🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Những Công Chúa Nổi Tiếng Của Các Triều Đại Việt Nam
Ebooks
Nhóm Zalo
NHÓM TRÍ THỨC VIỆT
B iên soạn
NỔI TIẾNG CỦA CÁC TRlỀU ĐẠI Việt Nam
Những Công ehúã n ố i tiéng C iia eáe Tr/ều đ ạ ỉ Ị^ệtN ãin
T ủ SÁCH "VIỆT NAM - ĐÁT Nước, CON NGƯỜI"
NHỮNG CỒNG CHÚA NỔI TIẾNG CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM
NHÓM TRÍ THÚC VIỆT
Tuyên chọn
NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI
N hững C ông chúa n ổ i tiế n g của các Triều đại V iệt Nam 5
Lời nóí dẳu
Công chúa là con gái của vua, hoặc do vua gia phong cho một số ngườt phụ nữ có công, hoặc một số vị nữ thần. Trong lịch sử Việt Nam các nàng công chúa có một vị trí khá độc đáo, kể cả huyền sử lẫn chính sử, tên họ được nhắc đến nhiều hơn so với hoàng tử cũng là con vua. Nàng Mỵ Châu làm lộ bí mật quốc gia, rải lông ngỗng chỉ đường cho chồng đuổi diệt vua cha, nàng Tiên Dung dám lấy một chàng trai nghèo làm chồng, hay như nữ tướng Lê Chán phò Trưng vương lập bao chiến công hiển hách. Rồi có những công chúa hi sinh bản thân vi quốc gia dân tộc nhưng cũng có công chúa dựa hơi vua để làm càn...
Tuy nhiên, lắng đọng lại sâu đậm nhất trong tâm thức người Việt là những nàng công chúa đã có công lao lớn đối với dân tộc trong thời bình cũng như thời chiến, đã dám hí sinh cuộc sống sang giàu của con người có địa ví cành vàng lá ngọc, dấn thán vào đất địch như công chúa An Tư, vì sự thành bạl của triều Trần hay như Cồng nương Ngọc Vạn vi muốn đất nước mở rộng mà trở thành hoàng hậu Chân Lạp xa lạ...
Truyền thống “anh hùng, dũng cảm, trung hậu, đảm đang” của người phụ nữ Việt Nam là kết tinh những phẩm chất tốt đẹp của bao thế hệ phụ nữ từ thời Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa cho đến những nữ
6 Những Công chúa n ố i tiếng của các Triều đại Việc Nam
anh hùng thời hiện đại như nữ tình báo lỗi lạc Đinh Thị Vân, hay Nguyễn Thị Định - vị nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam - tất cả họ là những tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, phần lớn những nữ nhân vật kiệt xuất trong lịch sử vốn từ nhăn dân mà ra. Thế nhưng các nàng công chúa vốn có đời sống trong nhung lụa mà cũng dám quên mình vì đất nước lại càng đáng trọng đáng quý thay.
Ngoài ra, chúng tôi củng muốn đưa vào cuốn sách này một số chân dung công chúa tài năng trên các lĩnh vực khác như thi văn, tình trường, quán xuyến gia đình và đức độ nữa. vì thế cuốn Những công chúa nổi tiếng của các triều đai viêt Nam đã khắc hoạ sự đa diện của những nhân cách đa dạng của một số công chúa qua các thời đại.
Xln trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách này.
NHÓM TUYỂN CHON
N hũng C ông chú3 n ố i tiếng của các T riều đại V iệt Nam 1
Lẽ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung:
Huyén thoại một tinh yẽu bất tử
Vào trung tuần tháng 2 âm lịch hằng năm, du khách thập phương lại nô nức về dự lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội Tình yêu) diễn ra ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Đây là một trong 16 lễ hội lớn nhất cả nước, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một tình yêu đầy lãng mạn giữa chàng trai nglièo họ Chử và con gái Vua Hùng thứ 18.
Theo truyền tliuyết, Chử Đồng Tử quê ở làng Chử Xá (nay thuộc xã Vãn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Chàng trai nghèo họ Chử là kết quả cuộc nhân duyên giữa ông Chử Cù Vân và bà Bùi Thị Gia. Vợ mất sớm, ông Chử Cù Vân ở vậy một mình nuôi con. Không may một lần bị hoả hoạn, hai cha con chỉ còn duy nhất một cái khố, mỗi khi có việc ra ngoài hai cha con phải thay nhau dùng. Chẳng bao lâu Chử Cù Vân bị bệnh nặng, trước khi qua đời, ông dặn Chử Đồng Tử: “Cha chết đi, con giữ cái khố lại mà che thân, cho thiên hạ khỏi chê cười”. Không đành lòng để cha chết trần, chàng vẫn chôn cha cùng với cái khố. Không có quần áo che thân, hằng ngày chàng ngâm mình dưới nước bắt cua, bắt cá để kiếm sống qua ngày.
Thuở ấy, vua Hùng thứ 18 có người con gái nhan sắc tuyệt trần, tên là Tiên Dung, đã đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Vào một ngày đẹp trời, tlmyền của công chúa Tiên
8 N hũng Công chúa n ổ i tiếng của các Triểu đại Việc N am
Dung dạo chơi dọc sông Hồng. Lúc đó, Chử Đồng Tử đang ngâm mình bắt cá dưới sông, nhìn thấy từ xa đoàn thuyền dong buồm đi tới, sỢ quá chàng uền chạy lên bờ nhằm khóm lau vùi mình xuống cát. Ngắm phong cảnh hữu tình, công chúa Tiên Dung cho dừng thuyền, sai (ỳ nữ lên bờ quây màn tắm bên một khóm lau, chẳng ngờ lại đúng nơi chàng trai họ Chử giấu mình. Nước dội cát trôi, phút chốc nàng thấy lộ ra thân hình một chềmg trai trẻ cũng không quần áo. Trước người con gái có thân thể như ngọc như ngà, Chử Đồng Tử sỢ hãi định chạy trốn. Ngẫm là chuyện trời định, Tiên Dung bình tĩnh nói: “Ta và chàng tình cờ gặp nhau ở đây, đều mình trần như thế này, âu cũng là nhân duyên do trời sắp đặt”. Liền đó, Tiên Dung truyền mang quần áo cho Chử Đồng Tử và cùng chàng lỄưn lễ kết duyên ngay trên thuyền.
Vua Hùng nghe tin con gái lấy kẻ nghèo hèn thì đùng đùng nổi giận không nhận là con nữa. Tiên Dung thấy vậy không dám về, ở lại cùng Chử Đồng Tử sống một cuộc sống bình dị mà hạnh phúc. Họ mưu sinh bằng nghề chài lưới và trao đổi hàng hoá trên sông. Nơi ấy trở thành nơi đô hội, thuyền bè buôn bán tấp nập. Cảm mến tình cảm vỢ chồng Chử Đồng Tử, Tiên Ông đã truyền phép thần cho Chử Đồng Tử. Họ cùng nhau đi khắp vùng Khoái Châu dùng chiếc gậy thần để cứu sống những người chết do bị nạn dịch, đói khổ... Trên đường cứu nhân độ thế, Tiên Dung tình cờ gặp nàng Tây Sa vốn là công chúa Tây cung giáng trần, bèn kết nghĩa chị em, rồi se duyên cho Chử Đồng Tử, cùng nhau giúp đời. Nàng Tây Sa rất giỏi bùa chú dùng
N hũng C õng chúa n ố i tiế n g cúa các Triều đại V iệt N am 9
chiếc gậy ứiần và cáỉ nón tíên xây dựng cung điện bằng châu ngọc và kho tàng đầy đủ của cải, màn gấm chiếu hoa. Khỉ nhà vua lâm bệnh nặng, Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã bí mật cho nàng Tây Sa về chữa bệnh cho vua cha. Được thuốc tiên, nhà vua khỏi bệnh liền phong cho nàng Tây Sa là “Công chúa của nước Phật”.
Có kẻ nịnh thần về kinh đô tâu với vua Hùng rằng: Vợ chồng công chúa Tiên Dung dùng phép lạ dựng thành quách, muốn lập riêng bờ cõi. Ngỡ con làm phản, vua Hùng sal quan quân đến dẹp. Vợ chồng Chử Đồng Tỉí không dám cưỡng lạỉ mệnh cha, chờ chịu tội. Nửa đêm hôm ấy một trận cuồng phong nổi lên, cả lâu đài thành quách của vỢ chồng Chử Đồng Tử cùng bay lên trời, để lại một đầm nước rộng mênh mông. Người đời sau gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ (đầm một đêm). Nơi Chử Đồng Tử vùi thân giấu mình nay thuộc xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Tương truyền sau khi Chử Đồng Tử và Tiên Dung hóa (về trời), vua Hùng Duệ Vương đã đến chỗ con gái ở. Hối hận và thương con, nhà vua đã ban tước Chử Công cho Chử Đồng Tử và cho lập đền thờ. Cảm động trước mối tình bất tử, đền thờ Đức thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa được nhân dân thờ phụng nhiều nơi trên địa bàn đồng bằng và trung du Bắc Bộ, chủ yếu là các làng ven sông Hồng, nhưng đền thờ chứih, nổi uếng nhất là đền Đa Hoà thuộc xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Ngôi đền này năm 1894 được Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở hưng công xây dựng lại. Toàn thể khu đền được xây dựng trên một khu đất cao và bằng phẳng, rộng
10 N hũng Công chúa n ố i tiếng cúa các T riều đại V iệt Nam
18.720m2 có cảnh quan rất đẹp, mặt quay hướng chính Tây nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên, gồm 18 nóc nhà lớn, nhỏ lợp mái ngói với các bờ nóc, đầu đao được vát cong tựa như những mũi thuyền, tượng trưng cho 18 đời vua Hùng. Nơi đây gồm 2 khu: khu ngoài không có tường bao rộng chừng 7.200m2, nổi bật ngôi nhà bia hai tầng tám mái nằm dưới bóng đa cổ thụ có cửa trổ ra 4 hướng. Từ đây một lối đi lát gạch rộng 8m dẫn tới Ngọ môn, hai bên lối đi có nhà chuông và nhà khánh. Hiện nay đền còn lưu giữ được nhiều cổ vật, trong đó có tượng thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân. Nơi đây hằng năm diễn ra lễ hội kéo dài trong 3 ngày, từ ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch. Vào ngày hội, những dòng người khăn áo đủ sắc màu, nườm nượp theo đê hoặc bơi thuyền từ bên kia sông Hồng sang, nô nức trẩy hội tình yêu.
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội Đa Hoà - Dạ Trạch) được tổ chức ở hai ngôi đền là đền Đa Hoà (xã Bình Minh) và đền Hóa (xã Dạ Trạch) cùng huyện Khoái Châu. Mở màn lễ hội là các làng thuộc tổng Mễ tổ chức đội hình rước kiệu thánh từ đình làng về đền Đa Hoà. Đi đầu đoàn rước là con rồng dài trên 20 mét được ba chục thanh niên khoẻ mạnh thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi khiến cuộc rước thật tưng bừng. Tiếp theo sau là hal hềmg các bà, các chị, các cô trang phục đủ sắc màu rực rở tay cầm cờ hội, trống chiêng, cùng ngựa hồng, ngựa bạch, gươm trường bát bửu, phường đồng văn, đội múa sinh tiền, độl múa nón, đội nhạc lễ. Tiếp đến là nghi thức rước niíớc từ sông Hồng về lễ thánh. Đám
. N hũng C ông chúa n ổ i tiế n g cúa các T riều đại Việc Nam 11
rước uy nghỉ, rồng vàng dẫn đầu; hội rước cờ, trống, phường bát âm, múa sinh tiền, kiệu long đình, kiệu choé nước, kiệu đặt nón gậy, kiệu “Bế ngư thần quan”, ba kiệu rước Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa, Tây Sa công chúa đi sau. Sau khỉ lấy nước ở sông Hồng về, các kiệu trở về đền Hoá lễ thánh. Đi đầu là hai bô lão cùng hai nam, hai nữ dâng nước vào đền. Theo tục lệ, nước được dùng để cúng phải là nước lấy ở giữa sông Hồng. Người đại diện cho dân làng lấy nước là cụ già có đức độ trong làng. Dâng nước là hình thức tâm linh cầu nguyện một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt bội thu. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian, các hoạt động văn hoá văn nghệ đặc sắc mang đậm nét văn hoá của nền văn minh sông Hồng.
Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung mang giá trị văn hoá sâu sắc, là bức tranh về đời sống hết sức phong phú, sinh động của người Việt cổ vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng ngàn năm về trước. Đây không chỉ là huyền thoại về tình yêu mà còn là bàl ca về lòng hiếu thảo, về đạo làm người, là minh chứng của nền văn minh lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung là lễ hội tình yêu độc đáo nhất cả nước, không chỉ là nơi thờ cúng tâm linh mà còn là điểm du lịch tham quan không thể thiếu của du khách trong tua du lịch đồng bằng sông Hồng.
Theo Hoàng sền
12 N hũng C ông chúa n ố i tiếng cúa các T riều đại V iệt Nam
Tiẽn Dung Đệ nhất Bất tử Việt Nam
GiadinhNet - Người Việt Nam đã quen VỚI biểu tượng của 4 vị anh hùng không bao giờ chết, sự tượng trưng ngọt ngào cho sức mạnh, quyền uy, tình yêu và nghệ thuật: Tản Viên Sơn thánh, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử và Mẩu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, với điều cốt lõi nhất của con người là tình yêu thì người xứng đáng được đặt lên hàng đầu của đài thiêng phải là nàng Tiên Dung, một nàng công chúa biết sống láng mạn cho một tinh yêu đôi lứa.
Láng mạn trong tình yêu, người vỢ của sự lo toan Tiên Dung là một biểu tượng kỳ diệu của nàng công chúa đam mê và liều lĩnh nhất trên thế giới trong thời kỳ sơ sử, klió có thể duy lý người Việt đã từng có một tình yêu thuần khiết và mânh liệt như mối tình của Tiên Dung và Chử Đồng Tử ở thời Hùng Vương thứ 18. Ngoài những công tích của đôi tình nhân này để lại cho sự thông thương buôn bán, sự lãng mạn của họ khiến cho nhiều người phải giật mình. Nó hiển lộ một thời kỳ người Việt yêu đương thuần khiết, chưa hề có bóng dáng của xiềng xích kỷ cương Nho giáo, cảnh giới cuộc gặp gỡ ban đầu của Tiên Dung và Chử Đồng Tử, tạm thời dọn sang một bên sự giàu sang hay nghèo khó, đó là bốl cảnh của sông nước cây cỏ và một đôi âm dương trần ữụi như trời đất vậy. Nó có sự ngượng ngùng của sinh vật có ngôn ngữ và văn hóa, cũng có sự thấu hiểu quy luật của tự nhiên khi Tiên Dung nói rằng: Trời đã sắp xếp để chúng ta gặp nhau. Nếu coi đó là mối tình sét đánh tliì cũng đáng yêu mà coi đó là
. N hũng C ông chúa n ổ ! tiếng của các Triều đạ! V iệt N am 13
Sự thuần khiết của tình yêu cũng đáng nhớ. Bởi đó là trạng thái của sự giao kết không có chỉ phối từ lụa là tiền bạc. chỉ có đầu mày cuốỉ mắt, sự phải lòng, nỗi e ấp của tình yêu nguyên thủy.
Trong sự e ngại về thân phận ấy, công chúa Tỉên Dung chính là người đá dẹp bỏ sự ngăn cách địa vị giữa hai người. Hình mẫu những nàng công chúa lãng mạn đem lòng yêu những chỄưig trai nghèo trên thế giới nơi nào cũng có, nhưng một nàng công chúa sẵn sàng từ bỏ mọi danh tước phú quý, rời cung sống với người mình yêu như một thường dân ở niên đại xa xưa ấy hẳn chỉ có mình Tiên Dung. Cho đến khỉ họ kết thành đôi và lặng lẽ rút lui không chống lại vua cha, sự thông thái và quyết đoán ấy thuộc về Tiên Dung. Tình yêu của nàng mang sức mạnh tự thể, chỉ vì sự hối thúc của con tìm và sự bao dung quảng đại của một nàng công chúa giàu sang không coi rẻ người lao động.
Sự đẹp đẽ ấy còn nằm ở sự chân thật của màu sắc nhục dục trong mối tình giữa hai con người. Ván học trung đạl với xích xiềng Nho giáo thể hiện cấm kỵ với nhục dục bao nhiêu thì câu chuyện về Tiên Dung và Chử E)ồng Tử khi nước ta còn thuần khiết cềưig bộc lộ một sự thỏa thuê trong tự do tình yêu của con người bấy nhiêu. E)ó là tình yêu tinh khôi vốn có của con người mà sau này, với nhiều nguồn đạo đức du nhập và sự phức tạp của sinh vật biết nói, chúng ta cứ đánh mất dần đi tự do của chính mình.
Không thể nào từ chối rằng khu đô thị sầm uất mà vỢ chồng Tiên Dung đã tạo nên là nhờ sự tháo vát và uy lực của một nàng công chúa hiểu biết và ắt hẳn có
14 N hũng C ông chúa n ố i tiếng cúa các T riều đại V iệt Nam
chút vốn liếng trong tay. Sự thông thương không chỉ với người trong nước của hai vợ chồng Tiên Dung là dấu mốc khiến cho đôi vợ chồng lãng mạn đi vào sức mạnh của kinh tế và lý trí của người Việt. Từ cái nền giao hoà của tình yêu và gỉa đình, họ đã tiến đến con đường thênh thang của cứu trỢ nhân đạo và trở nên bất tử trong lòng người. Với bước tiến này, Tiên Dung chính là người chủ động dừng việc buôn bém, chia tài sản cho dân nghèo, theo tiên ông học đạo. Sự bất tử của người chồng Chử Đồng Tử có được hẳn nhiên xuất phát từ tâm hồn phóng khoáng và sự tháo vát của người vỢ Tiên Dung.
Với sự thuần khiết, nỉềm dam mê, thậm chí liều lĩnh và bao chứa công lao đó, liệu có bất công với Tiên Dung không khi nàng không được đưa vào hệ thống của các thánh bất tử? Trong từng bước tiến của Chử Đồng Tử, nàng luôn đóng vai trò thông minh và quyết đoán. Với V8Ũ trò thánh bất tử biểu hiện cho tình yêu, điều căn cốt để con người tồn tạỉ, nàng phải là đệ nhất bất tử của người Việt mới phải. Chắc hẳn đã có sự biến đổi nào đây vì trong tâm thức của nhiều người Việt, đặc biệt là người dân Khoái Châu (Hưng Yên), Tiên Dung cùng chồng đều được tôn làm thánh bất tử.
Hơn nữa, trường kỳ lịch sử Việt Nam chưa hề có một nền kinh tế hàng hóa nào mà chỉ tồn tại tầng lớp tiểu thị dân mà thôi, mặc dù chúng ta đã từng có Thứ nhất kinh kỳ. thứ nhì phố Hiến. Thậm chí, khỉ thực dân nã đạl bác vào Việt Nam ở thế kỷ XIX-XX, chúng ta vẫn sống với nền kinh tế tự cung tự cấp. Tiên Dung, ngiíời đã từng chỉ tay ra biển mà khuyên chồng hãy đi
N hũng C ông chúa n ố i tiế n g của các Triều đại V iệt N am 15
theo thương gía trên biển, chính là mẹ đẻ của nền kinh tế hàng hóa.
Không đúng hay bất công?
Những phát hiện mói về “Tứ bất tử” Việt Ncun đề cập đến sự có mặt của Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trước khi có Mầu Liễu Hạnh, góp phần cho thấy có sự chuyển dịch rõ rệt trong lịch sử ‘Tứ bất tử” của Việt Nam. Tuy nhiên, giới hạn bài này, người viết chỉ xỉn nhắc về nàng công chúa đáng yêu Tiên Dung với tư cách là một trong ‘Tứ bất tử”.
Có 3 trong số 4 “Tứ bất tử” được nhắc đến trong lịch sử là Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử đều thuộc thời Hùng Vương thứ 18. Hai nhân vật Khổng Minh Không và Từ Đạo Hạnh xuất hiện vào đời Lý thế kỷ XI, Mầu Liễu Hạnh thuộc thế kỷ XVI. về mặt niên đại, nhiều người có thể thắc mắc rằng ừước khỉ Khổng Minh Không và Từ Đạo Hạnh xuất hiện, liệu có một bộ tứ nào khác không hay đó là ‘Tam bất tử’7 Hơn nữa, Tiên Dung sinh cùng thời ba vị thcinh kia và cũng bất tử, vớỉ biết bao nhiêu điều tuyệt vời cùng lảng mạn và uy lực của nàng kia, tại sao nàng không được xếp vào “Tứ bất tử”?
Vậy lịch sử đã sai hay lịch sử bất công khi “loại” nàng công chúa ngọt ngào như mùa xuân kia khỏi danh sách "Tứ bất tử”? Người viết, thiển nghĩ có những giả thiết sau có thể được dùng để lý giải điều này.
Giả thiết thứ nhất gắn với chính mối tình nguyên thủy và quá chừng lãng mạn của nèmg và Chử Đồng Tử. Tâm lý Khổng Mạnh như một gông cùm sau này
16 N hũng C ông chúa n ố i tíếng cúa các Triều đại V iệt Nam
khiến người ta không còn muốn tôn vinh hình ảnh đẹp của đôi trai gál ấy nữa. Cũng với tâm lý này. sự xuất hiện của người chồng ở bất cứ cương vị nào cũng đã mang hình bóng của người vỢ và do đó, người ta gọi Chử Đồng Tử để nhằm gọi thay cho cả Tiên Dung.
Một duyên cớ khác có thể đến từ những người dân lao động, khí họ muốn đứng nhiều hơn về phía Chử Đồng Tử, người đại diện cho họ, tầng lớp đau khổ trong xã hộỉ và vì thế. khỉ Mấu Liễu Hạnh xuất hiện, như một mẫu mực mớỉ của người Việt, sự bị gạt bỏ thuộc về Tiên Dung, trong khí hạt nhân căn bản để có được Chử Đồng Tử là mẫu hình rực rỡ của Tiên Dung trong tư thế đất trời tự nhiên ữên bãi cát giữa bạt ngàn lau sậy.
Sai sót hay bất công? Câu trả lời có lẽ rất gần kia thôi dù hình bóng đôi tình nhân vượt biển thông thương đã xa lắm rồi, hun hút như chiếc bóng dài ngàn năm lịch sử, nbư bóng tiên ở cõi ngoài trần nhưng có lẽ, hình bóng người phụ nữ mượt mà ấy đối với văn hóa và lịch sử Việt sẽ vẫn còn là bí ẩn.
TS. Cung Khắc LưỢc
N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các Tr/éu đại V iệt N am 17
La Binh Cổng chúa -
Mẫu Thượng Ngằn
Lâm Cung Thánh Mau hay Mẩu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một ừong 3 vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẩu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam.
Bà được tạc thành hình 1 phụ nữ đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và 2 tay chắp và mang trang phục màu xanh khi được đặt cùng hai vị mẫu kia là Mau Liễu Hạnh và Mẩu Thoải hoặc được thờ riêng trong một điện.
Việc thờ phụng Mẩu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt. Bà là một nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng Tam phủ hay Tứ phù. Công chúa Thượng Ngàn, trong dân gian thường gọi bà là Mẹ rừng, trong đạo tứ phủ bà là Chúa Sơn Trang, hay Nhạc phủ bà là người cung cấp nguồn của cải vô biên cho con người nơi núi rừng biên ải, đó còn là biểu tượng của sự sống vĩnh hằng.
Truyền thuyết xưa thì sắc đẹp, tài đức của Bà được Thượng đế ban cho và phong là Nữ Chúa Rừng Xanh cai quản 81 cửa rừng xanh ở cõi Nam Giao...
Bà Chúa Thượng Ngàn là hoá thân của Thánh Mấu toàn năng trông coi miền rừng núi, địa bàn chính sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số.
Một truyền thuyết kể về Mấu Thượng Ngàn như
18 N hũng C ông chúa n ố i tiếng cúa các T riều đại V iệt Nam
sau: Vào thời Hùng Định Vương, nhà vua có một Hoàng hậu mcUig thai mãi không đẻ, ba năm sau nhân lúc đi chơi Hoàng hậu đau đẻ đã ôm chặt vào thân cây quế, cuối cùng đã sinh hạ được một cô con gái. Nhiíng vì quá kiệt sức, Hoàng hậu An Nương qua đời, Vua đặt tên cho con gái là Mỵ Nương Quế Hoa. Khi lớn lên vì nhớ mẹ, công chúa Quế Hoa thường vào rừng chơi, nên chính ở những nơi đó bà chứng kiến cảnh cơ cực của muôn dân. Một đêm, giữa rừng thâm u, bà lỉnh cảm thấy hơi ấm của mẹ và một ông tiên hiện lên trao cho bà phép thần thông, có thể dời núi, lấp sông, cải tử hoềm sinh cứu muôn dân.
Một truyền thuyết khác liên quan đến Mấu Thượng Ngàn: Công chúa La Bình, con của Sơn Tinh và Mỵ Nương, cháu ngoại của Vua Hùng. Khi còn trẻ, Mẩu Thượng Ngàn là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình. La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơl, từ miền núi non hang động đến miền trung du, đồi bãi.
Trong địa hạt mà Tản Viên Sơn Thánh (tức là Sơn Tinh) cai quản, ông đã dạy dân rất nhiều điều bổ ích cho các hoạt động sinh sống của người dân: từ săn bắn thú dữ đến chăn nuôi gỉa súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương, lúa nước đến việc đắp ruộng bậc thang, dựng nhà dựng cửa, hái cây thuốc chữa bệnh.
Sơn Tinh cũng thường cùng các vị sơn thần, tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc. Do luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều.
Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành
N hũng C õng chúa n ố i tiế n g của các T riều đại V iệt N am 19
nên việc ^ La Bình củng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay.
Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh.
Còn bản thân nàng, chẳng những hoà hỢp, ân cần với mọi người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc.
Khi Sơn Tinh và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoềmg Thượng đế ữở về trời thành 2 vỊ thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng: từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi ữập trùng của nước Ncun.
Trở thành chúa tể của miền núi non và trung du, công chúa Thượng Ngàn vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình.
Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hoà hỢp với nhau. Rồi công chúa lại dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết ữánh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét... La Bình công chúa cũng dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tì mỉ. Những gi cha bà đã dạy, bà đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các tù trưởng, bà cũng học thêm ở họ được nhiều điều.
20 N hũng Công chúa n ố i tiếng của các T riều đại V iệt Nam
Thế là bà lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi. Bà cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, ở cha bà mới chỉ là bắt đầu. Làm nhà không những đã chắc chắn, lại còn phải biết chạm trổ cho thật đẹp đẽ.
ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình 2 đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn, chẳng những chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mới. Rồi công việc đồng áng, bà dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống.
Lạl đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có cơm dẻo nếp thơm. Trong các con vật nuôi trong nhà, bà đem về thêm nhiều giống gia súc mới. Lạl trồng thêm nhiều giống cây ăn quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về...
Thấy La Bình công chúa thực hiện rất tốt công việc của mình nên Ngọc Hoàng Thượng đế đã ban tặng cho bà thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió.
Từ đó, La Bình công chúa trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ.
Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của Công chúa Thượng Ngàn. Vì vậy, nhiều người gọi bà là Mấu, một cách vừa trìu mến gần gũi mà cũng vừa tôn kính.
N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các T riều đại V iệt Nam 21
Ngoài việc phù trỢ cho đời sống hằng ngày của nguời dân, Nữ thần cũng rất chú ý đến giang sơn nước Việt. Bà đã hai lần hiển linh âm phù cho tướng sĩ nhà Lý, đánh thắng giặc Tống, tướng sĩ nhà Trần đánh thắng giặc Nguyên Mông. Các triều đại này đều có sắc phong tặng để tạ ơn thần.
Một truyền thuyết cho rằng có một lần vào hồi đầu khởi nghĩa Lam Sơn, quân ta vừa mới nhóm lên, lực lượng đcmg yếu, Bình Định vương Lê Lợỉ đem thủ hạ về đóng đồn ở sách Phản Ấm. Bà chúa Thượng Ngàn đã tới báo mộng, khuyên là phải rút lui ngay vì ở đó địa hình bất lợỉ. Bình Định viíơng đang dùng dằng chưa kịp quyết định thì quả nhiên giặc Minh đã biết, chúng đón đường và đánh úp quân ta. Nghĩa quân không chống cự nổi, tan tác mỗi ngiíời một nơi, Lê Lợi và các tướng sĩ phải lần mò trong đêm tối để thoát nanh vuốt giặc. Trong đêm tối, công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép tíiành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hỢp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh. Ánh đuốc thiêng của bà, chỉ quân sĩ của Lê LỢi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy, ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng.
Đêm ấy, vị tham mưu trong quân nghĩa là Nguyễn Trãi còn được nữ thần bày vẽ cho kế sách giữ gìn căn cứ ở núi Chí Linh. Nguyễn Trãi cứ thế tâu trình với Lê LỢi. Quả nhiên bị quân Minh dẹp ba bốn lần, quân ta vẫn rút về Chí Lỉnh bảo toềm được lực lượng.
Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của
22 N hũng Công chúa n ổ i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
công chúa Thượng Ngàn, quân đội của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân Lê Lợi tiến vào giải phóng Nghệ An. Thuận Hóa.
Sau đó, với những trận thắng oanh liệt ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng và cuối cùng, bao vây quân Minh ở Đông Quan để kết thúc cuộc chiến, lập lại hoà bình cho nước Việt.
Công chúa Thượng Ngàn còn rất thương yêu dân chúng. Những người phải vượt những suối khe rừng núi thường được công chúa âm phù che chở cho được chân cứng đá mềm. Vì vậy dân chúng không chỉ gọi là thần, là chúa mà đều tôn làm Mẹ. sắc phong các triều đại tôn là Công chúa, nhưng nhân dân cứ tôn là bà Mấu và gọi một cách cung kính là đức Mấu Thượng Ngàn. Họ thờ bà ở khắp hang động núi non, và cả ở các đỉện thờ tại các gia đình. .Đền thờ Mầu Thượng Ngàn có ở nhiều nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính là Suối Mỡ thuộc tình Bắc Giang và Bắc Lệ, thuộc tình Lạng Sơn.
Nguồn: baomoi.com
N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các T riều đại V iệt N am 23
Thánh Chãn Công chúa -
Nữ tướng Lê Chăn
Năm 40, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ. và nhanh chóng giải phóng 65 thành trì, giành lại thái binh cho đất nước. Trong số tướng tàl triều Trưng, Lê Chán là một nữ tướng xuất sắc. Bà tham gia cuộc khởi nghĩa ngay từ những ngày đầu, lập đưỢc nhiều công lớn, góp phần tích cực củng cố chính quyền, nên đã được Vua Trưng tín cậy giao nhiều trọng trách. Trong hàng công thần triều Trưng, Lê Chân chỉ xếp sau Bình Khôi công chúa Trưng Nhị và được tấn phong là Thánh Chân công chúa.
Từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nộỉ...
Theo Bản Thần tích Đương cảnh Thành hoàng Nam Hải uy linh Thánh Chân công chúa hiện còn ở Đền Nghè, Lê Chân là con ông Lê Đạo và bà Trần Thị Châu, quê ở An Biên, huyện Đông Triều, phủ Kiiứi Môn, xứ Hải Dương (nay thuộc xâ An Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Theo thần tích, truyền thuyết và các tư liệu khác, ông Lê Đạo làm nghề thầy thuốc, tính nhân từ, hay giúp đỡ người nghèo khó. Vợ ông là Trần Thị Châu cũng là người thuần hậu. Hiềm nỗi, ông bà tuổi đã cao mà chưa có con. Nghe tiếng ngôi chùa ở núi Yên Tử trong huyện rất lỉnh ứng, ông bà tìm đến cầu tự. Quả nhiên, bà Châu có mang, ngày mồng 8 tháng 2 năm Canh Thìn (20) bà sinh con gái khôi ngô, bụ bẫm. ông, bà đặt tên con là Chân. Xuất
24 Những Công chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
thân trong một gia đình nền nếp, cô gái họ Lê vừa đẹp người, đẹp nết lại thông minh, đảm lược. Năm Lê Chân 18 tuổi, sắc đẹp và đức hạnh của nàng nổi tiếng khắp vùng. Thái thú Tô Định nghe danh, đòi lấy làm tỳ thiếp. Ông bà Lê Đạo kiên quyết khước từ, đưa Lê Chân lánh về miền ven biển thuộc huyện An Dương cùng phủ Kinh Môn. Tô Định căm gỉận, bức hại gia đình, giết ông Lê Đạo. Căm giận quân cướp nước, Lê Chân nung nấu căm thù, quyết trả thù nhà, nỢ nước. Nàng tìm thày học binh thư, võ nghệ, kết giao với những người cùng chí hướng. Khi võ nghệ đã tinh thông, nàng cùng bạn bè tâm phúc sang đất An Dương (Hải Phòng), lúc ấy là một vùng đất bãi phù sa mới bồi. Nàng chiêu dân tứ xứ khai khẩn đất hoang, lập nên xóm ấp, chiêu tập binh mã, sắm sanh vũ khí, tích trữ lương thảo sẵn sàng khởi nghĩa.
Nglie tin ở xứ Đoài, Hcú Bà Trưng cũng đang mưu nghiệp lớn, Lê Chân chẳng ngại đường sá cách trở tìm đến đất Mê Linh. Bà Trưng Trắc phong Lê Chân làm tướng được cùng bàn luận kế sách khởi nghĩa rồi phái nàng trở lại quê nhà, chiêu tập thêm binh sĩ, chuẩn bị sẵn lương thảo, chờ thời cơ hềmh động.
Tháng 3 nảm Canh Tý (40) Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống bè lũ thống trị Đông Hán. Hưởng ứng lời hịch của Hai Bà, tliủ lĩnh và nhân dân khắp 4 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), cửu Chân (Bắc Trung Bộ), Nhật Nam (Trung Trung Bộ), HỢp Phố (Quảng Tây, Quảng Đông Trung Quốc) đã nhất tề nổi dậy, hỢp sức với đạo quân chủ lực của Hai Bà, tấn công địch ở khắp nơi. Đạo quân của Lê Chân từ mạn biển xứ Đông đánh
Những C ông chúa n ố i tiế n g cúa các T riéu đại Việt Nam 2 5
thốc lên Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) lỵ sở quận Giao Chỉ, nơi có bộ máy thống trị của bè lũ Tô Định, phối hỢp với quân của Hai Bà Trưng vả các thủ lĩnh nghĩa quân khác, giải phóng quận thành. Tô Định vội vã tháo chạy về đất Nam Hải (Trung Quốc) xin quân cứu viện.
Với khí tíiế ưến công như vũ bão, chỉ trong 2 tháng, nghĩa quân đã chiếm đưỢc 65 thành trì, đập tan ách thống trị của nhà Đông Hán. Đất nước sạch bóng quân thù, bà Trưng Trắc được tướng sĩ, nghĩa quân tôn làm vua (Trưng Vương). Trưng Vương xét công lao ban thưởng tướng sĩ. Lê Chân khi ấy 24 tuổi, được phong là Thánh Chân công chúa, ban chức Chưởng quản binh quyền coi giữ vùng hải tần (duyên hảl Đông Bắc).
Nữ tướng Lê Chân đem quân trở về vùng đất An Dương khi trước, mở thêm trại, ấp lập ra trang An Biên (lấy tên quê gốc). Bà dùng nhân công khai khẩn đất hoang dọc ven sông Tam Bạc thành đồng ruộng cấy lúa, trồng dâu xanh tốt. Chỉ trong thời gian ngắn, trang An Biên dân cư đã đông đúc, kỉnh tế phát triển, nhiều nhà dân giàu có. Bà Lê Chân thường xuyên cho luyện tập trận thế, mở những lớp đấu vật, đài thi võ để nâng cao sức khỏe, khả năng chiến đấu của binh sĩ, dân chúng.
Trong thời gian bà Trưng Trắc làm vua, nhà Đông Hán phải lo đối phó với biến loạn lớn trong nước, nên klỉông thể phát quân xâm lược nước Âu Lạc. Song triều đình Hán đã sửa soạn kỹ cho cuộc đàn áp. Mùa hạ, tháng 4 năm Kiến Vũ thứ 18 (42), vua Quang Vũ phong lão tướng 58 tuổi Mã Viện làm Phục Ba Tướng
26 N hũng C ông chúa n ố i tiếng cúa các Triều đại V iệt Nam
quân tìiống suất quân sĩ sang xâm lược nước ta. Mâ Viện xảo quyệt, mưu mô, có tài chinh chiến, dày dạn kỉnh nghiệm trận mạc. Lực lượng quần sự E)ông Hán huy động ở mấy quận phía Nam Trung Quốc binh lính thiện chiến quen với thung thổ, khí hậu nhiệt đới, gồm 2 vạn quàn chủ lực, 2000 thuyền, xe lớn, ngoài ra còn quân chèo thuyền, dân phu tải lương, phục dịch.
Mã Viện chỉ huy cả hai đạo quân, chia hcũ đường thủy bộ, vừa dùng thuyền vượt biển, vừa đi đường ven chân núl phát cây mở đường hơn nghìn dặm; hai cánh quân thủy, bộ không cách xa nhau lắm để còn liên hệ phối hỢp với nhau. Từ vùng ven biển vịnh Bểii Tử Long, Hạ Long, hai đạo quân thủy, bộ Đông Hán tiến đến cửa sông Bạch Đằng (Quảng Ninh - Hảl Phòng) để vào nội địa nước ta.
Đội quân thường trực phòng thủ ven biển E)ông Bắc do Chưởng quản binh quyền Lê Chân chỉ huy đã ra quần kịp thời chặn đánh quyết liệt đoàn thuyền binh đông đảo của giặc ngay từ cửa sông Bạch Đằng. Theo lệnh của Trưng Vương, trên bộ nữ tướng Thánh Thiện đem quân lên đánh giặc ở biên giới: nữ tướng Bát Nàn chặn cánh quân trên bộ của Mã Viện ở cửa biển, phối hỢp với nữ tướng Lê Chân.
Suốt dọc sông Bạch Đằng, Đá Bạc, dưới nước và trên bờ hai đạo quân, đa số là phụ nữ chiến đấu quyết liệt. Lê Chân cho dựng chướng ngại vật trên sông, dùng những chiếc thuyền chiến nhỏ, nhẹ, dễ cơ động tập kích vào mạn sườn đoàn thuyền to lớn, nặng nề của giặc, làm chúng tổn thất không ít. Song do quá chênh lệch về lực lượng, trang bị, vũ khí so với địch.
. N hũng C óng chúa n ố i tiếng của các T riều đại V iệt N am 27
nên hai nữ tướng phải lui quân.
E)ội thuyền binh của Lê Chân nhỏ nhẹ, ngược sông Bạch Đằng tiến rất nhanh, còn binh thuyền của Mã Viện to lớn, nặng nề nên đuổi theo rất chậm. Chẳng mấy chốc quân ta đã bỏ xa quân địch. Theo đường sông Bạch Đằng - Kinh Thầy - sông Đuống, thủy quân của Lê Chân tập kết về vùng hồ Tây, Hoàng Mai bên bờ hữu sông Hồng. Trong thời gỉam ngắn trú quân ở đây, nữ tướng Lê Chân gấp rút củng cố lực lượng, tuyển thêm binh sĩ, đóng thêm thuyền chiến. Bà cho binh sĩ luyện tập võ nghệ, mở lò đấu vật. Mọi việc đã xong, nữ tướng Lê Chân gấp rút hành quân về bảo vệ kỉnh đô Mê Linh.
Chờ đỢi không thấy quỂưi Mã Viện tấn công, Hai Bà Trưng đã chủ động ưến quân từ Mê Linh, qua cổ Loa (Tây Vu), xuống Lãng Bạc đánh quân xâm lược đang đóng tại đây. Quân ta chiến đấu ngoEui cường, đội quân tiên phong do nữ tướng Lê Chân chỉ huy tả xung hữu đột. Bị cầm chân nhiều ngày, quân tướng địch đã có phần nao núng. Nhiíng kẻ địch còn rất mạnh, quân đông, thủy bộ phối hỢp lại thạo đánh tập trung do tên lão tướng Mã Viện quỷ quyệt chỉ huy, nên dần xoay chuyển tình thế. Quân Hai Bà Trưng trang bị thiếu, kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, chưa quen đánh kiểu trận địa nên bị thiệt hại nặng, Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân và một số tướng lĩnh phải chuyển sang hữu ngạn sông Hồng, rồi lùi về căn cứ cấm Khê (Kim Khê) - thung lũng suối Vàng ở chân dãy núi Ba Vì (Hà Nội). Đây là vìmg núi rừng hiểm trở, ba mặt có sông lớn (sông Đà, sông Hồng, sông Đáy) ở thế thiên hiểm,
28 N hũng Công chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
tốt cho việc phòng ngự.
Quân thù kéo tới vây hãm, mở nhiều đợt tấn công. Quân ta kháng cự quyết liệt nhưng dần lâm vào thế bất lợi. Mở đường máu Hai Bà Trưng và các nữ tướng Lê Chân, nàng Tía, lão tướng Đô Dương đem lực lượng còn lại rút theo hcú đường thủy, bộ. Đường thủy theo sông Tích ra sông Đáy.
Khi bị quân địch ráo riết truy đuổỉ, để bảo toàn khí tiết, Hai Bà Trưng gieo mình xuống sông tự tận. Nữ tướng Lê Chân uếp tục cùng thủy binh xuôi về Nam đồng bằng sông Hồng. Đạo quân của Đô Dương, nàng Tía rút theo đường thượng đạo đi len lỏi dưới chân dãy núi đá vôi 99 ngọn từ Ba Vì, Hoà Bình vào đất hcii huyện Kim Bảng, Thanh Liêm (gọi là dây Nam Công) rồi qua Ninh Bình vào Cửu Chân (Thanh Hóa).
Đến căn cứ Lạt sơn
Sông Đáy - chi lưu bên hữu ngạn sông Hồng, bắt nguồn ở xã Vân Nam (Phúc Thọ, Hà Nội) chảy qua vùng đồng bằng vào đất Hà Nam thì gặp núi ở thôn Vĩnh Sơn (xã Tân Sơn - Kim Bảng) ở cả hai bờ. Sông tiếp tục uốn khúc qua hai xã Khả Phong, Thi Sơn với những khối núl, quả núi độc lập nằm bên hữu ngạn, đến địa phận xâ Liên Sơn, Thanh Sơn núi kết tìiành dải, trùng điệp, cây mọc thành rừng. Từ địa phận thôn Đồng Sơn hiện nay (xã Liên Sơn) cũng bên hữu ngạn sông Đáy, sông Ngân nhận nước sông mẹ, chảy ngoằn ngoèo ven dãy núi qua các thôn Bút Sơn, Lạt Sơn (Thanh Sơn, Kim Bảng), Tân Lâm, Nam Sơn (thị trấn Kiện Khê) rồi đổ nước vào sông Đáy ở địa phận thôn Đò (xã Thanh Thủy) huyện Thanh Liêm.
N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các Triều đại Việc N am 29
Nữ tướng Lê Chân đã chọn vùng rừng núi hiểm trở Lạt Sơn để làm căn cứ phòng thủ chặn quân Đông Hán, để một bộ phận nghĩa quân của nàng Tía, lão tướng Đô Dương tiếp tục rút về Cửu Chân (Thanh Hóa) vì tuyến đường thượng đạo từ Ba Vì cĩmg qua đây. Căn cứ Lạt Sơn lưng tựa vào dãy núi hình cánh cung ở phía Tây chạy từ Bắc xuống Nam; trước mặt, phía Đông là sông Đáy, sông Ngần như hai hào nước. Địa hình căn cứ tiến có thể đánh, lui có thể giữ, đầu cuối hô ứng lẫn nhau. Trận địa phòng tliủ được xây dựng ở các thung lũng trước núi, ở các hang động và các đồi đất lẫn đá kéo dài khoảng 7 km từ Bắc xuống Nam. Các tên thung, núi đồi và ký ức dân gian, mặc dù đã trải qua gần 2.000 năm vẫn giúp đời sau hình dung được những nét cơ bản về căn cứ và những trận đánh cuối cùng của bà Lê Chân.
Đầu căn cứ ở phía Bắc, đặt tiền đồn ở thung Mộc Bài, nơi đây bố trí đội quân tiên phong chặn mũi tiến công đầu hên của quân thù... phía sau Mộc Bài là đồi Dốc Voi Trượt nơi bố trí đội tượng binh"'. Tiếp xuống phía Nam, lần lượt là thung Hóc Bạc có kho lương thực, hậu cần; thung Bể, thung Dâu nơi đóng đại quân. Hang Diêm trên sườn núi phía Nam thung Bể là nơi đặt tổng hành dinh. Phía Tây thung Dâu là núi Thượi cao khoảng 225m đặt vọng gác, quan sát được toàn bộ căn cứ. Gần núi Thượi có đồi Điểm quân, có lẽ là địa điểm tập hỢp kiểm đếm số lượng binh sĩ. Sau thung Dâu là hai thung Đội Nhất, Đội Nhì nơi trú đóng của
"* Bia Ma Nhai trên vách đá ở thung Bể (Lạt Sơn) có khắc hình con voi thêm một căn cứ về sự có mật của đội tượng binh.
30 N hũng Công chúa n ố i tiếng cúa các Triều đại V iệt Nam
hai đội quân. Đồi ông TưỢng, điểm cuối căn cứ cách không xa sông Ngân về phía Tây. Cách vị trí đền bà Lê Chân hiện nay khoảng 3 km là thung Trống, nhân dân địa phương giải thích là nơi có lầu trống dùng để đểmh cầm canh và hiệu lệnh chiến đấu. Một số địa dcmh trong khu căn cứ như đồi Dớn, non Tiên, thung Thùng Chạ, đặc biệt hồ Trứng rộng mấy chục mẫu cần xác minh thêm về ý nghĩa.
Cùng với xây dựng căn cứ, nữ tướng Lê Chân gấp rút chiêu mộ tliêm binh sĩ chủ yếu là người Lạt Sơn và các vùng lân cận, lập nhiều cơ đội. Đạo quân của Đô Dương đã bổ sung một bộ phận binh sĩ, trong đó có nhiều người họ Dương cho căn cứ Lạt Sơn'^'.
Căn cứ còn chưa vững chắc, Mã Viện đã đưa quân đến vây hãm, mở nhiều trận tấn công. Nữ tướng Lê Chân tổ chức kháng cự cả trong các tlmng và trên sông Ngân. Các trận đánh ác liệt diễn ra, quân ta chiến đấu kiên cường. Biết không đủ lực lượng đánh bạú quân thù, hơn nữa lão tướng Đô Dương, nàng Tía đã rút lui an toàn, Bà cho binh sĩ bí mật rút khỏi căn cứ để miíu kháng chiến lâu dài, còn Bà và số ít tướng lĩnh, một bộ phận quân sĩ ở lại tử thủ. Quân giặc nhanh chóng phá vỡ tiền đồn Mộc Bài, tràn vào thung Hiên, thung Bể, dồn nghĩa quân về Đồng Gơ. Trận huyết chiến ác liệt
Đô Dưomg quê làng Dưomg Xá (nay thuộc thành phố Thanh Hóa), ông là đô vật nổi tiếng. Đô Dương có nghĩa sau: Đô vừa là đổ vật vừa chỉ chức quan vỗ chỉ huy một đạo quân, Dương là họ, không phải tên. Bia ma nhai ở thung Bể (Lạt Son) khắc tên nhiều người họ Dương công đức xây chùa Thánh Chân, gợi liên tưởng về sự tham gia của người họ Dương ớ căn cứ Lạt Sơn. Tộc phả họ Dương ở Lạt Sơn cho biết tổ tiên vốn người Cửu Chân (xã Gia Miêu, huyện Hà Trung, tinh Thanh Hóa).
. N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các T riều đại V iệt Nam 31
cuối cùng diễn ra ở Đồng Loạn, nữ tướng Lê Chểưi cùng mấy tướng tâm phúc rút lên núi Giát Dâu. Từ đỉnh núi cao. sườn dốc đứng, nữ tướng Lê Chân gieo mình tự vẫn để khỏi phải sa vào tay giặc (núi này cách đền bà Lê Chân hiện nay khoảng 3km về phía Tây). Thời khắc ấy vào buổi chiều ngày 13 tháng 7 năm Quý Mão (43). Mấy tướng tâm phúc đã mai táng Bà ở một hang động trong căn cứ'^'.
Sau khi bà hi sinh, nhân dân trang An Biên (phường An Biên, quận Lê Chân, TP Hải Phòng ngày nay) dựng đền tliờ ở xứ Đồng Mạ của trang, tức khu vực Đền Nghè bây giờ. Đến đời Trần Anh Tông, bà được vua phong là Thành hoàng xã An Biên, huyện An Dương và ban thần hiệu Nam Hải Uy linh Thánh Chân công chúa. Trải qua nhiều thời gian, bất chấp sự chèn lấn của chính quyền thực dân, nhân dân thành phố vẫn tu tạo đền thờ Lê Chân ngày càng khang trang, to đẹp. Hằng năm, cứ đến ngày sinh mồng 8 tháng 2, ngày hóa 25 tháng Chạp, ngày khánh hạ 15 tháng Tám, nhân dân toàn thành phố và khách thập phương lại nô nức đến Đền Nghè cùng nhân dân An Biên dâng lễ tưởng niệm vị nữ tướng, khai quốc công thần triều Trưng và cũng là người khai sinh ra trại An Biên, địa bàn chủ yếu của nội thành Hải Phòng ngày nay.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng in đậm dấu son trong sử sách, trong ký ức dân gian qua nhiều thế hệ. Các nữ tướng, nam thần của cuộc khởi nghĩa đều có đền thờ, được nhân dân đời đời khói hương tưởng kứih.
Bia Lạt Sơn, niên đại 1671 nói đến Tiên động Thánh Chân, phảỉ chăng bà được mai táng tại đây nên mang tên này.
32 N hũng Công chúa n ố i tiếng cúa các T riều đại V iệt Nam
Nữ tướng, Thánh Chân công chúa, Chưởng quản binh quyền Lê Chân được nhiều địa phương thờ phụng. Đó là: Đền An Biên (xã Thủy An, Đông Triều, Quảng Ninh) quê hương nữ tướng: đền Nghè (An Biên cổ miếu), đình An Biên (phường An Biên), đình vẻn ngoài (phường Trại Cau) quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là nơi Bà khai hoang, lập nên trang ấp, xây dựng lực lượng và chặn đánh cuộc xâm lược của Mã Viện; đình Hoàng Mai (phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội) nơi bà lập sớỉ vật để rèn luyện quân sĩ. Đặc biệt tại căn cứ Lạt Sơn xita, từ bao đời nay nhân dân địa phương, khách thập phương xa gần tụ về chiêm bái, đông nhất vào kỳ lễ hội, ngôi đền thờ Bà Lê Chần, tưởng niệm vị nữ tướng anh hùng dành ữọn cuộc đời mình vì nghĩa lớn. Cũng nơi đây trên vách đá thung Bể còn lưu lại ba tấm bia niên đại năm 1671, 1672 triều vua Lê Gia Tông thời Hậu Lê, nói đến việc xây chùa Thánh Chân, khởi nguồn là Tiên động Thánh Chân, một bia có khắc hình con hổ, gợỉ liên tưởng đến sự dũng mãnh như hổ của nữ tướng Lê Chân, điệp thêm sự tôn kính, nâng Bà lên hàng Thánh Mấu, Phật Mấu.
Không chỉ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Ncun mà cả nước đều tôn vinh, tưởng niệm nữ tướng Lê Chân, bởi vì bà đá để lại cho hậu thế muôn đời tấm gương chói lọi vì nước, vì dân.
Maỉ Khánh
. N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các TriỂu đại V iệt N am 33
Xuân Nương G)ng chúa -
Trưởng quản Quãn cơ
Châu Đại Man, nay là các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê của tỉnh Phú Thọ, dưới thời nhà Hán đô hộ, do một vị Lạc tướng người Việt trông coi tên là Hùng Sát. Hùng Sát thuộc dòng dõi Hùng Vương. Ngài kết hôn với bà Đinh Thị Hiên Hoa là người đẹp ở rừng núi, con nhà lang có quyền thế trong châu. Hiên Hoa được Hùng Sát yêu quý, lập làm chính thất, bảy lần có mang đều sinh con gicũ, người nào cũng khỏe mạnh đẹp đẽ.
Năm ấy. nhân buổi trăng hè sáng tỏ, bà Hiên Hoa bảo các nữ hầu hát múa làm vui. Đinh Thị Hiên Hoa mặc áo mỏng, gõ phách hát theo các nữ tì rồi cùng uống rượu ăn bánh, vui chơi ở lầu cao phía Đông. Tói Ccmh ba, hương hoa thơm ngát, gió mát hây hây thổi về, ánh trăng lấp lánh lá cành. Hiên Hoa tựa mình vào bao lơn thiu thiu ngủ. Chợt một người con gái xinh xắn khoảng mười ba tuổi, mặc áo đỏ cài thoa vàng, cưỡi mây hồng, mây tía hạ xuống trước lầu. Hiên Hoa mừng rỡ ôm lấy người con gái, dồn dập mà rằng: “Em ở đâu lại đây, ở đâu lại đây? Tốt thay! Đẹp thay”. Người con gái mỉm cười nói: “Con được Trời cho xuống làm con phu nhân đấy!” nói đoạn, ngoắt mình chạy đi: Hiên Hoa vội đuổi theo chẳng ngờ bị vấp ngâ, giật mình tỉnh giấc mới biết chỉ là mộng, tự nghĩ mình vì quá ao ước nên mộng thấy. Hay có thể ta cũng sẽ được một người
34 Những Công chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
con gái xinh đẹp như trong mộng thật chăng? Đang bồi hồi nghĩ ngợi thì chủ trưởng đến lầu. Hiên Hoa đem câu chuyện mộng vừa qua kể lại với chồng, ông chỉ cười, hai vỢ chồng cùng tựa lầu ngắm trăng đón gió, truyền cho các thị nữ được lul về nghỉ.
Mồng hai tháng giêng năm Giáp Thìn, bà Hoa sinh đưỢc một gái, nhân đẻ vào mùa xuân, mớỉ đặt tên con là Xưân, lại đặt hiệu là Hoa.
Klii Xuân Nương mới được hơn ba tháng thì bà mẹ nhuốm bệnh qua đời.
Được ít lâu sau, vào ngày mười hai tháng mười, Hùng công mất, con trưởng lên nối quyền, giao các em lĩnh chức tliổ quan cùng trông nom đất đai của tổ phụ. Xuân Nương ở với cUih cả là Hùng Thắng. Năm ấy Xuân Nương mới mười ba tuổi.
Xuân Nương càng lớn càng xinh, đàn hay vẽ đẹp, thông minh tuyệt vời, đọc sách chỉ một lượt là thuộc. Hùng Thắng thấy em nghiêm nghị đoan trang, ít cười ít nói, nghĩ rằng em buồn vì nỗi sớm mồ côi cả cha mẹ nên lại càng thương. Nhân nghĩ tới việc lớn, Hùng Thắng đem các môn võ nghệ cùng những cách bày bỉnh bố trận truyền dạy cho Xuân Nương, lại thường nóỉ với các em răng: “Múa giáo giương cung, luyện tập sĩ tốt, đó là việc của người hào kiệt buổi này”. Tới năm Xuân Nương mười sáu tuổi, tươi đẹp như đoá hoa hồng, đường cung mũi kiếm đều tinh thục. Xuân Nương tài sắc vẹn toàn, thùy mị, nết na, võ nghệ Unh thông, viết chữ và tính toán đều giỏi đến mức các bậc “tu mỉ nam tử” cũng không ai sánh kịp. Xuân Nương còn công, dung, ngôn hạnh, tứ đức kiêm toàn. Người
N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt N am 35
trong châu đều khen nàng là bậc nữ anh hùng. Khoảng thời gian ấy, Hùng Thắng đã bí mật liên kết với Thi Sách huyện lệnh Chu Diên cùng mưu chống Tô Định. Thi Sách tiếp Hìmg Thắng ở tư dinh cắn ngón tay rỏ máu vào chén riíỢu rồi chia đôi cùng uống, thề không đội trời cùng giặc Hán. Mọi viêc làm của Thỉ Sách bị Tô Định dò biết. Định thảm sát các người dự mưu với Thỉ Sách. Hùng Thắng bị Tô Định bắt, mắng chỉíỉ Tô Định cho tới lúc chết.
Bốn em trai của Hùng Thắng bị giặc bắt giết, chỉ có hai người trốn thoát đitợc cùng Xuân Nưdng. Ba anh em cùng bàn mưu kế, quyết không chịu thua Tô Định, phải trả món nỢ máu cho anh em được ngậm cười nơi chín suối. Xuân Nương khẳng khái nói: “Hai anh hãy tìm chốn ẩn mình chớ để giặc bắt được, hãy vào hang động như con cọp chờ lúc múa vuốt, hãy như con giao long ẩn mình nơi đầm hồ chờ lúc bay lên thét gió gào mưa. Nợ nước thù nhà, em xin cùng các anh gánh vác. Em là phận gái, giặc không để ý, lại ít ra ngoài không mấy người biết, có thể đi lại trong châu kết giao với các hào kiệt được!”.
Nàng cắt tóc giả làm nỉ sư đi đến các phủ, huyện tìm cảnh nhà chùa để chiêu tập binh hùng tướng mạnh. Tuy phận nữ, nhiừig tài năng viíỢt chúng, trong thiên hạ không ai sánh kịp. Nàng luôn thiện tâm giúp kẻ yếu, phù trỢ ngiíời nguy lấy lòng nhân làm phúc, nàng ở chùa Hương Nộn (Tam Nông) gần được một năm. Nhân dân trong vùng kính phục gọi nàng là bậc “Nữ trung hào kiệt khí tiết hơn ngvíời” coi đức của nàng như núỉ, nhií biển. Lúc bấy giờ, Bà Trưng dấy cờ khởi nghĩa
36 N hũng C õng chúa n ổ i tiế n g của các Triều đại Việc Nam
đánh Tô Định mà chưa tìm được người con trai nào thao lược hơn tài. Cũng khi đó Trưng Vương n ^ e thấy Xuân Nương là bậc nữ trung hào kiệt có chí báo thù cho cuih, hiện đang nuôi nhiều tướng sĩ trong nhà, tài danh lừng lẫy. Do vậy bèn lệnh cho Trưng Nhị truyền hịch nghênh đón Xuân Nương về cùng dốc lòng giúp nước, rửa thù chung. Khỉ tập hỢp được hơn 1000 người, vào ngày 3-5, nàng đem hết binh hùng giao cho Trưng Nữ Vương. Trưng Nữ Vương ban cho nàng thống lĩnh quân nội thị nữ tốt bên tả, tức là quân Đông Phương, đóng quân ở Hương Nha và cải tên nàng là “Ả Nương Công chúa đệ bát vị” để tham gia vào việc chính sự.
Trưng chúa phong cho Xuân Nương là Thị nội tham tán quân cơ, giúp Trưng chúa bày mưu định kế, lo liệu các việc. Trưng chúa họp 6 vạn quân ở Hát Môn, tiếng chiêng tiếng trống vang trời, gươm giáo sáng choang, cờ xí chói mắt, nam binh nữ tốt lẫm liệt oai phong. Tế cờ xong, quân chuyển lên đường, chia các đạo tiến đánh giặc Hán. thế mạnh như bão đổ nước dâng, cờ chỉ tới đâu giặc tan tới đó.
Trong trận hạ phá thành Luy Lâu, Xuân Nương đã lập được nhiều chiến công. Hai Bà Trưng xưng vương, bà được phong là công chủa. Rồi chính Trưng Vương đứng ra xe duyên cho Xuân Nương lấy Thi Bằng là em chồng của bà.
Hai vỢ chồng Thi Bằng là người thân tín, từng giúp rập Hai Bà Trưng nhiều công việc to lớn trong những ngày đất nước thanh bình.
Klii Mả Viện kéo quân sang xâm chiếm lại Giao Châu, hắn cho một đạo tiến theo sông Thao do tiíớng
N hũng C õng chúa n ổ i tiếng của các Triéu đại V iệt N am 37
Lưu Long đốc lĩnh, lần lượt phá vỡ các đồn trại trên tuyến của ta ở bên sông. Tình thế quân ta lúc đó trăm phần nguy cấp. Trương vương triiyền lệnh cho Xuân Nương cùng với Thí Bằng về lập phòng tuyến cự địch ngay ở nơi thực ấp của Xuân Nương. Đấy là phòng tuyến cuối cùng bảo vệ cho đạo quân Nàng Nội đóng ở Bạch Hạc. Hai vỢ chồng Xuân Nương ra sức chống đỡ, mặt thủy có Thi Bằng, mặt bộ có Xuân Nương. Hai bên giao chiến bảy ngày liền giặc vẫn chưa phá vỡ được phòng tuyến quân ta. Ngày miíời ba tháng hai, giặc vây Thi Bằng ở bến sông. Quân giặc ùn ùn kéo đến khép kín bốn mặt. Thi Bằng hi sinh oanh liệt trong trận đánh này. Xuân Nương được hn chồng bị vây, vội lên ngựa, hai tay hai kiếm cùng thập bộ tliần quan thẳng tới trận tiền. Nàng ra ra vào vào bốn năm lượt, chém rụng đầu mười viên tướng giặc mà vẫn không phá nổi vòng vây. Giặc đông như kiến, lớp này giãn ra lớp khác xông vào. Có tín tướng quân Thi Bằng đã bị giết hại, quân ta bối rối nao núng bị giặc đánh tan tác. Xuân Nương cùng vài nữ tốt lúc đó đều mặc nam trcUig đứng giữa vòng vây cự giặc. Đánh từ sánh tới trưa, mặt trời đã đứng bóng. Xuân Nương thấy bụng đau như thắt, chân tay bủn rủn, biết là động thai, cố sức chống đỡ che chỡ cho cái thai 5 tliáng nằm trong bụng. Các nữ tốt đều bị tử thương. Xuân Nương, vừa đau vừa mệt, ngựa sùi bọt mép, người đổ mồ hôi, áo giáp bị một mũi giáo đâm rách... Xuân Nương vội thúc ngựa chạy. Tướng giặc đuổi theo. Xuân Nương giật được một lưỡi dao của giặc, kìm ngựa quay ngoắt mình lại, đầu tướng Hán rơi như một quả chúi nẫu rụng khỏi cành. Quất ngỊía chạy được một quãng
38 N hũng Cóng chúa n ổ i tiếng cúa các T riều đại Việc Nam
vẫn chưa ứioát được vòng vây, Xuân Nương lại bị giặc phóng một mũi kích vào sườn, máu đổ ra như suối. Lúc ấy các thần quan chạy tới cố sức xông pha cứu nguy cho chủ tướng mới đưa được Xuân Nương ra khỏi vòng vây. Quân giặc bị đánh lui.
Xuân Nương xuống ngựa nằm gục ở bến Nam Cường, đau không dậy được, nước mắt ướt đầm cả mặt, khóc chồng, thương hòn máu đỏ nằm trong bụng. Các gia thần và nhân dân vực Xuân Nương dậy, dịt thuốc vào các vết thương, dâng cơm nước. Xuân Nương nghỉ ngơi được một lúc, giặc lại ồ ạt kéo đến vây khắp trước sau. Xuân Nương lên ngựa cùng các tướng vừa đánh vừa rút về cung sở ở Hương Nha. Xuân Nương đi tới đâu, máu rỏ ra tới đó, máu theo dấu chân ngựa rải khắp dọc đường. Tới Hương Nha, các tướng cố sức đánh lui quân giặc, nghiêm phòng cẩn mật, người không cởi giáp, ngựa không tháo yên. Xuễm Nương nghỉ được một đêm. Hôm sau. giặc lại kéo đến nhưng các tướng giữ vững thềmh lũy, giặc không phá nổi.
Hôm ấy, ngày mười lăm tháng hai, buổi chiều, Xuân Nương cho làm một cỗ chay cáo tế trời đất, cúng cha anh và cúng chồng rồi lui về nghỉ. Buổi tối, Xuân Nương gọi các gia thần, nữ tốt vào cung dặn dò mọi việc. Tới đêm. Xuân Nương lấy ngựa một mình ra đi, nhằm phía làng Hương Nộn lần bước. Mưa rơi như roi quất, chớp giật, sấm rền, Xuân Nương bụng đau âm ỉ, các vết thương ngấm nước nhức nhối, tránh các nơi giặc đóng, vừa đi vừa nghỉ. Nàng ngồi trên một hòn đá lớn ở Tiền Áo một lúc, khi đứng dậy hòn đá ướt đẫm máu. Xuân Nương lại gắng gượng lên ngựa, vượt gió
N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các T riều đại V iệt Nam 39
mưa về tới Hương Nộn. Tới đây, Xuân Nương thả ngựa, lần tới cửa chùa, ngồi nghỉ một lúc rồi lần bước khắp sau chùa, bồi hồi tưởng nhớ. Lần tới bờ sông Xuân Nương tự nói: “Ta không muốn tử tiết ở nơi cung sở để xác lọt được vào tay giặc và làm tan rã chí ba quân. Nay sức ta đã hết, xin một chết để báo ơn vua đền nỢ niíớc. Hồn ta muôn đời không tan, nguyện sẽ phù hộ cho dân cho nước”. Nói đoạn nàng gieo mình xuống dòng sông Thao cuồn cuộn trôi...'"
về sau, mọi ngiíời lập đền thờ bà tại xã Hương Nha và Hương Nộn, một nơi trước kia là đại bản doanh, còn một nơi là những phút lâm chung của bà. Bà được tôn là thần Thành hoàng của cả hai xã.
Lễ hội hàng năm ở đây đều được tổ chức trọng thể. ở Hương Nha có làm cỗ chay để tưởng nhớ những ngày trước kia bà Xuân Nương khổ công luyện tập cùng quân sĩ. Lại có các trò chơi đánh vật, kéo co và hát đối đáp, cùng là để nhớ sự tập luyện và vui chơi của quân sĩ trong một thuở xa xưa...
Miếu thờ Xuân Nương ở Hương Nha có hai câu đối như sau :
‘■yểu điệu phù Trưng trung quán nhật”
“Quật cường cự Hán tiết lăng sương".
(Đại ý: Người yểu điệu phù vua Trưng, lòng trung tranh sáng với mặt trời. Quật cường cự với giặc Hán, khí tìết thắng cả thời gian).
Noi Xuân Nưong gieo mình, theo truyền thuyết, hôm sau mối đùn lên thành gò, nhân dân gọi đấy tà mộ Xuân Nưong. Năm ngày sau khi Xuân Nutmg tử tiết, ngày 20 tháng hai, đồn trại Huong Nha bị giặc phá, các thần quan đéu tử tiết.
40 N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các T riều đại V iệt Nam
"Anh kiệt vô song, vạn cổ thanh danh lưu nữ sử" “Quân thần câu hoá, nhất không trung nghĩa tối thanh thiên”.
(Đại ý: Anh kiệt không hai, danh tiếng ngàn đời lưu vào sử sách những người con gái. Vua tôi cùng mất, lòng trung ngliĩa làm trời xanh vằng vặc cũng không bằng).
Nói riêng về tục lệ cầu tế ở xã Hương Nha: mọi lễ dâng Xuân Nương đều làm cỗ chay, có bánh dày, mật mía và củ mài. Các lễ tế mitời vỊ thần quan và quân sĩ đều mổ trâu, nồi da nấu thịt, cỗ bày trên mâm tre đan lót lá chuối, lá ngõa, lá ngô đồng. Ngày tíệc, mở hội ở bến Lão Châu tức bến Đông, có trò trình nghề (rước các nghề nghiệp), cày bừa té nước vào nhau (diễn xướng lễ nghi nông nghiệp) hái dâu, bán kén, chọi gà, đánh vật, kéo quân, trai gái hát đối đáp.
Xuân Nương công chúa thường hiển linh, phù hộ độ trì cho nhiều tướng lĩnh mỗi khi xuất quân ra trận. Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.
Theo thần tích ở Hương Nha, khi quan thái thú Lê Thiện là tướng của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đem quân đánh giặc Minh có qua đây đêm mộng thấy Xuân Nương hiện lên cho biết sẽ âm phù cho nghĩa quân thắng giặc. Sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ có phong sắc cho Xuân Nương là “Đệ bát vỊ Đông cung công chúa Xuân Nương”, phong cho các thập bộ thần quan là Đại vương, giao cho dân sở tại tu sửa đền miếu hương khói đời đời. Phong Xuân Nương là “Đệ bát vỊ” vì nàng là con thứ tám.
Tên tuổi của Bà còn khắc mãi trong nhân gian.
. N hũng C óng chúa n ổ i tiếng cúa các T riều đại V iệt N am 41
trong từng bia đá, sắc phong, hoành phi câu đối: Tiếng tăm khí tiết lưu muôn thuở
Sắc áo ban phong trải khắp triều.
Hiện nay khu di tích: E)ền, miếu Hạ của Hương Nha còn lưu giữ được hàng trăm hiện vật quý giá với lịch sử thờ nữ tướng Xuân Nương, đặc biệt có một cuốn ngọc phả viết nám 1572 và một cuốn sao lại sắc phong các triều đại và 3 sắc phong thời Nguyễn.
Chùa ở Hương Nộn nói trong truyền thuyết trên là chùa Khánh Long tự dựng ở mỏm cao bên sông Thao gọi là Phác Sơn, thuộc xã Hương Nộn trước gọi là hương Tuế Phong, cũng gọi là Kẻ Xoan. Các xã Thanh Uyên (gồm Tiền Áo, Giá Áo, Nam Cường), Tam Cường và Hương Nha là khu vực chiến trường Xuân Nương và Thi Bằng đánh nhau với quân Hán.
ở xã Hương Nộn, ngày cầu Xuân Nương, ngoài các trò chơi, còn có hát xoan. Các phường xoan Kứn Đức và An Thái (Phù Ninh) sang hát chầu theo tục lệ, hát từ chập tối tới gà gáy sáng và liền ừong ba ngày. Trong các buối hát thờ ấy, triíớc bàn tíiờ Xuân Nương có sáu người con gái xinh đẹp chưa chồng, mặc quần áo xanh đỏ, chít chăn chéo hai bên sườn, cầm kiếm và hộp trầu, đứng nghiêm suốt buổi lễ.
Dân địa phương kiêng tiếng Xuân, tiếng Ả, tiếng Nương, và các tiếng Hiên, Hoa là tên mẹ Xuân Nương, tiếng Sát là tên bố Xuân Nương.
Nguồn bàỉ viết dựa theo
Diễn đàn Công đồng Tứ phủ hoangbo.vn
42 N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
Phật Nguyệt Công chúa
Đinh Phật Nguyệt (23? - 43), một trong 20 nữ tướng tài giỏi của Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa ở Thanh Ba, Phú Thọ. Được Trưng Vương phong là Phật Nguyệt công chúa giữ chức Thao Giang Thượng tả tướng tliuỷ quân.
Làng Yển bên sông Thao có ông Đinh Văn Bôn làm nghề bốc thuốc là người nhân hậu, hiền lành, được nhân dân yêu mến và quý trọng. Không những ông mát tay hay thuốc mà lạú sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó, nhiều khi chỉ chữa hộ không cần trả công. Có những đêm trời rét như cắt da, ông vẫn ra đi theo lời mời để chữa trị các con bệnh cấp cứu hiểm nghèo. Nhà ông thuộc vào loại khá giả trong vùng, có của ăn của để. Tuy vậy ông vẫn không được vui vẻ, thường vẫn phàn nàn “dao sắc không cứa được chuôi”, vì làm bạn vói bà Phí Thị Vang đã mười năm mà vẫn hiếm muộn không được mụn con nào. Tới năm ba mươi tuổi, bà Phí Thị Vang mới có mang, sinh được một gái. Hai vỢ chồng mừng rỡ đặt tên con là Phật Nguyệt. Tên đệm của bà được ghép từ chữ Đinh là họ cha với chữ Phí là họ mẹ thành chữ Phật - Đinh Phật Nguyệt, sự kết tỉnh tình yêu của cha mẹ như điềm báo một điều tốt lành. Bà được cha mẹ cho học chữ, may vá thêu thùa, tầm tơ canh cửi. Với tính thông minh, tháo vát, cần cù siêng năng, 13 tuổi bà đã nổi ưếng khắp làng trên xóm dưới, bà con yêu quý.
Chẳng may Phật Nguyệt mười lăm tuổi thì bố mẹ
. N hững C ông chúa n ố i tiếng của các T riéu đại Việt N am 43
lần lượt qua đời, Phật Nguyệt mồ côi cả bố lẫn mẹ, nhưng với tuổi mười lăm nàng đã sớm biết suy nghĩ và tự do lo liệu được mọi việc gia đình. Vả lạí họ hàng làng xóm đều giúp đỡ nàng mà chẳng ai có bụng lấn át hay có ý coi thường nàng.
Cơ nghiệp của bố mẹ để lại có một nếp nhà gỗ năm gian, ba sào vườn và vài mẫu ruộng. Vườn trồng dâu để nuôi tằm. Tháng năm kén tằm vàng óng phơi trước sân trước ngõ mọi nhà. Cả làng Yển đều nuôi tằm kéo tơ bán cho lái các nơi về ăn hàng. Ruộng làng Yển là chân ruộng chiêm trũng, lại thường ngập nước sông nên cũng chẳng được bao nhiêu hạt lúa.
Năm 34 (Giáp Ngọ) Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ thay cho Tích Quang. Tô Định thi hành chính sách cai trị và bóc lột rất tàn bạo đối với người Việt.
Phật Nguyệt suy nghĩ và bất bình khi nhìn các cảnh trái ngược, những tên quan đô. hộ và bọn tay sai thì vàng bạc đầy kho, thóc lúa đầy bịch, no nê phè phỡn, đày tớ nô tì hàng chục hàng trăm, còn nhân dân thì hầu hết chui rúc trong những túp lều lụp xụp, ăn đói mặc rách.
Nàng càng căm phẫn thấy những cô gái trẻ xinh tươi và làm lụng chăm chỉ bị bán vào các cửa nhà quan, cửa nhà giàu, phải kéo dàỉ một cuộc đời đày đọa máu hoà nước mắt.
“Ruộng chiêm là chiêm bao”, cả vùng đất đồi gò bên sông Thao này khổ vì nạn nước, nước sông nước đồng. Có lỀưn mà chẳng có ăn. Nhưng mặc dân mất mùa đói kém, giặc vẫn thu cho đủ thuế đủ lương, vẫn bắt người đỉ phu đi tráng, dù cho nước ngập trắng
44 N hũng Công chúa n ổ i tiếng của các Triều đại Việc Nam
đồng, dân sờ không thấy lần không ra một hạt gạo, khiến nhân dân khắp nơi đều xôn xao phẫn uất. Cám thù tội ác của gỉặc, bà Đỉnh Phật Nguyệt đã cùng trai tráng trong làng mộ quân, đêm ngày luyện võ, rèn vũ khí, quyết sống mál VỚI quân xâm lược. Giữa năm 40, bà Đinh Phật Nguyệt đã đem 2.000 quân gia nhập lực híỢng của Hai Bà và được phong làm Tả tướng thủy quân, trấn giữ vìmg sông Thao, không cho giặc tiến về xuôi. Bà cho một nửa số quân trấn giữ phía Tây sông Thao, một nửa bố phòng tại phủ Lâm Thao. Với tài mưu lược quân sự và lòng quả cảm, nhiều trận huyết chiến đã diễn ra giữa quân của bà Đinh Phật Nguyệt với quân của Thái thú Tô Định, buộc chúng phải tháo chạy. Sau đó, bà nhận lệnh của Hai Bà đem 1.500 quân về ứng chiến vùng Kinh Bắc, hỢp với quân của Hai Bà giải phóng 65 thành trì kiên cố, đuổi cổ Tô Định ra khỏi biên ải nước ta. Bà Đinh Phật Nguyệt tiếp tục truy kích quân ciìia Tô Định từ Lào Caỉ cho đến tận hồ Động Đình (ở gần thành phố Nam Ninh của Trung Quốc ngày nay).
Đinh Phật Nguyệt lập nhiều công lớn nên khi bình xong giặc, khi hai Bà Trưng xưng Vua đã phong bà là công chúa và làm Tổng trấn vùng Động Đình.
Phật Nguyệt lấy làng Yển làm thực ấp, mở bến mở chợ, từ đó Yển trở nên một nơi sầm uất đông vui. Theo lệnh của Vua Trưng, Phật Nguyệt cùng các tuỳ tướng đi tìm đất hiểm yếu để lập đồn trại, mới vào vùng đất giữa, trang Thanh Cù nghỉ lại đêm ở một toà miếu nhỏ. Hôm sau, Phật Nguyệt chọn tuyển ở trang Thanh Cừ mười lăm người làm bộ hạ, lại bàn với các
. N húng C õng chúa n ổ i tiế n g của các Triều đại Việc Nam 45
cụ sửa lại cổ miếu, cử người trông nom đèn nhang. Phật Nguyệt đặt ở đấy một đồn quân gọi là đồn Gò Voi. Phật Nguyệt lại cho đào một con ngòi từ Yển vào Thanh Cù gọi là ngòi CỄii để tíện việc đi lại.
Với dã tâm xâm lược nước ta, nhà Héin lại sai Mã Viện đem đội quân hùng mạnh sang xâm chiếm nước ta. Sông Thao là đường uến quân chiến lược của Mã Viện uến đánh Bạch Hạc, vì thế y giao cho phó soái Lưu Long tiến theo đường này. Phật Nguyệt chống cự với Lưu Long ở mạưi ngược sông Thao nhiều ữận đẫm máu, giặc bị kìm chân không xuôi về Nam được. Ngày mồng mười tháng hai năm Quý Mão, Lưu Long dùng kế phục quân đang đêm bao vây phá vỡ đại đồn của Phật Nguyệt. Phật Nguyệt tả xung hữu đột thoát được vòng vây, chạy tlieo bờ sông một thôi đường, ngoảnh lại quân tướng không còn c ú , sau lưng lửa bốc rực ừời, giặc lại chận đánh ở phía trước. Phật Nguyệt kêu to một tiếng, phóng ngỊía xuống sông. Dòng sông bỗng chốc sôi réo lên cuồn cuộn, tạo thành những vòng nước xoáy lớn như những cánh tay cửa tliiên sử hùng ca của dân tộc đón chào bà“'. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều di vật như mũi tên đồng dưới lòng sông tại cầu Kiều (cây cầu bắc qua biên giới hai nước Việt - Trung) được cho là của đội quân bà Đinh Phật Nguyệt.
Các triều đại phong kiến nhà Lê, nhà Nguyễn đều có những đạo sắc phong cho bà. Ngôi đình làng Vũ Ẻn thờ bà là Nhân Thần.
Phật Nguyệt công chúa là một ngurVi con gái anh hùng của sông Thao, vì bất bình trước cánh lầm than của nhân dân mà tuốt gưưm đứng dậy, kiên tri mưu trí, thu phục đuực hào kiệt, làm nên được công trạng hiển hách.
46 Những Công chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
Cuốn Ngọc phả ”Tnfng nữ vương triều công thần nhất vi âm phù, nhất vi đại vương Ngọc phả cổ lục” còn lưu giữ tạl làng Vũ Ẻn, Thanh Ba, Phú Thọ đã ghi chép thân thế và sự nghiệp của Nữ Vương Đinh Phật Nguyệt.
Giáo sư, bác sĩ Trần Đạl Sĩ, người Pháp gốc Việt, thành viên tổ chức Y tế thế giới, Giám đốc Trung Quốc VỊI viện Pháp-Á trong chuyến nghiên cứu những năm
1978-1979 tại các tỉnh cực Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu đã viết về bà Đinh Phật Nguyệt trong tác phẩm; “Thử tìm lại biên giới cổ cỉia Việt Nam bằng cổ sử, bằng Triết học, bằng Di tích và hệ thống AND” như sau: “...Tại thư viện Bảo tồn di tích cổ, tôi tìm thấy một cuốn phả rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ Tám, chép về Nữ vương Phật Nguyệt như sau: ...Vua Quang Vũ nhà Đông Hán sai Phục Ba tướng quân Tân Tức hầu, Long Nhương tướng quân Thận hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà (Hai Bà Trưng) sai Nữ vương Phật Nguyệt làm Tổng trấn hồ Động Đình. Mã Viện, Lưu Long bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga Mi, một tay nhổ núi Thái Sơn đánh quân Hán xác lấp sông Trường Giang, hồ Động Đình..., ta nhân ngày lành viết lại truyện xưa, xin dâng câu đối:
“Tích trù Động Đình uy trấn Hán
Danh litu thanh sử lực phù Trưng”
Nghĩa là;
“Một trận Động Đình, uy rung Hán
Tên còn trong sử sức phù Trưng”.
Câu đối này cũng được ữeo ở đình làng Phượng Lĩnh. Đỉnh Văn Bình, BLLHĐ Hải Dương
N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt N am 47
ở vùng Trường Sa - Hồ Động Đình, dân gian truyền tụng rằng:
“Ngày xưa Ngọc HoỀing thượng đế, một hôm ngự tại điện Linh Tiêu. Có hai công chúa đứng hầu bên cạnh, lỡ tay đánh vỡ chung rượu bằng ngọc. Ngọc Hoàng thượng đế nổi lôi đình, truyền đày hai công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa tuân lệnh đỉ đầu thai. Công chúa đầu thai được một ngày, thì Nam Tào, Bắc Đẩu giữ sổ tiên lại vào tâu rằng; Công chúa xuống đầu thai, có tới 162 vị tiên trung thành với công chúa, cùng đầu thai theo. Ngọc Hoàng thượng đế sỢ rằng công chúa làm loạn hạ giới. Ngài bèn sai Thanh y đồng tử xuống thế, cùng với Nhị thập bát tú. Thanh y đồng tử đầu thai thành vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú sau thành hai mươi tám vị tướng thời Đông Hán. Hai công chúa đầu thai làm con gái Lạc tướng họ Trưng. Công chúa mới sinh ra đã biết nói, có hương tliơm đầy nhà. Lạc tướng đặt tên là chị là Trắc, em là Nhị. Trưng Trắc lớn lên có sức khỏe bạt sơn, cử đỉnh. Đến tuổi trưởng thành. Lạc tướng gả về cho họ Đặng, tên Thi Sách.
Thi Sách “mưu phản” bị thái thú Tô Định giết chết. Trưng Trắc nổi giận cùng em là Tnừig Nhị, khởi bỉnh “làm phản”. Anh hùng các nơi gồm một trăm sáu mươi hai người nổi lên theo. Chỉ trong một tháng chiếm sáu mươi lăm thành trì. Các quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận. Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ đều bị chiếm. Tníng Trắc tự xiíng làm vua, chiếm lĩnh nửa thiên hạ.
Vua Quang Vũ nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Mă Viện, suất lĩnh binh nghiêng nước đánh vua Bà. Vua bà sai Nữ viíơng Phật Nguyệt dẫn quân từ Trường
48 N hũng C ông chúa n ố i tiế n g của các T riều đại V iệt Nam
Sa đến hồ Động Đình đại chiến. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, hoá ra ba đầu, sáu tay. Một tay nhổ núi Thái Sơn, một tay nhổ núi Nga Mi, đánh chết trên một trăm vạn quân Hán. Xác người lấp kín hồ Động Đình, sông Trường Giang bị nghẹt.
Oán khí bốc lên đến trời. Ngọc Hoàng tìiượng đế vội truyền thiên binh, thiên tướng xuống giúp Mã Viện. Đánh nhau trong ba năm bất phản thắng bại. Các thiên binh, thiên tướng về Thiên đình tâu lại. Ngọc Hoàng thượng đế không biết làm sao, phải phái thần Du Liệt sang Tây phương cực lạc cầu cứu đức Phật Như Lai. Phật Như Lai bèn sai mười tám vị La Hán, năm trăm vị Kim Cương đến trợ chiến, cũng bị thua. Sau ngài nhờ Nam Hải Quan Thế Âm đến hồ Động đình thuyết pháp. Nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, xin đi tu, thành Phật”.
Bản “Sự tích Nữ vương Phật Nguyệt” lược thuật trên đây được viết vào thế kỷ thứ tám. Từ thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ tám là thời gian dài thích hỢp cùng khuynh hướng cả loài người phát triển nhiều tôn giáo còn trường tồn tới ngày nay. Cũng từ quy luật tổng thể chung, “Đạo” của Nữ virơng Phật Nguyệt là truyền nối sự nghiệp, công đức Hai Bà Trưng, nhưng thời đại Hai Bà Trưng là kế nghiệp thời đại Hồng Bàng. Lịch sử Việt để lại nền móng xây dựng, mỗi viên gạch lại được trau chuốt, chọn lựa qua thời gian kết hỢp thành toà lâu đài kiến trúc lý tưởng.
Nghệ thuật kiến trúc “Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt” đạt mức hùng, bi, thiện mỹ ở chỗ: phá đổ và vùi lấp tluiyết “tliiên triều bịp bợm”, nhưng lại dùng
N hũng C ông chúa n ố i tiế n g của các Triều đại V iệt Nam 49
ngay nó bị khuất lấp để xây dựng “Đạo Vua Bà” lên trên. Loài người có thể ước mơ tới tương lai nào đó, cả loài người chung sống trong hạnh phúc và ưến bộ. Liệu điều mơ ước ấy có phải là tôn chỉ cùng là cứu cánh của “Đạo Vua Bà” hay không?
Nhận định cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cùng truyền thuyết Nữ viíơng Phật Nguyệt tức vị Nữ Chúa hồ Động Đình cộng với tín ngiíỡng Đạo Vua Bà trải qua lịch sử kéo dài cho tới ngày nay, khiến mỗi công dân người Việt không thể không liên tưởng nghĩ: - Đã có biết bao nhiêu cuộc vận động, bao nhiêu cuộc khởi nghĩa và kháng chiến hào hùng đồng loạt diễn ra dưới thời đại Hcú Bà Trưng và truyền lại ý chí bất khuất mãi mãi cho hậu thế ra sao? Những cuộc khởi nghĩa tranh hùng ấy đã bị lịch sử ngoại xâm xuyên tạc, đã bị bụi thời gian che khuất mất bao hào quang?
Theo httv://vuonadam.bloasDOt.com
50 N hũng Công chúa n ố i tiếng cúa các Triều đại V iệt Nam
Cổng chúa Phất Kim
sử sách chép rằng, trong số ba công chúa của Vua Đinh Tiên Hoàng (trừ Minh Châu và Phất Ngân‘'') thì Phất Kim mang số phận tủi buồn nhất. Cô được vua cha sắp xếp gả cho sứ quân hàng đầu dòng dõi quý tộc Ngô Nhật Khánh nhằm thu phục dưới trướng.
Cô cóng chúa cưới chồng chỉ vì nghe lờỉ vua cha Đinh Tiên Hoàng, sinh ngày Rằm tháng Hai, năm Giáp Thân (tức 22/3/924) ở thôn Kim Lư, lềmg Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình). Từ bé Đinh Bộ Lĩnh đã tỏ ra là người có khả năng chỉ huy, ông cùng các bạn chăn trâu lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau. Và trong đám bạn đó, có Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trinh Tú, những người sau này cùng Đính Bộ Lĩnh tạo nên sự nghiệp.
Năm Ất Sửu - 965, sau khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn (con trai Ngô Quyền) mất, các hùng trưởng
Nhiều sử liệu chép Công chúa Phân Ngân là con gái của Lẽ Đại Hành với Dương hậu.
Về các con Vua Đinh Tiên Hoàng, các sử chép thống nhất có 3 con trai Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang, Đinh Toàn. Riêng con gái vua không chép rõ ràng nhung căn cứ vào các thần tích tại nhiéu đền thờ có thể thấy ít nhất vua có 4 con gái là công chúa Phất Kim (được thờ ờ đền thờ công chúa Phất Kim khu di tích c ố đô Hoa Lư), công chúa Phù Dung (được thờ ở đình Phù Sa, xã Viên Son thị xã Son Tây Hà Nội), công chúa Minh Châu là vợ của Trần Thảng, em sứ quân Trần Lãm và công chúa Liên Hoa (được thờ ớ đình Trâm Nhị, Ân Thi, Hung Yên).
Những C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam 51
trong nước đua nhau nổi dậy chiếm cứ các quận ấp, chia thành mười hai sứ quân. Ngô Nhật Khánh (dòng dõi Ngô Quyền) là một sứ quân khá mạnh, chiếm cứ vùng Đường Lâm (Sơn Tây) tự xưng là An Vương.
Nhật Khánh là người thao lược có chí khí ngang tàng, tính tình lại phóng đãng vô độ. Nhật Khánh thường nói với các thuộc hại
- Nếu phải giết hàng vạn sinh linh để được lấy cả thiên hạ thì ta cũng không từ.
Nhật Khánh có nốt ruồi mọc giữa nhân trung, lại có ba chiếc râu mọc ngược lên mũi trông rất dữ tỢn. Hồi Khánh mới lọt lòng đã có thầy tướng nói thằng bé này sau lớn lên sẽ phát về đường binh quyền nhưng nó có tướng phản ngliịch, mẹ cha không được cậy nhờ. Nghe nói vậy, mẹ Nhật Khánh là bà Hoàng Thị rất buồn.
Đỉnh Bộ Lĩnh từ núi rừng hiểm trở của Hoa Lư giương ngọn cờ Thái Bình, chiêu hiền đãi sĩ, thế lực ngày cềmg mạnh, đánh đâu thắng đó. Nhiều sứ quân không bị đánh, chỉ nhận được phủ dụ của Đính Bộ Lĩnh cũng tự xin hàng, đem quân bản bộ về theo Bộ Lĩnh. Riêng sứ quân An Vương Ngô Nhật Khánh mặc dù đã bị quân Hoa Lư bao vây ngót một tháng trời vẫn không chịu đầu hàng. Nhưng sau lương cạn, tình thần binh sĩ hoang mcUig, chán nản, Nhật Khánh nghe lời khuyên của một đại tướng dưới trướng, tạm đầu hềuig Bộ Lĩnh để tính kế dài lâu. Thế cùng, lực kiệt, Nhật Khánh cho là phải nên lệnh mở cửa thành đầu hàng. Nhật Khánh cùng với mẹ và các tướng liêu thuộc của Khánh bị bắt đưa về kinh đô Hoa Lư.
Biết Nhật Khánh là một người tài giỏi, Đỉnh Tiên
52 N hũng Công chúa n ố i tiếng cúa các Triều đại V iệt Nam
Hoàng dày công ứiu phục để có thêm sức mạnh. Nhật Khánh vờ thần phục Đinh Tiên Hoàng nhưng ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng chống lại. Để củng cố lòng tin cho những người xung quanh tin theo mình, Khánh nói:
- Ta vốn dòng dõi Ngô Tiên Chúa. Đêm nào ta cũng nằm mộng thấy Tiên Chúa về thúc giục ta, phù trỢ ta đánh lấy giang san. Rồi ta sẽ làm vua cả dải đất Nam Việt này. Bọn bay, đứa nào vì nghiệp lớn của ta thì sẽ theo mau, nếu không sau này hối lại cũng không kịp.
Có người mang chuyện đó tâu lại với vua Đinh Tiên Hoàng, ông cười và gạt phắt đi:
- Làm ^ có chuyện đó. Từ nay, nếu ai còn nói chuyện đó để chia rẽ đạo quân thần thì phải chịu hình án. Nghe nhà vua nói như vậy, tất cả các quần thần đều khiếp sỢ không ai dám nói nửa lời. Vì vậy, Nhật Khánh càng có cơ hội chuẩn bị điều kiện để chống lại Đinh Tiên Hoàng.
Đinh Tiên Hoàng là người rất cơ mưu nên mọi việc làm của Nhật Khánh đều không qua được mắt nhà vua. Nhưng bề ngoài Đinh Tiên Hoàng vẫn vờ như không biết để lấy nhân nghĩa thu phục Nhật Khánh.
Lúc này, một tù trưởng ở mạn cử Long (Thanh Hóa) đang nổi dậy để chống lại Đinh Tiên Hoàng. Khuông Việt đại sư dâng kế sách cho vua Đinh, phong Nhật Khánh làm Tả đò úy Đại tướng quân, thống lĩnh nám ngàn tinh binh vào cử Long dẹp loạn. Nhà vua nghe tlieo. Quả nhiên, thấy được trọng dụng, Khánh hăng hái đốc suất binh mã lên đường. Không đầy hai tuần, Khánh đá dẹp tan phản loạn và xin nhà vua cho
Những C ông chúa n ố i tiếng cúa các Triều đại V iệt Nam 53
đóng doanh thự ở Ái Châu. Vua Đinh bằng lòng và cử người tâm phúc của mình vào để dò xét Khánh. Khuông Việt đại sư tâu lại với vua Đinh;
- Nhật Khánh tuy không ngờ về đức độ của Nhà vua nữa nhvíng vẫn chưa hết lòng phản trắc. Xin nhà vua hãy lấy tình thân quyến để cải hối cho Khánh.
Bà Hoàng Thị, mẹ Nhật Khánh từ khi theo con trai về kinh đô Hoa Lư, bà càng cảm phục tài đức Đinh Tiên Hoàng. Trước đây, bà là con gái một viên quan võ xứ Đường Lâm nổi tiếng tài sắc. Chồng bà Ngô Công, một titớng quân thao lược của Ngô Xương Văn, chẳng may mất sớm. Bà đưa con về ở với cha mẹ mình và nuôi cho Nhật Khánh trưởng tíiành. Bà từ chối tất cả những lời thỉnh cầu của bao vỊ quyền quý, vương giả để thờ chồng, nuôi con. Ấy vậy mà bây giờ theo con trai về kinh đô Hoa Lư, trước dáng vẻ đường bệ, uy nghi như rồng, mạnh mẽ dũng mãnh như beo, như cọp của Đinh Tiên Hoàng, lòng bà thấy xốn xang sống dậy ở tuổi đôi mươi. Thực sự bà bị tài đức của vua Đinh cảm hóa không gì cưỡng lại được.
Còn Đinh Tiên Hoàng từ khi gập bà Hoàng Thị sau cái buổi hạ thành Đường Lâm, nhà vua đã bị dung nhan quý phái, kiều diễm của bà chinh phục. Được lời khuyên của Khuông Việt đại sư, lại là chuyện có liên quan đến đại sự quốc gia, nhà vua đã lấy bà Hoàng Thị làm vỢ. Thế là mẹ Nhật Khánh trở thành cồ quốc Hoàng hậu, một trong năm hoàng hậu của Vua Đinh.
Đám cưới của một ông Hoàng Vạn Thắng với bà Hoàng phu nhân tái giá làm xôn xao khắp nước Đại cồ
54 N hũng C ông chúa n ố i tiếng cúa các Triều đại Việc Nam
Vỉệt. Ngô Nhật Khánh cũng miễn cưỡng cùng thuộc hạ của mình về kinh đô Hoa Lư dự ngày hôn lễ của mẹ. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi: “Ngô Nhật Khánh là bà con của Ngô Tiên Chúa (tức Ngô Quyền). Trước kia, (Ngô Nhật Khánh) từng xưng là An Vương, cùng trong số mười hai sứ quân giữ đất tranh hùng. Khi Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp được (Ngô) Nhật Khánh rồi, bèn lập mẹ của hắn làm hoàng hậu, hỏi em gái của hắn cho con mình là Nam Việt Vương (Đinh) Liễn, lại gả công chúa cho hắn nữa, thế mà Ngô Nhật Khánh vẫn không bớt oán hờn...”. Chuyện tình của Công chúa Phất Kim và Ngô Nhật Khánh bắt đầu từ đám cưới giữa vua Đinh Tiên Hoàng với mẹ của Ngô Nhật Khánh. Trong đám cưới của mẹ mình với Vạn Thắng Vương - Đinh Tiên Hoàng, Ngô Nhật Khánh cũng miễn cưỡng cùng thuộc hạ của mình dự ngày hôn lễ của mẹ.
Bữa yến tiệc diễn ra, vua Đinh Tiên Hoàng đã cố tình khéo léo sắp xếp cho người con gái kiều diễm của mình là công chúa Phất Kim ba lần đến chúc rượu Nhật Khánh.
Ngay từ phút đầu tiên trông thấy nàng, Nhật Khánh đã bàng hoềmg trước vẻ đẹp kiều diễm của nàng. Đến lần chúc rượu thứ hai, Nhật Khánh giơ tay đón ly rưỢu, vờ nắm vào bàn tay tháp bút của công chúa. Phất Kim e lệ sẽ sàng rút tay lại.
Nhật Khánh hỏi; “Quý danh của nàng liệu ta có biết được chăng?”. “Dạ tliưa tướng quân, tên thiếp là Phất Kim”, Phất Kim công chúa bẽn lẽn trả lời. “A! Phất Kim”, Nhật Khánh nói như reo. Đến lần chúc
N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Tríéu đại V iệt Nam 55
rượu thứ ba, Nhật Khánh táo tỢn hỏi; “Ta muốn cùng nàng sum vầy gia thất, liệu nàng có bằng lòng không?”. Phất Kim đáp lễ: “Cảm ơn tướng quân đã có lòng hạ cố” và rảo bước không dểưn ngoái lại nhìn. Đinh Tiên Hoàng đã biết rõ Nhật Khánh rất mê đắm công chúa Phất Kim, ngưới con gái yêu của mình. Nhà vua vẫn không hề nói g^, cứ mặc cho Nhật Khánh theo đuổi. Nhật Khánh đã nhiều lần ngỏ lời nhưng đều bị Phất Kim từ chối. E)oểm biết Nhật Khánh bề ngoài nói cười vui vẻ nhưng trong lòng vẫn ngấm ngầm tính chuyện khởi sự. Vua Đinh bèn gọi công chúa đến dạy bảo: “Tướng quân Ngô Nhật Khánh là người thao lược vào bậc nhất nhưng chưa thực sự tận trung vì sự nghiệp của cha, giặc Tống và giặc Chiêm đang lăm le bờ cõi, nếu được Nhật Khánh giúp thêm vây cánh thì Đại cồ Việt ta còn gì bằng... Cha muốn con ưng thuận lời thỉnh cầu của Nhật Khánh, để lấy tình phu phụ thuyết phục Nhật Khánh giữ trọn đạo hiếu trung”. Phất Kim nghe lời cha dạy bảo liền nhận lời cầu hôn của Khánh.
Thế là Tả đô úy Nhật Khánh trở thành phò mã của vua Đinh sau việc tểii giá của mẹ với Đinh Tiên Hoàng. Ban đầu Nhật Khánh sống hạnh phúc với Phất Kim và không còn ý định tạo phản nữa.
Bị xẻo má vì khuyên chồng không làm phản Cuộc hôn nhân của Phất Kim công chúa và Ngô Nhật Khánh trong những ngày đầu đã diễn ra êm ấm và hạnh phúc. Nhưng rồi một hôm, có một người lái buôn phương Bắc sau khi bán cho Nhật Khánh một đôi ngọc lưu ly vô cùng quý hiếm, cứ nhìn Khánh
56 N hũng Công chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
chằm chằm, nói điều to nhỏ.
Người lái buôn này cũng trao cho Khánh một phong thư. Nhật Khánh xem thư xong rồi bỏ vô miệng nhai nuốt luôn. Hai ngày sau, phò mã đô úy Nhật Khánh xỉn phép vua cha cho mình cùng công chúa Phất Kim đi kinh lý Ái Châu bằng đường thủy.
Ngô Nhật Khánh cũng xin Đinh Tiên Hoàng cấp năm chiến thuyền hộ tống công chúa và phò mã. Đinh Tiên Hoàng đồng ý. Thuyền xuôi dòng Vân Sàng, qua Ngọc Thỏ cảng, vượt cửa Thần Phù rồi ra biển Đông. Ngồi trên thuyền Phất Kim hỏi chồng rằng: “Chúng ta đi đâu?”.
Nhật Khánh lúc này nghĩ Phất Kim là phận gái. đã theo chồng nên nói dỗ dành: “Chúng ta sẽ vượt qua Nam Giới chạy sang cầu cứu vua Chiêm. Người Tống đưa đường và sẽ giúp chúng ta. Việc thành, nàng sẽ trở thành chính cung hoàng hậu của nước Đại cồ Việt”.
Tuy nhiên, không như những gì Ngô Nhật Khánh mong muốn, Phất Kim một lòng cương quyết: “Không! Chúng ta không bao giờ được phản bội phụ vương, phụ bạc kinh thành Hoa Lư và nước non Đại Việt!”.
Nhật Kliánh lại nói thêm: “Hôm vừa qua, viên khách thương nhà Tống đã báo cho ta biết sứ giả nhà Tống đỢi ta đến yết kiến vua Chiêm. Vua Chiêm có nhiệm vụ cấp cho ta binh lính và chiến thuyền tấn công Đại cồ Việt bằng đường thủy. Còn về đường bộ, vua Tống đã hứa giúp đội quân mạnh nhất, có nhiều dũng tướng giỏi, đánh bằng được Đại cồ Việt. Nàng không nghe ta thì sau có hối sẽ là muộn”.
Những C ông chúa n ố i ciéng cúa các Triều đại Việt Nam SI
Công chúa Phất Kim giọng tha thiết nói: “Thiếp theo lệnh vua cha đã cho xuất giá để theo minh công. Trọn đời này, kiếp này chỉ biết có minh công mà thôi. Nhưng chàng phải hồi triều, không thể nào phản lại vua cha để mang tội bất hiếu, bất trung và mang tội phản lại dân tộc”.
Nghe những lời tâm huyết đó, dường như Nhật Khánh cũng nao lòng. Song sang ngày hôm sau, khỉ thương nhân phương Bắc lại tiếp tục nhỏ to với Nhật Khánh thì Nhật Khánh đã rút dao xẻo má công chúa một cách lạnh lùng, tàn nhẫn. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Ngô Nhật Kliánh dẫn vỢ là công chúa của Đinh Tiên Hoàng đi trốn. Tới cửa biển Nam Giới (tức là cửa Sót, nằm ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), hắn rút dao bên mình ra, xẻo má vỢ mà kể tội; Cha mày đã lừa gạt để ức hiếp mẹ con ta. Ta có đâu lạỉ vì mày mà bỏ qua tội ác của cha mày. Thôi, mày hãy trở về, ta sẽ một thân một mình đi tìm ai có thể cứu được ta đây...”. Sau đó sang thuyền chiến cạnh đó, hối thúc quân chèo thuyền đi, bỏ lại thuyền công chúa với người hầu.
Công chúa Phất Kim được đưa về kỉnh thành Hoa Lư chạy chữa thuốc men, tuy vết thương trên mặt đã lành, nhưng vết sẹo trên má không bao giờ có thể làm nguôi được nỗi đau đớn, tủi nhục trong lòng của một người vỢ có chồng là Tướng quốc, là Phò mã, mà lại theo giặc ngoại bang để chống lại vua cha. Phất Kim đã xuống tóc, đi tu trong một ngôi chùa ở Kỉnh thành Hoa Lư. Nàng đau đớn tuyệt vọng, lại phải chịu nỗi đau đớn kinh hoàng nữa là vua cha và anh cả là Đinh Liễn
58 N hũng C ông chúa n ố i ciỂng cúa các T riều đại V iệt N am
bị Đỗ Thích sát hại. Triều đình đang rối ren, các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn đang dàn quân đánh lẫn nhau. Rồi Đinh Điền, Nguyễn Bặc, hai cựu thần trung thành và đệ nhất công thần của vua Đinh, vì lòng trung quân mà kéo quân từ Ái Châu (Thanh Hoá) về đánh Lê Hoàn, bị Lê Hoàn giết chết cả. Giữa lúc ấy, một tin như sét đánh ngang tai, Ngô Nhật Khánh đang dẫn hơn một nghìn chiến tliuyền tluiỷ quân của Chiêm Thành, có vua Chiêm Thành cùng xuất chinh, tíieo hai cửa biển Đại Ác và Thần Phù vào đánh Đại cồ Việt thì bị phong ba nổi lên, nhận chìm hết cả thuyền bè và bị chết đuối. Công chúa Phất Kim đau đớn, xót xa, tủi nhục đến tuyệt vọng. Nàng nhảy xuống giếng trước lầu Vọng Nguyệt, phía tây bắc Kinh thành Hoa Lư tự vẫn.
Cái chết đau đớn, tiết liệt trung trinh của công chúa Phất Kim làm cả triều đình và dân chúng Hoa Lư vô cùng xúc động. Hàng vạn người đến đưa tang nàng. Ai cũng khâm phục khen nàng: thật hiếm có người phụ nữ trung trinh, đức hạnh và tìết liệt như nàng.
Nhân dân Kinh thành Hoa Lư lập đền thờ nàng ngay trên nền nhà của cung Vọng Nguyệt, nơi trước đây nàng đã ở. Chiếc giếng nàng nhảy xuống tự vẫn đến nay vẫn còn trước của đền. Các triều đại sau đều sắc phong cho nàng là Tiết liệt Trung trinh.
Đền thờ Công chúa Phất Kim còn gọi là đền Thục tiết công chúa, Phủ Bà Chúa, được xây dựng dưới triều Đỉnh để tôn thờ tấm lòng trung hiếu, sáng trong, vì nghĩa lớn và thà chết chứ không chịu theo giặc chống lại vua cha của Công chúa Phất Kim.
N hũng C ông chúa n ố i tiếng cúa các T riều đại V iệt N am 59
Đoạn cuối đời bi ữiảm của nàng công chúa triều Đinh khiến nhiều người đời sau thương cảm. Nhưng cái chết của nàng càng chứng tỏ sự trung trinh đáng ca ngợi của người con gái Việt Nam, dù nàng được sinh ra trong gia đình Hoàng tộc bậc nhất thời bấy giờ nhưng vẫn quyết giữ lấy lề thói văn hóa. Thế mới biết, ở đời dù bậc danh gia vọng tộc đến thường dân, đôi khi vẫn đứng giữa hai dòng nước, bên tình, bên nghĩa khó mà vẹn toàn. Còn nàng Phất Kim, nguyện vì vua cha mà chịu cực hình bị xẻo má. Cũng để giữ hai tiếng trung trinh với chồng mà chọn cái chết, đó là tấm gương để người đời sau tôn thò, ca ngợi.
Đền thờ Phất Kim là một ngôi đền cổ suy tôn người phụ nữ thế kỷ X. hiền lành, trung hậu và chịu nhiều sóng gió cuộc đời; đồng thời giá trị tâm linh của ngôi đền còn thể hiện ở ý nghĩa: dù thời thế có đổl thay, thăng trầm nhưng những giá trị của cội nguồn văn hóa là mãi mãi trường tồn.
Hàng năm, cứ vào dịp mở hội cờ lau, nhân dân Hoa Lư và bốn phương về trẩy hội, không ai không nhớ rẽ vào đền thờ công chúa Phất Kim để thắp nén hương, nghiêng mình tưởng vọng người con gái thứ hai của vua Đinh tíết liệt, trung trinh đó.
Theo Thành Văn và Đặng Việt Thủy
60 N hũng Cõng chúa n ố i tiếng của các T riều dại V iệt Nam
Công chúa Thiên Cực Triểu Lý^*’
Trong sử nước Nam có hai công chúa Thiên Cực được biết đến. Một người là Kiến Gia Hoàng hậu Trần Thị Dung, là vợ của vua Lý Huệ Tông, đã bị con rể là vua Trần Thái Tông truất ngôi thái hậu nhà Lý, giáng xuống làm Thiên Cực công chúa, rồi đem gả cho Trần Thủ Độ. Một người nữa là công chúa Thiên Cực, không rõ là con của vị vua nào. Sách Đại Việt sử lược chỉ cho biết bà là vỢ của Quan nội hầu Vương Thượng, với tước hiệu là công chúa Thiên Cực.
Không có nhiều chuyện vể công chúa Thiên Cực điíỢc ghi chép lại. Tuy nhiên, trong số những thông tin ít ỏi về cuộc đời bà thì người ta biết được, công chúa Thiên Cực chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết của hai quyền thần nhà Lý: Phạưn Du và Tô Trung Từ.
Cái chết của Phạm Du và Tô Trung Từ cũng đã tạo nên những chuyển biến trong lịch sử chính trị lúc bấy giờ và là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhà Lý bị suy vong.
Phạm Du chết thảm vi mảỉ tư thông vớỉ công chúa Sử sách không chép rõ về thân thể cũng như quê quán của Phạm Du. Chỉ biết rằng vào thời vua Lý Cao Tông, Phạm Du giữ chức quan Thượng phẩm phụng ngự. Lý Cao Tông là vị vua ứiứ bảy của nhà Lý. Khi còn nhỏ. ông là ngiíời ngoan lành. Song khi lớn lên, bắt
'''Nguồn: h tt p : //tr ith u c ,th o id a i.v n
..................................... N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các Triều đại V iệt N am 61
đầu trực tiếp cầm quyển trị nước, vua lại sinh ra ham mê săn bắn, chính sự pháp luật không rõ ràng, vơ vét của dân xây nhiều cung điện, bắt trám họ xây dựng phục dịch nên trộm cướp nôi lên khắp nơi.
Tháng ba năm 1189, vua đi du hành khắp các nơi trong cả nước, đi đến đâu mà có thần linh là lại cho xây dựng đển miếu. Năm 1197, ông cho dựng cung Nghênh Thiềm, đến năm 1203 lại tiếp tục cho xây hàng loạt cung điện. Khi đang xây dở Kính Thiên, có chim khách đến làm tổ, Cao Đường Long cho là điểm báo sắp có viíơng tộc mới thay tliế triều Lý, bèn khuyên can vua: “Trước cổt sửa đức, sau hãy khởi công mới phải”.
Thế nhưng, vua Lý Cao Tông lại nghe lời hoạn quan Phạm Bỉnh Di, cềmg cho xây gấp khiến cho trăm họ khốn khổ. Cuộc sống của nhân dân ữở nên lầm than, người chết đói hàng loạt. Trong lúc ấy thì vua ăn chơi vô độ, xây đền đài không ngớt, nghe ngoài thỀmh có trộm cướp thì lại lờ đi như không biết. Do chính sự rối ren, lòng dân oán hận, nhỉểu cuộc khởi nghĩa của nông dân và cuộc ly khai của các hào trưởng địa phương nổ ra.
Tháng 3 năm Đinh Mão (1207), hào trưởng đất Hồng Châu (thuộc Hải Dương, Hải Phòng nay) là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ nổi dậy xây đắp thành lũy, xưng vương hiệu. Vua Lý Cao Tông phái nhiều tướng quân đi đánh Hồng Châu như Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di, Trần Hình, Bảo Trinh. Đoàn Thượng liệu thế không chống được, đem của cải đút lót cho Phạm Du, nhờ Du xin với vua Cao Tông tha cho, nhờ đó mà toàn mạng.
62 N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các Triều đại Việc Nam
Cũng từ đó, mối quan hệ của họ Phạm và họ Đoàn trở nên thân thiết.
Đến năm Kỷ Tỵ (1209), Phạm Du được giao cai quản đất N ^ệ An. Bấy giờ miển này đang đói lớn, số người bị chết đói rất nhiều. Những người còn sống sót cũng bị phá sản, lưu vong. Nhân cơ hội ấy, Phạm Du nói vớí vua rằng: “Nay thiên hạ rối loạn, bọn gian tặc nổi lên khắp nơi... xin cho phép tôi được tuyển bọn trai tráng để tự để phòng, mới mong khỏi lo tai họa”.
Vua Lý Cao Tông bằng lòng. Phạm Du bèn chiêu tập đội quân cho mình. Thế nhưng đội quân của Phạm Du toàn những người ngang ngược, hống hách, làm điều xằng bậy. Từ đó, đường đất bị cắt đứt, thuyền bè không đi lại được. Vua Lý Cao Tông thấy tình hình nguy khốn liền sai Phạm Bỉnh Di lấy quân ở Đằng Châu (thị xã Hưng Yên) để đánh trị tội Phạm Du. Phạm Du liền trở vể cổ Miệt cùng với Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ở Hồng Châu hỢp binh làm phản triều đình, đánh Đằng Châu, Bỉnh Di bị thua.
Tháng 2 năm 1209, Bỉnh Di lại đem binh ở Đằng Châu, Khoái Châu đi đánh Du. Phạm Du thua trận, phải chạy trốn, bị tịch biên gia sản rồi đốt hết. Tháng 4 năm 1209, Phạm Bỉnh Di đánh tan quân Đoàn Thượng. Phạm Du ngầm sal người vể kinh đút lót cho quan trong triều, nói Phạm Bỉnh Di tàn ác, giết hại người vô tội và kể lể oan tình. Vua Lý Cao Tông sai Trần Hình triệu Phạm Du về kinh, lại triệu cả Bủih Di vể triều.
Phạm Du về kinh trưóc hầu Cao Tông, lấy lời lẽ làm vừa lòng vua, lại được vua tín cẩn. Tháng 7 năm đó, Bỉnh Di cùng con là Phạm Phụ đến kinh sau, vào
, N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt N am 63
trỉểu phụng mệnh. Có người can Bỉnh Di không nên vào vì đã có Phạm Du gièm pha, nhưng Bỉnh Di cho rằng: "Tôi ứiờ chúa Uiượng hết lòng trung thành mà lại bị người ta gièm pha đó chăng? Huống chỉ có mệnh lệnh của vua, tôi còn biết chạy đi đâu?".
Vua Lý Cao Tông sai bắt Bỉnh Di và Phạm Phụ giam ở Thủy Viên. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe hn bèn đem quân lính phá cửa Đại Thanh kéo vào nội điện để cứu chủ. Cao Tông thấy việc quá kíp nên sai giải Bỉnh Di và Phạm Phụ vào chỗ bệ đá nghỉ mát trong điện Kim Tinh. Phạm Du cùng em là Phạm Kinh ở trong ngự đường đi ra, lẩy luôn binh khí trong cung đâm chết cha con Bỉnh Di rồi cùng Lý Cao Tông bỏ kinh tliỀurh Thăng Long chạy trốn.
Vậy là Quách Bốc chiếm giữ kinh thành. Quách Bốc lập con thứ của Cao Tông là Lý Thầm lên ngôi. Phạm Du cùng Cao Tông chạy lên Quy Hóa. Thái tử Lý sảm cùng mẹ và em gái chạy về Hải Ấp nưđng nhờ Trần Lý. Thấy con gál của Trần Lý là Trần Thị Dung có nhan sắc, Lý Sảm lấy làm vợ. Nhân đó, thái tử sảm phong Trần Lý làm Múih Tự, Phạm Ngu làm Thượng phẩm phụng ngự, Tô Trung Từ làm Điện tìển Chỉ huy sứ.
Biết tin thái tử Sảm lập triều đình riêng và tự ý phong tước cho Trần Lý, Tô Trung Từ, Phạm Ngu..., vua Lý Cao Tông ở Quy Hóa muốn đánh dẹp, bèn sai Phạm Du đến Hồng Châu để liên lạc với bọn hào trưởng Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi huấn luyện quân sĩ hòng dẹp quân Quách Bốc, lấy lại Thăng Long vi họ cùng Phạm Du từng có giao kèo.
Lại nói, nhà Lý thờỉ ấy thường dùng chính sách
64 N hũng C ông chúa n ố i tiế n g của các Triều đại Việc Nam
“nhu viễn” nhằm ràng buộc và thắt chặt mối liên kết giữa các tù tníởng với viíơng triều, giữa chính quyền trung ương với các châu mục, địa phương miền núi. Vua Lý thường gả công chúa cho các tù trưởng miền núi. SáchĐạí Vỉệt lược sử thời Trần cho biết, trong châu Lạng có động Giáp (tức là động của họ Giáp, vốn rất to), chúa động là Giáp Thừa Quý lấy con gái vua Lý sau đổi ra họ Thân.
Con trai của Giáp Thừa Quý là Thân Thiệu Thái lấy công chúa Bình Dương. Năm Bính Ngọ (1066), con trai của công chúa Bình Dương là Thân Đạo Nguyên cưới công chúa Thiên Thành. Năm Đinh Hợi (1167), công chúa Thiên Cực về với quan Lạng Châu là Nội hầu Vương Thượng. Lạng Châu lúc ấy chính là Lạng Sơn bây giờ, bao gồm cả một phần Bắc Giang, lại cũng có tên gọi là Lạng Giang.
Khi Phạm Du đi đến đất Hồng Châu, phải qua Lạng Châu của nhà Thiên Cực. vốn là mệnh quan triều đình, lại là võ tướng được Cao Tông tin tưởng trên đường đi làm nghĩa vụ quốc gia, nên việc đón tiếp người đất kinh kỳ khiến Thiên Cực lấy làm vui lắm. Phạm Du thân là võ tướng, nhưng bụng dạ cũng chẳng tốt đẹp gì, tham nhũng, hối lộ đều đã kinh qua, nay gặp được Thiên Cực công chúa đang ở cái tuổi hồi xuân, hai bên tâm sự lấy làm tương đắc lắm, lại được dịp Vương Thượng vắng nhà nên kéo nhau vào hậu phủ tư thông.
Họ Đoàn hẹn với Phạm Du cho thuyền đến đón ông ta. Nhưng khi thuyền họ Đoàn tới chỗ hẹn, Phạm Du đang mải tư thông với công chúa Thiên Cực. Sách
....N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam 65
Đại Việt sử lược có viết về điều này: “Biết đã đến lúc dân ở vùng Hổng đi đón rước mà Phạm Du còn cùng với công chúa Thiên Cực tư thông”. Thuyền họ Đoàn đỢi mãi không thấy Phạm Du nên quay trở về.
Phạm Du đến chỗ hẹn không có thuyền, bèn lên chiếc thuyền khác theo đường sông mà đuổi, đi đến cổ Châu mới dừng lại rồi theo đường bộ đến xã A cảo thuộc vùng Ma Lãng thì bị người ở Bắc GicUig là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải bắt lại đưa cho Thái tử Sảm. Thái tử Sảm lúc này đâ dựa vào nhà Trần lập triều đình riêng, vốn không ưa gì Phạm Du bèn sai người giết đi. Vậy là, vì vài phút hoan lạc bên người đẹp, hồn Phạm Du đã lìa khỏi xác phàm.
Miíu sâu mà ham sắc, Tô Trung Từ tự hại mình Tô Trung Từ người thôn Lưu Gia, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình. Sử sách không chép rõ về xuất thân của Tô Trung Từ, chỉ biết ông lạ em vỢ của Trần Lý, hào trưởng vùng Hải Ấp (Thái Bình) và là người cùng họ với quan phụ chính Tô Hiến Thành. Khi Lý Sảm lấy Trần Thị Dung, người gọi Trung Từ bằng cậu, thì Tô Trung Từ làm Điện tiền Chỉ huy sứ. Sau khi Phạm Du bị giết chết, Trần Lý và Tô Trung Từ bèn mang quân đánh về kinh thành dẹp Quách Bốc để lập công với nhà Lý. Cuối năm 1209, loạn Quách Bốc bị dẹp, Trần Lý tử trận, Tô Trung Từ đón vua Cao Tông về cung. Do Phạm Du đã chết mà thế lực Trung Từ mạnh nên vua Cao Tông buộc phải dựa vào Trung Từ. Tô Trung Từ lúc đó quyển khuynh thiên hạ, tôn thất nhà Lý đều hỢp mưu diệt ông mà không thành.
66 Những C ông chúa n ổ i tiếng của các T riều dại V iệt Nam
TÔ Trung Từ phò vua Cao Tông ở kinh thành, trong khi thái tử sảm vẫn ở Hải Ầp cùng các con Trần Lý là Trần Thừa và Trần Tự Khánh. Trung Từ muốn một mình cầm quyền nên quyết định giành lấy thái tử Sảm từ tay hai người cháu họ Trần. Đầu năm 1210, nhân vua Cao Tông bệnh nặng, muốn đón thái tử Sảm về kinh, Tô Trung Từ bèn giả mang quân bản bộ đi đánh quân phiến loạn ở Klioái Châu, nhân đó về Hải Ầp nắm lấy tliái tử sảm.
Không lâu sau, vua Cao Tông sai Đỗ Quảng tới chỗ ông để đón Lý Sảm. Cuối năm 1210, Lý Cao Tông mất, uỷ thác cho đế sư Đỗ Kính Tu chăm lo cho tlĩái tử. Thái tử Sảm lên ngôi, tức là Lý Huệ Tông. Tuy nhiên, không phải Đỗ Kính Tu mà Tô Trung Từ mới thực sự trở thành ngitời nắm quyền trong triều. Thấy quyền hành của Trung Từ quá lớn, Đỗ Kính Tu cố tìm cách chống lại Tô Trung Từ.
Tháng 12 năm 1210, quan Chi hậu Phụng ngự là bọn Đỗ Quảng bắt Kính Tu đưa cho Tô Trung Từ. ông sai dìm Kính Tu xuống nước cho chết ở bến Đại Thông. Nhưng các quan cựu thần nhà Lý vẫn tiếp tục mưu chống Trung Từ. ít lâu sau, ông lại nghe tin Quan nội hầu Đỗ Thê Quy, Phí Liệt và chính Đỗ Quảng âm mưu phát binh để đánh mình, bèn dẫn quân đánh úp những người này trước.
Tuy nhiên khi sắp đánh, Trung Từ mới biết là quân số của ông ít hơn đám quân của Đỗ Quảng, Phí Liệt quá nhiều. Trung Từ bèn lập mưu lừa mấy người đó để tìm cách táng thêm viện binh, ông sai người đến nói với Quảng và Liệt rằng: “Chúa thượng mới vừa an táng, dân
N hũng Cáng chúa n ổ i tiếng của các Triều đại V iệt Nam 67
tình chưa yên, sao chẳng lui giáp binh đi, rồl tự về triều xem xét mà đồng mưu hiệp lực để khuông phò viíơng thất thì củng không phải việc hay đó hay sao?".
Đỗ Quảng, Phí Liệt cho là phải, bèn đồng ý. Lúc đó ngày đã về chiều, họ mới ước hẹn để sáng sớm hôm sau. Đêm đó, Tô Trung Tìí bèn tăng thêm quân sĩ nhiều hơn ngày trước và sắp mưu đánh Quảng, Liệt.
Ngày hôm sau, Đỗ Quảng, Phí Liệt đúng như lời hẹn, họp lại ở Bí Thư các để đợi Trung Từ. Tô Trung Từ đến đình Tứ Đạt trước, sai tỳ tướng là Đào Phán đem binh theo cửa nách phía bên phải mà vào đóng quân ở Sa Trì và ở Long Trì (thềm rồng), lại sai bộ tiíớng Nguyễn Tự và con rể là Nguyễn Ma La đóng quân ở cửa Thiên Thu.
Lúc đó, Quảng và Liệt vìía ăn cơm, nghe quan Liệt hầu là Cao Kha vào báo việc Tô Trung Từ đã sắp động quân để đánh, mới ném đũa mà đứng dậy cầm binh khí đến Long môn dòm xem, thấy quân lính của Đào Phán đánh trống, reo hò. Quảng và Liệt tiến lên đánh lui được Đào Phán, nhân đó chạy đến cửa Thiên Thu mới thoát.
Đào Phán bèn đem quân đánh lén Đỗ Thế Quy. Đỗ Thế Quy chạy trốn ở dưới linh cữu của vua Cao Tông. Tô Trung Từ đến nơi lục soát, cuối cùng bắt được, ông sal giết Đỗ Thế Quy ở chợ Đông, tRtớc hết sal chặt hai chân Thế Quy, thứ đến là mổ ngực thấu đến tận xương sống và chặt tay, nhưng thần sắc của E)ỗ Thế Quy vẫn tự nhiên. Đến liic mổ bụng thì Thế Quy chết.
Nghe tin vua Cao Tông mất, Trần Tự Khánh đem thủy quân đến bến Tế Giang (Mỹ Văn, Hưng Yên) xin
68 N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các T riều đại V iệt Nam
với TÔ Trung Từ cho cùng dự tang lễ Cao Tông, nhưng Trung Từ không cho vì sỢ Tự Khánh đốt phá kinh thành. Tự Khánh phải đem quân về Thuận Lưu.
Đầu năm 1211, Huệ Tông lại sai người đi đón Trần Thị Dung. Lần này thì Trần Tự Khánh đồng ý để em gái về triều, sai hai tỳ tướng Phan Lân, Nguyễn Ngạnh cầm quân hộ tống. Khi quân hộ tống tới Thăng Long, đúng lúc Tô Trung Từ đang đánh nhau to với Đỗ Quảng. Trung Từ hỢp binh với hai tướng Phan, Nguyễn phá tan quân của Quảng. Tới tháng sau thì Quảng bị bắt và bị xử chém.
Mặc dù là người nắm quyển bính trong triều, đa mưu túc trí trong chính sự nhưng cuối cùng, Tô Trung Từ lại chết bởi việc tư thông với công chúa Thiên Cực. Chuyện là tuy tạm dẹp được các cựu thần nhà Lý nhưng chính nội bộ của Tô Trung Từ cũng không yên ổn. Bộ tướng của ông là Nguyễn Tự muốn giết con rể ông là Nguyễn Ma La và định phản ông.
Tướng dưới quyền của Tự là Nguyễn Giai báo cho Trung Từ biết, ông bèn tước binh quyền của Nguyễn Tự. Tự sỢ hãi bỏ trốn sang Quốc Oai và sau này cát cứ tại đây. Tình hình tạm yên, Tô Trung Từ lại sa vào thanh sắc. Tô Trung Từ lúc ấy đã có con lớn rồi, nhưng chẳng rõ quyền cao chức trọng nên sinh lòng tà dâm hay bị Thiên Cực công chúa liếc mắt đưa tình mê hoặc, mà dẫn tới thân nhục, danh ô.
Bấy giờ, công chúa Thiên Cực không rõ vì lý do gì mà hcii vỢ chồng đang có mặt tại đất Gia Lâm. Thiên Cực thường xuyên vào trong hoàng thành để vấn an vua và thái hậu. Trong khi ấy, Tô Trung Từ là mệnh
N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các Triều đại V iệt Nam 69
quan triều đình, hai người liên tục giáp mặt nhau. Kẻ có quyền, người có sắc, mối duyên tình của hai người nảy nở dần dần theo thời gian.
Vào một đêm tháng 6 năm 1211, ông sang Gia Lâm tư thông với công chúa Thiên Cực, bị chồng của công chúa là QucUi nộl hầu Viíơng ThiíỢng bắt quả tang và giết chết. Luật pháp nhà Lý khi đó quy định, nếu nam nữ tư tliông mà bị bắt quả tang, ngitờỉ chồng có thể kết liễu mạng sống của tình địch mà không bị tội.
Sau khi ông chết, kinh tliành hỗn loạn. Con rể ông là Nguyễn Ma La tliấy cha vợ bị giết, thế cô, bèn miíu dựa vào họ Trần. Ma La sang nói với Trần Thừa, xin tiến binh dẹp yên ấp Khoái. Nguyễn Ma La cùng với vỢ là Tô thị (em họ Tự Kliánh) lên thuyền sang đạo Thuận Lưu để gặp bộ tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn Trinh thì bị Nguyễn Trinh giết rồi cướp lấy Tô thị đem về.
Tô thị sai người tố cáo với Trần Thừa. Trần Thừa bèn sai Tô thị dụ được Trinh và giết chết. Lực lượng của Tô Trung Từ tan rã hoàn toàn. Trần Tự Khánh nhân lúc Ma La kéo đi, kinh thành bỏ trống, lập tức mang quân về kinh SIÍ và an táng Tô 'rriing Từ ở làng Hoạch. Từ đó, chiến sự giữa các sứ quân ngày càng ác liệt và cuối cùng đánh dấu bằng sự thắng thế của Trần Tự Khánh cùng sự khống chế triều đình nhà Lý của anh em họ Trần.
Sau đó không tliấy sử sách nliắc tới công chúa Thiên Cực và Vương Thượng. Chỉ biết rằng, vào tháng Giêng năm 1212, tất cả gia tài, của cải trong nhà Thiên Cực đều bị cướp sạch klú bọn Đứih Khôi đánh Lạng Châu. Việc Tô Trung Từ bị Vương Thượng giết chết khỉ tư thông
70 N hũng Công chúa n ố i ciếng của các Triều đại V iệt Nam
với công chúa Thiên Cực chính là chủ mưu của các qnan lại nhà Lý, trong đó có cả phò mã Vương Thượng. Ngày nay, dấu tích của nàng công chúa “hiếu dâm” họ Lý vẫn còn đưỢc ghi nhận ở đình làng Thân, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam và đình Phi Mô, thuộc xá Phỉ Mô, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Đây là hai nơi có thờ bà cùng các công chúa nhà Lý được gả chồng ở xít này.
Theo Hỏn Nhân Si Pháp Luật
Những Cõng chúa n ổ i tiếng của các Triều đại Việc Nam 7 1
Bi kịch cuộc đời
Chiêu Thánh Cồng chúa^*’
Là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến Việt Nam, nhưng ở trên ngôi báu có hơn một năm nên sách sử chính thống khi viết về Lý Chiêu Hoàng chỉ đề cập đến với những dòng sơ lược, ngắn ngủi khiến hậu thế ít ai biết rằng cuộc đời người phụ nữ này còn biết bao nhiêu sự kiện độc đáo, thú vị cùng những chi tiết về gia đình riêng rất đặc biệt của bà.
Nữ hoàng trong sóng gió vương triều
Lý Chiêu Hoàng tên thật là là Lý Phật Kim (sau đổi tên là Lý Thiên Hình), được sắc phong làm Chiêu Thánli công chúa, bà là con gái thứ hai của vua Lý Huệ Tông và hoàng hậu Trần Thị Dung.
Theo chính sử bà chào đời tháng 9 năm Mậu Dần (1218) còn nội dung bản vãn chầu sự tích về công chúa cho biết rõ hơn về ngày sinh, đó là ngày 16 qua đoạn ghi: “Lại còn thu cửu trăng cao/ Ngọc Hoàng sai
chúa hiện vào Lý gia”, nhií vậy “thu cửu” tức là mùa thu, tháng 9; còn “trăng cao” là vào ngày 16 giữa tháng khi trăng tròn mọc cao và sáng nhất.
Tháng 10 năm Giáp Thân (1224), sau một thời gian thao túng, khống chế triều đình, anh em họ hàng của hoàng hậu Trần Thị Dung do Trần Thủ Độ đứng
Nsuổn: http:,'/|iliuinit0(lav VII
72 Những Công chúa n ổ i tiếng của các Tríéu đại V iệt N am
đầu nhẽưi cơ hội Lý Huệ Tông bệnh tình càng nặng đã gây sức ép buộc vua phải xuống chiếu lập công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng Thái tử rồi nhường ngôi cho với niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo (nghĩa là Đạo Trời sáng tỏ).
Sau đó vua xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo trong đại nội thành Thăng Long với pháp danh là Huệ Quang đại sư. Vậy là khúc quanh của lịch sử đã đưa đẩy Lý Phật Kim, một cô bé 8 tuổi bước lên sân khấu chính trị trong giai đoạn vương triều Lý đã suy vong cùng cực.
Nữ hoàng ở ngôi khi tuổi còn quá nhỏ nên việc triều chính do Thái hậu Trần Thị Dung điều hành. Từ đấy những người thân thuộc của họ Trần được đưa vào nắm giữ binh quyền và các chức VỊI quan trọng trong triều ngày càng nhiều.
Lúc đó Trần Thủ Độ đang giữ chức Điện tiền Chỉ huy sứ tính kế đoạt viíơng quyền về tay dòng họ mình, dưới sự đạo diễn của ông, một người cháu họ là Trần Cảnh, 8 tuổi được đưa vào cung lỀun Chánh thủ, có nhiệm vụ hầu hạ Lý Chiêu Hoềmg.
Vì cùng lứa tuổi nên Chiêu Hoàng chỉ thích gần gũi trò chuyện, trêu đùa với Trần Cảnh rất vui vẻ, thân thiết. Cho đây là cơ hội ngàn năm khó gặp, Trần Thủ Độ, bàn với chị họ là Thái hậu Trần Thị Dung thực hiện cuộc “đảo chính cung đình” với việc làm táo bạo bằng cách đem hết gia thuộc tliân thích vào trong cung cấm.
Sau đó Trần Thủ Độ sal quân lính của mình đóng chặt cửa thành và các cửa cung, cử người coi giữ nghiêm ngặt, các qiicUi xin vào chầu vua nhưng không được chấp thuận.
N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các T riều đại V iệt N am 73
Klii hoàng cung đã bị phong tỏa, triều thần nhà Lý không ai có phản ứng ^ vì họ Trần giữ Nữ hoàng và Thái hậu khác nào có con tin ở trong tay thì ai dám manh động. Tiếp đó Trần Thủ Độ liền cho loan báo rằng: “Bệ hạ đã có chồng rồi”.
Các quan đều nghe theo, xin chọn ngày vào chầu mừng. Thế là Trần Thủ Độ dựng nên cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh; từ chuyện chơi bời của trẻ con thềmh chuyện tình duyên, rồi vợ nhường ngôi cho chồng cũng là lẽ hỢp lý.
Triều chính chuyển giao sang tay họ Trần với sự kiện ngày 21 tháng 11 năm Ất Dậu (1225) Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần cảnh, và tới ngày 11 tháng 12 năm ấy cho mở hội lớn ở điện Thiên An, rồi từ trên ngai vàng bước xuống, trút bỏ áo hoàng bào, chính thức khuyên mời Trần cảnh lên ngôi hoàng đế.
Trần Cảnh lên điện rồng, đầu đội mũ bình thiên, mình khoác áo long cổn làm lễ đăng quang, xưng là Thiên Hoàng, đặt niên hiệu là Kiến Trung, trở thành vị vua đầu tiên của nhà Trần.
Việc này cũng khiến Lý Chiêu Hoàng (Phật Kim) và Trần Thái Tông (Trần Cảnh) trở thành đôi vỢ chồng duy nhất trong lịch sử đều làm vua. Sau khi nhường ngôi cho chồng, Lý Chiêu Hoàng trở thành hoàng hậu Chiêu Thánh, sách Đại Việt sử ký toàn thư viết:
“Bmh Tuất, Kiến Trung năm tíiứ 2 [ 1226), (Tống Bảo Kliánh năm thứ 2) mùa xuân, ứiáng giêng, sách phong Chiêu Hoàng làm hoàng hậu, đổi gọi là Chiêu Thánh”.
74 N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
Người chồng đầu tiên và người con trai yểu mệnh Ngiíời chồng đầu tiên của Lý Chiêu Hoàng là Trần Thái Tông, ông tên thật là Trần cảnh nhvíng còn có tên khác là Trần Bồ (dã sử thì cho hay ông tên tục là Lành Canh theo tên một loài cá vì họ Trần vốn xuất thân làm nghề chài lưới, sau đọc chệch là cảnh). Trần Thái Tông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218) tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), khi lên 8 tuổi điíỢc tuyển vào cung giĩĩ chức Chi hậu chánh chi ứng cục lo phục dịch Lý Chiêu Hoàng.
Tháng 12 năm Ất Dậu (1225) đưỢc vỢ nhường ngôi cho, trở thành vị vua đầu tiên của vương triều Trần, ở ngôỉ 33 năm (1225-1258). Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258), Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là thái tử Trần Hoảng, lên làm Thái thượng hoàng trong 19 năm (1258-1277) rồi mất ngày 01 tháng 4 năm Đinh Sửu (1277), thọ 59 tuổi.
Trần Thái Tông là một vị vua tài giỏi, nhân đức và rất am tiíờng Phật giáo, được sử sách khen ngợi nhưng đồng thời cũng cũng phê phán những điểm hạn chế nhất định của ông dưới nhãn quan Nho giáo, nhất là chuyện gả vợ cho người khác, lấy chị dâu làm vỢ, thậm chí còn chê trách có việc mộ đạo của ông...
Sách Việt sử tiêu án viết: “Vua là người khoan nhân, có độ lượng đế vương, lập ra chế độ, điển chương đã vãn minh đáng khen, nhưng chỉ vì tam ciíơng lộn bậy, nhiều sự xấu xa trong chốn buồng khuê...
N hũng C ông c h ú i n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam 75
Mấy năm đầu vua Thái Tông có tính tà dâm, đến mấy nãm sau để ý học vấn, tấn tới được nhiều, lại càng nghiên cứu điển cố trong kinh sách, có làm ra sách “Khóa Hư lục” mến cảnh sơn lâm, coi sinh tử như nhau, tuy ý hơi giống đạo Phật không hư, nhưng mà ý chí thì khoáng đạt, sâu xa cho nên bỏ ngôi báu coi như trút giầy rách ứiôi”.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư bình rằng: “Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều điều hổ thẹn".
Những điều mà sử sách cho là hổ thẹn đó liên quan đến việc Trần Thái Tông bị ép phải phế bỏ ngôi vị hoàng hậu Chiêu Thánh vì lý do không sinh được con, rồi lấy chị dâu làm vợ, về sau lại đem vỢ mình là Chiêu Thánh gả cho tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần) như một phần thưởng đền ơn.
Chiêu Thánh hoàng hậu bị phế vào tháng giêng năm Đinh Dậu (1237), sử chép như sau: “Lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vỢ của Hoài Vương Liễu, anh vua, làm hoàng hậu Thuận Thiên. Giáng Chiêu Thánh làm công chúa.
Bấy giờ Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên đã có mang Quốc Khang 3 tháng. Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực bàn kín với vua là nên mạo nhận lấy để làm chỗ dựa về sau, cho nên có lệnh ấy” (Đại Việt sử kỷ toàn thư).
Nguyên do là làm vỢ Trần Thái Tông hơn 10 năm
76 N hũng Công chúa n ố i tiếng của các T riều đại V iệt N am .................................
mà vẫn chưa sinh cho vua được con ữaỉ nối dõi nên Thái sư Trần Thủ Độ sỢ vua không có người thừa ựí mới ép vua rằng: “Hoàng hậu Chiêu Thánh làm vỢ đã hơn 10 năm mà không sinh nở thì làm sao có hi vọng về sự nối dõi sau này, phải chọn một hoàng hậu khác!”.
Thực ra Chiêu Thánh đã một lần sinh nở, ngiíời con đầu tiên của bà và cũng là kết quả của mối tình chồng vỢ với vua Trần Thái Tông sinh ra năm Quý Tị (1233) được đặt tên là Trần Trịnh. Có lẽ vui mừng vì có con mà vua đã phong ngay làm Hoàng thái tử, nhưng người con này đã chết sau khi sinh không lâu.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư đặt nglii vấn: “Hoàng thái tử sinh, tất phải chép rõ ngày, tỉiáng, năm sinh; khi mất củng tliế. Đây chỉ chép khi mất, có lẽ là vCía mới sinh đã chết ngay, nên không chép ngày tháng súih”.
Cái kết có hậu của một mối duyên tình bị ép buộc Những biến cố lớn của cuộc đời dồn dập xuống đầu của một cô công chúa mới 19 tuổi đầu, từ một vị hoàng đế, xuống làm hoàng hậu, con trai mất, bà lại tiếp tục bị mẹ đẻ của mình trực tiếp hay gián tiếp giáng xuống làm công chúa. Có lẽ Trần Thị Dung đã đặt lợi ích dòng họ lên quá cao, để rồi đến con mình rứt ruột đẻ ra phải chịu cảnh đau khổ đến tột cùng. Quá buồn và chán nản, không chịu được cảnh ngột ngạt trong cấm cung, bà xin với triều đình cho xuất gia đi tu. Có nhiều giả thuyết khác nhau về nơi tu hành của công chúa Chiêu Thánh, người dân làng Giao Tự (nay thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội) còn truyền tụng rằng ngôi chùa Linh Tiên của làng mình,
N hũng C ông chúa n ố i tiếng của các T riều đại Việc Nam 1 1
Xưa kia chính là nơi Lý Chiêu Hoàng về tu hành một thời gian. Bà trở về đây nương nhờ cửa Phật sau khi bị chồng là Trần Thái Tông (Trần cảnh) giáng xuống làm công chúa.
Còn theo cuốn Lỵ Thái Hậu thực lục, sống với vua Trần nhiều năm mà đường con cái muộn mằn, Chiêu Hoàng luôn có nỗi buồn, bà bèn dâng biểu và được nhà vua ưng tliuận. Từ đó, bà rời cung cấm đi ngao du, thăm phong cảnh và giảng kinh thuyết pháp ở nhiều nơi, sau đó đến tu tại chùa Trấn Quốc bên Hồ Tây (tlieo sách Việt Nam đại hồng sử). Có thuyết khác nói Lý Chiêu Hoàng tu tại chùa Vân Tiêu nằm trên sườn núi phía Tây Yên Tử lấy pháp danh là Vô Huyền, cho đến khi triều đình gả bà cho tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần).
Sau 21 năm sống cuộc đời cô độc và buồn thảm từ khi bị truất xuống làm công chúa Chiêu Thánh (1237), năm 1258, một sự cố lớn nữa lại đến trong cuộc đời bà, nhưng đó cũng là niềm an ủi, niềm hạnh phúc những năm tháng cuối cùng đối với Chiêu Thánh.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất (1257- 1258) có một vị tướng là Lê Tần lập điíỢc nhiều chiến công, đặc biệt là công cứu vua Trần Thái Tông trong một trận đánh diễn ra vào giữa tháng 12 năm Đinh Tị (1257) nên được vua đổi tên là Lê Phụ Trần.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết như sau: “Tướng Nguyên là Ngột Lương HỢp Thai xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Vua thần hành đốc chiến, xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu. chỉ có Lê Phụ Trần (tức Lê Trần) một mình một
78 N hũng C óng chúa n ố i tiếng của các T riều đại V iệt Nam
ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không. Lúc ấy, có người khuyên vna dừng lại để chỉ huy chiến đấu. Phụ Trần cố sííc can vua: Nay thì bệ hạ chỉ đánh một ván dốc tín thôi! Hãy nên tạm lánh chúng, sao lại có thể dễ dàng tin lời người ta thế! Bấy giờ, vna mới lui quân đóng ở sông Lô.
Phụ Trần giữ phía sau. Quân giặc bắn loạn xạ, Phụ Trần lấy ván thuyền che cho vua khỏi trúng tên giặc. Thế giặc rất mạnh, [vua] lại phải lui giiif sông Thiên Mạc. Phụ Trần theo vua bàn những việc cơ mật, rất ít người biết được đều đó...”.
Sau khỉ đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, Trần Thái Tông định công ban thưởng cho quần thần, nghĩ đến công lớn của Lê Tần, vua không chỉ phong tước mà còn gả vỢ cũ của mình cho ông, lúc này Chiêu Thánh đang ở trong cung cấm sau một thời gian xuất gia tu hành.
Sử sách chép: “Mậu Ngọ, năm thít 8 (1258). Tháng giêng, mùa xuân. Đcm Hoàng hậu cũ là Lý Thị gả cho Ngự sử Đại phu Lê Phụ Trần... Nhà vua bảo Lê Phụ Trần rằng: Nếu trẫm không có nhà ngươi giúp sức, thì làm gì điíỢc có ngày nay, nhà ngươi nên cố gắng để cùng làm tròn sự nghiệp sau này” {Khâm định Việt sử thông giám cương mục).
Bị ép lấy Lê Phụ Trần, biết không thể chối từ, Chiêu Thánh đặt ra 3 điều kiện là: 1. Phải xóa bỏ ngay lệnh truy sát, bức hại tôn thất nhà Lý: 2. Lăng miếu thờ các vị hoàng đế, công thần triều Lý phải được giữ gìn, chăm sóc chu đáo: 3. Dinh thự của Lê Phụ Trần
N hũng C ông chúũ n ố i tiếng cúa các Triều đại V iệt N am 79
phải chuyển ra xa Hoàng thành. Sau khi triều Trần chấp nhận các điều kiện trên, Chiêu Thánh mới đồng ý kết hòn cùng Lê Phụ Trần, lúc này bà dù 40 tuổi nhưng vẫn còn xuân sắc mặn mà.
ở vùng Từ Sơn (Bắc Ninh ngày nay) từ bao đời vẫn híu truyền câu ca dao thác lời Chiêu Thánh trách vua Trần về việc gả chính vỢ mình cho bề tôi:
Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao!
Tướng Lê Phụ Trần tên thật là Lê Tần (còn gọi là Lê Tân Trần) quê ở Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay), theo Lê Tần miêu duệ và Cô Mai bi ký thì: “Lê Tần (tự là Lê Kính), Tần là con trai Lê Kliâm, là thân phụ của Trần Bình Trọng”; một số tài liệu cho hay Lê Khâm là cháu nhiều đời của vua Lê Đại Hành nhà Tiền Lê.
Không rõ Lê Phụ Trần sinh và mất năm nào, sử sách cũng không viết rõ về thời điểm ông trở thành tướng quân rồi tham gia triều chính từ năm nào. Những dòng sử đầu tiên nhắc đến Lê Phụ Trần là vào năm Kỷ Dậu (1250) ông được vua Trần Thái Tông phong chức Ngự sử trung tướng Tri tam viện sự có trọng trách can gián và xét đoán việc kiện tụng.
Khi quân Mông cổ kéo vào xâm lược nước ta, Lê Phụ Trần tham gia chiến trận và lập công lớn, khi định công phong tước ông được giữ chức Ngự sử đại phu rồi làm Chánh sứ sang nước Nguyên.
Tháng 6 năm Kỷ Mùi (1259) ông đưỢc giữ chức Thủy quân Đại tướng quân: cuối đời về già, vào tháng 7 năm Giáp Tuất (1274) đưỢc giữ chức Thiếu sư, kiêm
80 N hững C õng chúa n ố i tiếng của các Triều đại V iệt Nam
Trừ cung giáo thụ để dạy thái tử.
Nhií vậy Lê Phụ Trần không chỉ là võ tướng mà còn là văn thần có tài, “văn võ song toàn”, có mưu híỢc, đức hạnh điíỢc tin dùng làm thầy dạy Thái tử Khâm (sau lên ngôi là vua Trần Nhân Tông). Cuộc đời ông làm quan trải các triều vua Trần Thái Tông (1225 - 1258), Trần Thánh Tông (1258 - 1278) và Trần Nhân Tông (1279 - 1293).
Theo một số tư liệu, như sách Việt Nam đại hồng sử, sau khi được gả cho Lê Phụ Trần, Chiêu Thánh theo chồng về ở tại đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) rồi không lâu sau họ cùng nhau trở về quê ông nơi đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).
Sống một cuộc đời mới với một cuộc hôn nhân gượng ép nhưng may mắn cho Chiêu Thánh, bà và Lê Phụ Trần sống hoà hỢp, yêu thương nhau, đó là những ngày tháng tốt đẹp nhất của cuộc đời người phụ nữ đầy truân chuyên, đau khổ.
Chỉ một năm sau ngày cưới, tức năm Kỷ Mùi (1259), Chiêu Thánh sinh hạ một người con trcú đặt tên là Lê Tông, còn có tên khác là Lê Phụ Hiền, ưếp đó bà sinh thêm một người con gái đặt tên là Lê Thị Ngọc Khuê (còn gọi là Minh Khuê).
Vậy là hạnh phúc đã đến với Chiêu Thánh, tuy muộn màng nhiíng dù sao đó cũng là kết thúc có hậu mà bà đáng điíỢc hưởng sau bao phen tủi hờn. sầu thảm.
Ngiíời con trai Lê Tông của Chiêu Thánh, khi trưởng thành điíỢc phong tước Thượng vị hầu, sau này đưỢc ban quốc tính (họ vua) và đổi tên thành Trần Bình
N hũng C ông chúa n ổ i tiếng của các Triều đại V iệt N am 81
Trọng, một danh tướng nổi tiếng với câu nói bất hủ: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm viíơng đất Bắc”. Năm Ất Dậu (1285), tướng Trần Bình Trọng trong một trận đánh với giặc Nguyên Mông ở bãi Thiên Mạc (thuộc huyện Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay), vì quân ít thế yếu nên ông bị chúng bắt được nhưng không khuất phục nên chúng đã giết hại ông, triều đình thương tiếc truy phong tiíớc Bảo Nghĩa Vương. ít ai biết rằng Lê Tông, tức Trần Bình Trọng còn là phò mã triều Trần, được vua Trần Thái Tông gả con gái là Công chúa Thụy Bảo làm vợ, hai vỢ chồng ông chỉ sinh một người con gái tuyệt sắc sau này được tuyển vào cung làm vỢ vua Trần Anh Tông, được tấn phong là Chiêu Hiến hoàng hậu (mẹ của hoàng tử Trần Mạnh, tức vua Trần Minh Tông).
Còn người con gái út của Chiêu Thánh là Lê Thị Ngọc Khuê, sinh năm Tân Dậu (1261), còn được gọi là Minh Khuê, có tài liệu như sách Víệí Nam đại hồng sử thì viết bà hiệu là Kiều Thụy.
Sử sách và dã sử không cho biết rô về cuộc đời của bà, chỉ biết rằng bà được phong làm ứng Thụy quận chúa (có thuyết nói là ứng Thụy công chúa).
Sau này Ngọc Khuê được gả cho Trạng nguyên Trần Cố, quê ở xã Phạm Triền, huyện Thanh Miện, phủ Hạ Hồng, lộ Hải Đông (nay là thôn Phạm Lý, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, Hải Dương), đỗ Kinh trạng nguyên khoa Bính Dần, năm Thiệu Long thứ 9 (1266) đời Trần Thái Tông, sau làm quan đến chức Hiến sát sứ, Thiên Chương các Đại học sĩ.