế rất mạnh mẽ, khải huyền tận thế đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khải huyền tận thế Do Thái. Ngôi đầu trong việc khai mở ra thời khắc tận thế thuộc về Ba Tư. Đó là dân tộc duy nhất trong các dân tộc, ngoài dân tộc Do Thái, mà đối với họ số phận lịch sử đã khai mở ra triển vọng của một kết thúc phân giải. Cuộc đấu tranh giữa Thần Thiện và Thần Ác phân giải bằng thảm họa mà sau đó lịch sử kết thúc và khởi đầu một thứ gì đó khác. Không có triển vọng kết thúc ấy thì quá trình không thể được tri giác, như là chuyển động lịch sử. Chuyển động không có triển vọng kết thúc, không có tận thế luận, thì không phải là lịch sử, chuyển động ấy không có hoạch định bên trong, không có ý nghĩa bên trong, không có diễn biến bên trong. Rốt cuộc thì chuyển động mà không đi đến hồi kết phân giải và không có hồi kết đó, thì theo cách này hay cách khác sẽ trở thành chuyển động vòng tròn. Bởi vậy việc bãi bỏ bản thân ý nghĩa của quá trình lịch sử khiến cho việc tri giác nó trở thành bất khả dĩ. Nếu như ở trong dân tộc Do Thái khả năng của triết học lịch sử lần đầu tiên được ý thức, thì triết hoc lịch sử đích thực, như một lĩnh vực đặc biệt của nhận thức tinh thần và một hình thức đặc biệt của tri giác tinh thần về thế giới, là đặc trưng chỉ riêng cho thế giới Kitô giáo, cho ý thức Kitô giáo. Ở trong Kitô giáo đã xảy ra việc hợp nhất tất cả các khải huyền của thế giới, thế giới Hi Lạp Cổ đại và thế giới Đo Thái, cảm nhận lịch sử đặc thù mà thế giới cổ đại chưa từng biết đến, và rất có thể chính thế giới Do Thái cũng chưa biết đến, [cảm nhận lịch sử ấy] là đặc trưng cho Kitô giáo. Một trong những ý tưởng lí thú nhất và sâu sắc nhất của Schelling, - đó là ý tưởng về chuyện Kitô giáo có cảm nhận lịch sử ở mức độ cao nhất, rằng Kitô giáo là khải huyền của Thượng Đế ở trong lịch sử. Giữa Kitô giáo và lịch sử hiện hữu một mối liên kết chưa từng có ở một tôn giáo nào khác, ở một sức mạnh tinh thần nào khác của thế giới. Kitô giáo đưa vào tính chất động lực lịch sử, một sức mạnh đặc biệt của vận động lịch sử, và đã tạo ra khả năng của triết học lịch sử. Tôi khẳng định rằng Kitô giáo đã tạo ra không chỉ riêng có cái triết học lịch sử vốn được gọi là Kitô giáo trong ý nghĩa thuyết giảng đức tin, như triết học lịch sử của St. Augustine hay của Bossuet16, mà còn tất cả các triết học lịch sử tiếp sau đó cho đến tận cả triết học lịch sử của Marx, vốn có tính động lực lịch sử cố hữu ở ông ta, là tính chất đặc trưng cho thời kì Kitô giáo lịch sử. Kitô giáo đã đưa vào tính chất động lực bởi vì nó đã đưa vào ý tưởng tính chất xảy-ra-một-lần, tính chất không-lặp-lại của các biến cố, là điều mà thế giới ngoại đạo khó lĩnh hội được. Ở thế giới đó có ý tưởng tính chất xảy-ra-nhiều-lần, tính chất lặp-lại của các biến cố, khiến cho việc tri giác lịch sử trở thành bất khả dĩ, trong khi đó tính chất xảy-ra-một-lần, tính chất không-lặp-lại và tính chất đơn nhất mà ý thức Kitô giáo đưa vào trong thực tại lịch sử, gắn liền với sự tình là ở trong ý thức Kitô giáo có một sự kiện nào đó nằm ở trung tâm quá trình thế giới và quá trình lịch sử, một sự kiện chỉ diễn ra một lần, đơn nhất, không lặp lại, duy nhất, không có gì so sánh được, không giống với bất cứ thứ gì, một lần đã xảy ra và không thể nào lặp lại, một sự kiện lịch sử và đồng thời cũng là sự kiện siêu hình học, tức là khai mở ra những chiều sâu của cuộc sống, - sự kiện hiển hiện của Đức Kitô. Lịch sử là diễn biến có ý nghĩa bên trong, một thánh kịch huyền bí nào đó có mở đầu và kết cuộc của mình, có trung tâm của mình, có hồi cảnh liên hệ hồi cảnh này với hồi cảnh kia, lịch sử đi đến sự kiện - sự hiển hiện của Đức Kitô và đi từ sự kiện - sự hiển hiện của Đức Kitô. Điều này xác định tính chất động lực sâu sắc nhất của lịch sử, vận động của lịch sử đi đến phần cốt lõi của quá trình lịch sử và vận động rời khỏi phần cốt lõi của quá trình ấy. Khả nang cách hiểu như thế không bao giờ khai mở ra cho thế giới Hi Lạp cổ đại, thế giới ấy không biết đến sự kiện lịch sử và cũng đồng thời là sự kiện siêu hình học như thế. Đối với thế giới Hi Lạp Cổ đại tính thần thánh không khai mở ra trong quá trình thời gian của lịch sử. Chân lí, giá trị thần thánh, sự hài hòa thần thánh khai mở ra cho ý thức Hi Lạp cổ đại chỉ ở trong thiên nhiên vĩnh hằng. Người Hi Lạp không biết đến vận động lịch sử đưa tất cả các thế giới lướt nhanh đến sự kiện thảm họa. Lịch sử là khả dĩ chỉ khi nào mà việc tri giác lịch sử là khả dĩ, nếu như quá trình lịch sử được tri giác như quá trình đi đến thảm họa. Tri giác lịch sử như một quá trình đi đến thảm họa đề xuất một trung tâm nào đó mà sự kiện lịch sử được phú cho ở trung tâm ấy, đồng thời khai mở ra tính thần thánh, cái bên trong trở thành cái bên ngoài khả dĩ tri giác được. Đây lại chính là điều xa lạ với ý thức Hi Lạp cổ đại và hoàn toàn xa lạ với ý thức tinh thần sâu sắc của Ấn Độ, bởi vì chính ở Ấn Độ đã không có cái tiên cảm căng thẳng ấy của một biến cố trung tâm vĩ đại như thế trong lịch sử. Đối với Ấn Độ mọi thứ vĩ đại trong đời sống tinh thần khai mở ra chỉ ở trong chiều sâu cá nhân của tinh thần Ki tô giáo lần đầu tiên đưa vào ý thức các khái niệm tự do mà thế giới Hi Lạp cổ đại chưa từng biết đến, vốn cũng thật cần thiết cho việc kiến tạo lịch sử và triết học lịch sử. Nếu không có khái niệm tự do xác định tính chất bi kịch của quá trình lịch sử và tính chất bi thảm của nó thì không thể hiểu được lịch sử, bởi vì tính chất bi thảm sinh ra từ tự do, từ tự do có hiệu lực, từ tự do của cái ác, từ tự do của bóng tối. Điều này xác định cuộc đấu tranh đầy kịch tính trong lịch sử, chuyển động lịch sử đầy kịch tính vốn không hề có đối với cái ý thức tư duy mọi điều thiện, mọi cái đẹp và mọi chân lí như là điều tất yếu thần thánh. Ý thức Hi Lạp cổ đại đã tư duy như thế. Kitô giáo đưa lịch sử tới, đưa ý tưởng lịch sử tới bằng sự việc là nó lần đầu tiên thừa nhận đến tận cùng rằng vĩnh hằng có thể có lối thoát ở trong thời gian tính; ở trong ý thức Kitô giáo tính-vĩnh-hằng và tính-thời-gian hiện hữu không tách rời nhau; tính-vĩnh-hằng đỉ vào trong tính-thời-gian, tính-thời-gian tính đi vào trong tính-vĩnh-hằng. Ở trong ý thức Hi Lạp tính-thời-gian là vòng tuần hoàn, - Kitô giáo thực hiện cuộc đột phá, nó vượt qua ý tưởng vòng tuần hoàn, xác lập diễn biến lịch sử theo thời gian, khai mở ra ý nghĩa lịch sử. Kitô giáo đưa vào tính chất động lực và cái khởi nguyên giải phóng vốn tạo nên cái lịch sử đầy sôi động mang tính chất nổi loạn của các dân tộc Phương Tây, cái lịch sử ấy đã trở thành lịch sử chiếm ưu thế. Số phận của các dân tộc theo Kitô giáo trong so sánh với số phận của các dân tộc không theo Kitô giáo, các dân tộc cổ đại hay đương đại, chủ yếu la số phận gắn với tất cả các biến cố lớn lao của lịch sử, với chính cái tâm điểm của lịch sử. Điều này gắn với cái tự do mà Kitô giáo đã đưa vào và gắn với cái tính chất động lực mà nó đưa vào, do tính chất xảy-ra-một-lần của các sự kiện mang tính siêu hình học và lịch sử. Nó đưa vào tình trạng căng thẳng của quá trình lịch sử vốn không đặc trưng cho các dân tộc phi Kitô giáo, ngoại trừ dân tộc Do Thái, một tình trạng căng thẳng đặc biệt, một kịch tính bên trong đặc biệt, một nhịp độ đặc biệt của lịch sử. Một thế giới Kitô giáo vĩ đại đặc thù được hình thành - một thế giới năng động, khác với thế giới cổ đại, vốn là thế giới tĩnh tại ở trong so sánh với nó. Thế giới cổ đại tĩnh tại gắn liền với cảm nhận nội tại của tồn tại và đời sống: đối với ý thức cổ đại, đối với cảm nhận cổ đại về đời sống thì chỉ có bầu trời khép kín hiện hữu, toàn bộ cuộc sống của con người trôi qua dưới bầu trời ấy và ở trong nó; cuộc đột phá siêu việt và chốn xa xăm siêu việt không khai mở ra cho thế giới ấy, toàn bộ cái đẹp, toàn bộ cái đẹp của đời sống tinh thần và thần thánh chỉ khai mở ra một, cách nội tại, ở trong vòng tuần hoàn thiên nhiên. Ở trong thế giới Kitô giáo đã trải ra và khai mở ra chốn xa xăm, bầu trời trải ra và khuynh hướng nhìn về cõi xa xăm tạo nên tính chất động lực của lịch sử, tạo nên tấn bi kịch lịch sử, bị lôi cuốn vào đó ngay cả những con người và những dân tộc đã tách rời khỏi ý thức Kitô giáo, nhưng theo số phận của mình vẫn còn là Kitô giáo theo tính chất lịch sử. Vì vậy, tôi cho rằng, cái cuộc nổi loạn lịch sử vốn đặc trưng cho thế kỉ XIX và thế kỉ XX vốn đồng hành với việc tách rời khỏi Kitô giáo và mất đi ánh sáng Kitô giáo, dẫu sao cũng vẫn gắn liền với Kitô giáo và sinh ra trền nền tảng Kitô giáo. Tính chất sinh động ấy của Kitô giáo, tự do ấy của Kitô giáo vốn phá tung các giới hạn, cái khởi nguyên phi-lí-tính ấy vốn gắn liền với nội dung của đời sống, [những thứ đó] quyết định quá trình lịch sử. Tính chất động lực Kitô giáo, cảm nhận lịch sử Kitô giáo, không đặc trưng cho bất cứ ý thức nào khác. Chỉ có Kitô giáo thừa nhận mục đích tối hậu chung của nhân loại, ý thức được tính thống nhất của nhân loại, và bằng điều này đã tạo ra tình trạng khả dĩ của triết học lịch sử. Thực tại lịch sử đề xuất phi-lí-tính, như tôi đã nhiều lần nhận xét, phi-lí-tính đó khiến cho tính chất động lực trở thành khả dĩ, bởi vì nếu không có cái khởi nguyên phi-lí-tính ấy như một khởi nguyên sôi sục, như một khởi nguyên cần phải định hình, gây ra cuộc đấu tranh của ánh sáng và bóng tối như xung đột của các mặt đối lập, nếu không có cái khởi nguyên đó thì lịch sử là bất khả dĩ, tính chất động lực đích thực là bất khả dĩ. Khởi nguyên phi-lí-tính ấy cần phải hiểu không phải theo ý nghĩa như Rickert hiểu nó, không phải trong ý nghĩa nhận thức luận đối lập tính chất cá nhân như là phi-lí-tính với cái chung như là lí tính, mà phải hiểu nó trong một ý nghĩa bản thể luận nào đó khác, trong ý nghĩa thừa nhận khởi nguyên phi-lí-tính ở ngay trong tồn tại, trong cái ý nghĩa khởi nguyên phi-lí-tính mà nếu không có nó thì tự do là bất khả dĩ, tính chất động lực là bất khả dĩ. Lịch sử đề xuất có Thần-nhân. Đặc tính của quá trình tôn giáo và lịch sử đề xuất cuộc xung đột và tương tác sâu sắc nhất của Thượng Đế và con người, Ý Đồ của Thượng Đế, định mệnh Thượng Đế, tất yếu Thượng Đế và tự do không-sao-giải-thích-được, đầy huyền bí của con người. Giả sử như chỉ có một khởi nguyên tác động, một khởi nguyên tất yếu tự nhiên, hay là một khởi nguyên tất yếu Thượng Đế, hay là một khởi nguyên con người, nếu như vậy thì hẳn đã không có tấn kịch của lịch sử, hẳn đã không có thảm kịch diễn ra, vốn quả thực là cuộc xung đột, tương tác và tranh đấu sâu sắc nhất của Thượng Đế và nhân loại dựa trên cơ sở tự do. Ở đây có những khởi nguyên không thể hòa hoãn, những điều nghịch thường, những mặt đối lập. Chỉ có ý thức Kitô giáo đã đưa điều này vào trong lịch sử tinh thần con người. Nếu không có tự do tinh thần của con người như một khởi nguyên độc đáo, không thể quy giản cả về tự do Thượng Đế cũng như tất yếu Thượng Đế, như một khởi nguyên phi lí-tính và không thể giải thích nổi, nếu như vậy thì hẳn đã chẳng có lịch sử thế giới. Giả sử như chỉ hiện hữu có tự do Thượng Đế, tất yếu Thượng Đế, hoặc là giả sử chỉ có tất yếu tự nhiên thì lịch sử trong ý nghĩa đích thực của từ ngữ, hẳn đã không hiện hữu, nó hẳn đã không ra đời. Nếu tồn tại chỉ riêng có tất yếu Thượng Đế, chỉ riêng có khởi nguyên Thượng Đế, chỉ riêng có tự do Thượng Đế, thì lịch sử ắt đã khởi đầu từ Vương Quốc Thiên Chúa nên ắt là đã không có lịch sử. Nếu tồn tại chỉ riêng có tất yếu tự nhiên thì hẳn là đã dẫn đến một chuỗi móc nối vô nghĩa của các sự kiện bề ngoài mà ở đó hẳn đã không có diễn biến bên trong, hẳn đã không có môt tấn kịch có-thể-hiểu-thấu-được, hẳn đã không có một thảm kịch có-thể hiểu-thấu-được dẫn đến một kết cuộc phân giải nào đó. Vì vậy mà bất cứ triết học nhất nguyên luận nào, một nhất nguyên luận thuần túy thừa nhận chỉ có một khởi nguyên sẽ không thuận lợi cho việc kiến tạo triết học lịch sử, cho việc tri giác được tính chất động lực của lịch sử. Nhất nguyên luận thuần túy theo thực chất của nó là phản lịch sử và luôn luôn thiên về phủ nhận tự do của con người, phủ nhận sự tình rằng ở trong cơ sở của lịch sử như tính chất tôn giáo siêu hình học của nó, đã có sẵn một cách tiên nghiệm tự do phi-lí tính ấy của cái ác. Tôi cũng muốn đưa ra thêm vài nhận xét từ những khía cạnh mới, xác nhận những luận điểm cơ bản của tôi, cách hiểu cơ bản của tôi về triết học lịch sử. Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng ở trong ý thức đương đại rất phổ biến một cách đối xư trá ngụy đối với quá trình lịch sử, khiến cho nó trở thành chết cứng và không thể tri giác được từ bên trong. Một trong những trá ngụy của ý thức đương đại - ấy là cách đối xử mang tính phản-lịch sử và vô chính phủ, nổi loạn đối với quá trình lịch sử, khi một cá nhân, một nhân vật, sau khi cảm thấy bị tách rời và bị gạt ra khỏi tất cả “tính lịch sử”, đoạn tuyệt với nó, nổi loạn chống lại quá trình lịch sử như chống lại bạo lực. Thế nhưng thái độ ấy rốt cuộc không phải là tình trạng giải phóng mà mang tính chất nô lệ, bởi vì người nào nổi loạn và đứng lên chống lại nội dung vĩ đại Thượng-Đế-và-con-người của lịch sử, sẽ ý thức nó không như một thứ của chính mình, khai mở ra ở bên trong bản thân mình, mà như một thứ áp đặt cho người đó từ bên ngoài. Cách đối xử nổi loạn vô chính phủ như thế dựa trên tình trạng nô lệ của tinh thần, chứ không dựa trên tự do tinh thần. Con người tự do tinh thần là người không còn cảm nhận lịch sử như thứ áp đặt từ bên ngoài, mà như một biến cố bên trong ở thực tại tinh thần, như tự do của chính bản thân mình. Chỉ có một thái độ thực sự tự do và giải phóng như vậy đối với lịch sử mới đem lại khả năng thấu hiểu lịch sử như là tự do bên trong của con người, như thời khắc số phận của con người ở trên-trời và dưới-trần-gian. Ở trong số phận ấy con người đi qua con đường tuẫn đạo đặc biệt của mình, trên con đường ấy tất cả những thời khắc vĩ đại của lịch sử, những thời khắc kinh khủng nhất, đau khổ nhất, hóa ra lại là những thời khắc bên trong ở số phận ấy của con người, vì rằng lịch sử là diễn biến số phận con người đầy tính chất bi thảm. Những người chỉ nhìn thấy sự trống rỗng ở trong lịch sử, chứ không phải chân lí, vốn là thứ mà những người ấy không muốn thừa nhận trong quá trình lịch sử ở số phận vĩ đại ấy của con người, những người như thế chỉ nhìn thấy ở trong lịch sử cái bề ngoài, bị áp đặt từ bên ngoài. Quả thực ở trong lịch sử có kết hợp hai yếu tố, mà nếu không có chúng thì lịch sử là bất khả dĩ, - yếu tố bảo thủ và yếu tố sáng tạo. Quá trình lịch sử là bất khả dĩ nếu không có kết hợp yếu tố này và yếu tố kia. Tôi hiểu yếu tố bảo thủ như mối gắn kết với quá khứ tinh thần, truyền thuyết bên trong, tiếp thu từ quá khứ ấy những gì là thiêng liêng nhất ở trong đó. Cũng không thể tri giác lịch sử nếu không có yếu tố sáng tạo-động lực, nếu không có sự tiếp nối sáng tạo, diễn biến sáng tạo của lịch sử. Như vậy phải có mối liên kết bên trong với quá khứ, thái độ thật sâu sắc hướng về những di sản của quá khứ và sự táo bạo của sáng kiến sáng tạo. Thiếu vắng một trong hai yếu tố đó, - hoặc là yếu tố bảo thủ, hoặc là yếu tố sáng tạo-động lực – đều thủ tiêu sự hiện hữu của lịch sử. Chủ nghĩa bảo thủ thuần khiết mang tính trừu tượng chối từ tiếp tục lịch sử, nó bảo rằng mọi thứ đều đã hoàn tất cả rồi, giờ đây chỉ cần gìn giữ bảo vệ mọi thứ. Thái độ như thế đối với lịch sử khiến cho không thể tri giác được nó. Mối liên kết với quá khứ, với những gì là thiêng liêng ở trong quá khứ, là mối liên kết với cuộc sống sáng tạo-động lực; trung thành với di huấn của quá khứ là trung thành với di huấn cuộc sống sáng tạo động lực của tổ tiên chúng ta; vì vậy, mối liên kết bên trong với tổ tiên, với tổ quốc, với tất cả những gì thiêng liêng, bao giờ cũng là mối liên kết với quá trình sáng tạo-động lực hướng về tương lai, hướng về việc phân giải, hướng về việc hoàn tất, hướng về kiến tạo một thế giới mới, một cuộc sống mới, hướng về việc kết hợp thế giới mới ấy với thế giới quá khứ xưa cũ; điều này xảy ra ở trong vĩnh hằng, trong một chuyển động lịch sử nào đó thống nhất, ở bên trong, một chuyển động sáng tạo sinh động, một sự tái thống nhất được thực hiện trong đời sống vĩnh hằng. Cách hiểu quá trình lịch sử như vậy, ở trong đó sự kết hợp tính-thời-gian và tính-vĩnh-hằng được thực hiện, tính lịch sử và tính siêu hình được đồng nhất hóa, cái mà chúng ta nhận được từ những sự kiện lịch sử, trong thể hiện lịch sử, cái mà được khai mở ra trong thực tại tinh thần sâu sắc nhất, dẫn đến việc thống nhất lịch sử dưới-trần-gian với lịch sử ở-trên-trời. Cần phải hiểu thế nào về lịch sử ở-trên-trời? Ở trong lịch sử ở trên-trời, trong những chiều sâu đời sống bên trong của tinh thần đã tiền định cái lịch sử khai mở và trải ra trong đời sống trần gian, trong sổ phận dưới-trần-gian của con người, ở trong cái mà chúng ta gọi là lịch sử cõi trần gian. Đó là lời giáo đầu ở-trên-trời, giống như lời giáo đầu mà [nhân vật] Faust của Goethe đã bắt đầu. Bản thân số phận của Faust là số phận con người, và bằng lời giáo đầu ấy ở-trên-trời số phận dưới-trần-gian của con người được tiền định. Triết học lịch sử phải là siêu hình học của lịch sử đi từ việc khai mở ra cái lời giáo đầu ở-trên-trời, mà rồi nó sẽ xác định những số phận lịch sử, bởi vì ở-trên-trời - chính là bầu trời tinh thần bên trong của chúng ta. Đây cũng sẽ là khai mở mối liên kết đích thực giữa tính siêu hình học và tính lịch sử mà tôi nhìn thấy ở trong đó ý nghĩa sâu sắc nhất của bất cứ triết học lịch sử mang tính chât Kitô giáo nào. Nó quyết định trước tình trạng đứt đoạn và tính đối lập, nó nhận thức được sự hợp nhất, xích lại gần và đồng nhất hóa vĩ đại nhất, sự thực hiện tiền định đầy huyền bí, sự biến cải huyền bí thứ này thành thứ kia - cái ở-trên-trời thành cái dưới-trần-gian, tính lịch sử thành tính siêu hình học, cái bên trong thành cái bên ngoài. Triết học lịch sử, toan tính suy ngẫm thấu hiểu quá trình lịch sử, chính là sự tiên tri nào đó hướng về phía sau, tương tự như tiên tri hướng về phía trước, bởi vì quả thực triết học lịch sử khai mở không phải dữ liệu khách quan, không phải tri giác tính chất sự kiện của quá trình lịch sử, mà là sự thâm nhập mang tính tiên tri vào quá khứ, sự thâm nhập ấy cũng là sự thâm nhập vào tương lai, bởi vì lịch sử mang tính siêu hình học của quá khứ được khai mở ra như tương lai, và tương lai được khai mở ra như quá khứ. Tình trạng đứt đoạn giữa chúng đẩy chúng ta vào tăm tối, khiến cho chúng ta không tri giác được quá trình lịch sử. Tình trạng đứt đoạn này diễn ra với tất cả những ai tự cảm thấy mình tách rời khỏi quá khứ lịch sử vĩ đại và không biết được tương lai lịch sử vĩ đại, những người cảm nhận cái quá khứ lịch sử vĩ đại ấy như là thứ gì đó áp đặt cho họ, và cảm nhận tương lai lịch sử như thứ gì đó đáng sợ đối với họ do tình trạng không hiểu biết, không thể thấu đạt, không thể nhận thức được, bởi vì tương lai là thứ bất khả tri. Cần phải đối phó với điều này bằng việc tìm kiếm ở trong số phận lịch sử, chính bản thân số phận con người của mình, vốn liên kết quá khứ với tương lai ở trong vĩnh hằng. Như vậy những sức mạnh tinh thần bên trong của lịch sử được khai mở ra, những sức mạnh ấy bị đóng kín đối với người nào biến yếu tố tĩnh tại, biến tri giác tĩnh tại về cái hiện tại thành tri giác tĩnh tại về quá khứ và tương lai. Tri giác quá khứ và tương lai là trá ngụy, khi nó tri giác không theo phương cách động lực, không ở trong mối gắn kết có tính động lực nội tại của chúng, không ở trong tình trạng gắn kết và diễn biến của chúng ở bên trong và thuộc về tinh thần, mà lại tri giác chúng ở trong tình trạng bị tách rời, trừu tượng hóa và không cụ thể, tri giác một điểm chết nào đó. Vì vậy, cách đối xử như thế đối với quá trình lịch sử, dù nó có vẻ như mang tính tiến hóa thế nào đi nữa, thì trong thực chất vẫn là tri giác tĩnh tại thật sâu sắc, bởi vì trạng thái tĩnh tại của cái hiện tại mà chủ thể nhận thức đang ở trong đó, tách rời bản thân mình khỏi quá khứ và tương lai, bứt bản thân ra khỏi tính thừa kế bên trong của chuyển động, ra khỏi diễn biến bên trong ở trong quá khứ và tương lai, bằng cái hiện tại bị trói buộc mà cản trở thấu hiểu ngay cả cái hiện tại, và khiến cho cái quá khứ không còn có tính động lực mà thành một tiến hóa chết, một chuyển động bề ngoài đã chết. Lịch sử dừng lại và đông cứng ở trong quá khứ. Chỉ có cách đối xử mang tính tiên tri đối với quá khứ trong lịch sử thhì mới dẫn nó vào trong chuyển động, cũng như cách đối xử mang tính tiên tri với tương lai sẽ gắn kết nó với hiện tại và quá khứ ở trong một chuyển động bên trong đầy đủ về tinh thần nào đó. Chỉ có cách đối xử mang tính tiên tri đối với lịch sử mới có thể làm sống lại cái lịch sử đã chết, trút ngọn lửa bên trong của chuyển động tinh thần vào tình trạng tĩnh tại đã chết. Số phận con người không phải chỉ có số phận dưới-trần-gian, mà còn có số phận ở-trên-trời, không phải chỉ có số phận lịch sử, mà còn có số phận siêu hình học, không phải chỉ có số phận con người, mà còn có số phận Thượng Đế, không phải chỉ có tấn kịch con người, mà còn có tấn kịch Thượng Đế. Chỉ có hướng về lịch sử, về quá khứ theo cách tiên tri thì mới có thể biến tiến hóa chết cứng, chuyển động chết cứng thành ra sống động, linh động, thành thứ mang tính tinh thần bên trong. Tôi cảm thấy sau tất cả những gì tôi đã nói, thì ý nghĩa của điều này là dễ hiểu. Kết luận cơ bản của tất cả các bài giảng của tôi về thực chất của lịch sử, về thực chất của triết học lịch sử, ấy là không thể có tình thế đối lập của con người và lịch sử, của thế giới tinh thần ở con người và thế giới vĩ đại của lịch sử. Tình thế đối lập như thế làm chết đi con người và làm chết đi lịch sử. Siêu hình học của lịch sử mà chúng ta cần phải hướng tới, kể về lịch sử không phải như chuyện về một đối tượng bên ngoài, một đối tượng và một sự vật để tri giác, vốn vẫn còn là đối tượng của thế giới sự vật bên ngoài đối với chúng ta; siêu hình học lich sử là đi vào chiều sâu của lịch sử, đi vào thực chất bên trong của nó, đây là khai mở lịch sử, chính bản thân nó, đời sống bên trong của nó, tấn kịch bên trong của nó, sự vận động và diễn biến bên trong của nó; đây là vấn đề [của sự gắn kết] chủ thể-đối tượng. Một tinh thần đồng nhất hóa chủ thể và đối tượng của lịch sử như vậy, xuyên suốt các bài giảng của tôi về siêu hình học lịch sử. Trong cách hiểu lịch sử như thế thì một trong những lầm lẫn, một trong những sai lệch của ý thức phải bị phá hủy, ấy là quan điểm thông thường về tính tách rời và tính đối lập của lịch sử ở “thế giới bên này” và ở “thế giới bên kia”. Cái sai lệch này của ý thức xảy ra, do chúng ta chuyển dịch thời đại hiện nay vào buổi bình minh của nhân loại, vào lịch sử của loài người lúc ban sơ. Chúng ta vạch ra đường ranh giới dứt khoát giữa tính lịch sử và tính siêu hình học, giữa lịch sử dưới-trần-gian và lịch sử ở-trên-trời, vốn không tương ứng với thực tại đích thực, đường ranh giới ấy chỉ là sự trừu tượng hóa của ý thức chúng ta. Quả thực ở buổi bình minh của lịch sử con người, vốn được phản ánh ở trong Kinh thánh và ở trong thần thoại, (thần thoại theo học thuyết của Schelling là lịch sử nguyên thủy của loài người) - mọi thứ diễn biến không phải là một thời khắc nào đó trong quá trình lịch sử theo thời gian; ở trong chiều sâu xa xăm của lịch sử, ranh giới giữa ở-trên-trời và dưới-trần-gian bị xóa nhòa. Trong huyền thoại Kinh thánh kể chuyện về cả số phận lịch sử dưới-trần-gian của loài người và cả về số phận ở-trên-trời, về lịch sử thần thoại của nhân loại; ranh giới giữa ở- trên-trời và dưới trần-gian bị xóa bỏ, như chúng nói chung được xóa bỏ ở trong lịch sử nguyên thủy của nhân loại. Chỉ mãi sau này chúng mới trở thành khô cứng và xuất hiện tình trạng đứt đoạn của dưới-trần-gian và ở trên-trời. Dựa trên điều này chúng ta đang xây dựng lịch sử nguyên thủy, trong khi đó những gì mang tính bên trong, mang tính thầm kín có thể hiểu được và ý thức được chỉ ở trong giả định, rằng không hề có tính chất khô cứng ấy, không hề có những ranh giới ấy, và rằng giai đoạn đầu tiên ở số phận dưới-trần-gian của loài người đã sinh ra ở-trên- trời, đã sinh ra ở trong một thực tại tinh thần nào đó, vốn đồng thời cũng là thực: tại lịch sử mà khóa học lịch sử đang có công việc với nó mà khảo cổ học có công việc với nó, mà các chứng tích lịch sử vượt qua phê phán lịch sử đang nói về nó. Siêu hình học lịch sử có công việc với số phận con người ở trong độ gần gũi bên trong và ở trong sự đồng nhất hóa số phận ở-trên-trời và số phận dưới trần-gian của nó. Chương III VỀ LỊCH SỬ Ở-TRÊN-TRỜI. THƯỢNG ĐẾ VÀ CON NGƯỜI L ịch sử ở-trên-trời và số phận ở-trên-trời tiền định số phận dưới-trần-gian và lịch sử dưới-trần-gian của con người. Có lời giáo đầu ở trên trời mà lịch sử thế giới được cho trước ở trong đó, chủ đề của nó được đặt ra ở đó. Lịch sử ở-trên-trời ấy là cái gì vậy? Đây chính là cơ sở siêu hình học đích thực của lịch sử. Trên trời và đời sống ở-trên-trời mà ở đó thai nghén quá trình lịch sử, chẳng qua chỉ là đời sống tinh thần bên trong sâu sắc nhất, bởi vì quả thực trên trời - không phải chỉ ở cao trên chúng ta và không phải ở nơi nào đó xa cách chúng ta như một lĩnh vực siêu việt hầu như không thể tiếp cận được - trên trời chính là cái chiều sâu thẳm nhất ở đời sống tinh thần của chúng ta. Khi chúng ta từ bề mặt đi vào chiều sâu ấy, thì quả thực là chúng ta chạm tới cuộc sống ở trên-trời. Ở trong chiều sâu ấy vốn đã có trải nghiệm tinh thần khác biệt với thực tại dưới-trần-gian, như là một lớp sâu hơn của tồn tại, rộng lớn hơn theo những kế hoạch mà nó bao quát được. Cái lớp sâu ấy chính là ngọn nguồn của lịch sử. Lịch sử có ngọn nguồn ở trong thực tại tinh thần bên trong, ở trong cái trải nghiệm của tinh thần con người, mà ở đó tinh thần con người không còn là thứ gì đó xa cách và đối lập với tinh thần Thượng Đế, nhưng trực tiếp chạm tới nó, ở đó khai mở ra tấn kịch tương tác giữa Thượng Đế và con người. Trong ý nghĩa đó thực tại ở-trên-trời chính là thực tại sâu sắc nhất, mà ở đó đặt ra đề tài về những mối quan hệ giữa Thượng Đế và con người, về những mối quan hệ của con người đối với ngọn nguồn tuyệt đối của đời sống. Mối quan hệ ấy của con người đối với Thượng Đế và đối với ngọ nguồn tuyệt đối của đời sống chính là lĩnh vực sâu sắc nhất mà lịch sử được thai nghén ở đó, mà mầm mống của nó ẩn giấu tại đó, quá trình lịch sử toàn thế giới được tiền định ở đó. Nếu như lịch sử không phải chỉ là hiện tượng bề ngoài, nếu như nó có một ý nghĩa tuyệt đối và mối liên hệ nào đó với đời sống tuyệt đối, nếu như ở trong nó có tính chất bản thể luận đích thực, thì điều đó có nghĩa nó phải được thai nghén và diễn biến ở trong những lớp sâu của Tuyệt Đối, tức là ở trong những lớp sâu của tồn tại, mà đời sống tinh thần và trải nghiệm tinh thần trong chiều sâu tận cùng của mình có thể chạm tới được. Thế nhưng điều này có nghĩa rằng nếu nhìn nhận theo cách như thế về tiền định của quá trình lịch sử ở đời sống tinh thần theo chiều sâu, tức là cái mà tôi gọi là đời sống ở-trên-trời, thì chúng ta buộc phải thừa nhận vận động lịch sử như được thai nghén ở trong những lớp sâu của Tuyệt Đối, ở trong chính đời sống Thượng Đế. Bản thân đời sống Thượng Đế, trong một ý nghĩa nào đó sâu sắc nhất và thầm kín nhất, chính là lịch sử, chính là tấn kịch lịch sử, huyền bí lịch sử. Chỉ có nhất nguyên luận nhất quán và hoàn toàn trừu tượng mới phủ nhận chính cái đặc tính của tấn kịch và sự huyền bí ấy, vốn gây ra vận động và diễn biến số phận lịch sử ở trong đời sống Thượng Đế. Chỉ có nhất nguyên luận trừu tượng mới tư duy Thượng Đế như hoàn toàn bất động, hoàn toàn đối lập lại mọi quá trình, mọi hồi kịch, mọi bi kịch bên trong của các khổ nạn, của các xung đột ở các sức mạnh tinh thần sâu sắc nhất. Nhất nguyên luận trừu tượng như thế gán mọi vận động chỉ dành cho thế giới số nhiều bất-hoàn-hảo, vốn là thế giới hiện tượng, thế giới thường nghiệm, thế giới không phải hiện thực đích thực, mà là thế giới thứ cấp chỉ hiển hiện ra bên ngoài, số động ở trong thế giới đó, các xung đột bi thảm sinh ra số phận lịch sử xảy ra ở đó. Nhất nguyên luận tư duy thế giới như thế chỉ là ảo ảnh và ảo tưởng, chứ không phải có tồn tại đích thực. Vận động chỉ gắn với thế giới tương đối và không mở rộng ra thế giới tuyệt đối, không mở rộng ra tới chính chiều sâu của đời sống Thượng Đế. Nhất nguyên luận nhất quán như vậy thực hiện tình trạng đứt đoạn giữa chiều sâu của đời sống tinh thần, giữa bản chất Thượng Đế, với cái thế giới số nhiều, toàn bộ ở trong các mâu thuẫn và vận động, toàn bộ bị cuốn vào trong diễn biến lịch sử, chứa đựng ở trong bản thân mình tình trạng hư hỏng không sao vượt qua được. Các đặc tính số phận lịch sử của thế giới bên trong ấy hóa ra không những không thể dịch chuyển vào chính chiều sâu của đời sống Thượng Đế trong bất cứ ý nghĩa nào, mà còn chẳng có liên hệ gì với nó trong bất cứ ý nghĩa nào. Không một hình thức nào của nhất nguyên luận trừu tượng nhất quán có khả năng giải thích từ bên trong chính cái nguồn gốc của thế giới số nhiều. Không thể thấu hiểu nổi làm sao ở trong những lớp sâu đời sống tuyệt đối của Thượng Đế bất động và duy nhất, vốn không áp dụng được bất kì hình thức nào của vận động lịch sử cho nó, không thể chuyển dịch được vào nó bất cứ khởi nguyên nào của số nhiều, không thể chuyển dịch được vào nó mọi xung đột, mọi va chạm, làm sao ở trong đời sống tuyệt đối được hiểu như vậy có thể giải thích được sự xuất hiện và khởi nguyên của cái thế giới số nhiều mang tính súc vật mà quá trình lịch sử xảy ra ở trong đó, mà chúng ta bị lôi cuốn vào đó, mà nó tóm lấy chúng ta và chúng ta cùng chia sẻ cái số phận ấy như chính số phận con người của chúng ta? Điều này là không thể thấu hiểu nổi đối với cả nhất nguyên luận-phiếm thần kiểu Ấn Độ vốn xem thế giới là hư ảo, đối với cả Parménide lẫn Plato vốn đã không vượt qua được nhị nguyên luận của cái duy nhất-bất động và cái số nhiều-vận động, cũng như đối với cả Plotin, lẫn nhất nguyên luận trừu tượng ở trong chủ nghĩa duy tâm Đức. Đối với họ điều này là bí ẩn không sao thấu hiểu nổi. Rốt cuộc tất cả các khuynh hướng ấy đều rơi vào thuyết thế-giới- phi-hiện-thực: họ phải thừa nhận tồn tại của Thượng Đế duy nhất, mang tính Tuyệt Đối, bất động là đích thực, còn thế giới số nhiều đang vận động, chứa đựng trong bản thân nó những xung đột bên trong - thế giới đó là phi-hiện-thực trong ý nghĩa bản thể luận của từ ngữ. Điều thú vị nhất đáng để chú ý tới, ấy là những môn đệ của nhất nguyên luận trừu tượng theo một sự trớ trêu kì lạ của tư duy, lại rơi vào một nhị nguyên luận độc đáo không sao vượt qua nổi: họ đưa vào tình trạng đứt đoạn dứt khoát giữa Thượng Đế duy nhất bất động ở trong sự hoàn hảo tuyệt đối của mình ở một phía, và thế giới cùng với con người ở phía bên kia, thế giới vận động của số phận lịch sử, thế giới của những xung đột bi thảm, thế giới sộ nhiều với tất cả các mâu thuẫn gắn liền với tính chất số nhiều, họ đưa vào tính đối lập như thế, tình trạng bất khả dĩ như thế trong việc bắc cây cầu từ phía bên này sang phía bên kia, tất nhiên đây là một hình thức cực đoan và không thể vượt qua được của nhị nguyên luận. Để tránh khỏi một nhị nguyên luận như thế thì cần phải bác bỏ hình thức nhất nguyên luận, chỉ thừa nhận Tuyệt Đối-bất động duy nhất là hiện hữu đích thực. Hình thức đó của nhất nguyên luận kéo theo nhị nguyên luận không thể vượt qua nổi. Mọi triết học và mọi hình thức ý thức tôn giáo cho phép không chỉ có phương diện nhất nguyên, mà cả phương diện nhị nguyên, vượt qua được tình trạng tuyệt vọng của nhị nguyên luận như thế; nó bắc được cây cầu giữa hai thế giới, thấu hiểu được ý nghĩa và số phận của số nhiều, thấu hiểu được cái thế giới đang trải qua lịch sử bi thảm của mình cũng như xem xét con người ở trong mối liên hệ với số phận của bản thân cái Tuyệt Đối, với tấn kịch được đặt ở trong đó, tấn kịch bên trong mang tính tiền định ở trong đó, tấn kịch đang diễn biến ở trong những lớp sâu của chính đời sống Thượng Đế tuyệt đối. Cách hiểu bản chất của đời sống Thượng Đế tuyệt đối như thế ở trong hai hình thức cơ bản mà tôi đã cố nêu rõ đặc điểm, [cách hiểu ấy] có quan hệ gì đối với ý thức Kitô giáo? Đây là vấn đề phức tạp và gây tranh cãi, bởi vì theo học thuyết giáo điều chính thống của Giáo hội, theo triết học của Giáo hội chiếm ưu thế, thì có thể tưởng rằng, đối với ý thức Kitô giáo hoàn toàn không chấp nhận được mọi giả định về tính chất khả dĩ của vận động, về tính chất khả dĩ của quá trình lịch sử ở trong những lớp sâu của đời sống Thượng Đế. Rất phổ biến trong tư duy Kitô giáo là học thuyết cho rằng nguyên tắc vận động và số phận bi thảm không mở rộng vào bản chất của Thượng Đế. Nhưng tôi tin tưởng thật sâu sắc rằng học thuyết Kitô giáo về Thượng Đế đứng yên bất động, về tính chất không vận động của Tuyệt Đối, về việc nguyên lí lịch sử chỉ mở rộng vào thế giới được tạo tác, thế giới tương đối tính, khác biệt về thực chất với thế giới Tuyệt Đối, [tôi tin] rằng tất cả học thuyết ấy là học thuyết ngoại hiện hóa, mang tính bề ngoài, vốn không nói gì về chính cái bên trong, về bản thân cái chân lí thầm kín bí truyền ở học thuyết về Thượng Đế. Thậm chí có thể nói rằng học thuyết như vậy về tính bất động của chính đời sống Thượng Đế, và nỗi sợ hãi như vậy về việc phải thừa nhận tính vận động của nó, thừa nhận hiện hữu bi kịch bên trong ở đời sống Thượng Đế, [học thuyết như vậy] mâu thuẫn chói chang với chính huyền bí cơ bản của Kito giáo - với học thuyết Kitô giáo về ba ngôi của Thượng Đế, với học thuyết Kito giáo về Đức Kito như tâm điểm của đời sống Thượng Đế, với huyền bí Kito giáo về Núi Sọ.17 Bởi vì quả thực Kitô giáo ở chính trong chiều sâu nhất của mình hiểu được thực chất của tồn tại, hiểu được thực tại đích thực và hiện thực đích thực, như là huyền bí bên trong, như là tấn kịch bên trong, như là bi kịch của Thượng Đế. Bởi vì quả thực số phận của Con Trai Thượng Đế bị đóng đinh trên cây thập giá, [sự kiện] tạo nên bí ẩn sâu sắc nhất của Kitô giáo, chính là bí ẩn đầy tính bi thảm xúc động nhất mà Thượng Đế trải qua, bởi vì nó đề xuất dịch chuyển nguyên lí vận động của xung đột bi thảm bên trong sang bản chất của đời sống Thượng Đế. Nếu như chính Đức Kitô, Con Trai Thượng Đế, trải qua số phận bi thảm, nếu như số phận lịch sử, nếu như vận động lịch sử có ở cả nơi Người, thì điều này chính là sự thừa nhận bi kịch được trải qua bởi đời sống Thượng Đế. Không thể nào khẳng định số phận bi thảm của Con Trai Thượng Đế, cái chết cứu chuộc của Người, mà đồng thời lại không thừa nhận vận động ở chính trong đời sống Thượng Đế. Chính điều này khẳng định cho ý thức Kitô giáo tính chất khả dĩ dịch chuyển nguyên lí vận động bi thảm sang cả bản chất bên trong của Thượng Đế. Và quả thực chính cái loại nhất nguyên luận thuần túy mới thuận lợi cho việc phủ nhận vận động ở trong bản chất Thượng Đế, nhất nguyên luận ấy phủ nhận tính chất ba ngôi của Thượng Đế và cho rằng thừa nhận tính chất ba ngôi của Thượng Đế là dịch chuyển khởi nguyên số nhiều vào trong đời sống Thượng Đế. Trong khi đó toàn bộ huyền bí của Kitô giáo nằm ở trong việc dịch chuyển ấy của khởi nguyên ba ngôi và ở bên trong số phận bi thảm da diết khởi nguyên ba ngôi. Chính cách hiểu như vậy về bản chất Tuyệt Đối đã tiền định bản thân việc """