🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Mắt Sáng, Lòng Trong, Bút Sắc Ebooks Nhóm Zalo Chịu trách nhiệm xuất bản GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN Chịu trách nhiệm nội dung PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP ThS. PHẠM THỊ THINH Biên tập nội dung: ThS. PHẠM THỊ NGỌC BÍCH ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH ThS. VŨ QUANG HUY TRẦN PHAN BÍCH LIỄU Trình bày bìa: ĐƯỜNG HỒNG MAI Chế bản vi tính: PHẠM NGUYỆT NGA Sửa bản in: NGUYỄN THANH PHƯƠNG ĐỖ THỊ TÌNH Đọc sách mẫu: QUANG HUY VIỆT HÀ Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 2266-2021/CXBIPH/11-23/CTQG. Số quyết định xuất bản: 423-QĐ/NXBCTQG, ngày 29/6/2021. Nộp lưu chiểu: tháng 7 năm 2021. Mã ISBN: 978-604-57-6896-9. Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam H÷u Thä M¾t s¸ng, lßng trong, bót s¾c / H÷u Thä. - H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2021. - 300tr. ; 21cm ISBN 9786045767146 1. NghÒ b¸o 2. Bót kÝ 3. ViÖt Nam 079.597 - dc23 CTF0540p-CIP B LỜI NHj XUẤT BẢN áo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân. Chính vì thế, báo chí phải thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân... Nhà báo phải là người có đủ các tiêu chuẩn chính trị, văn hóa đạo đức và nghiệp vụ báo chí; phải thông tin trung thực, chính xác các sự kiện; phản ánh được ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Muốn thế, nhà báo phải thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, kiến thức và phẩm chất đạo đức. Nhà báo Hữu Thọ - nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, nguyên Chủ nhiệm Khoa Báo chí - 5 Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nguyên Trợ lý Tổng Bí thư, là người có hơn 50 năm gắn bó, tâm huyết với nghề báo. Không ít lần ông bày tỏ những trăn trở của mình về bản lĩnh, đạo đức và lương tâm của người làm báo hiện nay. Từ năm 1996, nói chuyện với các nhà báo trẻ, ông đã cho rằng, nhà báo phải “Mắt sáng, Lòng trong, Bút sắc”, nghĩa là phải có bản lĩnh, đạo đức và lương tâm, phải trung thực, phải có tinh thần đấu tranh và có năng lực nghề nghiệp. Cùng với các tác phẩm báo chí nổi tiếng, Nhà báo Hữu Thọ còn có mảng sách về nghiệp vụ báo chí. Sau cuốn sách Công việc của người viết báo (1987, 1998, 2000), Nghĩ về nghề báo (1998), nhân ngày Báo chí Việt Nam (21/6/2003), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản cuốn sách Mắt sáng, Lòng trong, Bút sắc của nhà báo Hữu Thọ, lấy tựa đề từ bài phát biểu của ông năm 1996. Cuốn sách đã được đông đảo bạn đọc hoan nghênh đón nhận, nhất là những người làm báo. Cho đến nay, sau 8 năm ra mắt bạn đọc lần đầu tiên, cuốn sách đã được tái bản nhiều lần và Nhà xuất bản vẫn tiếp tục nhận được nhiều ý kiến bạn đọc đề nghị tái bản cuốn sách. Để đáp ứng yêu cầu đó, lần đầu tiên, cuốn sách đã được tái bản nhiều lần và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật quyết định xuất bản lần thứ tư cuốn sách này. 6 Cuốn sách bao gồm các bài viết, bài nói chủ yếu của nhà báo Hữu Thọ về nghề báo. Tuy mỗi bài đề cập một vấn đề khác nhau xung quanh nghề báo, nhưng từ trong sâu thẳm đó là những lời nhắn gửi tâm huyết của ông đối với các nhà báo trẻ về bản lĩnh, đạo đức và lương tâm của người làm báo; là những trăn trở, suy nghĩ của ông về nghề báo trước những phát triển mới cũng như những cám dỗ tầm thường của cuộc sống, đặt ra cho nhà báo những nhiệm vụ và trách nhiệm mới, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay. Cuốn sách giống như một giáo trình về nghiệp vụ báo chí cho sinh viên các khoa báo chí và có tác dụng thiết thực cho các nhà báo, nhất là cho các nhà báo trẻ tham khảo. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 4 năm 2021 NHj XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 7 8 HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI THẦY CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM* I- ĐẶC ĐIỂM ĐẶC SẮC VỀ NGƯỜI THẦY LỚN NHẤT CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM Từ năm 1957, được Đảng điều động từ cấp ủy đảng địa phương về làm báo chuyên nghiệp đến nay đã hơn 50 năm, nhưng đối với tôi khi bắt đầu hoạt động báo chí thì hoàn toàn mới mẻ, cho nên phải tìm cách học hỏi, học các bạn đi trước đã thành danh, vào thư viện tìm tài liệu để tìm hiểu, học tập qua các bài viết của các bậc làm báo tiền bối hoặc lớp trước... Đặc biệt là học tập cách viết báo, làm báo của Hồ Chí Minh - Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Càng tìm hiểu và học tập thì càng vỡ dần ra. __________ * Bài đăng trên tạp chí Người làm báo, các tháng 3, 4, 5, 6, 7, 8/2010. 9 Với Bác Hồ, tôi còn được cơ quan cử đi theo một số chuyến công tác của Người để viết bài tường thuật. Đặc biệt vào năm cuối đời của Người, tôi được cử đi viết tường thuật Tết trồng cây lần thứ 10, là Tết trồng cây Kỷ Dậu Người tham gia lần cuối ở Vật Lại; được tham gia tường thuật lần đi bầu cử cuối cùng của Người ở hòm phiếu số 4 đặt tại Nhà thuyền Hồ Tây tháng 4/1969, và là một trong số nhà báo được phép đứng trong Hội trường Ba Đình, nơi quàn thi hài Người để quan sát, ghi chép, tường thuật Lễ tang Người trên báo Đảng. Tham gia vào ba hoạt động quan trọng cuối đời của Người có một số bạn đồng nghiệp, nhưng theo tôi biết thì đến nay chỉ còn hai bạn còn sống nhưng cũng đã ở tuổi 80 như tôi. Kể ra như thế không dám có ý khoe khoang mà chỉ muốn nói số phận may mắn trong cuộc đời làm báo của tôi đã giúp tôi có thêm điều kiện để hiểu thêm về cuộc đời hoạt động của Người gắn bó với nhân dân, với giới báo chí. Cho dù hoạt động báo chí lâu năm, tôi có điều kiện được giao hoạt động kiêm nhiệm trong ngành sư phạm báo chí trong 30 năm, nhưng chưa bao giờ dám nhận mình là nhà lý luận hoặc nhà nghiên cứu về lịch sử báo chí, do đó chỉ viết mấy lời cảm nhận về Người thầy lớn nhất của báo chí cách mạng Việt Nam. 10 Chúng tôi luôn coi các đồng chí Trường Chinh, Trần Huy Liệu, Xuân Thủy, Hoàng Tùng, Trần Quang Huy... là những người thầy, người đàn anh của báo chí cách mạng Việt Nam, nhưng Bác Hồ là người thầy lớn nhất. Nhận là người thầy lớn này không chỉ vì Người đã từng là lãnh tụ của Đảng và dân tộc, mà còn vì Người trong lập ngôn, lập nghiệp có những đặc điểm của người thầy lớn của giới báo chí mà không phải vị thầy nào cũng hội đủ những đặc điểm đó: Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người từ khi rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi hoạt động cách mạng 30 năm ở nước ngoài thì hoạt động cách mạng của Người luôn luôn gắn liền với hoạt động báo chí. Người học ngoại ngữ và nhờ một người bạn vốn là cháu của C. Mác dạy cách viết báo, từ viết ngắn rồi dần dần viết dài ra, viết dài rồi tìm cách rút ngắn, thu gọn lại, gửi bài đăng trên các báo của Đảng Cộng sản hoặc của các tổ chức cánh tả Pháp, không phải vì muốn nổi danh, không phải chủ yếu để kiếm tiền qua nhuận bút mà chủ yếu là để nói lên cho nhiều người biết về nỗi thống khổ của người dân Việt sống trong cảnh bị nước ngoài nô dịch, tố cáo chủ nghĩa thực dân, nghĩa là mục tiêu chủ yếu của người làm báo Nguyễn Ái Quốc là vì nước, vì dân như phần lớn các nhà báo cách mạng tiền bối khác. 11 Hoạt động báo chí của Người trước hết là hoạt động của cộng tác viên với một số tờ báo như ngày nay chúng ta thường hiểu, nhưng dù sao viết bài với những bài lai cảo thì vẫn bị động ở các ban biên tập như đăng hay không đăng, đăng sớm hay đăng muộn, đăng toàn vẹn hay cắt xén, đặt bài ở vị trí nào..., cho nên khi đã viết báo có phần thành thạo thì Người đứng ra thành lập một số tờ báo, khởi đầu là tờ báo Người cùng khổ nhằm đoàn kết những người dân thuộc địa Pháp, chống chế độ thực dân xâm lược, cuốn sách nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925 cũng chủ yếu tập hợp từ các bài báo. Hãy nói về tờ báo đầu tiên do Người sáng lập và điều hành, còn các tờ báo khác sẽ nói trong phần sau. Người cùng khổ là ta dịch của từ Le Paria theo nguyên bản, nghe nói là xuất xứ từ Ấn Độ, nhưng cuộc sống paria như thế nào thì hơn 60 năm sau - năm 1987, có dịp sang công tác ở Ấn Độ, tôi có nhờ một đồng chí đảng viên cộng sản nước bạn dẫn đến thăm một gia đình paria ở ngoại ô thành phố Calcutta, tôi đã có dịp thăm hỏi ông bà chủ nhà và cho phép được xem xét nơi ăn chốn ở. Tôi chợt nhận ra rằng, cho đến gần cuối thế kỷ XX, ở một nơi giàu có, khoa học kỹ thuật phát triển, có bom nguyên tử vẫn có những gia đình nghèo giống như những gia đình nghèo nhất ở miền núi nước ta mà tôi đã từng đến thăm. 12 Khi được tổ chức ủy quyền cho phụ trách tờ Le Paria, Nguyễn Ái Quốc làm cả công việc viết bài, đặt bài, đưa bài đi nhà in, đọc morát, bán báo, quản lý tài chính. Nghĩa là Bác đã làm tất cả, do đó đã hiểu tất cả các công đoạn xuất bản một tờ báo mà tôi nghĩ không phải các nhà làm báo cách mạng tiền bối nào cũng như các tổng biên tập thời nay đã trực tiếp làm để hiểu rõ mọi công đoạn của việc xuất bản một tờ báo. Khi cách mạng thành công, Nguyễn Ái Quốc, Thầu Chín, Vương, Lin... trở thành Hồ Chí Minh - lãnh tụ của dân tộc, lãnh tụ của “Đảng cầm quyền”, nhưng ngoài việc chỉ thị, khuyên bảo, hướng dẫn công tác báo chí, Người vẫn viết báo. Có tác giả đã thống kê được hơn 1.300 bài báo với khoảng 30 bút danh khác nhau (có lẽ chưa đủ), có thời Người giữ một chuyên mục rất nổi tiếng của một tờ báo quan trọng nhất; nghĩa là trong khi phải gánh vác các công việc trọng đại của đất nước nhưng một năm Người vẫn viết khoảng 54 - 55 bài báo thì không phải nhà báo nào vào thời kỳ sung sức nhất cũng có thể đạt được về số lượng. Ở cương vị nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ, Người đã từng ra các lời hiệu triệu, các chỉ thị rất quan trọng. Nhưng có những cuộc vận động rất quan trọng lại xuất phát từ các bài báo của Người ký bút danh, như “Phong trào Tết trồng cây”, 13 cổ vũ một mỹ tục mới gắn với bảo vệ môi trường xuất phát từ lời đề nghị trong bài báo của Người ký bút danh T.L; phong trào thi đua với Hợp tác xã Đại Phong, phong trào thi đua tiêu biểu trong nông nghiệp vào những năm 60 thế kỷ XX xuất phát từ việc hưởng ứng một bài báo ký bút danh T.L; các bài trong một chuyên mục trên báo Sự thật sau tập hợp thành sách Sửa đổi lối làm việc ký tên XYZ xuất bản năm 1947 là cuốn sách gối đầu giường của cán bộ, viên chức về đạo đức và phong cách làm việc mới; bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đăng ngày 03/02/1969 trên báo mà nhiều tác giả coi như di huấn về đạo đức cách mạng sau Di chúc lịch sử, cũng với bút danh T.L... Nghĩa là Người thấy rõ vai trò hiệu triệu, cổ vũ và tổ chức các phong trào cách mạng của các bài báo, chứ không phải chỉ là những bản hiệu triệu và chỉ thị của Nhà nước. Người hiểu rõ báo chí có vai trò bổ sung quan trọng cho công việc quản lý, điều hành đất nước. II- HỒ CHÍ MINH Vj CÁC TỜ BÁO Từ chỗ viết báo, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm cách sáng lập, quản lý tờ báo để có thể chủ động thể hiện ý tưởng cách mạng của mình. Tôi nghĩ rằng, có thể Người tự giác thấy 14 tầm quan trọng đặc biệt của tờ báo với người hoạt động cách mạng, do đó hoạt động báo chí của Người về mặt này trùng hợp Ph.Ăngghen khi nói về báo chí cách mạng: “Lập ra tờ báo hằng ngày đầu tiên là cái mốc quan trọng để tiến lên phía trước. Đó là trận địa ban đầu, từ đó Đảng sẽ tiến hành cuộc đấu tranh với các đối thủ của mình bằng vũ khí tương xứng. Báo hằng ngày là công cụ tuyên truyền, cổ động quần chúng không thể thay thế được”. Trong thực tiễn, do khó khăn về tài chính, in ấn, phát hành khi hoạt động ở nước ngoài luôn bị bọn mật thám theo dõi rồi phải quyên góp tiền, công sức từ những người ủng hộ cách mạng thường không giàu có gì, phát hành bí mật, do đó theo tôi biết thì chưa bao giờ Hồ Chí Minh xuất bản được báo hằng ngày, nhưng dù sao cũng là những tờ báo do Người chỉ đạo xuất bản hằng tháng hoặc không đều kỳ và các tờ báo đó đều thể hiện tư tưởng của Người nhằm hướng về vạch tội thực dân, phong kiến, nêu rõ thân phận những người dân bị nô lệ và cổ vũ đồng bào đoàn kết vùng lên đấu tranh giành lại quyền độc lập cho dân tộc và tự do của nhân dân. Nhiều tác giả đã thống kê những tờ báo do Người sáng lập nhưng tôi đồng ý với tác giả khi ông nói rằng, cũng không thể thống kê hết vì 15 chưa thể tìm được những tờ báo bí mật, bị mật thám săn lùng cho nên phải đình bản. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu đều có tài liệu để chứng minh về tờ báo Le Paria xuất bản ở Pháp vào năm 1924 - 1925 cổ vũ đoàn kết những người dân ở các nước bị thực dân Pháp xâm chiếm, đô hộ, vùng lên đấu tranh; tờ báo Thân ái xuất bản ở Thái Lan năm 1928, cổ vũ lòng yêu nước của bà con người Việt sinh sống ở nước này, cùng nhau kết đoàn ủng hộ các phong trào cách mạng ở trong nước. Đặc biệt là tờ báo Thanh niên xuất bản ở Trung Quốc, trong đó có 88 số đầu do Người trực tiếp chỉ đạo nội dung, viết bài, kể cả lên trang, phát hành ở Trung Quốc và bằng mọi con đường bí mật đưa về phát hành ở trong nước. Đó là tờ báo có vị trí quan trọng đặc biệt với cách mạng Việt Nam, mà Giám đốc Sở Mật thám Pháp ở Đông Dương nhận xét trong một báo cáo gửi cho thượng cấp, cho rằng “tờ báo đã cổ vũ tinh thần độc lập dân tộc và lòng yêu nước mà người Việt Nam lúc bấy giờ đang háo hức để thi thố”. Đối với các đồng chí hoạt động ở trong nước thì cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có lần nói và viết: “Mỗi bài báo như một bài học về cách mạng, mỗi tờ báo như một lớp huấn luyện; mật thám khám nhà có tờ báo đó thì là một chứng cớ để bắt giam, tra khảo tìm ra tổ chức 16 cách mạng”. Các nhà nghiên cứu lịch sử báo chí đều cho rằng đó là tờ báo đại diện cho tiếng nói của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, có vai trò tập hợp lực lượng, chuẩn bị về mặt tổ chức cho việc thành lập Đảng. Khi về nước, Người thành lập, chỉ đạo nội dung, tham gia viết bài, làm thơ, minh họa cho tờ báo Việt Nam độc lập ra đời ngày 01/8/1941, gắn liền với Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám họp bí mật ở Cao Bằng trong chiến khu Cao - Bắc - Lạng, nhằm hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh, phát động phong trào nhân dân tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi có thời cơ. Trên đây đã kể lược qua những tờ báo chính do Người trực tiếp tổ chức, thành lập, mỗi tờ báo gắn với một thời kỳ phát triển có ý nghĩa của cách mạng Việt Nam, chưa kể những tờ báo do Người chỉ đạo nội dung khi ở nước ngoài, và tất nhiên khi cách mạng thành công thì Người trực tiếp chỉ đạo báo chí cùng các lĩnh vực khác. Chẳng phải ở nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa mà ở nước nào cũng thế, mỗi tờ báo đều có mục tiêu chính trị (nói ra hoặc không nói ra); mục tiêu đó phụ thuộc vào người phụ trách. Còn 17 nhớ, vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi đến thăm Ôxtrâylia, trong buổi làm việc với một tờ báo lớn ở thành phố lớn Xítni, tôi hỏi tổng biên tập một tờ báo - người đã tốt nghiệp tiến sĩ ngành báo chí tại Mỹ: “Quan điểm chính trị tờ báo của ông là gì?”, thì được trả lời rằng: “Quan điểm tờ báo của tôi là quan điểm của ông chủ chúng tôi”. Mà ông chủ của tờ báo đó là chủ tịch một tập đoàn kinh tế lớn của vùng, cũng là của cả nước này. Tìm hiểu việc này để muốn tìm hiểu quan điểm, mục tiêu cơ bản của Bác Hồ với tờ báo là gì để tiếp tục nghiên cứu, học tập, vận dụng, vì theo tôi, đó là vấn đề cốt tử của một tờ báo. Đọc lại phát biểu của Bác tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam tháng 4/1959, thấy Bác nói: “Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên báo chí nước ta phải có đường lối chính trị đúng”1. Nhưng chính trị là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thì là mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một Đảng. Nhưng đọc trong thư Người gửi lớp báo chí Huỳnh Thúc Kháng - lớp báo chí huấn luyện đầu tiên cho __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.166. 18 cán bộ báo chí ở Việt Nam ngay trong những ngày đầu kháng chiến, đăng báo Cứu quốc ngày 09/6/1949, có không ít thầy giáo là những nhân sĩ trí thức chưa phải là đảng viên cộng sản, ngay khi Đảng đã lãnh đạo chính quyền. Ở điểm 1 của bức thư, khi nói về nhiệm vụ của tờ báo là “tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung”1. Đọc định nghĩa trong từ điển rồi đọc thư của Người gửi báo chí, theo thiển nghĩ của tôi thì chính trị lớn nhất là mục đích của dân tộc trong từng thời kỳ. Trong 30 năm kháng chiến gian khổ, là cổ vũ toàn dân, toàn quân, toàn Đảng vừa chiến đấu, vừa sản xuất, tất cả để chiến thắng, giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc. Ngày nay là tiếp tục đổi mới, hội nhập quốc tế thành công, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Và còn nhiều vấn đề lớn khác như ổn định là tiền đề để phát triển, phát triển là điều kiện để ổn định; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa thế giới; đổi mới và chỉnh đốn Đảng thành công, đẩy lùi quan liêu, tham __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.102. 19 nhũng, lãng phí và các tiêu cực xã hội khác... Những vấn đề đó, theo tôi, đều là vấn đề lớn của đất nước, là nhiệm vụ chung của dân tộc lúc này, do đó là vấn đề chính trị lớn và cụ thể của các tờ báo lúc này, theo quan điểm của Hồ Chí Minh. Nếu hiểu như thế thì đối chiếu với hoạt động báo chí hiện nay, nhất là trong thời kỳ đổi mới, tôi thấy báo chí chúng ta đã làm được nhiều việc nhưng thực sự cũng có nhiều việc chưa làm được, có việc thiếu sót, chủ yếu do “bản lĩnh chính trị” trong việc thu thập và xử lý thông tin của một số bài báo, một số báo, thể hiện bản lĩnh chính trị chưa thật vững vàng, thể hiện chính trị chưa làm chủ như Bác Hồ căn dặn. Đọc lại thư Người gửi cho học viên lớp báo chí Huỳnh Thúc Kháng thì thấy Người nêu cụ thể sáu vấn đề của một tờ báo: nhiệm vụ, mục đích, tôn chỉ, đối tượng, nội dung, hình thức1. Trong sáu vấn đề đó, có vấn đề mỗi thời một khác như nhiệm vụ, có vấn đề mỗi tờ báo một khác như vấn đề đối tượng; nhưng có vấn đề đến nay sau hơn 60 năm vẫn đúng. Và sáu vấn đề đó thì luôn luôn đúng với các tờ báo, chứ không phải chỉ có vấn đề tôn chỉ mục đích như chúng ta đang quan tâm. __________ 1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 102-103. 20 Có một chuyện mà tôi muốn kể với các bạn đồng nghiệp qua sự cảm thụ nghề nghiệp và qua đó cũng là lời khuyên của Bác Hồ với các tờ báo. Khi về công tác ở Báo Nhân Dân, tôi nghe xì xào trong Văn phòng báo là “B nhắc sao trả nhuận bút chậm” (lúc đó chúng tôi thường nói với nhau và cũng để giữ bí mật nhưng dễ hiểu: B là Bác Hồ). B hay gọi điện thoại nhắc nhở khen ngợi, hoặc phê bình bài này bài khác nhưng nghe “B nhắc việc trả chậm nhuận bút bài của B” thì thú thật là những người “lính mới tò te” trong nghề là tôi thấy băn khoăn, phải tìm hiểu. Thật ra, Văn phòng báo muốn dồn nhuận bút một số bài để trả một khoản kha khá. Chúng tôi cũng biết là B đều chia tiền nhuận bút cho các cháu nhưng việc B giục trả nhuận bút thì được nghe kể lại rằng: “Đến Bác mà các chú còn trả nhuận bút chậm thì các người viết bài khác chắc các chú còn để chậm hơn, có khi quên”. Thế là thành một bài học cho chúng tôi về công tác cộng tác viên, trong đó có việc trả nhuận bút sòng phẳng, nhanh chóng, đôi khi không nhiều nhặn gì nhưng lại tỏ thái độ trân trọng. Cho nên từ thời đồng chí Tổng Biên tập Hoàng Tùng, người có 30 năm làm Tổng Biên tập Báo Nhân Dân cho tới các đời kế nhiệm sau này, chúng tôi đều dặn nhau, cùng với 21 việc bồi dưỡng cán bộ, phóng viên thì cần chọn lựa, dặn dò, khuyên bảo, kiểm tra về thái độ ân cần, lễ phép, nghiêm túc với các đồng chí được giao nhiệm vụ Thường trực Văn phòng và người phụ trách trả nhuận bút, vì các đồng chí đó là những người được tiếp xúc với cộng tác viên, bạn đọc đầu tiên khi họ đến cơ quan. Càng ngày chúng tôi càng hiểu rằng, ngoài việc bồi dưỡng các nhà báo tại nghiệp có bản lĩnh vững, kiến thức rộng, nghiệp vụ tinh thông thì tờ báo nào cũng phải có cộng tác viên đông đảo, tài năng, thực chất là tìm mọi cách thu hút trí tuệ của xã hội vào nâng cao chất lượng tờ báo. Sự nhắc nhở của Bác Hồ qua một việc cụ thể thêm một “Lời dạy không lời” như người xưa đã từng nói với những người làm báo chúng tôi. III- HỒ CHÍ MINH VỚI NGƯỜI LjM BÁO Mỗi tờ báo đều có những người làm báo, bao gồm tổng biên tập, những người trong ban biên tập và đông đảo biên tập viên, phóng viên. Với kỹ thuật hiện đại phát triển rất nhanh, đặc biệt ở các tờ báo điện tử còn có các cán bộ kỹ thuật. Một tờ báo được bạn đọc tin cậy, có số phát hành lớn phải có những phóng viên, biên tập viên giỏi, trong đó có một số được gọi là những 22 nhà báo có thẩm quyền, nghĩa là bài viết của anh ta có trọng lượng với dư luận xã hội, khi gặp những vấn đề mới, phức tạp, công chúng thường tìm đến các bài ký tên anh ta. Có nhiều nhà báo giỏi chưa chắc đã có thể làm nên một tờ báo có uy tín vì còn liên quan tới định hướng chủ đề, đề tài phù hợp với những vấn đề bức xúc mà người đọc, người nghe, người xem (từ đây gọi chung là bạn đọc) quan tâm và những bình luận có khả năng định hướng đúng cho bạn đọc; những việc đó là trách nhiệm chủ yếu của người và tổ chức lãnh đạo, quản lý tờ báo. Nhưng một tờ báo quan trọng, có uy tín trong lòng bạn đọc thì nhất thiết phải có những nhà báo giỏi, nếu mỗi chuyên mục có một - hai nhà báo mà bạn đọc tin cậy đứng tên thường xuyên thì rất tốt. Là người đã từng viết báo, điều hành tờ báo, cho nên bên cạnh việc nhắc nhở về lãnh đạo, quản lý các tờ báo như phần trên đã trình bày, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất quan tâm tới các nhà báo. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Người viết nhiều thể loại, viết tin, viết bài cho báo, viết truyện ký, viết kịch và đặc biệt Người có sự nghiệp thi ca đặc sắc với tập thơ Nhật ký trong tù rất nổi tiếng ở trong nước và thế giới, nhưng sinh thời Người chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ nhưng lại nhận mình là nhà báo. Người nói với 23 một người nước ngoài: “Tôi là cây bút tiểu phẩm, nhà chính luận. Gọi là nhà bình luận tôi cũng không cãi”. Do hiểu biết nghề báo cho nên Người đánh giá “người làm báo là rất quan trọng và vẻ vang” và Người đã đưa ra những lời dặn, lời khuyên với những người làm báo. Sống trên đời này mỗi người đều có những lý tưởng - được hiểu là những khát vọng cao cả để phấn đấu vươn tới, và động cơ - được hiểu là những gì thúc đẩy con người hoạt động hướng tới lý tưởng cao cả đó. Do đó tôi hiểu, Người quan tâm tới những người làm báo chúng ta, trước hết là động cơ của người làm báo. Người nhẹ nhàng và thân tình kể lại với các nhà báo tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ hai: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là “đề tài” thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là... tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”1. Như phần trên tôi đã đề cập, khi nghiên cứu tác phẩm của Người cần đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể và hiểu điều cốt lõi đó được vận dụng trong hoàn cảnh mới, để hiểu về động cơ của người làm báo chúng ta là phản ánh bình luận đúng đắn, có hiệu quả các nhiệm vụ chung của dân tộc trong từng thời kỳ, tức là đã __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.171. 24 thực hiện lấy “chính trị làm chủ” như Người đã từng nói về các tờ báo. Với động cơ, nhiệm vụ như thế, Người chỉ rõ: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”, “Đối với người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”. Khi đã là chiến sĩ cách mạng thì dù ở bất cứ lĩnh vực nào, tôi nghĩ có một phẩm chất chung là ý chí và tinh thần chiến đấu kiên cường cho “nhiệm vụ chung của dân tộc” trong từng giai đoạn cách mạng như phần trên đã trình bày. Nhưng trên từng lĩnh vực thì tinh thần chiến đấu đó hướng tới những nội dung khác nhau. Với nhà báo thì thể hiện thành những tác phẩm báo chí qua thông tin, bình luận đúng đắn, sâu sắc, có tính chiến đấu và sức thuyết phục cao, do đó có hiệu quả xã hội rõ rệt; đạt được kết quả đó thì thật xứng danh là những chiến sĩ quan trọng và vẻ vang như Bác Hồ đã đánh giá. Trong cuộc chiến đấu đó, ngay từ năm 1947, Người đã nêu rõ: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”1, nghĩa là ngòi bút của nhà báo không những là vũ khí mà còn là vũ khí sắc bén trong cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, trong cuộc sống, có __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.157. 25 “Chính” lớn như chính nghĩa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính nghĩa trong sự nghiệp đổi mới, cho tới những việc tốt, người tốt trong hành động xây dựng cộng đồng cũng như hành vi ứng xử tốt đẹp với những người trong cộng đồng. Lại có “Tà” lớn như mưu đồ và hành vi xâm lược với nhiều thủ đoạn gian trá, cho tới các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, ức hiếp dân, xâm phạm lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Song cuộc đời rất phong phú và phức tạp, có khi trong “chính” có “tà”, trong “tà” lại có bộ phận, khía cạnh “chính”. Cho nên ngòi bút “phò chính” là phải nhiệt thành ủng hộ, cổ vũ. Ngòi bút “diệt tà” phải “ráo riết, triệt để” như lời Người dặn, nhưng cũng cần quan tâm xem xét cái phần “chính” trong đó nếu có, dù có nhỏ nhoi cũng cố sức phân biệt, cảm thông và khuyến khích cho nó mỗi ngày một lớn lên; đó cũng là lời khuyên của Bác Hồ cho những ngòi bút chiến đấu kiên cường nhưng đầy tính nhân văn. Cả cuộc đời của Bác là vì nước, vì dân; khi đã có chính quyền thì xác định rõ cán bộ, công chức là “đầy tớ của dân”. Tư tưởng đó cũng thể hiện rõ trong những lời nói của Người với báo chí và người làm báo. Xuất phát của ngòi bút chiến sĩ khi thông tin, bình luận bao giờ cũng là câu hỏi lớn với người làm báo, vì ngay từ đầu, Chủ tịch 26 Hồ Chí Minh đã đặt ra và giải đáp câu hỏi “Viết để làm gì”, “Viết cho ai”... Do đó Người dặn, khi viết những người làm báo phải “xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc”1. Người còn dặn: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”2. Đó là nội dung quan trọng nhất của tính nhân dân, của báo chí, của người làm báo chiến sĩ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với việc nêu những vấn đề quan trọng như trên, Người còn quan tâm tới mặt nghiệp vụ báo chí. Nghiệp vụ báo chí có nhiều nội dung, nhưng xin phép được nêu về đạo đức nghề nghiệp theo lời dặn của Bác Hồ. Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cho là người lãnh tụ Đảng và nguyên thủ quốc gia quan tâm nhất tới việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cho cán bộ, công chức khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, trong đó có nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp báo chí. Tính chân thật luôn luôn là tính chất quan trọng hàng đầu của những người làm báo, trong __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.159. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.345. 27 đó có người làm báo Việt Nam. Bác viết: “Bao giờ ta cũng tôn trọng sự thật. Có nói sự thật thì tuyên truyền mới có người nghe”. Nhưng phản ảnh cho chân thật lại không đơn giản vì những lý do khác nhau. Người đã khẳng định dứt khoát với các nhà báo “Có thế nào nói thế ấy”, không được thêm thắt, bịa đặt, đồng thời phân tích: “Sự thật có mặt tốt, mặt chưa tốt, thậm chí có mặt xấu. Sự thật bị che giấu bởi thói khoa trương, thổi phồng thành tích, làm láo, báo cáo hay”. Do đó, đã có lần Người “xung phong phê bình” với tư cách người đồng nghiệp “có ít nhiều kinh nghiệm” - theo cách nói khiêm tốn và thân mật của mình về cái tội báo chí “thường nói một chiều”, khen chê không “đúng đắn”, “chừng mực” dễ đi đến thổi phồng, bóp méo làm mất đi tính chân thật của báo chí. Để thông tin, bình luận đúng bản chất sự thật, cần có nhiều phẩm chất, trước hết là tấm lòng vì nước vì dân và sự “thật thà”, “hiểu biết” mà ngày nay ta hay nói chữ là trung thực, có kiến thức và còn phải làm nhiều việc khác nữa. Trong việc thu thập thông tin, Người nói phải “gần gũi quần chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực”1, tức là __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.103. 28 yêu cầu các nhà báo phải gắn với thực tiễn, sát với nhân dân như cách nói ngày nay. Nhưng sống trong thực tiễn, sát nhân dân cũng chỉ góp phần làm sáu việc: nghe, hỏi, thấy - xem (xem sách, báo), ghi, nghĩ và viết. Người còn nói: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”, và “viết phải thiết thực”, “nói có sách, mách có chứng”. Viết đến đây lại chợt nhớ tới Peter Arnett - người đã viết hơn 3.000 bài, tin trong cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược nước ta; không phải tin, bài nào của ông cũng phù hợp với quan điểm đánh giá của chúng ta nhưng ông là nhà báo lớn, được giải thưởng Politzer năm 1966, đã nhắc trong hồi ký của mình về một lời khuyên sâu sắc của anh bạn đồng nghiệp: “Hãy viết những gì anh thấy chứ không chỉ viết những gì anh nghe”. Mà thấy theo Bác Hồ là “mình phải đi đến, xem xét mà thấy”. Báo chí có vị trí rất quan trọng với dư luận trong nước, ngoài nước như Người đã nói, do đó Người luôn luôn nhắc người làm báo về tính cẩn thận khi tác nghiệp. Tại Đại hội lần thứ ba Hội Nhà báo Việt Nam, cùng với các lời phê bình khác, Người đã phê bình báo chí về “Đưa tin hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng”, “lộ bí mật”. Và trong một tài liệu khác, Người khuyên: “Khi viết xong một bài tự mình phải xem lại ba bốn lần, 29 sửa chữa lại cho cẩn thận”1, “Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần”2, chớ “lụp chụp, cẩu thả”, “chớ viết lung tung”. Ngày nay khi chúng ta đang phê bình tình trạng giật gân, câu khách của một số bài báo, một số báo và những hành vi xấu xa, có cả những hành động theo kiểu “Êrốtstát đốt đền” vì không có khả năng nổi tiếng từ những việc làm tốt thì tìm cách nổi danh từ những việc làm không tốt đẹp, khác thường của một số ít nhà báo, thì thấy từ Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, cách đây hơn 50 năm, với trải nghiệm của mình với làng báo ở các nước phát triển, thực hiện kinh tế thị trường, Người đã cảnh báo về “Những tờ báo giật gân”, “chuyên lôi chuyện bí mật của những người có tiền để tống tiền” và cái bệnh “viết bài cho oai”, “muốn làm cái gì để lưu danh thiên cổ ”. Về nghiệp vụ, Bác Hồ còn căn dặn nhiều nội dung, nhưng từ đầu đã nói, tôi chỉ nêu những cảm thụ về đạo đức nghề nghiệp có liên quan tới tình hình báo chí hiện nay, trước hết để tự răn mình và trao đổi ý kiến với các bạn đồng nghiệp. Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ, __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.103. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.346. 30 cho dù nhà báo là chiến sĩ cách mạng thì báo chí là một nghề, người làm báo là người làm nghề, cho dù là nghề đặc biệt thì cũng là một nghề, cho nên Người khuyên: “Nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải cố mà học”. Người nhắc những người làm báo cách mạng là chiến sĩ cách mạng cho nên “phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”, “chú trọng học chính trị”, “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ văn hóa”, “mỗi người làm báo cần biết ngoại ngữ” để có thể tiếp nhận thông tin của các bạn đồng nghiệp trên thế giới. IV- HỒ CHÍ MINH MUỐN CÁC TỜ BÁO CÁCH MẠNG PHẢI ĐƯỢC BẠN ĐỌC HAM CHUỘNG Ngay trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong thư gửi lớp học báo chí Huỳnh Thúc Kháng, với các tờ báo kháng chiến, Người đã nói rõ: “Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo”1. Bác dùng từ “ham chuộng” và Từ điển tiếng Việt định nghĩa là ưa thích hơn cả. Ở phần trên đã nêu lời Bác Hồ nhắc các tờ báo phải lấy “chính trị làm chủ” thì có một số __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.102. 31 bạn đồng nghiệp vẫn cho rằng, nếu thực hiện như vậy thì tờ báo sẽ khô khan, ít hấp dẫn. Trong một cuộc hội thảo khoa học và trên bục giảng trường đại học báo chí, trong không khí thoải mái tranh luận, tôi đã tỏ thái độ không đồng tình với ý kiến đó. Khi chúng ta hiểu ý Bác, chính trị cụ thể là mục đích chung của dân tộc trong từng thời kỳ, thì cổ vũ kháng chiến để giữ vững độc lập và thống nhất Tổ quốc suốt 30 năm ròng, rồi trong thời kỳ đổi mới với việc cổ vũ thực hiện kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu, khoán sản phẩm tới hộ gia đình trong nông nghiệp, xác định quyền tự chủ của các xí nghiệp, xóa bao cấp, thực hiện một giá trong việc mua bán, rồi cổ vũ phong trào làm giàu chính đáng đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu... theo tôi nghĩ, đều là những vấn đề chính trị lớn, động đến cuộc sống và ước vọng của đông đảo nhân dân, là những đề tài rất quan trọng, nếu được thể hiện khéo thì có sức hấp dẫn rất lớn với đông đảo nhân dân (từ khéo theo nghĩa đúng đắn, chủ yếu nói về phương pháp để thực hiện những ý tưởng chính đáng có hiệu quả, là từ Bác Hồ dùng nhiều lần trong sách Sửa đổi lối làm việc). Trong thực tiễn, báo chí đề cập các đề tài đó với các bài viết của những cây bút tài 32 năng, có trách nhiệm cao bán rất chạy, có lúc phải xếp hàng mua báo ở phố Tràng Tiền (Hà Nội) như xếp hàng mua gạo thời bao cấp; có không ít độc giả cắt lại những bài có ý nghĩa hay để lưu giữ, vận dụng. Viết đến đây, tôi lại nhớ tới một cuộc trao đổi ý kiến thú vị với một nhà báo quen biết của tờ báo L’Humanité tại Pari đã từng có thời gian thường trú khá lâu ở Việt Nam. Chúng ta trước đây và có thể hiện nay vẫn có người hiểu “báo chí ba xu” là những tờ báo rẻ tiền, in sơ sài, bán giá rẻ, nhưng quan trọng là chuyên đăng những tin tức lặt vặt, không có ý nghĩa. Vì đã từng sống nhiều năm ở nước ta, giao tiếp với nhiều đồng nghiệp nước ta nên ông cũng hiểu cái nghĩa đó ở ta. Thế rồi anh hỏi tôi về xuất xứ của từ “ba xu” thì tôi nói thật là không biết. Anh nói: Phải chăng có bạn đã hiểu tiếng Pháp cho nên dịch từ “trois cents” của tiếng Pháp đúng nghĩa là “ba xu” theo tiếng Việt rồi đoán và hiểu như thế chăng? Ở Pháp cũng có người hiểu như thế nhưng nguồn gốc của báo chí “trois cents” là từ thời Cách mạng Cộng hòa dân chủ Pháp 1789. Lúc đó mỗi ổ bánh mì chay (không có nhân) có giá “trois cents” chứ không phải mấy franc (ta thường dịch là “đồng” của tiền nước Pháp khi chưa xuất hiện đồng euro) như hiện nay. Trong thời đó, người công nhân có thể chịu nhịn ăn, bỏ 33 tiền mua một ổ bánh mì trong bữa ăn sáng để mua tờ báo, đọc báo mà tiếp tục tham gia cuộc cách mạng dân chủ, xóa bỏ vương quyền và thần quyền. Ý nghĩa nguyên thủy của tờ báo chí “trois cents” (báo chí ba xu) rất tốt đẹp, được công chúng ưa chuộng như thế. Thú thật, không hiểu biết lắm, nhưng thấy lời giải thích của anh bạn là có lý cho nên ghi nhận và nhớ cho đến ngày nay, có thể còn lâu hơn nữa để hiểu Bác muốn các tờ báo chí cách mạng của ta phải làm thế nào để được đa số công chúng ham chuộng. Cũng để hiểu các chủ đề, đề tài khi thể hiện đúng “tư tưởng và ước vọng” của nhân dân trong từng thời kỳ, cũng là vấn đề chính trị trực tiếp, có sức hấp dẫn, được “ham chuộng” - nghĩa là ưa thích nhất, chứ không phải khô khan, cứng nhắc như có bạn nghĩ. Trở lại bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp báo chí Huỳnh Thúc Kháng, thì sau khi nói về tờ báo được ham chuộng, Người tiếp tục yêu cầu về nội dung và hình thức tờ báo vì đó là những vấn đề quan trọng bậc nhất làm cho tờ báo được đông đảo nhân dân ham chuộng. Về mặt nội dung tờ báo mà Bác yêu cầu thì tôi đã trình bày những ý chính mà tôi tiếp thụ (chắc chắn chưa đầy đủ); bây giờ xin trình bày về những mặt khác trong đó có hình thức, cách thể hiện. 34 Khi kể lại một cách vắn tắt cuộc đời làm báo, Người đã nói về mục đích viết báo của mình như phần trên đã trình bày và với mục đích đó, khởi nghiệp làm báo của Người là học tiếng nước ngoài để viết báo nước ngoài trong sáu năm (1919 - 1925) đến khi lập ra báo Thanh niên thì Người mới bắt đầu viết báo bằng tiếng Việt. Bác Hồ không học qua trường lớp huấn luyện làm báo nào, chủ yếu học từ các đồng chí, đồng nghiệp viết báo cách mạng nước ngoài. Báo chí của nước ta ngày càng phát triển, các tờ báo đều có mục đích chung của dân tộc trong từng thời kỳ, như mỗi báo có mục đích cụ thể, đối tượng của mỗi tờ báo không giống nhau, có trình độ, chính trị, văn hóa và sở thích không giống nhau, do đó Người khuyên các báo không được rập khuôn vì “rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán”. Đọc đến đây lại nhớ tới Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) - Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới, phê phán báo chí lúc đó “đơn điệu, một chiều”, mà tôi hiểu là Đảng ta muốn trong thời kỳ đổi mới những quy định để báo chí nước ta đa dạng, nhiều chiều, vừa phong phú, đa dạng, vừa đúng hướng. Đối với người viết và bài viết, Bác Hồ nhắc lại lời khuyên của một người đồng nghiệp làm ở 35 báo Tiếng còi của Liên Xô khuyên Người năm 1923: “Chớ viết khô khan quá. Phải viết cho văn chương... Bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc”1. Chắc chắn đến lúc nào đó có dịp được trình bày suy nghĩ, cảm nhận của tôi và cùng nhau thảo luận về lời khuyên này, đặc biệt là khái niệm “lạ” và “văn chương” của báo khác gì với văn chương của văn. Cũng vẫn là cách thể hiện góp phần làm cho bạn đọc ham chuộng bài báo, tờ báo, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III năm 1962 ở Hà Nội mà tôi là một trong số những phóng viên được dự để tường thuật, do đó được trực tiếp nghe Người khuyên các nhà báo viết về những tấm gương tốt “cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn”. Khái niệm chân thật tức là bản chất sự thật thì có lần tôi đã trình bày ý kiến của mình. Nhưng đây là lần thứ hai chúng tôi được nghe Người thầy của báo chí cách mạng nước ta khuyên phải viết cho hay, mà trong từ điển thì từ “hay” có ba nghĩa trong các bối cảnh khác nhau; trong lĩnh vực báo chí, văn học thì “hay” để chỉ các tác phẩm có tác dụng gây cảm hứng, sự thích thú hướng tới chân, thiện, mỹ. __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.170. 36 Còn “hùng hồn” thì không phải nói và viết khoa trương lừa mị như một kẻ ba hoa mà Bác Hồ đã phê bình, mà là tác phẩm của người viết dấn thân, mạnh mẽ khẳng định nhưng đầy sức thuyết phục. Nhân đây cũng kể một câu chuyện mới xảy ra với tôi. Tôi được mời vào Hội đồng chung khảo viết về “những tấm gương bình thường mà cao quý”; lúc đầu tôi không nhận vì sợ không có thời gian nhưng chủ yếu e rằng với sự suy nghĩ và cảm thụ của một nhà báo già có thể có phần không thông cảm với các cây viết trẻ, nhưng vì Ban Tổ chức ép cho nên tôi phải nhận lời. Khi xong việc, có người hỏi: “Ông đánh giá thế nào về các bài viết đã được tuyển lựa”, tôi đành phải nói thật ý nghĩ của mình nhưng đề nghị không đăng báo vì e làm cho người viết, ngay cả những người được giải không hài lòng. Tôi nói rằng: “Tất cả những con người, sự việc nêu ra trong các bài viết đều là những tấm gương tốt, có tấm gương rất tốt, rất hay nhưng hiếm bài viết hay kể cả một số bài được giải”. Tôi chỉ nói thế thôi nhưng trong bụng nghĩ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nhận xét thẳng băng nhưng có phần phũ phàng trên, nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu nằm trong lời khuyên của Antonov khi ông nói: “Muốn cho độc giả yêu nhân vật một lần thì 37 người viết phải yêu tới năm lần”. Phải chăng, khi viết, không ít tác giả chỉ nghe kể lại, chưa thật chân thành, công phu sống lâu với nhân vật để miêu tả sự kiện qua trái tim đồng cảm của mình, gây cảm hứng thích thú cho người đọc để trở thành bài báo hay. Về mặt hình thức và sự thể hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhắc nhiều điều, như phê phán bệnh ba hoa, “sáo rỗng” khi nói và viết, Người nói: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài”1, làm sao “mỗi chữ có một ý nghĩa, một mục đích”. Người nghiêm khắc yêu cầu báo chí phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, phê phán bệnh “sính dùng tiếng nước ngoài” trong khi tiếng Việt mình vẫn có từ để dùng... Nghĩa là còn có nhiều vấn đề có thể bàn vào những dịp khác. V- LỜI “DẠY KHÔNG DÙNG LỜI” Đầu đề phần này là tôi mượn ý “Việc dạy không dùng lời” trong Đạo đức kinh - một cuốn sách mỏng nhưng rất hàm súc triết lý về vũ trụ, __________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.339. 38 nhân sinh nổi tiếng Đông - Tây, cho tới ngày nay. Giải nghĩa câu này, nhiều tác giả đã giải nghĩa sâu xa, nhưng có tác giả đề cập một nghĩa đơn giản là việc học ở trên đời này không chỉ đọc trong sách hoặc nghe các bài giảng thành lời, thành chữ mà nhiều khi do quan sát, suy ngẫm, chiêm nghiệm trong cuộc sống. Đọc đến đây lại nhớ đến phát biểu của nhà cách mạng trẻ Nguyễn Ái Quốc, mới 33 tuổi đã nói rõ ý kiến của mình về những tấm gương tốt có tác động cổ vũ phong trào cách mạng của nhân dân gấp trăm bài diễn thuyết tuyên truyền. Theo tôi nghĩ, Người đã nói tới tác dụng to lớn của những “lời dạy không dùng lời” trong hoạt động tuyên truyền cách mạng. Tư tưởng đó đã quán xuyến hoạt động cách mạng của Người khi đã trở thành lãnh tụ cách mạng của Đảng, nguyên thủ quốc gia. Khi được tham gia thảo luận nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh để ghi vào dự thảo Văn kiện trình Đại hội lần thứ VIII của Đảng, một số đồng chí trong đó có tôi đã nói rằng: Việc tổng kết tư tưởng của Người không chỉ dựa vào các văn bản đã được in thành 12 tập (rồi 15 tập) của Hồ Chí Minh toàn tập mà còn phải qua sự nghiệp của Người, cách ứng xử của Người trong các tình huống phức tạp của cách mạng hoặc 39 cách ứng xử của Người trong các quan hệ với đồng bào, đồng chí và đó là những “lời dạy không lời”, có khi là chuyện nhỏ mà lại có tầm rất cao, rất xa. Một số tác giả đã viết theo hướng đó làm cho tư tưởng của Người có xương có thịt rất phong phú, sinh động. Do đó, nghiên cứu về người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam, tôi muốn qua một số chuyến công tác của Người mà nêu lên những bài học không thành lời với nghề báo. Và tuy viết về “Người thầy” nhưng trong bài viết này, tôi cố gắng không dùng từ “dạy” mà chủ yếu dùng các từ “khuyên bảo”, “dặn dò” như những gì tôi cảm nhận về Bác Hồ của chúng ta. Trong cuộc đời làm báo của mình, tôi vinh dự được khoảng 10 lần theo các chuyến đi công tác trong nước của Bác để viết tường thuật trên báo. Chắc chắn tôi không phải là nhà báo được đi theo nhiều nhất các chuyến công tác của Bác để viết tường thuật. Nhà báo được thường xuyên theo các chuyến đi của Bác phải là các bạn đồng nghiệp ở Việt Nam Thông tấn xã. Ngay ở báo Nhân Dân, có thể tôi là người được đi theo Bác nhiều hơn trong các chuyến đi công tác ở trong nước của Người không phải vì được tin cậy đặc biệt gì, cũng không phải giỏi giang gì, mà vì sinh thời Bác hay về nông thôn, các tỉnh nông nghiệp 40 mà tôi lại là phóng viên nông nghiệp của báo, do vậy lãnh đạo cơ quan thường cử những người có chút hiểu biết về lĩnh vực này để có điều kiện hơn trong quá trình viết bài. Hành trình của Bác trong thời kỳ đó phải hết sức bí mật, do đó, ngay cả Tổng Biên tập của Báo Nhân Dân - thường là các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, theo tôi hiểu thì cũng chỉ được biết nội dung Bác đi để nghiên cứu, động viên chứ cũng không được biết trước Bác đi tới đâu; nhưng biết Bác đi nghiên cứu, thăm hỏi việc gì cũng có hướng để cử phóng viên nào đi trong chuyến công tác đó. Trong khoảng 10 lần được đi theo Bác thì chuyến đi nào cũng có những câu chuyện, có khi chỉ là những tình tiết cụ thể, để lại những bài học sâu sắc với tôi, nhưng trong phạm vi bài viết này, tôi xin kể lại một cách ngắn gọn liên quan đến nghề báo. Nhớ lại chuyến theo Bác đi công tác ngày mồng một Tết năm Kỷ Dậu 1969, tôi cũng chỉ được Tổng Biên tập Hoàng Tùng báo vào chiều 29 Tết một câu ngắn gọn: “5 giờ sáng mồng một, cậu đến cơ quan có xe đưa đi công tác”. Tuy thế tôi cũng hiểu là đi công tác vào ngày mồng một Tết chỉ có thể là đi tường thuật chuyến đi chúc Tết đồng bào của Bác; năm đó lại là năm thứ 10 Tết trồng cây cho nên chắc là Bác tham gia Tết 41 trồng cây, nhưng cũng chỉ đoán thế thôi, còn đi đâu thì không thể biết, chỉ theo xe cơ quan lên Cổng Đỏ (chỗ thường trực ở cổng sau Phủ Chủ tịch) để chờ đi theo. Thế là năm đó tôi được theo Bác đi trồng cây trên đồi Đồng Váng, Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội. Cùng đi với Bác có anh Nguyễn Lương Bằng, tướng Phạm Kiệt, có anh Bạch Thành Phong, anh Minh Đạt, lúc đó là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về quê ăn Tết ở làng gần đó cùng một số đồng bào địa phương cũng ra đón Bác và tham gia trồng cây. Việc trồng cây diễn ra rất hồ hởi, có nhiều tình tiết thú vị. Nhưng sau đó Bác cháu ngồi xuống bãi cỏ nói chuyện. Bác hỏi người già là cụ Chu Công Tự, người trẻ là chị Đỗ Thị Soạn lúc đó là Bí thư Chi bộ Tòng Lệnh, và hỏi Chủ nhiệm Hợp tác xã Đồng Thịnh cũng có mặt. Bác dặn dò các cụ phải nêu gương cho con cháu và nói lại cho con cháu về nỗi khổ cực của thời xưa để các cháu trẻ hiểu biết mà yêu quý chế độ mới; dặn bí thư chi bộ phải nhắc nhở đảng viên gương mẫu, trong chi bộ phải đoàn kết; hỏi chủ nhiệm hợp tác xã có hay liên hoan chè chén không và dặn dò phải tiết kiệm của chung, không chè chén lu bù, “khách ba, chủ nhà bảy”... Lên xe về nhà, một số nhà báo ngồi xe chung, cùng xe còn có Quang Huy, lúc đó là Giám đốc Xưởng phim 42 Thời sự - tài liệu Trung ương, có Hồng Nghi - nhà nhiếp ảnh và quay phim lão thành nổi tiếng - cả hai nhà báo lớn đó nay đã là người thiên cổ. Lâu ngày gặp nhau, nói chuyện rất vui nhưng nhà báo nào cũng quan tâm tới nhiệm vụ của mình, quan trọng nhất là xác định chủ đề để phản ánh chân thật, bản chất và ý nghĩa mới của sự kiện. Quang Huy hỏi tôi: “Tết trồng cây năm nay có gì mới?”, vì năm nào các nhà báo cũng viết bài, chụp ảnh, quay phim về Tết trồng cây. Vì công tác ở Báo Nhân Dân, cho nên tôi biết rằng cách đó 13 ngày đúng kỷ niệm ngày thành lập Đảng (03/02/1969), trên báo Nhân Dân đăng bài báo quan trọng với đầu đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” ký bút danh T.L, nhưng ai cũng biết đó là bút danh của Bác Hồ. Tuy lúc đó chưa biết hết ý nghĩa quan trọng, những tình tiết độc đáo về bài báo đó như ngày nay nhưng trong dư luận đã xôn xao bàn luận về vấn đề bài báo nêu lên, đồng thời từ đầu tôi đã ghi chép cẩn thận câu chuyện Bác nói với cán bộ cơ sở khi ngồi trên thảm cỏ, do đó tôi không cần nghĩ ngợi lâu mà trả lời ngay: “Tết trồng cây năm nay, chủ đề quan trọng là cùng với trồng cây theo tục lệ thì Bác đặc biệt quan tâm tới “trồng người””. Cả Hồng Nghi và Quang Huy đều nói: “Đúng thế!”. 43 Bài viết của tôi cũng theo hướng đó và được xét là đúng bản chất sự kiện và có ý nghĩa thời sự nóng hổi. Sau Tết trồng cây lần thứ 10, Tổng Biên tập lại cử tôi đi tường thuật buổi đi bầu cử của Bác tháng 4/1969, là lĩnh vực nội chính mà tôi ít hiểu biết, đồng thời cũng như mọi lần, tôi chỉ biết đi theo Bác mà không biết nội dung Bác hoạt động và ở đâu, cho nên tôi lại đến Cổng Đỏ chờ. Khi đi theo mới được biết là Bác đi bầu cử ở hòm phiếu số 4 đặt tại Nhà thuyền Hồ Tây, sau này mới biết đó là lần đi bầu cử cuối cùng của Bác. Đến nơi, Bác cũng như mọi công dân xem lại tiểu sử và ảnh người ứng cử, sau đó ra xếp hàng, trình thẻ cử tri và nhận phiếu bầu. Mọi người đều nhận ra Bác, xin nhường Bác nhận phiếu trước nhưng Bác không chịu. Bác nói: “Ai đến trước thì lên nhận trước, ai cũng có công việc bận ở nhà”. Và Bác đã nhận phiếu bầu rồi vào các ô bỏ phiếu kín ngăn bằng những khung vải xanh. Khi theo Bác tường thuật Tết trồng cây đầu năm, cánh nhà báo thấy Bác đã yếu, đi một đoạn dài phải có người đỡ. Tham gia tường thuật với tôi hôm đó còn có anh Đinh Chương ở Việt Nam Thông tấn xã và nhà quay phim Ma Văn Cường, là những người đã cùng làm việc với nhau trong những ngày chiến đấu ác liệt 44 nhất ở Vĩnh Linh. Lúc đó, ai cũng muốn ghi chép, ghi hình càng nhiều, càng độc đáo càng tốt về Bác, do đó Cường vác máy xông vào phòng ghi phiếu để ghi hình, tôi cũng ôm máy ảnh Kiev xông vào chụp, Bác lấy tay che phiếu và nói nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc: “Đây là phòng kín, chỉ có từng cử tri được vào, các chú không được vào đây. Nhà báo phải biết và làm đúng luật”. Thật ra chúng tôi không phải là không hiểu luật, nhưng lúc đó ai cũng muốn ghi lại hình ảnh Bác càng nhiều càng tốt để làm kỷ niệm cho mình và cho nhân dân. Nhưng lời nhắc nhở nhà báo cũng như mọi công dân phải biết luật và làm đúng luật thì vẫn còn là lời nhắc nhở, dặn dò cho tới ngày nay. Lại cũng một dịp tết, vào năm 1962, tôi đạp xe về thăm tòa soạn một tờ báo tỉnh, vì đồng chí bí thư tỉnh ủy và đồng chí tổng biên tập đều là bạn thân, đang ngồi nhấm nháp chén rượu thì đồng chí bí thư tỉnh ủy tới. Tôi rất mừng gặp lại đồng chí bí thư tỉnh ủy là người tôi quen từ trong kháng chiến và sau này cũng hay đi lại họp hành, làm việc với nhau. Nhưng lại thấy nét mặt đồng chí rất nghiêm trang, chắc có việc gì hệ trọng nên người hay đùa tếu như tôi cũng không nói gì. Đồng chí bí thư đưa ra một tờ báo rồi hỏi tổng biên tập: “Ai chụp và đăng bức ảnh này?”. Anh 45 bạn của tôi xem ra thiếu nhạy cảm nên nói: “Thưa anh, bức ảnh là do phóng viên “người nhà” chụp cảnh sản xuất đầu năm, đúng tư thế anh đang cùng bà con phát bụi làm nương”. Đồng chí bí thư nói: “Cậu xem lại đi, Bác Hồ vừa điện xuống hỏi chú đã xem tờ báo tỉnh tuần này chưa. Bác đang phát động cả nước trồng cây mà báo chí lại đăng ảnh bí thư tỉnh ủy chặt cây, một người làm, một người phá thì sao mà thành công được. Phải nhớ rằng mọi hành động, cử chỉ của người lãnh đạo nhân dân đều trông vào, làm tốt thì người ta hùa theo. Chú cần rút kinh nghiệm”. Chuyện này có nhiều bài học, riêng về báo chí thì anh bạn tổng biên tập của tôi nói: “Đây là bức ảnh mà phóng viên bố trí chụp để bạn đọc thấy là người lãnh đạo địa phương lao động thật sự, có khí thế, chứ không chỉ làm qua loa, hình thức như thường diễn ra, nhưng ai xem ảnh cũng thấy là ông ấy đang chặt cây có... chết không!”. Thế là một bài học về chụp ảnh đăng báo và muốn lừa dối bạn đọc của người làm báo qua những tấm ảnh bố trí có ý đồ. Thật ra còn có thể viết thêm, trong từng phần có thể viết kỹ hơn, nhưng như thế lại quá dài, cho nên xin phép tạm ngừng. Trong một chuyến đi theo Bác cũng không thể biết hết vì nhiều lý do khác nhau. Còn nhớ, có ngày tôi ốm phải vào bệnh viện, tình cờ tôi lại 46 nằm ở buồng cạnh buồng anh Vũ Kỳ - Thư ký của Bác vào những năm cuối đời anh. Nằm mãi cũng buồn nên chúng tôi hay ra hành lang hay sang buồng nhau tán chuyện. Tôi vẫn coi anh Vũ Kỳ là bậc đàn anh, nhưng cũng là cánh già, ốm đau cho nên câu chuyện thật là thoải mái. Một bữa tôi nói với anh Kỳ: “Bọn nhà báo chúng mình ơn ông cũng lắm mà oán ông cũng nhiều”. Anh Kỳ nói: “Ơn thì không cần kể, nhưng mình làm gì để các ông giận?”. Tôi nói: “Ngay như chuyến theo Bác trồng cây ở Vật Lại, ông xua hết chúng mình xuống đồi để Bác nghỉ ngơi, bọn mình tuân lệnh xuống hết, sau này mới biết Bác cho mắc chiếc võng dù của chiến sĩ miền Nam tặng ngả lưng nghỉ trưa dưới bóng cây bạch đàn. Bọn viết là mình, nhất là bọn chụp ảnh, quay phim cứ tiếc đứt ruột rồi oán ông. Rồi chuyến theo Bác đi công tác ở Thái Bình năm 1967, không kể lại chuyện mình bị bỏ rơi ở Cổng Đỏ, sau đó phải nhờ xe của Văn phòng Trung ương hộc tốc đuổi theo rất vất vả. Nhưng chuyện vất vả thì không kể làm gì vì cái nghề này quen với sự tất bật, vất vả, nhưng quan trọng là sau hơn một ngày làm việc, khi về Bác và các ông đi theo đường qua phà Cống Vực, Triều Dương, còn bắt chúng mình quay về lối Tân Đệ, thế là bọn viết, nhất là cánh quay phim, chụp ảnh tiếc ngẩn tiếc ngơ và oán ông vì không 47 ghi được hình ảnh Bác qua phà tả ngạn sông Hồng. Tôi còn có thể kể “tội” của ông trong các chuyến bọn mình theo Bác về Hải Dương, Hà Tây, Quảng Bình...”. Anh Vũ Kỳ nói nhẹ nhàng: “Các ông thông cảm, cũng vì nhiệm vụ cả thôi. Nhưng chiều nhà báo các ông thì có bữa chết cả nút”. Kể chuyện cà khịa cho vui thế thôi chứ trong thâm tâm tôi rất nhớ và rất kính trọng, biết ơn anh Vũ Kỳ cùng các anh chị Văn phòng Bác đã giúp đỡ nhà báo chúng tôi rất nhiều... Đọc bài viết này, chỉ mong các bạn hiểu cho đây không phải là một bài nghiên cứu khoa học như phần đầu tôi đã thưa mà chỉ là mấy cảm nhận của tôi. Cảm nhận, theo tôi hiểu là sự nhận thức đó có phần cảm tính khoa học hệ thống, nhưng đồng thời có thế mạnh riêng là những gì liên quan tới sự chiêm nghiệm của bản thân người viết và liên quan tới thời sự nghề nghiệp, cho nên ngay từ đầu cũng nói mục đích viết ra trước hết để răn mình và cùng các đồng nghiệp tham khảo. 48 SỰ PHÁT TRIỂN CHỨC NĂNG, NỘI DUNG, NHIỆM VỤ CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG NƯỚC TA* C húng ta kỷ niệm lần thứ 80 Ngày báo chí cách mạng Việt Nam tính từ sự ra đời báo Thanh niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập (1925), cũng đồng thời kỷ niệm lần thứ 140 ngày ra đời báo tiếng Việt, khởi đầu từ tờ Gia Định báo (1865). Sự ra đời của báo chí cách mạng cho đến nay đã chiếm hơn một nửa thời gian của lịch sử báo chí Việt Nam; đặc điểm đó liên quan tới sự ra đời, phát triển của báo chí cách mạng cũng như việc hình thành đội ngũ những người làm báo Việt Nam. Khởi đầu, báo chí cách mạng là tiếng nói của tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản, hoặc là tiếng nói của Đảng, nhưng sau đó phát triển thành các tờ báo của Đảng, của Nhà nước, của __________ * Tham luận tại Hội thảo quốc gia 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam, tháng 6/2005. 49 Mặt trận, của các tổ chức chính trị - xã hội rồi của tổ chức xã hội - nghề nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy cùng chung sự lãnh đạo của Đảng, nhưng mỗi loại báo đại diện cho tiếng nói của các tổ chức đều có nhiệm vụ riêng, có đối tượng riêng, nếu thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích sẽ làm phong phú, đa dạng thêm nền báo chí cách mạng nước ta. Báo chí cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng mà nhiệm vụ của Đảng lại luôn gắn liền với sứ mệnh lịch sử của dân tộc. Do đó, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của báo chí cách mạng trong các thời kỳ cũng khác nhau. Trong thời kỳ hoạt động bí mật có nhiệm vụ hướng dẫn, tổ chức nhân dân vùng lên giành chính quyền khác với thời kỳ Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Tám thành công. Trong thời kỳ báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền nhưng tiến hành kháng chiến bị chi phối bởi quy luật của chiến tranh cũng khác với thời kỳ hòa bình xây dựng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, mở rộng công khai, dân chủ, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và giao lưu quốc tế. Sự phát triển của báo chí cách mạng với nhiệm vụ cụ thể trong các thời kỳ lại có những đặc điểm riêng tuỳ thuộc vào nhiệm vụ cách mạng, 50 phương thức hoạt động và phương tiện kỹ thuật của mỗi thời kỳ. Trong quá trình giao lưu, mở rộng các mối quan hệ quốc tế, báo chí cách mạng nước ta chủ yếu giao lưu với báo chí cách mạng của Pháp trong thời kỳ chưa có chính quyền; giao lưu sâu sắc với báo chí của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Liên Xô, Trung Quốc trong thời kỳ còn phe xã hội chủ nghĩa; và trong thời kỳ đổi mới, mở rộng sự giao lưu với nền báo chí phong phú, đa dạng, có lịch sử lâu đời ở châu Âu, châu Mỹ, v.v. đã tạo cho diện mạo của báo chí cách mạng Việt Nam những nét đổi mới. Có thể nêu nhiều vấn đề khác nữa cũng để nói, việc nghiên cứu báo chí cách mạng cần đặt trong một thế “mở” và “động”, để tìm ra những đặc điểm riêng, đồng thời cũng để hiểu thêm lịch sử phát triển báo chí cách mạng nước ta. Những đặc điểm nêu trên liên quan tới nhiều mặt sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam, từ những vấn đề cơ bản như báo của ai? Chức năng, nhiệm vụ là gì? Cho tới các vấn đề khác như thể loại, ngôn ngữ, cách trình bày... để vừa giữ được bản chất, truyền thống nhưng phải tiến cùng thời đại trong quá trình hội nhập, giao lưu quốc tế. Trong bài viết này, tôi đề cập một số suy nghĩ 51 về một số vấn đề về chức năng, nhiệm vụ của báo chí trong thời kỳ mới. 1. Báo của Đảng và tiếng nói của nhân dân là một vấn đề rất lớn của báo chí cách mạng nước ta. Xuất phát từ bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là Đảng sinh ra từ lòng dân tộc, gắn bó với nhân dân, do đó báo chí của Đảng ngay từ đầu đã luôn luôn phản ánh ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Trong thời kỳ còn hoạt động bí mật, báo phát hành ít, điều kiện phát hành khó khăn, ai lưu giữ tờ báo Đảng, bọn thực dân coi như một chứng cớ để bắt bớ, cầm tù, nhưng nhân dân vẫn tìm đọc và tổ chức hành động theo lời kêu gọi của Đảng. Và thực sự tờ báo Thanh niên đã góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, huấn luyện cán bộ, góp phần xây dựng tổ chức Đảng Cộng sản; các tờ báo Cứu quốc và Cờ giải phóng, kế tục truyền thống của báo Thanh niên và các tờ báo cách mạng khác đã góp phần quan trọng vào cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công. Nhắc lại như thế để thấy phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân là một vấn đề thuộc bản chất của báo chí cách mạng nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, nghị quyết, chỉ thị của 52 Đảng cũng như Luật báo chí, khẳng định báo chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn của nhân dân là sự thay đổi rất lớn về việc xác định báo chí là “tiếng nói của ai?”, một vấn đề bản chất của báo chí cách mạng. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “diễn đàn là nơi để nhiều người có thể phát biểu ý kiến một cách công khai và rộng rãi”. Như vậy “diễn đàn” tuy vẫn phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân nhưng về bản chất mang tính đối thoại chứ không độc thoại, truyền bá một chiều; tuy vẫn là phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân nhưng với một phương pháp dân chủ hơn; tính chủ động của nhân dân rõ hơn. Theo tôi hiểu, trên “diễn đàn” cần chấp nhận những ý kiến khác nhau được công bố rộng rãi và công khai, để bảo đảm “tính chân thật, tăng cường tính quần chúng và tính chiến đấu, khắc phục tình trạng giản đơn, đơn điệu, hời hợt, sáo rỗng, một chiều” mà Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nêu lên. Khi nói khắc phục “đơn điệu” tức là khuyến khích đa dạng; khi nói khắc phục “một chiều” tức là khuyến khích nhiều chiều. Đồng thời, tuy báo chí là “diễn đàn của nhân dân” nhưng vẫn là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị - xã hội, cho nên là tiếng nói thống nhất 53 trên các vấn đề chính trị cơ bản, vì lợi ích chung của dân tộc, của Tổ quốc. Đây là một đặc điểm làm cho nội dung báo chí phong phú, đa dạng, nhiều chiều, là một công cụ dân chủ hóa xã hội nhưng vẫn “xây dựng dư luận xã hội lành mạnh, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng” như Báo cáo chính trị tại Đại hội VI của Đảng đã nêu. Những tờ báo nào vừa vững vàng trên quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước, vừa phản ánh sự đa dạng các ý kiến của nhân dân, không chỉ phản ánh đầy đủ, chân thật trên diễn đàn của Quốc hội, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mà còn mở ra những cuộc tranh luận về các vấn đề mà nhân dân quan tâm như phát triển bền vững, cải cách hành chính nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, phô trương, hình thức, nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng trong giáo dục, khám chữa bệnh, v.v. đang là những vấn đề bức xúc của xã hội, thường là những tờ báo được nhân dân tin cậy, tăng số lượng phát hành, thực sự là công cụ dân chủ hóa xã hội, tham gia tích cực và có hiệu quả trong việc quản lý xã hội như Đảng và Nhà nước ta mong muốn. 2. Vấn đề chức năng, nhiệm vụ là một vấn đề cơ bản của báo chí cách mạng, cũng là vấn đề cần nghiên cứu trong sự phát triển ở nước ta. 54 Sinh thời V.I. Lênin đã viết một câu rất nổi tiếng về báo chí của Đảng: Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể. Đó là câu nói của V.I. Lênin với tờ báo Tia lửa vào đầu thế kỷ XX, trước Cách mạng Tháng Mười Nga. Nhưng vì câu nói đó có sự khái quát rất cao, cho nên nhiều người cộng sản trên thế giới cũng như ở nước ta, đều cho câu đó là một câu có ý nghĩa kinh điển về chức năng báo chí của Đảng, hoặc báo chí của các nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khi chưa có chính quyền, ý kiến đó của V.I. Lênin về chức năng báo chí cách mạng có ý nghĩa rất quan trọng. “Tuyên truyền” ở đây chủ yếu là truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của Đảng. “Cổ động” ở đây là cổ động phong trào quần chúng hoạt động theo cương lĩnh, đường lối của Đảng. “Tổ chức” ở đây là tổ chức phong trào quần chúng để hình thành sức mạnh có tổ chức của nhân dân, và trong điều kiện đặc biệt thì làm “giàn giáo” để tổ chức Đảng như vai trò của báo Thanh niên ở nước ta với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, huấn luyện cán bộ và góp phần tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng chẳng lẽ sau hơn một thế kỷ, ý kiến về chức năng đó trong điều kiện sự phát triển của báo chí rất nhanh chóng, đặc biệt 55 là trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo chính quyền lại không có gì cần bổ sung? Trong sự nghiệp phát triển của cách mạng nước ta, nhất là trong thời kỳ hòa bình xây dựng, đổi mới, theo tôi, trên cơ sở những quan điểm của V.I. Lênin, Đảng ta đã từng bước phát triển các chức năng và nhiệm vụ mới của báo chí cách mạng. Trong thời đại bùng nổ thông tin, thông tin như một tài nguyên của quốc gia, là nhu cầu cơ bản của quyền con người, Đảng ta đã nhấn mạnh chức năng “đi sát thực tế, thông tin kịp thời” và thông tin công khai, coi được thông tin như quyền hợp pháp cơ bản của công dân ghi trong Hiến pháp, thực hiện phương châm: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” mà Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra. Trong chức năng thông tin, Đại hội Đảng lần thứ VI đã phê phán tình trạng “giản đơn, đơn điệu, hời hợt, sáo rỗng, một chiều” như trên đã đề cập, nghĩa là khuyến khích thông tin đa dạng, nhiều chiều, sâu sắc, thiết thực. Theo tôi đây là sự bổ sung quan trọng trong chức năng của báo chí cách mạng nước ta, đáp ứng thời đại thông tin. Trong thông tin phải chân thật, không thổi phồng hoặc bóp méo. Mở đầu sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã chỉ rõ trong Nghị quyết 56 Đại hội lần thứ VI của Đảng: “cần đưa công khai trên báo, đài, hoặc qua các cuộc sinh hoạt của các tổ chức đảng và đoàn thể quần chúng những vụ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp, mắc sai lầm nghiêm trọng về phẩm chất. Điều đó chỉ làm tăng lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. Tuy nhiên, với công cụ hết sức nhạy bén là báo chí, với trách nhiệm công dân, báo chí tránh “không lộ bí mật” của Đảng và Nhà nước, và phải tạo “dư luận xã hội lành mạnh, động viên quần chúng tích cực hoàn thành nhiệm vụ cách mạng”. Đây là những vấn đề lớn và khá phức tạp trong việc thực hiện chức năng thông tin của báo chí cách mạng. Một trong những chức năng quan trọng được bổ sung, theo tôi, là chức năng “mở mang dân trí”, “nâng cao kiến thức mọi mặt” cho người đọc, cho nhân dân, đã được nêu rõ trong Chỉ thị số 63-CT/TW của Ban Bí thư (25/7/1990) và Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị (17/10/1997). Trong thư gửi báo giới năm 1948 và thư gửi lớp báo chí Huỳnh Thúc Kháng năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu chức năng “giáo dục” của báo chí. Chức năng mới này nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới, đặt ra cho các tờ báo cách mạng yêu cầu mới, với nhiều đề tài, chuyên mục mới. 57 Trong chức năng thông tin, phản ánh hiện thực xã hội, với sự phát triển mới của báo chí nước ta, trong dịp kỷ niệm lần thứ 78 ngày báo chí cách mạng, tôi đã trình bày để đồng nghiệp xem xét và thực hiện đúng việc “dự báo” và “phản biện”. Xuất phát từ “nắm chân lý từ thực tiễn” và là “diễn đàn của nhân dân” mà hình thành trong thực tế chức năng này. Khi nói chức năng, nhiệm vụ, các văn kiện của Đảng chỉ nói “phản ánh hiện thực”, nhưng tôi nghĩ qua phản ánh hiện thực mà “dự báo xã hội”, dự báo những nhân tố tích cực mới và những yếu tố tiêu cực có khả năng phát triển. Đã gọi là dự báo thì hiện thực phản ánh chưa có tính phổ biến, nhưng có khả năng trở thành phổ biến. Cũng qua phản ánh hiện thực, “nắm sát thực tiễn”, “phản ánh ý kiến và nguyện vọng của nhân dân” mà hình thành chức năng “phản biện xã hội”, ủng hộ những gì sát thực tế, mới mẻ, có hiệu quả, tỏ thái độ không đồng tình với chủ trương, chính sách gì không phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân, không phù hợp với thực tế. “Dự báo” là nhiệm vụ của lãnh đạo, quản lý. Lắng nghe “phản biện” là để lãnh đạo, quản lý tiếp thụ các ý kiến để bổ sung, hoàn chỉnh các chủ trương, chính sách. Do đó, qua phản ánh hiện thực, dự báo, phản biện mà phát 58 huy vai trò chủ động tham gia quản lý xã hội, góp phần giám sát cán bộ, công chức như Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đã trao quyền cho báo chí. Báo chí cách mạng có trách nhiệm chủ yếu và bao trùm là góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Cổ vũ nhân tố mới hoặc phanh phui các tiêu cực đều nhằm mục đích xây dựng. Nhưng Đảng ta đã chỉ rõ trách nhiệm của báo chí trong thời kỳ mới mà nhiều nhà khoa học hay gọi là “báo chí giải pháp”. Báo chí có trách nhiệm phản ánh trung thực đời sống, mạnh dạn phê phán những “lạc hậu, trì trệ và mọi biểu hiện tiêu cực”, nhưng điều quan trọng là “đề cập và chỉ ra phương hướng giải quyết những vấn đề thiết thực mà xã hội quan tâm” như Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã nêu lên. Và báo chí nước ta đang thực hiện theo phương hướng đó, như thông qua ý kiến đông đảo bạn đọc kiến nghị các giải pháp phát triển kinh tế bền vững, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng trong giáo dục và khám chữa bệnh, giải pháp chống thất thoát trong xây dựng cơ bản, giải pháp chống lãng phí, tham nhũng, v.v.. 59 Như trên tôi đã đề cập, trong thời kỳ đổi mới, báo chí phát triển đa dạng, phong phú. Trước đổi mới (1985), cả nước chỉ có 200 tờ báo và tạp chí; sau gần 20 năm đổi mới, đến năm 2004 đã có đủ loại hình báo chí với 716 ấn phẩm của 553 cơ quan, 64 đài phát thanh tỉnh, thành phố, 606 đài huyện, 5 kênh vô tuyến truyền hình, 5.000 website và 50 cơ quan báo điện tử. Điều quan trọng là xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra những nhiệm vụ mới cho báo chí, theo tôi, đó là sự bổ sung chức năng nhiệm vụ, nâng cao tính nhân dân của báo chí cách mạng, đáp ứng trình độ dân trí được nâng cao, không khí dân chủ được mở rộng, và đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển báo chí trên thế giới. Bên cạnh đó, còn nhiều sự đổi mới khác nữa. Những vấn đề mới đặt ra rất đích đáng nhưng thực hiện lại không dễ dàng đặt ra cho người làm báo cách mạng nước ta với tư cách là người chủ của xã hội này, phải thông tin, phản ánh, dự báo, phản biện như người trong cuộc, đồng hành cùng dân tộc, cùng nhân dân. 60 THẬT Vj NHANH* X em ra, đã làm báo thì ai cũng quan tâm hai từ thật và nhanh. Trong công việc phản ánh hiện thực, có nhà báo luôn luôn cho rằng mình hết lòng vì sự thật và chỉ sự thật mà thôi, phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ và cả nguy hiểm để tiếp cận và thông tin sự thật. Đồng thời với việc công bố thông tin thì nhanh lại là điều rất quan trọng, thông tin ban đầu luôn luôn là phẩm chất quan trọng trong thông tin mà nhà báo nào cũng tìm cách đạt tới vì những dấu ấn sâu sắc của nó tới người đọc, người xem trong quá trình cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt. Chiến đấu cho thông tin sự thật và nhanh chóng công bố thông tin là cuộc chiến đấu sinh tử trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt hiện nay. Thông tin sai là thua mà thông tin chậm cũng thua. __________ * Phát biểu tại Hội thảo về đạo đức người làm báo do Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức, tháng 8/2012. 61 Nhiều năm hoạt động nghề nghiệp và nghiên cứu các văn kiện của Đảng về thông tin, tôi thấy có những điều cần suy nghĩ và muốn trao đổi, chia sẻ với đồng nghiệp. Bác Hồ và Đảng ta luôn quan tâm thông tin sự thật và thông tin nhanh nhưng không chỉ nói sự thật mà phải nói tới sự chân thật, không chỉ yêu cầu nhanh để khỏi bị động nhưng nhấn mạnh việc thông tin kịp thời. Bác Hồ dặn các nhà báo phải “viết cho hay, cho chân thật và hùng hồn”. Văn kiện Đại hội VI mở đầu thời kỳ đổi mới yêu cầu cơ quan truyền thông đại chúng “phải đảm bảo tính chân thật” trong thông tin. Văn kiện Đại hội lần thứ XI yêu cầu cơ quan truyền thông đại chúng phải thông tin “chân thật, đa dạng, kịp thời”. Vậy, sự giống nhau và khác nhau giữa sự thật và chân thật, giữa nhanh và kịp thời là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thì sự thật là “cái có thật, cái có xảy ra”, còn chân thật là “đúng hiện thực khách quan”. Do đó, theo tôi hiểu thì sự thật hay chân thật đều là sự kiện có thật, không bịa đặt, phỏng đoán, nhưng khác nhau về mức độ, chân thật là nói tới bản chất sự thật. Về việc thông tin nhanh. Người làm báo nào cũng muốn và phấn đấu để thông tin nhanh vì lợi thế của nó và uy tín của người thông tin như 62 trên đã phân tích, nhưng nhanh với kịp thời xem ra không hoàn toàn giống nhau. Nhanh chỉ nhịp độ, tốc độ trong sự so sánh, còn kịp thời là đúng lúc. Theo tôi hiểu thì nhanh và kịp thời đều không chấp nhận sự chậm chạp. Nghị quyết Đại hội XI nêu chức năng của báo chí là “thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội” vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Kịp thời là tính tới bối cảnh công bố có lợi nhất, có hiệu quả xã hội cao nhất, do đó kịp thời có thể phải nhanh, không để lỡ cơ hội hoặc bị động, nhưng lại không nhất thiết phải nhanh khi ở bối cảnh cụ thể nào đó việc công bố sẽ không có lợi cho nhân dân và đất nước. Thật ra, trong các văn kiện của Đảng cũng có lúc đề cập tới thông tin “sự thật”. Chắc mọi người đều nhớ, Đại hội Đảng lần thứ VI nêu rõ thái độ của Đảng trong đánh giá tình hình là: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Thái độ đó cũng là thái độ của những người làm báo chúng ta trước việc tìm hiểu thông tin và công bố thông tin. Tuy nhiên, chỉ “nói rõ sự thật” (nên hiểu là công bố thông tin) khi đã “đánh giá đúng sự thật” tức là nói tới bản chất của sự thật với đầy đủ nhiều mặt của nó, gần với khái niệm “chân thật” trong lời dặn của Bác Hồ. 63 Phân tích dài dòng như trên để nhìn lại hoạt động của báo chí của chúng ta trong thời gian qua. Bên cạnh những ưu điểm cơ bản, còn có những khuyết điểm, có khuyết điểm nghiêm trọng, trong đó có khuyết điểm thông tin “sai sự thật”, gây ảnh hưởng xấu hoặc xâm phạm uy tín, danh dự của tổ chức, nhân phẩm công dân, gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp và làm mất uy tín của giới báo chí trong xã hội. Thông tin sai sự thật có nhiều loại, có số ít do bịa đặt, thêm bớt là sai phạm nặng nề nhất về mặt đạo đức của người làm báo. Có trường hợp thông tin “sai sự thật” do suy diễn chủ quan dẫn đến sự thật bị thổi phồng, bóp méo cũng không còn là sự thật như nó vốn có, gây hiểu lầm tai hại trong xã hội, xa rời tính chân thật của báo chí. Theo tôi, khuyết điểm phổ biến dẫn đến thông tin sai sự thật là do phong cách làm báo không cẩn trọng, thiếu trách nhiệm. Một số người thu thập tin theo kiểu “nghe hơi nồi chõ”, theo tin đồn, theo kiểu “làm báo a dua, theo đuôi”, không theo lời dặn của Bác Hồ: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa hiểu rõ, chớ nói, chớ viết”, mà Bác gọi là “nói bừa”, “viết càn”. Những người làm báo nổi tiếng thường rất thận trọng khi thu thập thông tin và họ càng nổi tiếng thì 64 càng thận trọng. Peter Arnett - nhà báo được giải thưởng Politzer danh giá hay nhắc lại lời khuyên của bạn đồng nghiệp: “Chỉ viết ra những gì trực tiếp quan sát” (chứ không viết theo tin đồn hoặc qua báo cáo - T.G). Nhà văn, nhà báo nổi tiếng Gabriel Market cũng nói: “Mỗi tin tức cũng phải điều tra”, nghĩa là không chỉ hoạt động điều tra khi viết phóng sự điều tra mà khi công bố một thông tin nào cũng phải điều tra để đảm bảo thông tin chính xác, chân thật. Những nguyên nhân dẫn đến thông tin sai nêu trên thuộc về phong cách, một loại đạo đức khi hành nghề. Trong hoạt động nghề nghiệp nhiều khi rất mâu thuẫn, cho nên phải chọn lựa. Để đến được sự thật nhiều khi phải mất nhiều thời gian, không phải lúc nào cũng nhanh, nhưng lại không thể chậm chạp. Ai cũng muốn thông tin vừa nhanh vừa đúng đắn, chân thật nhưng nếu phải chọn lựa giữa nhanh và đúng thì những nhà báo nổi tiếng trên thế giới đều không ngần ngại chọn lựa đầu tiên việc thông tin đúng, vì về cơ bản thông tin đúng, chân thật là phẩm chất hàng đầu của thông tin, và chỉ luôn luôn thông tin, bình luận đúng mới có thể trở thành cây bút tin cậy trong lòng bạn đọc. Những sai sót trong hoạt động nghề nghiệp thời gian qua còn có những thông tin quan hệ 65 tới trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân trong việc thông tin những vấn đề tế nhị, nhạy cảm, chủ yếu là thông tin những vấn đề kinh tế, xã hội và hoạt động đối ngoại... không có lợi, thậm chí có hại cho nhân dân, cho sự ổn định và phát triển của đất nước, tôi sẽ bàn trong một bài khác. 66 T MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ VĂN HÓA BÁO CHÍ* heo nghĩa rộng, hoặc nghĩa hẹp của từ văn hóa thì tờ báo luôn luôn là một sản phẩm văn hóa, cơ quan báo chí là một cơ quan văn hóa và người viết báo là một người hoạt động văn hóa. Không phải chỉ những tờ báo của các cơ quan văn hóa mà tờ báo, tạp chí nào cũng là sản phẩm văn hóa. Ấy thế mà, trong tình hình hiện nay, bên cạnh những lời khen, một số độc giả, khán giả vẫn có nhận xét về một tờ báo nào đó, một bài báo, một chương trình nào đó, hoặc một phóng viên, biên tập viên nào đó là “kém văn hóa”, nghĩa là chưa đạt cái chuẩn tối thiểu của cơ quan đó, tổ chức đó, hoặc người làm nghề đó. Nhận xét “kém văn hóa” bao giờ cũng là nhận xét rất nặng nề về nhân cách một người, về chất lượng một sản phẩm. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển __________ * Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản, tháng 6/2003. 67 kinh tế - xã hội. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng về xây dựng chiến lược văn hóa trong thời kỳ mới - “xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, yêu cầu trong quá trình phát triển kinh tế phải coi trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ hoạt động đời sống xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể, vào từng địa bàn dân cư và mọi lĩnh vực sinh hoạt, quan hệ giữa con người với con người. Do đó, nhiều tác giả đã bàn tới văn hóa và phát triển, văn hóa chính trị, văn hóa quản lý, văn hóa kinh doanh, văn hóa cơ quan, văn hóa pháp đình, văn hóa khu dân cư, văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn... Do đó, cũng phải bàn đến văn hóa báo chí. Hoạt động báo chí có cơ quan báo chí, sản phẩm báo chí và người hoạt động báo chí. Do đó, khi bàn đến văn hóa báo chí, cũng cần bàn tới văn hóa cơ quan báo chí, văn hóa của sản phẩm báo chí và văn hóa của người hoạt động báo chí. * * * Nói đến hoạt động báo chí, trước hết phải nói tới sản phẩm báo chí - tờ báo, tờ tạp chí, các chương trình phát thanh, truyền hình, các trang báo điện tử... (từ đây gọi chung là báo chí). Xây dựng 68 cơ quan báo chí và bồi dưỡng người viết báo, biên tập báo cũng chủ yếu để tạo ra sản phẩm báo chí có chất lượng văn hóa ngày càng cao. Khi nêu phương hướng nâng cao chất lượng báo chí, Đảng và Nhà nước ta đã yêu cầu: phải nâng cao chất lượng chính trị, chất lượng văn hóa - khoa học, chất lượng nghiệp vụ. Tất cả những thứ đó tạo ra chất lượng sản phẩm báo chí, tức là tờ báo có chất lượng văn hóa cao. Chất lượng văn hóa cao, tất yếu phải có chất lượng tư tưởng cao vì tư tưởng bao giờ cũng là cốt lõi của văn hóa. Do đó, nâng cao chất lượng văn hóa của sản phẩm báo chí trước hết phải nâng cao chất lượng tư tưởng - chính trị của sản phẩm báo chí. Báo chí đề cập các vấn đề đa dạng của cuộc sống, nhưng vấn đề nào cũng có mặt chính trị của nó quy định bởi định hướng phát triển đất nước. Chất lượng chính trị của báo chí bao giờ cũng gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các nhà báo, phải luôn luôn xác định: “Vì ai mà viết?”. Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng nhắc các nhà báo: “Viết gì, nói gì, thông tin gì, lúc nào cũng phải vì lợi ích của cách mạng, của đất nước, của Đảng và của nhân dân”. Ngày nay là góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước 69 trong mọi tình thế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cứ trên chuẩn mực đó mà xem xét chất lượng văn hóa, chất lượng chính trị của báo chí. Xã hội ta đang đổi mới, đang phát triển theo hướng đổi mới. Những nhân tố mới, những hoạt động tốt đẹp mới trong xã hội biểu hiện ngày càng sinh động, nêu lên những tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, tinh thần hết lòng phục vụ nhân dân, sức lao động cần cù, sáng tạo, thành đạt, cuộc sống nghĩa tình, thủy chung... Đồng thời cũng bộc lộ những mặt xấu, như tham nhũng, quan liêu, cuộc sống ích kỷ, cơ hội, thực dụng, cá nhân cực đoan. Phản ánh trung thực cuộc sống là phải phản ánh cả mặt tốt đẹp lẫn mặt chưa tốt đẹp; nhưng nhiệm vụ của các sản phẩm văn hóa bao giờ cũng coi trọng nêu gương, khơi gợi những mặt tốt đẹp trong từng con người, từng đơn vị, và đấu tranh với các biểu hiện xấu xa, với lòng mong muốn xã hội và con người ngày càng tốt đẹp hơn. Trình bày xã hội chỉ những điều tốt đẹp, sẽ mắc vào “bệnh tô hồng” mà Đại hội lần thứ VI của Đảng đã phê phán. Trình bày xã hội toàn một “màu đen” gây ra tâm lý bi quan, hoài nghi là hạ thấp 70 chức năng văn hóa đối với con người. Ở đây, thật sự là vấn đề mức độ. Dân chủ là nấc thang phát triển của văn hóa, là đòi hỏi chính đáng của con người. Báo chí là một công cụ dân chủ hóa xã hội. Tiếng nói của nhân dân trên báo chí không chỉ là sự thể hiện quyền lực của nhân dân trên ngôn luận, mà còn là “sự phản biện xã hội” như đồng chí Phó Thủ tướng phụ trách văn hóa - xã hội đã nhiều lần nói. Trong thực tiễn, thông qua tiếng nói của nhân dân trên báo chí được phản ánh trung thực, đúng mực, đã dự báo và giúp cho Đảng và Nhà nước ta điều chỉnh một số chính sách mới đã hoặc sẽ ban hành cho phù hợp với tình hình thực tế. Nhưng đây là một tình huống phải được xử lý khôn khéo, đúng mực, để vừa đảm bảo kỷ cương luật pháp vừa thực hiện nhiệm vụ góp phần quản lý xã hội của nhân dân. Là một công cụ góp phần dân chủ hóa xã hội thì phải là một cơ quan tiêu biểu cho hoạt động dân chủ. Làm việc gì cũng có thể có đúng có sai; có sai thì chân thành nhận và sửa. Có hai lĩnh vực thường có những ý kiến khác nhau đó là việc phát hiện, đấu tranh chống tiêu cực và phản biện một số chính sách, chủ trương. Có ý kiến khác nhau thì cần tranh luận. Tranh luận phải triệt để, phân rõ đúng, sai nhưng phải 71 tranh luận có văn hóa. Phải khiêm tốn lắng nghe những ý kiến khác nhau, tôn trọng người đối thoại, không cố chấp, ỷ quyền có báo rồi “cả vú lấp miệng em” và nếu sai thì nhận lỗi và cải chính đàng hoàng. Đó là thái độ văn hóa của một cơ quan văn hóa. Xã hội bây giờ phát triển đa dạng, có nhiều nhu cầu khác nhau. Lớp trẻ có nhu cầu hưởng thụ văn hóa khác lớp người nhiều tuổi. Lớp trẻ nông thôn có nhu cầu khác lớp trẻ ở thành thị. Lớp trẻ học đường, nhất là sinh viên, tức là những trí thức trẻ tương lai lại có những nhu cầu cao trong hưởng thụ văn hóa. Báo chí phải đáp ứng các loại nhu cầu đó của xã hội. Nhưng dù đáp ứng nhu cầu cho một bộ phận lớp trẻ, cũng không thể lấy cớ đó để cổ vũ cho những thị hiếu không lành mạnh, khuyến khích bệnh “sùng ngoại”, nô lệ “mốt”, khuyến khích tiêu dùng quá mức, xa xỉ khi đất nước còn nghèo, nhân dân còn khổ, miêu tả tỉ mỉ những hành vi “dâm ô”, “bạo lực”. Không phải ở nước ta, mà trên toàn thế giới, nhiều nhà văn hóa và đông đảo nhân dân vẫn coi những tờ báo miêu tả tỉ mỉ những hành vi tội ác, dâm ô, bạo lực, cho dù có thật, đều là những tờ báo lá cải, kém văn hóa hoặc vô văn hóa, làm ô nhiễm tâm hồn lớp trẻ, rất có hại. Ở nước ta, một số tờ báo, một số người viết báo đã cố tình làm 72 những việc đó, chỉ có một mục đích là bán được nhiều báo cho lớp trẻ. Làm như vậy có thể họ có thêm tiền bạc, nhưng họ đã tạo ra một sản phẩm “dưới văn hóa”, “vô văn hóa” làm hỏng thị hiếu của cả một thế hệ. Thực ra có ba vấn đề mà khi làm báo phải tính tới, nên hay không nên, làm đến mức nào là vừa, để bảo đảm chất lượng chính trị và văn hóa của một tờ báo, tờ tạp chí. Đó là việc biểu dương người tốt, việc tốt và đấu tranh chống tiêu cực như thế nào để không tạo ra bầu không khí đen tối, gây tâm lý bi quan? Đó là phản ánh những tội ác như thế nào để đủ tính dự báo nhưng không kích thích dâm ô, bạo lực? Đó là việc giới thiệu những nét mới mẻ tiến bộ của văn hóa thế giới, nhưng không gây tâm lý “vọng ngoại”, “sùng ngoại”, ảnh hưởng tới việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trước hết đó là vấn đề mức độ. Nhưng chính là cái tâm, cái tầm của người lãnh đạo, quản lý báo chí và người viết báo khi xử lý các vấn đề phức tạp đó. Khuynh hướng “thương mại hóa” là nguyên nhân chính làm cho một số tờ báo, một số bài báo giảm sút chất lượng chính trị và văn hóa, gây hậu quả xấu cho xã hội. * * * 73 Cơ quan báo chí, cũng như các cơ quan khác, đều có những tiêu chí để trở thành một cơ quan có văn hóa, mà nhiều người hay gọi là “xây dựng văn hóa cơ quan”. Nhưng xây dựng văn hóa ở cơ quan báo chí có những đặc điểm riêng gì? Viết báo là một hoạt động sáng tạo. Chỉ có tự do tư tưởng và độc lập suy nghĩ mới có thể có sáng tạo. Đồng thời báo chí phấn đấu vì mục tiêu chung của dân tộc và mỗi tờ báo lại có tôn chỉ, mục đích rõ ràng. Quản lý tờ báo và đội ngũ phóng viên theo quan niệm như thế nào để có thể luôn luôn giữ vững định hướng chính trị của tờ báo, đồng thời tôn trọng tự do tư tưởng, khuyến khích độc lập suy nghĩ của phóng viên là những người chuyên nghiên cứu, điều tra về một lĩnh vực nào đó, để tờ báo có thể có ý kiến riêng, đồng thời tôn trọng những phong cách khác nhau. Đây là một bài toán khó. Nếu chặt chẽ đến mức không có nguồn thông tin riêng, ý kiến riêng, phong cách riêng thì chất lượng sẽ kém và không có độc giả. Nhưng nếu để tự do tùy tiện, không kiểm định chặt chẽ những thông tin, nhận định quan trọng thì sẽ phạm sai lầm, tạo ra dư luận xấu trong xã hội. Cơ quan báo chí cũng như các cơ quan khác đều có những mối quan hệ xã hội rất rộng. Trong các mối quan hệ xã hội đó, tờ báo có mối quan hệ đặc biệt với bạn đọc và cộng tác viên. Họ không 74 phải cấp dưới, cũng không phải là cấp trên, nhưng ý kiến của họ, đóng góp của họ nhiều khi có ý nghĩa quyết định chất lượng của mỗi tờ báo, tạp chí, mỗi chương trình. Tờ báo hay bên cạnh đội quân chuyên nghiệp, bao giờ cũng có một đội ngũ cộng tác viên tài năng, có uy tín trong xã hội. Do đó phải có thái độ đối xử đặc biệt. Phải tìm đến với họ chứ không chờ họ đến với mình. Khi tiếp xúc phải niềm nở, khiêm tốn, chân thành lắng nghe, tôn trọng ý kiến và các bài viết của họ không trái với tôn chỉ, mục tiêu tờ báo. Thái độ đó phải được quán triệt từ người thường trực bảo vệ cơ quan, người trả nhuận bút cho tới những người trong ban biên tập, trong các ban bạn đọc của báo khi góp ý kiến và viết thư trả lời. Tờ báo phải mở rộng cửa đối với bạn đọc và cộng tác viên. Không bao giờ có thái độ cửa quyền đối với bạn đọc và cộng tác viên. * * * Người làm báo có văn hóa trước hết phải là người có bản lĩnh, đạo đức, lương tâm. Người viết báo lại có mối quan hệ xã hội rất rộng; có người làm báo sau này trở thành nhà chính trị quốc gia, có nhận xét: quan hệ xã hội của người làm báo rộng hơn cả nhà làm chính trị. Do đó phải rất quan tâm tới văn hóa ứng xử. 75 Quan hệ xã hội của người làm báo, có khi với những người lãnh đạo, chuyên gia, người lao động; có khi gặp người nhiều tuổi, có khi gặp bạn trẻ. Quan hệ xã hội của họ đôi khi chẳng vì mục đích gì, vì với nghề viết báo mà quen biết nhiều cũng là một lợi thế. Những quan hệ của họ chủ yếu là để thu thập thông tin, nghe ý kiến bàn luận, có khi tham gia tranh luận để hình thành ý tưởng trong bài viết của mình. Đây là một đặc điểm nội dung quan hệ xã hội của người viết báo. Nghĩa là họ không thể hỏi rồi cắm cúi ghi chép, mà có khi còn lật đi lật lại, nêu lên các hoài nghi, đặt ra các câu hỏi mà xã hội đang quan tâm. Những câu hỏi kiểu đó, cách lật đi lật lại vấn đề kiểu đó, thường gây “khó chịu” cho người hỏi chuyện, cho là “móc máy”, thiếu lòng tin ở người đối thoại... Nhưng biết làm thế nào, vì nghề nghiệp nó thế! Trong hoạt động nghiệp vụ, có những phóng viên khi trao đổi ý kiến với những người lớn tuổi hơn mình, những người có chức vụ cao hơn mình, vẫn được người tiếp chuyện có thái độ thoải mái, thậm chí kính trọng, vì chính câu hỏi của họ đã gợi cho người nói chuyện nhiều vấn đề mới, thái độ khi hỏi cho dù nêu ý kiến phản biện, trước sau đều bộc lộ sự trong sáng, trung thực, khiêm tốn, chân thành; đó cũng là nội dung quan trọng nhất 76 của đạo đức, lương tâm người làm báo. Ngược lại có những bạn có thể muốn đạt mục đích như thế nhưng đã gây cho người đối thoại khó chịu, như đứng trước một người kênh kiệu, tự cao tự đại, coi thường mọi người! Có bạn, do hoạt động nghề nghiệp, được một vài lần tiếp xúc hay cùng đi công tác với đồng chí lãnh đạo cấp cao đã tỏ ra khoe khoang, chụp ảnh chung để vây vo, phô trương, coi thường khi tiếp xúc với người giữ trách nhiệm thấp hơn, làm cho họ rất khó chịu và thường bị coi là người “kém văn hóa”, một thứ “cáo mượn lông công”. Khiêm tốn, tự trọng, chân thành, tất cả vì công việc là thái độ đúng đắn nhất của một nhà báo có văn hóa, ngay cả khi họ phải lật đi lật lại những vấn đề để trao đổi ý kiến. Khúm núm, nịnh bợ không phải là nhà báo có văn hóa. Lợi dụng xin xỏ trong khi giao tiếp là người kém văn hóa, bị coi thường. Kênh kiệu, cố chấp, tỏ vẻ hơn người, coi thường người đối thoại không phải là nhà báo có văn hóa. * * * 77 Để trở thành một tờ báo có văn hóa, một cơ quan báo chí có văn hóa, một nhà báo có văn hóa có một loạt vấn đề rất lớn, từ nội dung sản phẩm tới văn hóa ứng xử. Cho nên xin phép lạm bàn, thử nêu lên một số vấn đề về văn hóa báo chí để cùng nhau tham khảo. 78