🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Địa Chính Trị Của Loài Muỗi
Ebooks
Nhóm Zalo
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
ÉRIK ORSENA
Trần Thị Phương Thảo dịch
—★—
ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA LOÀI MUỖI
• KHÁI LƯỢC VỀ TOÀN CẦU HÓA •
NHÃ NAM & NXB HÀ NỘI
ebook©vctvegroup | 08-10-2021
https://thuviensach.vn
Dành tặng Erie,
sinh tại Manila,
bên bờ sông N’Gounié, xứ sở của loài muỗi.
https://thuviensach.vn
Nhưng khi, trải qua một mùa hè nhợt nhạt, vào tháng Tám, như một con chim lớn không còn sinh khí, chầm chậm bay về phía sự suy kiệt và cái chết, chúng trở nên to lớn và độc ác; bận rộn như những chủ nhà đòn, ranh ma như những kẻ cho vay cầm đồ, dai dẳng và tự tin như chính trị gia, chúng kéo đến thành phố, đầy sự thèm muốn của kẻ tiểu nông, đoàn kết như các cầu thủ của một đội bóng, quái dị và vô liêm sỉ. Chúng là một vết loét công cộng bị nhìn qua ống nhòm ngược: tóm lại, đó chính là sự uy nghi của số phận bỗng trở thành đáng khinh vì cứ mãi hiện diện và quay đi quay lại. Muỗi, William FAULKNER
https://thuviensach.vn
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta trúng phải lời nguyền nào vậy?
Những con vật bé nhỏ đó muốn gì khi mà cả đêm cứ vo ve mãi bên tai ta?
Và tại sao ở chúng lại có một kiểu dai dẳng khó chịu đến như vậy? Tại sao chúng lại chích ta, không ngừng?
Ta đã làm gì sai với chúng? Chúng muốn trả thù gì ta?
Và những cơn sốt hành hạ ta không lâu sau đó là gì? Những cơn mệt khiến mỗi bước chân ta chệnh choạng? Những cơn đau đầu đến phát điên? Những nốt ban xuất huyết, và trái tim ta thình thịch đập đến chẳng còn máu để bơm? Và tại sao lại có những em bé sinh ra trên đời với cái đầu quá bé?
Người ta nói chúng đến từ châu Á, những con vật bé tí đó. Người ta nói chúng đến từ châu Phi. Người ta cứ ngỡ chúng đã bị đuổi sạch khỏi châu Âu. Hoài công.
Chúng không những đã quay lại mà còn ở lì đó. Chúng còn có mặt ở khắp hai lục địa châu Mỹ. Vậy chúng phải di chuyển bằng đường không, đường bộ, đường biển, bằng mọi loại phương tiện có trên đời.
Chúng tôi không định chê trách chúng vì sở thích dịch chuyển đó. Tóm lại, những con muỗi đang ở đó.
Từ nhiều năm nay, tôi quan sát, một cách say mê, những mưu mẹo và chiến lược chinh phạt của chúng.
Dần dà, tôi học được ngôn ngữ của chúng.
Giá mà bạn biết rằng chúng thích thú thế nào khi nghe chúng ta ra vẻ thông thái mà thuyết giảng về “toàn cầu hóa”, từ lâu rồi chúng đã coi cả Trái
https://thuviensach.vn
đất này là sân chơi của chúng!
Hãy hỏi xem chúng dùng phương pháp gì. Về việc làm thế nào để thống trị một cách kín đáo và toàn diện, so với bọn muỗi anopheles, hay muỗi vằn Aedes albopictus, những kẻ chiếm lĩnh các thiên đường thuế chỉ là tay mơ.
Vậy bạn có muốn biết thêm về những kẻ xâm chiếm này không? * * *
Để thử giải thích sự vận hành của hành tinh thân yêu của chúng ta, tôi đã từng khám phá bông vải, nước và giấy.
Lần này khi tấn công vào đám muỗi, một quần thể đáng gờm, đa dạng và luôn thay đổi, tôi cần có đồng minh. Isabelle de Saint Aubin đã nhận lời giúp tôi. Cha cô, một kỹ sư nông học, là người lập danh mục thống kê về rừng của Gabon. Vậy nên cô bé Isabelle đã lớn lên bên dòng sông Ogooué, được nuôi lớn bằng những bình sữa pha thuốc chống sốt rét, sống trong những căn lều thường xuyên phải phun thuốc diệt côn trùng Flytox, và đêm ngủ phải mắc màn. Cũng phải thú nhận rằng, đôi khi tôi tự hỏi - để hiểu được một vài hành vi kỳ lạ của Isabelle - liệu lý do có phải vì những năm đầu đời cô ấy đã sống trong sự gần gũi đến vậy với bao nhiêu là hóa chất… Dẫu vậy cô ấy đã trở thành tiến sĩ y khoa. Hẳn là theo gương Albert Schweitzer: ông làm việc cách đó không xa, ở Lambaréné, cũng bên bờ con sông Ogooué. Và nhân thể cũng xin nói thêm, trong thổ ngữ galoa, lambaréné có nghĩa là “ta hãy thử xem”.
Để đến được với vương quốc phong phú này, nơi các nhà côn trùng học đã thống kê được tới ba nghìn năm trăm sáu mươi tư loài, nên chăng hãy xuất phát bằng những câu hỏi đơn giản về loài muỗi.
Chúng là ai?
Chúng sống ở đâu?
Làm thế nào loại bỏ được chúng?
https://thuviensach.vn
Chúng tôi sẽ dành cho bạn một vài điều ngạc nhiên.
Điều ngạc nhiên thứ nhất, mà một số cho rằng không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng lại vô cùng phiền nhiễu cho nhiều người: chúng ta (những sinh vật đặc biệt được gọi là con người) còn lâu mới chứng tỏ được rằng ta là những kẻ khéo léo nhất trong một công việc đáng phải ưu tiên là việc sống.
Giữa ta và đám muỗi, một mối quan hệ thân thiết đã được khởi đầu. Ngay từ những năm xa xưa nhất của loài người.
Khi, giữa màn đêm, chúng vo ve bên tai ta, đó chính là chúng kể câu chuyện của chúng ta.
Vậy thì thay vì cáu kỉnh, tại sao không dành cho chúng chút quan tâm.
https://thuviensach.vn
PHẦN MỘT Chúng là ai?
https://thuviensach.vn
Lời tụng ca dành cho côn trùng
Giữa trung tâm phố cổ Paris, cánh cửa số 57, phố Cuvier mở ra một xứ sở diệu kỳ.
Ngay từ thế kỷ 16, một dược sư bạn của loài người đã mở tại đó nhiều khóa học về thảo dược, miễn phí cho mọi người. Năm 1635, Guy de La Brosse, ngự y của vua Louis Thập tam, đã thuyết phục người dược sư này trồng một khu vườn thảo dược. Dưới thời Cách mạng Pháp, khu vườn đã được mở rộng với việc xây dựng Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia, ngày 10 tháng Sáu năm 1793. Bảo tàng có ba nhiệm vụ: giáo dục công chúng, lập các bộ sưu tập và phát triển nghiên cứu.
Tôi thích đi thơ thẩn dưới những tán cây to của khu vườn, nhớ lại các thời kỳ của cuộc Cách mạng, lạc giữa các kỷ địa chất khi khám phá niên đại của những viên đá đẹp đẽ nhất của chúng ta, và du ngoạn đến mọi nơi trên Trái đất nhờ các nhà kính của khu vườn…
Chính tại nơi đây, Gilles Bœuf đem đến cho tôi một vài bài học về sự sống.
Người đàn ông thân thiện và nhiệt huyết này đã phụ trách nơi đây trong nhiều năm. Để ghi nhận công lao và những gì ông đã làm, người ta để ông làm việc trong văn phòng của người tiền nhiệm rất nổi tiếng: Georges-Louis Leclerc, bá tước vùng Buffon (1707-1788), tác giả của bộ sách huyền thoại Lịch sử tự nhiên dài 36 tập. Và cũng là một trong các nhà văn lớn nhất của nước Pháp.
Một ví dụ về văn phong của ông? Ông mô tả con ngựa như thế này:
“Cuộc chinh phục cao quý nhất mà con người từng thực hiện chính là cuộc chinh phục loài vật kiêu hãnh và dũng mãnh luôn chia sẻ với con người nỗi nhọc nhằn nơi trận mạc cũng như niềm vinh quang của những trận đánh; gan dạ không kém gì chủ, lũ ngựa trông thấy mối nguy và đương đầu; chúng được tôi luyện giữa âm thanh của các loại khí giới, chúng thích thứ
https://thuviensach.vn
âm thanh đó, chúng kiếm tìm nó và say sưa không kém; chúng cũng có niềm vui thú con người với những thứ khí giới kia; ở những cuộc đấu thương, chúng rượt đuổi, chúng tỏa sáng, chúng rực rỡ; nhưng dũng mãnh bao nhiêu thì dễ bảo bấy nhiêu, chúng không để cho ngọn lửa trong mình bùng cháy, chúng biết kiềm chế chuyển động của mình […]; đó là một tạo vật lãng quên chính mình để tồn tại theo ý muốn của một kẻ khác…”
Buổi sáng tháng Ba đó, tôi đến thăm Gilles Bœuf vĩ đại, để nghiên cứu về “các bệnh do trung gian truyền bệnh”.
“À, lại những con côn trùng!”
Một vài số liệu ông cung cấp đã giúp tôi xác lập được chủ đề nghiên cứu.
“Nếu loại trừ vi khuẩn và virus, Trái đất của chúng ta là nơi trú ngụ của sáu trăm hai mươi nghìn loài nấm, ba trăm năm mươi nghìn loài cây và tám triệu loài động vật. Trong số đó, động vật có xương sống, tức là bao gồm loài người chúng ta, chỉ có… tám nghìn loài.”
“Vì tuyệt đại đa số là các loài động vật chân đốt, tức là những sinh vật có khớp chân và vỏ để bù đắp cho cột sống bị thiếu. Trong tuyệt đại đa số đó có các loài giáp xác (như loài tôm hùm đắt đỏ), động vật nhiều chân (như con cuốn chiếu hay con ngàn chân… hiếm khi có quá trăm chân), lớp nhện (như các loài nhện) và… côn trùng.”
Đến lúc này, nhịp kể của Gilles Bœuf đã chậm lại. Trong mắt ông, vẻ trang nghiêm đã thay thế cho vẻ láu lỉnh thường thấy. Chúng tôi chuyển sang ngưỡng mộ. Tôi cứ ngỡ rằng người bạn cực kỳ uyên bác của tôi sẽ bảo tôi đứng lên và ngả mũ thán phục, mặc dù trên cái đầu hói của tôi đang chẳng đội cái mũ nào.
“Cậu có hình dung được không? Chúng ta đã thống kê được hơn ba triệu loài côn trùng! Và mỗi năm, lại phát hiện ra hơn mười nghìn loài mới! Đến bao giờ thì ta mới dừng lại đây? Năm, hay sáu triệu? Đây nhé, ví dụ đây, ví dụ ở mình luôn nhé, ở nước mình các loài sinh sôi chậm hơn nhiều so với ở vùng nhiệt đới. Tại rừng Massane, phía Đông dãy Pyrenees. Trên ba
https://thuviensach.vn
trăm héc ta - ba trăm héc ta thì nghĩa lý gì? Chả là gì, chỉ như một mảnh giấy bướm -, mà đã có ba nghìn năm trăm loài côn trùng rồi!” Để không cắt ngang cơn say sưa của ông bạn, tôi phải cố tỏ ra không hoảng hốt. Con người chúng ta, giống loài chiếm số lượng hiếm hoi trong cái bầy lúc nhúc đó, có thể kháng cự được đến bao giờ?
Bằng giọng hơi thiếu âm sắc, tôi hỏi bạn tôi những con vật nhỏ bé mắn đẻ đó đến Trái đất từ khi nào.
“Bốn trăm triệu năm! Những con đầu tiên xuất hiện là con cái của các loại giáp xác sống ở biển. Nhưng năm mươi triệu năm sau, số lượng của chúng đã tăng theo cấp số nhân cùng với sự bùng nổ của các cánh rừng ở kỷ Than đá, một môi trường phù hợp cho sự sinh sôi của chúng.
Hai trăm triệu năm nữa trôi qua và mở ra một cuộc phiêu lưu kỳ diệu mới của sự sống: sự tiến hóa chéo của thực vật và côn trùng. Trong số đó, gần hai trăm nghìn loài là côn trùng thụ phấn.”
Gilles Bœuf đã khởi hành chuyến dạo chơi vào thế giới khoa học-thơ ca của mình. Và đừng hòng ngăn ông lại được nữa.
“Chúng ta cứ dương dương tự đắc vì đã phát minh ra máy bay, nhưng hãy nhìn con chuồn chuồn mà xem! Tùy từng lúc, nó có thể thay đổi chín kỹ thuật bay. Khi tăng tốc, cơ thể của nó có thể chịu lực lên tới 3G* mà không bị ảnh hưởng. Nó có thể bay hàng giờ, với vận tốc có lúc lên tới tám mươi cây số một giờ mà chỉ tốn vài gam nhiên liệu. Còn tầm nhìn, chuồn chuồn có thể nhìn thấy đồng thời ba trăm hình ảnh mỗi giây với tầm nhìn 360 độ…”
* * *
Để biết thêm về giống loài chắc chắn là đầy lôi cuốn này, tôi đã làm một chuyến đi ngắn tới tận sông Bièvre, một con sông nhỏ được đặt tên theo loài hải ly trước đây sống rất đông ở dòng sông này.
Ở đây, bên bờ đầm Minière, chính xác hơn là ở địa chỉ đường Rural 7, 78280 Guyancourt, có trụ sở của OPIE, cơ quan nghiên cứu côn trùng và
https://thuviensach.vn
môi trường (điện thoại 01 30 44 13 43), mở cửa từ thứ Hai đến thứ Sáu (từ 9h00-12h30/14h30).
Và dưới đây là những câu chuyện thú vị mà Vincent Albouy, chủ tịch OPIE (và cũng là chuyên gia tầm cỡ thế giới nghiên cứu về bọ cánh da, hay còn gọi là bọ sâu tai) hoặc một trong các thành viên của ê kíp uyên bác và tuyệt vời này có thể kể cho các bạn.
Trong mọi lĩnh vực, côn trùng đều mang đến cho chúng ta những bài học*.
Vận tải giá rẻ
Hãy cùng chào đón loài bướm vua châu Mỹ.
Sinh ra tại Canada, loài bướm này di cư xuống tận Mexico để hưởng mùa đông ấm áp. Đó là một chuyến bay, chủ yếu là lượn, dài bốn nghìn cây số, tận dụng tối đa luồng gió hướng lên trên. Do vậy, loài bướm này tiêu tốn rất ít năng lượng khi bay và cánh thì không bao giờ hỏng hóc. Nhìn màu sắc tuyệt đẹp của chúng thì thấy: một màu vàng rực vân đen.
Kiến trúc thông thoáng, điều hòa không khí
Một tổ mối có thể chứa hàng triệu cư dân mối và có thể cao tới sáu mét. Lớp tường ngoài, được đắp từ đất trộn nước bọt của mối, cứng và bền ngang với xi măng. Loài mối cũng dùng chính nước bọt của mình để trát vào những phần của “tòa nhà” bị mặt trời chiếu vào nhiều nhất. Khi bay hơi, nó sẽ tạo ra hơi ẩm làm mát không khí bên trong.
Tái chế
Ngay trước khi mùa hè bắt đầu, bướm tằm cái đẻ trứng và trứng sẽ nở vào năm sau. Ngay sau khi nở, tằm bắt đầu ăn lá dâu. Một tháng sau, tằm to lên và bắt đầu nhả dãi để làm tổ kén cho nhộng. Chất tiết ra để làm tổ chính là tơ, được sản xuất từ hai tuyến nước bọt nằm ở gần đầu tằm.
https://thuviensach.vn
Ở nhiều loài bướm khác, nhộng bướm không lớn lên trong kén. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tơ bướm tằm có chứa chất độc hại đối với chúng, và chúng thải chất độc này ra bằng cách nhả dãi.
Tằm sử dụng chất tiết màu trắng này để xây tổ kén. Và từ tổ kén đó, con người sản xuất ra những loại tơ lụa mềm mịn nhất.
Phát sáng
Phát quang sinh học là gì?
Về nghĩa từ nguyên, thuật ngữ này chỉ ánh sáng được sinh ra từ sự sống.
Những bóng đèn hiệu suất cao nhất mà con người sử dụng cũng chỉ chuyển hóa được ba mươi phần trăm lượng điện cần thiết để chúng hoạt động thành ánh sáng. Phần điện còn lại sẽ mất đi khi bóng đèn tỏa nhiệt.
Hiệu suất này ở các loài động vật phát sáng cao gấp ba lần: cá nước sâu, mực ống hay cả… côn trùng.
Ở đom đóm, một tên gọi khác mỹ miều hơn dành cho loài bọ phát sáng, ánh sáng được phát ra từ phản ứng ôxy hóa một hợp chất do loài này tiết ra, gồm lưu huỳnh, ni tơ, hydro và các bon. Thay vì sinh nhiệt, phản ứng ôxy hóa này lại giải phóng các photon, và sinh ra ánh sáng.
Các phản ứng ôxy hóa tập trung tại các tế bào nằm ở phần bụng của đom đóm, và ngăn cách với các phần còn lại của cơ thể bằng một lớp tinh thể, lớp tinh thể này phản xạ và khuếch đại ánh sáng phát ra.
Đèn pha do con người phát minh ra cũng chẳng có gì mới. Ban đêm, một số loài sử dụng cách chiếu sáng này để lựa chọn nơi hạ cánh tốt nhất.
Nhưng việc ghép đôi mới là nơi các tín hiệu phát sáng thể hiện được hết các tác dụng của mình. Bằng cách phát sáng, các con côn trùng nhận biết được nhau, gọi nhau, tiến sát gần nhau, tán tỉnh nhau, giao cấu.
Chữa bệnh
https://thuviensach.vn
Ngay từ năm 1579, bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng Ambroise Paré đã nhận thấy một vết thương ở đầu lành rất nhanh khi có dòi bò trên đó. Trong suốt ba thế kỷ sau đó, các bác sĩ vẫn tiếp tục ngạc nhiên trước hiện tượng có vẻ phản tự nhiên đó.
Phải đợi đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất 1914-1918, một bác sĩ phẫu thuật người Mỹ tên là William Baer, khi cùng ra chiến trường với quân Đồng Minh, đã quyết định nghiên cứu cơ chế chữa lành vết thương thần kỳ đó. Ông phát hiện ra rằng đám dòi, buồn thay, lại không chỉ ăn phần mô bị tổn thương…
“Loài nhặng xanh đã được chọn, vì chúng chỉ ăn các mô chết. Trong nước bọt do dòi (…) tiết ra có chứa một hợp chất trong đó một số chất có tác dụng diệt vi khuẩn, một số chất khác ức chế sự phát triển của vi khuẩn, một số chất khác nữa giúp các mô nhanh liền sẹo. Những mô bị hoại tử sẽ được nước bọt do dòi tiết ra làm tiêu đi và bị phá hủy, mặc dù chứng không ăn các mô này. Khi nuốt chất nhầy đó, dòi cũng ăn vào một lượng lớn vi khuẩn, và tiêu hủy các vi khuẩn đó trong ống tiêu hóa. Cuối cùng, khi dòi bò liên tục trong vết thương, chúng làm khô dịch huyết thanh rỉ ra từ các mô bệnh và kích thích các mô lành nhanh liền sẹo. Đây là cơ chế giải thích sự thành công của phương pháp trị liệu bằng ấu trùng*.”
* * *
Tôi quay trở lại Bảo tàng, vào văn phòng của Buffon, và hỏi Gilles Bœuf câu hỏi tôi trăn trở mãi:
“Giờ tôi biết được khả năng của côn trùng rồi. Nhưng, dẫu sao côn trùng cũng có tới tám triệu loài, còn động vật xương sống chúng ta chỉ có tám nghìn loài! Làm sao chúng lại thành công kinh khủng thế được?”
Suýt chút nữa thì thầy tôi đã ôm lấy tôi vì câu hỏi của tôi làm thầy rất khoái chí.
https://thuviensach.vn
“Cuối cùng thì anh cũng bắt đầu hiểu nguyên lý của sự sống và vị trí khiêm tốn của loài người!
Còn thành công của côn trùng ấy hả, tôi thấy có sáu lý do.” Và, như một cậu bé con (mà lúc nào ông chả như vậy), ông bắt đầu đếm trên đầu ngón tay.
Chúng bé nhỏ. Mặc dù một số loài, nhưng rất hiếm, có thể dài tới ba mươi phân, phần lớn các loài khác chỉ to chưa tới một li. Hãy nhìn những gì diễn ra trong cuộc sống. Bọn to lớn thì làm phách và quyến rũ những kẻ khờ dại. Nhưng khi có hiểm nguy, ai trốn được trong các khe, lỗ, ngóc ngách nhỏ tí? Là bọn ta chứ ai nữa, bọn bé tí, như anh như tôi. Hơn nữa, bé thì cũng ít có nhu cầu: ít ăn, ít uống, cần ít năng lượng. Bé thì không to xác, không di chuyển nặng nề. Tóm lại, dù ai nghĩ gì đi chăng nữa, tương lai cũng thuộc về những người nhỏ bé!
Nhân đang nói đến ăn, côn trùng ăn đủ thứ: cây cối, xác chết, rác rưởi, phân, máu, đồ thối rữa và đồng loại. Một bài học hữu ích cho những bậc làm cha mẹ. Ai muốn con mình sống lâu thì phải dạy chúng đừng đỏng đảnh trong chuyện ăn uống.
Chúng sống ở mọi nơi: thành phố, làng quê; nước đọng ao tù, nước chảy, nước nóng hay nước lạnh; trên cây hay ký sinh ở các loài động vật có xương sống (trên bộ lông hay trong cơ thể, kể cả còn sống hay đã chết); ở cả những chỗ thối rữa (như phô mai hỏng) lẫn những bông hoa thanh khiết nhất… Cư ngụ chỗ nào cũng đều ổn thỏa với chúng cả.
Chúng sinh sản điên cuồng. Vì có vòng đời ngắn ngủi, nên côn trùng không chịu để mất dù chỉ một phút để kết đôi và sự giao hợp của chúng có hiệu quả vô song. Những ai, trong đó có tôi, đang lo lắng về sự gia tăng không kiểm soát của số lượng nhân khẩu trên Trái đất, sẽ phải lo thắt ruột khi nhìn tình hình dân số côn trùng: hàng ti tỉ con. Chỉ riêng ở vùng Manaus trên bờ sông Amazon, một nghiên cứu đã ước tính số lượng các cá thể kiến sinh sống tại đây nhiều gấp bốn lần số lượng của mọi loài động vật có xương sống.
https://thuviensach.vn
Chúng đa dạng gần như vô cùng tận. Không chỉ nhiều vô số, hiểu đúng theo nghĩa đen của từ này, tức là không thể đếm được, côn trùng còn đa dạng vô tận. Trong số tám triệu loài côn trùng, luôn có những loài, mà số lượng lên tới hàng trăm nghìn, có khả năng vượt qua mọi thử thách. Và sinh tồn.
Chúng có ý thức xã hội rất phát triển. Hẳn là Lenin đã lấy cảm hứng từ loài ong, loài mối, và dĩ nhiên là cả loài kiến để xây dựng nên mô hình xã hội Xô viết: rất có tổ chức, có thứ bậc, mỗi cá nhân phải hoàn thành một nhiệm vụ định trước, không được tách rời. Nằm trong lăng mộ ở Quảng trường Đỏ, chắc hẳn ông tự nhủ rằng: ngày mà con người biến mất, côn trùng sẽ chiến thắng.
Điện thoại của Gilles Bœuf vừa đổ chuông. Bà bộ trưởng Môi trường Ségolène Royal đang đợi. Làm sao mà không hiểu bà mất kiên nhẫn thế nào chứ? Vì khó mà không cậy nhờ đến cố vấn của mình, một giáo sư uyên bác như thế về sự sống? Liệu ông có cho bà, như đã cho tôi, những bài học về côn trùng? Và bà sẽ rút ra được gì từ những bài học đó để mà điều hành các công việc của nước Pháp?
Tôi đứng lên cáo từ.
Ông giữ tôi lại chỉ để kết luận bằng một phương trình:
nhỏ bé
+ ăn mọi thứ
+ sống ở mọi nơi
+ sinh sản điên cuồng
+ có ý thức xã hội
+ đa dạng
https://thuviensach.vn
= thiên tài thích nghi
Và đây là bí quyết để sinh tồn: thích nghi!
Tôi chia tay giáo sư và tự nhủ, có thể chính đó là nguồn cơn của sự yếu ớt và sự cao quý của loài người. Loài người muốn thay đổi sự sống. Và sự sống quay lại báo thù. Đúng là, nếu giống loài chúng ta mong muốn “thay đổi sự sống” đến thế, thì đó cũng chỉ là vì lợi ích riêng của chúng ta mà thôi.
* * *
Tối đó, khi rời Bảo tàng, lúc khách tham quan bị lùa ra bởi tiếng còi của những người bảo vệ, tôi chợt nảy ra ý nghĩ, cũng chẳng đúng đắn cho lắm về mặt chính trị, về một cách lý giải khác cho sự thành công của bọn côn trùng.
Nếu một số có thể sống được đến năm mươi tuổi, thì phần lớn côn trùng, bắt đầu bằng loài muỗi, không sống lâu. Nói cách khác, chúng không bị các côn trùng già làm phiền. Chỉ vừa đạt đến độ sức lực cường tráng là chúng đã biết ý chết đi để nhường chỗ cho lớp trẻ. Có thể phản bác rằng như thế chúng không có trải nghiệm. Nhưng thiếu trải nghiệm sẽ được bù đắp bằng sự hiện diện rất lâu của giống loài chúng trên Trái đất: trong vòng bốn trăm triệu năm, hẳn nhiên là không phải vội, nhưng thừa đủ để thích nghi với mọi thứ!
Khi sự năng động của giống loài vượt trội yêu cầu của mỗi cá thể, chẳng lạ khi sức sống toàn loài sẽ chiến thắng.
https://thuviensach.vn
Ngưỡng mộ nhưng vẫn e ngại
Nếu côn trùng đã chứng minh được khả năng sinh tồn của chúng sau hàng triệu năm, thì sự thành công đáng kinh ngạc đó cũng đi kèm với nhiều tổn thất nghiêm trọng mà chúng ta, con người, đang phải trả giá. Bệnh lây truyền “do trung gian truyền bệnh” là gì?
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra định nghĩa rõ ràng.
“Vật chủ trung gian truyền bệnh là các cơ thể sống có khả năng truyền mầm bệnh (virus, ký sinh trùng) từ ký chủ nhiễm bệnh (động vật hoặc người) sang một cơ thể khác. Vật chủ trung gian truyền bệnh phổ biến nhất là các loài côn trùng hút máu. Khi hút máu, chúng hút luôn cả các vi sinh vật gây bệnh ký sinh trong cơ thể của ký chủ nhiễm bệnh (người hoặc động vật), sau đó chích truyền sang một ký chủ khác ở lần hút máu tiếp theo.”
Theo cách đó, các loài ruồi, ve, mòng, bọ chét và rệp tặng cho chúng ta nhiều chứng bệnh nặng, đôi khi cả những căn bệnh chết người (bốn trăm nghìn người chết mỗi năm).
Có kể mãi cũng không hết được những căn bệnh ngoại lai này: bệnh Leishmania do nhiễm ký sinh trùng, bệnh rickettsia, bệnh sốt xuất huyết Crimea-Congo, bệnh borreliosis, bệnh ngủ trypanosoma (cám ơn các bạn ruồi xê xê Phi châu!), và cả bệnh Lyme, bệnh Chagas, toàn những bệnh quá khó chịu.
Nhưng trong cả đám trung gian truyền bệnh ấy, muỗi mới là loài nguy hiểm nhất. Vật chủ trung gian này mang mầm bệnh sốt chikungunya, sốt xuất huyết Dengue, sốt thung lũng sông Rift, sốt vàng da, sốt Zika, viêm não Nhật Bản, sốt Tây sông Nile, giun chỉ bạch huyết, và tất nhiên là cả bệnh sốt rét. Chỉ riêng sốt rét cũng gây ra hơn bốn trăm nghìn ca tử vong mỗi năm,
https://thuviensach.vn
nạn nhân đa phần là trẻ em dưới năm tuổi. Còn sốt xuất huyết Dengue thì đe dọa hơn một phần ba dân số thế giới: 2,5 tỷ người, ở hơn một trăm quốc gia. Tóm lại, muỗi là kẻ thù chung số một.
https://thuviensach.vn
Trong một trang trại dưới lòng đất, một bà chủ trang trại người Tahiti
Nếu chúng ta cứ xây thành phố ở miền quê, ngấu nghiến nuốt trọn những vùng đất đó, thì rồi nông thôn sẽ quay lại trả thù: nó sẽ vui vẻ xâm chiếm khoảng trống giữa các công trình đã xây dựng. Ở những khoảng trống giữa các tòa nhà và đường giao thông, động vật và cây cối đua nhau phát triển, vì chẳng còn phải lo lắng gì đến những mối đe dọa thuần nông, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ.
Bạn có biết tất cả các ga tàu điện ngầm trên thế giới đều có hàng đàn dế cư trú?
Những con vật nhỏ bé đó đến từ châu Á, nơi người già vẫn còn chơi trò chọi dế và tổ chức các cuộc thi dế gáy. Ở Trung Quốc, hội những người yêu dế có tới hơn sáu triệu thành viên.
Ở Paris, ban đêm, vào những khoảng lặng tiếng xe, những đôi tai rất thính có thể nghe thấy tiếng gáy đặc trưng của chúng. Nhắm mắt lại, ta sẽ thấy giống như đang ở miền quê Provence. Chỉ những nhạc sĩ tinh tường nhất mới phân biệt được tiếng gáy gọi tình của loài dế và tiếng hát của loài ve.
Than ôi, sự tĩnh lặng đã quay lại. Bị những tiêu chuẩn vệ sinh xua đuổi khỏi lò bánh mì, nơi trú ngụ ban đầu yêu thích nhất, bọn dế đã tìm được nơi trú ẩn trong hệ thống giao thông dưới lòng đất của chúng ta. Chúng tìm được chỗ trú, được sưởi ấm, có mái che và cả niềm yêu thích với… các đầu mẩu thuốc lá.
Ấy thế nhưng, phần lớn đã không sống sót được trước lệnh cấm hút thuốc ở những nơi thuộc hệ thống tàu điện ngầm. Nếu được phép, việc cấm thuốc lá hoàn toàn sẽ là một đòn trí mạng với lũ dế.
Tương tự như vậy, để có thêm thu nhập và trang trải cho những buổi biểu diễn đắt đỏ, Nhà hát Nhạc kịch Paris đã cho đặt các đõ ong trên mái. Và
https://thuviensach.vn
mật ong thu được, tôi đã nếm thử rồi, thì xứng đáng với mọi lời ca tụng. Ở quận 15 của Paris, ta sẽ bắt gặp một trang trại khá đặc biệt. Nếu chỉ đi qua, dù có cố nhìn thì bạn cũng sẽ chẳng thấy đâu. Và, tin tôi đi, như thế là tốt nhất cho bạn đấy, vì không gì nguy hiểm hơn việc chăn nuôi ở những nơi như vậy.
Đến số 209, phố Vaugirard, hãy đẩy cửa bước vào. Mạnh dạn đi qua căn phòng đang ồn ào huyên náo một cách dễ thương nơi ta sẽ thấy hàng gia đình đang chờ để được khám hoặc tiêm vắc xin. Rồi đến khâu xuất trình giấy tờ. Đợi ở đó. Một người mặc áo bờ lu trắng sẽ đến dẫn bạn đi. Và, qua một thang nâng, bạn sẽ xuống dưới tầng hầm.
Và bà chủ trang trại sẽ chờ bạn ở đó: Anna-Bella Failloux. Dù còn trẻ, người phụ nữ này đã là một huyền thoại. Cuộc đời có thể dành cho bạn những chặng đường kỳ lạ thế nào một khi niềm đam mê truyền cảm hứng cho bạn!
Khoảng những năm 1900, tổ tiên người Hoa của người phụ nữ này đã quyết định rời Quảng Châu để tìm kiếm vận may ở tận… đảo Polynésia thuộc Pháp. Hai thế hệ tiếp theo sinh sống ở đó, sau đó là một tuổi thơ ở Tahiti với niềm vui lao động: khi là chị cả của một lũ nhóc tám đứa, bạn phải làm gương thôi. Không có chỗ cho làm biếng hay tràng hoa đeo cổ. Ở trường trung học, cô giáo dạy cho bạn về thiên nhiên. Một thiên hướng được phát lộ. Đến Paris để học tiếp. Quay về Papeete nghiên cứu về bệnh chân voi, một căn bệnh làm chân sưng phồng mà hơn năm nghìn người ở Polynésie mắc phải. Nguồn gốc bệnh là một loại ký sinh trùng do một loài muỗi đặc biệt lan truyền, muỗi Aedes.
Từ các nghiên cứu này, Anna-Bella đã công bố một luận án và ngay lập tức gây được tiếng vang.
Năm 1996, cô quay lại Paris và thi đỗ vào Viện Pasteur.
Để không cảm thấy bản thân quá nực cười trước một người xuất sắc như vậy, tôi đã chuẩn bị rất kỹ cho buổi gặp này, đọc vô số sách trong thư viện của Bảo tàng, đến mức đêm ngủ toàn mơ thấy những con quái vật
https://thuviensach.vn
khủng khiếp: người khổng lồ có vỏ, mình đầy lông lá còn đầu đội mũ, mũi dài nhọn hoắt…
Đứng trong thang nâng để xuống trang trại của cô Failloux dưới lòng đất, tôi cứ nhắc đi nhắc lại, như cậu học trò ôn bài kiểm tra miệng, tất cả những gì tôi biết về đám muỗi.
chúng đều thuộc cùng một họ: họ Culicidae;
chúng đa dạng khủng khiếp: gần bốn triệu loài đã được biết đến; phần lớn không mang ký sinh trùng có thể gây bệnh. Và mỗi loài muỗi trung gian chỉ mang được một số loại ký sinh trùng nhất định, không phải bất kỳ ký sinh trùng nào;
để dễ nhận biết, các loài muỗi được chia thành các chi, trong số đó có hai chi chúng ta quan tâm nhiều hơn các chi khác. Đó là chi Aedes và chi Anopheles: đây là hai chi mang các loài ký sinh trùng nguy hiểm bậc nhất.
Bà chủ nhà người Tahiti đợi tôi ngay bậc cửa. Không chờ lâu, cô bắt đầu ngay bài giảng của mình.
* * *
Ba giai đoạn đầu tiên trong vòng đời của muỗi là ở dưới nước. Muỗi cái sẽ tìm một chỗ an toàn, gần nguồn nước để đẻ trứng. Giai đoạn này không phù hợp với phôi muỗi vì bị nhốt chặt trong vỏ trứng. Chỉ hai ngày sau, phôi muỗi sẽ ra khỏi vỏ. Để ra khỏi vỏ, phôi muỗi sẽ co thắt họng. Máu sẽ dồn lên đầu, đầu phôi sẽ phình to cho đến khi chạm vào thành vỏ trứng, và vỏ trứng sẽ vỡ ra. Tạo hóa sinh ra loài muỗi đã tính toán tất cả: một chiếc gai nhỏ mọc trên đỉnh sọ của phôi, giống như chóp mũ của quân Thổ và sau này là quân Đức sử dụng đến tận năm 1916. Chóp nhọn này được vua
https://thuviensach.vn
Frédéric Guillaume Đệ Tứ nghĩ ra, giúp làm trượt các cú đâm bằng kiếm của quân địch. Nhưng giờ hãy quay lại với các bạn muỗi của chúng ta. Sau khi ra khỏi vỏ và trở thành ấu trùng, muỗi bắt đầu một giai đoạn mới trong vòng đời của mình, cũng trong môi trường nước. Thường thì ấu trùng muỗi, hay còn gọi là bọ gậy, nổi theo chiều thẳng đứng, đầu chúi xuống dưới và đuôi ở phía trên. Cơ quan hô hấp của bọ gậy nằm ở chóp đuôi. Để thở được, nó sẽ phải liên tục bơi lên trên mặt nước và lặn xuống đáy (nơi có thức ăn). Bọ gậy có hình dạng mảnh như sọi tóc. Trong những cơ thể sống tí hon đó, những bộ máy tinh vi đã bắt đầu vận hành. Hãy nhìn những chiếc lông mao xếp dọc suốt thân bọ gậy. Chúng vẫy và chuyển động liên tục, chậm rãi, như lông mi trên mắt chúng ta. Một dòng nước theo đó được đẩy đến, mang theo đủ loại thức ăn: các loại tảo, côn trùng bé xíu. Bọ gậy chỉ cần há miệng là thức ăn tự trôi vào. Nếu đủ thức ăn, chúng lớn rất nhanh. Chỉ dài chưa đầy một mi li mét khi ra khỏi vỏ trứng, chiều dài của chúng tăng gấp mười hai lần sau một tuần. Và chúng liên tục biến đổi: cứ sau bốn mươi tám tiếng chúng lột xác một lần.
Bụng chúng nhanh chóng phồng lên, mọc thêm sừng để thở và thêm vây. Bọ gậy đã trở thành nhộng. Chúng cứ liên tục hóa thân. Như David Bowie trong thế giới của côn trùng. Cứ mải mê hóa thân liên tục như vậy, bọn nhộng còn chẳng bỏ thời gian ra để ăn.
May cho chúng, giai đoạn hóa thân điên cuồng này kéo dài không lâu. Sau ba ngày, nhộng phồng to, chứa đầy không khí. Dần dần, lớp da nó tách ra. Và từ lớp áo màu nâu đó, dần dần chui ra, không phải không đau đớn, yếu ớt và trong suốt, nhân vật chính trong câu chuyện của chúng ta: con muỗi. Ban đầu cuộn lại, cánh của nó bắt đầu bung ra. Khi cánh dần khô đi, nó vỗ vỗ và bay lên. Vĩnh biệt ao, hồ, đầm lầy và những nơi ẩm ướt. Lên đường đến với những chuyến phiêu lưu xa xôi hơn và tấn công những con mồi mới! Nỗi phiền muộn của giống người chúng ta giờ mới bắt đầu.
Trong vô số các loài côn trùng, đến nay người ta đã phân loại được ba nghìn năm trăm sáu mươi tư loài muỗi.
https://thuviensach.vn
Ban đầu, những con vật bé nhỏ này có mọi yếu tố để nhận được cảm tình của chúng ta.
Trước hết, chúng có một bề ngoài thanh lịch không thể chối cãi: mắt to đen, những chiếc râu dài, một cơ thể thon thả nhưng lại có lồng ngực vững chãi, ba cặp chân thanh mảnh như chân các cô người mẫu chán ăn, hai cánh hẹp được phủ bằng những vảy màu sắc sặc sỡ. Bọn ruồi ngắn tủn và bọ hung béo lùn dù cố thế nào cũng không thể có được một phần nghìn sự quyến rũ của đám muỗi.
Thứ hai, ngay khi ra khỏi vỏ trứng, chúng đã thực hiện công việc làm sạch môi trường. Khi còn là bọ gậy, sống ở đầm lầy hay nơi nước đọng tù, chúng ních đầy bụng các vi sinh vật trong tầm với của mình. Như thế, không có bộ lọc nào tốt hơn một em bé muỗi: mỗi ngày chúng lọc được tới hai lít nước sạch.
Còn hay hơn nữa, chúng làm cả công việc thụ phấn. Khi trưởng thành, chúng bay từ bông hoa này sang bông hoa khác để hút mật hoa, thức ăn chính của chúng. Những con ong thân yêu của chúng ta không phải kẻ độc quyền trong công việc phục vụ cho những người thích ăn trái cây.
Và cuối cùng, chúng vui lòng để những con vật khác ngấu nghiến, ở con số hàng triệu, mà không hề phản kháng.
Lũ chim, lũ cá, lũ dơi hẳn sẽ không quên một điều: không có đám muỗi, chúng sẽ đói rã họng.
Như vậy, mọi việc hẳn đã đạt kết quả tốt nhất trong thế giới tốt nhất có thể nếu như nhu cầu sinh sản, vốn không thể cưỡng lại, không làm hỏng mọi thứ.
Phần đen tối nhất của câu chuyện bắt đầu từ một cái đập cánh. Đó là tín hiệu mà quý bà muỗi gửi tới các quý ông muỗi đang vo ve xung quanh. Em đây, em đang ở ngay đây. Đã sẵn sàng.
Và muỗi đực lao đến.
Mà không sợ nhầm. Vì mỗi loài lại có cái đập cánh riêng.
https://thuviensach.vn
Nhưng không phải không có đối thủ cạnh tranh. Cần phải lao đến nhanh nhất, vì cả đống đối thủ cũng đều nhận được tín hiệu và đều đã lên đường.
Con đực nhanh nhất sẽ được tưởng thưởng: giao phối với muỗi cái. Một cách vội vã.
Muỗi cái, theo những gì người ta biết được, không thấy bị xúc phạm trước sự hấp tấp này. Nó hiểu rõ rằng đồng loại giống đực của nó chỉ có tuổi thọ kéo dài vài tuần. Chẳng nên chậm trễ trước bất cứ điều gì. Và hẳn nhiên là không nên chậm trễ trong những màn dạo đầu tinh tế và những lời thì thầm dịu êm sau đó.
Trong bụng của nàng muỗi cái vừa mới được thụ tinh đó, những quả trứng cũng chẳng chần chừ xuất hiện.
Để giải lao một chút ở giai đoạn đặc biệt mau lẹ này, chúng ta tập trung một chút vào giải phẫu cơ thể muỗi cái. Chỉ liếc qua thôi cũng đủ khiến ta run rẩy rồi. Vòi của muỗi cái làm ta phát sợ. Ở chỗ miệng là một bộ phận hình cây giáo, màu nâu hạt dẻ, dài bằng ngực của nó.
Nhìn kỹ qua kính hiển vi, ta sẽ còn thấy sợ hơn. Và sẽ choáng váng ngưỡng mộ trước sự hoàn hảo và tinh vi của bộ phận đó.
Ở phần đầu vòi là các hàm dùng để xuyên thủng da của con mồi được lựa chọn, có thể là người hay động vật. Kiệt tác hình cái bơm này đặc biệt mềm dẻo, khiến nó có thể vặn vẹo đủ kiểu để đạt được mục tiêu: mạch máu nơi tuần hoàn loại thức ăn mà nó thèm muốn.
Tôi nhớ có lần đã được thăm giàn khoan dầu ở Patagonia, nằm ngay ở phía Nam lối vào kênh Magellan từ Đại Tây Dương.
Tôi đến chỉ để cụng ly chúc mừng. Một nhóm kỹ sư vừa mới phá kỷ lục thế giới về khoan ngang. Bằng cách xuất phát từ bờ, họ đã luồn được đường ống xuyên qua nhiều lớp trầm tích và lớp đá cho tới tận giếng dầu, nằm ở ngoài khơi cách bờ mười cây số. Lúc đó tôi không biết rằng Total chỉ bắt chước bọn muỗi mà thôi.
https://thuviensach.vn
Nhưng ta còn chưa biết hết mọi bí mật của chiếc vòi kỳ diệu này đâu. Nếu cắt ngang vòi chích, bạn sẽ chết lặng khi thấy trong cái ống nhỏ xíu đó có tận hai đường dẫn. Một đường dẫn để hút máu. Thế nhưng, người bị muỗi chích sẽ tự vệ. Ngay khi vừa bị hút khỏi mạch máu, máu sẽ đông lại, cản trở mọi nỗ lực hút vào. Lúc này đường dẫn thứ hai sẽ được sử dụng. Muỗi sẽ nhả nước bọt vào đó, trong nước bọt của muỗi có chứa chất… chống đông.
Và nó đã có thể bắt đầu hút.
Từ toàn bộ câu chuyện này, có thể không ngần ngại rút ra một kết luận: chỉ muỗi cái mới có hại! Còn muỗi đực thì sao, đó là những chàng trai dũng cảm chỉ nghĩ đến việc tìm ăn những gì ngọt ngào và chờ dịp tranh thủ làm một cú chớp nhoáng trước khi chết. Với những anh chàng ngây ngô đó, loài người chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm sống, vì chẳng cần phải lo lắng bận tâm gì đến tiếng vo ve hay nỗi sợ bị truyền bệnh…
Nhưng các bạn độc giả của tôi, hãy gói ghém lại tâm lý kỳ thị giống cái mà tôi đoán lúc nào cũng thường trực trong bạn và chỉ chực chờ để thể hiện trước một cái cớ bất kỳ nào dù là nhỏ nhất.
Nếu như muỗi cái, và chỉ nó, làm hỏng cả giấc ngủ của bạn khi cứ vo ve mãi bên tai, đó không phải là vì nó ghen tị khi thấy bạn ngủ ngon đến vậy. Nó chẳng có gì khác để quyến rũ, chẳng biết đánh mắt đưa tình, chẳng có bộ váy đen thần thánh, không nước hoa khêu gợi, nên chỉ còn cách đập cánh. Mỗi khi bạn nghe thấy tiếng vo ve quái quỷ đó, hãy tự nhủ đó chỉ là tiếng gọi bạn tình. Có khi nghĩ như vậy sẽ khiến bạn cảm động và xoa dịu cơn tức bực trong bạn. Vả chăng, nếu như muỗi cái tấn công bạn, đó chẳng phải là vì nó bị dẫn dắt bởi một sự độc ác nào đó có Chúa mới biết được vốn sẵn có trong một cơ thể nữ từ muôn đời nay. Không, không phải vậy, nên nhớ rằng không phải một muỗi cái chích bạn, mà là một muỗi mẹ! Một muỗi mẹ với duy nhất một nỗi bận tâm: làm sao để cho những quả trứng mình đang mang trong bụng lớn lên. Và những dưỡng chất cần thiết đó, muỗi mẹ chỉ có thể tìm thấy trong máu bạn.
https://thuviensach.vn
* * *
Nếu bạn muốn biết tại sao phụ nữ không cần máu, và vậy nên không trở thành kẻ hút máu, bạn hãy đi mà hỏi bác sĩ. Bác sĩ sẽ kể cho bạn một câu chuyện hết sức thú vị, mà trong đó một vùng nhỏ trong não ta đóng vai trò cốt yếu: vùng dưới đồi.
* * *
Từ chuyến viễn du đầu tiên trong xứ sở loài muỗi này, ta rút ra được hai kết luận:
Kết luận thứ nhất là những con vật bé nhỏ đó không độc ác. Chúng chỉ có một mục tiêu: sinh tồn. Sao chúng ta lại có thể trách chúng về điều đó? Kết luận thứ hai là chúng chỉ phạm tội đồng phạm. Nếu như chúng cung cấp cho những kẻ giết người thực sự cả hậu cần và nơi ở, đấy hoàn toàn không phải là do chúng muốn thế.
Một chuyến đi khác bắt đầu.
Xin chào mừng các bạn đến với thế giới của (những) kẻ ác thực thụ!
https://thuviensach.vn
Thế giới “vi sinh vật”
Càng nhiều tuổi tôi lại càng quay lại trường học nhiều hơn. Viết tiểu sử của Pasteur, tôi đã ít nhiều làm quen với thế giới của “vi sinh vật”. Gọi tên như vậy tôi biết là quá rộng và mơ hồ. Sau côn trùng nói chung, rồi đến loài muỗi nói riêng, giờ đây tôi cần phải đi làm quen với thế giới của những sinh vật nhỏ bé hơn nữa.
Còn ai có thể uyên bác hơn trong ngành côn trùng y học ngoài giáo sư François Rodhain? Là giáo sư đầu ngành* trong lĩnh vực này, ông nghiên cứu mối quan hệ giữa côn trùng, các tác nhân gây bệnh ký sinh trên côn trùng và con người là đối tượng bị nhiễm bệnh từ chúng.
* * *
Cho đến cuối thế kỷ 17, con người vẫn không hề ngờ đến sự tồn tại của thế giới những sinh vật bé nhỏ.
Sau đó, kính hiển vi đã ra đời, do nhà khoa học người Hà Lan Antonie Van Leeuwenhoek (1632-1723) phát minh. Ở Delft, thành phố quê hương ông, ông đã từng tiếp các nhà vua, nữ hoàng, sa hoàng và cho họ khám phá thế giới của những sinh vật nhỏ xíu chuyển động dưới chiếc kính thần kỳ mà ông đã phát minh ra.
Cho tới giữa thế kỷ tiếp theo, vẫn không ai tưởng tượng được rằng phần lớn các căn bệnh đều có nguyên nhân từ một trong các vi sinh vật đó. Sau đó, khoảng vào năm 1860, Pasteur khám phá ra vai trò chủ chốt của vi sinh vật trong quá trình lên men và gây viêm.
Với những sinh vật vô cùng nhỏ bé đó, mà một số lại rất độc hại, cần phải tìm cho chúng một cái tên. Một bác sĩ quân y ở Strasbourg, tên là Charles-Emmanuel Sédillot, đề xuất gọi chúng là “microbe”. Khi được hỏi,
https://thuviensach.vn
Émile Littré, tác giả của những cuốn từ điển đồ sộ nhất đã trả lời đầy tin tưởng: “Để gọi các vi sinh vật, có lẽ tôi thích từ ‘microbe’… Và giờ hãy để cho từ này tự khẳng định chỗ đứng của nó, và tôi chắc nó sẽ làm được.”
Trong vòng một trăm sáu mươi năm tiếp theo, các nhà khoa học không ngừng khám phá thế giới của các loài nhỏ bé đó. Và phân loại chúng. Lúc nhỏ, trẻ em càng bày bừa đồ chơi bao nhiêu, thì khi lớn lên, chúng lại càng cố tìm cách xếp chúng vào từng hộp bấy nhiêu. Hẳn là các nhà khoa học thấy được xoa dịu trong cơn điên cuồng được gọi một cách khoa học là phân loại học này.
Cứ như thế, theo thời gian, người ta bắt đầu phân biệt các loại vi sinh vật khác nhau, vi khuẩn, động vật nguyên sinh, giun tròn, nấm và virus. 1. Vi khuẩn
Đó là các vi sinh vật đơn bào, không có nhân và kích thước có thể đến nửa mi li mét.
Trong suốt hai tỷ năm, vi khuẩn là những sinh vật duy nhất sinh sống trên hành tinh của chúng ta.
Chúng phát triển bằng cách phân đôi, trung bình hai mươi phút một lần!
May mắn thay, sự phát triển này được chặn lại bằng các chất kháng sinh tự nhiên, các loài săn mồi, sự tấn công của môi trường… Bất chấp những cản trở ấy, số lượng vi khuẩn vẫn vượt quá tầm hiểu biết: một gam đất nông nghiệp có thể chứa một tỷ vi khuẩn, với mười nghìn loài khác nhau.
Trên Trái đất, vi khuẩn đông gấp một trăm năm mươi tỷ tỷ lần so với con người. Một đặc điểm nữa: chúng dễ dàng thích nghi với mọi môi trường mới.
2. Động vật nguyên sinh
Đó cũng là vi sinh vật đơn bào nhưng có nhân.
Động vật nguyên sinh sống chủ yếu trong môi trường nước. Để chuyển động được, thiên nhiên đã trang bị cho chúng hệ lông mao hoặc những cái
https://thuviensach.vn
đuôi dài rất mảnh, còn gọi là lông roi. Người ta đã xác định được vài chục nghìn loài động vật nguyên sinh. Một số loài sống tự do và có thể tự phát triển độc lập, nhưng phần lớn đều là những kẻ ăn bám hoặc ký sinh trùng, như mầm bệnh sốt rét, Plasmodium falciparum.
3. Giun (giun tròn)
Cách gọi tiện lợi nhưng mơ hồ này được dùng chung cho những sinh vật nhỏ bé có nguồn gốc, hình thái và tập quán sống rất khác nhau. Giống như động vật nguyên sinh, một số loài giun sống hoàn toàn độc lập. Nhưng nhiều loài khác đều là ký sinh trùng: người ta gọi chúng là giun sán. Trong số các loài giun sán ký sinh này, giun tròn đặc biệt vì có bộ máy tiêu hóa hoàn chỉnh. Giun tròn xuất hiện trên Trái đất cách đây hơn hai trăm năm mươi triệu năm. Từ đó, số lượng của chúng gia tăng không ngừng: hiện nay người ta đã thống kê được hai mươi nghìn loài trong tổng số có thể lên tới một trăm nghìn hoặc hơn. Chúng cũng có kích cỡ vô cùng đa dạng: từ nhỏ xíu đến dài cả mét!
Sau hai mươi năm nghiên cứu trong các cánh rừng của Cộng hòa Gabon để tìm cách thống kê các loài giun, Guy de Saint Aubin, cha của Isabelle, đã phải tức tốc quay về Paris. Ông đã bị nhiễm giun chỉ. Con gái ông còn nhớ đã nhìn thấy chúng bò loằng ngoằng dưới da trên khắp cơ thể cha mình, và bò cả lên mắt. Thận của ông cũng bị nhiễm. Ông đã được cứu sống kịp thời nhờ giáo sư Marc Gentilini, người vừa trước đó đã tập hợp được các bác sĩ giỏi nhất để thành lập khoa bệnh nhiệt đới tại bệnh viện Pitié-Salpêtrière. Sau này, giáo sư trở thành chủ tịch Hội Chữ thập đỏ của Pháp.
4. Nấm
Trong thế giới rộng lớn và đầy hấp dẫn của các loài nấm, ta mới chỉ biết đến những loài nấm to, ăn được hoặc có độc: nấm xép, nấm mồng gà, nấm sò hoặc nấm tử thần.
Là những sinh vật vô cùng đa dạng, hiện hơn một triệu rưỡi loài nấm đủ mọi kích cỡ đã được thống kê trên hành tinh chúng ta. Loài nấm lớn nhất được tìm thấy trong các cánh rừng của Malaysia, đây là một loại nấm xép,
https://thuviensach.vn
cao tới mười ba mét bốn mươi lăm phân, mũ nấm có đường kính tới mười một mét mười lăm phân! Loài nấm nhỏ nhất chính là các loại nấm men, chúng chỉ có một tế bào.
5. Virus: những kẻ không thể nắm bắt
Đây là những sinh vật mà các nhà sinh vật học gặp khó khăn trong việc định nghĩa, phải thẳng thắn thừa nhận như vậy. Theo họ, trước hết đây là những sinh vật nhỏ bé: phần lớn có kích thước vào khoảng từ mười lăm đến bốn trăm… phần triệu mi li mét. Con người chỉ quan sát được chúng bắt đầu từ năm 1930 khi phát minh ra những chiếc kính hiển vi điện tử đầu tiên.
Nhưng, ngay sau đó, chính các nhà khoa học lại thêm rằng có những loại virus “to tướng” thậm chí có cả những loại virus “siêu to”. Vậy nói về virus ta phải dùng những tiêu chí nào? Và liệu có thể coi chúng là sinh vật hay không?
Một số đặc điểm dưới đây có thể cho định nghĩa về virus:
Virus được cấu tạo bởi một axít nucleic (DNA hoặc ARN) và các protein.
Virus không thể tự sinh sản: nó cần có một tế bào sống. Để sinh sản, nó bắt đầu bằng việc bám vào bề mặt tế bào sống đó. Sau đó, nó sẽ bơm axít nucleic của nó vào tế bào. Sau khi xâm nhập vào DNA của tế bào chủ, virus sẽ kiểm soát hoạt động của tế bào. Và tế bào sẽ ngoan ngoãn sản sinh mọi thứ virus cần để sinh sản và nhân bản. Sau khi nhân bản, virus có thể ra khỏi tế bào và lại xâm nhập tiếp vào một tế bào khác và cứ tiếp tục như thế không ngừng.
Virus phát triển không ngừng. Cách thức sinh sản của nó dẫn đến những “sai sót”. Việc sao chép dữ liệu di truyền của nó không bao giờ hoàn hảo.
Virus hiện diện ở mọi nơi. Và nhiều không đếm xuể. Cho đến nay, con người mới thống kê được mười nghìn loại. Nhưng con số này còn lâu mới phản ánh hết thực tế.
https://thuviensach.vn
Do virus không thể tồn tại nếu không xâm nhập (và đầu độc) một tế bào, nên định nghĩa chuẩn nhất về virus có lê là định nghĩa của Peter Medawar: “Virus là một mẩu tin xấu được gói trong một protein.” Thù hay bạn?
Theo trí tuệ dân gian (không phải lúc nào cũng đúng), với những câu nói hồ đồ kiểu như “không có lửa làm sao có khói” thì “vi trùng” đồng nghĩa với “bệnh tật”.
Nhưng cứ nói thẳng ra thế này: nếu không có thế giới của những vi sinh vật đó, sự sống có lẽ không bao giờ trồi lên khỏi mặt nước, và sự sống có lẽ cũng chẳng bao giờ tiếp nối được tới chúng ta.
Những vi sinh vật đó: virus, vi khuẩn hay các loài nấm
- làm sạch nước;
- sản xuất ra năng lượng;
- làm tơi đất;
- tái chế các chất hữu cơ;
- khởi động và điều tiết các chuỗi thức ăn;
- tổng hợp vô số các sản phẩm thiết yếu với con người, trong đó có vitamin và kháng sinh;
- cân bằng sự trao đổi và cạnh tranh giữa các sinh vật.
Ngoài ra, gần như lúc nào cũng lo lắng cho sức khỏe của chúng ta, chúng còn
- tiêu diệt hầu hết những kẻ tấn công chúng ta;
- đóng vai trò cốt yếu trong hoạt động của mọi cơ quan trong cơ thể chúng ta.
Một ý tưởng được Élie Metchnikoff thuộc Viện Pasteur đưa ra ngay từ những năm 1900 vẫn tiếp tục phát triển cho đến sau này; theo đó chúng ta
https://thuviensach.vn
mắc nợ cộng đồng hàng trăm nghìn tỷ con vi khuẩn cư trú trong ruột chúng ta không chỉ đơn thuần ở việc tiêu hóa thức ăn mà ta đưa vào cơ thể. Hệ vi sinh vật này còn tác động tới những căn bệnh như tiểu đường, béo phì, dị ứng, đến cả sự vận hành của não bộ: trầm cảm, tự kỷ, Parkinson, Alzheimer…
Vậy trong một đám đông hỗn loạn như vậy, làm sao biết được đâu là kẻ thù của chúng ta? Làm thế nào tách bạch được đặc tính thuần gây hại của từng loại trong vòng quay của bánh răng giữa cái sống và cái chết?
Và nếu trong quần thể khổng lồ đó có tồn tại một số loài ác tâm, thì bao nhiêu là bình thường về mặt thống kê? Nhưng dù kinh sợ đến thế nào, thì chúng ta cũng hãy duy lý, và đừng quên ca ngợi “vi trùng”: ta nợ chúng sự tồn tại của loài người!
Ta chỉ muốn được lợi không kèm bất tiện, ta muốn có bơ, tiền bán bơ, nụ cười của cô bán bơ, chứ ta không muốn cái nghiến răng đầy ghen tức của anh bán bơ bên cạnh.
https://thuviensach.vn
Hành tinh liên kết
Sống là liên kết. Có lúc êm dịu, nhưng thường là dữ dội.
Để tiếp tục sống, các loài sinh vật cần ăn các loài sinh vật khác, dù là động vật hay thực vật: ăn sinh vật khác sẽ cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.
Mối liên kết này được thể hiện dưới vô số hình thức. Từ gần gũi nhất tới xa xôi nhất. Từ chia ngọt sẻ bùi công bằng nhất tới bất công nhất. Ta biết rằng trong mọi xã hội, kể cả những xã hội vận hành bằng tình yêu, thì luôn luôn, hoặc gần như vẫn luôn có một người được lợi nhiều hơn người kia.
Chính trong những thỏa hiệp sống đó, vốn đa dạng (vô cùng) và thay đổi (liên tục), mà ta phân biệt được, để biết mình đang ở đâu, giữa cộng sinh, hỗ sinh và ký sinh.
Cộng sinh là một mối liên kết bắt buộc còn hơn cả hài hòa giữa hai cá thể: chúng không thể sống tách rời nhau, cá thể này không thể thiếu cá thể kia, hoặc nhóm cá thể này không thể thiếu nhóm cá thể kia, vì cuộc sống của chúng, vốn ít giả dối hơn chúng ta, không bị điều chỉnh bởi tôn giáo cặp đôi. Chẳng hạn, địa y là gì?
Để sống được ở những môi trường đầy thù nghịch (lạnh, hạn hán…), một cây nấm quyết định liên kết với một cây tảo.
Nấm nâng đỡ, bảo vệ và giữ nước; chúng tiết ra axít để phân rã các chất khoáng rồi hấp thu.
Đổi lại, tảo quang hợp và cung cấp dưỡng chất, chủ yếu là chất đường. Mối liên kết này đã chứng minh tác dụng của nó: hơn hai mươi nghìn loài địa y hiện đang có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Và chúng ta được chiêm ngưỡng chúng với vô số màu sắc rực rỡ: ôi, những bãi biển nhuộm địa y
https://thuviensach.vn
vàng rực dọc theo eo biển Beagle Channel! Ôi, những vệt màu đỏ đột nhiên xuất hiện trên mặt băng tuyết trắng xóa của Nam Cực!
Mối liên kết này lâu dài, cần thiết, hiểu theo nghĩa đen hẹp nhất của cụm từ “để sống”. Ly dị là chết. Chỉ nghĩ đến đó thôi là đã đủ để phần lớn chúng ta chùn chân trước ý nghĩ ra tòa.
Hỗ sinh là mối liên kết tự do. Không có nghĩa vụ bắt buộc, hai cá thể tự quyết định kết hợp sức mạnh để có thể sống sót được trong thế giới tàn nhẫn này.
Chỉ cần kể về sự đa dạng cũng như sự hiệu quả của dạng mối quan hệ này là ta đã có thể viết ra những cuốn sách đồ sộ nhất, và chắc chắn là cũng thuộc hàng tuyệt vời nhất.
Thay vì phải đơn độc đối mặt với những khốc liệt của cuộc sống, tại sao không sang sống cùng với láng giềng? Người đón tiếp bạn - mà đa phần là không biết, ta hãy gọi đó là vật chủ -, sẽ cho bạn ở nhờ, che chở cho bạn, và chở bạn đi vì bạn sẽ theo họ dù họ đi đâu nhưng lại không mất chút sức lực nào.
Ta hiểu rằng chiến lược ỷ lại này đã thành công đến thế nào. Ta đồ rằng chiến lược đó đã có từ muôn đời. Chẳng phải đến giờ ta mới biết là rất nhiều người trong số chúng ta vẫn ưa thích tiện nghi hơn là sự độc lập.
Ký sính (parasitism). Từ này có gốc từ tiếng Hy Lạp, là sự kết hợp giữa para, có nghĩa là “bên cạnh, gần”, và sitos, có nghĩa là “thức ăn”. Vào thời cổ đại, các gia đình phú gia thường có thói quen mời đến nhà những vị khách có thể giúp họ tiêu khiển: nhà thơ, nhạc sĩ, người mua vui, kẻ xu nịnh. Những con người ký sinh này được mời tiệc, và họ thanh toán bằng thứ tiền của riêng họ: đó là các bài thơ, điệu nhạc, câu chuyện hoặc những lời ve vuốt. Cách thức không thay đổi, chỉ có cách gọi là khác đi. Ngày xưa, để gọi tên một cá thể ký sinh, người ta dùng từ kẻ ăn bám. Ngày nay một từ khác rất chính xác vẫn còn được sử dụng, đó là từ kẻ ăn chực. Để có được cơ hội phát triển tốt nhất, kẻ ký sinh luôn thay đổi chỗ ở.
https://thuviensach.vn
Claude Combes, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới chuyên nghiên cứu về ký sinh trùng, đã đưa ra hàng nghìn ví dụ về câu chuyện chuyển chỗ ở* của chúng.
Sán lá là những loài ký sinh rất nhỏ. Sán Halipegus ovocaudatus chẳng hạn, vì muốn được bảo vệ, được ấm áp, giữ ẩm, nên đã chọn sống… dưới lưỡi của loài ếch xanh, một nơi ở đáp ứng mọi mong đợi của chúng.
Nhưng để khởi động chu trình sinh sản, chúng sẽ phải sớm rời bỏ cái tổ êm ái đó. Ấu trùng sán lá bị đuổi thẳng khỏi tổ và ném xuống nước. Không thích sự cô độc, nó nhanh chóng tìm cách ký sinh ở một vật chủ khác: một con nhuyễn thể nào đó. Sau vài lần cãi cọ, hoặc cơm không lành canh không ngọt, nó lại chuyển nhà, quay lại đầm nước. Nhưng mà ở đầm nước thì cũng lại vẫn ghét cô độc. Nên lại chuyển nhà, nhanh nhất có thể, lần này thì là một loài giáp xác nhỏ bé nào đó. Và lại nhanh chóng chuyển chỗ sang một con… chuồn chuồn, cũng đang ở giai đoạn ấu trùng.
Như dự tính, ấu trùng chuồn chuồn nở thành chuồn chuồn. Và trong lúc đó, ấu trùng sán nở thành sán. Mọi việc tưởng chừng ổn thỏa nếu bỗng một ngày không có một con ếch ghé qua. Và nhanh chóng chộp cả đôi vào họng. Và thế là Halipegus của chúng ta lại quay trở lại cái nôi gia đình thân thương ở dưới lưỡi con ếch xanh.
Loài nhện tí hon Histiostoma laboratorium thì lại thích ruồi. Để có chỗ ở và có đồng minh, nó không muốn loài nào khác. Vậy nên nó chẳng ngại ngần nhảy thật cao có thể để gặp con ruồi của mình. Và nó có thể bật cao tới năm xăng ti mét. Nếu tính tỷ lệ kích thước cơ thể, độ cao này tương đương với con người bật lên được ba trăm mét. Có người phụ nữ nào, đứng trên đỉnh tháp Eiffel, lại đủ sức cưỡng lại một người tình có thể tự nâng mình lên bằng cách đó để thể hiện ngọn lửa tình yêu?
https://thuviensach.vn
Bộ tứ khám phá
Mọi cuốn từ điển đều đưa ra hai định nghĩa cho từ “quatuor”. Nghĩa thứ nhất là tác phẩm tứ tấu, chỉ một bản nhạc sáng tác cho bốn nhạc cụ trình diễn (tứ tấu của Haydn, Mozart, Beethoven, Ravel, Schoenberg, v.v.).
Nghĩa thứ hai là một tập hợp: bốn nghệ sĩ trình diễn, không có họ thì bản nhạc cũng chẳng thể vang lên.
Đó là câu chuyện trong chuyến khám phá tiếp theo của chúng ta. Nếu ta thống nhất cho rằng khám phá cũng là sáng tạo, và rằng bất kỳ một khám phá đúng nghĩa nào cũng đều là một tác phẩm sáng tạo. Bọn họ có bốn người. Bốn nhà nghiên cứu. Cùng nhau, họ thúc đẩy tri thức tiến bộ. Cùng nhau, ý tôi ở đây là cùng một lúc, vì hai thành viên của bộ tứ không quen nhau, và không biết hai người còn lại. Hai người còn lại đó ban đầu là bạn, nhưng sau lại cũng chia cắt.
Một mối quan hệ hài hòa nhưng lại chia cắt thật lạ.
Thế nhưng, âm nhạc vẫn vang lên, thứ âm nhạc tri thức đang tiến bộ. Bốn trăm năm trước Công nguyên, Hippocrates đã mô tả chính xác các triệu chứng của bệnh sốt rét, một căn bệnh sốt dai dẳng và thường gây chết người. Hai mươi ba thế kỷ sau đó, không ai hay biết - hoàn toàn không hay biết - nguyên nhân của căn bệnh này là gì. Và bỗng nhiên, ánh sáng hé mở. Thủ phạm bị lật mặt. Hãy cùng chào đón bốn nhà điều tra của chúng ta, mỗi người lần lượt vén lên một phần bức màn bí ẩn.
Người đầu tiên trong bốn ngự lâm quân này là một nhà nghiên cứu người Cuba, sinh năm 1833 tại Puerto Principe (nay là Camagüey). Là bác sĩ, Carlos Finlay đã nghiên cứu về bệnh sốt vàng da, một căn bệnh thường xuyên hoành hành ở La Habana. Ngay từ năm 1870, ông đã đưa ra giả thiết
https://thuviensach.vn
virus sốt vàng da là do muỗi truyền. Giả thiết này được khẳng định mười năm sau đó khi vật chủ được xác định: muỗi Aedes.
Phát hiện của ông thật đúng lúc. Vào thời đó, công trường xây dựng khổng lồ ở eo biển chiến lược Panama đang được triển khai. Làm thế nào giữ đúng được tiến độ nếu công nhân bị sốt rét (do một loài muỗi khác - muỗi anopheles - truyền bệnh) và sốt vàng da? Đã có mười hai nghìn công nhân chết trong quá trình xây dựng đường sắt. Hai mươi hai nghìn người khác sẽ chết khi người Pháp cố đào kênh lần thứ nhất (1881-1889). Cứ như thể những con muỗi cái tự cho mình quyền ngăn cấm con người cắt châu Mỹ ra làm đôi: nếu tàu thuyền muốn từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, hay ngược lại, thì chỉ cần đi theo con đường truyền thống và vượt Mũi Sừng (Cape Horn) là được, nhưng con đường này đầy hiểm nguy. Trước khi bắt tay vào làm tiếp, Mỹ đã cử tướng Walter Reed tiến hành điều tra. Nghiên cứu của Finlay được công nhận. Cuộc chiến với loài muỗi được phát lệnh.
Trước khi tiếp tục công trình, cần phải chuẩn bị mặt bằng. Lấp ao hồ, làm kiệt nước ở bất kỳ vũng nào có nước, khử trùng, lắp lưới chống muỗi vào các cửa sổ, trang bị màn cho các nhà ngủ, cách ly mọi công nhân có bất kỳ triệu chứng nào dù là nhỏ nhất…
Nhờ thế mà kênh đào đã hoàn thành. Finlay, qua đời năm 1915, chỉ kịp nhìn duy nhất con tàu đầu tiên là một con tàu chở hàng của Mỹ tên là Ancon đi qua kênh vào ngày 15 tháng Tám năm 1914.
Có lẽ còn một niềm an ủi nữa với nhà bác học lớn này. Ủy ban Nobel đã bảy lần đưa tên ông vào danh sách đề cử. Và bảy lần, họ chọn một cái tên chiến thắng khác.
* * *
Người thứ hai có đóng góp quyết định vào việc hiểu về bệnh sốt rét là một nhà khoa học người Pháp, tên là Alphonse Laveran. Sinh năm 1845 tại Paris, ông lựa chọn đi theo con đường của cha mình, và trở thành bác sĩ
https://thuviensach.vn
quân y sau khi nghiên cứu về hiện tượng tái tạo dây thần kinh. Được bổ nhiệm làm việc tại Algérie, ông say mê nghiên cứu về bệnh sốt rét. Tại Constantine, khi quan sát mẫu máu của người bị bệnh sốt rét, ông phát hiện thấy những điểm đen và các tế bào có phần kéo dài dạng sợi giúp cho các điểm đen đó di chuyển (nhanh). Điều đó cho thấy người bệnh có chứa sinh vật sống trong cơ thể, một loại ký sinh trùng. Alphonse Laveran sẽ phát hiện ra ký sinh trùng Plasmodium falciparum, tác nhân gây ra mọi rối loại trong cơ thể của người mang nó.
Ngay từ tháng Mười một năm 1880, nhà bác học này đã gửi bài viết tới Viện Hàn lâm Y khoa. Bốn năm sau, ông công bố công trình Chuyên luận về bệnh sốt rét. Cộng đồng y khoa vẫn còn hoài nghi. Làm sao một căn bệnh lại có nguyên nhân nào khác ngoài vi trùng?
Một buổi sáng, Alphonse Laveran đến tìm Louis Pasteur và cộng sự đầu tiên của ông là Émile Roux, sau đó dẫn họ tới phòng thí nghiệm của mình ở Val-de-Grâce. Khi nhìn vào kính hiển vi, hai nhà khoa học chỉ còn biết chấp nhận một thực tế hiển nhiên: trong mẫu máu trải trên mặt kính, các vi sinh vật đơn bào đang quẫy đạp.
Ông liên tiếp đi đến những nơi đang có bệnh sốt rét hoành hành (vùng Roman Campagna, đảo Corse, vùng Camargue). Ông cũng nghiên cứu về bệnh ngủ trypanosoma.
Mùa thu năm 1907, giải Nobel đã được trao cho ông để “ghi nhận” những đóng góp từ nghiên cứu của ông về vai trò của các vi sinh vật đơn bào trong việc gây bệnh. Trong thời gian này, Laveran rời quân đội và công việc bác sĩ quân y để toàn tâm nghiên cứu. Ông vào làm tại Viện Pasteur và thành lập phòng nghiên cứu các bệnh nhiệt đới. Tại đây ông làm việc cùng ê kíp các nhà khoa học nổi danh là Calmette, Duclaux, Chamberland và Metchnikoff.
Ông nghiên cứu cùng nhóm cho đến khi qua đời (1922).
* * *
https://thuviensach.vn
Hai nhà khám phá còn lại bắt đầu mối quan hệ của mình bằng tình bạn, thậm chí có thể nói là tình thân gia đình.
Người lớn tuổi hơn cùng thời với Finlay và Laveran.
Patrick Manson sinh năm 1822 tại Aberdeen (Scotland). Sau khi học xong ngành y, ông quyết định đi Trung Quốc, chính xác là tới đảo Formosa, nơi ông được sở đoan thuê làm công việc kiểm tra dịch tễ các con tàu cập bến. Công việc này còn mang lại cho ông niềm vui được chữa bệnh cho người dân địa phương, thường là người nghèo. Để nói chuyện được với họ, ông học tiếng địa phương.
Bệnh chân voi là một căn bệnh do ký sinh trùng gây ra, chân và các cơ quan sinh dục ngoài của người bệnh sẽ bị sưng phồng lên - thường nhìn rất khủng khiếp. Phần bìu của người mắc chứng bệnh này có thể phình lớn và nặng đến mức người ta nhìn thấy có bệnh nhân phải chở chúng bằng xe cút kít. Nguyên nhân gây ra chứng bệnh này là do bạch huyết bị tắc nghẽn.
Được bổ nhiệm làm việc tại Hạ Môn, không xa Quảng Châu, Patrick Manson nhận thấy trong máu của người bệnh có những con giun chỉ siêu nhỏ. Ông nảy ra ý tưởng giải phẫu những con muỗi bắt được ở khu vực xung quanh nơi ở của người bệnh. Và ở đó ông cũng phát hiện đúng những con giun chỉ có trong máu của người bệnh. Kết luận đã rõ: khi muỗi chích và hút máu người bệnh, nó cũng hút luôn ký sinh trùng có trong máu. Và khi chích một con mồi khác, muỗi truyền luôn ký sinh trùng sang con mồi đó. Tác nhân truyền bệnh đã được xác định: muỗi!
Manson tự vấn: phải chăng muỗi cũng đóng vai trò trung gian truyền bệnh đối với bệnh sốt rét?
Với ý tưởng này, ông đã tìm hiểu các nghiên cứu của Laveran và bảo vệ giả thiết malaria mosquito hypothesis. Nhưng còn phải mô tả con đường lây truyền của ký sinh trùng từ người bệnh, muỗi lành truyền bệnh và người bị truyền nhiễm mới. Bí ẩn. Vi sinh vật đơn bào khó theo dõi đường đi hơn giun chỉ gây bệnh chân voi, và đỏng đảnh khó đoán hơn nhiều.
Đây là thời điểm Ronald Ross xuất hiện. Ông sinh vào một ngày đẹp trời năm 1857 tại Ấn Độ. Ngay sau khi học xong, ông từ bỏ giấc mơ trở
https://thuviensach.vn
thành nhà văn và vào làm tại sở Y tế Ấn Độ Indian Medical Service. Ông cũng say mê căn bệnh sốt rét. Ông cũng bắt đầu quan tâm đến thuyết chướng khí: liệu có phải phần đông người mắc bệnh đều sống ở những khu vực gần đầm lầy nước đọng? Nhưng ông cũng tìm hiểu các phát hiện của Laveran. Có vẻ khó phản bác được vai trò của ký sinh trùng. Ông dành toàn bộ sức lực để nghiên cứu vòng đời và con đường chúng lây truyền từ vật chủ này sang vật chủ khác.
Năm 1894, trong một lần sang London, ông đã gặp Manson. Hai người cách nhau ba mươi lăm tuổi. Một người đã lớn tuổi, nổi tiếng, được coi là bậc thầy về bệnh nhiệt đới. Còn người kia thì vô danh, hăng hái, khao khát vinh quang.
Vốn tính hào phóng, người anh lớn che chở người trẻ hơn dưới đôi cánh của mình, chia sẻ hết những gì mình biết về loài giun chỉ, vi sinh vật đơn bào và những loài ký sinh trùng khác.
Khi về Ấn Độ, Ross không ngừng viết cho Manson, Manson nhẫn nại trả lời và không ngừng cho lời khuyên, và động viên Ross những khi ông (thường xuyên) rơi vào trầm cảm. Những trao đổi thư từ dày đặc - và thân thiết - giữa họ là điều chưa từng có trong lịch sử khoa học.
Ross tập trung vào giải phẫu muỗi. Ông cho rằng chính qua giải phẫu muỗi mà mình có thể hiểu được sự phát triển của ký sinh trùng, chứ không phải từ cơ thể người bệnh. Nhưng phải bắt được những con muỗi chuẩn (muỗi thì có vô số loài nhưng những loài có thể chứa vi sinh vật đơn bào lại hiếm)!
Năm 1897 bắt đầu không thuận lợi cho Ross. Đến lượt ông bị mắc sốt rét. Chưa khỏi hẳn thì ông lại mắc tả.
Nhưng ngày 20 tháng Tám, sự cứng đầu của ông cuối cùng cũng đã được đền đáp. Ngày này đã trở thành “The Mosquito Day”, Ngày của Muỗi. Hôm đó, Ross chỉ còn có hai con muỗi. Trên bề mặt dạ dày của chúng, ông phát hiện thấy những hạt tròn nhỏ gần như hoàn hảo, một hình dạng rất bất thường nếu đó là tế bào.
https://thuviensach.vn
Hôm sau, ông lại thấy những hạt tròn đó, nhưng kích thước của chúng đã tăng gấp đôi.
Như vậy, thành dạ dày của những con muỗi đã được ký sinh trùng chọn làm nơi sinh trưởng tuyệt vời.
Trước khi gửi bài cho tạp chí y khoa Anh quốc British Medical Journal để công bố phát hiện của mình, Ross đã viết một bài thơ tạ ơn Chúa.
“This day relenting God
hath placed within my hand
a wondrous thing. (…)
I know this little thing
a myriad men will save,
O Death, where is thy sting?”
(“Ngày hôm nay, Chúa đã không nao núng đặt vào tay tôi một thứ diệu kỳ. (…) Và tôi biết rằng thứ nhỏ bé đó sẽ cứu sống hàng chục nghìn con người. Ôi thần Chết, cây giáo của ngươi ở đâu?”)
Sau khi tạ ơn Chúa, Ross tôn vinh người thầy của mình: “Những quan sát của tôi khẳng định lý thuyết xuất sắc về loài muỗi của tiến sĩ Manson. Tôi chỉ làm một việc là đi theo hướng mà ông đã chỉ ra.”
Nhưng sự biết ơn này không kéo dài được lâu.
Không lâu sau đó, Ross chọn cho mình một nguồn cảm hứng khác xa hơn, tức là bớt phiền phức hơn cho vinh quang của mình: Alphonse Laveran. Và khi phải chọn giữa Manson và Ross, hội đồng xét chọn giải Nobel đã nghiêng sang Ross. Đúng là nhờ Ross mà chúng ta mới có được một bản mô tả đầy đủ những mối quan hệ còn hơn cả mật thiết giữa vật chủ muỗi và kẻ chiếm đóng háu ăn là vi sinh vật đơn bào kia . Những trò chơi bắt cặp của chúng sẽ không có gì thú vị với chúng ta nếu muỗi không nảy ra ý định tồi tệ là truyền vị khách ký sinh từ mình sang người bị nó chích, ở
https://thuviensach.vn
phần sau, ta sẽ hiểu cơ chế hiểm ác nào đã khiến căn bệnh khủng khiếp được truyền đi.
Giống như trên sân khấu kịch, thảm kịch bắt đầu từ đây: khi chuyện hai người (muỗi/người) trở thành câu chuyện ba người (muỗi/ký sinh trùng/người).
https://thuviensach.vn
Chuyện ba người
Kẻ nào phải chịu trách nhiệm về mọi nỗi đau của chúng ta? Nước bọt. Ngoài chất chống đông để dễ hút máu, nước bọt của quý bà muỗi anopheles còn có cả ký sinh trùng. Khi chích chúng ta, nó truyền cả nước bọt và có thể cả ký sinh trùng chứa trong đó.
Mặc dù đông đúc - mỗi lần chích, muỗi truyền khoảng năm mươi ký sinh trùng -, nhưng thoạt tiên chúng có vẻ không thực sự đáng lo: đó chỉ là những vi sinh vật chứa một tế bào duy nhất dạng sợi.
Than ôi, chúng lại có hai cái tài. Len lỏi khắp nơi, và sinh sản với tốc độ vô song.
Khi xâm nhập vào máu người bị chích, ký sinh trùng sẽ lao thẳng đến mục tiêu của mình: một cái chạn thức ăn mà nó hằng mơ ước, buồng gan. Nó sẽ xâm nhập vào tế bào gan. Bám rễ vào đó, thoải mái tiện nghi. Và thoải mái đến mức nó quyết định sinh sôi.
Tế bào gan quả là đáng thương!
Một kẻ xâm nhập, nó còn chấp nhận được. Nhưng cả trăm, thậm chí hàng nghìn kẻ? Và chúng lại còn không tách rời mà chồng đống lên nhau, tạo thành khối, sinh sôi nảy nở. Bạn nghĩ điều gì sẽ xảy đến với tế bào gan bất hạnh đó?
Nó vỡ ra. Và giải phóng ra xung quanh, nghĩa là vào trong máu, cả đám ký sinh trùng chứa trong mình; và đám ký sinh trùng lại tấn công tiếp sang các tế bào gan khác.
Buồng gan bắt đầu yếu đi. Cuồng loạn và hiểm ác, lũ ký sinh trùng vẫn tiếp tục tăng tốc.
Xâm nhập được vào trong máu, chúng sẽ tiếp tục tấn công hồng cầu. Tại sao hồng cầu lại thành mục tiêu mới?
https://thuviensach.vn
Vì ký sinh trùng đâu có ngu ngốc. Chúng không ngất ngây bởi chiến thắng ban đầu. Chúng đồ rằng cơ quan mà chúng xâm chiếm ban đầu sẽ có phản ứng. Trong khi hồng cầu lại không có hệ miễn dịch. Làm sao bọn ký sinh trùng biết được điều này? Một điều bí ẩn. Nhưng lúc nào chúng cũng chọn được nơi trú ẩn tốt cho mình. Một lý do khác để chúng tấn công hồng cầu: ở đó có đầy huyết sắc tố (hemoglobin). Món ăn yêu thích của loại ký sinh trùng này, hẳn chúng là họ hàng xa của đám ma cà rồng ở dãy Carpat… Một cuộc xâm chiếm mới bắt đầu.
Mỗi con ký sinh trùng chiếm một tế bào hồng cầu. Được ăn uống phủ phê, nó phát triển. Và nhanh chóng chia tách, rồi lại tiếp tục chia tách. Chúng nhanh chóng xâm chiếm toàn bộ không gian. Tế bào hồng cầu cũng không may mắn gì hơn tế bào gan: nó vỡ ra, và giải phóng một thế hệ ký sinh trùng mới. Thảm kịch cứ thế tái lặp cùng lúc hàng nghìn lần, với cùng một kịch bản: ngày xửa ngày xưa có một con ký sinh trùng muốn biến tế bào hồng cầu thành một bữa tiệc.
Mỗi tế bào hồng cầu bị vỡ đều giải phóng độc tố và độc tố được truyền đi khắp cơ thể qua vòng tuần hoàn máu. Lúc này thì con người bắt đầu thấy khó ở: rét run, toát mồ hôi, buồn nôn, mệt mỏi… Đó là đợt sốt đầu tiên. Rồi nhiều đợt sốt khác sẽ tiếp nối.
Vì bọn ký sinh trùng, ngày càng đông đúc, vẫn tiếp tục xâm chiếm các tế bào hồng cầu khác. Nhưng điều chúng e ngại rồi cũng xảy ra. Cơ thể người bị muỗi chích cần thời gian, thậm chí cần rất nhiều thời gian, để cuối cùng có thể phản ứng lại.
Thời kỳ vàng son của ký sinh trùng đã tàn.
Tế bào hồng cầu bắt đầu ngăn cản bọn xâm nhập chia tách sinh sôi. Nhưng cũng không được lâu, vì bọn ký sinh trùng lại có chiến lược mới!
Và, thưa các nam nữ độc giả yêu quý, đến đoạn này chúng ta sẽ phải đỏ mặt, nên hãy nhanh chóng cho bọn trẻ đi ngủ, vì chúng ta sẽ nói đến thế giới thần diệu và ngất ngây của… tình dục.
https://thuviensach.vn
Cho đến giờ, chẳng cần phải giao cấu mới sinh sôi được. Chỉ cần nhẹ nhàng yêu cầu nhân tế bào tự chia tách.
Bọn ký sinh trùng, lúc này vẫn đang yên ấm trú ngụ trong tế bào hồng cầu, bắt đầu một cuộc hóa thân kỳ diệu: chúng tự biến thành những tế bào có khả năng trở thành tế bào đực hoặc tế bào cái ở thời điểm phù hợp. Nhưng để hoàn thành được cuộc hóa thân vĩ đại đó, chúng còn cần phải tìm được một môi trường phù hợp. Tế bào hồng cầu đã trao tặng tất cả những gì nó có, và còn hơn thế.
Nhưng cần phải tốt hơn.
Và cần phải nhiều hơn.
Chính lúc này muỗi xuất hiện trở lại.
Thật ra là nàng muỗi, con mà ta đã thấy ở phần trước, vì nó vẫn cần máu tươi để nuôi lớn những quả trứng mang trong bụng.
Khi hút máu từ người đã nhiễm bệnh, nó cũng hút luôn vào cơ thể mình các tế bào có chứa ký sinh trùng.
Cám ơn nàng muỗi: ở đây dù chật hẹp, bọn ký sinh trùng không thể tìm được nơi nào khác êm dịu và thuận lợi hơn để hoàn thành công cuộc chuyển từ giai đoạn đơn tính dù tiện nhưng buồn tẻ sang thế giới, mệt nhọc nhưng đầy hào hứng, của loài đực và loài cái.
Phần tiếp theo, các bạn biết rồi đó.
Hàng trăm tế bào đực xoắn hết cả lên khi một tế bào cái xuất hiện. Tay đực nào nhanh nhất, hoặc duyên dáng nhất, hài hước nhất, thông minh nhất sẽ quyến rũ được tế bào cái. Từ sự kết hợp này sẽ ra đời hàng nghìn ký sinh trùng mới, chúng tiếp tục vội vã tìm đường đến tuyến nước bọt của con côn trùng vật chủ.
* * *
https://thuviensach.vn
Đây là lý do ta cần phải biết tuổi của muỗi. Nếu nó còn trẻ, chưa đến năm hoặc sáu ngày tuổi, ký sinh trùng chưa kịp hoàn thành sự phát triển của mình cũng như đi tiếp lên tuyến nước bọt của vật chủ. Con muỗi có bị nhiễm bệnh cũng chẳng hề gì, nó vẫn chích người. Nhưng không truyền gì cả.
https://thuviensach.vn
Chiến lược của kẻ không thể nắm bắt
Thầy giáo địa chất của tôi có cái họ rất hay, gần như định mệnh: thầy Graviou. Và để khẳng định thêm định mệnh, nếu tôi có thể nói như vậy, để ông nhất mực đi theo thiên hướng của mình, cha mẹ ông đặt tên cho ông là Pierrick. Ngoài những phẩm chất khác, Pierrick Graviou còn có biệt tài ít ai có là giải thích được những cơ chế rất phức tạp, cho người ta nhìn thấy những điều bí ẩn gần như thần bí nhất.
Chẳng hạn, để cho tôi hiểu được điều nằm ngoài tầm hiểu biết của tôi, độ dài của “các kỷ địa chất”, thầy nói tôi làm phép tính sau: “Chắc em sẽ ngạc nhiên, như mọi người, khi biết một dòng sông nhỏ bé như sông Seine có thể tạo nên một lưu vực rộng lớn đến vậy. Em hãy thử nghĩ xem. Dòng sông đã bào mòn những bờ vách lớn đến mức nào? Không quá ba trăm mét. Lấy ba trăm mét này chia cho một trăm nghìn năm chẳng hạn. Và em sẽ thấy: cứ một nghìn năm mới bào mòn được ba mét, tức là 0,3 mi li mét mỗi năm. Rất khiêm tốn, nếu chúng ta xem xét kỹ.” Didier Fontenille, giáo sư dạy về loài muỗi, tối hôm đó cũng nói với tôi những điều tương tự.
“Một ‘thế hệ’ loài người kéo dài bao lâu? Thường người ta lấy con số hai mươi lăm năm, tuổi một người bắt đầu có con và trở thành cha mẹ. Sau đó, bọn trẻ lớn lên, sinh con đẻ cái và chu trình cứ thế tiếp diễn. Nhưng một ‘thế hệ’ loài muỗi kéo dài bao lâu? Vòng đời hoàn chỉnh của muỗi, từ khi là trứng đến khi chết: một tháng rưỡi. Tính rộng ra là như vậy. So sánh với loài người cũng đơn giản thôi. Trong một thế kỷ, loài người trải qua bốn thế hệ. Loài muỗi: bảy thế hệ một năm, nhân với một trăm lần. Ta có: bảy trăm thế hệ!
“Phép tính này khiến ta phải suy nghĩ. Bảy trăm thế hệ! Từng đấy cơ hội để nâng cao khả năng thích nghi với môi trường luôn thay đổi bởi hiện tượng biến thể và tái cấu trúc di truyền.
https://thuviensach.vn
“Trong khoảng thời gian tính từ lần biến thể này đến lần biến thể khác, từ thời điểm nào ta có thể nói đến sự ra đời của một ‘loài mới’? Từ thời điểm mà việc kết hợp giữa một cá thể với một cá thể khác cùng loài nhưng không có cùng một chu trình biến thể trở nên ngày càng khó.
“Tốc độ biến thể - quá nhanh - của loài muỗi làm thay đổi hẳn tình thế. Cần phải nhìn nhận lịch sử loài muỗi như một sự tiến hóa thường trực, về khả năng thích nghi, có thể nói loài muỗi có ưu thế vô song so với loài người chúng ta.
“Ở virus, tốc độ biến thể còn kinh hoàng hơn. Chúng ở trong hai trạng thái, hoặc ngủ, hoặc thức. Đột nhiên sự điên cuồng xâm chiếm chúng, và chúng có thể biến thể cứ… mười lăm ngày một lần.
“Con người chúng ta sở hữu các cơ quan chậm. Chậm đạt được độ chín, chậm quyết định cái chết. Và, do vậy, chậm thích nghi. Đây là điểm yếu của chúng ta so với các loài nói trên. Với sự phản ứng ‘chậm’ đó, mà chúng ta mơ ước chậm đến thiên thu, rõ ràng chúng ta khó có thể hình dung một vòng đời tiến hóa liên tục.
“Chúng ta đã chấp nhận Darwin, không phải là không có khó khăn, một Darwin với sự không bình lặng của mình, một Darwin với sự bất tiện mà ông từng mô tả, một Darwin với sự thật gây mất lòng, rằng chẳng gì có thể là thành tựu vĩnh viễn và rằng cuộc sống là một khu rừng rậm tiến hóa không ngừng với những tiến hóa có tác động qua lại lẫn nhau. Và chúng ta còn khó khăn hơn nữa khi phải chấp nhận một điều là trong những tiến hóa đó của cuộc sống,
Có những tiến hóa mà tốc độ đã được đẩy nhanh hơn rất nhiều. Hãy cho chúng ta thời gian - chúng ta thích yêu cầu thời gian - tên đao phủ của sự sống - để thích nghi. Nhưng than ôi, tên đao phủ lạnh lùng đó thường chẳng mấy bận lòng.”
https://thuviensach.vn
Tưởng nhớ các nhà côn trùng học và những người đồng hành
Côn trùng học là ngành khoa học nghiên cứu về côn trùng, và nhà côn trùng học là bác học về những con vật bé nhỏ đó.
Sự uyên bác của họ có được từ một niềm đam mê, và thường là niềm đam mê từ thuở nhỏ.
Chính từ khu vườn, nghĩa là ở nông thôn, mà ngay từ nhỏ họ đã mê mẩn khám phá những công dân bò ngoằn ngoèo, bay vèo vèo, nhanh thoăn thoắt len lỏi rình mò.
Đó có thể là một cái vợt được tặng hồi sinh nhật tám tuổi. Thay vì ô tô cứu hỏa hay bộ đồ người Sao Hỏa, quà tặng Giáng sinh lại là một… con bướm nữ hoàng. Cái tên này dành cho một loài bướm lớn sặc sỡ có màu vàng, đen, xanh và đỏ.
Đó có thể là một người ông hay dẫn cháu đi câu và dạy cách bắt châu chấu làm mồi.
Đó có thể là một câu chuyện du ký kể về những chuyến đi xa xôi đến tận những nơi có các cơn sốt khủng khiếp hoành hành.
Và về sau, đến khi phải chọn lựa một nghề nghiệp cho mình, cậu bé thuở đó phải tranh luận căng thẳng với những vị phụ huynh vốn chẳng tin nổi người ta có thể kiếm sống chỉ nhờ vào việc quan sát bọn ruồi hoặc lũ bọ hung.
Và về sau này nữa, niềm đam mê có thể được khơi gợi từ một lần đi nghĩa vụ quân sự tận xứ Madagascar, nơi có đến bảy mươi phần trăm sinh vật sống có thể phát triển tự thân mà không cần tiếp xúc với phần còn lại của thế giới.
Đó cũng có thể là khi người ta quyết định theo học ngành y, và trong quá trình học lại phát hiện ra thế giới kỳ lạ và lúc nhúc của lũ ký sinh trùng.
https://thuviensach.vn
Thế đó, có hàng ngàn cách để người ta trở thành, như François Rodhain, một giáo sư côn trùng y học (một người thầy vô song, một người đánh thức sự tò mò không biết mệt mỏi). Như Didier Fontenille, viện trưởng Viện Pasteur Phnom Penh (một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về loài muỗi). Hay như Frédéric Simard, người phụ trách trung tâm nghiên cứu có cái tên rất huyền bí MiVEGEC: viết tắt tiếng Pháp của Trung tâm nghiên cứu Bệnh truyền nhiễm và vật chủ trung gian, sinh thái học, di truyền học, tiến hóa và kiểm soát. Còn chưa kể tới bà chủ trang trại người Trung Hoa từng Ở Tahiti hiện sống tại phố Vaugirard mà ta đã nhắc tới, và nhắc tới ở đây với tên gọi chính thức khoa học hơn “giám đốc đơn vị nghiên cứu về ‘virus lây truyền qua động vật chân đốt, côn trùng, vật chủ trung gian’ Anna-Bella Failloux.
Ít người khiến cho người nghe say mê được như họ.
Vậy tại sao người ta lại ít quan tâm đến ngành “côn trùng y học” như vậy?
Tại sao lại có ít nội dung giảng dạy như vậy? Tại sao trong sách giáo khoa y khoa lại có ít trang về “trung gian truyền bệnh” như thế? Có sự thờ ơ như vậy hẳn là do thái độ khinh miệt và ngạo mạn một cách ngu ngốc khiến con người cho rằng mình không phải động vật như các loài khác.
Ngành côn trùng học muôn năm, vâng, muôn năm! Và trước hết là bởi ngành khoa học này hiểu rõ rằng ranh giới của các loài mỏng manh đến thế nào!
Kể cả khi, hiểu rõ hơn các chuyên gia côn trùng học, ta phát hiện ở họ một số điều đặc biệt chỉ riêng họ mới có.
Một ngày mùa xuân đẹp trời, François Rodhain dẫn Françoise, vị hôn thê trẻ măng của mình, và cũng là bác sĩ, vào khu rừng vùng Tours. Ông mở cốp xe và lấy ra một tấm chăn lớn màu trắng. Sẽ là một buổi chiều tuyệt vời đây, người phụ nữ đang yêu tự nhủ. Nhưng cô sớm thất vọng: bác sĩ trải tấm chăn ra, nhưng không phải để làm điều mà người phụ nữ trẻ và độc giả hy vọng, mà chỉ để bắt những con bọ ve có trong rừng.
https://thuviensach.vn
Thế bạn có biết Didier Fontenille đi nghỉ trăng mật ở đâu không? Giống François Rodhain, cũng ở trong rừng, nhưng không phải dành cho mấy việc vớ vẩn. Không hề, ông năn nỉ người vợ trẻ của mình, là giáo viên tiểu học, giơ chân và tay trần của mình để dụ muỗi (ở Madagascar). Nhờ vậy mà ông có thể tha hồ bắt muỗi đến tận sáng, để sau đó mang về phòng thí nghiệm làm thống kê các loài và ký sinh trùng có trên từng con muỗi…
Tình yêu dẫn người ta đến tận đâu?
Tìm câu trả lời cho câu hỏi này sẽ khiến ta đi quá xa chủ đề chính, nên hãy chỉ dừng lại ở một ý thôi: đâu là bằng chứng của tình yêu? Hẳn là chấp nhận mọi sở thích kỳ cục của một ông chồng côn trùng học.
* * *
Vào buổi chiều cuối tháng Năm, ta bắt gặp những con mưa đầu mùa trên dòng Mekong. Ngôi nhà gia đình Fontenille thuê hướng ra bờ sông. Trong cảnh tranh tối tranh sáng dần lan tỏa, có những tia sáng lấp lánh như tới thắp sáng cho mặt nước. Đó là những ngư dân đang buông lưới đánh cá. Do ô nhiễm, do những đập nước được xây dựng ngày càng nhiều ở đầu nguồn, cá ngày càng ít đi. Dù tuổi cao, nhưng tai tôi vẫn đủ thính để nghe thấy những tiếng rì rì nho nhỏ đầy khó chịu mà tôi bắt đầu quen. Bọn muỗi anopheles đã đến giờ ăn tối. Thực ra, tôi phải vào trong nhà để tránh muỗi, nhưng tôi lại không dám. Với lại, có người bạn lớn Didier của chúng ở đây, tôi tự nhủ, bọn muỗi chẳng đời nào dám chích tôi đâu.
Marielle thì thầm vào tai tôi:
“Anh ấy chẳng bao giờ nói với anh đâu, nhưng tên của chồng tôi được đặt cho ba loài muỗi đấy.”
Và nói thêm:
“Aedes Neomelaniconion fontenillei, Orthopodomyia fontenillei, Toxorynchites fontenillei.”
https://thuviensach.vn
Thế là ông chồng ngượng ngùng miễn cưỡng giải thích:
“Nhà nghiên cứu phát hiện ra một loài mới sẽ chẳng dám tự lấy tên mình đặt cho nó đâu. Họ sẽ ‘dành tặng’ việc này cho người nào họ thấy xứng đáng. Đồng nghiệp của tôi đã trao cho tôi vinh dự này. Thực ra, tôi đã để các đồng nghiệp khác nghiên cứu một loài muỗi thuộc chi anopheles: loài ovengensis. Và ba loài thuộc chi Aedes albodorsalis (do chúng có phần lưng màu trắng), mathioti và masoalensis…”
Liệu một ngày nào đó, có một loài sẽ mang tên của Marielle chăng? Nếu vậy, tôi sẽ xin ký vào thỉnh nguyện thư: vì sự vinh quang của ngành côn trùng học, người phụ nữ dũng cảm này, noi gương Françoise Rodhain, đã hiến dâng thân mình cho khoa học!
https://thuviensach.vn
PHẦN HAI Chúng sống ở đâu?
https://thuviensach.vn
Thời đại đồ đá mới
Tôi sẽ dẫn bạn đi.
Trước tiên tới Lưỡng Hà, tám nghìn năm trước Công nguyên. Vùng đất nằm giữa sông Tigris và sông Euphrates, mà ngày nay là Syria, là Irak, là chiến tranh, nơi ngày xưa đã từng chứng kiến sự phát triển của nền văn minh rực rỡ nhất, có lẽ chính từ đây mọi thứ đã bắt đầu. Bởi ta không bao giờ được nhầm lẫn điểm khởi đầu của lịch sử. Nhầm sẽ không có bước đà, nhầm sẽ không thể có bước lùi để mà chọn đúng bước tiến.
Và từ nay tôi biết rằng lịch sử thực sự của loài muỗi bắt đầu từ thời đại đồ đá mới.
“Thời đại đồ đá mới” gọi theo tiếng Hy Lạp là “neolithic”. Chính ở thời kỳ này của lịch sử, con người đã phát triển hoàn thiện kỹ thuật đẽo gọt, mài nhẵn đồ đá. Chính vào thời kỳ này, tại vùng đất hình lưỡi liềm màu mỡ đó, nền nông nghiệp ra đời. Thay vì chỉ hái lượm, và săn bắt, thay vì chỉ lấy đi, con người học cách trồng trọt từ hạt và nuôi thuần hóa các loài thú.
Về sau này, nhiều cái nôi của “sự hiện đại” này cũng xuất hiện ở các nơi khác, châu Âu, Nam Á, chắc hẳn là qua các luồng di cư từ từ. Những vận động tương tự cũng được ghi nhận ở Peru, Mexico, vốn không có bất kỳ tiếp xúc nào với cư dân vùng đất hình lưỡi liềm.
Vốn dĩ lười biếng, thực ra là rất thích tóm tắt, giản lược và nhanh gọn, nên ta thường hay nói tắt thành “cách mạng đồ đá mới”, trong khi thực ra phải dùng từ “tiến hóa” mới đúng. Hẳn nhiên, phải cần hàng nghìn năm mới phổ biến được các phương thức sản xuất nông nghiệp, phải dò dẫm, trải qua nhiều thất bại, đạt được những tiến bộ, và không tránh được những bước thụt lùi.
https://thuviensach.vn
Nhưng, quan hệ giữa con người và môi trường đã thay đổi: từ chịu đựng, con người muốn thống trị môi trường. Quan hệ giữa con người với các loài động vật cũng đảo lộn: từ săn bắt, con người thuần hóa chúng. Và mối gắn kết trở nên chặt chẽ hơn: từ nay, con người sống cùng với đàn dê, đàn cừu, đàn bò… của mình.
Để trồng trọt, cần phải vỡ hoang. Thế là lại phải đuổi cư dân của cánh rừng bên cạnh đi nơi khác. Có vẻ như bệnh dịch đầu tiên tấn công loài người là bệnh sởi, cách đây… tám nghìn năm. Bệnh dịch này lây lan từ hai con bò bị mắc một loại bệnh kiểu như dịch hạch.
Từ thời Lưỡng Hà đến nay, chẳng có gì thay đổi.
Ngoại trừ tốc độ phá rừng tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu của những con người ngày càng trở nên đông đúc và ngày càng đổ dồn về các thành phố.
Giờ ta hãy đi thăm Jean-François Saluzzo, Pierre Vidal và Jean-Paul Gonzalez, những nhà sử học lớn nghiên cứu về sự phát triển của virus*.
Bán đảo Triều Tiên, năm 1950.
Một phong trào phát triển sản xuất lúa gạo lớn được khởi động. Hân hoan trước tin vui, lũ gặm nhấm bắt đầu sinh sôi nảy nở. Chúng mang virus trên mình, nhưng chẳng hề thấy bất tiện chút nào: hai bên đã thích nghi với nhau. Tiến hóa cùng nhau. Nhưng một ngày đẹp trời, bọn virus vượt biên và xâm nhập cơ thể người. Vốn vô hại đối với loài gặm nhấm, virus truyền sang cơ thể người lại gây cho chúng ta chứng xuất huyết đáng sợ. Nếu dịch bệnh chỉ lây lan trong phạm vi những người nông dân trồng lúa địa phương, hẳn báo chí quốc tế không mấy bận lòng. Nhưng rất nhiều người mắc bệnh lại là lính Mỹ tham chiến tại bán đảo Triều Tiên trong một cuộc chiến khủng khiếp chống lại quân Trung Hoa và Liên Xô…
Và Saluzzo, Vidal và Gonzalez đã định nghĩa rất chuẩn: thế nào là bệnh dịch mới nổi? Đó là căn bệnh bắt đầu tấn công các nước giàu.
https://thuviensach.vn
Argentina, năm 1953.
Một loại sốt xuất huyết khác. Nó tấn công các công nhân nông trường. Năm nghìn người chết mỗi năm. Lần này, lịch sử lại gắn với cây ngô. Giống như ở bán đảo Triều Tiên, nhờ sử dụng ồ ạt thuốc diệt cỏ, năng suất ngô tăng lên, thu hút rất nhiều loài gặm nhấm, phần lớn đều mang một loại virus nào đó, an toàn cho chúng nhưng nguy hiểm cho con người. Khi còn chưa đông và còn sống trong rừng, chúng không gây nguy cơ gì đối với con người. Nhưng lúc hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp tăng lên là lúc mọi thứ thay đổi.
Tiến bộ kỹ thuật muôn năm! Ai mà không hân hoan chào đón sự ra đời của máy gặt đập liên hợp, giải phóng người nông dân khỏi bao công việc nặng nhọc? Nhưng những cỗ máy kỳ diệu đó, khi làm thay công việc của con người, cũng nghiền luôn các loài gặm nhấm, làm các mảnh thân thể chúng bắn đi chỗ này chỗ kia, kèm theo cả phân của chúng, phần nhiễm khuẩn nặng nhất. Chỉ cần hít thở không khí thoáng đãng của vùng quê thôi cũng đủ khiến người ta ngã bệnh.
Hoa Kỳ, năm 1993.
Dịch viêm phổi bất ngờ tấn công vào vùng đất xưa thuộc về người da đỏ Navajo, nằm giáp ranh với bốn bang: Utah, Colorado, Arizona và New Mexico. Cùng một nguyên nhân: vụ ngô bội thu đã thu hút loài gặm nhấm tới và chúng sinh sôi nảy nở ở đó.
Câu chuyện rừng thẳm
Và dưới đây là câu chuyện Didier Fontenille kể với chúng tôi vào một buổi tối tháng Năm đẹp trời, trong ngôi nhà bên bờ sông Mekong. Hãy nhớ rằng đây là câu chuyện về toàn cầu hóa, mặc dù các thiên đường thuế chẳng có vai trò gì ở đây, mặc dù nhân vật chính không phải Bill
https://thuviensach.vn
Gates cũng chẳng phải Donald Trump, mà là những con khỉ và những con muỗi.
Nơi bắt đầu câu chuyện chính là trái tim của rừng thẳm.
Ngày xửa ngày xưa, trong một cánh rừng như vậy, ở châu Phi hay châu Á không quan trọng, có một con khỉ. Một con virus đã thâm nhập vào cơ thể nó không biết từ khi nào và vào lúc nào. Con khỉ rồi cũng quen với sự có mặt của con virus. Dù ta không có mặt để kiểm chứng, nhưng có thể nói khỉ và virus chung sống với nhau một cách hòa thuận.
Một ngày kia xuất hiện một con muỗi cái. Như mọi con muỗi cái, nó chỉ bị ám ảnh bởi một điều: hút máu để nuôi lớn các quả trứng của mình. Con khỉ đi ngang qua. Muỗi liền chích nó, và hút luôn con virus theo cùng máu khỉ. Vẫn còn thèm, muỗi tìm một con khỉ khác. Sao lại phải nhịn một bữa ăn làm gì? Một lần nữa, nó chích con khỉ mới tìm được, và truyền virus ký sinh sang con khỉ này. Một con muỗi khát máu nữa xuất hiện, nó chích con khỉ thứ hai. Và cứ thế tiếp tục vòng tròn rừng thẳm giữa những con khỉ và những con muỗi. Chỉ còn thiếu mỗi âm nhạc để đệm cho hoạt động trao đổi vui vẻ này. Hoặc có khi có nhạc mà chúng ta không chú ý đủ để nghe thấy. Vì, ở mọi cánh rừng già, bao giờ cũng có tiếng chim hót.
Vòng tròn này tiếp diễn rất lâu, hàng năm trời, hàng thiên niên kỷ. Chẳng làm phiền lòng bất kỳ ai.
Bỗng một ngày, vòng tròn mở rộng thêm bởi một trong ba lý do sau đây.
Khả năng thứ nhất. Một người hiếu kỳ, hoặc người thợ săn, đi vào rừng. Ơ, con muỗi cái tự nhủ, sao không thử hút máu sinh vật hai chân kỳ lạ này nhỉ, thử thay đổi khẩu vị hằng ngày xem sao? Nghĩ là làm, và nó tặng luôn virus cho người đó. Về làng, hoặc về phố, con người hiếu kỳ kia, hoặc ông thợ săn kia, mang theo về cả con virus. Bọn muỗi khác tiếp tục chích người đó và truyền virus từ con khỉ ban đầu cho mọi người dân trong làng, hoặc trong phố.
Khả năng thứ hai. Một ngày đẹp trời, con khỉ chán sống trong rừng. Nó muốn cái gì đó mới mẻ, nên rời bỏ tán cây to quen thuộc và thận trọng tiến
https://thuviensach.vn
về phía ngôi làng, thậm chí nó còn mạo hiểm mò đến tận rìa thành phố. Một con muỗi cái phát hiện ra nó. Vì nếu chẳng mấy khi có báo hay heo vòi, tê giác đi vào tận các khu dân cư thì muỗi lại chẳng hiếm, chúng có ở khắp nơi, muỗi rừng, muỗi đồng và thậm chí cả muỗi phố. Con muỗi cái bỗng thấy thèm hút máu con vật đuôi dài mới xuất hiện. Nó liền chích con khỉ và hút luôn cả virus. Và nó tặng con virus đó sang cho người qua đường, nam hay nữ, mà nó cần máu cho bữa ăn tiếp theo.
Khả năng thứ ba của câu chuyện, và lần này là một phiên bản đẹp cho nàng muỗi. Sao lại phải buồn bã ở nơi rừng thẳm làm gì? Quý bà Bovary muỗi quyết định nghỉ một ngày, hăm hở đập cánh bay sang vùng bên cạnh. Và nàng choáng váng. Bao nhiêu là chân trần, tay trần, bao nhiêu là gáy trần để chích. Nàng chẳng biết chích vòi vào đâu nữa. Nàng cứ chích và cứ truyền. Lại chích và truyền.
Và đó là ngày vòng tròn rừng thẳm được mở rộng.
Và đó là cách lây truyền của virus sốt xuất huyết, virus chikungunya, virus Zika và virus sốt vàng da.
Bài học từ cây nho
Trái đất đang nóng lên, và loài người phải chịu một phần trách nhiệm. Sau nhiều năm tranh cãi, ở đó sự thiếu trung thực đóng một phần vai trò, sự thật hiển nhiên này cuối cùng cũng được thừa nhận. Làm thế nào đánh giá được hậu quả mà tình trạng biến đổi khí hậu không thể phủ nhận này tác động tới sức khỏe con người? Chung thủy với thói quen của mình, tôi đã chọn phương pháp điều tra chủ yếu phục vụ cho sở thích cá nhân.
Với nhiều mánh khóe và sự hỗ trợ từ bạn bè, tôi được nhận vào một tổ chức uy tín với thành viên là các nhà sản xuất rượu vang lớn nhất nước Pháp: Viện Hàn lâm rượu vang Pháp.
https://thuviensach.vn
Ngoài những buổi thử rượu huyền thoại, mà tôi xin không nói sâu vì sợ làm độc giả ganh tị, việc trở thành thành viên của tổ chức này cho tôi được theo sát, từ vùng nho này sang vùng nho khác, từ năm này qua năm khác, sự biến đổi của khí hậu và hậu quả của biến đổi khí hậu tới việc trồng nho. Bởi rượu vang là “bản đồ địa lý dưới dạng lỏng” như cách nói yêu thích của Tim Clark, người cháu thế hệ thứ ba trong gia đình người Ai Len, sở hữu vùng nho tuyệt đẹp là Clonakilla (tôi khuyên bạn nên thử loại vang tuyệt vời shiraz Viognier!), thuộc vùng Murrumbateman, không xa Canberra (Australia).
Với những ai muốn tìm hiểu hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra, đi dạo trong những vườn nho ở khắp nơi trên thế giới sẽ giúp bạn biết thêm rất nhiều điều.
Nhiệt độ tăng làm tăng tỷ lệ đường trong quả nho. Và cồn được lên men từ đường, nên trữ lượng đường tăng thì độ cồn cũng tăng. Một số người yêu rượu vang, vì muốn tạo một cơ sở khoa học cho niền đam mê của mình, nên đã đưa ra các quy luật. Theo đó, nhiệt độ trung bình của Trái đất cứ tăng thêm một độ thì sẽ tương ứng với việc điều kiện khí hậu tịnh tiến về phía Nam hai trăm ki lô mét. Chẳng hạn, trong hai mươi năm tới, thành phố Colmar sẽ có khí hậu giống khí hậu hiện nay ở thành phố Lyon*. Hay Bordeaux sẽ có khí hậu giống khí hậu hiện nay của Avignon*… Tương tự, ta cũng có thể thiết lập mối liên hệ giữa nhiệt độ và độ cồn. Ở vùng Champagne, người ta nhận thấy độ cồn trong nho khi thu hoạch đã tăng từ chín lên mười độ.
Kiểu tư duy giản lược và khái quát hóa như vậy tất nhiên là không tính đến sự khác biệt về điều kiện địa lý giữa các vùng (và sự khác nhau của các giống nho).
Nhưng có một thông tin mang tính thương mại hoàn toàn chắc chắn: phần lớn khách hàng không muốn mua loại vang có độ cồn quá cao. Với họ, “vang không phải là cồn”; và, ít nhất là vào bữa trưa, họ muốn uống “cái gì đó nhẹ nhàng”.
https://thuviensach.vn
Vậy làm thế nào để ngăn không cho rượu vang vượt độ cồn quen thuộc: trong khoảng 12-13 độ?
Chỉ cần nghĩ tới việc thêm nước vào vang để hạ độ cồn thôi cũng đã thấy không xứng đáng trở thành người sản xuất rượu vang. Giải pháp thực sự, rất đơn giản, là chuyển đi nơi khác: trồng nho ở nơi thời tiết ít nóng hơn. Tức là ở các vùng cao hơn. Ở các vĩ độ cao hơn. Và cao hơn nữa.
Ở thung lũng sông Rhone, các cánh đồng nho được dịch chuyển dần lên các vùng đồi. Và vùng Đông Nam nước Anh sẽ xuất hiện những ruộng nho với chất lượng nho gần như đủ đảm bảo để sản xuất sâm panh với chất lượng cải thiện qua từng năm.
Độc giả thân mến, hẳn bạn đang tự hỏi, chắc do chán bọn ký sinh trùng mà tôi chuyển sang nghỉ ngơi một chút với vang và nho chăng. Nếu đúng vậy thì bạn đang đánh giá quá thấp sự chuyên nghiệp của tôi.
Sự phân bổ địa lý mới của rượu vang kể cùng một câu chuyện như câu chuyện của bệnh dịch. Trái đất nóng lên ảnh hưởng tới bất kỳ sinh vật sống nào, chứ không chỉ cây cối.
Các loài nấm cũng tịnh tiến lên phía Bắc. Chẳng hạn, nấm phấn trắng mọc trên lá cây và dần làm lá biến dạng. Thiệt hại trên cây nho là rất lớn: năng suất giảm, mùi mốc khiến bất cứ kỹ thuật làm rượu nào cũng trở nên vô ích. Loại nấm mốc này vốn chỉ ký sinh trên các vườn nho miền Nam, nay tấn công cả các vườn nho vùng Bourgogne và Bordelais.
Và côn trùng cũng có cùng lộ trình, hướng tới phương Bắc. Sau đây là một vài ví dụ.
Đừng để bị đánh lừa bởi tên gọi mỹ miều: rầy xanh là một tai họa. Nhưng rầy xanh lại thuộc họ ve sầu rất dễ thương và có khiếu âm nhạc. Vấn đề là rầy xanh thường mang ký sinh trùng. Khi chích lá cây để hút nhựa, rầy xanh truyền ký sinh trùng sang lá. Hai năm sau, cây nho chết. Căn bệnh khủng khiếp này có tên là… bệnh biến vàng trên cây trồng. Trong ngôn ngữ thơ ca, flavescence được dùng để gọi tên màu vàng lấp lánh. Với cây nho, đó
https://thuviensach.vn
là tiếng hát của con thiên nga, hát một lần rồi chết. Một bằng chứng nữa để thấy con người chúng ta, cũng là một loài động vật, không chỉ là nạn nhân duy nhất của các “bệnh dịch do trung gian truyền bệnh”.
Cryptobiabes gnidiella, loài bướm đêm thuộc họ Pyralidae là một loài có sức tàn phá khủng khiếp đối với mọi loại cây ăn quả có múi, và chúng cũng không bỏ qua những cây nho.
Eudemis, một loài bướm đêm khác cũng có sức tàn phá không kém. Ngài bướm không chỉ cắn nát nụ hoa mà còn cắn xuyên qua vỏ hạt nho. Từ đó tạo lối thâm nhập cho loài nấm mốc xám botrytis trên quả nho. Quả nho dần dần bị bệnh thối xám…
Chưa một loài nấm nào trong số bọn hiểm ác đó nghĩ tới việc phiêu lưu sang Pháp. Chỉ cần một đợt băng giá là chúng sẽ bị diệt hết. Nhưng giờ đây, khi mùa đông không còn lạnh, nhiệt độ dễ chịu hơn đã mở ra cho chúng một chân trời mới. Và thế là chúng có mặt ở các vùng nông thôn của nước Pháp!
Cũng theo cách ấy, ta có thể nghĩ rằng sự ấm lên toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến nhịp sinh học: đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ký sinh trùng trong côn trùng là trung gian truyền bệnh, giảm thời gian ủ bệnh ở vật bị đốt chích, có thể rút ngắn vòng đời của muỗi…
Nhưng để dự báo được các luồng di cư của muỗi, nơi chúng di cư đến và số lượng muỗi có thể di cư, mức tăng nhiệt độ chỉ là một trong các chỉ số. Tất cả các chuyên gia dịch tễ đều lưu ý rằng vào thế kỷ 17, một số thập kỷ có nhiệt độ lạnh khủng khiếp đến mức người ta phải gọi là “tiểu kỷ băng hà”, nhưng ở giai đoạn đó, bệnh sốt rét lại hoành hành ở một phần diện tích rất lớn của châu Âu. Do vậy, phải có các nguyên nhân khác nữa ngoài nhiệt độ. Nguyên nhân rõ ràng nhất là sự phát triển kinh tế. Như Rodhain và Schwartz đã tổng kết, “sốt rét không hẳn là do thời tiết nóng nực mà là một căn bệnh của nghèo đói. Đặc biệt là nghèo đói ở vùng nông thôn*”. Những căn bệnh khác, lây lan do các loài muỗi khác, như muỗi vằn Aedes, đầy rẫy trong những quả bom vệ sinh môi trường và các vấn đề xã hội mà ta thấy khắp nơi tại các đô thị ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh với dân số lên
https://thuviensach.vn
tới hàng triệu, hàng triệu người. Chỗ ở mất vệ sinh, cống rãnh lộ thiên, nước đọng thành vũng ngoài đường…
Chỉ có quản lý tốt việc cấp thoát nước mới có thể đảm bảo đuổi được bọn muỗi ra khỏi chỗ ở của chúng.
Nhưng kiểm soát cấp thoát nước ngày càng khó vì khí hậu ngày càng bất thường.
Không còn nữa nhịp độ chuyển tiếp êm ả giữa các mùa. Các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng xảy ra thường xuyên. Khô hạn khủng khiếp chưa xong lại phải đối mặt với những đợt lũ lụt chết người. Và không gì tốt hơn cho sự sinh trưởng của bọ gậy bằng những vũng nước đọng ở khắp nơi, có khi hàng mấy tuần, thậm chí hàng tháng mới khô hết.
Và như muôn đời vẫn vậy, nước, nguồn gốc của sự sống, cũng là cái ổ đầu tiên của bệnh dịch.
* * *
Và giờ thì lên đường thôi!
https://thuviensach.vn
I
PANAMA
Ta hãy quay lại Panama một chút.
Không phải vì nhu cầu khẩn thiết cần phải lách thuế mà để tới chúc mừng công trình mở rộng kênh đào đã hoàn thành.
Công ty xây dựng vùng sông Rhone đã thiết kế hệ thống âu tàu khổng lồ, dài tới bốn trăm mét, có thể tiếp nhận các tàu chở container siêu lớn với tải trọng lên tới mười bốn nghìn container.
Ngày 01 tháng Chín năm 1513, chinh tướng Balboa rời tàu bên bờ Đại Tây Dương, cùng với đoàn tùy tùng của mình hướng về phía Nam, tiến vào vùng rừng nhiệt đới rậm rạp đầy đe dọa. Ba tuần sau, hiện lên trước mắt họ qua các lùm cây là một vùng nước lớn. Cả đoàn chạy lao đến uống nước cho đã khát nhưng ngay lập tức phải nhăn mặt. Vị muối mặn trong nước cho thấy họ vừa phát hiện một vùng biển khác. Và bảy năm sau, Magellan đặt tên cho vùng biển đó là “Thái Bình Dương”.
Trong suốt gần bốn thế kỷ, eo đất rất hẹp vốn là con đường ngắn nhất để đi lại giữa hai đại dương này thường xuyên là nơi qua lại của các đoàn la và ngựa thồ chở tiền vàng từ các nước vùng núi Andes: Colombia, Bolivia, Peru… về Tây Ban Nha qua đường Cuba và La Habana.
Truyền thuyết kể rằng ý tưởng đào kênh là của Charles Quint. Nhưng phải đợi tận ba thế kỷ và một người Pháp tên là Ferdinand de Lesseps, được mệnh danh là “người chiến thắng Suez”, người ta mới dám khởi động công trình đầy táo bạo này. Công trình được khởi công vào năm 1880. Sau nhiều giai đoạn với những thất bại và lùm xùm, người Mỹ quyết định tiếp quản công trình. Ngày 15 tháng Tám năm 1914, con tàu hơi nước mang tên Ancon mở đường vào kênh.
https://thuviensach.vn
Sau phút ngỡ ngàng trước sự hoành tráng của công trình, hãy cùng đi thăm một chút xung quanh. Đây đó là một vài nghĩa trang nằm rải rác bình lặng trong những cánh rừng, nhắc nhở chúng ta về số phận không may của những người mở đường. Người Pháp chính quốc, người Pháp thuộc địa, người Ba Lan, người Ý, và cả rất nhiều người Panama… Hai mươi sáu nghìn công nhân đã phải bỏ mạng cho công trình khổng lồ này. Và chủ yếu là do bệnh tật (sốt rét và sốt vàng da).
Ngay trung tâm phố cổ của Panama, chính xác là trước mặt nhà thờ lớn, tức là cách rất xa các tòa nhà ngày nay là nơi ra vào nườm nượp các chủ ngân hàng và luật sư, những thiên tài bất hảo trong chuyện rửa tiền, có tòa nhà cổ Grand Hotel, trước đây thuộc sở hữu của một người Pháp vùng Alsace (quý ngài Georges Loew tôn kính), sau đó được công ty quản lý kênh đào Panama mua lại vào năm 1888 để làm trụ sở. Ngày nay, đây là một bảo tàng tuyệt vời, nơi bạn có thể biết được mọi điều về cuộc sống (xa hoa với người này, địa ngục với người khác) của những người thợ xây thời đó. Bạn sẽ hiểu hơn về những thách thức kỹ thuật kinh khủng đặt ra cho họ, và rất nhiều hình ảnh kinh hãi đang chờ đợi bạn. Bạn sẽ thấy gương mặt của những người bệnh bị hủy hoại bởi cơn sốt.
Các kỹ sư người Pháp tưởng có thể thực hiện bằng cách đơn giản nhất là đào một con kênh nối hai đại dương. Nhưng họ có một trở ngại là dây núi Cordillera Central. Dù “nhỏ” nhưng trở ngại này lại rất khó vượt qua. Một phương án khác nhanh chóng được lựa chọn: xây đập để giữ nước từ nhiều con sông, trong đó có sông Chagres. Kết quả là một hồ lớn được hình thành, ở chính trung tâm của bán đảo. Ở độ cao hai mươi sáu mét so với mực nước biển. Chỉ cần nâng tàu lên hồ, sau đó hạ tàu xuống khi sang đến bờ hồ bên kia. Điều này lý giải vì sao trước tiên kênh đào Panama, không giống như những gì người ta thường nghĩ, lại là một hệ thống âu tàu với nhiều mức thang nâng.
Liệu hồ nước mênh mông này có phải là nguồn cơn sinh sôi hàng bầy côn trùng không ngừng quấy nhiễu bạn?
https://thuviensach.vn
Từ hơn một thế kỷ nay, hầu hết những nơi ấu trùng có thể trú ngụ mà gần nơi ở của con người đều được tháo nước cho khô ráo.
Từ năm 1932, năm con người phát minh ra một loại vắc xin, toàn bộ người dân Panama dường như đã được giải thoát khỏi bệnh sốt vàng da. Vậy tại sao căn bệnh này lại trở lại ồ ạt như vậy, ngay khi người ta bắt đầu lơ là, ngay khi các chiến dịch xóa bỏ căn bệnh này ngừng lại, ngay khi người ta không để tâm đến việc dùng màn chống muỗi, ngay khi người ta quên lãng hoặc từ chối chủng ngừa?
Ngày nay, khi đã biết rõ cơ chế truyền bệnh, điều bí ẩn này cũng được làm sáng tỏ.
Nếu như ở những nơi có con người sinh sống, việc lây nhiễm chỉ là câu chuyện giữa người và muỗi, thì ở trong rừng câu chuyện còn có thêm nhân vật thứ ba: con khỉ.
Khi bị muỗi mang bệnh chích, khỉ sẽ làm virus trong cơ thể mình được nhân lên. Nó trở thành một ổ virus: bất kỳ con muỗi lành nào chích nó cũng sẽ bị nhiễm virus đó. Nhưng cơ thể khỉ cũng nhanh chóng tiết ra kháng thể, và sau bốn đến năm ngày, các kháng thể đó sẽ diệt hết virus trong cơ thể con khỉ. Và nó lại trở về trạng thái không nhiễm bệnh. Dù có bị muỗi chích bao nhiêu lần chăng nữa, nó cũng không truyền cái gì đi đâu nữa. Người ta gọi những cá thể, dù là người hay động vật, đã được miễn dịch này là các “ngõ cụt dịch tễ học”.
Đó là cách virus gây sốt vàng da dịch chuyển, một cách chậm chạp, trong rừng. Nó truyền virus cho một đàn khỉ rồi lại chuyển sang một đàn khỉ khác, và đàn khỉ bị nhiễm trước đó sẽ được miễn dịch vĩnh viễn.
Nhưng than ôi, muỗi lại không có cơ chế miễn dịch như vậy. Không giống khỉ, nó không có khả năng loại bỏ virus trong cơ thể mình. Khi đã xâm nhập vào cơ thể muỗi, virus sẽ cư ngụ ở đó vĩnh viễn. Tệ hơn, trứng muỗi cũng bị nhiễm. Và virus cứ thế truyền từ thế hệ muỗi này sang thế hệ muỗi khác.
Và bệnh sốt vàng da cũng không ngừng quay trở lại.
https://thuviensach.vn
II
GUYANE THUỘC PHÁP
Ngày 5 tháng Tám năm 1498, trong chuyến hải hành lần ba, Christopher Columbus đến được bờ biển Guyane. Vincente Yanez Pinson, một trong các thuyền trưởng của đoàn, cập bờ muộn hơn, vào mùa hè năm 1500: một trận bão đã ném ông lên một dải cát. Thời kỳ đó, có khoảng ba mươi nghìn thổ dân châu Mỹ sinh sống trên vùng đất mênh mông nằm ở phía Bắc rừng Amazon này. Vài thập kỷ sau, họ chỉ còn lại vài nghìn người, số còn lại đã bị giết hại bởi những người đi chinh phục và các căn bệnh họ mang theo. Nói công bằng thì người châu Âu cũng bị chết, rất nhiều, vì không quen khí hậu, và các loài vi sinh vật, vừa nhiều vừa độc hại. Tiếp sau đó là bốn thế kỷ tìm cách lập cư ở vùng đất này nhưng không thành. Thảm họa Kourou vẫn còn được ghi trong các cuốn sử ký. Mười lăm nghìn người Pháp đã đến đây vào năm 1764, chủ yếu là người từ hai vùng Alsace và Lorraine. Họ bị dụ dỗ trước viễn cảnh có thể nhanh chóng giàu sụ. Nhưng điều chờ đợi họ lại là bệnh kiết lỵ, sốt vàng da, giang mai… Chỉ trong vài năm, mười hai nghìn người trong số họ đã bị quật ngã. Những người sống sót ẩn trốn trên một hòn đảo mà họ gọi là “đảo Cứu rỗi”.
Trong thời gian đó, nhiều thế lực Ki tô giáo vẫn tìm cách kiểm soát cộng đồng này.
Người Pháp cuối cùng đã chiến thắng. Hai bên trọng tài đã vạch ra các đường biên giới, một do sa hoàng đặt ra bằng cách chọn sông Maroni làm biên giới phía Tây, biên giới còn lại do một ủy ban của… Thụy Sĩ vạch ra. Ủy ban này chọn sông Oyapock là ranh giới phía Đông. Bên kia sông là bắt đầu lãnh thổ của Brazil.
https://thuviensach.vn
Guyane thăng trầm cùng với nhịp độ của nhiều cuộc phiêu lưu, không phải lúc nào cũng êm ái.
Chế độ nô lệ, giúp các đồn điền phát triển mạnh.
Chế độ nhà tù khổ sai, do Napoleon III đưa ra. Tù khổ sai và chế độ lao động khổ sai tiếp nối bước chân những người nô lệ để phát triển vùng đất này. Chính nhờ phóng sự khủng khiếp của Albert Londres mà chính quyền đã phải miễn cưỡng quyết định đóng cửa các nhà tù này (nhưng không phải trước năm 1946…).
Những lần liên tiếp đổ xô đi tìm thứ vàng mà người ta tìm thấy dưới nhiều dòng nước.
Và cuối cùng là cuộc chinh phục vũ trụ.
Algérie giành được độc lập năm 1962, và để thay thế cho căn cứ Colomb Béchar đặt tại nước này, Pháp phải tìm kiếm một căn cứ khác càng gần xích đạo càng tốt. Tướng de Gaulle quyết định chọn Kourou, là nơi trước kia từng xảy ra thảm họa giết chết mười hai nghìn người Pháp. Ngày nay, căn cứ này nằm trong một chương trình của châu Âu, hơn năm trăm tên lửa đã được phóng từ đây, trong đó có tên lửa Véronique và Ariane.
* * *
Vùng lãnh thổ thuộc Pháp này kể với chúng ta câu chuyện lịch sử hiện đại và tương lai của ngành y tế cùng sự toàn cầu hóa y tế.
Cayenne, thủ phủ của Guyane, là một thành phố được phát triển ngay giữa một vùng thiên nhiên còn hoang sơ, tức là luôn tiếp xúc với vô số loài côn trùng, gặm nhấm, chuột bọ, dơi, vốn là những vật chủ có thể mang trên mình đủ loại ký sinh trên đời.
Guyane: một vùng đất được bao bọc bởi nhiều sông hồ. Lượng mưa hằng năm: hai nghìn chín trăm mi li mét.
Guyane: khí hậu xích đạo. Nhiệt độ trung bình: hai mươi sáu độ.
https://thuviensach.vn
Nước và nhiệt: không gì lý tưởng hơn cho sự sống sinh sôi. Và khi sự sống sinh sôi, bệnh tật cũng sinh sôi,
Vốn dĩ đó là một trong những cơ chế không thể tách rời của sự sống. Guyane: vùng đất có tốc độ tăng dân số mạnh mẽ: trung bình gần bốn phần trăm một năm, và gần mười phần trăm ở vùng phía Tây, dọc theo sông Maroni.
Guyane: vùng đất bất đắc dĩ phải tiếp nhận hai loại dân cư, và không thể kiểm soát về mặt dịch tễ: những người di cư (khó tính đếm) và những người đi tìm vàng (khoảng hai chục nghìn người). Mặc dù chính quyền cố gắng kiềm chế số lượng của nhóm những người tìm vàng.
Ba trăm năm mươi quân lính có nhiệm vụ xua đuổi những người này. Dường như các chiến dịch này đã giúp xóa bỏ các hoạt động khai thác vàng quy mô công nghiệp, các nhóm có tổ chức do bọn cai người Brazil điều hành. Nhưng vẫn còn những người đi tìm vàng nhỏ lẻ, thủ công, với tình hình còn tồi tệ hơn.
Những con người bất hạnh đó, những người bị đi đày, những người lao động khổ sai, không chỉ phá rừng, phá hoại nguồn nước. Họ còn truyền cho người dân sinh sống ở các thị trấn nơi họ đến tiêu tiền các căn bệnh họ mắc phải nơi rừng sâu. Hẳn nhiên, họ là những tác nhân đầy ưu ái của mọi loại bệnh truyền nhiễm.
Guyane: biên giới vô hình giữa nước Pháp, đồng nghĩa với giữa châu Âu và Mỹ La tinh.
Bệnh sốt rét hoành hành nơi này. Và vẫn mãi hoành hành.
Bệnh sốt xuất huyết Dengue, sốt chikungunya và nhiều loại sốt khác do muỗi truyền cũng hoành hành không kém.
Nhưng trong tâm tưởng của chúng ta, chính virus Zika làm cho chúng ta run sợ nhiều nhất.
Vì hai trong số các hệ quả của nó mang theo những hình ảnh kinh hoàng.
- Chứng bại liệt diễn tiến toàn thân cùng với hội chứng Guillain-Barré.
https://thuviensach.vn
- Chứng đầu nhỏ ở trẻ em được sinh ra từ người mẹ bị nhiễm virus khi mang thai.
Guyane: tiền đồn của virus Zika (theo quan điểm châu Âu). Hãy luôn nhớ và mãi nhớ định nghĩa về bệnh mới nổi: bệnh mới nổi là căn bệnh bắt đầu tấn công các nước giàu.
Chào mừng đến Vectopole
Mirdad Kazanji “chỉ riêng mình ông” cũng đã là một chiếc tàu Noah của đấng Sáng thế. Là người lai nhiều nguồn gốc nên ở ông có một sự phong phú đặc biệt hiếm thấy.
Ông bà ông là người Armenia, đã phải tị nạn ở Syria để tránh nạn diệt chủng năm 1917. Lớn lên ở Latakia, một vùng biển nằm giữa Lebanon và Thổ Nhĩ Kỳ. Một hôm, cha ông đi khám bệnh về và nói: “Cha bị bệnh tim con ạ. Và con sẽ thành bác sĩ để chữa bệnh cho cha.” Ngày hôm sau cha ông qua đời. Lúc đó Mirdad mới mười ba tuổi. Ông sang Pháp. Marseille. Và theo học ngành y sinh. Luận án của ông: “Nghiên cứu protein trưởng thành bề mặt của các thoa trùng Eimeria falciformis.” Nói dễ hiểu hơn: cải thiện công hiệu của vắc xin bằng cách kích thích một số cơ chế miễn dịch. Quan tâm đến công trình này, Viện Pasteur đã tuyển dụng ông vào làm việc.
Hai mươi lăm năm sau, Mirdad Kazanji trở thành giám đốc của Viện Pasteur vùng Cayenne, Guyane.
Trong sân, đám khỉ sóc bé tẹo tìm cách thu hút sự chú ý của chúng tôi. Chúng nhăn mặt, vỗ tay, lè lưỡi. Rõ ràng chúng thích có bầu bạn và đang chán ngấy khi bị nhốt trong chuồng, dù rộng. Trong nhiều năm trời, các nhà nghiên cứu đã sử dụng chúng để tìm cách phát triển, một loại vắc xin phòng sốt rét, nhưng không thành công. Ngày nay không còn ai làm phiền đám khỉ sóc về hưu đó nữa. Hai bác sĩ thú y chăm sóc đám khỉ tranh cãi rất gay gắt. Một người cho rằng nên thả chúng vào rừng. Người thứ hai cho rằng làm thế sẽ giết chúng. Làm sao những con vật đáng thương vốn quen sống trong
https://thuviensach.vn
điều kiện nuôi nhốt đó có thể sống sót được giữa môi trường hoang dã khắc nghiệt? Một cuộc tranh cãi xưa cũ, hay được kể trong truyện ngụ ngôn: chuột đồng và chuột phố, chó nhà và chó sói…
Một tòa nhà lớn mới tinh đang đợi chúng tôi.
Mirdad gí thẻ ra vào lên đầu đọc. Một cánh cửa mở ra. Và chúng tôi bước chân vào Vectopole. Ở đó nhiều nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về bọn vật chủ trung gian trứ danh, thủ phạm truyền bệnh cho con người.
Tôi cứ tưởng sẽ gặp các bác sĩ. Nhưng tiếp tôi lại là các nhà côn trùng học. Người đầu tiên là Pascal Gaborit.
Pascal là trưởng ban “Phân loại”. Nói cách khác, ban của ông phụ trách công việc phân loại và sắp xếp các loài muỗi khác nhau có trên lãnh thổ Guyane.
Tưởng rằng từ mái tóc lưa thưa bạc trắng của tôi có thể suy ra rằng công nghệ khiến tôi hoảng sợ, nên trước tiên ông chỉ cho tôi xem một dãy các loại hộp. Hàng nghìn mẫu côn trùng được ghim cùng với phiếu thông tin ghi rõ loài và nơi bắt được. Rồi cuối cùng cũng đến lúc biết nhiều hơn về một người bí ẩn có tên là Abonnenc mà ở đây có vẻ ai cũng nhắc đến.
Sinh năm 1905 tại thành phố cảng Marseille, việc đi nghĩa vụ quân sự đã quyết định cuộc đời ông. Ông được điều đến châu Phi làm y tá, đầu tiên ở Sénégal rồi sau đó là Gabon. Và ông nhận ra thiên hướng thích khám phá trong con người mình. Nghĩ là làm, ông thực hiện việc lập bản đồ các vùng đất mà thời đó còn chưa được biết đến ở vùng thượng Ogooué. Cũng trong thời gian này, ông say mê tìm hiểu các loài côn trùng.
Không lâu sau đó, Émile Abonnenc tới Guyane, nơi Viện Pasteur vừa được thành lập không lâu. Vừa đến nơi, ông đã mất hút ngay vào rừng. Các chuyến đi của ông cứ nối tiếp nhau liên tục, nhiều tuần liền trên con thuyền độc mộc hoặc dọc theo những con đường mòn còn chưa định hình rõ nét. Ông chỉ quay về khi cần trình bày những khám phá của mình, hàng chục và hàng chục loài mới. Và nhờ đó, ông trở thành chuyên gia thế giới về loài… ruồi cát.
https://thuviensach.vn
Cho đến lúc đó, tôi mới nghe thấy từ này từ thuyền trưởng Haddock, bạn thân của Tintin, người thường dùng từ này để chửi thề: “Bachi Bouzouk!… Đồ ruồi cát!” Thực ra, đây là một loại côn trùng siêu nhỏ, thuộc họ ruồi, có thể mang ký sinh trùng. Người bị ruồi cát nhiễm ký sinh trùng chích có thể bị nhiễm bệnh Leishmania, một bệnh ngoài da nghiêm trọng. Nhưng Abonnenc là người vô cùng hiếu kỳ. Ông bắt và sưu tầm mọi loại côn trùng khác, và dưới những tán cây rừng thì không bao giờ thiếu.
Nghiên cứu kiểu cũ đã được nhắc đến rồi, giờ ta hãy sang thế giới nghiên cứu hiện đại, với những cái hộp cải tiến là máy tính điện tử. “Ông quan tâm chủ yếu đến loài muỗi đúng không?”
Thế là hiện lên màn hình hàng trăm hình ảnh, với những chi tiết được phóng to của các con vật tôi yêu thích.
Cuối cùng thì tôi cũng có thể đặt ra câu hỏi mình băn khoăn suốt từ khi mới đến:
“Ông đã tìm được bao nhiêu loài muỗi ở Guyane?
- Hai trăm ba mươi lăm loài, tính đến hôm nay. Vì mỗi chuyến đi chúng tôi có thể phát hiện thêm nhiều loài mới.
- Thế bao nhiêu loài mang ký sinh trùng nguy hiểm?
- Khoảng ba chục. Nhưng ai mà biết hết được? Các loài tiến hóa thích nghi liên tục. Có loài hôm nay không mang ký sinh trùng nhưng hôm sau lại có thể.
- Vậy nhiệm vụ của ông khó quá nhỉ?
- Ý ông là thích quá chứ gì?”
Và để tiếp tục tự giễu, ông mở lên màn hình những hình ảnh lạ lùng và nhiều màu sắc. Đó là những cái chân đầy lông với những vết sưng phồng đỏ tấy.
“Xin giới thiệu với ông một trong những phát hiện mới nhất của chúng tôi: muỗi Haemorrhoidalis superbus.”
https://thuviensach.vn
Chẳng khó gì mà không hiểu ngay ra nguồn gốc cái tên được đặt cho loài muỗi này.
Ở phòng bên cạnh, Amandine Guidez đang phết mật ong lên những dải giấy nhỏ. Các mảnh giấy này sẽ được mang đến đặt ở vùng ngoại ô Cayenne, nơi phát hiện ra các trường hợp nhiễm virus Zika. Việc này sẽ giúp xác định tỷ lệ muỗi nhiễm virus: một phần nghìn? một phần mười nghìn?
Sau khi thu thập được nước bọt của muỗi trên mật ong, chỉ cần phân tích mẫu là xong (tất nhiên ở đây tôi nói tắt, vì quy trình phân tích xác định ARN của virus rất phức tạp).
Ở phía bên kia vách kính dày, một bóng người mặc đồ trắng toát kiểu phi hành gia đang mải mê trước kính hiển vi. Chúng tôi rất muốn tin ngay lời giới thiệu của ông giám đốc: “Đây là cô Lanjio Wang”. Lát sau tôi gặp lại cô, khi cô quay lại trong bộ đồ đỡ cồng kềnh hơn. Và tôi đã phải vận hết tài ăn nói để thuyết phục cô kể câu chuyện của mình: cô cứ nhắc đi nhắc lại mình chỉ là một sinh viên “bình thường” không có gì đặc biệt. Nhưng thực ra, cô sinh ra trong một ngôi làng nhỏ bé ở tít tận miền Tây Nam Trung Quốc, gần biên giới Myanmar. Giống như những người khác trong làng, cha mẹ cô trồng trà ô long. Sớm được phát hiện có năng khiếu, cô được gửi đi học tại Bắc Kinh. Năm 2011, cô được chọn tham gia một chương trình trao đổi sinh viên với trường đại học Nice. Sau khi hoàn thành chương trình, cô được cấp bằng kỹ sư. Và sau đó bay sang… Nouvelle - Calédonie làm tại Viện Pasteur. Thực tập sáu tháng. Rồi lại bay tiếp, sang Cayenne, và nghiên cứu về cơ chế kháng thuốc trừ sâu ở côn trùng.
Toàn cầu hóa y tế…
Các nhà nghiên cứu dịch chuyển và biến chuyển không khác gì những con virus mà họ đang chiến đấu chống lại.
Các phòng thí nghiệm sinh học được xếp thành bốn loại, theo tính chất của từng loại nghiên cứu và mức độ cần đề phòng của mỗi loại. Phòng thí nghiệm này được xếp vào loại “P3”, gần như ở mức cao nhất của độ rủi ro phải đối mặt.
https://thuviensach.vn
Thở phào nhẹ nhõm, tôi yên tâm đứng ở phía bên này vách kính. Dũng cảm nhưng không liều lĩnh, nên tim tôi đã đập thình thịch khi được dẫn vào một khu vực khác, mới chỉ được xếp (!) ở mức P2. Ở đây, phải đi túi bọc giày, mặc áo bờ lu, đội mũ trùm tóc. Và cố gắng can đảm đứng trong luồng khí ấm. (“Phòng thí nghiệm được hạ áp. Như thế các phân tử có thể xâm nhập vào nhưng không thể thoát ra. Ông có hình dung được không?”)
Từ trứng đến muỗi trưởng thành, qua giai đoạn ấu trùng và bọ gậy, ở đây người ta nghiên cứu tất cả các giai đoạn trong vòng đời kẻ thù của chúng ta. Với độ chính xác vô song. Không có siêu thị muỗi. Cũng không thể lên trang Amazon của Mỹ để mua muỗi, dù đang ở châu Mỹ. Mọi con muỗi ở đây đều được các nhà nghiên cứu của Vectopole đích thân bắt về.
“Với cả, ngày mai, Mirdad nói với tôi, ta sẽ vào rừng. Ông sẽ thấy một phần khác trong công việc của chúng tôi. Tính chính danh của nhà côn trùng học, đó là thực địa.”
Nghĩ đến chuyên phiêu lưu ngày mai, mắt ông sáng lên.
Tôi không chắc mình có thấy hào hứng như ông hay không. Dù đầu tôi vốn lúc nào cũng đã quá to, và sẽ chẳng thể nào thu nhỏ lại được, nhưng tôi lại biết rõ hội chứng Guillain-Barré. Mẹ tôi đã mắc căn bệnh này. Thấy mình bị liệt dần mỗi ngày không phải là một trải nghiệm vui vẻ gì. Nhưng cứ bình tĩnh, hiện tại, tôi vẫn được bảo vệ.
Vectopole bắt đầu nghiên cứu từ giai đoạn khởi phát, tức là giai đoạn giao phối. Vâng, Viện Pasteur vùng Cayenne luôn tạo thuận lợi cho các cuộc gặp gỡ. Để làm ấm giác quan của các cư dân muỗi, ở đây người ta còn trang bị đèn cho các hộp nuôi muỗi, thậm chí là đèn quay nhấp nháy mà người ta gọi là đèn hoạt nghiệm. Rồi, khi muỗi có tin vui, với lòng tốt đầy tận tâm của mình, Viện còn cung cấp thức ăn cho các sản phụ muỗi để đảm bảo muỗi con được phát triển trong những điều kiện tốt nhất. Người ta thả những con chuột còn sống nhưng bị gây mê vào hộp. Và muỗi cái chỉ phải làm mỗi một việc là hút máu chuột. Trứng muỗi sẽ được đẻ vào giấy thấm, và chờ nở. Sau đó phát triển thành ấu trùng, rồi thành muỗi trưởng thành. Thi thoảng cũng có con lọt ra ngoài. Và ai ở gần đó nhất sẽ rút ra một cái vợt
https://thuviensach.vn
mini, và chỉ cần một cú vợt, con muỗi đào tẩu sẽ bị chích điện, trong sự thở phào của tất cả mọi người có mặt ở đó.
Ở bộ phận này của Vectopole, người ta nghiên cứu độ mẫn cảm của muỗi với mọi loại thuốc diệt côn trùng có thể có, và trước hết là các chất diệt côn trùng từ thiên nhiên. Tôi chắc rằng bạn cũng sẽ mừng như tôi khi biết rằng các thử nghiệm sử dụng một số loài nấm đã có những kết quả đầy hứa hẹn. Người ta làm cho muỗi nhiễm virus bằng máu đã bị nhiễm từ trước để nghiên cứu đường đi của ký sinh trùng cũng như sự biến đổi của chúng. Ta biết rằng virus chỉ có thể được truyền đi nếu nó có thể đến được tuyến nước bọt của vật chủ. Để biết được có ký sinh trùng trong nước bọt hay không (và vậy là có khả năng ở dạng hoạt động), cần phải làm cho muỗi tiết nước bọt. Phương pháp các nhà nghiên cứu sử dụng chắc chẳng làm hài lòng những người yêu động vật: vặt bỏ một bên cánh của muỗi. Giờ hãy tìm hiểu tại sao biện pháp tra tấn này lại tạo ra phản xạ tiết nước bọt.
Nhất là đừng quên chào ba thành viên xuất sắc khác nữa của ê kíp. Khi cảm thấy cần có nhiều máu hơn, người ta lại nài xin bộ ba thỏ, cũng được nuôi trong phòng thí nghiệm, cho mượn thân hình mũm mĩm của chúng. Cũng không thừa khi biết rằng những cộng tác viên tai dài này lần lượt có tên là Lilou, Roger và Jeannot.
Nên nhớ rằng ở đây không có gì là ngẫu nhiên. Một số loài muỗi (bọn anopheles) hoạt động ban đêm. Còn muỗi Aedes lại hoạt động lúc bình minh và vào khoảng năm giờ chiều. Phòng thí nghiệm có một chiếc tủ công nghệ cao (do hội Rotary địa phương tặng), chiếc tủ này sẽ tạo ra các điều kiện nhiệt độ và ánh sáng tương ứng…
* * *
“Ông biết gì về loài dơi?”
Phòng thí nghiệm virus học nằm ở phía bên kia khoảnh sân, ngay sau chuồng của bọn khỉ sóc. Câu hỏi của cô phụ trách làm tôi ngạc nhiên. Cô
https://thuviensach.vn
chờ tôi trả lời với cái nhìn nghiêm khắc. Tôi phải thú nhận mình không biết gì cả. Tôi còn nhấn mạnh thêm rằng mình rất sợ cái đám, gọi chúng là gì được nhỉ? cái đám sinh vật khát máu biết bay lượn này. Và lại còn mắc sai lầm lớn khi nói thêm là vì hói nên tôi sẽ không sợ buổi tối bọn chúng đậu xuống và túm vào tóc tôi… À! Cô không hưởng ứng, không một chút nào trước câu đùa của tôi, và nhún vai.
“Biết ngay mà! Ai cũng thế! Toàn nói về vẻ ngoài đẹp xấu. Xong rồi khi có bệnh dịch thì ai cũng tỏ vẻ ngạc nhiên!”
Tôi cần phải được cho một bài học.
“Được rồi, bọn dơi không đẹp. Thế thì sao nào? Từ khi nào mà xinh xắn lại đồng nghĩa với hữu ích thế? Chúng sở hữu một kho báu, mà loài người chúng ta phải thèm muốn: một hệ miễn dịch đặc biệt. Chúng có thể mang trong mình những loại virus nguy hiểm nhất mà không bị sao cả. Như virus Hanta chẳng hạn, một loại virus gây rối loại hô hấp và tuần hoàn nghiêm trọng. Hoặc virus Arena, cũng rất nguy hiểm. Vậy tại sao lại coi thường loài dơi đến vậy? Tại sao lại đầu tư ít ngân sách đến vậy cho việc nghiên cứu về loài này?”
Một lần nữa, cơn xấu hổ lại dâng lên khi tôi nghĩ về việc mất ba năm để hoàn thành luận án tiến sĩ kinh tế: “Cung tiền trong nền kinh tế mở” trong khi bọn dơi còn đang chờ tôi.
Nhà nữ khoa học nói tiếp: “Ông có thấy bình thường, ông có thấy chấp nhận được không khi mà vẫn chưa có một danh mục thống kê đáng tin cậy về tất cả các loài dơi có tại đảo Guyane này, chắc chắn phải có hơn trăm loài? Và bọn dơi ma cà rồng, tại sao lại chỉ để cho các nhà làm phim và tiểu thuyết gia quan tâm đến chúng? Ông có biết là có con kích thước lớn đến một mét không? Hiện tại chúng mới chỉ tấn công gia súc. Nhưng chả có lý gì mà không có ngày chúng cắn cả con người?”
Nói dồn một hơi xong, nhà virus học dừng lại thở.
“Tôi nói tiếp hay là ông hiểu rồi?”
Tôi lắp bắp, vâng vâng, tôi đã hiểu.
https://thuviensach.vn
“Vì ông bất ngờ trở thành đại sứ thiện chí của Viện Pasteur, nên ông sẽ bảo vệ những con dơi của tôi chứ?”
Tôi thề.
Trở thành đại sứ của loài dơi, tôi hẳn không bao giờ nghĩ đến, nhưng tại sao không? Rốt cục, loài dơi thì cũng là một đất nước như mọi đất nước khác. Chúng ta chẳng đã có người đại diện chính thức ở các thiên đường thuế đó sao. Và thiên đường thuế là gì nào? Chẳng phải là nơi đám virus tiền bẩn nhởn nhơ phát triển đó sao? Không ở đâu có hệ miễn dịch chống lại sự truy tố tốt hơn ở các thiên đường thuế. Cũng giống như ở loài dơi. Và dơi là gì đã nào? Nếu nghĩ giống như vậy, thì dơi là một thiên đường miễn dịch, tức là một thiên đường cho bản thân (không phải chịu đựng bọn virus) và là một quả bom đối với những kẻ khác.
Nhà virus học, cuối cùng cũng dịu bớt, chúc tôi có chuyến công tác thành công. Đứng ở bậc cửa văn phòng, cô vẫy vẫy tay.
“Ông Orsenna, nhớ đừng quên nhé, không chỉ có muỗi đâu! Còn có những loài tệ hơn! Thậm chí tệ hơn nhiều!”
Những cái bẫy ở Sainte-Rose
Sáng nay, đi tới một ngôi làng nhỏ của người thổ dân châu Mỹ có cái tên rất thơ làm tôi tò mò: Sainte-Rose-de-Lima. Nữ thánh bảo hộ cho thủ đô nước Peru đến đây, một vùng nằm phía bên kia dãy Andes và ở bờ bên kia dòng Amazon, để làm gì nhỉ?
Những ngày gần đây, dân bản địa phải cầu nguyện nhiều hơn thường ngày vì mới có ba người bị sốt rét nặng. Đó là lý do vì sao hai nhà côn trùng học của Viện được cử đến để bắt càng nhiều muỗi càng tốt nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi quen thuộc: Ở đây có nhiều muỗi anopheles hơn ở các nơi khác hay không? Có thêm loài muỗi nào khác không? Liệu những loài muỗi khác đó có “khả năng” mang và truyền ký sinh trùng falciparum hay không?
https://thuviensach.vn
Sau phần chào hỏi như thường lệ với “trưởng” làng, các nhà khoa học bắt đầu đặt bẫy ở các khu vực cách không xa nhà dân.
Vẫn luôn là nguyên lý ấy: thu hút muỗi bằng mùi hoặc ánh sáng, sau đó bắt chúng.
Tôi sẽ kiểm tra xem các nhà côn trùng học của chúng ta, ngoài những hiểu biết về sự đa dạng vô biên của các loài côn trùng, có biết làm công việc tay chân hay không. Chúng ta hình dung những người đi bắt bướm cứ xoay vợt lung tung thế nào rồi đấy. Các kỹ thuật hiện đại cũng không được cải thiện mấy về độ tinh tế.
Những chiếc bẫy loại một, “bẫy thơm”, lợi dụng việc bọn muỗi dễ bị thu hút bởi khí CO2. Chẳng hạn, bẫy “nam châm muỗi”, được bán nhiều tại địa phương, hoạt động với một bình gas cho phép tạo ra một luồng hơi nóng. Để tạo mùi thơm, người ta cho thêm vào đó octenol, một loại chất tạo ra mùi mà bọn muỗi đặc biệt thích. Có vẻ như khứu giác của đám bạn có vòi chích của chúng ta có thể nhận ra mùi này từ cách xa hơn năm trăm mét. Một chiếc bẫy khác được đặt ở đầu kia của làng, bên bờ một dòng suối rất duyên dáng. Hệ thống bẫy này hoàn toàn do Pasteur phát minh ra. Bẫy này dùng cơ chế lên men để tạo ra khí CO2 cần thiết. Người ta đổ đầy đường trộn men vào một cái chai. Chai này được nối bằng ống dẫn tới một chiếc máy nhỏ đẩy ra hút vào. Các con vật bé nhỏ sẽ bị hút vào một cái lưới vợt.
Một số kỹ thuật khác sử dụng đến ánh sáng. Vô cùng đơn giản: đặt vào bẫy một chiếc đèn pin. Hoặc có thể cải tiến bằng cách lắp hệ thống pin mặt trời mini. Khi đêm xuống, đèn sáng lên và bọn muỗi sẽ như con thiêu thân lao đến.
Maripasoula
Nhìn từ trên máy bay, Amazon trông giống như một cánh đồng bông cải xanh (mênh mông), đây đó rải rác những chấm màu vàng - đó là những
https://thuviensach.vn
vết thương do những người đi tìm vàng gây ra cho khu rừng: cây bị đốn hạ, đất bị phát quang, thủy ngân ngấm vào mọi dòng nước.
Sáng hôm đó, sau một giờ bay, chúng tôi đến Maripasoula. Nằm bên bờ sông Maroni, đây là thủ phủ (mười hai nghìn dân) của vùng cực Tây Nam Guyane.
Ngay sảnh vào tòa thị chính có dán hai tấm áp phích cảnh báo:
THỦY NGÂN VÀ THAI KỲ
Hãy tự bảo vệ bằng cách chọn cá an toàn!
Tiếp đó là ảnh của một số loài cá chủ yếu ăn cỏ: Watau Jaïke, Kawawa, Alumasî…
Rồi tiếp là ảnh của một số loài cá săn mồi mà thịt bị nhiễm thủy ngân: Ekemu, Huluwî, Halataway…
THỦY NGÂN VÀ THAI KỲ
Hãy tự bảo vệ bằng cách tránh ăn cá không an toàn!
Tôi biết hoạt động tìm vàng trái phép là một thảm họa. Ông thị trưởng sẽ giải thích cho tôi tại sao.
Trong đất, đặc biệt là đất dưới lòng sông, có vàng nằm trong sỏi, dưới dạng những vảy nhỏ.
Để thu được vàng, cách làm rất đơn giản:
Hút tất cả thứ cặn lổn nhổn ấy.
https://thuviensach.vn