🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Warren Buffett - 22 thương vụ đầu tiên và bài học đắt giá từ những sai lầm Ebooks Nhóm Zalo a Mục lục 1. Lời nói đầu của Lawrence Cunningham 2. Lời giới thiệu 3. PHẦN 1 - THIẾT LẬP BỐI CẢNH 4. Câu chuyện về Warren Buffett 5. PHẦN 2 - CÁC THƯƠNG VỤ ĐẦU TƯ 6. Thương vụ số 1: Cities services 7. Thương vụ số 2: GEICO 8. Thương vụ số 3 và 4: Nhà máy Cleveland Worsted và Trạm Xăng 9. Thương vụ số 5: Công ty Rockwood 10. Thương vụ số 6: Công ty Sanborn Maps 11. Thương vụ số 7: Nhà máy Dempster 12. Thương vụ số 8: American Express 13. Thương vụ số 9: Disney 14. Thương vụ số 10: Berkshire Hathaway 15. Thương vụ số 11: Công ty bảo hiểm National Indemnity 16. Thương vụ số 12: Hochschild-Kohn 17. Thương vụ số 13: Associated Cotton Shops 18. Thương vụ số 14: Đầu tư vào các mối quan hệ 19. Thương vụ số 15: Ngân hàng Quốc gia và Quỹ tín thác Illinois 20. Thương vụ số 16: Thời báo Omaha Sun 21. Thương vụ số 17: Thêm các công ty bảo hiểm 22. Thương vụ số 18: Sự đầu tư đúng mực của Buffet 23. Thương vụ số 19: Công ty tem Blue Chip 24. Thương vụ số 20: Công ty bánh kẹo See's Candies 25. Thương vụ số 21: Thời báo Washinton Post 26. Thương vụ số 22: Công ty tài chính Wesco 27. Sự hợp nhất - Mọi thứ sáp nhập vào Berkshire Hathaway 28. Chú thích Lời nói đầu của Lawrence Cunningham Những điều cuốn sách này chia sẻ B ắt đầu với số tiền tiết kiệm 120 đô từ khi còn là một đứa trẻ 11 tuổi vào năm 1941, nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới, Warren Buffett, đã tốn khoảng bốn thập kỷ để kiếm được 100 triệu đô la đầu tiên. Cuốn sách này dõi theo các thương vụ ông đã thực hiện trong 37 năm, lý giải nguyên nhân đằng sau mỗi khoản đầu tư quan trọng và cho ta thấy cách ông đã tích lũy tài sản từ khi bắt đầu sự nghiệp của mình. Không hiểu biết về đầu tư cổ phiếu ngay từ đầu, Buffett đã phải phát triển triết lý đầu tư của mình, và học hỏi thông qua những thành công cũng như thất bại trong việc lựa chọn các công ty có giá trị. Cuốn sách nói về việc triết lý đầu tư của Buffett đã được phát triển như thế nào và điều đó đã mang đến bài học gì cho các nhà đầu tư ngày nay? Không phải mọi chuyện đều xuôi chèo mát mái với Buffett, đã có rất nhiều sai lầm trên đường đi. Có những giai đoạn dài của sự thất vọng trộn lẫn với thành công. Việc trên thực tế Buffett cũng từng sai lầm giúp trấn an các nhà đầu tư khác. Thật an ủi khi biết rằng một người cuối cùng làm nên hàng tỷ đô cũng từng hay mắc lỗi. Nó giúp chúng ta kiên cường trước những thất bại của chính mình. Sai lầm lớn nhất của tất cả chúng ta là mặc định rằng các nhà đầu tư phải luôn hoàn hảo. Về mặt tâm lý, các nhà đầu tư phải chuẩn bị cho rất nhiều những cú ngoặt, những cú đánh sai, để rồi phản công lại. Và sẽ luôn hữu ích khi nhớ rằng chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm của người khác cũng như của chính chúng ta; còn ai tốt hơn để học hỏi ngoài Buffett và nhận định của ông về những sai lầm của chính mình? Trọng tâm của cuốn sách này là để phân tích các giao dịch đầu tư, bởi thế tôi ít chú tâm đến cuộc sống cá nhân của Buffett. Nếu bạn đang tìm kiếm một cuốn tự truyện, cuốn sách này không dành cho bạn. Tuy nhiên, nếu bạn muốn trở thành một nhà đầu tư giỏi hơn và muốn tìm hiểu cách làm thế nào một người có thể kiếm được một khoản tiền lớn bằng cách tuân theo các nguyên tắc đầu tư đúng đắn, thì bạn hãy đọc tiếp. Đối tượng của cuốn sách này Cuốn sách này dành cho các nhà đầu tư muốn học hỏi, hoặc cần được nhắc nhở để luôn ghi nhớ trong đầu các quy tắc quan trọng phục vụ đầu tư thành công. Quá trình học hỏi được thiết lập trong khuôn khổ của một loạt nghiên cứu hấp dẫn về các giao dịch đầu tư của Warren Buffett. Cuốn sách này được cấu trúc như thế nào Cuốn sách này theo đuổi hành trình chinh phục 100 triệu đô la đầu tiên của Buffett. Chúng tôi bắt đầu với thương vụ đầu tư vào thị trường chứng khoán đầu tiên của Buffett khi ông còn là một cậu bé và xem xét lại lịch sử của 22 trong tổng số các khoản đầu tư của ông. Phần 2 được sắp xếp như một loạt các chương tập trung lần lượt vào các giao dịch này. Bạn có thể lướt qua và đọc riêng lẻ các giao dịch bạn đặc biệt quan tâm nếu muốn, nhưng trước tiên tôi khuyến khích bạn đọc theo thứ tự thời gian để thấu hiểu Buffett đã phát triển với tư cách một nhà đầu tư như thế nào. Mỗi câu chuyện trong cuộc hành trình đều có những bài học hữu ích cho chúng ta hôm nay. Tôi sẽ không mô tả toàn bộ các khoản đầu tư Buffett thực hiện trong 37 năm - điều đó sẽ khiến cuốn sách này trở nên quá dài. Chỉ có những nghiên cứu điển hình để lại tác động lớn nhất lên sự giàu có của Buffett và triết lý của ông mới được chọn để phân tích. Trước khi tôi bắt đầu đi vào xem xét một loạt các giao dịch, Phần 1 bao gồm hai chương giới thiệu rất quan trọng giúp đảm bảo cho bạn đọc thu được nhiều giá trị nhất từ cuốn sách này. Chương đầu cung cấp một bản tóm tắt ngắn gọn các thỏa thuận đầu tư được đề cập đến trong Phần 2. Trong chương thứ hai, tôi nghiên cứu về việc Benjamin Graham đã ảnh hưởng đến triết lý đầu tư của Buffett như thế nào. Một lưu ý về các chữ viết tắt thông dụng: Tôi sử dụng chữ viết tắt BPL để chỉ Buffett Partnership Ltd. - Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hợp tác Buffet, vốn là công ty hợp tác đầu tư của Warren Buffett trong giai đoạn đầu của sự nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu và viết cuốn sách này, tôi đã đọc rất nhiều lá thư Buffett viết cho các đối tác của mình trong BPL. Những lá thư này có sẵn trên mạng internet. Tôi cũng sử dụng BH để viết tắt cho Berkshire Hathaway. Lời giới thiệu Những điều cuốn sách này chia sẻ C uốn sách được khởi nguồn từ cách đây khoảng bốn năm khi tôi quyết định ngừng các hoạt động khác để cho phép bản thân tập trung đầy đủ vào đầu tư thị trường chứng khoán. Điều này có nghĩa là từ bỏ nhiệm kỳ giáo sư, ngừng việc giảng dạy đang mang lại tài chính cho tôi ở thành phố London và, mỉa mai thay, rút hẳn về phía sau để viết sách. Là một phần của quá trình đầu tư toàn thời gian mới, để tạo ra một bản ghi nhớ về quá trình logic tôi đã trải qua để lựa chọn các cổ phần, tôi đã viết những bài blog ngắn đưa ra phân tích của mình trên một trang web miễn phí đơn giản. Tôi cảm thấy thật xúc động khi buộc phải thể hiện rõ ràng và công khai những lý do tại sao tôi đã phân bổ vốn một cách cụ thể như vậy. Và bên cạnh đó, trí nhớ của tôi tệ đến nỗi tôi cần một cách để vài tháng sau nhớ lại lý do mình đã thực hiện những khoản đầu tư đó. Sau này, tôi đã được trang web đầu tư ADVFN mời viết bài trên trang bản tin của họ. Tôi chấp nhận và một phần những gì tôi viết đã trở thành một loạt các bài viết về các giao dịch đầu tư của Warren Buffett. Cuốn sách này được tạo nên từ những bài viết đó. Câu hỏi “Tại sao?” Bạn có thể nghĩ rằng Buffett đã được quá nhiều người khai thác và chẳng còn gì mới để nói nữa, nhưng khi đọc những tư liệu đó, tôi đọng lại một cảm giác không thoả mãn. Nhiều tác giả viết về Buffett tập trung vào việc ông đầu tư cái gì và kiếm được bao nhiêu từ những khoản đầu tư đó. Nhưng tôi muốn biết tại sao. Những điểm đặc biệt nào của các công ty Buffett chọn đã khiến chúng trở nên nổi bật? Có phải khác biệt nằm ở những con số trong bảng cân đối kế toán, lịch sử lợi nhuận, chiến lược định vị hay trong những phẩm chất quản lý? Tôi muốn biết chi tiết. Làm thế nào để Buffett đi từ bước này sang bước khác, từ việc gần như không có đồng nào để trở nên vô cùng giàu có? Đối với mỗi bước tiến chính của ông, tôi luôn cố gắng hiểu sâu hơn dưới góc độ tại sao. Đối với mỗi khoản đầu tư, việc này đòi hỏi một sự điều tra từ đầu và việc sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau. Ưu tiên của tôi là tập trung vào các tài liệu phân tích về các công ty mà Buffett đã lựa chọn và tôi không dành nhiều thời gian cho cuộc sống cá nhân của Buffett, điều vốn đã được đề cập ở những cuốn khác. Bởi lẽ đó, bạn sẽ không tìm thấy nhiều về cuộc sống cá nhân của Buffett trong cuốn sách này. Có hàng chục thỏa thuận đầu tư quan trọng cần được nhắc đến và mỗi thương vụ đều cần một phân tích đầy đủ. Sẽ thật không công bằng nếu chúng bị nhồi nhét vào trong một cuốn sách và vì vậy, tôi nghĩ việc cuốn sách dừng lại tại thời điểm Buffett đạt được mốc quan trọng 100 triệu đô giá trị tài sản ròng, khi ông hợp nhất tất cả các khoản đầu tư vào một công ty cổ phần mang tên Berkshire Hathaway là đúng đắn. Ông làm việc này vào năm 1978, ở độ tuổi 48, và đó là nơi cuốn sách đầu tiên trong loạt sách này kết thúc. Mối liên kết với Buffett Tôi đã được mở mang tầm mắt trước sự phong phú về mặt ý tưởng của Buffett nhiều năm trước đây. Một cách tự nhiên, tôi đã trở thành một cổ đông của Berkshire Hathaway, và thường xuyên tới thăm Omaha trong Đại hội đồng cổ đông của Berkshire Hathaway. Giai thoại yêu thích từ các chuyến viếng thăm Omaha là khi tôi, chỉ mình tôi, đã buộc Buffett phải bỏ ra 40 tỷ đô la. Bạn có thể nghĩ rằng Buffett là một người rất mạnh mẽ và không dễ bị ảnh hưởng chỉ bởi một vị khách người Anh. Nhưng tôi biết những điều khác nữa - và tôi biết mình đã đúng! Việc này xảy ra vào năm 2006 khi Bill Gates (tôi đang nhắc đến cái tên này một cách nghiêm túc đấy) đang ngồi cùng Buffett. Gates là bạn thân của Buffett, đồng thời cũng là giám đốc của Berkshire Hathaway. Tôi cảm ơn Gates vì những việc tuyệt vời mà ông và Melinda - vợ ông đã làm với Tổ chức của họ - tôi đã rất xúc động, có lẽ là hơi quá một chút. Rồi tôi quay sang Buffett, người đang đứng ngay cạnh lắng nghe và nói: “Cảm ơn ông vì tất cả những gì ông đang làm cho cổ đông của Berkshire Hathaway." Tôi không biết tại sao, nhưng giọng nói của tôi có vẻ không hứng khởi về những thành tựu của Buffett như cách tôi đã nói về những nỗ lực của Gates. Bạn có tin không? Chỉ vài tuần sau đó, Buffett đã thông báo rằng ông sẽ chuyển giao cho Quỹ Bill và Melinda Gates phần lớn tài sản của mình, để được sử dụng cho các mục đích từ thiện trên khắp thế giới. Rõ ràng, Buffett đã suy nghĩ sâu sắc về lý do tại sao gã người Anh này lại chẳng mấy ấn tượng bởi Berkshire Hathaway, di sản của ông so với Quỹ Gates, kiến tạo của bạn ông. Ông ấy đã hành động vì điều đó. Đó là của câu chuyện của tôi và tôi sẽ nhất quyết tin vào nó đến ngày tôi chết! Tôi hy vọng bạn sẽ đọc một cách thích thú câu chuyện về cách Buffett đạt được 100 triệu đô la đầu tiên. Glen Arnold, Mùa hè năm 2017 PHẦN 1 THIẾT LẬP BỐI CẢNH Câu chuyện về Warren Buffett S ẽ rất hữu ích để bắt đầu cuốn sách với một bản tóm lược nhanh câu chuyện cuộc đời trong sự nghiệp đầu tư của nhà đầu tư vĩ đại nhất còn sống. Việc này đặt nền móng cho quá trình khám phá các thỏa thuận đầu tư tiếp sau đó. Tuổi trẻ và những mối quan hệ đối tác Buffett thời niên thiếu đã đọc cuốn sách The Intelligent Investor (tạm dịch: Nhà đầu tư thông thái) của Benjamin Graham vào năm 1949. Sau này, ông đã theo học khoá học của Graham tại trường Đại học Columbia và trở thành chuyên gia phân tích chứng khoán cho Graham từ năm 1954 đến năm 1956. Chính những ý tưởng của Benjamin Graham đã hình thành nên nền tảng cho sự thành công của Buffett. Cũng trong thời gian này, khi học hỏi được rất nhiều từ Graham, Buffett đã thực hiện được một số thương vụ đầu tư ngoạn mục, như 48% lợi nhuận chỉ trong vòng vài tháng từ cổ phần của GEICO khi ông 21 tuổi (Thương vụ số 2) và từ sự hưng phát của Công ty bánh quy sô cô la Rockwood, thương vụ giúp cho chàng trai Buffett 24 tuổi tăng hơn gấp đôi khoản đầu tư ban đầu, gia tăng 13.000 đô vào quỹ đầu tư của mình (Thương vụ số 4). Khi trở về nhà ở Omaha, Nebraska, sau khi Graham nghỉ hưu, chàng trai Buffett 25 tuổi đã thành lập một liên doanh đầu tư với bảy người họ hàng và bạn bè, Buffett sẽ là người có quyền đưa ra quyết định đầu tư - lúc này ông mới chỉ có trong tay 105.000 đô la. Hết năm này tới năm khác, lợi nhuận từ sự hợp tác này vượt xa con số chung của thị trường chứng khoán rộng lớn, bởi Buffett đã tìm thấy hết món hời này tới món hời khác, chẳng hạn như phi vụ tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu của Sanborn Maps trị giá hơn nhiều so với giá cổ phiếu của nó - các đối tác kiếm được khoảng 50% lợi tức từ vụ đầu tư đó, khi Buffett mới 29 tuổi (Thương vụ số 6). Các nhà đầu tư khác quan sát những điều Buffett đang làm và muốn ông dùng tiền của họ đầu tư, vì vậy, ông thiết lập một số quan hệ đối tác khác. Ông tìm thấy một số công ty tuyệt vời tạm thời không được Phố Wall ưa thích như American Express (một cú tăng gấp ba giá cổ phiếu cho Buffett – Thương vụ số 8) và Walt Disney (55% lợi nhuận – Thương vụ số 9). Giữa giai đoạn hợp tác ban đầu trong sự nghiệp đầu tư của Buffett (năm tài chính đầu tiên năm 1957) và cuối năm 1968, chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones (Dow Jones Industrial Average – viết tắt là DJIA, hay còn gọi là Dow) tăng 185,7%, nhưng mỗi đô la đầu tư của Buffett tăng lên tới 2,610.6%. Vâng, mỗi 1.000 đô la đầu tư năm 1957 đã trở thành 27.106 đô la trong vòng 12 năm. Sau khi trừ đi phí của Buffett, mỗi đối tác thông thường sẽ nhận được hơn 15.000 đô la. Ngược lại, mỗi 1.000 đô la đầu tư vào Dow năm 1957 sẽ chỉ tăng lên thành 2.857 đô la. Biểu đồ A mô tả hiệu quả hợp tác với Buffett trước và sau khi thu phí, cũng như chỉ số Dow Jones trong giai đoạn này. Xin lưu ý rằng các thương vụ hợp tác khác nhau đã được tập hợp lại về một công ty dưới cái tên Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đối tác Buffett vào năm 1962 - số liệu kết quả của những năm 1957-1961 được hợp nhất từ toàn bộ các quan hệ đối tác này và cũng tương đối giống nhau. Điều tôi sắp nói với bạn có lẽ sẽ gây chú ý hơn nếu trước hết tôi đề cập đến việc ngày nay Berkshire Hathaway là công ty niêm yết lớn thứ tư trên thị trường chứng khoán Mỹ (sau Apple, Alphabet và Microsoft) với vốn hóa thị trường (tổng giá trị thị trường của cổ phần) trên 400 tỷ đô la với giá cổ phiếu là 245.000 đô la. Biểu đồ A: So sánh hiệu quả của chỉ số Dow Jones và của các thương vụ hợp tác đầu tư của Warren Buffett (Giai đoạn 1957 – 1968) a Berkshire Hathaway bước vào bức tranh Năm 1962, Buffett đã sử dụng một phần tiền của các đối tác để mua cổ phần một công ty dệt may tồi tàn ở New England mang tên Berkshire Hathaway. Giá mỗi cổ phiếu trung bình là 7.50 đô la (không, tôi không bỏ quên số 0 nào đâu). Nó đã làm ăn thua lỗ. Đến tháng 5 năm 1964, BPL nắm giữ 7% cổ phần của Berkshire Hathaway. Cổ đông chính và giám đốc điều hành của Berkshire Hathaway là Seabury Stanton. Ông ta thoả thuận với Buffett cho phép Berkshire Hathaway mua lại số cổ phiếu Berkshire Hathaway mà BPL đang nắm giữ với giá 11.50 đô – tăng 50% so với số tiền Warren đã bỏ ra để mua chúng. Rồi Stanton nghĩ rằng ông ta có thể trục lợi chút đỉnh từ Buffett. Một cách keo kiệt, ông ta đưa ra đề nghị chính thức với giá chỉ 11.375 đô. Buffett rất giận dữ trước hành vi của Stanton và quyết định không bán. Thay vào đó, Buffett đã làm một việc mà sau này ông gọi là "một quyết định ngu xuẩn lạ thường". Rất dễ để nhận ra rằng các nhà máy dệt ở New England đang trên đà phá sản bởi họ hiếm khi có lợi nhuận; họ bị ảnh hưởng bởi hàng nhập khẩu giá rẻ. Chính Berkshire Hathaway cũng phải đóng cửa hầu hết các nhà máy của mình do không thể cạnh tranh. Nhưng Buffett đã rất bực tức và bắt đầu tích cực mua thêm cổ phần tại Berkshire Hathaway. Vào tháng 4 năm 1965, BPL nắm giữ 39% cổ phần của Berkshire Hathaway và chính thức nắm quyền kiểm soát công ty, sử dụng một phần tư số tiền trong quỹ dưới quyền Buffett để đạt được điều đó . Buffett tự thừa nhận đây là một "hành vi trẻ con" dẫn đến việc ông phải tổ chức "một doanh nghiệp tồi tệ". Kết quả của việc thua lỗ và mua lại cổ phiếu này là vào cuối năm 1964, giá trị tài sản ròng của Berkshire chỉ có 22 triệu đô la. Nó không có tiền thừa và chỉ có một khoản nợ trị giá 2.5 triệu đô (xem Thương vụ số 10). Buffett đã đặt ra những giới hạn nghiêm ngặt trong việc đầu tư thêm máy móc và các tài sản khác. Ông dần dần chuyển vốn kinh doanh ban đầu sang một số lĩnh vực rất thú vị. Bởi ông không làm trong lĩnh vực dệt may, mà là phân bổ vốn với kiến thức về nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, ông có khả năng nhận ra những cơ hội đầu tư tốt hơn những người chỉ tập trung vào ngành công nghiệp dệt. Năm 1967, ông đã thực hiện bước nhảy vọt tuyệt vời cho Berkshire Hathaway bằng cách bắt nó mua công ty bảo hiểm National Indemnity ở thị trấn Omaha với giá 8.6 triệu đô la (xem Thương vụ số 11). Điểm thu hút chính của các công ty bảo hiểm đối với Buffett, ngoài khả năng kiếm tiền bằng lợi nhuận từ các chính sách bảo hiểm trừ đi tổng chi phí bồi thường và chi phí quản lý, là khoản tiền mặt (luồng tiền nhàn rỗi) trong các công ty này. Việc này có được bởi những người mua bảo hiểm phải trả trước, nhưng các khoản thanh toán bồi thường lại xảy ra sau đó. Khoản tiền mặt nhàn rỗi có thể được Buffett sử dụng để đầu tư. Ông đã mua thêm nhiều công ty bảo hiểm trong những năm sau đó và sử dụng rất tốt các luồng tiền này (xem Thương vụ số 17 và 22). Việc thâu tóm công ty National Indemnity được theo sau bởi một thương vụ kinh điển khác: việc mua lại một chuỗi cửa hàng kẹo mang nhãn hiệu vào năm 1972 với giá 25 triệu đô la. Cho đến thời điểm tôi viết cuốn sách này, doanh nghiệp mang tên See's Candies này đã tạo ra hơn 1.9 tỷ bảng Anh cho Berkshire Hathaway để đầu tư vào nơi khác. Và nó vẫn đang là cỗ máy bơm tiền đến tận ngày nay (xem Thương vụ số 20). Biểu đồ B: Hiệu suất của Berkshire Hathaway: tỷ lệ phần trăm lợi tức hằng năm (1965-1978) a Nguồn: Thư của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Berkshire Hathaway (2016) Nhiều khoản đầu tư rực rỡ khác đã được thực hiện tiếp theo đó, dẫn đến sự tăng trưởng bất thường của Berkshire, một công ty dệt may từng suy tàn. Từ năm 1965 đến năm 1978, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm của S&P 500* là 4,63%. Nhưng đối với Berkshire, tỷ lệ tăng trưởng trên giá trị mỗi cổ phiếu là 21%. * Chỉ số S&P 500: (viết đầy đủ trong tiếng Anh là Standard & Poor's 500 Stock Index - Chỉ số cổ phiếu 500 của Standard & Poor) là một chỉ số cổ phiếu dựa trên cổ phiếu phổ thông của 500 công ty có vốn hóa thị trường lớn nhất niêm yết trên NYSE hoặc NASDAQ. (ND) Phải đến khi nhìn thấy tác động của sự khác biệt lên số tiền cuối cùng thì bạn mới thực sự đánh giá cao hiệu suất tuyệt vời của Buffett. Trong khi tỷ lệ lợi nhuận của S&P 500 dẫn đến khoản đầu tư 1.000 đô la vào năm 1965 được chuyển thành 1.885 bảng vào tháng 12 năm 1978, thì trong 14 năm đó, khoản đầu tư 1.000 đô la Mỹ trong cổ phiếu của Berkshire Hathaway đã tăng lên tới hơn 14.000 đô la. Xem Bảng B để thấy sự tăng trưởng hằng năm trong giá trị bảng cân đối kế toán của Berkshire và tăng trưởng giá cổ phiếu của nó từ năm 1965 cho đến khi Buffett kiếm được 100 triệu đô la đầu tiên vào năm 1978. Berkshire Hathaway tiếp tục vượt trội so với chỉ số S&P. Trong toàn bộ khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1965 đến tháng 12 năm 2016, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm theo chỉ số S&P 500 là 9.7%, nhưng của Berkshire đã tăng hơn gấp đôi, ở mức 20.8%. Tỷ suất lợi nhuận của S&P 500 dẫn tới việc đầu tư 1.000 đô la năm 1965 trở thành 127.170 bảng vào tháng 12 năm 2016, trong khi cũng trong khoảng thời gian 52 năm đó, 1.000 đô la đầu tư vào cổ phiếu Berkshire Hathaway đã tăng lên đến gần 20 triệu đô. Xem Bảng C để thấy được sự tăng trưởng hằng năm trong giá trị bảng cân đối của Berkshire và sự tăng trưởng của giá cổ phiếu trong những năm đó. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể an toàn khi nói rằng Buffett đã chuộc tội cho "quyết định ngu xuẩn" mua Berkshire Hathaway của mình! Câu chuyện này kết thúc tóm lược tổng quan của tôi về cách Warren Buffett kiếm tiền. Trước khi chúng ta tiếp tục xem xét các thỏa thuận đầu tư chi tiết hơn trong Phần 2, chúng ta cần phải hiểu những gì Benjamin Graham đã truyền thụ có vai trò quan trọng lên sự nghiệp đầu tư của Buffett. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ miêu tả ảnh hưởng của Graham lên Buffett, và việc những kiến thức này đã dẫn đường chỉ lối cho cách tiếp cận đầu tư của Buffett như thế nào. Trường học đầu tư thực tiễn mang tên Benjamin Graham Đến năm 1950, ở tuổi 56, Benjamin Graham đã trải qua một số thời kỳ khó khăn trên thị trường chứng khoán với các quỹ đầu tư nhỏ. Trước Cuộc sụp đổ Phố Wall, Graham là một nhà đầu tư tương đối thận trọng, nhưng đã không thận trọng đủ khi cuộc suy thoái bắt đầu. Biểu đồ C: Hiệu suất của Berkshire Hathaway: tỷ lệ phần trăm lợi tức hằng năm (1979-2016) a Từ năm 1929 đến năm 1932, 70% quỹ đầu tư trị giá 2.5 triệu đô la ông đảm trách cho các khách hàng đã bị thua lỗ hoặc rút ra. Graham buộc phải suy nghĩ điều gì làm nên một nhà đầu tư. Ông đã có kinh nghiệm đánh giá dựa trên tâm trạng lạc quan về khoản lời dự đoán thu được. Ông đã có kinh nghiệm mua với hy vọng bán cho một kẻ ngốc hơn, kẻ sẽ trả nhiều hơn bởi giá đã tăng. Ông cũng đã có kinh nghiệm mua dựa trên bảng xếp hạng, dựa trên mẹo, mua mà chẳng có chút kiến thức thực tế nào về lĩnh vực đó hay thông tin nội bộ. Các phương pháp này đã được chứng thực là có giá trị. Kết quả công cuộc tự vấn tâm hồn của ông là nền tảng trường học giá trị trong đầu tư, điều ngày nay được tôn trọng rộng rãi. Để bổ trợ bản thân trong tư duy, cũng như để truyền đạt những kiến thức có được, ông đã dạy một khóa học bán thời gian được gọi là Phân tích Chứng khoán tại Trường Kinh doanh Đại học Columbia. Ông dạy khóa học đầu tiên vào năm 1927 (một cách tạm thời tại Trường Tài chính New York), nhưng tôi có thể tưởng tượng chiều sâu trí tuệ tăng dần lên vào đầu những năm 1930 khi ông buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng về những câu hỏi gây tranh cãi do sự thất bại của nhiều cách tiếp cận đầu tư trong Vụ sụp đổ năm 1929. Cùng với David Dodd, cộng sự tại Columbia, Graham đã ghi những ý tưởng của mình vào trong một cuốn sách được gọi là Security Analysist (tạm dịch: Phân tích Chứng khoán), xuất bản lần đầu tiên vào năm 1934. Cuốn sách Buffett đọc năm 19 tuổi, The Intelligent Investor (Nhà đầu tư thông thái), là một phiên bản ngắn gọn hơn về những ý tưởng của ông. Bên cạnh những ảnh hưởng quan trọng khác, chính cuốn sách đã khiến Buffett chuyển từ lĩnh vực đầu cơ sang đầu tư. Sau cuộc sụp đổ năm 1929, nhiều nhà quan sát đã kết luận rằng việc đánh giá giá trị cổ phiếu là vô ích. Xét cho cùng, nếu năm 1928, một cổ phiếu có thể có giá trị (theo giá thị trường) là 100 đô và 15 tháng sau chỉ có giá 5 đô la, vậy ai biết được giá trị thực của nó? Tốt hơn hết, họ nói, là tập trung vào việc đánh giá tâm trạng của những người mua cổ phần khác; liệu họ có nghĩ nó sẽ tăng lên không, và cố gắng mua nó trước khi nó thực sự tăng. Cách nhìn vào thị trường, thay vì nhìn nhận công ty và hiệu quả hoạt động của nó trong việc phục vụ khách hàng, là một đặc điểm phân biệt giữa các nhà đầu cơ với các nhà đầu tư. Định nghĩa về đầu tư Với những đặc điểm của đầu cơ được xác định, chúng ta cần một định nghĩa tương phản về đầu tư. Graham và Dodd đã cung cấp những điều sau: "Đầu tư là một hoạt động, dựa trên sự phân tích toàn diện, hứa hẹn bảo toàn nguồn vốn và mang lại lợi tức thoả đáng. Các hoạt động không đáp ứng đủ các yêu cầu này đều là đầu cơ."1 Có ba yếu tố thiết yếu ở đây: a 1. Phân tích toàn diện Bạn đang đầu tư vào một doanh nghiệp, bạn sẽ sở hữu một phần nhỏ của doanh nghiệp đó. Hãy hỏi nhiều câu hỏi mà bạn sẽ hỏi nếu bạn mua toàn bộ doanh nghiệp chứ không chỉ là một phần nhỏ: • Lịch sử doanh thu và lợi nhuận như thế nào? • Nó có tiếng tăm tốt với khách hàng không? • Nó có nhiều tài sản và có ít khoản nợ không? • Năng lực cạnh tranh của nó là gì? • Các nhà quản lý có năng lực và trung thực không? Phân tích kiểu này đòi hỏi tư duy dựa trên lý trí, sự độc lập của khối óc và năng lực đánh giá phê phán các dữ kiện thực tế. Đối với Graham, phân tích này chủ yếu tập trung vào các dữ liệu mang tính định lượng đã được chứng minh. Ông nhận thức được tầm quan trọng của các dữ liệu định tính, chẳng hạn như sức mạnh của một thương hiệu nổi tiếng hoặc chất lượng của đội ngũ quản lý, nhưng kinh nghiệm năm 1929 đã khiến ông thận trọng không đặt quá nhiều sức nặng vào việc đánh giá triển vọng kinh doanh, khả năng quản lý cũng như sự liêm chính. 2. Bảo toàn nguồn vốn Việc xây dựng được một giới hạn an toàn khi mua cổ phiếu là một việc rất quan trọng, cũng giống như mức an toàn được xây dựng trong cầu đường vậy. Một cây cầu được xây không chỉ để chịu được tốc độ gió ghi nhận trong lịch sử cùng các tải trọng khác; nó được xây dựng theo tiêu chuẩn cao hơn nhiều. Tương tự, hãy chỉ mua cổ phiếu khi có một biên độ an toàn lớn giữa giá mua và tính toán của bạn về giá trị nội tại của chúng. Hãy nghĩ kĩ về những nhược điểm của nó. 3. Lợi tức thoả đáng Đừng cố kiếm tìm những tia sáng le lói. Đừng để bản thân bị đánh lạc hướng bởi sự quá lạc quan hay tham lam, điều này sẽ khiến bạn đi quá khả năng, hoặc kéo giãn những giới hạn rủi ro mà bạn không thể đứng vững. Sự mỉa mai sâu cay Hãy nhớ sự mỉa mai này: các nhà đầu tư lớn khi hành động luôn ghi nhớ sự bảo toàn nguồn vốn và chỉ nhằm mục đích đạt được mức lợi tức thỏa đáng. Tuy nhiên, về lâu về dài, họ sẽ vượt trội hơn so với những người theo đuổi hoạt động rủi ro cao. Các bài học khác của Warren Buffett từ Graham Cùng với định nghĩa ba phần về đầu tư, Buffett cũng đã thu được những bài học quan trọng khác từ Graham. Ông đã học được rằng lợi nhuận phụ thuộc vào những yếu tố dưới đây của nhà đầu tư: • Hiểu biết • Kinh nghiệm • Tính cách Một nhà đầu tư cần phải hiểu thế giới kinh doanh và cách thức hoạt động của nó. Một số hiểu biết về kế toán, tài chính và chiến lược của doanh nghiệp là cần thiết, mặc dù điều này có thể được tăng cường và phát triển theo thời gian. Có một cái đầu luôn tò mò là điều kiện tiên quyết, nhưng một nhà đầu tư không nhất thiết phải phát triển toàn bộ kiến thức thông qua kinh nghiệm của riêng mình. Rất nhiều điều có thể học hỏi từ những sai lầm và thành công của người khác. Tính khí quan trọng hơn IQ khi nói đến việc trở thành nhà đầu tư tốt. Graham đã dạy cho Buffett biết rằng những người thông minh nhất thường lại là những nhà đầu tư tồi bởi họ thường thiếu khả năng tiếp cận đúng đắn về mặt tinh thần. Ví dụ, nếu họ rất lý trí, họ sẽ nản lòng vì sự thiếu hợp lý của thị trường, và không thể hình dung được cách khai thác tính phi lý đó – họ sẽ chỉ nghĩ chúng thật điên rồ. Họ cũng có thể yêu những phép chiếu và dự đoán của họ đến nỗi bỏ qua việc xây dựng một giới hạn an toàn. Các khía cạnh khác của các nhà đầu tư có tính khí tồi là xu hướng đi theo đám đông khi họ đang hoảng loạn, hoặc trở nên hồ hởi một cách vô lý khi mọi người trở nên như vậy. Và rồi có những người không thể không để ý khi những người khác kiếm được tiền dựa trên một số ý tưởng đầu cơ mới, hay dựa trên sự bùng nổ công nghệ mới nhất và cũng muốn ra tay hành động. Tóm lại, kẻ thù tồi tệ nhất của nhà đầu tư thường là chính bản thân họ. Nhìn vào sự thật Graham đã thúc giục Buffett phải hiểu được sự quan tâm của những người khác trên thị trường nếu ông muốn vượt trội hơn họ. Ví dụ, những người tự xưng là nhà đầu tư chủ yếu quan tâm đến những kì vọng liên quan đến tương lai, chẳng hạn như bao nhiêu khách hàng sẽ đăng ký sản phẩm truyền thông mới nhất trong vòng 10 năm tới - điều không thể dự đoán được với bất kỳ mức độ chắc chắn nào. Kết quả của sự bận tâm không đúng chỗ này là họ sẽ ít chú ý đến những chi tiết quan trọng hơn như bảng cân đối kế toán, lịch sử lợi nhuận và giá cổ phần. Bài học ở đây không phải là trở nên say mê câu chuyện của doanh nghiệp mà bỏ qua những sự thật thực tế về nó. Rất khó để dự đoán những cổ phiếu nào sẽ mang lại kết thúc có hậu; cái nào sẽ là cổ phiếu chiếm lĩnh trong thị trường ngách. Và thường thì chẳng có ai chiến thắng cả, ít nhất về mặt đem lại lợi nhuận tốt từ vốn được sử dụng. Bởi vậy chúng ta phải bám chặt vào những lời Graham nói: "Việc phân tích quan tâm chủ yếu đến các giá trị được chứng minh bởi các dữ kiện chứ không phải những điều phụ thuộc phần lớn vào sự mong đợi."2 Như cách Buffett nói về Graham: "[Ông ấy] không nhìn vào các thương vụ đầu tư rực rỡ và ông cũng chẳng chạy theo xu hướng thị trường. Ông ấy quan tâm đến những thương vụ đầu tư hợp lý, và tôi nghĩ việc đầu tư đúng đắn có thể làm cho bạn giàu có nếu bạn không vội vã, và điều tuyệt hơn là nó sẽ chẳng bao giờ khiến bạn nghèo hơn."3 Buffett học hỏi được từ Graham phương pháp truyền đạt các nguyên tắc đầu tư phức tạp trong những ví dụ dễ nhớ. Ý tưởng Quý ông Thị trường là một ví dụ tuyệt vời và là một ý tưởng tất cả chúng ta cần phải được nhắc nhở hằng ngày. Graham kể câu chuyện sau. Bạn đang hợp tác kinh doanh với Quý ông Thị trường. Bạn sở hữu 50%, cũng giống như anh ta. Mỗi ngày, Quý ông Thị trường sẽ đến và đề nghị bạn hoặc bán nửa của bạn cho anh ta, hoặc anh ta sẽ bán nửa của anh ta cho bạn. Anh ta thực sự rất sốt sắng - trên thực tế anh ta sẽ trả giá suốt cả ngày. Vấn đề là tính khí của Quý ông Thị trường rất thất thường. Có những ngày anh ta rất lạc quan và sẵn sàng trả một mức giá rất cao cho cổ phần của bạn. Vào những thời điểm khác, anh ta lại rất chán nản và chỉ muốn bỏ đi - anh ta sẽ bán một nửa cổ phẩn cho bạn với cái giá rất thấp. Vì vậy, bạn sẽ tự hỏi liệu có nên định giá cổ phiếu của mình dựa trên mức giá Quý ông Thị trường đưa ra không. Tôi hy vọng là không. Bạn sẽ phải tự phân tích và so sánh đánh giá về giá trị nội tại của bạn với đề nghị của Quý ông Thị trường. Bài học đúc kết 1. Theo sát các nguyên tắc đầu tư đúng đắn. Một chỗ tốt để tìm kiếm là những phương pháp phân tích cơ bản được phát triển trong Trường đầu tư của Graham và Dodd, bởi cả họ và những người theo họ. Tìm các cố vấn phù hợp, cả người sống lẫn những người đã mất. 2. Chỉ cần làm tốt hơn thị trường một vài phần trăm là bạn đã có thể thu lại số tiền lớn hơn rất nhiều. Một khi bạn đã tạo ra cốt lõi cho quả cầu tuyết của mình (một số tiền cộng với các nguyên tắc đúng đắn), chỉ cần tiếp tục tăng dần thông qua lợi nhuận tốt trong trung hạn, và giữ nó di chuyển theo hướng đi xuống bằng cách không chệch khỏi những nguyên tắc đó. 3. Chỉ đầu tư nếu bạn đã phân tích kỹ lưỡng về công ty, đã xây dựng được một biên độ an toàn với mục tiêu được xác định là một lợi tức thỏa đáng. Nếu bất cứ đặc điểm nào bị thiếu thì tức là bạn đang đầu cơ. 4. Không chấp nhận định giá của Quý ông Thị trường, hãy thực hiện nghiên cứu của riêng bạn. Quý ông Thị trường là một kẻ mắc chứng buồn vui thất thường, đôi khi đánh giá rất cao cùng một công ty trong cùng một tình huống để rồi một thời gian rất ngắn sau đó chỉ nhìn vào các điểm tiêu cực và sẵn sàng bán nó đi với giá rẻ. Hãy tận dụng sự phi lý của thị trường thay vì hùa theo nó. PHẦN 2CÁC THƯƠNG VỤ ĐẦU TƯ Thương vụ số 1Cities services Tóm tắt thỏa thuận a T rọng tâm triết lý đầu tư của Warren Buffett là sự rõ ràng về những gì làm nên một nhà đầu tư, trái ngược với một nhà đầu cơ. Thật ngạc nhiên khi biết bao người chơi trên thị trường tài chính không thể nắm bắt được điều này. Suy nghĩ rõ ràng trong vấn đề này là điều cần thiết để đặt người mua cổ phiếu lên một con đường ít rủi ro và sai lầm hơn, dẫn đến việc xây dựng một sự giàu có lâu dài - cách tiếp cận sự giàu có một cách chậm rãi. Tôi sẽ bắt đầu giải thích triết lý của Buffett bằng cách truy tìm những ảnh hưởng lên ông từ khi còn rất nhỏ. Chỉ riêng việc kể lại cách ông xây dựng danh mục đầu tư của mình gần như từ bàn tay trắng đã là một điều tràn đầy cảm hứng rồi. Thời thơ ấu Buffett được sinh ra vào tháng 8 năm 1930, ngay sau Cuộc sụp đổ Phố Wall năm 1929 và bởi thế, vào đầu Đại Suy thoái. Cha ông là một nhà môi giới chứng khoán ở Omaha, Nebraska và đã từng là một nghị sĩ. Bởi vậy, gia đình ông không đặc biệt giàu có, nhưng họ cũng đã có thể vượt qua cuộc Đại Suy thoái một cách ổn thỏa, phần nhiều được giúp đỡ bởi sự đoàn kết điển hình của một gia đình vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đã quá dễ để một Buffett trẻ trung, sáng sủa nhìn thấy cảnh nghèo đói cơ cực là như thế nào – nó diễn ra ở khắp nơi. Ông quyết tâm trở nên giàu có. Thời niên thiếu, ông đã thử mọi cách để kiếm tiền. Ông thu thập những quả bóng gôn bị mất (hoặc thậm chí giỏi hơn, nhờ bạn thu thập) và bán chúng. Ông mua những lon Coca-Cola, chia nhỏ ra và bán lẻ. Ông còn mua một chiếc Rolls-Royce cũ và cho thuê lại. Các máy đánh bóng trong tiệm làm tóc là một việc kinh doanh yêu thích của Buffett - ông mua máy rồi đặt chúng trong tiệm cắt tóc, và thợ cắt tóc cũng sẽ nhận được một phần thu nhập. Thứ mang lại tiền nhiều nhất cho Buffett là việc giao báo Washington Post, khi gia đình chuyển tới Washington được một thời gian, ông luôn thức dậy sớm để hoàn thành nhiệm vụ của mình trên ba tuyến đường giao báo trước khi đến trường. Bằng cách tích cực hoạt động, Buffett đã có thể tiết kiệm được vài nghìn đô la vào giữa những năm niên thiếu của mình. Ở tuổi 15, ông đã có thể đầu tư 1.200 đô để mua một trang trại rộng 42 mẫu Anh, cách Omaha 70 dặm, từ đó ông nhận được một phần lợi nhuận (đất đã được bán với giá gấp đôi nhiều năm sau đó). Cổ phiếu đầu tiên Ngay từ khi mới 11 tuổi, Buffett đã có 120 đô tiền tiết kiệm - đại diện cho 6 năm tiết kiệm từng đồng tính tới thời điểm đó. Ông gộp với khoản tiền của em gái Doris và mua sáu cổ phiếu của Cities Service Preferred - ba cổ phiếu của ông có giá 114.75 đô. Đến tháng 6, cổ phiếu đã giảm từ 38.25 đô xuống còn 27 đô. Buffett cảm thấy có lỗi bởi ông đã thuyết phục em gái mình tin tưởng và mua cổ phiếu bằng tiền tiết kiệm. Ý thức trách nhiệm với những người tin tưởng mình rất quan trọng trong việc hiểu được cách Buffett đối xử với các đối tác sau này trong những năm 1950 và 1960, và sau đó là với các cổ đông tại Berkshire Hathaway. May mắn là cổ phiếu đã hồi phục lên 40 đô tại thời điểm Buffett bán. Lợi nhuận đạt được là 1.75 đô/cổ phiếu. Trường đại học Ở tuổi 17, Buffett đi học tại Trường Kinh doanh Wharton của Đại học Pennsylvania. Sau một thời gian ngắn, ông trở nên không chắc chắn về việc tiếp tục học tập của mình, và tự hỏi có đáng để tiếp tục hay không. Ông đã kinh doanh từ khi lên 6, đã có thu nhập khá và trường đại học sẽ làm chậm sự tiến bộ của ông. Ông tin rằng mình biết nhiều hơn các giáo sư về cách điều hành một việc kinh doanh. Ông đã vượt qua các lớp học một cách dễ dàng và nỗ lực theo đuổi nó trong 2 năm, cùng lúc theo đuổi các sở thích khác, nhưng ông đã không hoàn thành khóa học tại Wharton. Ông chuyển sang Đại học Nebraska, gần gia đình mình hơn. Theo dõi cổ phiếu như một nhà đầu cơ Thay vì ưu tiên cho việc học tại trường, như mọi khi, Buffett lại bị ám ảnh với việc kiếm tiền. Vào thời gian này, ông giám sát nhân viên bàn giấy tại sáu hạt ở Nebraska, thu thập những quả bóng gôn và làm nhân viên bán hàng tại J. C. Penney. Đến năm 1949, khoản tiết kiệm của ông đã lên tới khoảng 9.800 đô. Ông bị thu hút bởi các giao dịch cổ phiếu từ thời điểm này. Ông đã thử tất cả mọi cách để thực hiện hiệu quả các giao dịch cổ phiếu, từ các mẫu biểu đồ cho tới các mô hình số và “giao dịch cổ phiếu lô lẻ”, bất kể đó là thứ gì. Chúng ta có thể suy đoán rằng vào thời điểm đó Buffett đang đầu cơ. Và rồi ông đọc cuốn sách mới của Benjamin Graham - The Intelligent Investor (Nhà đầu tư thông thái) vào năm 1949. Đó là một sự mặc khải! Buffett bằng mọi cách đã đến được Trường Kinh doanh Columbia học hỏi khóa học được thiết kế và trình bày bởi Graham và David Dodd. Ông đã làm được điều này vào mùa thu năm 1950, tốt nghiệp với bằng Thạc sĩ Kinh tế vào mùa hè năm 1951. Trong chương trình này, ông đã thực sự tập trung sự chú ý vào khoá học được xây dựng bởi những người cha sáng lập nên “đầu tư giá trị”. Buffett đã bao phủ cách thức tiếp cận hợp lý của Graham và Dodd lên các lựa chọn cổ phiếu của mình. Bài học đúc kết 1. Đừng háo hức tóm lấy khoản lợi nhuận nhỏ một cách thiếu suy nghĩ. Cổ phiếu Cities Service Preferred đã tăng vọt lên 202 đô sau khi Buffett bán với giá 40 đô. 2. Đừng bị ám ảnh bởi chi phí bạn bỏ ra cho một cổ phiếu. Nó là khoản chi phí chìm. Điều bạn quan tâm bây giờ là ước tính của bạn về mức giá kể từ đây. Nếu một cổ phiếu giảm sau khi mua, bạn phải đánh giá triển vọng từ thời điểm này, với ước tính giá trị thực chất của bạn. Trong nhiều trường hợp, giá trị bản chất không tăng giảm song hành cùng giá cả. 3. Khi đầu tư bằng tiền của người khác, bạn có thể cảm thấy tồi tệ nếu có sai sót. Buffett ghét việc phải đối chất và những cảm giác tồi tệ, bởi vậy ông đã thề rằng ông sẽ không lấy tiền của người khác trừ khi ông tự thuyết phục được bản thân rằng mình sẽ thành công. John Templeton, một nhà đầu tư tỷ phú với niềm tin Kitô giáo mạnh mẽ từng nói: "OPM* là thiêng liêng"; OPM là tiền của người khác. * Viết tắt của “Other people’s money”. (ND) Thương vụ số 2GEICO Tóm tắt thỏa thuận a V í dụ này cho thấy việc bước đầu áp dụng phương pháp Graham của Buffett. Chàng trai Buffett 20 tuổi đã bước vào học kỳ thứ hai (cũng là học kỳ cuối cùng) tại Columbia. Đến thời điểm này ông đã đọc cuốn Security Analysis (Phân tích Chứng khoán) nhiều lần và ghi nhớ mọi trường hợp được nghiên cứu. Ông bước vào các lớp học của Graham vào mùa xuân khi được trang bị đầy đủ các ý tưởng của Graham và Dodd; và ông muốn nói về chúng. Ông là người đầu tiên trong lớp giơ tay phát biểu và là người hăng hái tham gia thảo luận về thành tích của một công ty, hoặc so sánh giữa hai công ty (phương pháp giảng dạy ưa thích của Graham). Một thời gian sau, cũng trong năm đó, Buffett nhận được điểm A+ của Graham – ông là người duy nhất nhận được. Đầu năm 1951, Buffett nhận thấy Graham là chủ tịch của một công ty bảo hiểm nhỏ, Công ty Bảo hiểm Nhân viên Chính phủ (GEICO). Ông bị hấp dẫn bởi việc này và muốn biết nhiều hơn nữa. Vào một ngày thứ Bảy, ông bắt chuyến tàu tới Washington D.C và gõ cửa trụ sở GEICO. Trước khi tôi đi xa hơn, tôi nghĩ mình nên giải thích làm thế nào mà GEICO lại nằm dưới sự kiểm soát bởi quỹ của Graham mang tên Graham-Newman Corporation. Lịch sử của GEICO GEICO được thành lập vào năm 1936 để cung cấp bảo hiểm xe máy cho công nhân chính phủ. Họ đã chọn một kỹ thuật phân phối bất thường. Hầu hết các đối thủ cạnh tranh bán bảo hiểm thông qua môi giới, nhưng GEICO cho rằng điều này quá tốn kém, và nhận ra rằng họ có thể cung cấp mức giá tốt hơn và đạt được lợi nhuận cao hơn nếu bán bảo hiểm trực tiếp qua thư. Công ty phát triển mạnh, nhưng vào năm 1947, một trong những gia đình có quyền kiểm soát chiếm 55% công ty muốn bán cổ phần. Họ thuê một nhà môi giới đầu tư có tên Lorimer Davidson để xử lý việc bán này. Đầu tiên anh ta gặp khó khăn nhưng cuối cùng, vào năm 1948, quỹ của Graham mua lại cổ phiếu với giá 720.000 đô và Graham trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị, với chức giám đốc được trao cho một đồng nghiệp của ông. Buffett gõ cửa vào ngày thứ Bảy! Vào một ngày thứ Bảy đầu năm 1951, người gác cổng mở cửa trụ sở chính của GEICO và nói rằng, rất may là Lorimer Davidson đang ở trong tòa nhà (Davidson đã được công ty thuê về làm Phó Chủ tịch về tài chính). Khi Buffett giải thích rằng ông là sinh viên của Graham, và ông nhanh chóng chứng minh trong cuộc trò chuyện rằng ông đã tìm đọc về công ty và hỏi những câu hỏi thích hợp, Davidson đã chịu hy sinh một vài phút của mình để trao đổi với chàng trai trẻ tuổi (chính Buffett cũng phải thừa nhận rằng ông trông như một gã mọt sách 16 tuổi vào thời điểm đó). Bốn giờ sau đó họ mới kết thúc và Buffett đã nhận được một bài học tuyệt vời về cách hoạt động của một công ty bảo hiểm. Ông có thể thấy rõ rằng GEICO có hai lợi thế cạnh tranh sau: 1. Một phương thức phân phối có chi phí rất thấp. 2. Một thị trường thích hợp. Khách hàng, gần như đúng theo định nghĩa, là những người lái xe an toàn và do đó có nguy cơ bảo hiểm thấp, lại có thói quen mua bảo hiểm từ GEICO. Triển vọng tăng trưởng là tuyệt vời bởi GEICO còn có đội ngũ bán hàng hiệu quả. Lợi nhuận cao gấp năm lần lợi nhuận bảo hiểm trung bình. Hơn thế nữa, nó có một khoản tiền mặt đáng kể (phí bảo hiểm đã trả nhưng chưa bị đòi bồi thường), khiến cho khoản tiền mặt này có thể sử dụng cho các mục đích đầu tư. Từ đây chúng ta thấy một ví dụ ban đầu trong việc thực hiện phân tích sâu về kinh doanh của Buffett, cố gắng thiết lập trong tâm trí giá trị nội tại của nó. Chúng ta cũng thấy một Buffett giữ vững quan điểm của mình thay vì nghe theo các chuyên gia, ông đã nói chuyện với một số chuyên gia đầu tư bảo hiểm cho rằng GEICO được định giá quá cao. GEICO chỉ có thị phần 1% và được cho là dễ bị cạnh tranh gay gắt, đặc biệt bởi các hệ thống phân phối dựa vào đại lý. Nhưng Buffett đã học được từ Graham, người nói rằng bạn không trở nên đúng hay sai chỉ vì đám đông không đồng ý với bạn. Hãy nhìn vào thực tế chứ không phải đám đông. Một cách hứng khởi, Buffett đã đầu tư khoảng 65% tài sản ròng của mình vào cổ phiếu GEICO với tổng giá trị 10.282 đô. Buffett đã bán nó đi vào năm 1952 với giá 15.252 USD. Không phải là một khoản đầu tư tồi, nhưng hãy để ý điều này: nếu ông giữ những cổ phiếu đó và đi câu cá trong vòng 20 năm tới, ông đã có thể bán chúng với giá 1.3 triệu đô vào cuối những năm 1960. Bài học đau đớn ở đây là sự thiếu khôn ngoan khi bán đi cổ phần một công ty mình đã xác định là tuyệt vời. Nhưng, hãy tha thứ cho ông ấy. Như chúng ta sẽ thấy, ông đã đầu tư tiền một cách thông minh vào lĩnh vực khác. Cần lưu ý rằng Berkshire Hathaway đã đầu tư vào GEICO vào đầu những năm 1970. Năm 2016, GEICO có 11,4% thị trường bảo hiểm ô tô Mỹ. Bài học đúc kết 1. Hãy nghiên cứu kĩ. Khi phân tích doanh nghiệp, hãy xem xét các yếu tố định lượng, chẳng hạn như con số khách hàng, cũng như các yếu tố định tính, chẳng hạn như danh tiếng của công ty với khách hàng hay năng lực quản lý. ể 2. Bạn có thể biết nhiều hơn những người được gọi là chuyên gia. Nếu bạn đang chuẩn bị thực hiện một số nỗ lực. Trong trường hợp này, nhiều nhà phân tích tại các nhà quỹ lớn không bao giờ bận tâm đến thăm và nói chuyện với các nhà quản lý tại các công ty bảo hiểm nhỏ, chỉ thích xem báo cáo hằng năm và báo cáo ngành. Tất cả các nhà đầu tư đều có thể áp dụng bài học này - bằng cách đi thêm một bước nữa, bạn có thể trở nên am hiểu hơn cả các chuyên gia. 3. Tìm kiếm các doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả. Nếu một doanh nghiệp đang tái sử dụng vốn nhằm tạo ra mức lợi nhuận cao hơn cho hoạt động của mình thì điều này có thể rất có giá trị. Trong trường hợp như vậy, lợi nhuận có thể sẽ tăng nhanh, theo sau là giá cổ phiếu. Thương vụ số 3 và 4Nhà máy Cleveland Worsted và Trạm Xăng T ốt nghiệp Columbia với số điểm A+, Buffett đã rất muốn đến làm việc cho công ty của Graham. Graham liên tục từ chối ông - Graham là người Do Thái và có rất nhiều thành kiến ở Phố Wall vào thời điểm đó, vì vậy ông muốn tuyển những người Do Thái. Buffett thậm chí còn đề nghị làm việc miễn phí. Ông vẫn bị từ chối. Buffett gượng gạo thừa nhận rằng Graham đã rất nghiêm túc trong vấn đề này! Buffett trở lại Omaha làm việc với tư cách nhà môi giới chứng khoán tại công ty của bố mình, và sống trong nhà cha mẹ một cách khá miễn cưỡng. Là một nhà môi giới, ông phải đẩy mạnh các giao dịch bằng cách tích cực tìm kiếm các ý tưởng và cố gắng thu hút các nhà đầu tư tư nhân trong việc mua hàng thông qua môi giới của cha mình. Trông như một “gã ngốc” 16 tuổi, ông không được coi trọng khi mời gọi những quý ông, quý bà giàu có của Omaha mua theo lựa chọn của mình. Những người ông tiếp cận đôi khi sẽ lắng nghe, nhưng sau đó sẽ tư vấn với một nhà môi giới chứng khoán kinh nghiệm hơn về ý tưởng này và cuối cùng lại giao dịch thông qua họ. Hoặc họ sẽ hỏi, "Thế bố anh nghĩ gì về nó?" Bất chấp chất lượng của những ý tưởng, Buffett đã luôn cảm thấy thất vọng. Đầu tư Đến cuối năm 1951, Buffett đã tăng vốn lên khoảng 20.000 đô. Cả Graham và cha ông, hai người đàn ông mà ông ngưỡng mộ nhất trên thế giới, đều khuyên ông không nên đầu tư vào thị trường chứng khoán bởi giá đã quá cao. Ông không đồng ý với logic này của họ và tự quyết rằng năm 1951 là thời điểm hoàn hảo để mua vào các công ty tốt. Ông nghĩ tiềm năng này to lớn đến nỗi ông mượn tiền để mua cổ phiếu lần đầu tiên trong đời (ông đã mượn một phần tư giá trị ròng của mình – 5.000 đô). Tôi phải cảnh báo rằng việc vay vốn chỉ dành cho các nhà đầu tư có năng lực và những người chấp nhận đánh mất toàn bộ danh mục đầu tư mà không bị ảnh hưởng lên lối sống của mình. Tôi không khuyên bạn làm điều này, và Buffet cũng không. Trên thực tế, sau đó Buffett đã vay rất ít (luồng tiền bảo hiểm đã cho ông đòn bẩy tài chính cần thiết, thường là miễn phí). Với vốn đầu tư 25.000 đô la Mỹ và đang tìm kiếm các khoản đầu tư phù hợp, Buffett đã nghiên cứu bản tóm lược của Moody về tất cả các công ty niêm yết tại Mỹ - khoảng 10.000 trang – tận hai lần. Một số ông bỏ qua trong vài giây, một số ông tìm hiểu từ trong ra ngoài. Ông cũng tích cực noi gương Graham bằng cách dạy các phương pháp của Graham và những ý tưởng của ông trong một lớp học buổi tối về đầu tư tại Đại học Omaha. Trong khoảng thời gian này, Buffett đã có hai thương vụ đầu tư thất bại. Thất bại số 1: Nhà máy dệt Cleveland Worsted Nhà máy dệt Cleveland Worsted có giá cổ phiếu thấp hơn một nửa giá trị tài sản ròng hiện tại của doanh nghiệp (NCAV)*. Điều này có nghĩa là tổng giá trị của tất cả cổ phần của công ty (vốn hóa thị trường) ít hơn một nửa số tiền gắn liền với tài sản lưu động của doanh nghiệp sau khi khấu trừ tất cả các khoản nợ. Trên thực tế, nếu công ty thanh toán cho tất cả các chủ nợ và kể cả tài sản cố định không có giá trị gì, nó sẽ vẫn có tiền dưới hình thức tiền mặt, nợ phải thu (từ các con nợ) và/hoặc hàng tồn kho có giá trị gấp đôi mức giá cổ phiếu thị trường hiện đang chào bán. Phương pháp lựa chọn cổ phiếu này rất quan trọng đối với câu chuyện của Buffett trong những năm 1950 đến nỗi tôi phải giải thích chi tiết hơn dưới đây. * Tiếng Anh đầy đủ là “Net current asset value”. (ND) Bên cạnh việc cổ phiếu nhà máy dệt Cleveland Worsted được bán với mức giá chỉ bằng một nửa so với giá trị tài sản ròng, công ty này còn trả một phần lớn thu nhập của mình bằng cổ tức. Các yếu tố kết hợp này làm cho Cleveland có vẻ một thương vụ đầu tư hấp dẫn và Buffett rao bán ý tưởng đầu tư này cho các khách hàng chứng khoán tại Omaha. Để rồi nó đã đi chệch hướng - công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các nhà máy dệt ở các bang miền Nam Hoa Kỳ và từ sợi tổng hợp. Nó thua lỗ nghiêm trọng, phải cắt giảm cổ tức và giá cổ phiếu này tuột dốc. Như đã đề cập ở trên, đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại là cách tiếp cận rất quan trọng đối với Buffett, đến nỗi tôi thấy cần phải dành chút thời gian để mở rộng về chủ đề này một cách chi tiết hơn. Đầu tư vào giá trị - tài sản ròng hiện tại Dù bạn tin hay không, ẩn nấp trong chiều sâu của thị trường chứng khoán là các công ty được bán dưới giá trị tài sản lưu động của họ. Tài sản lưu động là tiền mặt và các tài sản khác được dự kiến sẽ chuyển thành tiền mặt trong vòng một năm. Chủ yếu bao gồm hàng tồn kho, các khoản nợ có thể thu và tiền mặt. Đáng lưu ý hơn là nếu bạn khấu trừ tất cả các khoản nợ phải trả, cả dài hạn và ngắn hạn, từ những tài sản lưu động này - để ra giá trị tài sản ròng hiện tại - bạn có thể tìm thấy các công ty được bán dưới mức giá trị tài sản ròng hiện tại (NCAV). Thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn nếu chúng ta nhận thức được rằng cách tiếp cận này bỏ qua giá trị của tài sản dài hạn (còn gọi là tài sản không cố định hay tài sản cố định) mà doanh nghiệp nắm giữ. Những tài sản được định giá bằng không. Đây là một lối định giá bảo thủ đến mức cực đoan. Các tài sản dài hạn này có thể bao gồm các tòa nhà, xe cộ, nhà máy... với giá trị thị trường đáng kể. Vậy mà tất cả đều bị bỏ qua - nó được tính là con số không. Sau đó có hai tầng lớp thận trọng được bồi đắp thêm trong cách áp dụng này: 1. Giảm hàng tồn kho và các khoản phải thu Các con số để xác định giá trị tài sản lưu động trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp không được lấy theo mệnh giá. Có thể bạn sẽ muốn xây dựng một mức an toàn cho việc định giá hàng tồn kho. Ví dụ, các nhà quản lý, thông qua kế toán của họ, sẽ đưa ra một số liệu cụ thể vào kì kế toán cho giá trị nguyên liệu thô trong kho, cho các sản phẩm bán thành phẩm trên dây chuyền sản xuất và các sản phẩm hoàn chỉnh chưa bán cho khách hàng. Nhưng việc các nhà quản lý từng xem xét mọi thứ dưới lăng kính màu hồng không hề hiếm. Là nhà đầu tư giá trị, chúng ta có thể xây dựng trong một biên độ an toàn bằng cách từ chối giá trị dựa trên cơ sở kết quả tốt nhất có thể. Có thể một vài trong số nguồn hàng cũ đã lỗi thời và không thể bán được như giá gốc. Với tư cách một kẻ ngoài cuộc, chúng ta không thể đi qua từng món hàng và định giá cho nó, nhưng chúng ta có thể, để an toàn, giảm tổng giá trị hàng tồn kho xuống khoảng 33%. Đây là mức phần trăm giảm được khuyến nghị bởi Benjamin Graham trong hầu hết các trường hợp. Cùng một nguyên tắc an toàn tương tự đối với các khoản phải thu (gọi tắt là các khoản nợ). Các nhà quản lý doanh nghiệp có thể sẽ lạc quan hơn bạn trong việc dự đoán tỷ lệ khách hàng không trả tiền. Có lẽ con số thu được phải được giảm xuống 20%. 2. Kiểm tra các yếu tố định tính Bước tiếp theo là đảm bảo rằng các đặc tính định tính của doanh nghiệp là đúng đắn (giả định rằng các hoạt động tốt nhất cho doanh nghiệp không bị thanh lý ngay lập tức): (a) Triển vọng kinh doanh. Hoạt động kinh doanh có được định vị hợp lý để có được lợi nhuận trong trung và dài hạn không? Dù bạn tin hay không, hoàn toàn có thể tìm thấy các doanh nghiệp tốt bán với giá thấp so với giá trị tài sản ròng hiện tại. "Khả năng kiếm tiền", một thuật ngữ do Graham đặt ra, là điều mà chúng ta đang tìm kiếm. Graham nói rằng một chỉ số về khả năng kiếm tiền trong tương lai là mức thu nhập và cổ tức hiện tại, và/hoặc mức thu nhập trung bình cao trong quá khứ. Ở đây, điều quan trọng là không chỉ dựa vào những dự đoán của người khác về những triển vọng tuyệt vời trong tương lai, hoặc chỉ dựa vào dữ liệu trước đây: điều rất dễ bị hiểu sai. Chẳng hạn, vào năm 2012, J. C. Penney, Nokia hoặc Tesco có vẻ thật vững chắc dựa trên dữ liệu hoặc sự kiện trong quá khứ. Nhưng như những gì các công ty này phải trải qua, môi trường cạnh tranh có thể thay đổi. Nhà đầu tư phải nghiên cứu nhiều hơn là chỉ dựa vào các dữ liệu thông thường để tìm các dấu hiệu dễ bị tổn thương gây gián đoạn hoạt động kinh doanh. Khả năng kiếm tiền không phải là thu nhập hiện tại, mà có được từ tổng hoà thu nhập thực tế trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm và thu nhập ước tính trong tương lai, ví dụ trong 5 năm tới. Cần tính đến sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ, nhà cung cấp và khách hàng, cũng như tiềm năng của các đối thủ mới tham gia vào ngành công nghiệp, cũng như các sản phẩm/ dịch vụ thay thế có thể gây thiệt hại cho công ty (ví dụ như cách internet cung cấp một phương thức thay thế cho các đại lý du lịch, phân phối âm nhạc và bán sách). (b) Chất lượng quản lý. Có hai khía cạnh cần xem xét ở đây: 1. Năng lực: Các tuyên bố của ban lãnh đạo cần được kiểm tra và so sánh với kết quả của họ trong một thời gian dài. 2. Định hướng cổ đông: Nếu một doanh nghiệp có năng lực và nhiệt thành quản lý thì đó vẫn có thể không phải là một khoản đầu tư tốt trừ khi quản lý đó cũng có phẩm chất liêm khiết, đặc biệt là để phục vụ lợi ích của cổ đông. (c) Tính ổn định. Hoạt động kinh doanh có ổn định không? Mức độ nợ của công ty liệu có gây tổn thất đáng kể đến triển vọng ổn định của nó? Nhà đầu tư sẽ không muốn đầu tư vào một công ty có mức vay nợ hay mức biến động thu nhập cao. Các ngành công nghiệp không bị thay đổi nhiều có thể sẽ có tính ổn định; điều đó có nghĩa là ngành phần mềm trò chơi hay công nghệ sinh học sẽ bị loại, trong khi các ngành công nghiệp bán vật dụng nhàm chán thường có xu hướng được ưa thích. Điều gì dẫn đến những cổ phiếu có giá thấp như vậy? Có ba lý do mà ngay cả các công ty có thặng dư tài sản lưu động lớn hơn khoản nợ vẫn phải chứng kiến giá cổ phiếu của họ giảm xuống dưới mức giá trị tài sản ròng hiện tại: 1. Các nhà quản lý đã theo đuổi các hoạt động phá huỷ giá trị, gây mất mát tài sản của cổ đông từ năm này qua năm khác. 2. Thị trường chứng khoán đã đẩy giá cổ phiếu lên đến mức bất hợp lý. 3. Cổ đông không gây áp lực cho công ty làm điều đúng đắn cho các cổ đông. Tại sao một cổ phiếu với giá trị tài sản ròng tăng cao sẽ tăng giá? Các công ty trải qua thời kỳ ngột ngạt, một vài năm thua lỗ, hoặc suy thoái kinh tế hoặc trong ngành công nghiệp, thường phải đối mặt với rất nhiều sự bi quan của thị trường. Điều này đôi khi rất khó để phân biệt. Cùng với việc bán phá giá những thứ yếu kém, cũng có cả việc bán phá giá của các công ty, nơi ta có cơ sở để tin rằng việc phục hồi cuối cùng rồi sẽ xảy ra. Có bốn khả năng phát triển có thể ngăn chặn hoặc đảo ngược mô hình tổn thất, ngăn chặn sự phá hủy giá trị thông qua việc rải dần các tài sản từ bảng cân đối kế toán qua từng năm: 1. Năng lực thu nhập được nâng cao nhờ cải thiện nền kinh tế Đây có thể là kết quả của sự phục hồi kinh tế nói chung. Ngoài ra, năng lực kiếm tiền cũng có thể được nâng cao thông qua các ảnh hưởng từ việc rút lui khỏi ngành công nghiệp: các đối thủ cạnh tranh vấp phải khó khăn hoặc rút khỏi một số hoạt động, cho phép một vài người ở lại có thể tăng giá và tăng lợi nhuận. 2. Quản lý tự điều chỉnh bản thân Quản lý có thể có năng lực, nhưng họ phải đối mặt với một sự tấn công dữ dội từ các đối thủ cạnh tranh mới hoặc chiến lược định giá và tiếp thị cạnh tranh từ các đối thủ cũ. Có lẽ họ sẽ tập hợp lại, học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ và tấn công với ý chí mới. 3. Bán công ty cho một công ty khác Người mua nên sẵn sàng chi trả ít nhất giá trị thanh lý (nếu tài sản hiện tại được bán gần với mức giá trị trên bảng cân đối của họ, sẽ cao hơn giá trị vốn hóa thị trường gắn liền với nó), và do đó các nhà đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại sẽ được hưởng lợi. 4. Hoàn thành hoặc thanh lý một phần Có nhiều công ty đơn giản không còn ý nghĩa để tồn tại. Các cổ đông có thể sẽ có nhiều tiền hơn rất nhiều nếu các giám đốc lựa chọn phân bổ tài sản bằng cách bán chúng ra để thu lại tiền mặt. Sau đó, một khoản cổ tức tăng lên có thể được trả cho các cổ đông. Với một số công ty, đặc biệt là những công ty sở hữu rất nhiều tài sản nhưng lại thua lỗ, số tiền gấp hai, gấp ba lần sẽ chảy vào túi các cổ đông nếu việc thanh lý dần tài sản được thực hiện. Bởi vậy nhà đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại cần tìm kiếm một trong bốn sự kiện này để kiếm được lợi tức đầu tư. Thất bại số 2: Trạm xăng Buffett mua một trạm xăng ở Omaha với sự hợp tác của một người bạn. Thật không may, nó có vị trí đối diện với một trạm Texaco luôn bán tốt hơn. Đáng kinh ngạc là Buffett thậm chí đã thực sự làm việc tại trạm xăng này - vào những ngày cuối tuần, ông thực sự đã ở đó để phục vụ khách hàng. Ông đã học được những bài học về lợi thế cạnh tranh: trạm Texaco "đã được thiết lập rất tốt và rất được ưa thích... lòng trung thành của khách hàng... những khách hàng trung thành... Không có gì có thể làm để thay đổi điều đó." Với việc bài học này được tiếp thu, nó sau đó đã dẫn đến một số thương vụ tốt nhất của ông khi ông tìm kiếm được các công ty có lòng trung thành tuyệt đối của khách hàng trong ngành của họ, ví dụ như Coca-Cola. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chàng trai 22 tuổi thông minh đã mất 2000 đô cho trạm xăng này. Gửi ý tưởng cho Graham Buffett vẫn khao khát được giáo dục dưới sự giám sát của Graham và tiếp tục gửi Graham các phân tích về các công ty. Cuối cùng Graham và đối tác, Jerry Newman, đã nhượng bộ và đưa Buffett vào làm việc tại Graham-Newman Corporation. Ông là một trong bốn người, ngoài các đối tác, làm việc với họ trong văn phòng đầu tư tại New York. Bài học đúc kết 1. Mỗi nhà đầu tư đều sẽ mắc sai lầm – rất nhiều là đằng khác. Bạn phải chấp nhận rằng bạn sẽ có những phi vụ thất bại, điều này là đương nhiên. Bạn phải phát triển các đặc điểm tính cách cho phép bạn học hỏi từ sự thất bại: hiệu suất danh mục tổng thể trong thời gian dài là trọng tâm để đánh giá sự thành công/thất bại. Ngay cả những nhà đầu tư lớn cũng sẽ sai lầm đến 45% thời gian. Nếu bạn đúng 55% thời gian, trong vài năm bạn sẽ gia tăng được sự giàu có một cách tuyệt vời. 2. Đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại là trọng tâm cách tiếp cận của Buffett. Có thể giá cổ phiếu sẽ giảm xuống mức thấp đến nỗi tài sản hiện tại trên mỗi cổ phiếu trong công ty sau khi trừ đi tất cả các khoản phải trả trở nên đáng giá hơn nhiều so với giá mà thị trường đang chào bán cổ phần. Một số công ty này có khả năng phục hồi giá trị cổ đông tốt. 3. Đừng bỏ qua các yếu tố định tính. Hiểu được vị thế cạnh tranh và chất lượng quản lý là trọng tâm của những khoản đầu tư thành công nhất. Thương vụ số 5Công ty Rockwood Tóm tắt thỏa thuận a L àm việc cho Graham, Buffett đã có hai năm hoạt động sôi nổi. Công việc chính của ông là ngồi “cày” thông tin về hàng trăm công ty trong một căn phòng không có cửa sổ. Ông đã chuẩn bị các báo cáo đơn giản về các công ty theo tiêu chí của Graham, cụ thể ở đây là cổ phiếu theo giá trị tài sản ròng hiện tại. Chúng là những cổ phiếu giá rẻ, bị bỏ rơi và không được ưa thích. Vụ đầu tư này là ví dụ về một trong những giao dịch đầu tư thông minh của Buffett vào một công ty bị đánh giá thấp, thường bị mọi người bỏ qua bởi nó thất bại trong việc mang lại lợi nhuận. Công ty Rockwood Là một nhà chế tạo bánh quy rắc sô cô la có lịch sử thua lỗ, Rockwood chiếm giữ một lượng cacao lớn. Hơn nữa, giá hạt cacao lại cao. Nếu Rockwood bán số hạt này ra thị trường, nó sẽ phải chịu một khoản thuế lớn. Thay vào đó, các giám đốc của Rockwood đề nghị Graham-Newman Corporation mua công ty của họ. Tuy nhiên, giá chào bán lại quá cao. Và rồi Rockwood đề nghị một nhà đầu tư khác - Jay Pritzker mua công ty. Pritzker nghĩ đến một cách để tránh né hóa đơn thuế 50% trên lợi nhuận từ việc bán ca cao. Một quy định mới về thuế cho phép nếu một doanh nghiệp đang thu nhỏ quy mô, nó có thể tránh thuế trong việc thanh lý một phần hàng tồn kho của mình. Pritzker liền mua một lượng cổ phần đủ quyền kiểm soát và bắt đầu thanh lý chỗ ca cao trị giá 13 triệu đô. Nhưng ông ta đã không bán chúng để lấy tiền mặt. Ông nói rằng các cổ đông tại Rockwood có thể trao đổi mỗi cổ phiếu lấy 36 đô giá trị tiền hàng. Cổ phiếu Rockwood đang bán ra thị trường với giá 34 đô. Bởi thế, rõ ràng có một cơ hội chênh lệch đã nảy sinh. Graham bị thức tỉnh và Buffett được chỉ thị mua cổ phần của Rockwood đổi lấy hạt cacao và sau đó bán lại, thu về lợi nhuận 2 đô la trên mỗi cổ phiếu. Thay vì một túi hạt, thứ Rockwood thực sự trao cho mỗi người bán là một chứng nhận kho hàng cho thấy quyền sở hữu hạt ca cao. Trong trường hợp giá chứng chỉ này giảm, Graham-Newman Corporation bán tương lai của hạt cacao (đảm bảo cung cấp một lượng hạt cố định vào một ngày xác định trong tương lai với mức giá cố định), bởi thế có thể khóa lợi nhuận chênh lệch. Hết tuần này sang tuần khác, Buffett phải mua cổ phiếu, và rồi bán hạt tương lai. Sự lắt léo của Buffett Graham-Newman đã rất thành công trong thương vụ mua bán này, nhưng Buffett tin rằng mình còn có thể làm tốt hơn. Ông chỉ đơn giản là đi ra ngoài và mua 222 cổ phiếu của Rockwood. Logic của ông như sau: • Mức giá đề nghị là 36.3 kg cacao cho một cổ phiếu. • Số hạt Rockwood sở hữu nhiều hơn một cách đáng kể so với mức 36.3 kg trên một cổ phiếu đó. • Vì vậy, nếu bạn là một trong những cổ đông KHÔNG bán cổ phần cho Rockwood, đầu tiên, số lượng hạt của bạn trên mỗi cổ phiếu được nắm giữ bởi công ty sẽ lớn hơn mức đề nghị 36 đô đó; và thứ hai, lượng hạt trên mỗi cổ phiếu của bạn sẽ tăng lên khi những người khác bán cổ phần của họ. Ngoài hạt cacao còn có giá trị của tất cả các nhà máy, máy móc, thiết bị, tiền mặt, khoản phải thu... của công ty trong phạm vi lợi nhuận của doanh nghiệp đang được giữ lại. Pritzker biết tất cả điều này và là một bộ óc rất thông minh. Buffett tận dụng cách tư duy này của Pritzker bằng cách mua cổ phần. Kết quả là gì? Trước đề nghị của Pritzker, cổ phiếu của Rockwood được bán với giá 15 đô. Nó dần tăng lên đến khoảng 100 đô. Và Buffett kiếm được 13.000 đô la. Bài học đúc kết 1. Điều quan trọng là phải xem xét kỹ lưỡng các hành động của một công ty và tác động của chúng lên giá trị trong tương lai (thay vì nhìn nhận nó như một khoản hoàn vốn ngắn hạn, hầu như không có rủi ro). 2. Những cơ hội này chỉ đến với những người sẵn sàng tìm hiểu đến ngọn ngành từ ngày này qua tháng khác, như mò kim đáy bể vậy. Buffett kiểm tra hàng ngàn công ty, hy vọng tìm thấy một hoặc hai mỏ vàng như Rockwood. Thương vụ số 6Công ty Sanborn Maps Tóm tắt thỏa thuận a G raham nghỉ hưu khi Buffett làm việc được khoảng hai năm cho ông, và Buffett lại thất nghiệp. Đến thời điểm năm 1956, Buffett đã tích lũy được khoảng 140.000 – 174.000 đô (số liệu này có thể thay đổi tùy thuộc vào nguồn bạn tham khảo) và ông không tìm kiếm việc làm. Ông chỉ muốn có một cơ sở vững chắc để tư duy và đưa ra các quyết định đầu tư vào các công ty Mỹ. Ông chọn Omaha. Khi trở lại Omaha, chàng trai Buffett 25 tuổi quyết định tập trung đầu tư cho bản thân mình. Ông cũng thiết lập một mối quan hệ đối tác đầu tư nhỏ với sáu đối tác gà mờ khác - chủ yếu là họ hàng và bạn bè ở địa phương, chẳng hạn như dì Alice, người bỏ vào khoảng 35.000 đô. Tất cả các đối tác góp vốn 105.000 đô, trong khi Buffett chỉ bỏ ra 100 đô. Ông làm việc trong một căn phòng nhỏ ngoài phòng ngủ. Buffett là người ra quyết định duy nhất và ông không nói với các đối tác về những gì mình đang đầu tư (bởi sợ bị bắt chước). Tuy nhiên, ông có cung cấp một báo cáo hằng năm về hiệu suất tổng thể và vợ của ông - Susie sẽ làm một bữa tiệc tối với thịt gà cho buổi quy tụ hằng năm này. Cũng chẳng mất nhiều thời gian để các nhà đầu tư khác bị thu hút (một số từng là nhà đầu tư của Ben Graham và đang tìm kiếm ngôi nhà mới cho dòng tiền của họ), và Buffett đồng ý thành lập quan hệ đối tác, tất cả hợp nhất vào công ty BPL duy nhất vào năm 1962. Cơ cấu mức phí và hiệu suất các thương vụ hợp tác của Buffett Buffett cảm thấy không đúng đắn khi nhận một khoản phí từ đối tác của mình, trừ khi ông ít nhất có thể trả được khoản lợi nhuận tương ứng với số tiền họ có được từ việc cho vay một cách an toàn. Bởi vậy, ông nói rằng ông sẽ không tính lệ phí cho 1 năm trừ khi ông đạt được mức lợi nhuận 4% trong năm đó cho các đối tác (đây là giai đoạn những năm 1956-1991). Tuy nhiên, bất kỳ tỷ suất lợi nhuận nào trên 4% cũng dẫn đến một tỷ lệ cao chảy vào túi Buffett. Lệ phí ban đầu lên tới 50%; từ năm 1961 tỷ suất lợi nhuận tối thiểu là 6% và lệ phí thực hiện là 25% trên lợi nhuận cho các mức trên đó. Buffett đặt ra mục tiêu vượt trội hơn chỉ số Dow trong các giai đoạn 3 năm – ông nghĩ 3 năm là khoảng thời gian tối thiểu để đánh giá một nhà quản lý quỹ. Bảng 6.1 cho thấy hiệu quả hợp tác của Buffett từ năm 1957 đến năm 1968 - đây là khoảng thời gian dài nhất mà chúng tôi có được các dữ liệu chính xác trước khi tất cả được thanh lý và hợp nhất vào đầu năm 1970. Bảng 6.1: Hiệu suất hợp tác của Buffett (Giai đoạn 1957–1968) a Nguồn: Thư của BPL tới đối tác (22 tháng 1 năm 1969) Trong thời kỳ từ năm 1957 đến năm 1968, Buffett đã không có một năm nào thua lỗ. Ông đã thu được gấp ba lần bình quân lợi nhuận hằng năm theo chỉ số Dow trước khi trừ lệ phí. Sau khi vốn đối tác được tích lũy lên tới vài triệu đô la, Buffett nhận được một khoản phí lớn hằng năm cho bản thân mình, và ông đã cho lại số tiền này vào Quỹ đối tác, gia tăng cổ phần của mình và trở nên giàu có. Dưới đây là một ví dụ về một trong những giao dịch Buffett thực hiện trong giai đoạn này. Công ty Sanborn Maps Sanborn Maps là một công ty kém may mắn. Nó từng là một doanh nghiệp phát đạt cung cấp bản đồ cho các công ty bảo hiểm. Các bản đồ hiển thị chi tiết từng đường dây điện, đường ống nước và các tòa nhà tại mỗi thành phố của Hoa Kỳ, cho phép ước tính nguy cơ hoả hoạn. Mỗi lần các công ty bảo hiểm sáp nhập, họ lại càng mua ít bản sao kế hoạch đường phố chi tiết của Sanborn. Ngoài ra, các phương pháp đánh giá và giảm thiểu rủi ro hiện đại cũng dần được giới thiệu. Mặc dù vậy, Sanborn vẫn có doanh số bán hàng khoảng 2 triệu đô một năm và vẫn có lãi, mặc dù lợi nhuận đã giảm từ hơn 500.000 đô một năm vào cuối những năm 1930 xuống còn dưới 100.000 đô vào những năm 1958 và 1959. Giá cổ phiếu cũng giảm bởi lợi nhuận giảm, từ 110 đô năm 1938 xuống còn 45 đô vào năm 1958. Điều này làm vốn hóa thị trường của công ty đạt mức 4.7 triệu đô la (45 x 105.000 cổ phiếu). Quan trọng hơn là ngoài việc kinh doanh bản đồ, Sanborn còn có một danh mục đầu tư với giá trị 65 đô một cổ phiếu - nghĩa là nó có khoảng 7 triệu đô chứng khoán có thể bán được, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể. Các giám đốc, những người sở hữu rất ít cổ phần, tỏ ra an phận với việc để công ty đơn giản là nắm giữ danh mục đầu tư này và nhận tiền lương hằng tháng của họ. Thậm chí họ từng cắt giảm cổ tức năm lần trong suốt 8 năm trước, bất chấp nguồn lực to lớn đang chảy trong lòng công ty này. Buffett mua lại, nhưng cần quyền kiểm soát để thay đổi Chúng ta có thể hiểu sâu hơn cách tư duy của Buffett về Sanborn từ trích đoạn một bức thư ông viết cho các đối tác vào năm 1959: "Trên thực tế, một phần công ty này [Sanborn Maps] là quỹ đầu tư đang sở hữu khoảng 30 hay 40 chứng khoán có chất lượng cao khác. Việc đầu tư của chúng tôi được thực hiện với mức chiết khấu đáng kể từ giá trị tài sản dựa trên giá trị thị trường của các cổ phiếu họ nắm giữ, cũng như dựa trên đánh giá thận trọng về hoạt động kinh doanh."4 Buffett đã mua lại cổ phần của Sanborn cho Quỹ đối tác của ông, bắt đầu từ tháng 11 năm 1958 và xuyên suốt năm 1959. Ông cũng mua cổ phần Sanborn cho quỹ riêng của mình và khuyến khích bạn bè mua cổ phần. Ông muốn càng nhiều người trung thành với mình sở hữu cổ phần càng tốt vì ông cần phải có quyền biểu quyết để thúc đẩy những thay đổi cần thiết nhằm giải phóng giá trị trong công ty. Một cách chắc chắn, qua quỹ đối tác, tài khoản cá nhân, bạn bè và gia đình, Buffett đã mua được đủ cổ phần để có quyền lựa chọn hội đồng quản trị. Những giám đốc còn lại phần lớn là đại diện các công ty bảo hiểm - khách hàng lớn nhất của Sanborn. Trong cuộc họp ban đầu, Buffett đã đề xuất rằng các cổ đông sẽ nhận được giá trị từ danh mục đầu tư của công ty và Sanborn nên thiết lập lại lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh bản đồ bằng cách làm cho dữ liệu trở nên thân thiện hơn thông qua các thiết bị điện tử. Giám đốc các công ty bảo hiểm nói không, nhưng các giám đốc khác thì ủng hộ. Buffett đã rất giận dữ vì các thành viên hội đồng quản trị từ phía bảo hiểm đã tìm cách ngăn chặn những ý tưởng của ông, vì vậy quỹ đối tác, gia đình và bạn bè của ông vẫn tiếp tục mua cổ phần (thậm chí ông còn buộc cha mình thuyết phục khách hàng môi giới của mình đầu tư). Việc này đã trao cho Buffett đủ số cổ phần để kiểm soát công ty nếu ông muốn. Quỹ đối tác của ông chiếm giữ 24.000 cổ phiếu, tương ứng với 22,8% của Sanborn, và các cộng sự của ông chiếm giữ thêm 21% nữa. Buffett đã đặt 35% nguồn vốn của đối tác của mình vào Sanborn Maps. Một góc nhìn sâu hơn về tư tưởng của Buffett cũng có thể được tìm thấy trong trích dẫn từ một lá thư gửi các đối tác vào năm 1958: "Tuy mức độ bị đánh giá thấp của công ty này không lớn hơn quá nhiều so với nhiều chứng khoán khác mà chúng ta sở hữu... chúng ta là cổ đông lớn nhất và điều này mang lại lợi thế lớn gấp nhiều lần trong việc xác định khoảng thời gian cần thiết để công ty được đánh giá một cách đúng đắn. Trong quyền nắm giữ đặc biệt này, chúng ta hầu như có thể đảm bảo được một hiệu suất tốt hơn hiệu suất Dow Jones trong khoảng thời gian ta nắm giữ nó.”5 Buffett đã sử dụng thế lực này để nói với các giám đốc khác của Sanborn rằng nếu họ không làm như ông gợi ý, ông sẽ kêu gọi một cuộc họp cổ đông đặc biệt và nắm quyền kiểm soát. Năm 1960, hội đồng quản trị đã đồng ý sử dụng danh mục đầu tư để mua cổ phần. Các đối tác của Buffett đã đấu thầu cổ phần của họ. Các đối tác của Buffett kiếm được lợi nhuận khoảng 50%. Buffett đã mô tả nó như sau: "Khoảng 72% cổ phiếu của Sanborn, thuộc 50% trong số 1.600 cổ đông, được trao đổi thành danh mục chứng khoán với giá trị hợp lý. Công cuộc kinh doanh bản đồ còn lại hơn 1.25 triệu đô trong trái phiếu chính phủ và thành phố với tư cách một quỹ dự trữ... Cổ đông còn lại được để lại một giá trị tài sản có cải thiện đôi chút, thu nhập trên mỗi cổ phiếu cao hơn đáng kể cũng như có gia tăng tỷ lệ cổ tức."6 Bài học đúc kết 1. Biên độ an toàn. Rõ ràng Buffett đã sử dụng tốt các ý tưởng của Graham ở đây. Ông đã mua cổ phiếu với mức lợi nhuận an toàn ở mức thấp hơn giá trị tài sản ròng hiện tại. Và ông đã bảo đảm rằng vẫn có một khoản thu nhập, thứ sẽ còn được cải thiện hơn nữa nếu doanh nghiệp được cải tổ hoặc thu nhỏ quy mô - thực sự thì nó vẫn hoạt động cho đến tận ngày nay. Một sự đảm bảo bổ sung đến từ việc kiểm soát rất nhiều cổ phiếu, giúp mang lại cho ông tầm ảnh hưởng lên định hướng của công ty. 2. Thế lực lớn hơn khi bạn nắm giữ hàng triệu. Lợi ích của việc nắm giữ một số tiền lớn là nó cho phép các nhà đầu tư kiểm soát một doanh nghiệp. Một khi khả năng tiếp cận vốn tăng lên, nhà đầu tư có thể nhắm mục tiêu vào các công ty mà một nhóm giám đốc nhỏ ít có khả năng kiểm soát hiện trạng. Bởi vậy, chúng ta thấy một Buffett 29 tuổi hợp tác với những người khác để tối đa hóa giá trị của cổ đông nhằm áp đặt ý chí lên một hội đồng có vẻ cố thủ. Điều này cần có động lực cũng như một lý tưởng lớn để ông truyền đạt, thuyết phục người khác gia nhập hội nhóm của mình (hay tập hợp các cổ đông độc lập, tùy theo cách bạn nhìn nhận nó). Mặc dù bản năng của Buffett là lùi bước trước đối đầu, khi vấn đề liên quan đến mang lại giá trị cho cổ đông, ông vẫn có thể đấu tranh một cách đầy nghiêm túc. Thương vụ số 7Nhà máy Dempster Tóm tắt thỏa thuận a C ông ty BPL, được hình thành từ các mối hợp tác cá nhân vào ngày 1 tháng 1 năm 1962, khởi đầu với 7.2 triệu đô tài sản ròng. Buffett đã đưa vào quan hệ đối tác này gần như toàn bộ số tiền của mình, với số vốn gần 450.000 đô la. Ngoài ra, ông còn có một phần giá trị của đối tác nhờ những khoản lệ phí phát sinh và dùng chính nó để đầu tư thêm vào quỹ. Nhà máy Dempster Nhà máy Dempster là một doanh nghiệp gia đình nhỏ, có trụ sở tại thị trấn Beatrice, Nebraska. Nó cung cấp các cối xay gió và hệ thống thủy lợi. Buffett bắt đầu mua một vài cổ phiếu vào năm 1956 khi họ bán với giá từ 16 đến 18 đô la. Công ty có giá trị ròng (giá trị sổ sách) khoảng 4.5 triệu đô hay 75 đô trên mỗi cổ phiếu. Giá trị tài sản ròng hiện tại là 50 đô trên mỗi cổ phiếu với doanh thu hằng tnăm khoảng 9 triệu đô. Giá cổ phiếu quá thấp vì Dempster kiếm được rất ít lợi nhuận hoặc thua lỗ, và quản lý dường như không biết phải làm sao để cải thiện xu hướng đau khổ này. Ngoài ra, nó còn có rất nhiều nợ và đang tồn tại trong một ngành công nghiệp với kinh tế nghèo nàn. Buffett nói về Dempster: "Hoạt động kinh doanh trong thập kỷ qua được đặc trưng bởi doanh thu tĩnh, doanh thu hàng tồn kho thấp và hầu như không có lợi nhuận nào từ vốn đầu tư."7 Nói tóm lại, đó là một kiểu đầu tư điển hình của Benjamin Graham. Có những khả năng khác nhau để tạo ra lợi nhuận cho một giao dịch đầu tư như vậy. Thứ nhất, kinh tế của ngành công nghiệp đó có thể được cải thiện; thứ hai, quản lý cũng có thể được cải thiện hoặc thay thế; thứ ba, việc kinh doanh có thể được thanh lý; và thứ tư, họ có thể chấp nhận bị mua lại. Buffett và bạn bè của ông, Walter Schloss và Tom Knapp, đã tích lũy được 11% cổ phần của công ty, và Buffett tham gia vào hội đồng quản trị. Ông tiếp tục mua, cuối cùng mua cả cổ phiếu của gia đình Dempster. Công ty Buffett Partnership trở thành cổ đông chính vào giữa năm 1961, với 70% vốn chủ sở hữu tiêu tốn khoảng 1 triệu đô la (với 10% khác đến từ một số ít "cộng sự"), và Buffett được bổ nhiệm làm chủ tịch. Mức giá trung bình là 28 đô một cổ phiếu. Cổ phần của Dempster chiếm 21% tài sản của BPL. Rắc rối ở nhà máy Công ty tham gia vào rất nhiều dự án kinh doanh không đem lại lợi nhuận, sử dụng một khoản lớn tiền của các cổ đông vào hàng tồn và các khoản phải thu. Việc hợp lý ở đây là phải cắt giảm đáng kể, giải phóng tiền mặt để đầu tư vào nơi khác, đặc biệt là mua các cổ phiếu có giá trị khác trên thị trường. Các nhà quản lý gật gù khi ngài Chủ tịch Buffett nói về việc phải giảm lượng hàng tồn kho trong các chuyến thăm hằng tháng của ngài từ Omaha - nhưng sau đó lại nhanh chóng chẳng làm gì cả. Sự thiếu hụt tiền mặt của công ty đáng lo ngại đến nỗi các chủ ngân hàng của Dempster đã xem xét đến việc đóng cửa công ty và vào năm 1962, công ty chỉ còn cách vài tháng là đến bờ vực phá sản. Buffett đối mặt với viễn cảnh phải giải thích với các đối tác rằng 21% tài sản của họ đã biến mất. Vào thời điểm đó, trông nó có vẻ như một thất bại phản ánh quyết định đầu tư yếu kém của ông. Tuy nhiên, từ giao dịch không mấy hứa hẹn này, Buffett đã có thể tạo ra một thương vụ giá trị - với chút giúp đỡ từ bạn bè. Charlie Munger Năm 1959, Buffett gặp Charlie Munger. Một người bạn trí thức người Omaha (dù đến lúc đó đã chuyển tới California), Munger là một trong số ít những người có thể theo kịp Buffett và mang lại những cuộc thảo luận được tư duy kỹ lưỡng. Họ thân nhau như anh em vậy. Munger từng là luật sư, điều mà Buffett từng nhận xét rằng nghề luật là một sở thích tốt, nhưng ông có thể làm tốt hơn nếu là một nhà đầu tư. Munger sau đó liền mở một quỹ đầu tư ở California và thường xuyên nói chuyện điện thoại với Buffett về những ý tưởng đầu tư. Họ thảo luận về vấn đề Dempster vào mùa xuân năm 1962. Munger biết một nhà quản lý cứng rắn ở California có tên Harry Bottle, người có thể giúp đỡ. Phải mất một khoản chi trả khổng lồ (phần lớn là chia lợi nhuận), nhưng Buffett đã thuyết phục được Bottle chuyển đến Beatrice và đó là một sự đầu tư xứng đáng. Sự phục hồi Bottle đến Beatrice vào tháng 4 năm 1962, xác định các mảng gây thua lỗ của nhà máy Dempster và tiến hành sa thải: đây là một việc không hề dễ dàng, nhưng cần thiết. Một nhân viên mới được Buffett thuê có tên Bill Scott đã đến Beatrice để giúp Bottle sắp xếp kiểm kê hàng. Scott trước đây là một nhân viên ngân hàng và từng tham dự khóa học đầu tư của Buffett. Ngoài ra, Buffett chỉ có một nhân viên là một viên thư ký trong văn phòng mới, nhỏ nhắn tại Kiewit Plaza, Omaha. Bottle và Scott cải cách công cuộc tiếp thị của Dempster. Họ bán các thiết bị thặng dư, cắt giảm hàng tồn kho, đóng cửa năm chi nhánh và tăng giá cho doanh nghiệp nhỏ (đối với các mặt hàng mà họ là nhà cung cấp duy nhất, họ tăng giá lên đến 500%). Một hệ thống dữ liệu chi phí hợp lý được tạo ra. Có tất cả 100 người đã bị sa thải, bất chấp sự phản đối của công đoàn và phe đối lập địa phương. Điểm hoà vốn được cắt giảm xuống gần một nửa và khoản tiền mặt vừa giải phóng được Buffett đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu. Về các giải pháp thực tiễn ông đã thực hiện, Bottle nói: "Tôi đã gặp khó khăn trong việc giảm hàng tồn kho xuống mức có thể đáp ứng được mức lợi nhuận hợp lý. Vì vậy, trong tuyệt vọng, tôi chỉ đơn giản là thuê một họa sĩ và với sự giúp đỡ của anh ấy, chúng tôi đã vẽ một đường trắng dài 15cm với độ cao 3m trên bức tường bên trong kho hàng lớn nhất. Tôi gọi giám sát vào và thông báo với họ rằng nếu tôi bước vào tòa nhà và thấy đường kẻ trắng này bị che lấp bởi đống hộp, tôi sẽ sa thải tất cả mọi người, ngoại trừ bộ phận vận chuyển cho đến khi đường vạch hiện ra lần nữa. Tôi từ từ chuyển đường kẻ đó xuống thấp dần cho đến khi đạt được lượng hàng tồn thỏa đáng."8 Trong khi hàng tồn kho chiếm 4.2 triệu đô vào đầu năm 1962, một năm sau, nó chỉ còn khoảng 1.6 triệu đô la. Mặt khác, 166.000 đô tiền mặt và tận 2.315.000 đô tiền nợ phải trả vào ngày 30 tháng 11 năm 1961 (kết thúc năm tài chính của Dempster ) đã được biến chuyển thành 1 triệu đô bao gồm cả tiền mặt và các khoản đầu tư (được mua bởi công ty Buffett Partnership) với tổng nợ chỉ ở mức 250.000 đô. Danh mục đầu tư cổ phiếu và trái phiếu đã tăng lên 2.3 triệu đô vào tháng 7 năm 1963. Hơn nữa, Dempster hiện đã có một hoạt động kinh doanh có lợi nhuận (trị giá ít nhất là 16 đô Mỹ trên một cổ phiếu theo như trong thư của Buffett năm 1963). Nhận ra khoản lợi đầu tư Buffett cố gắng bán công ty, thậm chí còn chạy quảng cáo trên Wall Street Journal. Những người dân ngoại thành Beatrice kinh hoàng trước viễn cảnh một kẻ ngoại lai sẽ làm ông chủ quyền lực nhất của mình, họ liền tập hợp lại vào mùa hè năm 1963 và gây quỹ được gần 3 triệu đô để mua lại tài sản hoạt động của công ty nhằm thể hiện sự quan ngại trước Công ty sản xuất Dempster. Việc này mang lại một khoản tiền mặt và đầu tư lớn được thanh lý để trả tiền cổ đông, bao gồm cả Buffett Partnership, mà lúc này đã nắm giữ 73% kinh doanh. Cổ phần của đối tác giờ trị giá 3.3 triệu đô hay 80 đô một cổ phiếu. Buffett đã tăng gấp ba lần số tiền ông bỏ ra cho Nhà máy Dempster. Bài học đúc kết 1. Logic kinh doanh là một chuyện, bị ghét lại là một chuyện quá sức chịu đựng khác. Cả thị trấn ghét Buffett. Ông có một nỗi sợ hãi sâu sắc với việc phải đối đầu và bị ghê tởm, ông thề sẽ không bao giờ đặt mình vào tình huống phải tàn bạo với những người làm việc cho mình. Điều này giúp lý giải rất nhiều về quãng thời gian dài ông tiếp tục duy trì công cuộc kinh doanh may mặc nghèo nàn ở Berkshire Hathaway, hứng thú với các doanh nghiệp nhượng quyền thương mại đúng đắn với các nhà quản lý ông ưa thích, tin tưởng và ngưỡng mộ, những người có thể phát triển kinh doanh trong nhiều thập kỷ, và thậm chí khuynh hướng tiếp tục nắm giữ cổ phiếu trong suốt giai đoạn thăng trầm của các công ty. Buffett thích xây dựng mối quan hệ tích cực lâu dài. 2. Các nhà quản lý giỏi có thể làm nên điều kỳ diệu. Buffett nói, "Thuê Harry có thể là quyết định lựa chọn nhà quản lý quan trọng nhất mà tôi từng thực hiện. Dempster đã gặp rắc rối lớn với hai nhà quản lý trước, và các ngân hàng thì đang đối xử với Dempster như một đối tượng sắp phá sản vậy. Nếu Dempster sụp đổ, cuộc đời và vận may của tôi sẽ khác xa từ ngày đó."9 3. Sự kiên nhẫn sẽ được đền đáp. Không có cách nào diễn đạt điều này tốt hơn cách Buffett tự nói: "Lợi thế của chúng tôi là ở chỗ những chứng khoán chúng tôi chọn chẳng đem lại một mức giá khôn ngoan nào trong nhiều tháng trời, hoặc có lẽ là cả năm trời vào thời điểm chúng tôi mua chúng. Điều này chỉ ra sự cần thiết để đo lường kết quả của chúng tôi trong một khoảng thời gian đầy đủ. Chúng tôi đề nghị tối thiểu là ba năm."10 4. Tầm quan trọng của việc phát hiện công ty sử dụng quá nhiều tiền của cổ đông. Một công ty có thể được tư bản hoá quá mức. Harry Bottle đã chứng minh rằng Dempster trước đây đã sử dụng quá nhiều vốn, bởi vậy thay vì kêu gọi góp thêm vốn, vào mùa hè năm 1963, Dempster đã chỉ sử dụng 60% tài sản của mình trong kinh doanh sản xuất. Đó là tất cả những gì cần thiết cho các yếu tố hiệu quả của doanh nghiệp. 40% còn lại sẵn sàng để Buffett đầu tư vào chứng khoán có thể bán được. Bottle đã thảo luận điều này trong bức thư của ông vào ngày 20 tháng 7 năm 1963 tới các cổ đông của Dempster: "Vốn hóa quá mức thể hiện một vấn đề nghiêm trọng trong việc quản lý các nỗ lực cam kết tạo ra lợi nhuận thỏa đáng trên vốn." 5. Giá mua rất quan trọng. Nếu bạn mua ở một mức giá đủ thấp thì bạn đã có tỷ lệ cược lợi thế hơn. Như Buffett đã viết, "Đừng bao giờ dựa dẫm vào một giao dịch tốt. Hãy đạt được giá mua hấp dẫn đến mức ngay cả một giao dịch tầm thường cũng mang lại kết quả tốt."11 6. Tìm kiếm cơ hội định giá. Có khả năng định giá tiềm ẩn trong nhiều doanh nghiệp. Tại Dempster, các nhà quản lý trước đây không đủ can đảm để tăng giá khi có thể. Khả năng phát hiện ra cơ hội tăng giá bởi một số khách hàng bị ràng buộc được biểu hiện hết lần này đến lần khác trong toàn bộ sự nghiệp của Buffett. Thương vụ số 8American Express Tóm tắt thỏa thuận a W arren Buffett luôn ghi nhớ những yếu tố xác định của một hoạt động đầu tư, như Benjamin Graham vẫn thường nhấn mạnh: • Phân tích toàn diện các hoạt động kinh doanh. • Biên độ an toàn. • Chỉ mong đợi một mức lợi tức thỏa đáng. • Tư duy độc lập, như trong câu chuyện Quý ông Thị trường, và ý tưởng về giá trị thực chất cũng rất quan trọng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng các nguyên tắc này có thể được áp dụng theo các cách tiếp cận giá trị khác nhau. Graham đã nhấn mạnh các tình huống có tài sản ròng hiện tại cao, hãy đặc biệt chú ý tới mức độ an toàn nếu các hoạt động kinh doanh hiện tại lụi bại. Nhưng ông cũng tính đến khả năng kiếm tiền và sự ổn định trong thu nhập, cũng như xem xét đến khả năng quản lý và tính liêm khiết. Buffett đã lựa chọn nhiều công ty sử dụng cách tiếp cận này; như chúng ta đã xem xét qua các giao dịch đầu tư của ông tại Rockwood, Sanborn Maps và Dempster. Thật vậy, Buffett cũng đã chọn lựa các cổ phiếu khác dựa trên cách tiếp cận này - bao gồm cả Berkshire Hathaway. Thay đổi mối tập trung Vào đầu những năm 1960, Buffett nhận thấy rằng nhiều công ty mà ông phân tích không có bảng cân đối kế toán thực sự mạnh và bởi thế, theo cách tiếp cận của Graham, sẽ bị bỏ lại một bên. Ông phát hiện ra rằng trong một số trường hợp, các công ty này có triển vọng tốt bởi họ có các đặc quyền kinh tế kết hợp với nguồn tài chính mạnh mẽ, cùng các nhà quản lý có năng lực và trung thực. Điều này dẫn tới một sự tiến triển trong cách tiếp cận đầu tư của Buffett, được hỗ trợ bởi ảnh hưởng tư tưởng của Philip Fisher12 và các cuộc trò chuyện thường xuyên với Charlie Munger. Điều này không phải để nói rằng Buffett đã từ bỏ cách tiếp cận của Graham, chỉ đơn thuần là trong vườn cây giá trị có rất nhiều hoa thơm trái ngọt. Một trong những câu hỏi thường gặp mà tôi đã nghe Buffett và Munger trả lời tại Đại hội Thường niên ở Omaha của họ là: "Anh sẽ làm gì nếu bắt đầu với ít hơn 1 triệu đô?" Trả lời câu hỏi này, họ nói rằng họ sẽ chọn các công ty nhỏ hơn, những nơi có nhiều cơ hội để tìm các công ty bị đánh giá thấp và có giá trị tài sản ròng cao. Giờ đây, họ không thể chọn các công ty nhỏ bởi họ phải phân bổ hàng tỷ đô la trong danh mục đầu tư của mình và rõ ràng việc mua và nắm giữ những thương hiệu mạnh về lâu dài là hợp lý hơn khi phải đầu tư hàng trăm triệu. Các nhà đầu tư nhỏ có thể đầu tư theo cả hai cách: đầu tư vào giá trị theo kiểu Graham vào các công ty có vốn hóa thị trường nhỏ, cũng như các cổ phiếu có đặc quyền kinh tế - chủ yếu là các công ty lớn. Các nhà đầu tư lớn hơn hầu như không có quyền lựa chọn đầu tư vào giá trị tài sản ròng hiện tại, bởi họ không thể đầu tư một khoản tiền lớn tương xứng với quy mô của quỹ mà không gây tác động đáng kể lên giá cổ phiếu của doanh nghiệp họ đang mua. Một ví dụ về phương pháp đầu tư đã được sửa đổi của Buffett có thể thấy trong giao dịch của ông với American Express. American Express Câu chuyện bắt đầu với một kẻ lừa đảo. Anh ta mua dầu salad làm từ đậu nành và lưu trữ trong kho. Sản phẩm này có một mức giá được cập nhật hằng ngày trên thị trường hàng hóa và nhờ đó, gã lừa đảo này sử dụng hàng hoá của mình làm tài sản thế chấp để vay từ 51 ngân hàng. American Express điều hành các thùng kho và phát hành hóa đơn kho xác nhận rằng dầu salad đủ hàng và có thể giao dịch. Các ngân hàng cảm thấy an tâm và cho tên lừa đảo vay hàng chục triệu đô. Bạn có thể thấy câu chuyện này rồi sẽ diễn biến ra sao, phải không? Bằng chứng đơn giản cho vụ lừa đảo này là dầu trôi nổi trên mặt nước, hoặc bạn có thể lưu trữ dầu salad trong một buồng riêng nhỏ được đặt trực tiếp dưới nắp lấy mẫu. Tay lừa đảo nhận ra rằng hắn thậm chí có thể vay mượn được số tiền lớn hơn nếu American Express và các ngân hàng tin rằng có nhiều dầu salad trong thùng chứa hơn số hàng hắn thực sự có. Hắn bố trí cho các bể gần đầy nước biển với một lớp dầu salad đổ lên trên. Khi các thanh tra từ American Express hoặc các ngân hàng tập trung kiểm định, họ sẽ lấy mẫu hàng từ phía trên và kết luận rằng các thùng chứa một lượng lớn dầu có giá trị. Sự sụp đổ Vào tháng 9 năm 1963, tên lừa đảo ngày càng trở nên táo tợn, hắn ta nghĩ rằng mình có thể lừa cả thị trường, đặc biệt khi Liên Xô cần nhập khẩu các loại dầu ăn sau những vụ mùa thất bát. Hắn ta liền vay mượn từ người môi giới của mình trên chính các khoản vay hắn có để mua dầu tương lai. Chính phủ Hoa Kỳ cấm bán dầu cho Liên Xô và giá cả sụp đổ. Tên lừa đảo bị phá sản vào tháng 11 và các ngân hàng đã mất hơn 150 triệu đô. Họ liền quay sang American Express đòi bồi thường tiền cho họ và giá cổ phiếu của nó giảm mạnh từ 64 đô xuống còn 38 đô, khiến các nhà phân tích đều lo lắng về sự sống còn của nó. Nghiên cứu thị trường của Buffett Đầu những năm 1960, American Express là công ty hàng đầu thế giới về séc du lịch (có 60% thị phần trên thế giới, mặc dù nó tính đắt hơn đối thủ), và là nhà dẫn đầu thế giới về thẻ tín dụng. Buffett đi đến một trong những quán ăn yêu thích của mình ở Omaha và quan sát. Ông phát hiện ra rằng những người bình thường vẫn đang sử dụng thẻ American Express khi trả tiền, hoàn toàn chẳng quan tâm tới vụ xì-căng-đan dầu ăn ở Phố Wall. Buffett kiểm tra cả các nhà hàng khác và những nơi dùng thẻ: người bán hàng vẫn chấp nhận thẻ. Ông đi đến các ngân hàng, các cơ quan du lịch và thấy rằng người ta vẫn thích sử dụng séc du lịch của American Express. Ông đã nói chuyện với các đối thủ cạnh tranh của American Express và nhận thấy họ nghĩ rằng nó vẫn là một đối thủ lớn. Ông liên hệ với bạn bè xem liệu người ta có còn sử dụng thẻ và séc du lịch bên ngoài Omaha hay không. Ông đủ chắc chắn là họ vẫn đánh giá cao dịch vụ và không mấy quan tâm đến sự vụ phiền phức ở Phố Wall. Buffett kết luận rằng đặc quyền kinh tế vẫn còn nguyên vẹn. Đó là một công ty có quyền định giá vì nó chiếm lĩnh ngành công nghiệp của mình. Nó níu giữ khách hàng nhờ thương hiệu mạnh và mạng lưới của mình. Mọi người vẫn tin tưởng thương hiệu này bất chấp vụ lụi bại vì dầu salad. Nó có được rất nhiều thiện chí từ khách hàng nhờ độ tin cậy trong quá khứ, và đó là một lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra, một khoản tiền mặt khổng lồ được tạo ra bởi những người trả trước cho séc du lịch. Nhưng đây không phải là một thương vụ đầu tư kiểu Graham, bảng cân đối kế toán của American Express quá yếu để có thể trở thành một giao dịch đầu tư. Buffett đã mua Vào đầu năm 1964, Buffett Partnership (Quỹ đối tác Buffett) có tổng cộng 17 triệu đô, trong đó Buffett sở hữu 1.8 triệu đô. Ông đã mua vào nhiều nhất có thể cổ phiếu của American Express mà không đẩy giá quá cao. Vào tháng 6 năm 1964, quỹ nắm giữ gần 3 triệu đô cổ phần của AmEx*. * AmEx là viết tắt của American Express. (ND) Là một cổ đông, Buffett không muốn American Express trốn tránh trách nhiệm của mình trong vụ gian lận bởi ông biết công ty kiểu này sống hay chết là nhờ danh tiếng của nó (một thành phần trung tâm của đặc quyền kinh doanh). Bây giờ tốt nhất là chấp nhận gánh nặng tài chính để bảo vệ danh tiếng. Vì vậy, Buffett đã khuyến khích kế hoạch hoà giải với các ngân hàng trị giá 60 triệu đô. Họ chấp nhận và giá cổ phiếu của American Express tăng nhanh. Vào tháng 11, quỹ đã có hơn 4.3 triệu đô cổ phần của American Express và vào đầu năm 1965, American Express chiếm gần một phần ba tài sản của Quỹ đối tác. Buffett tiếp tục mua. Đến năm 1966, Quỹ đối tác đã chi 13 triệu đô cho 5% cổ phần của American Express. Năm 1967, giá cổ phiếu tăng lên 180 đô la và Buffett bán phần lớn cổ phần. Bài học đúc kết 1. Hãy suy nghĩ về việc kinh doanh. Có những lúc các vấn đề ngắn hạn gây giảm giá cổ phiếu. Trong nhiều trường hợp, giá trị dài hạn không bị ảnh hưởng. Nếu thị trường chỉ tập trung vào ngắn hạn thì cơ hội để mua những doanh nghiệp xuất sắc, có những đặc quyền mạnh và các nhà quản lý giỏi với giá rẻ sẽ xuất hiện. 2. Khi có tỷ lệ cược tốt, hãy đầu tư thật nhiều. Hãy đầu tư một số tiền lớn nếu có cơ hội tuyệt vời. Buffett đã bỏ 40% quỹ của mình vào thương vụ đầu tư này. 3. Tìm hiểu xung quanh cho các dữ liệu định tính. Hãy thực hiện nghiên cứu của riêng mình (nói chuyện với bất cứ ai hiểu biết) và không dựa vào ý kiến của các nhà phân tích ngồi lì trong những toà tháp trung tâm tài chính của họ. Một thùng nước ngọt trên con thuyền buồm cũ kĩ sẽ là một thùng nước uống. Nó trở thành nơi để thủy thủ đoàn tập trung trò chuyện. Thông tin được trao đổi xung quanh chiếc thùng - hoặc, theo cách nói hiện đại, chính là khu làm mát - từ tin đồn và ý kiến, tới bình luận và thực tế. Phillip Fisher đã sử dụng thuật ngữ này để chỉ hành động đi ra ngoài nói chuyện với bất cứ ai có kiến thức về công ty. Đó có thể là đối thủ cạnh tranh (ví dụ, hãy hỏi: "Ngoài bạn, ai là người giỏi nhất trong ngành công nghiệp?"), nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng... Thương vụ số 9Disney Tóm tắt thỏa thuận a N ăm 1966, cổ phiếu của Disney được bán dưới 10 lần so với thu nhập trên mỗi cổ phiếu của năm trước. Điều đó có nghĩa là cổ phiếu của Disney có hệ số giá trên thu nhập (PE) ít hơn 1013. Disney đã kiếm được lợi nhuận trước thuế 21 triệu đô la vào năm 1965 và có vốn hóa thị trường từ 80 triệu đến 90 triệu đô la. Hơn nữa, nó còn có nhiều tiền hơn nợ. Cảm giác đầu tiên trên Phố Wall là bất chấp thành công gần đây của nó với siêu phẩm Mary Poppins, nó không hề có tiềm năng nên sẽ có ít triển vọng tăng trưởng, phải chăng nó sẽ suy giảm? Hành động của Buffett Một phần quan trọng trong nghiên cứu của Buffett là đi và ngồi trong rạp chiếu phim, được bao quanh bởi một lũ trẻ đang xem Mary Poppins. Ông có thể thấy chúng yêu thích các sản phẩm của Disney như thế nào. Và ông có thể thấy rằng với các sản phẩm có giá trị này, mọi người, hết thế hệ này đến thế hệ khác, sẽ tiếp tục trả tiền cho phim của Disney. Ví dụ, điều tuyệt vời về Bạch Tuyết là một khi nó được thực hiện và bạn đã bỏ hết chi phí, bạn có thể sử dụng nó hết lần này đến lần khác. Cứ mỗi 7 năm lại có một thế hệ trẻ con quan tâm đến nó. Hơn nữa, bạn có thể tận dụng sự yêu thích các nhân vật dưới nhiều hình thức khác nhau, từ việc cấp phép cho túi trẻ em và áo phông cho tới các công viên giải trí. Và Mickey Mouse không có người đại diện (không giống như, giả sử, Tom Cruise), những người có thể chiếm lấy nhiều giá trị tạo ra từ một bộ phim thương mại cho khách hàng của họ. Buffett và Munger cũng đã ghé thăm Disneyland ở California và đi xung quanh phân tích giá trị những chuyến đi. Buffett đã gặp Walt Disney và rất ngưỡng mộ lòng tận tụy đối với công việc và nhiệt thành lan toả của ông. Disney chỉ cho Buffett một khu vực vừa được lắp đặt mang tên Cướp biển Caribbe. Chỉ riêng khu vực này đã tiêu tốn mất 17 triệu đô - khoảng một phần năm vốn hóa thị trường của công ty. Buffett sau đó đã châm biếm rằng, "Hãy tưởng tượng sự phấn khởi của tôi - một công ty được bán với giá chỉ bằng năm khu vực vui chơi!"14 Logic của Buffett – đậm chất của Fisher và Munger nhiều hơn của Graham Buffett đã dành rất nhiều sự quan tâm tới tài sản vô hình của Disney và ít quan tâm đến tài sản trên bảng cân đối kế toán. Chỉ riêng thư viện phim đã trị giá bằng giá mua, mặc dù các tài sản này không bao giờ được cho vào bảng cân đối - các bộ phim được đánh giá với giá trị bằng không! Buffett mô tả quá trình suy nghĩ của mình như sau: "Năm 1966, người ta nói, ‘Ồ, Mary Poppins năm nay thật tuyệt vời, nhưng họ sẽ không làm một bộ phim nữa về Mary Poppins trong năm sau đâu, nên thu nhập sẽ giảm sút!’ Tôi không quan tâm nếu thu nhập thực sự giảm sút. Bạn biết bạn vẫn sẽ được xem Mary Poppins trong bảy năm nữa... Ý tôi là không có một hệ thống tốt hơn để có thứ mà về cơ bản, bạn sẽ có một vụ mùa mới mỗi 7 năm, nơi bạn được tính phí nhiều hơn sau mỗi lần… Tôi đã ra ngoài để gặp Walt Disney. Chúng tôi ngồi xuống và ông ấy nói với tôi toàn bộ kế hoạch của công ty – ông ấy đã không thể tử tế hơn. Đó là một trò đùa. Nếu ông ấy tới một vài nhà đầu tư mạo hiểm lớn, hoặc một số công ty lớn của Mỹ, nếu ông ấy là một công ty tư nhân, và nói ‘Tôi muốn anh mua chúng tôi’... họ có thể sẽ mua dựa trên giá trị là 300 hay 400 triệu đô la Mỹ. Thực tế rằng nó cứ ở đó trên thị trường mỗi ngày đã thuyết phục mọi người tin rằng 80 triệu đô là một định giá thích hợp. Về cơ bản, họ bỏ qua nó bởi vì nó quá đỗi quen thuộc. Nhưng điều này xảy ra một cách định kỳ trên Phố Wall." 15 a Quỹ đối tác Buffett đã mua 5% cổ phần công ty với giá 4 triệu đô. Buffett bán nó trong năm sau với giá 6.2 triệu đô. Mặc dù thương vụ này mang lại lợi nhuận tốt, nhưng Buffett đã bán quá sớm. Buffett cho biết, "Quyết định mua vào năm 1966 có vẻ thông minh... nhưng chủ tịch của các bạn đã huỷ hoại nó [bằng cách bán vào năm 1967]."16 Ông đang đề cập đến thực tế là giá cổ phiếu đã tăng 138 lần từ năm 1967 đến năm 1995. Bài học đúc kết 1. Quý ông Thị trường có thể là một chú voi Dumbo. Không phải lúc nào cũng thế, nhưng đôi khi là vậy. Hãy có tầm nhìn dài hạn. Các nhà đầu tư trong tổ chức có thể tập trung vào ngắn hạn. Hãy thử nghĩ xa hơn họ bằng cách xem xét vị trí của công ty khi tình trạng ảm đạm hiện tại kết thúc. 2. Các doanh nghiệp cần ít vốn bổ sung để tạo ra lợi nhuận gia tăng có thể là một mỏ vàng. Disney đã sử dụng chu kỳ 7 năm để phát hành lại các sản phẩm được yêu thích trước đây cho thế hệ trẻ mới với chi phí bổ sung rất ít. Và nó đã có thể sử dụng các bộ phim thương mại ở các định dạng mới khi chúng đã xuất hiện, từ VHS tới các lần tải xuống, với chi phí bổ sung rất nhỏ. Các doanh nghiệp này có thể mang lại lợi nhuận rất cao cho mức vốn đầu tư. 3. Lại câu chuyện thùng nước ngọt. Buffett đã gặp Walt Disney, ông khảo sát thương hiệu cũng như sản phẩm của công ty tại Disneyland và rạp chiếu phim. 4. Quan sát chất lượng trong cuộc sống hằng ngày. Thật dễ dàng để xem xét chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ của một số công ty chỉ bằng cách mở to đôi mắt của bạn. 5. Không bán quá sớm. Buffett bán cổ phiếu của Disney vào năm 1967 với lợi nhuận 55% và tự trách móc bản thân vì đã làm vậy. Hẳn ông đã phải kiếm được nhiều tiền hơn nếu ông cố thủ nắm giữ cổ phần trong những thập kỷ tới. Thương vụ số 10Berkshire Hathaway Tóm tắt thỏa thuận a V ào thế kỷ 19, Công ty sản xuất Hathaway là một doanh nghiệp kéo sợi bông phát đạt ở New Bedford, Massachusetts. Lợi nhuận tăng vọt khi quân đội cần trang phục trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong những năm 1920, lao động rẻ ở miền Nam đã tước mất đi cơ hội kinh doanh, và cuộc đại suy thoái đã khiến nhiều nhà máy ở khu vực New Bedford phải đóng cửa. Chủ sở hữu lấy tiền và đầu tư chỗ khác. Nhưng một công ty đã quyết định ở lại trong ngành dệt may: đó là Hathaway. Nó được điều hành bởi Seabury Stanton kể từ khi chiến tranh kết thúc. Ông đã hiện đại hóa nó bằng cách tái đầu tư 10 triệu đô. Stanton và anh trai, Otis, thậm chí còn vay vốn cá nhân để chu cấp cho việc kinh doanh với khoản vốn có thể đầu tư được. Hathaway chuyển đổi từ các sợi nhân tạo như tơ nhân tạo, trở thành nhà sản xuất lớn cho các lớp lót cho bộ vét của nam giới, đá chân vào ngành thời trang và rèm cửa. Nhưng nó thiếu lợi thế cạnh tranh bởi nó không thể ngăn cản những người mới tham gia vào thị trường này. Đáng buồn nhất là sự xâm nhập của các nhà sản xuất Viễn Đông với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, thay vì rút vốn khỏi doanh nghiệp, Seabury Stanton đã kiên quyết giữ nguyên hoạt động sản xuất hàng dệt may dưới áp lực ngày một tăng. Và rồi ông đã nâng quy mô của nó lên gấp đôi bằng cách sáp nhập Hathaway với Công ty Berkshire Fine Spinning Associates vào năm 1955. Berkshire Berkshire, một công ty khác ở New England, được gia đình Chace kiểm soát trong hơn 150 năm. Nó sản xuất vải cơ bản (cho ga giường, áo sơ mi, khăn tay...). Malcolm Chace đã điều hành Berkshire từ năm 1931, nhưng đến năm 1955, ông đã buồn bã kết luận rằng đầu tư thêm vào ngành dệt ở New England sẽ chỉ là ném tiền qua cửa sổ. Tuy nhiên, Stanton vẫn tự tin về năng lực quản lý của đội ngũ mình và cảm thấy an toàn trước bảng cân đối kế toán mạnh mẽ. Ông trở thành chủ tịch của công ty sáp nhập, trong khi Malcolm Chace kiểm soát hội đồng quản trị. Công ty sáp nhập này có hơn 10.000 nhân viên, 14 nhà máy với doanh thu hằng năm khoảng 112 triệu đô. Stanton đưa ra các mệnh lệnh kiến tạo và chỉnh sửa mới. Tuy nhiên, sự tự tin của Stanton bị đặt sai chỗ, và những khó khăn tăng lên chồng chất trong thập kỷ tiếp theo. Sự suy giảm sau năm 1955 Tôi đã từng làm việc với Warren Buffett và Charlie Munger, cả ba chúng tôi cùng xem xét bảng cân đối kế toán của Berkshire Hathaway trong thời kỳ đó. Munger bình luận quy mô của bảng cân đối kế toán nhỏ như thế nào trong những năm 1960 (khi Buffett nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp). Buffett cúi xuống nhìn. Ông nói, "Đó là bảng cân đối của năm 1955!" và sau đó chỉ vào trang khác nói, “Đây mới là của năm 1964 - nó nhỏ hơn nhiều!" Bảng 10.1 cho thấy bảng cân đối tóm tắt của Berkshire Hathaway vào năm 1955, thứ Munger nói rằng nó trông thật nhỏ khi tôi cho ông ấy và Buffett xem. Bảng 10.1: Báo cáo tổng kết của Berkshire Hathaway (Tháng 9 năm 1955) a Trong 9 năm sau năm 1955, doanh số bán hàng tổng hợp vào khoảng 530 triệu đô, nhưng đã có thua lỗ. Một nửa bảng cân đối kế toán của công ty đã bị giảm đi trong chín năm đó. Điều này được thể hiện trong Bảng 10.2. Bảng 10.2: Sự hạ giá của cổ phiếu Berkshire Hathaway (1955-1964) a Hoạt động thua lỗ là một trong những nguyên nhân của sự suy giảm, nhưng quan trọng hơn cả là số tiền mà các cổ đông thu được từ cổ tức và việc mua lại cổ phiếu. Công ty đã thanh toán 13 triệu đô để mua hơn một nửa số cổ phiếu của họ trong giai đoạn này. Bảng 10.3 trình bày bảng tổng kết tài sản tháng 10 năm 1964. Bảng 10.3: Bảng cân đối kế toán tổng kết của Berkshire Hathaway (tháng 10 năm 1964) a Otis, anh trai của Seabury Stanton, không đồng ý với kế hoạch tái đầu tư vào ngành dệt may. Điều này kết hợp với quyết định thăng chức Jack, đứa con trai thiếu kinh nghiệm của Seabury lên làm thủ quỹ (để về sau đưa anh lên làm chủ tịch) đã gây ra căng thẳng. Cả hai gia đình Chace và Otis đều đánh giá Jack Stanton là một lựa chọn tồi và tìm kiếm một giải pháp thay thế. Tài sản của Seabury bị tàn phá nặng nề nhất khi ông quyết định phá vỡ thỏa thuận bất thành văn với những gia đình Do Thái ở New York, bên chuyên trách hoàn thiện vải được sản xuất bởi các nhà máy của ông (nhuộm và hoàn thiện). Ông ta đã tự mình thực hiện công đoạn hoàn thiện này, cạnh tranh với chính các gia đình đó. Các nhà sản xuất và hoàn thiện hàng may mặc người Do Thái không hài lòng về điều này, dẫn đến các đơn đặt hàng qua New York bị giảm sút, và việc kinh doanh lại sa sút thêm một bậc. Kinh tế ngành công nghiệp trở nên tồi tệ vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 đến nỗi ngay cả Seabury Stanton cũng phải ủng hộ việc đóng cửa các nhà máy không mang lại lợi nhuận và giải phóng tiền mặt. Trong suốt sáu năm đến năm 1961, một nửa trong số 14 nhà máy đã phải đóng cửa và số nhân viên giảm xuống chỉ còn 5.800 người. Năm 1962, Berkshire Hathaway lỗ 2.2 triệu đô và giá cổ phiếu giảm xuống dưới 8 đô với mức vốn hóa thị trường dưới 13 triệu đô. Warren Buffett bước vào và đưa ra quyết định "ngu xuẩn lạ thường" Vào giữa những năm 1950, Benjamin Graham và đối tác Jerry Newman của ông đã xem xét kỹ lưỡng Berkshire Hathaway (BH). Xét cho cùng, giá cổ phiếu của nó gần với giá trị tài sản ròng hiện tại trên mỗi cổ phiếu - một tiêu chí quan trọng mà họ tìm kiếm trong các giao dịch đầu tư. Buffett đã theo dõi hoạt động kinh doanh từ xa sau cuộc sáp nhập vào năm 1955, nhưng chỉ đến khi giá cổ phiếu giảm xuống còn 7.50 đô vào tháng 12 năm 1962, ông mới mua một số cổ phần cho BPL. Vào thời điểm đó, BH có 10.25 đô vốn lưu động trên mỗi cổ phiếu với giá trị sổ sách là 20.20 đô (như được đề cập trong lá thư gửi cổ đông năm 2014 của Buffet). Doanh thu khoảng 60 triệu đô la, nhưng BH chỉ còn năm nhà máy. Bởi BH tiếp tục được giao dịch dưới mức giá trị tài sản ròng hiện tại, Buffett đã mua thêm cổ phần. Vào thời điểm đó, ông không có ý định tiếp quản công ty. Chiến lược đầu tư này là chiến lược "đầu mẩu xì gà" điển hình của Benjamin Graham - nó rẻ đến nỗi một vài trục trặc trong hoạt động hoặc việc bán cổ phần cho một người mua nhiệt tình cũng có thể tạo ra cơ hội kiếm lời. Như Buffett đã nói, "Một đầu mẩu xì gà ngắn cũn ta thấy trên phố sẽ không tạo ra nhiều khói thuốc, nhưng "một món hời” sẽ làm cho lợi nhuận của bạn phồng lên nhanh chóng."17 Seabury Stanton đã bắt đầu hình thành mô hình cho đóng cửa nhà máy, nhờ đó giải phóng tiền mặt và tiếp theo là mua lại cổ phiếu. Kế hoạch của Buffett được hưởng lợi từ lần mua lại cổ phiếu kế tiếp. Không lâu sau đó, hai nhà máy khác bị đóng cửa và họ mua lại thêm cổ phiếu. Vụ mua lại định mệnh Stanton đã quyết định mua lại vào mùa xuân năm 1964. BH có 1.583.680 cổ phiếu, Quỹ đối tác Buffett chiếm khoảng 7%. Trước khi công khai tuyên bố mua lại, Stanton đã nói chuyện với Buffett và hỏi giá của Quỹ đối tác Buffett. Buffett cho biết mức giá 11.50; cao hơn 50% so với giá mua. Như Buffett đã nói sau đó, "Chính là nó – hơi thuốc miễn phí của tôi, chỉ chờ tôi hút, để rồi sau đó tôi có thể tìm các điếu xì gà bị bỏ dở ở nơi khác."18 "Tốt thôi, chúng ta đã thoả thuận xong", Stanton nói. Nhưng một vài ngày sau đó, ngày 6 tháng 5 năm 1964, Stanton đã gửi một lá thư tới tất cả các cổ đông đề nghị mua 225.000 cổ phiếu với giá chỉ 11.375 đô – nhỏ hơn khoảng một phần tám so với mức giá ông ta đã đồng ý với Buffett. Buffett nói, "Tôi đã nổi đoá trước hành vi của Stanton và không chịu nhượng bộ".19 Sau này, ông thấy rằng đây quả là một quyết định “ngu xuẩn lạ thường”. Hiện trạng ngành công nghiệp này thật kinh hoàng và BH chắc chắn sẽ tiếp tục mất tiền. Việc hợp lý để làm lúc này là cương quyết đi theo Kế hoạch A và kiếm lại tiền một cách nhanh chóng. Nhưng thay vào đó, sự bực bội của Buffett trước vố lật lọng của Stanton đã khiến ông thay vì bán lại còn mua thêm cổ phần – một cách hăng hái. Chi phí trung bình mỗi cổ phiếu đã mua là 14.86 đô. “Việc mua vào rất nhiều được phản ánh trong báo cáo đầu năm 1965. Công ty vào ngày 31 tháng 12 năm 1965 có vốn lưu động ròng khoảng 19 đô trên mỗi cổ phiếu”20, Buffett sau này nói về tình hình khi đó. Vụ mua bán của Buffett bao gồm cả cổ phần của em rể Stanton và từ Malcolm Chace (chủ tịch). Đến tháng 4 năm 1965, Buffett đã tích lũy được 392.633 trong tổng số 1.017.547 cổ phần. Với 38,6% đó, ông chiếm quyền kiểm soát trong cuộc họp hội đồng quản trị tháng năm (vốn hóa thị trường tại thời điểm này là khoảng 18 triệu đô). Thật thú vị khi đọc những gì Buffett mô tả về điều đã xảy ra: "Xuyên suốt hành vi trẻ con của Seabury và tôi – đối với chúng tôi thì một phần tám có là gì? – ông ta thì mất việc, còn tôi thì nhận ra mình đổ hơn 25% vốn đầu tư của BPL vào một doanh nghiệp tồi tệ trong một lĩnh vực tôi có rất ít kiến thức."21 Từng đồng trong khoản 22 triệu đô của BH đều phải dùng để điều hành việc kinh doanh dệt may, nó không có tiền mặt thừa và còn bị trói chặt với khoản nợ 2.5 triệu đô. Trong một bài báo trên tạp chí Fortune vào ngày 20 tháng 7 năm 1998, Buffett đã nói, "Chúng tôi đâm đầu vào một doanh nghiệp tồi chỉ vì nó rẻ". Sau đó, ông nói rằng thứ vốn lưu động cao ông nghĩ trong đầu thực ra chỉ là "ảo ảnh". Berkshire không chỉ là một "đầu mẩu xì gà", mà còn là một "đầu mẩu sũng nước". Điều này để nói lên rằng đây quả là vật liệu chẳng hứa hẹn gì để xây dựng nên một đế chế kinh doanh! Ngày nay, Berkshire Hathaway là một trong những công ty lớn nhất trên thế giới (và rất nhiều trong số 200 cổ đông của năm 1965 đã trở thành triệu phú trong vòng 20 năm Buffett nắm giữ việc kinh doanh). Làm thế nào ông vực dậy một doanh nghiệp tồi tệ như vậy quả là một câu chuyện thú vị với nhiều bài học hữu ích. Chúng tôi sẽ bắt đầu cuộc hành trình bằng cách minh hoạ tầm quan trọng của việc Buffet tìm ra nhà lãnh đạo phù hợp và trao trọn niềm tin vào ông ta. Nhà lãnh đạo chủ chốt tại Berkshire Hathaway năm 1965 không phải là Buffett mà là một nhà quản lý sản xuất lâu đời ngành dầu. Ông ấy rất quan trọng để giúp Buffett đối phó được với công ty, cho ông đủ thời gian để lên kế hoạch cho sự chuyển đổi cần thiết. Chuyến thăm trụ sở chính Là đại diện cổ đông lớn nhất, Buffett được mời đến để thăm thú xung quanh nhà máy (đó là trước cuộc đảo chính năm 1965). Jack Stanton đã trợ giúp Buffett với một số dữ liệu kế toán, nhưng quá bận rộn để dẫn ông đi quanh nhà máy. Đó là một sai lầm lớn! Ken Chace (không liên quan gì đến Malcolm Chace của gia đình Berkshire) được yêu cầu đưa Buffett đi dạo xung quanh. Là một người quản lý 40 tuổi đầy khiêm tốn, Chace đã tự lực bước lên vị trí giám đốc sản xuất. Otis Stanton và Malcolm Chace đã bí mật dành cho Ken Chace cơ hội làm ứng viên đảm nhiệm vị trí CEO. Chace và Buffett đã nói chuyện, lúc này lúc khác, trong hai ngày. Buffett muốn biết về mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh, với một sự quan tâm đặc biệt về cách giải quyết vấn đề lợi nhuận thấp. Ông muốn biết tất cả các vấn đề và cách Ken Chace giải quyết chúng. Sự ngay thẳng của Chace đã thu hút Buffett. Kể từ vụ việc ở nhà máy Dempster, Buffett đã biết một doanh nghiệp đang gặp khó khăn cần được điều hành bởi đúng người để thành công. Liệu người này có đáng tin cậy để có năng lực và sở hữu phẩm chất liêm chính phục vụ lợi ích cổ đông? Buffett kết luận rằng anh chàng Ken Chace khiêm tốn này chính là người đó. Nhưng Chace thì nghĩ khác Ken Chace đang tìm kiếm một công việc khác, vì ông đã quá đau đớn khi nhận thức được rằng BH có quá ít triển vọng trong tương lai. Ông đã nói chuyện với một đối thủ cạnh tranh về việc gia nhập đội ngũ của họ. Stanley Rubin, người lúc đó làm việc cho BH với tư cách phó chủ tịch phụ trách kinh doanh, biết Buffett và cũng biết, hoặc đoán rằng Buffett sẽ sớm nắm quyền kiểm soát BH. Ông cũng đoán rằng Buffett muốn Ken Chace phụ trách sau đó. Ông gọi cho Ken Chace vào đầu năm 1965 và nài nỉ ông đừng rời khỏi vị trí của mình. Tháng Tư năm 1965, Chace và Buffett gặp nhau ở New York trong 10 phút. Buffett nói với Chace rằng ông muốn ông ta trở thành chủ tịch BH. Ông giải thích rằng ông có đủ số cổ phần để kiểm soát công ty trong cuộc họp giám đốc tiếp theo, nhưng hãy giữ kín cuộc nói chuyện này cho đến lúc đó. Mọi việc được phân chia rõ ràng rằng các hoạt động kinh doanh sẽ là trách nhiệm của Chace, Buffett sẽ không làm quản lý thường xuyên. Thật vậy, vai trò của Buffett trong những công ty ông kiểm soát có ba mảng: 1. Phân bổ vốn. 2. Lựa chọn (những) người quan trọng và nghĩ các gói khen thưởng phù hợp. 3. Động viên các nhà quản lý hoạt động tốt. Ông không cần các cuộc họp thường xuyên hay các buổi tổng kết, ông thích đọc các con số từ các đơn vị hoạt động kinh doanh. Buffett đã thuyết phục nhiều người trong gia đình Chace của Berkshire cũ (hãy nhớ rằng đây không phải là gia đình Ken Chace) bán cổ phần của họ cho ông. Otis Stanton cũng đồng ý bán, với điều kiện là Buffett phải đưa ra đề nghị tương tự cho Seabury - anh trai của ông ta. Vào mùa xuân năm 1965, BH đã giảm xuống chỉ còn hai nhà máy và 2.300 nhân viên. Trong cuộc họp hội đồng quản trị vào tháng Năm, Stanton từ chức và ra đi cùng con trai Jack của mình. Ken Chace được bầu làm chủ tịch. Otis Stanton bỏ phiếu tán thành những thay đổi và ở lại. Trong vòng hai năm, Quỹ đối tác Buffett đã có gần 70% cổ phần BH. Nhưng bạn sẽ làm gì với một công ty dệt may New England đang suy giảm với đầy những nhân viên bi quan? Đó quả là một câu hỏi hóc búa. Berkshire Hathaway: một ông chủ, một chủ tịch và một doanh nghiệp tệ hại Năm 1965, Buffett đã phải tập trung vào việc điều hành các giao dịch hợp tác đầu tư từ cơ sở của ông tại Omaha. Mặc dù một phần đáng kể tiền của các đối tác đã được đầu tư vào Berkshire Hathaway, ông vẫn phải phân tích hàng trăm công ty khác để lựa chọn cổ phiếu cho danh mục đầu tư. Buffett không hề biết cách điều hành một công ty dệt may, nhưng ông đã có một người đàn ông sinh ra và lớn lên ở New Bedford, người đã dành cả cuộc đời phát triển trong ngành - Ken Chace - làm chủ tịch công ty. Warren Buffett, với tư cách chủ tịch của ban chấp hành, mới là ông chủ thực sự. (Malcolm Chace vẫn là chủ tịch). Và rồi Buffett đã đưa BH đi qua tám giai đoạn, hay còn gọi là trật tự của doanh nghiệp, để nó trở nên có tổ chức. Các giai đoạn như sau: 1. Loại bỏ danh tiếng kẻ chuyên thanh lý Buffett đã bị tổn thương nặng nề bởi sự ghê tởm của người dân Beatrice dành cho ông khi ông đóng cửa một số hoạt động của nhà máy Dempster và làm cho hàng chục người thất nghiệp. Ông ngay lập tức nói với báo New Bedford rằng công việc kinh doanh sẽ tiếp tục như bình thường; sẽ không có thêm nhà máy nào đóng cửa. Nhờ may mắn, BH lúc đó bước vào một thị trường được cải thiện với vải tổng hợp. Có vẻ như lợi nhuận đang gõ cửa - và họ đã làm được điều đó trong 2 năm (chỉ trong 2 năm!). 2. Sự phân bổ nhiệm vụ Buffett đã giữ đúng lời hứa của mình: bất cứ việc gì liên quan đến hoạt động của nhà máy đều thuận theo Ken Chace. Công việc của Buffett là để ý đến tiền. 3. Các gói thưởng Buffett không thích các lựa chọn dành cho nhà điều hành bởi chúng mang đến các phần thưởng không có rủi ro, và chúng khuyến khích các nhà quản lý đánh bạc với tiền của cổ đông. Thay vào đó, ông đề nghị Ken Chace cơ hội mua 1.000 cổ phần. Ông ta chỉ kiếm được 30.000 đô la mỗi năm nên không thể mua được. Buffett đề nghị cho vay 18.000 đô la mà ông ta cần, và Chace chấp nhận. Chace đã thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào bản thân mình như một người quản lý, và vào cả ông chủ mới của ông, Buffett, người có thể làm nên những điều tuyệt vời với công ty nhỏ bé này. 4. Tập trung vào lợi nhuận trên vốn đầu tư Buffett giải thích với Ken Chace rằng ông không đặc biệt tập trung vào sản lượng nhà máy, hay khối lượng bán hàng, cũng như thị phần. Ngoài ra, nhìn vào lợi nhuận là một cách không thích hợp để thiết lập mục tiêu kinh doanh. Lý do cho việc này là việc kiểm tra mức độ lợi nhuận là không đủ nếu nó không được xem xét cùng với số tiền các cổ đông bỏ ra nhằm đạt được lợi nhuận đó. Nói cách khác, điều thực sự quan trọng ở đây là tỷ lệ phần trăm lợi tức trên vốn đầu tư. Ken Chace được đánh giá bằng cách sử dụng số liệu này. Buffett nói về điều này, "Tôi thà có một doanh nghiệp 10 triệu đô kiếm được 15% còn hơn là một doanh nghiệp 100 triệu đô mà chỉ kiếm được 5%. Tôi còn những nơi khác để đầu tư."22 5. Giải phóng tiền mặt Buffett đã nói rõ rằng tiền mặt hiện tại không được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đầy đủ cho BH. Chace được giao nhiệm vụ giải phóng tiền mặt càng nhiều càng tốt. Để phục vụ cho vấn đề này, ông được yêu cầu lập báo cáo tài chính hằng tháng. 6. Thông báo tin xấu sớm Chace được yêu cầu phải cảnh báo Buffett nếu những bất ngờ khó chịu có thể xảy ra. 7. Ngợi khen những nhân viên chủ chốt Mọi người sẽ hưởng ứng trước các tín hiệu rằng họ được đánh giá cao, sẽ công bằng khi họ được khen ngợi rằng họ thực sự đang làm tốt công việc của mình. Buffett không bao giờ quên khen ngợi các nhà quản lý đang hoạt động tốt của mình. Trong bức thư năm 1966 gửi đối tác, Buffett đã giải thích về việc đầu tư vào BH và nói với các đối tác về "tài quản lý tuyệt vời" và "Thật may mắn khi sở hữu Berkshire... chúng tôi rất may mắn khi có Ken Chace điều hành doanh nghiệp theo cách đẳng cấp nhất, và chúng tôi cũng có một số nhân viên bán hàng giỏi nhất trong ngành tại các bộ phận tương ứng của họ." 8. Buffett sẽ là người duy nhất có quyền phân bổ vốn Với lịch sử của công ty trong việc đổ tiền vào ngành dệt may, Buffett cần kiểm soát vốn. Ông có trí tuệ linh hoạt và kiến thức về các ngành công nghiệp khác để có thể phân bổ trên một phạm vi rộng hơn và đưa ra các quyết định đầu tư tốt với số tiền này. Hai năm đầu Trong 2 năm đầu tiên Buffett phụ trách, BH đã có lợi nhuận. Rất ít tiền mặt được đầu tư vào các nhà máy, mặc dù Ken Chace đã đưa ra những dự báo tốt về triển vọng đầu tư kinh doanh. Buffett không thể hiểu nổi tại sao lịch sử lợi nhuận trung bình thê thảm của BH lại không thể hiện lợi nhuận trong tương lai. Chace đã hoàn thành điều ông yêu cầu cũng như giải phóng khoản vốn bị kẹt trong nguồn hàng tồn kho và những tài sản dài hạn. Cổ tức lúc đầu rất xoàng xĩnh và sau đó còn không tồn tại, nhờ đó công ty tiết kiệm được tiền mặt. Một số hoạt động đã gây thua lỗ nhiều đến mức mọi người đều cho rằng sẽ thật là điên rồ khi tiếp tục, ví dụ như bộ phận bông vải gai đẹp, chiếm khoảng 10% sản lượng của công ty. Bộ phận này bị dừng lại, với hàng trăm người mất việc. Vào đầu năm 1967, tiền mặt đã tích lũy đến mức báo cáo hằng tnăm năm 1966 đã gợi ý về những khả năng bổ sung tiềm năng cho doanh thu trong tương lai của công ty: "Công ty đang tìm kiếm các vụ mua bán thích hợp ở trong và có thể ngoài lĩnh vực dệt may." Chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét một trong những giao dịch xuất sắc trong chương tiếp theo. Bài học đúc kết 1. Đừng trở nên dễ bị kích động. Sự tức giận của Buffett đã khiến ông phải kiểm soát 70% cổ phần của một doanh nghiệp đang trên bờ bực thẳm. Sau đó ông đã phải tự cứu lấy mình - ông đã làm điều đó một cách chuyên nghiệp và với một chút may mắn, tất cả đã kết thúc tốt đẹp. Nhưng mọi việc sẽ tốt hơn nếu ông bắt đầu với một công ty chất lượng hơn. 2. Quản lý có năng lực và tính liêm khiết cao là một điều rất quan trọng. Sẽ là một cách kinh doanh khôn ngoan nếu có thể đảm bảo rằng những nhân vật chủ chốt được truyền động lực, cũng như các mục tiêu và gói phần thưởng tài chính cần giữ thật đơn giản (một vài câu khích lệ là đủ - không cần những báo cáo lê thê về các gói khuyến khích nhân viên) và mang lại lợi ích nếu cổ đông được phục vụ tốt. Những gì Buffett đã làm với BH là một ví dụ điển hình. 3. Tái phân bổ vốn. Một doanh nghiệp không nhất thiết phải đầu tư vào ngành công nghiệp của mình. Lợi tức trên vốn đầu tư có thể tận dụng được cao hơn từ những nguồn khác. 4. Cố gắng cư xử tử tế với tất cả những người bạn tiếp xúc. Sau 20 năm kể từ năm 1965, đã có rất nhiều thời điểm thích hợp để đóng cửa hoạt động kinh doanh Berkshire Hathaway và phân bổ vốn đầu tư vào các thương vụ. Nhưng Buffett đã cam kết lâu dài và vẫn trung thành với đội ngũ lao động của chính mình. Danh tiếng về sự tử tế, cùng với bản chất hào phóng vốn ít bị ảnh hưởng bởi người khác là tài sản kinh doanh quan trọng của ông. Nhiều gia đình muốn rao bán doanh nghiệp của mình đã được chào đón ở đại gia đình Berkshire, nơi sự liên tục, giá trị lâu dài và tính toàn vẹn luôn được coi trọng, nơi việc tước đoạt tài sản và các thủ thuật ngắn hạn khác sẽ bị nguyền rủa. Hàng chục thành viên gia đình vẫn trung thành điều hành các công ty này cho đến ngày nay mặc dù họ đã bán cổ phiếu cho Berkshire vài thập kỷ trước. Họ đã trở thành triệu phú nhưng vẫn thích làm việc với người bạn của mình - Warren Buffett, người trao cho họ sự tự do để quản lý, tôn trọng, ngợi khen và cho họ một ý thức về mục đích. Thương vụ số 11Công ty bảo hiểm National Indemnity Tóm tắt thỏa thuận a H ãy cùng tóm tắt một chút về những gì chúng ta sắp đề cập đến. Chúng tôi cần phải kể đến thời điểm những năm 1965 đến 1967, khoảng thời gian mà quỹ của Buffett, từ Quỹ đối tác Buffett, có từ 30 đến 60 triệu đô tài sản. Trong số tiền này, khoản lệ phí của Buffett đã chiếm tới khoảng một phần năm. Quỹ đối tác này là cổ đông chính của một doanh nghiệp tệ hại, chuyên kinh doanh sản xuất hàng may mặc mang tên Berkshire Hathaway (BH), với khoảng 22 triệu đô tài sản ròng và vốn hóa thị trường tương tự. BH đã nỗ lực mang lại một số lợi nhuận trong giai đoạn này, nhưng Buffett biết rõ rằng doanh nghiệp sẽ không thể đạt được mức lợi nhuận thỏa đáng trên vốn đầu tư trong thời gian dài. Buffett yêu cầu tất cả các khoản đầu tư vốn vào ngành dệt may phải được ông chấp thuận, và tiền mặt cần được giải phóng khỏi hàng tồn kho và phải thu về càng nhiều càng tốt trong khi vẫn cho phép các nhà máy mở cửa. Buffett do dự mãi trong việc đóng cửa các nhà máy khi các nhà quản lý và nhân viên vẫn nỗ lực tạo ra lợi nhuận – việc này kéo dài suốt 20 năm. Thời gian của Buffett chủ yếu dành cho việc tìm kiếm các khoản đầu tư mới cho Quỹ đối tác, nhưng ông cũng dành thời gian suy nghĩ xem phải làm thế nào với BH. Ông thường xuyên nói chuyện điện thoại với Ken Chace, chủ tịch của BH, để thảo luận về những khoản tiền có thể thu được từ các hoạt động của BH. Jack Ringwalt Ngay từ những năm đầu của thập niên 1950, Buffett đã tiếp cận được một người Omaha nổi tiếng và lôi kéo ông ta đầu tư một số tiền của mình. Đó là Jack Ringwalt, người đã kiếm được một khối tài sản lớn bằng cách tự tay gây dựng một công ty bảo hiểm. Mặc dù Buffett trông như một thiếu niên, Ringwalt vẫn đề nghị đầu tư 10.000 đô cho ông. Tuy nhiên, Buffett từ chối và nói rằng Ringwalt nên bỏ ra 50.000 đô, vì ông sẽ không chấp nhận khoản tiền ít hơn thế! Ringwalt, một nhà kinh doanh giỏi và khôn ngoan đã nói rằng: "Nếu cậu nghĩ rằng tôi sẽ để một đứa trẻ như cậu quản lý 50.000 đô của tôi thì cậu thậm chí còn điên hơn tôi nghĩ."23 Ông ta liền hủy bỏ lời đề nghị 10.000 đô của mình. Một vài năm sau, ông ta suy nghĩ về những gì 50.000 đô đó có thể trở thành nếu nằm trong tay Buffett và kết luận rằng nó sẽ đạt tới mức 2 triệu đô sau 20 năm. Xuyên suốt những năm 1950 tới đầu những năm 1960, Buffett đã đứng từ xa quan sát Công ty bảo hiểm National Indemnity của Ringwalt lớn mạnh. Cuối cùng, vào tháng 2 năm 1967, Buffett đã có cơ hội được hưởng lợi từ sự tăng trưởng trong tương lai của công ty này. Việc mua bán này để nhằm “thay áo” cho Berkshire Hathaway và đặt nó bước trên con đường đi tới sự vĩ đại. National Indemnity năm 1967 Jack Ringwalt khởi dựng National Indemnity (NICO) với anh trai là Arthur Ringwalt vào năm 1940 khi ông phát hiện có hai công ty taxi của Omaha không thể kiếm được bảo hiểm trách nhiệm pháp lý ở nơi nào khác. NICO ban đầu có bốn nhân viên, bao gồm cả hai anh em. Họ có thể thấy một tiềm năng cung cấp bảo hiểm rất lớn cho các rủi ro không đạt chuẩn - những khu vực mà các nhóm bảo hiểm lớn tránh xa. Triết lý rằng luôn có một lệ phí bảo hiểm hợp lý cho mọi rủi ro hợp pháp được ghi nhận trong câu trả lời của Jack Ringwalt, "Không có gì là rủi ro tồi. Chỉ có lệ phí tồi thôi." Điều này có nghĩa là các loại bảo hiểm có tính rủi ro như xe tải đường dài, xe taxi, xe cho thuê và xe buýt công cộng không nên bị từ chối một cách tùy tiện – miễn là phí bảo hiểm đủ cao để bù đắp cho những rủi ro. NICO thậm chí còn đi xa hơn lĩnh vực bảo hiểm xe và bao gồm một số mặt hàng khá bất thường, bao gồm: • Người huấn luyện sư tử và những người biểu diễn xiếc khác. • Đôi chân của các vũ nữ. • Các cuộc truy lùng kho báu của đài phát thanh - NICO trả tiền nếu có ai đó tìm thấy món đồ ẩn giấu đằng sau các gợi ý khó hiểu. Jack Ringwalt nổi tiếng nhờ tính tiết kiệm của mình, như thường xuyên tắt đèn và không mặc áo khoác vào buổi trưa nếu ông phải trả ai đó tiền trông áo khoác. Đây là một loại thói quen của những người tìm kiếm giá trị thực sự và bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi Ringwalt là loại người Buffett thích. Ringwalt cũng rất đáng quý trong các khía cạnh khác như trí thông minh và kiến thức kinh doanh của mình. Ông biết khi nào thì chấp nhận nguy cơ và khi nào nên lùi lại - tỷ lệ phải đúng đắn. Ringwalt và Buffett đã trở thành bạn bè. Đến tháng Hai năm 1967, National Indemnity đã có rất nhiều bảo hiểm đến nỗi nó có dòng tiền nhàn rỗi lên đến 17.3 triệu đô. Đây là khoản tiền nhận được từ phí bảo hiểm nhưng chưa được thanh toán trong các khoản đòi bồi thường hoặc chi phí hoạt động. Nếu vẫn giữ mức phí bảo hiểm và các quy tắc thanh toán bảo hiểm (nghĩa là phí bảo hiểm không bị định giá thấp) thì khoản tiền mặt từ bảo hiểm sẽ vẫn ở mức 17.3 triệu đô hoặc thậm chí tăng hơn. Ringwalt tự thấy mình như là một nhà đầu tư tốt và tìm kiếm nơi để đầu tư khoản tiền mặt này, nhằm mang lại một nguồn thu nhập khác cho công ty. Buffett nghĩ rằng ông còn có thể làm tốt hơn Ringwalt. Ông tính toán nếu các doanh nghiệp bảo hiểm này chỉ đơn giản là hoà vốn hay thậm chí hơi thua lỗ, ông vẫn có thể kiếm được tiền từ NICO chỉ đơn giản bằng cách đầu tư một phần khoản tiền vào cổ phiếu.