🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Người Việt Từ Nhà Ra Đường
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
NGƯỜI VIỆT TỪ NHÀ RA ĐƯỜNG Tác giả: Băng Sơn
Thể loại: Kỹ năng sống
Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên Ebook: nguyenthanh-cuibap
Nguồn text: Waka
https://thuviensach.vn
1
VÀNG VÀ CÁT
Đọc lại tạp chí Hữu Thanh của Tản Đà chủ biên khoảng năm 1921- 1924, có một câu châm ngôn thật hay, tiếc là cụ Tản Đà lại đề là Khuyết danh mà không cho biết tác giả là ai, rằng:
"Ngồi trên đống cát, ai cũng có thể là hiền nhân quân tử, nhưng ngồi trên đống vàng mới thực sự biết ai là quân tử hiền nhân".
Ngày nay, các cơ quan thông tin đại chúng thường phanh phui các vụ ăn cắp, tham ô, tham nhũng, lũng đoạn thị trường, lừa đảo... tiền tỷ, thậm chí hàng nghìn tỷ, ta thấy thủ phạm toàn là những kẻ có tí chức quyền trong tay, những kẻ có quyền chi tiêu, quyền ghi chép vào sổ sách hay không ghi chép, có quyền bắt người khác làm theo ý riêng mình để bòn rút của Nhà nước, của tập thể, của người dân. Khi vỡ lở ra, cái dùi (chứ không phải cái kim) trong bọc lòi ra, thì cháy nhà mới ra mặt chuột, chiếc mặt nạ rơi xuống, lộ nguyên hình những con sâu mọt làm khổ người lành.
Bọn này bị trừng phạt là đáng lắm, mà cần phạt nặng để làm gương, bởi chúng là người "ngồi trên đống vàng" như Tản Đà trích dẫn cách đây bảy, tám mươi năm.
Không hề thấy báo đăng tin chị thợ cấy thuê ở nông thôn, ngày công dăm bảy nghìn bạc, tham nhũng triệu nào, tỷ nào của ai bao giờ. Không thấy anh thợ mộc làm thuê, đục gỗ, bào gỗ tham ô của Nhà nước chút gì. Không thấy cô bán hoa rong trên phố tham nhũng đồng nào của Nhà nước hay của hợp tác xã. Họ chỉ được ngồi trên đống cát vậy. Chả lẽ lại tự tham ô, tham nhũng, lấy mươi đồng từ túi bên trái để sang túi bên phải ngay trong cái áo rách của mình?
https://thuviensach.vn
Xưa không thiếu gì những ông quan thanh liêm. Nay không thiếu gì cán bộ liêm khiết, trong đó có một Nguyễn Lương Bằng, nguyên Phó Chủ tịch nước là tấm gương sáng chói. Đáng kính thay là những tấm lòng trong sáng. Nhưng cũng đáng giận và đáng khinh thay là những trái tim đen tối, thấy tiền thấy vàng là tối mắt, lao vào con đường tội lỗi. Bia đá và bia miệng còn kia. Nhưng trước hết, tấm bia luật pháp cần nghiêm minh hơn nữa.
https://thuviensach.vn
2
VĂN HÓA VÀ MÊ TÍN
Chuyện xưa kể rằng "khi con người bước qua cuộc sống sang cõi chết, phải đi đò qua con sông "Lê Thê", bọn quỉ sứ của Diêm Vương bắt mọi linh hồn ăn "cháo lú" để từ nay vĩnh viễn quên đường về".
Có một người con chí hiếu tên là Mục Kiều Liên thương nhớ mẹ khôn nguôi, không hiểu ở cõi xa xôi ấy, mẹ mình sướng khổ ra sao, nên một lần chàng quyết đi tìm mẹ. Nhờ phép thần thông, chàng xuống được âm phủ, một thuyết khác nói là chàng phải làm phúc cho mọi người bằng cách xây chùa trăm gian, bắc cầu chín nhịp thì được gặp mẹ. Chàng đã làm và được gặp mẹ thật. Các vong hồn trong cõi âm ty chỉ được Diêm Vương thả ra đúng một ngày mỗi năm: Đó là dịp lễ Trung Nguyên, rằm tháng bảy âm lịch, còn quanh năm bị giam cầm đầy đọa. Ngày hôm ấy, chàng Mục thấy không biết bao nhiêu linh hồn vất vưởng, lang thang, đói khát, rách rưới. Nghe theo lời mẹ, chàng trở về dương gian, đúng ngày ấy lên chùa cầu kinh, cúng cháo lá đa, đốt vàng mã cho các linh hồn kia đỡ tủi. Từ đó, ngày rằm tháng bảy còn được gọi là ngày "xá tội vong nhân". Và mọi ngôi chùa đều tổ chức cúng bái, chiêu niệm cho linh hồn siêu sinh tịnh độ, ai có điều kiện thì tổ chức bữa cúng cháo lá đa công cộng, có đủ thanh bông hoa quả, cháo hoa đựng trong những chiếc bồ đài bằng lá đa cắm dọc đường quan, sau đó những người nghèo đói ở trên trần gian tha hồ vào cướp cỗ mà ăn...
Ta không bàn về chuyện cũ có thực hay hư cấu. Không bàn đến chuyện đổ vàng mã đốt đi có trở thành đồ thật ở cõi ta hay không. Vào ngày rằm tháng bảy thường có đôi ba hạt mưa, người ta cho rằng mưa thế để dâng nước trên con sông "Lê Thê", cho thuyền chở mã để đến với mọi linh hồn trong cõi ấy. (Thực ra, đây là tháng ngâu, rất dễ mưa).
https://thuviensach.vn
Cho đến nay, vật đổi sao dời, bao thế kỷ đãqua, tục cúng rằm tháng bảy đã trở thành phong tục, thành một ngày Tết nhỏ, lễ nhỏ mà dân gian các vùng thường vẫn tổ chức.
Thực ra, dân tộc Việt Nam từ lâu đã có phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ khi đãkhuất, coi họ vẫn như đang còn sống ở một thế giới khác. Đó là lòng tưởng nhớ, sự biết ơn, niềm sùng kính với tiền nhân, đến cội nguồn. Một phong tục đẹp trong nền văn hoá truyền thống, một nét tâm linh luôn được thắp lên từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Chuyện có hay không có linh hồn, có hay không có một thế giới khác là của các nhà khoa học. Nhưng thực tế, có một sự suy nghĩ coi trọng đời sống tinh thần, coi trọng cội nguồn vẫn đang tồn tại trong tâm khảm mọi người Việt Nam, mà câu chuyện Mục Kiều Liên kia chỉ là cái cớ. Bữa cỗ cúng cháo lá đa để người đang sống được tha hồ ăn uống, là một nét đẹp. Nó không còn là sự bố thí thông thường, mà là sự chia sẻ để vợi đi một phần nhỏ thống khổ cuộc đời. Chả thế mà đại thi hào Nguyễn Du cũng đã có bài "Văn tế thập loại chúng sinh" thường gọi là “Văn chiêu hồn”, một áng văn chương bất tử như một bài kinh cầu nguyện cho những ai đã ra đi khỏi cuộc đời, tan vào hư vô nhưng còn sống mãi trong lòng người còn sống.
Tết Trung Nguyên cho ngày "Xá tội vong nhân" cũng đẹp như Tết Trung thu của trẻ em, Tết 10 tháng 10 là ngày cơm mới, hay Đoan ngọ là mùng 5 tháng 5, dù ý nghĩa mỗi ngày có khác nhau. Nhớ người đã khuất, thương xót kẻ không còn là nét đẹp của văn hoá Việt Nam, một dân tộc trọng tình người, đề cao nhân nghĩa, thuỷ chung.
Duy chỉ có điều đáng bàn chút ít là nhân ngày Tết ấy, thời gian càng phôi pha thì càng có kẻ lợi dụng, dùng nó như một chiêu bài cho mê tín dị đoan, được lồng vào tín ngưỡng. Từ lâu, tín ngưỡng và mê tín thường có ranh giới không rõ rệt, dễ làm nhiều người ngộ nhận nên rất dễ bị lợi dụng cái tốt để làm điều không tốt. Trong đó tục đốt vàng mã là một. Chưa ai chứng minh được rằng có người từ cõi chết trở về. Cũng chưa ai chứng minh được cái áo bằng giấy đốt đi lại thành áo thật. Đến cửa Phật cũng phải bài trừ tục
https://thuviensach.vn
mê tín ấy. Chùa Trấn Quốc, chùa Bà Đá, những ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội phải yết biển "Không đem vàng mã vào chùa", thì rõ ràng là không ai có thể đồng tình với thói mê tín, dị đoan này.
Hiện tại, người ta đã đi quá đà gây lãng phí lớn, có nhà giàu xổi, phất lên nhanh, ngày rằm tháng bảy, đặt hàng mã cả xe máy Dream, tủ lạnh, ti vi màu, hình nhân là mấy cô gái mặt hoa da phấn cho người chết dùng, tiêu hàng triệu đồng, đốt đi không biết bao nhiêu giấy tốt. Có người đã nhẩm tính, mỗi năm số giấy làm hàng mã bị đốt đi lên đến con số hàng chục, hàng trăm tấn, trong khi các vùng xa còn thiếu đói, trẻ em không có giấy viết để đến trường. Đó là một điều hiển nhiên vô lý, khó chấp nhận.
Gia đình nào mà chẳng có những người quá cố, dù mất đã lâu hay mới. Gia đình nào cũng có bàn thờ với bát nhang nghi ngút. Công giáo nào cũng có bàn thờ kiểu Công giáo. Tục thờ cúng tổ tiên rõ ràng là một nét đẹp, thể hiện tâm hồn người Việt Nam coi trọng truyền thống văn hoá, tôn kính cội nguồn. Rằm tháng bảy, cầu nguyện cho các linh hồn được siêu thoát cũng vẫn là nét đẹp. Nó cũng như đi thanh minh hay tảo mộ, ngày giỗ thắp hương để con cháu nhớ đến ông bà.
Chỉ riêng chuyện lấy ngày này làm cái cớ mà thực hiện hành động mê tín như gọi hồn, gọi rí, đốt vàng mã vô tội vạ... thì không còn là lĩnh vực tâm linh nữa mà đã trở thành mê tín, dị đoan, cần được chỉnh sửa.
Văn hoá vốn rất đa dạng, có vật thể và phi vật thể. Chúng ta cũng luôn tôn trọng mọi tín ngưỡng khác nhau. Nhưng sống trong thời đại khoa học kỹ thuật, khó mà chấp nhận những điều phi lí nhân danh tâm linh được. Đứng về khía cạnh kinh tế cũng vậy, gia đình còn thiếu thốn nhiều thứ, xã hội còn phải tiết kiệm, bỗng dưng đốt đi bao nhiêu tiền của, giấy má đáng quí cũng khó mà đồng tình cho được.
Một nén nhang, một bông hoa nhớ đến người xưa, đó chính là văn hoá, là điều chúng tôi hằng tâm niệm về cội nguồn, về quá khứ về những công đức sinh thành ra ta và cả giống nòi này. Vì vậy mà càng cần dẹp bỏ điều mê tín không đẹp, không phù hợp nữa.
https://thuviensach.vn
3
SANG VÀ TRỌC
"Giàu sang" và "Nghèo hèn" là cụm từ hay từ ghép? Gì cũng được, bởi giàu mới có thể sang, và nghèo thường đi với hèn. Đó là lẽ thông thường và cách hiểu thông thường xưa nay. Tuy nhiên trên đời lại có anh trọc phú, có giàu mà không sang, mà ô trọc, cũng có ông thầy giáo làng, tức ông đồ, nghèo mà thanh cao, trong sáng một kiểu sang nhiều người bắt chước cả đời không được. Vậy nên hiểu thế nào về cái từ "sang" đây?
Bà ta, mẹ ta nghèo khó, một đời yếm vá, cơm độn ngô khoai chân lấm tay bùn, thắt lưng buộc bụng... mà dạy ta biết: “Đói cho sạch rách cho thơm", biết không sợ kẻ cường hào đè nén, biết "thấy người hoạn nạn thì thương", biết “miếng ăn là miếng nhục", miếng ăn "quá khẩu thành tàn", cũng dạy ta biết thương yêu đùm bọc, biết đường hoàng trong trắng, sạch sẽ, công minh, nghiêm chỉnh... mà nay xã hội thừa nhận là văn hoá, là người có văn hoá... Vậy thì cái sự nghèo đó là sang hay hèn?.
Xưa thiếu gì kẻ giàu nứt đố đổ vách mà bủn xỉn, cay nghiệt, tham lam, tàn ác, nhũng nhiễu, dâm loạn... thì cái giàu ấy là sang hay hèn?. Nay, không thiếu gì kẻ giàu xổi, phất lên nhanh nhờ những thủ đoạn mờ ám, mặc bộ quần áo đắt tiền nhưng khinh người như rác, ăn nói thô tục (vì học ít quá), say sưa, loạng choạng, vũ phu với vợ con, cạnh khoé cùng hàng xóm, kèn cựa với đồng nghiệp... có thể đi nhà hàng một đêm hàng triệu đồng nhưng bà lão mù đứng cửa xin bố thí một trăm đồng nhỏ, hắn ta không những không cho mà còn mắng mỏ, đuổi đi một cách tàn nhẫn... cái sự giàu đó là sang hay là ngược lại?
Ngẫm không có một xã hội nào từ xưa cho đến sau này ở đâu tất cả mọi người đều sướng như vua, chiêu đãi bữa tiệc suốt một tuần hết 4000 lạng
https://thuviensach.vn
vàng như Từ Hy Thái hậu, hay như vua xứ Ethiôpi trước đây, mỗi năm tắm bằng máu hai cô gái đồng trinh bị cắt tiết pha vào hồ nước, hoặc một ông vua khác, nhiều vàng quá, không biết dùng vào việc gì bèn đúc vàng thành cái giảm chấn ở đầu ôtô v.v... Nhưng cũng không có một xã hội nào chỉ có toàn những Chí Phèo, Thị Nở, chị Dậu hay Chử Đồng Tử (hai cha con phải chung một khố) khi chưa gặp công chúa Tiên Dung... đến nỗi cái lều không có mà ở, áo không có mà mặc...
Một xã hội có người giàu và người nghèo là đương nhiên, tất yếu. Nhưng giàu có phải là sang không và nghèo có chắc là hèn không, thì đôi khi ta phải suy nghĩ lại, phải xem xét cho thấu lý đạt tình trong từng trường hợp cụ thể.
Gần đây có người cho rằng ăn quà là thường tình và đã là quà thì không cần phân biệt sang hay không sang. Phở chẳng hạn. Bát phở là bát phở, không có sang hèn trong đó.
Xin thưa, chưa chắc!
Chị hàng rong mua một đồng phở không (không thịt) xin thêm chút nước dùng, bẻ cái bánh mì ra mà chấm mà ăn, cầm hơi một ngày rong rao trên phố... so với mấy ông mở cửa xe bóng loáng, vào ăn phở, phố Lê Văn Hưu, phố Nam Ngư, đầu phố Nguyễn Du, bát phở tú hụ, ăn không hết bỏ đi, rồi ra cửa trả một vài trăm nghìn không cần đếm. Có sự sang và không sang trong cách ăn quà đó không, trong bát phở đó không?
Ranh giới giữa cái sang và không sang thật khó xác định. Nhưng thế nào là sang, thế nào là trọc, có lẽ khó mà thống nhất trong quan niệm. Nước ta vốn nghèo, nhưng với một nền văn hiến, văn hoá để lại cho chúng ta như ngày nay, thì dân tộc này là sang hay là trọc? Mấy tên giàu có, được gọi là "đại gia" nhưng ăn cắp, ăn cướp, ăn chặn (có kẻ ăn chặn cả tiền đền bù cho dân ở lòng hồ sông Đà) rồi phải ra toà, bị tuyên án tử hình, tù chung thân... là sang hay là trọc?
Người Việt Nam bình thường chúng ta, ra đường "phẳng phiu" ngay ngắn, nói năng thanh lịch, ăn ở đường hoàng, rộng lòng khoan dung, sẵn
https://thuviensach.vn
sàng chia sẻ, tự nâng cao trình độ ngày ngày, biết dạy con cháu gìn giữ gia phong quốc pháp... rõ ràng là sang, chứ gì?
Không thể chỉ đánh đồng mọi sinh hoạt cũng như không thể coi vẻ bề ngoài mà kết luận khiên cưỡng. Sang và Trọc phải có cội rễ trong mỗi con người.
1999
https://thuviensach.vn
4
AI TO HƠN
Cơ quan dù to hay nhỏ, phải có người thường trực, còn gọi là người bảo vệ, người bảo vệ ngồi ngay ngoài cửa cơ quan là đương nhiên. Nhiệm vụ của người này là gìn giữ trật tự an ninh, quan trọng hơn nữa là người đầu tiên thay mặt cơ quan, tiếp xúc với khách giao dịch, từ một cô gái đến xin việc, một ông giám đốc cơ quan bạn đến làm việc, một nhà báo đến lấy tin, một người nhà đến tìm có việc cần v.v... Người thường trực nên thế nào, đến nay vẫn còn nhiều cảnh đáng nói.
Người thường trực là người đầu tiên thay mặt cơ quan, hướng dẫn cho khách tìm đúng người cần gặp, giải quyết tốt công việc cần làm hay là người ngăn cấm khách. Tất cả đều một câu: Ông giám đốc đi vắng, là xong, là đỡ lôi thôi, để có thể ngồi chơi tá lả, đánh cờ, uống trà một cách nhàn nhã?
Lại nữa, khách đi ôtô thì cửa barie mở ngay. Khách đi xe máy thì ân cần niềm nở ngay. Còn khách đi bộ hay đi xe đạp thì ông thường trực thường không thèm nhìn khách hỏi trống không: Gặp ai, có việc gì...?
Nhiều cơ quan còn bắt khách gửi xe, phải trả tiền, dù đến để làm việc chứ không phải để xin xỏ, để tán gẫu. Có nơi có sân rộng, nhưng khách đi xe đạp thồ buộc phải để xe ngoài cổng, mưa nắng cũng mặc, dù đó là ông già, tuy xuềnh xoàng nhưng thực chất là thầy của ông giám đốc, được ông giám đốc trân trọng mời đến xin ý kiến. Ông thường trực chỉ nhìn cái xe đẹp mà đánh giá người, mà dùng uy quyền gác cổng để ngăn cấm, để bắt bí, để ra oai...
Có nên làm như một vài nơi, người thường trực kiêm trông giữ xe, không lấy tiền, niềm nở ngay từ đầu dù đó là ông cà vạt giày Tây hay ông
https://thuviensach.vn
xe đạp không phanh? Bởi người thường trực đã được giao nhiệm vụ hướng dẫn khách chứ không phải ngăn cấm khách, không làm cái hàng rào để "quan liêu hoá, cách biệt hoá" với ông giám đốc.
Đã có khối cơ quan xí nghiệp mất bạn hàng, mất khách chỉ vì ông thường trực hách dịch, uy quyền hơn thủ trưởng, mà khi biết ra, ông thủ trưởng phải lặn lội đi xin lỗi thì cũng đã quá muộn.
Nên học cách tiếp khách của ông từ giữ đền, bà vợ chủ nhà tiếp khách của chồng, tiếp đón chân tình và niềm nở ngay từ đầu mà không nề hà khách là ai, sang hay nghèo. Trách nhiệm này có lẽ phải do chính ông thủ trưởng cơ quan ấy chỉ dẫn, dặn dò cho người thường trực của mình.
https://thuviensach.vn
5
ĐÒ TRÊN CẠN
Đã có một thời, rất nhiều người có tình cảm lưu luyến sau khi chia tay với cô lái đò, dù là con đò ngang ngắn ngủi qua mảnh sông tầy gang hay con đò dọc vượt qua những dặm dài sông nước. Không kể còn có thể nảy sinh mối tình lãng mạn như bài thơ "Cô lái đò" của Nguyễn Bính. Tại sao thế nhỉ? Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen là thế nào mà hình ảnh người chở đò thành thơ mộng, nên kỷ niệm một đời không dứt?
Thời đại tiến lên. Xe như mắc cửi, đường ngắn đường dài, huyện lên tỉnh, tỉnh này sang tỉnh khác, cả xuyên Việt ngàn cây số... nhưng xem ra, nỗi lo, sự phiền, mối ác cảm, niềm uất ức, thậm chí cả niềm căm giận với "Người lái đò trên cạn" ấy trong thời đại hiện nay hình như chỉ ngày một tăng lên, mà ít ai mang mối tình chan chứa với những chuyến "quá giang" như thế? Tại sao vậy?.
Lèn khách thành "cá hộp". Bắt mua vé đắt gấp nhiều lần. Phải xếp hàng lên xuống toát mồ hôi. Bán khách sang xe khác dọc đường. Chạy vòng vo cho đầy xe mặc cho khách choáng váng vì xe chạy vòng vèo mấy chục vòng lao đao lảo đảo. Khách phải nghe những thứ ngôn ngữ chua ngoa, đanh đá, tanh lợm, ngông cuồng. Nhà xe thành người chủ còn khách là con vật bị hành hạ không thương xót. Có khi khách còn bị mắng, bị đẩy ngã dúi giụi, van xin cũng không được tha...
Con đò và chiếc xe đã thành hai thái cực, thành trời và vực. Mấy năm sau thời kỳ đổi mới tưởng đã chấm dứt những cảnh ấy, không ngờ, thời gian quay tròn, nay tái diễn và các tệ nạn kia ngày một trầm trọng hơn, và ai có việc phải di chuyển, cần đến những "con đò có bốn bánh" thì phát khiếp, run sợ từ lúc bước ra khỏi cửa, đành phó thác mình cho những chuyến đi đầy những đe dọa hành hạ dọc đường.
https://thuviensach.vn
Nhà văn Nguyễn Tuân có sống lại chắc cũng không dám làm những cuộc "giang hồ vặt" nữa. Không hiểu ngành giao thông vận tải, cung cách quản lý xe và quản lý người ra sao mà những cảnh ngang ngược hành hạ con người cứ nhiều đến thế, ngày một ngang nhiên đến thế.
Cô lái đò xa xưa ơi, hồn cô bay đến nơi nao rồi, có thấu chăng ngày nay cảnh phải "đi đò trên cạn" nhọc nhằn thế này?.
1999
https://thuviensach.vn
6
PHẢI LOẠI BỎ SÂU ĐỘC
Xưa nay nghề thầy thuốc cứu người và nghề thầy giáo dạy người vốn được coi là nghề cao quí nhất trong xã hội. Người không ốm đau, người mù chữ cũng kính trọng lễ phép với thầy thuốc và thầy giáo. Bản thân những người làm nghề ấy cũng tự giữ mình, tự coi trọng danh dự bằng cách sống trong sạch, có đạo đức, mô phạm... để xứng với lòng tôn trọng của mọi người. Từ bà mụ vườn, ông lang ở xã đến vị giáo sư lừng danh, từ anh khoá, ông đồ "ngồi bảo học", ông hương sư cho đến quan đốc học... bao giờ cũng là những tấm gương trong sáng để mọi người noi theo, từ một câu nói, một dáng ngồi đến mọi cách đối nhân xử thế, mọi hành động... có ảnh hưởng đến xung quanh... tất thẩy đều nghiêm cẩn.
Không hiểu tại sao, do đâu mà có người làm nghề dạy học cũng đi lừa, thành kẻ bất lương gian trá.
Cụ thể: Mấy người thầy của một số trường nọ ở Hà Nội đã mập mờ đánh lận con đen, tuyển sinh thì nói là công lập, treo biển, thêu phù hiệu... đều là công lập, nhưng té ra là trường dân lập, do đó hàng trăm học sinh bị lừa, bị thiệt thòi. Việc vỡ lở, mọi người "ngã ngửa ra", mới biết. Cũng là nghề làm thầy, huyện Quốc Oai lại hà thu lạm bổ, lợi dụng chuyện tiền nong đến nỗi hơn 150 học sinh (và gia đình họ) phải ngừng việc học hành trong nỗi đau lòng lo lắng. Biết ra thì vẫn là chuyện ép buộc, chuyện mập mờ đánh lận...
Hàng chục năm bị lộ đề thi cũng là vấn đề bán đề bài, làm ăn, vì đồng tiền làm loá mắt người làm thầy...
Đây là những con sâu làm rầu nồi canh, những con sâu róm, sâu độc, thậm chí là rắn rết, nếu không ngăn chặn một cách cứng rắn, nghiêm khắc, triệt để thì hậu hoạ tràn lan sẽ khôn lường.
https://thuviensach.vn
Không thể dung túng, tha thứ, nếu muốn duy trì một nền tảng xã hội bền vững, một nền văn hoá dân tộc có bề dày truyền thống Tôn sư trọng đạo, nghĩa là vai trò người thầy được đánh giá rất cao.
Ngành y tế phát động phong trào giữ y đức. Ngành giáo dục cũng không thể để những kẻ lừa đảo này lọt vào. Nhân dân, cả dân tộc đang chờ xem sẽ kết luận thế nào.
10-1999
https://thuviensach.vn
7
CÁI LÝ
Ai cũng có cái lý của mình mà dân gian thường nói đùa là "cái lý của người Mèo" cho vui. Vì vậy mới có hai ông luật sư cãi trước toà, người cãi cho bên nguyên, người cãi cho bên bị. Ông nào cũng vận dụng tri thức luật pháp để cho rằng thân chủ của mình lý đúng. Anh xây nhà lấn chiếm đất hàng xóm có cái lý của anh ta. Cô gái "không mà có", "ăn cơm trước kẻng", bụng phưỡn ra có lý của cô. Kẻ buôn thần bán thánh, làm xi măng giả, thầy thuốc giả (lang băm), nhà báo giả, đến kẻ buôn hàng cấm, đi lừa, phản bạn, ngoại tình, ăn cướp... cũng đều có cái lý của những kẻ đó.
Phải "cháy nhà mới ra mặt chuột", mọi thứ được phơi bày dưới ánh sáng của chân lý thì mới rõ đâu là lý thực, đâu là lý giả, nói cách khác đâu là chân, đâu là ngụy.
Suy ra, những cái lý giả ấy thường xuất phát từ lòng tham của con người (đôi khi còn do nguyên nhân khác). Lấn chiếm đất của người khác, buôn hàng giả để lãi nhiều, ngoại tình là muốn có cái nhiều hơn mình đang có, ăn cướp là mong được cái của người khác lấy làm của mình v.v... và v.v... Mà lòng tham của con người là vô hạn độ. Không phải ai cũng có cái tâm trong sáng như nhà Phật, như ông quan thanh liêm Trần Thì Kiến ngày xưa... cho nên ta thấy những cảnh tham ô tham nhũng, những kẻ lừa bịp, những tên lưu manh... khi bị bắt, bị ra toà... chúng đều cãi lý, đều có những cái lý của mình, cái lý nghe được và cái lý chối tai không thể nào nghe được (như vụ án ngân hàng tiếp tay cho Minh Phụng, như ăn chặn tiền đền bù của dân...).
Ngày nay không còn hình phạt ném đá vào tội nhân cho đến chết như thời La Mã cổ, mà con người đã được tôn trọng hơn, có toà án, có luật sư, có các ban hoà giải để tìm ra cái lý của mỗi con người, mỗi sự việc... Nhưng trước hết, có lẽ vẫn phải là một người tự soi lòng mình, không thể
https://thuviensach.vn
chỉ có mình là "cái rốn của vũ trụ" với cái lý vơ vào của mình, thì xã hội mới bớt đi được những điều vô lý, kiện tụng tùm lum, tham nhũng, hối lộ, lừa gạt...gây phiền lòng cho nhiều người.
2-2000
https://thuviensach.vn
8
SỐNG DỄ VÀ SỐNG KHÓ
Đời người chỉ sống có một lần, nhưng có người suốt đời lúc nào cũng thanh thản, tươi vui, nhẹ tênh tênh, ngược lại, có người luôn tự mình dằn vặt lo âu, sầu não, mưu mô...
Người này cho sống là dễ dàng. Người khác cho sống là khó khăn, nhọc nhằn... Thật trăm hình nghìn vẻ. Có lẽ có một triệu người thì có triệu hoàn cảnh cách nhau, trước hết sống dễ hay khó là tuỳ thuộc vào cách sống của con người cụ thể ấy.
Có người sống vui với hoàn cảnh, không khổ sở vì thiếu chức cao, vọng lớn, không buồn vì luôn thèm những bữa ăn ngon, lên xe xuống ngựa, không ghen tức vì kẻ khác giàu có hơn mình, danh vị hơn mình. Luôn nhường nhịn, giúp đỡ kẻ khác chứ không mong được hơn kẻ khác. Vui thì được mùa, được ngắm bông hoa tươi, được manh áo chỉ là thứ vải thường, đi cái xe loại xoàng, càng vui khi bạn bè thành công hơn mình, tiến xa hơn mình...
Người khác không thể lúc nào cũng khổ sở vì tự thấy mình thua kém, nên ghen tị với thành công của anh hàng xóm, thấy người khác vui vẻ cũng ấm ức, chỉ mong sao mình lấn chiếm thêm ít thước đất, mảnh vườn, có bộ áo quần mà anh hàng xóm không có được. Chỉ mong sao đánh đổ được người khác, nên phải mưu toan nói xấu người, phải tung tin đồn làm hại người, mà muốn tung tin thì phải lo toan suy nghĩ để bịa ra được cái lý của mình... Bao giờ cũng tự đánh giá mình cao hơn cái mình thực có, nên sinh ra kèn cựa, kiện tụng, dè bỉu, bình phẩm, hạ thấp uy tín người khác... Không kể còn có khi nhận vơ dòng dõi, địa vị, tước danh nhằm mưu cầu lợi lộc, nếu không đạt ý mình thì trằn trọc khổ sở, bầy mưu tính kế một cách lao tâm khổ tứ, miễn sao mình được hơn người, dù chính đáng hoặc không
https://thuviensach.vn
chính đáng, nên phải dùng thủ đoạn đen tối, tà ý, nhỏ nhen... Tất cả những cái đó trước hết là tự làm khổ mình, ngày đêm không dứt ra được, cho nên sống ở trên đời là khó lắm...
Nói thế không phải cứ an phận nghèo hèn, dốt nát, không có chí tiến thủ. Nhưng lẽ sống, lối sống không phải chỉ là để mưu cầu lợi danh một cách hằn học. Nếu có lòng vị tha, biết khoan dung, rộng lượng, biết thanh thản trước những cám dỗ nhỏ nhen... thì cuộc sống thật dễ dàng.
Không hiểu ai là người hay tự xét mình như thế.
2-2000
https://thuviensach.vn
9
VƯƠN LÊN
Người ta ai cũng mong tiến lên, vượt lên số phận, thoát ra khỏi hoàn cảnh của mình. Đó là lẽ thông thường.
Người nghèo mong khá hơn. Người khá mong giàu. Người giàu mong thành tỷ phú giàu hơn nữa. Đại tỷ phú rồi thì mong không bị coi là "trọc phú" nên phải mưu danh, mưu cầu địa vị, chức tước. Ngày xưa có ông lý ở làng tìm cách mua danh, nay có ông giám đốc tự phong, thi sĩ tự phong là thế.
Kẻ ít chữ mong học để đỗ đạt cao hơn, cố để thoát khỏi cảnh dốt nát, mong thành người sang, nên mới sinh ra chuyện đi mua bằng cấp, len lỏi vào nơi quyền quí, dựa vào người này người nọ... mạo ra học hàm học vị...
Mong tiến bộ, cầu tiến là một động cơ tốt để mỗi người vươn lên làm cho cộng đồng cùng vươn lên. Nhưng vươn lên cũng có dăm bảy đường. Chúng ta không lạ gì có những người muốn vươn lên bằng bất cứ giá nào: Kèn cựa, vu cáo, ăn cắp ăn cướp, xúi bẩy, lừa lọc, gian manh... Kẻ nào vươn lên bằng những thủ đoạn mưu mô ấy, sớm muộn gì cũng bị lộ chân tướng, rơi mặt nạ, lộ nguyên hình... Mà khi lộ chân tướng, rơi mặt nạ, lộ nguyên hình thì còn đáng xấu hơn là khi hắn ta khởi đầu, bởi hắn là kẻ vô lương. Mà đã bị coi là vô lương thì ai mà yêu mến được.
Tuỳ theo hoàn cảnh mà có người học cao học thấp, người giàu kẻ nghèo, người đa tài, người kém tài... Và thế mới là xã hội đa dạng. Muốn tiến lên, vượt hoàn cảnh là quá trình phấn đấu của cả một đời, chứ đâu có dễ dàng, kiểu làm quan tắt như một thời xã hội gọi để coi khinh kẻ lừa bịp, kẻ cơ hội (hoạt đầu). Cao Bá Quát là thực tài. Nhưng một Huyện Gà (buôn gà cung
https://thuviensach.vn
cấp cho quân Pháp rồi được Pháp cho làm tri huyện) thì Cao được muôn đời kính trọng, còn Huyện Gà bị muôn đời chê cười khinh bỉ. An phận thủ thường không phải là cách sống đáng khen. Nhưng thà thế còn hơn là những kẻ đầu cơ, len lỏi, bon chen bằng thủ đoạn vô lương... như giả mạo lý lịch, buôn giống cây giả, cờ bạc bịp, mạo nhận quan tước, ăn cướp...
Thời gian và công lý vốn công bằng. Cho nên mới có câu "Vải thưa không che được mắt thánh". Mà thánh đây là tai mắt nhân dân, là công luận xã hội vậy.
2-2000
https://thuviensach.vn
10
LÀM SANG
Mặc bộ đồ lớn, không thể thiếu chiếc cà vạt. Dự dạ hội hay ngày lễ trang trọng cũng phải thắt nó, là đương nhiên. Nhưng lâu nay, có những trường hợp thấy đôi ba người thắt cà vạt không đúng chỗ, nên nó chướng chướng thế nào ấy. Anh trưởng thôn, bác cán bộ ở xã vùng cao lên trả lời trên vô tuyến truyền hình, cũng thắt chiếc cà vạt, ông cán bộ huyện về thăm xã, tặng quà cho trẻ em nghèo vượt khó, đến gia đình Bà mẹ Việt Nam anh hùng... đứng lẫn vào những khuôn mặt hốc hác, nhăn nheo, quần áo còn chưa lành lặn, bàn chân họ đi đất, mái tranh tả tơi... mà mấy ông này quần áo đắt tiền, phẳng phiu, mặt béo mỡ, chiếc cà vạt sặc sỡ trên cổ áo sơ mi trắng bong... mà cứ thấy tủi tủi.
Thử nghĩ nếu bà mẹ nghèo kia đang vác cây củi dính bùn đất, ông cà vạt này có dám đỡ một tay hay sợ bẩn chiếc áo lôm lốp và chiếc cà vạt diêm dúa ấy?.
Trên đường vào làng, có chiếc xe lúa nặng, hì hục vượt cái cầu xi măng, người nông dân toát mồ hôi, chiếc cà vạt có dám cúi xuống, ghé vai, "bắt bánh" cho xe lên dốc?
Có con lợn sổng chuồng, chạy qua vườn hay con trâu đang húc nhau, lồng lên... ông diêm dúa này có dám xông vào đuổi hộ hay sợ bẩn quần áo, nhàu chiếc cà vạt?
Mặc quần áo sạch sẽ, phẳng phiu, chỉnh tề, ngay ngắn... là cần thiết và vô cùng cần thiết. Nhưng dân ta còn nghèo lắm. Đến với người nghèo, đến với nông thôn còn lam lũ... có nên quá diêm dúa, nắn nót, tự bao vây mình bằng sự xa cách về trang phục, tự cách li mình ra khỏi người dân như thế không?
https://thuviensach.vn
Đã có một thời cán bộ và dân chúng chan hoà gần gũi không phân biệt, dân nuôi cán bộ, cán bộ giúp dân, lội ruộng, nhảy xuống ao, đánh hộ đống rơm, ngồi ngay xuống chiếc chiếu trải đầu hè. Lúc ấy, dân và cán bộ mặc gần tương tự nhau. Nay, cán bộ "sang" quá, chỉ nhìn bề ngoài với chiếc cà vạt và đôi giầy đen bóng lộn, cũng thấy ông cán bộ này khó mà ra tay giúp người dân một việc nào đấy nếu bất thần xảy ra.
Không phải cứ ăn mặc tả tơi, rách vá là tốt. Nhưng về với dân mà tự tách mình ra, sợ bẩn quần áo hoặc thắt chiếc cà vạt để làm sang... thì không còn cán bộ nữa mà chỉ còn các quan đi "kinh lý", "hiểu dụ" mà thôi. Chắc chắn dân cũng không ai muốn gần mấy ông quan tự "quan liêu hoá" này.
https://thuviensach.vn
11
KIM TRONG BỌC
Cái kim là vật nhỏ nhưng cần thiết. Ngoài đời, cũng có những "chiếc kim" rất khéo giấu mình, nó cứ tưởng suốt đời sẽ không ai biết là có nó. Vì thế mà nó cứ tự thoả thuê tung hoành trong bóng tối. Với nó là bóng tối bí mật, nhưng thực ra tai mắt cuộc đời lại là kính chiếu yêu nên "cái kim" ấy cứ lộng hành mà không hề biết sẽ có ngày lộ chân tướng, có ngày rơi mặt nạ, đúng như câu tục ngữ xưa: "Cái kim trong bọc lâu ngày cũng...".
Xã hội Việt Nam đã có thời kỳ hàng trăm năm bình lặng, chậm chạp, ngưng đọng, nên những "cái kim" ấy chỉ là rất ít. Nay xã hội tiến nhanh như vũ bão, tốc độ sống vần vũ từng giây từng phút, nhiều "cái kim" được thể, dựa vào quyền hành, chức tước, tiền tài, danh vị, khi khôn khéo, lúc lộ liễu, nó giơ cái mũi nhọn hoắt ra làm những việc mà khi "cháy nhà ra mặt chuột" chúng hối hận cũng không kịp. Có "cái kim" lương tháng chỉ đủ nuôi một vợ một con, vậy mà mới có tí quyền hành vài ba năm đã xây ngôi nhà một vài tỷ đồng, bằng số tiền tích luỹ vài trăm năm. Nó lấy đâu ra, nếu cái mũi kim ấy không xuyên chỗ này, chọc chỗ khác? Có lẽ chỉ mình nó biết trong những đêm một mình nó vắt tay lên trán mà suy nghĩ, nhớ lại.
Có "cái kim" nhân danh "công tác" xem vợ người khác làm đồ chơi cho mình, ta tạm gọi là "bồ nhí", làm tan cửa nát nhà người lương thiện, làm ô danh cả một tầng lớp của nó, nó có biết làm thế là phá hoại đạo đức, gia phong, là làm điêu đứng người khác, mà tiếc thay, luật hình sự năm nào cũng thay đổi, bổ sung, nhưng chưa có đạo luật nào phạt nặng kẻ lợi dụng chức quyền để thoả mãn dục vọng và thú tính, buộc chúng vào tù để bảo vệ những gia đình phải đi làm công ăn lương như cô thư ký và anh chồng khốn khổ kia.
https://thuviensach.vn
Có bao nhiêu loại kim đang ẩn mình trong mọi lĩnh vực? Và có bao nhiêu cái kim đã lòi mặt ra? Trong đó mấy cái kim vì to quá, như cái dùi, nên mới bị xử lý một cách tượng trưng kiểu "sát nhất nhân vạn nhân cụ" (Phạt một người cho vạn người sợ)?
Làm một cái cây ngay, làm một cái que thẳng, khó lắm thay. Nhưng làm cái kim mà cong queo, mà cứ tưởng không ai biết, trên đời này còn nhiều lắm, sớm muộn cũng sẽ bị phơi bày ra ánh sáng. Cái kim ấy có biết mà tỉnh ra không nhỉ?
https://thuviensach.vn
12
HOA VÀ CỎ
Nguyễn Trãi có câu thơ:
Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi.
Hoa là phần tinh tuý nhất của cây, phải chăm bón vun trồng dày công phu, hoa mới ở với con người ít bữa rồi héo tàn không gì cưỡng được. Nhưng dù héo tàn thì nó vẫn là hoa, còn để lại niềm vui trong lòng người nhiều thời gian nữa, như cô cái được tặng bông hồng đầu tiên, như người chơi hoa chọn được cành đào "thế" tuyệt đẹp một năm nào đó... Và hoa là tượng trưng của cái đẹp, cái tốt, cái lành ai cũng cần hướng tới.
Còn cỏ? Ngoại trừ đôi ba thành phố trồng cỏ cho xanh mát, hay triền đê vừa bồi đắp hoặc trên nấm mộ mới cần một vừng cỏ để che cho ai kia vừa rời bỏ cuộc đời... thì hầu như cỏ là loài cây dại, không ai trồng nhưng nó có mặt ở hầu khắp mọi nơi, nhổ đi, cắt đi, đốt đi, chúng vẫn mọc lại. Cỏ tượng trưng cho một điều gì đó phải dè chừng, nếu không cẩn thận nó có thể lấn át cả hoa.
Ấy là nói ngoài thiên nhiên. Còn lòng người thì sao nhỉ? Trong sâu thẳm, ai cũng có bông hoa của đời mình và ai cũng có mầm cỏ lẫn vào trong đó. Học được điều tốt, làm được điều tốt thật khó, cả đời vẫn chưa thể đủ. Nhưng cái xấu, cái ác nó tiêm nhiễm vào người thì nhanh lắm, nó có thể biến thành thói quen cũng nhanh lắm. Lúc bé ăn trộm quả trứng lớn lên có thể ăn trộm con bò. Ngụm rượu đầu tiên đắng ngắt nhưng khi nghiện thì bao nhiêu rượu cũng không vừa. Kẻ tham ô, chỉ ăn gian tí chút, nhưng thành quen có thể trở thành tội phạm ghê gớm, dám ăn chặn tiền của gia đình thương binh liệt sĩ... Đó chính là kẻ đã để cho cỏ lấn át mất hoa trong con người mình. Có bao nhiêu thứ cỏ dại luồn lách, lẩn khuất quanh ta và
https://thuviensach.vn
trong ta. Chúng "thường tươi" lắm, còn hoa, hoa rất dễ héo tàn nếu ta không luôn tự nhắc nhở bản thân mình, giống như bông hoa trong bình kia, sẽ tàn ngay trước mắt, héo ngay chốc lát.
Thì ra câu thơ sáu trăm năm vẫn còn nguyên giá trị, và bao nhiêu lần sáu trăm năm nữa, hoa và cỏ vẫn song hành cùng con người, người biết sống và người không biết sống?
4-2000
https://thuviensach.vn
13
HỌP (1)
Họp là cần thiết. Họp là quan trọng. Không thể không có những cuộc họp to nhỏ từ xa xưa tới nay và có lẽ sau này nữa.
Không kể ngày nay họp thường có phong bì nên nhiều người thích họp, siêng đi họp. Chỉ nói có những cuộc họp khống, họp vờ... Ấy là ông thường trực thấy vị khách quần áo tàng tàng, vai đeo cái bị, tay dắt chiếc xe đạp đầy bùn... bèn không cho vào gặp thủ trưởng, đánh luôn một câu là xong: Hôm nay giám đốc bận họp, không tiếp khách.
Lại có người nhẹ tình với bạn, ngại đưa ma đường xa, trời nắng, thế là lấy cớ "bận họp" để khỏi phải đi tiễn bạn, dù ngày thường, vẫn mày tao chi tớ, bia bọt tùm lum. Có anh chồng hay "hoa lá cành”, tối nào cũng nói dối vợ là đi họp, nhưng rồi “cháy nhà ra mặt chuột" thế là đĩa bay, là giông tố nổi lên trong gia đình... Oan cho "họp" quá.
Sợ nhất là đầu năm học, cha mẹ nhận được cái giấy mời họp phụ huynh học sinh (chữ của con mình, do cô giáo đọc cho, bé em chép). Thế là phải chạy đông chạy đoài, vay nóng, giật xổi lấy ít tiền đi họp vì không thể đi vay không, bao nhiêu là thứ tiền: Tiền xây dựng trường, tiền quĩ lớp, quĩ trường, tiền bảo vệ, tiền thuê người vệ sinh, tiền học phí, tiền trái tuyến, tiền đun nước uống, tiền đồng phục, tiền bảo hiểm...
Lại có những cuộc họp gì không biết mà ngoài cửa cơ quan, có mấy anh bảo vệ tự tiện đuổi dân đi, không cho đứng lại dù đây là quãng đường công cộng, có bóng cây mát, có hàng quà, có vỉa hè... Thì ra là mấy ông quan cấp huyện của một huyện ven nội, ngay gần Cầu Giấy, họp cơ quan sáng ngày 11-9-1999, cho nên đuổi dân đi, không cho dân lai vãng gần đấy, bất chấp dân là ai, đi qua có việc gì. Thế là các ông quan này tự bao vây, tự làm
https://thuviensach.vn
hàng rào "quan liêu hoá", không cần gần dân và cũng không cho dân gần mình.
Họp, bản thân nó không có lỗi. Chỉ có người dự họp mới có trách nhiệm với cuộc họp dù to hay nhỏ. Nên như thế nào, chẳng lẽ lại phải họp để giải quyết chuyện họp như thế?
1999
https://thuviensach.vn
14
HỌP (2)
Họp, họp mặt... có lẽ không khác nhau là mấy, thường là phải có đông người. Không ai họp mà chỉ có một người, tức là một mình mình. Ngày Tiên Thường, anh chị em họp nhau để đến mai là ngày giỗ chính cha mẹ, bàn nhau nên làm giỗ kiểu gì, chí ít cũng dăm bảy người. Họp gia đình để bàn cách ứng phó với đứa con hư làm phiền lòng cha mẹ họ hàng, cũng vậy.
Họp thôn, họp tổ dân phố, họp nhân ngày lễ đón nhận danh hiệu vẻ vang, họp thi đua cuối tháng, họp bàn chuyện tăng lương, họp để thống nhất sửa sang ngôi đình làng hay mở rộng con đường... Và họp nhân lễ sinh nhật, nhân kỷ niệm đồng môn ra trường cách đây đã lâu... Rồi họp mặt thân mật nghĩa là vui vẻ, có đồ kỷ niệm, có tiệc tùng... cho đến cuộc họp trang trọng gọi là Hội thảo khoa học... có cấp trên, có học giả, có trí tuệ...
Hàng năm thứ họp ngày nào cũng có ở nơi này chỗ khác. Trong cuộc họp, một người nói, nhiều người khác nghe, hoặc lần lượt nhiều người nói cho nhiều người vỡ lẽ điều gì đó... có vui có buồn, có chùng có căng, có nhất trí, có bảo lưu, có ngay thẳng, có cạnh khoé, có bộc trực, có ngấm ngầm... ai chẳng từng phải dự nhiều cuộc họp như vậy.
Họp mặt thường vui hơn, đằm thắm hơn là họp. Trong từng cuộc họp, mỗi người phải ăn mặc chỉnh tề ra sao, nói năng khúc chiết hay ấp úng, nói cho cạn lẽ hay chỉ là nửa chừng theo kiểu:
Người khôn ăn nói nửa chừng
Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo... hoặc là nể nang, tránh va chạm, không nỡ nói hết, không nỡ nói toạc móng heo vì sợ mất lòng, mất đoàn kết, sợ thành kiến, trù úm, ghen ghét...
https://thuviensach.vn
Nhờ họp mà ta gặp người bạn lâu ngày. Mong họp để thấy một đôi mắt nhìn từ xa... Họp vì bổn phận, nghĩa vụ, quyền hạn, họp cho thân tình giao hão và họp cho bõ ấm ức trong lòng...
Họp còn để giải toả tâm lý ức chế, để phổ biến hiểu biết riêng của mình cho người khác cùng lĩnh hội...
Dự một đám cưới có là họp không? Đi đưa ma có là họp không? Tuỳ người hiểu. Nhưng hình như không một ai không có những cuộc họp mà trong đó mình là nhân vật quan trọng hay mình chỉ là cái bóng thầm thì trong góc khuất... Nếu tính chi li, một năm một đời, phải mất bao nhiêu thì giờ cho những cuộc họp, cả họp cần thiết và họp vô bổ?
3-2001
https://thuviensach.vn
15
BỰC MÌNH
Hàng ngày, ta tiếp xúc với bao người bao việc. Có người rộng lượng bao dung, gặp chuyện không vừa lòng, cứ "cho qua" không chấp nê, lòng thanh thản. Ngược lại, có người luôn cảm thấy "bực mình". Vào hội chợ, đến công viên bị "móc túi" trả tiền gửi xe gấp hai ba lần, đi mua hàng gặp cô nói thách, mua phải thứ hàng rởm, ăn phải bát phở nhạt nhẽo thiếu gia vị, gặp ông thường trực hách dịch hỏi vặn hỏi vẹo, thấy mấy cậu thanh niên ngang nhiên vượt đèn đỏ bất chấp cảnh sát, bị đứa mất dậy đâm xe vào mình mà nó còn mắng lại, ngồi cạnh cái "ống khói" trong phòng họp ngay dưới cái biển đề "cấm hút thuốc" hoặc cái biển ấy lại viết bằng tiếng Tây cứ làm như mọi người Việt Nam đã hoá thành Tây-nội- hoá hết... Mỗi chuyện ấy đều là nỗi "bực mình", không ý kiến thì người ta cho là mình thờ ơ, là mình ngu, có ý kiến thì bị cho là kẻ rách việc... càng bực mình hơn...
Không một xã hội nào hoàn hảo, không một con người nào hoàn hảo. Đương nhiên. Nhưng nếu mỗi người đều tự trọng và tôn trọng người khác thì cộng đồng sẽ tốt đẹp hơn gấp nhiều lần là cái chắc. Bán hàng đúng giá. Giữ xe lấy đúng tiền quy định. Gặp đèn đỏ phải dừng.
Hàng hoá phải có chất lượng. Không hút thuốc trong phòng họp. Không giẫm lên cỏ trong vườn hoa. Làm sai dù nhỏ cũng phải xin lỗi v.v... thì có lẽ không còn ai phải "bực mình".
Tuy nhiên, tuỳ tính cách mà mỗi người xử lý chuyện to chuyện nhỏ theo cách khác nhau. Người hay bực mình là người kỹ tính chứ chưa hẳn là người hay chấp nê, người cố chấp. Mọi chuyện gây ra nỗi "bực mình" phần lớn đều ở thành phố, nếu không khoan dung, thì đều trở thành nguyên nhân của những "cú sốc" mà thời nay người ta gọi là "Stress" nguy hiểm cho con
https://thuviensach.vn
tim, cho huyết áp, cho tuổi thọ... và như vậy thì nâng cao trình độ, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống văn hoá và kỷ cương... có lẽ góp phần vào làm cho xã hội ngày một hoàn hảo hơn, làm nhiều người đỡ "bực mình" hơn. 5-2000
https://thuviensach.vn
16
CÁI VỎ
Tục ngữ có câu "Bóc ngắn cắn dài" ngoài nghĩa bóng ai cũng hiểu và noi theo, còn có nghĩa đen cụ thể, khi ăn chuối chẳng hạn, phải bóc cái vỏ. Ngẫm, cái gì chẳng có vỏ. Quả dưa, quả mướp, cái thân cây, hạt thóc... Con rùa có chiếc mai, con gấu con mèo có bộ lông, con cá có vẩy, đến chiếc cầu bắc qua sông còn phải lấy sơn xanh sơn trắng làm vỏ, chiếc tủ đứng trong nhà thì vỏ bằng véc ni cho bền cho bóng đẹp...
Có lẽ chỉ có con người là cái vỏ thay hình đổi dạng với nhiều kiểu dáng, màu sắc nhất. Từ tấm lá cây, sợi gai đan tạm che thân để nhung gấm lụa là chói loá... Hôm nay vỏ trắng, sáng mai đã nâu, đã đen, đã xanh đỏ tím vàng... chuyện dân gian còn chê con chó không nhận ra chủ khi chủ đi thì áo trắng lúc về lại khoác áo đen...
Lắm lúc nghĩ cũng buồn cười, cái vỏ lúc thì che kín toàn thân, hở hang là không được, khi lại che chỗ không cần thiết và hở chỗ cần che cho thiên hạ "lác mắt". Ít lâu nay con gái ra đường che mặt bằng cái mùi xoa chéo, mà sinh thời nhà báo Nguyễn Hà ngồi một tiếng đồng hồ đếm được gần trăm cô tự làm xấu mặt mình đi như thế.
Kỹ nghệ làm vỏ cho con người đã được nâng lên hàng thượng thặng, có thể khoe ra trước ánh đèn sân khấu cho thoả con mắt tò mò thèm muốn... Cái vỏ để bảo vệ cái ruột, đương nhiên. Nhưng nếu chỉ bằng vào cái vỏ để đánh giá cái ruột thì cũng có khi lầm lẫn. Nguy hiểm nhất là những kẻ "xanh vỏ đỏ lòng", tự nguỵ trang cho mình bằng cái vỏ mã thượng, sang trọng, quí phái mà cái ruột bên trong lại dựng toàn những đen tối, phản trắc, tham lam...
https://thuviensach.vn
Phong trào giữ an toàn vệ sinh thực phẩm đang khuyên mọi người nên gọt vỏ các loại quả trước khi ăn. Nên lắm. Nhưng còn những cái vỏ nguỵ trang kia đang nghênh ngang giữa đời thường, thì làm sao đây? Khó vậy thay?.
5 - 2000
https://thuviensach.vn
17
TRÊN ĐƯỜNG
Ở thành phố, những ngã tư thường có đèn tín hiệu để chỉ đường cho ta đi. Trên những con đường thiên lý hay liên tỉnh liên huyện, có chiếc biển vẽ mũi tên cho ta biết ngả nào cần tìm đến. Nhưng những nẻo đường hun hút và vắng vẻ trung du hay miền núi, làng xa hay xóm vắng, có ngã ba, ngã tư làm ta phân vân khó xử, khó tìm vì không định hướng.
Chỉ một chuyến đi, một ngày hay một lúc còn thế thì chuyến đi suốt trăm năm của mỗi chúng ta trên trần thế này, ta phải vượt bao nhiêu ngã ba ngã tư, thậm chí ngã năm ngã sáu, làm gì có ngọn đèn tín hiệu hay mũi tên cụ thể. Phải tự mình tìm ra, tự mình quyết định ngả nào mà thôi. Vì thế mà nhiều người đi tới đích, nhưng cũng lắm kẻ lầm đường lạc lối, đường quang không đi lại đâm quàng bụi rậm.
Anh nhà buôn lại định làm nhà thơ. Anh cốt cách thi sĩ lại đi buôn. Anh bất tài lại mong giàu thật nhanh, cô gái nhà lành lại lao vào con đường a dua hưởng lạc...
Những ngã, ba ngã tư vô hình mà nghiệt ngã, đã quật đổ bao nhiêu con người bất hạnh, không biết tự đánh giá mình, không biết tự kiềm chế mình như kẻ đi đâm thuê chém mướn, kẻ buôn bán ma tuý, gieo rắc cái chết trắng cho bao người và trước hết là cái chết cho bản thân mình...
Tuy vậy, thật khó khi đứng trước một ngã ba đường, không đèn tín hiệu, không có mũi tên, không có ai mà hỏi thăm. Ngả nào đây? Bên phải hay bên trái? Trước mặt kia có những gì chờ đợi? Nơi cần đến, hay chỉ là đầm lầy hiểm hoạ?
Nếu ta là người trong cuộc thì có khi không còn đủ sáng suốt mà nhận định, mà tìm đường. "Cờ ngoài bài trong" là vậy. Và thật không may nếu ta
https://thuviensach.vn
lại nghe lời ông quân sư tồi, chỉ sai con đường cần tới, ta phí cả cuộc đời như chơi, nếu may tỉnh ngộ, thì cũng muộn màng bao năm tháng thanh xuân.
Yên phận thủ thường, giậm chân tại chỗ là không được nên băn khoăn trước ngã ba, ngã tư là điều không tránh khỏi. Chỉ có thể tự thắp sáng "ngọn đèn tín hiệu" trong sâu thẳm lòng mình trong ánh sáng của lương tri và trí tuệ, trong quyết tâm và dũng cảm mới mong đi đúng đường mình.
5-2000
https://thuviensach.vn
18
BẮT ĐẦU
Chuyện dân gian kể rằng loài cóc sở dĩ không có đuôi vì chúng cứ tự hứa với mình là việc lắp đuôi để đến mai hãy hay. Nhưng mai qua đi, mai nữa qua đi, dự định ấy cứ lần lữa trôi, cuối cùng không thực hiện được, và đến nay nó vẫn chỉ "trơ thân cụ", không đuôi hoàn không đuôi.
Nhiều người chúng ta rất giữ đúng lời hứa, dù với người thân, người sơ, hay con trẻ. Đã hứa là nhất quyết làm, là tròn lời hứa. Hoan hô lắm. Nhưng còn lời tự hứa với bản thân mình, sao cứ hoãn, cứ khất lần hết nay đến mai, hết năm này sang năm khác, để cái già nó sồng sộc đến, dự định vẫn chỉ là dự định, tuổi xuân trôi vèo, tóc hoa râm xuất hiện, tay trắng vẫn hoàn tay trắng?
Có ông cứ doạ thiên hạ: Tôi sẽ viết quyển sách như thế này, như thế khác... nhưng năm năm qua, mười năm qua, chẳng thấy ông đặt bút viết một dòng nào. Ba mươi tuổi, rồi năm mươi tuổi, từ lúc uống một chén rượu đã sặc sụa, đến lúc tu cả chai chẳng bõ bèn, dự định kia vẫn chỉ là mây gió.
Cần nghị lực ư? Cần can đảm ư? Cần cố gắng ư? Tất cả đều cần, nhưng có lẽ cần nhất là quyết tâm, là tự vượt mình. Không bắt đầu trèo núi thì làm sao lên được đỉnh núi. Thiên hạ không sợ lời đe doạ cứ nằm trong dự định mãi, mà chỉ sợ, tức là hoan hô, những dự kiến biến thành kết quả cụ thể dù đó là kết quả to hay nhỏ.
Ngoại trừ những nguyên nhân bất khả kháng, thì mọi điều kiện khác đều do con người định đoạt. Mỗi ngày, mỗi lúc đều có việc của ngày đó, lúc đó. Để đến mai sẽ bị dồn ứ như đoàn tàu dồn toa vào nhau, khó mà không trệch bánh khỏi đường ray số phận.
https://thuviensach.vn
Bắt đầu, khởi đầu... đó là phút quyết định, là giờ thiêng liêng, là cuộc chiến thắng với chính mình. Cái đẩy chân để con đò bắt đầu sang sông, cái nút bấm để máy bay cất cánh, cái tia sáng đầu tiên cho bông hoa nở... Phải có cái đầu tiên ấy mà không được tự buông thả mình, tự dễ dãi với mình mà hoãn đi hoãn lại như loài cóc trong tục ngữ kia.
Khó lắm thay. Nhưng con người sinh ra là để vượt khó như thế. 5-2000
https://thuviensach.vn
19
LỪA
Thiên hạ còn nhiều kẻ đi lừa. Chúng sống được vì còn nhiều người bị mắc lừa. Nó thả con săn sắt để bắt con cá rô. Con cá rô là người bị lừa vì tham ăn con săn sắt. Người bị lừa thường là người ngây thơ, dại dột, và cũng là kẻ dại khờ vì cái lòng tham xui bẩy. Thằng lừa giả vờ đánh rơi sợi dây chuyền, gạ gẫm chia nhau, người bị lừa đưa cho nó số tiền lớn như để chia đôi thứ bắt được. Thì ra vàng giả, nó lừa rồi. Tên khốn kiếp hứa trả lãi cao, thế là người nhẹ dạ cho nó vay nhiều. Lúc đầu lãi thật, nhưng chỉ lúc đầu thôi, rồi nó lặn một hơi, thế là mất cả chì lẫn chài, ớ ra thì đã muộn, mới biết mình bị lừa.
Lao vào đám đánh bạc, tưởng ngon ăn, thế là nó chơi bạc bịp, nó lừa cho manh áo không còn. Chuyện "trò chơi có thưởng", chuyện "ba cây trên xe buýt" nhỡn tiền. Tại lòng tham đấy. Mua cái xe giá rẻ, tưởng hời, lợi được chút ít, thì ra xe cũ đã "mông má", bị lừa rồi mới thấy mình dại.
Đứa đi lừa thì trăm phần trăm là kẻ gian manh, tội danh đã rõ. Nó là đứa tham lam tột bực, chả phải bàn. Nhưng bình tĩnh, thì người bị lừa cũng tham lam nên mới ra nông nỗi. Nếu vô tư một chút, không coi cái danh cái lợi to bằng núi, không ham đồng tiền kiếm quá dễ, không màng món bổng lộc "trời cho"... không cắn câu con săn sắt, mà cao thượng hơn, thẳng thắn hơn... thì đứa đi lừa chắc chẳng thể có cơ làm ăn bất chính. Đương nhiên còn có những kẻ lợi dụng chức danh, địa vị, uy tín "ô dù" để lừa người dân thì không kể. Bọn này mập mờ đánh lận con đen, đe doạ hay nhử mồi một cách "kẻ cả", khiến người bị lừa khó bề chống cự, lại là chuyện khác.
Chung quy, đứa đi lừa đáng bị trừng phạt. Nhưng nếu ai cũng tỉnh táo, trung thực, thẳng thắn, không tham lam, không hoa mắt trước lợi danh... thì
https://thuviensach.vn
những đứa đi lừa kia cũng đừng hòng có đất mà hoạt động. Xung quanh ta, hàng ngày, khối bài học rành rành, có thể rút kinh nghiệm mà không cần dài dòng cũng rõ.
1999
https://thuviensach.vn
20
PHẢN CẢM
Xưa nay cái gì ít, hiếm mới quí. Nhiều hoặc nhiều quá là hoá nhàm ngay, chán ngay, có khi trở thành đáng ghét, mà tiếng mới gọi là Phản Cảm. Quảng cáo là cần thiết. Người sản xuất giới thiệu được hàng hoá của mình. Người tiêu dùng biết hàng hoá ở đâu mà mua. Quảng cáo phát triển đến nỗi trở thành một ngành kỹ nghệ, công nghệ. Vì thế mà nó phải dựa vào các cơ quan truyền thông, thông tin đại chúng.
Trước, tên trùm tuyên truyền Gơ Rinh của chủ nghĩa phát xít chủ trương nói mãi người ta cũng phải nghe, phải thấm. Nay đã hoàn toàn khác. Giở trang giữa là trang quí nhất của tờ báo, đã từ những bài đáng đọc nhất, đến chỉ còn hoàn toàn là quảng cáo, mà quảng cáo quá nhiều lần, người ta gấp lại luôn, không đọc, thậm chí không mua báo ấy nữa. Phản cảm đấy.
Trên truyền hình, quảng cáo mới thật ghê hồn. Cái gì cũng là Nhất, là tuyệt hảo, là số Một thế giới, mà cứ nhắc đi nhắc lại, ngày nào cũng thế, buổi phát hình nào cũng thế. Loại quảng cáo này phá hỏng mỹ cảm, tình cảm của người xem. Phim đang cảm động chẳng hạn, xen vào quảng cáo bao cao su hoặc băng vệ sinh... Không xem, không nghe cũng không được, chỉ có một cách phản ứng lại là: Tắt Máy. Phản cảm đấy.
Dầu gội đầu, chống gầu, bột giặt và bia, xe máy, các loại thuốc bổ, thuốc bệnh... nào hai cốc mỗi ngày, nào làm cho da trắng, da mịn... làm như xã hội nông thôn và thị thành đang nghèo này chỉ còn mỗi việc tự làm đẹp và vứt tiền qua cửa sổ để mua các thứ Nhất hạng đó.
Đã phản cảm rồi thì đâm ra ác cảm, đâm ra ghét cay ghét đắng loại "nói phét", tự "bốc thơm", và hoàn toàn mất lòng tin với nó.
https://thuviensach.vn
Nên thế nào, liều lượng ra sao, nội dung và hình thức quảng cáo thế nào cho phù hợp với dân ta... là điều đáng suy nghĩ của những phương tiện truyền thông nhận đăng quảng cáo. Để người dân Phản Cảm thì lợi bất cập hại, tự giết mình mà thôi. Nhà văn Vũ Trọng Phụng có câu văn bất hủ.
"Biết rồi, khổ lắm, nói mãi".
Đã phản cảm thì không chỉ nói như thế, mà người ta xa lánh nó, ghét nó, thù nó. Bài học này đắt giá đấy.
5-2000
https://thuviensach.vn
21
CHUYỆN CHỮ NGHĨA ĐỒNG ÂM
Bờ hồ Gươm, trên tháp Bút có ba chữ Tả Thanh Thiên, nghĩa là Viết lên trời xanh. Mùng ba tháng Ba có tết Thanh minh trong tiết thanh minh nghĩa là hôm ấy trời xanh và trong sáng. Chúng ta, ai cũng có tuổi trẻ, tức tuổi xanh, nên mới gọi là Thanh niên, Thanh nữ. Truyện Kiều có câu:
“Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” để nói cô Kiều phải vào lầu xanh (gái làng chơi) hai lần và hai lần làm đầy tớ gái (người hầu gái Trung Hoa phải mặc áo xanh để phân biệt với người quí phái, người tự do).
Thanh tra lại hàm nghĩa khác tức là làm cho trong sạch, như nghĩa trong thanh tao, thanh cảnh, thanh u, thanh nhã...
Màu thiên thanh là màu xanh da trời. Tuổi thanh xuân cũng có nghĩa là mùa xuân xanh, tuổi xanh, tuổi trẻ.
Thanh còn có nghĩa khác như thanh nhạc là khoa dạy hát, thanh âm là tiếng động (thanh và âm), như thanh la còn gọi là phèng la. Thanh đới là những dây thần kinh trong cổ họng để phát ra âm thanh.
Thanh minh, ngoài nghĩa thời tiết còn có nghĩa là nói lại cho rõ ràng ví dụ trong câu: Việc đã rõ, không cần thanh minh nữa.
Tiếng Việt uyển chuyển, nhiều từ Hán Việt, đồng âm khác nghĩa, nếu chỉ nói một từ đơn thì đôi khi rất khó hiểu nhưng trong từ kép hoặc trong văn cảnh thì rõ ràng ngay. Điển hình một lần Cao Bá Quát nổi tiếng hay chữ, nhà có tang, một cụ bô lão đến phúng, bảo họ Cao viết câu đối, cụ đọc: Chi. Cao ngẩn người, không dám viết, phải hỏi: Thưa bác, chữ Chi viết thế nào? Cụ bô lão khóc hu hu, và rằng: Thằng Quát này nổi tiếng hay chữ mà một chữ Chi không biết viết, trời ơi, cố nhân ơi... Thì ra có hàng chục chữ Chi,
https://thuviensach.vn
nghĩa khác nhau, phải có hai ba chữ kèm theo mới rõ nghĩa. Và từ đấy Cao cũng tự răn về thói ngông nghênh của mình về chữ nghĩa. Không ai dám nói đã hiểu hết chữ và nghĩa, dù là tiếng mẹ đẻ của mình, chỉ có điều cần thận trọng mà thôi. Chữ Thanh cũng nằm trong trường hợp đó: Thanh thuỷ, thanh sơn, thanh trừng, thanh tịnh, thanh tâm...thanh khí... (5-2000)
https://thuviensach.vn
22
CHUYỆN CHỮ NGHĨA ĐỎ VÀ HỒNG
Ở ngõ Hàng Giầy trước khi Thủ đô được giải phóng, có hiệu ăn Hoa Kiều có món cơm Hoa Kỳ (vì Hà Nội lúc ấy đã bị ảnh hưởng Mỹ phần nào) sau giải phóng, món cơm ấy được đổi một chữ thành cơm Hồng Kỳ, tức cờ đỏ. Ghê thay sự hoạt đầu, cơ hội, gió chiều nào che chiều ấy.
Hồng tiếng Hán là Đỏ. Còn tiếng Việt, phân biệt Hồng và Đỏ là rất khác nhau. Ngã tư có đèn đỏ mà không phải đèn hồng. Hồng nhạt hơn nhiều, nó là đỏ pha loãng, cũng khác với màu Đào, màu Sen.
Hồng còn có nghĩa Hoa Hồng (có hoa hồng đỏ, hoa hồng vàng, hoa hồng trắng), quả Hồng (Hồng Hạc, Hồng Nhân hậu màu đỏ) Chim Hồng (một loài chim lớn mà Hưng Đạo Đại Vương đã lấy chim ấy ra ví với Yết Kiêu, Dã Tượng) hoặc Nguyễn Du viết: "Cánh hồng bay bổng tuyệt vời” - chỉ Từ Hải như cánh chim hồng ấy.
Khách má hồng là để chỉ người con gái, không ai nói khách má đỏ. Cô nào khờ dại đánh má đỏ như cà chua, như quả nhót, thì không thể nhìn được.
Trong Kiều còn có câu "Hồng quân với khách hồng quần..." Hồng quân là tạo hoá, là thượng đế to lớn. Còn Hồng quần là người mặc quần hồng, tức người con gái Trung Hoa xưa luôn mặc quần đỏ.
Tiền Hoa Hồng là tiền thưởng cho ai làm một việc gì đó như một thứ hương thứ hoa. Hồng hoa là tiết lợn sống có thể để đánh tiết canh. Hồng phúc là phúc lớn. Hồng tâm là vòng tròn màu đỏ ở cái bia tập bắn.
Quốc kỳ ta màu đỏ mà không phải màu hồng. Nông dân được cấp sổ chứng nhận quyền sử dụng đất gọi là Sổ Đỏ mà không phải Sổ Hồng. Đỏ phai đi thành màu khác, nó bạc phếch nhuôm nhuôm chứ không phải hòng
https://thuviensach.vn
như hoa súng hồng trên ao, áo màu hồng trên sân khấu, con sông Hồng màu cũng không đỏ rực.
Giang Văn Minh đối lại vế đối của triều đình nhà Minh "Đồng cổ chí kim đài dĩ lục" (Cột đồng Mã Viện đến nay đã rêu phong - ý giả nước Việt đã mất) rằng:
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (sông Bạch Đằng từ xưa nước vẫn còn đỏ máu - ý giả nhắc đến trận Bạch Đằng) mà ông phải hy sinh thân mình. Như vậy hồng và đỏ, với ta, là hai sắc hoàn toàn khác nhau, nghĩa cũng khác nhau.
(5-2000)
https://thuviensach.vn
23
CHUYỆN CHỮ NGHĨA ĐÚNG VÀ SAI
Tiếng Việt là kho của quí của chúng ta. Tuy nhiên theo thời gian, tiếng Việt cổ không còn lại bao nhiêu mà đã thêm rất nhiều từ mới, trong đó từ vay mượn của thế giới rất nhiều và là lẽ tự nhiên, nhất là từ Hán Việt, đến nỗi người không biết chữ Hán vẫn cứ hiểu.
Tiếc thay đôi khi vẫn có người nói sai viết sai, làm lệch nghĩa, phản nghĩa mà không tự biết.
Có người nói: "Anh nói rất đúng, tôi xin phủ nhận ý kiến". Đáng ra là công nhận, nhưng nói sai thành phủ nhận, làm ngược ý, là phản đối. Ai cũng có Điểm Yếu là điểm còn kém, nhưng lại nói thành Yếu Điểm nghĩa là điểm quan trọng, sai mà không biết. (như Yếu nhân là người quan trọng chứ không phải là người yếu). Màng và Mạng cũng đôi khi nhầm lẫn. Mạng nhện khác Màng mỏng. Thương nghiệp phát triển Mạng lưới chứ không thể phát triển Màng lưới. Một suất ăn chứ không phải là một xuất ăn. Viết thư cho bạn, nhận được lá thư chứ không phải viết thơ cho bạn, nhận một lá thơ. Thơ là bài Thơ, là Thơ ca (Thư ký chứ không phải Thơ ký).
Cũng tương tự, Cứu Cánh là mục đích cuối cùng chứ không phải là phương tiện để cứu vãn, cứu vớt (các phóng viên trẻ sinh dùng chữ, hay mắc lỗi chữ này).,
Hiện nay tiếng Anh phổ biến hơn tiếng Pháp. Tiếc sao, tiếng Pháp cũng bị đọc theo kiểu đọc tiếng Anh, ví dụ: Album (tập nhạc, tập ảnh) đáng phải đọc là An bom thì đều bị đọc là An bum. Ngân hàng Li ông (Crédit Ly onnais) đáng phải đọc là crê-đi Li-on-ne thì lại đọc là crêđít li-on-nai-ít. Vaccin (thuốc tiêm phòng) đáng đọc là vác xanh lại bị đọc thành Vác xin).
https://thuviensach.vn
Anh hùng thần thoại Heccule đọc là Ec quyn nhưng người ta đọc thành Hêculơ...
Viết và đọc để thông tin một cái gì đó, một điều gì đó. Sai, không hẳn đã chết ai, nhưng cứ sai mãi thì cũng phiền, vừa làm xấu tiếng Việt, vừa làm lệch nghĩa, vừa nói lên trình độ người nói, người viết ấy... thật rất không nên.
Chỉ nêu vài ba trường hợp thông thường, mong được trao đổi rộng rãi, nhất là với những ai thường ngày phải thường dùng đến chữ nghĩa và lời nói, lời đọc.
https://thuviensach.vn
24
RÚT GỌN
Nói và viết tắt trong ngôn ngữ và khẩu ngữ, nói ngắn, nói gọn cho dễ hiểu thường được mọi người hưởng ứng. Càng nói dài thì càng dễ thành nói dại. Tuy nhiên, nói tắt, nói thu gọn không phải lúc nào cũng có giá trị, ngược lại, có khi làm người nghe khó hiểu, làm tối nghĩa, sai nghĩa và có lúc người nghe cảm thấy như người nói từ ấy, câu ấy chẳng hiểu mà chỉ nói theo thói quen, thấy người khác nói thì mình cũng nói theo, như "Di biến động", "Phối kết hợp" chẳng hạn.
Lâu nay có một số từ nói rút gọn, không tiết kiệm được lời nói, thời gian là bao nhiêu mà chỉ làm cho tối nghĩa, có nên sửa lại không? Ví dụ: Y bác sĩ, thầy cô giáo, Thanh thiếu niên, Bộ ngành (không có dấu phẩy ở giữa), Phỏng vấn phóng viên, (bị hiểu là phỏng vấn lại phóng viên, đi phỏng vấn). Đảng uỷ ban (thực ra là Đảng uỷ và Uỷ ban) Thanh kiểm tra, Điều nghiên (Điều tra và nghiên cứu)...
Một thời Hợp tác xã bị rút gọn là Hợp tác, rồi rút hơn nữa là Hợp, ví dụ nói: "Hợp chúng tôi đang phân công..." May thay, kiểu nói này đã chấm dứt vì hợp tác xã đã chuyển mình, tiến lên hình thức khác.
Sinh thời, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn đề cao phong trào "Giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt". Các kiểu nói gọn nêu trên chỉ làm cho tiếng Việt, chữ Việt tối nghĩa đi mà thôi. Trên báo chí, trong các hội nghị to nhỏ từ cơ sở đến cao cấp nhất, người ta cũng thấy kiểu nói ấy phổ biến. Nhưng phổ biến chưa hẳn đã là quí là đúng. Sửa nó đi, nói cho đúng, cho trong sáng, có phải là "rách việc" không? Có thể có người phản đối, nhưng thiết nghĩ tiếng Việt là vốn quí ngàn đời, không nên làm méo mó nó, tối tăm nó. Xin được nêu ra để cùng trao đổi với các bậc thức giả gần xa.
https://thuviensach.vn
Ở đây còn chưa nói đến phong trào thanh niên nói nhầm hay nói ngọng, nói sai như Lễ hội là hồn Làng thành Lễ hội là hồn Nàng, nông sản phụ (đỗ, ngô, vừng...) thành lông sản phụ nghĩa là lông của gái đẻ... mà có ông phó tiến sĩ lên Đài cũng không phân biệt làm người ta nghi ngờ tri thức của ông ta...
5-2000
https://thuviensach.vn
25
TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG
Tiếng nói Hà Nội xưa nay thường được lấy làm chuẩn cho ngôn ngữ cả nước, dù rằng người Hà Nội không phân biệt R và D và Gi (đi ra, da trâu da bò, gia đình - đều không uốn lưỡi). May thay, lại phân biệt rất rõ L và N (đường lát gạch, đường nát gạch là rất khác nhau). Nhiều tỉnh không phân biệt L và N, không coi đó là nhầm, là ngọng mà lại cho đó là tiếng địa phương. (Nàng xóm và Làng gái).
Ở đâu cũng có tiếng địa phương. Bắc Giang gọi đứng lên là Trỗi, gọi cái thừng là Trạc. Miền Trung có Mô, Tê, Răng, Rứa là Đâu, Đây, Làm sao, Như thế. Huế có Chừ là bây giờ. Nam Bộ gọi áo quan là Hòm, gọi hoa là Bông (nhưng áo hoa và áo bông thì quả là lẫn lộn đáng tiếc). Người ốm là gầy, người bệnh là ốm...
Trong khẩu ngữ, pha tiếng địa phương, không hại gì lắm, người nghe rồi cũng hiểu ra, nhất là lâu nay thông thương phát triển, vùng nào cũng có người nơi khác đến định cư, sinh sống. Duy nhất khi viết, chúng ta cần phân biệt, đâu là tiếng là chữ đã phổ thông phổ biến để tránh những tiếng địa phương quá cá biệt, làm người đọc phải suy đoán, làm đứt mất mạch suy nghĩ hoặc hưởng thụ. Ví dụ miền Nam gọi tất cả những thứ che đầu là Nón mà không phân biệt Nón chóp, nón quai thao, nón dạ, nón lá, nón lưỡi trai... Miền Bắc gọi là Mũ khác hẳn Nón.
Hàn Mặc Tử sống chết ở Qui Nhơn, miền Trung, chưa hề ra Hà Nội lần nào, nhưng thơ ông trong sáng, không có tiếng địa phương nào. Trong cuốn "Cá Bống Mú" Đoàn Giỏi, nhà văn quá cố dùng quá nhiều tiếng địa phương, may sao đến "Đất rừng phương Nam", nó đã được hạn chế.
https://thuviensach.vn
Thực ra, công bằng mà nói, không có tiếng địa phương nào thô lậu cả, mà chỉ là thói quen, như ngôn ngữ vốn sinh ra trong ngẫu nhiên từ ngàn đời, từ khởi thuỷ, ví dụ nếu người đầu tiên gọi động tác nhai và nuốt không phải là Ăn mà là Mặc thì ngày nay ta cũng phải theo đó thôi.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta, chỉ được làm phong phú thêm mà không được làm cho nó tối tăm đi hoặc nghèo nàn đi. Nói và viết là để thông tin, nhiều người hiểu mới là tốt nhất.
5-2000
https://thuviensach.vn
26
NÓI
Nhưng có hai con mắt, có hai cái tai. Vậy so mũi và lưỡi với mắt và tai thì mũi và lưỡi chỉ bằng một nửa nghĩa là 50 phần trăm công suất của mắt và tai. Có phải tạo hoá sinh ra như thế để nói rằng làm người phải nghe nhiều, nhìn nhiều mà chỉ nên nói ít hơn, ngửi ít hơn không?
Vậy mà ta gặp khối người thích nói, thích tranh luận, thích diễn giảng, thích trình bày, cứ thao thao bất tuyệt, không cho người khác nói chen vào một lời, thậm chí còn cắt ngang lời người khác.
Cứ vào chợ mà xem, vào sân vận động mà xem. Ai nói nhiều hơn, ai nghe nhiều hơn... thì rõ. Nếu được thêm chút bia chút rượu thì càng khiếp. Xưa, nhiều bữa cỗ ở nông thôn, cứ chén chú chén anh rồi thành ẩu đả, nay nhiều quán bia quán nhậu cũng khối va chạm... lại càng rõ nữa.
Không kể có người làm nghề nói như phát thanh viên, báo cáo viên đã đành, nhưng họ cũng chỉ nói những gì trong khuôn khổ cho phép chứ không thể tuỳ tiện, nói vong mạng, nói cho sướng miệng, nói cho hả, nói để chiến thắng, nói để khoe tài, nói lấy được.
Tên Sở Khanh nói:
Đường xa chớ ngại Ngô Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta...
Hắn nói láo dấy thôi. Thời trước, mẹ chồng thường cay nghiệt, nên mới có câu: "Muốn nói không, làm mẹ chồng mà nói", nhưng cô con dâu khôn ngoan im lặng "mẹ chồng nói mẹ chồng chết, nàng dâu tốt nết nàng dâu chừa". Hay lắm chứ. Cãi vã là chẳng hay ho gì, lợi lộc gì.
https://thuviensach.vn
Bài học nhường nhịn, "im lặng là vàng" thật quí giá, nhưng đôi khi có người nóng tính, không nhịn được, phải nói cho hả, cho "nó biết tay"... về nhà ngẫm lại thì hơi muộn. Trước hết là thu nhận một cái Stress vào mình rồi, với người huyết áp cao càng nguy hiểm.
Ca dao có một câu rất hay:
Người khôn ăn nói nửa chừng
Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo.
Đáng học, đáng nghe quá.
12-2000
https://thuviensach.vn
27
MỘT CHỮ
Ởthị xã Bắc Ninh có khu chợ gọi là Chợ Nhớn, có chữ đắp nổi rõ ràng, mà không phải là Chợ Lớn, trong khi miền Nam, chợ Bình Tây có Chợ Lớn mà không là chợ Nhớn. Lớn và Nhớn ấy có lẽ vẫn cùng một nghĩa, nhưng biến âm, nói khác, đọc khác đi mà thôi, vẫn là một cái gì đó to lớn hơn cái bình thường. Ngày nay ta quen dùng chữ Lớn mà ít dùng chữ Nhớn. Chẳng hạn nói "Đó là nhà thơ lớn" là trang trọng, suy tôn, đáng nể, công nhận tài năng. Nhưng nói "Đó là nhà thơ nhớn" thì ngược lại ngay, châm biếm, mỉa mai, cười cợt, chế giễu. "Sửa chữa sai lầm" ta vẫn quen nghe mà ít thấy ai nói "Sửa chữa sai nhầm". Nhưng vẫn có thể nói Nhầm lẫn và Lầm lẫn, nghĩa giống nhau. Nhỡ nhàng và Lỡ làng để chỉ người đàn bà phải qua hai lần đò vẫn chưa toại nguyện, nghĩa vẫn tương tự. Nhưng Lẹ Làng và Nhẹ Nhàng lại hoàn toàn khác nghĩa. Một là giục giã mau lên, chữ kia là nhắc phải nhẹ tay, nâng niu. Đi buôn phải có lãi, nhưng thằng nhãi ranh thì không thể thay thế hai chữ lãi và nhãi ấy cho nhau. Lấp lánh và nhấp nhánh đôi khi cũng tạm thay cho nhau ở một vài địa phương nào đó.
Vốn ngôn ngữ của ông bà tổ tiên để lại phải trải qua hàng vạn năm bồi đắp, sửa chữa, chọn lọc, nâng cao mới phát triển được như ngày nay. Có chữ dùng thế này hay thể kia đều được như thướt tha, và tha thướt, thiết tha và tha thiết, mênh mông và mông mênh, im lặng và lặng im... nhưng lại không thể hoán vị tao nhau thành tao nhã, hào hoa thành hoa hào, chơi bời, thành bời chơi...
Người ta bảo các nhà văn nhà thơ là những thầy phù thuỷ dùng âm binh, biến hoá, tu từ, sử dụng chữ nghĩa tài tình. Thực ra, người dân thường, tác
https://thuviensach.vn
giả của kho chữ nghĩa, tiếng nói đồ sộ ta đang nói mới là người tài tình từ thiên vạn cổ.
Chỉ một âm l và n mà biến hoá, mà thay đổi, nghĩa, chứng tỏ sắc thái của lời nói và chữ viết là không thể xem thường. Chúng ta cho tiếng mẹ để là đẻ, nhưng người nước ngoài học tiếng Việt, họ mới thấy hết được cái khó, sự uyển chuyển, tài tình của tiếng Việt, chữ Việt.
Dùng cho đúng, dù chỉ là một từ, một tiếng, một chữ... khó lắm vậy. 12-2000
https://thuviensach.vn
28
LÃNG PHÍ
Người Việt Nam có thói quen không bao giờ ăn hết đến miếng cuối cùng trong đĩa, trong bát, trong mâm, và cho đó là lịch sự. Miếng giò, miếng thịt gà, mấy gắp rau, chút canh ít nộm... thừa chút ít, và sau đó, phần lớn được trút vào thùng nước gạo (vì nhà bếp cũng đã no đã chán, không thèm ăn như câu nói: "Giàu nhà kho, no nhà bếp"). Như vậy có lãng phí không? Bữa tiệc long trọng, bữa cơm bụi hay mâm cơm gia đình, ta luôn thấy cảnh đó ở mọi nơi. Trong khi nhiều nước giàu hơn ta, đã dọn gì ra là họ ăn kỳ hết, đến chút nước sốt trong đĩa họ cũng bẻ miếng bánh mì ra vét sạch cho khỏi lãng phí. Đó là cái lãng phí nhỏ nhất. Cô gái thích làm đỏm theo thời trang, có vài chục bộ váy áo, hơi rung rúc đã bỏ đi, không thèm mặc, rồi nó cũ, nó bục, vứt đi không hề tiếc.
Lớn hơn, trên công trường xây dựng, khi xong đống sắt thép còn lại, tha hồ han gỉ, chiếc ôtô, máy xúc hỏng lốp, hỏng xích, để trơ gió mưa, một vài năm, của hàng tỉ cũng thành sắt vụn, chẳng ai dọn cũng chẳng ai thương tiếc. Đường đi hôm nay mới rải nhựa, mai đã bị đào lên. Con kênh mới xây bị vỡ kè, vỡ bờ, không ai hàn gắn lại, mỗi ngày hỏng thêm một chút đến lúc phải làm lại hoàn toàn. Lãng phí hay tiết kiệm.
Có trăm nghìn kiểu lãng phí khác nhau, to nhỏ khác nhau, ở mỗi cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội.
Sản xuất mà không tiết kiệm, mà lãng phí thì như người xưa nói: Cái giỏ thủng trôn, Vào lỗ hà ra lỗ hổng... làm cũng như không mà thôi. Phí giao thông, phí doanh nghiệp, phí qua cầu, phí học đường, phí chữa bệnh... những chữ Phí ấy dùng đã thoả đáng chưa? Khi đã bị coi là Phí thì người ta vung tay, không tiếc.
https://thuviensach.vn
Ngành điện có thông báo rất hay: Mỗi nhà chỉ cần tắt một ngọn đèn không cần thiết, thì mỗi năm ta tiết kiệm được một ngàn tỷ đồng. Nhỏ vô cùng và lớn vô cùng vậy.
Một lần sinh thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng được một thủ tướng nước Bắc Âu chiêu đãi. Ông thủ tướng nước ngoài ăn hết món chim quay và nhắc thủ tướng ta: Xin ngài ăn hết, đừng để lại kẻo phí...
Đang có chuyện "Kích cầu". Đó là một chuyện. Nhưng để lãng phí, cứ không tiết kiệm lại là chuyện khác. Lãng phí phải được coi là một cái lỗi, một cái tội mới thoả đáng.
5-2000
https://thuviensach.vn
29
TIẾT KIỆM
Có một mẩu chuyện vui cười thật đáng nhớ: Một người nói với bạn rằng có cách biến rau thừa cơm rơi thành thịt. Bạn ngạc nhiên hỏi thì người này đáp: Đem nuôi gà.
Người nông dân nghèo xưa nay vốn tiết kiệm mà mẩu chuyện vui kia là một cách. Ăn mít xong, còn vứt cái vỏ xơ vào chuồng cho lợn. Không phí một chút gì. Có hũ gạo tiết kiệm, có đồng xu tiết kiệm. Chị gái quê còn dùng cái quần cũ rách không mặc được nữa, làm hai chiếc xà cạp cho hôm đi cấy, gánh phân. Tiết kiệm như thế thật đáng cho ta suy nghĩ.
Chiếc rổ rách được cạp lại. Manh chiếu rách đem che chuồng trâu, chiếc liềm cũ ra chợ đánh lại chấu. Có nhà văn tiết kiệm bằng cách viết bản thảo trên mọi mặt giấy còn thừa kể cả giấy thuốc lá, giấy bản tin hoặc lộn ngược phong bì để dùng lần nữa vì giấy trắng quá, sạch quá, bỏ thì phí.
Nay có người cho thế là buồn cười, là hâm, là bủn xỉn. Ta đã giàu lắm rồi chăng? Có thể quăng tiền qua cửa sổ rồi à, có thể nghe lời quảng cáo rằng mỗi bữa đi ăn "chỉ tốn" hết một trăm chín mươi nghìn đồng rồi chăng? (Số tiền bằng cả tháng lương hưu của cán bộ trung cấp).
Tiết kiệm và hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn rất khác nhau. Tiết kiệm là cách biết tiêu tiền khi cần thiết, còn khi không thì một hạt thóc cũng nhất quyết không. Còn hà tiện bủn xỉn, keo kiệt lại khác, lúc cần cũng bo bo, đáng chi cũng tiếc của, chỉ muốn “ăn người".
Có câu nói hay: "Nếu anh mua sắm thứ không cần thì sẽ đến lúc anh phải bán những thứ cần". Đáng suy ngẫm lắm.
Một người tiết kiệm, một gia đình tiết kiệm, cả xã hội tiết kiệm thì chắc lúc sa cơ lỡ vận, lúc thất thế, lúc cùng quẫn, khi lâm nguy... có chỗ mà bấu
https://thuviensach.vn
víu. Nhất là lúc này, cả đất nước và xã hội ta còn nghèo, cứ vung tay quá trán, cứ quen thói bốc rời... thì không ai khen, không ai khuyến khích, mà trước hết là hại cho bản thân, đã không có của tích luỹ mà đến vật dụng hàng ngày cũng thiếu thốn.
Tiết kiệm chính là phương thuốc hay để chữa bệnh nghèo một phần vậy. Người xưa nói: Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn, chính là tiết kiệm, là biết đường ăn nét ở vậy.
https://thuviensach.vn
30
CÁI NGÁP
Ho, hắt hơi, nấc cụt... là hành vi sinh lý, đôi khi khó cưỡng lại được. Vì vậy mà người xung quanh dễ tha thứ nếu ta bật nó ra giữa đông người. Tuy nhiên, người ý tứ thì khi ho hay hắt hơi cũng phải quay mặt đi chỗ khác hoặc lấy mu bàn tay che miệng để tiếng động nhỏ đi chút ít và khỏi bắn nước miếng sang người khác.
Còn ợ và ngáp thì không thế. Vừa ăn cỗ ăn tiệc xong, mọi người chưa kịp đứng lên mà mình đã ợ thì quả là khó coi, là hành động khó tha thứ bởi nó gây cảm giác kinh sợ cho nhiều người xung quanh, có khi còn là biểu hiện của kẻ ăn tham, ăn quá no, sắp sửa nôn oẹ chưa biết chừng. Vì vậy mà nên cố hết sức để tránh ợ, nhất là những người mắc bệnh dạ dày, tốt hơn hết là biết dừng đũa lại khi vừa đủ no, hoặc ngót một tí càng tốt.
Còn ngáp thì sao? Dự một cuộc hội thảo quan trọng, nghe một bản thuyết trình quá dài hoặc có khi phải nghe đi nghe lại một câu chuyện nhàm chán... có nhiều người ngáp, có khi còn kèm theo tiếng hờ hờ quá to, mọi người nghe rõ.
Ngáp là một hành vi sinh lý khi cơ thể mệt mỏi hoặc khi buồn ngủ. Đang ngồi nơi long trọng mà cứ ngáp vặt thì đó là sự coi thường người nói, có thể hiểu là chê, là phản đối người nói. Mà như vậy là không nên, là bất lịch sự, dù rằng ngáp không ra tiếng hoặc lấy tay che miệng. Có thể nén cái ngáp lại bằng cách xoa mũi, hoặc đi ra ngoài hiên mà thư giãn chút ít. Tốt nhất là cố nén cái ngáp lại đến cuối buổi họp, buổi nói chuyện ấy để tạo không khí hưng phấn cho tất cả mọi người và cũng là vì bản thân mình nữa, bởi nếu cứ ngáp thế sẽ có nhiều người nhìn vào ta, ta biến thành mục tiêu cho sự chê cười ngầm là kẻ không biết ứng xử cho đúng phép.
https://thuviensach.vn
Nếu là diễn giả, thấy có người nghe cứ ngáp thì cũng cần xem lại bài nói, cách nói của mình, không nên nói quá dài, cứ "hành hạ, tra tấn" thính giả. (Như cho giải lao chẳng hạn).
Tựu chung, giữa nơi đông người, ngáp là một hàng vi nên tránh hoặc cần kìm nén. Còn trong gia đình, khi buồn ngáp là lúc cần nghỉ ngơi, thư giãn hoặc chợp mắt để giữ gìn sức khoẻ.
1999
https://thuviensach.vn
31
ĐÔI TAY
Con người có hai cánh tay để lao động. Ngoài làm việc để kiếm sống, sinh tồn, đôi tay cũng có lúc mang lại tiếng nói riêng, thể hiện thái độ trong giao tiếp.
Bắt tay để tỏ thái độ vui mừng khi gặp gỡ, dù cái bắt tay mới nhập vào nước ta mới chừng thế kỷ, và nay nó trở thành của toàn thế giới trong ứng xử thông thường... Chắp hai tay trước ngực để tỏ lòng thành kính, chiêu niệm như trong cầu nguyện, lễ Phật, đứng trước bàn thờ... Khi con tàu nổi còi khởi hành, người đi tiễn giơ cánh tay lên vẫy vẫy... đó là lời hẹn gặp lại, lời nhắn nhủ người đi, lời cầu mong chân cứng đá mềm, nỗi niềm nhớ nhung. Người ra đi cũng thò đầu ra ngoài cửa sổ vẫy vẫy cánh tay đáp lại, và cũng thầm nói những lời tương tự với người ở lại.
Ngày thường, cánh tay nói khác. Xong bữa, con em đưa chiếc khăn cho cha anh, đưa một tay hay hai tay? Có người cho rằng đưa thế nào chẳng được, miễn là chiếc khăn ấy đến được với người cần nó. Hoàn toàn không phải thế.
Cô bán hàng đưa món hàng đã mua cho khách, đưa bằng hai tay khác rất xa với đưa bằng một tay. Cũng vậy, học sinh nộp bài cho cô giáo, người vợ đưa cốc nước cho chồng, người cấp dưới được bắt tay người cấp trên, bật lửa cho bạn châm điếu thuốc một tay bật máy kèm một tay che lửa... cô bán sách trả lại tiền thừa cho khách, người soát vé trên tàu đưa trả lại hành khách chiếc vé đã kiểm tra xong... nếu đưa một tay thì cũng được, nhưng không lịch sự, hơi khó coi, tỏ vẻ lãnh đạm, thờ ơ. Ngược lại nếu đưa bằng hai tay thì trong đó là lời nói ngầm thái độ trang trọng, lịch sự, ân cần, cởi
https://thuviensach.vn
mở, coi người nhận đồng tiền, chiếc vé là đáng kính trọng hơn mình, là có lời cảm ơn trong đó, yêu mến trong đó.
Trên tàu hoả lâu nay đã khác xa thời bao cấp. Không còn ông trưởng tàu, trưởng toa hách dịch nói trống không: "Vé đâu?" mà là "Xin quí khách cho xem vé" rất nhẹ nhàng hiền dịu, sau đó là đưa chiếc vé bằng hai tay cho khách, không có lời cảm ơn nhưng khách đã thầm nhận được niềm vui giao tiếp. Người nhà tàu và hành khách không ai là cấp dưới của ai, nhưng đưa vé bằng hai tay là lịch sự mà không sợ bị hạ thấp mình, như vợ chồng đồng cấp nhưng cốc nước đưa bằng hai tay thì người chồng uống ngon hơn, yêu vợ hơn. Xã hội đang tiến lên, những hành vi dù nhỏ cũng cần văn minh lịch sự như vậy.
5-2000
https://thuviensach.vn
32
TRÁCH AI?
Xưa nay ở các bến tàu thuỷ, nhà ga xe lửa, bến ôtô và các quán chợ thường là nơi đông đúc nhất, lộn xộn, ồn ào, mất trật tự và mất vệ sinh nhất. Những người phải làm việc ở đây quanh năm ngày tháng đã cố gắng nhiều nhưng hầu như chưa thể làm hài lòng những ai kỹ tính, những ai có ý thức văn minh nơi công cộng.
Không kể những nơi ấy luôn lởn vởn bọn cò mồi, lừa lọc, bọn cờ gian bạc lậu hay trộm cắp thì số đông là hàng vạn con người qua lại những nơi này, không ít người góp phần làm cho nó nhếch nhác thêm, ồn ã thêm.
Ghế để ngồi chờ nhưng có thể ngang nhiên nằm ngủ, ngáy khò khò, bất chấp thiên hạ. Ăn quà (mà nơi ấy bao giờ cũng nhiều hàng quà) thì giấy bọc, lá gói cứ tiện tay là vứt ngay cạnh mình, mặc kệ sàn nhà có người vừa quét sạch xong. Nhiều bà mẹ trẻ còn "xi" con ra ngay cạnh ghế ngồi, khi xong, phủi tay đứng lên, coi như không có chuyện gì xảy ra. Lắm người còn bôi tay bẩn lên bất cứ đâu, thành ghế, tường nhà, cột chống, coi bức tường, cái cột kia là chiếc giẻ lau tay, khiến khó có bức tường nào sạch sẽ, mà thường có màu nhuôm nhuôm, tanh tưởi.
Những người đến đây không bị coi là vi phạm pháp luật, vì nó không nằm trong phạm vi pháp luật, nhưng thật ra nơi nào cũng có nội qui, và họ đã vô tình và cố ý phá vỡ nội qui, coi thường người khác và tự coi thường mình.
Một vài anh trật tự tay đeo băng đỏ không thể coi giữ hết được khi có hàng vạn con người qua lại, từ đi lại lung tung, cãi nhau chí choé, bầy bừa rác rưởi, ngổn ngang.
https://thuviensach.vn
Trách nhà ga, bến tàu, bến xe, trách người quản lý chợ. Được cả. Nhưng có lẽ mỗi người nên tự trách mình trước đã. Mình đã làm gì, nói gì, hành động ra sao ở nơi dành cho tất cả mọi người, trong đó có cá nhân mình, bản thân mình?
Chắc không ai đến nhà bạn mà lại nhổ bậy xuống sàn nhà của bạn. Tại sao ta không coi những nơi công cộng kia là nơi cho ta những phút giây hữu ích, cùng nhau gìn giữ nó như ngôi nhà mà bạn đã dành ra để đón ta. Đáng suy nghĩ lắm chứ.
5-2000
https://thuviensach.vn
33
ĐIỀU NHỎ NHẶT
Hành khách là người khách đang phải đi đến một nơi nào đó bằng xe lửa, ôtô, tàu thuỷ, máy bay, nói chung là một phương tiện giao thông tự chọn. Chủ phương tiện có thể thay tiếng đó bằng tiếng "Quí khách". Chữ quí ở đây là nói cho văn minh lịch sự, coi hành khách là người đáng quí là ân nhân, là đáng trọng... Nó tương tự như những trường hợp trong hội nghị phải nói "Kính thưa", trên phong bì phải đề "Kính gửi", dù diễn giả là người có tuổi, uyên thâm, người viết thư là bề trên và người ngồi nghe, người nhận thư còn kém mình nhiều phương diện.
Trong cái loa phóng thanh ở nhiều nhà ga, nhiều đoàn tàu nếu nói "Hành khách chú ý..." thì khách vẫn nghe được, nhưng không hay, không dễ nghe, không văn minh bằng câu "Xin quí khách chú ý..." Nó tương tự như cái biển đề ở cổng nhiều cơ quan mang vẻ cửa quyền hách dịch: "Xuống xe, xuất trình giấy tờ" mà đáng lẽ phải là: "Xin xuống xe và cho xem giấy tờ".
Người xưa nói: "Lời nói không mất tiền mua" là thế. Chúng ta đều vội, cần nói gọn, nhưng nói gọn không có nghĩa là nói trống không, hách dịch, chỏng lỏn, khinh người.
Cũng nói luôn đã một thời gian dài nhiều nhà ga dùng phát thanh viên nói ngọng, đâm ra lời nói thành buồn cười và vô nghĩa, ví dụ: "Xin quí khách đi theo đường nát gạch..." mà đáng lẽ phải nói là lát gạch. Vì gạch bị nát ra ư, sẽ đi thế nào? Hoặc: Tàu sắp đến ga Lam Định, Tàu đang vào ga Đò Nèn... May thay hiện tượng đó đã gần chấm dứt tuy rải rác còn nghe thấy ở nơi này nơi khác.
Xe lửa đã thành quen thuộc với toàn dân. Hình ảnh con tàu, nhà ga cũng như bến xe và những con người làm việc ở những nơi ấy, hay hoặc chưa
https://thuviensach.vn
hay đều có thể thành chuyện khen chê của hàng vạn con người ở khắp các vùng gần xa, nên dù chỉ là một lời nói, một động tác nhỏ cũng ảnh hưởng lớn đến xã hội.
Chúng ta đang cố gắng để tạo ra một xã hội văn minh văn hoá, càng không thể xem thường những điều tưởng là nhỏ nhặt.
5-2000
https://thuviensach.vn
34
CHIẾC VÉ NHỎ
Lúc con tàu khởi hành, chiếc bánh xe gầm toa rùng rùng chuyển động, được nhìn thấy những gương mặt thân yêu đi tiễn, giơ bàn tay hay chiếc khăn lên vẫy vẫy, người ra đi sẽ thấy ấm lòng, từ phút giây ấy đến hết những ngày "xảy nhà ra thất nghiệp", dù nơi đến là khách sạn, lâu đài sang trọng, đủ tiện nghi hơn ở nhà mình.
Chỉ có ngành đường sắt mới có chiếc vé đón và vé tiễn để đáp ứng tình cảm của người đi kẻ ở như thế. Bến ôtô, tàu thuỷ, không cần. Ga hàng không phiền phức hơn, vào đến phòng kính là cách biệt hoàn toàn dù muốn hay không, không cưỡng lại được quy định của ngành đi mây về gió ấy.
Một vài nước phương Tây cấm hôn nhau ngoài đường, nhưng lại tháo khoán trong sân ga, cho hôn nhau tha hồ, nên đã có khối người chẳng đi đâu cũng mua chiếc vé vào sân ga hôn nhau, sau khi tàu chuyển bánh, cả hai cùng ra về trong hỉ hả. Việt Nam không thế, ít ai hôn nhau lộ liễu, thường chỉ nắm tay nhau, thầm thì đôi lời dặn dò chân cứng đá mềm, thuận buồn xuôi gió, đi cho may mắn, đến chốn đến nơi...
Giá trị bằng tiền của chiếc vé đón và tiễn vô cùng nhỏ, nhưng ý nghĩa của nó lại vô cùng lớn. Một vài trường hợp trong hàng triệu người ra đi đã bất hạnh không bao giờ trở về vì tai nạn dọc đường hoặc rủi ro thân phận nơi chân trời góc bể. Thương thay. Hẳn chiếc vé đón và tiễn, bàn tay giơ lên vẫy vẫn còn là niềm an ủi cho kẻ ở nhà suốt bao nhiêu thời gian sau này nữa, không thể nào đo đếm được, kể cả tiền bảo hiểm đền bù cũng không so được.
Hình như chỉ có đôi ba nhà ga lớn loại trung tâm đô thị mới có yêu cầu tình cảm lúc con tàu chuyển bánh như thế. Còn ga lẻ dọc đường, ga xép
https://thuviensach.vn
trung du... sân ga, cửa ga vắng vẻ, công việc bề bộn ở gia đình, không cho phép người đi tiễn và cũng không ngăn cản người vào sát đoàn tàu, chiếc vé nhỏ nhoi ấy cứ như không lý do có mặt. Không sao. Chiếc vé không bao giờ tự phàn nàn về số phận của mình.
Cuộc đời luôn có những nhu cầu nhỏ bé và phức tạp, do đó tuỳ theo suy nghĩ mà nó thành to lớn hay đơn sơ, phiền hà hay thoả mãn, đáng đáp ứng hay không đáng làm... cho xã hội đáng yêu hơn hay phiền lòng hơn... Ta vui lòng chấp nhận.
6-2000
https://thuviensach.vn
35
ĐÚNG GIỜ
Có những cái lãng phí, tính toán làm chúng ta căm giận thủ phạm. Khi nhà làm dở dang rồi bỏ đó, thời gian làm long lở, cỏ mọc lấn đè, mất trắng hàng tỷ đồng của Nhà nước. Có cỗ máy đắt giá, làm xong công trình, người ta lãng quên không thu dọn, ít tháng sau phụ tùng bị ăn cắp dần, thành đống sắt vụn. Hàng tỷ đồng đi tong.
Nhiều lãng phí vẫn đang làm lòng người xót xa. Bên cạnh đó có những lãng phí ghê gớm hơn, nhưng nó thuộc loại đặc biệt, cứ gặm nhấm dần tí một, đến khi ta tỉnh ra thì đã muộn, không thể nào sửa chữa. Đó là thì giờ, là thời gian của mỗi con người và toàn xã hội.
Một con người, cứ rượu chè bê tha, ngày này sang tháng khác rong chơi đàn đúm, hết tuổi thanh xuân lúc nào không biết, lúc chết đi, trắng tay, chẳng để lại được cái gì và thế là uổng phí một đời như chiếc lá rụng không âm vang.
Hàng ngày, toàn xã hội có bao nhiêu con người như thế? Lại có những lãng phí bất khả kháng như một chuyến xe về bến chậm vài giờ, nhưng nhân với số khách thì mất vài trăm giờ, cộng thêm sức khoẻ giảm sút vì mệt mỏi. Lấy gì bù lại. Một đoàn tàu chẳng hạn, năm trăm hành khách, nếu chậm một giờ là lãng phí Năm trăm giờ. Năm trăm giờ mất bao nhiêu năng suất hiệu quả. Nay tàu đúng giờ là điều mừng. Nhưng nhan nhản ở trên đường phố, người ngồi ngáp ruồi chờ bán hàng, người ngồi ở các phòng chờ bến xe, phòng công chứng, nhà ga, bến tàu, cơ quan trước bạ... hàng nghìn giờ đồng hồ trôi vèo đi trong sốt ruột, thế mà vẫn có những người có trách nhiệm bình chân như vại. Thật buồn.
https://thuviensach.vn
Thời gian là của mỗi người và của toàn xã hội. Lãng phí thời gian phải bị coi là làm lãng phí nguồn sinh lực quí báu của xã hội, là giảm năng suất chung của toàn xã hội, phải bị coi là phạm vào lỗi nặng, mới thoả đáng. Giống như đột nhiên mất điện một khu vực, hàng vạn người phải ngừng làm việc trong mấy giờ liền, tính ra hàng vạn ngày công, lãng phí này phải được bồi thường mới đúng.
"Thì giờ là vàng bạc" vô cùng đúng. Nhưng có khi nó còn quí hơn vàng bạc vì thời gian có thể làm ra vàng bạc chứ vàng bạc không kéo lại được thời gian đã bị lãng phí.
Đúng giờ, giờ nào việc ấy, là bài thuốc ai cũng nên dùng hàng ngày, hàng giờ vậy.
6-2000
https://thuviensach.vn
36
VIỆC CỎN CON
Không phải lúc nào cuộc đời cũng thông đồng bén giọt, cho ta hoàn toàn thoả mãn trong niềm vui. Vào hàng phở, ta gọi bát phở bò chín mà nhà hàng lại bưng ra bát phở tái còn đỏ lòm. Trục trặc mất rồi, mất vui đi nhiều lắm. Đi may chiếc áo, thợ cắt nhầm, kích cái nách không mặc được nhưng cô thợ may lại bảo rằng cứ mặc rồi nó sẽ dãn ra là vừa. Thật không thể vừa lòng với lời bào chữa ấy. Vào nhà hát lớn xem buổi biểu diễn nghệ thuật, ghế có số, ta vào đã thấy có người ngồi đúng số ấy rồi. Người bán vé nhầm nên bán trùng số. Đôi khi đi tàu hoả đường dài, vé có số, ta cũng gặp trường hợp bán trùng số ghế như thế. Phiền thật, chả lẽ sẽ đứng suốt vài trăm cây số. Trục trặc mất rồi, mất vui đi nhiều lắm. Ta dễ nổi cáu, nặng lời vì nỗi mất vui ấy.
Thật dễ chịu được nhà tàu nói lời xin lỗi, dàn xếp bằng cách mang cho ta cái ghế nhựa ngồi tạm để chờ người khách kia xuống tàu hoặc có chỗ trống khác. Nhưng sẽ khó chịu hơn, bực mình hơn nếu nhà tàu lạnh lùng, bảo ta cứ đứng chờ và bỏ đi mất hút hàng giờ đồng hồ không một lời xin lỗi.
Ta làm người hành khách phải hứng chịu nỗi trục trặc ấy, ta sẽ giải quyết sao đây? Khó chứ. Mỗi người tuỳ theo tính cách mà có phản ứng khác nhau, dù không hề có ai được tập dượt cho quen nó bởi nó là hy hữu, là hiếm gặp, là lâu lắm mới xảy ra một đôi lần.
Bà nội tướng đảm đang của ta ở nhà khéo léo thế mà cũng còn có hôm cơm khô cơm nhão, huống chi người bán vé tàu mỗi ngày tiếp xúc với hàng ngàn lượt hành khách, chuyện sơ ý, nhầm lẫn rất đáng được khoan dung độ lượng mới phải. Và ông trưởng tàu, anh chị trưởng toa, tuy không phải lỗi
https://thuviensach.vn
của mình, nhưng một một lời xin lỗi thay cho cả ngành cũng là rất nên có, rất đáng hoan nghênh.
Xã hội tốt đẹp, hay phiền lòng chính là do từng người, góp chút một mà nên, càng thấy phép đối nhân xử thế không phải chuyện đáng coi thường, dù là một việc nào đó cỏn con như nhầm bát phở, trùng số ghế... 6-2000
https://thuviensach.vn
37
NGỒI
Thời Hà Nội còn tàu điện chạy như rùa trong các phố, đồng thời có những chuyến tàu chợ, tàu vét khá đông khách qua những nhà ga một đoạn đường ngắn ngủi... người ta luôn thấy những thanh niên đã ngồi yên vị, nhưng khách mới lên toa, là các cụ già tay xách nách mang, lưng còng, mệt mỏi, hoặc người đàn bà bụng mang dạ chửa, ộ ệ nhọc nhằn... người thanh niên không biết còn đi đến ga nào, bến nào gần ra, cũng đứng lên ngay, như giả vờ, bước ra chỗ khác, để nhường chỗ cho cụ già hay người phụ nữ ấy. Cử chỉ đơn sơ, nhẹ nhàng nhưng đẹp làm sao. Người được nhường chỗ, ngồi xuống, thở phào nhẹ nhõm, làm người ngồi gần đấy cũng thấy vui lòng. Ai dạy dỗ người thanh niên kia, ông bà, cha mẹ, hay thầy giáo? Ta không biết. Mà cũng có thể đó là nếp sống tốt đẹp của xã hội, ta gọi là văn hoá, văn minh đã rèn đúc nên.
Nay hình như phong tục này đang ngày một mất dần đi. May thay nhà tàu lâu nay ít để khách đứng vì bán thừa quá nhiều vé, nhưng đôi khi tàu chật cũng là bình thường. Ta gặp nhiều thanh niên, kể cả nhiều cô gái đẹp, son phấn thơm lừng, váy quần loè loẹt, ngang nhiên ngồi cắn hạt dưa hoặc soi gương sửa tóc, mặc kệ người đàn bà chửa, em bé ngủ gật, cụ già chống gậy... đứng thở không ra hơi, mồ hôi nhễ nhại... và có khi cô ta lại còn nói cười ngả ngốn như trong buồng kín mới đáng giận (hay đáng thương cho cô ta) chứ. Đường dài thì không nói làm gì, vì có nhà tàu lo nhưng đường ngắn thì cảnh này là nghịch mắt, là vô văn hoá, thiếu lịch sự, kém văn minh, nếu không nói là thiếu giáo dục, học vấn.
Người lên trước, người mất tiền mua vé, được ngồi là đúng. Phê phán người thanh niên kia là không hợp lý. Nhưng đạo đức, lương tâm, nét cư xử
https://thuviensach.vn
cho phải đạo, cho có thuần phong mỹ tục... thì vẫn có điều đáng nói, đáng bàn, đáng nêu ra để các bạn trẻ suy nghĩ về đúng sai, về đẹp và chưa đẹp... Cụ già và người phụ nữ có mang kia, sau đoạn đường, về đến nhà, có thể nói: "Quí hoá quá, hôm nay có anh thanh niên tốt bụng nhường chỗ ngồi cho không thì mệt đến chết", hoặc “Thật may, thật đáng khen, có cô gái nhường chỗ cho mẹ con mình, không thì không biết thế nào..." Cũng có thể là câu: "Thanh niên bây giờ ích kỷ quá, chả nhường chỗ cho ai cả, họ chỉ biết có mình họ...". Ta nên là nguyên nhân của câu nói nào trong đó nhỉ?.
6-2000
https://thuviensach.vn
38
CÃI VÃ
Tranh luận, tranh khôn, tranh nhau nói, dứt khoát chỉ có mình đúng, còn người khác sai. Cố dùng mọi lý lẽ, cả giọng điệu, cử chỉ để giành lấy chiến thắng, dù rằng sự chiến thắng này là hoàn toàn vô bổ, không được một phần thưởng nào, không một lời động viên nào, không ai khen, không ai cho cái kẹo hay điếu thuốc lá là vật phẩm nhỏ nhất. Đó là hiện tượng ta thường gặp không ít ở xung quanh ta khi có hai người tranh cãi nhau về một chuyện không đâu nào đó.
Con đầu nhọn và con đầu vuông, con nào là cào cào, con nào là châu chấu? Con tôm và con tép thì con nào to, con nào bé? Chuyện ấy đã thành giai thoại khi cả làng cãi nhau với cả làng bên cạnh, và trăm năm chưa ngã ngũ.
Đã có những cuộc tranh luận lớn về triết học, trong văn học cũng từng xảy ra bút chiến nảy lửa. Cần thiết lắm, phải có thời gian mới chứng minh được chân lý. Nhưng khi tranh luận "anh nào" cứ đao to búa lớn, dùng dao mổ trâu để giết ruồi, đem đạn vàng bắn con chim sẻ... thì xem ra không được trọng lắm.
Còn cuộc sống hàng ngày, không thiếu gì người thích tranh luận, không thiếu gì vấn đề đáng đem ra tranh luận. Nhưng tranh luận như thế nào mới là điều cần chú ý. Không phải cứ hùng hổ, đỏ mặt tía tai, nói vang mạng, dẫn đông tây kim cổ, lấy chức tước để át giọng kẻ dưới là làm người ta đã tâm phục khẩu phục.
Bình tĩnh, nhún nhường, khiêm tốn, và nếu lùi vài ba bước tức nhịn vài ba câu cũng chẳng chết ai, "không hại gì cho hoà bình thế giới" xem ra nhiều khi lại tác dụng, lại chiến thắng. Chẳng hạn phở bây giờ và thời
https://thuviensach.vn
trước, phở nào ngon hơn? Trẻ em nay và xưa, thời nào ngoan hơn?. "Nhà tàu hoả" bây giờ hơn hay kém trước?. Trước "là bao giờ, năm nào vậy? Tranh luận đến sùi bọt mép cũng không thể kết luận. Tốt nhất là xin nhường, biến nó thành cuộc trò chuyện vui vẻ mà không cần ai chiến thắng, ai thất bại, ai đúng ai sai. Cần tìm ra chân lý, nhiều khi là cần. Nhưng hiếu thắng lại không phải đáng khen. Không nên bắt người không ăn được mắm tôm nặng mùi phải khen là mắm tôm ngon. Không thể bắt nhi đồng khen tuồng cổ là hay cũng như không thể bắt lão nông khen nhạc Pốp... Và vì thế, không nên mất nhiều thì giờ vào những việc tranh luận, cãi vã không cần thiết.
6-2000
https://thuviensach.vn