"Xuân Thu Oanh Liệt - Tô Chẩn full prc pdf epub azw3 [Dã Sử] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Xuân Thu Oanh Liệt - Tô Chẩn full prc pdf epub azw3 [Dã Sử] Ebooks Nhóm Zalo Xuân Thu Oanh Liệt Tô Chẩn vietmessenger.com Dịch giả: Tô Chẩn Hồi 1 Thành Đồng Quan, Bạch Khởi Cướp Dinh Trấn Châu Tiên, Tôn Bàng Kết Nghĩa Bởi vì nhà Châu suy vi, nên quần hùng bèn nổi lên gây loạn. Ai cũng muốn cầm quyền bá chủ, ai cũng mong mạnh nước lấn ranh. Cả thảy có bảy nước là: Tần, Sở, Triệu, Ngụy, Yên, Hàng, Tề, mỗi nước chiếm một góc, sừng sỏ với nhau. Trong bảy nước đó có nước Tần là mạnh hơn hết. Còn Sở, Triệu, Ngụy, Yên, Hàng, Tề thường bị Tần áp chế. Đây xin nói qua vua nước Yên lúc bấy giờ, có một nàng công chúa tên gọi Yên Đơn, chọn được Tôn Tháo làm phò mã. Tôn Tháo là con của Tôn Võ, vốn dòng nhà tướng, lúc nhỏ tập rèn cung kiếm, lớn lên chuyên học lượt thao, nên rõ là một kẻ anh tài, đúng trang lương tướng. Hai vợ chồng kết nghĩa với nhau sanh được ba trai tên Tôn Long, Tôn Hổ và Tôn Tẩn. Lúc Yên Đơn công chúa mang nghén Tôn Tẩn, hằng ngày thấy mây đỏ bao phủ trên nóc nhà: Sau sanh Tôn Tẩn thì mặt mày tươi tốt, tướng mạo khôi ngô. Tôn Tháo thường nói với công chúa rằng: "Thằng này lớn lên ắt nắm trọn quyền trong thiên hạ. Thật là con quý của nhà ta vậy". Nghe vậy công chúa càng mến yêu thêm. Lúc bấy giờ là vua Hiếu Công kế vị nhà Tần, có sai quan tới nước Yên thôi thúc việc tấn công. Vua nước Yên bèn mời Tôn Tháo mà bàn rằng: - Lúc bấy giờ bảy nước chỉ có nước Tần là mạnh. Nếu ta không kiêng nể nó thì ắt phải bị nguy hại. Tôn Tháo nói: - Tần tuy mạnh, song Yên ta lại yếu gì. Nếu phụ vương sợ Tần gây sự, thì nên cử binh trước đi. Đó là kế hay nhất. Vua Yên nói: - Lời khanh nói thật phải. Nhưng bây giờ ai có thể cầm binh đánh Tần? Tôn Tháo nói: - Tôi tuy bất tài, song cũng xin cầm năm mươi binh để phá bạo Tần cho. Vua Yên nói: - Trẫm nghe bên Tần có nhiều tướng tài, biết khanh có đủ sức chống cự hay không? Tôn Tháo nói: - Xin bệ hạ chớ quá lo. Tôi có hai đứa con là Long, Hổ sức mạnh hơn ngưới. Tôi đem hai đứa nó theo thời chỉ đánh một trận là bọn Tần tan rã ngay. Vua Yên nghe nói cả mừng, ban cho Tôn Tháo ba chung ngự tửu và ba đóa kim hoa. Xong rồi, Tôn Tháo bèn lui ra, cùng hai con là Tôn Long, Tôn Hổ tới giáo trường điểm binh xuất mã rồi nội ngày ấy kéo ra đi. Binh mã chật đường, cờ xí rợp đất, đao thương nhoáng mắt, pháo nổ rền trời, chẳng mấy ngày đã tới thành Đồng Quan, Tôn Tháo bèn hạ lịnh đồn binh bên ngoài. Trong triều Tần, vua Hiếu Công đương ngồi bàn việc với các quan, bỗng thấy tin ngoài Đồng Quan cho hay rằng: Phò mã nước Yên là Tôn Tháo cùng hai con đem mấy muôn binh tới xâm lấn, hiện còn đồn binh ngoài ải Đồng Quan. Hiếu Công nghe tin cười lạt rằng: - Vua nước Yên thật là đứa chẳng biết thời thế. Cô gia sai quân ra thúc nó tấn công, nó lại đem binh vào xúc phạm thiên oai à! Nói rồi hạ lịnh cho Võ an quân Bạch Khởi làm đại tướng, Cam Long, Đỗ Hồi làm phó tướng lãnh ba muôn binh ra ngoài ải đón giặc. Bạch Khởi vâng mạng lập tức đem binh ra Đồng Quan. Tôn Tháo nghe tướng Tần đem quân tới bèn dặn con là Tôn Long, Tôn Hổ giữ gìn dinh môn rồi tự đái lãnh đội binh xông ra trước trận. Bạch Khởi vừa trông thấy liền hét rằng: - Thằng nào to gan dám hét trước trận đó? Tôn Tháo đáp: - Ta là phò mã nước Yên tên Tôn Tháo, còn mi tên họ là chi? Bạch Khởi xưng tên rồi giục ngựa nghinh địch. Cả hai đánh với nhau hơn sáu mươi hiệp chưa định hơn thua. Bạch Khởi hươi thương đón đao Tôn Tháo lại. Tôn Tháo hỏi: - Mi đã mệt rồi à? Bạch Khởi nói: - Không mệt, nhưng trời đã tối rồi đánh nhau bất tiện. Vậy hai ta lui binh đợi hôm sau sẽ tranh cao thấp. Tôn Tháo nói: - Ừ, ta cũng dung cho mi sống thêm một đêm, tới sáng sẽ đem đao đến lấy đầu. Dứt lời, cả hai kéo binh lui về. Tôn Tháo về tới dinh, hai con là Long, Hổ chạy ra đón vào cùng ngồi. Tôn Long hỏi: - Hôm nay cha ra trận hơn thua thế nào? Tôn Tháo đáp: - Thật Võ an quân Bạch Khởi là kẻ có tài, tiếng đồn không sai. Cha đánh cùng nó hơn sáu mươi hiệp mà không phân hơn thua. Vì trời đã tối nên lui binh, hẹn nhau hôm sau sẽ tử chiến. Nói rồi, sai quân bày tiệc trong trướng, ba cha con cùng ăn uống. Có thơ rằng: Cả phá Đồng Quan cuộc chưa xong, Trừ Tần còn chất chứa trong lòng, Đêm dài tiệc rượu rằng tiêu khiển, Sao chẳng phòng lo giặc tấn công? Nhắc lại, Bạch Khởi về dinh bàn luận với Cam Long, Đỗ Hồi rằng: - Thằng Tôn Tháo không giỏi hơn ta bao nhiêu, nhưng ta cũng khó thắng nó. Vậy trừ sự bất bằng sức, ta phải tính cách hại bằng mưu. Bây giờ nên thừa lúc đêm khuya canh vắng, chúng ta đem binh xông tới cướp dinh nó thình lình chắc là được việc. Cam, Đỗ khen kế ấy hay, bèn ra lịnh cho tướng sĩ sắp đặt cuộc cướp dinh. Bạch Khởi tự cầm trung quân, Cam Long đi tả dực, Đỗ Hồi đi hữu dực. Tới canh hai, tướng sĩ đều ngậm thẻ, ngựa thảy bỏ lạc, lén đến dinh Yên, phát một tiếng pháo rồi kéo ùn vào. Lúc bấy giờ, Tôn Tháo đã say. Tôn Long, Tôn Hổ đều ngà ngà. Ba cha con không đề phòng việc cướp trại. Đương lúc mê ngủ, bỗng nghe tiếng hét cướp dinh, ba cha con kinh hãi vô cùng, chỉ kiếm ngựa chạy đi trốn chớ chẳng lòng nào tưởng cứu binh sĩ. Bạch Khởi đưa binh Tần vào dinh Yên giết hại thong thả lắm. Tội nghiệp, ba muôn binh Yên bị một trận đều chết sạch, thây chất ngổn ngang thành gò, máu chảy cuồn cuộn như suối. Binh Tần đắc thắng gióng trống khải hoàn về triều. Vua Hiếu Công cả mừng nói: - Cô gia nghe nói Tôn Tháo là người trí dõng kim toàn, sao khanh lại thủ thắng dễ dàng như vậy? Bạch Khởi liền đem đầu đuôi việc cướp dinh thuật lại cho Hiếu Công nghe. Vua cả khen rồi ban cho một ngàn nén vàng ròng, một trăm tấm vóc. Còn các tướng sĩ khác cũng đều được ban thưởng. Nói về Tôn Tháo thì đem hai con chạy về tới nước Yên liền tự trói mình vào ra mắt vua. Vua thất kinh hỏi rằng: - Thế nào mà khanh thua quân Tần? Tôn Tháo đem việc chinh chiến ra mà tâu lại rồi xin chịu tội. Yên vương cả giận mắng rằng: - Khanh cầm quân chinh chiến đã lâu mà không hay phòng việc cướp trại thì còn dùng vào đâu được. Đáng lẽ thất trận to, hại nhiều tướng sĩ như vầy thì cha con khanh đều bị chánh pháp. Song ta thương lòng công chúa mà ân xá cho khỏi chết chớ cũng phải trị tội để làm gương. Vậy khanh phải giao cả binh quyền ấn tín lại, rồi đương lại trách vụ tuần môn thôi. Tôn Tháo từ tạ lui về phủ vẻ mặt rất âu sầu. Con út là Tôn Tẩn trông thấy bèn hỏi: - Hôm nay cha đi đánh Tần về vì cớ nào mà không vui như vậy? Tôn Tháo nói: - Vui buồn mặc cha, con còn nhỏ biết chi mà hỏi. Tôn Tẩn nói: - Con tuy nhỏ, song cũng biết ít nhiều việc đời. Vậy dám hỏi cha rằng buồn đó là vì việc nước hay là vì việc nhà? Tôn Tháo nói: - Việc nước là sao mà việc nhà là sao? Tôn Tẩn nói: - Nếu nói rằng buồn vì việc nhà thì nhà đã có hai anh em con võ nghệ cao cường có thể thay cha mà lo được các việc vinh phục thì còn buồn nỗi gì? Nếu nói vì việc nước mà buồn, thì có lẽ bị nước ngoài xâm lấn, triều đình không kẻ lương tài để trợ hiểm phò nguy? Tôn Tháo cười nói: - Phải, cha đương lo buồn vì cớ đó đa! Bởi vì nước Tần ỷ mạnh sai người thôi thúc nước Yên ta tấn công, thánh thượng sai cha đem binh chinh phạt, chẳng may cha bị tay Bạch Khởi thất trận hao binh, nên đã bị thâu hết binh quyền ấn tín, bắt tuần thủ thành môn. Vậy nên cha lo buồn lắm con. Tôn Tẩn nói: - Xin cha hãy bớt cơn sầu muộn. Con có một ý hay đây: Nếu mà thiệt được thành công, thì con sẽ xây non, thâu trời vào tay để chia vui cùng vương đế đó. Tôn Tháo hỏi: - Con có mưu mẹo gì hay mà dám khoe khoang quá như vậy? Tôn Tẩn thưa: - Thưa cha, con có nghe ở động thủy Liêm, núi Vân Mộng thuộc châu Nhữ bên Hà Nam có ông tiên tên Quỷ Cốc thông rành thao lượt binh thơ, rất giỏi mưu mô kế sách. Con muốn qua đó tôn người làm thầy để học võ nghệ, pháp thuật. Khi nào thành tài thì trở về giúp nước Yên mà rửa nhục. Tuy có muộn, song cũng là việc hay. Tôn Tháo nói: - Con có chí như vậy cha khen đó. Song cha chẳng rõ con đi học bao lâu thì trở về? Tôn Tẩn đáp: - Lâu thì ba năm, mau thì hai mươi bốn tháng. Tôn Tháo nói: - Đi thì được, song sợ mẹ con yêu mến con quá không nỡ cho con đi thì sao? Tôn Tẩn nói: - Làm con trai trong đời phải lo kiến công lập nghiệp, rèn chí ở bốn phương, chớ lẽ nào ôm ấp góc nhà mà chờ giá, đợi chết. Xin cha vì con mà an ủi mẹ con. Tôn Tháo nghe Tôn Tẩn nói có lý bèn nắm tay cùng đi vào hậu đường ra mắt công chúa Yên Đơn rồi nói rằng: - Con quý nhà ta vào đây để bái biệt công chúa mà qua núi Vân Mộng thọ giáo với Quỷ Cốc tiên sinh đây. Công chúa nói: - Con còn nhỏ nên ở lại nhà mà học tập chớ đi xa xôi làm gì? Tôn Tẩn thưa: - Nếu ở nhà mà học thì bao giờ mới nên tài. Vả lại, lúc này là lúc trong triều thiếu bậc hiền, không học hỏi cho giỏi tập cho hay còn đợi tới lúc nào nữa! Công chúa nghe con nói quả quyết quá, ráng sức cản ngăn đôi ba lần không được nên cắn răng dằn lòng mà dặn rằng: - Con có đi thì nên dè dặt bước đường, đi mau về sớm, đừng để cha mẹ dựa cửa ngóng trông chờ! Tôn Tẩn cúi đầu chào mẹ rồi lui ra. Hôm sau, Tôn Tẩn sắp xong hành lý, lạy từ cha mẹ và hai anh rồi ra khỏi thành U Châu mà đi. Nói về vua nước Ngụy là Huệ Vương có một quan Thừa tướng là Trịnh An Bình. Ngày nọ nhằm lúc mùa đông, tuyết ở đường đóng thành băng, quan Trịnh An Bình đi chầu về, vô ý để ngựa đạp phải tảng băng trượt mạnh một cái suýt ném An Bình xuống đất, may nhờ kẻ tả hữu đỡ kịp không thì đã lấm áo quần, trặc tay chân. Vì vậy An Bình cả giận cho đòi hết dân chúng ở hai bên đường tới bắt quỳ trước đầu ngựa rồi thét rằng: - Sao chúng bây đổ nước ra đường để làm cản trở sự đi lại của quan như vầy? Chúng dân đồng bẩm rằng: - Lạy quan lớn, đó chẳng phải tại chúng tôi. Ấy là do anh thợ nhuộm tên là Bàng Hoành. Anh ấy hay hắt nước ra đường, chúng tôi có nói nhiều lần mà anh không nghe. An Bình liền hạ lịnh bắt Bàng Hoành tới đánh hai chục côn rồi tha đi. Con của Bàng Hoành là Bàng Quyên có tánh hung tợn, thấy cha bị đánh thì tức quá, không làm sao được chỉ hươi gậy đập mấy cái chum nhuộm để hả tức. Mẹ của Quyên thấy vậy ráng sức khuyên con rằng: - Chum ấy dùng để làm nghề mà nuôi sống, nó can phạm gì mà con đập bể cả đi? Bàng Quyên nói: - Cha con bị Trịnh An Bình đánh là vì nghề nhuộm mà ra. Nay đập cả chum nhuộm thì còn đâu mà nhuộm, như vậy thì không hắt nước ra đường khỏi bị đòn, và có lẽ hưỡn được để lo cách báo thù. Mẹ Quyên tiếc của quá cứ rầy mắng mãi. Chàng uất ức bèn tom góp y phục rồi thưa cho mẹ hay rằng đi.inh qua Vân Mộng Sơn theo học với Quỷ Cốc tiên sinh, cầu được tài thuật để về báo thù. Lúc ra đi lại còn khuyên mẹ nhắc cha đừng làm nghề thợ nhuộm nữa. Căn dặn xong Bàng Quyên bèn quảy gói hành lý lên vai, ra khỏi thành Nghi Lương mà đi. Bàng Quyên đi một đỗi, tới chỗ bên đường có cội cây to vừa muốn ghé lại nghỉ thì thấy một người ngồi bẹp đó mà nghỉ trước rồi. Chàng nghĩ rằng: "Người này tuổi ước một hạng với ta, đi đâu đây, có lẽ cũng đi học như ta chăng? ". Nghỉ đoạn Quyên bước tới hỏi lớn rằng: - Anh ơi, anh định đi đâu vậy? Người đương ngủ nghe kêu mở mắt ra thấy Bàng Quyên, bèn đứng lên thi lể. Bàng Quyên hỏi: - ChaÜn rõ tên họ anh là chi, xin cho biết? Người nọ đáp: - Tui là con út của phò mã nước Yên tên Tôn Tẩn. Bàng Quyên nói: - Tôi không biết nên thất lể, xin hãy tha cho. Vậy anh đi đâu đây? Tôn Tẩn đáp: - Tui định qua núi Vân Mộng học tập với Quỷ Cốc Tiên sinh. Còn anh tên họ là chi, và định đi đâu đây? Bàng Quyên nghe hỏi, xưng tên họ rồi tỏ việc hành trình của mình. Tôn Tẩn cả mừng nói: - Có như vậy thì chúng ta nên kết bạn sanh tử với nhau. Bàng Quyên nói: - Anh là con nhà Phiệt Duyệt, tôi là con kẻ thất phu, nào dám chịu cười là đĩa đeo chân hạt. Tôn Tẩn cười rằng: - Anh chớ quá khiêm tốn như vậy đại trượng phu kết giao hà tất kể sang hèn. Bàng Quyên đáp: - Nếu anh nghĩ như vậy thì may cho tui lắm. Nói rồi cả hai đi với nhau tới trấn Châu Tiên mua vàng hương, đèn rượu bày ra giửa trời cùng quỳ mà khấn nguyện. Tôn Tẩn nguyện trước rằng: - Trên có thần kỳ chứng chiếu. Tôi là người nước Yên tên Tôn Tẩn, nhân đi qua Vân Mộng Sơn học đạo, dọc đường gặp người họ Bàng tên Quyên xin kết làm bạn sanh tử, có sách cùng đọc, có nghề cùng học. Nếu ngày sau sinh lòng phản phúc, xin đất trời giam sát, bắt làm súc loại muôn đời. Bàng Quyên nghe Tôn Tẩn nguyện như vậy, vừa ý lắm, tới phiên chàng, chàng cũng nguyện rằng: - Tôi là Bàng Quyên người nước Ngụy, nhân đi qua Vân Mộng Sơn học đạo, gặp được người họ Tôn tên Tẩn xin kết làm bạn sinh tử, có sách cùng đọc có nghề cùng học. Nếu ngày sau có phản phúc xin có thần kỳ chiếu dám cho chết giữa đám rừng tên Tại Mã Lăng đạo và bị bảy nước phân thây. Thề nguyền xong, cả hai lạy nhau tám lạy. Tôn Tẩn làm anh, Bàng Quyên làm em. Xong rồi sắp ra đi, Bàng Quyên nói: - Bây giờ chúng ta đã làm anh em với nhau thì nên góp hành lý lại là một để quãy cho dể. Tôn Tẩn chân thật nghe theo, trao gói hành lý cho Bàng Quyên quãy. Quãy đi được một đỗi, Bàng Quyên nghỉ ra một kế bèn vờ vấp té quaÜn gói hành lý ra xa rồi nói với Tôn Tẩn rằng: - Em không quen việc gánh vác nên đau quá! Tôn Tẩn tưởng thiệt nói: - Nếu em quãy không được thì anh quẫy cho. Đi đường tìm có nhà trọ, chúng ta sẽ cùng nghỉ ngơi. Dứt lời quẫy lấy gói mà dắt Bàng Quyên đi, Bàng Quyên mừng thầm, tự cho là đắc sách. Hai người đi chaÜn bao lâu tới một tòa núi cao, cây cối chằn chịt, rậm rịt không dấu người. Bàng Quyên nghỉ chắc là núi có nhiều cọp, beo, e đi sau có điều xãy ra bất tiện, nên lại sanh ra một kế nói với Tôn Tẩn rằng: - Đường xá rậm rạp thật là khó đi. Vậy để em đi trước dọn rộng cho Anh đi. Dứt lời lướt tới đi trước. Đi được một đổi bổng thấy một con Cọp Gấm trong bụi nhảy ra trương nanh múa vuốt lướt tới. Bàng Quyên thất kinh kêu cứu liền miệng. Tôn Tẩn thấy vậy lưới tới để gói đồ xuống rồi nói với Cọp rằng: - Hùm kia ơi! Chúng ta là Tôn Tẩn với Bàng Quyên đồng qua núi Vân Sơn học đạo cùng Quỷ Cốc tiên. Vậy mi nên nhường đường cho ta đi. Cọp nghe nói gật đầu xong cứ ngó Bàng Quyên muốn làm dữ. Bàng Quyên thất kinh leo tót lên cây. Cọp chòm theo như muốn phân thây xé thịt. Tôn Tẩn cả sợ kêu rằng: - Hùm ơi! Nó đó là em ta, hãy để nó xuống đi với ta cho có bạn. Lạ thay, lời Tôn Tẩn vừa dứt thì Cọp nọ liền quất đuôi cuối đầu đi ríu ríu vào rừng. Bàng Quyên yên dạ leo xuống mà đi. Nguyên Cọp ấy chaÜng phải cọp thường, chính là Cọp thần của Quỹ Cốc tiên sinh. Cọp vâng lệnh Quỹ Cốc tới đón đường thử tâm chí của Tôn Tẩn và Bàng Quyên vậy. Khỏi nạn cọp, Bàng Tôn bèn bàn nhau, đi đổ xuống núi. Đi một đổi có chổ có cái suối, nước lên lai láng mà chỉ bắt ngang qua có một khúc cây thôi Bàng Quyên hỏi Tôn Tẩn rằng: - Cầu như vậy chúng ta làm sao đi qua cho được? Tôn Tẩn chưa biết nghĩ sao, bổng thấy một gã tiểu đồng gánh gánh đi tới, Tôn Tẩn để hành lý xuống, bước tới kêu rằng: - Anh ơi! Dừng lại cho tôi hỏi một việc. Tiểu đồng hỏi: - Anh muốn hỏi gì? Tôn Tẩn nói: - Chúng tôi muối tới Vân Mộng sơn tìm thầy Quỷ Cốc, vậy chẳng rõ trừ đường nầy còn đường nào khác không? Tiểu đồng nói: - Qua núi Vân Mộng chỉ có đường nầy mà thôi. Đây là suối ưu sầu, đó là cầu Độc Mộc. Hai người không qua được thì cho tui tiền tui gánh dùm qua. Tôn Tẩn cả mừng lấy hai mươi đồng tiền trao cho đạo đồng. Đạo Đồng hỏi: - Hai người ai là anh mà ai là em? Tôn Tẩn nói: - Tôi là anh. Bàng Quyên nói: - Đã có tiền mướn thì cứ việc gánh còn hỏi ai anh ai em làm gì? Đạo Đồng nói: - Có cớ tôi mới hỏi chớ. Hể ai là anh thì ngồi ở đầu gánh trước, còn ai là em thì ngồi ở đầu gánh sau. Bàng Quyên nghe nói vậy nghĩ rằng: "Ngồi đầu trước tiện hơn, vì hể gánh thì ai cũng tóm ở quay gánh trước, như vậy có rũi trật quai cũng khó té, mà có té cũng dễ cứu hơn là ngồi ở đầu sau". Nghĩ đoạn, bèn nói với Đạo Đồng rằng: - Anh ơi, tôi nhác gan, lưng mật lắm để tôi ngồi đầu trước tiện hơn mà. Đạo Đồng cười và y lời để Tôn Tẩn ngồi vào đầu sau, còn Bàng Quyên ngồi ở đầu trước. Hai người ngồi trong gánh rồi, đạo Đồng liền biểu phải nhắm mắt lại cho Y gánh qua cầu. Hồi 2 Bạch Lộc Tiên dùng tuyết đánh Bàng Quyên Quỷ Cốc từ giả sách trao Tôn Tẩn Đạo đồng gánh Bàng Quyên và Tôn Tẩn ra tới giữa cầu giả đò như trật vai vài cái. Tôn Tẩn chẳng e sợ gì, chỉ có Bàng Quyên thì kinh hoảng kêu to rằng: - Anh ơi, gánh êm êm một chút, đừng làm vậy tôi sợ lắm. Miệng thì nói mà tay thì níu chặt vào vành giỏ. Đạo đồng cười mà rằng: - Đừng lo, không sao đâu, hãy nhắm kín mắt lại, mở ra té chết ráng chịu đa. Bàng Quyên nghe dặn, nhắm mắt lại rất kín mà bụng hồi hộp lắm, trí lại nghĩ: "Thằng này phách lối quá, để qua cầu rồi ta đánh cho một mẻ mới hả giận". Chẳng bao lâu, qua khỏi cầu đạo đồng để gánh giỏ xuống, kêu hai người mở mắt ra. Bàng Quyên, Tôn Tẩn mở mắt bước ra ngoài giỏ thì đạo đồng đâu chẳng thấy. Cả hai nghĩ là tiên tới tế độ, nên ngó mông trên không mà lạy tạ. Đó thực là tiên đồng, người thắp hương của Quỷ Cốc, vâng lệnh Quỷ Cốc đi đón đường thử tâm dạ của Bàng Quyên và Tôn Tẩn vậy. Cả hai qua khỏi Độc Mộc cầu rồi bèn dò lần đi tới. Đi được mấy ngày trời mới tới núi Vân Mộng. Chốn ấy rõ ràng là nơi danh thắng, lắm thứ kỳ hoa dị thảo, nhiều loại thoái thạch thác tiên, trên nhành công múa, hạc kêu, dưới suối cá trừng, sen mọc, thật là phong cảnh tiêu diêu, bồng lai thanh tịnh. Bàng Quyên và Tôn Tẩn đi tới trước động, thấy cửa động đóng kín, trên cửa động có một tấm bảng đá khắc sáu chữ: "Núi Vân Mộng, động Thủy Liêm". Hai người còn đương bồi hồi suy nghĩ, bỗng thấy một kẻ tiều phu đi thoáng qua ngang cửa động. Tôn Tẩn bèn đón lại hỏi rằng: - Thưa đại huynh. Đây có phải là nơi của Quỷ Cốc tiên sinh ở hay không? Tiều phu đáp: - Phải, vậy chẳng rõ hai người hỏi thăm ông có việc chi? Tôn Tẩn nói: - Chúng tôi là người nước khác, vì nghe ông là người tài giỏi nên tìm đến mà học đạo. Tiều phu nói: - Nếu muốn gặp ông thì hãy lạy cho cửa rộng mở, còn chẳng thành tâm thì dầu lạy một năm đi nữa cũng vô ích. Tiều phu nói rồi vòng tay đi mất. Tôn Tẩn ngó Bàng Quyên nói: - Chúng ta chẳng ngại đường xa ngàn dặm mà tới đây, lẽ nào lại chẳng thành tâm. Nói rồi cúi đầu lạy Bàng Quyên chỉ lạy một lạy rồi bước lảng ra, đứng suy nghĩ rằng: "Hễ ảnh lạy cho cửa mở ra, thì ta cùng vào mà gặp thầy được, hà tất phải lạy cho mệt". Tôn Tẩn lạy một hồi, trông lại sau thấy Bàng Quyên không lạy bèn nói: - Em chớ nên nguôi lòng đạo như vậy. Hãy bước tới lạy với anh đây. Bàng Quyên nghe mấy lời, phải miễn cưỡng bước tới lạy. Cả hai lạy tới giờ Ngọ ba khắc thì cửa động mở, trong cửa có một tên đạo đồng bước ra hỏi rằng: - Hai vị Ở đâu tới đây? Tôn Tẩn đáp: - Tôi là người nước Yên tên Tôn Tẩn, người này là người nước Ngụy tên Bàng Quyên, cả hai tới xin học đạo với Quỷ Cốc tiên sinh, phiền anh vào trong thông báo. Đạo đồng nghe dứt quày lưng đi vào trong. Quỷ Cốc tiên sinh vốn là người nước Tần, thời vua Bình Công, họ Cang tên Lợi, ở tại Thanh Khê hay vào núi hái thuốc, tu luyện được phép trường sanh, nên xưng hiệu là Quỷ Cốc. Lúc bấy giờ Quỷ Cốc nghe báo bèn sai đạo đồng nhắc ghế đay ra để ngoài cửa động, rồi ra ngồi gọi rằng: - Ai là người đi học đạo, hãy lại đây. Tôn Tẩn và Bàng Quyên bước tới lạy ra mắt. Quỷ Cốc hỏi: - Hai người tên họ là gì, quê ở nước nào? Tôn Tẩn đáp: - Đệ tử họTôn tên Tẩn người nước Yên, còn người này là bậu bạn vừa giao kết giữa đường tên Bàng Quyên người nước Ngụy. Chúng tôi xin tôn sư thâu nhận mà dạy cho mối đạo nhiệm màu. Quỷ Cốc cười, nhắm tướng cả hai thì thấy Tôn Tẩn lưng gấu tay cọp, cốt đạo Lang tiên, có vẻ người mến nghĩa trọng nhân, còn Bàng Quyên thì đầu qủy mắt rắn, sọ lòi ra sau, lộ vẻ kẻ quên ơn phụ nghĩa, ghét lành ganh giỏi, không sao tròn được kiếp đời. Vì vậy Quỷ Cốc bèn nói: - Tôn Tẩn có thể học được, còn Bàng Quyên học không được, thôi hãy về đi! Tôn Tẩn nghe mấy lời, lật đật năn nỉ với Quỷ Cốc rằng: - Lạy thầy, người ta đi đường gặp nhau làm quen mà còn quyến luyến, huống chi chúng tôi làm bạn giao kết tử sanh. Nếu nay kẻ ở người về, lòng nào lại nỡ, xin thầy thâu nhận cả hai. Quỷ Cốc nói: - Ừ, cũng được. Nhưng hãy thử trí tuệ đã. Đứa nào có trí thì ở học, đứa nào ngu thì hãy trở về. Vậy cả hai nghĩ mưu kế làm sao cho ta dời ra khỏi động thử coi! Bàng Quyên nghe dứt, suy nghĩ giây lát rồi thưa rằng: - Bẩm thầy, trên mây có hai con rồng đương giao chiến nhau, xin thầy bước ra xem. Quỷ Cốc cười nói: - Lúc này là lúc mùa đông, dễ lại có rồng giao chiến à? Bàng Quyên nói tiếp: - Á, Lý lão quân ở Nam thiên môn tới thăm thầy kìa! Quỷ Cốc nói: - Lý lão quân mới cáo biệt ta mà ra về, lý nào còn trở lại. Bàng Quyên nói bừa rằng: - Không gạt được thầy, thì đệ tử lấy lửa đốt sau chỗ ngồi, thầy sợ nóng ắt phải dời ra ngoài động. Quỷ Cốc cười nói: - Ừ, thôi ta cũng cho mi định mưu như vậy là giỏi đa! Nói rồi hỏi tới Tôn Tẩn, Tôn Tẩn nói: - Đệ tử ngu si, có mưu mô gì mà dời được thầy ra động. Nếu như thầy đem ghế ngồi ngoài kia rồi đệ tử nghĩ cách dời trở lại thì họa may. Chớ thầy ngồi đây dầu đệ tử có nghĩ tới cả đời cũng không sao dời ra được. Quỷ Cốc gật đầu sai đạo đồng nhắc ghế dời ra khỏi cửa động. Tôn Tẩn thấy vậy cả mừng nói: - Bẩm thầy! Như vậy là con đã mời được thầy rồi! Quỷ Cốc cười nói: - À thôi, ta chịu là bị mi lừa rồi. Nói dứt lời cho lạy tượng tổ sư rồi bảo ra sau yên nghỉ, sáng ngày sẽ học tập. Hôm sau Quỷ Cốc kêu Tôn Tẩn và Bàng Quyên tới mà dạy rằng: Tục có nói: Học trò phải chịu nhọc với thầy. Vậy thì từ nay trở đi mỗi ngày một đứa học, còn một đứa đi đốn củi, như nay Tôn Tẩn học thời Bàng Quyên đi, rồi ngày sau đi thay phiên, Bàng Quyên học, Tôn Tẩn phải đi. Bàng, Tôn nghe dạy cúi đầu dạ dạ vâng mạng. Quì Cốc nói tiếp: - Tôn Tẩn là anh, thời hôm nay Tôn Tẩn học trước, Bàng Quyên đi đốn củi. Bàng Quyên dạ lập tức ra đi. Bấy giờ Quỷ Cốc bèn trao cho Tôn Tẩn một quyển sách và dặn rằng: - Mi hãy đọc kỹ sách này mà không nên cho ai xem. Tôn Tẩn dạ dạ, lãnh sách đem về phòng đọc rất kỹ. Bàng Quyên là kẻ lanh xảo, đốn củi rất hối hả, nên về được sớm, ra mắt Quỷ Cốc trước rồi vào phòng hỏi Tôn Tẩn rằng: - Hôm nay thầy đưa sách gì cho anh đọc, thử trao lại em xem nào? Tôn Tẩn nói: - Ừ, anh em ta là sanh tử chi giao, lúc ở Châu tiên trấn đã có thề, có sách cùng đọc, có nghề cùng học, anh nào giấu được sách quý vơiù em. Nói đoạn trao sách cho Bàng Quyên xem, Bàng Quyên đọc đi đọc lại mấy lượt là đã thuộc rồi. Tới bữa thứ hai, đổi phiên. Tôn Tẩn đi đốn củi, Quỷ Cốc giao sách cho Bàng Quyên học. Khi Tôn Tẩn đi đốn củi về, hỏi Bàng Quyên rằng: - Hôm nay thầy dạy em học chi chi đâu, đưa cho anh xem với? Bàng Quyên nói: - Ối, bữa nay anh em bạn của thầy tới chơi đông quá, nào lo cơm, vất vả tối ngày có học gì được đâu! Tôn Tẩn tưởng thiệt, tin lời. Cứ mãi như vậy, hễ phiên Tôn Tẫn học thì Tôn Tẩn cho Bàng Quyên coi mà phiên Bàng Quyên học thì Bàng Quyên lại kiếm cớ không cho Tôn Tẫn coi. Tôn Tẩn bị thua thiệt luôn. Trăng trên trời lặn, lật bật mà cả hai học đạo đã được một năm rồi. Hôm no, Bàng Quyên nói với Tôn Tẩn rằng: - Anh ạ, chúng ta học đạo đã lâu rồi, cũng biết ít nhiều thuật pháp nhưng chưa rõ có dùng được gì chưa. Vậy ngày mai, hai anh em ta xin phép xuống núi đốn củi rồi dợt thử coi. Tôn Tẩn khen phải, ngày sau cả hai xin Quỷ Cốc ra đi. Xuống núi Tôn Tẩn bèn lượm sắp thành một trận rồi bảo Bàng Quyên xem là gì? Bàng Quyên xem qua bèn nói: Đó là trận Thanh Long xuất thủy chớ trận gì? Cứ đánh từ phương Đông dẫn ra phương Tây thì trận tan tành ngay. Tôn Tẩn khen rằng: - Em thông minh lắm. Đâu em thử lập một trận anh xem? Bàng Quyên gật đầu lượm đá sắp thành trận. Tôn Tẩn xem không rõ là trận gì bèn hỏi: - Em lập trận gì lạ vậy? Bàng Quyên nói: - Em lập theo trận Thanh Long xuất thủy của anh đó chớ trận gì? Á! Tại em lập sai nên anh xem không ra thôi. Tuy miệng thì nói vậy mà bụng lại nghĩ khác rằng: "Được rồi, ta đã học giỏi hơn ảnh rồi. Ảnh lập trận gì thì ta biết liền, còn ta lập trận ảnh xem không ra. Thôi còn ai ăn qua ta được". Trọn ngày ấy Bàng Quyên cứ kiếm cớ thế lừa gạt Tôn Tẩn như mọi lần. Mãi tới tối cả hai gánh củi về động. Một ngày khác, Quỷ Cốc nói với Tôn Tẩn, Bàng Quyên rằng: - Nay thầy phải qua núi Chung Nam dự hội Tòng hoa, bốn mươi chín ngày mới trở về. Vậy đúng ngày ấy hai người xuống núi mà rước thầy. Dặn xong cưỡi một chòm mây mà bay đi. Đúng bốn mươi chín ngày, Bàng Quyên và Tôn Tẩn y lời dặn đem đào tiên, rượu tiên xuống núi đón.Khi cả hai tới nơi, bày đào rượu trên một hòn đá vừa xong, thì có một con nai lông trắng như tuyết đi tới gần đứng nhìn vào như muốn xin ăn. Tôn Tẩn lấy làm lạ, rót một chén rượu đưa gần con nai: Con nai liền uống cạn. Rót một chén khác, nai cũng uống luôn. Bàng Quyên trông thấy, nói rằng: - Nai là thú rừng, cho nó uống rượu làm chi? Tôn Tẩn nói: - Anh xem con nai này có vẻ lạ như là của tiên nuôi vậy. Bàng Quyên cả giận nói: - À, nai của tiên! Đâu ta thử xáng cho một tảng đá cho chết đặng ta sẽ thịt uống rượu chơi. Nè, nai tiên! Tôn Tẩn lật đật can rằng: - Nhỏ hay lớn cũng là tánh mạng, giết nó làm gì, lòng nào lại nỡ? Bàng Quyên không nghe lời, hốt một nắm đá chọi đùa vào con nai. Con nai bỏ chạy. Bàng Quyên rượt theo vài dặm đường thì không thấy nai đâu, bỗng một trận gió thổi đến, rồi băng tuyết sa xuống làm cho anh ta xể mặt, bầm mình té nằm dài dưới đất. Tôn Tẩn thấy băng tuyết xuống bèn đi tìm Bàng Quyên, thấy Bàng Quyên nằm dưới đất bèn dìu dắt về động nằm yên rồi trở ra chổ hòn đá mà đón thầy. Tôn Tẩn vừa tới chỗ cũ bỗng thấy con nai khi nãy trở lại nói tiếng người rằng: - Ta là Bạch Lộc đại tiên, bạn thân của Quỷ Cốc thầy mi. Vì thằng Bàng Quyên muốn hại ta, nên ta đánh nó một trận. Lát nữa thầy mi về, ổng có quyển thiên thơ, trong đó có bát môn độn pháp, lục giáp linh văn, vậy mi nên yêu cầu ông ta truyền thọ cho. Bạch Lộc tiên nói dứt, hóa ra một luồng gió mà đi. Giây lát trên không nổi đám mây mù, Quỷ Cốc ngồi trên hổ xa sa xuống. Tôn Tẩn lạy ra mắt rồi dâng đào và rượu lên, Quỷ Cốc ăn uống xong bèn hỏi tại sao Bàng Quyên chẳng tới. Tôn Tẩn thưa rằng: - Nó cũng có đi xuống đón thầy, xong gặp băng tuyết rơi xuống trúng nên bị thương đã về động nằm rồi. Quỷ Cốc cười nói: - Tại nó muốn ăn thịt nai nên phải mang họa! Dứt lời hai thầy trò dắt nhau về. Khi tới động Thủy Liêm, Tôn Tẩn quỳ trước mặt Quỷ Cốc mà thưa rằng: - Nghe người nói rằng thầy có ba cuốn thiên thơ gồm đủ bát môn độn pháp, lục giáp linh văn, vậy cầu thầy truyền cho đệ tử. Quỷ Cốc nói: - Sách đó là sách bí truyền, người không đáng, thì không bao giờ cho đọc. Nói dứt sai đạo đồng mở rương lấy sách thiên thư giao cho Tôn Tẩn rồi dặn thêm rằng: - Con hãy giữ kỹ đừng giao cho ai! Tôn Tẩn dạ dạ lãnh sách đem về phòng đốt đèn đọc. Bàng Quyên nghe Tôn Tẩn đọc thì giả đò ngủ, giây lát chỗi dậy nói với Tôn Tẩn rằng: - Hồi ở Châu Tiên trấn thề nguyền làm sao, mà bây giờ anh đọc sách một mình không cho tôi đọc? Nói rồi giựt sách mà xem. Xem mãi không hiểu gì hết, tức quá Bàng Quyên vụt đại xuống đất nói: - Thiên thơ mà khó quá vậy? Nói đoạn nằm xuống ngủ. Tôn Tẩn cười, lượm sách lên cất rồi cũng ngủ theo. Chờ Tôn Tẩn ngủ mê, Bàng Quyên bèn chổi dậy lấy thiên thơ châm vào đèn đốt quách đi. Lửa vừa cháy Bàng Quyên làm bộ hoảng hốt kêu ầm lên rằng: - Hoa đèn rớt cháy thiên thơ rồi, mau dậy chữa. Tôn Tẩn nghe la lật đật chổi dậy thì lửa đã đốt thiên thơ ra tro, chàng rầu buồn vô cùng. Sáng sớm Tôn Tẩn tới bên giường Quỷ Cốc lạy xin lỗi vì vô ý làm cháy mất thiên thơ. Quỷ Cốc rầy la một hồi, chàng xụ mày cúi mặt đi ra. Cách mấy bữa tới trung tuần tháng tám lúc sập tối, Quỷ Cốc sai đạo đồng kêu Tôn Tẩn, Bàng Quyên tới rồi dắt ra khỏi động. Tới trước một cái hồ nước trong leo lẽo, họ cùng leo lên một nền đá phẳng sạch. Mặt trăng như cái bánh xe chiếu xuống nước chói màu vàng cháy. Quỷ Cốc nói với hai trò rằng: - Từ ngày hai trò học với ta tới nay vẫn chưa biết rõ tâm chí. Vậy nay nhân đêm trăng tỏ cảm tịnh, hai trò nói cho ta nghe. Tôn Tẩn bẩm rằng: - Chí của đệ tử muốn sao trong nước có vua minh, chánh thiện, tai khỏi nghe trống giặt, mắt khỏi thấy máu đào, vui chơi trong cảnh thái bình, trời thanh cảnh tịnh là đủ. Quỷ Cốc giả cười nói: - Lời nói hủ quá, sao đứng được ở cõi đời này? Đoạn day qua hỏi Bàng Quyên. Bàng Quyên đáp: - Chí của con muốn làm sao trở thành một người cầm quân trăm vạn đánh đâu thắng đó, phá đâu tan đó, làm cho các nước chư hầu trong thiên hạ thảy quy phục. Quỷ Cốc nói: - Ừ, cứ như lời, trong thời chiến quốc không có Bàng Quyên thì khó nên nghiệp cả. Dứt lời, Bàng Quyên, Tôn Tẩn đều quỳ trước mặt Quỷ Cốc mà thưa rằng: - Chúng con theo thầy học đạo đã ba năm rồi, nay bỗng nhớ tới cha mẹ cố hương, cúi xin thầy cho phép ngày mai chúng con về thăm viếng. Quỷ Cốc nói: - Bàng Quyên khôn lanh hơn, học hay mau giỏi thì nên về. Chớ Tôn Tẩn ngu độn quá, học chưa ra gì, về sao cho tiện? Tôn Tẩn năn nỉ rằng: - Con và Bàng Quyên đã kết bạn sanh tử cùng nhau đi tới, ắt cùng nhau lui về, có trước phải có sau ấy mới tròn tình nghĩa. Cúi xin thầy rộng lòng cho chúng con về chung với nhau. Quỷ Cốc nói: Ngươi đã quyết lòng về, ta còn cầm lại làm chi nữa. Thôi có về thì mai hãy về. Câu chuyện chỉ có chừng đó rồi ba thầy trò cùng nhau quày về động. Sáng ngày mai, Bàng Quyên, Tôn Tẩn từ tạ Quỷ Cốc mà xuống núi. Đi được một đỗi xa, thấy có bà già dùng dúi to mài vào hòn đá, Tôn Tẩn hỏi: - Bà mài chi vậy? Bà già đáp: - Chủ tôi làm mất kim thuê, kiếm đâu cũng không được, nên sai tôi mài dùi này cho nhỏ lại mà dùng. Tôn Tẩn nói: - Dúi to như thế mà mài cho nên kim? Bà già nói: - Cậu há chẳng nghe câu tục ngữ "Chí công mài sắt có ngày nên kim". hay sao? Tôn Tẩn nghe câu ấy biết có ý tứ cao xa, cho lời thầy chê mình còn khờ dạy là đúng sự thiệt, nên cố ý phải học hành thêm, muốn quay trở lại núi. Đi một đỗi nữa thấy có người to lớn cầm đục, đục núi. Tôn Tẩn hỏi: - Anh đục làm chi vậy? Người to lớn đáp: - Đục lủng núi cho được thộn ra biển. Tôn Tẩn nói: - Núi như thế này mà đục sao cho lủng? Người to lớn nói: - Anh há chẳng nghe câu tục ngữ "Đục núi thông qua biển, chí bền đá phải mòn". hay sao? Tôn Tẩn thấy hai việc lạ như vậy, tự hối hận rằng mình còn dở mà vội việc công danh, nên chí quyết trở lại núi học tập ít lâu nữa. Vậy bèn nói với Bàng Quyên rằng: - Em đã thành tài thì nên về trước, còn anh tự biết dở phải trở lại học thêm. Vậy phiền em cầm thơ về U Châu trao cho cha anh, rồi ở đó, chờ cha anh tiến cử vào làm quan. Khi nào anh về, sẽ cùng nhau lo việc triều chánh. Nói dứt lời, mở gói lấy viết giấy, viết thư trao cho Bàng Quyên. Bàng Quyên lãnh thơ, cả hai từ giã nhau. Tôn Tẩn trở lại núi lạy ra mắt Quỷ Cốc. Quỷ Cốc hỏi: - Mi đã về sao còn trở lại? Tôn Tẩn thưa: - Con xuống núi thấy bà già mài kim, người to lớn đục núi nên tỉnh ngộ. Vâng theo lời vàng ngọc của thầy, nay trở lại quyết học thêm cho thành đạo. Quỷ Cốc nói: Hai người đó là ngưới thần ta sai ra điểm hóa cho mi tỉnh ngộ, ta thật có ba quyển thiên thơ gồm bát môn độn pháp, lục giáp linh văn. Song khi trước ta biết Bàng Quyên hay đố hiềm, tất nhiên thế nào nó cũng phá hủy thiên thơ, nên ta chưa truyền thiệt cho mi, ta trao thiên thơ giả để cho Bàng Quyên đốt được nó yên trí mà trở về. Còn mi ta sai người thần điểm hóa cho mi trở lại đặng truyền thiên thơ thiệt mà tế thế an ban. Vậy ta sửa hiệu mi lại là Thủ Ngu chớ có xưng là Bá Linh nữa. Tôn Tẩn cả mừng cúi đầu lạy tạ. Hồi 3 Giữ Châu Tỵ Trần, Ngụy Vương lập kế Đánh đạo Nghi Lương, Bàng Quyên trổ tài Bàng Quyên từ biệt Tôn Tẩn đem thơ về U Châu, vào ra mắt Tôn Tháo tỏ rõ lai lịch rồi đứng lên. Tôn Tháo nghe qua mừng rỡ vô hạn, dạy bày tiệc hoãn đãi, bảo Tôn Long, Tôn Hổ ngồi chuyện vãng, rồi tự mình đem thơ vào nhà trong cùng vợ là Yên Đơn công chúa mở ra xem. Thơ rằng: "Cách lời nghiêm quấn, phúc đã ba năm, văn vui thiếu phận, tội biết bao lăm. Thưa cha mẹ! Tuy con ở núi Vân Mộng song trí luôn nghĩ về nước Yên. Nay có bạn con là Bàng Quyên, người đủ trí mưu, tài gồm thao lược, ra trận chém tướng cướp cờ, trông tướng vẻ phù biến phép. Vậy cha nên lưu trong phủ, để giúp cho Yên thì sẽ được công lớn. Phận con tài còn kém, nhắm có vế cũng vô ích nên ở lại núi học thêm ít lâu. Thế nào cũng sẽ cùng Bàng Quyên chung thờ minh chúa. Xin cha mẹ yên lòng chớ lo buồn vì con. Con bất hiếu Tôn Tẩn kính bái". Vợ chồng Tôn Tháo đọc thơ thấy con chưa về thì không vui. Bây giờ có gia đồng vào bẩm bái là tiệc đã dọn xong. Tôn Tháo bèn quày ra hiệp với hai con ngồi cầm đãi Bàng Quyên. Lúc uống được ba tuần rượu, Tôn Tháo hỏi ý Bàng Quyên có muốn làm quan ở Yên không? Bàng Quyên tỏ ý muốn. Hôm sau Tôn Tháo vào triều chầu, đem việc Bàng Quyên mà tâu hết cho Yên vương nghe, rồi xin tiến cử. Yên vương dạy cho mời Bàng Quyên vào. Bàng Quyên vào lạy và tung hô. Yên vương thấy Bàng Quyên đầu qủy, mắt rắn biết là người hay phản phúc nên không muốn dùng. Vua lấy cớ là không hề thâu nhận một viên quan nào là người nước khác, rồi bảo Tôn Tháo đuổi Bàng Quyên ra khỏi nước Yên. Vua làm như thế là sợ Bàng Quyên ở lâu trong nước sẽ có chuyện lôi thôi. Bàng Quyên không được thâu dụng nên oán hận vua Yên lắm. Liền đó chàng quày về phủ Tôn Tháo xách hành lý từ giã ra đi. Đi hơn mười dặm gặp một cội cây to chàng bèn rút dao vạt da cây một lát lớn rồi đề một bài thơ rằng: Non tiên từng học đủ binh thơ, Bảy nước một ta, có ai ngờ. Tuy gọi trời trăng song chẳng sáng, Đã rằng vua chúa vẫn còn khờ, Tay hươi bảo kiếm trời nghiêng ngả Trí đặc thâm mưu chúng ngẩn ngơ. Ví đặng binh quyền trong một lúc, Nước Yên còn những đất trơ trơ Đề thơ rồi, Bàng Quyên bèn đi qua Tề. Lúc này thái sư Tề là Trâu Kỵ đương chiêu hiền mộ sĩ, thế mà khi Bàng Quyên vào giáo trường ra mắt xin ứng dụng, thì Trâu Kỵ xem tướng chê là kẻ phản phúc mà không dùng. Bàng Quyên tức quá định vào ra mắt Tề vương, nếu đặng thâu nhận sẽ kiếm cách trả thù Trâu kỵ. Chàng chạy ra khỏi giáo trường la hét nhiều câu vô lễ để chửi Trâu Kỵ rồi tới Tây hoa môn mà vào nội. Tới trước mặt Tề vương, Bàng Quyên tỏ hết lai lịch mình rồi khoe tài mách trí. Tề vương xem tướng một hồi, cũng chê Bàng Quyên là kẻ hủ thỉ vô chung, không muốn dùng, nhưnh còn kiếm lời dò hỏi chơi. Bàng Quyên đối đáp một cách rất vô lễ, lẩn quẩn lại nói phạm tên kiêng của nhà vua. Tề vương cả giận, sai võ sĩ kéo ra ngoài chém đầu. Quan Thượng đại phu là Bốc Thương lật đật quỳ tâu xin vua chớ chém Bàng Quyên mà phải mang tiếng là tru hiền lục sĩ với cả nước. Tề vương cho lời Bốc Thương là phải, tha Bàng Quyên và lập tức đuổi ra. Bàng Quyên căm giận lại định đi nước khác. Đi vừa đến cầu Tân Lương, bỗng gặp một đoàn binh mã khua chiêng gióng trống đi tới. Bàng Quyên lật đật núp dưới cầu xem, thì ra vua Ngụy đi giá sang Tề. Nguyên lệ nhà Châu bấy giờ, mỗi ba năm chư hầu phải vào chầu thiên tử một lần. Nay tới lệ, vua Ngụy sang Tề đặng cùng đi với Tề vương. Khi vua Ngụy đi đến cầu Tân Lương ngưa. mã bỗng dừng lại, thúc thế nào cũng chẳng đi. Vua Ngụy hỏi rằng: - Vì sao mà ngựa chẳng chịu qua cầu? Tả hộ giá là Từ Giáp, hữu hộ giá là Trịnh An Bình tâu rằng: - Ắt dưới cầu có điều gì? Vua Ngụy khen phải, sai quân sĩ xuống cầu lục soát. Quân sĩ gặp Bàng Quyên bèn dắt tới trước mặt vua. Vua Ngụy hét rằng: - Mi là kẻ gian tế ở nước ngoài à? Bàng Quyên tâu: - Thần dân là người nước Ngụy, quê ở Nghi Lương tên là Bàng Quyên, nhân đi học đạo dưới Quỷ Cốc đã thành tài, nay định về nước phò vua giúp nước, bất đồ lại gặp thánh giá dọc đường, xin hoàng thượng thứ tội. Vua Ngụy hỏi: - Muốn ra mắt trẫm sao lại núp dưới gầm cầu? Bàng Quyên tâu: - Vì hạ thần mang hành lý bên mình khó ra bái kiến, nên chi phải lánh mặt. Trịnh An Bình tâu rằng: - Muôn tâu bệ hạ, người này vốn là con của tên Bàng Hoành, thợ nhuộm ở Ngưu Đầu Nhai. Ba năm trước tên Hoành tát nước ra lộ đọng thành vũng, làm cho ngựa của hạ thần trợn, hạ thần giận có trách phạt nó. Vì vậy, người này là con y căm giận cố ý đi học đạo về gây loạn trong nước, xin bệ hạ thẩm xét. Ngụy vương suy nghĩ giây lát, cho lời An Bình là phải vì xét rõ Bàng Quyên có ý dối, chớ ở Vân Mộng sơn về Ngụy chẳng phải đi đường này. Có lẽ nó đi đầu nước khác để lo đánh Ngụy, nay thình lình gặp gỡ, nên nói dối mà thôi. Nên Ngụy vương bèn sai quân ngự lâm áp giải Bàng Quyên về nước giam ở Nam lao, chờ khi ngự giá về nước sẽ xử trí. Xong việc, Ngụy vương vào Tề cùng vua Tề khởi giá vào chầu Châu thiên tử. Triều cẩn xong, hai vua trở về Tề, vua Tề đặt tiệc ở vườn Vạn Quỷ tiễn biệt vua Ngụy. Lúc bấy giờ là lúc xuân quang trời thanh khí mát, trăm hoa đua nở, hai vua xem hoa thưởng cảnh giây lâu bèn vào tiệc ăn uống. Đương lúc ăn uống bỗng có một trận gió to thổi tới, bụi cát bay lên mù mịt, ở trên bàn tiệc chỗ vua Tề ngồi bụi đóng một lớp dày, còn ở chỗ vua Ngụy thì không đóng một hột. Vua Tề lấy làm lạ hỏi vua Ngụy: - Tại sao chỗ quả nhân ngồi có đóng bụi, còn chỗ vương huynh lại không vậy? Ngụy vương đáp: - Vì tôi có đeo trong mình một viên Tỵ trần châu nên bụi bậm không tới gần được. Tề vương nói: - Nghe đồn châu ấy là món báo vô song, cảm phiền vương cho quả nhân xem thử. Ngụy vương bèn móc trong đãi gấm lấy ra một hột châu, trao cho thịi vệ. Thị vệ tiếp lấy để lên mâm vàng bưng sang bàn của vua Tề để cho ngài xem. Vua Tề tiếp lấy coi thì hột châu cứ quay mãi, ngài lấy làm lạ hỏi: - Nếu như vầy thì xem làm sao được? Ngụy vương nói: - Đó là nó muốn xin tiền của đại vương vậy. Tề vương cười rằng: - Thôi, châu quý hãy dừng lại đi. Ta sẽ cho mi một trăm lượng bạc và mười tấm vóc vậy. Nói dứt lời, hột châu khua to một tiếng rồi dừng lại. Vua Tề khen ngợi liền miệng, bụng lấy làm thích lắm, nói với Ngụy vương rằng: - Thiệt là một vật báo trên đời ít có. Phải chi vương huynh nhường cho quả nhân thì quả nhân sẽ tạ lại cho hai tòa thành. Ngụy vương nghĩ giây lát sanh một kế, nói rằng: - Thưa đại vương, châu này vốn có hai hột, một trống một mái. Hột mái ở trong rương tại bên Ngụy cung. Nếu hai hột lìa nhau ắt phải khô khan mà chết. Vậy đại vương để tôi mang về. Rồi đại vương tắm gội sạch sẽ trai giới ba ngày, khi ấy tôi sẽ đưa sang cả hai. Tề vương nghe dứt, dạy thị vệ đem trả Tỵ trần châu cho vua Ngụy. Mãn tiệc, vua Ngụy trở ra quán Kim đình, cho dòi Trịnh An Bình, Châu Hợi, Từ Giáp, Hầu Anh tới bàn mưu từ chối với Tề vương không đổi Tỵ trần châu. Trịnh An Bình nghe dứt đuôi đầu bèn tâu: -Tâu bệ hạ, thần nghe dân là nước, gốc vững nước yên. Gốc vững tức là dân no, dân no nhờ đất rộng. Nay châu Tỵ trần tuy báu song không giúp cho dân no được. Vậy tốt hơn lấy nó mà đổi hai thành, một là mở rộng đất đai, hai là chuộc lời hứa với Tề chúa. Chớ như bệ hạ quý châu lỗi ước thì người trong thiên hạ còn coi ra gì? Lại cũng vì đó mà Ngụy Tề xích mích chăng? Ngụy vương nói: - Khanh biết một chớ mà rõ lại hai. Vả lại, thành trì dễ đoạt chứ châu ngọc khó tìm. Nguyên châu Tỵ trần này gốc ở nước Tam Hùng vốn là vật quý vô giá. Lại quả nhân có nghe người quân tử chẳng đoạt cái thích của người khác. Vậy mà vua Tề trông thấy châu là muốn ngay, ấy thật vô lễ. Với kẻ vô lễ, quả nhân có thất tín cũng vô hại. Châu Hợi thấy lòng vua Ngụy khư khư như vậy thì sợ Ở lâu bên Tề e có hại, nên tâu rằng. - Theo ý hạ thần thì nội đêm nay chúng ta trở về Ngụy rồi sẽ liệu định. Ngụy vương khen rằng: - Phải, khanh biết lo xa vậy là tốt lắm. Lập tức hạ lịnh tới canh hai khởi giá về Ngụy một cách êm ái không ai hay. Sáng ngày vua Tề nghe tin chúa tôi nhà Ngụy về lẻn thì cả giận hạ lịnh cho Lỗ vương Điền Kỵ, đem binh sang phạt, kể tội rằng: Ăn yến không tạ, lui về không từ, nói đổi châu mà không đổi. Nếu chịu dâng châu thì yên mọi việc, bằng chẳng phải đạp nước Ngụy ra đất bằng. Vua Ngụy về tới nước nhà, nghe tin Điền Kỵ kéo binh sang bèn sai Tư Giáp, Hầu Anh đem binh đón đánh. Hai đạo binh gặp nhau, Điền Kỵ sải ngựa ra trước trận hét rằng: - Chú tôi nhà Ngụy mi đã biết tội hay chưa? Tư Giáp hỏi: - Có tội gì? Ngươi hãy nói mau rồi chịu chết. Điền Kỵ nói: - Ăn yến không tạ Ơn, nói đổi châu rồi không đổi, lén về không từ giã, há không tội à? Nay binh ta tới đây hãy mau đem châu Tỵ trần ra dâng cho mau, bằng không ta sẽ phá tan bờ cõi. Từ Giáp, Hồ Anh nghe mấy lời giận quá hươi đao tới chém. Điền Kỵ rút thương giao chiến. Đánh hơn ba mươi hiệp, Từ Giáp, Hồ Anh cự không lại bỏ chạy. Điền Kỵ úa binh tới giết binh Ngụy rất nhiều rồi gióng chiêng thâu binh về dinh. Từ Giáp, Hồ Anh chạy về Nghi Lương báo tin bại trận cho Ngụy vương hay, Ngụy vương cả kinh. Trịnh An Bình nhân dịp xin đem binh ra trận. Bên Tề anh em tiên phong Tu Văn Long, Tu Văn Hổ cũng lãnh binh đối địch. Một mình An Bình không sao cự nổi hai anh em họ Tu cho nên binh Ngụy lại thua một trận to nữa. Thua luôn hai trận, Ngụy vương lo sợ vô cùng. Sau một lúc bàn bạc với các cận thần, vua bèn hạ lịnh ra bảng chiêu hiền, treo khắp trong nước. Ai đánh lui được quân Tề thì thưởng ngàn vàng, phong chức Vạn hộ hầu, thâu làm phò mã đồng chia hưởng vinh hoa. Bàng Quyên ở trong Nam lao, nghe tin ấy, bèn hỏi ngục tốt có quả vậy chăng? Ngục tốt mắng rằng: - Làm thân thằng tù chết nay sống mai mà chưa biết, lại còn ngóng chuyện thiên hạ. Bàng Quyên nói: - Dẫu phải chết đi tôi cũng an tâm. Song còn sống ngày nào là lo việc thiên hạ ngày ấy. Tôi là học trò Quỷ Cốc, phép tắc lão thông, há chẳng cứu được nước Ngụy à? Cứu được mà bỏ qua sao nỡ. Ngục tốt nghe mấy lời lập tức báo cho ngucï quan. Ngục quan vào tâu cho vua Ngụy hay. Vua Ngụy cho đòi Bàng Quyên vào hỏi rằng: - Ngươi chắc có thể đuổi được binh Tề à? Bàng Quyên tâu: - Tội thần không dám khoe tài, chớ thật sự có dư đuổi binh Điền Kỵ vậy. Vua Ngụy nói: - Nếu ngươi làm được như vậy thì quả nhân gả công chúa cho. Nói dứt lời tả hữu lấy áo mão ban cho Bàng Quyên. Bàng Quyên nai nịt hẳn hòi, cầm binh khí lên ngựa đem binh ra trận. Điền Kỵ nghe tin có tướng Ngụy bèn đem anh em Tu Văn Long, Tu Văn Hổ ra trận. Bàng Quyên chỉ vào binh Tề kêu hỏi rằng: - Điền Kỵ là đứa nào hãy ra mà chịu chết? Điền Kỵ sải ngựa tới nạt rằng: - Đừng vô lễ, hãy xưng tên ra mau! Bàng Quyên đáp: - Ta là anh hùng cái thế, tên gọi là Bàng Quyên đây. Dứt lời hai bên liền xáp lại đánh nhau. Đánh vùi từ trưa tới tối chưa phân thắng bại. Hồi 4 Điền Kỵ cắt râu trở về nước Vương Ngao búa đẻo bài đai ngôn Bàng Quyên đánh vùi với Điền Kỵ, Tu Văn Long, Tu Văn Hổ tới tối mà không phân thắng bại. Vì vậy chàng liền nghĩ ra kế đà đao, vụt quày ngựa bỏ chạy. Điền Kỵ không biết, sải ngựa rượt theo. Bàng Quyên chờ Điền Kỵ nhào xuống ngựa rồi bắt đem về cho vua Ngụy. Vua Ngụy cả mừng sai giam Điền Kỵ vào Nam lao chờ khi nào vua Tề có hàng thơ gởi sang sẽ tha cho về. Tướng Tề là Tu Văn Long, Tu Van Hổ thấy Điền Kỵ bị bắt nhắm mìnnh không thể cự nổi bèn kéo binh lén về nước váo ra mắt Tề vương tâu rõ đầu đuôi việc chiến đấu. Tề vương nghe qua lập tức nhóm các quan bàn mưu nghĩ kế để cứu Điền Kỵ ra khỏi Nam lao. Quan thượng đại phu Bốc Thương dâng kế rằng: - Nay bệ hạ viết hàng thơ và bày cống lễ, hạ thần sẽ sang Ngụy để cưư Lỗ vương về. Tề vương nhận lời. Hàng thơ cống lễ sắp đặt an bài. Bốc Thương liền mang qua nước Ngụy vào ra mắt vua Ngụy tâu rằng: - Hạ thần là Bốc Thương ở nước Tề, nhơn vì Điền Lỗ vương mạo phạm oai trời, nên hạ thần sang dâng hàng thơ và cống lễ cầu đại vương mở lượng nhân từ tha cho Lỗ vương về nước. Tự hậu nước Tề chúng tôi xin tấn cống mãi không dám sai lời. Vua Ngụy nghe dứt cầm hàng thơ lê xem ý muốn buông tha Điền Kỵ. Bàng Quyên lật đật tâu rằng: - Điền Kỵ là vương tử nước Tề, nếu tha hắn về bất phục. Chi bằng hãy cắt râu bôi phấn vào mặt hắn để thị Oai, ấy gọi là tha tội chết mà phải trừng mặt. Làm cho hắn tởn không dám gây gổ nữa. Lại chư hầu trong thiên hạ cũng ghê bệ hạ là lẫm liệt. Vua Ngụy nghe theo lời Bàng Quyên, sai người vào Nam lao cạo râu và bôi phấn vào mặt Điền Kỵ rồi đem ra giao trả cho Bốc Thương. Đây lại nói vua Ngụy có nàng công húa tên Thoại Liên, tuổi vừa hai tám, nhan sắc tuyệt vời. Vua bèn lựa ngày tốt gả cho Bàng Quyên, phong Bàng Quyên làm phò mã, tước Võ âm quân, kiêm chức Trấn Ngụy Phi Hổ Đại nguyên soái, ban cho ngự đái và bảo kiếm nữa. Đó là vua Ngụy đã giữ trọn lời hứa. Một hôm vua Ngụy cho vời Bàng Quyên tới trước điện dạy rằng: - Quả nhơn nhờ khanh phò tá thế mạnh như non cao có cọp to. Nay quả nhơn muốn thừa cơ hội thâu cả sáu nước về Ngụy. Vậy ý khanh nghĩ như thế nào? Bàng Quyên tâu rằng: -Xin bệ ạ chớ vội. Nay tuy thắng được Tề, chớ Tần, Yên, Triệu, Sở, Hàng vẫn chưa thuần phục. Nếu khinh động e họa hổ bất thàng. Theo ý hạ thần thì nên lập bài Đại ngôn để trấn áp sáu nước, hẹn ba năm phải vào cống, bằng không chừng ấy sẽ cư binh cũng chảng muộn. Ngụy vương khen phải, lập tức sai quan lo dựng bài Đại ngôn, Bàng Quyên thủ bút đề rằng: Phò mã nước Ngụy Võ âm quân, Thiên hạ ai ai đều rõ danh. Muốn kéo binh ra thâu sáu nước, Trước tay thử phá đám Tề quân. Nước Ngụy mới ra một tướng tái, Danh rền các nước thảy kiên oai. Thử hươi bửu kiếm trời vang rúng, Thiên hạ quyền hành nắm một tay. Báng Quyên nước Ngụy thật tài danh. Nghe tiếng ai ai cũng thất kinh. Các nước biết thân mau tấn cống. Họa may mới khỏi hại quân binh. Đề bài Đại ngôn rồi, Bàng Quyên để năm sáu tên quân ở giữ, dặn khi nào gặp người nước ngòai đi ngang thì bắt phải sao một bổn đem về nước rội ba năm phải sang tấn cống. Bây giờ trong nước Ngụy có một vị hiền sĩ vốn học trò giỏi của Quỷ Cốc, tên là Huất Liêu. Người này hay về quê bói số xem quẻ, cũng ành binh pháp, nhưng cùng học trò là Vương Ngao vẫn ở ẩn trong Di Sơn mà thôi. Nay nghe Bàng Quyên lập bài Đại ngôn, Hất Liêu bèn nói với Vương Ngao rằng: "Tài của Bàng Quyên không bằng Tôn Tẩn, thế mà dám ỷ sức khi người. Ta lo là khi Tôn Tẩn xuống trần giúp cho một nước nào thì nước Ngụy phải nguy. Vậy mi nên xuống đó phá bài Đại ngôn để trừ hậu họa và tiến cử Tôn Tẩn cho chúa Ngụy". Vương ngao vâng lời xách búa đồng đi thẳng vào kinh thành đẽo bỏ bài Đại ngôn. Quân giữ bài liền bắt Vương Ngao giải vào dinh phò mã. Bàng Quyên trông thấy Vương Ngao thì cả giận nạt rằng: - Mi là ai mà dám phá bài Đại ngôn của ta? Vương Ngao đáp: - Không cần biết ta là ai, ta là người ghét kẻ tiểu tử lam phách nên tới phá mà thôi. Bàng Quyên cả giận sai người kéo Vương Ngao ra chém. Vương Ngao cười rằng: - Khoan đã có việc gì mà chém ta. Ta vẫn nghe kẻ có danh ít bền vững, kẻ phách lối phải bị tai. Nay ngươi mới tới Ngụy, may mà thắng được Tề, đã vội lên mặt chớ ngươi có biết trong thiên hạ còn biết bao kẻ anh hùng không? Bàng Quyên nói: - Mi biết ai là anh hùng hãy kể cho ta nghe! Vương Ngao nói: - Tần có Bach Khởi, Sở có Vương Tiểng, Triệu có Liêm Pha, Hàng có Trương Xa, Yên có Tôn Tháo, Tề có Điền Văn, Điền Kỵ. Nếu sáu nước hiệp binh tới đánh Ngụy thì ngươi phỏng có kế gì thắng được hay không mà sớm dám khoe tài ỷ thế? Bàng Quyên nghe mấy lời, hối hận vô cùng, lật đật xin lỗi và mời Vương Ngao lên ngồi rồi hỏi rằng: - Tiên sinh tên họ là chi? Vương Ngao nói: - Tôi họ Vương tên Ngao, học trò của Huất Liêu. Thầy tôi với túc hạ là bạn học, môn đồ của Quỷ Cốc tiên sinh. Vì tình hữu nghị, tôi dâng mấy lời cho túc hạ rõ. Bàng Quyên hỏi: - Tiên sinh vân du thiên hạ có biết ai là kẻ hiền tài chăng? Vương Ngao nói: - Chỉ có bạn học của túc hạ là Tôn Tẩn thôi. Vì từ lúc túc hạ xuống núi tới naỵTôn Tẩn được Quỷ Cốc truyền thọ binh tho, đồ trận, dị pháp kỳ mưu đủ cả. Néu được người đó giúp sức với túc hạ mà lo việc Nguy thì lợi vô ngần, chư hầu không ai là chẳng thuần phục. Vương Ngao nói dứt kiếu từ về Di Sơn. Vương Ngao đi rồi, Bàng Quyên suy nghĩ giây lâu mới quyết định phải cầu Tôn Tẩn giúp sức để lo việc lớn cho nước Ngụy. Vậy hôm sau Bàng Quyên liền vào chầu vua Ngụy mà tâu rõ việc Vương Ngao phá bài Đại ngôn và tiến cử Tôn Tẩn. Ngụy vương cả mừng, lập tức sai Từ Giáp lên núi Vân Mộng rước Tôn Tẩn. Nhắc lại Tôn Tẩn nán ở trong động Thủy Liêm mà học thêm phép với Quỷ Cốc. Ngày nọ Tôn Tẩn hỏi Quỷ Cốc rằng: - Làm sao mà biết trước vận nước thịnh suy được? Quỷ Cốc nói: - Cứ xem ở tinh tượng. Sao Châu bá là thoại tinh của nước, sao Thiên bao là tai tinh của nước. Nước mà thịnh vượng thì sao châu bá sáng rực, nước mà suy rồi thì sao Thiên bao mờ tối. Quỷ Cốc đáp dứt lời lại bảo Tôn Tẩn rằng: - Sau động có cây đào tiên, cứ mười năm là nở hoa đơm trái một lần, đơm trái rồi tới bốn mươi chín ngày thì trái chín, ăn được trái ấy thì khỏi bệnh, thêm tuổi, thật là đào quý của nhà tiên. Hôm thầy đi hái thuốc trở về thấy đào đã có trái gần chín. Vậy con nên ra đó thăm chừng kẻo bị chúng hái trộm thì uổng lắm. Tôn Tẩn vâng lời thầy đi ra sau núi tới dưới cội đào xem. Thấy đào mơn mởn tốt thì thích lắm, đếm thử chỉ có bốn mươi tám trái thoi. Tôn Tẩn lấy làm lạ song không đem việc mất đào mà nói cho thầy hay. Qua ngày sau Tôn Tẩn lại tới thăm nữa, đếm lại chỉ còn bốn mươi bảy trái. Chàng nghĩ là có kẻ trộm, định chí đẽm ấy rình bắt kẻ gian trừng trị cho hả giận. Tối đến, Tôn Tẩn tới gần cội đào tìm chỗ kín ẩn mình mà rình. Rình tới canh hai, bỗng nghe trên ngọn đào có tiếng động. Tôn Tẩn dòm lên thấy một con vượn trắng lông mượt như tuyết thì cả ận, vụt gậy đánh lên rất mạnh. Con vượn bị đánh té nhào xuống đất, nói tiếng người rằng: - Lạy thầy xin tha mạng cho tôi. Tôn Tẩn hỏi: - Mi là nghiệt súc ở đâu mà biết nói tiếng người? Vượn trắng đáp: - Nhà tôi ở mé bắc động Thủy Liêm, ông tôi là Ba tây hầu, cha là Quyên Công, mẹ là Sơn Hoa công chúa. Ba đời tu luyện nên biết nói tiếng người. Tôn Tẩn hỏi: - Sao mi dám hái trộm đào tiên của thầy ta? Vượn trắng thưa: - Chẳng giấu chi thầy, vì mẹ tôi đau nặng, nói rằng thèm đào, vì lòng thương mẹ nên tôi đánh liều tới hái trộm một trái đào cho mẹ ăn. Mẹ ăn xong thấy trong mình khỏe khoắn nen lại sai tôi đi hái thêm. Thiệt tình tôi đã hái trộm của thầy hết hai trái rồi. Tới hôm nay chưa kị hái trái thứ ba thì đã bị thầy bắt được. Moou6n lạy thấy, tôi hái r6ọm đào, dầu thầy giết chết cũng chẳng hại, song tội nghiệp mẹ toi già cả đau ốm không biết nhờ ai nâng đỡ lo lắng. Vậy xin thầy rộng lòng tha cho mẹ con tôi một khi! Tôn Tẩn nghe dứt, hái một trái đào trao cho con vượn trắng mà nói: - Mi là con thảo, ta chẳng nỡ giết. Ta cho một trái đào này, mi đem về cho mẹ mi, nhưng tự hậu không được trôm cắp nữa. Vượn trắng được đào, vô cùng bội phục nói: - Thầy đã tha tội lại còn cho đào, ơn nặng biết lấy chi đền. Nay chỉ có ba quyển thiên thơ, thầy hãy đợi tôi lấy đem dâng, gọi là ơ đền nghĩa trả. Tôn Tẩn nghe dứt lấy làm lạ hỏi rằng: - Thiên thơ gì ở đâu mà mi có? Vượn trắng đáp: - Thật tôi không có. Thiên thơ đó là của thầy Quỷ Cốc cất trong hộp đá ở động Trù Kim. Thầy đứng đây một lát tôi đi lấy đem lại cho. Vượn trắng nói rồi nhảy đi. Chẳng bao lâu, Tôn Tẩn nghe trên không có tiếng kêu: "Thầy ơi! Đón thiên thơ đây". Liền thấy trên không thấy ba quyển sách nhỏ. Tôn Tẩn tiếp lấy thì thấy trên có đề bốn câu thơ rằng: Tại sao người lại lậu cơ trời Gây họa to rồi há phải chơi. Tôn Tẩn may nhờ truyền phép lạ. Trả ơn vượn trắng tặng thiên thơ. Tôn Tẩn được thiên thơ, ca củm đem về phòng thắp đèn mà đọc. Lúc ấy thình lình gió lạnh thổi đến, mây kéo mịt mù, trên không nổi sám rền vang. Quỷ Cốc đương ngồi trên bồ đoàn nghe sấùm bèn đứng dậy đi tuần quanh động. Đi tới phòng của Tôn Tẩn nghe tiếng đọc thiên thơ, Quỷ Cốc thất kinh xô của bước vào nói: - Thiên thơ ta cất ở hộp đựng đá bên động Trù Kim, vì mi chưa tới số phận nên ta chưa truyền, thế mà sao mi lai có mà học? Tôn Tẩn bèn đem chuyện con vượn trắng mà thuật lại. Quỷ Côùc nói: - Phải rồi, con yêu đó nó trộm mà cho ngươi. Ta không tiếc gì. Song ta lo vì lúc mi tiếp chiêu thơ không tắm gội, để ô uế phạm tới thiên thần, e về sau không khỏi nạn một trăm ngày. Tôn Tẩn biến sắc hỏi: - Vậy mà thầy có phương chi cứu con không? Quỷ Cốc nói: - Thầy có phép trấn áp, nếu con tuân theo thì sẽ cứu được. Này, sau núi về mé Nam có ngôi mộ đá bỏ trống, con nên chun đầu vô đó mà nằm, day đầu về Nam trở chân lại Bắc, nằm bốn mươi chín ngày thì khỏi nạn. Thầy cho con bốn mươi chín hột gạo ngậm trong miệng, đừng nuốt, thì khỏi đói. Tôn Tẩn vâng lệnh làm y theo lời. Quỷ Cốc dựng một tấm đá trên mả đề chữ: "Yên quốc Tôn Tẩn ký táng chi mộ" (Mộ chôn nhờ của người nước Yên tên Tôn Tẩn). Nói về Từ Giáp lên tới núi Vân Mộng, bèn thẳng tới động Thủy Liêm. Vừa tới cửa động bỗng gặp một tên đạo đồng hỏi rằng: - Ông là sứ thần của nước Ngụy à? Từ Giáp thất kinh đáp phải, rồi cậy đạo đồng dắt vào ra mắt Quỷ Cốc tiên sinh. Đạo đồng dắt vào trước bồ đòan, Quỷ Cốc hỏi lai lịch. Từ Giáp bèn đem ý chỉ của mình mà tỏ ra. Quỷ Cốc thở dài mà rằng: - Tiên sinh lặn lội xa xôi thành ra vô ích, học trò tôi là Tôn Tẩn đã chết lâu rồi. từ Giáp hỏi: - Lịnh đồ chết vì bịnh hả? Quỷ Cốc nói: - Bởi bản chất nó ngu độn, học đạo sáu năm trời mà không thông hiểu binh thơ chiến pháp chi, nên nó rầu rĩ uất khí mà chết. Từ Giáp nói: - Tôn lịnh đồ vô phước như vậy, chính là tôi chúa nhà Ngụy vô phước đó. Nói rồi từ tạ Quỷ Cốc trở về nước Ngụy tâu rõ đầu đuôi cho Ngụy vương hay. Ngụy vuương nữa tin mà lại nữa ngờ. Lúc bấy giờ, có Bàng Quyên ngồi bên cạnh, nghe câu chuyện như vậy bèn tâu rằng: - Tâu bệ hạ đó là kế của thầy tôi cầm T6n Tẩn ở lại núi chớ thật sự thì ảnh chưa chết. Ngụy vương nói: - Lấy cớ gì mà khanh dám chắc như vậy? Bàng Quyên nói: - Phàm người nào chết thì sao chơn mạng của người ấy phải xẹt mất. Hồi hôm thần xem tinh tượng thấy sao của Tôn Tẩn còn thế mà gọi chết la chết làm sao? Ngụy vương khen phải, day qua hỏi Từ Giáp: - Khanh nghe nói Tôn Tẩn chết mà chính mắt có thấy mả chôn ở đâu không? Từ Giáp tâu: - Chỉ nghe theo lời Quỷ Cốc nói chớ chưa xem tường mả chôn. Ngụy vương nói: - Thế thì khanh lầm. Vậy bây giờ phải đi cầu Tôn Tẩn một lần nữa. Từ Gia vâng mạng ra đi. Tới động Thủy Liêm, Từ Giáp vào ra mắt Quỷ Cốc và nói: - Cứ theo lời sư cụ, tôi về tâu với vua tôi, vua tôi không tin, nói rằng nếu lịnh đồ quả chết ắt đã có mộ phần. Vậy phiền sư cụ cho tôi tới viếng mộ phần của lịnh đồ một phen. Quỷ Cốc cười, dắt tay Từ Giáp ra phía sau núi chỉ ngôi mả đá cho xem. Từ Giáp thấy trên mà quả có một bia đề rõ ràngnhư vậy nên tin thiệt, từ tạ Quỷ Cốc trở về nước tâu lại cho Ngụy vương hay. Ngụy vương không còn nghi ngờ gì nữa. Duy Bàng Quyên thì không tin, bước ra tâu rằng: - Thần xem sao luôn mấy đêm, quả Tôn Tẩn chưa chết. Cầu không được Tôn Tẩn là tại Từ Giáp quá dở mà thôi. Bây giờ bệ hạ phải định tội treo Từ Giáp, rồi khiến y đi một lần nữa rồi mới xong. Ngụy vương suy nghĩ giây lâu rồi hỏi: - Bay giờ khanh định treo tội Từ Giáp thế nào? Bàng Quyên tâu: - Nên sai quân bắt hết người nhà của Từ Giáp giam vào Nam lao rồi sai y đi lên núi Vân Mộng. Như cầu được Tôn Tẩn xuống núi thì tha tội cho, lại gia thăng ba cấp. Bằng cầu không được thì tru di cả nhà và lăng trì Từ Giáp. Có làm như vậy mới cầu được hiền tài. Nếu lôi thôi để Tôn Tẩn giúp nước khác thì nước Ngụy bị họa to. Nghe lời bàng Quyên nói có lý, Ngụy vương bèn sai quan đem binh tới bao nhà Từ Giáp bắt hơn một trăm quyến thuộc, đem giam vào Nam lao rồi sai Từ Giáp lên núi Vân Mộng lần nữa. Hồi 5 Điện Kim Loan, Tôn Tẩn tới chầu, Trường diễn võ Bàng Quyên thua trận Từ Giáp lên núi Vân Mộng vào động Thủy Liêm ra mắt Quỷ Cốc, Quỷ Cốc hỏi rằng: - Tiên sinh lên làm chi nữa há chẳng tin lời tôi à? Từ Giáp bèn đem việc mình ở dưới Ngụy triều bị treo tội, gia thuộc bị bắt giam vào Nam lao mà thuật lại một lượt cho Quỷ Cốc nghe. Thuật rồi nói tiếp: - Sư cụ Ôi! Người chết khó sống, biết làm sao mà cầu được? Ngày nay tôi cầu không được Tôn Tiên sinh ắt cả nhà bị tội chết. Tôi không còn mặt nào trở lại Ngụy triều xem gia thuộc bị phanh thây rồi tự mình cũng bị lăng trì. Bây giờ tôi xin tới trước mộ phần của Tôn Tiên sinh dùng cơm canh trí tế một lễ rồi tự vẫn cho yên thân. Ấy chẳng phụ lòng cầu hiền tuân mạng vậy. Quỷ Cốc nghe mấy lời cũng thương, song cơ trời đâu dám trái. Vậy bèn sai đạo đồng bưng cơm canh đi trước với Từ Giáp ra phần mộ của Tôn Tẩn rồi mình cũng lọm khọm đi theo sau. Từ Giáp ra tới mộ phần sắp cơm canh, thắp nén hương, khấn vái âm linh Tôn Tẩn, rồi kể lể nỗi khổ sở của mình, cầu hiền ba lượt, bị treo tội thế nào, gia thuộc bị giam làm sao, đầu đuôi kể lại không sót, vừa kể lể vừa khóc, Tôn Tẩn nằm trong mà nghe rõ sự tình như vậy cầm lòng không được, nghĩ thầm rằng: "Dầu ta xuống núi ra mắt vua Ngụy có bị tai nạn gì cũng không đến nỗi to như cả nhà Tứ Giáp hơn một trăm người vô cớ mà chết oan". Nghĩ đoạn, Tôn Tẩn đạp vách mà ngã nhào rồi chui ra nói với Từ Giáp rằng: - Tôi là Tôn Tẩn đây, vì thương gia thuộc túc hạ sẽ vô cớ chịu chết oan nên chịu xuống núi giải cứu. Từ Giáp nghe mấy lời vừa sợ vừa mừng, sợ là sợ người chết sao còn sống lại, mừng là mừng tánh mạng gia thuộc mình sẽ khỏi bị tru di. Liền lúc ấy Quỷ Cốc đi tới, thấy Tôn Tẫn không vâng lời mình đã chường mặt với Từ Giáp thì kêu lại và nói: - Sao ngươi không giữ phép trấn áp của ta? Cái khổ một trăm ngày nhịn chịu không được để gây thêm cái họa một ngàn ngày. Ngươi đi chuyến này sẽ bị chập chơn. Tôn Tẩn nghe nói cả kinh thưa rằng: - Xin thầy dạy cứu cho con. Quỷ Cốc nói: Đó là mạng trời ta không còn cách gì cứu được. Nay ta chỉ có một vuông kiếm trần trao cho ngươi, hãy cất kỹ vào mình, khi nào trong tay có saÜn binh quyền ra trận cướp thành sẽ dùng nó mà hóa binh hiển tướng. Này, thầy cũng cho ngươi thêm một cái hộp, hãy giữ lấy, khi nào bị hoạn nạn thì giở nó ra, tức khắc sẽ ccó cách cứu gỡ. Tuy bây giờ ngươi xuống núi bị tai to họa lớn, song về sau sẽ được bá tước phong hầu. Tôn Tẩn nghe dứt lời thầy tiếp lấy hai món bửu bối giắt vào trong lưng rồi cùng Từ Giáp lạy tạ Quỷ Cốc mà xuống núi. Tôn Tẩn theo Từ Giáp về triều yết kiến Ngụy vương. Ngụy vương cả mừng nói: - Đã lâu quả nhân nghe danh tiên sinh có lòng ước vọng, cớ sao ba lần tiên sinh mới chịu đi? Tôn Tẩn tâu: - Nhơn vị hạ thần có ách số, thầy của hạ thần trấn yểm trong mã một lúc cho tiêu tai, nên chẳng hay có chỉ của đại vương tới triệu. Ấy thật đáng tội. Ngày sau bởi nghe Từ Giáp tế mộ, kêu khóc thảm thương, hạ thần quên mình không màng tai họa chun ra theo Từ Giáp tới yết kiến Đại vương, xin đại vương thứ tội. Ngụy vương gật đầu cả cười. Bây giờ Bàng Quyên bước ra chào Tôn Tẩn bày tỏ tình bầu bạn ước vọng bấy lâu. Ngụy vương cũng hạ lịnh tha gia thuộc Từ Giáp trở về nhà và gia thăng Từ Giáp ba cấp: Liền ấy lại hỏi Bàng Quyên coi phải phong cho Tôn Tẩn làm chức gì? Bàng Quyên tâu: - Tôn Tẩn mới vào nước Ngụy, chưa lập công gì, nếu phong quan e hạ quan bất phục. Vậy nhân lúc ba muôn Ngự lâm quân chưa thông cung tên võ nghệ, bệ hạ nên phong Tôn Tẩn làm chức Đoàn luyện xứ để diển tập chúng nó. Khi nào diển tập xong sẽ phong chức cũng chaÜn muộn. Ngụy Vương khen phải bèn phong Tôn Tẩn làm chức Đoàn luyện xứ để diển tập Ngự lâm quân. Tôn Tẩn tạ Ơn lui ra. Các quan văn võ cùng tau chầu. Ra khỏi triều, bọn từ giáp, Trịnh An Bình, Châu Hợi, Hầu Anh xầm xì với nhau về việc Vua phong chức cho Tôn Tẩn không xứng. Ai nấy đều nghỉ cách để khen Vua. Đợi tới buổi chầu ngày sau, khi bái yết xong, cả bọn bèn quỳ xuống tâu rằng: - Muôn tâu Bệ hạ Tôn Tẩn là bậc anh tài trong thiên hạ, ba lần cầu thỉnh mới chịu xuống núi. Vậy đáng lẽ Bệ hạ phong cho chức trọng để khuyến lệ anh hùng trong thiên hạ. Chớ như phong cho Y Đoàn Luyện xứ e hẹp lòng Y, mà thiên hạ cũng chê Bệ hạ là không biết thâu tài thượng sĩ. Nay chúng hạ thần có một cách hay rất tiện: Là ngự giá tái diển võ tràng, hạ chỉ cho Bàng, Tôn hai người thử tài đối trận, nếu ai hơn thì được ngôi cao hơn cả, ai kém thì truất cấp tước bổng để giúp quân nhu. Như vậy kẻ chịu truất không buồn, ngoài thiên hạ khỏi trách. Xin bệ hạ minh xét. Ngụy Vương nghe qua khen phải và nhậm tâu. Ngụy Vương liền hạ lệnh các quan hộ giá ra diển võ trường. Tới nơi, cho vời Tôn Tẩn tới trước mặt mà phán rằng: - Quả nhân nghe khanh là người kỳ tài, vậy hôm nay hãy lựa một trận linh huợt lập thử cho quả nhân xem. Tôn Tẩn vâng mạng lui ra, lên ngựa tới giữa võ trường phất cờ ra lệnh. ChaÜn bao lâu binh đội đã dan ra đúng hàng phải ngủ thành một trận to. Ngụy Vương thấy trận đã thành, bèn gọi Bàng Quyên tới bảo đi xem trận. Bàng Quyên lên ngựa đi xem một hồi, không hiểu là trận gì, bèn hỏi Tôn Tẩn rằng: - Anh lập trận gì mà tiểu đệ xem không ra vậy hở Anh? Tôn Tẩn đáp: - Hiền đệ à! đó là trận ngủ hổ cáo sơn. Bàng Quyên cả mừng sãi ngựa trở lại trước mặt Ngụy Vương tâu rằng: - Muôn tâu bệ hạ, trận nầy là một trận rất dể, hạ thần thường có bài chơi. Nó tên Ngủ hổ cáo sơn trận.Ngụy Vương nghe dứt gật đầu, cho vời Tôn Tẩn tới biểu bày trận khác. Tôn Tẩn lãnh mạng ra giữa võ trường phất cờ ra lệnh, chaÜn bao lâu trận ngủ hổ cáo sơn biến thành một trật khác. Ngụy Vương lại sai Bàng Quyên đi xem. Bàng Quyên xem giây lâu, cũng chaÜn rõ là trận gì, lật đật tìm tới Tôn Tẩn mà hỏi: - Anh à, trận nầy là trận gì mà tiểu đệ xem chaÜn ra? Tôn Tẩn đáp: - Có khó gì đâu hiền đệ, nói là trận nhất tự trường xà! Bàng Quyên nghe xong chạy thọt lại tâu với Ngụy Vương rằng: - Trận đó con nít nhà tui thường bày, tên nó là nhất tự trường xà, có khó gì mà Tôn Tẩn lại lập cho bệ hạ xem. Ngụy Vương nghe vậy tưởng Tôn Tẩn khinh mình nên không vui, liền sai Hầu Anh tới bảo Tôn Tẩn hãy lập trận khác. Hầu Anh vâng lệnh, chạy ra võ trường nói cho Tôn Tẩn hay rằng: - Bệ hạ bảo ông lập trận khác, chớ trận Ngủ hổ cáo sơn thì Bàng Quyên nói ông ta lập thường không lạ, còn trận Nhật tự thường xà thì Bàng Quyên nói con nít nhà ông cũng lập được, dể lắm. Tôn Tẩn nghe mấy lời, buồn lắm, trách thầm Bàng Quyên rằng: "Sao nó lại vô lể như vậy. Nếu trận dể nó bày thường, con nít nhà nó lập chơi thường, sao nó còn hỏi ra.Thôi để ta lập trận khác coi nó có biết hay không? ". Ý đã định, Tôn Tẩn bèn phất cờ ra lệnh biến cải đội ngủ, bày lại một trận khác. Ngụy Vương thấy trận bày xong, hạ lệnh Bàng Quyên đi xem. Bàng Quyên xem không hiểu trận gì, lăn xăn tới hỏi Tôn Tẩn rằng: - Anh lập trận gì nói cho em biết với! Tôn Tẩn cười rằng: - Em khéo hỏi khó anh thì thôi. Trận nầy em lập thường mà! Bàng Quyên nói: - Đâu có, em chaÜn biết thì làm sao mà lập được. Tôn Tẩn nói: - Em không lập thì trẻ nhỏ nhà em nó lập nó chơi. Bàng Quyên nghe mấy lời mặt thẹn đỏ bừng, nghỉ thầm rằng: "Mấy lời ta nói lén với Ngụy chúa, có đứa mách thót cho anh nầy hay! Lạ quá!". Nghỉ đoạn quầy ngựa trở lại tâu với Ngụy chúa rằng: - Tâu bệ hạ, trận nầy tên là bại gia vong quốc trận. Ngụy Vương cả giận nói: - Sao lại lập trận bất lợi như vậy? Thật hắn khi qủa nhân lắm rồi! Nói dứt lời, Ngụy Vương cho vời Tôn Tẩn tới mà quở rằng: - Sao khanh khi dể trẩm mà lập trận bại gia vong quốc như vậy? Tôn Tẩn tâu: - Hạ thần học binh thơ từ nhỏ, chưa từng thấy trận nào tên bại gia vong quốc cả. Nếu người nào đặt tên trận quái như vậy thì phá thữ xem sao. Nếu phá được thì hạ thần sẽ nhận là thì tên trận bại gia phong quốc và chịu tội chết. Bàng Quyên nghe mấy lời, bước tới nói: - Anh hãy chờ coi em phá trận đây! Tôn Tẩn nói: - Không được, em phá trận nầy thì tình nghĩa bầu bạn chúng ta khi xưa còn gì? Bàng Quyên nói: - Không hại! Nếu em không phá thì ai phá được. Em quyết lòng phá! Tôn Tẩn nói: - Em quyết lòng phá thì anh không cản song anh dặn cho, khi em đánh qua cửa đông gặp hai người đội mão vàng, mặc giáp vàng kêu tên thì đừng thưa. Như vậy may mới khỏi hại. Bàng Quyên không tin lời, tưởng là Tôn Tẩn phỉnh mình nên lập tức nai nịt lên ngựa xông vào giữa trận. Tôn Tẩn thấy Bàng Quyên vào trận bèn đọc linh văn. Giây lát trong trận có sa mù, Bàng Quyênthất kinh không biết đường ra, chỉ đứng một chổ mà đánh cầm chừng thôi. Đánh một hồi, nghe bên hướng đông có tiếng kêu: - Bàng Quyên phò mã, hãy qua đây ta cứu cho. Bàng Quyên dòm lên thấy hai người đội mão vàng mặc áo giáp vàng bèn ứng tiếng rồi chạy theo. Bàng Quyên chạy tới đâu cũng nghe tiếng reo hò dậy đất rền trời. Tôn Tẩn thấy Bàng Quyên chạy tới gần mình bèn móc dây Hồng cẩm quăng ra, Bàng Quyên bị dây ấy giựt té xuống đất. Các quan tướng và quân sĩ tại võ trường thấy vậy đều cất tiếng cười xòa. Ngụy Vương cũng chẳng nín được cười. Bàng Quyên bị đánh té, mắc cỡ vô hạn. Ngụy Vương cho vời Bàng Quyên tới hỏi rằng: - Khanh tự xưng kỳ tài, lập bài Đại ngôn thách thiên hạ, sao hôm nay phá trận lại bị Tôn Tẩn đánh té như vậy? Bàng Quyên không lấy lời gì đáp, cúi đầu lui ra. Ngụy Vương lại cho vời Tôn Tẩn tới phán rằng: - Nghe danh khanh đã lâu, nay mới thấy tận mặt là kẻ có tài cao phép lạ. Trẫm muốn phong khanh chức Đại phu, song hôm nay trời đã tối vậy hãy tạm hoãn lại ngày hôm sau. Tôn Tẩn dạ dạ rồi bái tạ lui ra. Ngụy Vương cũng hạ lịnh cho bá quan hộ giá về triều. Chiều ngày ấy Bàng Quyên không vui về phủ mà lòng vẫn căm giận Tôn Tẩn. Thoại Liên công chúa hỏi gì cũng không đáp, cứ đi thẳng vào thơ phòng mà ngồi. Đương lúc nghỉ ngợi, Bàng Quyên bổng đánh tay xem lại, biết đêm ấy lối canh ba điểm, có hỏa tinh giáng phàm, ắt hoàn thành có lửa cháy, vậy bèn nghỉ ra một kế, cho vời bộ tướng là Hà Mậu Tài tới mà dạy rằng: - Ngươi nên cải trang là quan Cẩm y thị vệ của vua, tới ra mắt Tôn Tẩn nói rằng: Quan coi đài thiên văn cho hay trong đêm nay, lối canh ba, có hỏa tinh giáng thế. Vậy vua cho mời Tôn Tẩn tới trấn yểm hoàn thành chớ nên chậm trễ. Ngươi làm xong việc này ta sẽ trọng thưởng. Điều cần nhứt chớ cho Tôn Tẩn biết ta sai mi đi! Mậu Tài vâng lời lập tứcgỉa dạng tới ra mắt Tôn Tẩn mà nói như lời Bàng Quyên dạy rồi quay về. Sau khi Mậu Tài cáo từ, Tôn Tẩn xủ quẻ biết thiệt có hỏa tinh giáng thế, bèn lập tức điểm ba ngàn quân ngự lâm chia một nửa cầm trống và chiêng, một nửa cầm nhánh đào bát nước, rồi kéo thẳng vào hòan thành. Tôn Tẩn bỏ tóc xả, cầm bảo kiếm niệm chú, rồi hạ lịnh ba quân đánh trống khua chiêng và nhúng nhánh đào vào bát nước rải khắp các cửa vừa làm vừa reo hò, cố ý làm cho hỏa tinh phải lánh nơi khác. Đêm ấy, Ngụy Vương ở trong nội, nghe tiếng vang động bèn hỏi nội quan. Nội quan tâu: - Nếu có việc gì biến loạn thì đã có tin báo. Nay không tin báo ắt vô sự. Ngụy vương an lòng. Đến sáng ra triều, đủ mặt các quan. Ngụy vương bèn phán hỏi chuyện ban đêm. Bàng Quyên bước ra tâu: - Muôn tâu bệ hạ, đêm hôm Tôn Tẩn mưu lòng phản phúc, kéo mấy ngàn ngự lâm quân tới phá cửa Nam. Thần hay sớm nên chỉ dùng một kế đã lui được rồi. Ấy thật là hồng phúc của bệ hạ vậy. Ngụy vương nghe qua cả giận, hạ lịnh bắt Tôn Tẩn giam vào Nam lao và tru lục cả đoàn ngự lâm. Bàng Quyên lại tâu rằng: - Tôn Tẩn tạo phản, tội không thể dung. Chớ như muôn quân ngự lâm chưa chắc là vây cánh của nó hết. Nếu nhất luận giết sạch e có điều oan uổng.Xin bệ hạ rộng suy. Còn Tôn Tẩn, vừa tới nước Ngụy đã ỷ thế đánh ngã hạ thần, cố ý khi dễ nước Ngụy không người lượng tưởng, kế đó lại thâu phục quân ngự lâm để tạo phản. Cha mẹ của nó ở bên nước Yên lại là thân thần của Yên, trách gì chẳng mong thâu nước Ngụy cho Yên. Đó thật là mối họa bên vách của nước Ngụy ta vậy. Xin bệ hạ sớm lo kẻo rồi trở tay không kịp. Ngụy vương nghe dứt mối giận càng thêm, liền hạ lịnh cho Bàng Quyên đem năm ngàn binh đao phủ đến đánh bắt tôn Tẩn đem ra giữa chợ Vân Dương mà chém đầu răn chúng. Bàng Quyên vâng chỉ, đem binh tới bao vây phủ Đoàn luyện. Tôn Tẩn không rõ chuyên gì, cứ ra tiếp Bàng Quyên như thường, Bàng Quyên nói: - Trời làm nghiệt còn có thể trái, tự mình làm nghiệt khó mà sống. Hồi hôm anh đã làm một việc khá to chớ? Tôn Tẩn nói: - Có chuyện gì đâu, chẳng qua anh phụng mạng trấn yểm hoàn thành ngừa mạng họa tinh mà thôi. Bàng Quyên nói: - Anh vâng lịnh trận yểm thì đi một mình sao lại đem quân binh khua chiêng gióng trống la hét có ý tạo phản. Vì anh làm rối kinh động thánh giá ngài bắt tội tới em, rằng chúng ta hẹn nhau xuống núi mưu đồ cướp non sông nước Ngụy. Em hết sức phân trần may được khỏi vạ, nhưng Ngụy vương lại sai em đem binh sang bắt anh đem ra chợ Vân Dương chém đầu răn chúng. Vậy anh hãy chịu trói đi! Tôn Tẩn nghe nói hoảng kinh chưa biết nói sao, thì Bàng Quyên đã hạ lịnh binh đao phủ áp bắt trói Tôn Tẩn rồi đi.u luôn ra chợ Vân Dương. Hồi 6 Cam đoạn nghĩa, quyết chặt ngón chân Muốn lánh thân phải giả đứa điên Tôn Tẩn bị Bàng Quyên hối thúc quân sĩ áp giải tới chợ Vân Dương. Lúc này, trời mù đất tối, coi vẻ buồn bã vô cùng. Có lẽ tạo vật cũng cảm thương cho người ngay mắc nạn. Nơi pháp trường, đau phủ sắp hàng đôi, coi vẻ ghê gớm tề chỉnh. Bàng Quyên hỏi: - Bây giờ là chừng nào? Đao phủ thủ đáp: - Còn ba điểm nữa là tới giờ Ngọ. Tôn Tẩn nghe lời nói, biết giờ hành hình sắp tới thời đau lòng xót dạ lắm, năn nỉ với Bàng Quyên rằng: Bàng phò mã ơi! Xin tưởng tình kết bạn năm xưa, dung cho chậm chết một lát để bày tỏ nỗi khổ trong lòng cùng hoàng thiên hậu thổ, rồi dầu có chết cũng không đến nỗi biến thành con ma oan uổng. Bàng Quyên nhận lời xin để cho Tôn Tẩn kêu than chi cho biết, nên truyền quân đao phủ hãy thông thả. Tôn Tẩn vội ngước mặt lên trời than rằng: - Trời ơi! Tôn Tẩn này lìa cha mẹ, cách anh em, lên non tiên học đạo. Tưởng là học thông binh pháp, thuộc lào thiên thư, giỏi bát môn độn pháp, lục giáp linh vân mà làm gì, ai dè tới cái chết của mình mà không cứu được. Ôi! Khổ tâm biết mấy!. Bàng Quyên nghe Tôn Tẩn nhắc tới thiên thơ, thời nghĩ thầm rằng: "Các sách binh pháp ta điều đọc qua. Duy thiên thơ ta chưa đọc tới. Nếu nay dỗ anh này để mà học được thời anh hùng trong sáu nước có ai hơn ta được". Ý định đã định, Bàng Quyên bèn bứơc tới gân Tôn Tẩn mà nói rằng: - Anh ơi! Em nghe mấy lời anh than, bỗng nhớ tới lúc thề nguyền ở chợ Châu Tiên, em đau lòng lắm. Anh ơi, phen này em quyết liều thân để cưu anh. Bay giờ em tới mặt Ngụy chúa tâu nỗi nữa coi sao. Như được là may, không thì thôi, xin anh chớ trách. Tôn Tẩn nói: - Nếu em còn thương anh, anh cảm tạ vô hạn. Như được Nguỵ chúa ân xá thì ân em ngàn năm anh không quên. Còn như không ân xá thì em nên vì anh sắm một cái hàn để tẩn liệm thi hài, rồi gởi thơ về Yên quốc cho cha mẹ anh chị của anh haỵĐược vậy anh cảm ơn em lắm! Bàng Quyên nói: - Anh chớ nên mở lời trối như vậy! Nói dứt, sải ngựa vào triều, ra mắt chúa Ngụy và tâu rằng: - Muôn tâu bệ hạ, hạ thần vừa nghĩ được một điều. Vì Tôn Tẩn là người nước Yên, cha là phò mã Tôn Tháo, mẹ là công chúa Yên Đơn, anh là Tôn Long, Tôn Hổ, nếu nay y bị ta giết, tin đồn về Yên, ắt nước Yên sẽ cử binh phạt ta thời muôn dân đồ thán, chi bằng lưu Tôn Tẩn lại, chờ khi nào nước Yên gởi hàng thơ qua rồi sẽ hay. Vua Nguỵ nói: - Nếu sợ vậy thì nên chặt mười ngón chân y. Y trở nên người bỏ, thời muốn làm gì cũng chẳng được. Nguỵ vương y lời tâu, Bàng Quyên bèn bay ra chợ Vân Dương nói với Tôn Tẩn rằng: - Em đã hết sức rỗi xin cho anh rồi. Song vua nói rằng tha thì tha tội chết, chớ không thể không trừng trị. Vậy ngài định phải chặt hai bàn chân anh. Tôn Tẩn nói: - Không tiện! Anh thà cam tâm chịu chết, chớ không muốn sống mà trở nên người vô dụng ở đời. Bàng Quyên nói: - Luật pháp triều đình đâu tiện tâu đi rỗi lại. Em không thể cưu anh được nữa. Nói dứt, hạ lệnh quân sĩ khai đao. Quân sĩ đem Tôn Tẩn buộc vào một cái trụ, kềm hai chân trên cái áp đồng, rồi hươi đao chặt một cái, mưới ngón chân của Tôn Tẩn rụng liền, máu ra lênh láng. Ai thấy cũng ghê hồn hoảng vía. Còn Tôn Tẩn thì chết ngất đi. Giây lâu Tôn Tẩn tỉnh lại, Bàng Quyên nói: - Thiệt phép nước đổi vô tình! Dứt lòi sai tả hữu khiêng Tôn Tẩn về phủ mình, lo thuốc men săn sóc cho anh bạn. Tôn Tẩn cảm ơn Bàng Quyên lắm. Sau khi đem Tôn Tẩn về phủ rồi. Bàng Quyên bèn tới ra mắt Ngụy vương, Ngụy vương hỏi: - Bây giờ để Tôn Tẩn ở đâu? Bàng Quyên tâu: - Thần sợ thả nó ra lúc nó hết đau ắt đi nước khác nên thân để nuôi tại nhà. Tâu xong, Bàng Quyên trở về phủ sai gia đình dọn dẹp một thơ phòng cho Tôn Tẩn ở, rồi kêu một người đầu bếp tới cắt phân nuôi dưỡng Tôn Tẩn. Đó thật là lòng dạ của Bàng Quyên rất sâu độc, cố ý bưng mắt Tôn Tẩn vậy! Một hôm Bàng Quyên tới thăm Tôn Tẩn, hỏi rằng: - Thế nào hôm nay chân anh đã bớt đau chưa? Tôn Tẩn đáp: - Mấy ngày rày nước vàng và máu ra nhiều, đau nhức quá! Báng Quyên nói: - Tội nghiệp quá, vậy để em bảo người làm cho anh hai cây gậy trầm hương để chống mà đi cho tiện. Nói dứt day qua dạy tả hửu bày tiệc rồi mời Tôn Tẩn gương ngồi ăn uống. Rượu được vài tuần, Bàng Quyên hỏi Tôn Tẩn rằng: - Em có nghe anh được thầy truyền thọ thiên thơ, nên thông bát môn độn pháp, lục giáp linh văn. Quả có vậy không? Tôn Tẩn nói: - Đối với em là bạn kết nghĩa sanh tử, anh không giấu. Quả anh có học và nhớ hẳn hoi. Bàng Quyên nói: Có như vậy thì anh nên thương em mà dạy lại cho. Tôn Tẩn nói: - Chúng ta không phải ruột thịt, song đã kết nghĩa cầm kỳ, dạy thì dạy có hại chi? Bàng Quyên nói: - Đa tạ Ơn anh. Vậy tới ngày mai em sẽ thết tiệc cùng nhau ăn uống rồi anh sao chép lại cho em một pho thiên thơ. Tôn Tẩn nói: - Cần chi phải đợi đến mai, nếu em cần lắm thì anh sẽ viết cho anh bây giờ. Bàng Quyên cả mừng, sai tả hữu đem bút mực và giấy ra.Tôn Tẩn an sơ ít miếng nữa, rồi bảo tả hữu dọn bàn dẹp tiệc, đặng mình sao thiên thơ. Tôn Tẩn viết được ít hàng, thì Bàng Quyên ngăn lại mà rằng: - Trời đã tối rồi, anh hãy nghĩ cho khoẻ, đợi sáng sẽ biết, nếu vội quá em sợ có sơ sót. Dứt lời từ tạTôn Tẩn mà về phủ. Từ đó ngày nàoTôn Tẩn cũng lo viết thiên thơ cho Bàng Quyên, song chân có đau nên không viết liên tiếp được, thành ra đã mấy ngày mà cũng chưa rồi. Thỉnh thoảng, Bàng Quyên cũng tới giả bộ thăm Tôn Tẩn đặng thúc giục viết cho mau. Ngày nọ Bàng Quyên vào nhà trong, Thoại Liên công chúa hỏi rằng: - Thế nào? Tôn Tẩn đã viết xong thiên thơ chưa? Bàng Quyên đáp: - Nó viết vừa được ba phần mười rồi. Thoại Liên nói: - Sao mà lâu vậy? Bàng Quyên cười rằng: - Lâu mau cũng không nệ, hễ nó viết xong ngày nào ta định cách giết nó ngày ấy. Mấy lời vợ chồng Bàng Quyên nói với nhau chẳng may lọt vào tai của tên đầu bếp trong lúc nó vào lấy gạo nấu cơm trưa cho Tôn Tẩn. Tên đầu bếp nghe vậy thì thầm trách Bàng Quyên sao ở bac với Tôn Tẩn là người trung hậu. Tới bữa cơm trưa, đầu bếp đem vào phòng cho Tôn Tẩn ăn lại gặp lúc Bàng Quyên có mặt tại đó. Bàng Quyên làm bộ nếm thử đồ ăn rồi giả bộ đôn hậu với bạn, đè đầu tên đầu bếp xuống đánh cho ba mươi hèo và mắng rằng: - Bạn thân của ta đau ốm, ta giao phó cho mi cung dưỡng, thế mà mi nấu ăn như vậy thì ăn làm sao cho được? Mi khinh bạn ta, tức là khinh lờn ta. Ta chẳng trị mi thì tình bầu bạn ta còn gì! Đánh mắng xong, Bàng Quyên quầy quả vào nhà trong. Thấy Bàng Quyên đi rồi, tên đầu bếp liền ôm bụng mà khóc rống lên. Tôn Tẩn lấy làm lạ hỏi rằng: Lúc đương đánh sao mi không khóc, bây giờ mới khóc là lý gì? Tên đầu bếp đáp: - Tôi khóc đây là khóc thế cho ông chớ phải vì bị đánh mà khóc đâu! Tôn Tẩn hỏi: - Sao mi lại khóc thế cho ta? Tên đầu bếp đáp: - Vì thấy ông đôn hậu mà gặp phải bạn bạc nghĩa vô tình. Dứt lời, nó kề miệng vào tai Tôn Tẩn mà thuật rõ những lời vợ chồng Bàng quyên vừa nói.Tôn Tẩn nghe qua buồn rầu lắm song cũng dằn lòng, ăn cơm trưa xong, bảo đầu bếp dọn cất, rồi rửa tay ngồi lại vào viết thiên thơ. Tôn Tẩn vừa chấm mực kéo bút ra khỏi nghiên thì có mấy con ruồi bu đeo ngòi bút. Đuổi thế nào cũng vậy hễ bay ra rồi lại đáp vào. Tôn Tẩn lấy làm lạ không hiểu có điều gì. Về sau, Tôn Tẩn cố kê bút lên giấy định viết, đặng cho ruồi nọ không còn đeo được, nhưng lạ thay, ruồi nọ bay quần quần theo ngòi bút, bệt mực xuống giấy, thàng ra ba chữ: "Nên giả điên". Tôn Tẩn chẳng rõ ba chữ ấy là gì, đương còn suy nghĩ, bỗng con a đầu ở nhà trong aÜm con của Bàng Quyên là Bàng Anh ra thơ phòng chơi. Tới trước mặt Tôn Tẩn, chẳng rõ có quỷthần sai khiến hay không mà Bàng Anh bỗng nói rằng: - Tôn Tẩn ơi, ngươi hãy viết thiên thơ cho mau đi, kẻo cha ta chờ không được sẽ viết người đa! A đầu nghe nói kì, aÜm Bàng Anh đi tuốt, Tôn Tẩn gật đầu nghĩ thầm rằng: "Quả Bàng Quyên muốn giết ta mà!Lời trẻ con bao giờ cũng là thật, ta phải tin. Bây giờ đương mắc nạn to, còn đợi chi nữa mà chưa mở hộp của thầy ta cho lúc xuống núi để tìm cách gỡ nạn." Nghĩ đoạn, Tôn Tẩn bèn lần lưng móc hộp ra, giở nắp lên thấy bên trong có một phong giấy, trên phong giấy có hai bài thơ như vầy: "Vân Mộng có ông Quỷ Cốc tiên Dạy trò Tôn Tẩn với Bàng Quyên Vô nghì đến nỗi đổi chặt chân bạn Ba quyển thiên thơ mãi chờ truyền. Trong hộp đựng cho mấy khúc ca, Hãy xem cho kỹ rồi suy ra. Muốn đi cho khỏi nhà người nghịch Phải giả điên cuồng tai nạn qua". Tôn Tẩn xem thơ nói thầm rằng: - Té ra thầy ta dạy ta giả điên đặng lánh họa đây chi? Nói rồi mở phong giấy ra, thấy trong đó là thuốc tán, trong thuốc tán có miếng giấy đề chữ "Thuốc thoa chân". Tôn Tẩn cả mừng bôi thuốc vào vết chân, chẳng bao lâu các vết đều lành, hết đau nhức. Bây giờ Tôn Tẩn khởi đầu giả điên, đốt hết những tờ giấy đã viết thiên thơ mà xé ráo, thồn vào họng nhai nhỏ nuốt xuống bụng, kế đến xé áo xé quần, rồi đập phá đồ đạc trong thơ phòng vừa phá vừa la, vừa cười vừa khóc. Trẻ nhỏ ở hầu Tôn Tẩn thấy vậy lật đật chạy cho Bàng Quyên hay. Bàng Quyên đi vào thơ phòng kêu rằng: - Anh làm gì vậy? Tôn Tẩn chẳng nói xách ghế đánh vào mặt Bàng Quyên. Bàng Quyên né khỏi rồi hỏi: - Anh không biết tôi à! Đừng làm như vậy chớ! Tôn Tẩn nói: - Biết, ta biết mày là thần lục đinh, lục giáp. Ta vâng lịnh trời đánh mày. Nói dứt lại chụp ghế đánh nữa. Bàng Quyên né khỏi rồi sai gia đồng đi lấy chén cơm và xúc một chén phân để thử coi Tôn Tẩn ăn thứ nào để xem là điên giả hay điên thật. Gia đồng vâng lịnh đi một lát, trở lại, đem chén cơm và chén phân để trước mặt Tôn Tẩn. Tôn Tẩn đem cả hai chén trộn lại rồi vãi ra tứ tung. Bàng Quyên nói: - À, anh này điên thật, hồi trước ảnh thề với ta, hễ ai phụ nghĩa thì trời phạt làm cầm thú. Nay chắc ảnh có làm điềiu chi bội nghĩa nên trời phạt đấy. Nói dứt sai gia đinh bắt Tôn Tẩn đem xiềng ngoài vườn hoa sau nhà để xem bịnh tình ra thế nào. Tôn Tẩn bị xiềng ở hoa viên, thanh tịnh vô ngần, buồn rầu đáo để, may nhờ có tên đầu bếp mọi khi lén lui tới cho cơm canh ăn, nên cũng được an thân. Thấm thoát mà mùa đông đã tới. Một hôm trăng tỏ, trời thanh vì cảm hoài. Tôn Tẩn chỉ tay vào cội tòng trong vườn mà đọc một bài tứ tuyệt như vầy: Trước mắt tòng cội trăm thước cao, Họ Bàng coi rẻ biết là bao, Có khi ngọn thọc mây xanh đó Làm cội chống trời ai biết đâu! Tôn Tẩn ngâm dứt bỗng trên không có tiếng nói: - Tôn tiên sinh ngâm thật hay! Tiếng vừa dứt thì có người mặt giòi phấn, mắt sáng như sao, mình mặc áo trắng, đầu đội khăn be, cưỡi mây sa xuống trước mặt Tôn Tẩn mà nói: - Tôi là học trò của Huất Liêu, tên Vương Ngao, nhân thấy tiên sinh bị nạn nên tới an ủi. Vì tiên sinh có nạn một ngàn ngày, phải ráng dằn lòng mà chịu, chớ tôi đi vân du sáu nước, khuyên dụ các hầu vương, ai có cách rước tiên sinh ra khỏi Nghi Lương, sẽ được tiên sinh giúp đỡ mà lo nghiệp cả. Nói dứt lời Vương Ngao liền cưỡi mây bay đi. Cách ít lâu, tới ngày sinh của Thoại Liên công chúa. Bàng Quyên mở tiệc mời các quan và các phu nhân, tiểu thư tới dự yến. Nhà trước thì Bàng Quyên thết đãi các quan, nhà sau công chúa lo đãi các phu nhân, tiểu thư. Phu nhân và tiểu thư nào đi dự tiệc cũng có đem a hoàng theo. Lúc các bà, các cô ăn uống, a hoàng rãnh rang bèn rủ nhau ra vườn hoa chơi. Ai dè khi tới cửa vườn thì thấy cửa đóng khóa kỹ lưỡng. Đứa a hoàng nào trong mình cũng có đeo sâu chìa khóa của chủ. Khi thấy cửa vườn khóa chúng bèn hè nhau mở thử. Đứa này mở không được đứa khác mở. May mắn mở được, chúng nó kéo nhau đi vào. Hôm ấy Tôn Tẩn chỉ bị nhốt trong vườn chớ không bị xiềng như mọi khi. Nhờ dịp đó, Tôn Tẩn nép mình ra khỏi cửa rồi vừa đi vừa la hét ầm lên. Các quan ở nhà ngoài nghe có tiếng la không hiểu việc gì bèn hỏi thăm Bàng Quyên, Bàng Quyên đáp: - Đó là tiếng la gào của Tôn Tẩn, vì từ ngày y bị chặt chân tới nay thì điên luôn. Các quan nói: - Y đã điên thì thả cho y đi cầm nhốt làm chi cho thêm rộn? Bàng Quyên nói: - Tôi cũng muốn thả, song sợ y giả đặng đặng thoát thân. Nếu y không điên, và ra khỏi nơi này thời nước Nguỵ sẽ có hoạ. Các quan nói: - Vậy phiền phò mã cho người dắt Tôn Tẩn tới đây chúng tôi xem điên giả hay điên thật. Bàng Quyên khen phải sai tả hữu bắt Tôn Tẩn tới. Chẳng biết Tôn Tẩn tìm đâu được một miếng giấy đỏ giả làm lá cờ, cầm tay phất qua quơ lại, vừa phơ phất vừa la hét mà theo chân tả hữu đi tới trước tiệc. Các quan nhìn thấy bộ tướng Tôn Tẩn xanh xao, đầu tóc bù xù, áo quần rách rưới, miệng nói làm xàm, thì nói với Bàng Quyên rằng: - Quả là điên thật, nếu nói Tôn Tẩn giả điên thì sao hình dáng lại tiều tụy đến thế ấy. Thôi, phò mã nên thả cho nó đi đâu thì đi cho xong. Bàng Quyên nghe theo lời. Các quan sai tả hữu kéo Tôn Tẩn ra khỏi phủ. Tôn Tẩn bị chúng đẩy ra, lại cố chạy vào, mãi như vậy nhiều lần kẻ tả hữu đuổi ra khỏi ngõ và đóng cửa lại. Tôn Tẩn ra khỏi ngõ còn kiếm hai hòn đá to, đập vào cửa rầm rầm, bảo phải mở chpo mình trở vào vườn hoa mà chơi. Kêu réo thế nào cũng chẳng được. Tôn Tẩn bèn đi rảo ra đường, kêu gào lý hát, vởn vơ tối ngày, rồi kiếm chái hè của dân chúng nằm mà ngủ. Cứ mãi như vậy, ngày thì đi nghêu ngao ngoài đường chơi giỡn với con nít, tối vào quán đình mà ngủ. Bàng Quyên thấy vậy cũng hơi yên lòng. Thường ngày Tôn Tẩn ở ngoài đường, hễ gặp các quan đi qua là mốc đất hốt bùn chọi vãi vào bất kể mình người ngựa. Các quan cũng cho là đứa diên thằng dại, chỉ bỏ qua và lánh mặt mà thôi. Một hôm Tôn Tẩn gặp Bàng Quyên đi chầu, bèn hốt phân người vãi nhầm mình. Bàng Quyên sải ngựa tránh ngã khác rồi sai tả hữu đuổi Tôn Tẩn đi cho xa. Khi tan chầu, các quan thấy Bàng Quyên buồn thì hỏi thăm duyên cớ. Bàng Quyên tỏ việc bị Tôn Tẩn ném phân trúng mình cho các quan chức nghe. Các quan nghe vậy điều khuyên Bàng Quyên nên đuổi Tôn Tẩn ra khỏi nước Ngụy hầu tránh khỏi các việc lôi thôi.Bàng Quyên không nghe định sẽ giam Tôn Tẩn vào một nơi khác. Hồi 7 Tên oan nghiệt vào vườn bá hoa Lửa vô tình đốt viện Ty Điện Bàng Quyên bực mình vì Tôn Tẩn nên về phủ nghĩ ra một kế, cho đòi bọn ăn mày ở viện Tỵ Điền tới giao chúng nó phải giữ gìn Tôn Tẩn cho kỹ, nếu sơ thất sẽ trị tội cả bọn. Từ đó Tôn Tẩn bị bọn ăn mày ở viện Tỵ Điền đem về thay nhau mà giữ rất nghiêm nhặt. Nói về nước Tần, ngày nọ vua Hiếu Công ra triều có quan Huỳnh môn vào tâu rằng: - Ngoài ngỏ có một đạo nhân khóc ba tiếng, cười ba tiếng rồi xin vào ra mắt thánh thượng. Hiếu Công cho mời đạo nhân vào hỏi rằng: - Đạo sĩ ở núi nào, tên chi, vì cớ sao mà khóc rồi cười? Đạo sĩ tâu: - Bần đạo họ Vương tên Ngao, học trò của Huất Liêu ở Di Sơn. Bần đạo khóc ba tiếng là khóc thương cho người họ Tôn tên Tẩn ở nước Yên vì người ấy lên núi Vân Mộng học đạo với Quỷ Cốc được thông thiên thơ, giỏi bát môn độn pháp, lục giáp linh văn, kêu gió thét mưa, khiến đá làm binh, tưởng đâu có lúc rồng nọ gặp mây, ai dè bị anh em bạn là Bàng Quyên, phò mã nước Ngụy, sợ Tôn Tẩn giúp nước nào khác thì có hại cho mình, nên ba lần sai người lên non rước Tôn Tẫn về Ngụy rồi kiếm cách chận chân và giam cầm ở Tỵ Điền viện. Còn bần đạo cười là cười các nước chư hầu không nước nào biết dùng kẻ anh tuấn. Nếu nước nào sai người vào Ngụy lén đem Tôn Tẩn về phò tá thì non sông yên ổn, xã tắc bền vững. Nay bần đạo tới Tần cũng bởi ý ấy. Hiếu Công nghe Vương Ngao nói dứt bèn phán: - Trẫm đâu có dè bậc anh tài đương mai một ở nước Ngụy, nếu không có tiên sinh chỉ cho thì đã bỏ qua một cuộc may ít có. Phân dứt lời, một mặt truyền Quang Lộc đại phu lo khoản đãi Vương Ngao, một mặt hỏi các quan coi có ai dám lãnh mạng sang Ngụy trộm Tôn Tẩn về. Hỏi đến Võ An Quân là Bạch Khởi thì Khởi xin đi. Hiếu Công hỏi: - Khanh làm sao đi được? Bach Khởi tâu: - Lúc này Bàng Quyên đương ỷ tài hống hách muốn bắt các nước cung thần nên lập bài Đại Ngôn. Vậy bệ hạ nên viết tờ hàng biểu, thần đem theo mình mượn tiếng là đi xin hàng phục, thì khắc vào được trong nước Ngụy. hiếu Công khen phải, viết hàng biểu và ra lịnh cho Bạch Khởi sang Ngụy. Nói về Bạch Khởi đem ít tên tùng nhân đi sang nước Ngụy vào yết kiến Ngụy vương rồi dâng hàng biểu lên và tâu rằng: - Nước chúng tôi nghèo thiếu lắm muốn đem cống lễ sang nạp song không lấy đâu cho có, vậy nay xin xưng thần còn cống lễ thì hẹn về sau. Ngụy vương nhận tâu rồi truyền quan khoản đãi Bạch Khởi. Sau khi tạ từ vua Ngụy ra ngoài, Bạch Khởi liền cải dạng làm anh tú tài lên tới huyện Tỵ Điền để tìm Tôn Tẩn. Tới nơi thấy ăn mày đông có trên ngàn đứa, không biết đứa nào là Tôn Tẩn, Bạch Khởi chưa kịp hỏi, thì ở chỗ thềm thấp kia có người chống hai cây gậy cuối mặt ca rằng: Nhờ non sông nảy sinh anh tuấn, Cha con mấy người thảy oai chấn Bỏ cha mẹ đi tìm thầy tiên, Học đạo bấy năm núi Vân Mộng Thông hiểu thiên thơ và linh văn, Có tài hươi gươm trời đất động, Kêu mưa, hú gió việc thường chơi, Quăng đâu làm binh ai dám chống. Nào rõ mạng vận sao đảo điên, Sa vào thiên la rồi địa võng. Ai tưởng ta điên, ừ điên ngay, Ấy ta giả bộ người lêu lỏng. Một ngày ta xem như một năm, Nằm gai nếm mật mãi mong ngóng. Mong ngóng người nào tới cứu ta, Ta nguyện thắp hương tạ Ơn trọng. Bạch Khởi chờ người ca dứt, bước lại gần kêu nhỏ rằng: - Tôn tiên sinh đó à? Tôn Tẩn ngó lên cười rằng: - Bạch đại nhân nghe ca mới nhìn được tôi, không thì tìm cả kiếp cũng chẳng được! Bạch Khởi nói: - Lạ thay, tôi chưa tỏ tên họ sao tiên sinh lại biết, hay là tiên sinh biết rõ việc đã qua và việc chưa tới? Vậy tiên sinh biết làm gì hay không? Tôn Tẩn nói: - Đại nhân vâng lời Tần chúa tới trộm tôi ra khởi nước Ngụy! Bạch Khởi đáp: - Tiên sinh biết trước như vậy thật là bậc tiên tri. Tôi tới đây chỉ vì ý đó! Tôn Tẩn nói: - Uổng công đại nhân lặn lội tới đây vô ích. Tôi vốn có nạn một ngàn ngày, nay nạn chưa khỏi hạn, khó mà đi được. Đại nhân chớ ở đây lâu mà bị hại, lát nữa sẽ có người của Bàng Quyên tới rình chúng ta. Đại nhân hãy về nước. Sau này tôi sẽ có dịp giúp đại nhân một tay. Bạch Khởi nghe Tôn Tẩn nói quả quyết như vậy không trả lời được nữa bèn cáo từ lui ra, rồi trở về nước tâu lại cho vua Trần hay. Lại nói qua Vương Ngao sang nước Sở hiểu dụ cho vua Sở cứu Tôn Tẩn về mà dùng. Vua Sở nhận lời sai Huỳnh Hiệp giả vào Ngụy nộp cống lễ để trộm Tôn Tẩn. Huỳnh Hiệp đi vào Nguỵ trộm cũng không được. Vương Ngao lại sang hiểu dụ Ở nước Hàng và nước Triệu. Hàng vương sai Trương Xa, Triệu vương sai Liêm Pha, đều giả vào nộp cống để trộm Tôn Tẩn, song cũng không trộm được. Vương Ngao đi giáp bốn nước mà vẫn chưa xong việc Tôn Tẩn thì nghĩ thầm rằng: "Có lẽ bốn nước đó chẳng có duyên với bậc đại tài vậy!". Bây giờ nói về Bàng Quyên đã nhiều phen bày mưu với Châu Hợi để tìm cách giết Tôn Tẩn. Mỗi lần bàn là mỗi lần bị Châu Hợi bác đi. Ngày nọ Châu Hợi đi vào viện Tỵ Điền thăm Tôn Tẩn. Vào tới nơi thấy Tôn Tẩn nằm trên thềm đá vỗ tay vào đá mà ngâm rằng: Cội tòng trăm thước cao rườm rà. Ngọn quét mây chiều đón gió qua, Nhánh tủa sum xuê mà kể số! Lá che rậm rạp biết bao xa. Khi đưa chim phụng về Nam hải, Lúc đón vua rồng lại Bắc a. Nếu gặp xuân về thêm tốt rợp, Có khi rường cột chống muôn tòa. Tội thấy chú tiều không tai mắt. Xách búa hăm hở đi trẩy qua, Dòm ngó dáo dát cây tòng tốt. Rồi hươi búa chặt nhánh vài ba. Ừ ừ lúc khóc lúc cười ca. Như thể cá ở trong rọ mà, Ai dám buông tha ra biển cả. Thành rồng ngày ấy chẳng bao xa. Châu Hợi nghe dứt bước tới hỏi rằng: - Tiên sinh giả điên à? Tôn Tẩn không đáp. Châu Hợi lại nói: - Tiên sinh chớ nghi tôi, Bàng Quyên định kế hại tiên sinh, song mấy lần bàn với tôi, tôi điều bác cả. Tôn Tẩn nói: - Ông đã mách cho tôi hay thì tôi cũng mách cho ông biết. Ông sẽ có cái nạn một trăm ngày. Châu Hợi thất kinh nói: - Tiên sinh cứu tôi được chăng? Tôn Tẩn nói: - Ông nên lánh đi một trăm ngày là được. Châu Hợi nghe dứt, trở về phủ tỏ lại cho phu nhân hay. Lưu phu nhân nói: - Tôn Tẩn là học trò của Quỷ Cốc biết việc quá khứ vị lai, vậy ông nên nghe theo lời y mà tránh đi một trăm ngày cho xong, mai này tôi vào triều tâu rằng ông đau, nên nghỉ chầu ở nhà dưỡng bịnh. Chừng nào qua khỏi tai nạn sẽ ra mặt. Châu Hợi khen phải. Hôm sau Lưu phu nhân vào triều xin phép cho chồng nghỉ chầu. Châu Hợi lánh mặt mãi như vậy vừa được chín mươi chín ngày, tới ngày chót buồn lòng ra sau vườn chơi. Vừa đi tới vườn bỗng thấy có một con quạ đậu trên vách ngó mình mà kêu rất thê thảm. Châu Hợi giận quá lấy cung tên ra nhắm nó mà bắn. Tên bay ra không trúng quạ, lại xẹt qua vườn nhà bên cạnh. Nguyên vườn bên cạnh là vườn hoa của quan thừa tướng Trịnh An Bình. An Bình có một nàng con gái tên là Ái Liên năm nay tuổi lên bảy, sắc đẹp vô song, nên An Bình cưng lắm. Ngày ấy, Ai Liên cùng các thị tì ra sau vườn hoa chơi giỡn. Ái Liên vừa leo lên cây đu để xích, chẳng dè có một mũi tên từ bên kia bay qua găm vào giữa ngực, nàng liền nhào xuống đất chết liền. Các thị tì lớp đỡ Ái Liên lớp la ré lên. Cả thảy không ai biết tên từ đâu bắn lại. Đương lúc ngơ ngẩn ấy, một đứa gia đồng của Châu Hợi bắc thang leo lên đầu vách kêu bọn thị tì hỏi rằng: - Lão gia tôi vừa bắn lạc một mũi tên qua đây các cô nương có gặp chăng? Các thị tỳ la rập lên rằng: - À, vậy thời chủ mày đã bắn chết tiểu thơ ta rồi. Ở láng giềng mà như vậy để rồi coi! Chúng nó la dứt liền cầm mũi tên đem vào trong phủ báo rõ đầu đuôi cho Trịnh An Bình hay. An Bình nghe báo có họa, lật đật ra vườn hoa thấy con nằm dưới giá đu thì khóc rống lên rằng: - Châu Hợi ơi, mi ác lắm. Mi giả bịnh đặng ở nhà diễn tập cung mà hầu có tạo phản nên mới bắn nhầm con ta chết oan như vậy! Khóc rồi quày ra lên ngựa chạy thẳng vào triều kêu oan. Ngụy vương nghe kêu oan, liền cho đòi An Bình vào hỏi. An Bình một mực tâu là Châu Hợi âm mưu làm phản diễn tập cung mã nên bắn lạc chết con mình. Ngụy vương không biết thiệt giả, lập tức sai quan quân đi bắt Châu Hợi tới tra hỏi. Châu Hợi cứ thiệt khai rằng: - Vì đau vừa bớt ra dạo vườn hoa, gặp con quạ ngó mình kêu thảm nên giận bắn quạ. Ngụy vương không tin muốn tra tấn song vì mắc đi cầu mưa ở miễu Thiên Tề rất gấp nên dạy giam Châu Hợi vào Nam lao chờ ngày xét hỏi. Vợ Châu Hợi là Lưu phu nhân thấy chồng mắc họa bèn giả cớ đi vào Tỵ Điền viện thí tiền, để tìm Tôn Tẩn mà cầu cứu. Tôn Tẩn thấy Lưu phu nhân tới bèn nói: - Chồng bà không nghe lời tôi nên gây ra họa lớn như vậy! Lưu phu nhân khóc lóc năn nỉ xin Tôn Tẩn cứu chồng. Tôn Tẩn bảo: - Thôi bà hãy về, để chuyện đó mặt tôi. Lưu phu nhân gạt lệ ra về. Đêm hôm ấy, đúng canh ba Tôn Tẩn vẽ phù, niệm thiên la địa văn, rồi giũ tay áo một cái tức thì trên trời sa xuống một hanh tinh đỏ lòm to như cái bánh xe và một định tinh trắng như bạc cũng to như cái chậu. Tôn Tẩn liền thâu hết cả hai vào tay áo. Hôm sau, vua Ngụy lâm triều rồi mà trời vẫn tối mờ. Vua phán hỏi quan Tư thiên vì cớ gì? Quan Tư thiên tâu: - Chẳng rõ cớ chi mà đã tới giờ Thìn mặt trời vẫn không mọc, chẳng những trong triều mà thôi, cho đến ngoài thành cũng như vậy. Vua Ngụy suy nghĩ giây lâu, nghi là trong Nam lao có người bị án oan nên trời u ám. Vì vậy vua bèn hạ lịnh ân xá tất cả tù phạm trong lao ra bất kỳ tội nặng nhẹ. Tôn Tẩn hay tin tù phạm ở Nam lao đã được ân xá bèn làm phép, rồi giũ tay áo, thả hai vầng tinh tú ấy ra. Hai vầng tinh tú ấy chính là Kim ô Bạch thố nghĩa là thể phách của mặt trời, mặt trăng. Cả hai được buông ra liền trở về ngôi cũ. Trời bèn sáng tỏ như thường. Châu Hợi được tha ra hoàn chức cũ thì mừng rỡ hối hả về phủ. Lưu phu nhân nói: - Tại ông không tin lời Tôn Tẩn nên gây họa như vậy. Nếu không có Tôn Tẩn gỡ cứu cho ắt ông đã bỏ thây nơi Nam lao rồi. Châu Hợi nghe nói ngơ ngẩn giây lâu. Lưu phu nhân đem nguyên do mà thuật rõ lại. Châu Hợi nghe dứt cám ơn Tôn Tẩn vô cùng, Lưu phu nhân nói: - Nếu ông muốn đền ơn Tôn tiên sinh thì phải đem Tôn tiên sinh về phủ nuôi dưỡng chớ không chi hơn nữa. Châu Hợi nói: - Muốn vậy nhưng làm thế nào được? Phu nhân nói: - Thiếp có một kế là ngày mai chúng ta lo nấu vài thạch cơm, rồi sai người khiêng theo thiếp vào viện Tỵ Điền giả nói rằng lúc ông đau thiếp có cầu nguyện, nếu lành mạnh sẽ bố thí cho người nghèo. Nay ông qua khỏi bịnh, thoát khỏi họa nên thiếp đem cơm đi trả lễ. Hễ thiếp vào được trong viện Tỵ Điền, thì sẽ năn nỉ Tôn tiên sinh về phủ nuôi dưỡng mà đáp ơn. Châu Hợi nghe vợ nói khen ngợi vô cùng. Ngày hôm sau sắp sửa cơm canh xong. Lưu phu nhân bảo gia nhân khiêng thạch cơm theo mình vào viện Tỵ Điền phân phát cho đám ăn mày. Phân phát xong, phu nhân bèn tới ra mắt Tôn Tẩn tỏ hết ý của vợ chồng mình. Tôn Tẩn nghe dứt nói rằng: - Không được! Hôm nay tôi chưa lìa bỏ chỗ này mà đi đâu cả. Nếu Châu đại nhân có lòng tốt, thì tới ngày Mậu Ngọ tháng sau tới tại miễu Ngô Khởi mà đón tôi, nhưng cũng phải giữ kín miệng đừng cho ai hay mà mắc họa. Tới ngày ấy, Bàng Quyên sẽ đốt Tỵ Điền viện mà giết tôi. Tôi chờ y đốt viện rồi tôi mới đi thì được yên sự, vì nó ngỡ là tôi chết cháy, ắt không tìm hỏi đâu nữa. Thôi, lời tôi dặn đã cặn kẽ, phu nhân hãy nhớ và giữ kín giùm! Lưu phu nhân nghe dứt, gật đầu từ tạ Tôn Tẩn rồi trở về phủ nói rõ lại cho Châu Hợi hay. Ngày giờ mau như thoi đưa, lật bật mà đã đến ngày Mậu Ngọ. Châu Hợi y hẹn đem gia đồng lén tới miễu Ngô Khởi mà chờ. Tôn Tẩn ở trong viện Tỵ Điền làm phép mù trời tối đất rồi chống gậy trầm hương ra miễu ấy. Châu Hợi thấy Tôn Tẩn tới bèn hối đi với mình về phủ. Tôn Tẩn nói: - Chưa đi vội được. Hãy chờ một lát nữa Bàng Quyên phóng lửa đốt viện rồi sẽ đi. Thật như lời, tới canh hai, Bàng Quyên và lũ bộ hạ mang cỏ khô, củi, bổi và dầu tới. Chúng nó đóng cửa viện lại, chất các món nhạy giáp vòng rồi đánh lửa lên đốt. Ôi, trong giây lát tòa viện Tỵ Điền trở nên đống than đỏ, hơn ngàn kẻ ăn mày đã thành ra ma! Tôn Tẩn thấy lửa cháy rồi, bèn cùng bọn Châu Hợi đi về phủ. Bàng Quyên kể chắc Tôn Tẩn đã chết thiêu nên cũng yên lòng. Sáng ngày vua Ngụy ra triều, các quan đem việc cháy việc Tỵ Điền mà tâu. Vua thở ra rồi hỏi: - Vì sao trong viện Tỵ Điền lại có cuộc lửa cháy hại nhiều sanh linh như vậy? Bàng Quyên tâu: - Ấy là mưu của Tôn Tẩn. Y muốn trốn ra khỏi nước Ngụy nên đốt viện giả là mình đã chết cháy cho khỏi bị tập nã. Nay không nên lầm mưu của y. Bệ hạ nên hạ lịnh họa đồ hình Tôn Tẩn treo khắp các cửa thành để xét bắt cho kỳ được. Ngụy vương nghe tâu khen phải, lập tức hạ lịnh họa đồ hình Tôn Tẩn sai đi tầm nã. Nói lại Vương Ngao đi hiểu dụ bốn nước rồi đều không ai cứu được Tôn Tẩn. Bây giờ ông ta lại sang nước Yên. Bữa nọ, nhầm buổi chầu, Vương Ngao tới trước cửa triều nước Yên khóc ba tiếng, rồi """