🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Xây Dựng Làng, Bản Văn Hóa Ebooks Nhóm Zalo XÂY DỰNG BẢN, LÀNG VĂN HÓA Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n Chñ tÞch Héi ®ång pgs.TS. NguyÔn ThÕ kû Phã Chñ tÞch Héi ®ång TS. HOµNG PHONG Hµ Thµnh viªn TRÇN QUèC D¢N TS. NguyÔn §øC TµI TS. NGUYÔN AN TI£M NguyÔn Vò Thanh H¶o LỜI NHÀ XUẤT BẢN Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội. Muốn có được một đời sống văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì việc tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa ở từng đơn vị cơ sở có vai trò rất quan trọng, trong đó mỗi làng, bản, phum, sóc, plei... đều cần được quan tâm đầy đủ, nhằm xây dựng thành những cộng đồng dân cư phát triển toàn diện cả kinh tế và văn hóa - xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi vùng, mỗi dân tộc lại có cách gọi làng, bản khác nhau, quy mô về dân số cũng khác nhau nên cần có cách hiểu chung nhất về đơn vị làng, bản. Đó là các đơn vị hành chính truyền thống có từ lâu đời, nhỏ hơn cấp xã như: bản, thôn, buôn, bon, plei, làng, ấp,... Như vậy, việc tổ chức xây dựng Làng, bản văn hóa có trách nhiệm của cấp xã và trực tiếp là của các tổ chức, đoàn thể cũng như người dân tại mỗi làng, bản. Mục đích cuối cùng là để một cộng đồng dân cư cụ thể phát triển toàn diện. Với mong muốn cung cấp những điều cơ bản, cần biết, cần làm cho những người có liên quan đến công tác xây dựng Làng, bản văn hóa, đặc biệt là vùng dân 5 tộc thiểu số và miền núi, như cán bộ xã, các thầy cô giáo ở vùng cao, các cán bộ làm công tác Đảng, đoàn thể ở mỗi làng, bản, buôn, sóc, plei,..., Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản cuốn sách Xây dựng Làng, bản văn hóa của tác giả Vũ Trung. Do khuôn khổ nội dung có hạn nên cuốn sách không tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi rất mong cuốn sách sẽ đem đến những gợi ý tốt để đồng bào và các cán bộ ở cơ sở có thêm thông tin góp phần tổ chức xây dựng làng, bản mình ngày càng tốt đẹp hơn. Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 11 năm 2014 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT 6 Phần I XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT Khi triển khai thực hiện một chủ trương, một mục tiêu nào đó chúng ta rất cần hiểu được các nội dung cơ bản của nó. Điều đó càng cần thiết cho những người có vai trò là người đứng đầu hoặc là cán bộ tham mưu, đề xuất. Việc tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa cũng vậy. Những khái niệm, kiến thức có khi như là xa vời nhưng thực chất nó là nội dung và yêu cầu phải thực hiện cho phù hợp. Nếu không xác định rõ, rất dễ xảy ra tình trạng thực hiện tràn lan, không đúng trọng tâm hoặc bỏ sót việc. Đối với những người có nhiệm vụ liên quan đến công tác xây dựng Làng, bản văn hóa, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi cần biết một số kiến thức cơ bản liên quan. I. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Làng và nước Trong tổ chức và thiết chế truyền thống của 7 xã hội Việt Nam vốn có khá nhiều cấp hành chính. Thậm chí ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc mỗi dân tộc lại có các quan niệm và hệ thống tổ chức khác nhau. Dù vậy, chúng ta vẫn có thể hệ thống lại. Với mô hình phổ biến nhất trước đây đối với xã hội của người Kinh thì cơ bản hệ thống các cấp hành chính truyền thống từ thấp nhất đến cao nhất, thường là: xóm - thôn - làng - xã - tổng - nước. Đối với các dân tộc thiểu số thì thực tế vẫn còn phức tạp hơn, nhưng về cơ bản vẫn có các cấp tương ứng với người Kinh. Chẳng hạn, với dân tộc Mường là: quêl - chiềng - mường - châu - tổng - nước. Đương nhiên sự tương ứng này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì trên thực tế những cấp hành chính truyền thống này rất linh hoạt, cụ thể ở từng dân tộc, từng thời kỳ. Ví dụ: Đối với các dân tộc Mường thì quêl là những chòm dân cư nhỏ, có khi chỉ vài ba nóc nhà tách biệt với một chiềng nào đó. Vì vậy, ở nhiều chiềng không có quêl và chiềng khi đó lại có ý nghĩa như quêl. Sự linh hoạt ở đây giống như xóm và thôn của người Kinh. Bởi lẽ, trong làng thì có xóm, có thôn nhưng không nhất thiết cứ phải có xóm mới đến thôn rồi mới hợp thành làng. Lại có khi thôn đồng nghĩa với làng. Tương tự như vậy, người Khmer thường có tổ chức phum rồi mới đến sóc và sóc luôn định hình ổn định nhất. 8 Điều cần quan tâm nhất khi tìm hiểu về cấp hành chính truyền thống của Việt Nam dù có linh hoạt, thay đổi thế nào thì có hai cấp luôn ổn định nhất là làng và nước. Đó chính là hai cấp có tổ chức, có bộ máy điều hành, quản lý, ít bị xáo trộn, tách - nhập nhất. Đó là sự bền vững cả về địa chính trị và nhận thức. Thậm chí, sự bền vững của làng còn hơn cả nước. Vì nước có thể thay đổi quốc hiệu, có thể mở rộng bờ cõi hoặc thậm chí “mất nước” nhưng đơn vị làng gần như không thay đổi, mặc dù tên làng có thể thay đổi. Trên thực tế ở Việt Nam, cách hiểu về làng phải cụ thể đối với từng dân tộc. Đó là cấp tổ chức hành chính truyền thống cơ bản nhất, bền vững nhất với các tiêu chí sau: - Có ranh giới xác định. - Có bộ máy quản lý (dù đơn giản). - Có lệ (luật tục) và cách tự quản riêng. - Có tên gọi từ dân gian - truyền thống. - Tên gọi của làng không mất đi dù ở chế độ xã hội nào. Như vậy, tương ứng với làng (của người Kinh) sẽ có cách gọi khác nhau ở các dân tộc. Ở đây, làng và nước là hai thiết chế bền vững, có sự chi phối mang tính biện chứng, có sự thống nhất trong đa dạng. Sự thống nhất chính là tất cả các làng đều chung một nước, chịu sự quản lý, chi phối của một chế độ chính trị với luật nước thống nhất. Sự đa dạng là trong một nước có hàng vạn 9 làng (bản, phum, buôn, plei…) của nhiều vùng miền, nhiều dân tộc, với quy mô và cách điều hành, quản lý mang đặc thù riêng. 2. Thế nào là làng, bản? Từ cách nhìn tổng quát nhất về làng và nước, chúng ta biết làng, bản hiện nay đã và đang tồn tại trên thực tế và có vị trí rất đặc biệt trong mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Đất nước Việt Nam chúng ta hiện nay có 54 dân tộc cùng chung sống. Từ xưa đến nay, mỗi dân tộc đều hình thành các cộng đồng dân cư với các cách gọi khác nhau. Người Kinh và một số dân tộc gọi là làng (hoặc thôn). Các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao... thường gọi đó là bản. Người Mường và một số vùng người Thái gọi là mường. Các dân tộc ở Tây Nguyên cũng có nơi gọi là làng, nhưng cách gọi phổ biến nhất là buôn, plei. Người Khmer gọi là phum hoặc sóc... Vì vậy, cách gọi làng, bản là để chỉ chung các cộng đồng dân cư được hình thành tự nhiên theo truyền thống và lịch sử. Các cộng đồng dân cư này đều nhỏ hơn đơn vị hành chính cấp xã (phường, thị trấn). Trong một xã thường có nhiều làng, bản, buôn... Như vậy, làng, bản không phải là đơn vị hành chính cấp cơ sở, vì đơn vị hành chính cấp cơ sở được xác định là xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã). Tuy làng, bản không có bộ máy 10 chính quyền đầy đủ như Ủy ban nhân dân xã nhưng vẫn có các tổ chức đoàn thể chính trị như: Chi bộ Đảng, Chi hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên. Đặc biệt, từ xưa đến nay ở mỗi làng, bản đều có chức danh đứng đầu như: trưởng thôn, già làng, trưởng bản. Các chức danh này hầu hết do cộng đồng dân cư đó suy tôn hoặc bầu ra. Có những làng còn có tổ chức điều hành lớn hơn, đó là Hội đồng già làng ở Tây Nguyên, Hội đồng sư sãi (acha) của đồng bào Khmer. Nhìn chung, làng, bản tuy có quy mô khác nhau, cách tổ chức quản lí cũng khác nhau tùy theo mỗi dân tộc; nhưng làng, bản luôn là một cộng đồng bền vững, hầu như không có sự thay đổi tên gọi hay tách nhập như một số đơn vị hành chính cấp xã, huyện. Vì có đặc điểm bền vững như vậy nên làng, bản cần được đặc biệt quan tâm để tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa. Trong thực tế, hầu như không có khái niệm “xã văn hóa”, “huyện văn hóa” nhưng lại có khái niệm “làng văn hóa”. 3. Thế nào là “Làng, bản văn hóa”? Làng, bản là tổ chức hành chính truyền thống, có bản sắc riêng nhưng tự thân nó chưa phải là làng, bản văn hóa. Để trở thành làng, bản văn hóa cần phải có một quá trình. Nói cách khác, làng, bản văn hóa mới chỉ là một danh hiệu chứ chưa phải là tên gọi của nó. 11 Làng, bản văn hóa là danh hiệu do Nhà nước ta đặt ra để xác định, công nhận một cộng đồng dân cư đạt những yêu cầu, tiêu chuẩn cụ thể. Tùy từng vùng, từng dân tộc mà danh hiệu này được gọi là Làng văn hóa hoặc Bản văn hóa, Buôn văn hóa, Sóc văn hóa, Ấp văn hóa... Đây là danh hiệu, là mục tiêu và nội dung phấn đấu của các cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay. Vì vậy, Làng, bản văn hóa không phải là tên của làng, của bản mà nó được gắn với tên làng, bản cụ thể đã đạt tiêu chuẩn công nhận. Ví dụ: Làng văn hóa Đê Ktu, Bản văn hóa Pác Ngòi, Buôn văn hóa Brố... Như vậy, Làng, bản văn hóa không phải là danh hiệu đương nhiên có hoặc tồn tại mãi mãi. Có thể trong một thời gian, qua bình xét không còn đạt tiêu chuẩn thì làng, bản đó lại bị rút danh hiệu Làng, bản văn hóa. Vì thế, việc đăng kí, tổ chức xây dựng Làng, bản văn hóa phải được thực hiện thường xuyên, thậm chí những năm sau còn bổ sung thêm các tiêu chuẩn mới. Các làng, bản đạt danh hiệu Làng, bản văn hóa là một vinh dự, nhưng cần trách nhiệm cao của tất cả mọi người. Trước hết, các làng, bản muốn được công nhận đạt danh hiệu Làng, bản văn hóa cần phải đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp huyện (thông qua cấp xã). Tùy theo tình hình thực tế ở các tỉnh, huyện mà tiêu chuẩn công nhận Làng, bản văn hóa có những quy định chi tiết, cụ thể. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn chung nhất hiện nay được áp dụng theo Thông tư 12 số 12/2011/TT - BVHTTDL ngày 10-10-2011 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hoá”; “Thôn văn hoá”, “Làng văn hoá”, “Ấp văn hoá”, “Bản văn hoá”, “Tổ dân phố văn hoá” và tương đương (sau đây viết tắt là Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL). Để đạt được danh hiệu Làng, bản văn hóa, các làng, bản cần đạt các tiêu chí chung như sau: - Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển: + Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là bình quân chung); + Có phong trào xóa nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà bền vững cao hơn mức bình quân chung; + Có nhiều hoạt động hiệu quả: Về tuyên truyền, phổ biến và ứng dụng khoa học - kỹ thuật; phát triển nghề truyền thống; hợp tác và liên kết phát triển kinh tế; + Tỷ lệ lao động có việc làm, thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn mức bình quân chung; + Có 80% trở lên hộ gia đình tham gia cuộc vận động xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội ở cộng đồng. - Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú: + Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn (làng, ấp, bản và tương đương) từng bước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; 13 + Duy trì phong trào văn hóa, thể thao, thu hút 40% trở lên số người dân tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng; + Có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không có hành vi truyền bá và hành nghề mê tín dị đoan; + Không phát sinh người mắc tệ nạn xã hội ở cộng đồng; không có người sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; + Có 70% trở lên hộ gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”, trong đó ít nhất 50% gia đình văn hóa được công nhận 3 năm trở lên; + 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài; + Không có hành vi gây lây truyền dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêm chủng đầy đủ và phụ nữ có thai được khám định kỳ; + Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình; + Có nhiều hoạt động đoàn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và các công trình công cộng; bảo tồn các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyền thống ở địa phương. 14 - Môi trường cảnh quan sạch đẹp: + Có tổ vệ sinh thường xuyên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải về nơi xử lý tập trung theo quy định; + Tỷ lệ hộ gia đình có 3 công trình hợp vệ sinh (nước sạch, nhà tắm, hố xí) đạt chuẩn, cao hơn mức bình quân chung; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; + Nhà ở khu dân cư, các công trình công cộng, nghĩa trang được xây dựng từng bước theo quy hoạch; + Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường sinh thái; vận động nhân dân xây dựng cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước; cải tạo các ao, hồ sinh thái; trồng cây xanh. - Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước: + Có 90% trở lên hộ gia đình được phổ biến và nghiêm chỉnh thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; + Hoạt động hòa giải có hiệu quả; hầu hết những mâu thuẫn, bất hòa được giải quyết tại cộng đồng; + Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; phản ánh kịp thời những đề xuất, kiến nghị của nhân dân giải quyết những vấn đề bức xúc ở cơ sở, 15 cộng đồng dân cư; không có khiếu kiện đông người trái pháp luật; + Tuyên truyền và tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân ở khu dân cư tham gia giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức Nhà nước; tham gia xây dựng Chi bộ Đảng, chính quyền đạt danh hiệu “Trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu tiên tiến trở lên hàng năm; các tổ chức tự quản ở cộng đồng hoạt động có hiệu quả. - Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng: + Thực hiện đầy đủ các chính sách của Nhà nước, phát triển phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, nhằm chăm sóc các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức bình quân chung; + Thực hiện tốt các hoạt động “Nhân đạo từ thiện”, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, gia đình khó khăn, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, nạn nhân chất độc da cam - dioxin và những người bất hạnh. Như vậy, Làng, bản văn hóa là danh hiệu nhưng cũng là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống của một cộng đồng dân cư cụ thể. Đó là những cộng đồng dân cư đã có nhiều tiến bộ về đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội, kế thừa, phát huy có hiệu quả các yếu tố văn hóa truyền thống. Xây dựng Làng, bản văn hóa là một cuộc vận 16 động, một phong trào cần sự đồng lòng của các cấp, các ngành, đặc biệt là ý thức tự giác của mọi người dân. Chỉ có như vậy, cuộc vận động xây dựng Làng, bản văn hóa mới thực sự bền vững, có chất lượng, vì sự tiến bộ, phát triển toàn diện của nhân dân các dân tộc trên đất nước chúng ta. 4. Thế nào là đơn vị cơ sở? Hiện nay, các hoạt động chỉ đạo, đầu tư về nhân lực, vật lực của cả hệ thống chính trị đang hướng về cơ sở, công tác văn hóa - xã hội cũng không nằm ngoài chủ trương đó. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), Đảng ta đã xác định: “Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”. Vậy “cơ sở” được xác định như thế nào? Cơ sở cần được hiểu là một địa bàn, địa điểm cụ thể, ví dụ: xã, phường, thị trấn, nhà máy, lâm trường, đơn vị bộ đội... Như vậy, ở nông thôn, miền núi và vùng dân tộc thiểu số thì xã là đơn vị cơ sở và làng, bản là các bộ phận dân cư thuộc đơn vị cơ sở đó. Đã là bộ phận thì làng, bản không thể coi là đơn vị cơ sở đầy đủ với chức năng quản lý hành chính, với bộ máy tổ chức và kế hoạch. Tuy nhiên với vai trò và chức năng truyền thống bền vững, các làng, bản hiện nay được coi là đơn vị cơ sở đặc biệt, cần tổ chức xây dựng các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao, du lịch với các nội dung đầy đủ như toàn địa bàn xã. Điểm khác duy nhất là ở làng, bản không có 17 cán bộ chuyên trách về công tác văn hóa như cấp xã. Như vậy, làng, bản không có chức năng làm công tác quản lý văn hóa ở cơ sở (không có nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn). Tuy vậy, làng, bản vẫn luôn là một thực thể văn hóa, là địa chỉ cụ thể để bảo tồn và phát huy nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc. 5. Cán bộ văn hóa cơ sở Như trên đã nói, đơn vị cơ sở là tương ứng với cấp xã. Hiện nay ở cấp xã cũng chỉ có thể bố trí một cán bộ thuộc Ủy ban nhân dân làm công tác văn hóa - xã hội. Để tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở phải là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có vai trò của các tổ chức, đoàn thể, các trưởng bản, trưởng thôn và kể cả các giáo viên đang công tác trên địa bàn. Như vậy, việc tổ chức xây dựng Làng, bản văn hóa phải là một nhiệm vụ thường xuyên của Chi bộ Đảng, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Chi hội Phụ nữ, Chi hội Cựu chiến binh và giáo viên đang công tác ở trường học, kể cả các điểm trường. Các tổ chức, đoàn thể này sẽ phân công thành viên trong ban lãnh đạo của mình phụ trách công tác văn hóa nhằm vận động, phối hợp có hiệu quả tốt nhất với các già làng, trưởng bản trong công tác xây dựng Làng, bản văn hóa. Các cá nhân được phân công nhiệm vụ này có thể coi là những cán bộ văn hóa của xã và làng, bản. Trong quá trình tổ chức, hoạt 18 động sẽ hình thành các tổ chức mới như: đội văn nghệ, phòng đọc sách, các câu lạc bộ, các nhóm sinh hoạt cùng sở thích... thì những người phụ trách các tổ chức này được coi là cộng tác viên về công tác văn hóa ở cơ sở. Như vậy, thực chất của cán bộ văn hóa ở làng, bản là dựa vào các tổ chức, đoàn thể, là xã hội hóa. Tùy theo điều kiện của xã để có những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ thù lao cho những người này. 6. Gia đình văn hóa Để hiểu về gia đình văn hóa, trước hết chúng ta cần nhận thức đúng về vai trò của gia đình trong xã hội ngày nay. Gia đình là một xã hội thu nhỏ, là tổng hợp các quan hệ giá trị nhân cách, tình cảm, đạo đức, danh dự, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc. Khi nói về vai trò của gia đình, nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã từng khẳng định “Nước là một cái nhà lớn, nhà là một cái nước nhỏ”. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình tháng 1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”1. Rõ _______________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.300. 19 ràng gia đình giữ vị trí rất quan trọng đối với mỗi thành viên trong gia đình cũng như đối với cộng đồng. Ở bất kỳ thời kỳ lịch sử nào, dù là vùng miền và dân tộc khác nhau thì gia đình cũng đều có vai trò và các chức năng như sau: - Chức năng sinh sản, tái sản xuất ra con người; - Chức năng kinh tế; - Chức năng giáo dục, xã hội hoá cá nhân; - Chức năng thoả mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý tình cảm. Từ các chức năng cơ bản đó mà gia đình có các vai trò rất quan trọng đối với con người và xã hội. Gia đình là đơn vị kinh tế nhỏ nhất, là đơn vị văn hóa nhỏ nhất của xã hội, là tế bào của xã hội và là môi trường đầu tiên cho việc giáo dục con người. Trải qua nhiều thế kỷ, cơ cấu xã hội có sự biến đổi, nhưng tổ chức của gia đình không biến đổi nhiều. Gia đình là tế bào của xã hội, do đó, văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Ở thời đại nào văn hóa gia đình cũng là nền tảng cho văn hóa xã hội. Văn hóa gia đình giàu tính nhân văn, nhân bản, đề cao giá trị đạo đức, xây dựng nếp sống văn hóa trật tự, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh cho con người trong từng tế bào của xã hội. Bởi vậy, gia đình tốt là bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, xã 20 hội lành mạnh và văn minh. Văn hóa gia đình là một bộ phận, là “cái gốc” của văn hóa làng, văn hóa nước. Gia đình truyền thống Việt Nam xưa rất chú trọng xây dựng gia đạo, gia phong và gia lễ, trong đó gia đạo là sức mạnh của gia đình. Gia đạo là đạo đức của gia đình như đạo hiếu, đạo ông bà, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em. Đạo hiếu là hiếu nghĩa của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Gia lễ là phép ứng xử của con người theo một nguyên tắc có tính tôn ti trật tự theo lễ tiết, đặc biệt là việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh. Hiện nay, việc đẩy mạnh phong trào xây dựng Gia đình văn hóa không thể tách rời việc nghiên cứu, xem xét, đánh giá từ gia đình. Nghĩa là, cuộc vận động xây dựng Gia đình văn hóa và tiêu chí Gia đình văn hóa hiện nay phải dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam. Đó là cơ sở xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống tốt đẹp… từ trong mỗi gia đình, lấy gia đình làm “pháo đài” chống lại sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội và những tác động xấu từ mặt trái của cơ chế thị trường. Xây dựng Gia đình văn hóa là xây dựng gia đình Việt Nam vừa phải kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, vừa kết hợp với những giá trị tiên tiến của gia đình 21 hiện đại để phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Tất cả nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Gia đình văn hóa là danh hiệu để công nhận những gia đình cụ thể đạt được những tiêu chuẩn, những quy định chung. Những tiêu chuẩn chung nhất được hướng dẫn tại Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10-10-2011 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là: - Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương: + Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng; + Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; + Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm; 22 + Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng. - Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng: + Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan; + Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình; + Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh - sạch - đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao; + Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng. - Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả: + Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; 23 + Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng; + Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao. Hiện nay, việc chỉ đạo hướng dẫn xây dựng Gia đình văn hóa là một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động ʺToàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóaʺ do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ngành văn hóa phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện. 7. Vài nét về văn hóa dân gian Làng, bản văn hóa trước hết phải gắn bó với truyền thống. Vì vậy, để xây dựng thành công làng, bản văn hóa cần phải hiểu về văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian là kết quả từ quá trình sáng tạo lâu dài của một cộng đồng. Trải qua hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm tồn tại, văn hóa dân gian trở thành tài sản tinh thần vô giá và là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc. Khi nói đến văn hóa dân gian, chúng ta có thể hiểu theo hai mức độ khác nhau: - Theo nghĩa rộng, văn hóa dân gian bao gồm toàn bộ ý nghĩa của các vật thể và sinh hoạt tinh thần của nhân dân, liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống. 24 Ví dụ: Việc sáng tạo ra cây khèn, điệu múa khèn và chiếc cày nương của người Mông được coi là nét đặc sắc của văn hóa dân gian dân tộc này. Người Bana thì có việc tổ chức lấy vật dụng rồi dựng nhà rông là một nét độc đáo của kiến thức dân gian. Các sản phẩm được chế tác thủ công từ làng nghề truyền thống ở nhiều dân tộc cũng được coi là các di sản văn hóa dân gian... - Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian là ý nghĩa, giá trị của các hoạt động tinh thần, thường không được biểu hiện bằng những vật chất cụ thể (gọi là văn hóa phi vật thể). Hiện nay, theo nghĩa này, văn hóa dân gian được gọi là văn nghệ dân gian (thuật ngữ tiếng Anh viết là “folklore”, đọc phiên âm là phôn-cơ-lo). Khi triển khai tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa thì các loại hình của văn nghệ dân gian cần phải được ưu tiên để bảo tồn, phát huy trong cuộc sống hàng ngày. Đó là các bài hát giao duyên, hát ru, các điệu múa, cách trình diễn nhạc cụ dân gian tự chế và các hình thức diễn xướng tổng hợp trong sinh hoạt, đặc biệt là diễn xướng trong nghi lễ, lễ hội... Trong văn nghệ dân gian có nhiều yếu tố cấu thành, đó là: - Văn học dân gian (như truyện kể, ca dao, hò vè, truyện thơ...). Kho tàng văn học dân gian còn được sáng tạo, bảo lưu và phát triển rất phong phú, đa dạng và đồ sộ qua lời diễn xướng ở các 25 nghi thức sinh hoạt cộng đồng, nghi thức tín ngưỡng, tôn giáo như: kể Khan, Mo Mường, Then, Pụt… - Trình diễn dân gian (như cúng trong nghi lễ, nhảy múa, trình diễn với nhạc cụ, các trò chơi, trò diễn...). - Tri thức dân gian (thường ẩn trong các câu tục ngữ, thành ngữ, lời răn dạy...). - Tạo hình dân gian (như cách trang trí hoa văn thổ cẩm của nhiều dân tộc ở miền núi phía Bắc, tạo dáng và đường nét khi làm tượng nhà mồ của các dân tộc ở Tây Nguyên, trang trí tượng và tháp cổ của người Chăm, dựng chùa và tạo dáng ghe ngo của người Khmer ở Tây Nam Bộ...). - Nghi lễ, lễ hội và phong tục truyền thống. Tất cả các yếu tố hình thành văn nghệ dân gian đã nêu trên đều rất cần tìm hiểu, vận dụng, phát huy trong việc tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa, đặc biệt là các yếu tố: trình diễn dân gian, nghi lễ, lễ hội, phong tục truyền thống... 8. Thế nào là “văn hóa dân tộc” và “văn hóa tộc người”? Theo cách nói hàng ngày, dân dã nhiều khi chúng ta không phân biệt văn hóa dân tộc và văn hóa tộc người. Vì vậy, những người làm công tác văn hóa ở cơ sở rất cần biết những thông tin cần thiết để nhận biết nội dung của các khái niệm trên. 26 Trước khi xác định nội dung (nội hàm) của các khái niệm “văn hóa dân tộc” và “văn hóa tộc người” chúng ta cần trả lời câu hỏi: Văn hóa được biểu hiện như thế nào? Theo cách hiểu tổng quát và trực diện nhất thì văn hóa được biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau và có thể quy vào năm cấp độ như sau: - Văn hóa cá thể (cá nhân) Đó là biểu hiện văn hóa của từng người, từng hiện tượng. Qua biểu hiện này, chúng ta có thể đánh giá thái độ, trình độ văn hóa của từng người. Vì vậy, mọi người hay nói là: Anh này (chị kia) thiếu văn hóa. Ngược lại ta có thể đánh giá là: Anh này (chị kia) là người có văn hóa. Mặt khác, người ta cũng có thể đánh giá giá trị văn hóa của từng sự vật, hiện tượng. - Văn hóa cộng đồng nhỏ (tiểu cộng đồng) Đó là biểu hiện văn hóa của các tập thể nhỏ như gia đình, dòng họ, làng, bản... Biểu hiện văn hóa này là kết quả của văn hóa cá thể, đồng thời chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa cá thể. Như vậy, làng, bản, buôn, plei, sóc... là tiểu cộng đồng và mỗi tiểu cộng đồng ấy đều có truyền thống và bản sắc văn hóa riêng. - Văn hóa tộc người Đó là biểu hiện văn hóa của một dân tộc cụ thể, trong đó có sự đóng góp của từng cá thể và các làng, bản của dân tộc đó. Vì vậy, khái niệm văn hóa tộc người được hiểu là văn hóa của một 27 thành phần dân tộc. Ví dụ: văn hóa dân tộc Thái, văn hóa dân tộc Giarai, văn hóa dân tộc Khmer, văn hóa dân tộc Chăm... Văn hóa tộc người là một trong những yếu tố cơ bản nhất để phân biệt giữa dân tộc này và dân tộc khác. - Văn hóa vùng miền Đó là biểu hiện văn hóa của một cộng đồng dân cư rộng lớn hơn làng, bản, trong đó có sự hiện diện của nhiều dân tộc. Ví dụ: văn hóa các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên... Vì vậy, văn hóa vùng, miền luôn có phạm vi khá rộng và đa dạng về phong cách nhưng vẫn tạo cho mình nét riêng so với vùng miền khác. - Văn hóa dân tộc Qua bốn cấp độ biểu hiện của văn hóa đã nêu trên sẽ có một kết quả chung, đó là văn hóa dân tộc. Vì vậy, văn hóa dân tộc là biểu hiện văn hóa của một đất nước. Nói cách khác, đây là văn hóa quốc gia. Đó là cấp độ biểu hiện thứ năm của văn hóa. Vì vậy mới có: văn hóa Việt Nam, văn hóa Lào, văn hóa Trung Hoa (Trung Quốc)... Như vậy, theo cách chúng ta thường nói: văn hóa dân tộc Thái, văn hóa dân tộc Mường, văn hóa dân tộc Khmer... chính là chỉ văn hóa tộc người. Nói cách khác, đó là văn hóa của một dân tộc cụ thể, chưa phải là văn hóa dân tộc Việt Nam. Văn hóa dân tộc Việt Nam là tổng hợp của tất cả các yếu tố: văn hóa cá thể, văn hóa cộng đồng nhỏ, văn hóa tộc người và văn hóa vùng miền. 28 Trên đây là những khái niệm mà người làm công tác văn hóa ở cơ sở cần phải hiểu và có sự phân biệt. Khi đã hiểu và phân biệt được những khái niệm đó thì những người làm công tác tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa sẽ có định hướng, biết phạm vi, đối tượng cần tập trung vận động để có hiệu quả thiết thực nhất. Thực chất, việc xây dựng Làng, bản văn hóa là tập trung vào việc nâng cao văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng nhỏ (làng, bản, gia đình, dòng họ...). Muốn làm tốt được điều này, chúng ta cần hiểu biết, vận dụng, phát huy vốn văn nghệ dân gian, các nghi lễ, phong tục và các hình thức trình diễn dân gian của mỗi cộng đồng làng, bản nói riêng và các dân tộc nói chung. II. MỤC ĐÍCH CỦA XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA 1. Xây dựng Làng, bản văn hóa là góp phần phát triển toàn diện, bền vững ở nông thôn Như chúng ta đã biết, làng, bản, buôn, sóc, plei... là những cộng đồng dân cư được hình thành từ lâu đời mà ở đó mối quan hệ xã hội gắn bó bền vững. Mỗi gia đình, cá nhân đều chịu sự chi phối, tác động từ môi trường kinh tế, xã hội của làng, bản. Vì làng, bản có nhiều yếu tố về tín ngưỡng, dòng họ, tập tục và các quyền lợi khác tác động đến các thành viên sống trong làng, bản. Một làng bản yên vui, an toàn, tình người và 29 đạo đức xã hội được tôn trọng, nhân cách văn hóa của mỗi người được giáo dục phát huy thì đó đương nhiên là môi trường tốt, chất lượng cuộc sống được nâng cao ngay cả khi đời sống kinh tế chưa cao. Như vậy, xây dựng Làng, bản văn hóa thực chất là xây dựng một cộng đồng dân cư ở vùng nông thôn, miền núi và dân tộc thiểu số có đời sống kinh tế, đời sống văn hóa - xã hội phát triển lành mạnh, bền vững. Sự phát triển này có định hướng, trên cơ sở bảo tồn văn hóa truyền thống, đồng thời với việc tiếp cận, tiếp thu và hưởng thụ những thành tựu văn hóa mới. Xây dựng Làng, bản văn hóa có nghĩa là tạo ra môi trường tốt hơn, phù hợp hơn ở mỗi cộng đồng dân cư mà ở đó mỗi người có thêm điều kiện xóa đói, giảm nghèo, nhận thức về xã hội tiến bộ hơn, đạo đức, tư cách tốt hơn, bản sắc văn hóa dân tộc được bảo vệ, phát huy. Xây dựng Làng, bản văn hóa là cùng nhau tạo ra cảnh quan xanh, sạch, đẹp ở mỗi cộng đồng dân cư nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người. Đây là nội dung công việc không phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, kỹ thuật mà phụ thuộc vào ý thức, sự đồng lòng và hành động của mỗi người. Xây dựng Làng, bản văn hóa là đẩy lùi, từ bỏ các hủ tục, từng bước loại trừ các yếu tố kìm hãm sự tiến bộ xã hội, là củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. 30 2. Xây dựng Làng, bản văn hóa là góp phần ổn định chính trị và bảo vệ Tổ quốc Khi thực hiện xây dựng Làng, bản văn hóa có nghĩa là chúng ta đang thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển toàn diện nông nghiệp, nông thôn. Đó chính là xây dựng một cộng đồng dân cư tiến bộ để mỗi người, mỗi gia đình, dòng họ có điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa làm cho làng, bản quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh. Nói cách khác, xây dựng làng, bản văn hóa chính là xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng. Thực tế cho thấy, mỗi làng, bản, thôn, xóm, phum, sóc, ấp, plei… đều là nơi gìn giữ, bảo lưu kho tàng văn hóa dân gian phong phú với những tập quán, phong tục, nếp sống, lễ hội... tạo nên một cộng đồng dân cư văn hóa vững chắc. Nếp sống văn hóa của cộng đồng chính là bộ mặt xã hội. Các vấn đề về xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng làng, bản văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh trong trường học, cơ quan, đơn vị… là những nội dung quan trọng của xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng. Trong những thập kỷ qua, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc xây dựng đời sống văn hóa. Các cuộc vận động ʺToàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cưʺ, ʺXây dựng nông thôn mớiʺ đã nhận được sự hưởng 31 ứng của nhiều tầng lớp nhân dân, đóng góp vai trò lớn trong việc ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, tạo môi trường văn hoá lành mạnh, đậm bản sắc dân tộc. Tuy nhiên hiện nay, việc xây dựng nếp sống văn hoá cũng đặt ra nhiều thách thức do một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng tái phát; những nét đẹp trong văn hoá truyền thống bị mai một; mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào còn thấp. Bên cạnh đó còn nảy sinh quan điểm không đồng nhất giữa các thế hệ về phép ứng xử, lối sống; tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng ngày càng gia tăng và phức tạp đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về xây dựng nếp sống văn hóa trong gia đình và cộng đồng, trong đó có một phần nguyên nhân là do quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế. Vì vậy trong giai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng nếp sống văn hoá cộng đồng là một trong những chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước. Xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng là một quá trình lâu dài và bền bỉ, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Công việc này đòi hỏi cần phải được thực hiện từng bước phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hoá của từng địa phương, từng dân tộc. 32 Vì vậy, một mặt chúng ta phải tạo tiền đề vật chất, xây dựng cơ sở kinh tế, đồng thời phải khai thác, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của cha ông nhằm tạo động lực để phát triển xã hội. Do đó, vấn đề nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thay đổi tư duy, lối sống, nếp nghĩ cũ sang tư duy khoa học, xây dựng lối sống mới, nếp sống mới là nhiệm vụ hết sức cơ bản và có ý nghĩa quyết định. Như vậy, nếu làm tốt công tác xây dựng làng, bản văn hóa thì tình hình trật tự, an toàn xã hội từ cơ sở và dưới cơ sở sẽ được đảm bảo, các thế lực thù địch sẽ khó có cơ hội để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Đối với vùng miền núi và dân tộc thiểu số, nơi có các làng, bản đóng chân ở địa bàn biên giới, “phên giậu” của Tổ quốc thì đương nhiên việc xây dựng làng, bản văn hóa còn đảm bảo cho thế trận lòng dân bền vững để bảo vệ đất nước. III. VAI TRÒ CỦA LÀNG, BẢN Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA Để công tác xây dựng Làng, bản văn hóa có hiệu quả cao thì những người làm công tác quản lý xã hội và cán bộ thực hành nghiệp vụ cần căn cứ vào tình hình cụ thể để có giải pháp phù hợp. Trước hết là địa bàn miền núi và vùng dân tộc thiểu số. 33 Do điều kiện địa hình, địa lý nên mỗi làng, bản ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số thường là một cộng đồng dân cư độc lập, có khoảng cách với các làng, bản khác, thường chỉ có một dân tộc thuần nhất. Vì vậy, trong các làng, bản mỗi thành viên đều có những mối quan hệ gần gũi về tình cảm, có những điểm tương đồng về tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí có quyền lợi, nghĩa vụ chung. Đây là điều tương đối khác với các làng, các khu phố ở miền xuôi và thành phố. Với những lý do trên nên làng, bản ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, vận động và phát triển các phong trào, đặc biệt là công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Nếu xác định toàn bộ địa bàn một xã là đơn vị cấp cơ sở thì ở miền núi việc tổ chức các hoạt động toàn xã hoặc đến trung tâm xã gặp nhiều trở ngại về địa hình, địa lý, kinh phí... nên khó duy trì thường xuyên, bền vững. Vì vậy lấy địa bàn làng, bản là thực tế hơn, cụ thể hơn, bền vững hơn. Nếu mỗi làng, bản trong xã đều phát triển kinh tế, văn hóa thì tất nhiên tình hình kinh tế - xã hội của toàn xã sẽ tốt. Việc tổ chức xây dựng Làng, bản văn hóa sẽ đảm bảo các yếu tố sau: - Dễ có sự thống nhất cao. - Có nhiều yếu tố thuận lợi khi tổ chức, thực hiện. 34 - Động viên, khích lệ được tinh thần tự hào, tự tôn ở mỗi làng, bản. - Ít tốn kém các chi phí tài chính khi người dân hiểu được đó chính là quyền lợi của gia đình và cá nhân mình. - Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bằng chính ý thức tự giác của người dân. - Phát huy được vai trò của các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ. - Không lệ thuộc nhiều vào các thủ tục hành chính. - Đáp ứng nhu cầu tham gia sinh hoạt cộng đồng và thể hiện mình của mỗi cá nhân, phù hợp với điều kiện cho phép. Tuy nhiên, làng, bản không phải là một cấp tổ chức hành chính đầy đủ như cấp xã (không phải là đơn vị cơ sở) nên việc tổ chức, thực hiện cần có những biện pháp phù hợp, linh hoạt theo hướng vận động là chính, trên cơ sở tự nguyện, tự giác của mọi thành phần, lứa tuổi. Xây dựng Làng, bản văn hóa không phải là tách rời sự chỉ đạo, hướng dẫn của tổ chức Đảng và chính quyền cấp xã. Ngược lại chính quyền xã không “khoán trắng” cho các làng, bản dẫn đến thiếu sự phối hợp, hỗ trợ, giao lưu thường xuyên. 35 Phần II XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA NHỮNG VIỆC CẦN LÀM Để tổ chức xây dựng Làng, bản văn hóa thì ngoài những điều cần biết, có rất nhiều việc cần làm. Khi các làng, bản đã đạt được danh hiệu Làng, bản văn hóa thì việc giữ vững và nâng cao chất lượng tổ chức, hoạt động lại càng đòi hỏi có những biện pháp thường xuyên, phù hợp hơn. Đây là công việc của tất cả các ngành, các cấp, các đoàn thể, trong đó có những người được phân công nhiệm vụ trực tiếp làm công tác văn hóa - xã hội của cấp xã cũng như tại các làng, bản. Biết được những việc phải làm để hình thành cách làm sẽ là yếu tố quan trọng, đảm bảo cho những thành công. I. TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG VỀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA Việc tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa là nhằm thực hiện mục đích làm cho chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, mỗi gia đình cùng sống trên địa bàn làng, bản được tốt đẹp hơn. Đảng và 36 Nhà nước ta phát động phong trào xây dựng Làng, bản văn hóa không có mục đích nào khác là làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc được nâng cao, xã hội tiến bộ mà vẫn luôn bảo tồn, phát huy được truyền thống văn hóa tốt đẹp ở từng bản làng, từng dân tộc. Vì vậy, xây dựng Làng, bản văn hóa là đáp ứng cho lợi ích của mỗi người, mỗi gia đình, nếu làm tốt, làm đúng sẽ đảm bảo cho các dân tộc phát triển, hội nhập mà không đánh mất đi nét riêng của mình. Muốn đạt được những mục tiêu trên thì trước hết cần tuyên truyền, vận động về lợi ích của việc xây dựng Làng, bản văn hóa để đồng bào hiểu và tự nguyện thực hiện: Việc tuyên truyền, vận động này có thể được lồng ghép trong nhiều hoạt động khác nhau: 1. Trong sinh hoạt của tổ chức Đảng Đây là công việc rất quan trọng nhưng còn nhiều tổ chức Đảng ở cơ sở chưa quan tâm đầy đủ. Đối với thực tế tổ chức Đảng bộ ở cấp xã và chi bộ tại các làng, bản thì những người được phân công về mảng văn hóa - xã hội vẫn cần tuyên truyền, vận động các đảng viên khác, thậm chí cần vận động cả đảng viên giữ vị trí lãnh đạo. Mục đích là để tập thể tổ chức Đảng đó cùng có nhận thức thống nhất về lợi ích lâu dài của việc xây dựng Làng, bản văn hóa và tốt nhất là Đảng bộ, chi bộ có nghị quyết kèm theo các biện pháp tổ chức, thực hiện. 37 2. Vận động và phối hợp các đoàn thể Các tổ chức đoàn thể như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Nông dân... là lực lượng quan trọng để triển khai cuộc vận động ʺToàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cưʺ, trong đó có việc xây dựng Làng, bản văn hóa. Tùy tình hình và chất lượng hoạt động ở mỗi địa phương, chúng ta có thể dựa vào một tổ chức nào đó để làm nòng cốt. Trước hết phải tuyên truyền, vận động những người đứng đầu các đoàn thể nói trên đưa nội dung xây dựng Làng, bản văn hóa vào chương trình hoạt động thường xuyên và lâu dài. Một số đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân có thể độc lập chủ trì một số mảng hoạt động chính, ví dụ: văn nghệ quần chúng, tổ chức, thành lập Câu lạc bộ khuyến nông ... 3. Tuyên truyền, vận động các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ Ở vùng nông thôn, miền núi và dân tộc thiểu số, các già làng, trưởng thôn, trưởng bản, trưởng dòng họ thường có uy tín, tiếng nói tác động nhiều đến tâm lý, tình cảm và hành vi của các cá nhân, gia đình. Phong trào xây dựng Làng, bản văn hóa sẽ không có kết quả cao khi thiếu sự ủng hộ và tham gia tổ chức, thực hiện của các đối tượng này. Tuy nhiên, việc vận động và phát huy vai trò của các cá 38 nhân này ở mỗi vùng, mỗi dân tộc cần có bước cụ thể hóa cho phù hợp. Đối với các dân tộc ở Tây Nguyên thì rõ ràng vai trò của già làng rất cao, nhưng đối với miền núi Tây Bắc, Việt Bắc thì vai trò của già làng không nhiều. Vì vậy, cần chú ý nhiều hơn tới các trưởng bản (hoặc thôn). Đặc biệt, ở một số dân tộc thì trưởng dòng họ có tiếng nói quan trọng trong việc thay đổi các thói quen của cộng đồng. Lại có những dân tộc, vai trò của các ʺông cậuʺ rất lớn khi chúng ta muốn vận động thành công việc tổ chức cưới xin theo nếp sống mới. 4. Tạo sự đồng thuận với các chức sắc tôn giáo Các tôn giáo hoạt động hợp pháp ở nước ta đều có mục đích hướng người dân đến cái thiệnʺ. Các chức sắc tôn giáo trước hết vẫn là công dân, là thành viên trong một cộng đồng. Nhưng tôn giáo có giáo lý, quy định riêng, điều chỉnh nhận thức và hành vi của những người theo đạo. Vì vậy, mục đích của cuộc vận động xây dựng Làng, bản văn hóa và của hoạt động tôn giáo trên địa bàn, nếu được bàn bạc, trao đổi sẽ không có mâu thuẫn với nhau. Ngược lại, nếu thiếu sự bàn bạc, thống nhất thì ở những địa bàn có dân số theo đạo với tỷ lệ cao sẽ dễ xảy ra những mâu thuẫn hoặc không thống nhất. Các chức sắc tôn giáo cần được tuyên truyền, vận động về lợi ích của việc xây dựng Làng, bản văn hóa, vì đó là lợi ích chung trực tiếp của cộng đồng và gián tiếp ảnh hưởng 39 đến chính tôn giáo đó. Cụ thể hơn, các chức sắc tôn giáo cần được thông tin, trao đổi về mục đích và nội dung của cuộc vận động, tốt nhất là động viên, mời họ tham gia vào thành phần Ban Chỉ đạo. Đặc biệt, với hai dân tộc Khmer và Chăm thì vai trò của các vị sư sãi, thầy cả là rất quan trọng. 5. Lấy đơn vị gia đình là trung tâm của cuộc vận động Gia đình là tổ chức tập thể đầu tiên, đồng thời là hạt nhân của mỗi cộng đồng dân cư và toàn xã hội. Tuy gia đình là một tập thể nhỏ nhất nhưng được hình thành một cách tự nhiên, bền vững, đặc biệt là có kỷ cương chặt chẽ, ổn định. Vì vậy, để cuộc vận động xây dựng Làng, bản văn hóa đạt kết quả, chúng ta không thể bỏ qua vai trò của gia đình. Gia đình vừa là đối tượng trung tâm của cuộc vận động, vừa là những thành viên tập thể tham gia vào quá trình tổ chức, thực hiện công việc xây dựng Làng, bản văn hóa. Gia đình nào cũng có chủ hộ, vì vậy, đối tượng tuyên truyền, vận động trước hết phải là chủ hộ, tiếp đó là những người có tiếng nói quyết định trong các công việc hoặc ứng xử xã hội của gia đình đó. Cần phải làm cho mỗi gia đình hiểu được lợi ích của công tác xây dựng Làng, bản văn hóa, trong đó có lợi ích của chính gia đình họ. Hiện nay, một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động ʺToàn dân đoàn kết xây 40 dựng đời sống văn hóa ở khu dân cưʺ là xây dựng Gia đình văn hóa. Vì vậy muốn đạt được danh hiệu Làng, bản văn hóa trước hết phải vận động các hộ gia đình hiểu và đăng ký xây dựng Gia đình văn hóa. Thực chất của gia đình văn hóa là xây dựng nếp sống tích cực của mỗi gia đình. Nếp sống văn hóa gia đình là những biểu hiện có tính riêng biệt về tinh thần và vật chất, về trí tuệ, xúc cảm, về ý thức “tự giáo dục” đó trở thành thói quen suy nghĩ, hành động trong sản xuất, sinh hoạt, trong phong tục, lễ nghi, trong hành vi đạo đức, pháp luật của những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống. Khi những biểu hiện đó có ý nghĩa tích cực, được cộng đồng ghi nhận, học tập thì đó là nếp sống tốt, thường được gọi là “gia phong”. Vì vậy, khi nói đến nếp sống văn hóa gia đình tức là nhấn mạnh đến mặt văn hoá của nếp sống, ở những chuẩn mực khuôn mẫu ứng xử của xã hội mà mỗi cá nhân đó tự ý thức được, ở các hoạt động ổn định, thường xuyên, thành “nếp” trong đời sống hằng ngày. II. QUY TRÌNH TỔ CHỨC, XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA 1. Tham mưu, đề xuất Việc xây dựng Làng, bản văn hóa là công việc 41 của toàn dân. Tuy vậy, công việc này vẫn cần có những con người cụ thể, họ là người khởi động và theo dõi trong suốt quá trình tổ chức, thực hiện. Trước hết là việc chuẩn bị nội dung, định hướng nhằm đề xuất chủ trương. Có hai cấp mà người được phân công nhiệm vụ trong các tổ chức cần tham mưu và đề xuất ý kiến là: cấp xã và cấp thôn, bản. Đối với cấp xã thì trước hết cán bộ văn hóa - xã hội của Ủy ban nhân dân xã cần xây dựng kế hoạch và đề xuất với Ban Thường vụ Đảng bộ (hoặc cấp ủy) nhằm đưa nội dung xây dựng Làng, bản văn hóa vào thành nội dung chỉ đạo, lãnh đạo của tổ chức Đảng. Nội dung này được chỉ đạo thống nhất từ Đảng bộ xã đến các chi bộ ở thôn, bản. Sau khi chủ trương xây dựng Làng, bản văn hóa đã được thống nhất trong tổ chức Đảng cần tiếp tục tham mưu, đề xuất thành những nội dung, chỉ tiêu cụ thể bằng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã và được triển khai đến các làng, thôn, bản, buôn, sóc... trên địa bàn xã. Đối với cấp làng, bản thì những cán bộ được phân công phụ trách công việc xây dựng đời sống văn hóa thường kiêm nhiệm và là thành viên của các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên... Vì vậy, tùy vào tình hình cụ thể ở mỗi làng, bản mà có sự phân công cho tổ chức nào giữ vai trò chủ trì. Hiện nay, vai trò chủ trì việc xây dựng Làng, bản văn hóa thường là Mặt trận Tổ 42 quốc nhưng cũng có nơi giao cho Đoàn Thanh niên. Bởi vậy, việc tham mưu, đề xuất việc xây dựng Làng, bản văn hóa trước hết phải là tham mưu với đoàn thể được phân công chủ trì, dựa trên chủ trương của Đảng bộ và Hội đồng nhân dân cấp xã. Tiếp đó là đề xuất ý kiến và kế hoạch triển khai với chi bộ Đảng và các trưởng thôn, trưởng bản. Việc tham mưu, đề xuất cần được tiến hành đồng thời với các bước tuyên truyền, vận động về lợi ích của công tác xây dựng Làng, bản văn hóa. 2. Thành lập Ban Vận động xây dựng Làng, bản văn hóa Tiếp theo công tác vận động, tuyên truyền và tham mưu, đề xuất, chúng ta cần hình thành Ban Vận động (hoặc Ban Điều hành) công tác tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa. Ban Vận động này cần có đại diện của chính quyền, đoàn thể và phân công người giữ vai trò thường trực. Thành phần cơ bản như sau: - Đại diện cấp ủy (chi bộ). - Đại diện chính quyền (trưởng thôn, trưởng bản). - Đại diện Mặt trận Tổ quốc. - Hội Người cao tuổi. - Hội Phụ nữ. - Đoàn Thanh niên. - Già làng (nếu có). - Đại diện chức sắc tôn giáo (nếu có). Tùy vào tình hình cụ thể ở các làng, bản có thể43 Trưởng ban là trưởng thôn hoặc Bí thư Chi bộ; Thường trực Ban Vận động có thể là đại diện Mặt trận Tổ quốc hoặc Đoàn Thanh niên. Ban Vận động cần có quyết định thành lập hoặc công nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, có Quy chế tổ chức, hoạt động. Quy chế tổ chức, hoạt động được xây dựng sao cho phù hợp với thực tế ở làng, bản nhưng phải thống nhất với sự chỉ đạo, định hướng của Ban Chỉ đạo cấp xã. 3. Xây dựng Quy ước Làng, bản văn hóa Quy ước Làng, bản văn hóa là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Quy ước này cần được nghiên cứu, xây dựng một cách cụ thể, dân chủ, phù hợp với tình hình ở mỗi nơi, không trái với pháp luật của Nhà nước đồng thời kế thừa được truyền thống, phong tục tại mỗi làng, bản, buôn, sóc... Quy ước này thực chất phải là những thỏa thuận tự nguyện của cộng đồng, phù hợp với luật pháp, kế thừa được những nét hay, nét đẹp của luật tục truyền thống. Vì vậy, khi xây dựng Quy ước Làng, bản văn hóa phải tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, đặc biệt là các già làng, các chức sắc tôn giáo và các đoàn thể. Nếu Quy ước được xây dựng tốt, nhân dân đồng tình, tự nguyện thực hiện sẽ có tác dụng rất tốt đến hành vi của mỗi người. Về nội dung cụ thể, rất khó có một mẫu 44 chung cho các làng, bản với những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, Quy ước này cần đạt đến các yêu cầu sau: - Quy ước nhằm tạo ra một môi trường lành mạnh, xã hội có trật tự, kỷ cương, hành vi của mỗi người trong cộng đồng được điều chỉnh theo hướng văn minh, tiến bộ nhưng vẫn giữ được những nét bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi làng, bản. - Quy ước không được trái với các quy định của pháp luật; phải phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. - Quy ước phải kế thừa, phát huy những nét đẹp trong phong tục, tập quán, trong truyền thống lịch sử, cách mạng của địa phương. Kiên quyết loại bỏ các hủ tục; bổ sung những nếp sống mới, tiến bộ, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và của từng địa phương. Sau khi dự thảo bản Quy ước được hoàn thành, Ban Vận động báo cáo lên xã, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định công nhận và bản Quy ước lúc đó mới có giá trị áp dụng. 4. Nội dung chính về tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa Xây dựng Làng, bản văn hóa cần có kế hoạch và những nội dung cụ thể. Về kế hoạch cần có sự phân công rõ ràng cho từng thành viên. Trong từng năm, Ban Vận động phải xác định các nhiệm 45 vụ ưu tiên và tập trung chỉ đạo. Ví dụ: Khi ở một làng, bản cụ thể đang nổi lên vấn đề cưới hỏi lãng phí thì cần tập trung vận động nhân dân tiết kiệm tiền bạc và thời gian mỗi khi tổ chức cưới xin. Thậm chí, những quy định trong Quy ước nếu chưa đầy đủ thì có thể bổ sung để phù hợp với tình hình. Ngoài việc xây dựng và triển khai theo kế hoạch thì các nội dung xây dựng Làng, bản văn hóa rất cần ghi đầy đủ, chi tiết vào bản Quy ước với tầm bao quát toàn diện các hoạt động của một cộng đồng dân cư. Các nội dung cần được thể hiện trong bản Quy ước như sau: a) Các nguyên tắc chung - Nêu khái quát tình hình, lịch sử, truyền thống của làng, bản. - Những đặc điểm, thuận lợi, khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới tại làng, bản. - Nêu khái quát mục đích, yêu cầu về tổ chức, xây dựng Làng, bản văn hóa và ý chí của cộng đồng làng, bản khi mong muốn xây dựng nông thôn mới. - Ý nghĩa áp dụng của bản Quy ước trong làng, bản. b) Nội dung cần đề cập Có rất nhiều nội dung cần đề cập và tổ chức thực hiện trong quá trình xây dựng Làng, bản văn hóa. Vì vậy, khi đưa các nội dung này vào bản kế 46 hoạch và Quy ước phải có tính khái quát và tránh để sót các mảng công việc. Nhìn chung, ở mỗi làng, bản đều rất cần có những quy định cụ thể với các vấn đề sau đây: - Quy định về xây dựng Gia đình văn hóa. - Quy định về ứng xử xã hội trong làng, bản. - Quy định về việc cưới, việc tang. - Quy định về tổ chức các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội. - Quy định về bảo vệ và phát triển sản xuất. - Quy định về bảo vệ, xây dựng môi trường, cảnh quan. - Quy định về nghĩa vụ đóng góp, chăm sóc, bảo vệ các công trình công cộng. - Quy định về chăm sóc, giáo dục trẻ em. - Quy định về chăm sóc, đãi ngộ người cao tuổi (cả về tinh thần và vật chất). Những nội dung nêu trên chỉ mang tính tổng quát. Căn cứ vào tình hình ở mỗi làng, bản, ta có thể bổ sung nội dung khi thấy cần thiết. Chẳng hạn, có thể bổ sung những quy định về khuyến học, khuyến nông, hỗ trợ người nghèo và người gặp khó khăn, hoạn nạn hoặc quy định về xây dựng nhà ở theo quy hoạch và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở mỗi làng, bản... Tất cả các mảng nội dung trên cần được cụ thể hóa bằng Quy ước, với những điều khoản rõ ràng, được hầu hết các hộ gia đình nhất trí và cam kết thực hiện. 47 Ví dụ, khi nêu những quy định về xây dựng Gia đình văn hóa, cần ghi rõ: - Gia đình cam kết gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt Quy ước xây dựng Làng, bản văn hóa. - Gia đình hòa thuận, bình đẳng, tiến bộ, không có bạo lực gia đình, con em trong độ tuổi được đi học, ông bà được chăm lo chu đáo. - Có tinh thần hăng hái lao động sản xuất nhằm xóa đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng, thực hành tiết kiệm. - Tích cực đóng góp tiền của, công sức để xây dựng các công trình phúc lợi của địa phương. - Gia đình không có người mắc vào các tệ nạn xã hội (nghiện rượu, cờ bạc, ma túy...). - Không mê tín, dị đoan, không duy trì hủ tục. Khi xây dựng các quy định cần hết sức lưu ý việc phát huy luật tục, đặc biệt là các luật tục gần gũi với hoàn cảnh địa phương mà luật pháp của Nhà nước chưa thể đề cập tới. Chẳng hạn: Trong các quy định về ứng xử xã hội có thể nêu việc duy trì lễ mừng sinh nhật cho người cao tuổi, hoặc các đôi mới cưới phải trồng ít nhất hai cây xanh ở những nơi làng quy định. Đối với một số dân tộc nên giữ quy định cô dâu phải tự làm cho mình bộ y phục cưới theo truyền thống, không sử dụng váy áo theo kiểu phương Tây, v.v.. Tuy nhiên, các quy định này cần phù hợp hoàn cảnh, không tạo ra sức ép nặng nề, quá 48 sức mà vận động mọi người tự giác, tự hào khi thực hiện. III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, VĂN NGHỆ Ở LÀNG, BẢN VĂN HÓA 1. Hoạt động văn nghệ quần chúng Hoạt động văn hóa, văn nghệ ở làng, bản là hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân, có sự chỉ đạo, định hướng của Ban Vận động xây dựng Làng, bản văn hóa và sự lãnh đạo, hỗ trợ trực tiếp của cấp ủy Đảng, các trưởng thôn, bản. Hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng là một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động xây dựng Làng, bản văn hóa. Vì vậy, các hoạt động này cần được mở rộng ở nhiều lĩnh vực, không chỉ bó hẹp ở việc biểu diễn văn nghệ. Các hoạt động này nhằm mục đích: - Tuyên truyền và cụ thể hóa các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. - Nâng cao dân trí thông qua giáo dục ngoài nhà trường, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tự hào về quê hương. - Tuyên truyền nếp sống mới tiến bộ, khoa học. - Đáp ứng nhu cầu giải trí lành mạnh và nhu cầu sáng tạo của nhân dân. Từ những mục tiêu đó, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, ta có thể xác lập những ưu tiên khác nhau đối với các hoạt động sau đây: 49 Hoạt động văn nghệ quần chúng ở làng, bản luôn mang tính tổng hợp, không chuyên sâu vào một loại hình cụ thể. Mỗi làng, bản cần xây dựng một đội văn nghệ quần chúng làm hạt nhân cho phong trào. Tùy theo tình hình, khả năng, thế mạnh tại làng, bản để xác định loại hình cần ưu tiên. Đó có thể là trình diễn nhạc cụ, ca hát, múa hoặc tổng hợp các loại hình. Các thành viên là hạt nhân ở đội văn nghệ vừa là người trực tiếp hoạt động, trình diễn, vừa là người tuyên truyền, vận động, truyền dạy kỹ năng cho người khác theo khả năng của mình. Trong đội văn nghệ cần đặc biệt phát huy vai trò, kiến thức của các nghệ nhân và thu hút lớp trẻ tham gia. Đội văn nghệ cần có kế hoạch và nội dung hoạt động thường xuyên với ý thức tự giác của mỗi thành viên. Chú ý có các tiết mục ʺđinhʺ để có thể phục vụ tại các dịp lễ hội, hội nghị, các ngày cưới hỏi tại làng, bản. Các tiết mục văn nghệ cần đặc biệt chú trọng vốn văn nghệ dân gian (như hát giao duyên, hát ru, hát lao động, múa giao tiếp, trình diễn nhạc cụ truyền thống…). Bên cạnh đó là các tiết mục mới được chọn lọc để làm phong phú thêm cho các hoạt động, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của nhân dân. Bên cạnh các hoạt động văn nghệ bình thường thì ở làng bản rất cần lồng ghép các nội dung tuyên truyền, cổ động. Đó là văn nghệ cổ động. Thông tin - tuyên truyền - cổ động bằng hình thức 50 văn nghệ là sử dụng các loại hình văn học, nghệ thuật để chuyển tải những nội dung về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các biện pháp chỉ đạo của chính quyền cơ sở tới quần chúng nhân dân. Hình thức này có sức hấp dẫn cao, cuốn hút sự tập trung theo dõi của đối tượng được tuyên truyền. Công tác thông tin - tuyên truyền - cổ động sử dụng hình thức này nhằm truyền đạt nội dung thật sinh động, hấp dẫn đem lại sự hứng khởi cho người xem giúp họ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái các nội dung được tuyên truyền và những nhiệm vụ cụ thể tại cơ sở. Các hình thức tuyên truyền có thể là: thơ, ca dao, dân ca, hò vè, tấu nói, ca khúc, ca cảnh, tạp kỹ, kịch, câu chuyện thông tin… 2. Hoạt động thư viện Trong điều kiện hiện nay, thật khó để các làng, bản có đủ điều kiện để tổ chức, hoạt động theo đúng nghĩa một thư viện công cộng. Vì vậy, thực chất hoạt động thư viện ở đây là xây dựng, tổ chức các hình thức đọc sách, báo cho nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu nhi. Nơi đọc sách, báo có thể là một điểm trường, nhà rông (ở Tây Nguyên), nhà chùa (ở vùng dân tộc Khmer) hoặc nhà riêng của trưởng thôn, bản. Nguồn sách báo cần tận dụng thật tốt từ việc luân chuyển trong xã, các cơ số sách báo cung cấp cho tủ sách thôn, bản từ các 51 dự án, chương trình của Nhà nước và các tổ chức xã hội. Mặt khác, tại làng, bản rất cần vận động mọi người đóng góp sách, báo, tạp chí để xây dựng tủ sách. Cứ như vậy, tủ sách ở Làng, bản văn hóa sẽ ngày càng phong phú, đa dạng. Người đọc nên đến nơi đặt tủ sách để đọc hoặc mượn về nhà nhưng luôn được giáo dục ý thức giữ gìn, bảo quản sách, báo để nhiều người được sử dụng và sử dụng lâu dài. Như vậy, hoạt động thư viện ở làng, bản thực chất là mô hình các phòng đọc/tủ sách được hình thành dưới sự quản lý của các cá nhân và tổ chức khác nhau, có nơi do một nhóm cán bộ hưu trí phụ trách, có nơi do Đoàn Thanh niên, Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh… quản lý. Thông thường phòng đọc/tủ sách theo mô hình này được thành lập theo nghị quyết của xã hoặc cụm dân cư. Hiện nay ở nhiều địa phương mô hình này được vận dụng khá phổ biến. Vốn tài liệu của các phòng đọc/tủ sách này chủ yếu từ sự đóng góp của các nhà hảo tâm và người dân ở địa phương. 3. Hoạt động câu lạc bộ Khái niệm ʺcâu lạc bộʺ thật ra không xa lạ với đồng bào ở nông thôn, miền núi. Câu lạc bộ có nét giống như các phường, hội trước đây, là nơi để những người có cùng sở thích, cùng mối quan tâm có điều kiện gặp gỡ, trao đổi, cùng 52 giúp nhau thực hiện tốt hơn những sở thích và mong muốn của mình. Vì vậy, ở mỗi làng, bản có thể tổ chức, xây dựng nhiều câu lạc bộ; một người có thể tham gia nhiều câu lạc bộ khác nhau. Ví dụ: Câu lạc bộ gia đình không sinh con thứ ba, Câu lạc bộ nuôi cá nước ngọt trên đất dốc, Câu lạc bộ người làm vườn, ao, chuồng (VAC), Câu lạc bộ phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà, Câu lạc bộ thanh niên làm khoa học - kỹ thuật, Câu lạc bộ đàn, hát dân ca, v.v.. Tất nhiên, các câu lạc bộ này cần xuất phát từ nhu cầu có thật, hoạt động của các thành viên là tự nguyện chứ không phải là ý chí của Ban Vận động xây dựng Làng, bản văn hóa cho có hình thức. Các câu lạc bộ này cần có người phụ trách và hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban Vận động xây dựng Làng, bản văn hóa. 4. Hoạt động thông tin, cổ động Công tác thông tin, cổ động ở làng, bản có truyền thống từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và những ngày hoạt động kinh tế theo mô hình hợp tác xã. Đó là việc kẻ vẽ các khẩu hiệu, xây dựng các ʺcổng chàoʺ, việc dùng loa tay, loa pin để thông tin đến bà con những vấn đề thời sự, sự kiện đất nước hoặc những công việc cụ thể diễn ra tại làng, bản. Ngày nay, nhiều làng, bản đã được Nhà nước hỗ trợ xây dựng các cụm cổ động, có hệ thống loa truyền 53 thanh, tạo hiệu quả kịp thời, dễ tiếp thu; hình thức, nội dung ngày càng hấp dẫn hơn. Công tác thông tin, cổ động là hoạt động bề nổi nhưng có hiệu quả nhanh, tạo ra bộ mặt nông thôn mới và không khí đoàn kết, hiểu biết trong cộng đồng làng, bản. Vì vậy, ngoài tác dụng thông tin trực tiếp thì hoạt động thông tin cổ động còn có tác dụng lâu dài nên ở các làng, bản cần lưu ý duy trì thường xuyên hoạt động này. Các công việc cần làm là: - Xây dựng các cụm hoặc bảng để có thể kẻ, vẽ các khẩu hiệu tuyên truyền phù hợp theo thời gian (tránh để khẩu hiệu cũ, bẩn, nội dung lạc hậu với thời gian). - Tổ chức hệ thống loa truyền thanh hoặc loa cầm tay dùng pin nhằm đảm bảo cho mọi gia đình có thể nghe được các thông báo cần thiết hoặc nghe trực tiếp sóng đài phát thanh của trung ương, của tỉnh. - Xây dựng các ʺcổng chàoʺ tại các địa điểm thích hợp nhằm tạo thêm cảnh quan đẹp cho làng, bản. - Xây dựng các bảng tin tại các vị trí phù hợp để ghi những thông báo cần thiết của chính quyền, dán các tờ tranh cổ động và báo để người dân có thể đọc được. 5. Các hoạt động khác Ngoài các hoạt động trên, tại mỗi làng, bản 54 cần khuyến khích các hoạt động thể dục, thể thao, đặc biệt là thể thao dân tộc như: đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ (ná), đua ghe ngo... Bên cạnh thể thao dân tộc cần phát triển các loại hình thể thao mới, phù hợp với làng, bản như: bóng chuyền, bóng bàn, đánh cờ... Các hoạt động thể thao nên lồng ghép trong những ngày hội chung. Đó là ngày hội văn hóa thể thao làng, bản. Những làng, bản có điều kiện cần tổ chức các hoạt động phục vụ cho du lịch. Yêu cầu chung về các hoạt động văn hoá ở các làng, bản cần có đủ các mặt: văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể dục - thể thao,... Tuy nhiên, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh từng nơi, từng thời kỳ để lựa chọn các ưu tiên hợp lý. IV. XÂY DỰNG LÀNG, BẢN VĂN HÓA THEO TIÊU CHÍ VĂN HÓA NÔNG THÔN MỚI Xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước. Vì vậy, tại mỗi làng, bản cần chủ động góp sức mình để cùng cấp xã hoàn thành các tiêu chí văn hóa trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới và các tiêu chí về phát triển văn hóa nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương 55 khóa X đề ra mục tiêu tổng quát về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của nước ta, qua đó có thể hiểu nông thôn mới là nông thôn phát triển toàn diện, trong đó: - Đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn không ngừng được nâng cao, hài hòa giữa các vùng. - Nông dân được nâng cao dân trí, được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. - Nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. - Năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất cao. Sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh. - Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư. - Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch. - Xã hội nông thôn ổn định, văn minh, môi trường sinh thái được bảo vệ, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy. - An ninh, trật tự được bảo đảm. 56 - Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường và phát huy vai trò. - Mối liên minh công nhân - nông dân - trí thức được củng cố vững mạnh. - Nông thôn mới tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với quan điểm phát triển văn hóa nông thôn trên cơ sở kế thừa những kết quả, thành tựu đã đạt được trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn; việc xây dựng nông thôn văn minh, hiện đại phải bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp từng vùng, miền, từng dân tộc; đồng thời, cụ thể hóa thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, ngày 5-1-2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” với những mục tiêu cụ thể đến năm 2015 như sau: - Đối với vùng đồng bằng: + 50% người dân ở nông thôn tham gia thường xuyên vào các hoạt động văn hóa, thể thao, trong đó 25% dân số nông thôn luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên; + 70% nhà văn hóa và khu thể thao xã và 70% nhà văn hóa, khu thể thao thôn đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; 57 + 70% gia đình giữ vững và phát huy danh hiệu “Gia đình văn hóa”, trong đó có 15% gia đình văn hóa ở nông thôn làm giàu từ sản xuất nông nghiệp hàng hóa; + 60% làng (thôn, ấp, bản) giữ vững và phát huy danh hiệu “Làng văn hóa”, trong đó 40% làng (thôn, ấp, bản) văn hóa đạt chuẩn cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn mới; + 80% nông dân được phổ biến pháp luật và các quy định về văn hóa; + 90% cán bộ văn hóa, thể thao ở nông thôn được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ. - Đối với vùng miền núi, hải đảo, biên giới: + 30% người dân ở nông thôn tham gia thường xuyên vào các hoạt động văn hóa, thể thao, trong đó: 15% dân số nông thôn luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên; + 50% nhà văn hóa và khu thể thao xã và 50% nhà văn hóa, khu thể thao thôn đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; + 60% gia đình giữ vững và phát huy danh hiệu “Gia đình văn hóa”, trong đó 5% gia đình văn hóa ở nông thôn làm giàu từ sản xuất nông nghiệp hàng hóa; + 50% làng (thôn, ấp, bản) giữ vững và phát huy danh hiệu “Làng văn hóa”, trong đó 15% làng (thôn, ấp, bản) văn hóa đạt chuẩn cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn mới; 58 + 70% nông dân được phổ biến pháp luật và các quy định về văn hóa; + 80% cán bộ văn hóa, thể thao ở nông thôn được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ. Như vậy có thể thấy việc xây dựng văn hóa nông thôn mới chỉ thành công khi chúng ta xây dựng, giữ vững và phát huy tốt danh hiệu Gia đình văn hóa, Làng, bản văn hóa, thực hiện tiêu chí xã văn hóa nông thôn mới, hoàn thiện hệ thống thiết chế và hoạt động văn hóa, thể thao ở nông thôn. 1. Nâng cao chất lượng Gia đình văn hóa Nâng cao nhận thức của người dân về văn hóa gia đình, tiêu chuẩn công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, ý thức tự nguyện, tự giác của các Gia đình trong việc xây dựng, giữ vững và phát huy danh hiệu Gia đình văn hóa; phổ biến nhân rộng mô hình gia đình văn hóa ở nông thôn làm giàu từ sản xuất nông nghiệp hàng hóa và dịch vụ nông thôn. Xây dựng gia đình văn hóa điển hình, mẫu mực ở nông thôn: Hòa thuận, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, kỷ cương, nề nếp, có đời sống kinh tế ổn định và phát triển, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển, có tinh thần tương thân, tương ái, tính tự quản, dân chủ và năng lực làm chủ trong sinh hoạt cộng đồng. 59 2. Nâng cao chất lượng Làng, bản văn hóa Nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa văn hóa làng, bản, tiêu chuẩn công nhận làng văn hóa, ý thức và vai trò tự quản của các cộng đồng dân cư trong việc xây dựng, giữ vững và phát huy danh hiệu Làng, bản văn hóa; phổ biến nhân rộng mô hình Làng, bản văn hóa chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề phụ; huy động được nội lực của người dân nông thôn xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn mới. Xây dựng Làng, bản văn hóa bền vững, thực sự là những điểm sáng về văn hóa ở nông thôn: Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; bài trừ tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa, thu hút người dân nông thôn tham gia vào các hoạt động văn hóa, thể thao trên địa bàn; xây dựng cộng đồng nông thôn ổn định về chính trị, dân chủ, hòa thuận, nhân ái, giàu bản sắc dân tộc, có môi trường xanh - sạch - đẹp - an toàn. Hiện nay để thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, người dân trong làng, bản cần làm theo hướng dẫn, quy định chung của Nhà nước (theo Thông tư số 04/2011/TT BVHTTDL ngày 21-1-2011 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội) như sau: 60 Nếp sống văn minh trong việc cưới - Để trở thành vợ chồng, đôi nam nữ phải đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai người theo quy định của pháp luật. - Tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc tại địa điểm cưới phải đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, lành mạnh, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của từng địa phương, dân tộc, tôn giáo và phù hợp với hoàn cảnh của hai gia đình. - Các thủ tục chạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu cần được tổ chức theo phong tục, tập quán; không phô trương, không nặng về đòi hỏi lễ vật. - Trang trí lễ cưới cần giản dị, không rườm rà, phô trương; trang phục cô dâu, chú rể đẹp và lịch sự, phù hợp với văn hóa dân tộc (khuyến khích mặc trang phục truyền thống của dân tộc). - Thời gian tổ chức tiệc cưới không làm ảnh hưởng đến thời gian lao động. Chỉ mời khách dự tiệc cưới trong phạm vi gia đình, họ tộc thân thích, bạn bè và đồng nghiệp thân thiết. - Âm nhạc trong đám cưới phải lành mạnh, vui tươi; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép, không mở nhạc trước 6 giờ sáng và sau 22 giờ đêm. - Khuyến khích thực hiện các hình thức cưới tiết kiệm, lành mạnh: 61 + Báo hỷ thay cho mời dự lễ cưới, tiệc cưới. + Tổ chức tiệc trà, tiệc ngọt trong lễ cưới. + Không sử dụng thuốc lá, rượu trong đám cưới. Nếp sống văn minh trong việc tang - Khi có người qua đời, gia đình hoặc thân nhân phải làm thủ tục khai tử trước khi tổ chức lễ tang theo quy định của pháp luật. - Lễ tang được tổ chức tại nhà hoặc tại địa điểm công cộng phải được tổ chức chu đáo, trang nghiêm, tiết kiệm, phù hợp với tập quán, truyền thống văn hóa dân tộc và hoàn cảnh gia đình người qua đời. - Việc quàn ướp thi hài thực hiện theo Thông tư số 02/2009/TT-BYT ngày 26 tháng 5 năm 2009 của Bộ Y tế hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng. - Việc mặc tang phục và treo cờ tang trong lễ tang thực hiện theo truyền thống của địa phương, dân tộc và tôn giáo. Chỉ treo cờ tang tại địa điểm tổ chức lễ tang. - Không cử nhạc tang trước 6 giờ sáng và sau 22 giờ đêm; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép. - Cấm rải tiền Việt Nam và các loại tiền nước ngoài trên đường đưa tang. Không rắc vàng mã trên đường đưa tang. - Người qua đời phải được chôn cất trong 62 nghĩa trang hoặc nơi phù hợp với quy hoạch quỹ đất của địa phương. - Tổ chức ăn uống chỉ thực hiện trong nội bộ gia đình, dòng họ và phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm. - Nghiêm cấm lợi dụng việc tang để hành nghề mê tín dị đoan dưới mọi hình thức. Không lợi dụng việc tang để cản trở việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trước pháp luật. - Xóa bỏ các hủ tục mê tín, lạc hậu như: yểm bùa, trừ tà, lăn đường, khóc mướn và những nghi thức rườm rà khác. - Khuyến khích tổ chức đơn giản, rút gọn hoặc bỏ bớt các nghi thức cúng ba ngày, bảy ngày, bốn chín ngày, một trăm ngày, giỗ đầu, giỗ hết. Các tập quán này chỉ thực hiện trong ngày và trong nội bộ gia đình, dòng họ. - Nên thực hiện hình thức hỏa táng, điện táng, hung táng một lần vào khu vực nghĩa trang đã được quy hoạch. Nếp sống văn minh trong lễ hội - Cờ Tổ quốc phải được treo nơi trang trọng, cao hơn cờ hội, cờ tôn giáo. Chỉ treo cờ hội, cờ tôn giáo tại địa điểm lễ hội và trong thời gian tổ chức lễ hội. - Nghi thức lễ hội phải được tiến hành trang trọng, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. 63 - Không bán vé vào dự lễ hội. - Trang phục đẹp, lịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục của địa phương, dân tộc. - Không nói tục, xúc phạm tâm linh làm ảnh hưởng xấu tới không khí trang nghiêm của lễ hội. - Bảo đảm trật tự, an ninh khi dự lễ hội; không đốt pháo, đốt và thả đèn trời. - Ứng xử có văn hóa trong hoạt động lễ hội. - Bỏ rác vào nơi quy định, giữ gìn vệ sinh môi trường. - Nghiêm cấm lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan như: xem số, xem bói, gọi hồn, sấm truyền, yểm bùa, trừ tà, phù phép chữa bệnh. - Không đốt đồ mã trong khu vực lễ hội. - Khuyến khích các hoạt động: + Tổ chức giới thiệu ý nghĩa lịch sử của lễ hội, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc. + Tưởng nhớ công đức của ông cha, ghi nhận công lao của các bậc tiền bối trong lịch sử. + Tổ chức các trò chơi dân gian, trò chơi mới và các hoạt động văn hóa, thể thao lành mạnh, phù hợp với quy mô, đặc điểm của lễ hội. 3. Thực hiện tiêu chí Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới Để các địa phương làm căn cứ thực hiện các tiêu chí văn hóa trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới và các tiêu chí về phát triển văn hóa nông thôn gắn với xây dựng nông thôn 64 mới, ngày 2-12-2011, Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”. Theo Thông tư này, để được công nhận Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, thì các làng, bản phải đồng lòng, đồng sức góp phần cùng xã thực hiện tốt những tiêu chuẩn sau: - Giúp nhau phát triển kinh tế + Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, góp phần xóa hộ đói; giảm hộ nghèo trong xã xuống dưới mức bình quân chung của tỉnh/thành phố; + Có 80% trở lên hộ gia đình (làm nông nghiệp) trong xã được tuyên truyền, phổ biến khoa học - kỹ thuật về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; + Có 70% trở lên hộ gia đình tham gia các hình thức hợp tác phát triển kinh tế; + Có nhiều hoạt động phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút lao động việc làm, nâng cao thu nhập của người dân. - Nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa; thôn, làng, ấp, bản văn hóa và tương đương: + Có 60% trở lên gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa” 3 năm liên tục trở lên; + Có 70% trở lên hộ gia đình cải tạo được vườn tạp, không để đất hoang, khuôn viên nhà ở xanh, sạch, đẹp; 65 + Có 15% trở lên hộ gia đình phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập từ sản xuất nông nghiệp hàng hóa và dịch vụ nông thôn; + Có từ 50% thôn, làng, ấp, bản trở lên được công nhận và giữ vững danh hiệu “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “ấp văn hóa”, “Bản văn hóa” và tương đương liên tục từ 5 năm trở lên; + Có 50% trở lên thôn, làng, ấp, bản văn hóa vận động được nhân dân đóng góp xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội ở cộng đồng. - Xây dựng thiết chế và phong trào văn hóa, thể thao cơ sở + Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm; ổn định về tổ chức; hoạt động thường xuyên, hiệu quả; từng bước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; + 100% thôn (làng, ấp, bản và tương đương) có Nhà Văn hóa - Khu thể thao; trong đó 50% Nhà Văn hóa - Khu thể thao đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; + 100% thôn (làng, ấp, bản và tương đương) duy trì được phong trào sinh hoạt câu lạc bộ; phong trào văn hóa, văn nghệ và thể thao quần chúng. Hằng năm, xã tổ chức được Liên hoan văn nghệ quần chúng và thi đấu các môn thể thao; + Di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan thiên 66 nhiên được bảo vệ; các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao truyền thống và thuần phong mỹ tục của địa phương được bảo tồn. - Xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa nông thôn + 75% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo các quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; + Xây dựng và thực hiện tốt nếp sống văn minh nơi công cộng, trong các sinh hoạt tập thể, cộng đồng; không có tệ nạn xã hội phát sinh, giảm mạnh các tệ nạn xã hội hiện có; + 100% thôn (làng, ấp, bản và tương đương) có tổ vệ sinh, thường xuyên quét dọn, thu gom rác thải về nơi quy định. Xã tổ chức tốt việc xử lý rác thải tập trung theo quy chuẩn về môi trường; nghĩa trang xã, thôn được xây dựng và quản lý theo quy hoạch; + Đạt chất lượng, hiệu quả thực hiện các phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phòng chống tội phạm; bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội; đền ơn đáp nghĩa; nhân đạo từ thiện; an toàn giao thông và các phong trào văn hóa - xã hội khác ở nông thôn. - Chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương + 90% trở lên người dân được phổ biến và 67 nghiêm chỉnh thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; + 80% trở lên hộ gia đình nông dân tham gia thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới; tham gia xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn mới; + 100% thôn (làng, ấp, bản và tương đương) xây dựng và thực hiện hiệu quả quy ước cộng đồng, quy chế dân chủ ở cơ sở; không có khiếu kiện đông người, trái phát luật; + Các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch được xây dựng theo quy hoạch và quản lý theo pháp luật; không tàng trữ và lưu hành văn hóa phẩm có nội dung độc hại. 4. Xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa - thể thao Để đạt được những tiêu chí Xã văn hóa nông thôn mới thì một trong những công việc phải làm là xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa - thể thao tại làng, bản: Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã đạt chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22-12-2010 quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã; Nhà văn hóa và Khu thể thao thôn đạt chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 8-3-2011 quy 68 định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn. Để các thiết chế văn hóa - thể thao ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với các vùng, miền, ngày 30-5-2014 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 05/2014/TT BVHTTDL sửa đổi, bổ sung một số tiêu chí của Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã và Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn. a) Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã do Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập trên cơ sở hợp nhất các cơ sở hiện có như: nhà văn hóa, sân vận động, nhà tập luyện thể dục thể thao, câu lạc bộ văn hóa, câu lạc bộ thể thao hoặc đài truyền thanh, trung tâm học tập cộng đồng. Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã chịu sự lãnh đạo của Ủy ban nhân dân xã và sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp về nghiệp vụ của Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện và chịu sự quản lý nhà nước của Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện. Chức năng: Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của địa phương; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí; bảo tồn, phát huy các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân tộc; bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật, thể dục thể thao; nâng cao dân trí và mức hưởng thụ văn hóa, thể thao cho nhân dân… 69 Nhiệm vụ: - Xây dựng các chương trình, kế hoạch hoạt động hàng tháng, quý, năm, trình Ủy ban nhân dân xã phê duyệt và tổ chức thực hiện. - Đề xuất, tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Trung tâm Văn hóa - Thể thao; thực hiện chủ trương xã hội hóa các các lĩnh vực văn hóa - thể thao trong phạm vi xã. - Phối hợp với các ngành, đoàn thể ở xã để tổ chức các hoạt động văn hóa - thể thao trên địa bàn; hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ cho các nhà văn hóa, câu lạc bộ văn hóa, thể dục thể thao ở các khu dân cư… - Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí cho trẻ em. - Tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao do cấp huyện tổ chức. Cơ sở vật chất, trang thiết bị: - Cơ sở vật chất: + Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã được Nhà nước giao đất sử dụng thuộc quỹ đất dành cho phúc lợi văn hóa - xã hội với diện tích theo quy hoạch đã được phê duyệt; + Quy mô Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã, theo quy hoạch tập trung, tại Trung tâm xã, gồm các thành phần, chức năng chính: Hội trường Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã: là hội trường đa năng, dùng để tổ chức các hoạt động học tập cộng đồng, hoạt động văn hóa, văn 70 nghệ, thông tin, triển lãm; phòng đọc sách báo, đài truyền thanh xã, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ sở thích và sân khấu ngoài trời; Cụm các công trình thể dục thể thao: Có ít nhất một công trình thể dục thể thao như sân tập thể thao; nhà tập luyện thể thao; bể bơi hoặc hồ bơi và các công trình thể thao khác. - Trang thiết bị: + Trang thiết bị nhà văn hóa xã: Bàn, ghế hội trường; phông màn; thiết bị âm thanh, ánh sáng, nhạc cụ, đạo cụ, phục trang chuyên dùng hoạt động văn nghệ; thiết bị truyền thanh, tủ giá sách, báo, tạp chí... + Trang thiết bị thể dục thể thao: Các dụng cụ thể dục thể thao chuyên dùng đảm bảo theo từng môn thể thao. Nội dung, phương thức hoạt động: - Hoạt động tuyên truyền cổ động: Tổ chức các hình thức tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền bằng văn nghệ cổ động tại trung tâm và lưu động ở các khu dân cư trên địa bàn, phục vụ các ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, các sự kiện trọng đại của đất nước và các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của địa phương; - Hoạt động văn nghệ quần chúng: Xây dựng và phát triển phong trào văn nghệ quần chúng; các tổ, đội văn nghệ; bồi dưỡng các hạt nhân văn nghệ làm nòng cốt cho phong trào; tổ chức biểu diễn văn nghệ, các cuộc liên hoan, giao lưu hội diễn văn nghệ quần chúng hàng năm; tổ chức đón các đoàn văn 71 công chuyên nghiệp về biểu diễn tại địa phương; khai thác, bảo tồn các làn điệu dân ca, dân vũ, các diễn xướng dân gian… truyền thống ở địa phương; - Hoạt động thể dục thể thao: Xây dựng và phát triển phong trào ʺToàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đạiʺ, tăng số lượng người, gia đình tập luyện thể dục thể thao thường xuyên; khai thác, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc, các trò chơi dân gian ở địa phương, đưa vào hoạt động của các lễ hội truyền thống, ngày Hội văn hoá thể thao ở các cấp; tổ chức các giải và đại hội thể dục thể thao định kỳ; - Hoạt động câu lạc bộ: Xây dựng và phát triển các loại hình câu lạc bộ sở thích, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thường xuyên; - Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội, ngày giỗ, ngày tết và các hình thức sinh hoạt văn hóa - xã hội ở địa phương; xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng, giao tiếp, ứng xử văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng; bảo vệ cảnh quan, thiên nhiên, môi trường và giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống các tệ nạn xã hội; - Hoạt động triển khai thực hiện phong trào ʺToàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóaʺ: Giúp Ban chỉ đạo phong trào ʺToàn dân đoàn kết 72 xây dựng đời sống văn hóaʺ xã chỉ đạo, triển khai thực hiện phong trào trên địa bàn; tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ vũ phong trào xây dựng ʺGia đình văn hoáʺ, ʺKhu dân cư tiên tiếnʺ, ʺLàng văn hóa”, ʺTổ dân phố văn hóaʺ; - Các hoạt động văn hóa - thể thao khác: Tổ chức các hoạt động dịch vụ về văn hóa - thể thao; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các nhà văn hóa, câu lạc bộ văn hóa - thể thao, điểm hoạt động thể dục thể thao ở các làng (thôn, bản, ấp…); xây dựng thư viện, tủ sách, phong trào đọc và làm theo sách báo; tham gia các hội thi, hội diễn, thi đấu thể dục thể thao… do ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp trên tổ chức; phối hợp với các ngành, đoàn thể xã tổ chức các hoạt động văn hóa - thể thao, vui chơi giải trí phục vụ trẻ em và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Tiêu chí: TT TIÊU CỤ THỂ THEO VÙNG CHÍ NỘI DUNG Đô thị, đồng bằng Miền núi, hải đảo 1 Diện tích đất được sử dụng 2 Quy mô xây dựng Diện tích đất quy hoạch khu Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã (không tính diện tích sân vận động) 2.1. Hội trường Văn hóa đa năng Tối thiểu 2.500m2 Tối thiểu 250 chỗ ngồi Tối thiểu 1.500m2 Tối thiểu 200 chỗ ngồi 73 TT TIÊU CỤ THỂ THEO VÙNG CHÍ NỘI DUNG Đô thị, đồng bằng Miền núi, hải đảo 2.2. Phòng chức năng nhà văn hoá đa năng (hành chính; đọc sách, báo, thư viện; thông tin truyền thanh; câu lạc bộ; hoặc tập các môn thể thao đơn giản) 5 phòng 4 phòng trở lên 2.3. Sân bóng đá tối thiểu 90m x 120m (không tính diện tích các sân khác) Sân bóng đá tối thiểu 90m x 120m (không tính diện tích các sân khác) Sân bóng đá tối thiểu 90m x 120m (không tính diện tích các sân khác) 3 Trang thiết bị 2.4. Công trình phụ trợ Trung tâm Văn hoá, Thể thao (nhà để xe, khu vệ sinh, vườn hoa) 3.1. Hội trường Văn hoá đa năng có đủ: Bàn, ghế, giá, tủ, trang bị âm thanh, ánh sáng, thông gió, đài truyền thanh Có đủ Đạt 80% Có đủ Đạt 80% 3.2. Dụng cụ thể dục thể thao đảm bảo theo công trình thể dục thể thao và các môn thể thao của từng xã Có đủ Đạt 80% 74 TT TIÊU CỤ THỂ THEO VÙNG CHÍ NỘI DUNG Đô thị, đồng bằng Miền núi, hải đảo 4 Cán bộ Đạt Đạt 4.1. Cán bộ quản lý: có trình độ trung cấp về văn hóa, thể dục thể thao trở lên; được hưởng phụ cấp chuyên trách và bán chuyên trách 5 Kinh phí hoạt động 6 Hoạt động văn hóa văn nghệ 4.2. Cán bộ nghiệp vụ có chuyên môn về văn hóa, thể thao; được hợp đồng và hưởng thù lao bán chuyên trách 5.1 Đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên, ổn định hàng năm. 5.2 Thù lao cho cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách được quy định tại Thông tư liên tịch 03/2010/TTTL BNV-BTC BLĐTB&XH ngày 12 tháng 5 năm 2010 6.1. Tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị 6.2. Liên hoan, hội diễn văn nghệ quần chúng Đạt Có cộng tác viên thường xuyên Đảm bảo Đảm bảo 12 cuộc/năm Tối thiểu 4 cuộc/ năm 4 cuộc/năm Tối thiểu 2 cuộc/năm 6.3. Duy trì hoạt động thường xuyên các câu lạc bộ 5 câu lạc bộ trở lên 3 câu lạc bộ trở lên 75 TT TIÊU CỤ THỂ THEO VÙNG CHÍ NỘI DUNG Đô thị, đồng bằng Miền núi, hải đảo 6.4. Thư viện, phòng đọc sách, báo 6.5. Hoạt động xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, nếp sống văn hóa, bảo tồn văn hóa dân tộc 6.6. Thu hút nhân dân hưởng thụ và tham gia các hoạt động, sáng tạo văn hóa Hoạt động tốt Hoạt động tốt Tối thiểu 30% trở lên/tổng số dân Có hoạt động Có hoạt động Tối thiểu 20% trở lên/tổng số dân 7 Hoạt 6 cuộc/năm 4 cuộc/năm 7.1. Thi đấu thể động thể dục thể thao 8 Hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí cho trẻ em thao 7.2. Thu hút nhân dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên Thu hút trẻ em trên địa bàn dân cư tham gia hoạt động văn hóa, thể thao Tối thiểu 25%/tổng số dân Đạt 30% thời gian hoạt động Tối thiểu 20 %/tổng số dân Đạt 20% thời gian hoạt động 9 Chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ Chỉ đạo, hướng dẫn Nhà văn hóa, khu thể thao thôn (làng, ấp, bản) hiện có Đạt 100% Đạt 100% Thông tư số 05/2014/TT-BVHTTDL ngày 30-5- 2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có sửa đổi, bổ sung tiêu chí số 1 và các điểm 2.1 và 2.3 tiêu chí số 2 của Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã như sau: 76 STT Tiêu chí Nội dung Tiêu chí theo vùng Vùng núi tiêu chí Đồng bằng Miền núi cao, hải đảo và xã đặc biệt khó khăn 1 Diện tích đất quy hoạch 1.1.Khu Hội trường Văn hóa đa năng 1.2.Khu Thể thao (chưa tính diện tích sân vận động) 1.3. Các công trình thể thao có thể ở nhiều vị trí trên địa bàn xã. Các xã cần dành 2 - 3m2 đất/người để xây dựng cơ sở vật chất văn hóa, thể thao theo Tiêu chuẩn quy hoạch nông thôn do Bộ Xây dựng ban hành tại Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009. Từ 500m2 trở lên Từ 2.000m2 trở lên Từ 300m2 trở lên Từ 1.200m2 trở lên Từ 200m2 trở lên Từ 500m2 trở lên 2 Quy mô xây dựng 2.1. Hội trường Văn hóa đa năng 2.3. Xây dựng các công trình thể thao theo quy định tại Nghị định số 112/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thể dục Thể thao và tiêu chuẩn thiết kế xây dựng các công trình thể dục thể thao. 200 chỗ ngồi trở lên 150 chỗ ngồi trở lên 100 chỗ ngồi trở lên 77 b) Nhà văn hóa - Khu thể thao làng, bản Nhà văn hóa - Khu thể thao, làng, bản, thôn buôn, phum, sóc… (sau đây viết chung là Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn) thuộc hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở của cả nước, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định thành lập, lãnh đạo toàn diện; Trưởng thôn trực tiếp quản lý; chịu sự hướng dẫn về nghiệp vụ của Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp xã. Chức năng: - Góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức khoa học, kỹ thuật; giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn thôn. - Nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí của nhân dân. - Nơi tổ chức hội họp, học tập cộng đồng và các sinh hoạt khác ở thôn. Nhiệm vụ: - Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động ngắn hạn, dài hạn trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt. - Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị, sản xuất và đời sống của nhân dân ở thôn. - Tổ chức các hoạt động văn nghệ; thể dục, thể thao quần chúng; các cuộc giao lưu, liên hoan, hội diễn văn nghệ; giao hữu, thi đấu các môn thể thao; duy trì hoạt động các loại hình Câu lạc bộ, nhóm sở thích; phát hiện bồi dưỡng năng khiếu 78