🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Khởi Nghiệp Táo Bạo
Ebooks
Nhóm Zalo
KHỞI NGHIỆP TÁO BẠO
Nghĩ lớn, làm lớn và thay đổi thế giới
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
Số 36, ngõ Hoà Bình 4, Minh Khai
Hai Bà Trưng, Hà Nội
ĐT: 04. 36246920 - Fax: 04. 36246915
Chịu trách nhiệm xuất bản, nội dung:
Q.Chủ Tịch Kiêm T.Giám đốc –
Tổng biên tập
VŨ ANH TUẤN
Biên tập: Đinh Thị Thanh Hòa
Trình bày: Ái Quốc
Vẽ bìa: Mạnh Cường
Sửa bản in: Nhung Trần
In 3.000 cuốn, khổ 14 x 20.5 cm tại Công ty Cổ phần in và Thương mại Prima
Địa chỉ: Số 722 Phúc Diễn, Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội Xác nhận ĐKXB số: 2787-2017/CXBIPH/01-165/LĐXH Quyết định xuất bản số: 420/QĐ-NXBLĐXH cấp ngày 14/09/2017
Mã ISBN: 978-604-65-3094-7
In xong và nộp lưu chiểu năm 2017.
Lời giới thiệu
Sự ra đời của nhà khởi nghiệp đột phá
T
rở lại 66 triệu năm về trước, sự sống trên Trái đất lúc đó khác với bây giờ.
Đó là những ngày đầu của kỷ Phấn trắng (Creta), khí hậu nóng và ẩm, hầu hết diện tích đất của thế giới ngày nay vẫn còn chìm dưới đại dương bao la. Vào thời đó, thực vật hạt kín, tên khoa học của thực vật có hoa, là nhóm tiến hóa nhất trong thế giới thực vật. Tương tự, những cây phong, cây sồi, cây dẻ gai đầu tiên của chúng ta chỉ mới bắt đầu xuất hiện. Còn trong hệ động vật, khủng long vẫn là loài thống trị Trái đất. Khi đề cập đến khả năng duy trì sức mạnh thì thời gian 100 triệu năm mà những loài bò sát khổng lồ này thống trị phần lục địa trên hành tinh của chúng ta được xem là dài nhất trong lịch sử – một ví dụ điển hình cho sự thống trị mặt đất. Nhưng thời đại của chúng cũng không tồn tại mãi.
Kỷ Phấn trắng kết thúc bằng một vụ nổ lớn. Một tiểu hành tinh với đường kính khoảng 10km, hoặc nhỏ hơn San Francisco một chút, đã rơi xuống vùng Yucatan Peninsula ở Mexico. Vụ va chạm đã làm rung chuyển cả thế giới theo đúng nghĩa đen, tỏa ra 420 Zêtajun (ZJ)1 nhiệt lượng, hoặc mạnh hơn hai triệu lần so với vụ nổ bom hạt nhân lớn nhất từng xảy ra. Kết quả là miệng
núi lửa rộng 177km hình thành. Do những tác động để lại mà tiểu hành tinh này được gọi là “sát thủ hành tinh”.
1. 1 ZJ = 1021 J (BTV)
Những cơn sóng thần khổng lồ, những trận động đất khủng khiếp, bão lửa toàn cầu và một đợt phun trào đầy chết chóc của núi lửa đã nuốt chửng Trái đất. Mặt trời mất dạng sau một đám mây bụi khổng lồ và không hề xuất hiện trong vòng một thập kỷ. Sự thay đổi của môi trường toàn cầu diễn ra quá nhanh và khắc nghiệt đến mức loài khủng long – loài đang thống trị tuyệt đối vào thời điểm này – đã không thể thích ứng được và bị tuyệt chủng.
Đối với giống loài của chúng ta thì đây lại là tin tốt lành. Nếu như loài khủng long to lớn, nặng nề và kém linh hoạt thì những loài động vật có vú, nhỏ bé, lông lá thời đó – tổ tiên của chúng ta – lại nhanh nhẹn và linh hoạt hơn hẳn. Chúng đã chớp lấy thời cơ thuận lợi của sự thay đổi toàn cầu đó, thích nghi với môi trường sống mới và cứ thế theo đà tiến lên. Với sự tiến hóa diễn ra nhanh như chớp, loài khủng long đã biến mất và động vật có vú trở thành chúa tể của vạn vật. Và một việc chắn chắn nhất là – lịch sử được lặp lại một cách thật khôi hài.
Trên thực tế, những câu chuyện về sự tác động với quy mô khổng lồ, sự biến chuyển triệt để và tái sinh ngoạn mục có liên quan chặt chẽ đến ngày nay – đặc biệt là trong kinh doanh. Ngay lúc này đây, có một tiểu hành tinh khác cũng đang va vào thế giới của chúng ta, loại bỏ sự to lớn và nặng nề, đồng thời rộng mở con đường cho sự nhanh nhẹn và linh hoạt. Chúng tôi gọi tên tiểu hành tinh này là “công nghệ đột phá”. Mặc cho cái tên này nghe có vẻ xa lạ thì tác động của nó lại hoàn toàn ngược lại.
Chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết sau, còn giờ điều quan trọng là công nghệ đột phá này đề cập đến bất kỳ công nghệ nào tăng tốc trên đường cong tăng trưởng theo cấp số nhân – nó gia tăng gấp đôi sức mạnh theo thường kỳ (nửa năm, hằng năm,…) – và việc sử dụng máy tính chính là ví dụ quen thuộc nhất. Khi một người phụ nữ ở Ngoại Mông sử dụng điện thoại thông minh, cô ấy đang sử dụng một thiết bị rẻ hơn triệu lần và mạnh hơn gấp nghìn lần một chiếc siêu máy tính của những năm 1970. Đó chính là sự thay đổi theo cấp số nhân ở thế giới thực tại.
Và ngày nay, loại thay đổi này hiện diện ở bất cứ nơi nào. Quá trình đột phá đang diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực: mạng, cảm biến, rô-bốt, trí tuệ nhân tạo, sinh học tổng hợp, nghiên cứu gen và chức năng gen, y khoa kỹ thuật số, công nghệ nano – chỉ là một vài trong số đó. Và cũng giống như tiểu hành tinh đường kính 10km kia, sức mạnh tuyệt vời của những công nghệ này đang định hình lại Trái đất. Nhưng loại sức mạnh này cũng đang đe dọa một giống loài khủng long khác – đó là những công ty lớn ngại đổi mới, những công ty luôn sử dụng một cách thức cũ trong hàng thập kỷ qua, và sẽ tiếp tục đi theo con đường đó cho đến khi phá sản.
Còn ở chiều ngược lại, một loài thú có vú, lông lá, nhỏ bé mới bắt đầu xuất hiện. Đó là những nhà khởi nghiệp – những người sử dụng công nghệ tiến bộ một cách triệt để để biến đổi những sản phẩm, dịch vụ và các ngành công nghiệp. Các nhà cải cách nhanh nhẹn và linh hoạt này đang học hỏi cách vận dụng những công nghệ đột phá; họ đang trở thành những nhà khởi nghiệp đột phá. Và những nhà khởi nghiệp đột phá này đang mở đường cho một thế giới mới thịnh vượng, phồn vinh.
Tiếp nối cuốn Abundance
(tạm dịch: Sự phồn vinh)
Năm 2012, tôi cùng Steven Kotler viết cuốn Abundance: The Future Is Better than You Think (tạm dịch: Sự phồn vinh: Tương lai tốt đẹp hơn bạn nghĩ). Cảm hứng khơi nguồn cho cuốn sách này đến từ công việc của tôi tại quỹ X PRIZE và trường Đại học Singularity. Trong quá trình lãnh đạo các tổ chức này, tôi đã chứng kiến một thế giới, nơi mà những nhu cầu cơ bản của cuộc sống trở nên rẻ hơn và có thể tiếp cận ở quy mô toàn cầu. Steven mang đến cho cuốn sách Abundance chuyên môn của ông về sự kết nối giao thoa cuối cùng giữa hiệu suất công việc của con người và công nghệ đột phá. Cả hai chúng tôi đều tin rằng thế giới đang thay đổi hoàn toàn, và rằng, lần đầu tiên trong lịch sử, loài người có tiềm năng nâng tầm tiêu chuẩn sống toàn cầu một cách đáng kể và mãi mãi.
Trong cuốn Abundance, Steven và tôi đã chỉ ra cách thức mà bốn lực lượng mới nổi – công nghệ đột phá, người tiên phong cho phong trào DIY, những nhà công nghệ hảo tâm và hàng tỷ người đang ở đáy của “kim tự tháp kinh tế” (Rising Billion) – cho chúng ta khả năng giải quyết nhiều thách thức vĩ đại nhất của thế giới trong vòng hai đến ba thập kỷ tới. Đó là chúng ta sẽ sớm có được sức mạnh để đáp ứng và vượt trên những nhu cầu cơ bản của mỗi người đàn ông, phụ nữ và trẻ em trên hành tinh này.
Khi cuốn sách được phát hành vào tháng Hai năm 2012, chúng tôi không biết rằng nó sẽ được đón nhận như thế nào. Tôi đã may mắn được mở màn hội thảo TED với một bài thuyết trình về Abundance, và còn may mắn hơn nữa khi phần thuyết trình được khán giả nhiệt liệt đón nhận. Cuốn sách nhanh chóng lọt vào các bảng xếp hạng, và có gần 3 tháng nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của New York Times, giành một
số giải thưởng như “Sách hay nhất năm 2012” và được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ. Chúng tôi vô cùng biết ơn tất cả những điều này.
Một điều khác cũng khiến chúng tôi thật sự hài lòng chính là những minh chứng xác thực về sự phồn vinh tiếp tục xuất hiện ngày càng nhiều. Và kết quả là, trong phiên bản sách giấy tái bản năm 2014 của cuốn Abundance, chúng tôi tự hào giới thiệu thêm khoảng 60 biểu đồ trong phần tham khảo về các lĩnh vực như sự giảm thiểu bạo lực và sự gia tăng về giáo dục, sức khỏe và tài sản. Tựu chung lại, ý nghĩa của những dữ liệu này thật sự đáng kinh ngạc.
Nhưng đồng thời chúng tôi cũng cảm thấy rằng việc chỉ phác họa nên bức tranh về tương lai hứa hẹn như vậy là chưa đủ. Dù chúng tôi thật sự tin rằng việc tạo ra một thế giới phồn vinh là hoàn toàn có thể, nhưng không có gì đảm bảo cho điều đó. Đó là lý do khiến chúng tôi viết tiếp cuốn sách này.
Những thử thách lớn nhất của thế giới = Những cơ hội kinh doanh lớn nhất
Hàng nghìn năm trước, chỉ có vua, pharaon và hoàng đế mới có khả năng giải quyết những vấn đề vĩ mô. Hàng trăm năm trước, sức mạnh này được mở rộng sang cho các ngành công nghiệp xây dựng hệ thống giao thông và các tổ chức tài chính. Nhưng ngày nay, khả năng giải quyết những vấn đề đó đã được dân chủ hóa hoàn toàn. Ngay thời điểm này, lần đầu tiên trong lịch sử, một cá nhân đam mê và tận tâm có thể tiếp cận được công nghệ, trí tuệ và nguồn vốn cần thiết để chấp nhận bất kỳ thử thách nào. Còn tuyệt vời hơn khi cá nhân này có lý do chính đáng để nhận những thử thách như vậy. Chúng ta sẽ sớm nhận thấy
rằng những vấn đề lớn nhất của thế giới hiện nay lại chính là những cơ hội kinh doanh tuyệt vời nhất. Điều này có nghĩa rằng đối với những nhà sáng lập đột phá, việc tìm kiếm một thách thức lớn chính là con đường ý nghĩa dẫn đến thịnh vượng. Cuối cùng thì, như tôi vẫn giảng ở trường Đại học Singularity (vấn đề này sẽ được bàn kỹ hơn ở những phần sau), cách tốt nhất để trở thành một tỷ phú chính là giải quyết được vấn đề khó khăn của hàng tỷ người.
Trong cuốn sách này, Steven và tôi đưa ra hướng dẫn rất thực tế chỉ để thực hiện điều đó. Cuốn sách sẽ trang bị cho các doanh nhân, nhà hoạt động xã hội và các nhà lãnh đạo những công cụ cần thiết để tác động tích cực đến thế giới, đồng thời biến giấc mơ của họ thành sự thật. Để thực hiện tốt lời hứa đó, Khởi nghiệp táo bạo sẽ hé lộ trong ba phần: Phần Một tập trung vào những công nghệ đột phá đang tạo ra sự xáo trộn trong danh sách Fortune 500 và giúp cho những nhà khởi nghiệp đi từ “Tôi có một ý tưởng mới” đến “Tôi điều hành một công ty tỷ đô” nhanh hơn bao giờ hết. Phần Hai tập trung vào khía cạnh tâm lý – bộ công cụ tinh thần giúp cho những người tiên phong hàng đầu thế giới phát huy cuộc chơi của họ bằng việc suy nghĩ theo quy mô. Phần này còn chứa đựng cả những lời khuyên và bài học cụ thể từ những bậc thầy công nghệ như Larry Page, Elon Musk, Richard Branson và Je Bezos. Cũng trong Phần Hai, Steven tiết lộ những điều then chốt để đạt được hiệu suất làm việc tốt nhất thông qua dữ liệu thu thập được từ công trình nghiên cứu 15 năm cho dự án Flow Genome, còn tôi tiết lộ những bí quyết khởi nghiệp của mình thông qua kinh nghiệm thành lập 17 công ty. Cuối cùng, Phần Ba sẽ khép lại cuốn sách bằng việc xem xét sức mạnh khủng khiếp cùng những thực hành tốt nhất và cần thiết giúp bất kỳ ai cũng có thể tận dụng tối đa đòn bẩy của thời đại siêu kết nối ngày nay. Bạn sẽ học được cách khai thác các nguồn lực của cộng đồng
(crowdsourcing) nhằm gia tăng nhanh chóng tốc độ hoạt động của doanh nghiệp; cách thiết kế và dùng những cuộc thi khuyến khích nhằm tìm ra những giải pháp đột phá; cách chạy những chiến dịch huy động vốn cộng đồng (crowdfunding) hàng triệu đô-la và khai thác hàng chục tỷ đô-la vốn sẵn có; và cuối cùng, cách tạo dựng những cộng đồng bứt phá – đội ngũ các cá nhân đã được trang bị khả năng sẵn sàng bứt phá và có thể giúp nhiều nhà sáng lập ngày nay biến những giấc mơ táo bạo nhất của họ thành sự thật.
Ai nên đọc cuốn sách này?
Cuốn sách được kỳ vọng là một bản tuyên ngôn, một cẩm nang hướng dẫn cho những nhà sáng lập đột phá ngày nay, đồng thời là một nguồn tham khảo để đẩy mạnh công nghệ, tư duy và tận dụng các công cụ sức mạnh đám đông. Dù bạn là chủ doanh nghiệp, lãnh đạo theo cảm hứng hay bằng kinh nghiệm, dù bạn đang sống ở Thung lũng Silicon hay Thượng Hải, dù bạn đang là sinh viên hay là nhân viên của một tổ chức đa quốc gia, cuốn sách này dành cho bạn. Nó sẽ nâng tầm khả năng và hoài bão của bạn một cách nghiêm túc. Nó đề cập đến những tư duy bứt phá và tác động toàn cầu.
Mặt khác, nếu bạn đang quản lý, điều hành hoặc làm chủ một cỗ máy lớn ì ạch, và đối thủ cạnh tranh của bạn không còn là những công ty đa quốc gia từ nước ngoài mà chính là sự bùng nổ của những nhà sáng lập đột phá đang làm việc chăm chỉ ở một góc ga-ra gia đình, thì đọc cuốn sách này, bạn sẽ hiểu sự cạnh tranh mới từ đâu đến cũng như cách họ suy nghĩ và hành động như thế nào. Hơn thế nữa, những cơ hội đột phá tương tự – bản thân các công nghệ và những chiến lược nhằm phát huy tối đa các công nghệ này (về mặt tâm lý và tổ chức) – hiện hữu với cả những nhà sáng lập đơn lẻ và những công ty lớn. Cuối cùng,
nếu bạn là nhà lãnh đạo tổ chức và có hứng thú trong việc nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này, thì tôi khuyên bạn đọc ấn phẩm đầu tiên của Đại học Singularity: Exponential Organizations (ExO) (tạm dịch: Những tổ chức đột phá), của tác giả Salim Ismail, Giám đốc điều hành đầu tiên của trường Singularity và hiện là đại sứ toàn cầu của trường. ExO dành cho lãnh đạo của những công ty muốn thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng và tham gia vào cuộc cách mạng đột phá.
Cuối cùng, và là điều chúng tôi kỳ vọng nhất, rằng Khởi nghiệp táo bạo có thể truyền cảm hứng để bạn đứng dậy và thay đổi thế giới. Cuốn sách này dành cho những ai muốn tạo ra một Dấu ấn Khổng lồ. Thực tế là, nhờ có những quyền năng đột phá mà bất kỳ ai cũng có thể tạo ra Dấu ấn Khổng lồ. Vậy thì bạn còn chờ đợi gì nữa?
Sự cộng tác của hai trí tuệ
Peter và Steven gặp nhau lần đầu vào năm 1997, khi Steven viết một bài báo về X PRIZE. Cuối những năm 2000, khi hai người cộng tác viết cuốn Abundance, Peter đưa ra ý tưởng về cuốn Khởi nghiệp táo bạo, và đề nghị Steven hợp tác cùng một lần nữa để viết một cuốn sách tập trung vào việc truyền cảm hứng và giúp các doanh nhân tạo ra một thế giới phồn vinh. Một lần nữa, Peter và Steven đã cùng nhau đưa những quan điểm và hiểu biết chuyên môn độc đáo của họ đến với độc giả. Tuy cuốn sách được kể dưới giọng văn của Peter cùng nhiều câu chuyện của riêng anh, nhưng công trình này thật sự là kết quả của mối quan hệ hợp tác, vì ý tưởng và việc soạn thảo cuốn Khởi nghiệp táo bạo do Peter và Steven cùng thực hiện.
— PETER DIAMANDIS
Santa Monica, California — STEVEN KOTLER Chimayo, New Mexico
PHẦN MỘT
CÔNG NGHỆ TÁO BẠO
1
Tạm biệt suy nghĩ truyền thống… xin chào sự đột phá
Sự ra đời của một Gã khổng lồ
Đ
ó là năm 1878, George Eastman, lúc này là một thư ký trẻ 24 tuổi của Ngân hàng Rochester Savings, đang cần một kỳ nghỉ. Anh đã chọn đi đến Thủ đô Santo Domigo
của Cộng hòa Dominica. Theo gợi ý của một đồng nghiệp, Eastman đã mua mọi thiết bị chụp ảnh cần thiết để lưu giữ lại kỷ niệm của chuyến đi này. Đồ nghề của anh gồm khá nhiều thứ: một chiếc máy ảnh to như một chú chó Rottweiler, một chân máy lớn, một bình nước, một giá đựng kính âm bản, những tấm kính âm bản, hộp tráng bằng thủy tinh, các loại hóa chất, và dĩ nhiên, một chiếc lều lớn – vật dụng cuối cùng này tạo thành một phòng tối để tráng lớp nhũ lên tấm kính âm bản trước khi phơi và để rửa ảnh sau đó. Eastman đã không đi nghỉ như dự định.
Anh bị ám ảnh với môn hóa học. Nhiếp ảnh thời đó là một kỹ thuật tráng rửa ảnh ướt át công phu, nhưng Eastman mong muốn một quy trình đơn giản gọn nhẹ hơn. Anh đã đọc về chất tạo nhũ tương gelatin có khả năng duy trì độ nhạy sáng sau khi làm khô. Hằng đêm, trong căn bếp của mẹ, anh bắt đầu tiến hành nhiều thử nghiệm khác nhau. Bẩm sinh là một người thích sửa chữa, tinh chỉnh mọi thứ, chỉ chưa đầy hai năm, Eastman đã có thể phát minh ra cả công thức kính ảnh khô và chiếc máy chế tạo kính khô. Và Công ty Kính ảnh khô Eastman ra đời.
Anh tiếp tục mày mò nhiều hơn nữa. Năm 1884, Eastman chế tạo ra cuộn phim; bốn năm sau, anh phát minh ra chiếc máy ảnh tận dụng được những ưu thế của cuộn phim. Năm 1888, chiếc máy ảnh này xuất hiện và bán trên thị trường với khẩu hiệu: “Bạn chỉ việc bấm nút, còn lại để chúng tôi lo.” Công ty Kính ảnh khô Eastman sau đó trở thành Công ty Eastman, nhưng cái tên đó vẫn chưa đủ hấp dẫn. Eastman muốn một cái gì đó thu hút hơn, một cái tên mà mọi người sẽ nhớ và nói về nó. Một trong những chữ cái yêu thích của ông là K. Và vào năm 1892, Công ty Eastman Kodak được thành lập.
Vào những năm đầu thành lập công ty, nếu bạn hỏi George Eastman về mô hình kinh doanh của Kodak, ông ấy sẽ trả lời rằng công ty này nằm đâu đó giữa một nhà cung cấp hóa chất và nhà thầu cung ứng hàng hóa khô (nếu kính ảnh khô được xếp vào loại hàng hóa khô).
Nhưng điều đó đã thay đổi nhanh chóng. “Ý tưởng dần dần hình thành trong tôi,” Eastman nói, “rằng những gì chúng tôi đang làm không đơn thuần chỉ là làm kính khô mà chúng tôi đang khiến nhiếp ảnh trở thành một hoạt động thường nhật.” Hoặc
là, như sau này Eastman đã nhấn mạnh, ông ấy muốn làm cho nhiếp ảnh “trở nên tiện dụng như một cây bút chì”.
Và hàng trăm năm sau, Eastman Kodak đã làm được điều đó. Ngành kinh doanh ký ức
Steven Sasson với chiếc máy ảnh kỹ thuật số Kodak đầu tiên. Nguồn: TK
Steven Sasson là một người đàn ông cao ráo với chiếc cằm nhô đặc trưng. Năm 1973, anh tốt nghiệp Học viện Bách khoa Rensselaer. Với bằng kỹ sư điện, anh được nhận vào làm việc ở phòng nghiên cứu thiết bị của Kodak, nơi mà sau vài tháng làm việc, người giám sát của Sasson, Gareth Lloyd, đã tiếp cận anh với một yêu cầu “nhỏ”. Công ty sản xuất thiết bị bán dẫn Fairchild Semiconductor đã phát minh ra “linh kiện tích điện kép” đầu tiên (hay còn được gọi là cảm biến CCD) – một cách đơn giản để di chuyển điện tích xung quanh linh kiện bán dẫn – và Kodak cần biết liệu linh kiện này có thể sử dụng trong chụp hình hay không. Họ nghĩ là có thể.
Vào năm 1975, cùng với một nhóm nhỏ các kỹ thuật viên tài năng, Sasson sử dụng những chiếc cảm biến CCD để tạo ra máy chụp ảnh kỹ thuật số và thiết bị ghi hình kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới. Fast Company đã có lần mô tả thiết bị này “trông
như sự kết hợp giữa một chiếc máy ảnh Polaroid thập niên 70 và món đồ chơi Speak-and-Spell”. Chiếc máy ảnh này có kích cỡ của một cái máy nướng bánh mì, nặng gần 4kg, có độ phân giải 0,01 megapixel, có thể chụp được khoảng 30 tấm ảnh đen trắng kỹ thuật số – đây là con số trung bình được chọn ra vì thực tế số ảnh chụp được nằm trong khoảng từ 24-36 tấm, và nó tương thích với sự phơi sáng sẵn có trong cuộn phim của Kodak. Chiếc máy vẫn lưu ảnh vào thiết bị lưu trữ duy nhất ở thời đó – một cuộn băng cassette. Tuy nhiên, đó vẫn là một thành tích đáng kinh ngạc và một trải nghiệm tuyệt vời.
Sasson kể lại rằng: “Khi bạn cho chạy thử một thiết bị chụp ảnh mà không dùng phim, rồi chiếu cho mọi người xem trên một màn hình điện tử mà không cần in chúng ra giấy, ở tại công ty như Kodak vào năm 1976, bạn phải sẵn sàng để trả lời rất nhiều câu hỏi. Tôi đã nghĩ rằng họ sẽ hỏi tôi những câu hỏi liên quan đến công nghệ như: Anh làm cách nào thế? Làm sao anh khiến nó hoạt động được? Nhưng tôi đã không nhận được câu hỏi nào như vậy. Họ hỏi tôi khi nào thì chiếc máy sẵn sàng ra mắt? Khi nào chiếc máy ảnh này có thể sử dụng được trong thực tế? Sao lại có ai đó muốn xem ảnh của họ trên màn hình điện tử chứ?”
Năm 1976, năm mà cuộc họp trên diễn ra, Kodak có 140.000 nhân viên và được định giá 28 tỷ đô-la. Họ gần như là một nhà độc quyền trên thị trường. Ở Mỹ, họ nắm giữ 90% thị phần phim chụp và 85% thị phần máy ảnh. Nhưng họ đã quên mất mô hình kinh doanh của mình. Kodak đã khởi nghiệp từ kinh doanh ngành hóa chất và giấy ảnh nhưng họ lại thống trị khi chuyển sang kinh doanh sự tiện lợi.
Mặc dù vậy, điều đó không kéo dài lâu. Vẫn có câu hỏi đặt ra rằng chính xác thì Kodak đã khiến điều gì trở nên thuận tiện hơn. Liệu có phải chỉ bó hẹp trong nhiếp ảnh? Không hề. Nhiếp
ảnh chỉ là môi trường thể hiện mà thôi – vậy thì điều gì cần được nói đến ở đây? Đó chính là “Khoảnh khắc Kodak”, tất nhiên rồi – mong muốn có thể lưu giữ lại những khoảnh khắc, những giây phút thoáng qua trong cuộc sống của chúng ta. Kodak đã kinh doanh việc lưu giữ ký ức. Và còn gì có thể khiến việc lưu giữ ký ức thuận tiện hơn một chiếc máy ảnh kỹ thuật số?
Nhưng đó không phải là cách mà Tập đoàn Kodak cuối thế kỷ XX nhìn nhận. Họ cho rằng máy ảnh kỹ thuật số sẽ gây ảnh hưởng đến ngành kinh doanh hóa chất rửa ảnh và giấy ảnh của họ, về cơ bản, công ty buộc phải cạnh tranh với chính mình. Do vậy, họ đã chôn vùi công nghệ này. Các nhà lãnh đạo của Kodak không biết được rằng bằng cách nào đó, chiếc máy ảnh kỹ thuật số có độ phân giải thấp chỉ 0,01 megapixel có thể phát triển nhảy vọt theo cấp số nhân và tạo ra những bức ảnh với độ phân giải cao. Vậy là họ đã phớt lờ nó. Thay vì sử dụng lợi thế sẵn có để tấn công vào thị trường, họ đã bị chính thị trường dồn ép đến bước đường cùng.
Làm phép tính
Trở lại năm 1976, khi Steven Sasson lần đầu tiên cho thử nghiệm chiếc máy ảnh kỹ thuật số ở Kodak, ngay lập tức anh được hỏi về thời gian ước tính cần thiết để chiếc máy có thể sẵn sàng giới thiệu tới mọi người. Các nhà điều hành lo sợ muốn biết sau bao lâu phát minh mới của anh sẽ trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự thống lĩnh thị trường của công ty? 15 đến 20 năm, đó là câu trả lời của Sasson.
Để có được đáp án này, Sasson đã làm phép tính và ước lượng nhanh. Anh ước tính lượng megapixel cần để thỏa mãn một người tiêu dùng trung bình là hai triệu. Sau đó, để xác định thời gian cần để hai triệu megapixel này được tung ra thị thường,
Sasson dựa vào định luật Moore để tính toán – và đó là nơi khởi đầu rắc rối.
Năm 1965, Gordon Moore, nhà sáng lập Intel, nhận thấy rằng số lượng transitor (bóng bán dẫn) trên mỗi mạch tích hợp tăng gấp đôi sau mỗi 12-24 tháng. Xu hướng này diễn ra trong vòng một thập kỷ và, Moore dự đoán, có thể sẽ kéo dài sang thập kỷ sau. Dự đoán này không hoàn toàn chính xác. Định luật Moore giữ vững vị thế trong khoảng 50 năm. Sự tiến bộ không ngừng về giá cả và hiệu suất này chính là lý do khiến chiếc điện thoại thông minh trong túi bạn nhanh hơn gấp nghìn lần và rẻ hơn gấp triệu lần một chiếc siêu máy tính từ những năm 1970. Đó chính là sự tăng trưởng theo cấp số nhân trong thực tế.
Không giống như tiến trình +1 của tăng trưởng tuyến tính, khi mà 1 thành 2 thành 3 thành 4 và tiếp tục như vậy, tăng trưởng cấp số nhân là sự gia tăng gấp đôi: 1 thành 2 thành 4 thành 8 và cứ như thế. Và vấn đề chính là: việc tăng gấp đôi này cực kỳ dễ nhầm lẫn. Nếu tôi đi 30 bước dài theo công thức tuyến tính (giả sử mỗi bước chân đi được khoảng 1m) từ phòng khách nhà tôi ở Santa Monica, thì tôi sẽ dừng lại cách đó 30m, hoặc đại khái là băng qua đường. Thay vào đó, nếu tôi đi 30 bước theo công thức cấp số nhân, từ cùng điểm bắt đầu, tôi sẽ kết thúc ở cách đó một tỷ mét, hoặc đi vòng quanh Trái đất 26 lần. Và đây chính là điểm mà Kodak đã sai lầm – họ đã đánh giá thấp sức mạnh của sự gia tăng theo cấp số nhân.
6 chữ D
Đánh giá thấp sức mạnh của sự gia tăng theo cấp số nhân là điều dễ mắc phải. Tổ tiên vượn người chúng ta từng sống trong một thế giới cục bộ và tuần tự. Thời đó, cuộc sống cục bộ là do mọi sinh hoạt của tổ tiên chúng ta thường chỉ nằm trong phạm
vi một ngày đi bộ. Nếu có điều gì xảy ra ở phía bên kia của địa cầu thì chúng ta cũng chẳng hay biết. Cuộc sống cũng rất tuần tự, nghĩa là chẳng có gì thay đổi trong hàng thế kỷ hoặc thậm chí là thiên niên kỷ. Ngược lại, ngày nay, chúng ta sống trong một thế giới toàn cầu và phát triển đột phá. Vấn đề là não bộ và khả năng nhận thức của chúng ta chưa từng được thiết lập để xử lý với quy mô hay tốc độ này. Tư duy tuyến tính của chúng ta không thể nắm bắt được sự phát triển theo cấp số nhân.
Nhưng nếu mục tiêu là để tránh mắc phải sai lầm như Kodak (nếu bạn đang có một công ty) hoặc để khai thác sai lầm của Kodak (nếu bạn là nhà khởi nghiệp), thì bạn cần hiểu rõ hơn về sự thay đổi này – nghĩa là bạn phải hiểu những đặc trưng của sự đột phá. Để truyền đạt những điều này, tôi đã phát triển một mô hình có tên Sáu chữ D của tăng trưởng cấp số nhân: Số hóa (digitalization), đánh lừa (deception), phá vỡ (disruption), phi tiền tệ hóa (demonetization), phi vật chất hóa (dematerialization), và dân chủ hóa (democratization). Sáu chữ D này là một chuỗi phản ứng trong tiến trình phát triển công nghệ, là bản đồ của sự phát triển nhanh chóng – nơi khởi phát của những biến động và cơ hội khổng lồ.
6 chữ D của tăng trưởng đột phá
Nguồn: Peter H. Diamandis, www.diamandis.abundancehub.com
Chúng ta cùng xem xét chuỗi phản ứng này nhé.
Digitalization – Số hóa. Ý tưởng này bắt nguồn từ thực tế rằng văn hóa tạo ra quá trình tích lũy. Sự đổi mới xảy ra khi con người chia sẻ và trao đổi ý tưởng. Tôi xây dựng dựa trên ý tưởng của bạn; bạn xây dựng dựa trên ý tưởng của tôi. Loại trao đổi này diễn ra chậm vào thuở sơ khai của giống loài chúng ta (khi tất cả những gì chúng ta có để truyền tải thông tin là qua những câu chuyện kể khi ngồi quanh đống lửa), bắt đầu phát triển khi có báo giấy, và sau đó bùng nổ cùng với công nghệ số, kho lưu trữ, và việc trao đổi ý tưởng có thể được thực hiện thông qua máy tính. Bất kỳ thứ gì có thể số hóa được – nghĩa là biểu diễn dưới dạng hệ nhị phân 1 và 0 – đều có thể lan truyền với tốc độ ánh sáng (hoặc ít nhất là tốc độ của Internet), có thể tái tạo và chia sẻ miễn phí. Hơn thế nữa, việc lan truyền này nhất quán theo một hướng: đường cong tăng trưởng theo cấp số nhân. Trong trường hợp của Kodak, một khi ngành kinh doanh ký ức chuyển từ quy trình vật lý (nghĩa là được tạo ảnh trên phim, lưu trữ trên giấy) sang quy trình số (chụp và lưu trữ ảnh dạng hệ nhị phân), thì tỷ lệ phát triển của nó hoàn toàn không thể dự đoán được. Nó phát triển theo đường cong tăng trưởng cấp số nhân.
Dĩ nhiên, không riêng gì Kodak. Bất cứ lĩnh vực nào số hóa được (sinh học, thuốc thang, sản xuất…) đều tuân theo định luật Moore về sự phát triển của sức mạnh máy tính vậy.
Deception – Sự đánh lừa. Theo sau sự số hóa chính là giai đoạn đánh lừa, một giai đoạn mà sự phát triển theo cấp số nhân hầu như không được chú ý đến. Điều này xảy ra là do sự nhân đôi của những số nhỏ thường tạo ra kết quả nhỏ khiến chúng ta nhầm tưởng với sự gia tăng tuyến tính. Hãy hình dung chiếc máy ảnh đầu tiên của Kodak chỉ với 0,01 megapixel được nhân
đôi thành 0,02; 0,02 thành 0,04; 0,04 thành 0,08. Nếu nhìn qua, những con số này đều chỉ là số không. Tuy nhiên, sự thay đổi lớn sẽ sớm diễn ra. Khi kết quả nhân đôi tiến đến những số tự nhiên (thành 1, 2, 4, 8,…), chúng chỉ cần nhân đôi 20 lần là sẽ đạt đến con số hàng triệu và chỉ thêm 30 lần nhân đôi nữa để thành con số hàng tỷ. Khi tới giai đoạn này của sự tăng trưởng theo cấp số nhân, sự dối lừa ban đầu bắt đầu gây nên xáo trộn rõ rệt.
Disruption – Sự phá vỡ. Định nghĩa một cách đơn giản, một công nghệ đột phá là bất kỳ sự cải tiến nào tạo ra một thị trường mới và phá vỡ thị trường đang tồn tại. Không may là sự phá vỡ luôn luôn tiếp diễn sau giai đoạn đánh lừa, khi mà mối đe dọa với công nghệ truyền thống dường như không đáng kể. Lấy ví dụ chiếc máy ảnh đầu tiên. Kodak kiêu hãnh với những thứ như sự tiện lợi và độ trung thực của hình ảnh. Chẳng có điều nào tương tự thế trong phiên bản máy ảnh đầu tiên của Sasson. Chiếc máy của anh cần 23 giây để chụp và lưu trữ bức ảnh đen trắng 0,01 megapixel. Vâng, chẳng có mối đe dọa nào ở đó cả.
Dưới góc nhìn của các nhà điều hành Kodak, phát minh của Sasson sẽ vẫn là một món đồ chơi hơn là một công cụ trong nhiều năm tới. Do tập trung vào lợi nhuận hằng quý dựa trên việc kinh doanh giấy và hóa chất, họ đã không nhận ra rằng sự xáo trộn đang dần được tích tụ theo cấp số nhân. Nếu hiểu đúng vấn đề thì những nhà điều hành của Kodak đã phải nhận ra ý muốn không cạnh tranh với chính mình thực sự là một quyết định khiến họ phá sản.
Và thật sự công ty đã đi đến phá sản. Ngay khi Kodak nhận ra sai lầm của mình, họ đã không thể bắt kịp được với tốc độ số hóa của ngành công nghệ. Kodak bắt đầu chật vật vào những năm 90 và kinh doanh không có lãi từ năm 2007, sau đó phải nộp hồ
sơ phá sản theo Chương 11 của Luật phá sản Mỹ vào tháng Một năm 2012. Vì quên mất sứ mệnh của mình và tính toán sai, từ một doanh nghiệp khổng lồ tồn tại hơn 100 năm tuổi, Kodak đã bị nhấn chìm và trở thành một câu chuyện cảnh báo cho bản chất phá vỡ của sự tăng trưởng theo cấp số nhân.
Chúng ta đang sống trong thời đại tăng trưởng cấp số nhân. Sự phá vỡ này là điều không thể tránh khỏi. Với bất kỳ ai đang điều hành một doanh nghiệp – cả những công ty khởi nghiệp và những công ty lâu đời – chúng ta không có nhiều sự lựa chọn: Phải tự phá vỡ chính mình hoặc bị phá vỡ bởi kẻ khác.
3 chữ D còn lại
Sự số hóa, sự đánh lừa và sự phá vỡ đã định hình lại hoàn toàn thế giới của chúng ta, nhưng chuỗi phản ứng mà chúng ta đang nghiên cứu mang tính tích lũy. Vì vậy, 3 chữ D tiếp theo – sự phi tiền tệ hóa, phi vật chất hóa và dân chủ hóa – còn tác động mạnh hơn nhiều so với những giai đoạn trước đó.
Demonetization – Sự phi tiền tệ hóa. Điều này có nghĩa là loại bỏ tiền tệ khỏi phương trình. Như trường hợp Kodak. Ngành kinh doanh kiểu cũ của họ đã bốc hơi khi khách hàng ngừng mua phim. Ai lại cần đến phim khi đã có megapixel cơ chứ? Bỗng nhiên một trong những nguồn doanh thu một thời không thể đánh bại của Kodak lại trở nên miễn phí với máy ảnh kỹ thuật số.
Theo một nghĩa nào đó thì sự chuyển đổi này chính là một phiên bản khác của những gì mà cựu tổng biên tập tạp chí Wired đã nói đến trong cuốn Free (tạm dịch: Tự do). Trong Free, Anderson tranh luận rằng trong nền kinh tế ngày nay, một
trong những cách dễ kiếm tiền nhất chính là cho đi thứ gì đó. Anh giải thích:
Tôi đang gõ những câu chữ này trên một chiếc máy tính “netbook” trị giá 250 đô-la. Đây là dòng laptop mới có tốc độ cải tiến nhanh nhất. Hệ điều hành tôi dùng là một phiên bản Linux miễn phí, dù vậy nó vẫn chẳng gặp vấn đề gì vì tôi không chạy chương trình nào khác ngoài trình duyệt Web Firefox miễn phí cả. Tôi không sử dụng Microsoft Word, thay vào đó là Google Docs miễn phí. Nó có ưu điểm là tôi có thể soạn thảo văn bản ở bất kỳ nơi nào và không cần phải lo lắng về việc lưu trữ vì Google đã lo phần đó. Những thứ khác tôi sử dụng trên máy tính đều miễn phí, từ email cho đến Twitter. Thậm chí mạng không dây cũng miễn phí trong quán cà phê tôi đang ngồi.
Vậy mà Google vẫn là một trong những công ty có lợi nhuận lớn nhất nước Mỹ, hệ sinh thái Linux có trị giá 30 tỷ đô-la, và quán cà phê có thể nhanh chóng bán hết những ly cà phê 3 đô-la ngay khi vừa làm ra.
Hàng tỷ, hàng tỷ hàng hóa và dịch vụ, như Anderson đã chỉ ra, đang được trao đi miễn phí. Ngày nay, chắc chắn có những chiến lược định giá lỗ để lôi kéo khách hàng – như việc Google cho đi trình duyệt của họ nhưng nhờ đó họ lại thu về một khối lượng thông tin khổng lồ; có những nguồn mở như Wikipedia, Linux và tất cả những nguồn tương tự còn lại đều thật sự miễn phí. Dù sao thì nó là một nền kinh tế ngầm nhưng lại đang diễn ra rõ mồn một trước mắt. Thật sự là như vậy. Vào thời điểm Anderson viết cuốn Free, ngoài một vài bài viết chưa rõ ràng thì các nhà kinh tế chưa hề lưu tâm đến ý tưởng miễn phí trên thị trường. Đó là một lỗ hổng. Nói cách khác, thậm chí những người
chuyên nghiên cứu về xu hướng kinh tế cũng bị qua mặt. Khi sự phi tiền tệ hóa xảy đến, họ không hay biết điều gì đã hạ gục họ.
Vấn đề này không chỉ những nhà kinh tế hay những nhà điều hành của Kodak mắc phải. Skype đã làm phi tiền tệ hóa việc gọi điện thoại đường dài; Craigslist đã phi tiền tệ hóa ngành quảng cáo rao vặt; Napster thì phi tiền tệ hóa ngành âm nhạc. Danh sách này còn tiếp tục nối dài. Quan trọng hơn, vì sự phi tiền tệ hóa này diễn ra chưa rõ ràng nên hầu như chẳng có ai trong số những ngành này chuẩn bị cho sự thay đổi hoàn toàn như vậy.
Dematerialization – Phi vật chất hóa. Trong khi sự phi tiền tệ hóa mô tả sự biến mất của tiền tệ trong việc thanh toán các dịch vụ và hàng hóa, thì sự phi vật chất hóa đề cập đến sự biến mất của chính bản thân hàng hóa và dịch vụ. Trong trường hợp của Kodak, tai ương của họ
không dừng lại ở sự biến mất của phim. Theo sau phát minh máy ảnh kỹ thuật số là sự ra đời của điện thoại thông minh, và những chiếc điện thoại này nhanh chóng được trang bị chức năng chụp ảnh cơ bản với chất lượng và độ phân giải cao. Hô biến! Cứ như ảo thuật vậy, thoắt ẩn thoắt hiện. Một khi những chiếc điện thoại thông minh này thâm nhập vào thị trường thì những chiếc máy ảnh kỹ thuật số phải tự động biến mất. Nó được trang bị miễn phí ở hầu hết điện thoại và chính người tiêu dùng cũng mong đợi điều đó. Năm 1976, Kodak thống trị 85% thị phần ngành kinh doanh máy ảnh. Đến năm 2008 – tức một năm sau sự ra đời của chiếc Iphone đầu tiên (chiếc điện thoại thông minh đầu tiên có tích hợp chức năng chụp hình kỹ thuật số chất lượng cao) – thì thị trường kinh doanh máy ảnh không tồn tại thêm được nữa. (Xem biểu đồ dưới đây.)
Có bao nhiêu bức ảnh được chụp mỗi năm?
Sự suy giảm của ảnh in và sự bùng nổ của ảnh kỹ thuật số.
Source: http://digital-photography-school.com/history photography
Điều kỳ lạ trong câu chuyện này là Kodak biết sự thay đổi sẽ xảy đến theo định luật Moore. Điều này cũng dẫn đến sự mở rộng không ngừng về dung lượng lưu trữ bộ nhớ, tiến tới sự phi tiền tệ hóa trong ngành nhiếp ảnh.
Các kỹ sư của Kodak chắc chắn đã biết điều này. Thậm chí mọi người còn cho rằng họ biết đến cả định luật Hendy – nói về số lượng pixel tương ứng với mỗi đô-la trong những chiếc máy ảnh kỹ thuật số sẽ được nhân đôi mỗi năm – vì định luật được đặt theo tên của một nhân viên của Kodak Úc, Barry Hendy. Mọi việc không chỉ bày ra trước mắt Kodak mà chính họ cũng nắm bắt được chúng. Vậy mà Kodak vẫn thất bại trong việc đón đầu làn sóng này.
Hãy nhìn vào bảng dưới đây.
Những ứng dụng có trị giá hơn 900.000 đô-la trên điện thoại thông minh ngày nay
Nguồn: Abundance: The Future Is Better than You Think, trang 289
Có thể thấy rằng tất cả các công nghệ xa xỉ của những năm 1980 đã bị thay thế và trở thành những ứng dụng tiêu chuẩn của một chiếc điện thoại thông minh hạng trung. Một chiếc máy quay phim HD, hội thoại trực tuyến hai chiều (qua Skype), GPS, thư viện sách, bộ hồ sơ, đèn pin, đo điện tâm đồ, một phiên bản videogame đầy đủ, một chiếc máy ghi âm, bản đồ, máy tính, đồng hồ… chỉ là một vài trong số đó. Ba mươi năm trước, những thiết bị này có thể khiến bạn tốn kém đến hàng nghìn đô-la; ngày nay chúng lại hoàn toàn miễn phí hoặc chỉ là những ứng dụng trên điện thoại. Và điện thoại thông minh là công nghệ lan rộng nhanh nhất trong lịch sử loài người.
Democratization – Sự dân chủ hóa. Rõ ràng, chuỗi phản ứng này phải kết thúc ở đâu đó. Chắc chắn là phim và máy ảnh đi kèm miễn phí cùng những chiếc điện thoại thông minh, nhưng bạn vẫn có thể đưa ra lập luận về mức giá cao của chiếc điện thoại. Sự dân chủ hóa xảy ra khi mức giá cao giảm xuống thấp đến mức mọi người đều có thể mua được. Để xem xét vấn đề này, chúng ta hãy quay lại trường hợp Kodak.
Không chỉ kiếm tiền từ việc bán máy ảnh và phim, Kodak thậm chí còn bán tất cả mọi thứ của một quy trình khép kín: họ sản xuất phim, giấy để in ảnh và cả hóa chất để tráng phim. Tại sao điều này lại tốt cho việc kinh doanh? Đầu tiên, khi bạn chụp ảnh xong, bạn không biết nó có đẹp hay không, vậy là bạn phải rửa hết ra. Còn những tấm hình mờ mờ, không rõ nét, bạn vẫn phải trả tiền để lấy chúng. Thứ hai, việc chụp ảnh chỉ là một phần của thú vui, việc rửa thêm và chia sẻ những tấm ảnh mới thật sự là điều lý thú.
Cách đây hai thập kỷ, những người có thể chụp và chia sẻ ảnh là những người đủ giàu để có thể chi cho giấy rửa ảnh, in ấn và những chi phí khác cho vài nghìn tấm ảnh. Nhưng với chiếc máy ảnh kỹ thuật số, bạn có thể biết trước được những tấm ảnh nào đáng được in ra, và với sự ra đời của những trang web chia sẻ ảnh như Flickr, bạn có thể không cần in ảnh ra nữa. Việc chia sẻ hình ảnh trở nên miễn phí, nhanh chóng và ai cũng có thể làm được.
Sự dân chủ hóa chính là điểm kết thúc của chuỗi phản ứng theo cấp số nhân này, là kết quả hợp lý của sự phi tiền tệ và phi vật chất hóa. Điều này xảy ra khi những vật thể vật lý được chuyển sang hệ nhị phân và sau đó được lưu trữ trên nền tảng kỹ thuật số với số lượng lớn đến mức chi phí của chúng tiệm cận 0. Đó là trường hợp của những chiếc điện thoại thông minh và máy tính
bảng ngày nay. Trên thực tế, nó cũng là trường hợp của sự kết nối không dây, cho phép những thiết bị này kết nối thông qua mạng Internet. Hiện nay, Google và Facebook đang trong cuộc chạy đua vũ trang, với kế hoạch chi hàng tỷ đô-la để phóng những chiếc máy bay không người lái, khí cầu, vệ tinh để có thể cung cấp dịch vụ kết nối Internet miễn phí hoặc với chi phí cực kỳ thấp cho tất cả mọi người trên Trái đất.
Những tổ chức lớn giàu mạnh (như Kodak) một thời có thể yên tâm tận hưởng vòng nguyệt quế của mình? Theo giáo sư Richard Foster của Đại học Yale, vào những năm 1920, tuổi thọ trung bình của một công ty thuộc nhóm S&P 500 là 67 năm. Điều đó không còn đúng nữa. Ngày nay, 3 chữ D cuối cùng trong chuỗi phản ứng có thể làm tan rã các công ty, phá vỡ các ngành công nghiệp chỉ trong một sớm một chiều, và làm giảm tuổi thọ trung bình của công ty nằm trong nhóm S&P 500 xuống chỉ còn 15 năm. Trong vòng 10 năm nữa, theo nghiên cứu được thực hiện tại trường Kinh doanh Babson, hơn 40% công ty hàng đầu ngày nay sẽ không còn tồn tại. “Đến năm 2020,” Foster dẫn giải, “hơn ba phần tư công ty thuộc S&P 500 sẽ là những cái tên mà chúng ta không còn nghe nói đến.”
Đối với những công ty truyền thống, 6 chữ D của sự phát triển đột phá theo cấp số nhân chính là sáu chàng kỵ sĩ khải huyền – không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng đây không phải là cuốn sách giúp bảo vệ gia sản khỏi sự bùng nổ đột phá theo cấp số nhân. Nó là cuốn sách giúp cho doanh nghiệp tìm cách khai thác sức mạnh của sự phát triển theo cấp số nhân để bắt đầu xây dựng những tài sản mới, đầy táo bạo. Đối với những doanh nghiệp tăng trưởng theo cấp số nhân, tương lai không phải là sự áp lực căng thẳng mà thiên về cơ hội đột phá.
Khoảnh khắc Kodak mới
Trong cuốn Exponential Organizations, đại sứ toàn cầu của trường Đại học Singularity đồng thời là cựu Giám đốc Sáng tạo của Yahoo, Salim Ismail, đã định nghĩa tổ chức đột phá là một tổ chức mà tác động (hoặc hệ quả) của nó – dựa vào việc sử dụng mạng lưới hoặc tận dụng thông tin từ đám đông – quá lớn và không tương xứng so với số lượng nhân viên của nó. Một tổ chức tuyến tính – giống như Kodak – thì ngược lại: có rất nhiều nhân viên, cơ sở vật chất và nhiều quy trình. Trong suốt thế kỷ XX, những tổ chức đột phá không tồn tại và những công ty tuyến tính được bảo vệ khỏi những kẻ xâm nhập mới nổi nhờ vào quy mô khổng lồ. Những ngày đó đã không còn nữa.
Vào tháng Mười năm 2010, hai người bạn vừa tốt nghiệp trường Standford, Kevin Systrom và Mike Krieger, thành lập một công ty đột phá mang tên Instagram. Tạp chí Wired mô tả Instagram như một “ứng dụng phá hủy thần thánh được xem như một thú vui mang phong cách thời thượng”. Và chính xác thì thú vui đó là gì? Bước tiếp theo trong tầm nhìn nhiếp ảnh của George Eastman – như cách diễn đạt của ông – là tiện lợi như một chiếc bút chì.
Ở khía cạnh này, Instagram đã làm được điều phi thường. Kết hợp với sự bùng nổ của những chiếc máy ảnh có độ phân giải cao tích hợp trong điện thoại thông minh, công ty khởi nghiệp cá biệt này đã làm phi tiền tệ, phi vật chất và dân chủ hóa hoàn toàn việc lưu trữ và chia sẻ những ký ức hình ảnh. Sau 16 tháng thành lập, Instagram có trị giá lên đến 25 triệu đô-la.
Sự bùng nổ tăng trưởng của Instagram: Chạm mốc 100 triệu Người dùng Hoạt động
Nguồn: http://www.macstories.net/news/a-look-back-at instagrams-growth-as-it-hits-100-million-monthly-active-users/
Tháng Tư năm 2012, Instagram phiên bản dành cho Android được phát hành. Với hơn một triệu lượt tải về chỉ trong một ngày, nó trở thành ứng dụng đáng gờm của một công ty vốn đã rất xuất chúng. Trị giá của Instagram tăng vọt lên 500 triệu đô la. Tiếp theo là câu chuyện của Facebook.
Facebook cũng kinh doanh trong lĩnh vực lưu trữ và chia sẻ thông tin đời sống – và họ đã tính toán đúng. Instagram tăng trưởng vượt bậc theo cấp số nhân. Với gần 30 triệu người dùng, nó đã trở thành nhà dịch vụ chia sẻ hình ảnh với mạng lưới xã hội rất hùng mạnh để phát triển. Facebook không muốn cạnh tranh và chơi trò đuổi bắt. Vì vậy, vào ngày 9 tháng Tư năm 2011, chỉ ba tháng sau khi Kodak tuyên bố phá sản, Instagram và 13 nhân viên của mình đã được Facebook mua lại với giá 1 tỷ đô-la.
Nhưng bằng cách nào mà điều này lại có thể xảy ra? Làm sao mà Kodak – gã khổng lồ trăm tuổi với 140.000 nhân viên và có trị giá 28 tỷ đô-la vào năm 1996 – lại thất bại trong việc tận dụng ưu thế của công nghệ hình ảnh quan trọng nhất kể từ khi có phim cuộn và cuối cùng lại đi đến bước phá sản? Đồng thời, làm thế nào mà một nhóm những nhà khởi nghiệp làm việc ở một góc ga-ra của Thung lũng Silicon lại có thể đi từ một công ty mới thành lập đến việc được mua lại với giá 1 tỷ đô-la chỉ sau 18 tháng với vỏn vẹn hơn chục nhân viên? Đơn giản: vì Instagram là công ty đột phá theo cấp số nhân.
Chào mừng đến với Khoảnh khắc Kodak mới – khoảnh khắc mà một công ty đột phá theo cấp số nhân khiến cho công ty truyền thống phải phá sản. Như chúng ta sẽ gặp lại nhiều lần nữa, Những Khoảnh khắc Kodak mới này không phải là dị biệt. Thay vào đó, nó là kết quả tất yếu của chuỗi 6 chữ D trong tăng trưởng theo cấp số nhân. Những nhà điều hành cố gắng bám trụ công việc của mình với tư duy tuyến tính sẽ chỉ dẫn đến 3 chữ D cuối cùng: distraught (quẫn trí), depressed (chán nản), và departed (từ giã) mà thôi. Còn với những nhà khởi nghiệp đột phá, Những Khoảnh khắc Kodak mới này chính là những thời cơ chín muồi.
Vấn đề về quy mô
Ngày nay, công nghệ đột phá không chỉ khiến các công ty truyền thống phá sản mà còn khiến các ngành công nghiệp truyền thống đi vào bước đường cùng. Nó làm thay đổi toàn bộ bối cảnh, phá vỡ các quy trình công nghiệp truyền thống – như quy trình chế tạo hàng hóa tiêu dùng và đưa chúng ra thị trường. Đối với nhà khởi nghiệp quyết đoán, có những cơ hội đáng kể trong sự phá vỡ này.
Ben Kaufman chính là nhà khởi nghiệp quyết đoán đó.
Ben Kaufman sinh năm 1986 và lớn lên ở Long Island, New York. Anh là một học sinh cá biệt nhưng cũng là người ưa khám phá. Trong những năm cuối trung học, Kaufman đã hình dung rõ ràng về việc tạo ra một chiếc “iPod tàng hình” – một thiết bị giúp anh nghe nhạc từ chiếc Ipod shue của mình ở trong lớp một cách bí mật mà giáo viên không thể biết được.
Sau giờ học, Kaufman về nhà và tạo ra một sản phẩm mẫu đầu tiên từ các vật liệu dư thừa – chủ yếu là nơ và giấy gói quà – chứng minh cho chính mình rằng mô hình này sẽ hoạt động. Anh cũng cảm thấy rằng những người khác cũng muốn một chiếc như vậy. Nhưng thay vì hài lòng với sản phẩm mẫu này, anh đã xoay xở để thuyết phục bố mẹ cầm cố căn nhà và cho anh vay 185.000 đô-la để đưa phát minh ra thị trường. Cầm tiền trên tay, Kaufman bắt ngay chuyến bay đến Trung Quốc.
Khi đến Trung Quốc, sau bao chật vật, anh nhận ra rằng việc tạo ra một sản phẩm tiêu dùng không chỉ gói gọn trong việc quyên tiền. “Bạn cần phải thâm nhập vào cả lĩnh vực thiết kế, phân phối, tiếp thị, định vị thương hiệu, đóng gói bao bì… Thực tế là có cả một danh sách dăm ba chục việc bạn cần phải làm để có thể thành công… Thật sự rất khó khăn.”
Kaufman vẫn kiên định. Anh đã thành lập Mophie, một công ty phụ kiện cho Apple và tung sản phẩm đầu tay ra thị trường. Sau đó, nhờ những kỹ năng thu được qua gian khó, công ty của anh đã cho ra hàng tá những phụ kiện Apple khác. Sau đó, công ty tiếp theo của Kaufman, Quirky, ra đời, với cảm hứng đến từ một buổi sáng ở New York. “Tôi đang ngồi ở ga tàu điện ngầm,” anh giải thích,“và có một người phụ nữ đeo sản phẩm đầu tay của tôi, chiếc iPod tàng hình mà tôi đã làm thời trung học. Khi nhìn thấy điều đó tôi nhận ra rằng không chỉ riêng tôi có ý tưởng hay.
Điều khác biệt chính là tôi có sẵn tất cả những nguồn lực để thực hiện ý tưởng của mình. Nó khiến tôi ngộ ra rằng để thực hiện một ý tưởng không chỉ có mình tôi. Thường thì việc sáng chế rất khó tiếp cận. Nó thật sự, thật sự khó cho mọi người.”
Những yếu tố cản đường sự sáng chế bao gồm tài chính, kỹ thuật, phân phối và những vấn đề pháp lý – vô số những rào cản mà chúng ta tạm gọi là quy trình phát triển sản phẩm. Vì vậy, ở Quirky, Kaufman đã tạo dựng công ty với sứ mệnh “khiến các sáng chế có thể tiếp cận được”. Hoặc theo như anh nói: “Khiến những ý tưởng tuyệt vời của mọi người có thể thực thi, bất chấp tình yêu, hoàn cảnh và gia tộc của họ.”
Chỉ vì mục tiêu đó, Kaufman đã xóa bỏ sự tuyến tính để đi đến đột phá, đó là tạo điều kiện mở cho toàn bộ quá trình phát triển sản phẩm. Một người dùng của Quirky chỉ cần đăng ý tưởng sản phẩm của mình lên, rồi những người dùng khác sẽ bỏ phiếu cho tính khả thi và nhu cầu cho sản phẩm đó. Và điều mà cộng đồng thích, cộng đồng xây dựng – một nguồn lực cộng đồng, một nguồn mở – sẽ phát triển đồng thời. Điều này có nghĩa là cộng đồng Quirky sẽ chăm sóc ý tưởng của bạn từ khi còn là mẫu thử cho đến khi nó có mặt trên kệ ở Target, đồng thời tránh được các trở ngại khi phát triển sản phẩm theo lối truyền thống. Đó cũng là khởi nguồn của cái tên Quirky. “Đó là một phương thức phát triển sản phẩm kỳ quặc,” Kaufman giải thích. “Chúng tôi thay đổi cách cộng đồng tương tác và những gì họ làm cùng nhau trên mạng. Bây giờ, họ không chỉ tìm kiếm và chia sẻ sản phẩm, họ thật sự xây dựng chúng.”
Quirky thành lập năm 2009, nhanh chóng gây được quỹ với số tiền hơn 79 triệu đô-la và đã giới thiệu được hàng trăm sản phẩm ra thị trường. Một ổ cắm linh hoạt với tên Pivot Power, móc quần áo đóng mở được Solo. Có cả những chiếc tủ sách, ba
lô, dụng cụ quản lý cáp, thiết bị làm sạch, đồ dùng nhà bếp, tất cả những gì bạn có thể tưởng tượng được. Nhưng điều thật sự khác biệt chính là tốc độ. Trở lại 25 năm trước, thời gian cần để những phát minh này có thể đưa ra thị trường được phải tính bằng năm. Với Quirky, chỉ cần bốn tháng.
Không giống những công ty tuyến tính, nơi mà những quy trình, cơ cấu cũ kỹ làm hạn chế khả năng phát triển nhanh chóng sản phẩm mới, Quirky, với một cộng đồng phía Bắc gồm 800.000 người, đã cho ra mắt hơn 300 sản phẩm và hiện tại đang giới thiệu từ 2-3 sản phẩm mới mỗi tuần. Thay vì đóng cửa thiết kế riêng và tiếp thị sản phẩm bí mật, mọi thứ ở Quirky đều minh bạch, có sẵn và mở với công chúng. Điều này nói lên rằng, mọi thứ ở Quirky được thiết kế để bất kỳ nhà khởi nghiệp nào cũng có thể tận dụng sức mạnh tuyệt vời của công cụ đột phá mang tính tổ chức như nguồn lực cộng đồng.
Và nhà khởi nghiệp nên tận dụng điều này. Mục tiêu ở đây không phải là chỉ dẫn bạn cách để trở thành Ben Kaufman, mà để bạn khai thác sức mạnh của những nền tảng đột phá như Quirky hoặc khuyến khích bạn tự xây dựng những nền tảng như vậy.
Hãy xem xét trường hợp của Candace Klein, một chuyên gia crowdsourcing đồng thời là CEO bận rộn của công ty Bad Girl Ventures, một công ty hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp. Mỗi tối thứ Bảy, Klein tập hợp một nhóm phụ nữ cùng nhau uống cocktail. “Một vài người trong số chúng tôi đang điều hành doanh nghiệp,” Klein giải thích,“và một số là các bà mẹ nội trợ, nhưng chúng tôi đều rất thích sáng tạo và kinh doanh. Chúng tôi thường dành tối thứ Bảy để bàn về bất cứ điều gì chúng tôi muốn sáng chế sắp tới. Và chúng tôi đưa những ý tưởng này lên Quirky. Đôi khi cần phải làm một vài thao tác nữa, nhưng phần
lớn chúng tôi chỉ mất khoảng 15 phút để đăng ý tưởng lên trang web.”
Trong vài năm vừa qua, những ý tưởng mà Candace và nhóm bạn cocktail của cô đưa lên Quirky đã tạo ra doanh thu hơn 100.000 đô-la, một mức lương 6 con số cho việc hoàn thành công việc trong khi “tám” chuyện.
Đó chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Quan trọng không kém là thành công của Kaufman và Klein dựa trên một sự thay đổi căn bản khác trong cuộc chơi – đó là sự thay đổi về quy mô.
Trong giai đoạn đầu của sự phát triển theo cấp số nhân, sự phá vỡ xảy ra với các công ty tương tự như Kodak. Những công ty sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ có thể số hóa được – như ngành xuất bản sách, nhạc, kinh doanh ký ức,… – bị đe dọa. Nhưng Quirky đã cho chúng ta một cái nhìn ở cấp độ cao hơn. Không chỉ hàng hóa và dịch vụ bị ảnh hưởng bởi 6 chữ D mà còn toàn bộ quy trình sản xuất ra chúng. Quirky là một giải pháp thay thế cho toàn bộ chuỗi phát triển sản phẩm của thế kỷ XX – giải pháp thay thế cho từng bước trong quy trình từng cực kỳ thâm dụng vốn trước đây.
Và một lần nữa, không chỉ có Quirky. Hãy trở về mười năm trước, khi khách sạn và nhà nghỉ là ngành kinh doanh thâm dụng vốn kinh khủng. Nếu muốn tạo dựng một chuỗi khách sạn toàn quốc, bạn buộc phải xây dựng chúng. Nhưng Airbnb đã không làm vậy.
Về mặt kỹ thuật, Airbnb là một nền tảng lưu trữ, mặc dù thuật ngữ này không phản ánh được chính xác mức độ phá vỡ mà công ty này đã tạo ra. Bằng việc cung cấp một địa chỉ để đăng những phòng ngủ còn trống, những căn hộ có ga-ra hay thậm chí là nhà nguyên căn phục vụ cho kỳ nghỉ, trang này cho phép
mọi người biến những không gian không sử dụng thành nơi lưu trú giá rẻ (kiểu B&B – a bed-and-breakfast). Vào giữa năm 2014, sau sáu năm hoạt động, Airbnb đã có 600.000 chỗ nghỉ ở 34.000 thành phố tại 192 quốc gia, và đã phục vụ hơn 11 triệu lượt khách. Gần đây nhất, công ty được định giá 10 tỷ đô-la – hơn cả tập đoàn khách sạn Hyatt (8,4 tỷ đô-la) – trong khi không phải xây dựng một tòa nhà nào cả.
Sau đó là Uber, một dạng nền tảng lưu trữ khác – cạnh tranh trực tiếp với ngành taxi và limousine. Tải ứng dụng Uber về, bạn có thể đặt xe, có thông tin về tài xế, theo dõi lộ trình của xe trên bản đồ, và với thông tin thẻ tín dụng được lưu trữ online, bạn có thể thanh toán nhanh chóng. Uber không sở hữu chiếc xe nào hay quản lý một đội ngũ tài xế cố định nào. Công ty chỉ đơn thuần kết nối người có tài sản (ở đây là những chiếc xe đắt tiền) và bạn, là khách hàng. Nói cách khác, bằng việc kết nối khách hàng và chủ xe, Uber đã cắt giảm khâu trung gian, phi vật chất hóa những cơ sở hạ tầng và dân chủ hóa một phân khúc đáng kể trong ngành vận chuyển. Và rất nhanh chóng, chỉ sau ba năm hoạt động, Uber đã có mặt ở 35 thành phố và có giá trị lên đến 3,5 tỷ đô-la.
Quirky, Airbnb và Uber là những ví dụ tuyệt vời về những doanh nghiệp tận dụng ưu thế của việc mở rộng quy mô tác động theo cấp số nhân. Họ tạo ra những công ty tỷ đô chỉ trong thời gian ngắn kỷ lục. Họ là nghịch đảo tuyệt đối của mọi thứ chúng ta hằng tin, rằng việc mở rộng quy mô kinh doanh cần đầu tư nhiều vốn. Trong thế kỷ XX, việc mở rộng quy mô doanh nghiệp luôn đòi hỏi sự đầu tư lớn về vốn, thời gian, tăng thêm nhân lực, xây dựng cơ sở vật chất và phát triển chuỗi sản phẩm mới đa dạng – chẳng trách việc thực thi chiến lược luôn kéo dài từ vài năm đến hàng thập kỷ. Việc ban giám đốc “đặt cược công ty” vào một hướng đi mới và cực kỳ tốn kém mà kết quả vẫn
không rõ ràng cho đến khi phần lớn các thành viên hội đồng quản trị về hưu là chuyện bình thường.
Nhưng đó là chuyện trước đây.
Ngày nay, các công ty truyền thống đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng vì 6 chữ D, trong khi đó các doanh nghiệp đột phá lại cảm thấy chưa bao giờ thuận lợi đến thế. Ngày nay việc chuyển từ “Tôi có một ý tưởng” đến “Tôi điều hành một công ty tỷ đô” đang diễn ra nhanh hơn bao giờ hết.
Một phần có thể vì cơ cấu của những công ty phát triển theo cấp số nhân là rất khác biệt. Thay vì sử dụng đội ngũ nhân viên hùng hậu hay các nhà máy lớn, những công ty khởi nghiệp thế kỷ XXI là những doanh nghiệp nhỏ tập trung vào công nghệ thông tin, phi vật chất hóa và tạo ra sản phẩm mới, doanh thu có được chỉ sau vài tháng, đôi khi là vài tuần. Như một kết quả tất yếu, những công ty khởi nghiệp tinh gọn này chính là những loài động vật nhỏ bé đang cạnh tranh với loài khủng long khổng lồ – họ cần một tiểu hành tinh để thống trị thế giới.
Công nghệ đột phá theo cấp số nhân chính là tiểu hành tinh đó.
Trong thời đại thay đổi khốc liệt, sự to lớn và chậm chạp không thể cạnh trạnh được với sự nhỏ bé và lanh lợi. Nhưng để trở thành loài nhỏ bé và nhanh nhẹn đó, đòi hỏi nhiều hơn việc chỉ hiểu được 6 chữ D của sự đột phá theo cấp số nhân và mở rộng quy mô tác động. Bạn cũng cần phải hiểu những công nghệ và công cụ đang dẫn dắt sự thay đổi này. Chúng bao gồm các công nghệ đột phá theo cấp số nhân như điện toán vô hạn, cảm biến và mạng lưới, công nghệ in 3-D, trí tuệ nhân tạo, rô-bốt, sinh học tổng hợp, và những công cụ đột phá mang tính tổ chức như huy động vốn cộng đồng (crowdfunding), nguồn lực cộng đồng (crowdsourcing), các cuộc thi khuyến khích và sức mạnh của
một cộng đồng được gây dựng hợp lý. Những lợi thế đột phá này đã gia tăng sức mạnh cho các nhà khởi nghiệp hơn bao giờ hết.
Chào mừng các bạn đến với thời đại của sự tăng trưởng đột phá theo cấp số nhân.
2
Công nghệ đột phá theo cấp số nhân
Sự dân chủ hóa sức mạnh thay đổi thế giới
Đọc những lộ trình đột phá
T
rong cuốn sách The Prime Movers (tạm dịch: Những nhà dịch chuyển ưu tú), nhà tâm lý học Edwin Locke đã xác định những đặc tính tâm lý cốt lõi của những nhà lãnh
đạo kinh doanh xuất sắc – Steve Jobs, Sam Walton, Jack Welch, Bill Gates, Walt Disney, và J. P. Morgan, và gọi tên một vài trong số đó. Trong số rất nhiều yếu tố, Locke tìm thấy một đặc điểm chung đóng góp vào thành công của những nhà lãnh đạo này, đó là tầm nhìn.
“Khả năng nhìn thấy trước sự việc khiến cho những người này thật sự khác biệt,” Locke nói. “Dữ liệu cho thấy rằng các công ty liên tục thất bại khi họ ngủ quên trên chiến thắng và nghĩ rằng những việc đã làm hôm qua cũng sẽ hiệu quả cho hôm nay hoặc ngày mai. Những nhà lãnh đạo xuất sắc đều có khả năng nhìn xa trông rộng và tự tin đưa tổ chức của họ đạt đến tầm nhìn đã đặt ra. Nếu bạn nói với Steve Jobs rằng điều gì đó là bất khả thi, ông sẽ không đồng ý và bỏ đi. Ông không có thời gian cho sự bất khả thi. Ông có một tầm nhìn cho tương lai và sẽ không bị lung lay.”
Do đó, mục tiêu của chương này và chương tiếp theo là cung cấp cho bạn chính xác điều mà những nhà lãnh đạo kiệt xuất có: tầm nhìn không bị lung lay. Điều này sẽ cho bạn một cảm giác vững chắc hơn về tương lai, và nó đòi hỏi một quy trình gồm ba bước. Đầu tiên, trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem lại bản chất của giai đoạn đánh lừa trong tăng trưởng theo cấp số nhân và chỉ ra một vài chỉ số cơ bản đánh dấu sự chuyển dịch từ giai đoạn đánh lừa sang giai đoạn phá vỡ – đây chính là lúc các nhà khởi nghiệp cần phải tham gia vào cuộc chiến. Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét điều này xảy ra trong thực tế như thế nào, nhìn lại quá khứ, hiện tại và tương lai của công nghệ in 3-D – một công nghệ hiện đang chuyển đổi từ giai đoạn ẩn mình đánh lừa sang giai đoạn phá vỡ, xáo trộn và chín muồi. Để khám phá những khả năng này, chúng ta sẽ gặp một lãnh đạo có tầm nhìn xa trong lĩnh vực này và một vài nhà khởi nghiệp có lẽ cũng không khác gì bạn, những người chưa có nhiều kiến thức về công nghệ này nhưng vẫn tìm ra cách để khai thác sức mạnh của mình và bắt đầu khởi nghiệp những công ty có khả năng tạo ra sự phá vỡ tỷ đô.
Sau đó, ở chương tiếp theo, chúng ta sẽ dành thời gian cho một vài công nghệ đột phá tiên tiến, tìm hiểu tiềm năng tương lai của mạng lưới và cảm biến, điện toán vô hạn, trí tuệ nhân tạo, rô-bốt và sinh học tổng hợp. Trong khi những công nghệ này đang tạo ra sự tăng trưởng làm phá vỡ và chuyển biến thế giới, thì bản chất giao diện “chỉ dành cho chuyên gia” (sẽ bàn nhiều hơn về vấn đề này ngay sau đây) và mức giá cao ngất của chúng khiến chỉ những công ty tỷ đô mới có thể nắm giữ (như việc Google sử dụng trí tuệ nhân tạo và Tesla Motor dùng công nghệ rô-bốt). Nhưng không còn lâu nữa. Giá giảm, hiệu suất tăng và hướng phát triển giao diện thân thiện với người dùng hơn đang khiến những nền tảng này có thể dễ dàng tiếp cận bởi bất kỳ ai có một tầm nhìn rõ ràng. Những công nghệ này đang tiến
nhanh đến giai đoạn ứng dụng rộng rãi, và đối với những nhà khởi nghiệp đột phá có khả năng đón đầu xu hướng này, cơ hội là rất lớn.
Đường cong Hype và giao diện người dùng
Nếu muốn đón đầu xu hướng này, chúng ta cần phải hiểu thêm một chút về bản chất của sự đánh lừa trong tăng trưởng theo cấp số nhân. Hãy bắt đầu bằng việc hiểu về những định kiến mạnh mẽ trong Hype Cycle của Gartner.
Sau khi một công nghệ mới được giới thiệu và bắt đầu trên đà phát triển, chúng ta có xu hướng hình dung nó ở dạng thức cuối cùng – quá kỳ vọng vào thời gian phát triển và tiềm năng ngắn hạn của nó. Lúc nào cũng vậy, khi những công nghệ này không đi theo đường hype ban đầu – thường là vào khoảng giữa giai đoạn đánh lừa và phá vỡ trong chuỗi 6D – thì sự kỳ vọng của cộng đồng dành cho công nghệ cũng tan vỡ. Rất nhiều công nghệ đang ở giai đoạn này sẽ được thảo luận trong chương tiếp theo. Nhưng khi những công nghệ này chạm đáy, chúng ta lại một lần nữa bị cuốn theo đường cong hype (lần này là phần đi xuống) và không tin rằng chúng có thể phát triển trở lại, vì vậy chúng ta đã bỏ lỡ tiềm năng chuyển hóa lớn lao của chúng.
Hype Cycle của Gartner
Nguồn: www.gartner.com
Lấy máy tính cá nhân làm ví dụ. Trở lại cuối những năm 1960, khi những người như nhà văn Stewart Brand (người đã đặt tên máy tính cá nhân) lần đầu thảo luận ý kiến về máy tính cá nhân với sự sốt sắng về khả năng “thay đổi thế giới” đáng kinh ngạc của nó. Sau đó thì chiếc máy thật sự ra đời, và tất cả những gì mọi người có thể làm trên máy là chơi Pong. Đây chính là đáy của sự vỡ mộng, sự đánh lừa ngoạn mục nhất. Nhưng hãy thử tưởng tượng, vào đầu những năm 80, nếu bạn biết được những khả năng của máy tính ngày nay thì bạn có thể nghĩ ra những cơ hội kinh doanh táo bạo nào?
Việc nhận thức được khi nào thì một công nghệ vượt qua được ngưỡng đáy vỡ mộng và tăng trưởng theo “dốc khai sáng” thật sự quan trọng đối với các nhà kinh doanh. Việc đọc một đường cong hàm số mũ giống như đọc một lộ trình, các chuyên gia tìm kiếm những chỉ số – sự phát triển của những thực hành tốt nhất, sự gia tăng nhà cung cấp, tài chính thứ cấp, và những chỉ số khác. Nhưng đối với tôi, chỉ số quan trọng nhất chính là sự phát triển của một giao diện người dùng đơn giản và tinh tế – một cổng tương tác dễ dàng chuyển công nghệ từ tay các chuyên viên sang các doanh nhân. Trong thực tế, chính loại giao diện này đã thay đổi Internet.
Internet đã ra đời từ sự thất bại. Vào những năm 60, các nhà nghiên cứu đã bị hấp dẫn bởi khả năng của máy tính nhưng vẫn bị cản trở về mặt địa lý. Khi đó, chỉ có một vài trung tâm máy tính trên toàn cầu. Tất cả các nhà nghiên cứu không có cơ hội làm việc tại MIT hoặc Caltech đều chấp nhận mình là người không may mắn. Sau đó, vào tháng Tư năm 1963, một nhà khoa học máy tính tên là J. C. R. Licklider đã viết một ghi chú cho
đồng nghiệp của mình để đề xuất một “Mạng lưới máy tính liên ngân hà” – một mạng lưới thay thế công nghệ chuyển mạch kênh truyền thống sau này phát triển thành công nghệ chuyển mạch gói – cho phép bất kỳ nhà nghiên cứu nào có một điểm cuối và đường dây điện thoại đều có thể kết nối với một trong những trung tâm máy tính mà họ đang rất cần sử dụng. Đây chính là sự ra đời của Mạng lưới cơ quan với các đề án nghiên cứu tiên tiến (ARPANET), mạng lưới nền tảng của Internet ngày nay.
ARPANET bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 1975. Giao diện của nó chủ yếu dựa trên chữ viết, khá phức tạp để điều hướng và được sử dụng chủ yếu bởi các nhà khoa học. Tất cả những điều này đã thay đổi vào năm 1993, khi Marc Andreessen, một sinh viên 24 tuổi chưa tốt nghiệp của Đại học Illinois, Urbana
Champaign, đồng sáng lập Mosaic – đây là trình duyệt web đầu tiên và cũng là giao diện thân thiện với người dùng đầu tiên của Internet. Mosaic đã mở khóa được Internet. Bằng việc thêm đồ họa vào và thay thế Unix bằng Windows – hệ điều hành sau này được dùng cho gần 80% máy tính trên thế giới – Andreessen đã thông dụng hóa một công nghệ chỉ được khai thác riêng cho các nhà khoa học, kỹ sư và quân đội. Kết quả là, tổng cộng vỏn vẹn 26 trang web toàn cầu vào đầu năm 1993 đã nhanh chóng nở rộ thành hơn 10.000 trang vào tháng Tám năm 1995, và sau đó bùng nổ thành con số hàng triệu vào cuối năm 1998.
Đây chính là sức mạnh của giao diện người dùng tao nhã và mạnh mẽ. Nó cũng là một dấu hiệu cho thấy đây là thời điểm cho các doanh nhân đột phá tham gia vào cuộc chơi. Chắc chắn rằng việc quyết định khi nào một công nghệ chín muồi cho phát triển kinh doanh không mấy khác biệt so với việc một nhà đầu tư mạo hiểm quyết định thời điểm một công nghệ chín muồi để đầu tư. Các nhà đầu tư mạo hiểm có hàng tá lý thuyết về việc khi
nào thì một công nghệ thật sự chín muồi để đầu tư, vậy tại sao tôi lại chọn một chỉ số này mà không phải là những chỉ số khác? Đơn giản thôi. Việc tạo ra một giao diện người dùng đơn giản và tao nhã mang lại cho các doanh nhân khả năng khai thác công cụ mới này để giải quyết vấn đề, bắt đầu kinh doanh, và quan trọng nhất là thử nghiệm. Hãy nghĩ đến sự bùng nổ của các ứng dụng sau khi Apple sáng tạo ra kho ứng dụng. Khi các doanh nhân mới tiếp tục cải tiến giao diện mới này, họ cũng đồng thời tạo cơ hội cho những doanh nhân mới khác – nghĩa là một vòng phản hồi tích cực của việc gia tăng phát triển giao diện sáng tạo. Đó là một chu kỳ tốt đẹp được lặp lại nhiều lần.
Thú vị hơn nữa, chính các giao diện tao nhã, mạnh mẽ này bắt đầu xuất hiện ở nửa tá những công nghệ đột phá – nghĩa là thật sự có gần chục những cơ hội tầm cỡ Internet sẵn có cho những doanh nhân hiểu biết.
Công nghệ in 3-D: Nguồn gốc và sức mạnh của sản xuất bồi đắp
Có một cơ hội dựa vào công nghệ in 3-D, một công nghệ đang trỗi dậy sau giai đoạn 30 năm phát triển ẩn mình và bắt đầu gây ra sự phá vỡ xáo trộn cho một phần của ngành công nghiệp sản xuất toàn cầu trị giá 10 nghìn tỷ đô-la. Trong phần còn lại của chương này, chúng ta sẽ khám phá quá khứ, hiện tại và tương lai của công nghệ in 3-D, sau đó làm quen với một vài doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực này. Mục đích là để bạn làm quen với công nghệ này đồng thời áp dụng nó vào chuỗi 6D, khám phá xem làm cách nào mà những doanh nhân thành công đã đọc đúng chu kỳ hype và định vị bản thân để có thể tận dụng hết lợi thế cơ hội đột phá của công nghệ này.
Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần phải bắt đầu từ đầu. Nào hãy cùng lên cỗ máy thời gian và quay về 2,6 triệu năm về trước, đến địa điểm là phía Nam Ethiopia ngày nay, nơi tổ tiên của chúng ta nhặt hai hòn đá và mài vào nhau cho đến khi có được một mảnh đá sắc bén. Eureka! (Tìm thấy rồi!)
Mài đá chính là khởi nguồn của việc sử dụng công cụ, nhưng nó đồng thời cũng là khởi nguồn của sản xuất cắt gọt – quy trình tạo ra một vật phẩm từ một khối vật liệu lớn (ví dụ như một hòn đá phẳng lớn) được cắt gọt cho đến khi tất cả những gì còn lại là một đống mảnh vụn và vật phẩm mong muốn (ví dụ như một mảnh sắc bén). Và cho đến gần đây, sản xuất cắt gọt vẫn là quy trình chủ yếu để tạo ra vật phẩm.
Charles Hull đã làm thay đổi cuộc chơi này. Vào đầu những năm 80, Hull muốn giúp ngành công nghiệp xe hơi ốm yếu của Detroil rút ngắn thời gian đưa ra thị trường và giành lại lợi thế cạnh tranh. Khi đó, ông đang làm việc cho một công ty nhỏ ở Nam California chuyên phát triển ứng dụng cho các bức xạ cực tím, bao gồm việc gia cố (làm cứng) lớp phủ UV và mực, nên Hull nhận ra rằng phương pháp gia cố này mở ra cánh cửa cho một quy trình sản xuất hoàn toàn mới.
Thay vì phải tạo ra những bộ phận và vật phẩm nhựa mới thông qua phương pháp cắt gọt, nếu ông có thể tìm ra cách in những lớp nhựa UV cứng chồng lên nhau (và dính chúng với nhau), thì ông có thể tạo ra các bộ phận ô tô mới thông qua việc đắp lớp – một phương thức sản xuất bồi đắp mà những vật phẩm được tạo ra từ từ từng lớp một. Đây chính là sự ra đời của công nghệ in 3-D.
Để hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của nó, hãy hình dung đến chiếc máy in phun. Máy in 2-D làm công việc chuyển đổi những hướng dẫn kỹ thuật số (từ máy tính của bạn) thành một
“vật thể” (chính là in chữ lên một trang giấy) bằng việc in theo trục hai chiều (x và y). Chiếc máy in 3-D cũng làm điều tương tự nhưng nó có thêm một chiều thẳng đứng nữa (trục z) – vậy là tạo ra vật thể ở cả ba chiều.
Hull chế tạo chiếc máy in 3-D đầu tiên vào năm 1984, sau đó ông thành lập 3D Systems ở Valencia, California, để phát triển và thương mại hóa công nghệ này. Không may là điều này không hề dễ dàng. Hơn 20 năm sau đó, công nghệ này phát triển ì ạch (giai đoạn đánh lừa), cực kỳ đắt đỏ và nặng nề với giao diện người dùng phức tạp. Cả ba yếu tố đã ngăn cản công nghệ này được ứng dụng rộng rãi. Vào đầu những năm 2000, mặc dù có lợi thế là người tiên phong, 3D Systems đã bước đến bờ vực phá sản. “Công ty trở nên hỗn loạn,” Avi Reichental nói. “Họ không nhìn thấy thực tế rằng công nghệ của họ đã phát triển nhanh theo cấp số nhân. Họ đã quên làm thế nào để đổi mới.”
Và Reichental hẳn đã biết điều đó vì ông là người được đưa vào để cứu công ty.
Có vẻ Reichental là lựa chọn kỳ quặc cho công việc này. Ông đã dành 23 năm làm việc cho tập đoàn Sealed Air, nhà sản xuất tấm xốp khí Bubble Wrap, Reichental không biết gì nhiều về sản xuất bồi đắp. Nhưng điều ông biết chính là sự đổi mới sáng tạo. “Sealed Air không phải là công ty kinh doanh hàng hóa đóng gói cơ bản,” Reichental nói, “nó giống một công ty khởi nghiệp ở Thung lũng Silicon hơn: luôn luôn hướng về kinh doanh, khai phá những cơ hội mới, liên tục thâm nhập và mở ra thị trường mới.”
Kết quả là, Reichental đã làm hàng tá những công việc khác nhau trong suốt nhiệm kỳ của ông ở Sealed Air, và sau đó ông trở thành một nhân viên quan trọng trong công ty. Ông đã giúp doanh nghiệp từ 400 nhân viên, trị giá 100 triệu đô-la (thời
điểm ông gia nhập công ty) phát triển thành một huyền thoại 18.000 nhân viên và được định giá 5 tỷ đô-la (khi ông rời đi). Một trong những vị trí mà ông từng đảm nhiệm ở bộ phận sản xuất, nơi lần đầu tiên ông được giới thiệu về công nghệ in 3-D như một cách để tăng tốc quy trình tạo mẫu. Nghĩa là khi lần đầu tiên nhận được cuộc gọi về công việc ở 3D Systems, Reichental chỉ có vừa đủ thông tin để thực hiện nhiệm vụ của mình. Những điều khám phá ra đã khiến ông thực sự bất ngờ.
“Chắc chắn rằng”, ông nói,“3D Systems đã ở bên bờ vực phá sản” – nó vẫn đang mắc kẹt trong giai đoạn đánh lừa “nhưng tôi đã áp dụng định luật Moore vào tất cả các chiều khác nhau liên quan đến công nghệ này và thấy rằng chúng sắp sửa bùng nổ. Bằng việc dõi theo đường cong tăng trưởng theo cấp số nhân, tôi nhận ra rằng công nghệ này chuẩn bị chuyển hóa cách thức chúng ta tạo ra vật thể, tạo ra cái gì và tạo ra ở đâu. Khi bạn tạo ra sự bồi đắp, thì sự đa dạng sẽ đến hoàn toàn miễn phí. Điều này có nghĩa rằng bạn không bị ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn sản xuất truyền thống nào. Bạn đi thẳng từ một tập tin trên máy tính đến một thành phẩm, và có thể tạo ra hàng triệu vật phẩm mà không cần trang bị lại công cụ hoặc nhập lại kho. Nó địa phương hóa việc sản xuất ở mọi quy mô. Tôi nhận ra rằng công nghệ in 3-D là một sự kết nối phổ biến giữa thực và ảo; nó là một công nghệ có tiềm năng chạm đến mọi thứ trong cuộc sống của chúng ta.”
Reichental nhận công việc. Lúc đó 3D Systems không có nhiều sản phẩm. Họ tạo ra sáu loại máy in khác nhau, thiết bị mạnh nhất của họ có hai động cơ in và chỉ có thể in bốn loại vật liệu. Tệ hơn nữa, 3D Systems không sản xuất ra bất kỳ loại vật liệu nào trong số đó, và chỉ những loại vật liệu nhất định mới tương thích với những loại máy nhất định.
Yêu cầu đầu tiên của Reichental dành cho bộ phận kinh doanh là mở rộng và tích hợp. “Tôi muốn nhiều máy in hơn, nhiều loại vật liệu để in hơn và tôi muốn máy in của chúng ta có thể tương thích với nhiều loại vật liệu để bạn không cần phải là một siêu chuyên gia mới biết được cách sử dụng máy. Sự đơn giản rất quan trọng đối với tôi. Tôi muốn mọi người dành sự sáng tạo vào việc nghĩ ra những thiết kế mới chứ không phải nghĩ về cách để vận hành máy.”
Đồng thời, Reichental cũng liên tục làm phiền Charles Hull. “Hull vẫn làm việc cho công ty. [Hull đã nghỉ hưu, nhưng được mời lại làm giám đốc điều hành tạm thời trước khi Reichental nhận việc, và ông đã ở lại trong vai trò là cố vấn.] Văn phòng của ông nằm ngay cạnh máy pha cà phê. Một buổi sáng nọ, tôi đến và nói: ‘Những chiếc máy in của chúng ta tốn đến hàng trăm nghìn đô-la, và ông cần phải thông minh như những phi hành gia thì mới điều khiển được chúng. Vậy tại sao chúng ta không làm ra những phiên bản máy tính để bàn chỉ việc bấm nút giá rẻ?’
Ông ấy đã không đối xử với tôi như với một kẻ điên dù cho những lời tôi nói có vẻ điên rồ. Ngày tiếp theo tôi lại đến và hỏi câu tương tự. Tôi đã làm vậy mỗi ngày trong suốt sáu tuần. Cuối cùng, vào một buổi sáng, ông ấy đã mang theo cà phê và gõ cửa phòng tôi để nói về việc đó. Với vẻ rạng rỡ, ông nói: ‘Tôi nghĩ là tôi biết làm thế nào rồi.’”
Và họ đã cùng nhau làm được điều đó. Ngày nay, 3D Systems là một công ty lớn mạnh có trị giá 8 tỷ đô-la với hơn 40 loại máy in khác nhau, chiếc máy lớn nhất có khả năng in được một bảng điều khiển của Toyota Camry nguyên khối. Chiếc máy đơn giản nhất với tên Cube, có giá hiện hành là 1.299 đô-la (theo kế hoạch, giá này sẽ giảm xuống dưới 500 đô-la trong một vài năm
tới). Tất cả những chiếc máy in này có thể in với hàng trăm loại vật liệu khác nhau, từ nylon, nhựa, cao su cho đến các vật liệu sinh học (tế bào), sáp, và thậm chí là các kim loại cứng.
Tuy nhiên, như đã chỉ ra ở phần trước, một công nghệ đột phá sẽ không thật sự tạo nên sự xáo trộn, phá vỡ cho đến khi một giao diện mạnh mẽ, thân thiện với người dùng xuất hiện (như trường hợp Mosaic). Vì vậy, 3D Systems đã mở rộng sang phần mềm, với mục tiêu làm cho giao diện của họ đủ đơn giản cho trẻ em sử dụng. Họ đã thành công. “Nếu bạn có thể điều khiển và click chuột,” Reichental nói, “thì giờ đây bạn cũng có thể thiết kế những vật phẩm cho máy in 3-D. Tôi gọi nó là mô hình sách tô màu. Trước đây chúng tôi đã có mô hình tranh sơn dầu. Nếu bạn muốn trở thành một nghệ sĩ xuất sắc, bạn phải có nhiều năm kinh nghiệm vẽ tranh trên nền vải trắng. Ngày nay, với sách tô màu của chúng tôi, nếu bạn muốn siêu sáng tạo, tất cả những gì bạn cần biết là cách tô màu giữa các dòng.”
Điều khiến cho sự phát triển này quan trọng hơn nhiều chính là 3D Systems không phải là công ty duy nhất thiết kế ra những giao diện mới. Sự thực nghiệm đã bắt đầu, kéo theo vô vàn những người chơi khác. Như một kết quả tất yếu, lĩnh vực này ở vào giai đoạn giống với tình trạng của trình duyệt web khi Marc Andreessen giới thiệu Mosaic – tiền đề trọn vẹn cho sự bùng nổ theo cấp số nhân.
Tác động của sự phá vỡ
Ngay cả bây giờ, khi đang ở giai đoạn đầu của sự bùng nổ, tác động của công nghệ in 3-D đến thế giới của chúng ta là khá đáng kể. Việc in những sản phẩm tiêu dùng cơ bản – chén, đĩa, vỏ bọc điện thoại, đồ mở nắp chai, đồ trang sức và ví (làm từ lưới) – đã dịch chuyển từ sở thích sang một ngành công nghiệp non trẻ.
Ngày nay, hàng chục trang web bán hàng hóa cung cấp bởi máy in 3-D, và các nhà bán lẻ cũng đang bắt đầu tham gia vào thị trường này. Mark Cotteleer, Giám đốc Nghiên cứu tại Công ty Tư vấn Deloitte, giải thích: “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra hai sự thật quan trọng. Đầu tiên, điểm hòa vốn cho một số vật phẩm, cụ thể là những vật phẩm nhỏ làm từ nhựa, có thể đã vượt mốc trăm nghìn đơn vị
khiến cho nhiều loại mặt hàng tiêu dùng trở nên khả thi. Thứ hai, có bằng chứng rõ ràng rằng với những hộ gia đình cá nhân, một thiết bị sản xuất bồi đắp ở cấp độ tiêu dùng có thể tạo ra đủ sản phẩm để gia đình sử dụng, do đó, đây chính là một món đầu tư tài chính hấp dẫn đối với một số hộ gia đình ở Mỹ.”
Ở quy mô lớn hơn, công nghệ in 3-D đang dần hiện diện trong ngành vận tải. Ngày nay, hầu hết xe hơi sản xuất tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản đều có sử dụng những bộ phận được chế tạo từ công nghệ in 3-D. Vào tháng Chín năm 2014, tại buổi trưng bày công nghệ sản xuất quốc tế tại Chicago, CEO của Local Motors là Jay Rogers (chúng ta sẽ gặp lại ông ấy sau) và nhóm của ông đã dùng công nghệ 3-D để in nguyên một chiếc xe hơi tại chỗ vào ngày hôm đó.
Rogers mô tả việc sản xuất kỹ thuật số như một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. “Cuộc cách mạng đầu tiên là động cơ hơi nước. Henry Ford đưa chúng ta đến cuộc cách mạng thứ hai, sản xuất hàng loạt, khi bạn có thể sản xuất với giá rẻ miễn là bạn tạo ra hàng triệu món như vậy. Cuộc cách mạng thứ ba đến từ sự dân chủ hóa ngành sản xuất, khi một thiết kế xe hơi mới không cần phải có một nhà máy để sản xuất.”
Cuộc cách mạng thứ ba này đồng thời cũng tác động lên ngành công nghiệp không gian vũ trụ. SpaceX gần đây đã thông báo rằng họ sẽ in 3-D nhiều động cơ tên lửa sử dụng trong tàu
phóng Falcon 9, Boeing gần đây in 3-D hơn 200 bộ phận cho mười mẫu máy bay khác nhau. Và công ty của tôi, Planetary Resources (chúng ta sẽ nói về Planetary sau), đang in 3-D nhiều tàu vũ trụ sẽ đi thăm dò những tiểu hành tinh gần Trái đất. Tác động về mặt tài chính của công nghệ in 3-D trong ngành giao thông vận tải là không hề phóng đại. Thế hệ động cơ máy bay LEAP tiếp theo của CFM International (dự kiến ra mắt vào năm 2016) sử dụng công nghệ in 3-D để sản xuất một loại vòi phun nhiên liệu hoàn toàn mới – không thể sản xuất bằng quy trình gia công thông thường – giúp giảm nhiên liệu sử dụng đến 15%, một con số mà nếu tính theo vòng đời của một chiếc máy bay, sẽ tương đương với việc tiết kiệm được hàng trăm tỷ đô-la trong tương lai.
Thiết bị y tế thậm chí còn chịu tác động hơn thế. Công nghệ in 3-D cho phép tạo ra sản phẩm hoàn toàn phù hợp với hình dáng cơ thể của từng cá nhân, nên máy in 3-D ngày nay đang được sử dụng để tạo ra những công cụ phẫu thuật, cấy ghép xương, chân tay giả, thiết bị chỉnh hình răng cũng được tùy chỉnh theo từng cá nhân. Những điều này giúp mang lại kết quả tốt hơn một cách đáng kể cho bệnh nhân, và nó đang diễn ra nhanh như thế nào cũng là vấn đề đáng để đề cập.
Vào năm 2010, trong cuốn Abundance, chúng tôi đã nói về thành quả tạo ra bởi thiên tài Scott Summit, một nhà thiết kế sản phẩm thương mại, đã sử dụng máy in 3-D để tạo ra chân tay giả và niềng răng mặt trong phù hợp với từng khách hàng. Những thiết bị y tế được in 3-D đó chỉ dùng cho một cá nhân riêng lẻ. Chỉ ba năm sau, Summit gia nhập 3D Systems, và ông đã giúp ngành sản xuất y tế thay da đổi thịt. Bằng chứng là, hiện nay công ty đã cung cấp cơ sở hạ tầng sản xuất cho thiết bị trợ thính trên toàn thế giới, và hơn 95% thiết bị này được in 3-D hoàn toàn.
Một ví dụ khác về công nghệ in 3-D liên quan đến y tế với quy mô lớn có thể tìm thấy trong các nhà máy tự động hoàn toàn của Align Technology, nhà sản xuất Invisalign – dụng cụ niềng răng bằng nhựa trong thay thế cho niềng kim loại. Nhà máy này in 3-D 65.000 khay niềng khác nhau mỗi ngày. “Chỉ trong năm ngoái,” Reichental nói, “họ đã in 17 triệu cặp khay niềng được thiết kế riêng biệt trong một nhà máy mà tương lai không vượt quá quy mô của một giảng đường đại học lớn.”
Tất nhiên, tác động tạo ra bởi công nghệ in 3-D sẽ còn phát triển xa hơn nữa chứ không chỉ dừng lại ở hàng tiêu dùng, vận tải và thiết bị y tế. Mọi khía cạnh của lĩnh vực sản xuất trị giá 10 nghìn tỷ đô-la có khả năng được chuyển hóa. Đó chính là cơ hội trị giá 10 nghìn tỷ đô-la. Vậy làm thế nào để những doanh nghiệp đột phá với kiến thức hạn hẹp về nền tảng này sử dụng nó để phá vỡ các ngành công nghiệp và giải quyết những vấn đề táo bạo? Hãy gặp một vài nhà cải cách để tìm ra câu trả lời.
Made in Space
Lần đầu tiên tôi gặp Aaron Kemmer, Michael Chen và Jason Dunn, bộ ba nhà cải cách với tư duy táo bạo là vào mùa hè năm 2010 tại Chương trình nghiên cứu Sau đại học của Đại học Singularity. Niềm đam mê không gian vũ trụ đã đưa họ đến với nhau. “Đó là lý do tại sao chúng tôi đến SU,” Kemmer giải thích. “Chúng tôi đều là những doanh nhân săn tìm những ý tưởng lớn. Chúng tôi muốn thành lập một công ty có thể giúp mở rộng biên giới không gian. Chúng tôi chắc chắn không nghĩ rằng con đường để tiến về phía trước chính là công nghệ in 3-D.”
Chính tiến sĩ Dan Barry, giáo sư ngành rô-bốt học của SU, đồng thời là phi hành gia từng ba lần bay vào vũ trụ đã chỉ ra cho họ hướng đi. “Chúng tôi biết rất ít về công nghệ in 3-D,” Chen nói,
“chỉ Jason có chút hiểu biết về không gian vũ trụ và từng trải nghiệm với nó một chút thời đại học. Nhưng khi chúng tôi phân tích – chỉ là tìm hiểu tất cả các công nghệ đột phá và cố đưa ra ý tưởng – Dan Barry cứ lảng vảng xung quanh và kể rằng ông đã đến Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), và sự có mặt của một chiếc máy in 3-D ở ISS hẳn sẽ rất có ích.”
Cuối cùng, họ quyết định tìm hiểu xem nó có ích như thế nào.
“Đó là vấn đề về chuỗi cung ứng,” Dunn giải thích. “ISS đang ở tận cùng của chuỗi cung ứng đắt đỏ, phức tạp và dài dòng nhất hiện tại. Chi phí phóng vào vũ trụ khoảng 22.000 đô-la cho mỗi kilogam. Và bất kỳ vật nào đưa vào vũ trụ cũng phải có đủ độ bền để tồn tại được trong 8 phút chịu lực hấp dẫn lớn để thoát khỏi giếng trọng lực của Trái đất – nghĩa là sẽ phải tạo ra những vật thể nặng hơn. Nhưng việc tăng thêm trọng lượng phải chịu hai tác động: Không chỉ là mỗi kilogam tăng thêm đều tốn thêm tiền, mà còn cần thêm nhiên liệu để có thể bay ra khỏi Trái đất, nghĩa là lại tốn thêm nhiều tiền hơn.”
Thêm vào đó, khi lên đến trạm, việc tái cung ứng những bộ phận bị hỏng có thể mất đến hàng tháng trời. Đây là lý do tại sao có hơn một tỷ bộ phận dự phòng (nghĩa là phải trả tiền cho chúng nhưng không nhất thiết sử dụng đến) nằm ở ISS. Và sau khi tiến hành nghiên cứu nhiều hơn, Kemmer, Dunn và Chen nhận thấy rằng 30% những bộ phận này làm bằng nhựa – nghĩa là chúng có thể được in với công nghệ in 3-D sẵn có.
Đây chính là sự ra đời của Made in Space, công ty đầu tiên về in 3-D bên ngoài thế giới của chúng ta, và là một ví dụ tuyệt vời của tinh thần khởi nghiệp đột phá. Toàn bộ mô hình kinh doanh của họ dựa trên đường cong tăng trưởng theo cấp số nhân. Đề nghị chào hàng đầu tiên của họ cho ISS vào mùa thu
năm 2014 rất đơn giản: một chiếc máy in 3-D để in những bộ phận bằng nhựa.
Bản thân việc này đã mang lại một cuộc cách mạng sản xuất. “Những chiếc máy in 3-D đầu tiên trên ISS sẽ tạo ra những vật phẩm không thể chế tạo được ở Trái đất,” Kemmer nói. “Hãy hình dung, ví dụ, tạo ra một cấu trúc không thể chịu được sức nặng của chính nó.”
Tiếp tục theo đường cong tăng trưởng cấp số nhân, phiên bản kế tiếp của Made in Space là chiếc máy in 3-D với vật liệu tiên tiến và đa vật liệu – nghĩa là trong khoảng năm năm tới, 60% bộ phận sử dụng trên ISS đều có thể in được. Và ngay sau phiên bản này là một thứ làm thay đổi cục diện cuộc chơi thật sự: một chiếc máy in 3-D có thể in được các thiết bị điện tử.
Hãy xem xét xu hướng mới nhất trong công nghệ vệ tinh: CubeSats. Đó là những vệ tinh nhỏ bé chỉ nặng 1kg trong hình hài một khối lập phương 10cm. Chúng quá đơn giản đến mức bất kỳ ai cũng có thể chế tạo (hướng dẫn miễn phí có trên mạng), nhưng chúng có thể sở hữu quyền lực tiềm ẩn khi kết nối lại với nhau, thường thay thế cho những vệ tinh lớn hơn nhiều. Giá thành tạo ra CubeSats khá rẻ (khoảng từ 5.000-8.000 đô-la). Còn việc phóng chúng thì thật sự đắt đỏ (vẫn tốn hàng chục nghìn đô-la). Nhưng đó là câu chuyện của ngày hôm nay. Nếu chúng ta đợi thêm một vài năm nữa, Made in Space có thể giải quyết vấn đề này một cách tiết kiệm.
“Hóa ra,” Dunn nói, “ISS là một nền tảng hoàn hảo cho việc phóng vệ tinh quỹ đạo Trái đất tầm thấp. Những chiếc máy in của chúng tôi đã có thể in phần lập phương của một CubeSats, và chúng tôi cũng đã in thiết bị điện tử trong phòng thí nghiệm của mình. Thật khó khẳng định chắc chắn, nhưng khoảng năm 2025, chúng tôi có thể in thiết bị điện tử cho ISS. Nghĩa là chúng
tôi có thể gửi email phần cứng lên vũ trụ miễn phí, thay vì phải trả tiền để phóng chúng lên đó.”
Dĩ nhiên, giấc mơ lớn chính là việc có thể tạo ra những chiếc máy in 3-D có khả năng in toàn bộ trạm không gian ngoài vũ trụ và, thậm chí tuyệt vời hơn nữa, làm việc đó bằng những vật liệu khai thác từ vũ trụ. Một khi điều này trở thành hiện thực, việc tạo ra một môi trường sống hợp pháp bên ngoài Trái đất (ví dụ như sống trong vũ trụ) sẽ trở nên khả thi.
“Hãy tưởng tượng việc có thể xâm chiếm một hành tinh xa xôi bằng cách mang một chiếc máy in 3-D và một số thiết bị khai thác đến đó,” Mike Chen nói. “Điều này nghe có vẻ giống như khoa học viễn tưởng, nhưng những bước đầu tiên giúp biến nó thành sự thật đang diễn ra trong phòng thí nghiệm của chúng tôi ngay lúc này và trên ISS.”
Tất cả những điều này có ý nghĩa gì? Nó có nghĩa là trong khi Made in Space bắt đầu phá vỡ ngành công nghiệp phụ tùng trị giá tỷ đô, đồ thị đường cong hàm số mũ đã làm nền tảng cho mô hình kinh doanh của họ, dẫn dắt họ đến lợi thế người tiên phong trong ngành công nghiệp hàng nghìn tỷ đô-la, đó là tạo dựng sự sống bên ngoài Trái đất.
Câu chuyện đồ chơi
Có lẽ bạn đang nghĩ Made in Space chỉ là một trường hợp ngoại lệ chứ không phải là quy luật. Sau tất cả, Kemmer, Dunn và Chen có thể không biết nhiều về công nghệ in 3-D, nhưng họ là những sinh viên của Đại học Singularity, ngôi trường cho phép họ tiếp cận với công nghệ này (ở trường có những chiếc máy in 3-D) và tiếp xúc với tất cả những ý tưởng đột phá. Nhưng trường hợp của Alice Taylor thì không phải như vậy. Một nhà
thiết kế người Anh không hề có những lợi thế kể trên đã có thể tạo ra những bước tiến đáng kể trong việc phá vỡ một phân khúc thị trường búp bê trị giá 3,5 tỷ đô trong ngành công nghiệp đồ chơi 34 tỷ đô-la.
Taylor làm việc trong ngành truyền thông kỹ thuật số, đầu tiên là thiết kế website, sau đó là mảng kỹ thuật số cho BBC, và cuối cùng là biên tập viên về giáo dục cho kênh Channel 4 ở London, nơi mà công việc chính của cô là tạo ra những trò chơi điện tử mang tính giáo dục đạt giải thưởng. Mối quan tâm về trò chơi đã đưa cô đến với đam mê làm đồ chơi, từ đó dẫn dắt cô đến với ngành công nghiệp búp bê – một ngành kinh doanh truyền thống khác đang trên đà bị phá vỡ.
Trong hơn 30 năm qua, ngành kinh doanh đồ chơi đã được chuyển hóa. Một doanh nghiệp trong nước với các nghệ nhân địa phương đã biến thành một nhóm công ty lớn sử dụng các xưởng sản xuất hàng loạt ở nước ngoài.
Để cạnh tranh, búp bê cần phải được làm với số lượng lớn, việc sử dụng quy trình ép phun đòi hỏi phải có một khuôn cho mỗi bộ phận của búp bê. Vì để làm mỗi chiếc khuôn này có thể mất đến hàng chục nghìn đô-la nên chi phí ban đầu cho một con búp bê có thể tốn của bạn hàng trăm nghìn đô-la.
Nhưng cũng có thể không cần phải vậy.
Taylor kết hôn với một nhà văn chuyên viết về khoa học viễn tưởng Cory Doctorow, anh có biết chút ít về công nghệ in 3-D. (Doctorow, với một lời tiên tri u ám, đã viết cuốn sách Maker (tạm dịch: Nhà sáng chế) năm 2009, về việc những chiếc máy in 3-D được bọn tội phạm và khủng bố dùng để chế tạo AK-47s.) Cô quyết định xem liệu công nghệ in 3-D có thể đưa ra một giải pháp thay thế cho công nghệ chế tạo búp bê truyền thống đắt đỏ
và phải sản xuất hàng loạt hay không. Về bản chất, Taylor muốn biết liệu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba của Roger có thể áp dụng cho đồ chơi giống như xe hơi và tên lửa hay không.
“Vấn đề là,” Taylor giải thích,“tôi không biết chút gì về công nghệ in 3-D. Vì vậy, tôi đã vào diễn đàn của trang Shapeways.com (một thị trường công nghệ in 3-D) và tìm thấy một người đăng tin: ‘Tôi có thể làm mô hình 3-D sử dụng cho công nghệ in 3-D. Hãy thuê tôi.’ Nên tôi đã thuê anh ta.” Taylor gửi email bản phác họa búp bê và nhận lại một mô hình 3-D, sau đó cô in một con búp bê thật sự từ tập tin đó. “Nó cao 18cm, không có mắt, không có tóc và tốn của tôi 220 bảng Anh, nhưng nó hiện hữu thực sự. Đó là một phép màu, rằng tôi vừa tạo ra một con búp bê. Tôi chưa từng làm một con búp bê nào trong đời. Tôi có cảm giác kinh ngạc và tràn đầy tiềm năng giống như những ngày đầu biết đến Internet. Vì vậy, tôi về nhà và bỏ việc, rồi thành lập MakieLabs – một công ty cho phép mọi người tùy chỉnh thiết kế và in búp bê.”
Ngày nay, MakieLabs được hỗ trợ hoàn toàn bởi những chiếc máy in 3-D. “Trong văn phòng chúng tôi có ba máy in MakerBot nhỏ để in vật phẩm mẫu,” Taylor giải thích. “Một khi thiết kế hoàn tất, chúng tôi sẽ in sản phẩm cuối cùng sử dụng những chiếc máy in 3D Systems lớn dựa vào điện toán đám mây. Chúng tôi tránh được những khoản chi phí khổng lồ đầu tư vào công cụ và, bằng việc sử dụng công nghệ in đám mây theo nhu cầu, chúng tôi không cần phải tự mua những chiếc máy in 3-D cỡ lớn. Tất cả việc đóng gói, vận chuyển hàng và tiếp thị của chúng tôi bây giờ đều có thể được ảo hóa. Chúng tôi không phải chịu chi phí kho bãi, không cần phải di chuyển qua lại đến các nước phương Đông. Chúng tôi thậm chí còn không cần in bao bì số lượng lớn. Chúng tôi chỉ in khi nào cần tới.”
Taylor cũng nhận thấy rằng búp bê chỉ mới là sự khởi đầu. “Bất kỳ ngành công nghiệp nào mà sản phẩm đầu ra có thể tùy chỉnh được thì đều có thể bị ảnh hưởng,” cô nói. “Một con búp bê là một hình dạng 3-D. Một con khủng long, một rô-bốt và một chiếc xe hơi cũng vậy. Chúng ta đang tiến đến một thế giới sản xuất một điểm đến (one-stop). Chúng ta có thể có những công cụ này tại nhà và văn phòng, hoặc thuê chúng thông qua điện toán đám mây. Chúng ta đang đón đầu một thời đại đầy sáng tạo – một thời đại tuyệt vời dành cho những doanh nhân đột phá.”
3
Năm công nghệ thay đổi thế giới
Toàn cảnh tăng trưởng theo cấp số nhân
T
rong chương vừa rồi, chúng ta đã tìm hiểu về sự tăng trưởng theo cấp số nhân và cơ hội kinh doanh thông qua sản xuất bồi đắp. Tuy nhiên công nghệ in 3-D chỉ là một
trong nhiều những công nghệ đột phá mạnh mẽ đang dịch chuyển từ giai đoạn đánh lừa sang giai đoạn phá vỡ. Trong chương này, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quan về năm công nghệ nữa cũng đang chín muồi, phù hợp cho việc khai phá cơ hội kinh doanh: mạng lưới và cảm biến, điện toán vô hạn, trí tuệ nhân tạo, rô-bốt và sinh học tổng hợp. Mục tiêu của chúng ta là tập trung vào các nội dung căn bản: hiện nay công nghệ này đang ở giai đoạn nào, nó sẽ ở đâu trong vài năm tới, và đâu là những cơ hội ẩn giấu; những lĩnh vực nào hiện nay chưa được phát hiện nhưng sẵn sàng cho sự bùng nổ trong 3-5 năm tới.
Mạng lưới và cảm biến
Một mạng lưới là bất kỳ sự kết nối nào giữa tín hiệu và thông tin – não bộ con người và Internet chính là hai ví dụ nổi bật nhất. Một cảm biến là một thiết bị phát hiện thông tin – nhiệt độ, độ rung, bức xạ,… – và khi kết nối với mạng, nó cũng có thể truyền thông tin đó. Hiện nay, hai lĩnh vực này đều đang bùng nổ.
Sự kết nối và thiết bị di động toàn cầu
Nguồn: https://www.mauldineconomics.com/bulls-eye/
Có hơn bảy tỷ chiếc điện thoại thông minh và máy tính bảng đang hiện hữu. Mỗi thiết bị này là một sự kết hợp của nhiều cảm biến – màn hình cảm ứng nhạy áp suất, microphone, gia tốc, từ kế, con quay, máy ảnh – đang gia tăng về số lượng trong mỗi thế hệ công nghệ mới. Hãy xem xét sức chứa màn hình cảm ứng – như trong iPad và iPhone. Năm 2012, tổng diện tích mà những cảm biến này che phủ được là 12 triệu m2 – đủ để phủ đầy 2.000 sân bóng đá. Đến năm 2015, con số đó đã tăng vọt lên 35,9 triệu m2, đủ để che phủ một nửa Manhattan.
Và nó không chỉ là những thiết bị liên lạc. Một khuôn mẫu tương tự đang diễn ra ở mọi nơi, trong tất cả mọi khía cạnh, chuyển hóa thế giới từ thụ động và ngốc nghếch sang chủ động và thông minh. Hãy xem xét lĩnh vực vận tải. Ngày nay, những cảm biến trong xe giúp định vị đường, giúp chúng ta tránh kẹt xe và tìm chỗ trống trong bãi đỗ xe. Máy bay thương mại cũng có chứa các cảm biến kết hợp này. General Electric – nhà sản xuất và cho thuê động cơ phản lực cho tất cả các hãng hàng không lớn ngày nay đã cài đặt lên đến 250 cảm biến trên mỗi
5.000 động cơ cho thuê, cho phép theo dõi tình trạng của chúng trong thời gian thực, kể cả khi đang bay. Và nếu có chỉ số nào vượt mức quy định, GE có thể tham gia sửa chữa ngay lập tức.
Những cảm biến liên quan đến an ninh cũng đang trong giai đoạn bùng nổ. Các camera giám sát ghi hình toàn diện ngày nay được kết nối với nguồn dữ liệu gồm 120 triệu định dạng gương mặt, cung cấp cho bộ phận thực thi pháp luật khả năng tìm kiếm chưa từng có. Nhưng ngoài việc tìm kiếm rắc rối, các cảm biến cũng có thể lắng nghe. Lấy ShotSpotter làm ví dụ, một công nghệ phát hiện tiếng súng tập hợp dữ liệu từ mạng lưới các cảm biến âm thanh cài đặt khắp thành phố, lọc dữ liệu thông qua một thuật toán tách âm tiếng súng, định vị vị trí trong phạm vi 3m, sau đó báo cáo trực tiếp cho cảnh sát. Hệ thống này thường chính xác và đáng tin cậy hơn thông tin thu thập được từ những người gọi cho 911.
Vận tải và an ninh là những lĩnh vực chủ yếu bị thống trị bởi các công ty lớn nhưng điều này không có nghĩa là các nhà khởi nghiệp không tận dụng được cùng xu hướng đột phá này. Như một bài viết năm 2012 trên tờ Wired đã chỉ ra: “Các hacker [đã bắt đầu] sử dụng những cảm biến ngày càng rẻ tiền và các phần cứng mã nguồn mở – như điều khiển Arduino – để tăng thêm sự thông minh cho các công cụ thông thường.” Ngày nay, có những công cụ giúp cây trồng của bạn báo khi nào chúng cần được tưới nước, vòng đeo cổ kết nối Wi-Fi giúp nông dân biết khi nào những con bò của họ đang bị nóng, và cả cốc bia có thể cho bạn biết mức độ say xỉn của bạn trong lễ hội Oktoberfest. Như lời hacker Arduino Charalampos Doukas nói, khi giá thành của cảm biến ngày càng giảm,“giới hạn duy nhất chính là trí tưởng tượng của bạn”.
Để nhìn điều này từ một góc độ rộng hơn, hãy nghĩ đến việc chúng ta đang sống trong một thế giới mà xe tự lái của Google có thể di chuyển trên đường phố một cách an toàn nhờ vào cảm biến ở trên nóc xe có tên lidar – một thiết bị cảm biến laser sử dụng 64 mắt laser an toàn để quét trọn 360 độ xung quanh, đồng thời tạo ra 750 megabytes dữ liệu hình ảnh mỗi giây để dẫn đường. Sớm thôi, chúng ta sẽ sống cùng hai triệu chiếc xe Google tự lái trên đường (không phải là nhiều, vì con số này ít hơn 1% số lượng xe hiện đăng ký tại Mỹ), chúng sẽ ghi lại gần như mọi thứ chúng gặp phải, từ đó cho chúng ta kiến thức gần như hoàn hảo về quang cảnh mà chúng quan sát được. Việc ghi hình khắp mọi nơi không chỉ dừng lại ở đó.
Hình ảnh 360 độ của LIDAR trên ô tô không người lái của Google
Nguồn: http://people.bath.ac.uk/as2152/cars/lidar.jpg
Ngoài những chiếc xe tự lái quét hình ảnh trên đường này, đến năm 2020, dự tính sẽ có năm chòm sao vệ tinh quỹ đạo Trái đất tầm thấp ghi hình mọi mét vuông của bề mặt Trái đất với độ phân giải trong khoảng từ 0,5-2m. Đồng thời, chúng ta cũng sắp thấy sự bùng nổ của các máy bay tí hon vận hành theo trí thông minh nhân tạo hoạt động khắp các thành phố và ghi hình trong phạm vi tính bằng xentimét. Bạn có muốn biết trong bãi đỗ xe
của đối thủ cạnh tranh ở Moscow hay Mumbai có bao nhiêu chiếc xe không? Còn việc theo dõi chuỗi cung ứng của đối thủ như những chiếc xe tải hoặc tàu giao vật liệu thô đến nhà máy và giao sản phẩm đầu ra đến nhà kho của họ? Không thành vấn đề.
Như đã được báo trước, theo một báo cáo phát hành năm 2013 của TSensors Summit, Đại học Stanford, số lượng cảm biến trên thế giới được kỳ vọng sẽ tăng trưởng đến con số hàng nghìn tỷ vào năm 2023. Và đây chỉ là kết quả của phép tính thông thường.
Tầm nhìn Trillion Sensor (Nghìn tỷ cảm biến)
Tương lai Trillion Sensor
Nguồn: www.futuristspeaker.com/wp-content/uploads/Trillion Sensor-Roadmap.jpg.
Mạng lưới cũng đang bùng nổ tương tự, cả về tốc độ lẫn số lượng các thiết bị kết nối. Về mặt tốc độ, năm 1991, ban đầu mạng 2G
có tốc độ 100 kilobit trên giây. Một thập kỷ sau, mạng 3G đạt tốc độ 1 megabit trên giây và ngày nay mạng 4G đã tăng lên đến 8 megabit trên giây. Nhưng vào tháng Hai năm 2014, CEO của Sprint là Dan Hesse đã công bố kế hoạch Sprint Spark, một mạng siêu tốc có thể truyền 50-60 megabit trên giây đến điện thoại di động của bạn, cùng tầm nhìn sẽ tăng gấp ba lần tốc độ đó theo thời gian. “Mục tiêu của chúng tôi là hỗ trợ thế hệ trò chơi trực tuyến mới, thực tế ảo, dịch vụ đám mây nâng cao, và những ứng dụng khác đòi hỏi băng thông rất cao,” Hesse nói. “Cụ thể hơn, khi được triển khai, Spark sẽ cho phép bạn tải một trò chơi điện tử 20 megabyte trong 3 giây và tải một bộ phim dài 60 phút có độ phân giải cao trong chưa đầy 2 phút rưỡi.” Và Sprint đang trong quá trình thực hiện. Họ đang thử nghiệm tốc độ truyền 1 gigabit trên giây tại phòng thí nghiệm của mình ở Thung lũng Silicon.
Về mặt kết nối, cách đây 10 năm, toàn thế giới có 500 triệu thiết bị kết nối với Internet. Ngày nay, con số đó đã lên đến 12 tỷ. “Năm 2013,” Padma Warrior, Giám đốc Công nghệ và Chiến lược của Cisco nói: “mỗi giây có 80 thiết bị mới được kết nối với Internet. Nghĩa là gần 7 triệu thiết bị mỗi ngày, 2,5 tỷ mỗi năm. Năm 2014, con số lên đến gần 100 thiết bị mỗi giây. Đến năm 2020, nó sẽ tăng lên đến hơn 250 thiết bị mỗi giây, hay 7,8 tỷ mỗi năm. Cộng tất cả những con số này lại và ta có hơn 50 tỷ thiết bị kết nối với Internet vào năm 2020.” Và chính sự bùng nổ kết nối này đang tạo nên Mạng lưới vạn vật kết nối Internet (IoT).
Một nghiên cứu gần đây của Cisco ước tính rằng giữa năm 2013 và 2020, siêu mạng lưới này sẽ tạo ra giá trị 19 nghìn tỷ đô-la (lợi nhuận ròng). Hãy nghĩ thêm về điều này một chút. Nền kinh tế Mỹ dao động quanh mức 15 nghìn tỷ mỗi năm. Cisco đang nói rằng trong vòng mười năm, mạng lưới mới này sẽ tạo
ra tác động kinh tế lớn hơn cả GDP của toàn nước Mỹ. Đó chính là một miền đất hứa.
Dự báo Thiết bị kết nối Internet toàn cầu
Tương lai Trillion Sensor
Nguồn: www.futuristspeaker.com/wp-content/uploads/Trillion Sensor-Roadmap.jpg
Vậy chính xác thì cơ hội đó nằm ở đâu? Hầu hết các nhà nghiên cứu cảm nhận rằng có hai lĩnh vực quan trọng đáng để khai thác: thông tin và tự động hóa. Hãy bắt đầu với lĩnh vực thứ nhất.
Thế giới mạng lưới và cảm biến của chúng ta tạo ra khối lượng thông tin khổng lồ và phần nhiều trong số đó cực kỳ có giá trị. Có thể lấy dữ liệu giao thông làm ví dụ. Một thập kỷ trước, Navteq xây dựng một mạng lưới cảm biến dọc 400.000 km
đường đi ở châu Âu (qua 35 thành phố chính và 13 nước châu
Âu). Vào tháng Mười năm 2007, công ty di động khổng lồ Nokia (hiện do Microsoft sở hữu) đã chi trả 8,1 tỷ đô-la cho mạng lưới đó. Từ năm năm trước cho đến giữa năm 2013, Google đã chi 1 tỷ đô- la để mua lại Waze, một công ty ở Israel tạo ra bản đồ và thông tin giao thông, không thông qua cảm biến điện tử mà thông qua tổng hợp nguồn báo cáo từ người dùng – ví dụ, cảm biến con người, tạo ra bản đồ bằng cách sử dụng GPS để theo dõi dòng di chuyển của khoảng 50 triệu người dùng, sau đó tạo ra thông tin luồng giao thông khi những người dùng đó tình nguyện chia sẻ thông tin về tắc đường, bẫy tốc độ và đường bị chặn trong thời gian thực.
Theo dõi hành vi là một loại thông tin đang phát triển nhanh chóng khác. Các công ty bảo hiểm cài đặt cảm biến vào xe hơi và đưa ra chính sách giá dựa vào hành vi lái xe tại thời điểm thực tế là một ví dụ. Một ví dụ khác là Turnstyle Solutions, một công ty khởi nghiệp tại Toronto đã sử dụng đường truyền Wi-Fi từ điện thoại di dộng để theo dõi khách hàng ở các cửa hiệu, thu thập dữ liệu những nơi mà họ nán lại khi mua sắm. Theo dõi hành vi về chăm sóc sức khỏe cũng đang phát triển. AdhereTech hiện đang sản xuất những lọ thuốc thông minh được gắn cảm biến để đảm bảo sự tuân thủ của bệnh nhân, trong khi đó CoheroHealth đã kết hợp những ống thuốc dạng hít có gắn cảm biến với ứng dụng di động để những đứa trẻ mắc chứng hen suyễn mãn tính có thể theo dõi và kiểm soát các triệu chứng của mình. Những ứng dụng y tế này sẽ còn tiếp tục xuất hiện thêm. Theo William Briggs, Giám đốc Công nghệ của Công ty Tư vấn Deloitte,“giá trị của mạng lưới vạn vật kết nối Internet IoT liên quan đến lĩnh vực y tế sẽ là thị trường hàng nghìn tỷ đô-la trong vòng một hai thập kỷ tới”.
Chuyển sang lĩnh vực tự động hóa – nó chủ yếu là quá trình thu thập tất cả các dữ liệu tập hợp được nhờ IoT, từ đó chuyển hóa
thành chuỗi hành động tiếp theo và sau đó, tự thực hiện những hành động đó mà không cần sự can thiệp của con người. Chúng ta đã thấy những làn sóng đầu tiên của tự động hóa trong các dây chuyền lắp ráp thông minh và chuỗi cung ứng (về mặt kỹ thuật được gọi là quá trình tối ưu hóa) có thể tạo ra dịch vụ giao hàng đúng giờ. Lưới điện thông minh cho năng lượng và lưới điện thông minh cho tài nguyên nước – về mặt kỹ thuật gọi là tối ưu hóa tiêu thụ tài nguyên – chính là làn sóng thứ hai. Tiếp theo là tự động hóa và điều khiển các hệ thống tự động phức tạp hơn nhiều – như xe hơi tự lái.
Thậm chí có những cơ hội khác trong việc tìm ra những cách thức đơn giản hơn để kết nối người ra quyết định và dữ liệu cảm biến trong thời gian thực. Cây trồng có khả năng báo cho chủ khi chúng cần tưới nước như đã đề cập ở trên chính là một ví dụ cho giai đoạn đầu (năm 2010) của lĩnh vực này. Một ví dụ gần đây hơn (năm 2013) là công ty khởi nghiệp SmartThings ở Washington D.C, CNN đã gọi công ty này là “một nhạc trưởng kỹ thuật số cho mọi vật thể trong nhà”. SmartThings tạo ra một giao diện có thể nhận biết hơn một nghìn vật thể gia dụng thông minh, từ cảm biến nhiệt để kiểm soát nhiệt độ đến cảm biến cửa chính và cửa sổ để báo cho bạn biết liệu bạn có quên khóa cửa hay không, cho đến những thiết bị tự động tắt trước khi bạn ngủ.
Tất nhiên, bất kỳ cuộc thảo luận nào về mạng lưới và cảm biến đều dẫn đến việc thảo luận xem chúng ta sẽ khai thác giá trị từ tất cả những dữ liệu này như thế nào. Câu trả lời là chúng ta muốn đi tiếp đến đâu. Chào mừng đến với thế giới sơ khai của điện toán vô hạn.
Điện toán vô hạn:
Sức mạnh của kỹ thuật đoán thử đúng sai Brute Force
Vào cuối tháng Tám năm 2013, Carl Bass, CEO của gã khổng lồ về thiết kế và phần mềm Autodesk, đã đưa tôi đi tham quan trung tâm Pier 9 mới xây dựng của anh nằm ở cuối Embarcadero của San Francisco. Tự mô tả mình là một cậu bé to xác đến từ Brooklyn (anh cao 1m96), Bass mặc quần jeans, áo thun và đội mũ bóng chày. Lúc đó, cơ sở của anh được trang bị máy in 3-D, dụng cụ sửa chữa máy, trạm thiết kế, máy cắt laser và máy hàn đời mới nhất. Nơi đây chính là thiên đường của các nhà chế tạo. Có những công cụ để chuyển hóa từ trí tưởng tượng thành thực tế, và tất cả đều được hướng dẫn bởi phần mềm thiết kế của Autodesk, được cung cấp bởi điện toán vô hạn.
Điện toán vô hạn là thuật ngữ mà Bass sử dụng để mô tả tiến trình liên tục đưa điện toán từ một nguồn lực khan hiếm và đắt đỏ trở thành một nguồn lực dồi dào và miễn phí. Chỉ ba hay bốn thập kỷ trước, nếu bạn muốn tiếp cận với 1.000 bộ vi xử lý, bạn cần phải là Chủ tịch Bộ phận Khoa học máy tính của MIT hay Thư ký của Bộ quốc phòng Mỹ. Ngày nay, một con chip trung bình trong điện thoại di động của bạn có thể xử lý khoảng 1 tỷ phép tính mỗi giây.
Nhưng ngày nay vẫn chưa là gì so với tương lai. “Đến năm 2020, một con chip với khả năng xử lý như ngày nay chỉ có giá 1 xu,” nhà vật lý lý thuyết của trường CUNY (City University of New York) Michio Kaku giải thích trong một bài viết gần đây cho Big Think: “chỉ bằng với giá của giấy vụn… Con cháu chúng ta sẽ nhìn lại và tự hỏi làm sao chúng ta có thể sống trong một thế giới thiếu thốn như vậy, cũng giống như khi chúng ta nghĩ về thời bố mẹ mình thiếu điện thoại, Internet – những thứ với họ là xa xỉ – còn tất cả chúng ta thì dường như lại xem nhẹ.”
Giá bộ vi xử lý trên Chu kỳ linh kiện bán dẫn
Giá bộ vi xử lý trên Chu kỳ linh kiện bán dẫn Nguồn: www.singularity.com/images/charts/
MicroProcessCostPerTrans.jpg
Vì lý do này mà Bass cảm thấy rằng hầu hết suy nghĩ của chúng ta về máy tính là hoàn toàn lạc hậu. “Chúng ta đang xem máy tính như một tài nguyên quý giá,” anh nói, “trong khi nó đang hiện diện với số lượng lớn. Nếu bạn nhìn vào tất cả các xu hướng, thì giá thành của máy tính đang giảm, sự phổ biến, tính năng và độ bền của chúng ngày càng tăng. Mỗi năm chúng ta lại tạo ra năng lượng máy tính nhiều hơn tổng tất cả những năm trước. Sự tăng trưởng ngoài sức tưởng tượng này đang khởi đầu một kỷ nguyên mới.”
Trong thời đại cũ, thế giới sáng tạo của con người, thế giới được gọi-là-thiết-kế chỉ là những sản phẩm của suy nghĩ “đóng khung” – suy nghĩ giới hạn bởi sự khan hiếm máy tính. “Trong thời đại đó,” Bass giải thích,“một vấn đề cần một CPU thực hiện trong 10.000 giây và tốn khoảng 25 xu. Nhưng trong thời đại mới tăng trưởng theo cấp số nhân, với khả năng điện toán gần như vô hạn, chúng ta có thể đồng thời áp dụng 10.000 CPU cùng lúc để giải quyết cùng một vấn đề chỉ trong 1 giây. Giải quyết vấn đề nhanh hơn 10.000 lần vẫn chỉ tốn 25 xu, nhưng đây là
lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có thể áp dụng một cách vô hạn nhiều nguồn lực để giải quyết vấn đề mà không có phí phát sinh.”
Những công ty như Google, Amazon và Rackspace đang tạo điều kiện cho sự chuyển đổi này. Họ tập hợp những cơ sở tính toán khổng lồ, chia sẻ cho cộng đồng và gọi chúng là “đám mây”. “Trước khi có đám mây, việc thành lập một công ty công nghệ rất khó khăn và tốn thời gian,” Graham Weston, Chủ tịch và đồng sáng lập của Rackspace nói. “Đầu tiên là bạn đặt máy chủ từ những nhà cung cấp như Dell hay HP. Vài tuần sau hàng mới đến. Sau đó bạn phải thiết lập cấu hình, cài đặt, mua và tải phần mềm, cuối cùng là kết nối với Internet. Tất cả những việc này mất khoảng vài tuần, nếu không muốn nói là vài tháng và cần phải có nhân viên. Ngày nay, bạn có thể liên hệ nhà cung cấp như Rackspace và chỉ vài phút sau, bạn sẽ có quyền truy cập vào số lượng máy chủ mà bạn cần. Và nó có thể mở rộng quy mô nhanh chóng – theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Tùy thuộc vào nhu cầu.”
Nhưng mục tiêu ở đây không phải là trở thành Rackspace (hay Amazon hay Microsoft), mà là xây dựng ý tưởng lớn lao của bạn dựa trên cơ sở hạ tầng của họ. Các doanh nhân không cần phải sử dụng vốn tiền mặt ít ỏi của mình để chi cho các thiết bị tốn kém, mất hàng tháng để cài đặt, thiết lập cấu hình và chương trình cho thiết bị đó, lo lắng về điều sẽ xảy ra khi cần mở rộng quy mô trang thiết bị, lo nó hỏng hóc hoặc trở nên lỗi thời.
“Đám mây đang dân chủ hóa khả năng của chúng ta trong việc tận dụng khả năng máy tính trên quy mô lớn,” Weston nói. “Ngày nay, tốc độ xử lý mà một người ở giữa Mumbai có thể tiếp cận vượt xa những gì mà toàn bộ chính phủ Mỹ có trong những năm 60, 70. Chúng ta đang bước vào giai đoạn mang tính lịch sử
của sự đổi mới toàn cầu, khi mà máy tính hiệu suất cao đang rất phong phú, đáng tin cậy và giá cả phải chăng.”
Vậy tất cả những năng lực máy tính này mang lại cho bạn điều gì? Chính là một cách tiếp cận hoàn toàn mới cho sự đổi mới, cho người mới bắt đầu. Hãy xem xét “kỹ thuật đoán thử đúng sai Brute Force”, một thuật ngữ liên quan đến khả năng mới khám phá được của chúng ta khi sử dụng điện toán vô hạn để thực sự giải quyết các vấn đề. Hãy hình dung bạn muốn giải câu đố Sudoku. Bạn có thể thử xây dựng một phương pháp tiếp cận toán học – dựa vào thuật toán để tính ra những con số chính xác còn thiếu – hoặc đơn giản là bạn chỉ việc yêu cầu máy tính thử những con số nào có thể điền vào mỗi ô, sau đó chọn phương án tốt nhất. Hướng tiếp cận sau chính là kỹ thuật đoán thử đúng sai Brute Force.
Trong chuyến tham quan của tôi đến Trung tâm thiết kế Pier 9 của Autodesk, như một cách để minh họa rõ hơn về kỹ thuật Brute Force, Bass chỉ vào một chiếc xe đua điện mini mà anh đã làm cùng cậu con trai 15 tuổi của mình. “Ngày xưa, khi phải gắn mô tơ điện vào chiếc xe này, tôi phải thử tìm ra giải pháp – bằng cách đoán độ dày của khung và vị trí thích hợp nhất, sau đó làm một vài phép tính để xem những gì tôi làm đã đúng chưa. Ngày nay, tôi có thể tạo ra một mô hình máy tính và biết chính xác số liệu của mỗi vị trí trên thiết kế tôi chọn. Nhưng trong tương lai gần, với điện toán vô hạn, tôi có thể yêu cầu “đám mây” chạy thiết kế liên tục, thử nghiệm với mọi vị trí có thể cho động cơ cùng nhiều loại vật liệu và kích thước khác nhau, kết quả có được sẽ là thiết kế tốt nhất chứ không chỉ là đúng hay chấp nhận được.”
Điều mà Bass có thể làm thì bạn cũng có thể làm. Nếu đam mê của bạn là tạo ra những chiếc xe đua mini tốt hơn, thì công nghệ
ngày nay cho phép bạn tạo ra những chiếc tốt nhất có thể chỉ với một lượng nhỏ thời gian và chi phí.
Và những điều đúng với xe đua mini cũng đúng cho bất kỳ thứ gì mà con người muốn chế tạo. Hơn thế nữa, chúng ta đều học hỏi từ sai lầm, và cho đến gần đây, những sai lầm thì quá tốn kém để các doanh nhân có thể thử nghiệm bừa bãi. Điều này cũng đã thay đổi. Điện toán vô hạn đã khiến cho việc tạo sai lầm không còn tốn kém nữa, do đó việc thực nghiệm cũng được dân chủ hóa. Chúng ta không còn phải ngay lập tức bác bỏ những ý tưởng lạ lùng vì sợ tốn kém thời gian và nguồn lực nữa. Ngày nay, chúng ta có thể thử hết tất cả.
Điện toán vô hạn đã dẫn đến sự gia tăng khổng lồ về khả năng thiết kế, mặc dù để có thể thực sự khai phá sức mạnh này, bạn vẫn phải tập hợp dữ liệu, đưa vào máy tính, sau đó viết các thuật toán để phân tích dữ liệu. Nhưng sẽ ra sao nếu bạn không phải đích thân làm điều này? Nếu bạn chỉ cần nói chuyện với máy tính và nó hiểu được mong muốn của bạn một cách hoàn hảo, tập hợp dữ liệu cho bạn, và phân tích để có câu trả lời cho bạn? Hiểu theo nghĩa rộng, đó chính là khả năng mà chúng ta sẽ khám phá ở công nghệ đột phá tiếp theo, lĩnh vực bùng nổ của trí tuệ nhân tạo.
Trí tuệ nhân tạo (AI):
Chuyên gia thực hiện theo nhu cầu
“Anh nghĩ anh đang làm gì vậy, Dave?”
Sự thật lạ lùng: Những lời đe dọa điềm tĩnh và sâu lắng chết người này chính là đỉnh cao của trí tuệ nhân tạo trong gần 50 năm qua. Câu này được nói bởi HAL, chiếc máy tính có nhận thức trên tàu vũ trụ Discovery One, trong tác phẩm huyền thoại
của đạo diễn Stanley Kubrick – 2001: A Space Odyssey (tạm dịch: Chuyến du hành không gian), mà ông và Arthur C. Clarke cùng viết kịch bản. Khi không quấy rầy Dave, HAL hỗ trợ phi hành đoàn, hoạt động như một giao diện trên tàu, trả lời các câu hỏi và giúp phân tích dữ liệu thu thập được (con tàu đang thực hiện một nhiệm vụ khoa học). Hình dạng bên ngoài của HAL được mô tả là một con mắt ghi-truyền hình ảnh màu đỏ đáng sợ nằm ở bảng thiết bị trên khắp con tàu.
Nhưng hình ảnh con mắt phát sáng màu đỏ đó đã thuộc về thế kỷ trước rồi.
HAL đã phải nhường lối và nói lời chào với JARVIS. Là chữ viết tắt của Just Another Rather Very Intelligent System (Một hệ thống siêu thông minh khác), JARVIS xuất hiện lần đầu trong phim Iron Man với tư cách là chương trình trí tuệ nhân tạo trợ giúp cho Tony Stark, được lập trình nói chuyện với giọng nam mang ngữ điệu Anh. JARVIS xử lý tất cả mọi việc từ bảo vệ căn nhà cho đến chế tạo bộ trang phục Iron Man, điều hành tập đoàn kinh doanh toàn cầu trị giá hàng tỷ đô của Stark – một khối lượng công việc khổng lồ cho một hệ thống phi thường.
Từ góc độ công nghệ, điều khiến JARVIS phi thường chính là ở cả mức độ thâm nhập của nó vào cuộc sống của Stark và cả khả năng hiểu những hướng dẫn bằng ngôn ngữ tự nhiên, thậm chí cả những lời nói đùa mỉa mai hay hài hước. Về mặt kỹ thuật, JARVIS là một vỏ phần mềm kết nối giữa mọi ước muốn của Stark với phần còn lại của thế giới, có khả năng vừa thu thập dữ liệu từ hàng triệu cảm biến vừa hành động thông qua bất kỳ hệ thống hay thiết bị rô-bốt nào có kết nối với trí tuệ nhân tạo. Theo cách này, mạng lưới vạn vật kết nối Internet chính là tai, mắt, tay và chân của JARVIS.
Chắc chắn rằng, JARVIS đã truất ngôi của HAL, và hiện đang giữ danh hiệu trí thông minh nhân tạo nổi tiếng nhất thế giới, nhưng điều khiến cho sự thống trị của nó ngoạn mục hơn chính là nếu như HAL chưa bao giờ trở thành hiện thực thì những thành phần chính của JARVIS đang bắt đầu hiện diện trong các phòng thí nghiệm và nhiều công ty trên toàn thế giới.
Chuyên gia về trí thông minh nhân tạo và đồng sáng lập Đại học Singularity, Ray Kurzweil giải thích: “Vào những năm 60, khi Arthur C. Clarke tưởng tượng về HAL, rõ ràng nó là khoa học viễn tưởng. Năm mươi năm trước, chúng ta biết rất ít về trí tuệ nhân tạo. Nhưng câu chuyện của ngày hôm nay thì khác. Rất nhiều khía cạnh của JARVIS đã hiện hữu hoặc có trên bản vẽ.”
Kurzweil đã nhận ra điều đó. Bill Gates gọi ông là “người tuyệt vời nhất tôi biết trong việc dự toán tương lai của trí tuệ nhân tạo”. Larry Page đã tuyển ông về làm Giám đốc Kỹ thuật của Google, nơi mà Kurzweil đang nỗ lực phát triển trí tuệ nhân tạo có khả năng hiểu được ngôn ngữ tự nhiên, nghĩa là ông đang dạy cho máy tính hiểu các sắc thái tinh tế của ngôn ngữ nói và viết, cho phép chúng ta hỏi chúng những câu hỏi phức tạp hơn nhiều so với “Siri, tôi có thể tìm một tách cà phê ở đâu?”
“Đó là sự dịch chuyển từ việc máy tính chỉ có trí thông minh logic đến việc chúng cũng có cả trí tuệ cảm xúc,” Kurzweil nói. “Một khi điều đó xảy ra, trí tuệ nhân tạo sẽ trở nên hài hước, hiểu được những câu chuyện đùa, trở nên quyến rũ, đáng yêu, và thậm chí là sáng tạo.”
Khi đang viết những dòng này, vào tháng Ba năm 2013, tôi đứng trên sân khấu TED, cùng với người phụ trách TED là Chris Anderson, và thông báo ý muốn tham gia lực lượng thiết kế một trí tuệ nhân tạo XPRIZE. “Ý tưởng là,” Anderson nói, “một XPRIZE dành cho TED được trao trí tuệ nhân tạo đầu tiên có thể
đứng trên sân khấu này trình bày một bài nói TED hấp dẫn đến mức khán giả phải đứng lên vỗ tay tán thưởng.”
Ý tưởng này đòi hỏi ở trí tuệ nhân tạo một số khả năng ngang bằng hoặc hơn khả năng của con người. Khi nào điều này xảy ra là một cuộc tranh luận dậy sóng và kéo dài. Chính bản thân Kurzweil đã đưa ra cột mốc nổi tiếng cho ngày mà trí tuệ nhân tạo sẽ làm được mọi thứ tốt hơn con người là năm 2029. (Như đã giải thích trong cuốn Abundance, dự đoán của ông dựa trên đường cong tăng trưởng theo cấp số nhân và đã có những bằng chứng chính xác tuyệt vời.) Dĩ nhiên, với hầu hết các doanh nhân, 2029 còn quá xa để có thể đưa vào làm nền tảng cho kinh doanh. Nhưng không cần phải chờ đợi, vì trí tuệ nhân tạo cũng là một công nghệ đang chuyển hóa từ giai đoạn đánh lừa sang giai đoạn phá vỡ, và sắp trở nên phổ biến trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Hãy xem xét thực tế cuộc sống thường nhật của chúng ta. Ngày nay, ở Mỹ, 80% công việc xoay quanh ngành dịch vụ, có thể chia thành bốn nhóm kỹ năng cơ bản: nhìn, đọc, viết và tổng hợp kiến thức. Còn trí tuệ nhân tạo đã tiến xa đến mức nào? Máy tính hiện nay có thể thực hiện cả bốn kỹ năng này và trong nhiều trường hợp, còn làm tốt hơn cả con người.
Hãy xem xét kỹ hơn nhé.
Tất cả bốn kỹ năng này xuất hiện từ một nhánh của trí tuệ nhân tạo được biết đến với cái tên máy học tập – nó thật sự là ngành khoa học về việc máy móc học tập như thế nào. Và một điều chắc chắn là máy móc ngày nay đang học nhanh hơn bao giờ hết.
Nhóm kỹ năng đầu tiên – nhìn – từ lâu đã là một nhiệm vụ được con người thực hiện tốt hơn máy tính. “Lần đầu tiên một thuật toán máy tính có thể “nhìn” ở mức độ chính xác tương tự như con người là vào năm 1995,” Jeremy Howard, trưởng ban máy
học tập của trường Đại học Singularity giải thích. “Năm đó một thuật toán có tên gọi là Lenet 5 đã giành chiến thắng trong cuộc thi do Công ty Dịch vụ Bưu chính Mỹ tổ chức với khả năng nhận diện các con số trong mã vùng và giúp phân loại thư.”
LeNet 5 nhận diện số “2” viết tay.
Tiến độ phát triển vẫn ổn định (nhưng không đáng kể) cho đến năm 2011, khi một loạt các đột phá lớn đưa ngành máy học thế giới phát triển đột biến. Ở Đức, một cuộc thi thường niên được tổ chức giữa con người và thuật toán máy học về khả năng nhìn, xác định và phân loại biển báo giao thông. 50.000 biển báo giao thông khác nhau được sử dụng – chúng nhìn không rõ do khoảng cách xa, cây cối che khuất hay độ chói của ánh sáng mặt trời. Vào năm 2011, lần đầu tiên, một thuật toán máy học đã đánh bại những người chế tạo ra mình, đạt tỷ lệ lỗi 0,5%, so với tỷ lệ của con người là 1,2%.
Ấn tượng hơn nữa là kết quả của cuộc thi ImageNet năm 2012, thử thách các thuật toán nhìn một triệu hình ảnh khác nhau – từ ảnh chim chóc, dụng cụ nhà bếp đến con người chạy xe máy – và phân loại chúng vào hàng nghìn loại riêng biệt. Máy tính không chỉ nhận biết được những vật thể đã biết (mã vùng, biển báo giao thông), nó còn làm rất tốt công việc phân loại hàng nghìn những vật thể ngẫu nhiên – khả năng tưởng như chỉ có ở
con người. Một lần nữa, những thuật toán đã đánh bại con người.
Sự phát triển tương tự cũng đang xảy ra với kỹ năng đọc. Ngày nay, có những trí tuệ nhân tạo có thể giải mã mọi thứ – từ bài tiểu luận của học sinh trung học cho đến những biểu mẫu thuế phức tạp – nhanh hơn con người rất nhiều. Lấy văn bản luật, một ngôn ngữ khó nhằn làm ví dụ. Như lời John Marko viết trong bài báo cho tờ New York Times năm 2011: “Nhờ vào những tiến bộ của trí tuệ nhân tạo, phần mềm ‘e-discovery’ có thể phân tích văn bản trong một khoảng thời gian ngắn với chi phí nhỏ… Một số chương trình không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm văn bản từ những thuật ngữ liên quan với tốc độ máy tính. Chúng có thể lọc ra những khái niệm liên quan – ví dụ như những tài liệu về cuộc biểu tình xã hội ở Trung Đông – ngay cả khi thiếu một số thuật ngữ cụ thể, và suy ra mô hình hành vi giúp giải thoát các luật sư khỏi việc phải nghiên cứu hàng triệu tài liệu.”
Với kỹ năng thứ ba của con người – kỹ năng viết – báo cáo của tờ Deloitte University Press đã chỉ ra rằng trí tuệ nhân tạo cũng đang tạo ra dấu ấn ở lĩnh vực này. “Tự động hóa trí tuệ vẫn đang trong giai đoạn phát triển nhanh chóng, nhưng nó đã đủ trưởng thành để có thể thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. [Với kỹ năng viết], Credit Suisse sử dụng một công nghệ từ Công ty Narrative Science để phân tích hàng triệu điểm dữ liệu về hàng nghìn công ty và tự động viết những báo cáo nghiên cứu bằng tiếng Anh để đánh giá kỳ vọng, lợi ích và rủi ro của công ty. Các báo cáo này giúp các nhà phân tích, ngân hàng và các nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư dài hạn. Số lượng báo cáo này tăng gấp ba lần, chất lượng và tính nhất quán cũng được cải thiện hơn so với báo cáo do các nhà phân tích viết ra.”
Tổng hợp kiến thức, kỹ năng thứ tư của con người, thể hiện khả năng phức tạp hơn nhiều – tổng hợp các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau lại và đưa ra kết luận chính xác. Ở đây chúng ta tìm ra sự đột phá được cho là quan trọng nhất và cơ hội kinh doanh tuyệt vời nhất. Bạn còn nhớ Watson của IBM, chiếc siêu máy tính đã đánh bại con người trong chương trình Jeopardy vào tháng Hai năm 2011 không? Vào tháng Mười một năm 2013, IBM đã đăng tải Watson lên đám mây, khiến ai cũng có thể sử dụng nó như một nền tảng phát triển, đặc biệt là các doanh nhân. Như Michael Rhodin, Phó Chủ tịch cấp cao của IBM phụ trách Watson nói: “Việc đưa Watson lên điện toán đám mây là nhằm thúc đẩy sự đổi mới và thúc đẩy một hệ sinh thái các nhà cung cấp phần mềm ứng dụng mới dành cho doanh nghiệp – từ các công ty khởi nghiệp và công ty có vốn đầu tư mới nổi cho đến những công ty đã có địa vị. Chúng tôi thậm chí còn thành lập một quỹ đầu tư mới trị giá 100 triệu đô-la để trợ giúp những công ty khởi nghiệp sử dụng Watson.”
Một ví dụ cho công ty khởi nghiệp được trợ giúp bởi Watson là Modernizing Medicine. Trở lại năm 2011, Modernizing Medicine cho ra mắt một nền tảng lưu trữ hồ sơ y khoa điện tử chuyên biệt sử dụng trên iPad nhờ vào nguồn lực cộng đồng. Ví dụ, những bác sĩ da liễu đăng ký sử dụng Modernizing Medicine sẽ có kết quả tổng hợp dữ liệu của họ – bao gồm tình trạng bệnh nhân (tên bệnh nhân đã được loại bỏ) và phương thức chữa trị. Thông tin này sau đó sẽ trở thành nguồn tham khảo cho tất cả các bác sĩ da liễu trong hệ thống – khoảng 3.000 người, tương đương 25% các bác sĩ da liễu trên nước Mỹ – từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc đáng kể. Nhưng năm 2014, Modernizing đã thực hiện một bước tiến khổng lồ và hợp tác với Watson. Kể từ khi chiến thắng ở Jeopardy, Watson được đưa đến trường y khoa – tiếp thu hàng triệu bài báo, sách giáo trình, kết quả bệnh nhân, báo cáo khoa học và những thứ tương tự. Bằng cách kết
hợp dữ liệu kết quả bệnh nhân một cách có cấu trúc và dữ liệu nghiên cứu chưa được cấu trúc của Watson, các bác sĩ trong mạng lưới Modernizing Medicine được tiếp cận với các cấp thông tin xét nghiệm tại chỗ đáng kinh ngạc. “Con người chúng ta không thể làm được những điều tương tự như Watson đã làm trong ngành chăm sóc sức khỏe,” Daniel Cane, CEO của Modernizing Medicine nói. “Nó không chỉ trả lời được những câu hỏi có trong hàng triệu tài liệu cá nhân mà còn có thể trích dẫn nguồn và mức độ tin cậy ngay lập tức. Ngoài việc giúp các bác sĩ bằng những công cụ hỏi đáp mạnh mẽ chưa từng có, nó còn làm thay đổi căn bản các thực hành y khoa.”
Hơn thế nữa, với tư cách là một doanh nhân hứng thú với việc xây dựng kinh doanh có sự trợ giúp của Watson, Cane bị choáng váng bởi sự dễ dàng khi làm việc với IBM. “Họ cung cấp rất nhiều thông tin hướng dẫn và hỗ trợ,” anh giải thích,“đến nỗi chúng tôi đã có thể tạo dựng toàn bộ mô hình theo nguyên mẫu Watson chỉ trong hai tuần.”
Một trong những mục tiêu chính của cuốn sách này là chỉ ra những khoảnh khắc quan trọng khi một công nghệ sẵn sàng cho thời gian vàng kinh doanh. Watson đưa lên đám mây, gắn với một giao diện lập trình ứng dụng (API) công khai sẵn có, là khởi đầu của một thời điểm như thế, tiềm năng cho một sự bùng nổ về giao diện giống Mosaic, đưa trí tuệ nhân tạo đến với tất cả các loại hình kinh doanh mới và báo hiệu quá trình chuyển đổi từ giai đoạn đánh lừa sang giai đoạn phát triển phá vỡ. Các doanh nhân đột phá, các bạn còn chờ gì nữa?
Và mọi thứ chúng ta nói đến chỉ là ở hiện tại. “Sẽ sớm thôi,” Ray Kurzweil nói, “chúng ta sẽ cho phép một trí tuệ nhân tạo nghe mọi cuộc điện thoại của mình. Cho chúng đọc email và blog, nghe ngóng trong các cuộc họp, xem xét bản chụp gen, kiểm tra
những gì bạn ăn và thời gian bạn tập thể dục, thậm chí là sử dụng kính Google Glass của bạn. Và bằng việc thực hiện tất cả những điều này, trí tuệ nhân tạo cá nhân của bạn có thể cung cấp thông tin trước cả khi bạn cần.”
Thử tưởng tượng về một hệ thống nhận diện gương mặt những người bạn thấy xung quanh và cho bạn biết tên của họ. Việc này không cần quá nhiều nỗ lực vì những khả năng này sắp xuất hiện trực tuyến rồi. Bây giờ, hãy tưởng tượng rằng chính trí tuệ nhân tạo này còn có thể hiểu tùy theo ngữ cảnh – nghĩa là hệ thống nhận dạng cuộc đối thoại của bạn và bạn của bạn đang có xu hướng nói về cuộc sống gia đình, nên nó nhắc bạn tên của từng thành viên trong gia đình người bạn này cũng như ngày sinh nhật sắp tới của họ.
Đằng sau nhiều thành công của trí tuệ nhân tạo được nhắc đến trong phần này là một thuật toán có tên Deep Learning. Được phát triển bởi Georey Hinton thuộc Đại học Toronto, Deep Learning đã thống trị lĩnh vực nhận diện hình ảnh. Và vì vậy, không hề ngạc nhiên khi mùa xuân năm 2013, Hinton được tuyển dụng, giống như Kurzweil, vào Google – một bước phát triển dường như sẽ dẫn đến những bước tiến nhanh hơn nữa.
Gần đây, Google và trung tâm nghiên cứu NASA Ames – một trong những trung tâm của NASA – đã cùng nhau mua lại một máy tính 512 bit lượng tử (quantumbit) được sản xuất bởi D Wave Systems để nghiên cứu về
máy học. Với tốc độ ánh sáng, chiếc máy tính này có thể giải quyết việc nhận dạng khuôn mặt và giọng nói, cũng như hiểu hành vi sinh học và khả năng quản lý những mạng lưới rộng lớn. “Vấn đề càng khó khăn, phức tạp,” Geordie Rose, CTO và đồng sáng lập của D-Wave nói, “thì kết quả càng tốt. Đối với hầu hết các vấn đề, nó hoạt động nhanh hơn 11 nghìn lần, còn với