🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Kỹ Năng Phòng, Chống Cháy, Nổ Và Thoát Hiểm
Ebooks
Nhóm Zalo
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TRẦN THANH LÂM
NGUYỄN HOÀI ANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong những năm gần đây, tình hình cháy, nổ trên cả nước đang có những diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng cả về số vụ việc và thiệt hại về con người, tài sản, gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Nguyên nhân có nhiều, song vấn đề mấu chốt vẫn là ý thức, kiến thức về phòng cháy, chữa cháy của các cá nhân, đơn vị còn thiếu và yếu, việc trang thiết bị đủ tiêu chuẩn để phòng cháy, chữa cháy theo quy định chưa được chú trọng thực hiện,...
Thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách Kỹ năng phòng, chống cháy, nổ và thot hiểm nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng cần thiết cơ bản để mỗi cá nhân, mỗi cơ quan, doanh nghiệp đều có thể chủ động phòng ngừa và tự bảo vệ cho chính bản thân mình và những người xung quanh khi xảy ra cháy, nổ.
Cuốn sách gồm 5 chương, khái quát tình hình cháy, nổ và những vụ cháy, nổ điển hình trên địa bàn cả nước, đồng thời cung cấp các kỹ năng thoát hiểm,
5
sơ cứu người bị nạn trong các sự cố cháy, nổ; các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; các văn bản hiện hành về phòng, chống cháy, nổ, trong đó bao gồm các quy định cụ thể về trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy cho từng đơn vị cụ thể.
Cuốn sách được biên soạn một cách khoa học, trình bày những kiến thức cơ bản kết hợp với hình vẽ minh họa cụ thể, sinh động. Ngoài ra, phần Phụ lục còn trích một số quy định và mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trong công tác phòng, chống cháy, nổ. Qua đó giúp bạn đọc có được những kỹ năng tổng hợp để có thể thực hiện tốt việc tuyên truyền, phòng, chống cháy, nổ, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ ở gia đình, cơ quan, doanh nghiệp cũng như khi đang tham gia giao thông trên đường, góp phần giảm thiểu những hậu quả đáng tiếc do các vụ cháy, nổ gây ra.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 8 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Chương 1
TỔNG QUAN CÔNG TÁC
PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY
I. CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY
1. Khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa của công tác phòng cháy, chữa cháy
a) Khái niệm
Phòng cháy và chữa cháy là một tập hợp các giải pháp mang tính kỹ thuật, có liên quan tới việc loại trừ, hạn chế tới mức tối thiểu các nguy cơ cháy, nổ, hỏa hoạn, đồng thời nhanh chóng dập tắt khi đám cháy xảy ra, ngăn chặn cháy lan và xử lý thiệt hại về người và tài sản.
Cụm từ này có thể hiểu đơn giản bằng cách chia rõ hai vế phòng cháy và chữa cháy. Phòng cháy là các việc làm nhằm ngăn chặn, hạn chế, không cho nảy sinh hiểm họa cháy, nổ; chữa cháy là xử lý kịp thời đám cháy đã xảy ra về cả hiện trường và hậu quả.
b) Mục tiêu
Hiện nay, mỗi tổ chức, cá nhân đều cần phải ý thức được tầm quan trọng của việc phòng cháy và chữa cháy trong cuộc sống hằng ngày. Mục tiêu
7
của công tác phòng cháy và chữa cháy của từng đối tượng cụ thể như sau:
- Đối với lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy: Cần tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng cháy, chữa cháy cho người dân. Bên cạnh đó, lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cần hướng dẫn, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về phòng cháy và chữa cháy của các hộ gia đình, công ty, cơ sở kinh doanh... trên địa bàn quản lý, đồng thời xử lý đám cháy nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả ngay khi nhận được tin báo cháy.
- Đối với các cơ quan, tổ chức: Người quản lý phải có trách nhiệm phổ biến kiến thức về phòng cháy và chữa cháy cho cán bộ, công nhân viên trong cơ quan, tổ chức của mình, đồng thời duy trì hoạt động của đội phòng cháy, chữa cháy nội bộ theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cần thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành nội quy phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm ngân sách đáp ứng đủ cho công tác phòng cháy, chữa cháy được vận hành hiệu quả nhất.
- Đối với các hộ gia đình: Mỗi hộ dân cần hiểu được phòng cháy, chữa cháy là gì, có ý thức chủ động hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra cháy, nổ, hơn nữa cần trang bị đầy đủ các thiết bị phòng cháy, chữa cháy chuyên dụng trong nhà. Khi xảy ra sự cố cháy, nổ cần báo ngay với lực lượng phòng cháy và chữa cháy, cùng phối hợp hiệu quả để xử lý đám cháy.
8
c) Ý nghĩa
- Chủ động nắm bắt tình huống lúc xảy ra cháy, nổ: Sự hiểu biết về những cách phòng cháy, chữa cháy sẽ giúp bạn có thể chủ động nắm bắt được tình hình, cách thức phòng tránh cháy, nổ, cũng như bình tĩnh xử lý, bảo đảm an toàn cho bản thân và người xung quanh khi xảy ra hỏa hoạn.
- Cả cộng đồng cùng thực hành phòng cháy và chữa cháy: Không chỉ hạn chế rủi ro không mong muốn, phòng cháy và chữa cháy còn có ý nghĩa tích cực là con người trong tập thể, cộng đồng gắn kết với nhau. Những buổi đào tạo không chỉ nâng cao kiến thức cấp thiết về phòng, chống cháy, nổ mà còn giúp mọi người trong tập thể tăng cường sự tương tác, tương trợ nhau, sự gắn kết cộng đồng.
Thực tế, vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy đã được thể chế hóa trong Pháp lệnh đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quy định việc quản lý nhà nước đối với công tác phòng cháy, chữa cháy được ban hành ngày 04/10/1961. Thực hiện Pháp lệnh và lời dạy của Bác, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy luôn giữ vai trò nòng cốt, vận động nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh, trật tự như “phòng gian, phòng hỏa, phòng không”, phong trào “Làm bếp an toàn”... Những phong trào này đã tạo cơ sở, nền tảng trong công tác xây dựng phong trào toàn dân phòng cháy, chữa cháy.
9
Để phong trào toàn dân phòng cháy, chữa cháy đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, quyết định về công tác quần chúng như: Chỉ thị số 175/CT ngày 31/5/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường công tác phòng cháy và chữa cháy; Chỉ thị số 237-TTg ngày 19/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy; Quyết định số 369-TTg ngày 04/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc lấy ngày 04 tháng 10 hằng năm là Ngày phòng cháy, chữa cháy toàn dân... Đặc biệt, ngày 29/6/2001, kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Phòng cháy và chữa cháy (sửa đổi năm 2013), trong đó quy định nhiều vấn đề về công tác xây dựng phong trào quần chúng phòng cháy, chữa cháy với những nguyên tắc mang tính khoa học, tính quần chúng cao, thể hiện vai trò to lớn của nhân dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy, chữa cháy; nhấn mạnh mọi hoạt động phòng cháy và chữa cháy trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng lực lượng, phương tiện tại chỗ.
- Giúp hạn chế tác hại của cháy về tính mạng và tài sản: Ý nghĩa của phòng cháy và chữa cháy là giúp ngăn chặn sự cố cháy, nổ xảy ra. Mọi người có thể hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến cháy, phương pháp hạn chế tối thiểu nhất lửa lan rộng, dập lửa đúng cách để không bùng phát trở lại.
10
Việc đánh giá kỹ những giải pháp phòng cháy và chữa cháy có thể hạn chế được các trường hợp xấu xảy ra, trong những tình huống nguy cấp có thể giảm thiệt hại về người và tài sản. Bên cạnh đó, sở hữu kiến thức, sự hiểu biết thông tin về phòng cháy, chữa cháy giúp ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng thời cơ cháy, nổ để thực hiện các hành vi trái pháp luật, lợi dụng cháy, nổ để trục lợi, tác động đến tài sản, tính mạng của người khác.
2. Tính chất của công tác phòng cháy, chữa cháy
a) Tính quần chúng
- Trong hoạt động hằng ngày, tại nơi làm việc cũng như nơi cư trú thường xuyên tồn tại lửa, các thiết bị sinh lửa, sinh nhiệt và các loại chất cháy, như vậy hầu như ở đâu, lúc nào cũng có đủ các yếu tố gây cháy. Do đó công tác phòng cháy, chữa cháy mang tính chất quần chúng rất sâu sắc và tính xã hội hóa cao. Theo thống kê cho thấy, nguyên nhân gây cháy chủ yếu do con người thiếu ý thức hoặc kiến thức gây ra, nhưng cũng chính con người lại phát hiện cháy và tổ chức chữa cháy.
- Cháy nguy hiểm và gây thiệt hại khôn lường, vì lợi ích thiết thân của mình, mỗi người đều phải lo việc phòng cháy, chữa cháy. Song cháy có thể lan từ nhà này sang nhà khác, công trình này sang công trình khác, vì vậy, đối với việc chữa cháy, nhất là đối với những đám cháy lớn, phức tạp phải có
11
nhiều người, nhiều lực lượng hợp sức mới dập tắt được. Do đó việc phòng cháy, chữa cháy không phải là việc riêng của từng người, mà trở thành việc chung của toàn xã hội, phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy, chữa cháy.
b) Tính pháp chế
Công tác phòng cháy, chữa cháy là một lĩnh vực rất quan trọng và cấp thiết của toàn xã hội, bởi vậy nó phải được thể chế hóa thành luật pháp để hướng dẫn và bắt buộc mọi cơ quan, tổ chức, cơ sở, hộ gia đình và cá nhân thực hiện thường xuyên, triệt để mới đem lại hiệu quả.
Để ngăn ngừa cháy xảy ra, đòi hỏi mọi cơ quan, tổ chức, cơ sở, hộ gia đình và cá nhân phải chấp hành triệt để các quy định an toàn phòng cháy, chữa cháy, phải xác định việc phòng cháy, chữa cháy là trách nhiệm của chính mình, nhưng trong thực tiễn thì ý thức phòng cháy, chữa cháy của nhiều người còn chưa cao. Do đó, song song với các biện pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, phải thực hiện các biện pháp hành chính, cưỡng chế để bắt buộc mọi người phải tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy.
Hệ thống các văn bản pháp luật về phòng cháy, chữa cháy của nước ta hiện nay gồm:
- Luật Phòng cháy, chữa cháy; các luật khác có nội dung quy định về phòng cháy, chữa cháy;
12
- Các nghị định của Chính phủ; chỉ thị, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng cháy, chữa cháy;
- Các thông tư, quyết định, chỉ thị của các bộ, cơ quan ngang bộ; nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp; chỉ thị, quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp về công tác phòng cháy, chữa cháy.
c) Tính khoa học
Bản chất của sự cháy là phản ứng hóa học kèm theo tỏa nhiệt và phát ra ánh sáng. Để sự cháy không biến thành đám cháy gây thiệt hại cho con người và để dập tắt đám cháy cần phải áp dụng nhiều bộ môn khoa học, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
d) Tính chiến đấu
Cháy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Để chữa cháy kịp thời và có hiệu quả, phải tổ chức việc ứng trực sẵn sàng chữa cháy 24/24 giờ với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao.
Việc tổ chức chữa cháy rất nguy hiểm, vì dưới tác động của nhiệt độ cao, nổ lý - hóa học (bình gas, khí nén...) sẽ phá hủy các cấu kiện của công trình bị cháy dẫn đến sụp đổ một phần hoặc toàn bộ công trình, ngoài ra trong vùng cháy sẽ tồn tại nhiều khói và khí độc..., do đó đòi hỏi người chữa cháy phải mưu trí, dũng cảm, có kỷ luật cao, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chỉ huy, áp dụng thành thạo các kỹ thuật, chiến thuật chữa cháy đúng đắn, linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng để cứu
13
người đang bị kẹt trong đám cháy, dập tắt đám cháy nhanh nhất, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho người và phương tiện tham gia chữa cháy.
3. Nguyên tắc của công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
Điều 4, Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001 (sửa đổi năm 2013) đã đề ra 4 nguyên tắc hoạt động phòng cháy, chữa cháy là:
Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy, chữa cháy Công tác phòng cháy, chữa cháy là hoạt động mang tính xã hội rộng lớn, vì vậy phải coi đây là sự nghiệp của toàn dân, là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, cơ sở, hộ gia đình và mỗi cá nhân, có như vậy công tác phòng cháy, chữa cháy mới đạt hiệu quả cao.
Phải tổ chức phát động thành phong trào để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong mọi hoạt động phòng cháy, chữa cháy.
Trong hoạt động phòng cháy, chữa cháy, lấy phòng ngừa là chính; phải tích cực và chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hại do cháy gây ra
Trong hoạt động phòng cháy, chữa cháy, công tác phòng ngừa phải đi trước, phải tổ chức công tác phòng ngừa cháy, nổ triệt để, hiệu quả để làm giảm đến mức thấp nhất số vụ cháy xảy ra. Công tác phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ phải
14
tiến hành đồng bộ từ công tác tuyên truyền, hướng dẫn, vận động nhân dân phòng cháy, chữa cháy đến việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện an toàn phòng cháy, chữa cháy, kiểm tra phát hiện và tổ chức khắc phục những sơ hở, thiếu sót, vi phạm quy định an toàn phòng cháy, chữa cháy, xử lý những vi phạm quy định an toàn phòng cháy, chữa cháy...
Trong công tác phòng ngừa đã bao hàm ý nghĩa chuẩn bị các điều kiện cho công tác chữa cháy và chống cháy lan.
Phải chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện khác để khi có cháy xảy ra thì chữa cháy kịp thời, có hiệu quả
Tuy xác định công tác phòng ngừa là chính nhưng không vì thế mà coi nhẹ công tác chữa cháy, bởi vì cháy xảy ra do nhiều nguyên nhân, cho nên dù có làm tốt công tác phòng ngừa đến đâu cũng vẫn có thể xảy ra cháy, do vậy phải chuẩn bị sẵn sàng để chữa cháy kịp thời và có hiệu quả.
Nguyên tắc này thể hiện tính chủ động trong hoạt động chữa cháy. Để chữa cháy có hiệu quả cần phải chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện về lực lượng, phương tiện và việc tổ chức phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các lực lượng chữa cháy. Mỗi vụ cháy xảy ra đều có những đặc điểm khác nhau, vì vậy phải chú trọng công tác tổ chức huấn luyện, thực tập các phương án chữa cháy thích hợp với từng loại hình cơ sở, đồng thời phải trang bị phương tiện chữa cháy cần thiết đáp ứng yêu cầu chữa cháy hiện nay.
15
Mọi hoạt động phòng cháy, chữa cháy trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng lực lượng và phương tiện tại chỗ
Khi đám cháy mới xảy ra thường là cháy nhỏ, nếu được phát hiện kịp thời và có lực lượng, phương tiện tại chỗ thì việc dập tắt đám cháy rất nhanh và đơn giản, nhưng nếu không phát hiện và không tổ chức chữa cháy kịp thời thì đám cháy sẽ phát triển lớn, việc tổ chức chữa cháy rất khó khăn, phức tạp và dẫn đến thiệt hại rất nghiêm trọng.
Do đó phải chủ động chuẩn bị lực lượng và phương tiện tại chỗ, trong đó mỗi cơ quan, tổ chức, cơ sở phải thành lập lực lượng phòng cháy, chữa cháy cơ sở để làm lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân phòng cháy, chữa cháy. Lực lượng này phải được tổ chức chặt chẽ, huấn luyện kỹ để có đủ khả năng làm tốt công tác phòng ngừa và chữa cháy tại chỗ kịp thời, có hiệu quả; đồng thời mỗi cơ quan, tổ chức và cơ sở phải tự trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy cần thiết đáp ứng yêu cầu phòng cháy, chữa cháy tại chỗ và phải sử dụng thành thạo các phương tiện đó.
4. Tầm quan trọng của công tác phòng, chống cháy, nổ
Công tác phòng cháy, chữa cháy đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng và tài sản của mọi gia đình và xã hội. Chỉ cần một phút lơ là, bất cẩn thì hậu quả để lại sẽ rất lớn.
16
Đã có nhiều vụ cháy xảy ra gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, qua đó đòi hỏi việc nâng cao ý thức phòng, chống cháy, nổ là không thể xem nhẹ.
Ngày 04/10/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Pháp lệnh quy định việc quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy. Đây là một trong những pháp lệnh được ban hành sớm nhất của Nhà nước ta, chứng tỏ tầm quan trọng của công tác phòng cháy, chữa cháy. Từ đó đã làm dấy lên các phong trào phòng cháy, chữa cháy, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân và của xã hội.
Có thể nói, trong bối cảnh đất nước không ngừng xây dựng và phát triển như hiện nay thì công tác phòng cháy, chữa cháy càng có vai trò quan trọng. Ít có tai nạn nào mà cùng lúc có thể gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của con người như các vụ hỏa hoạn.
Hậu quả của cháy, nổ là khôn lường, bởi nguyên nhân gây cháy, nổ đôi khi chỉ bắt nguồn từ một đốm lửa nhỏ, một sự cố chập điện hoặc do những bất cẩn từ con người... nhưng khi đã bùng phát thành đám cháy lại rất dữ dội. Rõ ràng là trong bao nhiêu hiểm nguy, tiềm ẩn và rủi ro mang lại từ nhiều phía, thì những sự cố đáng tiếc được cho là do “nhân tai” gây ra là không thể xem thường.
Từ trước đến nay đã có quá nhiều bài học đau đớn và thương tâm do cháy, nổ gây ra, như vụ cháy
17
Trung tâm thương mại ITC Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10/2002 làm 60 người thiệt mạng, hay những vụ cháy trong đêm làm chết oan cả gia đình và hàng xóm do chứa chất dễ cháy, chất nổ tạo hiệu ứng cho phim trường... Thông thường, nguyên nhân của những tai nạn đau lòng này đều bắt nguồn từ sự khinh suất của con người.
Hiện nay, tại các đô thị lớn, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nhà cao tầng, công trình ngầm, các trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các trạm xăng, dầu trong nội đô..., thì nguy cơ cháy, nổ được cảnh báo là rất lớn và sẽ gây hậu quả khôn lường nếu hỏa hoạn xảy ra, do trong hoạt động thường ngày tồn tại khối lượng lớn các chất dễ cháy như xăng, dầu, chất đốt, điện, hóa chất...
Tuy nhiên trên thực tế, nhiều cơ quan, đơn vị và không ít người vẫn còn xa lạ và thờ ơ với công tác phòng cháy, chữa cháy. Qua khảo sát, 14.500 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất được kiểm tra phòng cháy, chữa cháy thì có tới 1.300 doanh nghiệp không tuân thủ quy định an toàn cháy, nổ1. Việc bảo đảm các trang thiết bị, điều kiện nhân lực, vật lực về an toàn phòng cháy, chữa cháy chỉ được làm chiếu lệ, qua loa, mang tính đối phó vẫn còn diễn ra.
1. Nguồn: http://baobinhduong.vn/phong-chay-chua chay-khong-the-xem-nhe-a101355.html.
18
Ở nhiều công sở, cơ quan, đơn vị, khu dân cư đều có niêm yết Tiêu lệnh phòng cháy, chữa cháy nhưng lại thường xuyên bị quên lãng vì chẳng mấy ai quan tâm, càng không nói tới việc thực hiện. Không ít doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà quên đi biện pháp bảo vệ an toàn về cháy, nổ đối với tính mạng người lao động và tài sản của mình.
Chỉ khi cháy đã xảy ra hoặc tận mắt chứng kiến hậu quả, người ta mới giật mình thức tỉnh. Sẽ là quá muộn nếu vẫn giữ ý thức phòng cháy, chữa cháy theo kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Bởi vậy, không khó hiểu khi sau những thảm họa cháy, nổ, nhiều vụ cháy lớn khác vẫn liên tục xảy ra...
Vì vậy, bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy là việc phải được quan tâm thực hiện thường xuyên, liên tục, đồng đều, rộng khắp ở các địa phương. Đặc biệt ở các đô thị lớn, đông dân cư thì cháy rất dễ trở thành thảm họa, việc phòng cháy vì thế cần phải trở thành một nguyên tắc sống, ăn sâu bám rễ vào ý thức của từng người dân.
Cháy, nổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và không ngoại trừ một ai. Phòng cháy, chữa cháy tốt chính là hành động thiết thực nhất để bảo vệ tính mạng, tài sản của chính mình và những người xung quanh và góp phần bảo vệ thành quả to lớn của xã hội. Việc này chỉ thành công nếu có sự đồng tình và góp sức của toàn xã hội.
19
5. Một số văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy
- Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001. - Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2013.
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình (Chương II, mục 3).
- Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.
- Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.
- Thông tư số 36/2018/TT-BCA ngày 05/12/2018 của Bộ Công an sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014
20
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.
- Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
- Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18/7/2017 của Chính phủ quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy.
- Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. ịịố
- Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 05/7/2017 của Thủ ủíủịếộố tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản ềủậòáữáậ
lý vật liệu nổ công nghiệp.
ửổổộốềủậòá
- Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 05/12/2018 của ữá
Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy tại khu dân cư.
- Thông tư số 47/2015/TT-BCA ngày 06/10/2015 của Bộ Công an hướng dẫn về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở kinh doanh vũ trường, karaoke.
- Thông tư số 57/2015/TT-BCA ngày 26/10/2015 của Bộ Công an hướng dẫn về trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.
- Thông tư số 60/2015/TT-BCA ngày 09/11/2015 của Bộ Công an quy định về tiêu chuẩn, định mức
21
trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy.
- Thông tư số 39/2016/TT-BCA ngày 04/10/2016 của Bộ Công an quy định về tiếp nhận, xử lý thông tin báo cháy và triển khai hoạt động chữa cháy của lực lượng cảnh sát phòng cháy và chữa cháy.
- Thông tư số 08/2018/TT-BCA ngày 05/3/2018 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18/7/2017 quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy.
- Các quy chuẩn quốc gia và Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về phòng cháy, chữa cháy.
II. TÌNH HÌNH CHÁY, NỔ VÀ MỘT SỐ VỤ CHÁY, NỔ GÂY THIỆT HẠI LỚN THỜI GIAN QUA
1. Tình hình cháy, nổ trong thời gian qua Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, tình hình cháy, nổ cũng đang diễn ra ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Tổng thiệt hại về người và của năm sau vẫn cao hơn năm trước. Trước những mất mát to lớn đó, tình hình cháy, nổ đã ở mức báo động cao và để giảm thiểu, kìm hãm được đòi hỏi phải có sự chung tay của toàn thể các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, của mỗi người dân và của toàn xã hội. Tại Hội nghị đánh giá thực trạng và bàn giải pháp bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy đối
22
với các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ năm 2016, Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an đ thng kê: Năm 2016, tình hình cháy, nổ trên cả nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; theo thống kê, đã xảy ra 3.006 vụ cháy, trong đó có 1.229 vụ cháy tại các cơ sở, 1.290 vụ cháy nhà dân, 169 vụ cháy phương tiện giao thông và 318 vụ cháy rừng, làm chết 98 người, bị thương 180 người, thiệt hại về tài sản trị giá ước tính trên 1.240 tỷ đồng và 1.800 ha rừng. Cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng xảy ra 29 vụ, mặc dù chỉ chiếm 0,96% tổng số vụ cháy nhưng gây thiệt hại 931,8 tỷ đồng, tương đương 75,1% tổng thiệt hại do các vụ cháy gây ra, làm chết 13 người, bị thương 4 người. Xảy ra 23 vụ nổ, làm chết 7 người, bị thương 48 người, thiệt hại về tài sản khoảng 1,4 tỷ đồng.
Qua phân tích, tình hình cháy, nổ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản tập trung chủ yếu cháy nhà dân, nhà liền kề (1.290 vụ, chiếm khoảng 42,9%) và một số loại hình cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ, gồm: khu công nghiệp, chung cư, cơ sở cho thuê mặt bằng để kinh doanh... Ngoài ra năm 2016 còn nổi lên tình hình cháy tại cơ sở kinh doanh dịch vụ vui chơi, giải trí như vũ trường, quán bar, karaoke.
Theo Tổng cục Thống kê, tính chung năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 4.114 vụ cháy, nổ, làm 119 người chết và 270 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 2.000 tỷ đồng.
23
Nguyên nhân của vụ cháy: Thứ nhất, do chập điện, điện quá tải dẫn tới hình thành nguồn nhiệt và gây cháy. Thứ hai, phần lớn các hộ gia đình không hiểu biết trong việc sử dụng nguồn lửa. Rất nhiều hộ dân không có kiến thức, hiểu biết về nguy cơ hình thành, phát triển đám cháy, kỹ năng phòng ngừa, kỹ năng thoát nạn, thoát hiểm, kỹ năng chữa cháy khi có sự cố xảy ra.
Trong năm 2018, cả nước xảy ra 4.182 vụ cháy tại các cơ sở, nhà dân, phương tiện giao thông và cháy rừng, làm chết 90 người, bị thương 208 người, tiêu hủy về tài sản trị giá 2.014 tỷ đồng và 1.067 ha rừng; xảy ra 44 vụ nổ, làm chết 10 người, bị thương 54 người, thiệt hại về tài sản 543,3 triệu đồng.
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2019 và triển khai công tác năm 2020, Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an đã thống kê: Năm 2019, cả nước xảy ra 3.790 vụ cháy, làm chết 85 người, bị thương 126 người, thiệt hại về tài sản ước tính 1.527 tỷ đồng và 3.952 ha rừng; xảy ra 26 vụ nổ, làm chết 17 người, bị thương 40 người. Cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng tập trung chủ yếu tại các địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh, có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, chợ, trung tâm thương mại, nhà cao tầng. So với cùng kỳ năm 2018: Số vụ cháy giảm 392 vụ (giảm 29,4%); số người chết giảm 5 người (giảm 5,6%); người bị thương giảm 82 người (giảm 39,4%); thiệt hại về tài sản giảm
24
487,833 tỷ đồng (giảm 24,2%). Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã thực hiện 4.509 vụ cứu nạn, cứu hộ, trong đó có 3.308 vụ cứu nạn, cứu hộ trong đám cháy (chiếm 73,36%), 585 vụ cứu nạn, cứu hộ dưới nước (chiếm 12,97%), tổ chức hướng dẫn thoát nạn hàng nghìn người ra khỏi khu vực sự cố, tai nạn, vùng ngập, lụt nguy hiểm, trực tiếp cứu được 2.089 người.
Trong Quý I năm 2020, cả nước xảy ra 864 vụ cháy (gồm 791 vụ cháy nhà dân, cơ sở, phương tiện giao thông cơ giới và 73 vụ cháy rừng) và 8 vụ nổ. Thiệt hại do cháy, nổ gây ra làm chết 26 người, bị thương 62 người, về tài sản ước tính khoảng 197,41 tỷ đồng và 235 ha rừng.
Trong đó, cháy gây thiệt hại nghiêm trọng về người chủ yếu xảy ra tại khu chung cư, nhà cao tầng, nhà siêu cao tầng, nhà dân có kết cấu theo dạng nhà ống, nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh
ãố
và các cơ sở tập trung đông người. Hầu hết các công trình này đều không bảo đảm yêu cầu về an toàn phòng cháy, chữa cháy như thiếu lối thoát nạn, hệ thống thiết bị điện xuống cấp, quá tải, việc sử
áớậ
dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt không bảo đảm an
ủ
toàn...; bên cạnh đó người dân thiếu kỹ năng xử lý, kỹ năng thoát nạn khi có cháy, nổ xảy ra. Các vụ cháy xảy ra do chập điện chiếm đến khoảng 70%, số người thiệt mạng trong các vụ cháy chủ yếu là do ngạt thở (khí độc sản sinh ra từ những vật liệu cháy) và không có lối thoát hiểm.
25
Ngoài ra, công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát của các lực lượng chức năng chưa đủ quyết liệt và ý thức, nhận thức của người dân trong việc phòng cháy, chữa cháy chưa cao.
Qua đó, cho thấy rằng cần tăng cường công tác tuyên truyền đến người dân, đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, của chính quyền địa phương, và phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị.
Một thực trạng hết sức đáng quan ngại là càng ở những thành phố lớn, nơi có điều kiện về kinh tế để đầu tư phương tiện phòng cháy, chữa cháy và có đông lực lượng phòng cháy, chữa cháy thì dường như số vụ cháy, nổ càng nhiều hơn và nghiêm trọng hơn.
2. Một số vụ cháy, nổ điển hình
Thời gian qua đã xảy ra hàng loạt các vụ cháy gây thiệt hại lớn về người và tài sản, để lại nhiều đau thương mất mát cho nhiều gia đình và khiến người dân cảm thấy lo lắng, bất an.
- Cháy tại Công ty may Kwong Lung - Meko ở thành phố Cần Thơ, thiệt hại lên đến 400 tỷ đồng Sáng 23/3/2017, lửa bốc lên từ tầng 5 của tòa nhà Công ty may Kwong Lung - Meko, thành phố Cần Thơ. Vụ hỏa hoạn lớn và kéo dài nên Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy thành phố Cần Thơ phải “cầu viện” thêm lực lượng chữa cháy Quân khu 9 và nhiều tỉnh thành, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh.
26
Đến buổi tối cùng ngày, ngọn lửa bùng phát trở lại và phải đến tận trưa 24/3/2017 mới được dập tắt lần thứ hai.
Hai ngày sau (26/3/2017), lửa lại bốc cháy ngùn ngụt. Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy Thành phố Hồ Chí Minh và Hậu Giang tiếp tục chi viện cho thành phố Cần Thơ chữa cháy. Đám cháy tuy được dập tắt lúc đó nhưng vẫn liên tục bùng phát trở lại. Phải đến sau hơn 5 ngày ngọn lửa mới được dập tắt hoàn toàn, thiệt hại lên đến 400 tỷ đồng.
Nguyên nhân vụ việc là do công ty này có nhà xưởng xây dựng khép kín. Khi xảy ra cháy, nguyên liệu ở giữa bị cháy trước sau đó lan ra ngoài. Bên cạnh đó, nguyên liệu cháy là lông vũ nên khi phun xịt, dù lửa tắt bên trên nhưng bên dưới vẫn còn âm ỉ. Đây là lý do khiến đám cháy bùng phát trở lại nhiều lần.
Hình 1.1. Hiện trường vụ cháy Công ty may Kwong Lung - Meko ở thành phố Cần Thơ
27
- Cháy siêu thị Thành Đô, Hà Nội: thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng
Khoảng 1 giờ sáng 16/9/2017, lửa bốc cháy dữ dội từ tầng 1 của siêu thị Thành Đô, Hoàng Mai, Hà Nội.
Chỉ trong thời gian ngắn, ngọn lửa bén vào các vật dễ cháy tại tầng 1 của siêu thị rồi lan rộng ra toàn bộ tầng 1 và nhanh chóng bốc cao lên tầng 2 của siêu thị Thành Đô. Lửa bao trùm toàn bộ diện tích hơn 300m2 của siêu thị. Mặc dù thời điểm siêu thị cháy, trời đang có mưa nhưng ngọn lửa liên tục bốc lên dữ dội do bên trong chứa nhiều vật dụng dễ cháy.
Đến khoảng 2 giờ 30 phút sáng cùng ngày, ngọn lửa cơ bản được khống chế nhưng toàn bộ siêu thị Thành Đô đã bị lửa thiêu rụi, sập đổ hoàn toàn,
Hình 1.2. Hiện trường vụ cháy siêu thị Thành Đô, Hà Nội
28
thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng. Nguyên nhân được xác định là do chập điện tại quầy ăn nhanh của siêu thị này.
- Cháy chung cư Carina Plaza, Thành phố Hồ Chí Minh: 13 người chết, hàng chục người bị thương, 15 xe ôtô, 150 xe máy bị thiêu rụi, hư hỏng
Rạng sáng 23/3/2018, chung cư Carina Plaza nằm trên đường Võ Văn Kiệt, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bốc cháy ngùn ngụt làm 13 người chết và hàng chục người bị thương, 15 xe ôtô, 150 xe máy bị thiêu rụi, hư hỏng.
Khi xảy ra cháy, chuông báo cháy được lắp đặt ở chung cư không hoạt động. Nguyên nhân cháy bắt nguồn từ một xe ở tầng hầm.
Đây là vụ hỏa hoạn nghiêm trọng nhất trong vòng 15 năm trở lại đây trên địa bàn Thành phố
Hình 1.3. Hiện trường vụ cháy chung cư Carina Plaza, Thành phố Hồ Chí Minh
29
Hồ Chí Minh và là vụ cháy lớn thứ hai trong vòng hai thập kỷ, chỉ sau vụ cháy Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) ngày 29/10/2002.
- Cháy lớn ở bãi rác thải sinh hoạt xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An: 34 người bị ngộ độc khói
Khoảng 2 giờ sáng 25/6/2018, một đám cháy xuất hiện trong bãi rác Ngọc Sơn và nhanh chóng lan ra toàn bãi rác rộng nhiều hécta. Do thời tiết khô hanh, gió thổi mạnh trong khi lượng rác lớn, cao 2 - 3m, cộng với việc bãi rác nằm xa nguồn nước khiến việc chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Đám cháy kéo dài nhiều ngày tạo ra lượng khói lớn bay vào khu dân cư xung quanh. Do hít phải khói này, đã có 34 người dân trên địa bàn xã Ngọc Sơn có hiện tượng nôn mửa, ngạt thở, chủ yếu là người già và trẻ em phải đến Trạm Y tế xã Ngọc Sơn cấp cứu.
Hình 1.4. Hiện trường vụ cháy bãi rác ở xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
30
Do tiếp nhận việc xử lý rác cho 33 xã khiến bãi rác xã Ngọc Sơn bị quá tải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong năm 2018, bãi rác này đã xảy ra 3 vụ cháy và đây là vụ cháy lớn nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ dân xung quanh.
- Cháy quán bar M Lounge & Club ở Thành phố Hồ Chí Minh: thiệt hại hàng chục tỷ đồng Khoảng gần 3 giờ sáng 31/10/2018, người dân bất ngờ phát hiện khói lửa bùng phát dữ dội từ quán bar M Lounge & Club (số 212 đường Lý Thái Tổ, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Do bên trong quán bar chứa nhiều vật liệu cách âm dễ bắt lửa
Hình 1.5. Hiện trường vụ cháy quán bar
M Lounge & Club ở Thành phố Hồ Chí Minh31
nên cháy lan ra phía sau rất nhanh, khiến việc tiếp cận hiện trường gặp nhiều khó khăn. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy thuộc Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã phải huy động luân phiên hàng chục xe chữa cháy cùng khoảng 100 chiến sĩ phòng cháy, chữa cháy đến hiện trường chữa cháy.
Vụ cháy không gây thương vong về người nhưng đã thiêu rụi quán bar và khiến một số nhà dân liền kề bị cháy xém, thiệt hại lên đến hàng chục tỷ đồng.
- Cháy xe bồn chở xăng, dầu ở Bình Phước: 6 người thiệt mạng, cháy 19 căn nhà ven đường Khoảng 4 giờ 30 phút sáng 22/11/2018, chiếc xe bồn chở 10m3 dầu và 4m3 xăng đi qua khu vực Quốc lộ 13, đoạn qua ấp 3B, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã xảy ra va chạm giao thông với xe ba gác.
Hình 1.6. Hiện trường vụ cháy xe bồn chở xăng, dầu ở Bình Phước
32
Cú va chạm khiến xe bồn lao lên lề đường, tông gãy trụ điện rồi lật ngang, bốc cháy dữ dội. Hậu quả đã làm cháy 19 căn nhà ven đường và 6 người tử vong, tài xế xe bồn bị thương nặng.
- Cháy xưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Pan Pacific Logistics ở Bình Dương: thiệt hại hàng tỷ đồng
Vào 7 giờ 15 phút sáng 11/4/2019, đã xảy ra vụ cháy lớn tại xưởng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Pan Pacific Logistics chuyên các dịch vụ cho thuê kho bãi, vận chuyển hàng hóa... (lô C2, đường N17-18, Khu công nghiệp Sóng Thần 2, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương). Trong thời gian ngắn, ngọn lửa đã bốc lên ngùn ngụt kèm theo nhiều tiếng nổ lớn, cột khói đen bốc cao hàng chục mét, bao trùm cả một số công ty gần khu vực. Khu vực xảy ra cháy
Hình 1.7. Hiện trường vụ cháy xưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Pan Pacific Logistics ở Bình Dương
33
là một xưởng chứa gỗ rộng 1.000m2, chứa nhiều vật dụng dễ cháy nên ngọn lửa càng bốc cháy dữ dội. Vụ cháy đã khiến 1.000m2 nhà xưởng đổ sập, nhiều máy móc và vật liệu bên trong bị thiêu rụi hoàn toàn, một số thùng container hàng hóa để trong khu vực này cũng bị cháy, thiệt hại lên đến hàng tỷ đồng.
- Cháy 4 kho, xưởng ở Hà Nội: 8 người thiệt mạng Khoảng 2 giờ 15 phút sáng 12/4/2019, xảy ra vụ hỏa hoạn (ngõ 1 Đại Linh, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) làm cháy 4 kho, xưởng bao gồm xưởng kho lạnh, xưởng làm hạt chống ẩm, xưởng sản xuất thùng nhựa đựng rác và kho chứa đồ gỗ thành phẩm.
Cả 4 kho, xưởng này đều có kết cấu khung thép, mái tôn, tường xây lửng bằng gạch, phía trên bịt tôn; được xây dựng tạm, xen kẽ với khu dân cư
Hình 1.8. Hiện trường vụ cháy 4 kho, xưởng ở Hà Nội
34
trên đất lấn chiếm giáp sông Nhuệ. Ngoài ra, khu vực kho, xưởng bị cháy nằm sâu trong khu dân cư hàng trăm mét, có nhiều vật liệu dễ cháy như đồ nhựa, đồ gỗ nên đã gây cháy lan.
Vụ cháy đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, khiến 8 người tử vong, trong đó 4 người trong một gia đình tử vong là cặp vợ chồng trẻ cùng 2 con nhỏ và thiêu rụi 4 kho, xưởng. Nguyên nhân vụ cháy được xác định là do chập mạch điện trên đường dây dẫn điện làm cháy vỏ nhựa cách điện, sau đó cháy lan ra xung quanh.
- Cháy Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, Hà Nội: thiệt hại khoảng 150 tỷ đồng Khoảng 18 giờ ngày 28/8/2019, nhà kho Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (số 87-89 phố Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung,
Hình 1.9. Hiện trường vụ cháy Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, Hà Nội
35
quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội) bùng phát đám cháy và kéo dài suốt 5 tiếng. Nguyên nhân cháy là do sự cố điện ở bảng mạch điện tử của bóng đèn chiếu sáng (đèn led) tại vị trí cách vách tôn phía đông bắc khoảng 7m, cách vách tôn phía tây bắc 3,4m bên trong tầng 2 của kho bán thành phẩm làm cháy các chi tiết bên trong của bóng đèn led, sau đó cháy lan sang khu dân cư, nhiều hộ dân phải sơ tán khỏi khu vực cháy.
Vụ cháy đã làm cháy khoảng 6.000m2 kho chứa sản phẩm gồm bóng đèn huỳnh quang, bóng đèn compact và bóng đèn tròn công suất thấp, thiệt hại khoảng 150 tỷ đồng. Ngoài ra, theo quan trắc của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), lượng thủy ngân phát tán ra ngoài môi trường do vụ cháy là từ 15,1kg đến 27,2kg, gây nguy hiểm đến sức khỏe người dân.
- Cháy Cung văn hóa Hữu nghị Việt - Xô ở Hà Nội: thiệt hại hơn 8 tỷ đồng
Khoảng 5 giờ 30 phút sáng 28/9/2019, ngọn lửa bùng phát dữ dội tại hội trường Cung văn hóa Hữu nghị Việt - Xô (số 91 phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội). Lửa bùng lên từ tầng 3, hàng ghế lẻ và cháy lan nhanh ra xung quanh. Phía bên ngoài Cung, cột khói đen cao hàng chục mét cuồn cuộn bốc lên. Ngọn lửa cháy rừng rực bên trong hội trường trong nhiều giờ làm toàn bộ sân khấu, mái vòm sân khấu chính đổ sập hoàn toàn.
36
Hình 1.10. Hiện trường vụ cháy
Cung văn hóa Hữu nghị Việt - Xô ở Hà Nội
Nguyên nhân vụ cháy được xác định là do công nhân bất cẩn trong quá trình hàn khi thi công sửa chữa. Sau vụ cháy, toàn bộ đồ dùng, thiết bị âm thanh, đạo cụ của khu vực sân khấu chính bị thiêu rụi, biến dạng, nhiều thiết bị chỉ còn trơ khung sắt..., thiệt hại hơn 8 tỷ đồng.
- Cháy nhà dân ở Hà Nội: 3 người thiệt mạng Khoảng 5 giờ sáng 01/12/2019, đã xảy ra vụ hỏa hoạn tại ngôi nhà cấp 4 (số nhà 22, hẻm 143/202/2 phố Nguyễn Chính, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội). Căn nhà nằm trong ngõ nhỏ hẹp, được quây kín bằng tôn, khung sắt, lại khóa kín bên trong nên khi xảy ra sự cố, nạn nhân không có đường thoát ra ngoài. Phát hiện ra đám cháy, người dân xung quanh đã tìm cách cứu giúp nhưng do nhà kín, khóa nhiều lớp, lửa lại bén nhanh nên không thể tiếp cận. Vụ cháy đã khiến 3 bà cháu ở trong nhà tử vong.
37
Hình 1.11. Hiện trường vụ cháy nhà dân ở Hà Nội
- Cháy 4 nhà hàng ở thành phố Hội An: thiệt hại khoảng 1 tỷ đồng, 4 nhà hàng bị thiêu rụi hoàn toàn Vào 2 giờ 30 phút sáng 12/12/2019, ngọn lửa bất ngờ bùng phát tại khu vực kho chứa thực phẩm của Nhà hàng hải sản Kim Cúc (dọc bãi biển An Bàng, phường Cẩm An, thành phố Hội An) rồi tiếp tục lan vào khu vực nhà bếp. Thời điểm xảy ra vụ cháy có gió to nên chỉ ít phút sau ngọn lửa đã lan rộng và bao trùm lên 3 nhà hàng khác bên cạnh. Phát hiện đám cháy, người dân đã tri hô những người còn ngủ trong các nhà hàng để thoát nạn ra ngoài, đồng thời đã cố dùng các vật dụng để dập lửa nhưng do thời tiết khô hanh, nơi cháy lại nằm sát bờ biển, gió lớn nên lửa bắt quá nhanh. Trong thời gian ngắn, 4 nhà hàng đã bị thiêu rụi, gồm 3 nhà hàng nhỏ dựng bằng vật dụng thô sơ, tre nứa và 1 nhà hàng quy mô lớn, tổng thiệt hại khoảng 1 tỷ đồng.
38
Hình 1.12. Hiện trường vụ cháy 4 nhà hàng ở Hội An
- Cháy chợ Thanh Quýt ở Quảng Nam: thiêu rụi toàn bộ 96 kiốt, thiệt hại khoảng 7 tỷ đồng Vào 23 giờ 45 phút ngày 05/3/2020, đám cháy xảy ra tại một kiốt nằm giữa chợ Thanh Quýt (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), do có gió lớn nên ngọn lửa bùng phát mạnh, lan sang hàng chục kiốt liền kề hai bên và nhanh chóng bao trùm cả khu chợ Thanh Quýt.
Nhiều tiểu thương có kiốt trong nhà lồng chợ khi phát hiện có cháy đã chạy đến cứu hàng nhưng cũng không thể đưa hàng hóa ra ngoài được vì khi đó lửa đã bao trùm khu nhà lồng và các cửa ra vào đều bị khóa, không thể mở được. Vì vậy, vụ cháy gây thiệt hại rất lớn, thiêu rụi hoàn toàn 96 kiốt của 45 hộ dân kinh doanh trong chợ Thanh Quýt, thiệt hại khoảng 7 tỷ đồng.
39
Hình 1.13. Hiện trường vụ cháy chợ Thanh Quýt ở Quảng Nam
- Cháy nhà xưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Như Ý ở Tiền Giang: thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng
Khoảng 3 giờ 30 phút sáng 26/4/2020, ngọn lửa bất ngờ bốc cháy tại khu vực quanh xưởng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Như Ý (xã Tân Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Như Ý chuyên sản xuất bọc xốp bao bì trái cây và may mặc, bên trong nhà xưởng chứa nhiều vật liệu dễ cháy nên lửa bùng phát mạnh và lan sang cửa hàng bán quần áo của Công ty.
Nguyên nhân vụ cháy được xác định là do một công nhân của Công ty bật lửa đốt thử sản phẩm của công ty “xem có cháy không”, hậu quả là lửa lan mạnh, gây cháy lớn. Vụ cháy đã thiêu rụi khoảng
40
Hình 1.14. Hiện trường vụ cháy nhà xưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Như Ý ở Tiền Giang
3.000m2 nhà xưởng và nhiều tài sản của công ty, ước tính thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng.
- Cháy xe bồn ở An Giang: 2 người thiệt mạng, 1 người bị thương, thiệt hại khoảng 720 triệu đồng Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/6/2020, một tài xế điều khiển xe bồn đến Doanh nghiệp tư nhân Trần Văn Ngôn (ấp Vĩnh Cầu, xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) chuyên bán lẻ xăng, dầu để thực hiện bơm xăng vào bể chứa. Trong lúc bơm xăng vào bể chứa thì xe bồn bất ngờ bốc cháy, sau
đó lửa lan khắp xe bồn và các trụ xăng, dầu gần đó. Nguyên nhân của vụ cháy này là do bất cẩn trong quá trình nạp xăng, dầu từ xe bồn sang bể chứa của cây xăng: trong quá trình đấu nối ống dẫn xăng, dầu bị tuột khỏi bể chứa, hơi xăng kết hợp cùng nguồn nhiệt từ ống xả và động cơ xe bồn
41
đang hoạt động nên phát lửa, gây cháy. Vụ cháy làm 2 người tử vong, 1 người bị thương, thiệt hại khoảng 720 triệu đồng.
Hình 1.15. Hiện trường vụ cháy xe bồn ở An Giang
42
Chương 2
KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÒNG VÀ AN TOÀN TRONG PHÒNG, CHỐNG CHÁY, NỔ
I. MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Sự cháy, đám cháy
a) Sự cháy
Cháy là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát sáng. Phản ứng giữa chất cháy và chất ôxy hóa xảy ra rất nhanh và giải phóng ra một lượng nhiệt rất lớn. Lượng nhiệt này tiếp tục nung nóng các sản phẩm xung quanh.
Có 3 yếu tố chính có thể gây nên cháy là: Chất cháy, chất ôxy hóa và nguồn nhiệt. Trong đó chất cháy và chất ôxy hóa đóng vai trò là những chất tham gia phản ứng, còn nguồn nhiệt đóng vai trò là tác nhân cung cấp năng lượng cho các chất tham gia phản ứng.
Nhiệt
Chất cháy
Chất Ôxy
q1 Nhiệt Sản
(khử)
hóa
q2 > q1
phẩm cháy
q2
Hình 2.1. Sơ đồ nhiệt
43
Chất
cháy
Chất
ôxy hóa
Nguồn nhiệt
Hình 2.2. Điều kiện cháy
- Chất cháy:
+ Nếu phân loại theo khả năng cháy, thì chất cháy chia thành 3 loại:
Chất dễ cháy: Là những chất có khả năng bắt lửa và cháy ngay trong điều kiện bình thường của môi trường như giấy, dầu...
Chất khó cháy: Là những chất chỉ có khả năng cháy được ở những nơi có nhiệt độ cao như đồng, thép, etylic loãng...
Chất không cháy: Là những chất không có khả năng cháy khi được đốt nóng như gạch, đá, bê tông... + Nếu phân loại theo trạng thái tồn tại, thì chất cháy chia làm 3 loại:
Chất cháy khí: Là những chất tồn tại ở dạng khí như: hyđrô, axêtylen, khí gas...
Chất lỏng cháy: Là những chất tồn tại ở dạng lỏng như: xăng, dầu, các axít hữu cơ, rượu...
44
Chất rắn cháy: Là những chất tồn tại ở dạng rắn như: gỗ, vải, sợi, cao su...
- Chất ôxy hóa: Là những chất tham gia phản ứng hóa học với chất cháy để tạo nên sự cháy. Chất ôxy hóa trong phản ứng cháy có thể là ôxy nguyên chất, ôxy trong không khí, ôxy sinh ra do các hợp chất chứa ôxy bị phân hủy hoặc các chất ôxy hóa khác có khả năng ôxy hóa chất cháy như: các chất thuộc nhóm Halogen (Clo, Flo, Br, I), H2SO4 đặc nóng...
Trong thực tế ta thường gặp đám cháy xảy ra trong môi trường không khí, chất ôxy hóa là ôxy trong không khí.
- Nguồn nhiệt: Trong phản ứng cháy, nguồn nhiệt là nguồn cung cấp năng lượng cho phản ứng cháy xảy ra, nó là một yếu tố không thể thiếu để sự cháy xảy ra và tồn tại.
Nguồn nhiệt của sự cháy có thể là: ngọn lửa của những vật đang cháy, tia lửa (tia lửa điện, tia lửa do ma sát, do va đập...), vật thể đã được nung nóng hoặc có thể là nhiệt của các phản ứng hóa học, vật lý... hoặc cũng có thể là do chính nhiệt độ của môi trường (trường hợp tự cháy)...
Muốn làm ngừng sự cháy ta phải loại trừ một trong 3 yếu tố trên.
Khi có đầy đủ 3 yếu tố cần thiết cho sự cháy nói trên, sự cháy chưa chắc đã xảy ra mà muốn cháy được thì phải cần thêm 4 điều kiện nữa. Đó là:
- Chất cháy, chất ôxy hóa và nguồn nhiệt phải trực tiếp tiếp xúc với nhau.
45
- Thời gian tiếp xúc phải đủ lớn.
- Năng lượng của nguồn nhiệt phải đủ lớn (nhiệt độ của nguồn nhiệt phải lớn hơn hoặc bằng nhiệt độ tự bốc cháy của hỗn hợp).
- Nồng độ của chất cháy và chất ôxy hóa phải nằm trong giới hạn nồng độ bốc cháy.
b) Đám cháy
Đám cháy là quá trình cháy xảy ra ngoài ý muốn, nó sẽ tiếp tục phát triển cho đến khi chưa cháy hết hoặc chưa có các biểu hiện điều kiện dẫn đến tự tắt hoặc chừng nào chưa áp dụng các biện pháp tích cực để khống chế và dập tắt nó.
Đám cháy được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng đến môi trường.
Theo chất cháy, đám cháy được phân loại như sau: - A: Đám cháy chất rắn
- B: Đám cháy chất lỏng
- C: Đám cháy chất khí
- D: Đám cháy kim loại
- E: Đám cháy thiết bị điện
2. Các nguyên nhân gây cháy
a) Cháy do con người gây nên
- Do sơ suất, bất cẩn gây cháy. Nguyên nhân này là do chính con người thiếu kiến thức phòng cháy, chữa cháy, không hiểu biết về cháy, các tính chất nguy hiểm cháy, nổ của các chất cháy... dẫn đến việc sử dụng lửa, điện, xăng, dầu mất an toàn
46
gây cháy. Nguyên nhân này chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ cháy.
- Do vi phạm các quy định an toàn về phòng cháy, chữa cháy, tức là đã có những quy định an toàn phòng cháy, chữa cháy, nhưng do không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc dẫn đến cháy.
- Do trẻ em nghịch lửa gây cháy.
- Đốt phá hoại, phi tang dấu vết, đốt trả thù cá nhân, đốt để nhận bảo hiểm, tự thiêu... gây tác động xấu đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Hình 2.3. Cháy do đốt vàng mã
b) Cháy do thiên tai
- Do sét đánh, núi lửa hoạt động gây ra cháy. - Do bão lụt gây ra cháy: khi các chất lỏng cháy nhẹ hơn nước, chúng sẽ nổi lên trên mặt nước, sau đó có đủ điều kiện cháy thì sẽ gây cháy...
47
Hình 2.4. Cháy rừng do biến đổi khí hậu
c) Do tự cháy
- Là trường hợp ở nhiệt độ nhất định, chất cháy tiếp xúc với môi trường không khí và tự cháy hoặc do chất cháy đó gặp một chất khác sinh ra phản ứng hóa học có thể tự bốc cháy mà không cần cung cấp nhiệt từ bên ngoài. Một số chất kiềm như Na, Ca, Ba, K... khi gặp nước sẽ tự bốc cháy.
- Ngoài ra, tự cháy còn do quá trình tích nhiệt: giẻ lau thấm dầu mỡ chất thành đống, bị ôxy hóa, tích nhiệt dẫn đến tự bốc cháy...
3. Dấu hiệu nhận biết cháy, nổ
Thông thường sẽ có các cách phổ biến để nhận biết có đám cháy đang xảy ra, đó là: mùi, khói, ánh lửa và tiếng nổ được tạo ra từ đám cháy. - Mùi của các sản phẩm cháy:
+ Mùi cháy khét: cháy cao su, chất sừng, sợi bông...
48
+ Mùi dấm chua: triaxêtat, xenlulose, polyvinyl axêtat...
+ Mùi khí sốc: SO2, SO3, Cl...
+ Mùi đắng: benzyl xenlulose.
+ Mùi thơm: mật, đường.
- Khói thoát ra từ đám cháy:
+ Khói trắng: các vật liệu ẩm.
+ Khói đen: xăng, dầu, nhựa đường...
49
+ Khói xám: rơm rạ, giấy vụn, cỏ khô... - Ánh lửa và tiếng nổ: khi có cháy, tiếng nổ hay ánh sáng sẽ phát ra xung quanh.
II. AN TOÀN PHÒNG, CHỐNG CHÁY, NỔ TRONG SỬ DỤNG ĐIỆN
1. Nguyên nhân gây cháy thiết bị điện Từ góc độ kỹ thuật, có 5 nguyên nhân cơ bản gây cháy như sau:
a) Ngắn mạch
Ngắn mạch (đoản mạch) là hiện tượng các pha chập nhau hoặc các pha chập nhau và chạm đất. Khi dòng điện ngắn mạch vượt quá nhiều lần so với dòng điện cho phép, nhiệt độ dây dẫn tăng nhanh có thể dẫn đến cháy, nổ. Ngắn mạch thường kèm theo cung lửa điện làm nóng chảy dây dẫn. Nổ điện tạo ra khối lượng hạt kim loại có kích thước từ 50 đến 2.500μm. Các giọt kim loại mang năng lượng nhiệt đủ lớn bắn ra môi trường khi gặp vật liệu cháy sẽ gây cháy.
50
Hình 2.5. Hiện tượng ngắn mạch
Ngắn mạch dẫn đến giảm mạnh điện áp trên lưới điện do có thể làm rối loạn một bộ phận hay toàn bộ mạng điện cung cấp cho các hộ tiêu thụ. Động cơ ngừng hoạt động có thể gây hư hỏng nổ hoặc cháy. Khi điện áp giảm, tần số quay giảm, phụ tải tăng, động cơ điện bị phát nóng quá mức dẫn đến giảm thời gian hoạt động và trở thành nguyên nhân gây sự cố.
b) Quá tải
Quá tải là sự cố trong mạng điện xảy ra khi cường độ dòng điện làm việc lớn hơn cường độ dòng điện cho phép. Quá tải nguy hiểm không kém gì ngắn mạch vì nó khó phát hiện, thiết bị bảo vệ (aptomat chẳng hạn) không phát hiện ra. Quá tải
51
kéo dài dẫn đến hỏng cách điện và cũng có thể dẫn đến ngắn mạch.
Hình 2.6. Hiện tượng quá tải điện
c) Điện trở tiếp xúc
Điện trở tiếp xúc là điện trở ở những chỗ chuyển tiếp dòng điện hay điểm đấu nối của dây dẫn, thiết bị từ một bề mặt tiếp xúc này sang một diện tích tiếp xúc khác qua diện tích tiếp xúc thực tế của chúng. Nhiệt phát sinh ngay tại điểm tiếp xúc do thành phần R tại đó lớn hơn nên theo phương trình Q = F.R.t thì giá trị Q sẽ lớn hơn bình thường.
d) Hồ quang điện
Là hiện tượng phóng điện trong không khí giữa 2 cực điện như khi: hàn điện, đóng hay ngắt thiết bị điện... Nó sẽ thực sự nguy hiểm nếu nó nằm trong môi trường có hơi khí chất cháy, nổ.
52
Hình 2.7. Hiện tượng hồ quang điện
đ) Thiết bị điện sinh nhiệt
Là các thiết bị điện tỏa nhiệt ra xung quanh như bóng đèn, máy sấy tóc, máy sưởi, bàn là, cục nóng, điều hòa... Nếu bên cạnh các thiết bị này có các chất cháy, thì có thể dẫn đến cháy.
Hình 2.8. Thiết bị điện sinh nhiệt
53
e) Tĩnh điện
Tĩnh điện phát sinh do ma sát giữa các vật cách điện với nhau, giữa vật cách điện với vật dẫn điện do va đập của các chất lỏng cách điện (xăng, dầu) khi bơm rót hoặc va đập của các chất lỏng với kim loại hay khi nghiền nát các hạt nhỏ rắn cách điện.
Hình 2.9. Hiện tượng tĩnh điện
2. Biện pháp đề phòng
a) Thiết kế, lắp đặt
- Hệ thống điện phải được thiết kế, lắp đặt phù hợp với tính chất sử dụng và công năng của công trình. Công suất biến áp phải đáp ứng được phụ tải ở mức lớn nhất theo tính toán. Lắp đặt aptomat tổng và riêng cho từng khu vực; dùng khởi động từ cho các phụ tải lớn.
- Đường dây phải đi trong ống gen chống cháy đặt ngầm hoặc buộc gọn gàng nếu ở ngoài tường.
54
- Không dùng bảng điện bằng vật liệu dễ cháy, không lắp trực tiếp thiết bị lên vật liệu dễ cháy. Đối với khu vực chứa gas, hóa chất, hơi khí chất cháy thì phải dùng thiết bị điện chống nổ.
- Nếu dùng 2 nguồn điện hay máy phát dự phòng thì phải có bộ chuyển mạch tự động. Khu vực đặt máy phát hay biến áp phải thoáng khí, có tường ngăn cháy, bể chứa dầu sự cố và có trang thiết bị chữa cháy phù hợp.
- Thiết bị điện lắp đặt phải phù hợp với mạng điện cả về tần số, điện thế và công suất..., các thiết bị trong hệ thống phải đồng bộ.
b) Sử dụng
- Bóng đèn hoặc những thiết bị điện khác không đặt gần những vật dễ cháy như giá áo, giá báo, tủ sách, tủ quần áo... nhằm tránh tình trạng bức xạ nhiệt.
- Bóng đèn gắn trong nhà nên gắn cách trần hay tường bằng vật liệu cháy, ít nhất 2,5cm. Vì nếu gắn sát bề mặt tường hay trần thì chỉ cần nhiệt độ 300oC, trần, tường gỗ sẽ có thể phát cháy, trong khi đó nếu gắn cách 2,5m thì nhiệt độ bóng đèn phải đạt 1.500oC mới phát cháy.
- Dùng thiết bị điện phù hợp với khả năng chịu tải của đường dây điện. Đặc biệt với các thiết bị điện động lực hay phụ tải có công suất lớn, trước khi dùng phải xem xét kỹ lại hệ thống điện và thông số của phụ tải đó.
55
- Không để dây điện bị kẹt ở chân bàn, chân tủ hay khe cửa. Không để đường dây điện kéo dài chạy qua tấm thảm lót sàn hoặc qua vật liệu cháy hay thiết bị sinh nhiệt.
- Không nên dùng nhiều thiết bị điện trên cùng một ổ cắm cùng lúc, đặc biệt gần khu vực có nhiều chất cháy.
Hình 2.10. Không sử dụng nhiều thiết bị điện trên một ổ cắm
- Luôn tắt, ngắt thiết bị điện khi rời khỏi phòng, kể cả khi có việc phải đi gấp. Khi sử dụng lò nướng hay lò vi sóng điện, nhất thiết không được để gần vật dễ cháy, khi sử dụng máy sấy quần áo
56
càng không thể tùy ý rời đi để tránh quần áo bị sấy quá nóng mà phát cháy.
- Định kỳ vệ sinh máy tính, tivi (TV) vì sử dụng quá lâu trong môi trường có bụi, bụi sẽ tích tụ ở bên ngoài gây hư hỏng, gây rò rỉ điện hoặc do côn trùng, gián, chuột cắn hư hỏng lớp bên ngoài dây điện, dẫn đến chạm mạch gây cháy, nổ.
- Phích cắm điện phải chặt, không nên để lỏng lẻo nhằm tránh phát sinh điện trở chuyển tiếp phát sinh nhiệt bắt cháy nhựa, ổ, phích cắm hoặc những vật dụng xung quanh. Máy nước nóng có thể phát nổ hay bị chạm, chập điện, vì thế chú ý kiểm tra bộ phận điều tiết tự động có hư hỏng không.
- Khi sử dụng đồ điện nhất thiết không được để trẻ em đến gần đùa nghịch để tránh bị điện giật hoặc gây cháy. Tại khu vực bếp nấu, cắm thiết bị điện phải cách xa bếp gas ít nhất 1,2m.
Hình 2.11. Vị trí sinh hoạt an toàn và không an toàn
- Dây điện trong nhà nếu đã cũ, phần vỏ bọc bên ngoài nếu đã hư hỏng hoặc phích cắm hỏng cần phải sửa chữa, thay thế ngay.
57
Hình 2.12. Thay thế hệ thống điện cũ, hỏng
- Cầu chì bị đứt, thông thường đó là sự cảnh báo quá tải, nhất thiết không được ngộ nhận là do cầu chì quá nhỏ mà đổi sang dùng cầu chì to hoặc dây đồng, dây kẽm thay thế.
- Gần phòng máy và thiết bị điện công suất lớn cần đặt các bình chữa cháy để đề phòng.
3. Biện pháp ứng cứu khi có cháy hay xảy ra sự cố
Khi sử dụng điện phát sinh sự cố hay tình trạng bất thường, trước tiên phải xem xét và ngắt aptomat, cắt cầu dao để tránh tình trạng đáng tiếc xảy ra tiếp theo.
Có 2 khả năng xảy ra: chập điện dẫn đến cháy hoặc cháy rồi dẫn đến chập điện (rồi có khả năng cháy tiếp).
Nếu đường dây điện bốc cháy, để tránh cháy lan phải ngắt nguồn nhánh hay nguồn chính ngay lập tức. Trước khi cắt điện tuyệt đối không được
58
dùng nước để dập cháy đề phòng dẫn điện. Nếu cháy trong nhà, công trình nhưng chưa có khả năng cháy lan thì có thể không cần cắt điện để tận dụng ánh sáng đèn điện phục vụ công tác thoát nạn. Nếu cháy ở thiết bị điện hoặc trong phòng nhưng chưa ảnh hưởng đến hệ thống điện thì chỉ cần tắt (rút) thiết bị điện đó ra. Nếu có bình chữa cháy bằng bột thì có thể sử dụng mà không cần cắt điện.
III. AN TOÀN PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY TRONG SỬ DỤNG KHÍ ĐỐT HÓA LỎNG
1. Một số đặc điểm của khí đốt hóa lỏng có liên quan đến phòng cháy, chữa cháy Khí đốt hóa lỏng - LPG (Liquefied Petroleum Gas) hay còn được gọi tắt là gas, là sản phẩm thu được từ quá trình chế biến dầu mỏ. Thành phần của nó bao gồm hỗn hợp của các hydrocacbon trong đó chủ yếu là propan (C3H8) và butan (C4Hl0). Tỷ lệ của propan và butan trong thành phần khí đốt hóa lỏng phụ thuộc vào từng hãng như Petrolimex Gas, Shell Gas, Total Gas, PetroVietnam Gas... Đối với gas nhập khẩu của Petrolimex, tỷ lệ theo thể tích của C3H8/C4H10 nằm trong khoảng từ 30/70 đến 45/55. Với các nước tiên tiến như Nhật Bản và Xingapo, tỷ lệ này là 50/50. Chất lượng gas tỷ lệ thuận với % propan, tuy nhiên tỷ lệ propan càng cao thì càng nguy hiểm khi cháy, nổ. Gas cả thể lỏng và hơi đều không có màu, không mùi. Vì lý
59
do an toàn nên trong gas thương phẩm người ta pha thêm chất tạo mùi để dễ phát hiện khi bị rò rỉ. Thông thường gas được pha thêm chất tạo mùi etylmecaptan, chất này có mùi đặc trưng (mùi gas), có khả năng hòa tan tốt trong gas, không độc, không ăn mòn kim loại và có tốc độ bay hơi gần bằng gas nên nồng độ gas không đổi cho đến khi bình chứa được sử dụng hết. Theo tiêu chuẩn an toàn, nồng độ pha chế chất tạo mùi phải thích hợp để chúng ta có thể phát hiện được hơi gas rò rỉ khi đạt nồng độ bằng 1/5 giới hạn nồng độ bốc cháy thấp.
a) Trạng thái tồn tại
Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thường, gas tồn tại ở trạng thái khí. Tuy nhiên, do gas có tỷ số dãn nở thể tích lớn nên để thuận tiện và kinh tế trong quá trình bảo quản, vận chuyển và sử dụng, gas thường được nén vào các bình (chai) chứa chịu áp lực ở nhiệt độ thường hoặc làm lạnh nó chuyển sang thể lỏng.
b) Tỷ trọng
Ở thể lỏng: điều kiện nhiệt độ môi trường là 15oC và áp suất 760mmHg, tỷ trọng của propan bằng 0,51 còn của butan lỏng bằng 0,575. Như vậy ở thể lỏng gas nhẹ hơn nước. Mặt khác, gas không tan trong nước nên nếu thoát ra có thể nổi và cháy trên mặt nước.
Ở thể khí: điều kiện nhiệt độ môi trường là 15oC và áp suất 760mmHg, tỷ trọng của propan khí bằng 1,52 còn của butan khí bằng 2,01.
60
Như vậy, ở thể khí, gas nặng hơn không khí xấp xỉ 2 lần. Do vậy, khi thoát ra ngoài, hơi gas sẽ tích tụ ở những chỗ trũng, chỗ kín như: rãnh nước, hố ga, trong nhà, gầm cầu thang... tạo thành nồng độ rất nguy hiểm cháy, nổ khi gặp nguồn nhiệt.
1 lỏng 250 ÷ 270 hơi
Hình 2.13. Tỷ lệ giữa thể lỏng và thể khí
2. Các thiết bị dùng trong quá trình sử dụng khí đốt hóa lỏng
a) Bình chứa gas
Hiện nay gas được tồn chứa phổ biến trong các bình (chai) nhỏ, với lượng gas từ vài kilôgam đến vài chục kilôgam gồm các loại bình 9kg, 12kg, 13kg, 45kg, 48kg và bình gas mini 320g. Theo quy định, các bình gas mini chỉ được sử dụng một lần rồi bỏ, cấm nạp lại.
Bình gas được chế tạo bằng thép đặc biệt chịu áp lực, áp suất thiết kế ở mức 17kg/cm2, áp suất thử thủy tinh 34kg/cm2, trong khi áp suất lớn nhất của gas chứa trong bình ở điều kiện nhiệt độ bình thường là khoảng 6 - 6,5kg/cm2.
61
Các bình chứa trước khi sử dụng, lưu hành trên thị trường đều đã được các Trung tâm kiểm định kỹ thuật an toàn khám nghiệm, thử áp; Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy chứng nhận đạt yêu cầu sử dụng và lưu hành. Theo quy định hiện hành, cứ sau 5 năm các bình chứa này lại được kiểm định và cấp phép lại, sau đó mới được tiếp tục lưu hành trên thị trường.
Hình 2.14. Một số loại bình gas
62
b) Bếp gas
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại bếp gas của nhiều hãng khác nhau như Rinnai, Paloma, National, Nazona, VinaLux, Sakura, Electrolux... Có thể là bếp đơn; bếp đôi; có hoặc không có lò nướng; có thiết bị an toàn hoặc không có thiết bị an toàn (loại này chủ yếu là bếp gas du lịch hay công nghiệp).
Đối với bếp gas, chúng ta cần quan tâm đến cấu tạo của chúng với các thiết bị bảo đảm an toàn phòng cháy trong quá trình sử dụng. Các thiết bị an toàn của bếp thường có 2 loại:
- Rơle an toàn khi tắt lửa: Khi bếp bị tắt lửa đột ngột (thông thường do để ngọn lửa nhỏ hay bị gió thổi tắt, nước trong nồi nấu trào ra...), nhiệt độ giảm nhanh, cặp lưỡng kim pin nhiệt điện ngay lập tức đóng van lại không cho gas phun ra mặt bếp nữa.
- Rơle an toàn khi quá nhiệt: Do sơ suất, làm cạn phần lỏng đang sôi (nước, dầu, mỡ...) dẫn đến nhiệt độ tăng cao quá ngưỡng 260oC, cảm biến sẽ điều khiển van gas đóng làm tắt ngọn lửa.
Phụ kiện: Van bình, van an toàn:
Các loại bình gas đều được lắp đặt van bình kèm van an toàn. Van an toàn tự động làm việc khi áp suất trong bình tăng đến 26kg/cm2, nó tự xả hơi gas ra ngoài làm giảm áp suất trong bình chứa. Van thông thường của bình sử dụng trong các hộ gia đình là kiểu van vặn hoặc van gạt (xoay 90o ).
63
Hình 2.15. Van bình gas
Điều áp:
Gas tồn chứa trong bình ở áp suất hơi bão hòa khoảng 6 - 6,5kg/cm2 cao hơn so với áp suất làm việc của bếp. Do đó, bộ phận điều áp có nhiệm vụ giảm áp suất của bình gas và cung cấp cho bếp một lưu lượng gas ở một áp suất ổn định (xấp xỉ áp suất khí quyển) mà không phụ thuộc vào áp suất của bình gas.
Một số loại điều áp thông thường:
- Điều áp Kosan (kiểu chụp “click-on”) dùng cho bình 9kg, 13kg, liên kết với bình bằng khớp nối với 3 bi cầu và vành nhựa. Nếu khu vực đặt bình bị cháy, nhiệt độ tăng cao ở khu vực điều áp thì vành nhựa sẽ cháy mềm tự động tách điều áp ra khỏi bình, van bình tự động đóng, ngừng cấp gas cho thiết bị. Loại điều áp này không điều chỉnh được áp suất cấp gas.
- Điều áp kiểu chụp - van gạt.
Điều áp cao áp HP: Liên kết với bình như trên nhưng có thể điều chỉnh áp suất cao (0 - 0,25kg/cm2), thích hợp cho các thiết bị có công suất tiêu thụ lớn.
64
- Điều áp dành cho van vặn.
Một số loại điều áp có sẵn thêm van tự động để ngắt gas thoát ra ngoài khi ống dẫn bị đứt hoặc tuột đột ngột (khi nấu bếp với lưu lượng nhỏ thì bộ phận này không tự động kích hoạt). Khi mua, nên dùng loại điều áp có gắn thêm bộ phận này.
Ngoài ra, phụ kiện đi kèm là ống dẫn mềm chuyên dùng, có độ bền cao, ít bị lão hóa và khó cháy; kẹp ống mềm tiêu chuẩn, phù hợp với kích thước ống.
3. Phòng cháy khí đốt hóa lỏng
a) Phòng cháy trong quá trình sử dụng Trong quá trình sử dụng, khí đốt hóa lỏng luôn có khả năng hình thành môi trường nguy hiểm cháy khí gas do nhiều nguyên nhân khác nhau như: do các thiết bị và phụ kiện không bảo đảm độ kín: khí gas thoát ra ngoài có thể do các chỗ nối ống dẫn với bình khí và bếp không chặt, ống dẫn sử dụng lâu ngày bị lão hóa, bị rạn nứt, vỡ; các bình gas đã quá thời hạn sử dụng bị ăn mòn hóa học có thể tạo các vết rách, các van khóa trên bình không bảo đảm có thể làm rò rỉ khí gas ra ngoài. Bếp không có các thiết bị an toàn như: rơle khi tắt lửa, rơle quá nhiệt... cũng có thể là nguyên nhân làm thoát khí gas ra gây cháy, nổ.
Nguồn nhiệt gây cháy trong quá trình sử dụng khí đốt hóa lỏng có thể xuất hiện do ngọn lửa trần của bếp, ngọn lửa do đánh diêm, hút thuốc...
65
Ngoài ra nguồn nhiệt gây cháy có thể xuất hiện do tia lửa điện phát sinh từ những ổ cắm, công tắc, cầu dao điện, đèn ống; do năng lượng cơ học phát sinh do va đập, ma sát của các vật cứng...
Qua số liệu thống kê cho thấy nguyên nhân dẫn đến sự cố cháy, nổ thường gặp là do: dây dẫn ống gas bị thủng vỡ, không tắt bếp hoàn toàn khi nấu xong, nấu bếp gas, sự cố bình gas, vi phạm nội quy an toàn phòng cháy, chữa cháy, sang nạp gas trái phép...
Cháy, nổ gas thường gây thiệt hại rất lớn, nguy hiểm đến tính mạng con người, phá hoại công trình, máy móc, thiết bị. Thông thường khi có sự cố, gas thoát ra ngoài từ những chỗ nứt, vỡ, rò rỉ thì hơi gas lan tràn rất nhanh trong không khí, nếu chỗ vỡ lớn có thể tạo thành vũng chất lỏng tại thời điểm đó. Khi gặp nguồn nhiệt sẽ cháy rất nhanh tạo thành “đám mây lửa” rất nguy hiểm bao trùm toàn bộ thể tích. Tại nơi rò rỉ có thể hình thành luồng lửa dài.
Từ các vụ cháy, nổ gas cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do con người thiếu kiến thức về phòng cháy, chữa cháy gas và cách sử dụng gas, vì vậy dẫn đến các việc làm bừa, làm ẩu hoặc những sơ suất bất cẩn gây cháy, nổ.
b) Một số yêu cầu bảo đảm an toàn phòng cháy trong quá trình sử dụng khí đốt hóa lỏng Để bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng khí đốt hóa lỏng, trước hết đòi hỏi người sử dụng
66
phải có những kiến thức và hiểu biết nhất định về phòng cháy, chữa cháy đối với khí đốt hóa lỏng. Ngoài ra cần chú ý một số vấn đề sau:
- Lựa chọn thiết bị:
Việc lựa chọn các thiết bị và phụ kiện cũng hết sức quan trọng. Các thiết bị và phụ kiện phải bảo đảm chất lượng, kỹ thuật, chỉ nên sử dụng những thiết bị chính hãng, rõ nguồn gốc xuất xứ và nên sử dụng những loại có các bộ phận an toàn khi sử dụng.
- Lắp đặt:
+ Lắp đặt bếp gas:
Vị trí lắp đặt phải ở nơi thông thoáng, tránh gió lùa trực tiếp, không đặt ở nơi ẩm ướt hoặc nơi có môi trường ăn mòn. Nên đặt bếp gas trên nền gạch men sứ hoặc đá, nếu đặt trên nền gỗ phải có tấm cách nhiệt. Nên đặt bếp cao hơn bình chứa gas, bếp đặt cách mặt tường các bên 15cm, cách vật treo phía trên tối thiểu 1,5m.
+ Bình gas:
Bình gas phải được đặt ở trạng thái thẳng đứng khi sử dụng, trên mặt bằng chắc chắn và khô ráo; nơi để bình phải thoáng khí, dễ thay thế, ngăn cách với bếp và cách xa nguồn nhiệt, xa nơi có thể phát sinh tia lửa điện như ổ cắm, công tắc, thiết bị điện... Các thiết bị này đặt xa tối thiểu 1,5m hoặc đặt trong hộp thiết kế sẵn. Nếu đặt bình gas ở ngoài trời phải có mái che để tránh ánh nắng mặt trời, không đặt bình gas gần các chất, vật liệu dễ cháy, nổ khác như xăng, dầu, cồn, rượu, vải, giấy, nhựa...
67
Hình 2.16. Để bình gas đúng cách và không đúng cách
- Cách bảo quản và lắp đặt bình gas đúng cách + Điều áp, ống dẫn, kẹp ống
Là điều áp thông thường (dùng cho bình 12kg) có liên kết ren với cụm van. Khi lắp cần vặn chặt, có kiểm tra bằng nước xà phòng để thử độ kín.
Loại điều áp kiểu “click-on” chỉ cần kéo xoay vành nhựa phía dưới van và ấn van vào bình gas, nghe tiếng “tách” là được. Sau đó ấn vành nhựa xuống, kiểm tra bằng cách xoay và nhấc nhẹ điều áp lên thấy chặt và không bị rời ra là được.
Lắp ống dẫn gas giữa bình và bếp phải bảo đảm độ kín, phải sử dụng kẹp ống đúng tiêu chuẩn kẹp chặt để tránh bị tuột hoặc rò rỉ. Sau khi lắp xong, tốt nhất là nên kiểm tra độ kín bằng nước xà phòng, ống dẫn không nên để dài quá 2m, nên chọn các loại ống có vỏ lưới thép bảo vệ.
+ Khi đun nấu
Khi đun nấu cần trông coi cẩn thận, tránh để các vật liệu dễ cháy gần bếp đun, chú ý điều chỉnh
68
cho ngọn lửa cháy vừa phải. Nếu bếp bị tắt, bộ phận đánh lửa tự động bị hỏng thì phải bật diêm hay bật lửa trước (có thể châm qua tờ giấy hoặc thanh đóm dài); sau đó đưa ngọn lửa vào gần mâm bếp rồi bật công tắc mở gas. Nếu mở gas trước rồi bật lửa sau sẽ rất nguy hiểm, vì thao tác không nhanh, lượng gas thoát ra trên mâm bếp nhiều tạo thành vùng nguy hiểm cháy, nổ rộng sẽ gây cháy hoặc nổ.
Hình 2.17. Bật lửa trước rồi mới mở van bếp cấp gas
4. Cách giải quyết sự cố rò rỉ gas
Phải thường xuyên kiểm tra để phát hiện rò rỉ. Khi phát hiện mùi gas hoặc thiết bị báo động phát tín hiệu, phải nhanh chóng xác định vị trí bị rò rỉ. Khóa ngay van gas chính và tắt bếp cũng như các nguồn lửa khác xung quanh khu vực đặt bình. Chú ý không đóng hoặc ngắt các công tắc, thiết bị điện để tránh phát sinh tia lửa điện. Phải loại trừ ngay các nguồn lửa, nguồn nhiệt gần khu vực chứa bình gas. Dùng nước xà phòng bôi lên những nơi nghi
69
rò rỉ để xác định có bị rò rỉ hay không. Tuyệt đối không được dùng ngọn lửa để tìm chỗ rò rỉ. Thông gió tự nhiên để phân tán và làm giảm nồng độ hơi gas như mở các cửa, dụng cụ quạt tay thông gió... hoặc sử dụng bình khí CO2, N2 để làm loãng.
Tìm chỗ rò, kiểm tra chỗ hở và tìm cách khắc phục hoặc thay thế. Nên thay ống dẫn và đầu nối. Nếu không khắc phục được rò rỉ thì tạm thời bịt chặt chỗ rò rỉ lại và kịp thời di chuyển bình đó ra ngoài, đặt nơi thoáng gió, xa cống rãnh, xa nguồn lửa, xa nơi đông người và khu dân cư.
Phải thông báo cấm các nguồn lửa, nguồn nhiệt gây cháy. Không được tháo bỏ hoặc sửa van bình đã bị hư hỏng, mà phải chuyển cho cơ sở nạp xử lý.
Khoanh vùng xếp đặt các bình bị rò rỉ, treo biển cấm người qua lại và thông báo ngay sự cố cho cơ sở cung cấp hàng. Cảnh giới cấm lửa tại khu vực đặt bình, thông báo cho các cửa hàng cung cấp và cơ quan cảnh sát phòng cháy, chữa cháy biết để có biện pháp xử lý.
5. Chữa cháy, nổ gas
Khi xảy ra cháy gas phải báo động cho mọi người biết và báo cho lực lượng chữa cháy. Sử dụng các phương tiện chữa cháy được trang bị để dập tắt đám cháy, phun nước lên các bình gas để làm mát. Trong khi chữa cháy cần chú ý các biện pháp an toàn đề phòng bình gas nổ.
70
Nếu hơi khí đốt hóa lỏng xì qua van chai bị bắt cháy, phải lập tức đóng van chai, nếu có thể thì di chuyển các bình gas ra nơi an toàn.
Thực hiện các bước đã quy định trong phương án chữa cháy.
Khi lực lượng chữa cháy đến, phải thông báo chính xác nơi có cháy, vị trí tồn chứa các bình và các vật liệu khác.
IV. AN TOÀN PHÒNG, CHỐNG CHÁY, NỔ TRONG SỬ DỤNG XĂNG, DẦU
1. Tính chất nguy hiểm cháy, nổ của xăng, dầu Xăng, dầu, đặc biệt là xăng rất dễ bay hơi, kể cả khi nhiệt độ môi trường xuống thấp, xăng vẫn hóa hơi, kết hợp với ôxy trong không khí tạo thành hỗn hợp nguy hiểm cháy, nổ.
Hơi xăng, dầu nặng hơn không khí 2,5 lần, khi khuếch tán vào không khí thường bay là là trên mặt đất và tích tụ ở chỗ trũng, kín, khuất gió. Khi tích tụ ở mức độ nhất định sẽ tạo thành hỗn hợp nguy hiểm cháy, nổ. Hơi xăng, dầu có nhiệt độ bắt cháy thấp, chỉ là -39oC.
Xăng, dầu là chất lỏng nhưng không hòa tan trong nước, nhẹ hơn nước, có tỷ trọng từ 0,7 đến 0,9, vì thế khi gặp nước, xăng, dầu nổi trên mặt nước và nhanh chóng lan rộng ra xung quanh, gặp nguồn lửa sẽ gây cháy rất nhanh.
Tốc độ cháy lan của xăng, dầu rất nhanh, khoảng từ 20 đến 30m/s và tỏa ra nhiệt lượng lớn,
71
từ 10.450 đến 11.450kcal/kg kèm theo các sản phẩm cháy độc hại, khói đen và có khả năng tạo thành những đám cháy mới. Việc chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Xăng, dầu là chất không dẫn điện, điện trở suất của xăng rất lớn, từ 1012 đến 1017Ω.m nên xăng, dầu có khả năng phát sinh tĩnh điện. Trong quá trình bơm rót, vận chuyển, xăng, dầu bị xáo trộn, các phần tử xăng, dầu ma sát với nhau và ma sát với thành thiết bị (thành ống, vỏ thiết bị chứa) sinh ra tĩnh điện, các điện tích này tích tụ đến một điện thế đủ lớn (300V) sẽ gây ra hiện tượng phóng tia lửa điện gây cháy hỗn hợp hơi xăng, dầu.
Xăng, dầu có khả năng tạo thành sunphua sắt (FeS2; Fe2S3); vì trong thành phần xăng, dầu có lưu huỳnh, lưu huỳnh tác dụng với kim loại (thiết bị chứa) tạo thành các sunphua sắt. Các sunphua sắt tác dụng với ôxy của không khí tỏa ra một lượng nhiệt lớn, trong điều kiện nhất định có thể gây cháy hỗn hợp hơi xăng, dầu và ôxy trong không khí tồn tại trên bề mặt thoáng của thiết bị chứa.
a) Phân loại mức độ nguy hiểm cháy, nổ Xăng, dầu có thành phần cấu tạo khác nhau thì có đặc điểm, tính chất nguy hiểm cháy khác nhau. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cháy, nổ xăng, dầu được chia làm 2 loại:
Loại I: có nhiệt độ bắt cháy dưới 45oC (các loại xăng ôtô, máy bay).
72
Loại II: có nhiệt độ bắt cháy của hơi từ 45oC trở lên (dầu hỏa, ma dút).
b) Những nguy cơ có thể gây cháy, nổ xăng, dầu
- Nguy cơ gây cháy, nổ trong bảo quản xăng, dầu + Khi nơi bảo quản xăng, dầu gần nguồn lửa, nguồn nhiệt; không có hàng rào bảo vệ, người ngoài xâm nhập, mang nguồn lửa, nguồn nhiệt vào gây cháy.
+ Khi sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt tại nơi bảo quản hoặc nguồn nhiệt xuất hiện do hệ thống điện, chống sét, chống tĩnh điện không an toàn.
+ Khi sử dụng kim loại đen để mở nắp thiết bị chứa xăng, dầu, đi giày có đế bằng sắt trong kho xăng làm phát sinh tia lửa gây cháy.
+ Khi xuất, nhập không trông coi để xăng, dầu tràn ra. Thiết bị chứa hở, bục vỡ không có đế bao để ngăn xăng, dầu tràn ra.
- Nguy cơ gây cháy, nổ trong vận chuyển xăng, dầu bằng phương tiện giao thông cơ giới + Dừng, đỗ phương tiện vận chuyển xăng, dầu gần khu vực có nguồn lửa, nguồn nhiệt, nơi đông người. + Phát sinh tia lửa tĩnh điện do thiết bị tiếp đất không bảo đảm.
+ Phương tiện vận chuyển không bảo đảm an toàn theo quy định, nhất là hệ thống điện. + Thiết bị chứa bị rò rỉ, phương tiện vận chuyển bị tai nạn, va quệt.
73
- Nguy cơ gây cháy, nổ trong sử dụng xăng, dầu Trong sản xuất: sử dụng xăng, dầu không an toàn trong khu vực có nguồn lửa, nguồn nhiệt. Trữ chứa xăng, dầu quá quy định trong khu vực sản xuất, xăng, dầu bay hơi, rò rỉ. Không có hệ thống thông gió trong khu vực sản xuất có sử dụng xăng, dầu để hơi xăng, dầu tích tụ thành hỗn hợp nổ. Trong đời sống: Trữ xăng, dầu ở nơi đun nấu, thiết bị chứa, dẫn xăng, dầu của xe ôtô, xe máy không kín, bị bục vỡ, rò rỉ. Dùng xăng đun bếp, thắp đèn dầu. Bếp dầu không bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy. Thắp đèn dầu hỏa không bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy. Trẻ em chơi, nghịch xăng, dầu.
2. Biện pháp phòng cháy
a) Trong bảo quản xăng, dầu
- Nơi bảo quản xăng, dầu phải có hệ thống điện phòng nổ, hệ thống chống sét, hệ thống chống tĩnh điện đúng tiêu chuẩn, xa nguồn nhiệt, có tường rào, đê bao và có người bảo vệ.
- Khoảng cách phòng cháy từ bể chứa đến các ngôi nhà, công trình phải theo đúng quy định về an toàn phòng cháy và chữa cháy.
- Những kho xăng, dầu bố trí ở ven sông phải đặt phía dưới dòng chảy, nếu phải đặt kho xăng, dầu trên dòng chảy thì phải bảo đảm khoảng cách an toàn theo quy định.
- Không chứa xăng, dầu lẫn với các loại hóa chất, vật liệu dễ phát sinh lửa.
74
- Thiết bị chứa xăng, dầu phải bảo đảm kín và để ở những nơi râm mát.
- Không sử dụng lửa trần (đánh diêm, bật lửa, thắp đèn dầu, đốt hương, nến) ở những khu vực có xăng, dầu.
- Không đi giày có đế sắt trong khu vực kho. - Mở nắp thùng phuy, nắp xi téc phải dùng dụng cụ bằng kim loại màu không phát sinh tia lửa. b) Trong sử dụng xăng, dầu
- Không trữ chứa xăng, dầu nhiều quá quy định tại nơi sản xuất. Tại khu vực sản xuất có hơi xăng, dầu phải có hệ thống thông gió và hệ thống điện phải là loại phòng nổ.
- Không dùng xăng thắp đèn, đun bếp, mồi bếp thay dầu hỏa; không để đèn dầu trong màn và gần các vật dễ cháy. Không để trẻ em chơi, nghịch xăng, dầu.
3. Biện pháp chữa cháy xăng, dầu
a) Đối với các đám cháy nhỏ
Nếu bếp đun dầu hỏa bị cháy, có thể dùng chăn sợi, bao tải nhúng nước phủ kín hoặc dùng bình chữa cháy bằng bột để dập tắt đám cháy.
Trường hợp thùng phuy, can chứa xăng dầu bị cháy có thể dùng chăn, bao tải nhúng nước phủ kín chỗ bị cháy; đồng thời di chuyển những vật chưa bị cháy ra nơi an toàn, dùng nước làm mát xung quanh thùng phuy để chống cháy lan. Nếu xăng, dầu chảy tràn ra ngoài mặt đất gây cháy thì dùng
75
đất, cát phủ kín đám cháy. Trường hợp xăng, dầu chứa trên ôtô, tàu hỏa cháy cũng có thể áp dụng biện pháp như trên để chữa cháy, đồng thời dùng bình chữa cháy dập tắt đám cháy.
b) Đối với các đám cháy phức tạp
Trường hợp kho bể, xi téc chứa xăng, dầu bị cháy, tốc độ cháy sẽ rất lớn và ngọn lửa bốc cao, nhiệt độ của ngọn lửa khoảng 1.100oC có thể làm biến dạng hoặc phá vỡ thành thiết bị. Trong trường hợp trong bể, xi téc có lẫn nước có thể xảy ra hiện tượng sôi trào làm xăng, dầu tràn ra ngoài hoặc bắn tung tóe, tạo thành những đám cháy mới. Khi đó, việc chữa cháy hết sức khó khăn và cần tuân thủ theo các bước sau:
+ Báo động toàn cơ quan, khu dân cư đồng thời báo cho lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy. + Sơ tán tài sản, phuy xăng, dầu lân cận ra vị trí an toàn.
+ Rút lượng xăng, dầu trong bể bị cháy ra nơi an toàn (nếu có thể).
+ Dùng hệ thống phun nước để làm mát bể bị cháy và bể lân cận.
+ Dùng hệ thống phun bọt dập tắt đám cháy. + Thông báo tình hình cháy, loại chất cháy... theo yêu cầu của lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp. + Chịu sự chỉ huy của lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp.
+ Bảo vệ hiện trường vụ cháy.
76
V. PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI
1. Đặc điểm nguy hiểm cháy, nổ
Cháy phương tiện giao thông có thể xảy ra cả khi mới khởi động, đang chạy và khi đang dừng hoặc đang đỗ do ôtô, xe máy, tàu thủy, tàu hỏa... sử dụng nhiên liệu là xăng, dầu nên có tính chất nguy hiểm cháy, nổ cao. Bên cạnh đó, nội thất và nhiều chi tiết khác trên các phương tiện giao thông là chất dễ cháy; đa số hàng hóa chuyên chở trên xe là chất dễ cháy, thậm chí rất dễ cháy, nổ mà tài xế hay chủ hàng không nắm bắt được hết các tính chất này.
Trên các phương tiện giao thông luôn tồn tại khả năng phát sinh nguồn nhiệt từ hệ thống điện, khí thải động cơ, thành máy, hệ thống điều hòa, hành khách hút thuốc...
Cháy có thể xảy ra sau tai nạn giao thông nên những người bị thương, bị kẹt trong các phương tiện này ít có cơ hội chạy thoát. Trong khi đó đa phần các phương tiện giao thông không có hoặc có phương tiện chữa cháy nhưng tài xế không biết sử dụng, không biết cách hướng dẫn thoát nạn cho hành khách.
Cháy thường xuất phát từ khu vực động cơ của phương tiện, thường kèm theo khói đen đặc, khí độc. Cháy luôn kèm nguy cơ nổ và ngược lại; các bộ phận bình nhiên liệu, lốp xe, bình hơi, túi khí,
77
máy lạnh, ghế mút, các chi tiết nhựa... gây cháy; cháy lan và gây sát thương cao.
Do cháy các phương tiện giao thông thường ở xa các đơn vị phòng cháy, chữa cháy nên lực lượng chữa cháy cứu hộ phải mất nhiều thời gian mới tiếp cận được các phương tiện bị cháy, trong khi đó vị trí các phương tiện bị cháy thường không thuận lợi về nguồn nước chữa cháy. Vì thế, khi lực lượng phòng cháy, chữa cháy tiếp cận được hiện trường thì đám cháy thường đã phát triển lớn, khó kiểm soát.
2. Nguyên nhân
Nguyên nhân được xác định chủ yếu do sự cố về kỹ thuật phần động cơ, chập điện hoặc phương tiện giao thông để trong khu vực đang cháy lan sang.
a) Nguyên nhân gây ra tia lửa làm cháy xe + Do cách điện của dây cao áp, bôbin kém, dây cao áp rạn nứt, bugi lỏng chụp gây phóng điện (bình thường ít người biết rằng điện áp của hệ thống cao áp xe máy cao hàng nghìn Volt, có thể dễ dàng phóng điện nếu cách điện không tốt). + Do các đầu cắm, nối điện bị lỏng, tiếp xúc kém sẽ đánh lửa khi dòng điện chạy qua, đặc biệt là những dây dẫn có dòng điện lớn như dây môtơ đề, đèn pha, đầu cực ắc quy...
+ Do dây điện bị chuột cắn hoặc rạn nứt cách điện.
78