🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm Ebooks Nhóm Zalo xuệipíệu VỂ TÁC GIA VA TACPHAM N H À XUẤT BẢN GIÁO D U C XU A N DIẸU VỀ TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM XƯAN DIẸƯ VỀ TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM L ư u KH ÁN H THƠ Tuyển chọn và giới thiệu (Tái bủn lần thứ sáu) NHÀ XUẤT BẢN GIÁO Dực Bản quyén thuộc Nhà xuất bản Giáo dục 184-2007/CXB/13-403/GD Mã số : 8V294T7 - NĐN LỜI NÓI ĐẦU Xiiân Diệu là một túc gia lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Hơìì nửa tlìếkỷ cầm bút, ông đã đ ể lại cho đời một di sản văn lioc đồ sô với lĩhiểu thê loại khác nhau : thơ, văn xuôi, phê bình, y.v. Túc phẩm của ô/iẹ được bạn đọc nhiều thế hệ đón nhận và yêu thích, nhiều túc phẩm được chọn dạy trong nhà trường. Từ trước đến nay việc nghiên cứu tìm hiểu túc gia Xuân Diệu đã thu hút sự quan túm cùa nhiêu nhà nghiên cứu. Xuân Diệu - Vê tác gia và tác phẩm lù cuốn sách tập hợp khá đầy đủ và tương đối có hệ thống những bùi viết về sự nghiệp văn chương vù cuộc dời của tác giả. Ngoài bài khái quát về sự nghiệp sáng túc của Xuân Diệu, cuốn sách còn gồỉtì cúc phần sau ế Tiểu sử của nhà thơ Xuân Diệu Niên biểu và thư mục Xuân Diệu trong con mắt người đưong thời, gồm bùi viết của các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá vê túc phẩm, cuộc đời vù những đóng góp của túc giả đôi với nền văn học Việt Nam. ơ phần này cúc bùi viết được sắp xếp theo thứ tự thời gian đé người đọc tiện theo dõi quá trình sáng túc của tức giả. Phần cuối tập hơỊ) một sô bùi viết của các nhà nghiên cứu, cúc nhủ văn viết vê những hồi ức vù kỷ niệm với Xuân Diệu. Bài viết vê Xiúuì Diệu có rất nhiều. Trong tập sách nàv chúng tôi chỉ tuyển chọn những bài tương đôi tiêu biểu cho từng vấn đê Iihằni lủm sá/tạ tò ỳ ó tr! SlJ/i8 tc.w ''ũ'1 cliương cũng như tư chất người nghệ sĩ cùa Xiiíìii Diện Ờ cuối súcli có phần Thư mục nghiên cứu vê Xuân Diệu, tập liọ]) liíơuạ dổi đầy đủ hơn những bùi viết về Xuân Diệu. 5 Hy vọng cuốn sách sẽ lủ một tư liệu tham khảo có ích, vừa đẽ tiếp tục và bổ sung cho cúc cuốn sách trước đây, vừa có giá trị gợi mở cho những người nghiên cứu, giảng dạy, học tập cùng đông đảo bạn dọc quan tâm đến túc giả Xuân Diệu — một tài năng đa dựng vù phong phú của văn liọc Việt Nam. Nhủ xuất bản xin chân thành cám ơn giáo sư Hù Minh Đức, nhủ phê bình vãn liọc Vương Trí Nhàn đã góp nhiều công sức cho sự rư đời của cuốn sách. Rất mong nhận được ỷ kiến đóng góp đ ể bổ sung cho nội dung CUÔIÌ sách được hoàn thiện hơn. NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC 6 LỜI GIỚI THIỆU Trước mắt chúng ta là bộ tư liệu văn học khá đồ sộ về các tác gia tiêu biểu của lịch sử văn học Việt Nam. Trong lịch sử phát triển của văn hoá dân tộc, so với nhiều ngành nghệ thuật khác, văn học là nhân tô' trội và có một vị trí quan trọng. Theo dòng lịch sử, tác phẩm văn chương luôn chịu sự thử thách, chọn lọc khắc nghiệt của thời gian và nhiều tác phẩm rơi vào lãng quên. Dường như ngược với quy luật ấy, những tác giả và tác phẩm tiêu biểu lại khổng ngừng được luận bàn qua các thời kỳ lịch sử. Cuộc đời và tác phẩm của họ mang nhiều tâm tư sâu sắc, quy tụ được nhiều vấn đề xã hội và có thể dự báo một điều gì cho mai hậu. Sinh thời Nguyễn Du băn khoăn : Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tô Như (Ba trăm năm lẻ nữa ta đâu biết, Thiên hạ ai người khóc Tố Như ?) Thế hệ kế tiếp ông, những kẻ hậu sinh thiết tha muốn hiểu và đã một phần hiểu ông. Từ ý kiến tâm huyết của Ngô Đức Kế, đến những công trình nghiên cứu sâu sắc của Hoài Thanh, Xuân Diệu, của các nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ, Lê Trí Viễn,... Truyện Kiều đã được phân tích trên nhiều bình diện và đáng quý khi tuyệt tác này của đại thi hào Nguyễn Du đã đóng góp vào sự phát triển đời sống tình cảm của dân tộc. Đấy là trường hợp của Nguyễn Du và cũng là của nhiều nhà văn, nhà thơ tiêu biểu khác mà trước hết phải kể đến Nguyễn Trãi. Ông là người anh hùng cứu quốc, nhà tư tưởng, nhà văn hoá, nhà thơ. Hậu thế đã tìm hiểu, nghiên cứu ông trên nhiều bình diện. Đinh Gia Khánh nghiên cứu quan điểm văn chương của Nguyễn Trãi ; Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi tìm hiểu Quân trung từ mệnh tập - tập luận chiến quân sự và ngoại giao rồi văn thơ chữ Hán, văn thơ quốc âm của ông cũng được nhiều nhà nghiên cứu khai thác. Đặc biệt Bình Ngô dại cáo được đánh giá cao qua nhiều bài viết từ Bùi Kỷ, Vũ Khiêu đến Bùi Văn Nguyên. Sự nghiệp vãn chương của Nguyễn Trãi là của một thời và của muôn đời. Những ý kiến đánh giá về ông qua các thời đại siúp cho người đọc hiểu được vị trí và sự đóng góp của ông cho vãn hoá và văn học nước nhà. 7 Văn học thời trung đại còn khởi sắc ở chặng đường cuối với nhiều nhà văn tiêu biểu. Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao, một tấm gương sáng trên cả hai phương diện đạo và đời. Nhà yêu nước lớn, nhà nho giữ đạo vẹn tròn, nhà văn giàu dũng khí và tài năng, người đã giữ gìn và đưa văn chương lên vị trí cao quý. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều ý kiến sâu sắc của Phạm Văn Đồng và các nhà nghiên cứu khác về sự nghiệp vãn thơ Nguyễn Đình Chiểu. Trong công lao chung nghiên cứu về tác giả thời kỳ trung đại phải kể đến những công trình của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Trần Đình Hượu, Lê Trí Viễn, Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi, Bùi Duy Tân, Nguyễn Lộc,... đặc biệt là Xuân Diệu. Ông tự đặt cho mình nhiệm vụ phải nói cho được cái hay, cái đẹp, hương vị cao quý trong văn thơ các danh nhân của mọi thời. Ông là người ngưỡng mộ thi hào dân tộc Nguyễn Du, "Bà Chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương, ca ngợi Nguyễn Khuyến, nhà thơ của "dân tình làng cảnh", cảm thương cái tài, cái phận với tiếng cười ra nước mắt của Tú Xương. Bước sang thời kỳ hiện đại, cánh cửa lịch sử mở dần từ đầu thế kỷ XX và chỉ sau hai thập kỷ lịch sử văn học đã bước vào thời kỳ Phục hưng với phong trào Thơ mới, Tự lực văn đoàn, trào lưu hiện thực phê phán và tiếp theo là hơn nửa thế kỷ văn học cách mạng. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là tác gia lớn mở đầu cho nền văn học cách mạng. Sự nghiệp của Người bao gồm nhiều phạm vi : thơ ca, truyện ký, văn chính luận và ở lĩnh vực nào cũng nổi lên những tác phẩm tiêu biểu. Sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh là niềm hứng thú của nhiều nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam cũng như thế giới và chúng ta đã có một khối lượng tư liệu phong phú về nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác của Người. Các tác giả Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Hoài Thanh,... các nhà thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên,... đều có nhiều bài viết hay về văn thơ Hồ Chí Minh. Tố Hữu, nhà thơ vô sản với phong cách sáng tạo độc đáo đã sớm thu hút được sự quan tâm của bạn đọc. Ngay từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Trần Minh Tước đã gọi "Tố Hữu là nhà thơ tương lai". Cách mạng tháng Tám thành công, tập thơ T ừ ấ y được giới thiệu và Đặng Thai Mai xem là "bó hoa lửa lộng’ lẫy". Suốt nhiều thập kỷ, Tố Hữu vẫn là "lá cờ đầu cùa thơ ca cách mạng". Thơ Tố Hữu đã chinh phục được nhiều thế hệ bạn đọc qua giọng điệu trữ tình cách mạng ấm áp tình đời, tình người. Hàna trăm bài viết, công trình nghiên cứu đã khai thác khá triệt để thơ Tố Hữu với nhiều cách tiếp cận, vận dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp. Những nhà văn, nhà thơ lớn của thời kỳ hiện đại như Xuân Diêu. 8 Nguyễn Tuân, Nam Cao đều có phong cách sáng tạo độc đáo lôi cuốn mạnh mẽ người đọc. Xuân Diệu, "nhà thơ mói nhất trong phong trào Thơ mới”, nhà thơ lớn của nền thơ ca cách mạng, nhà phê bình nghiên cứu văn học uyên thâm và tinh tế đã là đề tài của nhiều công trình. Nguyễn Tuân độc đáo và tài hoa trong văn cũng như trong đời, một kiểu mẫu nhà văn lấy mình làm điểm tựa để nói về cuộc đời với nhiều ý tưởng lạ, ngôn từ chắt lọc, sáng tạo. Nam Cao đến muộn, tuy chưa được biết đến trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan nhưng từ những năm đầu thập kỷ sáu mươi, Nam Cao đã thu hút và ngày càng đằm sâu trong ký ức từ tuổi học trò đến những người trải đời và đau đời. Bộ sách tham khảo khá đồ sộ về chín tác giả : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân đã được Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức biên soạn và phát hành. Người đọc đã có một khối tư liệu và kiến thức hữu ích luận bàn về các nhà văn đó. Điều đáng quý là chúng ta lại tiếp tục được đón nhận những tác giả mới với những bộ sách tham khảo công phu và nghiêm túc. Có thể nói đây là dàn tác giả rất đáng kính trọng và mỗi người là một thế giới tinh thần riêng không thể thay thế được. Lê Thánh Tông là hoàng đế và cũng là nhà văn, nhà thơ thời đầu Lê. Ông có công tổ chức biên soạn Đại Việt sử kỷ toàn thư và Thiên Nam dư hạ tập, lập hội Tao đàn, viết nhiều thơ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập là tác giả chính của tập Thánh Tông di thảo nổi tiếng,.... Thơ văn Lê Thánh Tông là sáng tác cung đình nên mang theo nhiều cung cách văn chương bác học, tuy không tránh khỏi khuôn sáo nhưng cũng chứa chan cảm hứng nhân văn của một thời non nước thăng bình. Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,... Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đỉnh cao về thi ca thời trung đại. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự kết hợp từ chiều sâu chất trí tuệ và thi ca. Những kiến thức sâu sắc vể triết lý phương Đông tự trong ngọn nguồn của kinh sách kết hợp với triết lý cuộc đời nhiều trải nghiệm của một thi nhân, người hành đạo đã đem lại cho thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tầm vóc nhà thơ lớn của thời đại. Thơ của ông như một khu rừng thâm nghiêm linh thiêng thách thức sự tìm kiếm. Nguyễn Binh Khiêm là người trí thức trong thơ và là nhà thơ giàu tri thức, uyên bác. Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Huệ Chi, Bùi Duy Tân,... đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu cuộc đời và thơ Nguyễn Binh Khiêm. Hổ Xuân Hương là một tâm hồn thơ nữ giàu giá trị nhân văn, một giọng điệu lạ và hấp dẫn trons phong cách sáng tạo. Đến với thơ Hồ Xuân Hương là đến với tài năns và sự độc đáo. 9 Nhà thơ này không khổ công để tạo nên bản sắc riêng mà khí chất là của trời cho, là sự chung đúc trong thơ sự hồn hậu, đa sắc điệu cùa tâm hổn bình dân với những tri thức của đời sống xã hội và sự kiểm nghiệm của riêng mình. Có một điều lạ là khi viết về Hồ Xuân Hương, tất cả những người viết đều chạy theo, nói theo giọng điệu của bà và tạm quên đi điểm xuất phát của mình về giới tính, tuổi tác và cương vị xã hội. Thơ Hồ Xuân Hương được tiến sĩ N. I. Niculin dịch ở Nga, dịch giả Huỳnh Sanh Thông dịch ở Mỹ, rồi được dịch ờ Pháp và đều nhận được sự khâm phục, tán thưởng. Các nhà nghiên cứu Việt Nam như Hoàng Xuân Hãn, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, Lê Trí Viễn, Nguyễn Lộc, Đào Thái Tôn, Đỗ Lai Thuý,... đều góp nhiều công sức tìm hiểu, nghiên cứu tài năng của nữ thi sĩ bậc nhất tài danh này. Nguyễn Công Trứ là mẫu nhà nho tài tử. Đời người cũng như trang viết gắn bó thống nhất. Một sự cởi mở trong tư duy tiếp nhận cũng như xử thế với đời, một phong cách tài hoa, vượt lên những gò bó quy phạm của đạo lý nhà nho, một tài năng sáng tạo nghệ thuật in đậm bản sắc cá nhân,... tất cả góp phần tạo nên phong thái riêng của văn thơ Nguyễn Công Trứ. Trong văn thơ cổ, Cao Bá Quát nổi lên như một trong những đỉnh cao của bản lĩnh và tài năng thơ. Ông là nhà thơ giàu khí phách trong đời cũng như trong thơ, là nhà thơ của trí tuệ anh minh và cảm xúc chắt lọc. Thơ chữ Hán của Cao Bá Quát chưa được dịch và giới thiệu nhiều, thi tài sẽ bộc lộ và khẳng định thêm qua thời gian. Nổi lên cùng thời với Nguyễn Khuyến là một tài năng thi ca vừa giàu chất thế sự vừa có phong vị châm biếm đặc sắc : Trần Tế Xương, Xuân Diệu cho rằng, trong các nhà thơ trào phúng "họ Tú" thì Tú Xương có cái nhìn sắc sảo hơn cả, cười ra nước mắt. Chúng ta trân trọng đón nhận những áng thơ văn của Phan Bội Châu, "những câu thơ dậy sóng" mang tâm huyết của một nhà yêu nước lớn, một nhân cách cao đẹp. Làm chính trị hay làm thơ, Phan Bội Châu cũng chỉ có một mục đích phục vụ cho dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân. Cùng với ông, Phan Châu Trinh cũng là tấm gương kiên trinh của người chiến sĩ trong đấu tranh. Lòns yêu nước sâu sắc, tâm hồn cao thượng được ký thác trong vãn thơ đã gây chấn động một thời. Khép lại thời cận đại, Tản Đà đã đến như sự báo hiệu cho nhữns đổi thay trong thơ ờ một chặng mới, Tản Đà chất chứa nhiều màu thuản, mâu thuẫn của buổi giao thời mà ông là người quy tụ hơn là đổi thay Thơ Tản Đà chứa đựng một tấm lòng, ông khao khát tìm một thế giới tốt đẹp ở trần giới hay nơi tiên cảnh, ông sống giữa mộng và đời nhưno 10 cuộc đời thực vẫn day dứt tác giả khôn nguôi. Những nhà nghiên cứu về Tản Đà đã có những định hướng khác nhau. Người thì khai thác tính chất giao thời trong thơ ông. Người lại tìm hiểu chất dân gian, dân tộc qua những trang viết. Đặc biệt, nhà nghiên cứu Văn Tâm đã bỏ nhiều công sức để phân tích "khối mâu thuẫn" của Tản Đà. Thời kỳ 1930 - 1945 với những chân dung đẹp của nhiều trào lưu văn học, chúng ta đã có Nam Cao, một nhà văn hiện thực xuất sắc, lại có thêm những tên tuổi lớn : Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Tô Hoài,... Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực xuất hiện sớm, nổi lên với tập truyện Kép Tư Bển và tiểu thuyết Bước đường cùng nhưng sự nghiệp của ông thực ra được tạo dựng trong chiều sâu bằng hàng trăm truyện ngắn và hàng chục tiểu thuyết. Nguyễn Công Hoan là một pho sử liệu sống sinh động và chân thực về thời kỳ hiện đại. Ông đặc biệt thành công với nghệ thuật truyện ngắn, với tài châm biếm trào lộng. Tiến sĩ N. I. Niculin cho rằng : "Nguyễn Công Hoan là bậc thầy của truyện ngắn châm biếm". Ánh hưởng của ông thật to lớn trong văn giới. Có người lại xem Ngô Tất Tố là hiện tượng độc đáo nhất của văn chương hiện thực. Từ một nhà nho "sôi kinh nấu sử" trong "lò" của Khổng - Mạnh, ông đã trở thành một nhà văn hiện thực có tầm cỡ, một nhà báo cấp tiến. Sự kết hợp sâu sắc vốn sống của làng quê với những nhận định sắc sảo của một trí thức Nho học có tâm huyết, nhiệt tình đấu tranh cho lẽ phải và công bằng xã hội đã tạo cho ngòi bút của Ngô Tất Tố những phẩm chất riêng đáng trân trọng trong tiểu phẩm văn chương và báo chí cũng như trong tiểu thuyết. Các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàn,... đã có chuyên luận nghiên cứu sâu về cuộc đời và văn nghiệp của Ngô Tất Tố. Vũ Trọng Phụng lại tỏ ra cập nhật với những đề tài xã hội hiện đại. Bằng năng lực khái quát hoá cao, cộng với sự hiểu biết sâu sắc mặt trái của đời sống thành thị, ông đã tạo cho mình một thế giới nghệ thuật riêng, những nhân vật giàu cá tính, những hoàn cảnh độc đáo và giọng điệu văn chương hấp dẫn. Ông là nhà vãn của những trang viết giàu bản sắc và tính hiện đại. Vũ Trọng Phụng mất ở tuổi hai mươi bảy nhưng đã để lại một di sản văn học lớn,... Rồi Nguyên Hồng, Tô Hoài đều là những cây bút sung sức, eiàu sáng tạo. Một Nguyên Hồng lực lưỡng với những trang viết về người lao động thành phố Cảng và nỗi thống khổ của họ trong cuộc đời cũ. Nguyên Hồng cũns là nhà tiểu thuyết lịch sử với những đam mê lịch sử của dân tộc và những nỗi niểm của nhân vật quá khứ. Tô Hoài trong dòng chung của trào lưu văn học hiện thực ngày càng tạo riêng cho mình những giá trị mới. Ông viết về đất nước, con người qua những 11 bức tranh xã hội chân thực và lắng đọng với thời gian để làm nổi lên những giá trị vật chất, tinh thần bền vững. Tô Hoài với vùng đất ven thành qua bao đời, Tô Hoài với con người và thiên nhiên xứ nhiệt đới nhiều kỳ thú, những phong tục tập quán lâu đời, các loài vật trong nhà và hoang dã. Trong dòng văn chương lãng mạn, ngoài Nguyễn Tuân, chúng ta có thêm Thạch Lam, một cây bút giàu tình cảm, tinh tế. Thạch Lam tuy ở trong nhóm Tự lực văn đoàn nhưng có định hướng và một số nội dung sáng tác khác với các nhà văn trong văn đàn. Những trang viết của ông giàu lòng nhân ái, hướng về cái đẹp, cái thiện, gợi lên ở người đọc nhiều suy nghĩ về tình yêu và nhân phẩm của con người. Bên cạnh những tên tuổi lớn của văn xuôi lãng mạn và hiện thực, các nhà thơ của phong trào Thơ mới suốt hơn một thập kỷ vẫn lấp lánh vẻ đẹp sáng tạo. Ngoài Xuân Diệu, chúng ta lại có thêm Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,... những nhà thơ ờ vào bậc nhất nhì trong phong trào Thơ mới. Thế Lữ là người mở đầu, người góp phần khẳng định sự thắng thế của thơ mới qua những bài thơ rất hay. Tha thiết với cái đẹp, cái cao cả, tâm hổn đầy lãng du của người thi sĩ tài năng này cũng phải chịu đựng những xót xa, tủi buồn,... Thế Lữ có công đầu trong loại văn xuôi kỳ ảo, trinh thám của thời kỳ trước Cách mạng. Lưu Trọng Lư là một tên tuổi lớn trong phong trào Thơ mới, Thơ ông đẫm tình và mộng. Tập Tiếng thu giàu cảm xúc và mộng tưởng. Ông đi tìm cái đẹp trong tình người, nhất là tình yêu và ngợi ca say đắmế Lưu Trọng Lư cũng gây ấn tượng riêng qua một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn như Khói lam chiều và Chiếc cúng xanh, Người sơn nhản,... Phong trào Thơ mới nổi bật lên với một "cặp song sinh", một đôi tri kỷ trong đời và trong thơ : Xuân Diệu và Huy Cận. Huy Cận trầm sâu và nhân hậu trong hơi thơ trong trẻo và tha thiết với cuộc đời. Nhà thơ mang niềm tin đến với cuộc đời như ngọn "Lửa thiêng" và chỉ nhận được nỗi đau trong cuộc đời cũ. Niềm vui trong hiện tại đã thực sự đổi thay để tiếng thơ ông chín lại và có thêm một mùa hoa trái mới. Chế Lan Viên tài hoa và giàu trí tuệ. Thơ ông là một minh chứng cho sức nghĩ, sức cảm của một tâm hổn thơ không ngừng toả sáng trong suốt cuộc đời từ những vần thơ tài năng của tuổi mười sáu cho đến những trang di cảo cuối đời. Trong các nhà thơ mới, Tế Hanh là người đến muộn nhưng là bông hoa đầy hương sắc. Thơ Tế Hanh khỏns hướng về thế giới vĩ mô, xa lạ mà tìm về những cảnh đời bình dị, 2ần gũi của quê hương trong cách cảm nghĩ chân thực, hồn nhiên và giàu V vị của tuổi "hoa niên". Đời thơ Tế Hanh, nói như Xuân Diệu, là dònơ suối trong thầm thì, róc rách đi vào những mạch thầm kín của tình đời, 12 tình người. Nguyễn Bính thường được mệnh danh là "thi sĩ của đồng quê", nhà thơ "chân quê" nhưng chân tài. Viết về làng quê, ông đã miêu tả được cái văn hoá làng quê, tình quê, hồn quê. Nguyễn Bính vẫn là người bạn đổng hành với thời đại hôm nay. Trong các nhà thơ của phong trào Thơ mới, Hàn Mặc Tử quy tụ được nhiều lời ca ngợi về tài năng nhưng vẫn còn là một dấu hỏi, đòi hỏi nhiều sự luận bàn. Những khát vọng sáng tạo thăng hoa, lời nguyện cầu, lòng thiết tha yêu cuộc sống, những đớn đau của bệnh tật,... tất cả đã hoà quyện để tạo nên một phong cách thơ độc đáo. Thời kỳ văn học 1930 - 1945, hoạt động lý luận phê bình nổi lên những cây bút sắc sảo. Đặng Thai Mai và Hoài Thanh là những cây bút tiêu biểu. Đặng Thai Mai với Văn học khái luận đã góp phần xây dựng nền văn nghệ mác xít và ông cũng có công phát triển nền văn nghệ mới trong các giai đoạn sau Cách mạng. Vững vàng về quan điểm, tư tưởng, có chiều sâu học thuật, bút pháp diễn tả độc đáo là những ưu điểm dễ thấy của Đặng Thai Mai. Hoài Thanh có công khẳng định giá trị và quy tụ thành tựu của phong trào Thơ mới qua Thi nhân Việt Nam. Là nhà phê bình chuyên về thơ, Hoài Thanh còn bao quát nhiều giai đoạn của thơ sau Cách mạng, đã đánh giá nhiều tác giả và tác phẩm. Với giọng điệu mềm mại, uyển chuyển, bút pháp tinh tế, Hoài Thanh là một phong cách phê bình tiêu biểu. Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi là những tác giả mà sự nghiệp chủ yếu được hình thành từ thời kỳ sau Cách mạng. Nguyễn Huy Tường nổi lên thời kỳ 1940 - 1945 với vớ kịch Vũ Như Tô. Là một trí thức có tâm huyết, gắn bó với lịch sử Hà Nội, tác phẩm của ông ngợi ca truyển thống anh hùng của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và bày tỏ tâm sự, nêu những vấn để của người trí thức đi theo cách mạng. Nhà văn tài hoa này đến với cuộc đời mới và có tham vọng khai thác trên bình diện lớp sâu của hiện thực qua tiểu thuyết, những xung đột giàu tính kịch và chất thơ của cuộc đời. Nguyễn Đình Thi bắt đầu bằng chính sự bắt đầu - ông ít chịu ảnh hưởng của văn chương thời kỳ trước Cách mạng. Tỉnh táo, thông minh, giàu tướng tượng và liên tưởng, Nguyễn Đình Thi đã đem đến cho văn chương niềm vui, sự trong sáng của lý tường và cuộc đời mới. Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đều chớm vào tuổi thanh niên và sớm có mặt trons quân ngũ. Họ là những nhà văn - chiến sĩ, ngòi bút sung sức và có mặt ở nhiều giai đoạn cách mạng. Những trang viết của họ in đậm nét hình ảnh người chiên sĩ quân đội trong thời kỳ chốns thực dân Pháp và chống đế 13 quốc Mỹ. Nguyễn Khải giỏi phát hiện vấn đề, khai thác sâu tâm trạng nhân vật, nhạy cảm với nhiều mối quan hệ của nhân vật với thời cuộc, môi trường hoạt động, hoàn cảnh gia đình và thân phận riêng. Văn mạch tiềm ẩn nhiều câu hỏi, nhiều triết lý. Nguyễn Minh Châu gắn bó nhiều hơn với đời thường, với nhiều mẫu hình nhân vật. Ngòi bút Nguyễn Minh Châu sắc sảo khi phân tích từ hoàn cảnh hiện thực cho đến chân tướng của nhân vật để phát lộ ra bản sắc của mỗi con người. Nguyễn Minh Châu cũng có cái nhìn ưu ái, thấu hiểu cuộc đời và con người nên đã tạo được mạch tình cảm nhân ái trong tác phẩm. Anh Đức là nhà văn cách mạng miền Nam cùng thế hệ với Nguyễn Thi, Nguyễn Sáng, Nguyễn Trung Thành. Truyện ngắn và tiểu thuyết của Anh Đức nổi lên trong phong trào Đồng khởi. Tiểu thuyết Hòn Đất và tập truyện ngắn Bức thư Cà Mau là đóng góp đáng quý cho văn xuôi cách mạng miền Nam. Anh Đức đã kết hợp được trong tác phẩm của mình chất trữ tình và sử thi anh hùng, chất hiện thực tiêu biểu của cuộc sống và phần cảm nhận tinh tế, nhân hậu. Và cuối cùng là Lưu Quang Vũ, cây bút trẻ nhất trong các tác giả được tuyển chọn sau Cách mạng nhưng lại có thành tựu đáng trân trọng về sân khấu cách mạng. Kết hợp được tính thời đại cập nhật với giá trị lâu dài, hàng chục tác phẩm của Lưu Quang Vũ đã chiếm lĩnh sân khấu trong một thời kỳ, gây ấn tượng tích cực với khán giả. Bộ sách tham khảo Vê tác gia và tác phẩm được sưu tầm công phu, có hệ thống, chọn lọc. Được viết ra từ nhiều thời kỳ và những quan điểm nhận thức khác nhau nên cách đánh giá chắc chắn còn có khác biệt. Điều quan trọng là sự khẳng định đầy đủ những giá trị chủ yếu và phong cách sáng tạo riêng của từng tác giả. Trong thời gian tới, chúng ta sẽ có bốn mươi tập sách tham khảo công phu, nghiêm túc vể bốn mươi tác giả văn học lớn trong văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Đây là công trình tham khảo hệ thống nhất về tác giả, có giá trị thâu tóm khá đầy đủ những nhận định về văn học trong thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI. Những nỗ lực và đóng góp trên trước hết thuộc về chủ trương của Nhà Xuất bản Giáo dục, các biên tập viên và trực tiếp là các giáo sư, các nhà nghiên cứu trong và ngoài Viện Văn học. HÀ MINH ĐỨC 14 TlỂu SỬ CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU Xuân Diệu, họ Ngô, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 (năm Bính Thìn), tại Vạn Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (cũ). Cha là Ngỏ Xuân Thọ, quê ở xã Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ tú tài kép Hán học, vào làm thầy dạy học ở Bình Định, kết duyên với bà Nguyễn Thị Hiệp. Thuở nhỏ Xuân Diệu học chữ nho, chữ quốc ngữ và cả tiếng Pháp với cha, năm 1927 xuống học ở Quy Nhơn, đỗ bằng thành chung năm 1934. Thời kỳ này, Xuân Diệu đã tập làm những bài thơ theo các thể thơ truyền thống và rất mến phục Tản Đà. 1935-1936, Xuân Diệu ra học "tú tài" phần thứ nhất ở trường Trung học bảo hộ tại Hà Nội. 1936-1937 ông vào học "tú tài" phần thứ hai ở Trường Trung học Khải Định ở Huế. Tại đây, ông gặp Huy Cận, học sau hai lớp, và hai bạn thơ đã kết nghĩa với nhau một tình bạn bền bỉ ngót năm mươi năm. Ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh năm 1938, Thơ thơ ra đời với lời tựa của Thế Lữ. 1938-1940, Xuân Diệu cùng với Huy Cận ở gác nhà số 40 Hàng Than (thơ Huy Cận : P hố không cây thôi sầu biết bao chừng...). Xuân Diệu đi dạy học ở trường tư thục Thăng Long và Huy Cận học Trường Cao đẳng nông lâm. Năm 1939, Xuân Diệu tập hợp các truyện ngắn của mình đã đăng trên báo Ngày nay và cho xuất bản tập Phân thông vàng. Đi dạy trường tư, Xuân Diệu là một ông giáo loàng xoàng, không thê kiếm sống được ; cho nên đầu 1940 ông thi tham tá Nha Thương chính (nhà Đoan) và vào Nam Bộ nhận việc ở "Sở Đoan" Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Nhờ vậy, nhà thơ được sống ngót bốn năm ở đất Nam Kỳ và có vốn địa lý, vốn sống để sau này viết Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam và viết rất nhiều bài thơ đấu tranh thống nhất. Năm 1943, Huy Cận tốt nghiệp kỹ sư canh nông. Xuân Diệu xin thôi làm Tham tá nhà Đoan để về sống với Huy Cận tại Hà Nội, bằng sỏ' tiền lương cùa Huy Cận. Đôi bạn thân Huy - Xuân đã có lúc (1939) 15 bằng tiền dành dụm của mình, tự đứng ra xuất bản tập Thơ thơ (In lần thứ hai) với tên "Nhà xuất bản Huy Xuân". Từ Mỹ Tho trở về Hà Nội, Xuân Diệu cùng hoạt động văn học với Huy Cận, và cũng cùng tham gia Mặt trận Việt Minh hồi bí mật. Năm 1945, Xuân Diêu rhn ra dài tập thrt vftn xuôi Trường CLI và tập thơ Gửi Inũmg cha gió (Nhà xuất bản Thời đại). Tháng 2-1945, Xuân Diệu làm cuộc diễn thuyết đầu tiên trong đời mình với bài Sinli viên với quốc văn do Tổng hội sinh viên Việt Nam tổ chức, bài này sau đó được xuất bản với tên mở rộng Thanh niên với quốc văn. Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ. Những đảng phái phản động, núp sau quân chiếm đóng Tưởng Giới Thạch mưu đồ biểu tình chống Chính phủ Cách mạng lâm thời... Xuân Diệu cho đăng những bài thơ Một cuộc biểu tình, Tổng bất đình công, Vịnh cái cờ,... và đã cho xuất bản anh hùng ca Ngọn Quốc kỳ ca ngợi lá cờ đỏ sao vàng ; và đê cổ động Tổng tuyển cử đầu tiên 6-1-1946, Xuân Diệu đã cho xuất bản tráng khúc Hội nghị non sông. Bản thân Xuân Diệu cũng là đại biểu Quốc hội khoá I (1946-1960). Tháng 5-1946, một phái đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đổng làm Trưởng đoàn sang thăm hữu nghị nước Pháp, Xuân Diệu tham gia với tư cách đại biểu các nhà báo Việt Nam trong phái đoàn ; sau chuyến đi này, Xuân Diệu đã đăng trên báo Cứu quốc thiên phóng sự Từ trường bay đến trường bay và cho xuất bản tập Việt Nam nghìn clặm, viết về đời sống và cuộc đấu tranh của Việt kiều lính chiến và lính thợ tại Pháp từ 1940 đến 1946. Kháng chiến toàn quốc, Xuân Diệu ở suốt chín năm trong các chiến khu tại Việt Bắc. Ông đã đi theo Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1947 và phụ trách mỗi tuần nói một "câu chuyện văn hoá" ở đài, các tuỳ bút này về sau xuất bản thành tập Việt Nam trở dạ. Ông là uỷ viên chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam kháng chiến ; ông đã đăng trên tạp chí Văn nghệ một loạt bài Tiếng thơ, giới thiệu và cổ vũ phong trào thơ của công nông binh. Năm 1949, Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam do hai nhà văn Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng giới thiệu. Trong giảm tô và cải cách ruộng đất, ông là đội viên các "đội phát động" ở làng Còng (Thanh Hoá) và xã Cát Văn (Nghệ An), đã cho xuất bản tập thơ mòng Mẹ con về đề tài nông dân và ruộng đất. Cũng từ năm 1949, ông bắt đầu đi nói chuyện thơ trong quần chúng, cho đến nay ỏng đã trải qua ngót năm trăm cuộc bình thơ. Tháng 9 và tháng 10-1981. óng được mời sang nói chuyện về thơ Việt Nam tại Pháp. 16 Sau Hội nghị Giơnevơ 1954, đất nước tạm chia làm hai miền, từ chiên khu trở vể Hà Nội, Xuân Diệu lại vào cuộc chiến đấu mới ; một phần quan trọng trong các tập thơ ống là đề tài đấu tranh thống nhất, chống Mỹ - nguỵ và chuyên đề này chiếm toàn bộ tập Mũi Cù Mau (1962). Khi nhóm Nhân văn - Giai phẩm đi theo đường lối chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội trong văn nghệ, Xuân Diệu đã viết một loạt bài tiểu luận ứng chiến, in thành tập Những bước đường tư tưởng của tôi (1958). Năm 1958, ông là diễn giả trong kỷ niệm 138 năm ngày mất của Nguyễn Du, và đây cũng là khởi điểm của một loạt công trình nghiên cứu của Xuân Diệu về các nhà thơ lớn truyền thống của dân tộc. Xuân Diệu đã viết khoảng 450 bài thơ tình, 30 bài đã được in trong tập Cầm ray (1962), một số khác in xen kẽ trong các tập thơ xuất bản và số còn lại chưa in. Cùng với 15 tập thơ, Xuân Diệu còn là một nhà văn với tập truyện ngắn Phấn thông ràng, tập thơ văn xuôi Trường ca, những bút ký chính trị, những tuỳ bút viết dọc theo năm tháng của đời sống đất nước và nhân dân, đồng thời là một nhà viết nhiều tiểu luận và phê bình văn học, đặc biệt là về các nhà thơ cổ điển lớn Việt Nam. Xuân Diệu đã nhiều lần thăm Liên Xô, ông đã dịch Trường ca Vlađimia Ịlích Lê nin của Maiacốpxki, thơ Puskin, Êxênhin, Ximônốp, Antôcônxki, Lôcusin, Đôniratốpxki, Éptuxenkô, Matuxốpki. Ông đã giới thiệu và dịch thơ ba nhà thơ lớn Hunggary : s. Petofi, A. Giôdép, A. Ađi, viết bài giới thiệu và dịch thơ Những nhà thơ Bungari (1978, 1985, thơ Êlidavêta Bagrianna, thơ Blaga Dimitrova (Vây giữa tình yêu, 1968), đã dịch Những người thợ dệt Xilêdi, Lôrơlây và chùm thơ Intévnủydô trữ tìnlì của Henrích Hainơ. Ông cũng đã giới thiệu và dịch tập thơ Nicôla Ghiden, nhà thơ dân tộc Cuba, dự lễ mừng thọ N. Ghiden 80 tuổi ở La Habana. Xuân Diệu đã dự hội nghị trù bị các nhà vãn Á châu ở Niu Đêli (1958) và thăm Ân Độ hai tháng, giới thiệu và dịch thơ Rabinđranát Tago (1961). Năm 1980, ông dự và phát biểu trong Hội nghị các nhà văn thế giới bảo vệ hoà bình lần thứ hai ở Xôphia. Ông cũng là Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Đức (từ năm 1983). Xuân Diệu từ trần ngày 18-12-1985 vì một cơn đau tim đột ngột tại Hà Nội. (Theo Hữu Nhuận í B A I HOC T H Ẩ p Í ; T c H p h ổ m n ’U ẽ X l u m D i ệ u ) :THUNG Tam hoc u K •! 2A- XD —----------- . 17 1916 1927 1934 1935 1936 1938 1940 1943 1945 NIÊN BlỂu VÀ THƯ MỤC XUÂN DIỆU Sinh ngày 2 tháng 2 tại quê mẹ. Thuở nhỏ ông học chữ quốc ngữ và chữ Hán với cha, người đỗ tú tài kép Hán hoc, vào dạy học ở Bình Định. Học trường Cao đẳng tiểu học Quy Nhon, được cấp học bổng và nội trú tại trường. Đỗ thành chung tại trường Quy Nhon. 1936 Học tú tài phần thứ nhất tại trường Trung học bảo hộ tại Hà Nội. In bài thơ đầu tiên Với bùn tuy ấy ở báo Phong hoủ. 1937 Học tú tài phần thứ hai tại trường Trung học Khải Định, Huế. Kết nghĩa với Huy Cận (1936) cho đến cuối đời. Báo Ngày nay trong số Tết 1937, Thế Lữ giới thiệu Một nhà thi sĩ mới - Xuân Diệu. 1939 Sống với Huy Cận ở gác nhà số 40 Hàng Than, Hà Nội, dạy học ở Trường tư thục Thăng Long. Tháng 12-1938 Nhà xuất bản Đời nay in tập thơ Thơ tlìơ. Năm 1939 Nhà xuất bản Huy - Xuân tái bản tập Thơ thơ. Nhà xuất bản Đời nay xuất bản tập truyện ngắn Plìấn thông vùng. 1943 Đỗ tham tá Thương chính được bổ vào Sở Đoan Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). 1944 Sống với Huy Cận ở Hà Nội và tham gia Việt Minh bí mật. Nhà xuất bản Thời đại xuất bản tập thơ văn xuôi Trường ca, tập thơ Gửi hương cho gió, tập tiểu luận Thanh niên với quốc văn. Tham gia Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội. Xuất bản tráng ca Ngọn quốc kỳ,-tập~bútký Miên Nam nước Việt và Việt Nam nghìn dặm. \ 2B- XD 1946 1947 1948 1949 1951 1953 1954 1956 1957 - 1958 1959 1960 1961 1962 1964 1966 1967 1968 1970 Xuất bản tráng ca Hội nghị non sông, tập bút ký. Được bầu vào Quốc hội nước Việt Nam Dân chù Cộng hoà, khoá I (1946-1960). Công tác ở Đài tiếng nói Việt Nam. Được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam. Xuất bản tập bút ký Việt Nam trở dạ. Được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Tham gia cải cách ruộng đất. Xuất bản tập thơ Dưới sao vùng. Xuất bản tập tiểu luận Tiêhq thơ. Xuất bản tập thơ Súng. Xuất bán tập thơ Mẹ con và tập thơ Ngôi sao (được Giải thướng Văn nghệ 1954-1955). Xuất bản tập ký sự thủm nước Hung. 1985 Được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khoá I, II, III. Xuất bản tập tiểu luận Nhữiìg bước đường tư tưânq của tôi, tập bút ký Triều lên. Xuất bản tập tiểu luận Ba tlìi hào ílún tộc. Xuất bản tập thơ Riêng c hung, tập tiểu luận Phê bình giới thiệu rlìơ. Xuất bản tập tiểu luận Trò chuyện với cúc bạn lùm thơ trẻ, tập khào luận Hồ Xiiân Hương - Bù Cliúa thơ Nôm. Xuất bản tập thơ Mũi Cù Mau - Cầm tay, tập thơ dịch Thi /lào Nazim Hikmet, tập tiểu luận Dao có mài mói sắc. Xuất bàn tập thơ Một klìối hồng. Xuất bản tập khảo luận Thi hào dán tộc Nguyen Du. Xuất bản tập thơ Hai dọi sóng, tập thơ dịch V. ỉ. Lê ni lì của Maiacốpxki. Xuất bàn tập tiểu luận Đi trên đườỉiq lớìì, tập thơ dịch Vủx qiữa rình xêu của Blaga Dimitrova. Xuất bàn tập thơ Tôi ọiủu dôi mắt, tập tiểu luận Thơ Trần TêXươnạ. 19 1971 Xuất bản tập tiểu luận Đọc thơ Nguyễn Khuyên, tập tiểu luận Vù củy đời mũi mãi xanh tươi. 1974 1976 1977 1978 1981 1982 1983 1985 1988 1990 1992 1995 1996 2001 20 Xuất bản tập bút ký Việt Nam hồn tôi. Xuất bản tập thơ Hồn tôi đôi cánh. Xuất bản tập tiểu luận Mài sắt nên kim. 1980 Xuất bản tập tiểu luận : Lươììg thông tin và những kỹ sư tám hồn ấy, tập thơ dịch Những nhà thơ Bungari. Xuất bản tập I Cúc nhà thơ cổ điển Việt Nam. Cộng hoà Pháp mời sang nói chuyện về văn học Việt Nam. Xuất bản tập thơ Thanh ca, tập II Cátề nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập khảo luận Tìm hiểu Tân Đù, tập thơ dịch Nicôla Ghiílen. Được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức. Xuất bản tập I : Tuyển tập 'Xuân Diệu. Xuất bản tập II : Tuyển tập Xuân Diệu. Nhà nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất. Từ trần ngày 18 tháng 12 năm 1985. Xuất bản tập Thơ tình Xuân Diệu (do Vũ Quần Phương, Hữu Nhuận sưu tầm tuyển chọn). Nhàn dịp kỷ niệm năm năm ngày mất, Trường Viết văn Nguyễn Du đã tổ chức Hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của Xuân Diệu. Xuất bản tập Thơ tình Xuân Diệu (do Hà Minh Đức giới thiệu, tuyển chọn), NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp. Xuất bản tập Thơ tình Xuân Diệu (do Ngô Văn Phú tuyển chọn), NXB Hội Nhà văn. Nhân dịp kỷ niệm mười nãm ngày mất, Tạp chí Văn học ra số đặc biệt về Xuân Diệu. Được nhà nước CHXHCN Việt Nam tặng Giải thường Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt 1). Toàn tập Xiiâiì Diệu ra đời. Gồm 6 tập gần 5500 trang. Nguyễn Bao sưu tầm, giới thiệu. NXB Vãn học ấn hành. XUÂN DIỆU - MỘT TÀI NĂNG ĐA DẠNG • • • Con đường sáng tạo của Xuân Diệu phát triển trên suốt nửa thế kỷ. Ông là một tác gia lớn trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại với một phong cách riêng đặc sắc. Trước và sau năm 1945, Xuân Diệu đều có những đóng góp lớn đối với nền văn học nước nhà. Ông là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Sau năm 1945, ông cũng thuộc số ít người ờ hàng đầu của nền thơ ca Cách mạngỄ Xuân Diệu đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, có giá trị lâu dài về nhiều thê loại : thơ, văn xuôi, nghiên cứu phê bình, dịch thuật... Với nhà văn tài năng này, ở thế loại nào ông cũng đạt được những thành tựu, in đậm dấu ấn riêng. Trong sáng tác của Xuân Diệu các thể loại hoà quệp vào nhau, khó tách bạch ; trong văn xuôi giàu chất thơ, trong thơ giàu chất sinh đông của hiện thực đời sống, trong nghiên cứu phê bình tinh tế tài hoa mà không kém phần sắc sảo. ơ một người cầm bút như Xuân Diệu, tính cả về số lượng và chất lượng thì ở mỗi thể loại đều cần thiết phải có những chuyên luận, nghiên cứu một cách công phu và đầy đủ. Một số bài viết được tuyển chọn trong tập sách này đã phần nào thực hiện được yêu cầu đó và sẽ còn tiếp tục nhiều công trình nghiên cứu về Xuân Diệu. Sinh thời Xuân Diệu, đã có nhiều bài phê bình, tiểu luận, nghiên cứu về các sáng tác của ông. Số lượng bài viết về thơ Xuân Diệu khá phong phú. Điều đó nói lên rằng giới nghiên cứu phê bình văn học nước ta ngày càng nhận thấy giá trị lớn lao của Xuân Diệu trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn.Xuân Diệu đã lọt vào "mắt xanh" của những người có tên tuổi và uy tín trong giới văn nghệ sĩ. Mặc dù cách nhìn nhận và đánh giá của các tác giả có những điểm khác nhau, nhưns nhìn chung các bài viết đều thống nhất đánh giá cao đóng góp và vị trí hàng đầu của Xuàn Diệu đối với phong trào Thơ mới. Trong bài viết đầu tiên giới thiệu Xuàn Diệu năm 1937. Thế Lữ - người đi tiên phong của phong trào Thơ mới đã có những nhận xét chuẩn xác, 21 biếu hiện sự trân trọng đối với một tài năng của đất nước : "Thơ cùa óng không phải là "văn chương" nữa, đó là lời nói, là tiếng reo vui hay nãn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong những thanh âm,... Xuân Diệu, nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng", ở lời tựa tập Thơ thơ (năm 1938), Thế Lữ vẫn tiêp tục dành những lời nồng nhiệt ca ngợi Xuân Diệu. Thế Lữ đã đưa ra những nhận định phóng khoáng mà tinh tế về những đặc điểm của hồn thơ Xuân Diệu : "Thơ t/ìơìà cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian. Và từ đây, chúng ta đã có Xuân Diệu. Loài người hãy hiểu con người ấy !". Bài viết về Xuân Diệu trong Thi nhãn 'Việt Nam (1942) của Hoài Thanh cho rằng thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có. Khi vui cũng như khi buồn ông đều nồng nàn tha thiết. Sau khi đưa ra một số câu thơ chứng minh cho những nhận định của mình Hoài Thanh đã đi đến một nét khái quát, đề cao đúng vị trí của Xuân Diệu : "Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới - nên chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu mà đã thích thì phải mê... Với một nhà thơ còn gì quý hơn cho bằng sự hoan nghênh của tuổi trẻ". Vũ Ngọc Phan trong Xuân Diệu và Trần Thanh Mại trong Thơ tlìơ vù Xuân Diệu đều nhấn mạnh đến sự xuất hiện của một tài năng nghệ thuật mới và lưu ý đến độ chín của ngôn từ, đến hương vị và nhạc điệu trong từng câu thơ. Sau năm 1945, phần sáng tác trước Cách mạng của Xuân Diệu cũng được đề cập đến nhiều lần, chủ yếu là trong các bài viết về tác giả. Đáng chú ý là các bài của Hoàng Trung Thông, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Mã Giang Lân, Nguyễn Văn Long,... Các bài viết đều có những khám phá, sáng tạo mới, đi sâu vào nhận xét tư duy nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật, phong cách và bút pháp của tác giả Xuân Diệu trên các chặng đường sáng tác. Những năm gần đây, thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình tiếp cận và soi chiếu dưới góc độ của thi pháp học hiện đại (Đỗ Lai Thuý, Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng, Lý Hoài Thu, Nguyễn Đăng Điệp,...). Đặc biệt là những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu đã được phân tích và bình giảng tương đối kỹ. Bản thân Xuân Diệu trong các bài tiểu luận về thơ thường nhắc đến các sáng tác của mình trong mối tương quan so sánh giữa hai giai đoạn. Là nhà thơ của niềm giao cảm với đời nên hồn thơ Xuân Diệu bắt vào 22 mach sống và nguồn sáng của cách mạng một cách nhanh chóng, tuy còn những day dứt, đau đớn vì có lúc chưa theo kịp với sự đổi mới, sự chuyển mình của cuộc sống. Xuân Diệu là người rất có ý thức về điều này. Ở tuổi ngoài sáu mươi, Xuân Diệu đã nói một cách tổng hợp về đời làm thơ và quan niệm về thơ của ông : "Tôi muốn nói rằng tôi là cũ và tôi là hiện đại, và cả hai phương pháp sáng tác, hai "hổn thơ", hai giai đoạn lịch sử của nước tôi hoà lẫn trong tôi... Tôi không chút nào từ bỏ các sáng tác về trước mình... Tôi tìm thấy một hạnh phúc giàu có hơn, trọn vẹn hơn, sáng tạo hơn trong khi ở với cha tôi là Nhân dân và mẹ tôi là Tổ quốc”. Khi đến với cách mạng, Xuân Diệu trở thành nhà thơ nhập cuộc với tất cả trí tuệ, tình cảm và tâm hồn của mình cho nhân dân, cho dân tộc. Tuy có lúc phát biểu một cách cực đoan nhưng Xuân Diệu chưa bao giờ chối bỏ những đứa con tinh thần của mình ra đời trước Cách mạng. Là một tác giả đa tài, sự nghiệp sáng tác văn học của Xuân Diệu khá đồ sộ. Bên cạnh những mảng thơ mà Xuân Diệu đã dành phần lớn bút lực của đời mình, ông còn có một mảng sáng tác khá quan trọng nữa là văn xuôi. Nhưng nói như nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh : "...Tôi không muốn tách biệt văn Xuân Diệu với thơ Xuân Diệu. Văn hay thơ thì vẫn là hình ảnh phập phồng nóng hổi của một trái tim đắm say sự sống, mùa xuân tuổi trẻ và tình yêu". Phải chăng đó cũng là ưu thế, là điểm mạnh đối với những tài năng nhiều vẻ như Xuân Diệu ? Không chỉ đến với thơ, Xuân Diệu đã đến với văn xuôi từ rất sớm. Năm 1939, tập họp các truyện ngắn đã đăng trên báo Ngày nay, Xuân Diệu cho xuất bản tập truyện Phấn tliông vàng. Đến năm 1945 cùng với tập thơ Gửi hương cho gió, Xuân Diệu cho ra đời tập văn xuôi Trường ca. Đặc điểm nổi bật trong văn xuôi của Xuân Diệu thời kỳ này là tính trữ tình lãng mạn. Những trang văn thật đẹp với những câu văn, những hình ảnh được trau chuốt, gọt giũa kỹ càng. Càu văn giàu nhạc điệu, không sa vào biền ngẫu song lại luôn luôn tạo được âm hưởng riêng. Chất thơ thấm đẫm trên những trang văn xuôi của Xuân Diệu. Có thể coi tập Trường ca như một kiểu thơ văn xuôi. Trong vãn xuôi trước Cách mạng Xuân Diệu đã sớm hình thành một giọng điệu riêng, tinh tế, tự nhiên, mượt mà, pha chút buồn duyên dáng. Văn xuôi trong Phấn thông vàng và Trường cu dường như là nối dài, mở rộng những ý tưởng mà 23 ông đã từng gửi gắm, từng nói đến trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Có thê dễ dàng tìm thấy trong văn xuôi những hình ảnh, những tư tương nghệ thuật mà Xuân Diệu đã nhiều lần nói tới trong thơ. Ở vãn xuôi, với những đặc trưng riêng của thể loại, Xuân Diệu đã giãi bày được đầy đủ, rõ ràng và đậm nét hơn những quan niệm về tình yêu, con người và cuộc sống. Bao trùm lên những trang văn của Xuân Diệu là niềm khát khao gắn bó với cuộc đời, là một tình yêu đắm say không giới hạn. Những truyện ngắn như Phấn thông vùng, Chú lúi khờ, Đoá hồng nhung, Người lệ ngọc,... đã bộc lộ khá đầy đủ những ý tưởng đó. Dưới con mắt của một người thơ đa tình, thiên nhiên bốn mùa dường như cũng mang một ý nghĩa khác : "Thu không phải là mùa thu sầu. Ây chính là mùa thu yêu, mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hổn yêu mến nhau... Trời muốn lạnh nên người ta cần nhau hơn. Và người nào chỉ có một thân, thì cần một người khác. Xuân, người ta vì ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà rất cần đôi. Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau..." (Thu). Không khí và hương vị của tình yêu bảng lảng khắp trong đất trời, trong cảnh sắc thiên nhiên và cỏ cây hoa lá. Chúng ta gặp lại ở đây một con người có trái tim yêu da diết, yêu đến hết và yêu đến chết. Như chính Xuân Diệu đã từng thú nhận : "Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá - Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì". Khao khát tình yêu cuộc sống, trải lòng ra đến tận cùng với tình yêu. Đó là âm hưởng chính trong truyện ngắn và bút ký của Xuân Diệu trước Cách mạng. Nhưng bên cạnh âm hưởng chính đó còn một mảng đề tài nữa mà Xuân Diệu hướng tới. Đó là số phận của những con người nhỏ bé, cam chịu và nghèo khổ. Chúng tôi nghĩ rằng ở mảng đề tài này, văn xuôi Xuân Diệu có nhiều đóng góp thiết thực hơn. Bởi vì tình yêu, những trạng thái của tình yêu đã được Xuân Diệu nói đến nhiều trong thơ một cách tài hoa và đạt hiệu quả hơn. Xu hướng văn chương lãng mạn nhưng không tách rời hiện thực đã tạo cho văn xuôi của ông mỏt bộ mặt đầy đủ và hoàn chỉnh hơn. Kiếp người lầm than đang lay lắt trong cảnh đói nghèo tủi nhục được Xuân Diệu thể hiện khá rõ trong truyện Thương vay. Đây là loại truyện không có cốt truyện, truyện giống như một tuỳ bút tâm tình, hay gọi theo cách của tác giả là "truyện ý tưởng". Hình ảnh bà lão nhà qué 24 nghèo khổ nhập nhoà trong bóng tối chỉ là một cái cớ để tác giả có dịp bộc lộ những suy nghĩ về tình cảm của mình : "...Một người bằng thịt bang xương - thịt khô và xương gầy - với một lịch sử chắc chắn khổ sở hết chín phần mười, với chút sống còn sót giữa lòng, như hòn lửa nhỏ còn lấp dưới tro... Bao giờ lòng thương lại chẳng có duyên cớ ở trên cái đời cùng cực, đau đớn, khốn khổ, rách rưới, cô đon này...". Trong Toâ nhi kiều, tác giả lại hướng ngòi bút của mình vào một cảnh ngộ khác. Đó là số phận mờ nhạt của hai chị em sống ở đất Hà thành. Họ sống đấy mà như không hề có mặt trên đời. Bao bọc xung quanh họ là một không khí tù đọng, tẻ nhạt, "không ánh nắng, chẳng hương người". Cả cuộc đời của hai cô gái chỉ là những buổi chiều dài vô vọng nối tiếp nhau, lẫn trong mù sương. Một buổi chiều triền miên của sự vật và của linh hồn. Tác giả như cảm nghe được tất cả sự mờ nhạt và vô nghĩa của cuộc đời hai cô gái. Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc trong hồi ký Nhớ bạn đã kể lại rằng Tocĩ nhị kiều được viết từ một tình cảnh có thật mà ỏng là người trong cuộc. Hồi đó Nguyễn Lương Ngọc ở trọ trên gian gác trong căn nhà của gia đình một viên chức. Ông đã sống ở đó một thời gian khá dài nhưng không hề chú ý đến hoàn cảnh của hai cô gái con chủ nhà. Nhưng chỉ một đôi lần đến thăm Nguyễn Lương Ngọc, Xuân Diệu đã để ý đến cuộc sống của hai cô gái. Cuộc đời buồn tẻ của hai chị em làm Xuân Diệu xúc động, và đã trở thành nguồn cảm hứng để ông viết nên Toả nhị kiều. Một số truyện ngắn như Đứa ăn mùy, Chó mèo hoang, Cái hoả lò,... cũng thể hiện sự hoà cảm xót xa với những kiếp người lầm than đang vất vả trong cảnh sống tối tăm, bị đời hắt hủi và khinh rẻ. Cái hoử lò gần như là một tự truyện về tuổi nhỏ của Xuân Diệu. Cảnh nghèo túng, thua thiệt và những ngang trái trong cuộc đời lẽ mọn của bà mẹ đã ảnh hưởng khá nhiều đến cuộc đời Xuân Diệu. Nó khiến cho ông sớm già dặn, chín chắn và dễ đồng cảm với những kiếp người nhò bé khi bước vào đời. Sáng tác văn xuôi là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp sáng tạo của Xuân Diệu. Sau Cách mạng, ông không viết truyện ngắn mà chì tập trung ngòi bút vào phê bình tiểu luận và bút ký. Bằng vốn hiểu biết phong phú và sự tinh tế nhạy cảm cùa một nhà thơ, bằng lối viết luôn tràn đầy nhiệt tình, tràn đầy cảm xúc, các sáng tác cùa Xuân Diệu có một tiêng nói riêng đáng chú ý. Khối lượng lớn nhữns sáng tác văn xuôi 25 của Xuân Diệu đã phần nào nói lên tàm sức của ông dành cho bút ký và tiểu luận phê bình( \ Cách mạng đã đem lại cho cuộc đời sáng tạo của Xuân Diệu một nguồn sinh lực mới. Tâm hồn ỏng được mở rộng về phía cuộc đời rộng lớn của nhân dân, của đất nước. Trước kia Xuân Diệu chỉ biết sống và viết dựa trên những cảin xúc tự nhiên, tự phát của mình. Giờ đây nhà nghệ sĩ đã đến với Cách mạng, hoà nhập và gắn bó hết lòng với thực tế đời sống đầy khó khăn gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng, đầy ắp những sự kiện và mang một ý nghĩa mới. Cái tỏi cá nhân riêng lẻ hoà với cái tôi công dân lớn một cách hoàn toàn tự nguyện. Xuân Diệu hăm hờ sông, hăm hở đi, hăm hở viết. Hàng loạt những tuỳ bút, ký sự đã tạo thành một dòng chảy liên tục, phản ánh bộ mặt phong phú, sỏi động của cách mạng Việt Nam trong suốt mấy chục năm lịch sử. Ông vừa là người nghệ sĩ vừa là một người thư ký trung thành của thời đại. Bút ký của Xuân Diệu đã ghi lại hàng loạt những sự kiện lớn của đất nước, những ngày hội trọng đại của dân tộc ta. Tất cả đểu mới mẻ và tràn đầy niềm tự hào : "Quốc kỳ mới, quốc ca mới, gươm súng mới, bộ đội mới, Dân quốc mới, Chính phủ mới : Hàng triệu trái tim đã đến dự ngày độc lập cũng đem đến một dòng máu như lửa mới nhen, như trăng mới mọc" ; và "trong nắng thu sáng chói đến gay gắt, dưới trời xanh có một ngọn cờ đỏ sao vàng chót vót nổi bật, một cảm giác mùa xuân dân tộc lan đi trén ngọn sóng người". Từ những ngày Tổng tuyển cử đầu tiên ở Hà Nội đến đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Không chỉ nói đến những sự kiện lớn của đất nước, Xuân Diệu còn thể hiện và bộc lộ con người mình rất rõ rệt qua những thiên tuỳ bút đầy chất thơ của một thi sĩ giàu kinh nghiệm. Xuân Diệu trải lòng mình và gửi gắm biêt bao tình ý trong những trang viết của mình. Bí quyết lớn nhất dẫn đên thành công của Xuân Diệu là ở trái tim có sức yêu mãnh liệt và một tâm hồn luôn rộng mở, gắn bó với cuộc đời, với đất nước, với nhân dân. Hai bài bút ký Cùng .xương tliịt với nhân dân in trona tập Đi trên đường lớìì và Vê lại quê Num in trong tập Mài sắt nên kim hói tụ (1) Các tác phấm chính như : Tiếng thơ (1951), Triều lên (1958), Nliữm; hước đưỜHiỊ tư tưừiiỊỊ cùa tôi (1958), Ba tlii hào dán tộc (1959), Phê bình giới tliiệu thơ (\96(J). Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ ( 1961). Díio có mài mới sắc (1963), Đi trên cỉườìHỊ lớn (] 968), Vù cãx đời mãi mãi xanh tươi (1971), Mùi sắt nên kim (1977), Liíợiiị; tliónỊỊ rin và iihữiiỊỊ kỹ sư tâm hồn ủy (1978), Các nhà thơ c ổ điển Việt Nam (hai tập, 1981. 19X2). 26 nhiều điểm mạnh và tương đối tiêu biếu cho bút pháp của ông. Cùng xương thịt với nhân dân cũng chính là cái tứ trong một bài thơ nổi tiếng, quen thuộc với nhiều người của Xuân Diệu, bài Đèm hùnh quân. Xuân Diệu đã nói đến những bước đi, những bước chuyến biến trong nhận thức của mình qua hai tháng đi thực tế ở khu Bốn. Không chỉ là chuyến đi thực tế "cưỡi ngựa xem hoa" mà đó là những ngày hoà mình thực sự với cuộc sống của nhân dân ở một vùng đất bị chiến tranh tàn phá ác liệt. Tác giả đã đi đến vài chục đêm từ Thanh Hoá đến Nghệ An, từ Vinh đến Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn,... "Đã mấy khi tôi thức trọn với núi sông như những lúc hành quân đêm này... Tôi biết những khoảng tờ mờ gần xa trong đêm kia làm gì, ấp ủ chuẩn bị những gì. Tôi thấy hết trong đêm, bởi trái tim tôi sáng... Tôi cùng một xương thịt với nhàn dân, với đất nước". Thực ra cái khát khao muốn gắn bó, hoà hợp với cuộc đời đã là nỗi ám ảnh của Xuân Diệu từ khi mới bước vào đời. Nhưng dưới chế độ cũ, cá nhân không hoà hợp được với xã hội, tác giả thu mình trong "chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề". Ngày nay Cách mạng đã đưa ông vào giữa lòng đời sống nhân dân. Xuân Diệu đã nói đến sự thay đổi ấy một cách thật là gan ruột và thấm thìa. Vê lại quê Nam, bài bút ký - thơ này được ra đời sau chuyến vể thăm quê của tác giả sau một cuộc xa cách dài ba mươi năm. Bằng một giọng điệu khi sôi nổi thiết tha, lúc trữ tình sâu lắng, những liên tưởng và suy nghĩ được diễn đạt sinh động và nhiều tầng biến hoá. Chế Lan Viên - một người sắc sảo và kỹ tính của làng văn đã gọi Xuân Diệu là "ông chúa bút ký". Xuân Diệu là một trong những văn nghệ sĩ tên tuổi có mặt ngay từ những ngày đầu xây dựng nền văn nghệ cách mạng và kháng chiến. Kỷ niệm về cái thuở ban đầu đáng ghi nhớ ấy đã được Xuân Diệu ghi lại rất đầy đủ và chi tiết trong các bài ký : Đụi hội Văn nghệ kliúng chiến 1948, Những kỷ niệm chung quanh tạp chí Văn /ìglìệ. Đó là những tư liệu văn học vô cùng quý giá, mà chắc chắn sau,này khi viết lịch sử văn học, khi dựng lại bức tranh cùa đời sống văn học không thê bỏ qua. Trong số những văn nghệ sĩ thành danh từ trước Cách mạng, Xuân Diệu là người nói đên sự thay đổi, sự chuyển biến trong tâm hồn và tư tường một cách đầy đủ, kỹ lưỡng nhất. Trong tiểu luận Nhữnq bước íiườtìg rư tướng của tôi, ý thức công dân, ý thức cách mạng đã được 27 biểu hiện tích cực trong niềm vui lớn của sự giải phóng, sự đổi đời. Ông đã là người sớm nhất, gắn tư cách công dân và người nghệ sĩ một cách trọn vẹn. Ngay trong tiến trình của Cách mạng, nhà thơ mới tiêu biểu nhất cho cái tôi, cho tình yêu cá nhân lại chính là người sớm nhập cuộc vào Cách mạng, vào đại chúng, vào số đông để trang trải lòng mình ờ tư cách người công dân một nước độc lập và hướng tới một cúi ta chung của cộng đồng là Tổ quốc và nhân dân. Xuân Diệu lại bước vào một cuộc "nhận đường" mới. Nhận đường trở về với nhân dân, nói tiếng lòng của nhân dân. Câu hỏi lớn trở thành một nỗi day dứt nơi ỏng, đó là : "Làm thế nào một thi sĩ trước Cách mạng chưa có chủ nghĩa Mác - Lênin trong sáng tác của mình không chết (nói về mặt thi sĩ) không chuyển ngành, không bỏ thơ dù để sang một nghệ thuật khác mà lại trở thành một thi sĩ trong Cách mạng, của Cách mạng ?". Xuân Diệu là người nói được một cách thấm thìa về thành quả và công ơn của Cách mạng đối với toàn thể dân tộc, trong đó có lớp trí thức, văn nghệ sĩ như ông. Xuân Diệu cũng nói đầy sức thuyết phục về sự đổi đời của cả một lớp người. Có thể nói cả một thế hệ văn thơ, từ Thế Lữ, Tú Mỡ, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, rồi Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao,... đều đã nói chân thành về hiện tượng "lột xác" này. Nhưng có lẽ Xuân Diệu là người nói được đầy đủ hơn cả qua Những bước đườiìg tư tưởng của tôi. Ong đã nói về những bước đường tư tưởng của mình một cách thành thực không tô vẽ, không giấu giếm. Qua đó, chúng ta thêm hiểu về ỏng và cũng là thêm hiểu về những nhà thơ từ chân trời cũ đến chân trời mới. Xuân Diệu đã có một bước chuyển biến dài, một sự đổi mới trong tâm hồn và trong cả sáng tác. Cuộc phấn đấu của ông vẫn tiếp tục "trên con đường lớn" của nhân dân, của đất nước mà ông suốt đời gắn bó. Xuân Diệu là người sớm gắn ý thức công dân với trách nhiệm của người nghệ sĩ. Trong bài Trò chuyện với cúc bạn lùm thơ trẻ, ông đã chân thành bộc bạch những suy nghĩ của mình. Kinh nghiệm của một đời cầm bút đã được nhà thơ đàn anh truyền lại cho các lớp sau rất chân tinh và thẳng thắn. Ông luôn luôn khẳng định niềm vui suớng, tự hào được làm "một người thi sĩ trong chế độ mới". Cái quý nhất ở Xuân Diệu là sự chân thực, sức lao động không mệt mỏi và luôn luôn đi từ sáng tạo này đến sáng tạo khác. Ông luôn là người thầy, người bạn lớn cho các thế hệ những người viết trẻ. 28 Không chỉ là người có khối lượng sáng tác thơ đồ sộ, trong các hoạt động khác của thơ, Xuân Diệu cũng là người có nhiều đóng góp. Đối với thơ ca hiện đại Xuân Diệu rất quan tâm. Ồng có mặt trong ban giám khảo của hầu hết các cuộc thi thơ, viết lời tựa cho các tuyển thơ, viết bài tổng kết, đánh giá các cuộc thi và các hoạt động sáng tác thơ. Từ những tác giả lão thành có tên tuổi từ trước Cách mạng như Tú Mỡ, Huy Cận đến những em nhỏ làm thơ như Trần Đăng Khoa, cẩm Thơ, từ cuộc thi thơ có tầm cỡ quốc gia cho đến những bài thơ sáng tác in trên báo tường, báo liếp đểu được Xuân Diệu dành cho một thái độ trân trọng, biểu dương, khuyến khích. Ông có một giọng điệu riêng khi phê bình giới thiệu thơ, tỷ mỷ, cẩn thận, kỹ lưỡng xăm soi đến từng hình ảnh, từng chi tiết, không tránh khỏi có những lúc tỏ ra quá nghiêm khắc. Bên cạnh việc biểu dương ưu điểm, Xuân Diệu là người chỉ ra những thiếu sót rất tinh tế và sắc sảo. Ông có tác phong làm việc rất đáng nể phục : "...Tôi cảm thấy mình làm một việc rất chi ly phiền toái, cứ thấy ưu điểm lớn và chung có phải vừa đúng, vừa đỡ mệt hay không ? Tại sao tôi tự làm khổ tôi, cứ đọc đi đọc lại hàng trăm bài thơ dự thi, sau khi cảm thấy những chỗ thơ không ổn rồi, lại phải nghiên cứu phân tích kỹ lý lẽ vì sao mà mình cảm thấy không ổn ?"Ệ Xuân Diệu là một người tài năng, có vốn văn hoá sâu rộng, có sự thẩm bình rất tinh tế. Ông là người rất quan tâm đến lao động câu chữ, là người khẳng định mối quan hệ hàng đầu giữa thơ và cuộc sống. Xuân Diệu chủ trương làm một nhà thơ phải có sự uyên bác trong thơ. Ông đã học, đã đọc cổ kim Đông Tây, rồi biến thành của mình và làm cho thơ mình trở nên phong phú hơn. Bài Sự uyên bác với việc lùm thơ - bài tiểu luận cuối cùng của Xuân Diệu là cuộc tổng kết một đời học tập, đồng thời là một sự sòng phẳng : cái gì ông học người, cái gì cũng là học người nhưng đạt tới trình độ cao hon. Trong khi phê bình giới thiệu thơ có những lúc quá say sưa, Xuân Diệu không tránh khỏi sự nhiều lời, gượng ép. Bạn bè đồng nghiệp trong giới đều thấy rõ nhược điểm này của ông, nhưng tất cả mọi người đều đánh giá cao tâm huyết và tài năng của Xuân Diệu trong lĩnh vực này. Giới sáng tác, phê bình và công chúng yêu thơ vẫn luòn luôn trông đợi người thẩm bình thơ ca có "đôi mắt xanh" như Xuân Diệu. Sở trường lớn nhất của Xuân Diệu là năng lực cảm thụ thơ văn. Ông thuộc những người nối tiếp truyền thống 29 thấm văn, bình thơ, viết thi thoại của cha ống ta. Thật là thú vị khi nghe một nhà thơ bình thơ, sự bình của Xuân Diêu gần với ý nghĩa bình vủn của các cụ ta thời trước hon là với phê bình của chúng ta ngày nay. Xuân Diệu có thể tự hào rằng mình thuộc trong số những nhà thơ từ ngày dựng nước đến nay theo dõi liên tục và có góp phần ảnh hường đến phong trào sáng tác thơ. Qua hàng loạt các bài viết, các tập tiểu luận được viết trong nhiều chục năm đã cho chúng ta một hình dung về Xuân Diệu, là người yêu thơ, say thơ, trân trọng thơ và có lẽ là người đọc nhiều thơ nhất. Chẳng những ông đã đọc mà còn lật đi lật lại, theo dõi từng chặng đường, từng tác giả, nghiền ngẫm từng tập, từng bài, phân loại, đánh giá và đã nêu lên được những nét bản chất và đặc trưng của thơ ca. Trong phê bình và thẩm định, Xuân Diệu đã kết hợp được sự tinh tế sắc sảo với tác phong cần cù, tỷ mỷ, chịu khó. Ớ mọi lúc mọi nơi ỏng đều tỏ rõ cốt cách của một người lao động câu chữ thực thụ. Có nhà phê bình đã ví ông như một người đàn bà suốt đời lam lũ lo liệu gây dựng cơ đồ. Ông là một người nghệ sĩ lao động không mệt mỏi, một người biết "mài sắt nên kim" chuyên cần và nhẫn nại. Đối với công việc tìm hiểu gia tài văn học của ông cha, Xuân Diệu là người có công rất lớn. Bộ sách Các nhà thơ cổ điển Việt Num (hai tập) là công trình nghiên cứu chững chạc và bề thế. Tác giả đã mang vào đó tất cả tâm huyết và tình yêu đối với văn học cổ điển. Nhiều nhà thơ lớn của dân tộc : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hổ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Đình Chiểu,... đã được Xuân Diệu nghiên cứu, phàn tích, bình giải. Khi viết về một tác giả, Xuân Diệu thường bỏ nhiều công sức đọc đi đọc lại nhiều lần, tìm hiểu chu đáo những tư liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Viết về bất cứ tác giả nào Xuân Diệu cũng cố gắng nắm bắt và chi ra được cái "thần", cái cốt cách riêng của người đó. Tinh yêu lớn lao đối với những giá trị văn học của cha ông thấm vào từng trang viết, làm nên mạch đập run rẩy trong mỗi dòng chữ, tạo nên những ấn tượng sâu sắc nơi nsười đọc : "Lòng Xuân Hương là lửa, tay Xuân Hương có điện, nên các chữ đều sống cả lên". Thấp thoáng đằng sau những tác giả cổ điên là hình dáng, tư tướng của chính Xuân Diệu. Đấy là một tẵíí/ tôi hiện tại đi ùm củi tôi cá thể của người xưa. Ông rất tinh tế chỉ ra những nỗi niềm riêng trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Á Nam Trần Tuấn Khai.... 30 khám phá niềm u ẩn trong thơ Nguyễn Du, cái rói mạnh mẽ, độc đáo của Tản Đà, tư thế lãng mạn, ngang tàng trong thơ Đào Tấn,... Ở mỗi tác giả ông say sưa chiêm ngưỡng, tìm tòi khám phá, làm nên sức cuốn hút của nhiểu trang viết". Điều đặc biệt là hầu như nói đến ai, dù thế nào, Xuân Diệu cũng nói đến quan hệ tình yêu, cũng phát hiện ở họ sự tình tứ, đắm say, chất đa tình sôi nổi. "Ông hoàng" của thơ tình Việt Nam hiện đại tỏ ra rất nhanh nhạy và đồng điệu với chất đa tình ờ những hồn thơ cổ điên. Sở dĩ Xuân Diệu đã phát hiện được những nét độc đáo, mới mẻ ở các nhà thơ cổ điển Việt Nam là bởi ông đã lấy chính mình ra đê nhìn ngắm và đối chiếu với họ. Khi phân tích tác phẩm, ông lại luôn luôn đặt mình vào địa vị người sáng tác, đê nói cho thấu đáo từ việc chọn một chữ, dùng một câu đến ý tứ chung của toàn bài. Nhà thơ của tình yêu đã nhận biết sâu sắc hơn ai hết những rung động và biến thái dù là nhỏ nhất trong những dòng thơ trữ tình của các nhà thơ cổ điển. Xuân Diệu đặc biệt say mê Truyện Kiều của Nguyễn Du : "Riêng tôi, vài chục năm nay đọc đi đọc lại đoạn Kim - Kiều gập nhau, Kim Trọng tương tư Kiều, kể có trăm lần, hổ như đã thuộc, thế mà mãi gần đây, mới nghiên cứu lại, mới gọi là sơ bộ nhận thấy những tầng lớp trong đó, thật tài tình". Nguyễn Du và Truyện Kiều là một thừ thách của nhiều cày bút nghiên cứu phê bình. Từ khi ra đời đến nay đã có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá Truyện Kiều. Đến lượt mình, Xuân Diệu đã có một cách tiếp cận riêng đê phát hiện được nhiều điều mới mẻ. Kết hợp sự suy nghĩ còng phu với cách cảm nhận tinh tế của một nhà thơ, Xuân Diệu đã làm cho người đọc nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc hơn về nhà thơ thiên tài cùa dân tộc ta. Chì riêng phần bàn về ngôn ngữ trong Truyện Kiều cũng đã là một chuyên luận có nhiều phát hiện thú vị, tỏ rõ sự uyên bác của một người am hiểu và yêu quý ngôn ngữ của dân tộc. Văn phong trong phê bình, nshiên cứu, tiểu luận của Xuân Diệu ít khi mực thước. Ồng thường đế cho cảm xúc cuốn đi, say sưa theo đuổi những ý tướng của mình. Trong những bài viết ông sử dụng một ngôn ngữ đa dạng và biến hoá rất linh hoạt. Với một cái nhìn sắc sào, vừa bao quát vừa tỷ mỷ, với một văn phong độc đáo, tự nhiên, Xuân Diệu đã làm cho những tên tuổi lớn trong kho tàng văn học dân tộc thêm chói sáng. 31 Xuân Diệu cũng là người đi đầu trong việc giới thiệu những giá trị thơ ca trên dòng giao lưu giữa các nhà thơ lớn trên thế giới : Louis Aragon, Paul Éluard, Petofi, Maiacốpxki, Nazim Hikmet, Blaga Dimitrova, Pablo Neruda, Nicôla Ghiden,... Xuân Diệu đã góp phần làm cho chúng ta giàu có thêm về tâm hồn, phong phú thêm về kiến thức. Ông đã thực hiện công việc này với một tinh thần trách nhiệm cao. Khi bắt tay vào dịch tác phẩm của một nhà thơ nước ngoài, Xuân Diệu không chỉ đối mặt với từng trang bản thảo mà ông còn bỏ nhiều công sức tìm hiểu cuộc đời, những quan niệm về nghề nghiệp và phương pháp sáng tác của người đó. Có những tác giả, Xuân Diệu bỏ công sức và thời gian theo đuổi hàng năm trời. Xuân Diệu tìm thấy ở mỗi nhà thơ một vẻ đẹp riêng. Ông luôn cố gắng đem lại cho các bản dịch những giá trị tương đối thật của nó, đem lại cái hồn của từng bài thơ nằm sau lớp vỏ ngôn từ của một thứ ngôn ngữ khác xa với tiếng mẹ đẻ của mình. Ông tìm thấy trong công việc này một niềm hứng khởi lớn lao. Hồn thơ và trái tim ông có những giao cảm ân tình với nhiều bạn thơ trên thế giới. Vừa là nhà thơ dịch giả, ông vừa là sứ giả của tình hữu nghị, giao lưu văn hoá. Xuân Diệu viết truyện ngắn, bút ký, nghiên cứu, phê bình, dịch thuật,... trong lĩnh vực nào ông cũng đạt tới thành công, nhưng hoạt động sáng tạo chủ yếu vẫn là làm thơ. Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp lớn bao gồm gần năm chục tập sách, trong đó có mười lãm tập thơ đã xuất bản, chưa kể những bài thơ chưa được công bố. Thơ là nơi Xuân Diệu gửi gắm nhiều tâm huyết nhất. Phần lớn những tinh hoa, sức lực của đời mình ông đã giành cho thơ. Và cũng chính ở địa hạt này, Xuân Diệu đã gặt hái được những thành công rực rỡ nhất. Trong số các danh hiệu xưng ở đời, Xuân Diệu tự hào và tâm đắc nhất với danh hiệu nhà thơ. Thơ ca là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của ông. Xuân Diệu có mặt và có thành tựu lớn ở cả hai trào lưu thơ ca lớn nhất thế kỷ : Thơ mới và thơ ca Cách mạng. Cũng như văn xuôi Tự lực văn đoàn, Thơ mới là hiện tượng đánh dấu sự phát triển đột biến trong lịch sử văn học dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học nói riêng cúi tôi cá nhân được đề cao như mót sự đối lập với cái ta của mỹ học phong kiến phương Đông. Cũng là lần đầu tiên, ý thức cá nhân được bộc lộ một cách ồ ạt, đa dạng, nhiều vẻ 32 trong thơ của phong trào Thơ mới, trong văn xuôi lãng mạn của Tự lực văn đoàn. Trong số các nhà thơ của làng Thơ mới, Xuân Diệu xuất hiện sau một số tác giả, nhưng như nhận xét của Hoài Thanh : "Xuân Diệu là nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại". Với sự xuất hiện của Thơ mới (1938) người ta chưa hết ngạc nhiên vì "cái vẻ quá Tây" thì lại nhận ra ngay "cái gì rất Việt Nam", người ta đang "chỉ trích những cái dở" thì lại tìm thấy trong thơ ông "một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này". Như thế có nghĩa là khi mới ra đời, thơ Xuân Diệu đã không có được ngay một sự đón nhận nồng nàn, suôn sẻ. Có lẽ đó là do bởi thơ Xuân Diệu "mới cả ý lẫn lời" tức là mới cả nội dung lẫn hình thức, theo cách nói của Vũ Ngọc Phan. Ỷ thức cá nhãn và một quan niệm thẩm mỹ — nhân sinh mới : quan niệm về cái tôi được Xuân Diệu biểu hiện tập trung, cao độ nhất ở lĩnh vực tình yêu. Có lẽ đó cũng chính là lĩnh vực bộc lộ tương đối đầy đù những phẩm chất mới của con người cá nhân tư sản. Với Xuân Diệu bản lĩnh nghệ thuật được bộc lộ rõ rệt nhất ở mảng thơ tình yêu. Trong các bài phê bình, nghiên cứu về tác giả Xuân Diệu, chủ đề tình yêu luôn luôn được đánh giá là điểm mạnh và nổi trội hơn cả. Trong bài viết về Xuân Diệu, tác giả Hà Minh Đức đã khẳng định : "Điều thú vị nhất ở anh là những đóng góp về thơ tình. Từ những trang thơ tình trong Thơ thơ đến những bài thơ tình viết lúc cuối đời, Xuân Diệu là nhà thơ tình bậc nhất trong thơ ca của thời kỳ hiện đại... Anh viết thơ tình với một khiếu năng và tài năng đặc biệt. Nhiều bài thơ tình của Xuân Diệu đã trở thành nhịp cầu cho những trái tim". Xuân Diệu quan niệm thơ tình là phần quan trọng của cuộc sống. Suốt cả đời thơ của mình ông đã làm theo quan niệm đó. Xuyên suốt trong thơ ông là một mạch ngầm tình yêu khi sôi nổi, gấp gáp, lúc trìu mến, thiết tha. Gần như tất cả các cung bậc, những trạng thái tình cảm của con tim yêu đương đều được nói đến trong thơ tinh Xuân Diệu. Tinh yêu ờ đâv không chỉ !à khát vọng như muôn đời con người đã khát vọng. Nó còn là quyền được vêu trong ý thức chù động tự quyết của cá nhân. Nó không chi đòi hỏi ý thức vun đắp, nâng niu, thờ phụng mà còn đòi được hưởng thụ, được "hút nhuỵ" từ những xúc cảm nguồn mạch thánh thiện nhất đến những đam mê đời thường nhất. Trong thơ Xuân Diệu, hạnh phúc của tình yêu là ở sự 3A- XD 33 tận hường, sự hoà đồng giữa cho và nhận, còn bất hạnh là khi "Cho rất nhiểu nhưng nhận chẳng bao nhiêu". Nhà thơ chưa một lần nào tò ra biết kiềm chế trong tình yêu. Ồng luôn luôn hấp tấp, "vội vàng", luôn luôn kêu gọi, "giục giã". Dường như ông là người khống biết chờ đợi. Cái rạo rực của tình yêu trong thơ Xuân Diệu là cái rạo rực của một con người ham sống, ham yêu. Dường như trong ông luôn thường trực một thứ ẩn ức về tinh thần, nên ông phải giải toả nó bằng tình yêu trong thơ. Những khát khao không được thoả mãn đã mang đến cho thơ Xuân Diệu rất nhiều hình ảnh tương phản giữa muốn và được, giữa nhận và cho, giữa cuồng nhiệt và thờ ơ, giữa khát thèm và lãnh đạm. v ề một phương diện nào đó có thể coi thơ Xuân Diệu là một tiếng nói đòi giải phóng. Tinh yêu trong thơ Xuân Diệu gần như không bị trói buộc bởi một thứ quan niệm, một luật lệ, một định kiến nào. Nó chỉ tuân theo một quy luật : quy luật giải phóng cá nhân. Con người cá nhân đã được Thơ mới lãng mạn chú ý tới ngay từ khi nó mới ra đời. Hầu hết các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều đề cao cái tôi, coi đó là điểm hội tụ và cũng có thể là điểm sáng nhất trong thế giới tinh thần của con người. Một thế hệ thi sĩ mới đã xuất hiện cùng với một hệ thống các quan niệm thẩm mỹ mới. Cái tôi trữ tình mang nhiều màu sắc đã làm nên những sáng tạo mới, những phong cách mới. Những phong cách đã tạo nên "Một thời đại mới trong thi ca... Thời đại chữ tôi với cái nghĩa trọn vẹn và tuyệt đối của nó". Xuân Diệu là một trong những nhà thơ quan trọng nhất của phong trào Thơ mới. Ông là người đã góp phần hoàn chỉnh cuộc cách mạng trong thơ ca, khiến từ đó trờ đi thơ ca ta có một khuôn mặt hiện đại. Xuân Diệu đã bộc lộ trong thơ một cúi tôi trữ tình phong phú và độc đáo, được biểu hiện dưới nhiều phương thức khác nhau. Khó ai có thể vượt qua Xuân Diệu khi ông miêu tả tâm trạng bâng khuâng, mơ hồ của người con gái trước một khung cành thiên nhiên : Mây vẩn từng không, chim bay đi, Khí trời II uất hận chia ly. It nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì. (Đây mùa tliu tới) 34 33- XD Trước một tình riêng e ấp, không lời : Tlìiếu nữ bủng khuâng đợi một người Chưa từng hẹn đến, - giữa xuân tươi Cùng chùng trai trẻ xa xôi ấy Thiếu nữ lùm duyên, đứng mỉm cười. (Nu cười xuân) ở đây nhà thơ đã hoá thân vào hình ảnh người thiếu nữ để thể hiện một tình yêu trong sáng và trinh nguyên, vừa gần gũi vừa xa vời. Sự hoá thân không có gián cách về mặt cảm xúc thẩm mỹ này đã làm nên cái hồn riêng, cái duyên riêng trong thơ Xuân Diệu. ở Xuân Diệu có lẽ hơn bất cứ nhà thơ mới nào khác, đã tự thể hiện củi tôi cá nhân - cái tôi riêng của mình một cách phong phú nhất - qua nhiều sự hoá thân nhất, và mỗi hoá thân là một góc, một khía cạnh của con người thơ. Có lúc ông là "con chim đến từ núi lạ - Ngứa cổ hát chơi" ; "là con nai bị chiều đánh lưới - Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối". Và có lúc nhà thơ muốn hoá thân vào cả một Hy Mã Lạp Sơn, sừng sững trong không gian. Nhưng ở một phía khác của con người sầu muộn, cô đơn này là sự đắm say, khao khát giao cảm với đời. Càng tách riêng ra trong sự cô đơn, càng cảm nhận nỗi buồn nhân thế (khác với nỗi buồn không gian và vũ trụ ở Huy Cận). Trong thơ Xuân Diệu, lòng ham sống được bộc lộ một cách thiết tha đến cuồng nhiệt : Tôi kẻ đưa rủng bấu mặt trời, Kẻ đựng trái tim trìu máu đất, Hai tay chín móng bám vào đời. {Hư vô) Hiện tại nhiều lúc đau buồn, cô đơn, không thoả mãn nhưng không bao giờ Xuân Diệu tìm đến tiên như Thế Lữ, mộng như Lưu Trọng Lư, say như Vũ Hoàng Chương. Toàn bộ ý nghĩa cuộc đời ông diễn ra trong hiện tại, cho dù hiện tại đó ngắn ngủi : Xuân đang tới, nghĩa lủ XIlân đang qua, Xiiân còn IIOII, nghĩa lủ xuân sẽ gi ủ, Mủ xuân hết, nghĩa lủ tôi cũn (Ị mất. (l ộ/ vìuhị) 35 Cách cảm nhận cuộc sống chỉ bằng hiện tại này làm nên cái gấp gáp, vội vàng, thúc giục của nhịp sống trong thơ Xuân Diệu. Có những lúc ông muốn níu kéo thời gian, níu kéo sự vận hành của trời đất đẽ được hưởng niềm vui trong hiện tại. Giữa những tình cảm vừa như đối lập và đơn độc, vừa như gắn bó ấy, hiện lên rõ cốt cách Xuân Diệu - một cái tôi khao khát sống, khao khát yêu, đau khổ vì yêu và hạnh phúc vì yêu. Sự sống và mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu, đó là những đề tài lớn trong thơ Xuân Diệu. Một cảm quan như thế làm cho hồn thơ Xuân Diệu vừa rất chung lại vừa rất riêng, gắn được tâm trạng cá nhân với nhịp đập của cuộc đời. Xuân Diệu đã đến với ta trong nhiều trạng thái của cảm xúc, của tâm hồn. Õng vừa đi thật sâu vào bản thân đến như cô lập, như cách biệt với toàn bộ thế giới chung quanh, lại vừa có thể hoá thân vào những đối tượng khác, trong một khát khao tìm kiếm bản thân mình. Cùng với một hổn thơ rạo rực, một nghệ thuật biểu hiện nhuần chín và độc đáo, Xuân Diệu xứng đáng là "một đại biểu đầy đủ nhất" của phong trào Thơ mới. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 làm chuyển biến toàn bộ đời sống xã hội, đem lại một cuộc hồi sinh cho dân tộc và cho văn nghệ. Xuân Diệu, đại diện tiêu biểu của phong trào Thơ mới đã đến với Cách mạng và chào đón Cách mạng với tất cả tình cảm nồng nhiệt, chân thành. Nhà thơ vì tích cực phản đối bọn phản động Việt quốc và Việt cách biểu tình chống phá Cách mạng mà bị chúng đón đánh trả thù ngay trên đường phố Hà Nội. Với tư cách nhà thơ, ông đã là người sớm nhất thể hiện tư cách công dân trong một loạt sáng tác dài hơi Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông, ghi nhận trực tiếp những sự kiện lớn lao và những cảm xúc thiêng liêng trong đời sống dân tộc. Ông sáng tác về lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng cho Cách mạng và cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nền Dân chủ Cộng hoà. Bằng tác phẩm của mình ỏng đã chứng minh cho sự lìa bỏ cúi tôi, để hướng về những lẽ sống lớn, những sự kiện lớn của đất nước. Ông thuộc lớp người viết tiên phong vào Cách mạng. Cuộc hội ngộ của tất cả các xu hướng văn chương nói lên sức hấp dẫn lớn của Cách mạng. Và cũng chứng minh cho ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước vốn được ẩn chứa trong phần sâu xa của tâm hồn một lớp văn nghệ sĩ trong chế độ cũ. 36 Kháng chiến chống Pháp tiếp tục đưa nhà thơ vào cuộc sống của nhân dân. Xuân Diệu tiếp tục cuộc chuyển mình lần thứ hai, từ nhà thơ công dân chuyển sang nhà thơ của nhân dân. Cuộc chuyển mình này cũng khống kém phần vất vả. Xuân Diệu đã cố gắng hoà mình vào quần chúng. Những kết quả phấn đấu trên hướng "đại chúng hoá" này được ghi nhận trong dịp nhà thơ tham gia hai đợt đi làm đội viên phát động quần chúng giảm tô ở làng Còng (Thanh Hoá) và xã Cát Văn (Nghệ An) : Bù cụ mù loù, Chị Dung, Em bé, Tặng lủng Còng ("Sớm nay xa cách lều tranh - Tưởng như khúc ruột còn quanh làng Còng"). Kháng chiến chống Pháp thắng lợi với Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954. Đời sống hoà bình và cuộc sống xây dựng đất nước trên miền Bắc đã có những định hướng mới cho sự phát triển của thơ ca. Và trong tư cách một nhà thơ phấn đấu cho sự chiến thắng của cái chung đối với cái riêng. Sau mười lăm năm nền dân chủ nhân dàn, Xuân Diệu vẫn luôn luôn ở trong nỗi sợ cúi tôi. Ông viết trong Mười lăm năm lao động thơ : "Nói về mình là một thế đứng rất cheo leo - bạn đọc có lượng điều ấy cho chăng ?". Trong không khí như vậy, các bài thơ mới xuất hiện lúc này, sau Ngôi sao ghi nhận rõ ràng hình ảnh Xuân Diệu như một nhà thơ cách mạng, đến với Cách mạng bằng quyết tâm từ bỏ cái riêng bùi ngùi, nhỏ bé đê theo kịp và hoà họp với cuộc đời chung. Những vần thơ nói đến sự nỗ lực này để kiên định ý thức và tư tưởng mới, để cho cái mới được và sớm đến với thơ, đã xuất hiện trong tập Riêng chung. Tựa đề Riêu % chung dường như nghiêng về phía nhà thơ phấn đấu cho cái chung chiến thắng cái riêng, chứ không phải là sự hoà hợp riêng - chung. Chiếm ưu thế trong tập này là những bài nói đến các tình cảm lớn - những bài về Đàng, về lãnh tụ, về công cuộc xây dựng mới, về Nhân dân và Tổ quốc. Có thê nhắc đến các bài như : Ngói mới, Tạc theo hình ảnli Cụ Hồ, Lệ, Nhớ mùa thúng Tám. Đôi mắt xanh non,... Với Xuân Diệu, khi đã ý thức được yêu cầu mới của công chúng, của thời đại, khi đã tìm được nguồn mạch cảm thông giữa mình và đời, ông sẽ tiếp tục trở lại mạch thơ của mình. Điều rõ ràng là thơ Xuân Diệu từ sau 1945, hoặc nói chính xác hơn từ sau 1960, với Mũi Cù Mau - Cầm ray, có mặt là tiếp tục mạch thơ cũ và có mặt là mới, là khác so với trước đây. 37 Thơ Xuân Diệu có cái rạo rực của niềm khát khao được sống, được giao cảm. "Ông hoàng của thơ tình" đã đốt lòng ham sống thành ngọn lửa tình yêu không bao giờ tắt, như con sóng vỗ bờ không bao giờ biêt mỏi. Trước sau thơ Xuân Diệu luôn luôn thể hiện cái tôi trữ tình khao khát được giao hoà, giao cảm với cuộc đời. Nhưng trước Cách mạng đó là sự khao khát giao cảm của một tâm hồn cô đơn, của một tấm lòng "đìu hiu như dặm khách”. Sau Cách mạng, cái tôi trữ tình của nhà thơ đã có sự hoà hợp với cuộc đời chung, mang hơi thở nồng ấm của tình đời, tình người : Anh lù kẻ đám mình trong nhân loại Lùm bánh xe con vui cỗ máy đời (Vào trong sa mạc) Từ "một kẻ bơ vơ - yêu những ái tình quạnh quẽ", Xuân Diệu đến với cuộc đời chung. Cúi tôi của nhà thơ tìm thấy tình yêu, hạnh phúc trong cái ta chung rộng lớn của cuộc đời. Ông yêu đất nước, yêu cuộc đời, gắn bó tha thiết với nhân dân. Ông viết trong bài Những đêm hành quán : Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi, Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu, Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao. Nửa đầu những năm sáu mươi, khi miền Bắc bước vào "kế hoạch năm năm" đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội, rồi tiếp đó, vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Xuân Diệu tiếp tục dòng thơ tình quen thuộc của mình bên nhiều dòng thơ khác. Điểm nổi bật trong thơ tình Xuân Diệu sau Cách mạng là ông không ca ngợi tình yêu một cách chung chung mà bao giờ cũng gắn với một hoàn cảnh, một sự việc để tạo nên những tình cảm chân thực và nhớ mong cụ thể. Tinh yêu được gắn với công việc, với lý tưởng. Một loạt bài Xuân Diệu viết trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nằm trong nguồn cảm hứng mới mẻ này : Chợ Chì, Tiễn biệt, Gần, Em choàng lưới mũ cho anh, Vợ chuẩn bị hành trang cho chổng đi vào hoả tuyến,... Tất nhiên sau này Xuân Diệu không thể nói được nhiều về những sắc thái mới của tình yêu tuổi trẻ hôm nay. Ông chỉ mới là người nói hô những nỗi niềm của tuổi trẻ, là người lấy sự phong phú của cuộc đời 38 làm nên sự giàu có cho bản thân mình. Nhưng chỉ vậy thôi cũng đã thấy những nỗ lực phấn đấu của nhà thơ là rất đáng quý, để giữ được sức trẻ của tâm hổn mình - một tâm hổn luôn luôn khao khát tình yêu và tràn đầy niềm vui sống. Với Xuân Diệu, được làm thơ tình là cả một niềm hạnh phúc. Với chúng ta, thơ tình là mảng phong phú và đặc sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác thơ của Xuân Diệu. Xuân Diệu là một nhà thơ rất chú trọng đến nghệ thuật và kỹ thuật làm thơ. Một trong những đặc điểm nổi bật của ngòi bút thơ Xuân Diệu là sự sáng tạo một thế giới hình ảnh phong phú. Thơ Xuân Diệu giàu có về ý tưởng và phong phú về hình ảnh. Ân tượng về một thế giới nghệ thuật đầy hình ảnh đã được gợi ra từ tập thơ đầu tay của Xuân Diệu. Đến Gửi hương cho gió khả năng đó thực sự được phát huy thành đặc điểm nổi bật. Sau này thơ Xuân Diệu có thêm những phẩm chất mới, giàu có và sinh động hơn bởi lớp lớp phù sa cuộc đời bồi đắp. Cuộc sống hiện lên trong thơ với biết bao hình ảnh, đường nét, màu sắc. Cũng giống như một số nhà thơ trong phong trào Thơ mới, truớc Cách mạng Xuân Diệu thường sử dụng nhiều hình ảnh ảo và sau này dùng nhiều hình ảnh thực, nhìn chung là ngày càng đến gần với khuynh hướng hiện thực. Xuân Diệu là một trong những người thành công nhất trong việc đưa thơ như một công cụ đã được trau dồi, được hoàn chỉnh, phục vụ Cách mạng, phục vụ sự vận động của đời sống. Xuân Diệu tỏ ra là người luôn luôn có ý thức vận dụng ngôn ngữ thơ. Ngôn ngữ ấy nằm trong tổng thể nghệ thuật và cũng là mộí đặc điểm nằm trong phong cách. Nó được sinh thành, vận động và biến chuyển trong suốt quá trình sáng tạo. Xuân Diệu quan niệm rằng mỗi nhà thơ "phải là nhà kỹ thuật lớn của ngôn ngữ". Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu được cá thể hoá mạnh mẽ, mang rõ nét dấu ấn riêng. Ông rất coi trọng kỹ thuật nghề nghiệp, việc chọn chữ, chọn lời, sắp xếp từ ngữ đúng chỗ, đúng lúc. Ông có lối viết (và cả lối nói) như cựa quậy trong từng chữ. Ngôn ngữ cùng với hình ảnh tạo nên vẻ lấp lánh sắc màu cho nhiều bài thơ, câu thơ của Xuân Diệu.Trên đại thể, Xuân Diệu đã tổng hợp được hai nguồn ngôn ngữ. Một là ngôn ngữ có tính chất "bác học" mang tính tượng trưng, ước lệ cao và một phần nữa là ngón ngữ đời sống tự nhiên, bình dị, khoẻ khoắn. Qua ngòi bút Xuân Diệu, Iicôn ngữ thơ được trau chuốt và sử dụng có hiệu quả, gây ấn tượng mạnh : "Kẻ uống 39 tình yêu dập củ môi ; Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vùo ngươi ; Tư muốn ôm - Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ; Cũng có khi ùo ạt - Như n g h iế n nát bờ em ; Khúc cong cong ấy, bên hàng cây ciươìig,...". Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu là ngôn ngữ của một nhà thơ uyên bác, suốt đời khòng ngừng học hỏi. Ngôn ngữ ấy rất tiêu biểu cho thơ hiện đại Việt Nam trong thế kỷ XX. Thơ Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của nhiều nguồn thơ ca. Thơ Pháp giúp nhà thơ hiện đại hoá hình thức và nội dung. Thơ Đường mang đến cho thơ Xuân Diệu vẻ sang trọng, kín đáo. Thơ ca dân gian đã góp phần tạo thêm cho ông một ngòi bút nữa, "ngòi bút mang hơi thở dân gian". Ồng rất yêu thể thơ lục bát của dân tộc. Với thơ ca cổ điển, nhà thơ học được nhiều ở "Bà Chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương phong cách ngôn ngữ, ở Nguyễn Du cái sắc sảo mặn mà, ở Phạm Thái, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự,... sự cởi mở, sâu sắc và cái nhìn tinh tế. Xuân Diệu đã nhiều lần ca ngợi cái hay của sự ít lời nhiều ý, hết sức tiết kiệm câu chữ của thơ cổ. Chỉ tiếc rằng ở một chừng mực nào đó, đặc điểm này của thơ cổ chưa phát huy trong thơ Xuân Diệu. Có những trường hợp thơ Xuân Diệu rơi vào kể lể dài dòng, hình ảnh và nhạc điệu nghèo nàn làm giảm sút sức truyền cảm. Suốt đời mình Xuân Diệu luôn luôn là một người say mê lao động nghệ thuật và không ngừng suy nghi sáng tạo. Tất nhiên các sáng tác của ông không phải lúc nào cũng hoàn chỉnh, không tránh khỏi có những lúc "còn sơ lược, dễ dãi". Nhưng với tất cả những gì đã làm được, phần đóng góp của ông cho văn học thật là to lớn. Xuân Diệu xứng đáng là một cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại. ở nơi "yên tĩnh đời đời", Xuân Diệu có quyền tự hào về những điều ông đã làm được cho quê hương đất nước, cho nhân dân mà ông suốt đời gắn bó. LUƯ KHÁNH THƠ 40 Phần thứ nhất ÃUÂN DIỆU TQONG CON MẮT NHỮNG NGƯÒIĐƯONG THÒI 41 Chương một BẢN SẮC VÀ SÁNG TẠO■ 43 A. Phần viết vê tác giả MỘT NHÀ THI Sĩ MỚI - XUÂN DIỆU THẾ Lữ Trong những văn thơ của các bạn gửi đến Phong hoá hồi báo còn sống, một hôm chúng tôi nhận được một bài thơ ngắn dưới ký tên Xuân Diệu. Bài thơ ấy tả cái sức huyền diệu, cái lực thần tiên của âm nhạc vang tới tâm hổn. Tác giả thấy hương thom của hoa, thấy vị say của rượu ngọt, màu hương của ánh sáng và những cảnh sương khói hiển hiện lẫn lộn trong dòng suối, lời chim và tiếng khóc than. Ý thơ tò ra thi sĩ có một tâm hồn đằm thắm và rất dễ cảm xúc, nhưng lời thơ chưa được chải chuốt; ngượng nghịu như những ngón tay đờn uốn nấn còn non. Cách đó ít lâu, ông Xuân Diệu gửi đến một bài thứ hai sửa lại bài trước, trong đó chúng tôi thấy sự âu yếm của thi sĩ đối với nghệ thuật mình, và những cố gắng diễn đạt cảm tưởng của mình bằng những lời xứng đáng. Ồng khuyên người yêu hãy lắng nghe "khúc nhạc thơm" nhuần thấm, hãy "uống thơ tan trong khúc nhạc" và : Hãy tự buông cho khúc nhục hường Dưn vào thê giới của Du dương Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy Hiển hiện hoa vù phảng phất hương... (Huyền diệu) Đó là bốn câu chu đáo nhất trong mười sáu câu bối rối và mơ hồ. Bài thơ bới thế không đăng, nhưng chúng tôi chắc thể nào cái thiên tài còn khép nép kia sẽ có lúc nảy nở ra, và khi đó sẽ có những màu đậm đà, những ánh xán lạn. Quả nhiên sự mong ước của chúng tôi thành sự thực. Ông Xuân Diệu lần lượt gửi thơ đến, và cũng là gửi những lời hứa hẹn chắc chắn cùa tàm hồn ông. 45 Đó là một tâm sự nồng nàn mà kín đáo, một linh hồn rạng rỡ và say mê, đằm thắm hiện ở trong những điệu thơ êm dịu và ái ân, thiết tha và bồng bột. Cảnh sắc của sự vật, nỗi âm thầm của tình ái, đáng tươi cười của mùa xuân, nỗi tiếc thương lạnh lẽo của mùa thu, lời van xin, khuyên nhủ của tấm lòng yêu thấm thìa nhưng rụt rè ; tất cả những tình cảm ấy đều tả trong thơ của Xuân Diệu một cách mới lạ, ý nhị vừa đơn giản, vừa đầy đủ ; gợi cho ta thấy những hình ảnh, những tư tưởng bát ngát và tươi đẹp không ngờ. Thơ của ông không phải là "văn chương" nữa ; đó là lời nói, là tiếng reo vui hay nãn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rực biến lẫn trong những thanh âm... Sự yêu đương trong lòng người thi sĩ này cũng kín đáo chân thực như nghệ thuật của ông. Ông yên lặng để cho lòng yêu yên lặng hoà với cảnh vật, nhưng trong sự im lặng ấy, ta thấy cảnh vật chung quanh ỏng có biết bao vẻ tình tứ và bao nhiêu điệu ái ân ế. Một tối, bầu trời đắm sắc mây. Cây tìm nghiêng .xuống nhánh hoa gầy, Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ Nghiêng xuống lùn rêu, một tôi đầy... Nliững lời huyền bí toủ lên trăng, Nliững ý bao la rủ xuống trần, Nliững tiếng ủn tình hoa bảo gió, Gió đào tlìỏ thẻ bảo hoa xuân... {Với bàn td\ ấy) Khi lòng chứa chan sự thương nhớ, trước hết ông thầm nhắc đến cảnh vật gợi buồn bằng những lời thân mật và tha th iết: Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm, Anh nhớ em, em h ỡ i! Anh nhớ em. Klìông gì buồn bàng những buổi chiều êm Mù ánh súng đều Itoù cùng bóng tối. Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối ; Vùi miếng đêm u H ất lẩn trong cành ; Mây theo chim về ílãy núi xa xanh Tửng đoàn IỚỊ) nhịp nhùng vù lặng lẽ. Không gian xám tưởng sáp tan thành lệ. (Tươm; tư chiêu) 46 Tất cả lòng buồn não của nhà thi sĩ hình như thoát ra, hình như mỏng mênh hoà hợp với cảnh vật mông mênh, và cũng hình như để mặc cho cảnh vật len thầm vào tận tâm hồn. Trong thơ ông, tình với cảnh bao giờ cũng có sự cảm thông mật thiết : Thôi hết rồi ! Còn chi nữa đáu em ! Thôi hết rồi gió gác với trăng thềm, Với sương lá rụng trên đầu gần gũi, Thôi đã hết hờn ghen và giận dối, 0Được giận hờn nhau ! Sung sướng bao nhiêu !) Anh một mình nghe tất cả buổi chiều Vủo chầm chậm à trong hồn hiu quạnh. (Tương tư chiều) Người ta đoán thấy dáng điệu đê mê bát ngát của người thi sĩ đa tình trong lúc say sưa đau đón, người ta hưởng những vị chua chát kỳ dị đằm thắm của nỗi xót thương. Có phải không, ông đã gợi ra hết được những điều mong manh u ẩn trong lòng người và cùng với chúng ta cùng chung những lời thở than tuyệt vọng. Bởi vì nhà thi sĩ biết yêu, theo nghĩa rộng rãi nhất của tình yêu. Ông có tấm lòng đắm đuối của tất cả mọi người : yêu nhan sắc, yêu non sông, yêu thơ ca, và yêu cả những nỗi buồn thương, nhớ tiếc. Mà yêu là yêu chứ không nghĩ đến tại sao yêu ? Ông trả lời cho lòng ông rằng : Ai đem phân chất một mùi hương Hay bản cầm ca ! Tôi chỉ thương, Chỉ lặng chuồi theo clònẹ cảm xúc, Như thuyên ngư phủ lạc trong sương. Lủm sao cắt nghĩa được tình yêu ! Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều Nó chiếm hồn tu bằng nắng nhạt, Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu... ("Vĩ sao") Cho nên nhà thi sĩ bao giờ cũng có cớ đê cho tâm hồn rung động. Một ngày chủ nhật bỏ phí đi quá nửa, đủ khiến ông xa xôi nghĩ đến những ngày dần phai : 47 Thong thả chiều vàng, thong thủ lại... Rồi đi... đêm xám tới dần dần... Cứ thế mà bay cho đến hết Những ngày, những tháng, những mùa xuân. (Giờ tàn) Ông ví những giờ trong những ngày tốt đẹp ấy như những bó hoa tươi mà ông ôm ấp trong tay, nhưng ông phải tiếc than vì bó hoa không còn được mãi : Vừa mới khi mai tôi cảm thấy Trong tay ôm một bó hoa cười. Ngọn gió thời gian không ngớt thổi, Giờ tàn như những bó hoa rơi. (Giờ tàn) Mùa xuân với những tiếng chim ca ánh sáng ; với những nụ cười thắm, kết bằng những cánh hổng, với hơi gió xuân thơm nhởn nhơ và vô ý, lả lơi thổi cho cành mai cợt ghẹo nhánh đào, với những tiếng cây reo hớn hở mà nghệ thuật của ông đã đúc vào những câu thanh lịch xiết bao đậm đà : Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui. Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời. Sao buổi đầu xuân êm úi th ế ! Cánh hồng kết những nụ cười tươi. * % % Anh sáng ôm trùm những ngọn cao, Cây vàng rung nắng, lá xôn xao ; Gió thơrĩì phơ phất bay vô ỷ Đem đụng cành mai sát nhánh đào. (Nụ cười .xuân) Đêm trăng có những ánh vàng reo thành tiếng dưới ngọn bút óng : Trong vườn đêm ấy nhiêu trăng quá, Ánh sủng tuôn đầy các lối đi. 48 Tôi với người yêu qua nhè nhẹ Im lìm không dám nói năng chi Ợ 'rủng) Mùa thu với những hoa lá tả tơi và xao động, với những luồng run rẩy lạnh lẽo, với những đêm quang sáng và những ngày buồn tênh : Thỉnh thoảng nùng trăng tự ngẩn ngơ... Non xa khởi sự nhạt sương mờ... Đã nghe rét mướt luồn trong giá... Đ ũ vắng người sung những chuyển đò... (Đáy mùa tliu tới) Ở tình cảnh nào, Xuân Diệu cũng có lời mềm mại, hoặc sán lạn, đê mê, hoặc lả lơi sung sướng, hoặc buồn bã tha thiết như tiếng thở than tận cõi sâu kín của tàm hồn. Nhà thi sĩ ấy bảo rằng : Tất cả tôi run rẩy tựa dây đùn. Mà đó là những dày đờn huyền bí kết bởi muôn sợi tình cảm thiết tha, bời những cảnh sắc, anh linh khiến cho nhà thi sĩ dễ xúc động hát lên những tiếng đẹp đẽ ngọt ngào đã yên ủi được chúng ta trong cuộc đời hiện thực. Sự cảm động dồi dào và quý báu của ông còn cho ta thấy nhiều hứng vị của cái chân tài đặc biệt ấy. Tôi mong rằng sẽ được dịp nói đến thơ của Xuân Diệu nhiều hơn, đê lại được ca tụng nhà thi sĩ của tuổi xuân, cùa lòng yêu và của ánh sáng. (In trong báo /Vựừy nay, số 46 Mùa xuân 1937, tr. 23-28) 4A- XD 49 NHÀ THƠ MỚI NHẤT TRONG CÁC NHÀ THƠ MỚI**’ H O À I T H A N H Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta. Đọc những câu : Nếu hương đêm sưy dậy với trúng râm, Sao lại trách người thơ tình lơi lả ? hay là : Chính hôm nay gió dại tới trên đồi, Cây không hẹn để Iigùy mai sẽ mát : Trời đã thắm, tẽ đâu vườn cứ nhạt ? Đắn đo gì cho lỡ mộng song đ ô i! ta thấy cái hay ở đây không phải là ý thơ, mà chính là cái lối làm duyên rất có duyên của Xuân Diệu, cái vẻ đài các rất hiền lành của điệu thơ. Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái'tinh thần cố hữu của nòi giốngế Vả chăng tinh thần một nòi giống có cần gì phải bất di bất dịch. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt ngày hỏm qua ? Nêu ra một mớ tính tình, tư tưởng, tục lệ, rồi bảo : người Việt Nam phai như thế, là một điều tối vô lý. Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt (*) Tên bài viết do người tuyển chọn đặt. 50 43- XD chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đểu nồng nàn, tha thiết. Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã biểu hiện ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung riộng tinh vị. Sau khi đọc đi đọc lại nhà thơ có tàm hồn phức tạp này, sau khi đã tìm kiếm Xuân Diệu hoài, tôi thấy đây mới thực là Xuân Diệu. Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam, chỉ Xuân Diệu mới đê ý đến : Những luồng run rẩy rung rinh lá... cùng cái : Cành biếc run run chân ỷ nhi. Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ Xuân Diệu mới thấy : Lung linh bóng sáng bỗng rung mình và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này : Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời ? Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi, Long lanh tiếììg sỏi vang van ẹ hận : Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người. Cũng chi Xuân Diệu mới tìm được nơi đồng quê cái cảnh : Mây biếc về dâu bay gấp gấp. Con cò trên ruộng cánh phân vân. Từ con cò của Vương Bôt lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt cùa hơn một ngàn năm và của hai thế giới. Cho đến khi Xuân Diệu yêu, trong tình yêu cùa người cũng có cái gì rung rinh. Người hồi tường lại : 51 Rượu nơi mắt với khi nhìn ướni th ử ; Gấm trong lòng vù khi đứng chờ ngày Và nhạc phấn dưới chân mừng sánh bước ; Vù tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi ; Tù áo mới cũng say mùi gió nước ; Rặng mi dùi xao động ánh dương vui. Còn rất nhiều câu có thê tiêu biểu cho lối xúc cảm riêng của Xuân Diệu. Tôi chỉ dẫn một ví dụ này nữa. Trong bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Vịnh có hai câu : Thuyền mấy ì á đông tủy lặng ngắt Một vừng trúng trong vắt lòng sông tả cảnh xung quanh thuyền sau khi người tỳ bà phụ vừa đánh đàn xong. Một cái cảnh lặng lẽ, lạnh lùng, ẩn một mối buồn âm thầm, kín đáo. Thế Lữ có lẽ đã nhớ đến hai câu ấy khi v iế t: Tiếng diều sáo nao nao trong vắt, Trời quang máy xanh ngắt màu lơ. Mặc dầu hai chữ "nao nao" có đưa vào trong thơ một chút rung động, ta vẫn chưa xa gì cái không khí bình yên trên bến Tầm Dương. Người kỹ nữ của Xuân Diệu cả tình lẫn cảnh trở nên xôn xao vô cùng. Người kỹ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tỳ bà phụ. Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên vì đau khổ : Em sợ lắm. Giá bủng trùn mọi nẻo ; Trời đầy trũng lạnh lẽo suốt xương da. Ngay từ khi trăng mới lên, nàng đã thấy : Gió theo trùng từ biển thổi qua non : Buồn theo gió lan xa tìtìiq tlioủng rợn. Chỉ trong thơ Xuân Diệu mới có những thoáng buồn rờn rợn như vậy. Ngay lời thơ Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi. Xuân Diệu viết văn tưa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Việt. Câu vãn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn 52 người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn. Ý vãn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay. Nhưng xét rộng ra, cái náo nức, cái xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái náo nức, cái xôn xao của thanh niên Việt Nam bây giờ. Sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố. Người thanh niên Việt Nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người. Họ tưởng có thê nhắm mắt làm liều lấy cá nhân làm cứu cánh cho cá nhân, lấy sự sống làm mục đích cho sự sống. Song đó chỉ là một cách dối mình. "Chớ để riêng em phải gặp lòng em", lời khẩn cầu của người kỹ nữ cũng là lời khẩn cầu của con người muôn thuở. Đời sống của cá nhân phải vin vào một cái gì thiêng liêng hon cá nhàn và thiêng liêng hơn sự sống. Bởi Xuân Diệu đã gửi trong thơ của người lẫn với một chút hương xưa của đất nước, bao nhiêu nỗi niềm riêng của thanh niên bây giờ - Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới - nên chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu mà đã thích thì phải mê. Xuân Diệu không như Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành ngay cho một chỗ ngồi yên ổn. Xuân Diệu đến giữa chúng ta tới nay đã ngót năm năm mà những tiếng khen chê vẫn chưa ngớt. Người khen, khen hết sức ; người chê, chê không tiếc lời. Song những ai chê Xuân Diệu, tưởng Xuân Diệu có thể trả lời theo lối Lamartine ngày trước : "Đã có những thanh niên, những thiếu nữ hoan nghênh tôi". Với một nhà thơ còn gì quý hơn cho bằng sự hoan nghênh của tuổi trẻ. Tháng 7-1941 (Trích Thi nhản Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội 1998, tr. 33 - 37) 53 MỘT THI Sĩ RẤT GIÀU LÒNG YÊU DẤƯ * ’ VŨ NGỌC PHAN Người ta còn nhớ cái hổi tập Tlìơ thơ của Xuân Diệu ra đời cách đây bốn năm. Có lẽ trừ thanh niên, còn hầu hết mọi người trí thức đều phải chặc lưỡi mà kêu : Thơ đâu lại có thứ thơ quái gở như thế ! Người ta đã không thể chịu được nhiều câu, như những câu này : - Lấn với đời quay, tôi cứ đi, Nẹười ngoài không thấu giữa lòng si. Cũng như xa quá nên ta chỉ Thấy núi yên như một miếng bìa. (Thơ thơ) Những người chê ngây ngô quá, "Tây" quá ; nhất là về âm điệu, những bài hoàn toàn mới của Xuân Diệu có nhiều câu gần như những lời nói tầm thường. Người ta đã phê bình thơ của Xuân Diệu theo khuôn sáo cũ, người ta đọc thơ Xuân Diệu mà vẫn tưởng nhớ đến thơ Yên Đổ, thơ Xuân Hương. Nhưng muốn cho công bình, ta phải phê bình tập Thơ thơ trong hoàn cảnh mới của nó, nghĩa íà hãy hiểu lấy nguồn hứng của Xuân Diệu và những ý tưởng rất mới của ông ; ta cũng lại phải chú V đến những chữ, những câu, những vần, những điệu trong những bài thơ mới ấy, đê hiểu lấy cái nhạc điệu mới nữa. Dù là thơ mới hay thơ cũ, nếu đã ỉà thơ hay, cũng không qua được hai điều này : ý nghĩa và àm điệu. Ý nghĩa được khoái hoạt, hùng hồn và thú vị, mới là những ý nghĩa phát ra bời những, tư tường thâm trầm ; âm điệu được du dương là nhờ ở cú pháp phân minh, chữ dùng tề chinh và quán xuyến. Thơ đã không có âm điệu thì thơ không còn phái là thơ và thơ đã vô nghĩa thì cũng còn kể là thơ được. (*) Tên hài viết do người tuyển chọn đặt. 54 Xuân Diệu là người đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất. Hồi xưa, người ta chỉ tìm trong thơ ông rặt những cái dở, không kể đến cái hay, nên mới chỉ có rặt những lời chỉ trích. Ta hãy thử đọc mấy câu thơ mà ý và lời đều thật mới của Xuân Diệu : Hãy uống tliơ tun trong khúc nhục Ngọt ngào than gọi thuở xa khơi... Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im, Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim Còn cứ run hoài, như chiếc lá Sau khi trận gió đã im lìm. (Huyên diệu - Thơ tlìơ) Mới đọc, ai cũng tưởng như "ngô nghê" và "Tây" một cách sống sượng. Nhưng nếu suy nghĩ một chút, ta không thể dùng hai chữ "ngô nghê" mà phê bình được. Thật ra nếu ngũ quan bị kích thích, thi nhân chứa chan tình cảm mà phát ra lời thơ, thì trong trí tưởng tượng, những cái vô hình cũng có thê hoá ra hữu hình : thơ có thể ví như những thỏi nước đá mát lạnh và cảm đến não cân người ta, còn nhạc có thể ví như một thứ rượu mùi, tuy ngọt, tuy đậm đà, thom tho, mà có thể làm cho người ta say tuý luý. Dùng chữ, dùng lời một lối "cách mệnh" như thế, mới đầu có sự khó hiểu là thường ; nhưng rồi với thời gian người ta sẽ hiểu. Bây giờ người ta đã hiểu thơ Xuân Diệu. Người ta thấy thơ Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhất trong tất cả các thơ mới. Cả ý lẫn lời đều thiết tha, làm cho nhiểu người thanh niên ngây ngất. Hãy nghe : ... K/ìô/ìg gì buồn bằng những buổi chiêu êm Mù ánh súng đều hoà cùng bóng tối. Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối ; Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành ; Mây theo chim vê dãy núi xa xanh Tửng đoàn IỚJ) nhịp nhùng và lậỉìg lẽ. Kliông gian xám tưởng sắp tan thành lệ. 55 Thôi hết rồi ! Còn chi nữa đâu em ! Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm, Với sươììg lú rụng trên đầu gần gũi. Thôi đã hết hờn ghen vù giận (lỗi, 0Được giận hờn nhau ! Sung sướng bao nhiêu /) Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh. Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi. (Tương tư chiều - Thơ thơ) Những lời say sưa tha thiết như thế, nếu thi sĩ không rất nồng nàn với cuộc sống thì không tài nào diễn ra được. Bài Nhị hồ Ợ hơ thơ, in lần thứ hai, tr. 37) toàn bài âm điệu cực du dương. Mấy câu này ngầm lên, nghe gần như những tiếng phát ra tự mấy đường tơ : Nhị hồ để bốc niềm cô tịch, Không khóc nhưng mù buồn hiu hiu. Sương nương theo trăng ngừng lưng trời. Tươĩĩg tư nâng lòng lên chơi vơi... Hai câu sau có thể ví với tiếng âm nhạc lúc đang lên bổng. Bài Chiều (Tlìơ thơ, in lần thứ hai, tr. 66) cũng là một bài tuyệt xướng, có hai câu này thật là ngây ngất, tỏ ra tác giả có những cảm giác khác thường : Không gian như có ílảy tơ. Bước đi sẽ dứt, động hờ sẽ tiêu... Bài Viễn khách {Thơ thơ, in ỉần thứ hai, tr. 67), lời lẽ cứng cáp, tả mối sầu phân ly thiết tha một cách lạ : ... Mây lạc hình xa xôi ; Gió than niềm trách móc. Mây ôi và gió ô i ! Chớ nên lùm họ khóc. 56 Mát nghẹn nhìn thâu dụ ; Môi khô hết níu lời... Chán dời, tay muộn rã... Kẻ khuất... kẻ trông vời... Đến mấy câu này lại càng chan chứa xuân tình, làm cho người ta mường tượng đến một tình yêu dịu dàng, đầm ấm. Chủng tôi ngồi, vây phủ bởi trăng thâu, Tay trong tay, đầu tựa sút bên đầu. Tình yêu bảo "Thôi các ngươi đừng khóc, Các ngươi sẽ đoàn viên trong mộng ngọc". {Biệt ly êm ái-Thơ thơ) Trong tập thơ của Xuân Diệu có những câu hương vị đậm đà như thế, bắt ta phải cảm qua các giác quan, cũng như Xuân Diệu đã cảm vậy. Với những nguồn hứng mới : yêu đương và tuổi xuân, dù là lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thìa. Tâm hồn thi sĩ ở như mấy câu thơ này : . .. Trong tôi, xuân đến đã lảu rồi ; Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. Bởi thế thơ ông là cả một bầu xuân, thơ ông là bình chứa muôn hương của tuổi trẻ. Xuân Diệu thật là một người có tâm hồn thi sĩ. Ông làm thơ với sự nồng nàn, tha thiết, nên ông không phải một tay thợ thơ, một tay có tài gọt giũa, từng chữ từng câu. Cũng vì thế mà trong tập Thơ thơ của ông, đã có những đoạn thật du dương xen với những đoạn quá tầm thường về cả ý lẫn lời và âm điệu, chỉ kéo lại được cái thành thật mà thôi. Tầm thường về ý, như mấy câu này ở bài Yêu : ... Vì mấy khi yêu mù chắc được yêu ? Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu... Người ta thấy Xuân Diệu tính toán cả tình yêu, người ta thấy ông phàn nàn về sự thiệt thòi. Trong yêu đương mà cũng không hoang phí, 57 như thế mới thật hiếm, về chỗ đó, người ta có thê’ bảo thi sĩ là người theo chủ nghĩa : "có đi có lại...". Rồi Nàng Thơ cũng đã có lần bị ông ruồng rẫy vì điều lợi : Thi sĩ đã mê công danh nhiều hơn là mê Nàng Thơ. Đó cũng là một sự tính toán thiệt hơn, và đó cũng tỏ ra Xuân Diệu không theo gót được Verlaine và Rimbaud, tuy có lần ông đã ca tụng cái tính hào hoa phóng dật của hai nhà thơ này. Hãy đọc bài Mùa thi của ông : Thơ tu hơ hớ chưa chồng, Tu yêu, muôn cưới, mù không thì giờ : Mùa thi sắp tớ i! - Em Tlìơ, Cúi hôn âu yếm xin chờ năm sau ! (Thơ tliơ) Như vậy, Nàng Thơ không khỏi sốt ruột, có lẽ nàng đành đi đánh bạn với những người như Verlaine hay Rimbaud, những anh không cần thi cử, không cần danh lợi. Nhưng chính vì có cả cái hay lẫn cái dở, cả những cái rất thấp với những cái rất cao, nên đọc Thơ thơ tôi thấy thú vị hơn đọc những tập thơ tuy khống có dở, nhưng đến hay cũng không có nốt. * * * Xuân Diệu ở đâu cũng đem theo một hồn thơ bát ngát và mơ màng. Trong quyển Phấn thông vảng(lj mà Xuân Diệu gọi là một tập tiểu thuyết ngắn, tôi chỉ thấy rặt thơ là thơ. Không phải thơ bằng những câu có vần có điệu ; không phải thơ ở những lời đẽo gọt, mà thơ ở lối diễn tính tình cùng tư tưởng, ở những cảnh vật cỏn con mà tác giả vẽ nên những nét tỷ mỷ, khi ảm đạm lúc xinh tươi, tuỳ theo cái hứng của tác giả. Ai muốn tìm những việc xếp đặt có thứ tự, ai muốn tìm những truyện xây dựng trong khuôn thiết thực, ai muốn tìm những lời bóng bẩy đọc nghe thật kêu, tôi khuyên không nên đọc Phấn thông vàng : Trong bài tựa, Xuân Diệu đã nói : "Ở đây chỉ có một ít đời và rất nhiều tâm hồn". Nhưng có thể nói : trong Pliấn thông vùng, đời đã tư thu gọn lại, gần như tiêu tán, đế nhường chỗ cho tâm hồn tự do xâm chiếm, (1) Do NXB Đời nay, Hà Nội, xuất bàn nãm 1939. 58 tràn lan, không biết đâu là bờ bến. Ví dụ, tác giả chọn cúi dây vù cái dây không dứt để phiếm luận về lòng người và tình yêu, nhưng thật ra có phải chỉ cái dây mới tiêu biểu được cho tấm lòng và cho tình cảm con người ta đâu ! Vật gì mà chẳng được ? Miễn là có chút sinh khí thì thôi. Cái sống, cái sống cỏn con, nhưng phải có suy nghĩ có tư lự, có mơ mộng thật nhiều. Đó là tất cả cái náo nức, cái rùng rợn, cái thê lương trong tâm hổn một người đa cảm. Nhưng có lẽ Xuân Diệu đã chú trọng về ý nghĩa, vì tình cảm thái quá, nên không nghĩ đến sự lựa lời. Lời chẳng qua chỉ là những dấu hiệu đê ghi ý nghĩ và tình cảm, vậy cứ gì lời thanh lời thô, lời nào phô diễn được hết tình, hết ý, đều có thể dùng được cả. Bởi thế, trong Phấiì rhônq vànq, ta thấy những câu : "từng triệu thúng buồn", "cục bóng" "thượng lên ngất nghểu trên tờ giấy", v.v. Mà cái gì "thượng lên" ? Cái tên người, tên một anh "học trò tốt" ! Dùng chữ như thế, Xuân Diệu hơi giống Céline. Hơi giống, vì khi nào thấy cái tiếng Pháp phong phú khi không đủ dùng, Céline còn đật thêm ra nữa, đến cả những chữ rất thô bạo, ông cũng không từ. Nhưng cái hay của Phấn tììông vàng, có phải ở thể văn không ? Tôi đã nói, nó gần như thơ mà, nó là những bài thơ trường thiên không vần, không điệu, nó là những bài thơ tự do để phô diễn hết cả cảm tưởng của tác giả về những người những vật, tuy chỉ có những cuộc đời rất nhỏ, nhưng gợi hứng cho thi nhân lại nhiều. Vì gần như thơ, mà không phải hẳn thơ, nên ngoài những câu thô bạo lại có những đoạn réo rắt như khúc bi ca. Hãy nghe một đoạn trong Củi dây kììông đín : "... Luôn luôn thắc mắc, lo toan không ngớt, xôn xao không ngừng, yêu như thế tức lủ đô dầu cho đèn sáng mãi, thêm củi cho lửa không tủn, lủ ỊỊÌỈ? màu tươi thám, thêm bao thú vị cho tình yêu, yêu như thế quả lù sẽ thêm tơ chỉ cho sợi dây thêm bền, chứ đâu có phải giằng kéo sợi dây cho móng ?". Thật là một tấm lòng yêu dào dạt, băn khoãn. Rồi đày, một lũ "linh hồn" lang thang, vơ vẩn, một xốc "linh hổn" bị xã hội ruồng bò, mà tác giả ám chỉ vào bọn mèo hoang, "những con mèo sống trong tối, lút trong đêm, trùm trong bí mật ghê sợ cùa một 59 cuộc đời vô định, khác xa những con mèo sang trọng trong những gia đình trưởng giả, nằm chuốt lông trên chiếc bông gối êm ấm..." Mà lang thang nào phải tầm thường ! Những con mèo hoang ấy "chui trong ống khói đen, nằm trong máng khô nước. Chúng đi nhẹ như sự rụt rè, chúng nhảy mau, chúng lượn nhanh, chúng vọt cao, chúng bổ thấp. Chúng khinh luật thăng bằng, không sợ chiều dưới không nể chiều trên... chúng sống trong một cái đời ở trên cuộc đời..." Rồi đến Truyện cái giường cái giường cũ mới thật cảm động ! Hai cuộc đời, có thể đời một người đàn bà mệnh bạc, mà cũng có thể là đời một nhân vật hết thời vận. Cái đoạn rất nên thơ trong Truyện cái giường là đoạn thứ đồ gỗ ấy nằm trong xó tối mà nhớ quê hương, nhớ rừng xanh. Cái giường của Xuân Diệu làm tôi nhớ đến "những chiếc áo cũ" của Diderot, của Sedaine, của Béranger. Tôi không có ý so sánh giá trị mấy bài văn, tôi chỉ nói những loại ấy đều tương tự nhau, chỉ khác một đằng thì người chủ nhớ thương vật cũ, còn một đằng cái giường của Xuân Diệu tự tủi phận mình. Hãy nghe những lời kêu gọi rất nên thơ của cái giường : "Lửa hồng à đâu ? Ta nhớ rừng xanh ! Ta muốn vê qué hương, quê hương chung của muôn vật, muôn loài, ở đó tất củ đêu như nhau, không phùn biệt gì nữa. Lửa hồng ở đâu ? Lửa hồng ở đâu ?". Mà cái giường cũ gọi lửa để làm gì ? Để minh được thiêu, được hoá ra khói mà bay về rừng. Thật là thơ, thơ và thơ ! Ai có chút tư tưởng về đạo Phật không khỏi nghĩ đến sự thiêu hoá, đến sự bay về "thế giới cực lạc". Nhưng một kẻ vô tín ngưỡng như tôi chỉ thấy nó có tính cách thơ mà thôi. Tối muốn tưởng cái giường của Xuân Diệu là cái giường đang ốm tương tư, đang nhớ nhung cây bạn và đang khao khát được biến ra khói biếc để bay về xứ sở, bay về chốn rừng xanh núi đỏ. Nhưng Phấn thông vảng không phải hạng sách yêu dấu của tất cả mọi người, nó thuộc loại sách của người ưa suy nghĩ, muốn sống một đời tinh thần đầy đủ. Người ta thấy, dù ở văn xuôi hay ở văn vần, bao giờ Xuân Diệu cũng là một thi sĩ, một thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu. (In trong Nhà văn hiện đại, quyển ba. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 19X1) 60 TÂM HỔN THƠ XUÂN DIỆU NGUYỄN DUY BÌNH Cách đây 25 năm, Cách mạng tháng Tám bùng nổ, đảo lộn tất cả. Những con người mới hôm qua bị giày xéo dưới gót bọn đế quốc phong kiến, làm mồi cho đủ thứ tai hoạ : đói rét, bệnh tật, dốt nát, hủ tục V .V ., những con người hiền lành, nhẫn nhục ấy vụt đứng lên, vung tay gạt bọn cướp nước, bọn bóc lột. Cả cái trật tự thuộc địa nửa phong kiến bị lật nhào lổng chổng. Ngay từ những ngày đầu, Xuân Diệu lao vào giữa biển người cách mạng. Anh làm thơ ca ngợi đất nước sống lại tưng bừng, mừng nhân dân được giải phóng. Anh xông vào các cuộc đấu tranh. Anh chửi bọn phản động : ... Tẩy chay tuyển cử ? - Cứ tẩy cliay ! Dân Việt Num tôi cứ tuyển cử ! Quốc gia liên hiệp... Quốc gia liên... Nhưng hiệp với ai, ông nói thử ? - Những quản liếm gót sạch bong rồi, Mới dám anh hùng như thê chứ..}^ Thơ của Xuân Diệu nhanh nhẹn xuống đường, quắc mắt nảy lửa, đánh vào mặt bọn bán nước. Thi sĩ nhập vào đội rrgũ chiến sĩ cách mạng một cách hăng say. Tranh đấu trở thành niềm vui lớn của nhà thơ : "Từ ngòi bút cũ tự đâm vào lòng mình mà phanh phui mổ xẻ, nay đã chĩa ra đâm được kẻ thù một cách quyết liệt lợi hại, lại chẳng sướng sao !"(2). (1) Xuân Diệu ghi một cuộc "biểu tình đả đào tổng tuyên cử" do bọn tay sai giặc Tường diễn ờ Thu đò. Xem báo Độc lập. (2) Xuân Diệu. Đi trên dường lớn, NXB Văn học, Hà Nội. 1968. tr. 106. 61 Trong "Lời đưa duyên" Tlìơ thơ (1938), Xuân Diệu viết : "Tỏi sợ mất sự sống của tôi, tôi không muốn nó rơi rớt chảy trôi theo ngày tháng". Anh mong được cất giấu những mảnh đời mình trong những trang thơ : Nếu trang giấy có động mình tuyết bạch, Ây lù tôi dào dụt với ủm thanh ; Hồn thắc mắc vãn đi vé với sách, Dưới tay ai xem lại nỗi lòng niìnli. (Lời thơ vào tập Gửi hương) Anh bước vào thơ với tấm lòng nóng bỏng say mê sự sống và niềm khao khát được thương mến, cảm thông. Nhưng cái xã hội thuộc địa nửa phong kiến thù địch với sự sống tiến lên. Hạnh phúc có chăng cũng mong manh như "bào ảnh" : "Ta được em chăng lại mất liền". Hồn thơ thương người chung chung rải Phấn thông vàng để mong xoa dịu nỗi khổ của người đời, bị đè nặng dưới cái thực tế phũ phàng : Nổi đời cơ cực đang ẹ/'<7 vuốt, Cơm áo k/iônẹ đùa với khách thơ. Trong không khí ngạt thở của xã hội thuộc địa nửa phong kiến những năm 1939 - 1945, nhiều bạn thơ của Xuân Diệu bế tắc đi vào Đạo, Vũ trụ, Siêu hình, v.v. riêng anh không muốn đi đâu, "mãi mãi ờ vườn trần". Cách mạng đến, anh hoà ngay vào khối người trần thế. Vì tình yêu sự sống, và cũng vì tấm lòng thương yêu con người, anh mê Cách mạng. Nhưng cuộc kháng chiến trưởng thành đòi hỏi lập trường kiên định. Tinh cảm dân tộc, lòng thương người, yêu cuộc sống chung chung theo lối tiểu tư sản không đủ nữa. Tinh thế đòi hỏi phái đứng hẳn về phía còng nông, xác định lập trường chiến đấu của công nóng. Đã có lúc Xuân Diệu cảm thấy hồn thơ không theo kịp cách mạng, trong anh có một cái gì "cứ chùn dần, cứ cuốn lại"( \ Phải chờ đến cuộc Cách mạng ruộng đất năm 1953, nghĩa là năm năm sau, anh mới vượt được cái nhìn siêu giai cấp, nhận thức đươc chồi sống mới sẽ nảy sinh qua đấu tranh giai cấp đê giải phóng cho con người khỏi ách bóc lột. Anh viết : "Hai đợt làm đội viên phát đỏne quần chúng giảm tô... tiếp tục tái tạo tôi trong quần chúng nông dân... tói đã (]) Xuân Diệu, NhữniỊ hước dườniị tư tưâiííỊ của tôi, NXB Văn hoá, Hà Nội, 195X. tr. 30. 62 bắt rễ vào đất quần chúng"(1). Từ đấy nhà thơ đã có con mắt phân biệt giai cấp để nhìn nhận. Anh thấy rõ rằng chính cuộc đấu tranh giai cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ tiêu diệt những lực lượng thù địch với sự sống, với tình thương để cho sự sống được tái sinh, tình thương được thực hiện. Dân cày ta đã đứng lên, Nụ cười đem lại ở trên môi già. Mẹ dù đau đớn mù ìoủ, Ánh xuân sẽ rọi chan hoù tâm can. {Bù cụ mù loủ) Bài thơ Bà c ụ mù loà là một trong những bài hay viết về giảm tô và cải cách ruộng đất. Những bài thơ của anh viết về Bác Hồ kính yêu của chúng ta sâu sắc, có những đoạn thơ rất chân tình, cảm động, như hai câu thơ nói niềm hối hận của những cán bộ về những sai lầm của mình (1953) : ... Trên đầu tóc Bác sương ghi, Chắc dôi sợi đã bạc vì chúng con. Đảng vĩ đại của chúng ta đã tổ chức ba mươi mốt triệu người Việt Nam thành một đội ngũ anh hùng đang đánh bại bọn đế quốc Mỹ, kẻ thù số một của loài người. Dân tộc Việt Nam đã vượt lên trên mọi thử thách, sống mạnh, sống hiên ngang hơn bao giờ hết. Giữa những ngày chiến tranh phá hoại ác liệt, Xuân Diệu đã cùng các bạn văn nghệ sĩ đến những nơi chiến đấu căng thẳng. Xen với tiếng súng, anh đã góp tiếng thơ đánh Mỹ. Chủ nghĩa anh hùng đi vào thơ anh gắn liền với sức sống kỳ lạ của con người Việt Nam: Trái tim chúng tu lù một đá nam chúm cực mạnh Trái tim đập giữa cuộc đời như chiêu lên toủ ánh Trái tim dũng mãnh, đập hộ cho cả thê'gian / ơ dây sáng ngời chính nghĩa, ỏ đây tình nghĩa Việt Nam ! (Sự sâhiỊ cluiní! bao iỊÌỜ chán nàn) (1) Xuân Diệu. Vệ quốc lùm thơ (6-1949) trong tập Tiếm* thơ. 63 Cách mạng đã đem trái tim cô đơn, quằn quại giữa "một cái kểm bằng sắt" đặt vào giữa trái tim lớn của nhân dân anh hùng. Anh nói lên niềm tự hào của dân tộc, và cũng là niềm tự hào của riêng anh, một chiến sĩ trong đội ngũ 31 triệu trùng trùng điệp điệp. Cảm xúc anh hùng là một nhân tố hoàn toàn mới trong thơ anh, nảy sinh từ những ngày đầu cách mạng. Hồi ấy anh viết liền hai bài thơ dài mang tính chất tráng ca : Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông. Lần đầu tiên trong đời mình anh cố gắng in bóng dáng nhân dân anh hùng vào thơ. Kê ra thì thực tế cách mạng của anh còn ít, chưa theo kịp cảm xúc thơ say mê nồng nhiệt, nên chủ nghĩa anh hùng ở đây còn đậm màu lãng mạn tưởng tượng. Nhưng điều quan trọng là cảm xúc thẩm mỹ của Xuân Diệu đã hướng về một chân trời mới : những con người bình thường đang mở ra một thời kỳ lịch sử hào hùng oanh liệ t: Dân quân ăn mặc đủ màu quê Nâu lẫn, chùm pha, đen trắng kề, Đủ cỡ áo quần may đủ kiểu Tấm bào tơi lá trải sơn khê ! (Ngọn quốc kỳ) Tia lửa đầu tiên ấy ngày càng bừng lên. Giờ đây, giữa lúc chủ nghĩa anh hùng cách mạng chiếu sáng cả bầu trời văn học nghệ thuật Việt Nam, thơ Xuân Diệu cũng ánh lên những hình ảnh ngời ngợi của con người Việt Nam mang sức sống phi thường đứng vững giữa mưa bom, bão đạn, đang đánh thắng đế quốc Mỹ. Cảm xúc anh hùng dậy lên khá nhạy bén, phong phú trong thơ anh. Có khi đó là hình ảnh kỳ vĩ theo kiểu : Đạn đại bác bay vê phía cung điện Mùa Đông Sông Néva bỗng nghe một tiếng sấm rung Vỡ lịch sử ra lùm hai nứa ! (Cách mạng tháng Mười NfỊ(j) Có khi là "tiếng cười của thời gian khúc khích" ủng hộ những lực lượng cách mạng, có khi là hình ảnh con chim chích choè nhảy nhót trên ba nghìn xác tàu bay Mỹ... * * * 64 Nhưng còn "tình yêu”, lĩnh vực mà người ta vẫn cho là sở trường của Xuân Diệu ? 25 năm qua, mọi sức lực phải dồn vào mũi nhọn đánh trả quân thù. Cũng như anh chị em văn nghệ sĩ khác, Xuân Diệu phải đem thơ đi ífíìg chiến kịp thời : bảo vệ ngọn cờ, bảo vệ quyền dân chủ, chống phong kiến, đánh Pháp, đánh Mỹ, đấu tranh tư tưởng, xây dựng chủ nghĩa xã hội vếv. Trong cuộc chiến đấu lâu dài con người vẫn sống, trai gái vẫn yêu nhau. Chiến tranh khiến cho họ xa cách, họ cần một tình yêu chung thuỷ. Nếu trong Tliơ thơ và Gửi hương cho gió, anh xót xa cho tình yêu mong manh tội nghiệp : "Ta được em chăng lại mất liền", thì ngày nay anh ca ngợi tình yêu bền vững với đất trời : Khuôn mặt xinh em mãi vỡ rùng Lù sách nghìn trang sách vụn trang Sớm mai anh thấy mặt trời mọc, Chiều hôm anh đọc ánh trăng vàng. {Mặt em) Trước kia, họ ngồi bên nhau mà "em là em, anh vẫn cứ là anh", họ giấu nhau những "mộng không ngờ", "những điều quá thực". Cái xã hội đầy chông gai, cạm bẫy ấy buộc những con người yêu nhau mà phải "giữ miếng" với nhau. Chúng ta đang xây dựng một quan hệ mới : người với người là bạn. Những người yêu nhau cùng chung lý tưởng, cùng chung cách nhìn, có thể tin cậy : Chuyện trước ta chưa kể một lời, Mủ anh đã hiểu tận sâu khơi, Vai anh khi để đâu em tựa Cân cả buồn, vui của một dời. (Tình yêu san sẻ) Ngày trước Xuân Diệu có cái duyên của hơi thơ tinh tế dịu dàng để nói mối rung cảm đầu tiên của một tình yêu chớm nở : Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu, Lả lủ cành hoang nắng trở chiều, Buổi ấy lòng ta nghe V bạn Lần dầu rung động nổi thương yêu. (Thơ cIitỴên) 5A- XD 65 Ngày nay thơ Xuân Diệu lại có cái duyên khác, không kém phần hấp dẫn của một tình yêu thắm thiết, thuỷ chung, như biển yêu bờ : Bờ đẹp đẽ cát vùng, T lì oai thoải hùng thông đứng, Như lặng lẽ mơ mùng Suốt ngàn năm bên sóng. Anh xin lùm sóng biếc Hôn mũi cát vùng em ; Hôn thật khẽ thật êm, Hôn êm đém mãi mãi. (Biển) Phơi trải ra để tìm sự thông cảm và thu lại để hút nhuỵ của đời. Đó là nhu cầu rất lớn của Xuân Diệu. Nếu trước Cách mạng anh chỉ biết tìm môi trường thông cảm ở tình yêu, ở nghệ thuật, trong cái "liên tài" giữa những kẻ tài tình (và anh đã thất vọng) thì ngày nay anh có thêm cả bầu trời rộng của những tình yêu lớn với Tổ quốc, nhân dân và cả bạn bè trên thế giới. Thơ anh đã được giới thiệu ở nhiều nước. Đối với cách mạng, Xuân Diệu đã khá nhạy để sớm nghi ngờ vốn liếng cũ của mình : "Chúng ta không tin ở cái tri thức lắt léo, quặt quẹo, kỳ khu vì lên cao mãi, mà rời hẳn sự sống, lơ lửng như ma trơi, nở những hoa phong lan yểu mạng". Thời đại mới, đối tượng mới, lý tường mới đòi hỏi thẩm mỹ mới. Mấy năm liền anh sáng tác rất ít, kiên nhẫn làm công việc sưu tầm, giới thiệu thơ quần chúng, bộ đội, dân cóng v.v. với hy vọng đi tìm chất thơ mới trong nhân dân, cải tạo cái cảm xúc thẩm mỹ của mình. Rồi hồn thơ anh hướng về một cái đẹp khác : "Ta yêu cái sần sùi chưa chải chuốt, ta yêu cái sức lực sắt đồng trong giọng nói nhiều khi "dùi đục", ta thích những tảng đá to lăn ra là cả một ngọn núi biết đi" (1949)(1). Anh phấn đấu để đem cái hằng ngày vào thơ và cho lời thơ gần gũi với tiếng nói hằng ngày. Cứ lấy những nét thưc tẽ ra mà nói : Hạnh phúc mới và cả "tai nạn" nữa cũng đèn với anh từ cái thích mới này. Tâm sự về bài thơ Núi Ba Vì và hồ Suôi Hai, anh viêt : ... phai nói lúc đang còn lao động. Nói hay là không nói ? Nói thì phải chịu mót (1) Xuân Diệu, Vệ quốc lùm tlìơ, Sđd. 66 xo nguy cơ có thê xảy đến là lộc cộc"^. Anh không sợ lộc cộc. Thất bại là mẹ thành công ! Anh cứ làm. Viết những câu thơ "chải chuốt" thanh tú là nghề riêng của anh : Núi sông đã đẹp lắm thay Non hồ thêm một vẻ hay khúc thường Hồ là mắt đắm soi gương Lại lủ nôi biếc ru vờn bóng non (Núi Ba Vì và hồ Suôi Hai) Diễn tả "cái đẹp sần sùi" là ước mơ mới của anh, tốn nhiều công sức mà vẫn còn "lộc cộc". Bên trong thoai thoải mặt tường nghiêng Chân đập cán ngăn nước thấm xuyên : Phải gỡ đất mềm, thay đất sét. Rồi xây lát đủ, nước trùm lên (Núi Ba Vì và hồ Suối Hai) Điều đáng quý là anh không chịu sống yên trên sở trường cũ mà cố tạo cho mình một bản lĩnh mới để phục vụ thời đại mới. Anh viết : "Tôi biết mấy câu vể hồ-con-mắt và hồ-chiếc-nôi hay hơn, nhưng tôi tha thiết với mấy câu thơ hãy còn lộc cộc trên đây"^2). Xuân Diệu cố luyện cho thơ mình thêm một vẻ đẹp mới. Anh đã có những thành công và cũng bị chê vì nhiều bài chưa đạt. Anh chủ trương thà có thơ trung bình mà ứng chiến kịp thời, còn hơn là không có. Chưa có súng, thì cứ vác đá mà ném. Tôi từng lùm thơ về gió vê mủ V Tôi lủm thơ vê tư tưởng đêm nay. Bọn chúng cười tu làm thơ chính trị, Nếu hình thức có hơi HOIÌ một tỷ, Chúng vui mừng la ó vỗ tay run ; Mặc chúng kêu rêu lá rụng, hoa tàn, Tôi tììẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính. (Vô sản chuyên chính, 1 - 1957) (1), (2) Đi trên đườììạ lớn, Sđd, tr. 86, 88. 67 Chúng ta thống cảm với nhiệt tình muốn phục vụ kịp thời. Nhưng đưa thơ "hơi non một tý" ra để ứng chiến, thì đó là chuyện vạn bất đắc dĩ. Nghệ thuật vốn khó tính, nó không chịu được cái trung bình, dù là trung bình khá. Đã là thơ thì phải hay, phải xúc động lòng người. Muốn cho chuyện thường ngày trở thành thơ phải qua con đường khám phá, sáng tạo. Một câu nói thường ngày nếu không chứa đựng bên trong nó một sức khám phá, nếu không biểu hiện được sự sáng tạo cũng chỉ là "văn xuôi" không thành thơ được. "Hình thức có hơi non một tý" cũng có nghĩa là cảm xúc chưa thật chín, nội dung chưa thật sâu. Là một nhà thơ đồng thời là một cây bút phê bình chịu khó suy nghĩ, có lẽ Xuân Diệu không lạ gì những điều đơn giản ấy. Nhưng ở đời "lực bất tuỳ tâm" là chuyện vẫn xảy ra. Một nét đặc biệt trong phong cách Xuân Diệu từ thuở Thơ thơ, Gửi hương cho gió là lòng ham mê đến đắm say, đến cực đoan. Tạng người của anh không chịu được cái từ tốn ; anh đòi "cắn" đòi "ngoạm" sự sống ; anh muốn "ôm cả trái đất", "Ghì trước trái tim ghì trước ngực". Không những ngày nay mà ngay từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây anh chịu khó đi vào quần chúng để bình thơ và để lắng nghe tìm hiểu nhân dân. Anh "ký cóp" khá nhiều sự việc và lời ăn tiếng nói khá độc đáo, và sinh động của những người lao động. Một số bài thơ đã vọt ra trực tiếp từ cái vốn tươi rói, nóng hổi ấy mang theo cả cái bề bộn, ứ tràn của cuộc sống. Nhưng cái ứ tràn bề bộn này cũng có lúc làm hại thơ anh. Có lúc anh chưa thật chủ động đối với tư liệu, người đọc chỉ mới thấy cái khéo tay sắp xếp, chứ chưa nghe được tiếng vọng từ chốn sâu thẳm của tâm hồn. Anh say mê với cái đẹp toát ra trực tiếp từ sự vật, từ cuộc đời. Đối với loại thơ này, nếu không thành công thì nhược điểm sẽ đến ngay. Đối với loại thơ có "chải chuốt", cách điệu thì nội dung có non một tý vẫn còn lại cái nhạc, cái điệu, cái vần... nên vẫn có bóng dáng thơ. Còn với loại thơ gần với tiếng nói hằng ngày, nếu chất bị non, thì câu thơ đổ ngay lập tức, không biết bấu víu vào đâu mà đứng, o anh, vân còn mòt số bài thơ chưa chín, còn sượng. Ánh sáng của cách mạng 25 năm qua đã tiêp sức và tạo điểu kiện cho tài năng Xuân Diệu đâm chồi nảy lộc, nở thêm nhiều hoạt động mới. 68 Anh giới thiệu thơ cổ điển (Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương,...), nghiên cứu ca dao cổ, thơ quần chúng hiện nay, viết về các nhà thơ hiện đại (thơ Hồ Chủ tịch, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận,...), dịch và bàn về các nhà thơ thế giới (Maiacốpxki, Nazim Hikmet,...), viết báo đấu tranh chống nhóm Nhân văn - Giai phẩm, viết tiểu luận về các vấn đề của thơ, viết về một số nhà thơ trẻ,... Nhà phê bình Xuân Diệu đã được mến yêu và có tín nhiệm. Anh đê nhiều thì giờ để đọc những bài thơ trên báo tường, trong sổ tay của cóng nhân, bộ đội, của anh địa chất, của người thợ rừng... để bình luận, giới thiệu. Anh "trò chuyện với những bạn làm thơ trẻ". Ngòi bút viết phê bình và tiểu luận của anh linh hoạt, tinh tế, sâu sắc. Tác phẩm xưa và nay qua những lời phê bình và giới thiệu của anh sáng đẹp hon lên. Phải nhận rằng có những lúc anh không kìm được mình mà "bốc" lên hoặc suy diễn hơi quá đi. Chất lượng của các bài viết cũng chưa đều. Nhưng nói chung những phát hiện, khám phá của anh khá thú vị, bổ ích. Anh đã đem được khiếu nhạy cảm của người nghệ sĩ giúp cho bạn đọc đi sâu vào cái hay cái đẹp của thơ, giúp cho thơ phát huy tác dụng tích cực vào đời sống. Anh lớn tiếng bảo vệ tính chân thực, giản dị trong thơ, ca ngợi sứ mệnh vẻ vang của nhà thơ được đem cả tâm hồn tài năng phục vụ nhân dân, phục vụ đường lối chính trị của Đảng. Anh công khai không chút rụt rè đề cao tính đảng, tính nhân dân của văn học nghệ thuật. Kết thúc một bài báo chống nhóm Nhân văn - Giai phẩm, anh xác định : "Thơ của ta phải có nội dung quần chúng, có hình thức quần chúng, thơ của ta phải có tính đảng, phải trung thành không lay chuyển với sự nghiệp của Đảng, của nhân dân"^. (In trong báo Vàn nghệ, số 373, năm 1970) (1) Nhữ/lí* hước đườiìiỊ tư tưởiìiỉ cùa tôi, Sđd tr. 143. 69 CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO CỦA MỘT NHÀ THƠ*' HOÀNG TRUNG THÔNG Từ NHÀ THƠ LÃNG MẠN CHỦ NGHĨA ĐẾN NHÀ THƠ HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Xuân Diệu thực sự là một nhà thơ. Hơn nữa anh là một nhà thơ lãng mạn trước khi đến với cách mạng. Nếu như Paul Éluard đã nói về những nhà thơ Pháp "từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người", thì những nhà thơ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đau thương có thừa, nước mắt có thừa, thậm chí nỗi đau thắt ruột, nước mắt tràn mi mà họ không khóc nổi, khóc không ra tiếng, còn có nước mắt đâu nữa mà khóc. Đôi lúc họ lại cười, cười gượng, nhưng rồi họ đã đi đến chân trời của niềm vui thật sự niềm vui cách mạng. Câu thơ của Nguyễn Du, nhà thơ cổ điển vĩ đại nước ta : Vui lủ vui gượng kẻo mù Ai tri ảm đó mặn mà với ui muốn miêu tả một sự vui gượng, cười gượng. Nhưng những nhà thơ Việt Nam đến với Cách mạng với cả tấm lòng của họ, không hề gượng cười, gượng vui mà là cười thật sự, mặc dù cuộc đời chưa phải lúc nào cũng hoàn toàn vui, chỉ có tiếng cười không có tiếng khóc. Nhìn chung, sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám 1945, là ở lòng yêu da diết cuộc sống, ở sự chân thực của tình cảm, và ở nghệ thuật làm thơ vừa giản dị vừa tinh vi và đúc đọng. Ngay trong bài Tựa viết cho tập thơ đầu của Xuân Diệu, Tliơ tliơ ( 1938), nhà thơ lớp trước Thế Lữ đã nói đặc điểm của Xuân Diệu : "Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất (*) Tên bài do người tuyển chọn đặt. 70 của một tấm lòng trần gian ; ông đã không trốn tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời, và lời nguyện ước của ông có bao nhiêu sức mạnh" : Ta ôm bó, cánh tuy tu làm rắn, Lùm dây đu quấn quýt cả mình xuân, Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần, Chán hoá rễ để hút mùa dưới đất. Chỉ lấy bốn càu mở đầu bài Vội vàng (1937) cũng đủ thấy tính chất xúc cảm của Xuân Diệu, một tâm hồn nhạy với màu sắc, nhạy với mùi hương ; thế giới của cái đẹp đẽ, cái thơm tho đã thành máu thịt của tấm lòng yêu đời ấy : Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lụi Cho hương đừng bay đi... Xuân Diệu trước kia mơ và yêu ; và anh cũng buồn, cái buồn của một thế hệ nhà thơ bị bế tắc chưa tìm ra con đường đi chân chính của mình. Hầu như tất cả tâm hồn của anh đã dành cho mơ và yêu, mặc dầu anh biết rằng trong cái xã hội cũ của đồng tiền làm chủ : Cơrn áo không đùa với khách thơ mặc dù đôi lúc anh cũng phải kêu lên : Ta bỏ đời mù đời cũng bỏ tu. Nhưng một người yêu tha thiết con người, loài người, cuộc sống, sự sống như anh làm sao mà bỏ cuộc đời được. Anh cố níu lấy con người, sự sống như níu lấy chính mình, và anh đã chiến thắng. Không phải hiểu một cách giản đon : Cách mạng đã chiến thắng anh, mà chính có phần anh đã chiến thắng mình, tất nhiên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng là một sức mạnh chinh phục rất lớn. Khi nhà thơ đã từng viết : Lùm sao sống được mù không yêu Không nhớ không thương một kẻ nào thì tấm lòng yêu thương rộng lớn của nhà thơ tất yếu phải hướng về quần chúng lao động chứ không thể hướng về những kẻ có kè kè một 71 túi tiền : Cái đau đớn mà chúng ta phải chứng kiến là có những trái tim "nhà thơ" hướng về túi đỏla mặc dù nhân danh tự do trí tuệ, nhân phám nhân quyền. Xuân Diệu là một nhà thơ tự soi vào tấm gương của lương tâm mình mà không cảm thấy xấu hổ, vì anh viết cho tuổi trẻ. Anh say mà khòng đắm, anh mơ mà không màng. Dầu có lúc thoát ly thực tế, nhung anh không đi vào siêu hình. Anh thiên về cảm xúc, về cảm tình cho nên cũng có nhà phê bình cho anh là duy giác chủ nghĩa (sensualisme). Nhưng nếu như cảm giác là bắt nguồn cho thơ, thì Xuân Diệu rất tinh tế về cảm giác nhưng khống bao giờ dừng lại ở đó, ở chủ nghĩa cảm giác ; mà thơ anh vươn lên tình cảm và trí tuệ mặc dù tính cảm giác ờ thơ anh rất đậm. Ngay từ ở trên ghế nhà trường, Xuân Diệu đã làm thơ và những bài thơ tình yêu của anh đã chiếm lĩnh tâm hồn người đọc, đặc biệt là những người đọc trẻ tuổi. Người ta nói Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu. Điều đó hoàn toàn đúng với thơ văn của anh. Vừa mới đãng một số bài thơ trên báo chí, Xuân Diệu đã có một vị trí xứng đáng trong làng thơ Việt Nam, mặc dầu cũng có những người trong giới phê bình đã từng phê phán anh mà nói rằng thơ anh không Việt Nam, chịu quá đậm ảnh hưởng câu thơ của Pháp. Họ nói rất nặng lời. Thực ra không phải hoàn toàn như vậy. Ngày nay đọc lại mà xem. Đó là những lời phê bình có tính bảo thủ không muốn tiếp nhận những cái mới lạ từ bên ngoài vào. Họ theo một trường phái cực đoan "phương Đông thuần tuý", không chấp nhận những cái gì đổi mới. Xuân Diệu có chịu ảnh hưởng thơ ca phương Tây không ? Tất nhiên là có. Anh đã từng v iế t: Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh Anh ca ngợi Rimbaud và Verlaine : Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine Hui chùng thi sĩ choáng hơi men Cũng như khi anh viết : Yêu là chết ở trong lòng một ít 72 thì người ta nghĩ ngay đến câu thơ Pháp : Partir vest mourir un pen (Đi là chết một ít) Nhưng anh lại rất phương Đông, rất Việt Nam, khi anh viết về những đoá hoa, lá cỏ, ánh trăng, tiếng đàn. Chẳng hạn bài thơ Nguyệt cầm diễn tả âm hưởng tiếng đàn nguyệt, một thứ đàn của phương Đông : Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần, Đàn buồn đùn lặng ôi đàn chậm, Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân. Là một nhà thơ như hàng trăm nhà thơ Việt Nam sống dưới chế độ thực dân Pháp, Xuân Diệu có lòng yêu nước chống chế độ thực dân và muốn hướng tới một lý tưởng cao đẹp giải phóng Tổ quốc, mặc dầu trong thơ anh có lúc nói : Mưu với chứ vội vùng lên với chứ Em em ơi, tình non đã %iủ rồi. Có lúc trong thơ văn anh, chúng ta cảm thấy một nỗi cô đơn. Anh đã từng viết : Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách Mủ tình yêu như quán trọ bên đường Có lúc xót thương những người đau khổ, anh kêu lên : CIìo tôi đau mà bớt khổ loùi người Tôi nguyện sẽ chết trên cây thánh giá Lời nói hơi đại ngôn nhưng biểu lộ một tâm trạng thực. Anh viết những truyện ngắn vể "Mèo hoang", "Chó hoang" (Trong Phân thông vàng) để nói lên nỗi cô đơn trong xã hội thời ấy. Xuân Diệu là một nhà thơ và gần như suốt cả cuộc đời mình là mơ thơ, yêu thơ và say thơ. Anh là một nhà thơ tiểu tư sản trước khi đến với Cách mạng. Đó là điều ai cũng dễ dàng nhận thấy. Nhưng anh lại là nhà thơ tình yêu đã làm say mê những bạn đọc trẻ tuổi. Có lúc người ta đã phê bình anh là nhà thoát ly cuộc đấu tranh của dân tôc và giai cấp mà 73 đưa tuổi trẻ vào mơ mộng và yêu đương. Nhưng chính nhờ ngọn lừa tình cảm say mê đó mà khi đến với cách mạng, anh đã đem sự say mê thơ hoà vào sự say mê cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc và nhân dân. Trừ Tố Hữu và một số nhà thơ cách mạng đi trước anh, anh là người ngợi ca cách mạng sớm nhất và say sưa nhất. Những trường ca đầu tiên của anh sau Cách mạng tháng Tám 1945 Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông đánh dấu một giai đoạn chuyển biến đặc biệt, làm ngạc nhiên người đọc. Từ đó đến nay, trên bước đường sáng tác của mình, anh đã viết trên 40 tác phẩm kể cả thơ, văn, tiểu luận và dịch thuật. Nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu trước đây nặng về xúc cảm kết tinh trong nhiều tập thơ nổi tiếng, đã đến với cách mạng và trở thành người ca ngợi cách mạng tích cực, thậm chí còn làm bài thơ rất chính trị với nhan đề Chuyên chính vô sản. Ngày nay nhà thơ ấy đã 66 tuổi (1982). Và dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, anh vẫn còn có sức sáng tạo lớn. Đồng thời với những bài thơ viết về cuộc sống mới, những bài thơ yêu nước chống bọn xâm lược từ phương Tây, và từ phương Bắc, anh đã làm trên 400 bài thơ tình. Cái gì đã đưa lại cho nhà thơ một nguồn cảm hứng mới, một nguồn xúc cảm mới mà sự sáng tạo thơ văn không hề vơi cạn ? Đó chính là lòng yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, tinh thần coi trọng sự sáng tạo của con người đã làm cho nhà thơ có được một niềm tin, một lòng tự hào, một tính năng động để sáng tác. Bước đường đi của một nhà thơ từ chế độ cũ sang chế độ mới tất nhiên không phải dễ dàng. Nhưng với dân tộc, với nhân dân, với lý tưởng mà mình đã tin theo, nhà thơ ấy không chịu để những tư tưởng tư sản chi phối. Cái điều thú vị là mặc dù gặp bao nhiêu sóng gió, bao nhiêu khó khãn cùa những cuộc chiến tranh ác liệt, và cuộc sống khắc khổ, anh vẫn đứng vững trên vị trí của một nhà thơ chân chính. Nhà thơ Xuân Diệu, như tôi đã viết, sống dồi dào, sáng tác dổi dào. Nếu như trước khi gặp cách mạng anh là một nhà thơ yêu thiết tha cuộc sống và đầy tình nhân đạo nói chung (trong tập truyện ngắn Phấn thông vàng) nhưng chưa giác ngộ về đấu tranh giai cấp và về hành động xã hội, thì khi đến với cách mạng, anh lại trở thành một nhà thơ nhập cuộc (poète engage), nhập cuộc với tất cả trí tuệ, tình cảm và tâm hổn cùa mình cho dân tộc, cho quần chúng lao động, cho phẩm giá con người. 74 Và : Tôi cùng xương thịt với nhún (lùn của tôi Không ! Tất củ tâm hồn ta đã quyện Với đất này, không thể gỡ ra xong Tốt hơn hết là ta hãy nghe nhà thơ nói về những bước đường tư tưởng của mình, nói một cách thành thật không giấu giếm, không tô vẽ, như không phải nói với chúng ta mà nói với chính mình, một thứ tự bạch (confessions) của một nhà thơ hoàn toàn đi với cách mạng, đi với lý tưởng mà mình mong đợi, mến yêu, và sẽ chiến đấu vì nó hết sức mình cả đời mình. Trong một bài dài Những bước đườiìg tư tưởng của tôi, viết tháng tám năm 1957, Xuân Diệu đã nói khá sâu sắc về mình và thế hệ những nhà thơ cùng lứa với mình. Tôi chỉ trích lại vài đoạn sau đây đê chúng ta thêm hiểu về anh và cũng là thêm hiểu về những nhà thơ từ chân trời cũ đến chân trời mới : "Lớn lên đi học đến Thành chung rồi "tú tài", tôi yêu thơ vô hạn, rất mê thích văn học. Những điều kiện của gia đình và xã hội đã làm tôi buồn sẵn, lại học một nền văn học nặng buồn bã, than thở, bi quan, ở lớp nhất, thơ Tản Đà (1888-1939) đã ru tôi, nhưng cũng để lại cho aS ệ tâm hồn tôi một vị cay đăng : Gió hiu, trăng lạnh tiếng ve sầu - Ecìì kêu đầy phô tiếng xe hơi - Vèo trông lá rung đầy sân. Tất cả mọi sự chẳng qua cũng vèo ! Tôi thuộc nhuyễn bài thơ Đoàn Như Khuê : Biển thảm mông mênh sóng lụt trời. Em thiếu niên mới chớp mi mắt nhìn ra cuộc đời, đã thấy một rèm giọt lệ ! Vào năm đầu bậc Thành chung, tôi nhìn miệng ông giáo quốc văn đọc, say mê uống từng lời du dương êm ái : "Giả sử ngay khi trước, Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay... Sao mà văn thơ cứ tiếc nuối một cái gì ; có một cái gì bình rơi gương vỡ, rụng cải rơi kim ờ trong văn học ! Đồng thời, Tuyết hồng lệ ố’ỉ?dịch của Từ Trẩm Á(l> mê lịm tôi trong điệu ca từ thật là réo rắt, tất cả cuốn sách là một cuộc nhặt hoa rơi, chòn hoa rụng, khóc hoa tàn ! Lớn thêm vài tuổi, văn học nước Pháp bắt đầu huyền diệu tôi với Cúi hổ của Lamartine : (1) Nhà văn lãng mạn Trung Quốc. 75 ừ rồi cứ trôi đi mãi mãi Trong đêm trường trở lụi được nao ! Tỏi đã bắt đầu có ý thức lửng khửng lại không chịu đi, trong lúc ngoại vật và thời gian thì cứ đẩy cho con người mất hút vào vĩnh viễn. Bây giờ trong tôi có hai lực lượng : một mặt, tuổi thanh niên đưa đên cho tỏi những luồng máu nóng rực, say mê, hăng hái ; một xã hội phong kiến đế quốc cùng với hệ thống tư tưởng văn hoá cũ đã chụp lên tâm trí tôi một lớp đau buồn ảm đạm, càng học lên nhiều, càng bi- quan bế tắc. Tối thấy trong tôi ào lên một nguồn thơ sỏi nổi, mới mẻ ; nhưng tôi vừa tập tễnh đến ngưỡng cửa của làng văn thì La Bruyère đã lắc đầu niêm yết một cáu bất lực : "Tất cả đều đã nói cả rồi, và người ta đến muộn quá, từ bốn ngàn năm nay đã có những con người, và họ suy nghĩ"(1). Phương ngôn Âu Tây cũng nói : "Không có cái gì mới ở dưới mặt trời". Trước tôi 100 năm thi sĩ Musset đã kêu lên : "Ta sinh ra muộn quá trong một thế giới già quá chăng ?". Trước tỏi năm mươi năm, thi sĩ Verlaine cũng kêu lên : "Ta sinh quá sớm hay là quá muộn - Ta đến trong đời này để làm gì ?"(2). Mộng Hà, nhân vật chính của Tuyết hồng lệ s ỉP ì và Ngọc lê /zồ//4) hay sầu, say, và thổ huyết, đã tự tóm tắt tâm hồn bằng ba bước : uống rượu xong thì "ngà ngà mà say, ngây ngây mà sầu, rồi lại rầu rầu mà khóc". René(5), ông tổ của Mộng Hà ờ Pháp, thì đi giữa mây, sương, gió, bị ám ảnh bởi con quỷ của trái tim "nó là một con rắn tự nhai mình" ; Werther, ông tổ xa hơn nữa của Mộng Hà ở Đức thì dùng súng lục tự tử vì không lấy được người thiếu nữ đã hứa hôn với người khác trước khi gặp anh... Từ 1934 về sau, những sách tôi đọc nói sự cùng đường một cách tinh vi, sâu sắc hơn ; nó cũng không còn là sự lãng mạn ít hay nhiều mơ mộng nữa, mà là một sự bi quan có triết lý. Những điều tỏi thu hoạch được, góp chắp cổ với kim, Đông với Tây, chứng minh trước trí tuệ một (1) "Tout est dit, et l'on vient trop tard depuis 4000 ans qu'il y a des hommes. et qui pensent". (2) "Suis-je né trop tôt ou trop tard ? Que viens-je en ce monde." (3), (4) Hai tiểu thuyết lãng mạn của Từ Trẩm Á (Trung Quốc). (5) Nhân vật của Chateaubriand (tiêu thuyết René). 76 bài toán dẫn đến số không. Bôđơle (Baudelaire) kêu thét lên như đang bị cháy nhà hay lửa cháy vào người : "Ôi đau đớn ! Ôi đau đớn ! Thời gian ăn cuộc đời"^\ Sau khi đã tự phanh phui những ảnh hưởng tiêu cực mình đã nhận trong một thời đại mà nỗi đau buồn, sự cô đơn, lòng chán nản đã xâm chiếm phần đông các nhà thơ sống trong sự bế tắc cố nhiên không phải tất cả mọi nhà thơ đểu như thế, vì có những nhà thơ đến với Cách mạng rất sớm, sớm có ý thức về dân tộc và giai cấp công nhân - Xuân Diệu, một nhà thơ rất thành thực với lòng mình và cả trong thơ của mình, đã thốt lèn : "Cách mạng đến ! Cách mạng Việt Nam mang tới cái mà văn học tư sản Pháp không có nổi, là sự hành động (1’action). Không phải thứ "hành động để mà hành động" (acte gratuit) của André Gide mà hành động cách mạng, hành động cùng với quần chúng, hành động có mục đích và hiệu quả. Những ngày Cách mạng tháng Tám, tôi cùng bao nghệ sĩ trí thức khác say sưa mỗi người một việc, ngày đêm công tác. Hoạt động, công tác cách mạng đã giải quyết sự hoang mang vô bổ của trí tuệ tôi, nhưng trí tuệ trở lại trong cái ý nghĩa cơ bản của sự lao động. Thực dân Pháp đánh Nam Bộ, rồi toàn quốc kháng chiến. Đảng giao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho ngòi bút tỏi. Tôi rộng mở bước vào kháng chiến trường kỳ, và tư tưởng của tôi còn gặp gỡ, trải vượt nhiều chặng đường lên xuống không phải là đơn giản...". Anh lại cũng đã giải thích sự "không đơn giản" đó trong anh. Sau một thời kỳ giác ngộ, cái cũ trở lại, có lúc anh cũng đã "lại tìm những lối đoạn trường mà đi" như Nguyễn Du đã nói. Anh viết : "... Tuy vậy, dù sao, tôi cũng mới giác ngộ trên lý thuyết. Có lẽ cái vui sướng lớn của tôi là tự nhấc ra được khỏi một hệ thống chết, mà vào một hệ thống sống, nghĩa là tự cứu được mình. Mà đến với chủ nghĩa xã hội vì mình, thì chóng chầy những đau ngứa phiền toái cũ lại phát ra..." "Từ xưa, tôi cứ "thương người chung chung". Tôi vẫn mơ ước một xã hội mà mọi người sung sướng ; nhưng muốn đến đó, phải biết thương những con người cụ thể, phải có thương ai ? ghét ai ? phải qua con đường (1) "Ô douleur ! Ò douleur ! Le temps mange la vie”. 77 đấu tranh giai cấp để xoá giai cấp. Con đường có rất nhiều đau đớn, nhưng không qua nó thì không đi được tới đâu. Sợ đi qua con đường đó, tức là tôi vẫn ôm cái chủ nghĩa xã hội không tưởng, cái chủ nghĩa xã hội làm sẵn từ trên trời rơi xuống"ế "Và một mặt khác nữa, càng đi sâu vào cách mạng, sự sáng tác càng gian nan. Từ trước, tôi viết cho những người "có học", tức là, trên nét lớn, những tiểu tư sản trở lên trong xã hội cũ. Bây giờ những con người "vô học" cũ, nhờ cách mạng, họ đã có học, họ đã đọc sách và họ biết cả phê bình nữa ; họ yêu cầu phải nói đến họ, những người lao động ; không có lý gì họ nai lưng ra đổ mồ hôi, đổ máu nhiều nhất mà trên sân khấu của các tác phẩm, lại chỉ có những người khác. Những người "có học" lớp trước kia, bây giờ cũng đã thay đổi cả yêu thích cũ, chính họ lại cũng đòi hỏi nói về những người lao động. Mà đó cũng lại càng là cái nhược điểm rất sâu sắc của tôi. Những nhược điểm rất sâu sắc, chủ quan của tôi không đáp được những đòi hỏi khách quan của kháng chiến trong hai, ba năm trời, trong tôi có một cái gì cứ chùn dần, cứ cuốn lại. Ngoài mặt thì như không có gì xảy ra, nhưng ở chỗ tinh vi, kín nhẹm nhất, có một sự rút trốn. Cái chất hưởng thụ, cầu an tích luỹ trong thể xác và tâm trí tôi hàng mấy chục năm, nay làm thành một sức ỳ khó lay chuyển. Gian khổ, khó khăn không phải chỉ ở đằng xa, nơi quần chúng vẫn chịu và gánh, mà đến đụng chạm ngay bản thân tôi ; tôi không thể "kháng chiến vui vẻ, cách mạng vui vẻ" nữa. Tự tôi mình theo tinh thần của giai cấp vô sản, gay lắm ! Tôi đâm ra hờn, tủi đối với những người đấu tranh với tôi, tỏi tự ái giai cấp, bám lấy các thứ chức tước, danh hiệu cũ. Sáng tác cái mới thường thường bị thất bại, tôi quay về dựa lưng vào các thứ "của chìm'' : tác phẩm ngày trước của mình. Kỳ tình tôi vẫn biết đứng chỗ cũ không thể được nữa, tuy nhiên, lại ngại sang đứng chỗ mới ; tâm trạng tỏi như người bị chẹt, tinh thần bất ổn, vẫn gần với quá khứ, vẫn xa vợi với tương lai. Cứ chạy sang bên này rồi chạy sang bên kia, thật là đau đớn". Những năm đầu đi với cách mạng, tâm trạng của nhà thơ là thế. Có sự níu kéo giữa cái mới và cái cũ, vừa tích cực tham gia đấu tranh cách mạng vừa vướng vất cái buồn tiêu cực. Rồi anh đã vượt qua như các bạn thơ cùng lứa tuổi của anh. 78 Một vài nhà văn Việt Nam thường nói : tôi đến với cách mạng phải là một sự "lột xác". Họ nói một cách vừa đùa bỡn vừa nghiêm túc mặc dù Đảng không bao giờ dùng đến những từ ngữ đó. Nhưng các nhà văn lại nói với lòng chân thành, với ý muốn tha thiết thay đổi cuộc đời của mình, tư tưởng và sáng tác của mình. Xuân Diệu không hề dùng đến chữ "lột xác", mà anh thực sự đã thay đổi, thay đổi theo tư tưởng của giai cấp công nhân. Nhưng anh nghĩ rằng nhiều bài thơ trước kia của anh vẫn có giá trị. Người nghiên cứu khoa học chúng ta có nhiều người tất nhiên cũng nghĩ thế, vì văn học bao giờ cũng mang dấu ấn một thời đại. Tại sao chúng ta có thể tái bản lại những bài thơ tư tưởng thiền, những bài thơ tư tưởng Nho giáo mà lại không in những tác phẩm lãng mạn chủ nghĩa mà những tác phẩm còn có phần tích cực và có sự nối tiếp giữa thơ cổ điển và thơ hiện đại. Chúng ta đã làm việc đó, dù chưa mạnh dạn, và còn phải làm nhiều hơn. Lênin đã từng nói ý này : "Chúng tôi, những người vô sản, chúng tôi có một cái dạ dày rất khoẻ, chúng tôi đủ sức tiêu hoá tất cả". Anh luôn luôn ca tụng cái mới xã hội chủ nghĩa, phấn đấu cho cái mới xã hội chủ nghĩa. Hàng trăm bài bút ký và bài thơ đã biểu hiện cuộc sống mới, con người mới Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Anh viết hàng bao nhiêu bài tiểu luận và phê bình để khẳng định cái mới trong văn học xã hội chủ nghĩa, nhưng không phải anh không chê trách bệnh sơ lược thường thấy trong một số tác phẩm của nền văn học của chúng ta. "... Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tác hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và lý tưởng hoá. Do thiếu vốn sống và xa đời thực, những tác phẩm sơ lược thường tẻ nhạt, làm người đọc dễ chán, gây một sự hờ hững nào đó của công chúng đối với nền văn học mới, làm nền văn học mới kém tác dụng đi nhiều...". Anh khen ngợi sự phê bình hiện nay với tính khoa học và nghệ thuật của nó, nhưng anh lại phê phán "một sự phê bình gò bó, máy móc, không hiểu được đặc trưng của văn nghệ, coi một thiên truyện ngắn bằng như một bài xã luận, bắt một tác phẩm nào cũng có đù các yếu tố 79