🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Lịch Sử Tỉnh Hải Dương Tập I (Từ Khởi Thủy Đến Năm 905) Ebooks Nhóm Zalo Chịu trách nhiệm xuất bản GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN Chịu trách nhiệm nội dung PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP ThS. PHẠM THỊ THINH Biên tập nội dung: ThS. PHẠM THỊ NGỌC BÍCH ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH ThS. VÕ THỊ TÚ OANH NGUYỄN THỊ HƯƠNG TRẦN PHAN BÍCH LIỄU Trình bày bìa: Chế bản vi tính: Sửa bản in: ĐƯỜNG HỒNG MAI TRẦN NAM ANH BAN SÁCH ĐẢNG VIỆT HÀ Giấy đăng ký xuất bản số: -2022/CXBIPH/-/CTQG Quyết định xuất bản số: -QĐ/NXBCTQG, ngày /../2022. Mã số ISBN: 978-604-57- In xong và nộp lưu chiểu tháng 02 năm 2022. LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN Đồng chí PHẠM XUÂN THĂNG Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Đồng chí LÊ VĂN HIỆU Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng Đồng chí TRIỆU THẾ HÙNG Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng BAN CHỈ ĐẠO ĐỀ ÁN BIÊN SOẠN Đồng chí TRIỆU THẾ HÙNG Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng ban Đồng chí NGUYỄN MINH HÙNG Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Đồng chí NGUYỄN THÀNH TRUNG Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Trưởng ban Đồng chí NGUYỄN HỒNG SƠN Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Thành viên Đồng chí NGUYỄN QUANG PHÚC Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Thành viên Đồng chí NGUYỄN HUY THĂNG Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Thành viên Đồng chí NGUYỄN ĐỨC TUẤN Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Thành viên Đồng chí NGUYỄN THỊ VIỆT NGA Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh, Thành viên Đồng chí NGUYỄN TRỌNG HƯNG Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính, Thành viên Đồng chí PHẠM MẠNH HÙNG Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nội vụ, Thành viên Đồng chí NGUYỄN HẢI BÌNH Tỉnh ủy viên, Tổng Biên tập Báo Hải Dương, Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Thành viên Đồng chí LƯƠNG VĂN VIỆT Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Thành viên 4 4 Đồng chí LÊ HỒNG DIÊN Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Thành viên Đồng chí TRƯƠNG VĂN HƠN Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành viên Đồng chí TRẦN ANH TUẤN Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Thành viên Đồng chí VŨ ĐÌNH TIẾN Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành viên Đồng chí NGUYỄN THỊ HUÊ Giám đốc Bảo tàng tỉnh, Thành viên HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN Đồng chí NGUYỄN THÀNH TRUNG Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Đồng chí VŨ ĐÌNH TIẾN Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Chủ tịch Thường trực Đồng chí LÊ VĂN BẰNG Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Đồng chí LÊ LƯƠNG THỊNH Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Thành viên Đồng chí TĂNG BÁ HOÀNH Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh, Thành viên Đồng chí VŨ TRƯỜNG SƠN Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành viên Đồng chí NGUYỄN THỊ HUÊ Giám đốc Bảo tàng tỉnh, kiêm Thư ký, Thành viên BAN BIÊN SOẠN TẬP I TS. LÊ ĐÌNH PHỤNG Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Chủ biên PGS.TS. LẠI VĂN TỚI Viện Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Đồng chủ biên PGS.TS. BÙI VĂN LIÊM Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thành viên PGS.TS. NGUYỄN LÂN CƯỜNG Hội Khảo cổ học Việt Nam, Thành viên PGS.TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thành viên PGS.TS. DƯƠNG VĂN SÁU Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Thành viên 5 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) PGS.TS. HÀ MẠNH KHOA Viện Sử học, Thành viên1 TS. NGUYỄN MINH KHANG Cục Di sản, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành viên TS. NGUYỄN VĂN BẢO Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thành viên CN. AN VĂN MẬU Bảo tàng tỉnh Hải Dương, Thành viên TS. LÊ DUY MẠNH Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc tỉnh Hải Dương, Thành viên ThS. NGUYỄN VĂN CƯỜNG Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc tỉnh Hải Dương, Thành viên ThS. NGUYỄN THƠ ĐÌNH Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thành viên HIỆU ĐÍNH BẢN THẢO: HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG 1. PGS.TS. Hà Mạnh Khoa đã mất năm 2019. 6 6 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Hải Dương thuộc vùng đất cổ ở đồng bằng sông Hồng - một trong những cái nôi của nền văn minh sông Hồng. Đây là vùng đất tiếp giáp từ kinh đô Thăng Long - trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, kéo dài tới bờ Biển Đông. Chính vì vậy, văn minh sông Hồng, văn hóa Thăng Long đã trực tiếp tác động và kết tinh nên nhiều thành tựu rực rỡ trên mảnh đất này. Án ngữ vị trí trọng yếu trên các tuyến huyết mạch cả đường bộ, đường thủy và đường sắt, nối liền với các tỉnh và thành phố trong khu vực, tỉnh Hải Dương có điều kiện địa lý và tự nhiên tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Là vùng “địa linh nhân kiệt” nên Xứ Đông - Hải Dương không chỉ là nơi sinh ra nhiều danh nhân mà còn là nơi thu hút, quy tụ được nhiều nhân tài lỗi lạc khắp bốn phương về đây lập nghiệp. Không phải ngẫu nhiên mà Lê Đại Hành lại chọn núi rừng An Lạc (nay thuộc thành phố Chí Linh) để đóng đại bản doanh chỉ huy trận Bạch Đằng lịch sử đánh tan quân Tống năm 981, bảo vệ nền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Hải Dương có đền Kiếp Bạc là nơi xưa kia được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chọn làm trung tâm chỉ huy của phòng tuyến quân sự vùng Đông Bắc, kéo dài từ biên giới Lạng Sơn ra Biển Đông, nhằm tạo thế trận đánh thắng giặc Mông - Nguyên lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288; có danh thắng Côn Sơn không chỉ là quê cha đất tổ mà còn là nơi người anh hùng, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi gắn bó những năm tháng tuổi thơ, đồng thời cũng là nơi ông về trí sĩ, dựng nhà, mài mực, viết nên những tác phẩm có giá trị to lớn về sử học, văn học, triết học, quân sự, ngoại giao và trở thành những di sản quý báu lưu truyền hậu thế; có núi 7 7 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Phượng Hoàng, nơi “Vạn thế sư biểu” Chu Văn An về ở ẩn, dạy học và sau này nhân dân đã dựng đền thờ ông ở đây. Đó đều là những nhân vật lịch sử vĩ đại của dân tộc, đã gắn bó máu thịt với mảnh đất Hải Dương. Cuộc đời, sự nghiệp của các danh nhân cùng quá trình lao động sáng tạo của nhân dân qua nhiều thế hệ đã làm cho Hải Dương trở thành “đất học”, “đất danh hương”, “đất văn hiến”, với nhiều truyền thống quý báu, với một kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo. Đó là một khối lượng lớn văn hóa vật thể và phi vật thể giá trị, với hàng ngàn di tích lịch sử, hàng trăm làng nghề lâu đời, nhiều sản phẩm văn hóa ẩm thực và lễ hội truyền thống đặc sắc, nhiều sinh hoạt văn nghệ dân gian nổi tiếng như hát chèo, hát đối, hát trống quân và rất nhiều bài ca dao, dân ca làm say đắm lòng người. Lịch sử Hải Dương luôn gắn liền với lịch sử dân tộc và có những đóng góp quan trọng, nổi bật trong suốt những bước thăng trầm của công cuộc dựng nước, giữ nước, bảo vệ đất nước. Con người Hải Dương dũng cảm, kiên cường, bản lĩnh và sáng tạo, thường tiên phong và lập nên nhiều chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống xâm lăng, cũng như những thành tựu to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương, đất nước. Ngay từ xưa, Hải Dương đã được đánh giá là “phên giậu” phía đông bảo vệ kinh thành Thăng Long trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc của lịch sử Việt Nam thời trung đại. Trong lịch sử hiện đại, Hải Dương là nơi phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, là địa bàn đứng chân của nhiều tổ chức cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, là một trong những địa phương giành thắng lợi và giành chính quyền sớm nhất cả nước trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời nổi tiếng với “Sấm đường 5”, “Ba sẵn sàng”, “Cô du kích Lai Vu” và những đóng góp xứng đáng về sức người, sức của trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc. Trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh đến nay, Hải Dương không ngừng nỗ lực phát huy truyền thống của quê hương và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu vươn lên trở thành một trong những tỉnh công nghiệp hàng đầu cả nước. Nhằm lưu giữ và giới thiệu những giá trị lịch sử về vùng đất và con người Hải Dương, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, nâng cao lòng tự hào về quê hương, đất nước, động viên cán bộ và nhân dân toàn tỉnh, đặc biệt là thế hệ trẻ ra sức học tập, công tác, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới, 8 8 Lời Nhà xuất bản Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách Lịch sử tỉnh Hải Dương, gồm 4 tập: Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập I (từ khởi thủy đến năm 905), do TS. Lê Đình Phụng và PGS.TS. Lại Văn Tới đồng chủ biên, dựng lại một chặng đường dài lịch sử trên vùng đất Hải Dương, từ buổi đầu dựng nước đến đầu thế kỷ X (năm 905), với sự xuất hiện của con người, hình thành nền văn minh dựng nước, chịu ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc và các cuộc đấu tranh kiên cường chống Bắc thuộc. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập II (từ năm 905 đến năm 1883), do PGS.TS. Nguyễn Đức Nhuệ chủ biên, dựng lại lịch sử Hải Dương suốt 9 thế kỷ trong thời kỳ trung đại kể từ sự kiện Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ đến khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Hải Dương lần thứ hai ngày 19/8/1883. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập III (từ năm 1883 đến năm 1945), do GS.TS. Nguyễn Văn Khánh và GS.TS. Phạm Hồng Tung đồng chủ biên, dựng lại lịch sử Hải Dương từ sau khi bị thực dân Pháp xâm lược và quá trình nhân dân Hải Dương đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đến khi giành chính quyền thành công trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập IV (từ năm 1945 đến năm 2015), do PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật chủ biên, dựng lại quá trình nhân dân Hải Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cùng nhân dân cả nước kinh qua 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy hy sinh và gian khổ (1954 - 1975), 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau chiến tranh trong cơ chế cũ với nhiều khó khăn và thách thức (1975 - 1985), từ năm 1986 đến năm 2015 là thời kỳ tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để bạn đọc tiện theo dõi, ở mỗi tập của bộ sách, chúng tôi đều trình bày Lời Nhà xuất bản, Lời giới thiệu của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Lời nói đầu của Ban Biên soạn từng tập. Riêng tập IV có phần Tổng luận bộ sách, khái quát lại toàn bộ tiến trình lịch sử hào hùng của vùng đất Xứ Đông - Hải Dương. Bộ sách là kết quả của sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, khoa học của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh 9 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Hải Dương; quá trình làm việc khẩn trương, công phu, nghiêm túc, trách nhiệm của tập thể nhóm nghiên cứu, biên soạn và sự phối hợp chặt chẽ của các cấp ủy địa phương; sự cộng tác, giúp đỡ nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu đã có những đóng góp quý báu để hoàn thành bộ sách. Lịch sử tỉnh Hải Dương là một bộ sách quý, có giá trị lớn, với khối lượng thông tin, kiến thức đồ sộ, nên mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, biên tập và xuất bản, song bộ sách khó tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả trong và ngoài tỉnh Hải Dương để bộ sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau. Xin trân trọng giới thiệu bộ sách cùng bạn đọc. Tháng 12 năm 2021 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 10 10 LỜI GIỚI THIỆU Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước trải hàng nghìn năm của dân tộc ta, mảnh đất, con người Xứ Đông - Hải Dương đã có nhiều cống hiến to lớn và giữ vị trí quan trọng. Đây là vùng đất có lịch sử lâu đời, giàu truyền thống văn hóa và cách mạng, là một trong những cái nôi của nền văn minh sông Hồng, của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trải qua hành trình dựng nước và giữ nước, cộng đồng cư dân nơi đây đã chung sức đồng lòng để chinh phục tự nhiên, tổ chức xã hội, lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước, góp phần xứng đáng viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Là một bộ phận không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam thân yêu, Hải Dương vừa mang những đặc điểm chung, vừa tạo được cho mình một bản sắc Xứ Đông độc đáo, góp phần làm phong phú, sinh động thêm truyền thống dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, Hải Dương vẫn chưa có một bộ thông sử xứng tầm với vị thế của tỉnh trong lịch sử dân tộc. Chính vì thế, ngày 06/8/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ban hành Quyết định số 2028/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án biên soạn Lịch sử tỉnh Hải Dương (từ khởi thủy đến năm 2015). Theo đó, từ năm 2015, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hải Dương, việc nghiên cứu, biên soạn bộ lịch sử được triển khai thực hiện. Tham gia biên soạn công trình có các nhà nghiên cứu thuộc các cơ quan như: Viện Sử học, Viện Khảo cổ học, Viện Nghiên cứu Kinh thành (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội); Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương; 11 11 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương và Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Hải Dương. Với tinh thần làm việc khoa học, đồng thuận và ý thức trách nhiệm cao, các tác giả đã dày công sưu tầm, khai thác, khảo cứu tài liệu ở địa phương và các kho lưu trữ, thư viện ở Trung ương nhằm bổ sung nguồn tài liệu mới, có giá trị khoa học. Ngoài ra, nhóm tác giả kế thừa có chọn lọc những thành quả của các công trình nghiên cứu về Hải Dương đã được công bố ở trong nước và nước ngoài. Bộ Lịch sử tỉnh Hải Dương gồm 4 tập, với mong muốn tái hiện quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của con người Xứ Đông trên vùng đất Hải Dương; bước đầu tổng kết và rút ra những bài học lịch sử, giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, đoàn kết đấu tranh, anh hùng bất khuất trong chiến đấu, chịu khó, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động của người dân Hải Dương nói riêng và người dân Việt Nam nói chung. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập I (từ khởi thủy đến năm 905) do TS. Lê Đình Phụng và PGS.TS. Lại Văn Tới đồng chủ biên, có sự tham gia biên soạn của các nhà khoa học thuộc Viện Khảo cổ học, Viện Nghiên cứu Kinh thành, Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các nhà nghiên cứu của tỉnh Hải Dương. Tập I tái dựng chặng đường dài lịch sử, từ buổi bình minh dựng nước đến đầu thế kỷ X (năm 905), một thời kỳ lịch sử giữ vị trí quan trọng là tầng nền trên vùng đất Hải Dương, được coi là tiền đề, động lực cho các thời kỳ lịch sử tiếp theo. Với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, vùng đất Hải Dương là một trong những cái nôi sinh sống của con người từ thời tiền sử mà dấu vết để lại tại hang Thánh Hóa, núi Nhẫm Dương (nay thuộc phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn). Theo dòng chảy chung của lịch sử dân tộc, trên vùng đất Hải Dương đã xuất hiện các cộng đồng cư trú cùng xây dựng cuộc sống, tổ chức xã hội, hình thành nên bản sắc văn hóa, là một trong những hạt nhân có mặt từ buổi đầu dựng nước dưới chính thể của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Sau thời đại Văn Lang - Âu Lạc, cùng chung số phận dân tộc, Hải Dương bước vào thời kỳ chịu sự đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc. Với tinh thần bất khuất, khát vọng độc lập, người Hải Dương đã tham gia tích cực và có những đóng góp quan trọng vào các cuộc nổi dậy giành độc lập dân tộc dưới thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, khởi nghĩa Lý Bí và công cuộc xây dựng Nhà nước 12 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Lời giới thiệu Vạn Xuân,... Truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất, ý thức độc lập dân tộc được gìn giữ, bồi đắp trong hơn nghìn năm chống Bắc thuộc đã được người dân Hải Dương phát huy trong những thời kỳ tiếp theo, làm nên tính cách điển hình “chuộng nghĩa, giữ tiết... hăng hái việc công”. Trong đêm trường Bắc thuộc, vượt qua muôn vàn khó khăn khắc nghiệt, người Hải Dương từng bước xây dựng quê hương ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực. Với tri thức kinh nghiệm kế thừa từ các thế hệ dựng nước, việc khai phá đất đai, khai hoang, khẩn hóa đã hình thành nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Cùng với nông nghiệp là sự tiếp thu, chọn lọc những kỹ thuật sản xuất, nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ bên cạnh những nghề thủ công truyền thống như dệt vải, đúc kim loại, tạo nên nhiều loại vật dụng phong phú phục vụ cuộc sống. Là một bộ phận trong lịch sử dân tộc, từ khởi thủy con người sinh sống trên địa bàn Hải Dương đã góp phần xây dựng nên bản sắc văn hóa dân tộc. Những phong tục, tập quán sinh hoạt xã hội phù hợp với quan niệm, nhận thức của cộng đồng xuất hiện, hình thành những tín ngưỡng, nghi lễ như tục thờ cúng hiện tượng tự nhiên (thần đất, thần sông, thần núi, thần cây...) hay tục thờ cúng tổ tiên, nghi lễ hôn nhân cưới hỏi, tang ma..., tạo nên nền tảng văn hóa, tư tưởng vững chắc trong các cộng đồng chống lại chính sách đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Trong thời kỳ nghìn năm bị đô hộ, đồng hóa, Hải Dương là nơi đã tiếp thu và dung dưỡng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo hội nhập với truyền thống văn hóa bản địa góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng. Những điều kiện kinh tế, văn hóa cùng tinh thần độc lập dân tộc đã hun đúc, tôi rèn bản lĩnh, nhân cách con người Xứ Đông, làm tiền đề để sau này tham gia vào quá trình giành độc lập và phục hưng văn hóa dân tộc trong những thời kỳ lịch sử tiếp theo của dân tộc. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập II (từ năm 905 đến năm 1883) do PGS.TS. Nguyễn Đức Nhuệ chủ biên. Tham gia biên soạn tập II là các nhà nghiên cứu của Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và các nhà nghiên cứu của tỉnh Hải Dương. Tập II được bắt đầu từ năm 905 gắn với sự kiện hào trưởng đất Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân đứng lên giành quyền tự chủ từ chính quyền đô hộ nhà Đường. Dấu mốc năm 905 được coi là khởi đầu cho lịch sử Việt Nam thời trung đại, tạo cơ sở và nền móng cho Ngô Vương Quyền xây dựng nền độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc Việt Nam 13 13 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) sau đại thắng Bạch Đằng đánh tan quân xâm lược Nam Hán cuối năm Mậu Tuất (năm 938). Tập II cũng tạm kết vào năm 1883, gắn với sự kiện thực dân Pháp đánh chiếm thành Hải Dương lần thứ hai vào ngày 19/8/1883. Trong hơn chín thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, sự hưng vong, thịnh suy của các triều đại quân chủ, nhưng quốc gia Đại Cồ Việt, Đại Việt, Việt Nam đến Đại Nam vẫn trường tồn và ngày càng phát triển, cương vực ngày càng mở rộng, khẳng định vị thế của một cường quốc trong khu vực. Trong tiến trình lịch sử ấy, nhân dân Hải Dương đã có những cống hiến xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, tự chủ. Ngay từ buổi đầu của nền độc lập, tự chủ, người dân Hải Dương đã tích cực tham gia vào cuộc tấn công phủ Tống Bình (thời họ Khúc, họ Dương); đóng góp sức người, sức của làm nên đại thắng Bạch Đằng năm Mậu Tuất (năm 938) do Ngô Quyền lãnh đạo. Miền đất Hải Dương từng là đại bản doanh, là cơ sở hậu cần quan trọng của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (năm Tân Tỵ, 981). Thời Lý - Trần, Hải Dương là phên giậu, là bức bình phong che chở cho kinh đô Thăng Long. Đặc biệt, trong thế kỷ XIII, Hải Dương vừa là chiến tuyến, vừa là hậu phương của cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên. Đầu thế kỷ XV, quốc gia Đại Việt chuyển sang một giai đoạn bi hùng với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh. Cùng với nhân dân cả nước, người dân Hải Dương đã vùng lên tranh đấu với hàng loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra trên địa bàn Xứ Đông. Những địa danh, danh nhân tiêu biểu còn lưu lại trên đất Hải Dương ngày nay là minh chứng sống động về những cống hiến xuất sắc của người dân Hải Dương trong sự nghiệp bảo vệ đất nước, bảo vệ giang sơn. Duy trì và tiếp nối dòng chảy văn hóa từ giai đoạn trước, trong thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ, bên cạnh các sinh hoạt tín ngưỡng đậm đà bản sắc quê hương, sự phát triển của Nho, Phật, Đạo đã làm phong phú thêm đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương. Nhiều ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý - Trần và tiếp tục được trùng tu, tôn tạo mở rộng ở các triều đại sau đã khẳng định đời sống tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng Phật giáo) của người Hải Dương rất phong phú, xứng đáng được coi là trung tâm của văn hóa Phật giáo Xứ Đông. Thiền phái Trúc Lâm ra đời từ thời Trần với người sáng lập là Phật hoàng Trần Nhân Tông đã chọn non thiêng Yên Tử (Đông Triều, 14 14 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Lời giới thiệu Quảng Ninh) làm chốn Tổ. Sự tồn tại bền vững của hệ thống chùa chiền trên đất Hải Dương cho thấy rõ nét, đầy đủ tính hướng thiện, hướng đến chân, thiện, mỹ của người dân Xứ Đông trong trường kỳ lịch sử. Hệ tư tưởng Nho giáo ưu trội từ thế kỷ XV (từ thời Lê sơ) đã tạo điều kiện cho hàng loạt cơ sở tôn giáo thờ Khổng Tử ra đời ở các địa phương Hải Dương, đó là hệ thống văn miếu, văn chỉ, văn từ. Cùng với hệ thống này, giáo dục Nho học ở các làng xã cũng được thổi vào một luồng gió mới. Từ triều Lý, trải qua các triều đại Trần - Hồ đến Lê sơ và về sau, giáo dục Nho học ở Hải Dương đặc biệt phát triển và đã tạo nên một đội ngũ quan lại Nho học rất đông đảo, bổ sung cho bộ máy quan lại ở trung ương và địa phương. Những gương mặt danh nho tiêu biểu đã trở thành trụ cột, lương đống của triều đình qua các thời đại. Họ không chỉ là những chính trị gia xuất sắc, những sứ thần lỗi lạc, nhà giáo dục đạo cao đức trọng mà còn là những tác gia lớn, là tinh hoa văn hóa dân tộc. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập III (từ năm 1883 đến năm 1945) do GS.TS. Nguyễn Văn Khánh và GS.TS. Phạm Hồng Tung đồng chủ biên, với sự tham gia của các nhà khoa học thuộc Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội); Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và các nhà nghiên cứu của tỉnh Hải Dương. Dấu mốc khởi đầu của lịch sử cận đại Hải Dương gắn với sự kiện thực dân Pháp nổ súng tấn công và chiếm thành Hải Dương vào giữa tháng 8/1883. Cũng từ đây, thực dân Pháp bắt đầu quá trình thiết lập bộ máy thống trị ở Hải Dương cũng như toàn xứ Bắc Kỳ. Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Hải Dương bắt đầu cuộc hành trình đầy gian khổ, nhưng cũng hết sức vẻ vang - hành trình đấu tranh tự giải phóng mình khỏi ách áp bức dân tộc và áp bức xã hội. Từ đầu thập niên 70 thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đưa quân ra xâm lược các tỉnh Bắc Kỳ. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (tháng 7/1885), phong trào vũ trang kháng Pháp lại bùng nổ mạnh mẽ trên khắp cả nước. Dưới sự lãnh đạo của các vị thủ lĩnh như Nguyễn Thiện Thuật và Nguyễn Đức Tiết (Đốc Tít), nhân dân Hải Dương kiên cường đứng lên chống giặc, nhưng cuối cùng vẫn bị thất bại. Hải Dương thời cận đại đã diễn ra những biến đổi căn bản trên tất cả các lĩnh vực, từ sự thay đổi về chính trị, hành chính, địa giới đến những chuyển 15 15 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) biến về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo... Đó là những chuyển biến từ hình thức bên ngoài đến cấu trúc bên trong, đặt trong mối liên hệ đa chiều với những chuyển biến chung của lịch sử dân tộc. Nhìn toàn cảnh, Hải Dương thời kỳ này vẫn là một tỉnh nông nghiệp - nông thôn - nông dân điển hình của châu thổ Bắc Kỳ. Các cơ sở công nghiệp trong tỉnh đều tương đối nhỏ bé, chủ yếu là công nghiệp chế biến với quy mô nhỏ và trình độ kỹ nghệ khá lạc hậu. Khu vực thành thị cũng khá nhỏ hẹp cả về quy mô và mức độ ảnh hưởng. Các khu vực nông thôn cơ bản vẫn là nông thôn - làng xã đậm tính truyền thống. Chính quyền thuộc địa nhiều lần tìm cách can thiệp sâu vào các vùng nông thôn ở Hải Dương thông qua cải lương hương chính và một số chính sách khác nhưng không làm đổi thay được bao nhiêu. Ở vùng nông thôn, sau các lũy tre và cổng làng, thế lực cường hào và các hủ tục vẫn ngự trị và thao túng các làng xã, thống trị dân nghèo. Dưới tác động của nhiều yếu tố chính trị, kinh tế... dưới thời Pháp thuộc, số lượng người dân Hải Dương ly hương khá đông đảo, bao gồm cả di cư dài hạn và di cư mùa vụ. Hàng vạn nông dân làng xã đã tìm đến các hầm mỏ, nhà máy ở vùng Đông Bắc, thậm chí đến cả các đồn điền xa xôi ở Nam Kỳ, Campuchia hoặc Tân Thế giới, để tìm kiếm không chỉ miếng cơm manh áo mà cả cơ hội đổi đời. Không cam chịu cuộc đời nô lệ, nhân dân Hải Dương liên tục đứng lên chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, giải phóng quê hương, giành lại độc lập dân tộc. Các cuộc đấu tranh này hết sức phong phú về nội dung, về định hướng chính trị và đa dạng về quy mô và hình thức tổ chức, đồng thời chúng không bao giờ tách biệt, mà trái lại, luôn ở trong mối quan hệ khăng khít, gắn bó với cuộc đấu tranh giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội. Trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều người con ưu tú của Hải Dương đã có những đóng góp nổi bật vào các cuộc vận động yêu nước, tiến bộ và cách mạng, như phong trào Đông du, phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Duy Tân, đến các phong trào cải cách xã hội, phong trào nữ quyền, cách mạng văn chương, truyền bá chữ Quốc ngữ..., hay trực tiếp tham gia khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng và dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng theo khuynh hướng cách mạng vô sản, tiêu biểu là Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Hới, Nguyễn Phương Thảo (Nguyễn Bình)... 16 16 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Lời giới thiệu Tháng 8/1945, theo lời kêu gọi của lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Hải Dương đã nhất tề nổi dậy “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”1. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố Hải Dương và phần lớn các huyện trong tỉnh đều đã diễn ra nhanh gọn, ít đổ máu. Với thắng lợi to lớn của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc, ngày 02/9/1945, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt quốc dân đồng bào trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập và công bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”2. Đây cũng là dấu mốc kết thúc thời kỳ cận đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như lịch sử tất cả các địa phương trên cả nước, trong đó có tỉnh Hải Dương. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập IV (từ năm 1945 đến năm 2015) do PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật chủ biên, với sự tham gia biên soạn của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Sử học, Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và các nhà nghiên cứu của tỉnh Hải Dương. Tập IV được mở đầu bằng sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 02/9/1945, tuyên bố về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tạm dừng ở năm 2015. Nội dung tập IV đã dựng lại một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống quá trình lịch sử 70 năm của Hải Dương (1945 - 2015), qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và quá trình thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 02/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Trong những năm đầu mới được thành lập, nhà nước non trẻ đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cùng lúc phải đối phó với ba thứ giặc: “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm, nhân dân Hải Dương cùng nhân dân cả nước đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đấu tranh chống các thế lực phản động, bảo vệ chính quyền cách mạng, thực hiện thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.596. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.3. 17 17 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) các cấp, thành lập đảng bộ và chính quyền địa phương, tích cực tham gia sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ. Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Hải Dương đã anh dũng đứng lên dựng làng chiến đấu, đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo đời sống nhân dân. Trên lĩnh vực quân sự, quân và dân Hải Dương tích cực xây dựng căn cứ kháng chiến, khu du kích vững chắc, xây dựng tiềm lực về mọi mặt, vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng kháng chiến lâu dài. Chiến thắng của quân và dân Hải Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước, góp phần vào các chiến thắng Đường 5, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Quang Trung, Chiến dịch Điện Biên Phủ... giải phóng miền Bắc vào năm 1954. Sau khi hòa bình lập lại, là địa phương chịu nhiều thiệt hại bởi chiến tranh, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, song quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đặt ra, nhân dân Hải Dương đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội (1954 - 1960), cùng với nhân dân miền Bắc thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Từ năm 1965, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trong 10 năm xây dựng quê hương trong điều kiện đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh (1965 - 1975), nhân dân Hải Dương đã vượt qua khó khăn, thử thách, lao động sáng tạo, hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo đời sống của nhân dân; đảm bảo giao thông vận tải, góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất đất nước. Sau năm 1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới. Nhân dân Hải Dương vượt qua khó khăn, thử thách trong những năm đầu đất nước thống nhất, vừa tham gia các cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc, vừa lao động, sản xuất phục hồi kinh tế - xã hội sau chiến tranh. Từ năm 1986, khi cả nước thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Hải Dương đã đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, lập được những thành tựu đáng tự hào. Từ năm 1996, đất nước bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và năm 1997 tỉnh Hải Dương chính thức được tái lập, mở ra 18 18 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Lời giới thiệu thời kỳ mới cho Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Ngay sau khi tái lập, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương từng bước xây dựng và ổn định hệ thống chính quyền địa phương, xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra. Tuy con đường đổi mới còn nhiều khó khăn, thách thức, song với truyền thống lao động cần cù và sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương hăng hái đi đầu trong việc triển khai các chủ trương, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước, làm cho diện mạo kinh tế - xã hội của Hải Dương có những thay đổi rõ rệt. Đến nay, Hải Dương không những phát triển toàn diện, mà còn có nhiều điểm sáng đột phá, góp phần cùng cả nước thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, với hoài bão, ý chí và khát vọng vươn lên, người dân Hải Dương đang từng ngày, từng giờ nỗ lực phấn đấu xây dựng quê hương - miền quê văn hiến, yên bình và mạnh giàu - trong lòng Tổ quốc Việt Nam. Bộ sách Lịch sử tỉnh Hải Dương được phát hành, sẽ góp phần cung cấp cho các thế hệ người dân Hải Dương những hiểu biết về lịch sử hình thành và phát triển, truyền thống tốt đẹp của quê hương. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào, giáo dục truyền thống và ý thức trách nhiệm của mỗi người trong công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh Hải Dương ngày càng giàu mạnh. Bộ sách cũng là nguồn tài liệu tra cứu hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử địa phương. Để có được công trình nghiên cứu giá trị Lịch sử tỉnh Hải Dương hôm nay, trước hết thay mặt lãnh đạo tỉnh Hải Dương, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các đồng chí nguyên là lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hải Dương, nhiệm kỳ 2015 - 2020, đặc biệt là đồng chí Nguyễn Mạnh Hiển, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Nguyễn Dương Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh... đã luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, tạo mọi điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện; sự tham gia cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến nhiệt tình, trách nhiệm của các sở, ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức, cá nhân có liên quan, trong đó Hội Khoa học lịch sử tỉnh đã tham gia đọc và hiệu đính lần cuối trước khi 19 19 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) xuất bản. Đặc biệt là sự nỗ lực, nhiệt huyết, tinh thần làm việc trách nhiệm, khoa học, nghiêm túc của các chủ biên và các thành viên tham gia nghiên cứu, biên soạn bộ sách. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác sưu tầm tài liệu và biên soạn, song do tái hiện quá trình lịch sử từ khởi thủy, nên nội dung cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý của quý độc giả để công trình được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau. Hải Dương, tháng 9 năm 2021 ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BÍ THƯ TỈNH ỦY - CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH Phạm Xuân Thăng 20 20 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người LỜI NÓI ĐẦU TẬP I Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập I (từ khởi thủy đến năm 905) được tính từ buổi đầu dựng nước cho đến khi Khúc Thừa Dụ đứng lên giành quyền tự chủ từ chính quyền đô hộ nhà Đường năm 905. Đây là tập mở đầu trong bộ lịch sử gồm 4 tập được biên soạn dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hải Dương theo Quyết định số 2028/ QĐ-UBND, ngày 06/8/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương. Đây là công trình khoa học với mong muốn dựng lại quá trình lịch sử của vùng đất Hải Dương, bước đầu tổng kết và rút ra những bài học lịch sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước qua các thời kỳ, nhằm giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, đoàn kết đấu tranh, anh hùng, bất khuất cùng tinh thần cần cù lao động, thông minh, sáng tạo của các thế hệ người dân Hải Dương. Là một bộ phận của lịch sử dân tộc được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước, lịch sử Hải Dương là niềm tự hào đối với mỗi người dân Hải Dương nói riêng và người Việt Nam nói chung. Nội dung được thể hiện trong tập I là dựng lại một chặng đường dài lịch sử, từ buổi đầu dựng nước đến đầu thế kỷ X (năm 905), mở đầu cho việc đặt nền móng cho thời kỳ độc lập. Thời kỳ lịch sử này đã ghi nhiều dấu ấn quan trọng với sự xuất hiện của con người, hình thành nền văn minh dựng nước của dân tộc trên vùng đất Hải Dương. Với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, vùng đất Hải Dương là một trong những cái nôi sinh sống của con người từ thời tiền sử. Các cộng đồng dân cư trên vùng đất này đã đoàn kết “chung lưng đấu cật” chinh phục tự nhiên, khai mở đất đai, lao động sản xuất, 21 21 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) xây dựng cuộc sống, tổ chức xã hội, hình thành nên bản sắc văn hóa, là một trong những hạt nhân có mặt từ buổi ban đầu dựng nước dưới chính thể của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Đồng thời, tập I cũng phản ánh thời kỳ rên xiết của cả nước nói chung và người dân Hải Dương nói riêng dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc cùng những cuộc đấu tranh quật cường giành độc lập của dân tộc. Với tinh thần bất khuất, khát vọng độc lập dân tộc, người Hải Dương đã cùng tham gia tích cực và có những đóng góp quan trọng vào các cuộc nổi dậy giành độc lập dân tộc. Cũng trong đêm trường Bắc thuộc, người Hải Dương từng bước xây dựng quê hương ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực. Trên lĩnh vực kinh tế, người dân nơi đây đã cần cù, chăm chỉ khai hoang, khẩn hóa, hình thành nền sản xuất nông nghiệp truyền thống, trong đó nổi bật là nền nông nghiệp lúa nước; tiếp thu, chọn lọc những kỹ thuật sản xuất, các nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ bên cạnh những nghề thủ công truyền thống như dệt vải, đúc kim loại, tạo nên nhiều loại vật dụng phong phú phục vụ cho cuộc sống. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, những phong tục, tập quán sinh hoạt xã hội phù hợp với quan niệm, nhận thức của cộng đồng, những tín ngưỡng, tôn giáo bản địa được hình thành, dung dưỡng, tạo nên nền tảng văn hóa, tư tưởng vững chắc trong đời sống cộng đồng, có sức mạnh chống lại chính sách đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Bên cạnh đó, trong nghìn năm Bắc thuộc này, Hải Dương là nơi đã tiếp thu và dung dưỡng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, hội nhập và tiếp biến với truyền thống văn hóa bản địa góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng. Tất cả những điều kiện kinh tế, văn hóa đó cùng tinh thần độc lập dân tộc đã hun đúc, tôi rèn bản lĩnh, nhân cách con người Xứ Đông, góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Lịch sử tỉnh Hải Dương, tập I (từ khởi thủy đến năm 905) là công trình do tập thể các nhà khoa học tham gia biên soạn; được kết cấu gồm 3 chương: Chương I: Hải Dương - Vùng đất và con người. Chương II: Hải Dương thời tiền - sơ sử và Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. Chương III: Hải Dương thời kỳ Bắc thuộc và đấu tranh chống Bắc thuộc (179 Tr.CN - 905). 22 22 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Lời nói đầu tập I Nội dung tập I thể hiện một thời kỳ lịch sử giữ vị trí quan trọng trên vùng đất Hải Dương, là tiền đề, động lực cho các thời kỳ lịch sử tiếp theo. Khi biên soạn tập I, các tác giả đã cố gắng phục dựng một cách khách quan, đầy đủ các sự kiện lịch sử, những hoạt động của con người Hải Dương trong buổi đầu lịch sử, qua đó làm nổi bật những nét riêng của Hải Dương trong mối quan hệ mật thiết, khách quan với lịch sử dân tộc, để tạo nên vùng đất, con người Hải Dương trung hậu mà kiên cường trong đại gia đình Việt Nam văn hiến và anh hùng. Để tái hiện bức tranh lịch sử tỉnh Hải Dương một cách trung thực, việc biên soạn tập sách được dựa trên các nguồn tư liệu khảo cổ học, tài liệu lịch sử trong và ngoài nước, nguồn tài liệu thu thập qua khảo sát điều tra, các truyền thuyết, dã sử địa phương. Những tài liệu được thu thập, hệ thống hóa một cách khoa học, xử lý cẩn trọng. Tuy vậy, do thời gian lịch sử đã lùi xa, điều kiện nguồn tư liệu hạn chế, việc dựng lại lịch sử một vùng đất, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, bạn đọc xa gần để cuốn sách ngày càng hoàn chỉnh hơn trong những lần xuất bản sau. T/M BAN BIÊN SOẠN Đồng Chủ biên TS. LÊ ĐÌNH PHỤNG PGS.TS. LẠI VĂN TỚI 23 23 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Chương I HẢI DƯƠNG VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI 24 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người I- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 1. Vị trí địa lý Tỉnh Hải Dương nằm ở phía đông bắc đồng bằng Bắc Bộ. Đây là vùng đất chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên địa hình khá đa dạng, bao gồm: vùng núi, trung du và đồng bằng; trong đó, đồng bằng chiếm phần đa diện tích. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, vị trí của Hải Dương được viết như sau: “Hải Dương, phía nam giáp trấn Sơn Nam, phía bắc tiếp Quảng Yên, phía đông đến biển lớn, phía tây giáp trấn Kinh Bắc; thế đất rộng rãi vòng quanh, phong vật đông đúc phồn thịnh. So với bốn thừa tuyên thì trấn Hải Dương này là vừa phải”1. Địa lý hành chính Hải Dương hiện nay, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam giáp tỉnh Thái Bình, phía đông và đông nam giáp thành phố Hải Phòng, phía tây và tây nam giáp tỉnh Hưng Yên; trải dài từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, có tọa độ địa lý từ 20o43’ đến 21o14’ vĩ độ Bắc, từ 106o03’ đến 106o38’ kinh độ Đông. Điểm cực bắc của tỉnh nằm ở 21.14’20’’ vĩ độ Bắc (thôn Đồng Trâu, xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh); điểm cực nam nằm ở 20.41’10’’ vĩ độ Bắc thuộc thôn Đồng Chẩm, xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện; điểm cực đông nằm ở 106.36’35’’ kinh độ Đông, thuộc phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn; điểm cực tây nằm ở 106.07’20’’ kinh độ Đông, thuộc thôn Kinh Trang, xã Thái Dương, huyện Bình Giang. Vị thế địa lý trung tâm của tỉnh là thành phố Hải Dương, cách Thủ đô Hà Nội 57km về phía tây, cách thành phố Hải Phòng 45km về phía đông. Đây được coi là vùng đất cầu nối, trung chuyển giữa trung tâm đất nước với vùng Đông Bắc vươn ra biển, mở cửa với bên ngoài. Từ nơi đây, giao thông thủy, bộ thuận lợi đi khắp các vùng trong nước. Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính trong lịch sử, hiện nay tỉnh Hải Dương có diện tích 1.668,2km2, đứng thứ 51/63 tỉnh, thành phố cả nước và 1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, t.I, tr.139. 25 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) là tỉnh có diện tích trung bình trong số các tỉnh, thành phố ở Việt Nam1. Chiều dài nhất của tỉnh Hải Dương từ bắc xuống nam khoảng 63km; chiều rộng từ đông sang tây khoảng 53km, phía đông cách bờ biển 20 - 25km, gần nhất là cửa biển Tuần Úc cách 20km. Về đơn vị hành chính, tỉnh Hải Dương bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (thành phố Hải Dương và thành phố Chí Linh), 1 thị xã (thị xã Kinh Môn)2 và 9 huyện (Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Kim Thành, Nam Sách, Ninh Giang, Thanh Hà, Thanh Miện, Tứ Kỳ), với tổng số 235 xã, phường, thị trấn, 1.334 thôn và khu dân cư3. Diện tích đất toàn tỉnh là 1.668,2km2 (chiếm 0,5% cả nước), trong đó có 1.389,00km2 đất đồng bằng, chiếm gần 84,09%; 279,20km2 đất miền núi, chiếm khoảng 15,91% diện tích toàn tỉnh. Địa phương có diện tích tự nhiên lớn nhất là thành phố Chí Linh với 281,9km2; thành phố Hải Dương4 có diện tích nhỏ nhất là 71,4km2. Dân số tỉnh Hải Dương tính đến năm 2021 là 1.916.774 người (chiếm khoảng 2% dân số cả nước và 8,7% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, đứng thứ 5/11 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và 11/63 tỉnh, thành phố cả nước), mật độ dân số trung bình là 1.150 người/km2. Dân số thành thị là 427.600 người (chiếm 32,2%), dân số nông thôn là 1.299.726 người (chiếm 67,8%)5. Theo tổng điều tra dân số năm 1999, trên địa bàn tỉnh ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số 99,74%, còn có các dân tộc khác sinh sống như: dân tộc Sán Dìu chiếm 0,09%, dân tộc Tày chiếm 0,01%, dân tộc Hoa chiếm 0,06%. Ngoài ra, dân tộc Nùng chiếm 0,0045%, dân tộc Thái chiếm 0,0039%, dân tộc Mông chiếm 0,001%, dân tộc Dao chiếm 0,0016%, dân tộc Thổ chiếm 0,0012% và các dân tộc khác chiếm 0,213% trong tổng số dân của tỉnh6. 1, 2, 4. Xem Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2018, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2018, tr.89, 39, 89. 3. Theo số liệu thống kê năm 2021. 5. Theo Wikipedia. Hải Dương 2021. 6. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Địa chí Hải Dương, Sđd, t.I, tr.320. 26 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương 27 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) 2. Địa hình tự nhiên Nằm phía đông bắc của đồng bằng Bắc Bộ, do kiến tạo của địa chất, nên địa hình Hải Dương khá đa dạng, thấp dần từ tây bắc xuống đông nam cùng hướng nghiêng của đồng bằng Bắc Bộ và được chia làm hai vùng khá rõ rệt là vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Địa hình đồi núi phân bố chủ yếu ở phía bắc và đông bắc của tỉnh, nơi cuối cùng của vòng cung đông bắc, chiếm khoảng 15,9% diện tích tự nhiên, gồm 13 xã, phường thuộc thành phố Chí Linh và 18 xã, phường thuộc thị xã Kinh Môn. Nơi cao nhất trong địa hình vùng núi là dãy núi tiếp giáp địa bàn các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh. Vùng núi Chí Linh có độ cao từ 300 - 616m, với các đỉnh núi cao chót vót như Đá Chồng, Đèo Tạo, Đèo Trê, Hòn Phướn, Dây Diều. Tiếp đến là vùng địa hình đồi núi có độ cao từ 100 - 290m với những dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam, điển hình như núi Ngang, núi Giếng, núi Nhẫm Dương, núi Thần, núi Đức Sơn, núi Sầu, núi Yên Phụ,... (thị xã Kinh Môn). Vùng đồi núi có độ cao 10 - 100m trên địa bàn thành phố Chí Linh gồm những dải đồi kéo dài hay những đồi hình bát úp nối tiếp nhau. Địa hình đồng bằng chiếm 89% diện tích tự nhiên, có độ cao trung bình từ 3 - 4m, được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa tự nhiên từ sông Thái Bình và sông Hồng, tạo nên vùng đất tương đối bằng phẳng là địa bàn phân bố của các huyện: Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang, Gia Lộc, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành. Để có được diện mạo như ngày nay, quá trình kiến tạo của vùng đất Hải Dương cũng nằm trong quá trình kiến tạo chung của đồng bằng Bắc Bộ và vùng núi phía Bắc, được hình thành và phát triển do quá trình vận động của vỏ trái đất, trên móng uốn nếp có nền đá kết tính tuổi trên 400 triệu năm và bị sụt lún mạnh vào cuối thời kỳ Cổ sinh (cách đây khoảng 200 triệu năm). Địa hình bao gồm đồi núi, đất đai, thổ nhưỡng, khoáng sản, nước trong lòng và trên mặt đất, cho thấy đây là một vùng đất tự nhiên đa dạng, phong phú, giàu sản vật, được con người chọn làm nơi cư trú để sinh tồn và phát triển qua các thời kỳ lịch sử tạo nên một Hải Dương ngày nay. Nghiên cứu quá trình hình thành vùng đất cho thấy, địa hình Hải Dương tuy không quá phức tạp so với một số vùng đất khác, song với quá trình biến đổi địa chất, địa mạo đã xảy ra mạnh mẽ, tạo nên sự đa dạng với nhiều dạng 28 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người địa hình khác nhau. Về kiến tạo địa chất, vùng đất Hải Dương được hình thành trên nền móng uốn nếp của nền đá kết tinh sụt lún vào cuối thời Cổ sinh (cách đây khoảng 200 triệu năm). Các chuyển động sụt lún vào hệ thống Holocene lấp đầy trầm tích Đệ tứ. Cấu trúc địa chất, địa hình có hướng tây bắc - đông nam, trùng với mạch đứt gãy cùng phương, tạo nên thung lũng sông Hồng, sông Thái Bình, chia đồng bằng sụt võng Hà Nội thành những đới kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam. Các yếu tố địa hình âm (các thung lũng, sông, hồ), các yếu tố địa hình dương (cảnh quan, núi đồi) đã hình thành bởi quy luật trên. Hai vùng địa lý cảnh quan tự nhiên này được hình thành bởi hệ cấu trúc địa chất khác nhau. Hệ cấu trúc vùng đồng bằng hình thành bởi các trầm tích Đệ tứ có tuổi Kainozoi (cách đây khoảng 1,6 triệu năm). Hệ cấu trúc vùng đồi núi tạo thành từ các trầm tích lục nguyên silíc, lục nguyên cácbonnát thuộc hệ cấu trúc Paleozoi - Mesozoi. Vùng cảnh quan núi đồi, địa hình có độ cao trung bình từ 100 - 290m, phân bố ở vùng Chí Linh, Kinh Môn. Trong dải núi đồi xen lẫn đồng bằng chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam hình thành nên các khu rừng nguyên sinh và những thung lũng có cảnh quan thơ mộng như: Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Hoàng, Ngũ Đài Sơn, Bãi Thảo,... Bên cạnh đó, kiến tạo địa chất đã hình thành dải núi đá vôi xen lẫn đồng bằng và sông ngòi với nhiều hang động kéo dài từ khu vực Kinh Môn, Đông Triều, qua vùng Thủy Nguyên (Hải Phòng) tới khu vực Hạ Long, tạo nên hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên rất đa dạng, phong phú. Dựa vào đặc điểm, nguồn gốc và hình thái của địa hình toàn tỉnh, có thể chia ra ba dạng địa hình và cảnh quan khác nhau, theo độ cao so với mực nước biển như sau: - Khu vực địa hình và cảnh quan có độ cao từ trên 300m đến hơn 600m. Đây là khu vực địa hình cao nhất, độ dốc địa hình 30 - 40o, thuộc xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh, kéo dài trên 7km và rộng trên 6km. Khu vực địa hình này có những đỉnh núi cao điển hình như đỉnh núi Dây Diều (616m), Đèo Tạo (578m), Đèo Trê (536m), Hòn Phướn (354m),... Những đỉnh cao này tạo nên địa giới hành chính tự nhiên giữa tỉnh Hải Dương với tỉnh Bắc Giang và tỉnh Quảng Ninh. Khu vực địa hình có độ cao 300 - 350m, độ dốc của sườn là 20 - 30o, được kéo dài theo độ cao trên 300m về phía nam là dải núi thấp hơn. Địa hình được tạo thành bởi các đá trầm tích có tuổi Trung sinh, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên đã làm cho các đá chắc bị nứt nẻ, vỡ rạn, 29 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) phong hóa, bào mòn xâm thực và rửa trôi. Sản phẩm phong hóa này nằm tại chỗ hoặc được vận chuyển xuống vùng thấp hơn, tạo nên lớp trầm tích bở rời, thuận lợi cho phát triển rừng và cây trồng. - Khu vực có địa hình và cảnh quan nằm ở độ cao từ 100 - 300m. Dạng địa hình, cảnh quan này tập trung chủ yếu ở khu vực Chí Linh. Chúng tạo thành các dải núi tách biệt nhau và được ngăn cách bởi các đồng ruộng giữa núi. Các dải núi theo hướng tây bắc - đông nam thuộc các phường Hoàng Tân, Văn An, Cộng Hòa, các xã Hưng Đạo, Lê Lợi, Bắc An và các dải núi theo hướng đông - tây, phân bố ở các phường Văn An và Cộng Hòa. Độ dốc địa hình 10 - 20o và có các đỉnh núi cao như Đầu Trồ (240m), Ngũ Nhạc (238m), Đại Bộ (142m), Hồ Sen (100,8m), Hồ Cá (181m), Ông Sao (100m), Đường Tầu (152m), Phượng Hoàng (227m),... Nằm ở vùng đồi núi Chí Linh với độ cao từ 50 - 300m, khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc có độ dốc trung bình 25 - 30m thuộc hệ cánh cung Đông Triều. Hệ thống đồi núi chạy theo hướng từ đông bắc sang tây nam tạo nên dạng địa hình khá đa dạng, phong phú xen lẫn giữa núi đồi và ruộng đồng, xóm làng. Núi ở Kiếp Bạc là dãy núi cuối cùng về phía tây bắc của hệ thống núi Yên Tử từ Quảng Ninh đổ về. Núi Yên Tử chạy gần tới Kiếp Bạc thì tỏa thành hai dãy song song là dãy Côn Sơn về phía bắc và dãy Phượng Hoàng về phía nam. Dãy Côn Sơn càng gần tới Kiếp Bạc càng thấp dần, tạo thành nhiều quả đồi nhỏ nằm rải rác ở thung lũng phía đông bắc Kiếp Bạc. Trái lại, dãy núi Phượng Hoàng chạy gần tới phía nam Kiếp Bạc càng cao dần lên, các ngọn núi lại liên kết với nhau làm thành một bức tường tự nhiên đồ sộ ngăn cách vùng đồng bằng của Chí Linh (nơi có quốc lộ 18 chạy qua) với vùng núi Côn Sơn và phần đông bắc của khu vực Kiếp Bạc. Núi ở Kiếp Bạc tuy không cao lắm nhưng ở thế liền dải chạy nhô ra sông Lục Đầu tạo ra một địa hình vừa hiểm trở vừa kỳ vĩ. Tại vùng Kinh Môn, địa hình có độ dốc sườn từ 10 - 20o, nằm tách biệt thành dải hoặc xen với các núi đá vôi, địa hình kéo dài không liên tục theo hướng tây bắc - đông nam như dải núi Yên Phụ, núi Thần và núi Giếng,... Dải địa hình Yên Phụ có chiều dài 17km, bề rộng trung bình 600m, như bức tường ngăn cách giữa phía đông bắc với phía tây nam thị xã Kinh Môn mà xung quanh bao quanh bởi đồng bằng. 30 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người - Khu vực có địa hình và cảnh quan đồi núi độ cao từ 10m đến dưới 100m. Đây là dạng địa hình đồi bát úp kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam, thuộc các phường Thái Học, An Lạc và Văn Đức của thành phố Chí Linh; vùng đồi gò với các địa hình rửa trôi, độ cao thấp hơn trung bình 10 - 50m, nằm tiếp giáp với vùng đồng bằng phía nam thành phố Chí Linh và thị xã Kinh Môn. Dạng địa hình này có độ cao trung bình thấp, độ dốc từ 5 - 10o với lớp vỏ phong hóa khá dày, màu mỡ. Dạng địa hình và cảnh quan karst được thành tạo từ đá vôi. Đây là dạng địa hình và cảnh quan khá đặc biệt, được thành tạo từ đá vôi, có tuổi Devon (cách đây khoảng 400 triệu năm) và tuổi Cacbon - Pecmi (cách đây khoảng 300 triệu năm) phân bố ở khu vực Kinh Môn (các phường, xã Duy Tân, Phạm Thái, Phú Thứ, Minh Tân), theo hướng tây bắc - đông nam và hướng đông - tây. Bề mặt địa hình có các dạng vòm sườn thoải, đỉnh không nhọn; dạng hình nón đỉnh nhọn và sườn dốc đứng; dạng tháp sườn dốc đứng dạng vách, có nhiều hẻm, rãnh sâu, trượt lở, đổ sập. Ngoài ra, có những đỉnh núi cao như núi Hàn Mấu (Minh Tân) cao 241,2m, núi Thần (Phú Thứ), núi Kim Bào (Duy Tân). Địa hình karst và cảnh quan vùng núi đá vôi có nguồn tài nguyên khoáng sản giá trị, nhiều hang động kỳ thú mà thiên nhiên ưu đãi, tạo điều kiện cho việc đầu tư, khai thác tài nguyên khoáng sản, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch. Vùng đồng bằng ở Hải Dương được hình thành cách đây khoảng 1,6 triệu năm. Trên bề mặt địa hình của tỉnh Hải Dương được cấu tạo bởi trầm tích Đệ tứ có tuổi 4.000 - 6.000 năm, tạo nên địa hình và cảnh quan tích tụ, xâm thực. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình cùng các dòng sông khác bồi đắp, với độ cao trung bình từ 3 - 4m so với mực nước biển, địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng dần từ phía bắc, đông bắc về phía nam từ 5 - 6m. Vùng đồng bằng liền kề với vùng đồi núi thấp có độ cao từ 7 - 8m tại thành phố Chí Linh, từ 0,8 - 3m trên địa bàn các huyện Nam Sách, Kim Thành, Thanh Hà, Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc và từ 0,9 - 2,1m trên các huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ, Thanh Miện, tạo nên một vùng đất đai màu mỡ rộng phẳng. Địa hình và cảnh quan đồng bằng tương đối bằng phẳng, nhưng vẫn có sự chênh lệch về độ cao, thấp dần từ phía bắc - đông bắc xuống phía nam. Địa hình và cảnh quan đồng bằng có độ cao từ 1,5 - 3m ở phía nam thành phố Chí Linh và các huyện Nam Sách, Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, thành phố 31 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Hải Dương. Địa hình và cảnh quan đồng bằng có độ cao trung bình từ 0,5 - 2,5m ở phía nam thị xã Kinh Môn và các huyện Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ. Nét nổi bật của cảnh quan đồng bằng của Hải Dương là sự bồi tụ bằng phẳng, màu mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tạo nên cảnh quan cánh đồng lúa, cánh đồng rau và vườn cây ăn quả tươi tốt. Đây là những nơi tập trung dân cư đông đúc. Như vậy, địa hình và cảnh quan Hải Dương khá đa dạng, bề mặt nghiêng từ phía bắc xuống phía nam. Sự tương phản rõ rệt giữa địa hình và cảnh quan vùng đồng bằng với vùng đồi núi là nét đặc trưng của địa hình Hải Dương, có thể phân biệt thành hai khu vực tự nhiên rõ rệt với hai dạng địa hình và cảnh quan đặc trưng: khu vực đồi núi thành phố Chí Linh, thị xã Kinh Môn và khu vực đồng bằng thuộc các huyện, thành phố còn lại. Tính chất tương phản giữa hai khu vực địa hình đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên của Hải Dương. Tổng quan về hình thế vùng đất Xứ Đông, trong đó có Hải Dương, mà nguồn sử liệu cho biết: “Đất ở lệch về một bên xứ Bắc Kỳ. Dựa núi bọc biển, hình thế vững chãi; núi cao có Yên Tử, Đông Triều, sông lớn có Hàm Giang, Lục Đầu. Mặt tây nam nội rộng đất bằng, đường sông như mắc cửi; mặt đông bắc núi cao biển rộng, thế rất hiểm trở, về việc phòng bị quan hệ rất nhiều”1. 3. Sông hồ Hải Dương có mạng lưới sông ngòi dày đặc bao bọc xung quanh gần như khép kín các khu vực địa hình và trải đều với nhiều sông lớn nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Địa bàn tỉnh Hải Dương có tổng số 14 sông lớn với chiều dài khoảng 500km và trên 2.000km sông nhỏ làm nên hệ thống sông chằng chịt chảy theo hướng chính là tây bắc - đông nam. Giữ vai trò chủ đạo chi phối vùng đất là sông Thái Bình chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài 64km (điểm đầu từ phường Phả Lại, thành phố Chí Linh và điểm cuối tại xã Vĩnh Lập, huyện Thanh Hà) cùng với các phân lưu của các sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn, sông Lai Vu, sông Gùa, sông Hàn Mấu, sông Mạo Khê... Ngoài ra, còn có sự tham gia của hệ thống sông Thương, sông Luộc, với tổng chiều dài 274,5km, 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, t.III, tr.367. 32 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người trong đó sông Luộc là dòng sông quan trọng tạo nên diện mạo đồng bằng của khu vực. Hệ thống các sông chính có dòng chảy tự nhiên, phụ thuộc vào mùa mưa, lũ trên lưu vực và sự điều tiết của các hồ chứa ở thượng nguồn sông Thái Bình, tập trung chủ yếu ở các huyện phía đông nam của tỉnh. Sông Thái Bình là hợp lưu của bốn con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Đuống và sông Lục Nam, đổ vào đất Hải Dương. Sự dày đặc của hệ thống sông có thể thấy tại vùng Phả Lại (thành phố Chí Linh) là nơi hội tụ sáu dòng sông nên được gọi là Lục Đầu Giang. Sông Lục Đầu được gọi là đoạn sông từ ngã ba Nhạn tới ngã ba Lấu Khê (Lâu Khê) dài hơn 10km, đây là nơi hợp lưu dòng chảy các dòng sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, phía dưới là hợp lưu với sông Đuống rồi đổ ra Biển Đông bằng hai dòng sông lớn là sông Thái Bình và sông Kinh Thầy. Đây là nơi giáp ranh của ba tỉnh Hải Dương, Bắc Giang và Bắc Ninh. Sông Lục Đầu ở Hải Dương có vai trò quan trọng đối với hoạt động giao thông đường thủy với thứ tự các nhánh như sau: - Nhánh thứ nhất là sông Lục Nam (sông Minh Đức), có nguồn từ Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua Lục Ngạn, Lục Nam (Bắc Giang) chảy về. - Nhánh thứ hai là sông Thương (sông Nhật Đức), thượng lưu ở phía đông bắc dãy núi Tam Đảo, Bắc Sơn chảy qua Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang chảy về hợp lưu với sông Lục Nam tại ngã ba Nhạn. Đây là nơi giáp ranh của các điểm: thôn Cầu, xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (ở hữu ngạn - phía tây); thôn Trạm Điền, xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (ở tả ngạn - phía đông) và xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (ở phía bắc). - Nhánh thứ ba là sông Cầu (sông Nguyệt Đức), thượng nguồn từ Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn hợp lưu với sông Cà Lồ chảy qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh hợp lưu với sông Lục Đầu tại thôn Đồng Phúc, xã Thắng Cương, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, đối ngạn với Phao Sơn (Phả Lại). - Nhánh thứ tư là sông Đuống (sông Thiên Đức), một chi lưu từ sông Nhị Hà (sông Hồng), chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh về phía đông hợp lưu với sông Lục Đầu tại Bình Than, thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; đối ngạn với bến Nhạn Loan, khu dân cư Lý Dương, phường Cổ Thành, thành phố Chí Linh. - Nhánh thứ năm là sông Thái Bình (sông Hàm Giang hay Phú Lương), từ ngã ba Lâu Khê chảy về phía nam qua địa phận tỉnh Hải Dương, thành phố Hải Phòng, tỉnh Thái Bình đổ ra Biển Đông. 33 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) - Nhánh thứ sáu là sông Kinh Thầy (sông Lâu Khê), dòng chảy từ ngã ba Lâu Khê chảy về phía đông khoảng 1,5km, hình thành nên vũng Trần Xá thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách. Sông chảy tiếp về phía đông đến Mạc Ngạn, phường Tân Dân, thành phố Chí Linh, lại chia làm hai nhánh gọi là ngã ba Kèo. Từ đây, sông chia thành hai nhánh, một nhánh về phía nam là sông Rạng, một nhánh chảy về phía đông là sông Kinh Môn. Từ hai nhánh sông lại chia ra làm nhiều chi lưu sông nhỏ chảy qua địa bàn các huyện Thanh Hà, Kim Thành, Kinh Môn (tỉnh Hải Dương), huyện Thủy Nguyên (thành phố Hải Phòng) rồi đổ ra biển. Ngoài các nhánh sông trên, những bản đồ cổ và sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết, sông Lục Đầu còn có sự góp dòng chảy từ ba nhánh sông nhỏ nữa: - Sông An Mô, thượng nguồn từ núi Thanh Mai (núi Phật Tích) nay là xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh, chảy qua Bãi Thảo, Đá Bạc, xã Bắc An; Trung Quê, xã Lê Lợi; Vạn Yên, xã Hưng Đạo hợp lưu với sông Vang (cánh đồng Vạn Yên), rồi đổ ra sông Lục Đầu ở Phố Vạn, cách đền Kiếp Bạc, xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh 1,5km. - Sông Ngụ thuộc đất Bắc Ninh từ phía tây, đổ ra sông Lục Đầu phía ở dưới thôn Phù Than. Cửa sông này đã bị lấp do đắp đê. - Một nhánh sông cổ thuộc đất Bắc Ninh chảy từ phía tây về hợp lưu với sông Lục Đầu ở phía hạ lưu thuộc xã An Trú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, đối ngạn với ngã ba Lâu Khê. Từ ngã ba Lâu Khê (cách Phả Lại 4km), tách ra thành hai chi lưu gồm sông Kinh Thầy và sông Thái Bình, sau đó lại tách ra thành sông Kinh Môn, sông Rạng, sông Hàn Mấu, sông Đá Vách, sông Văn Úc, sông Lạch Tray, sông Gùa, sông Mía,... rồi đổ ra Biển Đông; khi chảy qua vùng đất có ba phân lưu là sông Kinh Thầy, sông Gùa và sông Mía. Những dòng chảy trên địa bàn Hải Dương được mang tên như: sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Mía, sông Kinh Môn, sông Văn Úc. Nhánh sông Kinh Thầy có các phân lưu là sông Kinh Môn, sông Rạng, sông Đá Vách, sông Hàn Mấu. Ở phía nam tỉnh, có sông Luộc là ranh giới giữa các địa phương Hải Dương, Thái Bình và Hải Phòng. Ngoài ra, trên địa bàn Hải Dương còn có nhiều hệ thống sông khác như sông Sặt, sông Cẩm Giàng, sông Tứ Kỳ, sông Cửu An, sông Luộc,... Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “các sông tỉnh Hải Dương, chi lưu tản mạn rất nhiều 34 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người không thể chép hết”1. Nhìn chung, các dòng sông ở đây có lưu lượng và chế độ dòng chảy thay đổi theo mùa. Phần lớn các sông có hệ thống uốn khúc lớn, một số đoạn sông thường bị sạt lở. Do đặc điểm của địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam nên dòng chảy của các sông tự nhiên trên địa phận Hải Dương đều chảy theo hướng tây bắc - đông nam và thuộc phần hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâu, độ dốc mặt nước nhỏ, tốc độ dòng chảy chậm. Dòng chảy quanh co uốn khúc và phân tách thành các nhánh đi sâu vào các làng xóm, ruộng đồng. Tổng lượng dòng chảy trên các sông trung bình năm khoảng 35 tỷ mét khối nước, nhưng tổng lượng dòng chảy này không ổn định mà chế độ dòng chảy thay đổi theo mùa. Mùa lũ kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10) chiếm 80% lượng dòng chảy cả năm, mực nước lũ thường rút chậm ảnh hưởng lớn tới sự an toàn của các công trình ngăn lũ. Mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 17 - 22% lượng dòng chảy năm, triều mặn xâm nhập sâu, đặc biệt là các sông khu vực phía đông nam. Hệ thống sông ngòi Hải Dương cung cấp nguồn phù sa khá phong phú với tổng lượng phù sa khoảng 26,6 triệu tấn và thay đổi theo mùa, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm 90 - 95%). Nguồn nước và phù sa của các dòng sông là nguồn tài nguyên quan trọng tạo nên sự màu mỡ cho vùng đồng bằng từ xa xưa, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp phát triển. Các cửa sông đổ ra biển gồm: cửa Nam Triệu (Bạch Đằng), cửa Lạch Tray, cửa Văn Úc, cửa Luộc. Hệ thống các cửa sông này là đầu mối giao thông từ Biển Đông vào nội địa, tập trung ở khu vực Lục Đầu Giang (Vạn Kiếp) rồi lên kinh đô Thăng Long và tỏa đi các địa phương khác. Cùng với hệ thống sông tự nhiên, địa bàn Hải Dương còn hệ thống các sông đào được hình thành trong lịch sử qua các thời kỳ khác nhau như: sông Cửu An, sông Sặt, sông Định Đào, sông Cậy,... Bên cạnh hệ thống sông ngòi, do đặc điểm phát triển địa hình, Hải Dương còn có hệ thống ao, hồ, đầm tự nhiên hay có nguồn gốc từ các con sông bị bồi lấp, đổi dòng hay do nhân tạo, tương đối phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp với tổng diện tích mặt nước ao, hồ, đầm là 12.000ha. Thành phố Chí Linh là nơi có nhiều hồ nhất như: hồ Bến Tắm, hồ Mật Sơn, hồ Côn Sơn. Ngoài ra, còn có hồ An Dương thuộc xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện; hồ Bạch Đằng, hồ Bình Minh thuộc thành phố Hải Dương có nguồn gốc từ những đoạn sông đổi dòng từ các con sông cổ. 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.III, tr.388. 35 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, ao tự nhiên là nơi trữ nước và vận chuyển nước trên bề mặt, góp phần nuôi dưỡng động, thực vật và điều hòa khí hậu trong vùng. Hệ thống ao, hồ, đầm cùng với hệ thống sông, suối, kênh, mương không chỉ có giá trị phát triển giao thông, lưu chuyển và tích nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà còn góp phần điều tiết khí hậu. Nhiều hồ tự nhiên có cảnh quan đẹp đã được khai thác phục vụ du lịch sinh thái gắn liền với du lịch văn hóa và lịch sử, như hồ Côn Sơn, hồ Bến Tắm,... Cùng với nguồn nước mặt tự nhiên dồi dào, trong lòng đất Hải Dương còn có trữ lượng nước ngầm khá phong phú. Lưu lượng nước khai thác từ giếng khoan đạt khoảng 30 - 50m3/ngày đêm với tầng khai thác phổ biến ở độ sâu từ 40 - 120m. Ngoài ra, còn phát hiện một số tầng nước ngầm có độ sâu từ 250 - 350m, cung cấp nguồn nước có chất lượng tốt và trữ lượng lớn có thể khai thác phục vụ các mục đích khác nhau. Hệ thống sông, hồ trên địa bàn Hải Dương cùng nguồn nước tự nhiên trên và dưới lòng đất vô cùng phong phú, là tài sản thiên nhiên dành tặng cho vùng đất, tạo nên sức sống cho một vùng đất trù phú thuận lợi, giàu tiềm năng để phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tụ cư, định cư, phát triển kinh tế từ buổi đầu dựng nước trong lịch sử cho đến ngày nay. 4. Khí hậu Hải Dương nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằng Bắc Bộ, điển hình của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do ảnh hưởng của đới gió mùa nên thời tiết được phân làm bốn tiết xuân, hạ, thu, đông khá rõ. Khí hậu đặc trưng của Hải Dương được ghi trong Đại Nam nhất thống chí là: “cũng như Hà Nội, duy đất gần biển, nên những tháng mùa thu, mùa hạ nhiều gió đông nam”1. Tính chất nhiệt đới của khí hậu được quy định bởi vị trí địa lý tỉnh Hải Dương nằm trong vùng nội chí tuyến. Đặc điểm địa hình làm cho khí hậu tỉnh Hải Dương có sự phân hóa theo không gian. Mạng lưới sông, hồ góp phần điều hòa nền nhiệt độ, tăng độ ẩm không khí. Các trung tâm khí áp và các khối khí theo mùa có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân mùa khí hậu của tỉnh Hải Dương. 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.III, tr.368. 36 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều. Mùa đông bắt đầu từ tháng 10, các tháng giữa mùa đông (12, 1, 2) không khí khô lạnh từ phía Bắc tràn xuống, gió Bắc chiếm từ 40 - 65% tần suất. Các tháng cuối mùa đông (3, 4), gió Bắc giảm đi chỉ còn 15 - 20%. Mùa đông khi không khí lạnh tràn về ở vùng núi Chí Linh, gió thổi qua các khe núi hẹp nên tốc độ mạnh hơn khu vực đồng bằng. Vào mùa đông, gió Đông Nam chỉ xen kẽ giữa các đợt gió mùa Đông Bắc. Mùa hè bắt đầu từ tháng 4, chủ yếu là gió Đông Nam (mát) và gió Phơn Tây Nam (nóng). Gió Đông Nam có tần suất từ 35 - 65%, bên cạnh đó còn có gió Đông (từ 10 - 20%). Nhiệt độ không khí trung bình ở Hải Dương là 23,4oC. Trong năm, nhiệt độ chênh lệch giữa mùa đông và mùa hè lên tới 13oC. Nhiệt độ trung bình ngày ổn định của mùa đông dưới 20oC, nhiệt độ trung bình ngày ổn định của mùa hè trên 25oC. Tháng 9 (tháng Tám âm lịch - mùa thu) thời tiết mát dịu hơn, nhiệt độ trung bình xuống dưới 20oC. Tháng 10, thời tiết chuyển tiếp sang mùa đông, nhiệt độ mát mẻ. Lượng mưa trung bình cả năm ở Hải Dương là 1.520mm. Lượng mưa ở các vùng phía nam, ven sông Luộc lớn hơn (1.500 - 1.600mm), ở vùng Chí Linh lượng mưa nhỏ hơn (1.350 - 1.450mm). Trong năm, từ tháng 2 đến tháng 3 thường mưa phùn; từ tháng 5 đến tháng 9 mưa rào, lượng mưa chiếm 80 - 85% cả năm; từ tháng 11 đến tháng 3 ít mưa, chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm. Tổng số giờ nắng ở Hải Dương từ 1.600 - 1.700 giờ/năm. Mùa hè có số giờ nắng mỗi tháng từ 180 - 200 giờ. Ở Chí Linh, số giờ nắng lớn hơn các vùng khác trong tỉnh 50 giờ. Mùa đông, số giờ nắng mỗi tháng từ 40 - 80 giờ, khu vực Chí Linh từ 50 - 90 giờ. Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên mùa đông nhiệt độ ở vùng Chí Linh (bán sơn địa) thấp hơn các nơi khác trong tỉnh từ 2 - 3,1oC. Độ ẩm thấp nhất 17% (khu vực đồng bằng Hải Dương 27%). Số giờ nắng lớn hơn 1.710 giờ, lượng bốc hơi nước lớn hơn các vùng khác (chỉ số khô hạn trên 0,7). Với khí hậu của khu vực mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu ven biển và rừng núi so với điều kiện trung bình cùng vĩ tuyến, tại Hải Dương, đầu mùa đông khí hậu khô, cuối đông khí hậu ẩm ướt, mùa hạ nóng, ẩm, nhiều mưa bão. Theo số liệu tiêu chuẩn Việt Nam TCVN4088:1985, trạm Hải Dương khí hậu vùng có đặc trưng chủ yếu như sau: Nhiệt độ không khí tháng 5 trung bình là 23,5oC; nhiệt độ cực tiểu 37 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) trung bình là 20,9oC; nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối là 3oC; nhiệt độ cực đại tuyệt đối là 38oC. Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.646 giờ. Lượng mưa trung bình năm là 1.463mm. Độ ẩm trung bình năm của không khí là 81,6%. Hướng gió chính thịnh hành trong năm: mùa đông là hướng bắc, đông bắc; mùa hè là hướng nam và đông nam. Tốc độ gió trung bình là 2,3m/s, tốc độ gió cực đại xảy ra khi có bão đạt 45m/s (tháng 11/1962). Ngoài vùng khí hậu chung, địa bàn Hải Dương có những vùng tiểu khí hậu đặc trưng do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên chi phối. Khu vực chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Thương, sông Cầu, sông Đuống, sông Phả Lại, sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn, sông Đồng Mai chịu ảnh hưởng trực tiếp là thủy triều của sông Lục Nam và sông Thương đều đổ ra sông Thái Bình và sông Kinh Môn. Lưu lượng nước trung bình là 286m3/s, thấp nhất là 181m3/s. Tuy nhiên, do hệ thống đê sông Thương khá kiên cố nên chỉ chịu lụt nội đồng vào mùa mưa bão. Các mùa khác, khu vực chịu ảnh hưởng của hệ thống các sông thường bị hạn vào vụ chiêm xuân và đầu vụ mùa. Thêm vào đó, còn bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết khác thường như giông, bão, mưa phùn, gió bấc,... Bảng 1.1: Một số đặc trưng về nhiệt độ đo được trên địa bàn tỉnh Hải Dương Đặc trưng Nhiệt độ (oC) Năm Nhiệt độ trung bình năm 23,7 1960 - 2011 Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38,9 Tháng 7/2004 Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 3,2 Tháng 12/1975 Nằm trên vùng đất đồng bằng Bắc Bộ, Hải Dương chịu chung một số đặc điểm của thời tiết vùng đồng bằng Bắc Bộ như bão và áp thấp nhiệt đới là các hiện tượng thời tiết nguy hiểm, thường có gió mạnh, mưa lớn, diễn biến phức tạp nên sức tàn phá rất lớn, gây thiệt hại nặng nề. Hằng năm, Hải Dương thường bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của 1 đến 2 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, có năm nhiều lên tới 5 cơn bão. Mùa mưa bão thường từ tháng 6 đến tháng 10, tập trung vào ba tháng 7, 8 và 9. Mưa đá thường xảy ra vào mùa hè và thời kỳ đầu hoặc cuối mùa đông. Ở Hải Dương, hằng năm thường xuất hiện mưa đá, thời gian mưa ngắn và trên diện hẹp. Giông, sét, lốc, tố, vòi rồng thường xảy ra trong mùa hè, là những hiện tượng thời tiết nguy hiểm. 38 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Sương mù xuất hiện chủ yếu trong mùa đông và các tháng chuyển tiếp, thường hình thành ở vùng bán sơn địa. Sương muối đã quan sát được ở những thung lũng khuất gió, vùng bán sơn địa Chí Linh, Kinh Môn. Do sự đa dạng về địa hình nên Hải Dương có những vùng tiểu khí hậu mang đặc thù riêng. Trên cơ sở phân vùng khí hậu toàn quốc, xét những quy luật, những nhân tố phân hóa có tính chất cục bộ, khí hậu Hải Dương có thể phân thành hai tiểu vùng: - Vùng khí hậu đồng bằng (chiếm gần 90% diện tích toàn tỉnh): nhiệt độ trung bình tháng 1 trên 16oC, lượng mưa trung bình năm trên 1.500mm. Độ ẩm không khí 84 - 86%, chỉ số khô hạn năm 0,4 - 0,5, lượng bốc hơi năm 800 - 900mm. Số giờ nắng 1.700 giờ/năm. Mùa đông có gió bấc, không có sương muối, mùa hè có gió Đông Nam. - Vùng khí hậu bán sơn địa: nhiệt độ mùa đông thấp hơn, vào những năm rét đậm xuất hiện sương muối. Đây là vùng ít mưa, dưới 1.500mm), độ ẩm tương đối thấp hơn với 80%, lượng bốc hơi năm lớn hơn, chỉ số khô hạn lớn hơn là 0,7, số giờ nắng lớn hơn với 1.810 giờ. Những điều kiện khí hậu trên đã có tác động đến cuộc sống của con người, những chủ nhân của vùng đất từ trong lịch sử cho đến ngày nay. 5. Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên trên vùng đất Hải Dương vô cùng phong phú, được thể hiện ở hai thực thể trên mặt đất và trong lòng đất. Là một tỉnh nằm ở vị trí gần trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, đất đai là tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất, nguồn tư liệu sản xuất được người dân khai thác và sử dụng theo chiều dài lịch sử từ khi xuất hiện sự sống của con người cho đến ngày nay. Theo thống kê cho biết, tổng diện tích đất của Hải Dương là 165.477ha1, bao gồm: đất sử dụng cho nông nghiệp 106.577ha, đất phi nông nghiệp 58.165ha, đất chưa sử dụng 735ha. Đất tự nhiên của Hải Dương chia làm hai nhóm chính: đất vùng đồng bằng khá bằng phẳng có diện tích 139.173ha, chiếm 84,1% diện tích đất, được hình thành chủ yếu từ sự bồi đắp của phù sa sông Thái Bình và một phần phù sa sông Hồng. Đất đồi núi địa hình đa dạng, diện tích 26,312ha, chiếm 15,9% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, chủ yếu là đất đồi sa thạch, phiến thạch sét và đá vôi rắn chắc được hình thành theo kiến tạo địa chất. 1. Xem Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Địa chí Hải Dương, Sđd, t.I. 39 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Đất đồng bằng là lớp đất trầm tích dày, cấu trúc bở rời thuộc kỷ Đệ tứ, được hình thành chủ yếu do phù sa hệ thống sông Thái Bình và một phần phù sa sông Hồng bồi lấp các vùng biển nông tạo nên. Đất phù sa sông Hồng tơi xốp, ít chua, giàu dinh dưỡng; đất phù sa sông Thái Bình nghèo lân và kali, được chia làm các loại: - Đất phù sa được bồi đắp thường xuyên có diện tích 1.367ha, phân bố ở các khu vực ngoài đê. - Đất phù sa không được bồi đắp thường xuyên có diện tích 47.600ha, phân bố theo từng khu vực của các huyện Cẩm Giàng, Gia Lộc, Nam Sách, thị xã Kinh Môn. - Đất phù sa không được bồi lấp thường xuyên trung bình có diện tích 78,114ha, phân bố nơi có địa hình thấp. - Đất phù sa glây mạnh, có diện tích 3.489ha, phân bố ở một phần thành phố Chí Linh và các huyện Cẩm Giàng, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện, nơi địa hình trũng, ngập nước quanh năm và úng nặng về mùa hè. - Đất mặn ít, có diện tích 2.273ha, phân bố ở nơi địa hình thấp như khu Nhị Chiểu (thị xã Kinh Môn), một số xã của các huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà, Kim Thành. Đất có độ chua thấp, dinh dưỡng ở mức trung bình. - Đất phù sa cổ có sản phẩm feralit, diện tích 6.330ha, phân bố chủ yếu ở thị xã Kinh Môn, nơi địa hình cao hơn xung quanh, có sản phẩm feralit bạc màu. Tầng đất canh tác mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng dinh dưỡng nghèo. Nhóm đất đồi núi dựa theo nguồn gốc hình thành được chia làm hai loại: - Đất đồi núi sản phẩm dốc tụ, diện tích 4.628ha, địa hình không bằng phẳng. - Đất feralit phát triển trên đá mẹ sa thạch, cuội kết, dăm kết, diện tích khoảng 21.684,3ha, phân bố ở vùng đồi núi Chí Linh, tầng đất từ mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ và pha cát, khả năng giữ nước kém. Tác động của con người trong quá trình khai thác, sử dụng đất đã làm thay đổi bản chất tự nhiên và hình thái của đất theo hai hướng tích cực và tiêu cực. Tài nguyên rừng hiện nay của Hải Dương có hơn 8.800ha, bao gồm 1.353,71ha rừng đặc dụng, 7.504,84ha rừng phòng hộ. Rừng tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố Chí Linh và thị xã Kinh Môn với thành phần loài thực vật đa dạng và phong phú. Riêng địa bàn vùng đất Chí Linh có 3.598ha 40 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người đất đồi rừng, trong đó rừng trồng là 1.208ha, rừng tự nhiên là 2.390ha. Rừng tự nhiên có nhiều loại gỗ quý, ước khoảng 140.000m3, có nhiều loại động, thực vật đặc trưng cung cấp nguồn dược liệu cho y học. Rừng trồng chủ yếu là keo tai tượng, bạch đàn và rừng thông thuộc khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc. Giai đoạn 2010 - 2020, Hải Dương dự kiến đầu tư gần 414 tỷ đồng để quy hoạch, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh, phấn đấu đến năm 2020 giữ ổn định diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 10.189,2ha; tiếp tục đầu tư kinh phí để nâng cao độ che phủ của rừng. Triển khai trồng 1.911ha rừng nguyên liệu, 530ha gỗ sưa; 109ha rừng trên đất chưa có rừng; trồng mới 50ha chè chất lượng cao. Tài nguyên động, thực vật ở Hải Dương phong phú và đa dạng thích ứng với hệ sinh thái đồi núi và hệ sinh thái đồng bằng mang nét đặc trưng riêng. Theo những ghi chép trong chính sử cho biết: “vùng này có ruộng tốt, nhiều đất trắng mềm, hợp với việc trồng cây thuốc hút, ruộng thì vào hạng thượng thượng. Gỗ có tùng, bách, ngoài ra còn có các cây hòe, liễu. Nửa lộ thì sản dừa, cau. Ngải Môn và Dương Áo sản vật có nhiều thứ,... Đồng Lại có cam đường...”1. Sau này khi thống kê thổ sản vùng đất Hải Dương còn cho biết đây là vùng đất có những cây đặc sản như: cam đường, long nhãn, dứa, dừa, vải hay các loại cây khác như thuốc lào, chè, cây lấy gỗ như tùng, bách hay hòe, liễu2. Kết quả nghiên cứu gần đây cho biết, hệ thực vật tại Hải Dương hiện nay có 528 loài thực vật bậc cao thuộc 396 chi, 145 họ, gồm 4 ngành: ngành hạt kín (130 họ, 379 chi, 507 loài), ngành hạt trần (4 họ, 4 chi, 4 loài), ngành thông đá (1 họ, 1 chi, 1 loài) và ngành dương xỉ (10 họ, 12 chi, 16 loài). Thực vật làm thuốc có 431 loài, thuộc 343 chi, 144 họ như: ráy, cà, hoa chuông, cỏ roi, ngựa, dâu tằm, cúc, đậu, thầu dầu, kim ngân, chân chim, chè vắng, củ mài, hà thủ ô trắng, ba gạc, ba kích, cát sâm, đẳng sâm... Trong đó, có loài dược liệu có giá trị đặc biệt như họ hoa chuông, củ mài, kim ngân... Các loại cây ăn quả và cây có giá trị sử dụng khác như: cây ăn quả, rau xanh, cây làm thức ăn gia súc, cây cho nguyên liệu để uống, cây cho dầu,... rất phong phú và đa dạng. Với địa hình đa dạng, vùng đất Hải Dương có hệ thống động vật khá phong phú, nhiều giống loài khác nhau. Mang đặc trưng địa hình miền núi 1. Nguyễn Trãi: Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.219. 2. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.III, tr.440-441. 41 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) ven biển, vùng đồi núi Chí Linh, Kinh Môn có hệ thống động vật hoang dã mang tính đặc trưng của khu hệ động vật vùng đồng bằng sông Hồng với nhiều loại thú cư trú sinh sống. Theo kết quả điều tra khảo sát cho biết, hiện còn gặp các loài thú họ mèo, gấu, ngựa, chuột, khỉ, chồn, cầy, sóc bay, dúi, nhím, dơi, muỗi... Một số loài có số lượng rất hiếm, trong đó có những loài như rái cá và sóc bay lớn có tên trong sách đỏ Việt Nam. Khu hệ chim tương đối phong phú và đa dạng, gồm 100 loài thuộc 37 họ, 17 bộ. Có các loài chim thích nghi với cuộc sống của sông nước vùng đồng bằng, có các loài chuyên sống ở vùng rừng núi cao với 22 loài chim di cư (họ diệc, vịt, ưng, sếu, gà nước, vẹt), 67 các loài định cư (họ vịt, ưng, diệc, cắt, trĩ...). Các loài họ diệc, ưng, sếu, gà nước cho đến nay khi khảo sát cho thấy số lượng còn rất ít, có loài mất hẳn. Ngoài ra, còn có một số loài thuộc diện quý hiếm cần được ưu tiên bảo tồn như họ cú mèo, trĩ, chèo bẻo. Bò sát có 41 loài, thuộc 13 họ, 2 bộ, trong đó có thể xếp thành nhóm quý hiếm như họ tắc kè, kỳ đà, trăn, rắn hổ, nhóm quý hiếm đặc hữu như họ nhông, rắn độc, rùa, ba ba. Lưỡng cư có 21 loài thuộc 5 họ, 1 bộ. Dựa vào đặc tính sinh học, sinh thái của loài có thể xếp lưỡng cư thành các nhóm sau: họ ếch, nhái, cóc, nhái bầu. Đồng bằng Hải Dương được con người khai phá, trồng trọt từ buổi đầu lịch sử tạo nên hệ sinh thái giữ vai trò chủ đạo của vùng đất. Thực vật cây trồng theo điều tra cho biết có khoảng 59 họ với 130 loài với các nhóm cây trồng khác nhau: nhóm cây lương thực, rau, đậu, nhóm cây ăn quả, nhóm cây công nghiệp, nhóm rau gia vị cùng các loại cây có tác dụng làm thuốc, dùng lá để uống, hay các loài tre, trúc, hoa và cây cảnh. Động vật nuôi gắn với vùng đất và con người Hải Dương trong lịch sử cho đến nay giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế chủ yếu là các loài gia súc, gia cầm như trâu, bò, ngựa, gà, vịt cùng các loại côn trùng có ích phục vụ cho đời sống kinh tế của con người. Song hành với tài nguyên trên mặt đất, lòng đất Hải Dương ẩn chứa nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng với trữ lượng lớn. Được hình thành bởi kiến tạo của địa chất với địa hình đa dạng từ vùng núi đến đồng bằng, lòng đất Hải Dương đã phát hiện 24 loại hình khoáng sản bao gồm: than đá, sắt, đồng, thủy ngân, bôxít, phốt pho, than bùn, sét chịu lửa, đôlômít, keratophia, đá vôi xi măng, sét silíc phụ gia xi măng, sét gạch ngói, cát xây dựng, đá vôi xây dựng, cuội kết thạch anh, thạch anh tinh thể, cuội sỏi, quarzit. Trong đó khoáng sản trọng tâm là nguồn đất sét để sản xuất gốm sứ và vật liệu xây dựng 42 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người với trữ lượng lớn. Kết quả điều tra khảo sát xác định được 91 địa điểm là mỏ và điểm quặng, được chia ra thành bốn nhóm cơ bản: nhóm nguyên liệu; nhóm khoáng sản kim loại; nhóm khoáng sản không kim loại và khoáng chất công nghiệp; nhóm nước nóng - khoáng. - Nhóm nguyên liệu (tài nguyên dự báo 75,14 triệu tấn) chủ yếu là các mỏ than đá được phân bố thành dải kéo dài 15km, rộng từ 3 - 5km từ phường Phả Lại đến Cổ Kênh (phường Văn Đức, thành phố Chí Linh). Đây là hệ thống mỏ than kéo dài từ vùng đông bắc (Quảng Ninh) với trữ lượng dự báo ở Phả Lại là 13 triệu tấn quặng, xóm Lý là 50 triệu tấn, Cổ Kênh là 12,142 triệu tấn. Các mỏ than phân bố ở thành phố Chí Linh có quy mô nhỏ, nhiệt lượng thấp, chỉ có giá trị phục vụ công nghiệp địa phương. - Nhóm khoáng sản kim loại gồm bốn loại nguyên liệu: sắt, đồng, thủy ngân và bôxít. Quặng sắt mới chỉ xác định biểu hiện quặng, chưa rõ triển vọng loại khoáng sản này. Khoáng sản sắt dưới dạng limônít, hêmatít, có nguồn gốc nhiệt dịch, phong hóa và sườn tích bao gồm 5 điểm quặng phân bố chủ yếu ở phía bắc thị xã Kinh Môn gồm: Bắc Nội, núi Ông Sư, Trại Nẻ, Thung Sanh, Lỗ Sơn. Quặng đồng được tìm thấy phân bố ở Hạ Chiểu, thuộc phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn. Quặng đồng biểu hiện dưới dạng khoáng vật malachite màu xám xanh, xám cổ vịt, dạng vết bám mỏng nằm trên bề mặt hoặc khe nứt của đá vây quanh. Thủy ngân có một điểm duy nhất phân bố ở khu núi Đền Thờ, núi Hòn Phướn, núi Đá Chồng thuộc làng Trại Gạo, xã Bắc An, thành phố Chí Linh, tiềm năng dự báo khoảng 1.100 tấn, thuộc quy mô nhỏ. Mỏ thủy ngân này được phát hiện và tìm kiếm năm 1976. Quặng hóa thủy ngân chủ yếu phân bố dọc theo các hệ thống đứt gãy nhỏ, trong đá trầm tích hệ tầng sông Hiến. Đã xác định vành phân tán với hàm lượng xinoba đạt từ 5 - 15 hạt/10dm3. Trên cơ sở vành phân tán đã phát hiện vùng Trại Gạo có ba dải khoáng hóa thủy ngân, tiềm năng dự báo 1.100 tấn xinoba. Quặng bôxít trên địa bàn Hải Dương hiện nay mới tìm thấy mỏ bôxít Lỗ Sơn phân bố trên bề mặt bào mòn của đá vôi có tuổi kỷ Devon thuộc hệ tầng Lỗ Sơn (D2ls). Mỏ nằm cách thị xã Kinh Môn về phía bắc 4km, thuộc khu dân cư Lỗ Sơn, phường Phú Thứ, huyện Kinh Môn, diện tích phân bố khá rộng, đến 40.000m2. Trữ lượng thăm dò đạt 129,865 tấn. Mỏ được phát hiện trước năm 1945, hiện đang được khai thác. Mỏ bôxít bao gồm 9 vành phân tán quặng lăn và 1 thân quặng gốc, được phân bố ở các khu vực sau: Khu vực Lỗ Sơn gồm 43 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) 3 vành phân tán quặng lăn. Khu vực Thung Sanh có 1 vành phân tán quặng lăn. Khu vực núi Yên Ngựa có 1 vành phân tán và 1 thân quặng gốc. Khu vực Áng Bát, Áng Nại, Áng Dầu, Tử Lạc, mỗi khu đều có 1 vành phân tán quặng lăn. - Nhóm khoáng sản không kim loại và khoáng chất công nghiệp có số lượng khá phong phú, đa dạng với nhiều loại khoáng sản khác nhau. Nhóm khoáng sản này được phân ra làm ba đối tượng sử dụng: nguyên liệu cho sản xuất phân bón; nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng; nguyên liệu sản xuất gốm sứ, thủy tinh, kỹ thuật khác. + Nguyên liệu phân bón: Chủ yếu là phốt pho và than bùn, quặng phốt pho nằm trong hang động chứa đá vôi tuổi kỷ Devon, chủ yếu ở hang Đồn có thân quặng dạng ổ, kéo dài hàng trăm mét, bề dày 3 ITL. Quặng ở hang núi Voi có chiều dài 5m, dày 1,8m, đều thuộc khu dân cư Lỗ Sơn, phường Phú Thứ, thị xã Kinh Môn. Quặng phốt pho khí chưa phong hóa khá cứng, rắn chắc, màu nâu đất, khi phong hóa thành dạng đất có màu nâu xỉn. Lớp quặng nằm ngang hoặc hơi nghiêng về phía nam, hiện được khai thác sản xuất làm phân bón phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp. Than bùn có nguồn gốc hình thành từ trầm tích sông, đầm lầy tìm thấy ở Đại Bộ, xã Bắc An, thành phố Chí Linh và Hiệp An, thị xã Kinh Môn. Mỏ quặng Đại Bộ được tìm kiếm sơ bộ năm 1996, phân bố trên diện tích khoảng 1km2 trong trầm tích Đệ tứ có nguồn gốc sông, đầm lầy thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc (Qi3vp). Các lớp than bùn có chiều dài trên 1km, theo phương á vĩ tuyến (90o - 270o) chiều rộng khoảng 500 - 900m, chiều dày từ 0,5 - 1,0m. + Khoáng sản phục vụ cho việc sản xuất nguyên vật liệu xây dựng đã tìm thấy và từng bước được khai thác với 90 mỏ và điểm quặng, trong đó có 60 mỏ và điểm quặng của nhiều loại khoáng sản vật liệu xây dựng có giá trị. Đặc trưng cho loại khoáng sản này gồm: đá vôi, xi măng, cát đen xây dựng, cuội sỏi. Đá vôi phục vụ cho sản xuất xi măng có ở nhiều nơi thuộc thị xã Kinh Môn, trữ lượng đạt 104 triệu tấn. Đá vôi xi măng có mặt các đá trầm tích cácbonát, phân bố trong các địa tầng có tuổi khác nhau, hệ tầng Yên Phụ, hệ tầng Lỗ Sơn và hệ tầng Hạ Long với 4 mỏ đá vôi xi măng: Nguyên Linh, Lỗ Sơn, Hoàng Thạch (núi Han) và Vạn Chánh. Đá vôi xi măng có đặc điểm chung phân bố thành dải kéo dài 5.000m, rộng 500 - 800m ở mỏ Hoàng Thạch (núi Han), còn các mỏ khác thường nằm thành đồi độc lập xung quanh bao bọc 44 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người bởi trầm tích kỷ Đệ tứ. Trữ lượng đá vôi xi măng vùng Kinh Môn đạt 103,79 triệu mét khối. Đá sét, đá phiến silíc xi măng phân bố nhiều nơi ở vùng Chí Linh và Kinh Môn. Đặc biệt, vùng Kinh Môn đã đánh giá được 7 mỏ: Hạ Chiểu, Thượng Chiểu, Hoàng Thạch, núi Thần, Duyên Linh, Đức Sơn và núi Lim. Các mỏ sét, đá phiến silíc làm phụ gia xi măng đều có nguồn gốc trầm tích, phân bố trong hệ tầng Yên Phụ (mỏ Hoàng Thạch, Đức Sơn, núi Lim). Trữ lượng mỏ Hạ Chiểu, Thượng Chiểu, Hoàng Thạch đạt 74,4 triệu tấn. Tiềm năng dự báo mỏ núi Thần, Duyên Linh, Đức Sơn, núi Lim khoảng 15,54 triệu mét khối. Tổng trữ lượng đạt 89,94 triệu mét khối. Quy mô các mỏ ở đây từ trữ lượng trung bình đến lớn. Mỏ đá sét, đá phiến silíc phân bố ở vùng Kinh Môn, có triển vọng lớn, đáp ứng yêu cầu làm phụ gia xi măng tại chỗ. Trong những mỏ sét xi măng nêu trên, điển hình là mỏ Hoàng Thạch. Mỏ sét silíc xi măng Hoàng Thạch phân bố ở thôn Hoàng Thạch (nay là khu dân cư Bích Nhôi 2, phường Minh Tân) cách thị xã Kinh Môn 5,5km về phía đông bắc. Khu mỏ bao gồm các đá sét, đá phiến silíc xen cát kết thuộc hệ tầng Yên Phụ. Nguồn khoáng sản đất sét phục vụ cho sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Hải Dương có ở nhiều nơi, qua điều tra, tìm kiếm, thăm dò cho biết có 21 mỏ với quy mô từ nhỏ đến lớn cho tổng trữ lượng đạt 54,66 triệu mét khối, đáp ứng yêu cầu sản xuất gạch nung. Sét sản xuất gạch ngói trong vùng có hai loại, nguồn gốc từ phong hóa tái lắng đọng và trầm tích sông có phân bố ở vùng gò, đồi thấp và rìa ven đồng bằng trước núi vùng Chí Linh. Loại sét này gồm ba mỏ: Bến Tắm, Đại Tân, Hoàng Tiến đều thuộc thành phố Chí Linh. Loại sét gạch ngói có nguồn gốc sông bao gồm 18 mỏ: Tây Bến Triều, Bến Triều, núi Canh, Đồng Lạc, Cộng Hòa, Thượng Vũ, Thái Tân, Thượng Đạt, Trắc Châu, Việt Hoà, Đồng Niên, Kim Đính, Đại Đồng, Phượng Hoàng, Tứ Xuyên, An Vực, Vĩnh Lập, Tiền Phong. Diện phân bố các lớp sét thường có chiều dài từ 1.000 - 4.000m, chiều rộng từ 100 - 1.500m, bề dày không ổn định từ 4 - 10m. Sét có chất lượng tốt, mềm dẻo, màu xám, màu nâu nhạt, loang lổ sặc sỡ. Hàm lượng ôxít silíc thường đạt 65,9 - 69,8%. Quy mô mỏ trung đến lớn, đáp ứng yêu cầu công nghệ sản xuất gạch ngói. Sét trầm tích có nguồn gốc sông tuổi Holocene muộn. Những mỏ sét được hình thành dưới dạng bồi ven sông, phân bố ở phần ngoài đê. Các lớp sét thường có chiều dài từ 500 - 1.900m, chiều rộng từ 120 - 600m. Trong lớp sét thường có những lớp 45 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) mỏng hoặc thấu kính nhỏ cát pha sét, cát. Tổng trữ lượng gạch ngói có nguồn gốc sông là 25,26 triệu mét khối. Cát đen xây dựng có nhiều nơi nằm trong trầm tích kỷ Đệ tứ thuộc tầng Lệ Chi, hệ tầng Hà Nội, hệ tầng Hải Hưng. Cát có nguồn gốc sông, sông biển, được hình thành từ các bãi bồi sông phần ngoài đê hoặc các dải cát, cồn cát giữa lòng sông. Dọc ven sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Đá Vách, sông Kinh Môn và sông Luộc đã phát hiện các mỏ cát. Hiện đã xác định được 22 mỏ với tổng trữ lượng 79,12 triệu mét khối. Về đặc điểm các mỏ cát đen thường có chiều dài từ 2.900 - 5.000m, bề rộng thay đổi từ 100 - 1.000m, bề dày các lớp cát từ 1,5 - 10m. Bề mặt của bãi bồi thường phủ lớp sét phù sa màu xám, xám nhạt, xám vàng, một số nơi có màu xám tro, có lẫn ít vảy mica óng ánh màu trắng bạc. Ngoài phần diện tích các bãi bồi cát trên địa bàn tỉnh Hải Dương được đề cập trên, còn phần cát ở dưới lòng sông bị ngập nước quanh năm có trữ lượng rất lớn, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hải Dương, việc khai thác cát xây dựng và san lấp lại tập trung hút cát dưới lòng sông ở nhiều nơi nên các tuyến sông (như sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Đá Vách, sông Rạng, sông Hương, sông Kinh Môn và sông Luộc...). Tổng trữ lượng cát đạt 79,12 triệu mét khối. Đá vôi xây dựng có chủ yếu trên địa bàn vùng núi thị xã Kinh Môn nằm trong các hệ tầng Yên Phụ, hệ tầng Lỗ Sơn. Hiện đã phát hiện 4 mỏ đá vôi xây dựng với tổng trữ lượng dự báo 8,5 triệu mét khối gồm: Kim Trà, núi Cốc, Lỗ Sơn, Kính Chủ. Một số mỏ đá vôi có trữ lượng lớn như: Kim Trà có 2,5 triệu mét khối,, Lỗ Sơn có 3 triệu mét khối. Cuội kết thạch anh là nguồn vật liệu xây dựng được tạo nên từ trầm tích lục nguyên hạt thô, thuộc hệ tầng Hòn Gai. Trong vùng đã xác định được mỏ cuội kết thạch anh Bình Giang thuộc thôn Bình Giang, phường Phả Lại, thành phố Chí Linh. Về đặc điểm mỏ, các lớp cuội kết thạch anh nằm ở nhân nếp lõm của hệ tầng Hòn Gai, phân bố thành hai dải: dải thứ nhất từ Bến Tắm đến Bắc Đẩu dài khoảng 10km, theo phương á vĩ tuyến, có đỉnh núi Ngũ Nhạc cao 238m, chiều rộng khoảng 2km. Dải thứ hai từ Mật Sơn đến Phả Lại dài khoảng 7km, rộng khoảng 3,5km, có đỉnh núi Phượng Hoàng cao 227m. Cuội kết có thành phần chủ yếu là cuội thạch anh có bề dày từ vài mét đến vài chục mét, xen kẹp những lớp sạn kết (dày 0,5 - 2m), cát kết thạch anh (dày 1 - 3m), đá phiến sét (dày 2 - 4m). Cuội kết thạch anh rất rắn chắc, màu xám trắng. 46 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Thành phần cuội là thạch anh chiếm 70 - 90%, có độ mài tròn tốt, kích thước 0,2 - 7cm, trung bình 1 - 5cm, có dạng elip hoặc tròn trĩnh, có hình hài đẹp. Trữ lượng khoảng 100 triệu mét khối. Cuội sỏi xây dựng có hai mỏ là Trúc Cương và Làng Sui, phân bố ở phường Cộng Hoà, thành phố Chí Linh. Các mỏ cuội sỏi nằm ở sườn phía nam của núi Phượng Hoàng. Xung quanh khu mỏ là đá cuội kết, sạn kết, cát kết màu xám, xám trắng thuộc hệ tầng Hòn Gai. Những đá gốc nói trên khi bị phong hóa mạnh, được rửa trôi sản phẩm là cuội, sỏi xuống tích tụ ở sườn núi thấp, khe suối. Các mỏ có chiều dài trên 1.000m, chiều rộng 400 - 500m, chiều dày 0,5 - 1,5m. Thành phần gồm cuội thạch anh tương đối tròn cạnh, kích thước cuội 1 - 1,5cm. Chất lượng cuội sỏi rất tốt. Trữ lượng dự báo cả hai mỏ đạt 2 triệu mét khối. Đá cát kết quarzit phân bố trong hệ tầng Yên Phụ, lộ ra ở dãy núi Yên Phụ, núi Ngang, núi Giếng thuộc thị xã Kinh Môn. Mỏ cát kết quarzit đèo Mông nằm cách thị xã Kinh Môn về phía tây - tây bắc khoảng 13km, thuộc xã Lê Ninh, thị xã Kinh Môn. Trữ lượng dự báo có khoảng 4 triệu mét khối. Đây là những nguồn vật liệu xây dựng rất phong phú, dễ khai thác, được sử dụng sớm trong các công trình xây dựng trên vùng đất. + Nguồn nguyên liệu sét chịu lửa, gốm sứ, thủy tinh và công nghiệp khác gồm các loại sét chịu lửa, kaolin, keratophia cát thủy tinh, thạch anh tinh thể, đôlômít, canxít và talc. Sét chịu lửa phân bố rải rác ở vùng ruộng và gò đồi thấp ở Chí Linh, giá trị nhất là mỏ sét chịu lửa Trúc Thôn. Mặt cắt chung khu mỏ được tổng hợp từ dưới lên có ba tầng như sau: tầng đáy gồm cát, sét, có bề dày trên 10m; tầng sản phẩm sét chịu lửa dày 15m; tầng trên cùng là sét, cát, sạn, sỏi, dày 5 - 10m. Trữ lượng cung cấp đạt 8.478 nghìn tấn, thuộc quy mô mỏ lớn và đang được khai thác. Sét gốm sứ có ở nhiều nơi, nhưng hiện nay mới xác định được hai mỏ kaolin và một mỏ keratophia (fenspat). Mỏ kaolin Phao Sơn phân bố ở vùng trũng, được bao bọc bởi các đồi núi thấp và đồng bằng. Phủ trên các lớp kaolin là sét, cát màu xám, xám nâu nhạt. Vùng mỏ có 4 thân quặng kaolin, trong đó có 2 thân quặng đạt giá trị công nghiệp, trữ lượng đạt 51,304 nghìn tấn. Mỏ kaolin Minh Tân có ba vùng khoáng thể: Tử Lạc với diện tích 350m2; Bích Nhôi có chiều dài trên 1.000m, chiều rộng 200 - 300m, bề dày 5 - 10m; Hoàng Thạch có chiều dài 500 - 600m, chiều rộng 50 - 120m. Đặc điểm chung của khu mỏ có thành phần sét chiếm 70 - 75%, thạch anh chiếm 20 - 25%, ngoài ra còn có ôxít sắt. 47 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Mỏ keratophia phân bố phía đông bắc, cách thị trấn Kinh Môn 5,5km. Khoáng thể keratophia thường đi cùng với kaolin ở khu vực Bích Nhôi, Tử Lạc và Hoàng Thạch. Riêng khoáng thể keratophia thạch anh phân bố ở khu đèo Gai được tách riêng thành mỏ độc lập, kéo dài 1.000m theo phương á vĩ tuyến, chiều rộng 40 - 120m. Keratophia cấu tạo khối, đặc, xít, hạt mịn, khi còn tươi rất rắn chắc có màu xanh lục nhạt, trắng phớt hồng, khi phong hóa có màu xám sáng hoặc vàng nhạt. Keratophia thạch anh là loại đá cứng nhưng giòn, dưới dạng bột vân không có độ dẻo, không tan trong nước. Trữ lượng mỏ đạt 5,9 triệu tấn, hiện nay đang được khai thác. Cát thủy tinh có rải rác ở vùng Kinh Môn và Chí Linh, được xác định rõ là mỏ cát thủy tinh Phao Sơn tại phường Phả Lại và phường Cổ Thành, thành phố Chí Linh. Thân quặng cát thường lộ thiên dưới các chân đồi, sườn đồi, gò đồi, có diện tích phân bố trên bề mặt là 300 x 100m hoặc 1.500 x 250m. Cát thạch anh có độ hạt chủ yếu 1mm và lẫn sỏi, sạn thạch anh màu trắng, trắng tuyết. Chất lượng cát rất tốt. Trữ lượng khoáng đạt 453.750m3, quy mô mỏ nhỏ. Đôlômít tập trung ở núi Han (Hàn Mấu), thuộc phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn. Đôlômít xuất lộ ở phần nhân của nếp lõm núi Han, từ độ cao 0 - 200m nằm chỉnh hợp với đá vôi silíc, xen silk tuổi carbon - permi. Tập đá đôlômít kéo dài 2km theo hướng tây bắc - đông nam, cắm dốc 300, bề dày 100 - 180m. Tiềm năng dự báo 20 triệu tấn. Đôlômít ở đây có chất lượng tốt, có thể sử dụng cho nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau như sản xuất chất chịu lửa, luyện kim đen, sản xuất kim loại, chất liệu gắn kết, chất liệu cách nóng, công nghiệp thủy tinh, bột mài, công nghiệp hóa chất, dược liệu,... Trong vùng phát hiện được điểm quặng thạch anh tinh thể đèo Trê, điểm quặng thuộc xã Bắc An, thành phố Chí Linh được phát hiện năm 1996. Thạch anh màu xám trắng, màu ám khói, đặc xịt, rất rắn chắc. Trong những mạch thạch anh có nhiều khoảng trống hang hốc khe nứt có bề rộng từ vài centimét đến vài chục centimét. Trong hang hốc này, có các tinh thể thạch anh đơn lẻ hoặc dạng tinh đám, các tinh thể thạch anh hình chóp dạng lục phương có chiều cao 0,2 - 2cm, cá biệt tới 3 - 4cm, tiết diện ngang vài ly đến 0,5cm, dạng bọt khí, rạn nứt. Canxít được tìm thấy ở Lỗ Sơn, phường Phú Thứ, thị xã Kinh Môn. Tại cửa hang động đá vôi Lỗ Sơn có mạch canxít chiều dài 7m, chiều rộng trung bình 0,7m, lấp đầy khe nứt của đá vôi. Canxít có dạng tinh thể lập phương 48 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người tương đối hoàn chỉnh có kích thước từ 1 - 5cm, giòn, dễ tách, màu ám khói hơi nâu nhạt. Quặng talc được phát hiện năm 1996, tập trung ở phường An Phụ, thị xã Kinh Môn. Talc được phân bố trong đá phiến sét, cát kết thuộc hệ tầng An Phụ (D7yv). Thân quặng talc dạng mạch nhỏ hoặc bám ở bề mặt lớp đá phiến sét và nằm trùng với đứt gãy phương á vĩ tuyến. Talc dạng bột, rất mịn, sờ mát tay, màu xám, xám vàng, xám trắng. Nguyên liệu sản xuất phân bón xuất hiện chủ yếu ở Chí Linh và Kinh Môn. Quặng phốtphorít ở hang Đèn và núi Voi (khu dân cư Lỗ Sơn, phường Phú Thứ, thị xã Kinh Môn), hàm lượng và chất lượng thấp, quy mô nhỏ. Than bùn ở Đại Bộ, phường Hoàng Tân, thành phố Chí Linh và phường Hiệp An, thị xã Kinh Môn với quy mô nhỏ. - Khoáng sản nước nóng đã phát hiện 5 mỏ nước nóng khoáng là: Thạch Khôi, Tứ Minh, Bệnh viện Đa khoa Hải Dương và Nghĩa Mỹ, phường Ái Quốc (thành phố Hải Dương), Đức Chính (huyện Cẩm Giàng) và Nghĩa Mỹ (xã Ái Quốc, thành phố Hải Dương), có lưu lượng từ 6 - 23l/s, tổng độ khoáng hoá từ 0,32 - 1,3g/l, nhiệt độ từ 31 - 41oC. Đây là nguồn nước khoáng thiên nhiên quý hiếm được hình thành và lưu giữ trong lòng đất. Cùng với hệ thống nước nổi trên các sông, hồ, ao, lòng đất Hải Dương còn chứa hệ thống nước ngầm với trữ lượng lớn. Trên địa bàn đã xác định có 5 tầng chứa nước ngầm dưới lòng đất gồm: + Tầng chứa nước trong trầm tích Holocene (qh): Tầng chứa nước này lộ ra ngay trên bề mặt, diện phân bố rộng, chiều dày từ 2,5 - 17m; tổng trữ lượng đạt 1.040.753m3/ngày. Các tầng chứa nước này phân bố ở ba khu vực tại phía bắc sông Kinh Thầy, hầu hết ở vùng đồng bằng Chí Linh. Nguồn nước giàu, siêu nhạt. Phía nam sông Kinh Thầy qua thành phố Hải Dương và các huyện Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, nguồn nước thường lợ và mặn. Phía nam huyện Ninh Giang tới Hải Phòng, có nguồn nước nhạt, tổng trữ lượng tiềm năng tầng chứa nước ngầm này đạt 86.288m3/ngày. + Tầng chứa nước có áp trong trầm tích Neogen (n): Tầng chứa nước này phân bố ở dưới sâu từ 220 - 380m, hiện nay đã được xác định ở huyện Nam Sách, phía nam thành phố Hải Dương và phía đông thành phố Chí Linh là tầng chứa nước nhạt. Nguồn nước phong phú, trữ lượng tiềm năng đạt 920.338m3/ngày. Đây là tầng chứa nước ngầm lớn đã và đang cung cấp cho các khu công nghiệp. 49 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) + Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Trias (t): Tầng chứa nước này phân bố chủ yếu ở các dải núi giáp quốc lộ 18 vùng Chí Linh. Nguồn nước được lưu thông, tích tụ trong các khe nứt của đá gốc. Tiềm năng dự báo nguồn nước dưới đất đạt 52.412m3/ngày. + Tầng chứa nước khe nứt Kanst trong trầm tích Paleozoi (Ps): Tầng chứa nước này được phát hiện trong 2 lỗ khoan nước nhạt ở thị xã Kinh Môn, 5 lỗ khoan nước lợ, mặn ở huyện Kim Thành. Trữ lượng dự báo của tầng nước ngầm này là 11.850m3/ngày. Trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, ao tự nhiên và nhân tạo, là nơi trữ nước và vận chuyển nước trên bề mặt, góp phần nuôi dưỡng động, thực vật và điều hòa khí hậu trong vùng. Trên một diện tích không lớn, Hải Dương là vùng đất có địa hình đa dạng với hệ thống đồi núi sót của vòng cung đông bắc giàu tài nguyên khoáng sản, hệ động, thực vật phong phú, với vùng đồng bằng rộng rãi, bằng phẳng được bồi tụ bởi các dòng sông có độ màu mỡ cao. Đây là những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho con người cư trú, sinh sống qua các thời kỳ lịch sử. Tài nguyên thiên nhiên ở đây khá phong phú với địa hình đa dạng gồm núi, rừng, đồng bằng rộng lớn; các loại động, thực vật đa dạng với nhiều giống loài sinh sống. Hệ thống sông ngòi, đầm hồ tự nhiên, nguồn nước dồi dào, khí hậu, thủy văn thuận lợi. Lòng đất chứa nhiều khoáng sản quý, phong phú nhiều loại hình là những điều kiện tự nhiên chi phối ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sinh hoạt kinh tế, văn hóa của con người trong lịch sử, cả về mặt tích cực và tiêu cực. Có thể thấy, điều kiện tự nhiên là cơ sở tạo nên kinh tế, văn hóa riêng của Hải Dương, hình thành nên hồn cốt lịch sử, văn hóa của một Xứ Đông xưa và nay, vừa mang đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ vừa mang dấu ấn riêng của một vùng văn hóa gắn với môi trường sông nước. Bản sắc Xứ Đông - Hải Dương đã được hình thành và trường tồn cùng với dòng thời gian. Qua nhiều biến đổi về chính trị, văn hóa của các triều đại phong kiến, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của Xứ Đông đều ở trên đất Hải Dương ngày nay. Những điều kiện tự nhiên khẳng định Hải Dương là vùng đất có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, giàu đẹp, môi trường thuận lợi được con người chọn và tổ chức sinh sống sớm và lâu dài trong lịch sử cho đến ngày nay. Những đặc điểm về môi trường sinh thái quy định nếp cư trú của con người và các sinh hoạt văn hóa của Xứ Đông - Hải Dương vừa 50 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người gắn với cái chung của cư dân Việt cổ đồng bằng Bắc Bộ, lại vừa có nét riêng của vùng đất phía đông của trung tâm Thăng Long - Hà Nội. II- ĐỊA DANH HẢI DƯƠNG ĐẾN NĂM 905 1. Vùng đất Hải Dương trước năm 905 Trong lịch sử vùng đất Hải Dương đã định hình gắn liền với vùng đất đồng bằng Bắc Bộ, là hạt nhân lịch sử và văn hóa trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với địa hình đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, hệ động, thực vật phong phú đáp ứng nhu cầu cư trú, sinh sống của con người, ngay từ buổi đầu thời tiền sử con người đã chọn vùng đất này làm nơi tụ cư hình thành nên những nhóm cư dân đầu tiên trên vùng đất Hải Dương. Theo tư liệu khảo cổ học cho biết, với những núi không cao, nhiều hang động tạo thuận lợi cho việc tạo dựng nơi cư trú trên vùng đất Nhẫm Dương (phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn), đã để lại dấu vết của con người vào thời kỳ đồ đá. Đây là những nhóm người thuộc nền văn hóa Hòa Bình tỏa xuống từng bước chiếm lĩnh, khai phá vùng đồng bằng. Họ sinh sống chủ yếu bằng kinh tế khai thác, săn bắn và hái lượm làm phương kế sinh tồn và phát triển. Những nhóm người đầu tiên ở Nhẫm Dương đã đặt nền móng góp phần hình thành nhà nước tộc người buổi ban đầu. Theo lịch sử ghi lại, thời kỳ dựng nước buổi đầu của người Việt là Nhà nước Văn Lang. Nhà nước Văn Lang ban đầu là sự tập hợp của những cộng đồng sinh sống liên quan hình thành trên địa bàn nước ta với 15 bộ1 và có cương vực được cho biết: “Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển 1. Hiện nay, ghi chép từ các nguồn sử liệu về thời Hùng Vương có 15 bộ hay 14 bộ cùng tên gọi một số bộ chưa thống nhất, tham khảo thêm: - Tác giả khuyết danh đời Trần thế kỷ XIV: Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb. Thuận Hóa - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2005, tr.17. - Nguyễn Trãi: Toàn tập, Sđd, tr.212. - Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.I, tr.133. - Trần Thế Pháp: Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh, Kiều Phú dịch), Nxb. Văn học, Hà Nội, 2001. 51 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Đông Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn tức nước Chiêm Thành, nay là tỉnh Quảng Nam)”1. Bảng 1.2: Danh sách các bộ (đơn vị hành chính) theo các nguồn sử liệu STT Việt sử lược Dư địa chí Đại Việt sử ký toàn thư Lĩnh Nam chích quái 1 Giao Chỉ Giảo Chỉ Chu Diên Giao Chỉ 2 Việt Thường Thị Chu Diên Vũ Ninh Chu Diên 3 Vũ Ninh Vũ Ninh Phúc Lộc Vũ Ninh 4 Quận Ninh Phúc Lộc Việt Thường Phúc Lộc 5 Gia Ninh Việt Thường Ninh Hải Ninh Hải 6 Ninh Hải Ninh Hải Dương Tuyền Dương Hải 7 Lục Hải Dương Tuyền Lục Hải Dương Tuyền 8 Dương Tuyền Lục Hải Vũ Định Lục Hải 9 Tân Xương Vũ Định Hoài Hoan Hoài Hoan 10 Bình Văn Hoài Hoan Cửu Chân Cửu Chân 11 Văn Lang Cửu Chân Bình Văn Nhật Nam 12 Cửu Chân Bình Văn Tân Hưng Chân Định 13 Nhật Nam Tân Hưng Cửu Đức Văn Lang 14 Hoài Hoan Cửu Đức Chu Diên Quế Lâm 15 Cửu Đức ? ? Tượng Quận Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn sử liệu của nhóm tác giả. Trong 15 bộ hình thành nên Nhà nước Văn Lang được biết: “Xem tên 15 bộ như trên, chúng ta thấy rằng trong quan niệm của người lập danh sách ấy thì đất 15 bộ không thể ở ngoài phạm vi của miền Bắc nước Việt Nam ngày nay”2. Những ghi chép trong sử liệu cho thấy về cương vực buổi ban đầu chưa định hình không gian lãnh thổ rõ ràng. Trên địa bàn 15 bộ này lại chưa xác định rõ cương vực địa giới các bộ riêng rẽ từng vùng đất cư trú. Một vài sử liệu ghi chép cho biết: “Bộ lạc Văn Lang là nơi vua đóng đô”3 mà ngày nay các di tích khảo cổ tìm được thuộc vùng Phú Thọ. Truyền thuyết Thánh Gióng đánh 1, 3. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.133. 2. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2005, tr.19. 52 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người giặc Ân thời Hùng Vương nói về địa danh hương Phù Đổng, thuộc bộ Vũ Ninh. Di tích và thần tích hiện còn đền thờ Phù Đổng Thiên Vương trên vùng đất cũ (nay thuộc vùng Gia Lâm - Hà Nội), có thể thấy đây là địa bàn bộ Vũ Ninh xưa. Bộ Việt Thường Thị xưa khi nghiên cứu các di tích vật chất còn thấy cho biết cương vực bộ này có khả năng “chiếm cứ địa bàn Bắc Trung Bộ, mà trung tâm là đất Hà Tĩnh ngày nay”1. Cương vực vùng đất Hải Dương hiện nay trong buổi đầu dựng nước thuộc bộ nào, cho đến nay chưa có tài liệu ghi chép chính xác. Sau này, sách Dư địa chí và được chỉnh sửa thời sau đã suy luận: “Hải Dương tức bộ Dương Tuyền ngày xưa, đông và tây giáp Kinh Bắc và Yên Quảng, bắc và nam giáp Thái Nguyên và Sơn Nam. Ấy là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía đông”2. Kết hợp những tư liệu khảo cổ tìm được trên địa bàn có ý kiến cho rằng, Hải Dương vào buổi đầu dựng nước thuộc bộ Dương Tuyền: “Tỉnh Hải Dương hiện nay thuộc địa giới các đơn vị hành chính như sau: Thời Hùng Vương thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ III trước Công nguyên thuộc bộ Dương Tuyền”3. Cương vực bộ Dương Tuyền gồm những vùng nào, lịch sử ghi chép về thời kỳ này chưa rõ. Khảo sát thần tích được giữ lại trong những ngôi làng thờ các vị thần làm thành hoàng thời kỳ Nhà nước Văn Lang liên quan đến các thời Vua Hùng có thể thấy một số tư liệu lịch sử liên quan đến thời kỳ này. Thần tích làng Phù Tinh, xã Thanh Quang, huyện Thanh Hà cho biết, đình thờ thần làm thành hoàng có tên húy là Trâu, người có công giúp Vua Hùng đời thứ 6 đánh giặc Ân xâm lược, giữ yên bờ cõi, đem lại thái bình cho Nhà nước Văn Lang. Thần tích kể lại: “Ngài sinh ngày 16 tháng 10 năm Giáp Tý. Lúc sinh ra ngài diện mạo khác thường, hình dong quý cách, thân thể đa mao nên có quý hiệu là Trâu. Khi ngài lớn lên văn võ toàn tài, được phong làm Đại vương cùng với Đức Phù Đổng Thiên Vương bình giặc Ân,... Ngài đánh giặc Ân lấy được 17 đồn, được phong là Lạc tướng và được quyền giữ Dương Tuyền bộ”4. Đây là tư liệu huyền sử, được ghi lại sau này nhưng 1, 2. Bùi Thiết: “Việt Thường Thị”, in trong Những phát hiện mới về nhà nước cổ đại sớm nhất trong lịch sử Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr.11. 3. Nguyễn Trãi: Toàn tập, Sđd, tr.218. 4. Thần tích đình làng Phù Tinh, xã Trường Thành, huyện Thanh Hà, Lý lịch di tích đình làng Phù Tinh, xã Trường Thành, huyện Thanh Hà (nay là xã Thanh Quang, huyện Thanh Hà). 53 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) những ghi chép manh nha cho thấy vùng đất này liên quan đến bộ Dương Tuyền và người được thờ xuất thân là Lạc tướng thời Hùng Vương. Từ tư liệu này cho biết có bộ lạc Trâu trong buổi đầu dựng nước trên vùng đất Hải Dương, bên cạnh bộ lạc Dâu không xa cư trú trên vùng đất Thuận Thành (Bắc Ninh) ngày nay. Lịch sử sau này chỉ ghi chép tên 15 bộ buổi đầu dựng nước, đây có thể là những bộ hạt nhân, trung tâm giữ vai trò quan trọng hình thành nên diện mạo lãnh thổ ban đầu, ngoài ra còn một số bộ khác mà tư liệu thần tích, thần phả sau này phản ánh lại. Những kết quả khảo cổ học về di tích, di vật giai đoạn này cho thấy những trống đồng, biểu tượng của các thủ lĩnh cộng đồng được tìm thấy tại thôn Hữu Chung, xã Hà Thành, huyện Tứ Kỳ; làng Gọp, xã Tiền Tiến1, huyện Thanh Hà; Hoàng Lại, xã An Lương, huyện Thanh Hà hay những thạp đồng, rìu đồng, thố, chậu, gương, bát bằng chất liệu đồng... thể hiện nền kinh tế, văn hóa phát triển trên nhiều lĩnh vực từ thời dựng nước trên vùng đất Hải Dương khá sôi động với nhiều nhóm người cư trú, sinh sống tạo nên sức sống nền tảng ban đầu. Đây là thời kỳ hình thành những trung tâm cư trú tập trung như di tích Thành Dền, thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn, huyện Tứ Kỳ (nay là thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn, thành phố Hải Dương) là một trung tâm có mặt sớm trong buổi đầu dựng nước. Khảo sát cho thấy nơi đây trong lòng đất còn gìn giữ những dấu tích, di vật tiêu biểu như các mảnh gốm thời văn hóa Đông Sơn của người Việt. Với địa thế đất cao thoáng nằm ven sông giữa vùng đồng bằng giao thông thuận lợi, kinh tế phát triển, vị trí Thành Dền có thể là vùng đất hạt nhân của bộ Dương Tuyền, một hạt nhân kinh tế - văn hóa của người Việt trong lịch sử mà sau này nhà Hán còn tiếp tục kế thừa sử dụng vị trí này xây dựng thành trị sở cai trị người dân mất nước. Tiếp nối Nhà nước Văn Lang buổi đầu với truyền thuyết 18 đời Vua Hùng là thời kỳ Nhà nước Âu Lạc. Theo ghi chép cho biết: “Cuối thời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường xưng hiệu là An Dương Vương”2. Thục Phán là con vua Thục Chế hùng cứ nước Nam Cương hợp nhất nước Văn Lang của Hùng Vương mà dựng nước Âu Lạc. Như ghi chép lãnh thổ dân tộc thời kỳ này là sự hợp nhất 1. Tiền Tiến nay thuộc thành phố Hải Dương. 2. Tác giả khuyết danh đời Trần thế kỷ XIV: Việt sử lược, Sđd, tr.18. 54 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người cương vực lãnh thổ hai nước: nước Nam Cương của Thục Phán và nước Văn Lang của Vua Hùng. Cương vực lãnh thổ thời kỳ này về cơ bản “phạm vi của nước Âu Lạc là bao gồm cả miền Bắc nước ta và một dải miền Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay”1. Ngoài cương vực lãnh thổ, thời kỳ Âu Lạc là sự hợp nhất giữa hai tộc người Âu Việt và Lạc Việt, về cương vực địa giới hành chính có đến 17 bộ. Thời kỳ Âu Lạc, về cương vực, những ghi chép hầu như không đề cập vùng đất Hải Dương. Nhưng có thể thấy về không gian giới hạn cương vực vùng đất là sự kế thừa theo cương vực thời kỳ Nhà nước Văn Lang nhưng có sự phát triển cao hơn về kinh tế, văn hóa. Năm 179 Tr.CN, Triệu Đà đưa quân xâm lược, Nhà nước Âu Lạc bị tiêu diệt, phần đất Nhà nước Âu Lạc bị chia thành hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Quận Giao Chỉ thời kỳ này cương vực chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Dưới đơn vị hành chính thiết lập đơn vị cấp huyện tương đương với vùng đất bộ lạc xưa và giao cho Lạc tướng quản lý theo hình thức thế tập “cha truyền con nối”. Vùng đất Hải Dương dưới đơn vị hành chính của nhà Triệu cho thấy đây là đơn vị hành chính cấp huyện. Tên gọi huyện của vùng đất này cho đến nay chưa xác định rõ tên gọi. Năm 111 Tr.CN, nhà Hán diệt nhà Triệu, chia nước Nam Việt thành 9 đơn vị hành chính, trong đó địa bàn cương vực nước Âu Lạc cũ chia làm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam với 22 đơn vị hành chính huyện. Cương vực các quận hầu như ít thay đổi, với quận Giao Chỉ là lớn nhất có đến 12 huyện, trong danh sách có huyện An Định. Theo nghiên cứu địa danh cổ cho biết, “huyện An Định có thể là tương đương với miền Hải Dương và Hưng Yên, ở giữa sông Thái Bình và sông Hồng”2. Như vậy, cương vực huyện An Định khá rộng mà Hải Dương ngày nay chỉ là một phần trong huyện xưa. Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng với thời gian độc lập ngắn ngủi ba năm, nước ta lại rơi vào sự đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc (năm 43 đến năm 554). Nhà Hán vẫn giữ đơn vị hành chính với 3 quận chia làm 22 huyện, Hải Dương thời kỳ này bao gồm phần đất hai huyện An Định và Bắc Đới: “huyện An Định là phần đất phía nam thành phố Hải Dương hiện nay gồm các huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, một phần huyện Phụ Dực, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình và huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. 1, 2. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr.28, 47. 55 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Trung tâm là vùng ngã ba sông Thái Bình, sông Luộc ngày nay. Huyện Bắc Đới thuộc đất thành phố Chí Linh, huyện Nam Sách và thị xã Kinh Môn ngày nay, trung tâm là vùng Phả Lại - Chí Linh”1. Năm 544, Lý Bí lãnh đạo khởi nghĩa thắng lợi, lập nên Nhà nước Vạn Xuân, vùng đất của huyện An Định xưa được đổi tên là huyện Chu Diên: “Huyện Chu Diên bấy giờ ở phía dưới sông Lục Đầu, vào khoảng lưu vực sông Thái Bình. Tân Đường thư (quyển 31) chép rằng, cửa sông A Lao ở châu Chu Diên (sửa là huyện Chu Diên). Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư chép cửa sông A Lao thuộc huyện Đa Cẩm (nay là Cẩm Giàng) châu Thượng Hồng tức là đất tỉnh Hải Dương. Đó lại là một chứng cứ cho rằng Chu Diên bấy giờ ở vào miền Hải Dương ngày nay”2. Tên gọi huyện Chu Diên được sử dụng đến hết triều đại Tùy - Đường. Tổng quan về tên gọi địa danh Hải Dương trước năm 905, theo Phan Huy Chú cho biết, Hải Dương “đời Tần thuộc quận Nam Hải, đời Hán thuộc quận Giao Chỉ, nhà Đường đặt làm trấn Hải Môn, sau gọi là châu Hồng. Ba triều Đinh - Lê - Lý vẫn theo như thế”. Dù tên gọi thay đổi theo thời gian, nhưng diên cách vùng đất vẫn cơ bản ổn định diện mạo như sách Đại Nam nhất thống chí cho biết vùng đất Hải Dương: “Đất lệch về một bên xứ Bắc Kỳ, dựa núi bọc biển, hình thế vững vàng; núi cao có Yên Tử, Đông Triều, sông lớn có Hàm Giang, Lục Đầu. Mặt tây nam nội rộng đất bằng, đường sông như mắc cửi, mặt đông bắc núi cao biển rộng, thế rất hiểm trở về mặt phòng bị quan hệ rất nhiều. Đến như Nam Triệu, Đồ Sơn là khu sát biển, phía đông liền với Quảng Yên, khống chế lẫn nhau, thực là đất quan yếu ở cõi bờ biển”3. Như vậy, trong buổi đầu lịch sử, theo nhiều nguồn sử liệu vùng đất Hải Dương trước năm 905 có các tên gọi theo đơn vị hành chính chung như sau: - Bộ Dương Tuyền thuộc Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc. - Thời Hán (206 Tr.CN - 220), thời Ngô (220 - 280), Tấn (265 - 420), Tống (420 - 479), Tề (479 - 502), Lương (502 - 557): huyện An Định và huyện Bắc Đới thuộc quận Giao Chỉ. 1. Đỗ Văn Ninh (Chủ biên): Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007, tr.256-257. 2. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr.87. 3. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.IV, tr.367. 56 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người - Nhà nước Vạn Xuân: huyện Chu Diên. - Thời Tùy (581 - 619): huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. - Thời Đường (619 - 907): huyện Chu Diên thuộc An Nam đô hộ phủ. Những thay đổi địa danh của vùng đất Hải Dương trước năm 905 cho thấy, đây là vùng đất cổ, cốt lõi của người Việt từ buổi đầu dựng nước và ổn định trong địa lý hành chính chung của đất nước. 2. Trị sở Hải Dương trước năm 905 Mặc dù có những thay đổi về không gian các vùng liên quan hay thay đổi địa danh trong lịch sử, nhưng Hải Dương luôn được coi là vùng đất trù phú, giàu sản vật, giữ vai trò quan trọng ở vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ. Vùng đất này được con người khai phá, định cư sớm trong lịch sử, nơi tìm thấy trống đồng được coi là biểu tượng của dân tộc trong buổi đầu dựng nước. Trống đồng còn được coi là biểu trưng quyền uy của người đứng đầu bộ lạc, người đứng đầu cộng đồng. Sự có mặt của biểu tượng này là tín hiệu cho biết về những trung tâm hành chính đầu tiên trong lịch sử. Cho đến nay, tư liệu về trị sở hành chính vùng đất Hải Dương chưa tìm được qua sử liệu, nhưng tài liệu khảo cổ học cho biết dấu vết để lại tại Thành Dền, thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn, thành phố Hải Dương có khả năng là trung tâm hành chính đầu tiên trên địa bàn Hải Dương. Đây là vùng đất cao thoáng, nằm không xa các dòng sông, giao thông đường thủy và đường bộ thuận lợi, hội tụ đầy đủ các yếu tố địa - kinh tế, nơi được lựa chọn đầu tiên khi con người chinh phục đồng bằng và sau này phát triển lên thành hạt nhân kinh tế của bộ Dương Tuyền trong buổi đầu lịch sử thiên niên kỷ I. Từ vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế buổi ban đầu, những thời kỳ tiếp theo, vùng đất này được sử dụng thành trung tâm hành chính của các triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ. Mặc dù bị hệ thống kênh đào Bắc Hưng Hải hiện tại làm ảnh hưởng, nhưng khảo sát tại đây cho thấy dấu vết tòa thành được đắp bằng đất còn lại khá cao, thể hiện qua hệ thống gò đống trên vùng đất. Nối các dấu vết hệ thống gò đống cho thấy, tường thành đắp dày, khá thẳng các góc bắt quy chỉnh, xung quanh là hệ thống sông cổ chảy uốn quanh với công năng là hệ thống hào tự nhiên bảo vệ tòa thành. Vùng trung tâm trong lòng thành cao, khá bằng phẳng, để lại dấu vết cư trú với tầng văn hóa dày ẩn chứa nhiều hiện vật như: gốm, đầu ngói ống, gạch các loại. Đồ gốm tìm 57 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) được cho thấy sự xuất hiện của gốm thời Đông Sơn, gốm hoa văn in ô vuông, quả trám vạch chéo kiểu Hán. Những vật liệu xây dựng như gạch, ngói, đầu ngói ống được trang trí chữ Hán tìm thấy tại đây thuộc nhiều thời kỳ khác nhau có niên đại trước thế kỷ X nằm kế tiếp nhau. Cách không xa Thành Dền là các di tích mộ cổ Đống Mắm, Đống Cổ Trình, Đống Nạc,... qua khai quật đã cho thấy nhiều hiện vật có niên đại sớm, dấu vết thời kỳ đầu con người sinh sống tập trung ở đây. Có những khu mộ riêng, hoặc nhiều mộ chôn tập trung với những đồ vật tùy táng phong phú, thuộc nhiều thời đại khác nhau đã cho thấy địa bàn cư trú khá đông đúc xung quanh tòa thành này. Dấu vết trong và ngoài thành cùng những di tích, di vật liên quan tìm được đã góp phần khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Thành Dền trong 10 thế kỷ đầu. III- CON NGƯỜI VÀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI 1. Con người Theo tài liệu điều tra, dân số của tỉnh Hải Dương năm 2021 là 1.916.774 người (chiếm khoảng 2% dân số cả nước và 8,7% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, đứng thứ 5/11 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và 11/63 tỉnh, thành cả nước), mật độ dân số trung bình là 1.150 người/km2. Dân số thành thị là 617.274 người (chiếm 32,2%), dân số nông thôn là 1.299.726 người (chiếm 67,8%)1. Thành phần dân cư chủ yếu là người Kinh, có mặt trên khắp địa bàn từ thành thị đến nông thôn. Đây là lực lượng chủ lực xây dựng quê hương, đất nước từ trong lịch sử cho đến ngày nay. Ngoài ra, do những yếu tố lịch sử chi phối, trên địa bàn còn có người Hoa hay một số dân tộc thiểu số như Tày, Cao Lan, Sán Dìu, Khmer trên các vùng núi Chí Linh, Kinh Môn với phong tục tập quán riêng, hợp thành nguồn nhân lực đông đảo, năng động, là động lực cho sự phát triển của vùng đất Hải Dương hôm nay và trong tương lai. Từ cội nguồn lịch sử với địa hình đa dạng, khí hậu thuận lợi, tài nguyên phong phú, hệ động, thực vật nhiệt đới đa dạng, ngay từ buổi đầu lịch sử, vùng đất Hải Dương đã được con người lựa chọn sinh sống, tụ cư. Việc phát hiện sọ người cổ đã chớm hóa thạch tại hang Thánh Hóa cùng những răng người cổ hóa thạch tìm thấy tại Nhẫm Dương (phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn 1. Số liệu theo Wikipedia.Hải Dương 2021. 58 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người hiện nay) cho thấy trên địa bàn Hải Dương cách ngày nay 50.000 - 30.000 năm đã có người sinh sống1. Sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên là điều kiện tiên quyết duy trì cuộc sống và con người đã chọn vùng đất này làm nơi sinh sống lập nghiệp, phát triển lâu dài. Đến thời đại kim khí, khi con người chiếm lĩnh, khai phá vùng đồng bằng, vùng đất Hải Dương là nơi sớm có mặt và hình thành những cộng đồng người sinh sống trên các khu đất cao thoáng, phân bố khá nhiều nơi trên địa bàn tỉnh mà dấu vết để lại qua các ngôi mộ thuyền tìm được tại Kiệt Thượng (thành phố Chí Linh), Ngòi Hang, Tử Lạc, An Lưu, Kính Chủ (thị xã Kinh Môn), La Đôi (huyện Nam Sách), Thượng Vũ (huyện Kim Thành), Đông Quan (huyện Gia Lộc) cùng các vùng xung quanh không gian văn hóa Hải Dương xưa như: La Vũ, Trại Sơn (huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng); Phương Nam (thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh). Đặc biệt, trên vùng đất Hải Dương đã hình thành tuyến quần cư của con người thời đại kim khí theo dòng chảy sông Kinh Thầy xuôi về Hải Phòng rồi ra biển. Dựa vào hiện vật tùy táng thu được trong các mộ đã cho thấy, nền kinh tế thời kỳ này khá phát triển, những chủ nhân của mộ Kiệt Thượng có hiện vật khá phong phú, gồm đồ đồng, đồ gốm; bên cạnh đó còn thấy xương lợn, gà - những con vật được nuôi ở thời kỳ này. Hay mộ La Đôi còn chôn 26 hiện vật tùy táng với những đồ đồng, gốm, đồ tre, chiếu cói. Theo nghiên cứu nhân chủng, các sọ cổ tìm thấy tại Kiệt Thượng cho biết: “Cả 2 sọ cổ này gần với người Việt và cư dân thuộc văn hóa Đông Sơn (nhóm loại hình Indonesien)”2. Khi nghiên cứu sọ người cổ phát hiện tại La Đôi (huyện Nam Sách) cho thấy: “Các kích thước trung bình của răng hàm người cổ La Đôi tuy đều nằm trong phạm trù của răng hàm người Bắc Việt Nam hiện nay, nhưng nếu so với kích thước trung bình thì vượt người Việt khá xa”3. Các tài liệu này cho thấy, những chủ nhân sinh sống đầu tiên chiếm lĩnh, khai phá vùng đất 1. Xem Nguyễn Lân Cường: Nhân học hình thể, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2017, tr.260. 2. Nguyễn Lân Cường: “Về những hóa thạch quý thời Pleistocene của Nhẫm Dương và di cốt người thời kim khí tìm thấy trong mộ thuyền ở Kiệt Thượng (Hải Dương)”, in trong Kỷ yếu Khảo cổ học Hải Dương thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Hải Dương, 2010, tr.25-50. 3. Nguyễn Duy: “Nghiên cứu về sọ cổ La Đôi (xã Hợp Tiến, huyện Nam Sách, Hải Dương)”, in trong Kỷ yếu Khảo cổ học Hải Dương thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Sđd, tr.171-177. 59 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Hải Dương là những người Việt cổ. Người Việt vào thời kỳ kim khí đã tụ cư ở đây khá đông đúc, hình thành những xóm làng quần cư đầu tiên với nền kinh tế nông nghiệp và các hoạt động thủ công như đúc đồng, làm gốm, dệt cói khá phát triển đáp ứng nhu cầu cư dân. Những đồ tùy táng trong các mộ cho thấy xã hội đã bước đầu có sự phân chia thành các nhóm giàu, nghèo. Có những mộ chôn đồ tùy táng với nhiều loại hình, chất liệu khác nhau, có mộ đồ tùy táng lại đơn giản, số lượng ít đã phản ánh sự phân hóa xã hội buổi đầu. Trong đời sống tinh thần đã xuất hiện các tục như thờ cúng hiện tượng tự nhiên, tục mai táng, tục nhuộm răng đen,... Theo thời gian, dân cư sinh sống ở vùng đất Hải Dương có sự tăng trưởng rõ rệt. Những hệ thống mộ thuyền, mộ mành xuất hiện ở nhiều địa phương, phân bố rộng khắp trên nhiều vùng cho biết số dân ở đây tăng lên rõ rệt và có những vùng đất dành riêng để chôn cất người chết. Sự có mặt và phát triển liên tục của người Việt từ thời đại đồ đá đến các thời kỳ khác trong lịch sử là những khẳng định về chủ thể của vùng đất là người Việt cổ. Tài liệu nghiên cứu cho biết, những dòng người Việt cổ ở Hải Dương có quá trình phát triển liên tục từ văn hóa Hòa Bình đến văn hóa Hạ Long, Đông Sơn,... lan tỏa từ các vùng núi xuống thấp dần theo địa hình vùng núi Chí Linh, Kinh Môn tiến tới chinh phục, khai phá đồng bằng. Họ theo các dòng sông chọn nơi đất cao thoáng để tụ cư, lập làng xóm, làm nên những tổ chức xã hội quần cư ban đầu, hình thành nên những bộ lạc làm nền tảng cơ bản cho cơ cấu tổ chức xã hội các giai đoạn sau trong lịch sử. Trước năm 905, ngoài cư dân người Việt là chủ nhân thì qua các giai đoạn lịch sử, có sự gia nhập của dòng người Hoa, góp phần gia tăng dân số cơ học ở vùng đất Hải Dương. Người Hoa đã có mặt ngay từ những năm đầu Công nguyên khi xâm lược và đặt nước ta thành quận, huyện của các triều đại phong kiến Trung Hoa và sau này được bổ sung qua các đợt di cư xuống do các biến động chính trị - xã hội tại Trung Hoa trong các thời kỳ khác nhau. Người Hoa di cư có mặt tại Hải Dương xuất thân từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Những người Hoa đầu tiên là hệ thống quan lại, gia nhân, họ tộc đến làm quan quản lý xã hội các cấp, với chức năng cùng nhiệm vụ khác nhau theo sự phân bổ của triều đình trung ương. Họ thuộc tầng lớp trên, quan lại là thân tộc hoàng tộc, người có học thức được bổ nhiệm tiến cử. Các tướng lĩnh, quân sĩ với nhiệm vụ trấn trị, giữ gìn trị an, trấn áp người dân bản địa phản kháng. Tiếp đến là tầng lớp thương nhân họ sang mua bán sản phẩm phương Nam, 60 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người giao thương về chính quốc hay các nước trong khu vực, thợ thủ công sang vùng đất mới tìm kiếm cơ hội, binh lính, và sau cùng là những tội đồ bị đày đến phương Nam, gồm những quan lại bị biếm chức, binh lính phạm tội. Sự có mặt của người Hoa tập trung chủ yếu tại các vùng trị sở của quan cai trị, hay họ thành lập trang trại, lập làng xóm tại những khu vực thuận lợi buôn bán hay chiếm cứ những vùng đất đai màu mỡ để sản xuất, trồng trọt hay cư trú xen lẫn cùng người Việt trên mọi vùng đất. Tại nơi cư trú, sinh sống mới, họ mang theo văn hóa Trung Hoa hay những tiến bộ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công sang làm ăn, phát triển. Sự có mặt của họ làm gia tăng dân số và tăng sức phát triển sản xuất. Những yếu tố văn hóa, tinh thần, kỹ thuật sản xuất tiến bộ của người Hoa được người Việt tiếp biến, hội nhập với văn hóa bản địa tạo nên bản sắc văn hóa riêng. Do hội nhập đời sống Việt, văn hóa Việt, nên người Hoa cũng dần được Việt hóa, hòa đồng với cộng đồng người Việt. Theo thời gian, những thế hệ sau dần trở thành người Việt. Tư liệu về hệ thống mộ được xây dựng theo kiểu mộ Hán được tìm thấy có mặt trên địa bàn các huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, Cẩm Giàng, Bình Giang, thị xã Kinh Môn cho thấy có nhiều nhóm gồm nhiều mộ tập trung thành cụm với mật độ khá cao liên quan đến vùng đất người Hoa sinh sống tập trung. Các ngôi mộ nằm dàn trải trên mọi địa bàn còn cho thấy sự có mặt khá rộng khắp của người Hoa trên địa bàn Hải Dương xưa sống xen kẽ hòa cùng người Việt. Những dấu vết về mộ táng chứng tỏ người Hoa khi sinh sống trên địa bàn Hải Dương có hai phương thức: thành lập những nơi cư trú riêng, lập làng, tổ chức sản xuất và sống hòa lẫn cùng người Việt. Những tư liệu lịch sử ghi chép về dòng họ Vũ tại vùng Chí Linh, Nam Sách, Bình Giang cho biết dòng họ này có nguồn gốc từ người Hoa, sau đó con cháu dần trở thành người Việt. Sau năm 905, qua những biến động chính trị tại Trung Quốc, Việt Nam, trong đó có vùng đất Hải Dương là nơi nhiều người Hoa lựa chọn làm nơi cư trú của mình mà nổi lên hai làn sóng di cư ồ ạt vào thời nhà Mãn Thanh và khi phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc. Những người Hoa này là nguồn nhân lực cơ học bổ sung cho địa phương. Sau đó, họ dần hòa nhập vào cuộc sống, phong tục, văn hóa Việt và trở thành người Việt gốc Hoa. Hiện nay, người Hoa ở Hải Dương còn bốn họ: Lã, Hoàng, Từ, Lâm. Nếu những người Hoa có mặt trong các giai đoạn lịch sử trước đã dần được Việt hóa thì những người hội nhập 61 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) giai đoạn sau cũng dần gia nhập vào đời sống văn hóa tinh thần chung của người Việt, mặc dù họ còn giữ một số phong tục, tập quán riêng như chọn đất làm nhà, cưới xin, ăn hỏi hay tang ma. Ngoài người Việt và sự có mặt của người Hoa, trên địa bàn còn có người các dân tộc Tày, Cao Lan, Sán Dìu sinh sống trên các vùng núi Chí Linh, Kinh Môn với những phong tục, tập quán, đời sống kinh tế làm nên văn hóa tộc người riêng. Theo khảo sát bước đầu, các dân tộc này hội nhập vào địa bàn Hải Dương giai đoạn muộn sau này. 2. Kinh tế Hải Dương là vùng đất có địa hình đa dạng với điều kiện tự nhiên thuận lợi, kết hợp núi đồi và đồng bằng rộng rãi màu mỡ, các dòng sông chằng chịt giàu có sản vật, thuận lợi cho sự sinh sống, phát triển kinh tế, cho nên từ xa xưa con người đã sớm chọn nơi đây là nơi cư trú. Kinh tế trên vùng đất gồm hai hoạt động chính là kinh tế sản xuất và kinh tế khai thác tự nhiên, phục vụ cho nhu cầu đời sống và phát triển của con người. Buổi đầu khi mới định cư tại đây, con người chủ yếu tiến hành kinh tế khai thác tự nhiên: săn bắt các loài thú, hái lượm, thu hoạch các loại hoa quả, rau tự nhiên là các sản vật của rừng như các loại cây ăn quả, cây hương liệu, hái lượm rau quả ở vùng đồng bằng, đánh bắt tôm, cá... tự nhiên trên các dòng sông. Những di cốt hóa thạch tìm thấy tại Nhẫm Dương cho biết, bên cạnh dấu vết con người còn xuất hiện những di cốt hóa thạch của các loại thú như: đười ươi (pongidae); khỉ đuôi dài (cercopithecidae); nhím (hystricidae); gấu ngựa (ursus thibclanus), mèo (felidae), beo (felis sp.); tê giác (phinoceros sinensis); lợn rừng (sus scorfa); lợn nuôi (sus sp.); hươu (cervidae), nai (rusa unicolor), trâu (bubalus bubalis); voi (elephantidae)1. Đây là những con vật được người Nhẫm Dương săn bắn, thuần hóa trong nền kinh tế khai thác tự nhiên. Cùng với săn bắn, hái lượm là một thành phần kinh tế quan trọng, những loại cây, quả, củ như trám, củ mài, các loại hạt ngũ cốc hoang dại, các loại rau rừng tự nhiên được thu hái sử dụng trong cuộc sống. Kinh tế chủ đạo của con người chủ yếu là kinh tế 1. Xem Nguyễn Lân Cường: “Về những hóa thạch quý thời Pleistocene của Nhẫm Dương và di cốt người thời kim khí tìm thấy trong mộ thuyền ở Kiệt Thượng (Hải Dương)”, in trong Kỷ yếu Khảo cổ học Hải Dương thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Sđd, tr.25-50. 62 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người sản xuất trồng trọt và chăn nuôi với các nghề nông như: trồng lúa nước, rau, đậu, cây ăn quả, chăn nuôi thuần hóa các loài thú. Nghề sản xuất chính trên vùng đất này là nghề trồng lúa. Với đồng bằng màu mỡ do phù sa các con sông bồi tụ, cây lúa đã trở thành cây nông nghiệp chủ lực, người dân cấy lúa và thu hoạch theo mùa với nhiều giống lúa khác nhau. Theo tài liệu lịch sử ghi chép cho biết, người dân có hai cách khai phá đồng ruộng để trồng lúa, đó là “thủy canh hỏa chủng” và “đao canh hỏa chủng”, đốt nương rẫy trồng lúa hay đạp cỏ bùn nước trồng lúa, với phương châm khai thác và thuận theo tự nhiên làm hướng chủ đạo trong canh tác. Các di tích khảo cổ cho thấy, dấu vết của cây lúa có mặt sớm từ thời kỳ đồ đá mới với dấu tích vỏ trấu trong đồ gốm, hay hạt thóc trong các di tích thời kỳ đồ đồng. Thời kỳ kim khí, cấy trồng lúa đã thành nghề nông chủ lực, cây lúa được khắc biểu tượng hình ảnh trên trống đồng, hay cảnh sinh hoạt giã gạo khắc tả trên trống đã nói lên điều đó. Theo thời gian, cùng với phương pháp cấy trồng truyền thống, sự tiếp thu của các phương thức sản xuất tiến bộ từ bên ngoài do người Hoa đưa vào về kỹ thuật khai khẩn, làm đất, thủy lợi đã khiến cho nghề trồng lúa nước ngày càng hoàn thiện, tạo nên năng suất cao. Lúa được cấy trồng có nhiều loại giống khác nhau như lúa nếp, lúa tẻ và từ trồng cấy một vụ đã tăng lên hai vụ là vụ mùa và vụ chiêm. Các giống lúa cũng được lựa chọn để phù hợp với các vụ. Ngoài cây lương thực chính là lúa, trên các vùng đất còn trồng cây hoa màu, đậu các loại, cây ăn quả như cam, chanh, bưởi, nhãn, dứa, dừa, vải, chè... Các loại cây trồng truyền thống sau này được lịch sử ghi lại cho thấy: “Huyện Cẩm Giàng có long nhãn... Huyện Tứ Kỳ có cam đường, bách nhãn, dưa hấu, mía... Huyện Chí Linh có cây chè, bách nhãn, mít, khoai hương...”1, là những loại cây được trồng lâu đời, phục vụ cho đời sống con người. Về mặc, có trồng dâu, nuôi tằm, trồng bông, kéo sợi dệt vải, với nhiều loại vải nổi tiếng như vải trắng khổ nhỏ, vải hoa. Các nghề sản xuất thủ công truyền thống như sản xuất gạch ngói xây dựng, khai thác cát, đá xây dựng, sản xuất đồ gốm dân dụng, sản xuất muối, làm mắm, dệt chiếu, dệt cói, làm hương, sản xuất lược, các nghề chế tác kim loại, 1. Trần Công Hiến, Trần Huy Phác: Hải Dương phong vật chí (Nguyễn Thị Lâm giới thiệu và dịch) Nxb. Lao động - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2009, tr.247-249. 63 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) khảm trai, đồ gỗ, đồ mỹ nghệ,... “Ở các xã Lỗ Xá, Cẩm Đường huyện Cẩm Giàng, Lôi Trì huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang); Ba Đông, huyện Gia Lộc; Võ La, huyện Thanh Lâm (nay thuộc phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương),... có thợ rèn. Xã Lỗi Dương, huyện Tứ Kỳ có nghề làm cưa và bừa. Ở xã Ngạc Đông, huyện Kim Thành có nghề đúc lưỡi cày bằng gang. Ở xã Châu Khê, huyện Đường An (nay là huyện Bình Giang) có thợ đúc vàng bạc, ở xã La, huyện Tứ Kỳ có thợ làm kim hoàn,... Các xã Hương Giản, Kệ Giản, huyện Đường An (nay là huyện Bình Giang) có thợ làm bát đĩa, xã Lâm Xuyên, huyện Chí Linh có thợ làm nồi và gạch ngói,... Nghề làm muối thì các xã dân ven biển phần nhiều nấu nước biển thành muối,...”1 đều là những nghề truyền thống lâu đời được duy trì và phát triển phục vụ đời sống cư dân. Ngoài những nghề sản xuất thủ công có tính chất làng nghề, để đáp ứng yêu cầu sinh hoạt, sản xuất của cộng đồng cư dân thì mỗi vùng còn tự đóng thuyền, bè, ghép mảng, đan lát tre mây, đan lưới được sử dụng thường nhật với chất liệu, kích cỡ phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán của cư dân nơi sinh sống. Theo thống kê, địa bàn Hải Dương có đến gần 40 ngành nghề sản xuất thủ công với nhiều loại hàng hóa khác nhau. Nhận xét về nghề thủ công của Hải Dương, sách Đại Nam nhất thống chí khẳng định: “công nghệ cũng tinh xảo (như thợ vàng, thợ thiếc, thợ nhuộm, thợ khắc, thợ cân, thợ giày, thợ sơn,...)”2, tập hợp, hình thành nên những làng nghề sản xuất trong lịch sử, nhiều nghề còn duy trì đến ngày nay, tạo ra nguồn sản phẩm phong phú phục vụ cho đời sống và hình thành nên hệ thống giao thương trong lịch sử. Ngoài những nghề kinh tế sản xuất, kinh tế khai thác tự nhiên cũng được chú trọng như đánh bắt cá tự nhiên trên các sông hồ, săn bắn, hái lượm rau củ tự nhiên phục vụ cho cuộc sống: “huyện Chí Linh có lươn trắng, cá to,... huyện Thanh Hà có rươi,... huyện Kim Thành có cá tôm,...”3. Ngoài ra, dân ven biển có nghề làm muối, đánh cá, dân miền núi có nghề hái củi, đốt than, săn bắn thú hoang. Đây là những nghề được người dân duy trì theo truyền thống, góp phần quan trọng vào đời sống kinh tế của người Hải Dương. 1, 3. Trần Công Hiến, Trần Huy Phác: Hải Dương phong vật chí, Sđd, tr.251-256, 248-249. 2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.IV, tr.369. 64 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Trên vùng đất có địa hình đa dạng, điều kiện tự nhiên phong phú, con người cần cù lao động và sáng tạo, có thể thấy các hoạt động kinh tế trên địa bàn Hải Dương trong lịch sử là hình ảnh thu nhỏ của nền kinh tế dân tộc. Đó là nền kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ đạo, năng động, sáng tạo thích nghi với điều kiện tự nhiên để tạo nên cuộc sống vật chất phong phú và ngày càng phát triển. 3. Phong tục, tập quán Với vị thế nằm gần trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, địa hình đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, Hải Dương sớm được con người lựa chọn nơi cư trú, hình thành nên chiếc nôi của nền văn minh lúa nước - tầng nền của văn hóa người Việt. Từ đó, người Hải Dương đã tạo nên những phong tục, tập quán trong đời sống tinh thần và vật chất làm phong phú thêm cho đời sống của cộng đồng. Với địa hình vùng đất đồng bằng xen đồi núi, hệ thống sông hồ dày đặc, người xưa đã chọn các hình thức cư trú ven sông, dưới chân đồi, trên các vùng đất cao tạo lập nên xóm làng - những đơn vị hành chính từ buổi đầu dựng nước. Từ những đơn vị cư trú đầu tiên trên các vùng đồi núi Nhẫm Dương, Kinh Môn, con người tiến xuống chinh phục đồng bằng, những vùng đất cao bãi bồi ven sông được chọn làm nơi lập làng, với nơi ở cao ráo, có tư liệu sản xuất, giao thông thuận lợi đã hình thành nên các làng cư trú ven các dòng sông và ngày càng sầm uất. Những ngôi làng cổ hiện nay đều là sự kế thừa từ những ngôi làng truyền thống xa xưa với các truyền thuyết ghi nhận sự tụ dân lập ấp trong buổi đầu lịch sử. Các đền, miếu thờ những người có công khai hoang mở ấp lập làng, dạy nghề cho dân, bảo vệ cộng đồng ở mỗi làng xóm hiện nay đã phản ánh bề dày truyền thống của mỗi làng quê trong lịch sử. Trong mỗi ngôi làng, những ngôi nhà là đơn vị cư trú độc lập của mỗi hộ gia đình. Để đáp ứng, thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, khi dựng nhà, người ta thường sử dụng những vật liệu có sẵn khai thác trong tự nhiên như gỗ, tre, lá. Theo thời gian, sự phát triển của kỹ thuật, nghề sản xuất thủ công vật liệu xây dựng ra đời và phát triển dẫn đến sự xuất hiện của gạch ngói, đã dần thay thế vật liệu tre lá. Mô hình kiến trúc dân dụng mỗi hộ gia đình được xây dựng thành những tổ hợp với nhiều công trình phục vụ chức năng sống, sinh hoạt với nhà cư trú, khu phụ (bếp, nhà ngang), khu chăn nuôi gia súc, gia cầm và nơi vệ sinh, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất. 65 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Trong đơn vị cư trú làng, mối quan hệ cộng đồng làng được tạo nên từ quan hệ gắn kết giữa các dòng họ. Trong làng có nhiều dòng họ với những nguồn gốc khác nhau, trong mỗi dòng họ có sự phân chia chặt chẽ theo thứ bậc thế hệ. Tôn trọng tôn ti, thứ bậc “họ - hàng” hình thành nên nhà thờ tổ của các họ trong mỗi dòng họ. Nếp sống truyền thống trong các gia đình là nhiều thế hệ cùng chung sống. Những gia đình “tam đại đồng đường” hay “tứ đại đồng đường” được coi là tiêu chuẩn, thể hiện sự thịnh vượng, bền lâu của dòng tộc. Mối quan hệ dòng họ, thân tộc, gia đình hình thành nên nếp sống, phong tục thờ cúng tổ tiên, những thế hệ đi trước. Trong mỗi gia đình, bàn thờ tổ được đặt vị trí trang trọng nhất, trung tâm của ngôi nhà. Bài trí bàn thờ nghiêm trang tạo nên không gian thờ thiêng liêng với niềm tin người đã khuất luôn song hành cùng thế hệ sau. Đây là phong tục được hình thành từ những buổi đầu lịch sử và tiếp tục được duy trì đến ngày nay. Thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Hải Dương nằm trong không gian văn hóa Bắc Bộ, tuy nhiên vẫn còn nhiều phong tục, tập quán mang nét đặc sắc, độc đáo riêng. Tết là ngày trọng đầu năm đánh dấu một năm mới được coi như sự khởi đầu tốt lành nên có nhiều tục tốt lành: mừng tuổi mới, chúc mừng sức khỏe, khao lão..., cùng những tục kiêng cữ: kiêng quét nhà, kiêng to tiếng, kiêng nói tục..., đã tạo nên văn hóa tết. Những tiết lễ cầu cúng xuân thu nhị kỳ cầu mong vạn sự tốt lành cho cộng đồng thôn xóm, những lễ hội dân gian hình thành cùng các tục diễn xướng làm nên đời sống văn hóa tinh thần phong phú kết nối cộng đồng trong tình làng nghĩa xóm. Ma chay, cưới xin cũng là một lệ tục được hình thành lâu đời. Những quy tắc tang ma được quy định dần chặt chẽ hơn với những nghi lễ tang chế cụ thể theo quy chế chung cùng những quy định riêng của từng cộng đồng mà các thành viên đều tự nguyện chấp hành. Các phong tục cưới xin với các nghi lễ quy định được hình thành qua thời gian gồm các bước cụ thể như vấn danh, dạm ngõ, ăn hỏi, thành hôn đã trở thành thuần phong mỹ tục phổ biến trong cộng đồng, được người Hải Dương thực hiện, giữ gìn theo năm tháng. Người Hải Dương không những chuộng văn nhã trong đời sống xã hội mà còn là những người cương cường trong cuộc sống, “phong tục cũng như Hà Nội, sĩ phu chuộng nghĩa giữ tiết”1 làm chuẩn mực cho người dân noi theo. “Sĩ tử 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.IV, tr.368. 66 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người các phủ Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách phần nhiều là văn nhã, ở Kinh Môn phần nhiều dũng mãnh. Ngày nay, các huyện Thủy Đường, Kim Thành cũng có văn học, còn nông phu đều an nghiệp với ruộng vườn, lại siêng năng cày cấy”1. Với truyền thống cư dân nông nghiệp sản vật phong phú, từ trong lịch sử người Hải Dương đã chú ý đến đời sống vật chất cái ăn, cái mặc. Ẩm thực của người Hải Dương là sự kết hợp chế biến sản phẩm của đồng bằng, sông nước và đồi núi, tạo nên phong cách ẩm thực riêng được nâng lên thành nghệ thuật ẩm thực Xứ Đông với những sản phẩm độc đáo. Trang phục của cư dân trong lịch sử lấy giản tiện làm đầu, thích ứng với nền sản xuất nông nghiệp gắn cùng sông nước. Người Hải Dương trồng bông dệt vải, nuôi tằm lấy tơ dệt nên những loại vải cao cấp phục vụ cho đời sống, có mặt trên thị trường của cả nước. 4. Tín ngưỡng, tôn giáo Tín ngưỡng trong đời sống tinh thần được hình thành từ nhận thức của con người trước những hiện tượng tự nhiên xuất hiện trong quá trình sinh sống, sản xuất. Cùng với những tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa theo truyền thống chung của văn hóa dân tộc, còn có sự có mặt của các tôn giáo được du nhập và được bản địa hóa theo tinh thần và bản sắc văn hóa của người Việt. Những tín ngưỡng nguyên thủy thờ các vị thần tự nhiên như thần núi, thần cây, thần sông, thần đầm, thủy thần cùng việc cầu cúng các hiện tượng tự nhiên như cầu mưa, cầu nắng đã hình thành và trở thành tín ngưỡng văn hóa truyền thống lâu đời. Từ những tín ngưỡng, cơ sở vật chất ban đầu được xây dựng đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân, tạo nên hệ thống đền, miếu được bảo tồn, tôn tạo qua các thời kỳ lịch sử. Tùy theo điều kiện kinh tế, thời điểm xây dựng mà hệ thống kiến trúc đền, miếu có quy mô, trang trí mỹ thuật khác nhau thể hiện niên đại xây dựng, hình thành nên hệ thống kiến trúc tín ngưỡng riêng biệt. Theo thời gian, trong đời sống tinh thần xuất hiện tục thờ các vị thần làm thành hoàng, với chức năng bảo trợ tinh thần cho cộng đồng làng xóm. Những vị thần được thờ cúng là thiên thần hay nhân thần. 1. Trần Công Hiến, Trần Huy Phác: Hải Dương phong vật chí, Sđd, tr.251. 67 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Những thiên thần được thờ là ảnh xạ những hiện tượng tự nhiên chi phối đến đời sống tinh thần của người dân như: Cao Sơn Đại vương, Quý Minh Đại vương hay những vị thần giúp dân chống lũ lụt khai phá đồng bằng. Những nhân thần được thờ là những người có công với dân tộc, làng xã trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm cứu nước, những tướng lĩnh “sinh vi tướng, tử vi thần” được người dân ngợi ca “sinh vi danh tướng, hóa tắc thần linh” như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão...; hay những người có công xây dựng quê hương trù phú, danh gia như các vị tổ nghề, danh sư nổi tiếng. Đền Tống Thượng thờ Nguyễn Nguyên Chân và Tống Phả Công, xã Quang Trung, thị xã Kinh Môn Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hải Dương Đình là nơi thờ các vị thần làm thành hoàng. Mỗi làng thường có một ngôi đình, được xây dựng với quy mô lớn nhất trong kiến trúc cộng đồng cư trú, trên vùng đất thiêng được dân làng lựa chọn cẩn thận. Được coi là biểu tượng tiêu biểu cho mỗi làng, mỗi ngôi đình không những đồ sộ về quy mô mà còn là đỉnh cao trong nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của mỗi làng. Dù xuất hiện muộn trong tiến trình kiến trúc dân tộc nhưng hầu hết các đình là nơi gìn giữ 68 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người phong tục, tập quán văn hóa của làng quê được thể hiện qua những nghi lễ dâng lên thần, những sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trình diễn lễ xướng, nghề thủ công, trò chơi dân gian làm nên bản sắc văn hóa của mỗi làng. Đình Quỳnh Gôi thờ Cao Sơn Đại vương, xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hải Dương Cùng với tục thờ cúng tổ tiên, thờ tổ nghề nhằm tưởng nhớ công ơn người đã sáng tạo ra nghề, truyền lại cho các thế hệ sau cũng được duy trì, hình thành nên tập quán tín ngưỡng lâu đời mang đậm bản sắc của người Việt nói chung và người Hải Dương nói riêng. Những tín ngưỡng truyền thống này còn được duy trì, phát huy cho đến ngày nay. Bên cạnh những tín ngưỡng truyền thống bản địa do người Việt xây dựng tạo nền tảng văn hóa trong đời sống tinh thần của cộng đồng, những tôn giáo, tư tưởng học thuyết bên ngoài đưa vào cũng được người dân tiếp nhận và Việt hóa, làm giàu thêm đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng. Phật giáo ra đời từ Ấn Độ theo con đường giao thương sớm có mặt tại Luy Lâu (Bắc Ninh) từ những thế kỷ đầu Công nguyên hình thành nên một trung tâm 69 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Phật giáo sớm ở Đông Nam Á1. Với vị trí nằm không xa Luy Lâu, thuận lợi về giao thông thủy bộ, liên thông về kinh tế, trên con đường hướng ra biển, lại có địa hình đa dạng, Hải Dương sớm tiếp nhận giáo lý nhà Phật trong đời sống tinh thần của mình. Theo thời gian, tinh thần Phật giáo lan tỏa, Hải Dương trở thành vùng đất nuôi dưỡng và là chiếc nôi của nhiều trung tâm Phật giáo theo suốt chiều dài lịch sử2. Từ nền tảng ban đầu được xây dựng những thế kỷ đầu Công nguyên đã làm điểm tựa cho các giai đoạn lịch sử tiếp sau, nhiều tông phái Phật giáo lớn đã dương danh trên vùng đất như Thiền phái Trúc Lâm với trung tâm là Côn Sơn. “Đất vua chùa làng”, mỗi làng trên địa bàn Hải Dương hầu như đều có những ngôi chùa thờ Phật. Chùa Côn Sơn, phường Cộng Hòa, thành phố Chí Linh Nguồn: Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc 1. Tham khảo thêm Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1971. 2. Có ý kiến cho rằng: Do điều kiện thuận lợi gắn với giao thông đường biển, Phật giáo sớm có mặt tại Hải Dương vào thế kỷ II, sau đó mới theo đường sông dừng chân tại Luy Lâu, trị sở của nhà Hán tại Giao Chỉ (Phạm Quý Mùi, Hội Sử học tỉnh Hải Dương). 70 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người Quy mô kiến trúc các chùa khác nhau tùy theo sự phát triển kinh tế của cộng đồng mà xây dựng hay vai trò, vị trí của chùa trong các tông phái của đạo Phật, nhưng đều cho thấy sự tôn kính tinh thần Phật giáo thấm đậm trong mỗi người dân. Sau này, theo sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo, nhiều ngôi chùa được xây dựng với quy mô lớn trong lịch sử như: chùa Côn Sơn, Sùng Nghiêm, Huyền Thiên, Thanh Mai, Ngũ Đài,... (thành phố Chí Linh); các chùa Vĩnh Khánh, Hương Hải, Phúc Khánh,... (huyện Nam Sách); các chùa Kính Chủ, Hàm Long, Bảo Lâm,... (thị xã Kinh Môn); các chùa Quang Khánh, Cảnh Linh (huyện Kim Thành); các chùa Động Ngọ, Hào Xá, Minh Khánh, chùa Cả,... (huyện Thanh Hà) cùng nhiều ngôi chùa trên khắp các huyện, trong đó có 32 chùa được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Do đó, Phật giáo luôn giữ vị thế quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi người dân. Văn Miếu Mao Điền, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hải Dương Nho giáo là một hệ tư tưởng, nhưng cũng được coi là một đạo (đạo Nho), được du nhập vào địa bàn Hải Dương theo bước chân của người Hán khi 71 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) đô hộ nước ta. Với trung tâm trị sở là Luy Lâu, nơi có đền thờ Sĩ Nhiếp, viên quan cai trị tiên phong trong việc truyền bá Nho giáo, sau này được vinh danh là “Nam Giao học tổ”, chữ Hán đã gia nhập có hệ thống vào đời sống văn hóa nước ta từ ngày đó. Trên vùng đất Hải Dương và các vùng đất lân cận đã phát hiện chữ Hán có từ rất sớm như bia: gạch Vũ Xá năm Kiến Hưng thứ 5 (năm 130); bia ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, mặt thứ nhất ghi niên đại Kiến Vũ thứ 2 (năm 314), mặt thứ hai có dòng ghi niên đại Nguyên Gia thứ 27 (năm 450); bia Xá Lợi Tháp Minh ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, có niên đại Nhân Thọ nguyên niên (năm 601). Qua đó cho thấy, chữ Hán là công cụ hữu ích trong việc bổ sung, xây dựng nền văn hóa dân tộc, cùng những quy tắc nghi lễ của Nho giáo được du nhập trở thành một phần trong đời sống tinh thần của người dân lúc bấy giờ. Hệ thống trường học cũng được xây dựng để đào tạo quan lại phục vụ cho chính quyền xuất hiện từ phủ đến huyện. Nhiều gia đình có điều kiện đón thầy về nhà dạy chữ cho con cháu, từ đó tạo nên một nền tảng học tập của người dân. Những chuẩn mực đạo đức, nghi lễ quy định trong Nho giáo phù hợp được người dân tiếp thu, phát huy trong đời sống hình thành nên những quy tắc ứng xử trong xã hội, trong cộng đồng và trong gia đình. Sự phát triển về học tập và nghi lễ đạo đức phong kiến được hình thành, duy trì tạo nên tầng lớp “sĩ phu chuộng nghĩa giữ tiết” làm nên “phong tục văn nhã” của miền đất Hải Dương trong lịch sử và có nhiều đóng góp vào nền văn hóa dân tộc. Ngoài văn miếu hàng tỉnh, nhiều làng có truyền thống nho học còn dựng văn chỉ thờ các vị nho gia làm nên truyền thống hiếu học của địa phương. Cho đến nay, vai trò của chữ Hán đã lui vào quá khứ, những dư âm ảnh hưởng còn có mặt khắp nơi trong các di tích lịch sử, trong đời sống tinh thần làm nên văn hóa vùng Xứ Đông đặc sắc, nơi được coi là vùng “địa linh sinh nhân kiệt”. Tín ngưỡng dân tộc, Phật giáo, Nho giáo dù có nguồn gốc bản địa hay du nhập từ bên ngoài, qua thu nhận, chắt lọc đã giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, trong các nghi lễ, phong tục, tập quán, góp phần tạo nên văn hóa, bản lĩnh, 72 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người phong cách của người Xứ Đông, của người Hải Dương suốt từ thời kỳ dựng nước đến trước năm 905. Nhà thờ giáo xứ Hải Dương, thành phố Hải Dương Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hải Dương Nằm ở vị trí có hệ thống giao thông thủy, bộ thuận lợi, nối biển với vùng đất trung tâm đất nước, một vùng đất mở với những chủ nhân quảng giao, sẵn sàng tiếp nhận, giao lưu với các luồng văn hóa từ bên ngoài hội nhập, sau năm 905, Hải Dương còn là nơi dừng chân của nhiều tôn giáo khác. Sự truyền bá của Thiên Chúa giáo xuất hiện từ thế kỷ XVI của các giáo sĩ theo thương nhân phương Tây đến đây buôn bán đã cuốn hút một bộ phận người dân. Cùng những biến động của lịch sử, cuối thế kỷ XIX, sau năm 1883 khi thực dân Pháp chiếm được Hải Dương lần thứ hai, thiết lập hoàn chỉnh bộ máy cai trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho Thiên Chúa giáo phát triển. Trên địa bàn Hải Dương hình thành nên các cơ sở Thiên Chúa giáo, các nhà thờ với số lượng giáo dân khá đông đảo có mặt 73 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) khắp nơi trên địa bàn tỉnh, nhiều nhà thờ được xây dựng sớm như nhà thờ Kẻ Sặt, nhà thờ Hải Dương, nhà thờ Mỹ Động1. Ngoài những tôn giáo chính, trên địa bàn Hải Dương còn xuất hiện các tín đồ của các tôn giáo khác có mặt tại địa phương như Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo, hay đạo Cao Đài, tuy số lượng rất nhỏ nhưng đã tạo nên bức tranh tôn giáo đa sắc màu trên địa bàn tỉnh. Tóm lại, Hải Dương ngày nay, một vùng đất của Xứ Đông xưa, tuy vùng đất không rộng, nhưng đa dạng địa hình với núi đồi trùng điệp, đồng bằng tương đối rộng phẳng, sông ngòi chằng chịt, sản vật phong phú. Núi đồi nhiều gỗ quý, lâm thổ sản, lòng đất giàu khoáng sản, đồng bằng phì nhiêu với nhiều giống cây trồng quý, xanh tốt quanh năm, nơi hội tụ đầy đủ những yếu tố tự nhiên thuận lợi phục vụ cho cuộc sống. Từ buổi đầu lịch sử, người dân đã chọn vùng đất này tụ cư và ngày càng đông đúc, trở thành một khu vực người đông, vật thịnh trong tổng thể chung của đồng bằng Bắc Bộ, góp phần tạo nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ trong lịch sử dân tộc. Từ những dấu vết con người sinh sống đầu tiên tìm được tại Nhẫm Dương, đến hệ thống di tích mộ thuyền, mộ thân cây, mộ kiểu Hán có mặt trên mọi địa bàn của Hải Dương đã cho thấy sự có mặt, sinh sống, chiếm lĩnh, khai phá của con người trên vùng đất khá rộng khắp. Bằng sự cần cù, thông minh, con người đã từng bước khai phá đồng bằng, biến nơi đây thành vùng đất trù phú, của cải sung túc. Những hiện vật tiêu biểu như trống đồng, vũ khí đồ đồng, đồ gốm, đồ tùy táng tìm thấy trong các ngôi mộ nhiều thời kỳ đã cho thấy, trước năm 905 đây là vùng đất phát triển đạt nhiều thành tựu trong kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện cho sự phát triển những giai đoạn lịch sử sau này. Giữ vị trí chiến lược gắn kết với trung tâm lớn của đất nước, sau những năm tháng dựng xây và vượt qua thăng trầm của lịch sử, bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ, xây dựng nền văn hóa dân tộc, Hải Dương đã trở thành một 1. Xem Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Địa chí Hải Dương, Sđd, t.III, tr.86-87. 74 Chương I: HẢI DƯƠNG Vùng đất và con người vùng văn hiến “địa linh”, đóng góp cho đất nước những “nhân kiệt” làm rạng danh Tổ quốc. Lịch sử Hải Dương là một bộ phận quan trọng của lịch sử dân tộc, những đóng góp của người Hải Dương trong lịch sử và ngày nay đã làm nên một truyền thống yêu nước, một nền văn hóa đặc sắc trên nhiều lĩnh vực mang đậm bản sắc dân tộc. 75 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) Chương II HẢI DƯƠNG THỜI TIỀN - SƠ SỬ VÀ NHÀ NƯỚC VĂN LANG - ÂU LẠC 76 Chương II: HẢI DƯƠNG thời tiền - sơ sử và Nhà nước Văn Lang... I- HẢI DƯƠNG THỜI TIỀN - SƠ SỬ 1. Những dấu tích con người trên lãnh thổ Việt Nam Lịch sử nhân loại được biết đến bắt đầu từ kỷ Đệ tứ hay kỷ Nhân sinh (kỷ thứ tư), gồm hai thế: Cánh tân (Pleistocene) và Toàn tân (Holocene). Thế Cánh tân được chia thành ba giai đoạn: sơ kỳ khoảng 1.800.000 - 700.000 năm cách ngày nay; trung kỳ khoảng 700.000 - 125.000 năm cách ngày nay; hậu kỳ khoảng 125.000 - 10.000 năm cách ngày nay. Về phương diện lịch sử, thời tiền sử của nhân loại bắt đầu từ kỷ Nhân sinh và kết thúc khi có chữ viết. Thời tiền sử được chia làm hai thời đại: thời đại đồ đá và thời đại đồ đồng. Thời đại đồ đá gồm thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới, nằm trong thế Cánh tân. Thời đại đồ đồng và thời đại đồ sắt cho đến nay thuộc thế Toàn tân. Theo thời gian, ranh giới 10.000 năm cách ngày nay thường được các nhà khảo cổ học cho là kết thúc thời đại đồ đá cũ, mở đầu thời đại đồ đá mới. Thời đại đồ đồng bắt đầu khoảng 6.000 năm cách ngày nay và kết thúc khoảng 4.000 - 3.000 năm cách ngày nay. Tiếp đó là thời đại đồ sắt và bước vào thời kỳ lịch sử nhân loại. Ở nước ta đã phát hiện được các di tích thuộc giai đoạn sơ kỳ, hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cùng hệ thống các di tích sơ - trung - hậu kỳ thời đại đồ đá mới, thời đại kim khí và những hóa thạch cổ sinh có niên đại hậu kỳ thời đại đồ đá cũ. Đó là nguồn tài liệu tin cậy chứng minh quá trình phát sinh, phát triển của người nguyên thủy và các nhóm cư dân cổ Việt Nam đóng góp vào lịch sử nhân loại. Thời đại đồ đá cũ là thời kỳ sớm nhất, dài nhất trong lịch sử nhân loại. Lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng sự xuất hiện của người đứng thẳng (homo erectus) ở Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn) và công cụ lao động của họ ở An Khê (Gia Lai) có niên đại khoảng 800.000 năm và Núi Đọ có niên đại khoảng 400.000 năm cách ngày nay, thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá cũ. Hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, với sự xuất hiện của người khôn ngoan có tuổi từ 60.000 - 40.000 năm trước ở Thẩm Ồm (Nghệ An), Hang Hùm (Yên Bái), Nhẫm Dương, Kinh Môn (Hải Dương), Kéo Lèng (Lạng Sơn). Những công cụ đồ đá của họ mà chúng ta đã phát hiện được có sự chuyển biến mạnh mẽ, với hai truyền thống khác biệt là kỹ nghệ 77 LỊCH SỬ TỈNH HẢI DƯƠNG Tập I (Từ khởi thủy đến năm 905) công cụ mảnh ở Ngườm (Thái Nguyên), niên đại từ 23.000+200 - 23.000+100 đến 19.040+40 - 18.000+200 năm cách ngày nay và kỹ nghệ hạch thuộc hệ thống các di tích văn hóa Sơn Vi, niên đại khoảng 30.000 - 11.000 năm cách ngày nay. Thời đại đồ đá mới với văn hóa Hòa Bình là đại diện tiêu biểu cho giai đoạn sơ kỳ, có niên đại từ 18.000 - 12.000 năm đến 12.000 - 7.000 năm cách ngày nay. Văn hóa Bắc Sơn đại diện cho giai đoạn trung kỳ, có niên đại 7.875+100 năm cách ngày nay. Hậu kỳ đồ đá mới ở nước ta đã phát hiện được các di tích thuộc văn hóa Mai Pha (vùng núi Lạng Sơn), văn hóa Hạ Long (vùng biển và hải đảo Quảng Ninh), văn hóa Bàu Tró (ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình). Ở vùng núi: Tây Bắc có địa điểm Bản Mòn, Thọc Kim (Sơn La); Bắc Trung Bộ có địa điểm Quỳ Châu, Thẩm Ồm, Bản Don, Thẩm Hoi,... (miền Tây Nghệ An, Thanh Hóa); hang Minh Cầm, hang Rào, khe Toong, Quy Đạt,... (Quảng Bình); Tây Nguyên có các di tích phân bố ở các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng như: Lung Leng, Buôn Triết và Biển Hồ,... Trong khoảng thời gian dài của thời đại đồ đá, người tiền sử trên đất nước Việt Nam đã có sự tiến hóa về sinh học cơ thể, sáng tạo phương thức kiếm sống đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Trong hang Thẩm Ồm (Nghệ An) đã tìm thấy những chiếc răng người vừa có tính chất của người đứng thẳng (homo erectus) vừa có tính chất của người hiện đại (homo sapiens), báo hiệu quá trình sapiens hoá. Ở Hang Hùm (Yên Bái) đã phát hiện răng người homo sapiens. Niên đại trầm tích chứa răng người ở đây là 80.000 năm. Vùng đồng bằng Bắc Bộ cho đến nay, mới phát hiện duy nhất ở Kinh Môn (Hải Dương) trong động Thánh Hóa có xương răng người thuộc hậu kỳ Cánh tân và hóa thạch răng pongo (đười ươi), tê giác có niên đại từ 50.000 - 30.000 năm cách ngày nay. Về phương thức kiếm sống, con người thời đại đồ đá phần lớn sống bằng săn bắt và hái lượm, hình thái kinh tế khai thác tự nhiên. Chỉ đến cuối thời đại này với “cuộc cách mạng đá mới”, con người mới tiến tới làm nông nghiệp với trồng trọt và chăn nuôi, hình thái kinh tế sản xuất song hành cùng kinh tế khai thác. Chúng ta chưa tìm được hạt những cây trồng được thuần dưỡng trong văn hóa Hòa Bình, cho nên chưa có chứng cứ chắc chắn cho sự ra đời của nền nông nghiệp trong văn hóa Hòa Bình. Tuy nhiên, trong lớp trên của văn hóa Hòa Bình cũng như trong văn hóa Bắc Sơn đã có nhiều rìu mài lưỡi, những chiếc cuốc. Những chiếc rìu mài lưỡi này có thể liên hệ với việc phát 78