🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Quá Trình Du Nhập Của Nho Giáo Vào Việt Nam Từ Đầu Công Nguyên Đến Thế Kỷ XIX Ebooks Nhóm Zalo Chịu trách nhiệm xuất bản: Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung: ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN TS. VÕ VĂN BÉ Biên tập nội dung: TS. NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA TS. HOÀNG MẠNH THẮNG BÙI BỘI THU Trình bày bìa: Chế bản vi tính: NGUYỄN ĐOÀN NGỌC NAM Đọc sách mẫu: PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT VIỆT HÀ Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/24-301/CTQG. Số quyết định xuất bản: 5017-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/06/2020. Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020. Mã số ISBN: 978-604-57-5677-5. Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam Phạm Thị Loan Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX / Phạm Thị Loan. - H. : Chính trị Quốc gia, 2019. - 232tr. ; 21cm 1. Đạo Khổng 2. Lịch sử 3. Việt Nam 181.11209597 - dc23 CTM0329p-CIP LỜI NHÀ XUẤT BẢN Là một học thuyết triết học, chính trị - đạo đức do Khổng Tử sáng lập vào cuối thời Xuân Thu, Nho giáo đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử không chỉ riêng ở quốc gia mà nó sinh ra, mà còn ở những quốc gia mà nó có ảnh hưởng. Nho giáo trong thời kỳ huy hoàng đã chi phối hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, đạo đức, nhân sinh, văn hóa, giáo dục,... đặc biệt trở thành kim chỉ nam cho đường lối trị nước của giai cấp phong kiến cầm quyền. Ngày nay, tuy cơ sở tồn tại chính của Nho giáo là chế độ phong kiến đã không còn nữa, nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn dai dẳng trong xã hội hiện đại, chi phối cách nghĩ và hành động của người dân. Việt Nam cũng là một nước chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo qua các thời kỳ. Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài liệu tham khảo cho những sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, những người quan tâm đến lĩnh vực lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX. Cuốn sách tập trung hệ thống hóa các giai đoạn 5 và tư tưởng của Nho giáo khi du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX, rút ra những đặc điểm mang tính quy luật của quá trình đó, giúp người đọc thấy được sự thay đổi của Nho giáo dưới sự tác động của quá trình “bản địa hóa”. Trên cơ sở đó nêu bật một số ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm đối với việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại nói chung, góp phần vừa làm giàu văn hóa truyền thống dân tộc, vừa giữ gìn bản sắc vốn có và tránh nguy cơ bị đồng hóa trong bối cảnh giao lưu văn hóa đang ngày càng rộng mở của xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Trong quá trình biên soạn và xuất bản, mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Nhà xuất bản rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn. Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 10 năm 2019 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 6 LỜI NÓI ĐẦU Nho giáo - một học thuyết triết học, chính trị - đạo đức khởi nguồn từ Trung Quốc, đã có mặt ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Từ lúc ban đầu bị phần lớn người dân Việt từ chối khi mới du nhập, sau thời Bắc thuộc, Nho giáo đã dần được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp nhận và sử dụng làm hệ tư tưởng, công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phục vụ cho mục đích cai trị của chế độ phong kiến. Trong nhiều thế kỷ được nhà nước phong kiến Việt Nam đề cao, Nho giáo được xem như một mô hình tổ chức và quản lý xã hội chính thống, một phương thức hoạt động và phát triển văn hóa đóng vai trò chủ đạo. Một mặt, các nguyên tắc chính trị - đạo đức của Nho giáo đã được vận dụng để xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, hùng mạnh (các triều đại Lý - Trần - Lê - Nguyễn), góp phần gìn giữ và làm giàu di sản văn hóa nước nhà, nhưng mặt khác nó cũng phần nào kìm hãm sự phát triển của tư tưởng học thuật và tiến trình lịch sử nước ta. Ở Việt Nam, Nho giáo có lúc thịnh lúc suy, có lúc được coi là đỉnh cao của hệ tư tưởng thống trị, nhưng cũng có lúc bị phê phán nặng nề, bị coi là nguồn gốc của tư tưởng 7 bảo thủ lạc hậu. Và theo thời gian, Nho giáo đã trở thành một trong những thành tố của truyền thống văn hóa Việt Nam, chi phối mạnh mẽ đến tư duy và thái độ ứng xử của người Việt. Giáo sư Phan Ngọc từng đánh giá: “Không có một dấu vết nào của văn hóa Việt Nam mà không mang một biểu hiện có thể xem là có tính chất Nho giáo, dù đó là văn học, chính trị, phong tục, nghi lễ, nghệ thuật, tín ngưỡng. Cũng không có một người Việt Nam nào, dù chống Nho giáo đến đâu mà lại không chịu ảnh hưởng của Nho giáo”1. Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Đây vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với vấn đề bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc trong bối cảnh mới. Trong xu hướng tất yếu của sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa, việc khẳng định và phát huy những yếu tố văn hóa bền vững, lâu dài làm nền tảng tinh thần cho sự tồn tại và phát triển của cả một dân tộc là hết sức thiết yếu. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa “phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”2 với mục tiêu “làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và 1. Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2001, tr.201. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.236. 8 thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”1. Nền văn hóa ấy tất yếu phải kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc mà trong đó sự đóng góp không nhỏ của Nho giáo. Do vậy, việc nghiên cứu về Nho giáo nói chung, quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam nói riêng, giúp chúng ta nhận thức rõ hơn đặc điểm, vị trí, vai trò và những ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam, trên cơ sở đó có thái độ khách quan trong việc tiếp thu di sản của quá khứ, góp phần tạo ra nội lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Những nghiên cứu trong cuốn sách này còn nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm về sự tiếp thu, vận dụng của dân tộc ta đối với các yếu tố văn hóa, tư tưởng du nhập từ bên ngoài vừa để tránh bị đồng hóa văn hóa vừa để làm giàu thêm nền văn hóa của riêng mình, đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, khi mà một quốc gia nào dù có thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” cũng không thể ngăn nổi sự thẩm thấu của dòng chảy toàn cầu hóa văn hóa - một dòng chảy lớn cuốn hút mọi nền văn hóa cùng hội nhập. Qua cuốn sách người đọc có thể nhận thức rõ hơn về vấn đề tiếp thu và biến đổi Nho giáo của người Việt trong lịch sử, từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam nói riêng, về tư tưởng, văn hóa Việt Nam nói chung, đặc biệt là khi văn hóa trở thành mục tiêu, 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.236. 9 động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Rất hy vọng nhận được những nhận xét, góp ý của quý độc giả để tác giả tiếp tục hoàn thiện những nghiên cứu của mình. Tác giả Phạm Thị Loan 10 Chương I KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ DU NHẬP CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT NHO GIÁO 1. Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo Nho giáo (儒教) được hiểu như một hệ thống giáo lý của các nhà nho nhằm mục đích tổ chức xã hội một cách hiệu quả. Những tư tưởng ban đầu của Nho giáo được hình thành từ trước thời Xuân Thu. Nhà nho khi đó được gọi là “sỹ”, là người chuyên học văn chương và lục nghệ, góp phần trị vì đất nước. Đến thời Khổng Tử, những tư tưởng đó được hệ thống lại thành một học thuyết chính trị - đạo đức, gọi là Nho giáo. Nho giáo được hình thành, phát triển qua ba giai đoạn cơ bản: Nho giáo thời kỳ Tiên Tần, Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán, Nho giáo thời kỳ Tống - Minh - Thanh. Nho giáo thời kỳ Tiên Tần còn gọi là Nho giáo nguyên thủy hay Nho giáo Khổng - Mạnh, do Khổng Tử khởi xướng và sau này được phát triển bởi học trò của ông là Mạnh Tử. Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, 11 người làng Xương Bình, nước Lỗ (nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc sa sút vào thời đại mà các mâu thuẫn xã hội đang trở nên gay gắt; nền pháp chế, ý thức truyền thống của nhà Chu bắt đầu bị lung lay nhưng vẫn còn giữ địa vị chính thống. Từ khi còn trẻ, Khổng Tử đã dốc lòng vào việc học và cũng từng được mời ra làm quan trong một thời gian ngắn, nhưng vì thấy chính quyền nước Lỗ suy thoái nên ông đã bỏ đi chu du thuyết khách để thực hiện rộng rãi chủ trương nhân trị, khôi phục chế độ tông pháp nhà Chu đã suy vong, mong được vua quan các nước này thực hiện đường lối chính trị của mình. Nhưng sau nhiều năm truyền bá học thuyết của mình, ông vẫn không được trọng dụng. Vì thế, trong quãng đời còn lại, ông trở về nước Lỗ chuyên tâm dạy học trò, san định sách Thi, Thư, hiệu đính Lễ, Nhạc, giải thích sách Dịch đời trước, biên soạn sách Xuân Thu. Các sách này đến đời Tống đã được hệ thống hóa lại và được xem như là kinh điển của Nho giáo, gọi là Lục kinh, nhưng vì Kinh Nhạc bị thất lạc, chỉ còn một ít được chép vào Kinh Lễ thành một thiên gọi là Nhạc ký, cho nên Lục kinh chỉ còn là Ngũ kinh. Các học trò của Khổng Tử, trong đó nổi bật là Mạnh Tử (Mạnh Kha, 372 - 289 TCN) đã phát triển học thuyết của thầy theo chiều hướng duy tâm, và Tuân Tử (Tuân Huống, 315 - 238 TCN) phát triển học thuyết theo chiều hướng duy vật. Tư tưởng Mạnh Tử được các học trò tập hợp, biên soạn lại tạo thành bộ sách Mạnh Tử nổi tiếng, sau này được xếp vào hàng Tứ thư của Nho giáo, trở thành kinh điển có tính chất bắt buộc 12 của xã hội và các trí thức thời kỳ phong kiến, được các học phái Nho gia đời sau kế thừa và phát triển mạnh mẽ. Đến thời Hán, Nho giáo Khổng - Mạnh được Đổng Trọng Thư (179 - 104 TCN) phát triển theo hướng duy tâm thần bí và tăng thêm tính chất đẳng cấp nghiệt ngã hình thành cái gọi là Hán Nho. Thời kỳ này, một số nhà nho đã bỏ công biên soạn bộ sách Lễ ký một cách công phu, trong đó tập hợp các bản văn luận về “lễ” của các Nho gia từ thời Tiên Tần đến đầu đời Hán với 49 thiên, bao gồm cả thiên Đại học và Trung dung, mà về sau đến thời nhà Tống được tách ra thành sách và xếp vào hàng Tứ thư. Thời nhà Tống - Minh, Nho giáo được phục hưng và có những bước phát triển căn bản. Nho giáo đời Tống là Nho giáo đã pha trộn nhiều bộ phận của tư tưởng Phật giáo với học thuyết Lão - Trang, Âm dương, dựa vào Kinh Dịch làm xương sống triết học để trở thành một hệ thống hoàn chỉnh. Ở thời kỳ này, Đại học, Trung dung được Chu Hy (1130 - 1200) tách ra khỏi Lễ ký và cùng với Luận ngữ, Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ thư, được coi như là sách gối đầu giường của các nhà nho. Nếu ở thời nhà Hán, Nho giáo chỉ chú trọng giải thích ý nghĩa các câu chữ trong kinh điển của Nho giáo Tiên Tần thì đến thời kỳ Tống - Minh, Nho giáo đã có một bước phát triển mới, cả về bản thể luận, nhận thức luận và luân lý - đạo đức, chính trị - xã hội... với nhiều học phái mới. Phái Lý học với khuynh hướng duy tâm khách quan do Thiệu Ung (1011 - 1077), Chu Đôn Di (1017 - 1073), Trương Tái (1020 - 1077) khởi xướng, hai anh em Trình Hạo (1032 - 1085) và Trình Di (1033 - 1107) 13 phát triển, cuối cùng, Chu Hy đưa nó đến đỉnh cao. Phái Tâm học do Lục Cửu Uyên (1139 - 1192), thời Nam Tống, và Vương Thủ Nhân (1472 - 1528) thời nhà Minh đã phát triển theo hướng duy tâm chủ quan, coi “tâm” là khái niệm cơ bản. Đến thời nhà Thanh, Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Võ... đã đề xướng trào lưu Thực học, cố gắng đổi mới Nho học theo hướng hiệu quả, thiết thực hơn. Vào đầu thế kỷ XX, triều Mãn Thanh - triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc đã bị sụp đổ bởi cuộc cách mạng Tân Hợi (1911). Vị trí chính thống kéo dài gần 2000 năm của Nho giáo trong đời sống chính trị - xã hội Trung Quốc cũng theo đó mà kết thúc. Tuy vậy, sự ảnh hưởng của Nho giáo không vì thế mà mất đi, ngược lại, nó có ảnh hưởng hết sức sâu sắc, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn với một số nước khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam. 2. Một số nội dung tư tưởng cơ bản trong học thuyết Nho giáo a. Quan điểm về thế giới Nhìn chung, Nho giáo là một học thuyết duy tâm. Tuy trong quan niệm của Khổng Tử có chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ và có tính duy vật về thế giới như cho rằng sự vận động của vạn vật đều tuân theo “đạo” của nó, không phụ thuộc vào ý chí của ai: “Trời có nói gì đâu, thế mà bốn mùa vẫn vận hành như vậy, vạn vật vẫn sinh trưởng như vậy. Trời có nói gì đâu?” (Luận ngữ, Dương hóa, 18)1, 1. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.488. 14 “Thời gian giống như nước sông vậy, ngày đêm không ngừng trôi” (Luận ngữ, Tử Hãn, 17)1, hay cho rằng: “Chưa biết phụng thờ con người, làm sao có thể phụng thờ quỷ thần. Chưa biết đạo lý của sự sống, sao mà biết đạo lý của sự chết?” (Luận ngữ, Tiên tiến, 11)2 nhưng do những biến đổi của thời cuộc và những hạn chế mang tính giai cấp nên học thuyết của ông không tránh khỏi những yếu tố duy tâm, thần bí. Dù không đi sâu vào các vấn đề quan hệ giữa thể xác và linh hồn, quỷ thần, về cuộc sống con người sau khi chết nhưng Khổng Tử lại tin ở “mệnh trời” - cái huyền vi, sâu kín, mạnh mẽ, lưu hành khắp vũ trụ, định phép sống cho vạn vật, con người ta không thể cưỡng lại. Ông khuyên mọi người hãy phục tùng ý chí của trời và coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện cho sự hoàn thiện nhân cách của con người: “Không biết mệnh trời thì không thể làm người quân tử” (Luận ngữ, Nghiêu viết, 8)3. Ông cho rằng, người quân tử có ba điều sợ, mà điều sợ thứ nhất là sợ mệnh trời (Luận ngữ, Quý thị, 8)4. Từ đó, ông có xu hướng coi mọi việc ở đời đều do trời sắp đặt, “sống chết do mệnh, giàu sang do trời quyết định” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 5)5. Từ tư tưởng “Thiên mệnh” của Khổng Tử, Mạnh Tử đã đẩy thế giới quan ấy tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm. Ông khẳng định ý chí và quyền uy của trời trong việc sáng tạo và chi phối vạn vật, từ sự biến hóa của giới tự nhiên, cũng như trật tự, địa vị trong xã hội cho đến tâm tính, đạo đức của con người: “Chẳng có việc gì xảy ra mà 1, 2, 3, 4, 5. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.292, 323, 539, 466, 346. 15 không theo mệnh trời cả. Mình nên thuận theo đạo lý mà sống thì sẽ nhận được cái mệnh chính đáng...” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng, 2)1. Ông còn nói: “Người hết lòng hết dạ phát huy tấm lòng lương thiện của mình thì sẽ hiểu được bản tính lương thiện của mình. Biết được bản tính lương thiện của mình là hiểu được mệnh trời rồi đó” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng, 1)2. Tư tưởng Khổng - Mạnh đến đời Hán được Đổng Trọng Thư kết hợp với thần học, “sấm vĩ”, quan điểm của học thuyết Âm dương - Ngũ hành, hình thành nên một hệ thống triết học mang tính chất duy tâm thần bí rõ rệt với các luận đề “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân cảm ứng”, “vương quyền thần thụ”, cho tất cả đều là do trời định. Ông trời, theo quan niệm của Đổng Trọng Thư, là một ông trời có nhân cách, có ý thức, có đạo đức, sinh ra vạn vật và con người, chi phối tự nhiên và xã hội, theo dõi, giám sát và có thể trừng phạt con người: “Trời có nhân vậy”, “Trời, vua của trăm vị thần, là người được nhà vua tôn quý” (Xuân thu phồn lộ, Vương đạo thông tam, Hiệu tế), “Trời là tổ của vạn vật, vạn vật không có trời, không sinh. Trời làm ra cái tính mệnh của người, khiến người làm điều nhân nghĩa” (Xuân thu phồn lộ, Vi nhân giả thiên)23. Theo Đổng Trọng Thư, mọi sự vật, hiện tượng cũng như mọi quá trình biến hóa của tự nhiên và sự biến đổi, hưng vong của 1, 2. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.769, 768. 3. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.387. 16 xã hội đều là sự an bài có ý thức, có mục đích của trời. Âm dương, ngũ hành đều là thể hiện của mệnh trời. Dương là mặt chủ đạo của trời, còn âm là mặt phụ thuộc của trời. “Ngũ hành tương sinh” là thể hiện ân đức của trời, “Ngũ hành tương thắng” là thể hiện hình phạt của trời1. Những thứ mà con người có được đều bắt nguồn từ trời, kể cả tri thức, đức tính của con người. Người chính là bản sao, là “con cháu của trời”, chỉ có con người là có thể sánh với trời đất: “Người có 360 đốt xương, sánh với số trời. Hình thể và xương thịt sánh với sự dày đặc của đất. Phần trên của người có tai thông và mắt sáng, đó là hình tượng của mặt trời và mặt trăng. Thân thể có lỗ khiếu và huyết mạch, đó là hình tượng của sông và hang cốc. Tâm có buồn vui mừng giận, đó là cùng loại với thần khí... cho nên thân thể của con người có đầu lớn và tròn, tượng trưng cho dung mạo của trời. Tóc là tượng trưng các vì sao và chòm sao. Tai mắt sáng rõ là tượng trưng mặt trời, mặt trăng. Mũi miệng hít thở là tượng trưng hơi và gió. Sự thông đạt trong ngực tượng trưng thần minh. Bụng ruột đặc rỗng tượng trưng trăm vật... Biểu tượng của trời đất và tương ứng của âm dương thiết lập ở nơi thân người. Thân người do trời và tương ứng với số của trời, cho nên sinh mạng có liên quan đến trời” (Xuân thu phồn lộ, Nhân phó thiên số)2. Người do trời tạo ra, thì phải do trời điều hành, chi phối. Trời điều hành, chi phối con người thông qua các vị quân vương trên thế giới này - các “thiên tử”. Họ theo ý chí của trời mà gánh 1, 2. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, Sđd, tr.387, 389. 17 vác việc chăn dân trị nước. Quyền của vua do trời trao cho (“vương quyền thần thụ”), mà trời là bậc chí cao vô thượng nên quyền của vua cũng là chí cao vô thượng. Con người phải tuyệt đối phục tùng quân vương, phải tuân theo phép tắc, đạo đức, luân lý của chế độ phong kiến, phản lại vua là chống lại trời mà phản lại đạo trời thì không thể thành công “phản thiên chi đạo vô thành giả”, nhất định sẽ bị trời trừng phạt. Như vậy, nếu ở Khổng Tử, “trời” chỉ là một lực lượng siêu hình quy định trật tự tự nhiên và xã hội thì đến Đổng Trọng Thư, “trời” không phải là vô hình mà là “ông trời” có hình dáng, có ý chí; trời đặt ra cho xã hội loài người một vị vua có quyền lực tối cao để thay trời hành đạo, có thể khen chê, thưởng phạt, giám sát chặt chẽ mọi hành động của con người. Nếu thuận theo ý trời thì sẽ được hưởng phúc lành, mưa thuận, gió hòa, xã tắc yên ổn. Ngược lại, trái với ý trời sẽ bị trời “khiển cáo”, hỏi tội, thậm chí là bị trời trừng phạt. Theo đó, con người sẽ phải chịu hạn hán, lụt lội, dịch bệnh, chịu nhật thực, nguyệt thực, thậm chí chịu cảnh sét đánh, động đất, binh đao, máu lửa1. Do vậy, con người phải thông qua các hiện tượng tự nhiên để hiểu được ý trời, mệnh trời. Tuy thế, trời có thể cảm thông với con người (thiên nhân cảm ứng) nên chỉ cần con người có lòng thành cầu xin trời, trời sẽ xúc động mà khiến cho tai nạn tiêu giải. Qua đó, ta có thể thấy rõ tính duy tâm thần bí trong thế giới quan của triết học Hán Nho. Từ Hán Nho trở về sau, khuynh hướng vương quyền kết hợp với thần quyền ngày càng rõ. 1. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, Sđd, tr.390. 18 Từ thời nhà Tống trở đi, với sự kết hợp tư tưởng của Phật giáo và Đạo gia, lấy Kinh Dịch làm cơ sở chủ đạo, quan điểm của Nho gia về thế giới trở nên khái quát và trừu tượng hơn, được hệ thống thành các nguyên lý, các phạm trù như đạo và khí, lý và khí. Theo các nhà Lý học, lý là cái tuyệt đối, vĩnh viễn, không biến đổi, là bản thể của thế giới vạn vật, “trên trời chỉ có một lý”, “vạn vật đều cùng một thiên lý”; còn khí là cái cụ thể, hữu hình, biểu hiện của lý và chịu sự chi phối của lý. Lý là cái có trước, khí là cái có sau, lý là đạo, thuộc hình nhi thượng, là một cái tuyệt đối trừu tượng, là gốc sinh ra vạn vật. Đó không chỉ là cái lý hình thành sự vật mà lại còn có thể tồn tại tách rời sự vật, có trước sự vật. Khí là khí chất, thuộc hình nhi hạ, là chất liệu để tạo thành sự vật. Các nhà Lý học cho rằng: “chưa có sự ấy, thì trước đã có lý ấy. Như chưa có vua tôi, trước đã có lý vua tôi; chưa có cha con, trước đã có lý cha con” (Ngữ loại, quyển 95)1. Tuy vậy: “Lý chưa bao giờ rời khí. Nhưng lý là hình nhi thượng, khí là hình nhi hạ. Nói hình nhi thượng, hình nhi hạ làm sao có trước có sau” (Ngữ loại, quyển 1)2. “Thật ra thì lý có trước, nhưng ta không thể nói rằng hôm nay có lý ấy, mà ngày mai mới có khí ấy. Nhưng cũng phải có trước sau” (Chu Tử toàn thư, quyển 49)3. Đối lập với phái Lý học, phái Tâm học cho rằng, thực tại chỉ gồm trong một thế giới của “tâm” và sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng là phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Theo Lục Cửu Uyên, “tâm” của con người là cơ sở tồn tại của vũ trụ vạn vật: “vũ trụ tiện thi ngộ tâm, 1, 2, 3. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, Sđd, tr.534. 19 ngộ tâm tức thị vũ trụ”, nghĩa là vũ trụ chính là tâm ta, tâm ta tức là vũ trụ, “tâm tức lý” (Lục Tương Sơn, toàn tập, quyển 38). Vương Thủ Nhân khẳng định thêm, tâm con người chính là bản thể tối cao của vũ trụ, là chúa tể của vạn vật: “tâm ngoại vô vật” - ngoài tâm không có vật, “tâm ngoại vô sự” - ngoài tâm không có sự việc, “tâm ngoại vô lý” - ngoài tâm không có lý, “tâm ngoại vô học” - ngoài tâm không có học thuyết (Vương Văn Thành Công toàn thư, Truyền tập lục). Ông nói: “Tâm tức lý. Thiên hạ lại có sự vật ở ngoài tâm và có lý ở ngoài tâm hay sao?” (Vương Văn Thành Công toàn thư, Truyền tập lục)1. b. Quan điểm chính trị - xã hội Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh đã nêu lên một xã hội lý tưởng và xem đó như là mục tiêu phấn đấu, một thiên hạ bình trị để người dân được hưởng một cuộc sống thanh bình, an cư lạc nghiệp, thương yêu nhau và tôn trọng các tục lệ. Đó là một xã hội hòa mục như lời Khổng Tử: “Đạo lớn thi hành, cả thiên hạ đều là của công, tuyển chọn người hiền có tài năng, nói điều tín nghĩa hòa mục, cho nên người ta không chỉ lo cho người thân của mình, không chỉ lo cho con cái của mình. Xã hội như vậy đủ khiến cho người già được chết yên lành và người khỏe mạnh có chỗ dùng tới; xã hội như vậy khiến cho trẻ nhỏ được yên vui lớn lên. Xã hội như vậy kính trọng người cô quả bơ vơ, bệnh tật và nuôi dưỡng họ. Đàn ông nào cũng có chức phận, đàn bà nào cũng có chồng. Của cải không 1. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, Sđd, tr.556. 20 bị phung phí mà cũng chẳng cất giấu” (Kinh Lễ, thiên Lễ vận)1. Để đạt tới một xã hội như xã hội Đường Nghiêu, Ngu Thuấn xa xưa, Nho giáo chủ trương “nhân trị”, “đức trị” hay “lễ trị”, nghĩa là lấy đạo đức, lấy “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “trí”, “dũng”, “hiếu”, “kính”, “đễ”... để giáo hóa con người, cải biến con người. Bởi theo Khổng Tử: “Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng” (Luận ngữ, Vi chính, 3)2. Do đó, “cầm quyền lãnh đạo quốc gia cần phải dựa vào đạo đức thì dân chúng đều quy thuận. Tự mình giống như sao Bắc Đẩu vậy, ở cố định một nơi, còn các vì sao khác đều chầu quay quanh nó” (Luận ngữ, Vi chính, 1)3. Cũng với tinh thần đó, Mạnh Tử đưa ra tư tưởng “nhân chính”, theo đó, đạo trị nước phải lấy điều nhân nghĩa làm gốc, mở rộng ban phát ân huệ. Ông nói: “Nếu nhà vua thi hành nhân chính, sẽ khiến cho kẻ sĩ trong thiên hạ đều yên tâm phục vụ dưới trướng của mình, dân trong thiên hạ đều muốn cày cấy ở ruộng đất của mình, thương nhân trong thiên hạ đều muốn tập kết ở chợ búa của mình, khách lữ hành phương xa đều muốn đi lại trên 1. Nguyễn Tôn Nhan (biên dịch và chú giải): Kinh Lễ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1999, tr.116. 2, 3. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.123, 121-122. 21 đường sá của mình. Lúc đó, những ai chán ghét sự cai trị vô đạo của vua nước họ, sẽ đến tố cáo với nhà vua. Nếu tình hình như vậy, ai có thể cản trở nhà vua thống nhất thiên hạ?” (Mạnh Tử, Lương Huệ Vương thượng, II)1. Mạnh Tử gọi đường lối trị nước dựa vào đạo đức, “đức trị”, “lễ trị” là “vương đạo”, còn dùng hình pháp, vũ lực để cai trị, giành lấy thiên hạ là “bá đạo”. Theo ông: “Một vị vua dùng vũ lực lại giả nhân nghĩa đi chinh phạt các nước, vị vua ấy có thể xưng bá. Làm bá thì nhất định cần có một nước to lớn. Một vị vua dựa vào đức hạnh lại thực hiện nhân chính, thì người ta tôn làm vương. Làm vương chẳng đợi có một nước to lớn. Như vua Thành Thang đất đai chỉ vuông vức bảy mươi dặm, vua Văn Vương đất đai chỉ vuông vức một trăm dặm nhưng đều từ đó mà nổi lên. Dựa vào sức mạnh khiến người khác phục tùng thì người ta chỉ chịu phục bề ngoài, chứ tâm người ta không phục, chẳng qua vì người ta không đủ lực lượng để chống lại đó thôi. Còn dựa vào đức hạnh khiến người khác phục thì người ta chịu tâm phục, tức là phục mà trong lòng thật tâm thật ý, giống như bảy mươi vị học trò phục thầy Khổng Tử vậy” (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, II, 1)2. Trong việc thi hành “đức trị”, một nội dung quan trọng đòi hỏi các nhà cầm quyền thực hiện là phải quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo cho dân, không để Nhân dân đói khổ. Nho giáo đưa ra mệnh đề “dĩ dân vi bản, bản cố, bang ninh” - coi dân, lòng dân chính là cơ sở để cho sự 1, 2. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.560, 597-598. 22 vững bền, giàu mạnh của đất nước, sự tồn tại lâu dài của vương triều. Vì vậy, tuy có lúc Khổng Tử đề cập đến Nhân dân lao động như hạng người thấp hèn trong xã hội, nhưng ông vẫn chủ trương vua cần phải bảo đảm cho dân được no ấm, phải chiếm được lòng tin của dân, phải biết làm cho dân giàu và biết giáo hóa dân. Còn Mạnh Tử đề ra quan điểm “dân bản”, xem “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Mạnh Tử, Tận tâm hạ, 13). Ông nói: “Muốn được thiên hạ có đạo lý nên theo là: có được dân là có được thiên hạ. Muốn được dân có đạo lý nên theo là: được lòng dân là có dân. Muốn được lòng dân có đạo lý nên theo là: cái gì dân mong muốn thì nên cung cấp cho họ, cái gì dân chán ghét thì chớ có làm. Dân chúng kéo nhau theo bậc nhân đức như nước từ chỗ cao chảy xuống chỗ thấp như dã thú lao về đồng hoang vậy. Cho nên nói đàn cá phải lặn lội trốn xuống chỗ sâu nhất là vì con rái cá săn mồi; bầy chim sẻ phải bay về rừng là tại con diều hâu đuổi bắt; dân trăm họ theo vua Thang, vua Vũ là vì Kiệt bạo, Trụ ngược vậy” (Mạnh Tử, Ly lâu thượng, 9)1. Trên cơ sở đó, ông chủ trương thực hiện cải cách kinh tế, thi hành chế độ điền địa và thuế khóa công bằng để cải thiện đời sống nhân dân, làm cho Nhân dân được sống sung túc, giáo hóa cho dân để dân “yêu mà kính phục”. Ông nhấn mạnh đức độ của người cầm quyền và khuyên họ nên: “Lấy niềm vui của trăm họ làm niềm vui của mình, trăm họ sẽ lấy niềm vui của mình làm niềm vui của trăm họ. Lấy nỗi lo của trăm họ làm nỗi 1. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.664. 23 lo của mình, trăm họ sẽ lấy nỗi lo của mình làm nỗi lo của trăm họ” (Mạnh Tử, Lương Huệ Vương hạ, I, 4)1. Đồng thời, “thực hiện nhân chính, giảm hình phạt, nhẹ thuế khóa; khuyên bảo trăm họ chăm lo việc đồng áng cày sâu cuốc bẫm; khuyên bảo thanh thiếu niên trong thời gian rỗi rãi, học tập đạo lý hiếu đễ trung tín, biết theo những đạo lý này để ở nhà phụng sự cha mẹ, ra ngoài phụng sự bề trên” (Mạnh Tử, Lương Huệ Vương thượng, I, 5)2. Vào thời nhà Hán, áp dụng quan điểm duy tâm thần bí vào lĩnh vực chính trị - xã hội, Đổng Trọng Thư - đại biểu của Nho giáo thời kỳ này - cho rằng, vua là kẻ nhận mệnh lệnh của trời, noi theo trời mà cai trị dân chúng, cho nên, dựa vào bốn mùa của trời đất, vua cũng cai trị dân bằng “tứ chính”, đó là: Khánh, thưởng, hình, phạt. Không chỉ thế, dựa theo bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, bộ máy chính quyền với bốn loại quan cũng được thiết lập. Theo ông, kẻ thống trị là biểu hiện của thế lực dương, người bị trị là biểu hiện của thế lực âm, “dương tôn âm ty”, “dương quý âm tiện”, trật tự đó không thể thay đổi được. Đồng thời, ông còn dựa vào học thuyết Ngũ hành để giải thích sự cai trị của chính quyền phong kiến nhà Hán đối với Nhân dân một cách duy tâm, thần bí. Thời nhà Tống, những quan niệm về “lý”, “khí” được vận dụng để biện hộ cho tính hợp lý của thể chế xã hội phong kiến bấy giờ và phục vụ cho giai cấp thống trị nô dịch quần chúng lao động. Các nhà Lý học cho rằng, “tam cương”, “ngũ thường” của Nho giáo và 1, 2. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.561, 552. 24 thể chế xã hội phong kiến chính là sự thể hiện của “lý” hay thiên lý lưu hành, nó “thường tại bất diệt”, “vượt ra ngoài sự can thiệp của con người”1. Những nhu cầu, ham muốn trái với trật tự lễ nghĩa của chế độ phong kiến là “nhân dục”, và muốn “tồn thiên lý” phải “khử nhân dục”. c. Quan điểm đạo đức - luân lý Nho giáo chủ trương con người cần phải có năm đức tính cơ bản (ngũ thường) đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để có thể xử lý tốt năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em và bạn bè. Trong đó, Nho giáo đặt lên hàng đầu đức nhân, tất cả các đức khác cũng nhằm thực hiện đức nhân. Nhân là điều hợp với đạo trời và lòng người, là gốc của đạo đức, là lòng thương yêu người khác như yêu chính bản thân mình: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân - Việc mình không muốn thì đừng ép người khác muốn” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 2)2; “Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân - Người có đức nhân là mình muốn nên thì nên cho người, mình muốn thành tựu thì thành tựu cho người” (Luận ngữ, Ung dã, 30)3. Nhân gắn với lễ - những quy phạm đạo đức lễ nghi được xác lập có hệ thống và khá chi tiết nhằm ổn định, duy trì các mối quan hệ đẳng cấp, tông pháp trong xã hội đương thời. Lễ được coi như phương thức giúp người ta đạt tới nhân và nhân là nội dung của lễ. Khổng Tử lý giải: “Khắc kỷ, phục lễ, 1. Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử triết học phương Đông, Sđd, tr.538. 2, 3. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.342, 229. 25 vi nhân; nhất nhật khắc kỷ, thiên hạ quy nhân yên. Vi nhân do kỷ, nhi do nhân hồ tai - Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ. Một ngày làm được như thế, người trong thiên hạ sẽ theo cùng về đức nhân. Thực hiện đức nhân hoàn toàn ở mình, không lẽ dựa vào người khác hay sao?” (Luận ngữ, Nhan Uyên, 1)1 và khẳng định “Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà? - một người không có lòng nhân sao có thể hành được lễ? Một người không có lòng nhân sao có thể tấu được nhạc” (Luận ngữ, Bát dật, 3)2. Học thuyết này cũng đặt ra những chuẩn mực nhất định đối với từng mối quan hệ phổ biến trong xã hội. Trong mối quan hệ vua - tôi, Nho giáo Khổng - Mạnh đòi hỏi: Vua phải tôn trọng và quý mến bề tôi, còn bề tôi phải biết giữ đạo trung khi thờ vua, nếu “vua mà xem bề tôi như tay chân, thì nhất định bề tôi xem vua như bụng dạ của mình. Vua mà xem bề tôi như chó ngựa, thì nhất định bề tôi xem vua như người dưng. Vua mà xem bề tôi như bùn rác thì nhất định bề tôi sẽ xem vua như giặc thù” (Mạnh Tử, Ly lâu hạ, II)3. Trung, theo Nho giáo, là hết lòng, thành tâm, thật ý giúp vua đi vào con đường đạo đức, biết đặt lợi ích của vua và dòng họ vua lên trên hết, biết đem đạo lý mà thờ vua, việc gì có ích cho nước, cho dân thì giúp vua làm. Trong mối quan hệ cha - con, Nho giáo đòi hỏi người làm cha phải có đức tính nhân từ, chăm sóc, dạy dỗ con cái nên người và làm gương cho con; còn người làm con phải hiếu đễ với cha. 1, 2, 3. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.341, 145, 684. 26 Hiếu là gốc của đức nhân, do đó cũng là gốc của việc tu thân, là nền tảng của một xã hội ổn định. “Người biết hiếu thuận với cha mẹ, có nết đễ (kính trọng) với người lớn tuổi hơn mình mà lại thích cãi cọ, va chạm, xung đột mạo phạm với cấp trên là rất hiếm thấy. Người không mạo phạm cấp trên mà lại thích làm phản làm loạn là không có. Người quân tử là người chuyên tâm nắm vững cái gốc của tu thân. Nắm vững được cái gốc của tu thân thì đạo lập thân xử thế phát sinh ra trong lòng mình. Hiếu đễ là cái gốc của việc làm đạo nhân” (Luận ngữ, Học nhi, 2). Trong mối quan hệ vợ - chồng, Nho giáo đòi hỏi có sự hòa thuận, trong đó chồng là trụ cột gia đình, có trách nhiệm thương yêu, chăm lo cho vợ con, còn người vợ phải biết vun vén cho gia đình mình và gia đình nhà chồng. Trong quan hệ anh - em, Nho giáo đòi hỏi làm anh phải tốt, làm em phải kính trọng và nghe lời anh. Trong quan hệ bạn bè, Nho giáo đề cao chữ tín, sự tin cậy lẫn nhau, thành thực tuân thủ lời hứa, bởi lẽ: “Một người không có chữ tín, không biết có thể làm gì được. Cũng giống như xe lớn, không có chốt, xe nhỏ cũng không có chốt, thì làm sao có thể đi được?” (Luận ngữ, Vi chính, 21)1. Đến đời Hán, Đổng Trọng Thư đã hệ thống hóa các phạm trù đạo đức thể hiện những mối quan hệ cơ bản giữa người với người trong xã hội, trở thành nội dung, tiêu chuẩn cho sự giáo hóa đạo đức phong kiến. Ông đặc biệt nhấn mạnh ba mối quan hệ cơ bản nhất trong xã hội, đó là quân - thần, phụ - tử, phu - thê: “Quân vi thần cương, 1. Dương Hồng - Vương Thành Trung - Nhiệm Đại Viện - Lưu Phong (chú dịch): Tứ thư, Sđd, tr.140. 27 phụ vi tử cương, phu vi thê cương” (tam cương) và tuyệt đối hóa một chiều đạo đức xử sự của người dưới đối với người trên, trong đó người dưới chịu sự chỉ bảo, sai khiến của người trên. Ông cũng đặt ra tiêu chuẩn “tam tòng, tứ đức” tước đi mọi quyền của người phụ nữ. Đến đời Tống, khi chế độ phong kiến trung ương tập quyền được củng cố, cái được gọi là “lý” lại được Nho gia vận dụng vào xã hội để chỉ những đạo lý trong mối quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, hay nói cách khác là những quy phạm đạo đức phong kiến. Nho gia thời kỳ này khẳng định tính là lý, trong đó tính người có hai loại “thiên mệnh chi tính” và “khí bẩm chi tính”. Người ta sinh ra đã có sẵn thiên lý trong tâm. Trên cơ sở đó, phái Lý học cho rằng “nhân tâm” sinh ra từ mục đích làm lợi cho cá nhân nên là cái ác, còn “đạo tâm” nảy sinh từ “thiên mệnh chi tính” là tốt đẹp, chí thiện, thuần túy. Cho nên, con người phải “tồn thiên lý, khử nhân dục” (giữ lý trời, diệt dục vọng con người) bằng cách “cư kính”, “chủ tĩnh”, “cách vật trí tri”, “cùng lý” nhằm phát huy đạo tâm thiên lý đến chỗ chí thiện chí mỹ, đồng thời khắc phục và diệt bỏ những ham muốn dục vọng làm che mờ thiên lý vốn bản nhiên sáng láng trong tâm con người. Từ đó, các nhà tư tưởng đã đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức vô cùng nghiệt ngã: “vua bảo bề tôi chết mà bề tôi không chết là bất trung, cha bảo con chết mà con không chết là bất hiếu” hay: “chết đói là chuyện cực nhỏ, thất tiết là chuyện cực lớn” (Ngã tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại)1. 1. Doãn Chính: Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.813. 28 Khác với phái Lý học, trong quan niệm về đạo đức - luân lý, phái Tâm học đề cao “minh tâm”, “lương tri”, cho rằng bản tâm con người vốn đã có nhân nghĩa, lễ, trí rồi, vì thế bản tâm ta tự giác ngộ thì đạo đức sẽ tự hoàn thiện. Lục Cửu Uyên nói với học trò: “Tai anh tỏ, mắt anh sáng thì anh thờ cha anh hiếu, đối với em sẽ đễ, cái gốc không thiếu sót, không cần phải cầu ở đâu cả”1. Còn theo Vương Dương Minh, “lương tri” là toàn bộ tri thức và những quan niệm đạo đức mà con người sinh ra đã có sẵn ở trong tâm: “Tri là cái bản thể của tâm, tâm tự nhiên biết tri. Thấy cha thì tự nhiên biết hiếu, thấy anh thì tự nhiên biết đễ, thấy đức trẻ ngã xuống giếng thì tự nhiên thấy thương xót. Đó là lương tri”2. Vì thế, người ta muốn có tri thức, đạo đức, tức muốn đạt tới “lương tri”, thì chỉ cần tự chiêm nghiệm, vén mở nội tâm, gìn giữ và phát huy bản tâm, không để tư dục lôi kéo, làm mờ ám mất cái thiên lý bản nhiên, sáng láng vốn tròn tâm, liền có thể “tự nhiên khuếch sung đến cùng cực lương tri mà trở thành thánh nhân”3. II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ NHO GIÁO DU NHẬP VIỆT NAM Theo Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế, du nhập (輸入) có nghĩa là đem vào, chở vào, được đem từ nước ngoài vào24. Đây là khái niệm được Việt hóa từ tiếng Trung Quốc dùng để chỉ việc một yếu tố từ một quốc gia, một nền văn hóa bên ngoài được đưa vào khu vực bản địa thông qua 1, 2, 3. Doãn Chính: Từ điển triết học Trung Quốc, Sđd, tr.351, 925, 926. 4. Bửu Kế: Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1999, tr.462. 29 hành vi của con người. Du nhập không chỉ nói đến một lĩnh vực nhất định mà có thể ở bất kỳ lĩnh vực nào, từ kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, giáo dục, đạo đức,... cho đến khoa học, nghệ thuật, thời trang; từ một dạng tồn tại cụ thể của vật chất cho đến những quan niệm, ý tưởng của con người. Về mặt văn hóa, bản chất của sự du nhập chính là mối liên hệ giữa hai yếu tố: Yếu tố truyền bá văn hóa và yếu tố tiếp nhận văn hóa. Điều này dẫn đến sự tiếp biến văn hóa (accultuaration) trong quá trình tiếp xúc giữa hai mô hình văn hóa: Văn hóa bản địa và văn hóa bên ngoài. Những cuộc tiếp xúc ấy có thể là do sự giao lưu văn hóa tự nguyện từ hai phía hoặc do sự áp đặt một phía thông qua hành động xâm lược, thống trị của một nước mạnh đối với một nước yếu hơn. Kết quả của quá trình tiếp xúc ấy là những thay đổi về cấu trúc văn hóa của các cộng đồng văn hóa, trong đó diễn ra sự chuyển hóa, kết hợp giữa các giá trị văn hóa nội sinh với các giá trị văn hóa ngoại sinh. Do đó khi nghiên cứu quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam cần xem xét điều kiện cụ thể về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa - giáo dục... ở từng giai đoạn để thấy rõ được những đặc điểm riêng có của Nho giáo Việt Nam so với Nho giáo các nước khác, cũng như những chuyển biến của đời sống văn hóa, chính trị, xã hội Việt Nam sau khi Nho giáo du nhập vào. 1. Điều kiện địa lý, lịch sử Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp với Trung Quốc, phía tây và tây nam giáp với Lào và Campuchia, phía đông và đông nam giáp Biển Đông, 30 với bờ biển dài hơn 3.000km. Với vị trí như vậy, nên Việt Nam được xem như một chiếc cầu nối giữa lục địa Á - Âu rộng lớn với Thái Bình Dương bao la, là giao điểm giữa các đường giao thông, giữa các kênh mua bán, trao đổi hàng hóa từ đông sang tây, từ bắc xuống nam và là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa, văn minh trên thế giới. Về hướng bắc, cả trên đất liền và trên biển, Việt Nam đều tiếp giáp Trung Quốc, thuận lợi nhất cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các tộc người thuộc hai quốc gia trong một không gian có không ít tương đồng về địa lý, lịch sử và văn hóa. Vào những năm trước Công nguyên, với sự thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, tộc người Hán đã có bước phát triển nhảy vọt về kinh tế và văn hóa. Sự phát triển nhảy vọt đó đã ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến các tộc người xung quanh, dẫn đến sự thay đổi về cả giới hạn phạm vi cư trú lẫn về dân cư trong nhiều thế kỷ. Năm 221 TCN, nhà Tần thống nhất Trung Hoa và bắt đầu tiến hành mở rộng lãnh thổ về phía nam, xâm chiếm lãnh thổ các bộ lạc Bách Việt, trong đó có Âu Lạc. Cùng với sự xâm chiếm bằng vũ lực, nhà Tần và các triều đại sau đó đều thi hành chính sách “di dân khẩn thực”, đưa hàng nghìn người thâm nhập vào vùng đất phương Nam để sinh cơ lập nghiệp, đồng thời, truyền bá tư tưởng, văn hóa phương Bắc cho người bản xứ. Năm 179 TCN, thất bại của An Dương Vương trước cuộc tấn công xâm lược của Triệu Đà đã dẫn đến sự chìm đắm cơ đồ Âu Lạc và bắt đầu giai đoạn hơn 1000 năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam. Vào năm 202 TCN, nhà Hán do 31 Lưu Bang lập ra đã kế tục và phát triển đường lối bành trướng nước lớn “bình Thiên hạ” của nhà Tần lên một trình độ mới. Sau khi chiếm được Nam Việt (bao gồm Âu Lạc) từ tay vua tôi nhà Triệu, nhà Hán chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm được theo chế độ quận huyện của chính quốc. Theo đó, cùng với sáu quận thuộc đất Trung Quốc, Âu Lạc bị chia làm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Cách cai trị của nhà Tây Hán và nhà Đông Hán buổi đầu vẫn theo phương thức thâm độc dùng người Việt trị người Việt của nhà Triệu. Hơn nữa, âm mưu đồng hóa còn được đẩy mạnh hơn trước bằng việc tăng cường quyền lực của các thái thú, thêm ngạch quan trông coi các nguồn lợi kinh tế như Diêm quan, Thiết quan, Công quan, Thủy quan... (thời Tây Hán); cho di cư nhiều dân nghèo và đày hàng loạt người tù tội từ chính quốc sang sống hỗn cư với dân Âu Lạc để đồng hóa và chế ngự dân thuộc địa theo phong hóa Hán. Trong thời Lục triều, các khu vực hành chính của Trung Quốc được chia lại, nhiều châu, quận và chức quan mới được đặt ra. Tại các đơn vị huyện, những thành quách lớn, kiên cố được xây thêm làm chỗ đóng quân; đồng thời quan lại người Trung Quốc trực tiếp cai quản, loại bỏ những tổ chức cũ có người bản xứ đảm nhiệm nhằm tăng cường việc trấn áp và khống chế chặt chẽ hơn Nhân dân bản địa, tăng cường sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Đặc biệt, thời nhà Tùy - Đường (581 - 906), cấp phủ được đặt ra, dưới phủ là châu (một phủ quản từ 10 - 12 châu), dưới châu là huyện, dưới huyện là hương và xã 32 được chia theo số hộ nhất định. Tổ chức chính quyền ngày một chặt chẽ và các chức quan đô hộ thường xuyên được thay đổi tên gọi nhằm khẳng định vai trò và tăng cường quyền lực của người đứng đầu. Chẳng hạn như quan đứng đầu phủ từ chỗ gọi là đại tổng quản đổi thành đô đốc, trong thời kỳ chiến tranh gọi là kinh lược sứ, sau này gọi là tiết độ sứ. Hệ thống thành lũy ở các trị sở, châu, huyện và hệ thống đồn binh được tăng cường, đồng thời hệ thống giao thông đi các nơi hiểm yếu cũng được chú trọng nhằm trấn áp kịp thời các cuộc nổi dậy, bảo vệ vững chắc cho nền cai trị của chính quyền đô hộ1. Cùng với các chính sách cai trị về hành chính, các triều đại phong kiến phương Bắc cũng đưa ra nhiều chính sách áp đặt về văn hóa, tư tưởng nhằm thực hiện âm mưu đồng hóa Nhân dân ta. Nho giáo buổi đầu được truyền bá vào Việt Nam cũng là nằm trong ý đồ đô hộ, đồng hóa đó của chính quyền phong kiến nhà Hán (từ năm 111 TCN đến năm 38) và các triều đại phương Bắc tiếp theo sau nhà Hán trong suốt hơn 10 thế kỷ. Như vậy, tuy Nho giáo có thể vào Việt Nam theo một cách tự nhiên thông qua sự giao lưu văn hóa giữa các nước, nhưng quá trình đó sẽ chậm chạp hơn và không đồng bộ. Thực tế lịch sử cho thấy, con đường xâm lược và những chính sách cai trị của các thế lực xâm lược đã tạo điều kiện trực tiếp và nhanh chóng cho Nho giáo du nhập Việt Nam. 1. Trương Hữu Quýnh (chủ biên): Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, t.1, tr.63-68. 33 Vào đầu thế kỷ XV, sau khi nhà Hồ sụp đổ do cuộc xâm lược của nhà Minh, Đại Việt đã rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc suốt hai thập kỷ (1407 - 1427). Sự kiện Bắc thuộc lần này, ở một phương diện nào đó, đã tạo điều kiện cho việc thâm nhập và mở mang của Nho giáo ở Việt Nam. Khi vào nước ta, quân Minh đã đổi tên nước Đại Việt thành quận Giao Chỉ, tổ chức chính quyền theo mô hình chính quốc. Chúng đặt lại các phủ, châu, huyện, tổ chức lại các làng xã ở nông thôn thành lý và giáp dựa theo số hộ, lập phường và sương ở kinh thành như cơ cấu hành chính của Trung Quốc, tăng cường bộ máy trấn áp, thiết lập mạng lưới thu thuế. Hơn thế, chúng còn thực hiện rất nhiều thủ đoạn tàn bạo nhằm nô dịch Nhân dân ta, thủ tiêu văn hóa Đại Việt. Phần lớn các sách điển chương, luật lệ cùng những tác phẩm lịch sử, văn hóa, địa lý, quân sự... của nước ta thời đó đều bị quân giặc cướp đoạt và tiêu hủy1. Đồng thời, chúng bắt Nhân dân ta phải thay đổi một số phong tục, tập quán, áp đặt Nho giáo vào xã hội Việt Nam mô phỏng theo mô hình thiên triều Trung Quốc. Chúng tăng cường hệ thống nhà trường Nho giáo ở các địa phương, phát hành rộng rãi sách vở kinh điển Nho giáo như Tứ Thư, Ngũ Kinh, Tính lý đại toàn2. Lúc này, Nho giáo được mở mang, nhà sư không còn giữ được vị trí thiêng liêng và đáng kính như trước. Sách vở, kinh điển Phật giáo chỉ lưu hành trong nhà chùa với nội dung đơn giản, mang tính chất lễ nghi. 1. Trương Hữu Quýnh (chủ biên): Đại cương lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.281. 2. Phan Đại Doãn (chủ biên): Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.20-21. 34 Khi nhà Hậu Lê khôi phục nền độc lập, những ảnh hưởng về mặt văn hóa đó vẫn còn đọng lại, thậm chí còn được bổ sung thêm, tạo ra một sự chuyển đổi mô hình thiết chế từ nền quân chủ suy tôn Phật giáo sang nền quân chủ quan liêu lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống trong xã hội. Nhìn chung, những chính sách cai trị của các thế lực xâm lược đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nho giáo du nhập Việt Nam. Bên cạnh con đường xâm lược của các triều đại phương Bắc, các yếu tố văn hóa Trung Hoa, trong đó có tư tưởng Nho giáo cũng thâm nhập vào đất phương Nam theo dấu chân của các đoàn thương gia. Ngay từ thời Âu Lạc, “việc buôn bán với nước ngoài và việc trao đổi giữa các khu vực trong nước ngày càng phồn thịnh. Cư dân nước Âu Lạc, ngoài việc đem bán ra nước ngoài một số đồ đồng, đặc biệt là trống đồng, còn đem ngọc trai, ngọc cơ, ngà voi bán ra các nước. Giai cấp phong kiến phương Bắc rất thích ngọc cơ, ngọc trai và các hương liệu của Việt Nam”1. Trong điều kiện gần gũi của sự giao thương kinh tế tự nhiên đó, sự tiếp xúc, du nhập các yếu tố văn hóa là một điều rất dễ hiểu. Vào thời Bắc thuộc, theo con đường của các đội quân xâm lược, các tầng lớp Hoa thương tràn vào đất Giao Châu nhiều hơn và bắt đầu trở thành thông lệ từ khi Triệu Đà cai trị Âu Lạc2. Dựa vào quyền uy của Triệu Đà, họ đã đi sâu vào 1. Văn Tân - Nguyễn Linh - Lê Văn Lan - Nguyễn Đổng Chi - Hoàng Hưng: Thời đại Hùng Vương, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.247. 2. Phạm Đức Dương - Châu Thị Hải: Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt - Hoa trong lịch sử, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1998, tr.18. 35 nội địa Âu Lạc và bắt đầu khám phá ra những sản phẩm quý của vùng này như quế, ngà voi, ngọc trai, xạ hương, cà cuống... có thể đem trao đổi và mang lại lợi nhuận lớn. Đồng thời, họ cũng thăm dò được các nhu cầu của vua chúa và thần dân phương Nam để mang các nhu yếu phẩm của phương Bắc vào đáp ứng những nhu cầu đó. Con đường giao lưu buôn bán được thiết lập và ngày càng phát triển. Khi người Việt giành được độc lập sau thời Bắc thuộc, biên giới quốc gia được kiểm soát nghiêm ngặt, các dòng người nhập cư và buôn bán theo đường bộ không còn dễ dàng. Tuy nhiên, với chính sách “nhu viễn nhân” (cưu mang người phương xa), các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn tiếp nhận và tạo điều kiện cho họ sinh cơ lập nghiệp. Đến thế kỷ XII, XIII, XIV, cuộc chiến giữa nội tộc Trung Hoa và ngoại bang trở nên gay gắt. Sự thay thế các triều đại từ nhà Kim (1115 - 1234), nhà Nam Tống (1127 - 1279), nhà Mông - Nguyên (1279 - 1368), nhà Minh (1368 - 1644), nhà Thanh (1644 - 1911) là nguyên nhân khiến các gia tộc và dòng họ thất thế phải di chuyển về phương Nam và vào sâu hơn tới đất Giao Châu1. Đồng thời, phát minh ra la bàn và những tiến bộ kỹ thuật ở đời Tống đã góp phần mở ra con đường giao thương trên biển và những cuộc di cư để làm giàu của người Hoa, khiến cho quá trình cộng cư và hòa nhập giữa văn hóa Trung Hoa và Việt Nam có cơ hội phát triển. Các tụ điểm buôn bán tại các vùng miền, các đô thị lớn hình thành và ngày một lớn mạnh. Cùng với sự phát triển về đời 1. Phạm Đức Dương - Châu Thị Hải: Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt - Hoa trong lịch sử, Sđd, tr.19. 36 sống kinh tế là sự nâng cao về đời sống tinh thần. Những phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được quan tâm. Từ đó, người Việt đã chủ động trong giao lưu, học hỏi những kiến thức văn hóa, tư tưởng nói chung từ các triều đại Trung Hoa, trong đó có Nho giáo. Một con đường chuyển tải văn hóa, tư tưởng phổ biến khác là con đường thông qua các sứ giả triều đình trong mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc sau thời kỳ Bắc thuộc. Trong mối quan hệ này, Việt Nam là thuộc quốc, còn Trung Quốc là thiên triều. Cứ hằng năm hoặc vài năm, Việt Nam phải có đoàn tiến cống sang Trung Quốc, còn Trung Quốc thì cử sứ giả sang Việt Nam để thừa nhận và phong vương cho các vua nước Việt mới lên ngôi hoặc để đưa ra các yêu sách khác. Trong những đợt đi lại đó, chính quyền Trung Quốc ban phát tài liệu kinh điển Nho giáo cho Việt Nam, còn người Việt Nam thì tăng cường học hỏi, tìm hiểu về Nho giáo Trung Quốc. Đây là con đường chính thức để Nho giáo có mặt và không ngừng mở mang ảnh hưởng ở Việt Nam. Tóm lại, xuất phát từ những điều kiện địa lý và lịch sử, người Việt đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với văn hóa, tư tưởng Trung Hoa, dù là tự nguyện hay bị cưỡng bức. Trên cơ sở đó, Nho giáo du nhập Việt Nam ở nhiều thời điểm, bằng nhiều con đường, kể cả chính thống và không chính thống, với nhiều nội dung truyền bá khác nhau. 2. Điều kiện chính trị Từ thế kỷ X, sau khi giành được chính quyền từ tay các thế lực xâm lược phương Bắc và thiết lập quốc gia phong kiến 37 độc lập tự chủ, giai cấp phong kiến thống trị Việt Nam đứng trước các thử thách lớn trong việc lựa chọn mô hình nhà nước để xây dựng, tìm ra cơ cấu hệ thống, phương pháp vận hành nhà nước cho phù hợp. Trong khi đó, đất nước Trung Hoa rộng lớn đã có thể tổ chức và vận hành nhà nước phong kiến trung ương tập quyền khá hiệu quả dựa vào Nho giáo. Ở Việt Nam, cùng với Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo cũng sớm được truyền bá, dần dần có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Vào Việt Nam không lâu, Đạo giáo và Phật giáo được Nhân dân ta tiếp nhận khá dễ dàng và mau chóng. Thậm chí ở Việt Nam, Phật giáo có lúc phát triển khá thịnh, được nhà nước phong kiến suy tôn, chọn làm quốc giáo. Tuy nhiên, về bản chất, Phật giáo và Đạo giáo không phải là một đạo trị nước, “cho dù bên Ấn Độ, bên Trung Quốc có những nhà sư làm quân sư đắc lực cho một số nhà vua, đó là sáng kiến của những nhà sư ấy theo tinh thần Phật giáo, chứ giáo lý Phật giáo không bàn về chính trị”1. Chỉ có Nho giáo với bản chất là một học thuyết chính trị - đạo đức mới đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu của giai cấp phong kiến thống trị. Ở góc độ là một học thuyết chính trị, với tư tưởng “thiên mệnh”, “vương quyền thần thụ”, tư tưởng “trị quốc bình thiên hạ”, Nho giáo chủ trương quyền hành phải thống nhất, tập trung vào thiên tử, bảo vệ thiên mệnh, bảo vệ sự chính thống, mà trên thực tế là bảo vệ các vương triều với quyền lợi của dòng họ 1. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.88. 38 thống trị và các địa vị tôn quý của nó. Ở góc độ là một học thuyết đạo đức, xuất phát từ học thuyết “chính danh định phận”, Nho giáo đã đưa ra học thuyết “tam cương” mà nội dung chính là yêu cầu: Thần dân đối với vua phải trung, con đối với cha mẹ phải hiếu, vợ đối với chồng phải theo đạo tòng. Tính chất tôn ty trật tự và “ngũ thường” được xem như là những chuẩn mực đạo đức cho hành vi ứng xử của con người. Do đó, Nho giáo đã tỏ ra đắc lực trong việc giúp các triều đại củng cố sự thống trị, thống nhất đất nước vào chính quyền trung ương, tăng cường trách nhiệm và lòng trung thành của người dân đối với nhà nước, vừa đồng thời là công cụ hữu hiệu để tổ chức quản lý và ổn định xã hội, gìn giữ trật tự ở gia đình, làng xã. Vì vậy, ở Việt Nam, cho dù nhà nước phong kiến có lúc coi trọng cả tam giáo - tức Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo - hay có lúc, Nho giáo ở trong tình hình yếu thế hơn so với Phật giáo và Đạo giáo, thì chức năng tổ chức, vận hành chính quyền, hỗ trợ cho triều đại phong kiến quản lý xã hội vẫn là phần việc của Nho giáo mà Đạo giáo và Phật giáo không thay thế được. Các công việc của triều đình phong kiến như: Quản lý thần dân, sắp xếp hệ thống quan lại, tổ chức thi cử để chọn người tài, ấn định nội dung giáo dục, xem xét việc tế lễ, cầu đảo... đều phải dựa vào Nho giáo. Ý thức được vai trò và ưu thế đó của Nho giáo, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tự nguyện du nhập và sử dụng Nho giáo như là công cụ thống nhất quốc gia, xây dựng và vận hành nhà nước, biến Nho giáo trở thành ý thức hệ vững chắc để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. 39 Từ thời Lê sơ cho đến thời Nguyễn, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống và được dùng làm lý luận cho việc tổ chức xã hội, tổ chức chính quyền, làm cơ sở lý luận cho luật pháp, làm phương hướng cho nội dung và tổ chức giáo dục, làm tiêu chuẩn cho các sáng tác văn học, nghệ thuật. Nho giáo đã được giai cấp thống trị sử dụng như một bệ đỡ tư tưởng cho chính quyền chuyên chế, duy trì và bảo vệ trật tự đẳng cấp của xã hội phong kiến. Điều này khiến cho sự tồn tại, thịnh suy của Nho giáo gắn liền với sự tồn tại và thịnh suy của nhà nước phong kiến tập quyền. Khi triều Nguyễn - triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam - sụp đổ thì Nho giáo, với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, cũng kết thúc vai trò lịch sử của mình, bởi Nho giáo với chế độ phong kiến Việt Nam “có sự gắn bó như bóng với hình, hết hình thì mới hết bóng”1. 3. Điều kiện kinh tế - xã hội Trong xã hội phong kiến Việt Nam, về danh nghĩa, ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, đứng đầu là vua, nhưng trên thực tế, vua giao đất cho làng xã để phân, cấp cho dân cày cấy. Làng xã vừa là đơn vị quản lý ruộng đất công, thu tô thuế nộp cho nhà nước vừa là nguồn cung cấp quan lại cho bộ máy nhà nước các cấp thông qua con đường thi cử là chủ yếu. Đây chính là cơ sở để triều đình tìm cách chi phối văn hóa, tư tưởng làng xã. Nhưng cũng chính việc nhà nước giao ruộng đất cho làng xã tự phân chia, sử dụng đã dần dần 1. Nguyễn Tài Thư: Nho học và Nho học ở Việt Nam, Nxb. Hà Nội, 1997, tr.141. 40 tạo ra tính tự trị làng xã. Người Việt tụ cư trong các làng xã với địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, lệ tục, tín ngưỡng riêng, thường có xu hướng biệt lập với các làng khác và với nhà nước phong kiến về phương diện hành chính. Vì thế, nhà nước phải tìm mọi cách để duy trì trật tự, ổn định trong từng đơn vị tụ cư đó và đưa vào quỹ đạo chung. Nho giáo là trợ thủ đắc lực cho mục đích trên, điển hình nhất là việc đưa vào hương ước các điều khoản về tôn ti trật tự Nho giáo. Làng xã là đơn vị có công điền, tuy chia cho mỗi hộ không nhiều, nhưng nó là nguồn sống của người dân, cũng vừa là để chứng minh họ là người của làng xã đó1. Nhà nước đặt ra pháp luật bảo vệ công điền, cấm chấp chiếm công điền, biến công điền thành tư điền nhưng pháp luật không cấm khai khẩn và mua bán đất hoang, nên dân thường cũng có ruộng tư, còn quý tộc, quan lại thì có ruộng đất do vua rút từ công điền ban cấp. Các ruộng hương hỏa của dòng họ cũng có tính chất nửa công điền, vì tuy là ruộng tư nhưng được bảo hộ bởi pháp luật. Như vậy, trong làng xã, với số lượng công điền và nửa công điền lớn không thể mua bán, thì sở hữu tư nhân về ruộng đất không có điều kiện phát triển. Dần dần, ruộng tư có tăng lên, còn ruộng công có xu hướng giảm, vì tuy nó được bổ sung bằng ruộng tịch thu của những người phạm tội hay bằng các công trình khai hoang của nhà nước, nhưng không đáng kể, đồng thời ruộng công còn được trích cấp cho quý tộc, quan lại, hay bán đi để làm những việc công ích. Ruộng tư tuy có tăng, nhưng chính sách của nhà nước phong kiến, 1. Theo Trần Đình Hượu: Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1996, tr.55. 41 về cơ bản, coi chế độ ruộng công là chủ yếu và bảo vệ ruộng đất vương hữu1. Sự tồn tại của chế độ công điền qua nhiều thế kỷ đã khiến người nông dân phải chịu biết bao cực khổ, bị bóc lột nặng nề bởi bộ máy của chính quyền phong kiến. Một mặt, nhà nước phong kiến chỉ quan tâm đến lợi ích của giai cấp thống trị, nên tập trung vào những chính sách bóc lột người nông dân, còn người nông dân với gánh nặng tô thuế đã không còn hứng thú, không quan tâm nhiều đến việc tăng năng suất lao động, vì năng suất lao động có tăng lên thì bóc lột lại càng nhiều thêm. Như vậy, “cả hai phía bóc lột và bị bóc lột đều không quan tâm đến đầu tư, đến cải tiến công cụ và áp dụng kỹ thuật mới”2. Mặt khác, sự tồn tại ruộng công theo từng làng xã cấp cho dân cày cấy và thu thuế khiến người dân phụ thuộc vào đó. Làng xã do đó mang tính tự trị; sản xuất nông nghiệp mang tính chất tự cấp tự túc, khép kín, sản xuất ra để tiêu dùng chứ không phải để bán. Vì vậy, người nông dân không quan tâm đến việc cải tiến chất lượng sản phẩm và kỹ thuật canh tác. Chính những điều đó là nguyên nhân khiến cho sản xuất nông nghiệp kém phát triển, kinh tế nước nhà chỉ là kinh tế tiểu nông, lạc hậu, khép kín. Ngay cả thủ công nghiệp cũng chỉ sản xuất theo nhu cầu dân làng, tiêu thụ trong phạm vi hẹp của mấy làng xã gần nhau, không được mở mang và cũng chỉ được người nông dân xem như nghề phụ. Còn thương nghiệp thì gặp nhiều khó khăn do 1. Trần Đình Hượu: Đến hiện đại từ truyền thống, Sđd, tr.56-57. 2. Vũ Khiêu (chủ biên): Nho giáo xưa và nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.237. 42 việc trao đổi, mua bán không được mở rộng, hàng hóa đã ít lại phân tán, giao thông không thuận lợi, lại chịu sự chi phối bởi chính sách “trọng nông ức thương” của nhà nước. Thương nghiệp kém phát triển nên các thành thị không trở thành trung tâm kinh tế của cả nước. Nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến, về thực chất, là một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước mang tính lạc hậu, khép kín, ổn định. Chính cơ sở kinh tế ấy khiến cho con người trong xã hội có sự cố kết với nhau hơn, gắn bó và chịu ảnh hưởng khá nhiều từ thiên nhiên, sùng bái thiên nhiên (trời, đất), tôn trọng tuổi tác và kinh nghiệm, chú trọng sự hài hòa, hòa hợp... Trong nền sản xuất tiểu nông ấy, người nông dân tiến hành canh tác với kỹ thuật thô sơ và lối làm ăn riêng lẻ. Trong gia đình, vai trò của người chủ gia đình rất được đề cao. Nền sản xuất ấy đã tồn tại trên một chế độ ruộng công, tạo ra các làng xã tự trị có tính chất như một công xã nông thôn. Quan hệ đẳng cấp của xã hội phong kiến cùng với quan hệ gia trưởng phụ quyền góp phần làm tăng thêm tôn ti trật tự của gia đình, làng xã. Từ giữa thế kỷ XIII, kết cấu giai cấp thống trị trong xã hội đã có sự thay đổi. Nếu trước đây, tầng lớp quản lý nhà nước bao gồm quý tộc, công thần, nho sĩ quan liêu, cao tăng thì từ đây, kết cấu của tầng lớp quản lý nhà nước bao gồm hai bộ phận rõ rệt: Thành phần quý tộc nắm giữ chức vụ cao nhất trong triều, có nô lệ, ruộng phong, trang ấp riêng và thành phần nho sĩ quan liêu đông đảo không phải là quý tộc, đóng vai trò thừa hành trong bộ máy quản lý nhà nước. Tóm lại, chính những chuyển biến 43 về sở hữu ruộng đất trong kinh tế và những biến đổi trong kết cấu giai cấp xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi để Nho giáo thâm nhập, tồn tại và phát triển ở Việt Nam trong suốt thời kỳ phong kiến. 4. Điều kiện văn hóa - giáo dục Sau thời Bắc thuộc, khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu ổn định và triển khai theo quy mô lớn thì yêu cầu về việc xây dựng, phát triển một nền văn hóa, giáo dục độc lập, tự chủ được đặt ra. Để nắm quyền quản lý đất nước, các triều đại Lý - Trần đã quan tâm đến việc nâng cao tri thức của người dân. Đồng thời, do yêu cầu củng cố và phát triển nhà nước phong kiến, nên việc bổ nhiệm quan lại bằng con đường cũ - con đường “nhiệm tướng” và “thủ sĩ” - không còn đáp ứng được, mà cần phải có một phương thức đào tạo và tuyển lựa quan lại mới thay thế. Điều này chỉ thực hiện được bằng việc phát triển một nền giáo dục mới, với chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài. Thực tế cho thấy, hệ thống giáo lý Phật giáo không thể đáp ứng được yêu cầu này, mà chỉ có Nho giáo với hệ thống lý thuyết đầy đủ về giáo dục và khoa cử mới có thể đảm đương được nhiệm vụ lịch sử đó. Từ đây, Nho giáo có cơ hội bám rễ sâu vào đời sống chính trị - xã hội của nước ta. Bởi lẽ, thông qua con đường phát triển của giáo dục khoa cử, Nho giáo không những tác động trực tiếp vào việc tuyển lựa nhân tài cho bộ máy nhà nước, hình thành đội ngũ trí thức của dân tộc mà nó còn tác động đến thế giới quan, đến những quy phạm chính trị và những chuẩn mực đạo đức của con người. Hơn thế nữa, nó còn dẫn đến những biến đổi căn bản 44 trong tư duy, trong sáng tác văn học, nghệ thuật và ngay cả trong nhu cầu, thị hiếu của xã hội. Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu, sau đó cho mở khoa thi Nho học đầu tiên (1075), chính thức khai sinh cho lịch sử khoa cử Nho học ở nước ta, qua đây tuyển chọn những nhân tài cho bộ máy nhà nước, nêu cao vị trí Nho học, thúc đẩy việc truyền bá và phát triển Nho học. Tuy vậy, ở thời Lý, việc học tập, thi cử chưa được tổ chức thường xuyên và chưa có quy chế rõ ràng. Đến thời Trần, do yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu tuyển lựa nhân tài để phục vụ cho bộ máy quan liêu, giáo dục Nho học được đẩy mạnh, số người tiến thân bằng con đường cử nghiệp ngày càng nhiều hơn, giới nho sĩ đông đảo hơn trước. Sau khi nắm chính quyền, nhà Trần mở các khoa thi đều đặn và thường xuyên hơn, tôn vinh những người đỗ đạt, lập thêm các trường học, đặt thêm các học quan. Việc tổ chức việc học tập ở cấp châu huyện để hằng năm tiến cử những người ưu tú cho triều đình đã phản ánh sự phát triển về quy mô đào tạo của nền giáo dục Nho học thời Trần. Càng về cuối thời Trần, vị thế của Nho giáo càng được nâng cao thông qua con đường học tập, khoa cử, tạo nên đội ngũ trí thức nho sĩ đông đảo, thúc đẩy sự phát triển của nền học vấn nước nhà. Nếu ở triều Lý và nửa đầu triều Trần, nhà nước phong kiến còn tổ chức kỳ thi tam giáo, thì đến nửa cuối triều Trần chỉ còn kỳ thi Nho học. Điều này chứng tỏ vị trí và sức ảnh hưởng của Nho giáo ngày càng tăng cao. Vào thời Lê sơ, trong công cuộc xây dựng và ổn định đất nước sau chiến tranh, hoàn thiện thể chế phong kiến 45 trung ương tập quyền chuyên chế, một mục tiêu cấp bách được đặt ra là phải sớm đào tạo được đội ngũ quan lại đông đảo từ trung ương đến địa phương, tuyển chọn được các hiền tài giúp vua trị nước. Mục tiêu này, theo các vua Lê, chỉ có thể đạt được thông qua con đường khoa cử. Bởi vậy, ngay sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã hạ lệnh dựng lại Quốc Tử Giám ở kinh đô, mở trường ở các lộ, ban chiếu “cầu hiền” và năm sau đó mở khoa thi Minh kinh ở kinh đô, cho phép mọi người có học đều được tham dự. Lê Thánh Tông khi trị vì đất nước đã cho tu sửa lại Văn Miếu, mở rộng Thái học viện, ban hành nhiều chính sách khuyến khích việc học tập, thi cử, thậm chí ra nhiều chiếu chỉ định thể lệ về khoa thi, kỳ thi, nội dung thi, trong đó lấy kiến thức Nho học làm thước đo cơ bản về tài trí, đức hạnh của sĩ tử. Những người thi đỗ được cấp lương bổng rất hậu, được giao cho các chức vụ quan trọng, được đãi ngộ lớn về tinh thần như được triều đình tổ chức treo bảng vàng, vinh quy bái tổ long trọng, lập bia đá đề danh ở Văn Miếu... Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, mặc dù xã hội loạn lạc, Nho giáo vẫn được duy trì làm nền tảng tinh thần cho nhà nước phong kiến. Dưới triều Mạc và Lê trung hưng, việc học, việc thi vẫn tiến hành liên tục, không bị gián đoạn, thậm chí “xét về phương diện khoa cử, sự nổi bật của nhà Mạc chỉ xếp sau thời Quang Thuận, Hồng Đức”1. Sau khi cướp ngôi nhà Lê (1527), nhà Mạc đã kế thừa được nhiều mặt do thời Hồng Đức xác lập, nhất là ở phương diện học thuật, tổ chức giáo dục, khoa cử, hoạch định các chính sách 1. Trần Ngọc Vương: Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr.107. 46 cai trị, quản lý xã hội theo tinh thần Nho giáo. Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng xã hội nói chung, nội dung giáo dục và chế độ thi cử Nho học ngày một suy thoái, chỉ còn bề nổi, các tệ nạn trong thi cử trở nên phổ biến. Sau khi đánh đổ nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn thực hiện nhiều chính sách thống nhất và ổn định đất nước, đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm và đào tạo nhân tài. Các vị vua nhà Nguyễn chú ý mở mang hệ thống trường học và chấn chỉnh chế độ thi cử. Hệ thống trường học được mở rộng đến tận xã, ấp, thầy dạy có thể là những người chưa đỗ đạt hoặc đã làm quan nhưng về ở ẩn... Với sự khuyến khích của nhà nước và sự trọng thị của người dân, từ trung ương đến địa phương, từ phố thị cho đến thôn xóm, việc học chữ, học đạo lý thánh hiền trở nên sôi nổi, thậm chí “đến mức so với các nước châu Âu trước cách mạng tư sản tỷ lệ người biết chữ ở Việt Nam vẫn đông hơn”1. Tuy nhiên, việc học ở thời nhà Nguyễn dần bộc lộ những hạn chế như tôn sùng kinh sách Nho học quá mức, lối học “thuật nhi bất tác” truyền thống chỉ nhằm vào khoa cử khiến cho người học trở nên lạc hậu, bảo thủ. Lúc này, Nho giáo và hệ tư tưởng phong kiến nói chung “đã trở nên lạc hậu, bất cập, không đủ sức soi sáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước, ổn định xã hội và - quan trọng hơn cả - không đủ sức có một tầm nhìn xa rộng để chuẩn bị cơ sở kinh tế - xã hội và văn hóa cho đất nước có khả năng chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây”2. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858), nền 1. Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam, Sđd, tr.242. 2. Lê Sỹ Thắng (chủ biên): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, t.2, tr.110. 47 giáo dục và thi cử Nho học đã tồn tại từ lâu trên đất nước ta cũng bắt đầu tàn lụi. Năm 1919, triều Nguyễn tổ chức khoa thi Hội cuối cùng. Với sự suy tàn của chế độ phong kiến và việc bãi bỏ giáo dục, khoa cử Nho học, Nho giáo cũng mất đi vị trí và vai trò của mình. Tóm lại, quá trình du nhập của Nho giáo gắn với những điều kiện cụ thể về nhiều mặt của nước ta, mà trước hết bắt nguồn từ mưu đồ bành trướng lãnh thổ, đồng hóa Nhân dân ta của các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược. Bên cạnh đó, sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về nền sản xuất nông nghiệp giữa Việt Nam với Trung Quốc đã tạo ra những thuận lợi trong quan hệ thương mại, bang giao giữa hai nước cũng như sự tiếp thu, học hỏi về cách thức xây dựng, quản lý nhà nước, về văn hóa - tư tưởng đối với các triều đại phong kiến Việt Nam. Sau khi người Việt giành được độc lập từ tay các thế lực phương Bắc, với nhu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến tự chủ, giai cấp cầm quyền bấy giờ đã chủ động thừa nhận ưu thế của Nho giáo trong việc quản lý xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền. Thông qua con đường giáo dục khoa cử, Nho giáo đã từng bước khẳng định vị trí của mình trên vũ đài chính trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ. Nghiên cứu lịch sử của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam có thể nhận thấy sự biến đổi không chỉ về vai trò, vị trí của Nho giáo mà còn thấy được sự khác nhau trong việc truyền bá và tiếp nhận Nho giáo ở Việt Nam qua nhiều giai đoạn. 48 Chương II CÁC GIAI ĐOẠN VÀ NHỮNG NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH DU NHẬP VIỆT NAM I. CÁC GIAI ĐOẠN TRONG QUÁ TRÌNH NHO GIÁO DU NHẬP VIỆT NAM 1. Giai đoạn đầu Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam (thời kỳ Bắc thuộc) Nho giáo được truyền vào Việt Nam lần đầu tiên là từ trước Công nguyên kể từ khi nhà Hán xâm chiếm nước ta (111 TCN). Theo các sử liệu, “việc truyền bá có nề nếp là từ thế kỷ I sau Công nguyên”1. a. Mục đích và cách thức Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam Ở Trung Quốc, từ đời nhà Hán trở đi, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị, đồng thời là công cụ để nhất thể hóa hệ tư tưởng phục tùng 1. Nguyễn Tài Thư (chủ biên): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.1, tr.80. 49 của người dân bản địa, bắt Nhân dân ta phải thần phục “thiên tử” và “thiên triều” Trung Quốc. Khi vào Việt Nam, Nho giáo đã được chính quyền phong kiến phương Bắc sử dụng như một vũ khí tinh thần lợi hại để thống trị và đồng hóa người Việt, mục đích cuối cùng là phục vụ cho sự bành trướng chính trị, biến nước ta thành nội thuộc Trung Quốc. Thời kỳ Bắc thuộc, với mưu đồ đồng hóa Nhân dân ta, biến Nhân dân ta thành nô dịch của Trung Quốc, Nho giáo được truyền vào nước ta cùng với các chính sách áp đặt Nhân dân ta về văn hóa nói chung. Sau khi xâm lược nước ta, cùng với việc chia lại đơn vị hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm được theo chế độ quận huyện của Trung Quốc, lực lượng đô hộ đã thực hiện một loạt chính sách, biện pháp nhằm đồng hóa Nhân dân ta mà theo đó Nho giáo được truyền bá vào: Thứ nhất, bắt Nhân dân ta thay đổi phong tục tập quán theo người Trung Quốc. Ngay từ khi xâm lược nước ta, chính quyền phong kiến phương Bắc đã ra sức đưa vào xã hội Việt cổ nhiều thứ lễ giáo Trung Hoa. Đặc biệt từ thời Tây Hán trở đi, chúng đẩy mạnh việc di dân Hán đến ở lẫn với người Việt, bắt Nhân dân ta phải thay đổi phong tục tập quán theo người Hán nhằm đồng hóa dân tộc ta. Các viên quan cai trị như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp... đã dùng lối sống Hoa để cải biến phong tục, tập quán sinh hoạt của người Việt; dạy cho dân Giao Chỉ đúc đồ điền khí, khai khẩn ruộng đất, cày cấy, đồng thời bắt người Việt phải theo “lễ nghĩa Trung Quốc”... từ cách ăn mặc, lấy vợ, 50 lấy chồng, chế tạo mũ, giầy1. Sách Việt Điện u linh tập chép: “Nước ta xưa có nước Việt Thường, nói thì uốn lưỡi, thân hình vẽ rồng, phong tục phác lậu, đại khái như thổ dân các châu động ngày nay. Từ khi Triệu Vũ Đế cai trị bảy quận, đem Thi, Thư giáo huấn quốc tục, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân lại đem lễ nghĩa dạy dỗ quốc dân, bởi vậy nước ta mới dần dần biết văn tự có ích cho người, lễ nghĩa quan hệ đến phong tục, cái đà văn minh cũng do đấy dần dần tiến triển. Kịp đến lúc Sĩ Phủ Quân đem sóng dư của sông Thù sông Tứ tràn dần qua Nam Hải, bàn việc trở đầu trong hội can qua, gảy đờn ca ở làng hầu hến, người nghe điếc tai vì tiếng chuông, Thanh giáo phổ cập đến đâu là đấy hấp thụ được Hoa phong”2. Cái gọi là “văn minh” hay “Hoa phong” mà trong sử sách chép khi nói đến công lao của các viên quan cai trị Trung Quốc đối với dân Giao Chỉ thực chất chính là việc Nhân dân ta bắt đầu tiếp thu từ kỹ thuật khai thác nông nghiệp theo kiểu người Hán, chế tạo mũ giày, thay đổi trang phục, cho đến phong tục cưới hỏi, đạo lý gia đình... Với tư cách là một học thuyết chính trị - đạo đức, Nho giáo bao giờ cũng đặt “giáo hóa lễ nghĩa” lên vị trí hàng đầu của chính sách quản lý xã hội. Cho nên, việc “lấy lễ nghĩa dạy dỗ quốc dân” đã cho thấy sự hiện diện và tầm ảnh hưởng của Nho giáo. Thứ hai, phổ biến tiếng Hán và chữ Hán trong Nhân dân nhằm thay đổi ngôn ngữ của người Việt. Khi bị đế chế 1. Theo Trương Hữu Quýnh (chủ biên): Đại cương lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.72. 2. Lý Tế Xuyên: Việt Điện u linh tập (Lê Hữu Mục dịch), Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960, tr.44. 51 Trung Hoa thống trị, tiếng Hán và chữ Hán đã du nhập ồ ạt vào nước ta. Tiếng Hán không chỉ được giảng dạy trong trường học bởi các nho sĩ, các quan đô hộ mà trong Nhân dân, nhiều chùa chiền cũng làm nhiệm vụ dạy chữ Hán và các nhà sư trở thành thầy giáo. Tuy lúc này, việc mở trường và dạy chữ của chính quyền phương Bắc không phải không có tác dụng tích cực nhất định đối với Nhân dân ta, nhưng mục đích bao trùm của chúng vẫn là nhằm nô dịch dân tộc ta. Với việc đưa tiếng Hán và chữ Hán vào đất nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc một mặt, muốn đơn giản hóa việc truyền bá lễ nghĩa và hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, mà thực chất là hệ tư tưởng Nho giáo, thông qua các kinh điển; mặt khác, nhằm thực hiện mưu đồ thay đổi tiếng nói và chữ viết của dân tộc ta, làm cho Nhân dân ta bị mất ngôn ngữ, dần dần trở thành người Trung Quốc. Tuy chính sách của chính quyền đô hộ Trung Quốc không thể tiêu diệt được tiếng Việt, thậm chí là không chạm đến được tầng lớp nhân dân lao động nghèo, nhưng với thời gian thống trị suốt hơn ngàn năm, những nhu cầu mới trong giao tiếp cũng như sự tác động của ngôn ngữ Hán đã làm cho tiếng Việt biến đổi và phát triển. Sự hấp thu nhiều yếu tố gốc Hán được thể hiện ngay cả trong vốn từ vị cơ bản và trong các hư từ của tiếng Việt. Đây cũng chính là một trong những nền tảng chắc chắn cho sự du nhập của hệ tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam. Thứ ba, mở trường dạy học để truyền bá Nho giáo nhằm đồng hóa dân tộc ta về tư tưởng, tinh thần. Bên cạnh việc đưa các phong tục tập quán của Trung Hoa vào Việt Nam, 52 chính quyền đô hộ đã xây dựng các trường học và coi đó như là phương tiện truyền bá Nho giáo chính thức vào nước ta. Trường học được lập ra chủ yếu tại các trung tâm châu trị, quận trị thuộc Giao Châu như Luy Lâu, Long Biên, Tư Phố, Cư Phong... với người dạy học là những người làm việc cho bộ máy chính quyền và các nho sĩ Trung Quốc được chính quyền trọng dụng. Với các trung tâm truyền bá chính thức và đội ngũ quan lại dạy học được chính quyền nâng đỡ, Nho giáo có cơ hội lớn để thâm nhập đời sống xã hội Việt lúc bấy giờ. Tuy nhiên, số người được đào tạo ban đầu chỉ nhằm để đáp ứng nhu cầu xây dựng đội ngũ quan lại hạ cấp phục vụ cho chính quyền nên còn hạn chế. Đến cuối thời Hán, Nho giáo và việc học Nho mới được phổ biến rộng rãi hơn trước trong tầng lớp quý tộc thống trị ở Giao Châu. Từ sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc khi tiếp quản cai trị nước ta cũng chăm lo mở mang trường học nhằm truyền bá ý thức hệ Nho giáo. b. Các nhà truyền bá nổi tiếng Thời kỳ Bắc thuộc, lực lượng truyền bá Nho giáo chính là các viên quan cai trị cũng như các nho sĩ của chính quyền đô hộ thuộc các triều đại phong kiến phương Bắc. Sách An Nam chí lược chép: “Tích Quang người Hán Trung, trong thời vua Bình Đế (1 - 5) làm thái thú Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy dân”; “Nhâm Diên tự là Trường Tôn, mới 12 tuổi đã thông hiểu Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, nổi tiếng trong trường Thái học, người ta gọi là “Nhâm thánh đồng”. Đầu niên hiệu Kiến Vũ (25 - 56) 53 làm thái thú quận Cửu Chân”1. Đây là những viên quan đầu tiên có công “dạy dân đúc đồ điền khí”, “dạy dân dùng cày bừa mà khai khẩn ruộng đất”2, những người đã “đem Thi, Thư giáo huấn quốc tục” “đem lễ nghĩa dạy dỗ quốc dân”3. Sau Tích Quang, Nhâm Diên, người tiếp tục truyền bá Nho giáo ở Việt Nam là thái thú Giao Châu - Sĩ Nhiếp (137 - 226). Ông được Nhân dân tôn là “Nam Giao học tổ” với công lao lớn trong việc dạy học và truyền bá lễ nghĩa cho Nhân dân ta. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Vương (tức Sĩ Nhiếp) “người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên ông là người Vấn Dương nước Lỗ, hồi loạn Vương Mãng ở Bắc triều, tránh sang ở đất Việt ta, đến Vương là sáu đời. Khi còn ít tuổi, Vương du học ở kinh đô nhà Hán, theo học Lưu Tử Kỳ người Dĩnh Xuyên, chuyên trị sách Tả thị xuân thu, có làm chú giải”4. Về tư tưởng và học thuật, Sĩ Nhiếp được coi là người có “sở trường về cái học chính thống Trung Hoa là truyền thống Nho học chuyên trọng về luân lý chính trị Vương đạo ở Kinh Thi, Kinh Thư và nhất là sách Xuân thu Tả thị, cho nên có cái học “ưu bắc hựu đạt ư tòng chính”, nghĩa là học rộng hơn người, lại còn đạt tới điểm thực hành chính sự”5. Và trong hoàn cảnh 1. Trần Ngọc Vương (chủ biên): Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX - Những vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.150. 2. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.38. 3. Lý Tế Xuyên: Việt Điện u linh tập (Lê Hữu Mục dịch), Sđd, tr.44. 4. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.1, tr.161. 5. Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, t.2, tr.73. 54 “nước ta bấy giờ thuộc Hán đã ba bốn trăm năm, phong tục cũ thì tiêu ma hồ hết mà văn hóa mới cũng mới nhiễm được những cái bì phu, chữ Hán mới học về văn tự, âm thoại mà thôi. Đến Vương mới đem kinh sách Nho truyền dạy, phổ cập đến dân gian, gây nên cái văn hiến riêng biệt lập cho đất Việt, nên dân ta mới tôn mà gọi là “Nam Giao học tổ””1. Ngô Sĩ Liên nhận định: “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao?”2. Bấy giờ, sĩ phu Trung Quốc có vài trăm người sang nương tựa cậy nhờ Sĩ Nhiếp, được Sĩ Nhiếp tạo điều kiện mở trường dạy học. Chính các nho sĩ này đã góp phần cùng Sĩ Nhiếp khuếch trương việc truyền bá Nho giáo và Hán học ở Giao Châu. Từ thời Tây Hán (206 TCN - 8) đến cuối thời Đường (618 - 906), Trung Quốc đã trải qua nhiều biến động với sự thay đổi ngôi vị của các lực lượng cầm quyền. Trong quá trình đó, nhiều nhà nho bị thất thế hoặc bị đày rồi bị phát phối3 đến nước ta, cũng có nhiều nhà nho do lo sợ thời thế đảo điên mà tìm đường sang nước ta lánh nạn. Nếu ở Trung Quốc, phần lớn họ là lực lượng đối nghịch hoặc bị coi là đối nghịch, thì khi sang nước ta, hầu hết họ đều có xu hướng hợp tác với các quan lại đô hộ trong việc truyền bá Nho giáo, văn hóa Hán. Chính bối cảnh đó đã tạo ra một 1. Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Sđd, t.2, tr.82. 2. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.2, tr.164. 3. Bị phát phối là bị áp giải đến nơi xa (do phạm tội,...). 55 không khí học thuật tự do như lời mô tả trong tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Tử: “Sau khi Linh Đế mất (năm 189), thiên hạ loạn lạc, chỉ có Giao Châu là còn hơi yên tĩnh. Nhân tài phương Bắc đều lánh về đây ở, phần nhiều theo phép thần tiên tịch cốc, trường sinh, đương thời có nhiều người theo học. Mâu Tử thường đem Ngũ kinh ra vặn vẹo họ, đạo gia, thuật sĩ không ai dám ứng đối, ví Mâu Tử với Mạnh Kha chống Dương Chu, Mặc Địch”1. 2. Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận chủ động ở Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV) a. Mục đích và cách thức du nhập của Nho giáo vào Việt Nam Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, chiến thắng của Ngô Quyền trước đội quân xâm lược nhà Nam Hán, đã mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ của nước nhà. Ngay từ buổi đầu độc lập, các triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam như Ngô, Đinh, Tiền Lê đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm, giữ vững nền độc lập, đồng thời nỗ lực để ổn định trật tự xã hội và thực hiện thống nhất nước nhà. Ở các triều đại này, về mặt tư tưởng, với ảnh hưởng từ thời Bắc thuộc, Phật giáo được tôn sùng hơn cả rồi đến Đạo giáo, còn Nho giáo thì chưa được coi trọng. Phải đến thời Lý - Trần, khi chế độ phong kiến dần đi vào ổn định và phát triển, Nho giáo mới được nhà nước phong kiến chú ý, đề cao. 1. Trần Ngọc Vương (chủ biên): Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX - Những vấn đề lý luận và lịch sử, Sđd, tr.151. 56 Từ thời nhà Lý, khi chính quyền phong kiến được xây dựng tương đối ổn định, vấn đề hình thái ý thức bắt đầu được chú trọng. Xuất phát từ nhu cầu củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự của xã hội phong kiến, nhu cầu phát triển văn hóa giáo dục, từ thời Lý - Trần, nhà nước phong kiến đã chủ động, tự nguyện tiếp nhận và sử dụng Nho giáo trong quản lý đất nước, ổn định xã hội. Do đó, nếu ở thời kỳ Bắc thuộc, lực lượng truyền bá Nho giáo chủ yếu là quan lại đô hộ và nho sĩ phương Bắc, thì ở giai đoạn này, xuất phát từ những nhu cầu xây dựng một chính thể trung ương tập quyền vững mạnh, trên cơ sở đó xây dựng một xã hội phong kiến theo một trật tự chặt chẽ từ gia tộc cho đến quốc gia, chính giai cấp quý tộc phong kiến đã chủ động tiếp thu Nho giáo thông qua quá trình giao lưu về kinh tế, văn hóa và hoạt động bang giao giữa hai nước Trung Quốc, Việt Nam. Nho giáo trong giai đoạn này được truyền vào Việt Nam chủ yếu thông qua hoạt động ngoại giao triều chính và những luồng người nhập cư. Sau khi ổn định đất nước, triều đình phong kiến Việt Nam đã bắt đầu chú ý đến việc bang giao, đặc biệt dưới thời Lý - Trần, xuất hiện nhiều hơn những chuyến đi sứ. Mục đích của các chuyến đi sứ là để tuế cống, cầu phong, mừng thọ vua, báo tang, giải quyết các tranh chấp biên giới, giải quyết hậu quả chiến tranh... Những người được cử đi sứ không chỉ là những vị quan trong triều mà còn là những người có tài năng ngoại giao, học vấn tinh thông, giỏi đối đáp. Chẳng hạn, thời Trần có Mạc Đĩnh Chi, 57 Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Mại, Phạm Sư Mạnh... Qua những chuyến bang giao, họ thường biên soạn những tập sách như Hoa trình, Sứ trình, Nhật ký... để ghi lại các thu hoạch trên đường đi sứ phương Bắc. Thông thường, sau đó cũng sẽ có sứ bộ Trung Quốc sang Việt Nam để đáp lễ. Sau mỗi chuyến đi, các sứ giả phương Bắc cũng làm thơ, viết nhật ký để lưu niệm hoặc làm quà cho bạn bè ở Trung Quốc. Có thể thấy, các chuyến đi sứ là dịp tốt để giao lưu văn hóa, tư tưởng giúp tăng thêm hiểu biết, bổ sung những kiến thức về văn hóa, tư tưởng nước ngoài bên cạnh nhiệm vụ ngoại giao. Cùng với các chuyến đi sứ, triều đình Việt Nam cũng thường xuyên xin kinh sách hoặc được tặng sách từ vương triều Trung Hoa. Theo các cứ liệu trong sử sách thì có thể đoán biết thời điểm các sách Tứ thư, Ngũ kinh truyền vào Việt Nam là khoảng thế kỷ XII, XIII. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Vào tháng 9 năm 1253, vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã “xuống chiếu vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư lục kinh”1. Như đã đề cập, kinh điển của Nho giáo trải qua một thời gian khá dài để rồi cuối cùng mới định hình thành Tứ thư, Ngũ kinh như thường gọi. Tứ thư bao gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại học. Trung dung và Đại học vốn là hai thiên trong sách Lễ ký. Người đầu tiên tách Đại học thành sách riêng biệt là Hàn Dũ và người đầu tiên tách Trung dung thành sách riêng biệt là Lý Cao. Nhưng sách Đại học, Trung dung trở thành “thư” và cùng với Dịch, Thi, Lễ, 1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.25. 58 Xuân thu trở thành Ngũ kinh, thực ra chỉ bắt đầu từ khi Chu Hy hợp nhất các sách Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung dung, Đại học rồi chú thích gọi là Tứ thư tập chú, in ấn, phát hành vào năm Quang Tông Thiệu Hưng nguyên niên Nam Tống (1190). Không chỉ du nhập vào Việt Nam bằng những con đường chính thống như đã kể trên, Nho giáo còn vào nước ta thông qua những luồng người nhập cư vì nhiều lý do khác nhau. Những luồng di cư ấy đã góp phần nuôi dưỡng, thúc đẩy, mở rộng quan hệ văn hóa giữa Nhân dân ta với Nhân dân Trung Hoa. Đây cũng là cách thức để những tư tưởng, quan niệm, lễ nghi, lối sống của người Trung Hoa ảnh hưởng đến con người Việt Nam. Cùng với các hoạt động nói trên, ở giai đoạn này, việc tiếp nhận và phổ biến Nho giáo ở Việt Nam cũng diễn ra sôi nổi: Thứ nhất, các vị vua thời Lý - Trần đã cho mở mang giáo dục Nho giáo, xem trọng khoa cử Nho học và từng bước đưa Nho giáo trở thành công cụ chính để tăng cường sự thống trị của giai cấp quý tộc phong kiến, tạo nên sức mạnh cho bộ máy nhà nước. Năm 1070, vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) đã chấp thuận việc xây Văn Miếu ngay tại kinh thành Thăng Long, cho đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối (chỉ Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của Khổng Tử được thờ phụng với thầy ở Văn Miếu), cho vẽ tượng Thất thập nhị hiền (72 học trò giỏi của Khổng Tử) để 4 mùa cúng tế. Ngay sau khi xây Văn Miếu, hoàng thái tử đã 59 đến học ở đây, mở đầu cho quá trình rèn luyện trước khi lên ngôi. Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Nho giáo đầu tiên. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại: “Mùa xuân, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học”1. Năm 1076, nhà Lý đã cho lập Quốc tử giám ở ngay tại kinh thành và “chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám”2. Từ đây, con em quý tộc họ Lý chính thức bắt đầu được đào tạo theo Nho học. Cũng từ đây, nền đại học nước ta được khai sinh. Tuy đối tượng đào tạo còn hạn hẹp, chỉ dành riêng cho con em quý tộc, nhưng sự có mặt của Quốc tử giám đã là nguồn khích lệ lớn lao đối với nền giáo dục Nho học đương thời. Năm 1156, nhà Lý cho lập miếu riêng để thờ Khổng Tử (trước đó, đầu thời nhà Lý, Văn Miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng Tử) thể hiện “khuynh hướng muốn dựng Nho giáo thành một giáo lý độc tôn, đem Khổng Tử từ bậc tử (thầy) như các chư tử lên bậc Thánh Khổng vậy” 23. Với việc tổ chức khoa cử, nhà Lý đã mở đầu cho lịch sử khoa cử Việt Nam kéo dài hơn 800 năm, qua đó tuyển chọn những nhân tài Nho học, đề cao vị trí Nho học, thúc đẩy việc truyền bá và phát triển Nho học. Việc xây dựng, tu tạo Văn Miếu của nhà Lý về sau cũng dẫn đến việc Nho học được tôn giáo hóa, Khổng Tử được thần thánh hóa ở Việt Nam. Tất cả những điều đó đã khẳng định sự thừa nhận, sử dụng 1, 2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.277, 280. 3. Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, t.3, tr.158. 60 và trân trọng đối với Nho giáo của nhà nước phong kiến Đại Việt. Đến thời Trần, do yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu tuyển lựa nhân tài để phục vụ cho bộ máy quan liêu, giáo dục Nho học được đẩy mạnh, số người tiến thân bằng con đường cử nghiệp ngày càng nhiều hơn, giới nho sĩ đông đảo hơn trước. Trên cơ sở Quốc tử giám được lập từ đời Lý, nhà Trần lập ra các trường Quốc tử viện, Quốc học viện, Thái học, Nhất toát trai, Tư thiện đường, Thiên trường phủ học, Lạn Kha thư viện,... để củng cố việc học và mở rộng đối tượng học tập. Năm 1236, nhà Trần đặt chức Thượng thư tri Quốc tử viện, đưa con em văn thần và tụng thần (chức quan tư pháp) vào học. Năm 1253, nhà nước cho lập Quốc học viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Á Thánh (Mạnh Tử), vẽ tranh 72 học trò xuất sắc của Khổng Tử để thờ, và còn “xuống chiếu vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư lục kinh”1. Năm 1272, vua Trần Thánh Tông “xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm tư nghiệp Quốc tử giám, tìm người có thể giảng bàn ý nghĩa của Tứ thư, Ngũ kinh sung vào hầu nơi vua đọc sách”2. Về khoa cử, năm 1232, nhà Trần đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta - học vị thái học sinh, thuộc hàng cao nhất (sau đổi thành tiến sĩ). Các kỳ thi thái học sinh được tổ chức quy củ và thường xuyên, bảy năm một kỳ. Nội dung và quy chế thi được quy định chặt chẽ. 1, 2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.39, 25. 61 Năm 1304, thi giữa các kẻ sĩ trong nước, có tất cả 44 người đỗ thái học sinh và lần đầu tiên triều đình phong kiến đã tôn vinh cả về mặt học vấn lẫn về mặt danh dự cho những thí sinh trúng tuyển với việc cho “dẫn 3 người đỗ đầu ra cửa Long Môn của Phượng Thành đi du ngoạn đường phố 3 ngày”1. Thứ hai, cùng với sự mở rộng và vị thế ngày càng tăng của các nho sĩ, Nho giáo được phổ biến và ngày càng gây ảnh hưởng trong xã hội. Cùng với sự phát triển của khoa cử, một tầng lớp trí thức mới được đào tạo theo ý thức hệ Nho giáo bắt đầu xuất hiện - tầng lớp nho sĩ. Tầng lớp này ra đời do nhu cầu phát triển của chế độ trung ương tập quyền và sự tồn tại, phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của Nho giáo, Nho học ở Việt Nam. Tầng lớp nho sĩ ở thời nhà Lý còn ít, nhưng sang thời Trần ngày một đông và tích cực tham gia các công việc chính trị của đất nước, phấn đấu cho lý tưởng của Nho giáo, phát triển những quan điểm về các mặt chính trị, xã hội, đạo đức, làm cho sinh hoạt tư tưởng và văn hóa nước nhà náo nhiệt hơn. Họ dần dần “có đủ uy lực chẳng những để dám công khai phản đối một số đặc quyền đặc lợi của quý tộc, mà còn công khai tiến công vào Phật giáo lúc Phật giáo còn là tôn giáo của nhà vua”2. Trong khi công kích, bài xích Phật giáo, các nho sĩ nhà Trần cũng đề cao Nho giáo, giành lấy trận địa tư tưởng cho Nho giáo. Trương Hán Siêu cho rằng: 1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.88. 2. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Sđd, tr.69. 62 “Ngày nay thánh hiền muốn mở mang giáo hóa để sửa đổi phong tục đồi bại. Dị đoan đáng phải truất bỏ, chính đạo phải được phục hưng. Đã là kẻ sĩ đại phu, không phải đạo Nghiêu Thuấn không bày tỏ trước vua; không phải đạo Khổng - Mạnh không trước thuật”1. Đặc biệt, trong khi phê phán Phật giáo, Lê Văn Hưu còn đề cao Nho giáo như là cơ sở lý luận cho mọi hoạt động chính trị của triều đình: “Những việc trù tính trong cửa tướng, quyết thắng ngoài nghìn dặm, đều là công của bậc tướng giỏi cầm quân nơi chiến trận. Thái phó Lý Công Bình phá được quân Chân Lạp vào cướp châu Nghệ An, sai người báo tin thắng trận. Đáng lẽ Lý Thần Tông phải làm lễ cáo tiệp ở Thái Miếu, bàn công ở triều đình, khen thưởng công dẹp giặc cho bọn Lý Công Bình mới phải. Nay lại quy công cho Phật, Đạo, đến khắp các chùa và các quán lễ tạ, như thế, không phải là cách uý lạo kẻ có công, cổ lệ chí khí quân lính”2. Cuộc đấu tranh công kích Phật giáo một mặt báo hiệu sự sa sút của Phật giáo, mặt khác nhằm tuyên truyền cho tư tưởng Nho giáo, khẳng định địa vị Nho giáo trong đời sống văn hóa - tư tưởng, vừa được coi là cuộc đấu tranh nhằm chuẩn bị về mặt lực lượng xã hội và tư tưởng cho tầng lớp nho sĩ bước lên vũ đài chính trị. Thứ ba, sự du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam giai đoạn này còn thông qua đóng góp của các tăng sĩ - những người có ảnh hưởng lớn trong triều đình và xã hội bấy giờ. Tuy Phật giáo vào cuối thời Trần dường như 1, 2. Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, t.2, tr.749, 378. 63 yếu thế so với Nho giáo, nhưng nhìn chung, trong thời kỳ này, ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn rất mờ nhạt so với Phật giáo, Đạo giáo. Lúc bấy giờ, khi Nho học còn chưa phát triển, “kẻ học thức, thông Hán văn, có tư tưởng hệ thống không phải do cái lò khoa cử xuất ra, mà nơi chùa chiền thôn dã, như trường hợp Đinh Tiên Hoàng đã gặp được nhà sư thầy ở chùa Giao Thủy bảo cho biết vận mệnh thiên tử khi còn là anh đánh cá vào ngủ nhờ trong chùa”1. Lúc này, ảnh hưởng của các tăng sĩ, đạo sĩ trong triều đình và xã hội là rất lớn; đồng thời, các tăng sĩ, đạo sĩ cũng chính là những người có kiến thức uyên bác, thông hiểu Hán học, có nhiều cơ hội tiếp xúc với kinh điển Trung Hoa và văn hóa Hán hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua nhiều hoạt động, hoạt động học thuật, ngoại giao triều chính và giao thương buôn bán thường ngày. Xuất phát từ việc “kinh điển Phật ở Việt Nam đều dịch ra Hán văn cho nên muốn học Phật kinh phải giỏi chữ Hán. Bởi thế cho nên trước khi học Phật điển, các tăng sĩ đã từng biết ít nhiều về kinh sách Nho hay Đạo cùng chư tử. Do đấy mà các thiền sư phần lớn tinh thông cả ba truyền thống tư tưởng Tam giáo: Nho, Đạo, Thích”2. Chính vì vậy, “các chùa thời bấy giờ không những là nơi thờ tự mà còn là trường dạy học như người các nơi đến học thầy Pháp Hiền có khóa đến 300 người”3. Với sự góp mặt của các nhà sư, đệ tử Phật gia, Nho giáo thời kỳ này bắt đầu có nhiều chuyển biến. 1, 2, 3. Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Sđd, t.2, tr.357. 64 b. Những nhà tư tưởng tiêu biểu Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nho giáo sau khi du nhập vào Việt Nam đã khẳng định được ảnh hưởng trong lĩnh vực giáo dục. Khác hẳn với nền giáo dục trước đây, nền giáo dục Nho học đã tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ trí thức dân tộc và lựa chọn những người hiền tài phục vụ trong bộ máy của nhà nước. Ngô Thì Sĩ đã viết: “Vua lập ra nhà học, tôn chuộng nghề văn, dựng lên ngôi nhà giảng tập nghề võ, cả văn lẫn võ có vẻ rực rỡ lắm, cho nên các ông Hán Siêu, Trung Ngạn, Nhật Duật, Ngũ Lão nối nhau xuất hiện, Văn Trinh và Hưng Đạo là bậc danh Nho danh tướng lừng lẫy thời bấy giờ, là kết quả của sự chuộng văn võ đó”1. Dưới thời Lý - Trần, đặc biệt là càng về cuối triều Trần, tầng lớp nho sĩ càng tăng, giữ các chức vụ cao trong triều đình và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển nền văn hóa dân tộc. Trước hết, có thể kể đến Lê Văn Hưu (1230 - 1322), Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370), Trương Hán Siêu (? - 1354). Họ đều là những người theo học đạo Nho, làm quan dưới triều Trần, giỏi về văn chương, chính sự và có đóng góp lớn trong việc biên soạn các công trình lịch sử, luật lệ. Bộ Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu, bộ Thực lục của Nguyễn Trung Ngạn, bộ Hoàng triều đại điển và bộ Hình thư (dưới triều vua Dụ Tông) do Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu cùng khảo soạn chính là những tác phẩm nổi bật, thể hiện tài năng, công sức và tầm ảnh hưởng của các ông trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. 1. Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Sđd, t.2, tr.409. 65 Trong số những danh nho thời kỳ này, không thể không nhắc tới Chu Văn An (1292 - 1370). Ông từng giữ chức tư nghiệp Quốc tử giám, dạy học cho thái tử. Sau khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) đã truy tặng tước văn trinh công, ban cho tòng tự ở Văn Miếu1. Là một nhà nho xuất sắc, Chu Văn An quan niệm rằng, mục đích của người học đạo Nho là “Thành kỷ sở dĩ thành nhân, trạch cập sinh dân ân lưu hậu thế, giai ngô Nho phận sự”, nghĩa là phận sự của nho sĩ là học cho nên người, giúp đời, phụng sự quốc gia dân tộc, chứ không phải giải thoát tự do cho cá nhân, hay là để hợp vào thiên mệnh vũ trụ ngoài chế độ nhân sinh hành vi2. Bản thân ông là người nổi tiếng cương trực, nghiêm khắc, đạo cao, đức trọng, giữ vững tiết tháo, không cầu danh lợi, được thời ấy suy tôn, đời sau ngưỡng mộ. Khi ông làm chức tư nghiệp, Trần Nguyên Đán có bài thơ được dịch ra là: “Làm quay trở lại làn sóng của bể học để phong tục lại thuần hậu. Nhà quốc học được ông làm bậc thầy như núi Thái Sơn, như sao Bắc Đẩu. Học rộng khắp cả kinh sử là công phu lớn của ông; Kính người già, chuộng đạo nho là chính hóa mới của nhà vua. Ngày mà người mang bít tất vải, dép cỏ về với nhà Hán; Lúc mà bậc tuổi già tắm cái đạo đức của Khổng Tử ở sông Nghi. Nghiêu Thuấn chỉ là rủ áo để trị thiên hạ. Khó bắt được Sào Phủ, Hứa Do làm bề tôi cho mình”3. Phan Huy Chú 1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.151. 2. Theo Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, t.4, tr.362. 3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nhân vật chí, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr.335-336. 66 nhận định: “Tìm trong làng nho ở nước Việt ta, từ trước đến nay chỉ có mình ông, các ông khác thực không thể so sánh được”1. Tác phẩm của ông gồm có: Thất trảm sớ, Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước (nay đã thất truyền). Trong số những học trò của Chu Văn An thì Lê Quát, người làng Phủ Lý, Đông Sơn (Thanh Hóa) và Phạm Sư Mạnh, người Giáp Thạch, Giáp Sơn (Hải Dương) là những người được đời sau đánh giá cao về tài năng, nhân cách và sức ảnh hưởng trong triều đình. Nếu Phạm Sư Mạnh “có tài khí hùng hồn hơn người, nguồn thơ lai láng, đi khắp muôn dặm non sông, đến đâu cũng ngâm khắc để lại, lại đều hào hùng thanh thoát đáng đọc”2 thì Lê Quát được xem là người cứng cỏi, quả quyết, “chuộng chính học bài dị đoan”3. Vào cuối triều Trần, khi Nho học mở mang, uy thế của giới nho sĩ ngày một lớn mạnh, Lê Quát cùng nhiều nhà nho khác đã bài xích Phật giáo, công kích các nhà sư, tạo ra ảnh hưởng lớn “không chỉ ở trung ương mà cả ở cơ sở, ở những làng xã cho đến đây vẫn được xây dựng chủ yếu theo mô hình lấy ngôi chùa làm trung tâm”4. Những áng văn thơ của các ông còn để lại chủ yếu được chép trong Toàn Việt thi lục. Bên cạnh thầy trò Chu Văn An, nhiều nhà nho như Đoàn Nhữ Hài, Trần Nguyên Đán, Hồ Tông Thốc... là những người được các vị vua Trần ca ngợi và trọng dụng vì tài năng, bản lĩnh và đức độ. Năm 20 tuổi, Đoàn Nhữ Hài (1280 - 1335) đã được phong làm ngự sử trung tán 1, 2, 3, 4. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nhân vật chí, Sđd, tr.336, 88-89, 87, 77-78. 67 và sau đó được giao nhiều chức vụ quan trọng, theo vua đóng góp mưu lược trong nhiều trận đánh, sau này được truy phong làm thượng đẳng phúc thần, có đến 84 xã ở huyện nơi ông sống và huyện khác thờ ông1. Còn Trần Nguyên Đán (1325 - 1390) hiệu là Băng Hồ, làm chức tư đồ phụ chính dưới thời Nghệ Tông và trông coi việc quân dưới triều Duệ Tông, sau này ông cáo lão về quê vì thấy những chuyện lộng quyền của Hồ Quý Ly. Nhưng ông vẫn thể hiện tấm lòng lo cho nước cho vua qua những bài thơ do ông viết trong Băng Hồ Ngọc Hác văn tập2. Ngoài ra, ông còn có tác phẩm Bách thế thông khảo. Cuối đời Trần, Hồ Tông Thốc - người từng làm quan tới chức thẩm hình viện sự, hàn lâm học sĩ cũng đã để lại nhiều công trình về lịch sử, địa lý... như Việt sử cương mục, Việt thế chí và Du Đông Đình Họa Nhị Khê nguyên vận23. Bên cạnh những danh nho tiêu biểu đã kể trên thì những danh tướng như Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư... đều là những người có tiếng tài giỏi mưu lược, lại vừa học rộng, tinh thông sử sách. Trong số đó, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (? - 1300) là người anh hùng dân tộc đã có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Tác phẩm nổi bật của ông gồm có: Binh gia 1, 2. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nhân vật chí, Sđd, tr.89-91, 94-95. 3. Theo Nguyễn Khắc Thuần: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, t.3, tr.86. 68 diệu lý yếu lược (Binh thư yếu lược), Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ), Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Trong đó, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư bàn về nghệ thuật quân sự, còn Hịch tướng sĩ là bài hịch khuyên răn tướng sĩ học tập, rèn luyện võ nghệ và trận pháp, khích lệ lòng yêu nước của quân, dân Đại Việt. Qua các tác phẩm đó có thể thấy được trí tuệ, tài năng và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng của Trần Quốc Tuấn, đồng thời cũng cho thấy sự tiếp thu Nho giáo đầy tính nhân bản, tinh thần dân tộc, gắn với thực tiễn đấu tranh bảo vệ đất nước. 3. Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận làm hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX) Giai đoạn này tương ứng với những biến đổi về lịch sử, văn hóa, xã hội diễn ra từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX ở Việt Nam, từ triều đại Lê sơ đến triều đại nhà Nguyễn. a. Mục đích và cách thức du nhập của Nho giáo vào Việt Nam Sau khi người Việt giành được quyền độc lập tự chủ từ tay các thế lực phương Bắc, việc xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến tập quyền trung ương trở thành một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Giai cấp thống trị nước ta trong quá trình thi hành các biện pháp chính trị để ổn định trật tự và cải tạo xã hội đã nhận thức sâu sắc lễ giáo cương thường mà học thuyết Nho gia xem là công cụ đắc lực nhất phục vụ cho chế độ phong kiến. Do đó, cùng với 69 việc sùng Phật, giai cấp thống trị bắt đầu coi trọng Nho giáo. Từ nửa cuối thế kỷ XV, thể chế chính trị quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mang tính quan liêu của Đại Việt đã trở nên chuẩn mực trên cả ba lĩnh vực: Quan chế, luật pháp, hệ tư tưởng. Diện mạo chính trị, văn hóa của Đại Việt biến đổi mạnh mẽ với cuộc xếp đặt về mặt hành chính và lễ nhạc lớn nhất từ trước cho đến lúc đó. Chính sách nhân trị cùng sự đa nguyên về tư tưởng (tam giáo đồng nguyên) của nhà Lý - Trần trước đây giờ được thay bằng một nền pháp trị nghiêm chặt dưới bệ đỡ duy nhất là Nho giáo. Như vậy, từ khi nhà Lê sơ lên nắm chính quyền, cùng với việc mô phỏng và kế thừa toàn bộ bộ máy thống trị và điển chương của chế độ phong kiến Trung Quốc, nhà nước phong kiến Đại Việt đã đẩy mạnh Nho học từ trên xuống dưới, đưa Nho học trở thành “quốc học”, lấy tư tưởng Nho gia làm “quốc giáo”, xem đó như cơ sở lý luận để định hướng xây dựng đất nước. Cũng bắt đầu từ đây, giai cấp thống trị dùng tư tưởng tông pháp “tam cương ngũ thường” để chuẩn mực hóa kỷ cương triều đình và trật tự xã hội, lấy đạo đức luân lý Nho gia giáo hóa muôn dân; coi trọng việc dùng học thuyết Nho giáo để bồi dưỡng và tuyển chọn nhân tài; không ngừng đẩy mạnh xây dựng, củng cố và tăng cường chế độ tập quyền phong kiến trung ương. Triều đình bắt đầu can thiệp sâu vào hệ thống cộng đồng các làng xã, chia ruộng công định kỳ theo phép quân điền, tuyển lựa các xã trưởng trong giới nho sinh, đưa các chuẩn mực đạo đức Nho giáo vào trong đời sống dân chúng. Bằng cách đó, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống, là 70 bệ đỡ tư tưởng cho chế độ nhà nước phong kiến quan liêu, đồng thời là công cụ ổn định xã hội, từng bước thấm sâu vào các thiết chế làng xã và gia đình ở Việt Nam. Ngoài ra, với việc mở mang giao thương thông qua con đường biển cũng như việc phát triển kỹ thuật, từ thời Tống trở đi, Nho giáo và các yếu tố văn hóa Trung Hoa có cơ hội xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam. Người Việt không chỉ tiếp thu Nho giáo qua những sự tiếp xúc giao thương tản mạn, qua hoạt động đối ngoại triều chính không liên tục, mà còn tìm tòi, học hỏi kinh sách một cách có hệ thống và trực tiếp với người Trung Quốc thông qua những chủ trương du nhập Nho giáo của triều đình phong kiến nước nhà. Như vậy, Nho giáo ở Việt Nam thời kỳ này đã được chính quyền phong kiến Việt Nam tiếp nhận mạnh mẽ hơn, đồng thời tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm phổ biến Nho giáo trong Nhân dân, làm cho nó trở thành hệ tư tưởng chi phối sâu sắc mọi mặt xã hội. Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, trong nước, cục diện Trịnh - Nguyễn phân tranh, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi khiến nước nhà lâm vào tình cảnh loạn lạc. Ở Trung Quốc, nhà Minh sụp đổ, nhà Thanh thay thế nhà Minh lên nắm chính quyền đã thi hành nhiều chính sách nhằm duy trì nền thống trị của mình, trong đó có các chính sách thu hút nhiều trí thức Hán tộc vào bộ máy quan lại, đề cao Nho học. Sự phát triển mới mẻ trong phong trào học thuật Nho học của nhà Thanh cùng với sự phát triển của kinh tế đô thị, hàng hóa cuối thế kỷ XVII, của thương nghiệp và thương nhân đã thúc đẩy cho sự thâm nhập 71 của văn hóa và học thuật Minh - Thanh vào Việt Nam với nhiều đặc điểm mới qua sự thâm nhập của thư tịch, qua sự tiếp xúc của các nhà nho. Nho giáo trong giai đoạn này được truyền bá vào nước ta thông qua nhiều hình thức như: Hoạt động chính trị, ngoại giao giữa hai nước, trao đổi ấn phẩm và sự tiếp xúc giữa những người di cư và dân bản địa. Về mặt chính trị, nhà Minh trong quá trình xâm lược nước ta đã tìm mọi cách truyền bá và phổ cập Tống Nho vào Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Kỷ Hợi (1419). Mùa xuân, tháng hai, nhà Minh sai giám sinh Đường Nghĩa sang ban các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý đại toàn, Vi thiện âm chất, Hiếu thuận sự thực cho Nho học các phủ, châu, huyện”1. Sau khi Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được chú trọng hơn, nhiều đoàn sứ giả được triều đình phái đi. Vào giữa thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã cử mấy phái đoàn sang Trung Quốc để xin sách Đại toàn về truyền bá. Sách Đại toàn hay còn gọi là Ngũ kinh đại toàn được nhà Minh tập hợp các chú thích trong các tác phẩm được coi là chính thống của Trình Chu và in thành sách vào năm 1414. Mối quan hệ hòa hảo này trở thành cơ sở cho việc truyền bá các yếu tố văn hóa, tư tưởng Trung Quốc vào Việt Nam. Đặc biệt từ giữa thế kỷ XVII, quan hệ giữa hai nước có những chuyển biến mới: Chúa Trịnh phải quan hệ tốt với Trung Quốc để dẹp tàn dư nhà Mạc lưu vong ở Trung Quốc và giữ yên đất nước; triều Thanh - một triều đại 1. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.2, tr.242. 72 không chính thống Hoa Hạ, bị người Hán cho là ngoại tộc cũng cần các nước lân bang trong đó có Việt Nam ủng hộ, liên kết trong việc dẹp dư đảng của những cựu thần nhà Minh nổi dậy bài Thanh phục Minh đang hoạt động ở vùng biên giới. Bối cảnh đó làm cho bang giao hai nước ngày càng gần gũi, thuận lợi, những chuyến đi sứ diễn ra thường xuyên hơn. Những vị làm chánh sứ, phó sứ hầu hết là những nhà nho có tên tuổi, nhà tư tưởng, nhà ngoại giao xuất sắc như Phùng Khắc Khoan, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Kiều, Nguyễn Tông Khuê, Đinh Nho Hoàn, Nguyễn Công Hãng, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Đề, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn Siêu, Đặng Huy Trứ, Lý Văn Phức, Nguyễn Tư Giản... Trong những chuyến đi sứ, các sứ thần Việt Nam đã học hỏi được nhiều nét văn hóa, tiếp thu được những tinh hoa tư tưởng, trong đó có tư tưởng Nho giáo. Những ghi nhận từ quá trình này là tư liệu để hình thành những tập sách như Bắc sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn; Yên thiều thi văn tập, Yên thiều bút lục của Nguyễn Tư Giản; Phạm Ngư Đường Bắc sà nhật ký, Bắc Minh sồ vũ ngẫu lục của Phạm Hy Lượng... Những kiến thức có được từ những chuyến đi sứ là vô cùng phong phú. Như lời của Lê Quý Đôn thì: “Ở Trung Quốc, sách vở không sao kể xiết, những ghi chép nhiều mà không truyền bá hết, thành ra mỗi lần xem một loại sách, chỉ có thể biết được đại khái mà thôi”1. Trong 1. Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. Văn hóa - thông tin, Hà Nội, 2007, tr.10. 73 giai đoạn này, những chuyến đi sứ thường có liên quan đến việc mang sách Trung Quốc về nước. Chuyến đi năm 1723 của Phạm Khiêm Ích mang về được nhiều sách, trong đó có bộ Uyên giám loại hàm (sách do nhóm Trương Anh biên soạn, hoàn thành năm 1710, đời Thanh - Khang Hy, gồm 450 quyển, phân làm 43 bộ, 2.536 mục nhỏ, thuộc loại bách khoa). Các sứ giả Việt Nam hầu như ai cũng có ý định mua sách mang về nước, dù không phải sách nào cũng được Trung Quốc cho mang về. Trong số các sách mang về có nhiều sách được viết đầu đời Thanh, một số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả như Nhật tri lục của Cố Viêm Võ, Thư kinh trung luận của Trương Anh1. Những sách mua về này, một mặt đáp ứng được nhu cầu và sở thích của người lựa chọn và của các nho sĩ; mặt khác, cũng tạo điều kiện cho những tiếp xúc học thuật mang tính đương đại. Nhờ đó, các nho sĩ Việt Nam biết được những vấn đề học thuật đang diễn ra ở Trung Quốc, trực tiếp hay gián tiếp chịu ảnh hưởng của Nho học Minh - Thanh. Ngoài con đường du nhập Việt Nam thông qua sách vở, tri thức từ những chuyến đi sứ, thì tư tưởng, văn hóa Trung Hoa còn được truyền vào Việt Nam thông qua những luồng người di cư. Những người di cư đó có thể là những người buôn bán, hoặc tị nạn. Trong đó, hai đợt di cư lớn nhất là vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Đợt di cư lớn thứ nhất là vào năm 1679, khi nhà Minh mất vào tay nhà Thanh. Một số tướng lĩnh nhà Minh như 1. Theo Lê Quý Đôn: Kinh Thư diễn nghĩa, Ngô Thế Long - Trần Văn Quyền dịch, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.108. 74 Dương Ngạn Địch - nguyên Tổng binh trấn thủ đất Long Môn (thuộc Quảng Tây) cùng Phó tướng Hoàng Tiến; Trần Thượng Xuyên - nguyên Tổng binh châu Cao, châu Lôi và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) cùng Phó tướng Trần An Bình vì không chịu thần phục vương triều mới, đã đem 3.000 quân cùng với 50 chiếc thuyền sang xin “làm dân An Nam”. Chúa Hiền nhân khi đang đẩy mạnh công cuộc khai khẩn vùng đất phía Nam, đã cho phép họ cư ngụ tại Đông Phố (Gia Định). Họ chia nhau đến các vùng Lộc Dã (Đồng Nai) để khai khẩn làm ăn, có người Nhật, người Chà Và, người phương Tây đến buôn bán1. Trước đó, vào năm 1628, theo Lê Quý Đôn, trong Kiến văn tiểu lục, có 43 cựu thần nhà Minh chạy sang xin lánh nạn ở Đàng Ngoài. Đợt di cư lớn thứ hai là việc xin nhập tịch của Mạc Cửu, người Quảng Đông. Vì chán ghét cảnh ngoại tộc vào cai trị Trung Hoa, Mạc Cửu đã bỏ quê hương sang Việt Nam. Thấy ở phủ Sài Mạt của ta hồi này có nhiều thương khách nước ngoài tới buôn bán, ông bèn mở sòng đánh bạc, lấy tiền chiêu nạp lưu dân, lập ra 7 xã. Vùng đất đó sau thành đất Hà Tiên. Năm 1708, Mạc Cửu xin nhập tịch chính quyền Đàng Trong, được chúa Nguyễn chấp nhận và phong làm Tổng binh để trông coi vùng đất do ông cùng người Việt tại đây khai khẩn. Khi Mạc Cửu mất, chúa Nguyễn lại phong cho con là Mạc Thiên Tích thay cha trấn giữ đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích đã xây đắp thành lũy, làm đường, rước thầy về dạy Nho học, chung sức củng cố một vùng đất 1. Theo Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Sđd, tr.319-320. 75 biên cương của nước Việt1. Chính những luồng người nhập cư đông đảo như vậy đã góp phần mạnh mẽ vào việc truyền bá văn hóa Trung Hoa nói chung, Nho giáo nói riêng vào Việt Nam. Quá trình Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam nói trên cũng diễn ra song hành với quá trình tiếp nhận Nho giáo ở Việt Nam thông qua nhiều biện pháp, cách thức khác nhau: Thứ nhất, giai cấp thống trị phong kiến Việt Nam hết sức chú trọng mở mang giáo dục và khoa cử Nho học. Vào năm 1428, sau khi lên ngôi, Lê Lợi đã hạ lệnh dựng lại Quốc tử giám ở kinh đô, mở trường ở các lộ, ban chiếu “cầu hiền” và năm sau đó mở khoa thi Minh kinh bác học ở kinh đô, cho phép mọi người có học đều được tham dự. Lê Thánh Tông khi trị vì đất nước đã cho xây dựng lại Văn Miếu, mở rộng Thái học viện, có nhiều chính sách khuyến khích việc học tập thi cử. Từ thời Lê cho đến thời Nguyễn, dù xã hội có nhiều biến động, triều đình vẫn duy trì và mở mang việc giáo dục, khoa cử Nho học. Thế kỷ XIX, ngay khi lên ngôi, vua Gia Long (1802 - 1820) đã đưa ra các quy định về nội dung học tập theo chương trình Nho giáo cho các lứa tuổi, ban hành các quy chế thi hương, nhanh chóng thiết lập kỷ cương cho trường thi, theo đó, các tệ nạn mua bán học vị và gian lận trong thi cử đều bị phạt tội rất nặng2. 1. Theo Trần Ngọc Vương (chủ biên): Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX - Những vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.172. 2. Nguyễn Khắc Thuần: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Sđd, t.3, tr.157. 76 Các vị vua như Minh Mệnh (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) đến Tự Đức (1848 - 1883) đều là những ông vua rất sùng kính Nho giáo, đã tự mình ra đề thi cho các kỳ thi hội và thi đình mà nội dung là hỏi về đường lối cũng như những khái niệm của Nho giáo. Bên cạnh đó, nhà Nguyễn còn cho lập Quốc tử giám tại Huế (1803) để làm nơi học tập của con em nhà tôn thất và là nơi gặp gỡ của các tao nhân mặc khách, là nơi tổ chức những buổi giảng tập đặc biệt. Tuy rằng, đối tượng tới đây học còn hạn hẹp, nhưng “ảnh hưởng của Quốc tử giám đối với toàn bộ quá trình truyền bá và chấn hưng Nho giáo ở nước ta lúc này lại rất lớn lao. Vai trò khích lệ việc học của Quốc tử giám đối với đất kinh sư nói riêng và cả nước nói chung cũng rất lớn”1. Vua Gia Long từng nói với quần thần rằng: “Nhà trường là nơi cất chứa người tài. Trẫm muốn theo phép cổ nhân, đặt nhà học để nuôi dưỡng, làm văn phong dấy lên, hiền tài cùng hưng phát cho nhà nước sử dụng” (Đại Nam thực lục chính biên). Bên cạnh Quốc tử giám, nhà Nguyễn còn cho xây cất Quốc sử quán - cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức, biên soạn, lưu trữ tài liệu sử sách của nước nhà. Với số quan lại làm việc đông đảo, Quốc sử quán triều Nguyễn đã hoạt động khá hiệu quả trong việc tổ chức sưu tầm sách vở trên phạm vi cả nước; san định, khắc in một số thư tịch cổ, góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn di sản văn hóa của triều đại trước. Những hoạt động của Quốc sử quán đã tạo nên bầu khí trọng quốc sử, đồng thời, góp phần không nhỏ vào việc khích lệ các thế hệ nho sĩ tham gia hoạt động 1. Nguyễn Khắc Thuần: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Sđd, t.3, tr.163. 77 biên soạn sách với nhiều quy mô và đặc trưng khác nhau. Thông qua việc tái thiết, không ngừng tăng cường hoạt động của Quốc tử giám và Quốc sử quán, nhà Nguyễn đã từng bước vực dậy Nho giáo. Từ đây, “những trang đổ nát thảm hại của lịch sử Nho giáo dần khép lại. Những trang đầy sinh khí của Nho giáo cũng dần dần được mở ra. Một lần nữa, Nho giáo trở lại với vị trí độc tôn trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nước nhà”1. Dưới thời Nguyễn, các tác phẩm kinh điển Nho giáo dùng làm sách giáo khoa học tập trong toàn quốc được ấn hành với số lượng lớn và được phổ biến rộng rãi. Đó là Tứ thư, Thư kinh, Xuân thu, Dịch kinh, Hiếu kinh. Để đáp ứng yêu cầu học tập Nho học của mọi tầng lớp trong xã hội, triều đình nhà Nguyễn cho khắc in nhiều sách kinh điển Nho gia ban phát xuống các địa phương. Vào năm Gia Long thứ tám (1809), một thương nhân người Thanh đã mang sang Việt Nam sách Đại học diễn nghĩa do Chân Đức Tú đời Tống soạn. Nội dung sách bàn về đạo lý thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia. Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành đem sách ấy dâng lên Gia Long. Thấy Đại học diễn nghĩa là cuốn sách có lợi cho việc giáo hóa dân chúng, Gia Long bèn sai khắc in lại, rồi cấp phát cho các địa phương làm tài liệu học tập. Năm 1835, Minh Mệnh sai đem ba sách Tứ thư, Ngũ kinh, Tiểu học tập chú, mỗi loại 50 bộ cấp cho Quốc tử giám. Năm sau lại ban cấp cho Quốc tử giám và trường học các tỉnh 1.170 bộ Tứ thư, Ngũ kinh, Tứ thư nhân vật lược khảo. Sau đó 1. Nguyễn Khắc Thuần: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Sđd, t.3, tr.163. 78