🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Kalinin, Trên Thảo Nguyên, Dưới Đáy
Ebooks
Nhóm Zalo
Kalinin, Trên Thảo Nguyên, Dưới Đáy Maxim Gorky
Văn Học (2018)
KALININ, TRÊN THẢO NGUYÊN, DƯỚI ĐÁY
Bản tiếng Việt © 2017 Công ty TNHH MTV Sách Phương Nam & Trần Thị Phương Phương
Dịch từ nguyên bản tiếng Nga:
М. Горький. Собрание сочинений в 30 томах, Издание: Государственное издательство художественной литературы, Москва, 1949 – 1955 (M.Gorky, Hợp tuyển tác phẩm gồm 30 tập, NXB Văn học nghệ thuật, Moskva, 1949 – 1955)
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của Công ty TNHH MTV Sách Phương Nam và dịch giả.
Lời giới thiệu
1.
Maxim Gorky (tên thật là Alexei Maximovich Peshkov, 1868 – 1936) là một trong những nhà văn Nga nổi tiếng nhất thế giới thế kỷ XX.
Gorky khởi đầu sự nghiệp sáng tác bằng những truyện ngắn và truyện ngắn cũng là mảng sáng tác thành công nhất của ông.
Vài tháng trước khi sáng tác truyện ngắn Bà lão Izergil, Gorky có viết: “Cần phải có những ngôn từ vang lên như những hồi chuông gióng giả, làm rung động lòng người và thúc đẩy người ta tiến lên phía trước. Hãy cứ để người ta ý thức được những sai lầm và xấu hổ vì quá khứ. Hãy cứ để người ta nhức nhối với nỗi chán ghét hiện tại và để người ta khốn khổ với nỗi khát vọng về tương lai”. Gorky đã hiểu ý nghĩa cao cả của cuộc sống và của nghệ thuật là như thế. Và ông thể hiện nó trong những tác phẩm truyện ngắn của mình.
Gorky nổi tiếng như một nhà văn của “đội quân chân đất” du thủ du thực trên khắp đất nước Nga. Cuộc sống lang thang của chính nhà văn thời tuổi trẻ đã giúp ông tạo nên những hình tượng hết sức độc đáo. Thực ra Gorky không phải là người duy nhất viết về những kẻ lang thang. Trước ông, một số nhà văn Nga khác cũng từng chọn đề tài này cho những sáng tác của mình (như Reshetnikov, Uspensky[1]...). Những kẻ du thủ du thực trong các sáng tác của họ thường được mô tả như “cặn bã” của xã hội: nghiện rượu, trộm cướp, giết người... Các nhà văn đã xây dựng hình tượng những con người đó như những nạn nhân của một xã hội nơi trật tự bị đảo lộn, những nạn nhân bị đày đọa bởi số phận đến độ không còn nhìn nhận được sự đúng sai của cuộc đời, không ý thức được những bất công mà mình phải chịu đựng.
Cái độc đáo của những nhân vật du thủ du thực nơi Gorky là ở chỗ họ không chỉ là “cặn bã”, là nạn nhân. Họ còn là hiện thân của tình yêu với thiên nhiên và với cái đẹp. Họ còn là những con người với đầy ý thức về bản thân mình, và họ tuyên chiến với xã hội. Gorky sống cuộc sống của các nhân vật, ông như hòa lẫn với họ, có khi phát biểu những tư tưởng của mình thông qua ngôn từ của họ. Những kẻ du thủ du thực của Gorky không hẳn bị số phận đè bẹp, mà ngược lại nhiều khi còn cảm thấy tự hào về cuộc sống nghèo khổ, lang thang của mình, bởi đó là cuộc sống tự do vô cùng phong phú những điều lý thú và bổ ích. Nhân vật Makar Chudra trong truyện ngắn cùng tên đã nói: “Còn như tôi đây, năm mươi tám năm trời tôi đã trông thấy nhiều điều (...) Anh tính còn xứ sở nào mà tôi chưa đi qua nữa?... Sống phải như thế mới được: đi, đi mãi, chỉ có thế thôi”. Một nhân vật khác phát biểu: “Tôi sẽ đi lang thang khắp nơi cho đến khi nào bạc tóc mới thôi... Tôi sẽ buồn chán lắm nếu phải ở yên một chỗ”. Các nhân vật của Gorky không chỉ là những kẻ lang thang bằng đôi chân để kiếm kế sinh nhai. Sự lang thang của họ còn có hàm ý khác nữa: đó là cuộc kiếm tìm ý nghĩa của cuộc sống, tìm chân lý. Không phải bao giờ họ cũng tìm ra, số phận họ nhiều khi thật bi kịch, tuy nhiên điều quan trọng là họ đã đi, đã tìm, đã vật lộn đấu tranh, đã cố vươn lên chứ không chỉ gục đầu chấp nhận cuộc sống tầm thường.
Hiện thực cuộc sống hiện ra trong những truyện ngắn của Gorky với hai màu sáng – tối, làm nảy sinh cả niềm vui sướng lẫn nỗi khổ đau, sự cảm thông lẫn lòng công phẫn. Hiện thực đó trước hết là chính bản thân con người. Trong thế giới tâm hồn luôn bị giày vò đau khổ, nhà văn đã tinh tế chỉ ra những biểu hiện cao đẹp. Tuy nhiên, khát vọng vươn tới tương lai, vươn tới lý tưởng toàn mỹ về con người khó có thể hợp nhất với diện mạo cũng như những quan hệ thực tế hiện tại của con người.
Trong nhiều truyện của Gorky thường hiện diện cái “tôi” – tác giả. Tác giả là người lắng nghe những câu chuyện kể, mở đầu và kết thúc tác phẩm với những ấn tượng, tình cảm hết sức thực, hết sức sống động về người kể chuyện, về thiên nhiên và cuộc sống con người bao quanh câu chuyện kể. Đó là một kết cấu trong đó thế giới tưởng tượng, thế giới huyền thoại cổ tích được nối với thế giới hiện thực bằng chính bản thân tác giả, vừa giúp
làm nổi bật những mâu thuẫn hiện thực của cuộc sống, vừa giúp cho những khát vọng lãng mạn được thể hiện một cách chân thực hơn và mạnh mẽ hơn.
2.
Kịch của Gorky là mắt xích nối hai thời đại của kịch Nga – thời đại kịch cổ điển Nga thế kỷ XIX và thời đại kịch hiện đại Xô viết thế kỷ XX.
Nền kịch Nga thế kỷ XIX gắn với tên tuổi của Pushkin, Griboedov, Gogol, và đặc biệt là của Ostrovsky và Chekhov. A.N. Ostrovsky (1823 – 1886) được xem là cha đẻ của sân khấu hiện thực Nga, một sân khấu trên đó “có thể nhìn thấy cả đất nước Nga hiền lành và dữ dội, cao cả và nực cười”, “có thể nghe thấy nhịp đập sự sống mãnh liệt của đất nước ấy” (Belinsky). 49 vở kịch của Ostrovsky được đưa lên sân khấu đã mô tả một nước Nga – “vương quốc của bóng tối” nơi đồng tiền và những thế lực tư sản ngự trị. A.P. Chekhov (1860 – 1904) kế tục sự nghiệp của Ostrovsky, song lại đổi mới hoàn toàn xung đột kịch: không có sự đụng độ giữa những công chức lớn với công chức nhỏ, giữa người giàu với người nghèo. Nhân vật trong các vở kịch của Chekhov đa phần là những con người ngang hàng về địa vị, về tài sản. Thế nhưng trên sân khấu vẫn sôi sục những khát vọng, vẫn vang lên những tiếng súng, vẫn tan vỡ những tâm hồn và số phận. Những nhân vật của Chekhov không xung đột với nhau, mà xung đột với chính bản thân cuộc sống, và chỉ khi thay đổi được cuộc sống đó, thay đổi những hoàn cảnh bất công trong cuộc sống đó thì con người mới có thể hết đau khổ. Tuy nhiên nhân vật của Chekhov chủ yếu vẫn chìm trong nỗi buồn đau, niềm hạnh phúc đối với họ vẫn là cái gì đó còn xa vời. Chính bởi thế mà Chekhov được mệnh danh là “ca sĩ hát giọng buồn” của nước Nga.
Nơi Chekhov dừng lại là nơi Gorky bắt đầu. Sức mạnh kịch của Gorky trước hết là ở chỗ đã nói về cuộc sống một cách tích cực, lạc quan, tin rằng có thể thay đổi cuộc sống đó theo hướng tốt đẹp lên.
Trong kịch của Gorky, những mâu thuẫn gay gắt trong hiện thực cuộc sống, những xung đột giai cấp chuyển hóa thành xung đột giữa những con
người có các tín điều xã hội khác nhau, giữa những quan điểm khác nhau về cuộc sống, về luân lý đạo đức. Bởi vậy kịch của ông thường được gọi là kịch triết lý xã hội (trong khi kịch của Chekhov thường được xem là kịch tâm lý). Giữa các triết lý sống, triết lý về con người tự do, về con người tự tin vào sức mạnh của chính mình luôn chiếm ưu thế. Phát ngôn triết lý ấy không phải là những người hùng, mà thường là những con người hết sức bình thường nhỏ bé: những người công nhân, những kẻ thất nghiệp nghiện rượu... Con người không hèn kém ở địa vị xã hội, ở vẻ bề ngoài, con người chỉ hèn kém ở tâm hồn, ở tâm lý tự nô lệ bản thân, tự ràng buộc mình vào những lợi ích tầm thường vị kỷ. Và đó là “những kẻ thù” mà Gorky muốn đấu tranh, là cảnh “dưới đáy” ao tù của “những kẻ tiểu thị dân”[2] mà Gorky muốn con người vượt ra khỏi.
Người dịch
[1] Feodor Reshetnikov (1841 – 1871), Gleb Uspensky (1843 – 1902): các nhà văn Nga có tư tưởng Cách mạng dân chủ thế kỷ XIX. (ND)
[2] Tên gọi các vở kịch của Gorky luôn mang ý nghĩa tượng trưng (Dưới đáy, Những người đi nghỉ mát, Những đứa con của mặt trời, Những kẻ thù...). Tên gọi vở kịch đầu tiên viết năm 1901 của Gorky là Мещане theo nghĩa đen có thể tạm dịch là Những kẻ tiểu thị dân, còn theo nghĩa bóng thì có thể hiểu là những kẻ có nhãn quan chật hẹp, chỉ sống với những lợi ích cá nhân tầm thường, nhỏ mọn. (ND)
Truyện ngắn
Gorky khởi đầu sự nghiệp sáng tác bằng những truyện ngắn và truyện ngắn cũng là mảng sáng tác thành công nhất của ông.
Một trong những nét độc đáo, và cũng là thành công của Gorky là mô tả những con người bé nhỏ chân đất nghèo khổ đó trong mối giao hòa với thiên nhiên Nga hết sức hùng vĩ, có khi rất dữ dội mà nhiều lúc cũng thật hiền hòa.
Bởi vậy trong nhiều tác phẩm, Gorky tìm về với những tư liệu của văn học dân gian: những truyền thuyết, những huyền thoại, và trên cơ sở những tư liệu đó xây dựng những tính cách lý tưởng, nhưng song song cùng với chất dân gian huyền thoại, cuộc sống hiện thực vẫn tiếp tục được khám phá. Và như thế, chất lãng mạn và chất hiện thực cứ đồng hành với nhau, bổ sung cho nhau trong nhiều truyện ngắn của Gorky.
Những truyện của Gorky thường không quá dài, cốt truyện không có gì đặc sắc lắm, hoặc nhiều khi vắng bóng cả cốt truyện, các tính cách được mô tả rất giản dị, rõ ràng. Tuy nhiên, trong cái khung giản dị đó luôn đầy ắp một sự sống phong phú, đa dạng và sâu lắng – và đó chính là cốt lõi nghệ thuật truyện ngắn của Gorky.
Người dịch
- Kalinin -
Mùa thu. Vào mùa thu, gió từ biển thổi rít lên, điên cuồng xô vào bờ những con sóng sủi bọt. Những dải rong tảo đen trông như những con rắn loáng hiện ra trên những cái bờm sóng trắng xóa, và không khí đầy những bụi nước ẩm ướt, mặn mòi.
Những tảng đá bên bờ biển rít lên tức giận; cây cối xào xạc khô khan, chúng nghiêng ngả, cúi gục hẳn xuống, y như muốn bứt rễ khỏi mặt đất để chạy vào những dãy núi đang choàng tấm áo khoác bằng mây đen nặng nề.
Những đám mây trên bầu trời bị xé thành từng mảnh, sà xuống gần đất, để lộ ra những mảng trời xanh thẳm nơi mặt trời mùa thu đang cháy lên một cách bất an. Những bóng râm bò trên mặt biển bị vò nhàu nát. Trên đất liền, ngọn gió kéo những đám mây đen xuống sát những sườn núi dốc đứng, lũ mây đen mệt mỏi bay lên hạ xuống, rồi ùn lại trong khe núi làm mù mịt ở đó.
Mọi thứ xung quanh đều u ám, cãi cọ với nhau, cáu kỉnh tối sầm rồi lại lạnh lùng lóe sáng lên làm chói cả mắt; trên con đường hẹp phủ đầy đá do sóng biển ném lên, những đám lá ngô đồng, lá phong đen, lá sồi, lá mận chạy đuổi nhau. Tiếng sóng oàm oạp, tiếng xào xạc, tiếng rú rít – tất cả sôi lên thành một âm thanh nghe như một bài hát, tiếng sóng đập đều đặn vào đá vang lên hệt như đang đánh nhịp.
– Đó là vua biển Zmiulan đang hoành hành đấy! – Anh bạn đồng hành của tôi, một người cao ráo có khuôn mặt tròn trịa và ánh nhìn tươi tắn từ đôi mắt trong như mắt trẻ con, hét vào tai tôi.
– Ai cơ?
– Vua Zmiulan...
Tôi im lặng – chưa bao giờ tôi nghe thấy tên ông vua nào như vậy cả.
Gió đẩy chúng tôi, như muốn đuổi chúng tôi vào núi. Sức đẩy của nó mạnh đến nỗi chúng tôi thỉnh thoảng phải dừng lại, quay lưng về phía biển, xoạc chân ra, dựa mình vào gậy và đứng bằng ba chân như thế cả phút, trong khi cái bị nặng mềm mại cứ níu chúng tôi xuống, xé toạc cả áo.
Người bạn đồng hành của tôi rên hừ hừ, giống như đang nằm trên phản trong nhà tắm hơi, còn tôi thì thấy buồn cười: Đôi tai của anh ta to tướng, rũ xuống như tai chó, cái mũ trùm bị cháy sém không che nổi chúng, và đôi tai bị hất ra phía trước vì gió, khiến cho khuôn mặt anh ta trông giống như cái chậu rửa tay bằng đất sét một cách rất tức cười. Cái mũi dài đường bệ dường như thật xa lạ trên khuôn mặt nhỏ, và càng làm cho mặt anh ta buồn cười hơn: Nó giống cái vòi của cái chậu rửa tay đó.
Cái mặt anh ta thật kỳ lạ, và cả con người anh ta cũng rất đặc biệt, điều đó lập tức cuốn hút tôi ngay khi tôi trông thấy anh ta ở nhà thờ trong tu viện Novo-Afonsky[3]trong buổi lễ tối. Vươn thẳng thân hình mảnh mai khô quắt, đầu hơi nghiêng sang một bên, anh ta nhìn lên cây thánh giá, mấp máy đôi môi mỏng, nở nụ cười tươi sáng, anh ta nói chuyện với Chúa như nói với một người bạn hiền. Trên khuôn mặt tròn nhẵn nhụi – anh ta không có râu dưới cằm giống như những người bị hoạn – với hai chòm ria nhỏ màu sáng hai bên mép, sáng lên vẻ thân tình và ý thức về sự gần gũi đặc biệt với Chúa mà tôi chưa từng bao giờ được thấy. Không có vẻ quỵ lụy, sợ hãi trong thái độ đối với Chúa, điều đó làm tôi chú ý, và suốt buổi lễ tôi hết sức tò mò quan sát con người này: Anh ta trò chuyện với Chúa nhưng không cúi lạy, rất ít khi làm dấu thánh, không chảy nước mắt, không thở dài.
Sau bữa tối trong lán công nhân, tôi vào phòng tiếp khách vãng lai. Ở đó, trong đám người tụ quanh ngọn đèn treo trên trần nhà, tôi trông thấy anh ta ngồi bên bàn giữa đám đàn bà và đàn ông đang cầu nguyện, nghe thấy giọng nói khe khẽ nhưng trong trẻo, mạch lạc và chắc nịch của ông cố đạo vốn là người quen nói chuyện với đám đông.
– Có những cái tất nhiên phải nói ra, nhưng có những cái phải che giấu đi; bởi vì: Nếu như đó là điều dại dột và có hại thì nói ra làm gì? Ngược lại cũng vậy: Người tử tế không cần phải vượt lên phía trước để khoe: Các người trông xem tôi tử tế như thế nào! Có những người dường như thích
khoe khoang số phận bất hạnh của mình: Những con người tốt bụng ơi, hãy xem này, hãy lắng nghe này, số phận tôi mới cay đắng làm sao! Điều đó cũng không tốt...
Một người râu quai nón đen mặc áo bành-tô có đôi mắt kẻ cướp tối sẫm trên khuôn mặt khô quắt của người khổ hạnh từ bên bàn bỗng đứng dậy, chậm chạp ưỡn thẳng thân hình cường tráng và ồm ồm hỏi:
– Còn vợ và con trai tôi bị thiêu sống bởi dầu hỏa thì sao? Cũng phải im lặng về chuyện đó ư?
Mọi người nín lặng trong vài giây. Sau đó có ai đó khẽ cằn nhằn: – Lại nữa rồi...
Và ngay lúc đó trong góc – trong bóng tối ngột ngạt – vang lên câu trả lời chắc chắn:
– Đó là sự trừng phạt của Chúa vì những tội lỗi...
– Mới có ba tuổi mà tội lỗi gì? Thằng bé mới có ba tuổi... Nó làm rơi cái đèn vào người, còn vợ tôi chộp ôm lấy nó, thế là chính mình cũng bị thiêu cháy... Cô ấy còn yếu lắm, mới sinh con được mười một ngày...
– Đó là vì tội lỗi của cha mẹ. – Giọng nói từ trong góc vang lên vẫn chắc chắn như trước đó.
Người đàn ông râu đen chắc là không nghe thấy, ông ta vung hai tay chém chém vào không khí, như không kiềm chế nổi, vội vã kể cụ thể chuyện vợ và con trai ông ta bị chết cháy như thế nào. Có cảm giác như ông ta vẫn thường kể về điều đó và mãi chưa kết thúc câu chuyện khủng khiếp của mình. Đôi lông mày rậm của ông ta dính lại thành một đường viền đen sì, dưới đôi mày là đôi mắt với tròng trắng đỏ sọc gân máu và đôi con ngươi đen đục ngầu lo âu lăn qua lăn lại.
Nhưng xen vào giữa câu chuyện buồn thảm của ông ta vẫn vút lên giọng nói thoải mái và vui vẻ của người hành hương:
– Thế là không phải anh bạn đồng hương ạ, không thể buộc tội Chúa vì những chuyện xảy ra do sự hậu đậu hay do sai lầm, do sự ngu ngốc của mình...
– Gượm đã, nếu như có Chúa, Chúa phải chịu trách nhiệm về tất cả! – Không, hoàn toàn không phải thế! Chúa đã cho anh lý trí cơ mà... – Lý trí để làm gì nếu như tôi không thể nào hiểu nổi?...
– Hiểu cái gì?
– Hiểu điều đó... mọi thứ! Tại sao vợ tôi lại chết cháy, mà không phải là vợ ông hàng xóm, hả?
Một giọng bà già dữ tợn cất lên rành rẽ:
– Ôi cha cha! Đi đến tu viện để mà rống lên như thế đấy...
Người đàn ông râu đen giận dữ quắc mắt, chúi đầu xuống như con bò tót, rồi bỗng nhiên phẩy tay, giậm mạnh bước chân đi nhanh về phía cửa, người hành hương cũng chậm rãi đứng dậy, lúc lắc người và cúi chào tất cả mọi người rồi cũng đi ra cửa.
– Một con tim toàn khổ đau. – Anh ta nói và mỉm cười.
Tôi cảm thấy trong nụ cười đó không hề có sự cảm thông. Và trong góc, ai đó lại tỏ vẻ không đồng tình:
– Anh ta thích tô vẽ thêm cho câu chuyện ấy...
– Và vô ích thôi. – Người hành hương dừng lại bên cửa, kết luận. – Chỉ tổ làm khổ mình và làm khổ mọi người! Những chuyện như vậy cần phải quên đi...
Một phút sau tôi đi ra sân và nghe thấy giọng nói bình thản của anh ta bên cánh cửa hàng rào:
– Không sao đâu, thưa cha, cha đừng lo...
– Coi chừng đấy. – Người gác cửa là cha Seraphim, một người vùng Vetluga[4] khỏe mạnh, giận dữ nói. – Đêm tối là bọn Abkhaz[5] đói khát hay đi lang thang lắm đấy.
– Bọn Abkhaz chẳng làm hại con đâu...
Tôi cũng đi về phía cổng...
– Đi đâu? – Cha Seraphim hỏi, gí sát khuôn mặt lông lá dữ tợn nhưng cũng vô cùng phúc hậu vào tôi. – À, cậu đấy à, anh chàng người Nizhegorod[6]. Đi đi, cậu chỉ hoài hơi làm mệt mình thôi, bọn đàn bà đã đi ngủ cả rồi...
Và ông ta cười, gầm gừ như con gấu.
Phía ngoài hàng rào là sự tĩnh lặng khôn cùng của đêm mùa thu – sự im lặng mỏi mệt của đất đã kiệt quệ sau mùa hè. Ngọt ngào thoảng mùi cỏ héo và mùi gì đó nữa của mùa thu, làm dậy lên niềm phấn khởi. Những tán cây tối sẫm treo trong không khí ấm áp và ẩm ướt hệt như những tảng mây đen. Trong bóng tối thoảng nghe tiếng biển nửa thức nửa ngủ thở dài ve vuốt dải bờ; bầu trời phủ đầy mây, chỉ ở một khoảng giữa đám mây có một mảnh trăng mờ nhạt, và xa xa trên mặt nước lung linh một mảnh trăng khác, cũng giống hệt như thế...
Dưới hàng cây là một cái ghế dài, trên đó có một hình người trở nên tròn ra vì bóng đêm. Tôi lại gần và ngồi xuống bên cạnh.
– Anh từ đâu tới đây vậy, anh bạn đồng hương?
– Từ Voronezh[7]. Còn anh?
Người Nga thường sẵn lòng kể về mình như thế, y như anh ta không tin tưởng lắm rằng mình chính là mình, vì vậy luôn muốn cái tôi cá nhân của mình phải được khẳng định bởi người khác ngoài anh ta. Những người Nga tản ra sống trên vùng đất rộng lớn; càng thấy rõ sự giản dị của nó, họ dường
như càng thấy mình trở nên nhỏ bé; họ lang thang hàng nghìn dặm đường và cảm thấy như bị mất đi bản thân mình, nên hễ gặp dịp để kể về mình là họ kể tỉ mỉ tất cả những gì họ đã trải qua, những gì họ nhìn thấy và cả những gì họ tưởng tượng ra. Và trong những câu chuyện đó thường nghe thấy rõ hơn cả lời khẳng định:
– Đấy là tôi!
Và câu hỏi:
– Là tôi chăng?...
– Tên anh là gì?
– Đơn giản lắm: Alexey Kalinin!
– Anh trùng tên với tôi đấy[8].
– Thế ư?
Rồi đụng tay vào đầu gối tôi, anh ta nói:
– Này người trùng tên, tớ có vôi, cậu có nước, nào ta cùng đi quét vôi các thành phố!
... Những con sóng nhỏ, nhẹ nhàng reo lên trong bầu không khí yên lặng. Đằng sau lưng, tiếng ồn ào bận rộn trong tu viện đã tắt, giọng nói trong trẻo của Kalinin bị màn đêm làm dịu đi một chút, nó vang lên nhẹ nhõm hơn, ít chắc chắn hơn.
– Mẹ tớ làm nghề vú nuôi, tớ đi theo mẹ và từ khi lên mười hai đã làm đầy tớ, đó là vì vóc người tớ cao. Chuyện là thế này, một lần ông tướng Stepun, ông chủ của mẹ tớ, nhìn tớ và bảo: “Bà Evgenya này, bà hãy nói với Fedor (đó cũng là một người hầu, một ông già đi lính về), nói ông ấy dạy cho con trai bà cách phục vụ ở bàn ăn, thằng bé đã đủ lớn để làm việc đó rồi đấy!”. Thế là tớ phục vụ cho ông tướng đó chín năm trời, hết mùa hè này sang mùa hè khác. Sau đó xảy ra chuyện... sau đó tớ bị ốm... Rồi tớ làm
cho ông thương gia, cho ông thị trưởng mười một tháng. Ở Kharkov[9]tớ làm trong khách sạn một năm... ngày càng phải đổi chỗ làm nhiều hơn, mặc dù tớ là một anh đầy tớ tử tế, không say rượu, hừ, tớ không có tướng làm một công việc thực thụ nào... Cái chính là tính tớ vốn kiêu hãnh, không thích hợp với công việc... tớ vốn sinh ra để phục vụ mình, chứ không phải để phục vụ người...
Đằng sau chúng tôi, ngoài đường cái có một bọn người nào đó đang đi về hướng Sukhumi[10], có thể nhận thấy ngay là họ không quen đi bộ, chân họ giẫm trên đất rất nặng nề. Một giọng hát rất hay cất lên không to lắm:
Tôi một mình đi ra đường...[11]
Từ một mình được hát to hơn cả, nó vang lên một cách buồn thảm. Một giọng trầm khàn khàn lười nhác hỏi:
– Aphon... aphonia[12]là bị mất giọng đến mức nào... hả chị Vera Vasilevna thông thái?
– Là gần như hoàn toàn mất khả năng phát âm. – Giọng người phụ nữ trẻ trả lời.
Trong bóng tối, trên mặt đất có hai vết đen mờ ảo lướt qua, giữa chúng là một vết trắng.
– Thật kỳ lạ!
– Gì cơ?
– Những từ ngữ ở đây hình như luôn... có ẩn ý gì đó! Núi thì tên Nakopioba[13]. Dân ở đây tích cóp đã đủ rồi... họ biết cách tích cóp!
– Còn tôi thì không sao nhớ nổi tên Simon Kanonit[14], và luôn nói thành Kainit...
– Các ngài có biết không? – Người có giọng rất hay kia dường như cố ý nói to. – Tôi nhìn tất cả vẻ đẹp này, hít thở không khí tĩnh lặng này và chợt nghĩ: Sao ta lại không vứt bỏ tất cả mọi thứ, cho quỷ sứ tha hết đi, và bắt đầu sống...
Tiếng chuông nhà thờ báo giờ khô khốc đã át tiếng người đang nói, rồi sau đó từ xa vọng tới những lời buồn thảm:
Ôi giá như có thể dốc cả tâm can
Chỉ vào trong một lời nói!...[15]
Người ngồi bên tôi lắng nghe, nghiêng người một cách kỳ lạ, cứ như những lời nói của bọn người đang rong chơi kia đã lôi anh ta theo, rồi khi những giọng nói tắt đi ở phía xa, anh ta vươn thẳng người và thở dài nói:
– Ấy, rõ ràng là những người có học, nói về đủ mọi thứ, thế nhưng cũng vậy thôi...
– Gì cơ?
– Đấy cậu có nghe thấy không? – Anh ta không trả lời ngay. – Vứt bỏ, người ấy nói, cần phải vứt bỏ tất cả...
Anh ta nghiêng người về phía tôi, nhìn như người bị cận thị và thì thào nói tiếp:
– Ngày càng có nhiều người nghĩ như vậy – phải vứt bỏ tất cả! Cả tớ cũng vậy, bao năm tớ suy nghĩ: Mình phục vụ làm gì, có lợi ích gì? Hừ, cho dù mười hai, hai mươi, thậm chí năm mươi rub một tháng đi chăng nữa – thì sao nào? Còn con người tớ thì ở đâu? Có lẽ, với tớ tốt hơn hết là không làm gì cả và chỉ ngồi mà trông vào một chỗ trống rỗng... ngồi suốt đêm và nhìn... ngoài ra không làm gì hết!
– Đó là anh lúc nãy nói với mọi người đấy à?
– Người nào?
– Lúc ở trong phòng tiếp khách vãng lai ấy, với cái ông râu đen ấy?
– À, tớ không thích cái con người đó... không thích những người như vậy, những người đó gieo rắc nỗi đau buồn của mình khắp nơi, ngã xuống chân bất cứ người nào họ gặp... Thế là sao? Mỗi người đều có chuyện của mình... Tớ cần gì nước mắt của người khác? Chỉ riêng của mình tớ đã đủ mặn chát rồi... Cái kiểu người như hắn ta chỉ yêu thích nỗi đau khổ của mình, coi nó là ghê gớm nhất và cay đắng nhất trên đời này. Tớ biết tỏng...
Anh ta đột nhiên đứng dậy, dài ngoẵng và mảnh mai.
– Phải đi ngủ thôi, ngày mai tớ phải đi sớm rồi...
– Đi đâu?
– Đi Novorossiisk[16]...
Hôm đó là thứ Bảy, trước buổi lễ tối tôi đã nhận tiền công cho cả tuần ở văn phòng quản trị của tu viện. Novorossiisk không cùng hướng đi của tôi, mà tôi cũng không muốn rời tu viện, nhưng cái con người này thú vị quá, những người như thế trên đời này luôn chỉ có hai thôi, mà một trong hai người đó là chính tôi.
– Tôi sáng mai cũng đi.
– Nghĩa là ta cùng đi...
... Chúng tôi rời tu viện lúc bình minh và thế là tiến bước. Tôi tưởng tượng mình bay lên cao và từ đó nhìn xuống: trên bờ biển theo con đường mòn chật hẹp có hai con người dài ngoẵng đang đi: một người mặc áo khoác lính và đội chiếc mũ với cái chóp rách, người kia mặc áo kaftan[17] màu hung và chiếc mũ trùm bằng vải bông. Dưới chân họ biển mênh mông vỗ ì oạp, sủi bọt trắng xóa, những dải rong tảo bị mặt trời sấy khô trườn theo các tảng đá dọc đường đi. Gió xào xạc, xô đẩy những người khách bộ hành; những đám mây bay trên đầu họ; phía tay phải là những ngọn núi vươn lên trời, mây bám chặt lấy chúng, mệt mỏi và yếu ớt; phía tay trái biển
trải rộng mênh mông với những viền đăng-ten trắng, gió quần lộn bên trên xua đuổi những cột bụi nước trong suốt.
Vào những ngày mùa thu bão tố, trên bờ biển dường như đặc biệt vui vẻ náo nhiệt: gió và sóng hát, mây chạy đuổi nhau, mặt trời tắm trong bầu trời xanh thẳm trông như một bông hoa héo úa tuyệt diệu – trong sự hỗn loạn hiển thị đó ta cảm thấy một sự hài hòa vô hình của những lực lượng không hề tan rã trên trái đất. Và trái tim bé nhỏ của con người bùng lên ngọn lửa mãnh liệt, anh ta bốc cháy và hét lên với thế giới:
– Ta yêu Người!
Thật muốn sống làm sao, sống sao cho những phiến đá già cỗi kia phải bật cười và những con sóng biển trắng xóa kia phải nhảy lồng lên; thật muốn hát lên bài hát ca ngợi đất, để cho nó say với lời ngợi ca mà mở ra những kho báu của mình, phô ra vẻ đẹp của mình một cách hào phóng hơn, để nó phải xúc động vì tình yêu của một trong những sản phẩm nó tạo ra là một con người, một kẻ đã yêu đất như yêu đàn bà và tràn ngập niềm mong ước sáng tạo nhờ vẻ đẹp của nó.
Nhưng những từ ngữ nặng nề như đá tảng đã giết chết trí tưởng tượng, nằm đè lên trên xác chết như một hòn núi xám xịt, ta nhìn thấy mình trước nấm mồ đó và tự cười bản thân mình.
Tôi đi như trong mơ, giữa tiếng ì oạp của biển, tiếng sôi sùng sục của bọt sóng, nghe thấy những từ xa lạ:
– Giman, Dimon, Igamon, Zmiulan – đó là những con quỷ tốt bụng... – Thế còn Chúa với chúng thì sao?
– Chúa ư – không sao cả!
– Thù địch nhau à?
– Chúa thù địch với lũ quỷ ấy ư? Để làm gì? Đó là những con quỷ đặc biệt, những con quỷ tử tế... Với lại Chúa chẳng bao giờ thù địch với ai cả.
– Thế còn bọn lái buôn trong đền thờ thì sao?
– Hừ, Chúa cầm roi đuổi đánh chúng một lần! Nhưng đó không phải là vì thù địch với chúng, mà là để giữ trật tự.[18]
Con đường mòn như sợ sự tấn công của sóng, cong mình ngoặt sang phải về phía những bụi rậm; trước mắt chúng tôi, những ngọn núi phủ đầy mây, những đám mây tối dần, càng lúc càng đen đặc một cách dữ dội hơn – có lẽ sẽ có mưa.
Kalinin kể với vẻ dạy bảo, tay anh ta vung gậy phạt đứt những cành cây vướng lối đi.
– Đây là chỗ rất nguy hiểm, con bệnh sốt rét sống ở đây. Một người thợ sơn vùng Kostroma[19] đã gửi bà chị hung dữ nhất của mình đến đây gây sốt rét...[20] Hình như vì người ta không trả đủ tiền cho anh ta thì phải, tớ không nhớ nguyên nhân của chuyện này...
Những bóng râm trải gần kín mặt biển, biển trở nên u ám với hai màu đen và trắng. Xa xa hiện ra thành phố Gudauta đang bị những đám bọt biển hệt như những đống tuyết trườn lên.
– Anh kể cho tôi nghe về bọn quỷ ấy đi.
– Được thôi, nhưng kể cái gì cơ?
– Kể cái gì mà anh biết ấy.
– Gì tớ cũng biết!
Anh ta vui vẻ nháy mắt với tôi, nhắc lại:
– Gì cũng biết. Anh bạn ạ, bà mẹ tớ là một người tuyệt vời – đủ loại thần chú, chuyện cổ tích, chuyện các thánh – cái gì bà ấy cũng biết! Tớ ngủ ở trong bếp, bên cạnh lò sưởi, còn mẹ tớ nằm trên lò sưởi – lúc đó mẹ tớ đã nghỉ rồi, không còn việc gì nữa: Bà đã nuôi lớn ba đứa con của ông tướng...
Anh ta dừng lại, chọc cây gậy xuống đất, quay nhìn ra sau và đi tiếp, sải những bước dài và chắc chắn.
– Ông tướng ấy còn có một cô cháu gái tên Valentina Ignatyevna, một cô gái rất kỳ diệu!
– Vì lẽ gì?
– Vì thế đấy. Vì mọi thứ.
Trong không gian ẩm ướt, một con chim cốc – giống chim tham lam và ngu ngốc – nặng nề bay qua. Lông từ đôi cánh khỏe mạnh của nó bay lượn trên không trung, gợi lên những hồi ức u tối, những ý nghĩ chẳng lành...
– Nào, kể đi!
– Thế là tớ nằm trên sàn, không leo lên lò sưởi[21] – tớ không thích cái nóng của lò sưởi – còn mẹ tớ thì ngồi trên lò sưởi thõng chân xuống dưới. Tớ không nhìn thấy bà trong bóng tối, chỉ trông thấy những gì bà kể. Tất cả những cái đó đến với tớ từ trên cao, có lần sợ quá, tớ hét lên: “Mẹ ơi, thôi đi!”. Tớ vốn không thích những chuyện khủng khiếp, tớ không nhớ được những chuyện đó... bản thân mẹ tớ cũng khá dễ sợ rồi, khi bà ấy chết, bên trong người thối ra. Bà ấy mới bốn mươi hai tuổi mà tóc bạc hết, và khi chết, mùi ở bà bốc ra, cả bếp người ta kêu la...
– Thế còn bọn quỷ?
– Bây giờ đây!
Những bụi cây ngày càng xòa ra làm vướng đường nhiều hơn; chúng tôi như bơi giữa đám sóng lá cây xanh xào xạc, những cành cây nhẹ nhàng đập vào chúng tôi như nhắc nhở:
– Đi nhanh lên không mắc mưa đấy!
Chậm bước lại, người bạn đồng hành của tôi kể một cách đều đặn, gần như hát lên:
– Khi con trai của Chúa Trời là Chúa Giê-su đi ra ngoài sa mạc để tập trung suy tư, Satan sai bọn quỷ đi theo để cám dỗ Chúa. Chúa Giê-su lúc đó còn trẻ, vui tính, Người ngồi trên cát bỏng giữa sa mạc, tập trung suy nghĩ: Phải như thế nào đây? – nhưng tay Người lại gom những hòn sỏi lại và Người chơi với đống sỏi đó. Thế là bọn quỷ lại gần Người: Giman, Dimon, Igamon, Zmiulan – chúng cũng còn rất trẻ. Từ xa chúng đã nhìn thấy Chúa và thấy thương Người – sao mà Người phải hiến thân cho một số phận bất hạnh như vậy. Chúng lại gần Người: Cho chúng tôi chơi với! Chúa cười với chúng: Nào ngồi xuống đây! Chúng ngồi xuống thành vòng tròn và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của mình: Một đứa tung hòn sỏi lên cao, khi hòn sỏi rơi xuống thì nó biến thành một người đàn bà trần truồng, bà ta nằm một cách thoải mái và đưa tay ve vuốt Chúa, rủ rê Chúa làm điều tội lỗi. Còn Chúa thì mỉm cười với bà ta, chúm môi thổi phù một cái, bà ta liền tan ra thành hơi và lập tức bay biến vào không trung. Rồi bản thân Chúa ném một hòn sỏi – hòn sỏi biến thành con bồ câu sáu cánh, nó đập cánh bay về phía đền thờ Jerusalem. Lũ quỷ vụng về cố bày đủ trò, chúng thấy rằng không thể nào cám dỗ Chúa được. Con quỷ lớn nhất là Zmiulan nói với Người:
– Không, thưa Chúa, chúng tôi sẽ không bao giờ cám dỗ ngài nữa, chúng tôi chẳng làm được điều đó, dẫu rằng chúng tôi là quỷ nhưng cũng không thể thành công được.
– Không bao giờ thành công đâu. – Chúa nói – Nếu như ta đã nghĩ điều gì thì sẽ làm điều đó. Ta biết các ngươi là quỷ, các ngươi từ xa đã nhìn thấy ta và thương xót ta, ta cũng biết điều đó. Các ngươi bây giờ không thể giấu được sự thật về mình, vậy thì hãy thành những người tốt cho đến suốt đời, như thế các ngươi sẽ dễ chịu hơn. Ngươi, Zmiulan, hãy trở thành vua của biển, hãy dùng gió xua đuổi những linh hồn xấu xa khỏi mặt đất; còn ngươi, Dimon, hãy chú ý đừng để cho gia súc ăn những cỏ độc – hãy để lũ cỏ độc ấy mọc gai ra; còn ngươi, Igamon, đêm đêm hãy đi an ủi những bà vợ góa đau khổ, những người đang kết tội Chúa vì chồng họ bị chết; còn ngươi, Giman, ngươi trẻ nhất, hãy chọn cho mình cái gì mà ngươi thích!
– Thưa Chúa, con thích cười lắm!
– Vậy thì hãy đi chọc cho mọi người cười, chỉ có điều không được làm điều đó trong nhà thờ.
– Nhưng thưa Chúa, cả ở trong nhà thờ con cũng muốn cười! Chúa bật cười:
– Thôi tùy ngươi, chọc cười trong nhà thờ cũng được, nhưng phải khe khẽ thôi đấy nhé.
Thế là Chúa đã biến những con quỷ hung dữ thành tử tế như vậy đấy.
... Trên một biển cây bụi xanh rờn, những cây sồi già vươn lên trời, những chiếc lá vàng run rẩy trên cành; cây hồ đào hùng dũng trút bỏ bộ áo héo úa, cây ngô đồng run rẩy nhè nhẹ và cây dẻ gai trụi một nửa lá thành kính nghiêng mình xuống đất.
– Câu chuyện hay chứ?
– Hay lắm. Chúa là người tốt.
– Chúa luôn tốt thế. – Kalinin nói với vẻ tự hào – Cậu có biết ở tỉnh Smolensk[22] có một bà già hát về Chúa như thế nào không?
– Không.
Con người kỳ lạ đó dừng lại, giậm chân, cố ý cất giọng run rẩy của người già hát:
Trên trời cao nở một bông hoa – Đức Chúa con!
Người là cội nguồn của mọi niềm vui – Đức Chúa con!
Mặt trời đỏ mọc lên – Đức Chúa con!
Mang của cải cho đất – Đức Chúa con!
Cứ mỗi câu thơ, giọng của Kalinin lại trẻ dần ra, đến câu cuối anh ta hát bằng giọng cao vút.
Một mình Người cho cả thế gian này...
Bỗng lóe lên một tia sáng xanh đến chói mắt, trên núi vang tiếng nổ điếc tai, tiếng vọng của nó như hàng trăm giọng lăn xuống mặt đất và mặt biển. Kalinin há mồm phô ra hàm răng đều đặn rất đẹp, sau đó làm dấu liên tục và lầm bầm:
– Lạy Chúa ghê gớm, lạy Chúa nhân từ, xin Người hãy ngồi trên trời cao, trên ngai vàng trong cung điện bằng vàng, hãy trừng trị quỷ dữ và đừng bắt con phải chết!...
Và, quay khuôn mặt bé nhỏ đầy sợ hãi sang tôi, hấp háy đôi mắt, anh ta nghiêm chỉnh nói:
– Chạy thôi anh bạn, tớ sợ giông tố lắm... ta chạy nhanh lên thôi, trốn vào đâu cũng được!... Mưa sắp đổ xuống rồi, nhìn kìa...
Chúng tôi bắt đầu chạy; gió đẩy vào lưng chúng tôi, những cái nồi và ấm nước kêu loảng xoảng, cái bị đập vào thắt lưng tôi như một nắm đấm to tướng mềm mại. Còn xa mới tới núi, mà xung quanh thì chẳng có nhà ở nào cả. Những cành cây mắc cả vào vạt áo, sỏi đá cứ nhảy lên dưới chân, trời tối sầm, và dường như những ngọn núi đang bơi về phía chúng tôi.
Từ đám mây đen lại lóe lên tia lửa trời, và biển ánh màu lam ngọc như bị xô từ trên bờ xuống; mặt đất rùng mình, từ những khe núi trút xuống tiếng nghiến trèo trẹo của những hàm răng đá.
– Lạy các thánh thần, lạy các thánh thần. – Kalinin hét lên rồi biến vào trong bụi cây.
Đằng sau, những con sóng tạt lên đuổi theo những kẻ đang chạy; phía trước, trong bóng tối vang lên tiếng cót két, xào xạc; những cánh tay dài nghêu đen sì của ai đó vẫy vẫy trên đầu, trên đỉnh núi sau tảng mây đen dày đặc thần sấm vung búa sắt chát chúa; chớp lóe càng lúc càng nhiều hơn, đất
rú lên, những thân cây to lớn lao xao, nghiêng ngả, cơn mưa lạnh lẽo đã quất nước xuống chúng.
Sợ nhưng mà vui. Những dòng nước mưa chảy trên mặt, thân thể tràn ngập niềm hưng phấn say sưa, dường như có thể chạy dưới mưa, trong sấm chớp mãi, chạy cho tới sáng cũng được.
– Dừng lại, xem này! – Kalinin kêu lên.
Trong một giây chớp lóe sáng lên, trước mắt chúng tôi hiện lên một thân cây sồi, và trên đó là một cái khe rộng đen ngòm mở ra như cánh cửa. Chúng tôi vừa cười vừa chui vào đó như hai con chuột nhắt.
– Ở đây thậm chí đủ chỗ cho cả ba người! – Anh bạn đường của tôi nói – Cái bộng cây bị đốt, ôi những kẻ tinh nghịch! Đốt lửa cả trong thân cây sống thế này!
Chật chội, bốc lên mùi lá mục và mùi khói; những giọt nước to nặng rỏ xuống đầu và vai. Mỗi khi sấm nổ, thân cây rùng mình rít lên. Giữa tiếng rít lồng lộn của mưa bão, chúng tôi giống như ngồi trên cái thuyền tí xíu giữa biển, và khi chớp lóe lên thấy rõ mưa đã chạy khỏi chúng tôi, dệt trong không gian một cái lưới xanh lấp loáng những sắc thủy tinh.
Gió rít nhẹ dần, hẳn đã thỏa mãn vì đã đuổi được một cơn mưa to như thế xuống đất, đủ rửa sạch những ngọn núi và xoa dịu những tảng đá.
– U o... u u... u o! – Có con chim cú kêu đâu đó gần trên đầu chúng tôi. – Nó tưởng bây giờ là đêm rồi. – Kalinin thì thào.
– U o... u u... u o! – Con chim nhắc lại.
– Mày nhầm rồi, anh bạn ạ! – Anh chàng hét to.
Lạnh quá. Hơi nước xám nhạt vội vã chảy, kéo thành một tấm rèm mờ mờ giữa các thân cây to mập như những cái thùng, sần sùi và xòe ra nhánh cây con vẫn còn chưa rụng lá.
Âm thanh đơn điệu lan rộng trên mặt đất và dập tắt mọi suy nghĩ. Tự dưng tôi lắng nghe càng lúc càng chăm chú hơn tiếng mưa trút xuống đám lá rụng, gõ vào đá, quất vào những thân cây, lắng nghe tiếng những dòng suối kêu réo, nức nở chạy về phía biển, tiếng cây cối reo lên dưới gió, tiếng sóng đánh nhịp nhàng – hàng ngàn âm thanh kết dính lại thành một, nặng nề và ẩm ướt, và thật muốn tách chúng ra, sắp xếp lại như những từ ngữ trong bài hát.
Kalinin cựa quậy, huých vào tôi và rên rỉ:
– Nhưng mà chật quá! Tớ không thích sự chật chội...
Anh ta thu xếp chỗ thoải mái hơn tôi: Chui vào sâu trong bộng cây, anh ta ngồi chồm hổm, khéo léo cuộn người thành một cục tròn nhỏ. Mưa hầu như không làm ướt anh ta. Nói chung ở anh ta có sự khéo léo nhà nghề của một kẻ quen đi lang thang – luôn biết cách nhanh chóng tìm ra vị thế thuận lợi nhất trong bất kỳ tình cảnh bất tiện nào.
– Đấy, nào mưa, nào lạnh, nào mọi thứ. – Anh ta nói nhỏ – Thế mà vẫn hay!
– Hay cái gì?
– Mình không bị ràng buộc với ai ngoài Chúa. Nếu như phải chịu những khó chịu, thì chịu điều khó chịu do Chúa mang đến còn hơn là điều khó chịu do những người đồng loại mang đến.
– Anh hẳn là không ưa những người đồng loại?
– Hãy yêu người gần bên anh như con chó yêu cây gậy vậy! – Anh ta trả lời, im lặng một chút rồi hỏi. – Ta yêu con người vì cái gì?
Tôi khi đó cũng chẳng biết là vì cái gì.
Không đợi tôi trả lời, Kalinin lại hỏi:
– Cậu đã từng làm đầy tớ bao giờ chưa?
– Chưa.
– Thế đấy. Đầy tớ khó yêu được người gần gũi mình lắm. – Tại sao?
– Cậu cứ đi làm đầy tớ đi rồi sẽ biết! Nếu như phải phục vụ ai, thì lúc đó, anh bạn ạ, không thể yêu người đó được... Còn cơn mưa này chắc lâu đây!
Khắp nơi vang tiếng sụt sịt, khóc lóc, hệt như cả mặt đất đang lặng lẽ, đau đớn nức nở vì phải chia tay với mùa hè để đón những cơn bão tố mùa đông.
– Anh lên Kavkaz như thế nào?
– Cứ đi, đi mãi và tới nơi thôi! – Kalinin trả lời – Ai cũng muốn lên Kavkaz cả...
– Tại sao?
– Còn sao nữa? Từ bé tớ đã nghe nói: Kavkaz, Kavkaz! Ông tướng mỗi khi nói về nó thậm chí còn phát điên lên và đôi mắt muốn vọt ra ngoài. Mẹ tớ cũng vậy: Mẹ tớ cũng từng ở đấy. Anh bạn ạ, ai cũng khao khát lên Kavkaz: Ở đấy sống đơn giản, nhiều nắng ấm, mùa đông ngắn, không dữ dội như ở ta, trái cây thì nhiều... nói chung là vui hơn!
– Còn người ở đấy thì sao?
– Người ấy à? Đừng đụng chạm đến họ thì họ không làm phiền mình đâu.
– Phiền cái gì?
Kalinin cười độ lượng, nhìn tôi và nói:
– Anh chàng này thật ngốc làm sao, cứ hỏi, hỏi mãi về cái đơn giản nhất!... Cậu biết chữ hả? Hừ, thế thì tự mình phải biết hết chứ...
Đổi sang giọng mũi giận dữ, anh ta véo von như cầu nguyện:
– Lạy Chúa, xin đừng để cho bọn thầy tu, bọn thư lại, những lão trợ tế, cả những kẻ học cao hiểu rộng... đừng để họ nói gở... Đó là mẹ tớ thường hay nói thế...
Mưa nhẹ hơn, những dòng nước chảy ít đi, tấm lưới nước trở trên trong hơn, những thân sồi xám đen ủ rũ hiện ra rõ hơn, những đám lá vàng lá xanh trở nên sáng hơn. Trong bộng cây sáng dần, các vách cháy đen ánh lên như nhựa đường. Kalinin đưa ngón tay khều vào trong góc và nói:
– Đây là bọn chăn cừu đốt đấy... Xem này, mang vào cả rơm với lá khô. Cuộc sống chăn cừu ở đây thích thật!
Như sắp ngủ thiếp đi, anh ta choàng tay ra sau gáy, dúi cằm vào giữa hai đầu gối và ngồi lặng.
Một dòng suối nhỏ vội vàng như một con rắn chạy ngang qua cái cây chúng tôi trú, rửa sạch những rễ cây trần trụi, cuốn theo mình chiếc lá đỏ. Chiếc lá hẳn trông sẽ rất hay khi ra giữa biển xa: Trên bầu trời chỉ có mặt trời, còn trên mặt biển xanh chỉ có một mình ngôi sao đỏ chói đó.
Anh bạn đường của tôi gừ gừ như con mèo, hát một bài hát nào đó. Nhạc thì quen – bài Mặt trăng nấp đằng sau màn mây[23] – nhưng lời hát thì lại khác:
Nàng Valentina diệu kỳ
Nàng đẹp hơn mọi loài hoa
Đốt cháy tim con trai bà nhũ mẫu
Và chàng sẽ làm tất cả vì nàng...
– Đó là bài hát gì vậy?
Kalinin thẳng người dậy, cựa quậy, mềm mại như con thằn lằn, vuốt mạnh hai tay lên mặt.
– Đó là một bài thơ. Một anh thư lại ở trong quân đội đã sáng tác... anh ta chết vì bệnh lao rồi. Anh ta là bạn của tớ, cả đời tớ mới có một người bạn chân chính duy nhất là anh ta! Anh ta cũng là người kỳ diệu!
– Còn cô Valentina là ai?
– Tất nhiên là một tiểu thư. – Anh ta trả lời miễn cưỡng.
– Anh chàng thư lại kia yêu cô ấy à?
– Thậm chí chẳng thích tí nào.
Rõ ràng là anh ta không muốn nói về chuyện này, lại co người lại, rúc đầu vào trong và rên rỉ:
– Phải đốt lửa lên thôi... ướt hết cả rồi...
Gió rít lên buồn bã, làm xao động cây cối, cơn mưa vẫn kiên trì quất xuống mặt đất.
Tôi – con người nhỏ bé nghèo hèn,
Và sẽ không bao giờ trở thành người khác.
Kalinin lại hát nho nhỏ, rồi ngẩng đầu lên với một động tác nhanh nhẹn ít thấy, anh ta nói với giọng trầm lắng:
– Đó là một bài hát rất buồn... nó có thể làm tim thắt lại đến chảy nước mắt. Chỉ có hai người biết bài hát đó: tớ và anh ta... à, cả cô ta nữa, tất nhiên rồi... nhưng cô ấy tất nhiên đã quên ngay nó rồi...
Và, với đôi mắt cười tươi sáng, anh ta đề nghị một cách khoan dung:
– Thế này nhé: Cậu hãy còn trẻ, cậu cần phải biết cái gì nguy hiểm đối với cuộc sống, vậy nên tớ sẽ kể cho cậu nghe một câu chuyện...
Cơn mưa như cũng lắng nghe. Giữa tiếng lào xào buồn buồn ru ngủ của nó, tiếng người nói êm ái vang lên:
– Đó không phải là Lukyanov phải lòng đâu, mà là tớ. Anh ta chỉ sáng tác thơ theo yêu cầu của tớ thôi. Tớ mới mười chín tuổi lúc cô ấy xuất hiện, và khi trông thấy cô ấy, tớ lập tức hiểu rằng số phận của mình đã thuộc về cô ấy, thậm chí tim tớ cứ đông cứng lại, và cả cuộc đời vèo đi như hạt bụi bay vào lửa. Cả người tớ cứ như được mọc cánh: Tớ cảm thấy mình giống như anh lính gác đứng trước thượng cấp vậy – người căng ra, cứng lại và tim thì hồi hộp như sắp xảy ra chuyện gì! Cô ấy – cái cô Valentina Ignatyevna ấy – hai mươi lăm tuổi, có khi lớn hơn... rất đẹp! Đơn giản là cô ấy thật kỳ diệu! Cô ấy mồ côi: Bố bị bọn Thổ giết, mẹ bị đậu mùa chết ở Samarkand... Cô ấy là cháu vợ của ông tướng. Một cô tiểu thư tóc hung và trắng trẻo như sứ viền vàng, còn đôi mắt thì như ngọc bích... Người tròn trĩnh... y như cái bánh thánh... Cô ấy ở phòng trong góc cạnh bếp – ông tướng tất nhiên là có nhà riêng – người ta còn cho cô ấy thêm một phòng xép nữa. Khắp nơi cô ấy sắp đặt những đồ vật kỳ lạ của mình: chai lọ và tách bằng thủy tinh, cái ống bằng đồng và một cái vòng cũng bằng đồng; cô ấy quay cái vòng ấy thì từ đó tóe ra những tia lửa kêu lách tách, cô ấy chẳng sợ gì cả mà còn hát:
Mùa xuân đến chẳng phải vì tôi,
Dòng sông chảy chẳng phải vì tôi,
Và trái tim ai tràn đầy vui sướng,
Cũng chẳng phải vì tôi, chẳng phải vì tôi...
– Cô ấy luôn hát bài hát đó. Cô ấy lấp lánh đôi mắt nhìn tớ và nói một cách van lơn: “Anh Alexey, đừng có động vào cái gì của tôi nhé, những thứ đó nguy hiểm lắm!...”
– Còn tớ đứng trước cô ấy mà tay cứ rũ xuống, thật đấy, và bài hát ấy nữa... “Chẳng phải vì tôi” – tớ đâm tự ái thay cho cô ấy: Tại sao lại không vì cô cơ chứ? Mọi thứ đều là vì cô tất! Trái tim tớ như bị kéo lên đâu đó trên cao. Tớ mua một cây đàn ghi-ta, nhưng lại không biết chơi, vì thế tớ mới làm quen Lukyanov, cái anh chàng thư lại ấy. Bộ tham mưu của trung đoàn nằm trên cùng phố với nhà chúng tớ ở. Anh chàng Lukyanov nhỏ con, tóc đen, vốn là người Do Thái nhưng đã rửa tội... khuôn mặt vàng khè, còn đôi mắt thì sắc như kim. Một con người tuyệt vời, lại biết chơi ghi-ta, không thể nào quên được... Anh ta nói với tớ: “Trong cuộc đời, cái gì cũng có thể đạt được cả... Chúng mình chẳng có gì để mất. Mọi thứ tồn tại là từ đâu? Từ những con người bình thường nhất: Con người không phải sinh ra đã là tướng, nhưng có thể đạt tới được danh vị đó. Còn đàn bà, anh ta nói, là khởi đầu và kết thúc; cần phải thu phục cô ta bằng thơ ca; tớ sẽ viết hộ cậu bài thơ, còn cậu thì dúi nó cho cô ta...” Ý tưởng của anh ta rất rõ ràng và nhẹ nhõm...
Kalinin đang nói nhanh, đầy hưng phấn bỗng nhiên như bị tắt ngúm. Anh ta im lặng vài giây rồi kể tiếp, giọng nhỏ hơn, chậm rãi hơn như miễn cưỡng:
– Tớ tin anh ta ngay, nhưng rồi sau mọi chuyện không như thế: Đàn bà là sự lừa dối, còn thơ ca là cái vớ vẩn, con người không thể nào tránh khỏi số phận được. Còn lòng dũng cảm thì chỉ cần khi có chiến tranh thôi, trong thời bình thì nó là sự càn quấy! Anh bạn ạ, phải biết quy luật của cuộc sống: Có những người ở địa vị cao và có những người ở địa vị thấp kém, trong khi họ còn ở đúng vị trí của mình thì mọi chuyện tốt lành, còn cứ hễ từ trên tụt xuống dưới hoặc từ dưới trèo lên trên là tiêu đời! Mắc kẹt giữa đường – không đi đâu được, và sẽ như thế suốt đời! Suốt cả đời, anh bạn ạ! Nghĩa là hãy ngồi yên ở chỗ của mình, như số phận đã định... Hình như mưa ngừng rồi thì phải?
Phải, những giọt mưa rơi xuống mỗi lúc mỗi thưa hơn và mỏi mệt hơn, giữa những cuộn mây trên bầu trời ướt át hiện lên những vệt sáng gợi nhớ đến mặt trời.
– Anh kể đi!
Kalinin cười khẩy:
– Thú vị à? Thôi được, thế là tớ đã tin Lukyanov: “Cậu làm cho tớ bài thơ đi, làm ơn đi!”. Ngay ngày hôm sau anh ta đã chuẩn bị xong... tớ quên lời bài thơ ấy rồi... hình như là: “Bao ngày tháng trái tim tôi đã bị ngọn lửa tình và đôi mắt nàng nuốt mất, xin nàng hãy thương lấy nó!”. Tớ nhét bài thơ đó vào dưới tờ giấy trên bàn, tớ run lắm, tất nhiên rồi. Sáng hôm sau tớ vào dọn phòng, bỗng nhiên cô ấy bước ra, mặc chiếc áo ngủ màu đỏ mở phanh vạt, thuốc lá ngậm trong miệng, mỉm cười dịu dàng và vừa nói vừa chìa tờ giấy ra cho tớ: “Đấy là anh viết đấy à, anh Alexey?”. “Đúng thế ạ – tớ nói – vì Chúa, xin cô thứ lỗi”. Cô ấy nói: “Anh có trí tưởng tượng đấy, và thật là tiếc, bởi vì tôi đã đính ước rồi. Dượng tôi đã gả tôi cho ông bác sĩ Klyachka rồi, chẳng thể làm gì được nữa!”.
– Tớ sững người – cô ấy nói với tớ dịu dàng và đầy thương cảm làm sao. Klyachka, cái ông bác sĩ ấy, mặt đỏ gay, nhem nhuốc, hàng ria thì dài xuống tận vai, một người cục mịch vô cùng, luôn cười hô hô và kêu lên: “Chẳng có đầu, chẳng có đuôi, chỉ có mỗi một sự thỏa mãn thôi!”. Ông tướng cũng cười, rung cả người lên, và bảo: “Anh là một bác sĩ hài” – thế có nghĩa ông ta là một thằng hề. Tớ dạo đó trông như cây sậy, mặt mũi hồng hào, tóc uốn cong, ăn ở rất sạch sẽ. Tớ tiếp xúc với bọn con gái một cách thận trọng, khinh rẻ lũ gái điếm... nói chung là cư xử hết sức thanh lịch, trong tâm hồn có một mơ ước cao đẹp. Và rượu cũng không uống, thấy khó chịu khi uống... về sau thì tớ uống. Mỗi thứ bảy tớ đều tắm ở nhà tắm hơi.
Buổi chiều tất cả bọn họ, cả Klyachka nữa, đi xem hát; ông tướng tất nhiên có ngựa của riêng mình, còn tớ thì đến nhà Lukyanov kể cho anh ta nghe mọi chuyện. “Nào – anh ta nói – xin chúc mừng, cho tớ hai cốc bia đi, việc của cậu thế là thuận lợi quá rồi! Đưa ba rub nữa đây, tớ sẽ sáng tác thêm thơ cho cậu. Thơ – anh ta nói – đó là một thứ ma thuật, cũng như các câu bùa chú vậy”.
Và thế là anh ta viết bài hát về nàng Valentina diệu kỳ – nghe rất cảm động và dễ hiểu. Ôi Chúa ơi...
Kalinin trầm ngâm lắc lắc đầu và hướng cặp mắt trẻ con nhìn lên những vệt trời xanh biếc vừa được mưa rửa sạch.
– Cô ấy tìm thấy bài thơ, – anh ta nói một cách miễn cưỡng – bèn gọi tớ lại và hỏi: “Chúng ta sẽ ra sao đây, anh Alexey?”.
Bản thân cô ấy thì ăn mặc hở hang, tớ suýt nhìn thấy cả bộ ngực, và đôi chân cô ấy cũng để trần, chỉ đi mỗi đôi giày nhỏ. Cô ấy ngồi trên ghế bành, đong đưa chân khêu gợi.
“Chúng ta sẽ ra sao?” – Cô ấy nói.
Chẳng lẽ tớ lại biết được ư? Tớ như không còn ở trên mặt đất nữa. “Anh có biết im lặng không?” – Cô ấy hỏi.
Tớ gật đầu, nhưng hoàn toàn không thể mở miệng nổi. Cô ấy cau mày, đứng dậy cầm hai cái lọ gì đó, trút từ đó ra thứ bột cho vào trong một cái phong bì, đưa cho tớ và nói: “Tôi thấy chỉ có một lối thoát cho những đau khổ: Đây là gói bột, hôm nay bác sĩ sẽ ăn trưa ở nhà ta, anh hãy bỏ nó vào trong đĩa của ông ta, và vài hôm nữa tôi sẽ được tự do đến với anh!”.
Tớ làm dấu, cầm gói bột, nhưng mắt tớ nhòa đi và đôi chân cứng đờ ra. Tớ không nhớ điều gì đã xảy ra với mình, trong người như chết lặng đi và cho đến khi cái ông Klyachka đến tớ chẳng còn biết cái gì cả...
Kalinin rùng mình, răng va lập cập, sợ hãi nhìn tôi. Anh ta vội vã trở mình.
– Nhất định phải đốt lửa thôi, tớ rét run lên rồi! Nào, bò ra đi...
Bóng râm do những tảng mây tỏa xuống kéo dài mệt mỏi trên mặt đất ướt át, trên những phiến đá sáng bóng và trên những vạt cỏ được mưa phủ ánh bạc. Những đám mây tụ trên đỉnh núi dày đặc, phía vành ngoài tỏa ra màn khói trắng. Biển được cơn mưa trấn an nên vỗ nhẹ nhàng hơn, buồn bã hơn, những mảnh trời xanh trở nên dịu dàng và ấm áp hơn. Những tia nắng mặt trời lơ đãng chiếu xuống đất và biển, khi chúng chạm vào những ngọn
cỏ, cỏ vụt bừng lên màu ngọc bích và ngọc trai, mặt biển xanh thẫm phản chiếu ánh mặt trời hào phóng và cháy lên những sắc màu rực rỡ. Mọi vật xung quanh thật dễ chịu, thật sáng sủa, y như gió và mưa đã đuổi được mùa thu đi và mùa hè trong lành lại quay trở về.
Giữa tiếng chân chúng tôi bước lạo xạo và tiếng những giọt nước mưa vui vẻ rớt xuống, tôi lắng nghe giọng kể chuyện mệt mỏi, càu nhàu:
– Hừ... Tớ mở cửa cho ông bác sĩ và không dám ngước nhìn ông ta, cái đầu như rơi xuống, ông ta nâng cằm tớ lên và hỏi: “Sao hôm nay cậu vàng vọt vậy? Có chuyện gì vậy?”.
Ông ta là người tử tế... hơn nữa lại hay cho tiền boa rất hào phóng và nói chung thường nói chuyện với tớ rất dễ chịu... y như tớ không phải là đầy tớ vậy...
“Tôi không được khỏe...” – Tớ nói. Ông ta bảo: “Nào, để sau bữa trưa tôi sẽ khám cho cậu, đừng lo lắng quá”.
Lúc đó tớ hiểu rằng tớ không thể đầu độc ông ta được, mà chính mình phải uống cái thứ thuốc bột đó, phải, chính bản thân mình! Như có ánh chớp chiếu vào tim, tớ nhận ra tớ đang đi con đường mà số phận không dành cho tớ, vì thế tớ chạy về buồng mình, rót một cốc nước, đổ gói bột vào – cốc nước đục ngầu, sôi lên và sủi đầy bọt. Khủng khiếp quá, nhưng tớ vẫn uống. Không cảm thấy người nóng bỏng. Tớ lắng nghe bên trong người mình, không thấy gì cả, mà trong đầu lại còn cảm thấy sáng suốt lên, mặc dù cũng thấy thương thân mình, suýt phát khóc... Nào ta ngồi xuống đây!
Một tảng đá lớn, bên trên phủ rêu xanh thẫm và các loại dây leo trông như đang đội mũ, thân thiện nghiêng khuôn mặt to tướng phẳng phiu xuống đất, hệt như vị tráng sĩ Svyatogor[24] đã chui xuống lòng đất vì sức hút của nó, chỉ còn lại trên mặt đất cái đầu, với khuôn mặt mờ đi vì những suy tư qua bao thế kỷ. Khắp xung quanh những cây sồi mọc dày đặc, xúm xít, chúng trông như cũng được khắc ra từ đá, cành của chúng đụng vào những nếp nhăn của hòn đá già cỗi. Dưới mái che của đá rất khô ráo và ấm cúng. Kalinin ngồi xổm bẻ những cành khô, nói:
– Giá nãy mình trú mưa ở đây nhỉ...
– Nào, anh kể tiếp chuyện đi...
– Ờ... Cậu châm lửa lên đi...
Xích tấm thân mảnh mai vào sâu dưới tảng đá, anh ta duỗi người trên mặt đất và uể oải tiếp tục:
– Tớ khe khẽ đi vào phòng để đồ ăn, đôi chân tớ loạng choạng, trong ngực thì lạnh ngắt. Bỗng tớ nghe trong phòng khách tiếng Valentina Ignatyevna cười vui vẻ, và vọng qua phòng ăn tiếng của ông tướng:
– Bọn dân đen của ta ấy ư? Họ chỉ cần năm xu là sẵn lòng làm mọi thứ! Còn người tớ yêu thì hét lên:
– Dượng ơi, không lẽ cháu chỉ đáng giá năm xu thôi sao? Rồi ông bác sĩ nói:
– Cô đưa cho cậu ta cái gì vậy?
– Xô-đa với men chua. Ôi trời ơi, sẽ buồn cười lắm đây...
Kalinin nín lặng, nhắm mắt lại.
Ngọn gió ẩm ướt thở dài, cuốn làn khói đặc lên những cành cây đen thẫm.
– Đầu tiên tớ vui mừng vì mình sẽ không chết – chỉ có xô-đa với men chua, thứ đó không có hại, người ta vẫn uống để giã rượu. Rồi sau đó tớ bỗng tỉnh ra: Chẳng lẽ có thể đùa như thế? Tớ nào có phải là thằng khờ đâu!... Nhưng dù sao thì tớ cũng cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Họ bắt đầu ăn trưa, tớ múc nước xúp gà vào các chén, mọi người đều im lặng. Ông bác sĩ là người đầu tiên nếm thử món xúp, ông ta nhấc chén lên, cau mặt và hỏi: “Xin hỏi cái gì đây?” – Ồ không đâu, tớ nghĩ, trò đùa của các ngài không
thành đâu, thưa các ngài! – Thế là tớ nói một cách hết sức lịch sự: “Xin ngài yên tâm, ngài bác sĩ ạ, cái bột đó chính tôi đã uống rồi...”
Ông tướng và vợ ông ta không biết là trò đùa không thành nên vẫn cười to, còn hai người kia thì im lặng, đôi mắt Valentina Ignatyevna mở càng lúc càng to ra, và cô ấy khẽ hỏi:
– Anh biết là nó không độc phải không?
– Không, khi tôi uống thì tôi chưa biết...
Ngay lúc đó tớ ngã lăn ra đất và ngất đi.
Khuôn mặt bé nhỏ của anh ta nhăm nhúm lại một cách đau đớn, trở nên già nua và đáng thương. Anh ta quay ngực về phía đống lửa, phẩy tay xua làn khói đang tinh nghịch và lười nhác luồn vào trong góc.
– Tớ ốm mất mười bảy ngày. Ông bác sĩ đó đến, cái ông Klyachka ấy – họ của ông ta là thế – ông ta ngồi xuống cạnh tớ, hỏi: “Nghĩa là chính cậu muốn tự đầu độc hả, cái anh chàng ngốc này?”.
Ông ta gọi tớ như thế đấy: anh chàng ngốc. Thì chuyện đó có can gì đến ông ta? Tớ có xé xác mình cho chó ăn cũng được... Valentina Ignatyevna không ghé thăm tớ lấy một lần... từ đó tớ cũng không bao giờ gặp cô ấy nữa... Họ ngay sau đó đã kết hôn và đi về Kharkov, Klyachka có một chỗ làm ở một doanh trại vùng Chuguyev. Tớ ở lại một mình với ông tướng. Ông ấy cũng được, một ông già thông minh, chỉ tội thô lỗ. Tớ khỏi ốm, ông ấy gọi tớ lại và gợi chuyện: “Mày thật là một thằng ngu, và tất cả những cuốn sách tồi tệ đã làm hỏng mày!” – Mà tớ thì có đọc cuốn sách nào đâu, tớ chẳng ưa gì chuyện đọc sách. Ông tướng nói: “Chỉ trong cổ tích mới có chuyện những thằng ngốc cưới được công chúa thôi. Cuộc đời là một ván cờ, mỗi con cờ có đường đi của mình, không có thế thì chẳng còn là trò chơi nữa!”.
Kalinin hơ đôi tay mảnh mai vốn không quen lao động lên trên lửa, và cười khẩy nháy mắt với tôi.
– Tớ tiếp thu một cách nghiêm túc những lời đó của ông già: “Nghĩa là như thế sao?” – Tớ thầm nghĩ – “Còn nếu như tôi không muốn chơi với các người nữa và không muốn thí cuộc đời mình vào trò chơi đó mà chẳng biết vì lẽ gì thì sao?”.
Anh ta ngẩng đầu đắc thắng.
– Từ đó tớ bắt đầu nhìn vào trò chơi đó của họ, và tớ nhận ra rằng tất cả bọn họ đều sống giữa đủ thứ vặt vãnh, khổ sở vì chúng và tất cả những thứ đó đều chẳng có giá trị gì cả. Nào sách, nào khung hình, nào bình hoa và đủ thứ vớ vẩn khác, còn tớ thì phải đi giữa tất cả những thứ đó, lau chùi bụi và cố tránh không làm vỡ, không làm gãy. Tớ không muốn như thế nữa! Chẳng lẽ mẹ tớ sinh tớ ra chỉ để lo toan cho những thứ đó suốt đời thôi sao? Không, tớ không muốn, xin nhổ toẹt vào trò chơi của các người, còn tớ sẽ sống sao cho mình trở nên tốt hơn, sống như mình thích...
Trong đôi mắt anh ta bùng lên những tia lửa xanh, những ngón tay giần giật đan vào nhau, và anh ta vẩy vẩy chúng trên đống lửa như muốn cắt những ngọn lửa.
– Tất nhiên không phải ngay lập tức tớ hiểu ra điều đó, mà hiểu ra dần dần. Người củng cố chắc chắn ý nghĩ đó trong tớ là một vị trưởng lão ở Baku – một con người hết sức thông thái! Ông ấy nói: “Không nên ràng buộc linh hồn mình với bất cứ cái gì cả: với công việc, với tài sản, với đàn bà, với cả mọi thứ hấp dẫn của thế giới này, đừng dính vào. Hãy sống một mình và chỉ yêu mến Chúa thôi. Chúa – đó là điều duy nhất vĩnh viễn đúng, điều duy nhất vĩnh viễn chắc chắn”...
– Úi! – Anh ta sôi nổi kêu lên, phùng má và đỏ bừng mặt lên vì một nỗ lực bên trong nào đó. – Tớ đã thấy biết bao nhiêu vùng đất và biết bao nhiêu con người, và cũng có biết bao người trên đất Nga này hiểu được mình và không muốn sa mình vào những thứ tầm thường vớ vẩn đó. “Rời xa tội ác đã là tạo được điều lành rồi”, ông già nói với tớ như vậy. Tớ đã hiểu điều đó từ trước đó. Chính bản thân tớ cũng đã từng nói với những người khác như thế, và tớ sẽ còn nói như thế nữa... Tuy nhiên, mặt trời lặn
mất rồi kìa! – Anh ta đột nhiên cắt đứt những phát biểu tự đắc của mình, thốt lên một cách bồn chồn, buồn bã.
Mặt trời to đỏ rực đang nặng nề tụt xuống biển. Giữa mặt trời và mặt biển là những tảng núi mây tối sẫm với những đỉnh như phủ tuyết trắng.
– Thế là tối mất rồi – vừa sờ vào cái áo kaftan, anh ta vừa rên rỉ – mà ở đây ban đêm bọn chó lang hay hú lắm. Cậu có biết chó lang không?
– Chó núi ấy à?
– Đúng ra phải gọi là chó lang.
Ba đám mây trông như hình những người Thổ Nhĩ Kỳ mặc áo dài đỏ thẫm và đội khăn xếp trắng đang cụng đầu vào nhau bí mật trò chuyện về điều gì đó, rồi trên lưng một người phồng lên một cái bướu, trên khăn xếp của người thứ hai mọc ra một cái lông chim trắng hồng, nó bứt ra và bay lên không trung, lên phía mặt trời đang trầm tư, mặt trời không tỏa ra tia nắng nào thành ra trông giống như mặt trăng. Người Thổ Nhĩ Kỳ thứ ba tiến lên phía trước, uốn cong lại trên mặt biển và che khuất hai người đối thoại của mình, một cái mũi đỏ to tướng đùn ra từ cái khăn xếp của ông ta và gí xuống ngửi mặt biển một cách rất tức cười.
– Ông già mù bện giày cỏ khéo lắm, hơn khối người thông thái bện cuộc đời của họ. – Giữa tiếng tí tách của ngọn lửa vang lên giọng nói đều đều của Kalinin.
Tôi không còn muốn nghe anh ta nữa; những sợi chỉ kéo tôi lại với anh ta bỗng như đột nhiên bị đốt cháy và đứt mất. Chỉ muốn lặng yên nhìn ra biển và nghĩ ngợi về một cái gì đó, cái mà chiều tối thường âm thầm và dịu dàng làm xúc động tâm hồn. Những lời nói của anh ta rơi như những giọt nước mưa muộn màng.
– Mọi người đều chõ mũi vào hỏi nhau: Anh sống ra sao? Rồi dạy khôn nhau: Anh không nên sống như thế! Nhưng có ai biết được phải sống như thế nào với cái sức lực tràn đầy này của tôi? Không ai biết gì cả! – Hãy cứ để mỗi người sống như anh ta muốn, đừng có ép buộc người ta! Tôi chẳng
muốn gì ở anh, thì anh cũng đừng đòi hỏi gì ở tôi. Và đừng có mong đợi điều đó. Còn cha Vitaly lại chứng minh điều ngược lại: Con người trên thế gian này cần phải là chiến sĩ chống lại cái ác...
Trên hoang mạc trong bóng chiều hiện lên con đường mòn đỏ như máu – có phải chăng những con người tốt nhất thế gian đã và đang vô hình đi trên con đường đó, đổ xuống đó dòng máu nóng một cách chẳng uổng công?
Bên phải và bên trái của con đường lửa sống động đó là biển với màu đỏ huyết dụ kỳ lạ, ở phía xa hơn nó chuyển thành màu đen và mềm mại như nhung, đâu đó xa xa ở phía đông lóe lên ánh chớp câm lặng, y như có bàn tay vô hình đánh diêm lên nền trời ẩm ướt nhưng không thể nào đốt cháy được.
Kalinin tức tối nói về cha Vitaly, người trông coi công việc ở tu viện Novo-Afonsky. Tôi nhớ đến khuôn mặt thông minh, vui vẻ của ông thầy tu, với hàm răng trắng ngà hé ra giữa chòm râu nửa đen nửa trắng. Nheo đôi mắt đẹp như mắt phụ nữ, với giọng trầm ấm cuốn hút, nhấn mạnh ở âm ô, ông nói:
– Khi dân chúng tôi đến, lúc đó ở đây là một cảnh hoang dại lộn xộn kinh khủng: các loại dây leo mọc khắp nơi, cỏ gai biển mắc cả vào chân, và đủ thứ như vậy! Còn bây giờ thì anh trông, bao nhiêu cảnh đẹp vĩ đại do tay người tạo nên và thật huy hoàng làm sao!
Ông tự hào dùng tay và mắt vẽ nên một vòng tròn rộng trên không trung: Trong cái vòng tròn ấy, như trong một tấm khung, là dãy núi được bao phủ bởi vườn cây trái, dưới chân cha Vitaly là dải bạc của thác nước và dãy cầu thang được đẽo vào trong đá dẫn đến hang của Simon Kanonit. Còn dưới kia, những chóp vàng của ngôi nhà thờ mới xây cháy sáng lên dưới ánh mặt trời ban trưa, những khu nhà khách và nhà nguyện màu trắng ẩn mình trong cây, những hồ cá như những tấm gương, và khắp nơi là cây cối được chăm chút tươi tốt mượt mà.
– Người anh em ạ, khi nào con người muốn, anh ta có thể đánh thắng được mọi hỗn mang. – Cha Vitaly nói một cách trịnh trọng hân hoan.
– Tớ mới dồn ông ấy: “Chúa Giê-su của chúng ta cũng là con người không nhà cửa, đất đai, Người đã chối từ cuộc sống đầy lo toan của trần gian.” – Kalinin kể, lúc lắc cái đầu, và đôi tai của anh ta cũng rung rinh theo. – “Người chẳng phải của những kẻ thấp hèn, cũng chẳng thuộc những người cao sang, mà như tất cả những người công minh vĩ đại khác, Người chẳng vươn lên cao, chẳng hạ xuống thấp. Còn khi cùng thánh Yuri và thánh Nikola đi qua các làng quê trên đất Nga[25], Người cũng không xen vào chuyện của hai ngài ấy; hai ngài tranh luận về con người, còn Người thì im lặng!” Điều tớ nói đã chọc tức cha Vitaly, ông ấy nổi giận hét: “A, đồ dốt nát, đồ dị giáo!”.
Dưới phiến đá ngột ngạt và đầy khói, đống lửa trông như một bó những bông hoa anh túc, hoa đỗ quyên và nhiều bông hoa gì đó mang sắc vàng. Lửa sống một cuộc đời thật đẹp, cháy lên và sưởi ấm, vui vẻ linh hoạt reo lên tiếng cười sáng rực.
Cơn gió ẩm lặng lẽ thổi từ trên núi, từ những đám mây xuống, mặt đất thở nặng nề và ướt át, biển quánh giọng hát một bài hát trầm tư không rõ lời.
– Thế nào, ta ngủ đêm lại đây chứ? – Kalinin quan tâm hỏi. – Không, tôi phải đi đây.
– Hừ, thì thôi! Ta cùng đi...
– Tôi không cùng đường với anh...
Anh ta đang ngồi xổm, lôi từ trong bị ra bánh mì và mấy quả lê, nhưng khi nghe tôi trả lời lại nhét chúng trở vào, buộc thắt bị lại, giận dữ hỏi:
– Vậy cậu đi với tớ làm gì?
– Để trò chuyện. Anh là người thú vị...
– Tất nhiên là thú vị rồi, những người như tớ không có nhiều đâu, người anh em ạ!
Mặt trời trông như quả đậu biển khổng lồ đỏ nhờ nhờ còn chưa lặn hẳn, và những con sóng vẫn chưa thể ngoạm hết con đường lửa trên mặt đất. Nhưng rồi mặt trời cũng chìm vào trong mây, bóng tối lập tức đổ ào ra và trên bầu trời ngay lúc đó bùng lên những ngôi sao to lớn dịu hiền. Đất trong bóng tối trở nên bé nhỏ như trái tim con người vậy.
– Tạm biệt!
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn mềm mại, anh ta nhìn vào mắt tôi với ánh mắt trong sáng như con trẻ và nói:
– Còn tớ sắp tới sẽ đến chỗ cậu đấy!
– Đến Gudauta ấy ư?
– Ừ phải...
... Và thế là tôi lại một mình, trong bóng đêm, trên mặt đất rất đỗi thân thương, tôi lạ lẫm với tất cả và cũng lại gần gũi với tất cả, tôi là người được cuộc sống hào phóng tạo nên và cũng là người bằng sức mình đang gắng tạo nên cuộc sống.
Ngày lại ngày càng có thêm hằng hà sa số những sợi chỉ nối kết trái tim tôi với thế giới, và trái tim ấy đang vun xới tình cảm yêu thương với cuộc đời.
Biển hát khúc quân hành trong đêm; những tảng đá được sóng vuốt ve trầm trầm rền lên trả lời. Đàn chim trắng mờ bay qua hoang mạc tối đen. Xa xa phía chân trời ráng chiều vẫn chưa tắt hẳn, và trên vòm trời cao đã lấp lánh ánh sao.
Những ngọn cây thiu thiu rùng mình, thả xuống mặt đất những giọt nước mưa. Nước dưới chân nức nở những âm thanh đều đặn và ngái ngủ.
Tôi đi trong bóng tối, tự soi đường cho mình. Tôi cảm thấy như mình là một ngọn đèn, trong lồng ngực trái tim cháy thành ngọn lửa hồng, và thật
mong muốn làm sao cho có người nào đó đang sợ hãi lạc trong bóng đêm nhìn thấy được ngọn lửa bé nhỏ này...
[3] Tên một tu viện ở Novy Afon (tức Afon Mới, tiếng Anh là New Athos): một thành phố nhỏ vùng Abkhazia trên bờ Biển Đen. Trước Cách mạng Tháng Mười 1917, tu viện Novo-Afonsky là một trong những tu viện của Chính Thống giáo lớn nhất được xây dựng ở đây, rồi sau đó các khu dân cư được tạo dựng nên xung quanh tu viện. Dưới thời Xô viết, nơi đây trở thành khu nghỉ mát, an dưỡng. (ND)
[4] Tên một thành phố nhỏ gần Nizhni Novgorod. (ND)
[5] Người vùng Abkhazia, một dân tộc thiểu số thuộc Gruzia ở Kavkaz. (ND) [6] Tức thành phố Nizhni Novgorod, quê hương của Gorky. (ND) [7] Một thành phố nằm ở trung tâm nước Nga, bên bờ sông Don. (ND) [8] Gorky tên thật là Alexey Peshkov. (ND)
[9] Một thành phố vùng Tây Nam nước Nga. (ND)
[10] Một thành phố cảng trên Biển Đen, từ năm 1821 trở thành thủ đô nước Cộng hòa tự trị Abkhazia. (ND)
[11] Thơ của nhà thơ Nga nổi tiếng M. Lermontov (1814 – 1841), cũng như nhiều bài thơ khác của ông, bài này đã được các nhạc sĩ phổ nhạc. (ND)
[12] Thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (a – mất, không có; phone – thanh, giọng) – hiện tượng bị mất tiếng khi nói nhỏ thường gặp do bị bệnh ở thanh quản. (ND)
[13] Tên gọi Nakopioba có âm thanh gần với từ nakopit – tiếng Nga có nghĩa là tích cóp. (ND)
[14] Simon Kanonit (hay Simon Cananeus): một trong mười hai vị thánh mà theo Phúc Âm là người đã đưa Thiên Chúa giáo vào vùng Abkhazia. (ND)
[15] Thơ của nhà thơ Đức H. Heine, được dịch sang tiếng Nga và được nhạc sĩ P. Tchaikovsky phổ nhạc. (ND)
[16] Một thành phố cảng bên bờ Biển Đen. (ND)
[17] Kaftan – một loại áo khoác dài, tay áo rất dài (có khi chấm đất), ở Nga người ta hay mặc loại áo này cho đến đầu thế kỷ XX.
[18] Theo Phúc Âm, Chúa đã dùng roi đuổi đánh bọn lái buôn ra khỏi đền thờ Jerusalem, nơi thờ Chúa Trời, khi chúng bày hàng buôn bán ở đó. (ND)
[19] Tên một thành phố cảng trên sông Volga. (ND)
[20] Bệnh sốt rét (malaria): dân gian Nga cho rằng do một người thợ sơn (maliar) mang đến. (ND)
[21] Lò sưởi ở Nga trước kia thường được xây to vừa để sưởi ấm, vừa để nấu thức ăn, phía trên lò sưởi thường được dùng làm nơi để ngủ. (ND)
[22] Một tỉnh nằm ở trung tâm nước Nga. (ND)
[23] Một bài hát của người Digan. (ND)
[24] Nhân vật trong truyền thuyết dân gian Nga, là người có sức khỏe phi thường. (ND)
[25] Ở đây nhắc đến một câu chuyện cổ tích Nga có nguồn gốc từ Kinh Thánh. (ND)
- Trên thảo nguyên -
Chúng tôi rời Perekop trong tâm trạng tồi tệ nhất, đói khát như lũ sói và căm hận cả thế giới. Suốt nửa ngày trời uổng công vận dụng mọi sức lực và tài nghệ của mình để tìm kiếm việc làm hay ăn trộm được cái gì đó, và khi đã hoàn toàn tin rằng, cả kiếm việc làm lẫn ăn trộm đều không được, chúng tôi quyết định đi xa hơn. Đi đâu ư? Chỉ miễn là đi xa hơn nữa thôi.
Chúng tôi quyết ra đi, bởi chúng tôi cũng đã sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình trên con đường đời mà mình đang theo đuổi. Quyết định đó đến với chúng tôi trong sự lặng im: Không ai trong chúng tôi nói lên thành lời, song nó hiển hiện trong ánh nhìn giận dữ từ những đôi mắt đói khát.
Chúng tôi có ba người cả thảy. Chúng tôi quen nhau cách đây không lâu, khi tình cờ gặp nhau ở một quán trọ trong thành phố Kherson bên sông Dniepr. Một người từng là lính phục vụ trong quân đoàn vận tải đường sắt rồi hình như sau đó làm công nhân đường sắt; anh ta là một người tóc hung, gân guốc, biết nói tiếng Đức và rất thông thạo về cuộc sống trong các nhà tù.
Những người thuộc hạng như chúng tôi ít khi thích nói về quá khứ của mình, và luôn có những lý do chính đáng để không phải làm việc đó. Vì thế, tất cả chúng tôi đều tin nhau, nghĩa là chỉ tin nhau ở bên ngoài thôi, còn thực trong lòng mỗi người thì ngay cả chính bản thân mình còn chưa tin mấy nữa là.
Khi người bạn thứ hai của chúng tôi, một người nhỏ bé khô khan với đôi môi mỏng luôn mím chặt đầy vẻ đa nghi, kể rằng anh ta từng là sinh viên của trường Đại học Tổng hợp Moskva, tôi và anh lính liền thừa nhận điều đó. Thực sự thì đối với chúng tôi, anh ta có là sinh viên, thám tử hay kẻ cắp thì cũng như nhau cả thôi, bởi vào lúc gặp chúng tôi, anh ta cũng đói khát, cũng được cảnh sát hết sức quan tâm, cũng bị nông dân ở các làng nghi ngờ, anh ta cũng ghét cả hai loại người đó bằng sự căm ghét của con thú bị săn đuổi đang đói khát, và anh ta cũng mơ ước được báo thù tất cả. Tóm lại,
cho dù về địa vị anh ta có thuộc hạng ông to bà lớn, là những ông chủ của cuộc đời đi nữa, thì về mặt tâm trạng anh ta cũng một giuộc với chúng tôi cả mà thôi.
Người thứ ba là tôi. Với sự hèn mọn bẩm sinh mà tôi đã bộc lộ từ thời thơ ấu, tôi chẳng khoe những ưu điểm, nhưng cũng chẳng dại gì mà nói ra những nhược điểm của mình. Thế nhưng phải nói rằng tôi có cái tính luôn coi mình tốt hơn so với người khác, và đến tận bây giờ vẫn như vậy.
Vậy là chúng tôi rời Perekop và đi xa hơn, với mục đích lùng cho ra những người chăn cừu. Luôn có thể xin bọn người chăn cừu được ít bánh mì, họ hiếm khi từ chối cho bánh những kẻ lang thang.
Tôi đi bên cạnh anh lính, chàng “sinh viên” đi phía sau. Vai anh “sinh viên” khoác một cái gì đó trông giống như chiếc áo vét, trên cái đầu nhọn có góc cạnh với mái tóc cắt ngắn chễm chệ những mảnh còn sót lại của một chiếc mũ rộng vành; chiếc quần xám vá chằng vá đụp ôm lấy đôi cẳng chân, còn miếng đế ủng nhặt ở dọc đường được anh ta buộc vào bàn chân bằng những sợi dây bện từ vải lót áo khoác, anh ta gọi cái công trình đó là dép xăng-đan. Anh ta im lặng đi, chân hất tung lên rất nhiều bụi, đôi mắt nhỏ màu xanh lấp lánh. Anh lính mặc chiếc áo sơ-mi vải điều mà anh ta bảo “chính tay mình” lấy được ở Kherson, ngoài sơ-mi còn có chiếc áo gi-lê bằng bông ấm áp; trên đầu là chiếc mũ lính không xác định được là màu gì, đội theo đúng quân lệnh, tức là “lệch xuống phía lông mày bên phải”; trên đôi chân xênh xang hai ống quần rộng. Anh lính đi chân đất.
Tôi cũng vậy, cũng có cái khoác trên người và đi chân đất.
Xung quanh chúng tôi, thảo nguyên trải ra hùng vĩ, dưới vòm trời oi bức không một bóng mây, trông nó như một cái đĩa tròn khổng lồ đen ngòm. Con đường xám bụi mù vạch một vệt lớn trên thảo nguyên và đốt cháy chân chúng tôi. Thỉnh thoảng lại gặp những đám ruộng đầy gốc rạ khô cứng, trông giống một cách lạ thường với đôi má đã lâu chưa cạo của anh lính.
Anh lính vừa đi vừa hát bằng một giọng trầm khàn khàn:
– ... Và chúng con hát ngợi ca Người sống lại thiêng liêng...
Trong thời gian phục vụ quân đội anh ta được giao việc gì đó đại loại như trông coi nhà thờ của quân đoàn, nên biết vô số những Thánh thi, Thánh ca, kiến thức đó của anh ta còn bị lạm dụng mỗi khi chúng tôi vì lý do nào đó mà không trò chuyện được với nhau.
Ở phía chân trời trước mặt nhô lên những hình thù mềm mại với những sắc màu dịu dàng từ tím nhạt chuyển sang phớt hồng.
– Đó hẳn là dãy núi Krưm. – Anh chàng “sinh viên” nói.
– Núi ư? – Anh lính thốt lên – Cậu thấy nó quá sớm đấy, anh bạn ạ. Đó là... những đám mây. Thấy không, những đám mây hệt như nước quả nham lê trộn sữa...
Tôi cảm thấy thật tuyệt vời nếu như đám mây đúng là làm bằng nước quả.
– Ôi, quỷ thật! – Anh lính rủa và nhổ bọt – Ước sao gặp được một ai đó! Chẳng có một mống nào cả... Chắc đến phải liếm chân cho no bụng như lũ gấu mùa đông thôi...
– Tôi đã bảo là phải đi về hướng có nhà dân mà. – Chàng “sinh viên” phát biểu với vẻ dạy đời...
– Đã bảo! – Anh lính nổi cáu – Cậu thông thái lắm đấy để bảo người ta. Hướng nào là hướng có nhà dân? Có quỷ mới biết họ ở đâu!
Chàng “sinh viên” im lặng mím môi lại. Mặt trời đã xế bóng, những đám mây ở phía chân trời phô bày những sắc màu không lời nào tả nổi. Mùi đất và mùi muối mặn mòi bốc lên.
Cái mùi khô khan ngon lành đó làm cơn thèm ăn của chúng tôi càng mãnh liệt hơn.
Những cái dạ dày cồn cào. Đó là một cảm giác kỳ lạ và khó chịu: dường như nước trong mọi thớ thịt trên cơ thể đều bị rút đi đâu hết, bốc hơi hết, do vậy những thớ thịt trở nên cứng đờ ra. Cảm giác khô gắt dâng đầy miệng và
họng, đầu óc mụ mẫm, còn trước mắt bỗng vụt hiện lên những đốm màu tối sẫm. Thỉnh thoảng chúng trông giống như những miếng thịt bốc khói, những cái bánh mì tròn; ký ức lại thêm vào những “ảo ảnh xa xôi, ảo ảnh câm lặng” đó mùi thơm đặc trưng, và dạ dày y như bị dao đâm.
Dù sao thì chúng tôi vẫn cứ đi, vừa đi vừa chia sẻ với nhau những cảm xúc của mình, đôi mắt vẫn tinh tường chiếu khắp các phía xem có đàn cừu nào ở đâu đó hay không, và đôi tai vẫn lắng nghe xem có tiếng xe của người Tatar chở trái cây ra chợ Armenya bán hay không.
Nhưng thảo nguyên vẫn hoang vắng, lặng thinh.
Trước cái ngày nặng nề đó, ba chúng tôi đã ngốn hết bốn funt bánh mì làm bằng lúa đại mạch và năm quả dưa hấu, đi bộ gần bốn mươi dặm đường – ăn vào chẳng bõ chân đi – rồi thiếp ngủ trên bãi chợ Perekop, và tỉnh giấc vì cơn đói.
Chàng “sinh viên” khuyên chúng tôi đêm không nên nằm ngủ mà phải làm cái gì đó... nhưng, những ý đồ xâm phạm sở hữu của người khác, giữa những người tử tế thì không nên nói ra mồm, tôi đành im lặng. Tôi chỉ muốn tỏ ra ngay thật, chứ tỏ ra thô lỗ thì chẳng có lợi gì cho tôi cả. Tôi biết rằng vào thời buổi văn hóa cao như bây giờ, người ta trở nên lịch thiệp hơn, thậm chí cả khi tóm lấy cái yết hầu của người bên cạnh mình với mục đích rõ mười mươi là muốn bóp cổ anh ta, thì người ta cũng cố gắng làm điều đó một cách nhã nhặn nhất và tuân thủ đúng những phép lịch thiệp phù hợp với hoàn cảnh đó. Kinh nghiệm cái cổ họng của tôi đã buộc tôi phải nhận ra sự tiến bộ đạo đức đó, và với một cảm xúc dễ chịu đầy tin tưởng, tôi xin khẳng định rằng trên thế giới này mọi thứ đều đang phát triển, đang hoàn thiện. Cái tiến trình tuyệt diệu đó phần nào đã được xác thực bằng việc các nhà tù, quán rượu và nhà thổ cứ tăng lên hàng năm...
Thế là, vừa nuốt nước bọt, cố gắng trò chuyện vui vẻ để trấn át cơn đói cồn lên trong dạ dày, chúng tôi vừa cuốc bộ trên thảo nguyên mênh mông vắng lặng đang phản chiếu ánh đỏ của chiều tà. Đằng trước chúng tôi, mặt trời lặng lẽ lặn vào đám mây mềm mại đang được những tia nắng hào
phóng quét màu, còn sau lưng và bên cạnh chúng tôi, màn sương mù xanh xanh từ thảo nguyên bốc lên cao, nuốt dần đường chân trời ảm đạm.
– Nào các anh em, đi kiếm cái gì để đốt lửa thôi! – Anh lính bảo chúng tôi – Ta phải ngủ đêm trên thảo nguyên thôi. Có sương muối đấy! Phân khô[26], cành cây, nhặt tuốt về đây!
Chúng tôi tản đi tìm cỏ khô và tất cả những gì có thể đốt sưởi được. Mỗi lần phải cúi xuống đất, trong người dậy lên nỗi khao khát được nằm vật xuống mà ăn đất, những miếng đất đen béo nhẫy, ăn thật nhiều, ăn đến mệt lử cả người rồi sau đó ngủ thiếp đi. Nếu phải ngủ vĩnh viễn cũng được, miễn là được ăn, nhai và cảm thấy cái chất nhao nhão đặc quánh, âm ấm từ miệng chầm chậm chui qua thực quản mà tuột xuống cái dạ dày đang cháy bỏng mong muốn được hút vào mình cái gì đó.
– Giá như kiếm được thứ rễ củ gì đó. – Anh lính thở dài – Có những loại rễ có thể ăn được...
Nhưng chẳng có thứ rễ củ nào cả trong lòng đất đen đã được cày xới này. Đêm phương Nam đến rất nhanh, tia nắng cuối cùng chưa kịp tắt hẳn thì trên bầu trời xanh sẫm đã lóe lên những vì sao, bóng tối kéo càng lúc càng dày đặc hơn quanh chúng tôi, trùm lên khắp mặt thảo nguyên mênh mông...
– Anh em ơi! – Chàng “sinh viên” thì thào – ở phía trái kia có người đang nằm...
– Người à? – Anh lính nghi ngờ – Hắn ta nằm đó để làm gì?
– Anh tới hỏi đi. Nếu đã ra thảo nguyên nằm thì có lẽ hắn có bánh mì đấy.
Anh lính nhìn về hướng có người nằm, rồi nhổ bọt dứt khoát: – Ta lại chỗ hắn đi!
Chỉ có đôi mắt xanh sắc lẹm của anh “sinh viên” mới nhìn ra cái đống đen đen nhô lên phía trái cách con đường hàng năm chục xagien[27] kia là
con người. Chúng tôi tới chỗ anh ta, chân bước nhanh qua những đám đất cày. Niềm hy vọng được ăn lóe lên trong lòng càng làm chúng tôi đói cồn cào. Chúng tôi đã đến gần, nhưng không thấy người kia động đậy.
– Hay có khi đó chẳng phải là người. – Anh lính rầu rĩ nói ra ý nghĩ chung của cả ba.
Nhưng mối hoài nghi bị xua tan ngay lúc đó, bởi cái đống đen trên đất kia bỗng cựa quậy, lớn lên, và chúng tôi nhìn thấy đó chính là một con người thực sự, một con người sống hẳn hoi. Anh ta quỳ trên hai đầu gối, dang tay về phía chúng tôi và nói bằng một giọng khàn khàn run rẩy:
– Không được lại gần, tao bắn đấy!
Một tiếng nổ ngắn khô khốc vang lên trong không gian đục mờ.
Chúng tôi đứng phắt lại như theo hiệu lệnh, lặng người trong giây lát vì kinh ngạc trước sự tiếp đón không mấy thân thiện đó.
– Đồ khốn! – Anh lính lầm bầm đầy sức biểu cảm.
– Hừm, phải! – Chàng “sinh viên” trầm tư nói – Đi đường mà mang súng theo người... hẳn là cá sộp đây...
– Ê này! – Anh lính hét lên, chắc là đã có quyết định gì đó. Người kia không thay đổi tư thế, im lặng.
– Ê này! Chúng tôi không động đến anh đâu, chỉ cần đưa bánh mì đây thôi. Có bánh mì không hả? Vì Chúa, đưa đây, anh bạn!... Cái đồ chết tiệt!
Những từ cuối cùng anh lính phát ra ở dưới hàng ria.
Người kia vẫn im lặng.
– Anh có nghe thấy không hả? – Anh lính lại cất tiếng, run lên vì giận dữ và tuyệt vọng. – Hãy đưa bánh mì đây! Chúng tôi không lại gần anh đâu... ném nó lại đây...
– Thôi được, – người kia nói cộc lốc.
Anh ta có thể nói với chúng tôi: “Những người anh em thân quý của tôi ơi!”, và nếu như anh ta có thốt lên những lời đó với tất cả tình cảm thiêng liêng trong sáng nhất, thì chúng cũng không làm chúng tôi xúc động, không thể thức tỉnh nhân tính trong chúng tôi mạnh bằng cái câu cụt ngủn khô khan kia: “Thôi được!”.
– Anh đừng sợ chúng tôi, con người tốt bụng ạ! – Anh lính mỉm cười dịu dàng, mặc dù người kia chẳng thể trông thấy nụ cười ấy, bởi anh ta cách chúng tôi ít nhất là hai mươi bước chân. – Chúng tôi là những người lương thiện, chúng tôi từ Nga tới Kuban... bao nhiêu tiền dọc đường mất hết, thức ăn cũng hết sạch rồi, chúng tôi đã hai ngày nay không có gì vào miệng...
– Này bắt lấy! – Con người tốt bụng kia vung tay trong không khí. Một cục đen bay vụt lên và rơi xuống luống cày gần chúng tôi. Chàng “sinh viên” chồm tới bắt lấy.
– Bắt nữa này! Không có thêm nữa đâu...
Khi chàng “sinh viên” thu lượm được món tiếp tế đặc biệt đó về thì mới hay chúng tôi đã có 4 funt bánh mì khô cứng lấm đầy đất. Ăn bánh mì khô no hơn ăn bánh mới, nó chứa ít hơi ẩm hơn.
– Thế... như thế... như thế! – Anh lính chăm chú phân chia những miếng bánh – Gượm đã... chưa đều! Phải bớt của cậu một mẩu, nhà bác học ạ, bằng không phần cậu ta sẽ bị ít...
Anh chàng “sinh viên” phải tuân lệnh, chịu mất mẩu bánh quý như vàng đó, còn tôi đón lấy nó là đút vào miệng.
Và thế là bắt đầu nhai, nhai chậm rãi, cố kiềm chế hoạt động gấp gáp của hai cái hàm đang sẵn sàng nghiến được cả đá. Tôi đạt tới niềm khoái lạc mãnh liệt khi được cảm thấy sự co giật của thực quản, được thỏa mãn nó từng tí, từng tí một. Từng miếng, từng miếng, mềm mại, âm ấm, ngon không tả nổi, cứ thấm xuống dạ dày, và lập tức biến vào máu và não. Niềm hân hoan – một niềm hân hoan kỳ diệu, lặng lẽ, hồi sinh – sưởi ấm trái tim
khi dạ dày được chất đầy. Tôi bỗng quên bẵng những ngày đói khát khốn nạn, quên bẵng những người bạn đồng hành cũng đang đắm mình trong những cảm giác khoái lạc giống như tôi.
Nhưng khi bàn tay bỏ vào miệng mẩu bánh mì cuối cùng, tôi bỗng lại cảm thấy mình thèm ăn đến chết đi được.
– Cái thằng chết tiệt ấy chắc phải còn có thịt hay mỡ gì đó... – Anh lính gầm gừ. Anh ta ngồi trước mặt tôi và xoa hai tay vào bụng.
– Có lẽ thế, bởi vì bánh mì có mùi thịt... Mà cả bánh mì chắc cũng vẫn còn. – Chàng “sinh viên” nói, rồi khẽ bổ sung. – Nếu như không có khẩu súng thì...
– Hắn là ai vậy nhỉ?
– Rõ là người Nga chúng ta rồi...
– Đồ chó! – Anh lính quả quyết.
Chúng tôi ngồi túm tụm lại, mắt nhìn về hướng vị ân nhân có khẩu súng. Không một tiếng động, không một dấu hiệu sống nào từ phía đó vọng lại.
Màn đêm đã thu hết sức lực đen tối của nó lại. Trên thảo nguyên yên ắng kinh khủng, chúng tôi nghe thấy rõ hơi thở của nhau. Đôi lúc đâu đó vang lên tiếng rít buồn thảm của một con chuột đồng... Những ngôi sao như những bông hoa sinh động của bầu trời cháy sáng trên đầu. Chúng tôi thèm được ăn.
Tôi có thể tự hào nói rằng mình không tệ hơn mà cũng chẳng tốt hơn những người bạn đường tình cờ trong cái đêm khá kỳ lạ đó. Tôi đề nghị họ đứng dậy lại gần con người kia. Không cần phải đụng đến anh ta, nhưng chúng tôi sẽ ăn tất cả những gì tìm thấy được. Anh ta sẽ bắn – thì mặc kệ! Ba người thì chỉ có thể trúng vào một người nếu bắn trúng, mà nếu có bắn trúng thì dễ gì một viên đạn súng lục lại có thể làm chết người.
– Đi thôi! – Anh lính nói và chồm lên.
Chàng “sinh viên” đứng dậy chậm rãi hơn.
Và chúng tôi đi, gần như là chạy. Anh chàng “sinh viên” đi đằng sau hai đứa tôi.
– Này anh bạn! – Anh lính hét lên với giọng trách móc.
Đáp lại chúng tôi là tiếng lầm bầm khàn khàn và tiếng cò súng gọn đanh. Lửa lóe sáng, vang lên tiếng nổ khô khốc.
– Trượt rồi! – Anh lính vui mừng kêu lên, nhảy một bước tóm lấy người kia. – Hừ, đồ quỷ, giờ tao cho mày biết tay...
Anh chàng “sinh viên” chồm tới cái bị.
Còn “đồ quỷ” ngã ngửa ra, huơ huơ đôi tay, thở khò khè...
– Cái quỷ gì thế này! – Anh lính sửng sốt, chân đã giơ lên định đá anh chàng kia. – Chẳng lẽ hắn tự bắn mình hay sao? Ê này, anh kia, làm sao vậy? Tự tử hay sao vậy hả?
– Có cả thịt, cả bánh nướng, cả bánh mì tròn... nhiều quá anh em ơi! – Giọng nói hân hoan của anh “sinh viên” vang lên.
– Hừ, quỷ bắt mày đi, cứ ngoẻo đi... Ta ăn thôi! – Anh lính kêu lên. Tôi rút khẩu súng khỏi tay người kia, anh ta đã ngừng khò khè và bây giờ nằm im bất động. Trong súng còn lại một viên đạn.
Chúng tôi lại ăn, lặng lẽ ăn. Con người kia nằm đó và cũng im lặng, không nhúc nhích. Chúng tôi không để tâm đến anh ta nữa.
– Các anh em thân mến ơi, chẳng lẽ các người làm thế chỉ vì miếng bánh mì thôi ư? – Bỗng nhiên một giọng nói khò khè run rẩy cất lên.
Cả bọn giật mình. Anh chàng “sinh viên” thậm chí bị sặc, bật ho, cúi gục đầu xuống đất.
Anh lính nhá kỹ miếng bánh và cất tiếng chửi rủa:
– Đồ linh hồn chó má, sao không bẻ quách mày như thanh củi khô đi cho rồi! Chúng tao mà lại đi lột da mày ấy à? Chúng tao cần quái gì cái thứ da ấy? Đồ mặt dày, đồ bẩn thỉu! Hừ, vác súng đi bắn giết người ta! Đồ chết tiệt...
Anh ta vừa chửi vừa ăn, bởi thế nên những lời chửi rủa mất đi sức mạnh và tính biểu cảm...
– Cứ đợi đấy, chúng tao ăn xong rồi sẽ tính với mày. – Anh “sinh viên” dữ tợn đe dọa.
Lúc đó trong đêm yên tĩnh vang lên những tiếng nức nở rền rĩ làm chúng tôi phát hoảng:
– Những người anh em ơi... tôi biết làm sao được? Tôi bắn bởi vì tôi sợ quá. Tôi từ vùng Novy Afon... đi về tỉnh Smolensk... ôi trời ơi! Cơn sốt đã vật tôi... lúc mặt trời vừa mới lặn – khổ thân tôi! Tại bệnh sốt này mà tôi phải rời Afon... tôi làm thợ mộc ở đó... tôi là thợ mộc... Ở nhà tôi có vợ... và hai đứa con gái... đã ba bốn năm nay tôi không trông thấy họ... những người anh em ạ! Các người vẫn cứ ăn ư...
– Vẫn ăn, đừng có hỏi! – Chàng “sinh viên” nói.
– Ôi Chúa ơi! Nếu tôi biết các người là dân lành, là những người tử tế... thì tôi bắn mà làm gì? Mà ở đây thì, những người anh em ạ, đêm tối, giữa thảo nguyên... chả lẽ tôi lại có lỗi?
Anh ta nói và khóc, đúng hơn là phát ra những tiếng rên run rẩy sợ hãi. – Gớm, khóc lóc! – Anh lính khinh bỉ nói.
– Hắn ta chắc phải có tiền trong người. – Anh “sinh viên” tuyên bố. Anh lính nheo mắt nhìn anh “sinh viên” và cười khẩy:
– Ôi cái cậu này, đồ ti tiện... Thôi nào, đốt lửa lên rồi đi ngủ thôi... – Còn hắn thì sao? – Anh “sinh viên” ngạc nhiên.
– Mặc xác hắn! Chẳng lẽ ta nướng hắn lên hay sao?
– Lẽ ra phải như thế! – Anh “sinh viên” lúc lắc cái đầu nhọn.
Chúng tôi quay về thu dọn đồ đạc còn vứt ở chỗ chúng tôi dừng lại lúc bị anh thợ mộc dọa bắn. Chúng tôi mang đồ lại, và nhanh chóng quây quần quanh đống lửa. Ngọn lửa lặng lẽ sưởi ấm trong đêm lặng gió, tỏa sáng một khoảnh nho nhỏ mà chúng tôi đang chiếm giữ. Giấc ngủ lôi kéo chúng tôi, mặc dù chúng tôi vẫn còn có thể muốn ăn thêm một trận nữa.
– Anh em ơi! – Anh thợ mộc kêu lên. Anh ta nằm cách chúng tôi ba bước chân, và thỉnh thoảng tôi thấy hình như anh ta đang thì thầm cái gì đó.
– Gì thế? – Anh lính hỏi.
– Có thể cho tôi lại chỗ các anh... lại gần đống lửa được không? Tôi sắp chết đến nơi rồi... xương đau buốt!.. Ôi Chúa ơi! Chắc là tôi không về được đến nhà mất thôi...
– Bò lại đây! – Anh “sinh viên” cho phép.
Anh thợ mộc chậm chạp, như sợ chân tay rơi mất, trườn trên mặt đất lại gần đống lửa. Đó là một người cao, gầy khủng khiếp, mọi thứ trên người anh ta như treo lủng lẳng, đôi mắt to đục ngầu phản chiếu cơn đau mới gần đây. Khuôn mặt méo mó xương xẩu và thậm chí dưới ánh sáng của ngọn lửa, nó phủ một màu vàng đất chết chóc. Toàn thân anh ta run rẩy, gợi cảm giác thương xót khinh bỉ. Chìa đôi tay dài ngoẵng gầy gò ra phía ngọn lửa, anh ta xoa xoa những ngón tay xương xẩu, các khớp xương gập lại uể oải, chậm chạp. Tóm lại thật khó chịu khi nhìn anh ta.
– Sao bộ dạng thế này mà lại phải cuốc bộ? Hà tiện hay sao? – Anh lính cau có hỏi.
– Người ta khuyên tôi không nên đi tàu thủy... mà nên đi bộ qua Krưm, cho có không khí trong lành, người ta bảo thế. Còn tôi không thể đi thêm được nữa... tôi sắp chết rồi, anh em ạ! Chết một thân một mình trên thảo nguyên... lũ chim sẽ rỉa xác tôi, rồi chẳng ai nhận ra nữa... Vợ... các con tôi
sẽ chờ đợi. – Tôi đã viết thư cho họ rồi... còn xương cốt tôi sẽ bị mưa thảo nguyên rửa sạch... Ôi Chúa ơi, Chúa ơi!
Anh ta rống lên tiếng rống của con sói bị thương.
– Ôi đồ quỷ! – Anh lính nổi khùng, chồm dậy. – Sao than khóc lắm vậy? Sao không để cho người ta được yên hả? Muốn chết à? Hừ, thì cứ chết đi, nhưng hãy câm mồm lại...
– Ta nằm xuống ngủ thôi, – tôi nói. – Còn anh, nếu như muốn sưởi ấm thì đừng có rống lên như vậy, thật đấy...
– Nghe chưa? – Anh lính nói một cách hung tợn. – Hừ, nghĩ mà xem, mày tưởng có thể quấy rầy chúng tao vì đã ném bánh mì và xả đạn vào chúng tao hả? Đồ quỷ! Phải người khác thì... phù!...
Anh lính ngừng lời và nằm duỗi người ra đất.
Anh chàng “sinh viên” đã đi nằm. Tôi cũng ngả lưng xuống. Anh thợ mộc sợ sệt dúm mình lại, nhích về gần đống lửa và nín thinh nhìn ngọn lửa. Tôi nghe thấy tiếng răng anh ta va lập cập. Anh chàng “sinh viên” nằm phía trái và hình như đã ngủ ngay lập tức, người cuộn tròn lại. Anh lính để tay dưới đầu, ngước mắt nhìn bầu trời.
– Đêm mới đẹp làm sao, hả? Bao nhiêu là sao... – Anh ta quay sang tôi – Bầu trời cứ như tấm chăn, chứ chẳng phải là bầu trời nữa. Tớ thích cuộc sống lang thang, anh bạn ạ. Lạnh và đói khát, nhưng lại rất tự do... Chẳng có ông chủ nào ngồi trên đầu mình cả... Nếu mình muốn cắt rời đầu mình đi, cũng chẳng có ai dám nói lời nào. Mấy ngày qua tớ đói khát, điên giận... thế mà bây giờ nằm đây, nhìn lên bầu trời... Những vì sao nhấp nháy với tớ, này anh Lakutin, hãy đi cho biết đó đây trên đời và đừng quy phục ai... Thế là trong lòng thấy nhẹ nhõm dễ chịu... Còn cậu, cậu thì sao? Ê này thợ mộc! Cậu đừng giận tớ, và đừng sợ gì sất... Chúng tớ ăn mất bánh mì của cậu, nào có hề gì: Cậu có bánh mì, còn bọn tớ thì không có, nên bọn tớ ăn bánh của cậu... Ôi cái cậu này, đồ dã man, xả đạn vào người ta... Chẳng lẽ cậu không biết là súng đạn có thể làm hại con người ta sao? Lúc nãy tớ rất là giận cậu, nếu như cậu không ngã quay ra thì tớ đã nện cho cậu một trận vì
cái tội hỗn xược rồi đấy, người anh em ạ. Còn về chuyện bánh mì, ngày mai cậu đi đến Perekop và sẽ mua bánh ở đó, cậu có tiền cơ mà, tất nhiên rồi... Cậu bị sốt thế này đã lâu chưa?
Giọng anh lính trầm trầm và giọng anh thợ mộc ốm đau run rẩy cứ vang ù ù rất lâu trong tai tôi. Đêm tối thẫm, gần như đen kịt, càng lúc càng sà xuống mặt đất, và tuôn vào trong lồng ngực luồng không khí tươi mát, ngọt ngào.
Đống lửa tỏa ra ánh sáng đều đặn, ấm áp... Đôi mắt tôi díu lại. – Dậy đi! Nhanh lên! Đi thôi!
Tôi hốt hoảng mở bừng mắt và nhanh chóng đứng dậy được nhờ có anh lính kéo tay giúp lôi tôi lên khỏi mặt đất.
– Nào, nhanh lên! Đi thôi!
Khuôn mặt anh lính trông khắc nghiệt và lo lắng. Tôi ngó nhìn xung quanh. Mặt trời đã lên, tia nắng hồng chiếu trên khuôn mặt xanh lè bất động của người thợ mộc. Mồm anh ta há ra, đôi mắt lồi ra khỏi hốc mắt, ánh nhìn trong suốt, bộc lộ sự kinh hoàng. Ngực áo bị xé nát, anh ta nằm trong tư thế rất bất thường, không tự nhiên. Không thấy anh “sinh viên” đâu.
– Hừ, nhìn rõ rồi chứ! Đi đi, tớ bảo, đi thôi! – Anh lính nghiêm giọng nói, kéo tay tôi lôi đi.
– Anh ta chết rồi ư? – Tôi hỏi và rùng mình vì cái lạnh buổi sáng sớm.
– Tất nhiên rồi. Nếu cậu bị bóp cổ thì cậu cũng chết như vậy, anh lính giải thích.
– Đó là anh ta, anh “sinh viên” à? – Tôi thốt lên.
– Hừ, thì còn ai vào nữa? Có thể là cậu không? Hay là tớ? Hừ thế mà lại có học cơ đấy... Khéo léo giết người... rồi bỏ tội lại cho bạn. Tớ mà biết trước điều này thì hôm qua đã giết chết cái thằng “sinh viên” đó rồi. Ra tay
một lần thôi, giáng một cú vào thái dương nó... và trên đời này sẽ bớt đi một thằng khốn nạn! Cậu có hiểu hắn đã làm gì không hả? Bây giờ bọn mình phải cuốn gói khỏi đây, sao cho không ai nhìn thấy ta trên thảo nguyên này. Hiểu chưa hả? Bởi vì hôm nay người ta sẽ tìm thấy tay thợ mộc, sẽ thấy anh ta bị bóp cổ chết và bị cướp của. Và họ sẽ điều tra xem anh bạn của chúng ta từ đâu tới, ngủ đêm ở đâu? Mặc dù tớ với cậu không làm gì... nhưng khẩu súng của anh ta lại ở trong ngực áo tớ! Đồ xỏ lá!
– Thì anh vứt nó đi, – tôi khuyên anh lính.
– Vứt đi ư? – Anh lính trầm ngâm – Nó có giá lắm... Mà có khi người ta không tóm được bọn mình?... Không, tớ không dại vứt đi đâu... ai mà biết được cái tay thợ mộc ấy có súng? Tớ không vứt đâu... nó đáng giá ba rub đấy. Lại còn viên đạn trong đó nữa... ôi! Giá mà tớ có thể bắn cái viên đạn này vào tai anh bạn yêu quý của chúng ta! Không biết cái thằng chó ấy cướp đi bao nhiêu tiền hả? Đồ chết tiệt!
– Rồi còn mấy đứa con gái người thợ mộc nữa... – Tôi nói.
– Con gái nào? À, con anh ta. Hừ, chúng nó rồi sẽ lớn lên, chúng chẳng lấy bọn mình làm chồng đâu, không việc gì phải nói đến chúng... Ta đi thôi anh bạn, nhanh lên... Ta đi đâu đây?
– Tôi chẳng biết... Đâu cũng thế thôi.
– Cả tớ cũng chẳng biết, và tớ cũng hiểu là đâu cũng thế thôi. Ta đi về phía bên phải đi, ở đó chắc phải có biển.
Chúng tôi đi về phía bên phải.
Tôi quay nhìn lại đằng sau. Xa xa trên thảo nguyên nhô lên một gò đất tối sẫm, còn trên đó mặt trời tỏa rực rỡ.
– Cậu ngó xem anh ta có sống lại không chứ gì? Đừng sợ, anh ta không đuổi theo chúng ta đâu... Cái thằng bác học đó hẳn là khôn khéo lắm, giết rất cẩn thận... Hừ, còn làm hại bạn nữa! Đổ tội cho chúng mình! Ôi, anh
bạn ơi, người ta hỏng hết rồi, năm này qua năm khác, ngày càng hư hỏng hơn! – Người lính buồn bã nói.
Thảo nguyên mênh mông vắng lặng trải rộng xung quanh chúng tôi, tràn ngập nắng ban mai. Ở phía chân trời, thảo nguyên hòa lẫn với bầu trời trong ánh sáng trong trẻo, dịu dàng và hào phóng, khiến cho mọi hành vi đen tối, bất công dường như trở nên không thể có được giữa không gian hùng vĩ của bình nguyên dưới vòm trời xanh biếc.
– Lại thèm ăn quá, anh bạn ơi! – Người bạn của tôi vấn lại điếu thuốc và nói.
– Hôm nay ta sẽ ăn gì đây, và ở đâu, bằng cách nào đây?
Đó là bài toán đố!
*
Người bạn nằm giường bên với tôi trong bệnh viện kết thúc câu chuyện của mình tại đây, anh ta nói với tôi:
– Tất cả là thế đấy. Tôi đã kết rất thân với anh lính đó, chúng tôi cùng đi đến vùng Karsskaya. Đó là một anh chàng tốt bụng và giàu kinh nghiệm, một tay lang thang điển hình. Tôi rất kính trọng anh ta. Chúng tôi đi với nhau đến tận Tiểu Á, rồi ở đó thì lạc mất nhau...
– Anh thỉnh thoảng vẫn nhớ tới người thợ mộc chứ? – Tôi hỏi. – Thì anh đã thấy đấy, hay đã nghe thấy rồi đấy...
– Và... không sao chứ?
Anh ta bật cười.
– Thế tôi phải cảm thấy làm sao về chuyện đó? Tôi không có lỗi trong chuyện xảy ra với anh ta, cũng như anh chẳng có lỗi gì trong những chuyện xảy đến với tôi... Và chẳng ai có lỗi gì cả, bởi vì chúng ta tất thảy đều như nhau – đều là lũ súc sinh cả.
[26] Ở những vùng thảo nguyên miền Nam nước Nga, người ta dùng phân khô của súc vật (ngựa, bò) làm nhiên liệu đốt lửa, gọi là kizyak. (ND)
[27] Xagien: đơn vị đo chiều dài, bằng 2,134m. (ND)
Kịch
Trong số các vở kịch của Gorky, vở Dưới đáy thể hiện rõ tư tưởng triết lý và những đặc điểm nghệ thuật kịch của Gorky hơn cả. Năm 1901, Gorky đã nói về ý đồ xây dựng vở kịch này: “Nó sẽ rất khủng khiếp”. Ông thay đổi tên gọi mấy lần: Không có mặt trời, Quán trọ, Cái đáy, Dưới đáy cuộc sống. Tên gọi cuối cùng Dưới đáy giữ lại sắc thái tối tăm của khung cảnh vở kịch và mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Vở kịch được công diễn lần đầu năm 1902 tại Nhà hát nghệ thuật Moskva[28], Gorky trực tiếp tham gia vào việc dàn dựng sân khấu. Thành công của vở kịch được thể hiện qua thái độ của khán giả. K.S. Stanislavsky (đạo diễn và là người đóng vai Satin) đã mô tả Gorky “đối phó” với những người hâm mộ sau khi vở kịch được công diễn như sau: “Gorky trở thành người hùng của ngày hôm đó. Khán giả đi theo anh ngoài phố và trong nhà hát; những người hâm mộ – đàn ông và đặc biệt là phụ nữ – xúm quanh anh. Đầu tiên anh ngượng nghịu vì sự nổi tiếng của mình và xử sự rất lúng túng, cứ kéo kéo hàng ria ngắn màu hung đỏ, liên tục vuốt vuốt mái tóc rễ tre dài bằng những ngón tay to lớn hoặc hất đầu ra đằng sau. Anh ấy bối rối đến nỗi phát run cả người, lập cập cúi mình chào. “Nghe này, các bạn – với nụ cười như có lỗi trên môi, anh ấy nói với các khán giả hâm mộ – tôi thật khó xử quá... tôi nói thật đấy! Tại sao quý vị lại cứ nhìn tôi như vậy? Tôi có phải là ca sĩ, có phải là vũ công ballet đâu...” Nhưng sự lúng túng đến tức cười và cái cách thể hiện mình trước đám đông của anh lại càng làm tăng sự ái mộ của mọi người. Anh ấy thật hết sức dễ thương. Anh có vẻ đẹp, vẻ hấp dẫn riêng của mình, có tính cách riêng của mình”.
Thành công to lớn của vở kịch đã khiến cho chính quyền Nga hoàng lo ngại. Tờ Người đưa tin – tờ báo của chính quyền đã viết: “... Lãnh tụ của bọn lang thang, Maxim Gorky, đã dùng cán bút của mình như đòn bẩy để
lật nhào nền tảng mà xã hội ta được xây dựng nên. Đó là một nhà văn nguy hiểm làm sao!”. Chính quyền đã kiểm soát các buổi công diễn, ra lệnh cấm diễn vở kịch cho công nhân, cấm phổ biến vở kịch ra ngoài lãnh thổ Nga. Tuy nhiên vở kịch vẫn được diễn ở nhiều nơi, vẫn được dịch và xuất bản ở nước ngoài.
Từ đó đến nay, Dưới đáy là vở kịch luôn có mặt trên sân khấu Nga và xuất hiện trên sân khấu của nhiều nước khác trên thế giới.
Người dịch
[28] Nhà hát Nghệ thuật Moskva (sau là Nhà hát Nghệ thuật Hàn lâm Moskva mang tên Gorky) là một trong những nhà hát kịch nói lớn nhất của Nga, đã có những đóng góp quan trọng đối với nền sân khấu kịch hiện đại của Nga và thế giới. Khuynh hướng nghệ thuật của nhà hát được khẳng định cùng với việc dàn dựng các vở kịch mang tính cách tân của Chekhov và Gorky. (ND)
- Dưới đáy -
Kịch 4 hồi
Nhân vẬt
Mikhail Ivanych KOSTYLEV (còn gọi theo cách thân mật hay coi thường là Mishka[29]), 54 tuổi, chủ quán trọ.
VASILISA Karpovna (còn gọi theo cách thân mật là Vaska), vợ ông ta, 26 tuổi.
NATASHA (Natashka, Natashenka), em gái chị ta, 20 tuổi.
Abram MEDVEDEV (gọi thân mật là Abramka, Abrashka), chú của họ, cảnh sát, 50 tuổi.
Vasily PEPEL (gọi thân mật là Vasya, Vaska), 28 tuổi.
Andrey Mitrich KLESHCH (gọi thân mật là Andryushka), thợ nguội, 40 tuổi.
ANNA, vợ anh ta, 30 tuổi.
NASTYA (gọi thân mật là Nastka, Nastenka), một cô gái 24 tuổi[30]. KVASHNYA, người bán bánh vằn thắn, dưới 40 tuổi.
BUBNOV, thợ làm mũ, 45 tuổi.
NAM TƯỚC, 33 tuổi.
SATIN, dưới 40 tuổi.
NGHỆ SĨ, dưới 40 tuổi.
LUKA, người hành hương, 60 tuổi.
ALYOSHKA, thợ giày, 20 tuổi.
ANH GÙ thọt chân, phu khuân vác.
ANH NGƯỜI TATAR (tên Asan, gọi thân mật là Asanka), phu khuân vác.
Một số kẻ lang thang không có tên và không nói năng gì.
HỒI 1
Căn nhà hầm trông giống như một hang động. Trần nhà là những vòm đá nặng nề, ám khói, với lớp vôi đã bong ra. Ánh sáng chiếu từ phía khán giả và từ trên xuống qua ô cửa sổ vuông ở phía bên phải. Góc bên phải là phòng của Pepel được ngăn bởi những tấm ván mỏng, gần phía cửa đi vào căn phòng đó là giường của Bubnov. Trong góc trái là một cái lò sưởi lớn kiểu Nga, trên bức tường bằng đá bên trái là cửa đi vào bếp, nơi Kvashnya, Nam tước và Nastya ở. Giữa lò sưởi và cánh cửa là chiếc giường đôi đươc che bởi tấm màn vải hoa bẩn thỉu. Quanh khắp bốn bức tường kê nhiều tấm phản nhỏ. Ở phía trước cạnh bức tường phải là một khúc gỗ với những cái kẹp, một cái đe nhỏ được gắn vào đó, và một khúc gỗ thứ hai thấp hơn khúc gỗ thứ nhất. Kleshch đang ngồi trên khúc gỗ thứ hai, trước cái đe, đang thử tra chìa vào các ổ khóa cũ. Dưới chân anh ta là búa, cưa, hai xâu chìa khóa lớn với đủ loại chìa khác nhau buộc bằng sợi dây thép, một chiếc ấm Samovar hỏng méo mó bằng sắt tây. Chính giữa căn nhà trọ là một chiếc bàn lớn, hai chiếc ghế dài, một chiếc ghế đẩu – tất cả đều không được sơn và rất nhem nhuốc. Kvashnya đang ngồi bên bàn, cạnh chiếc ấm Samovar, điều hành bữa ăn, Nam tước nhai bánh mì, còn Nastya ngồi trên chiếc ghế đẩu, chống khuỷu tay lên bàn, đang đọc một cuốn sách nhỏ nhàu nát. Trên chiếc giường đôi sau tấm màn vải hoa, Anna ho sù sụ. Bubnov ngồi trên giường, mặc cái quần cũ kỹ đã bục chỉ, đang thử chiếc khuôn làm mũ vào đầu gối, hình dung xem phải khâu như thế nào. Gần chỗ anh ta là chiếc hộp các tông rách nát đựng các quân bài, những mẩu vải sơn, giẻ rách. Satin vừa
thức dậy, nằm trên giường và gầm gừ. Trên lò sưởi, khuất sâu vào trong là Nghệ sĩ, vừa trở mình vừa ho.
Buổi sáng, đầu mùa xuân.
NAM TƯỚC – Tiếp tục đi!
KVASHNYA – Khô... ông, tôi nói, anh yêu ạ, nếu anh muốn điều đó thì hãy cuốn xéo khỏi đây ngay. Em đã nếm mùi rồi... và bây giờ thì có cho em cả trăm con tôm nướng cũng đừng có hòng – em không cưới anh đâu!
BUBNOV (với Satin). Anh làm gì mà khụt khịt vậy?
Satin gầm gừ.
KVASHNYA – Tôi mới bảo, để trở thành người phụ nữ tự do thì em phải tự mình làm chủ mình, chứ còn lại đi đổi giấy căn cước thành tên ai đó[31] để biến mình thành nô lệ của đàn ông ấy à – đừng có hòng nhé! Cho dù anh ta có là hoàng tử nước Mỹ đi nữa thì tôi cũng chẳng thèm lấy anh ta làm chồng đâu.
KLESH – Bà chị nói dóc!
KVASHNYA – Cái gì cơ?
KLESH – Bà chị nói dóc. Bà chị sẽ cưới Abramka...
NAM TƯỚC (giật cuốn sách từ tay Nastya, đọc nhan đề cuốn sách). “Mối tình định mệnh”... (Cười to.)
NASTYA (với tay). Trả đây... trả đây! Này, đừng có đùa nữa! Nam tước nhìn Nastya, huơ huơ cuốn sách trong không trung.
KVASHNYA – Đồ dê xồm! Nói láo! Sao anh dám nói với tôi những lời láo xược như thế hả!
NAM TƯỚC (đánh cuốn sách lên đầu Nastya). Cô là đồ ngốc, Nastya ạ...
NASTYA (giật lấy cuốn sách). Đưa đây...
KLESH – Thưa lệnh bà cao quý!... Thế nào bà cũng lấy lão Abramka cho mà xem... cứ chờ xem...
KVASHNYA – Tất nhiên rồi! Chả phải nói... thế nào nữa! Thì anh đã hành cho vợ anh dở sống dở chết kia chứ đâu...
KLESH – Câm đi, đồ chó già! Không phải việc của mụ...
KVASHNYA – A... a! Anh không chịu nổi sự thật đấy mà! NAM TƯỚC – Bắt đầu rồi! Nastya, cô đâu rồi?
NASTYA (không ngẩng đầu lên). Hả?... Cút đi!
ANNA (nhô đầu ra khỏi tấm màn). Một ngày đã bắt đầu rồi! Vì Chúa... đừng có la hét nữa... các người đừng cãi nhau nữa!
KLESH – Bắt đầu rên rỉ rồi đấy!
ANNA – Mỗi ngày đều là của Chúa... Chỉ xin cho tôi được chết yên ổn thôi!
BUBNOV – Ồn ào không cản trở cái chết đâu...
KVASHNYA (lại gần Anna). Sao mà chị có thể sống cùng với kẻ độc ác như vậy được cơ chứ?
ANNA – Thôi tôi xin chị...
KVASHNYA – Nào... nào! Ôi cái chị này... người sao mà giỏi chịu đựng!... Sao, trong ngực không thấy đỡ hơn ư?
NAM TƯỚC – Kvashnya! Đến lúc đi chợ rồi đấy...
KVASHNYA – Đi ngay đây! (với Anna) Có muốn tôi mang cho chị ít bánh vằn thắn thật nóng không?
ANNA – Không cần đâu... cám ơn chị. Tôi ăn để làm gì nữa?
KVASHNYA – Ôi, cái chị này, ăn đi. Đồ nóng làm mình dễ chịu hơn. Tôi cứ để lại cho chị một bát... lúc nào thích thì ăn nhé! Đi thôi, ông quý tộc ơi... (với KLESH) Ôi, linh hồn nhơ nhuốc... (Đi vào bếp.)
ANNA (ho). Chúa ơi...
NAM TƯỚC (khẽ đánh vào gáy Nastya). Thôi đi... đồ ngốc! NASTYA (lầu bầu). Cuốn xéo đi... tôi có quấy rầy anh đâu. Nam tước huýt gió, đi vào theo Kvashnya.
SATIN (nhổm dậy trên giường). Đứa nào đánh tôi hôm qua vậy? BUBNOV – Chả lẽ với anh điều đó cũng quan trọng ư?
SATIN – Cứ cho là như thế đi... Thế vì sao người ta đánh tôi? BUBNOV – Có chơi bài không?
SATIN – Có chơi...
BUBNOV – Thì vì thế mà bị tẩn cho đấy...
SATIN – Bọn khốn...
NGHỆ SĨ (nhô đầu ra từ trên lò sưởi). Giá một khi nào đó người ta giết anh luôn đi... cho chết quách đi...
SATIN – Còn anh là thằng ngu.
NGHỆ SĨ – Sao vậy?
SATIN – Bởi vì không thể giết những hai lần.
NGHỆ SĨ (im lặng một lúc). Tôi không hiểu... tại sao lại không thể?
KLESH – Anh lo tụt khỏi lò sưởi và đi dọn nhà đi... còn ườn người ra đó làm gì nữa?
NGHỆ SĨ – Đó không phải việc của anh...
KLESH – Đấy lát nữa Vasilisa tới, mụ ấy sẽ cho anh biết là việc của ai...
NGHỆ SĨ – Quỷ bắt mụ ta đi! Hôm nay đến phiên Nam tước dọn dẹp... Nam tước!
NAM TƯỚC (từ trong bếp bước ra). Tôi chả có lúc nào dọn dẹp đâu... tôi đi chợ với Kvashnya đây.
NGHỆ SĨ – Chuyện đó không liên quan gì tới tôi... có đi đày khổ sai cũng thế... còn quét nhà là phiên của anh... tôi không có làm hộ người khác đâu...
NAM TƯỚC – Hừ, đồ quỷ! Nastya sẽ quét... Ê này, mối tình định mệnh! Tỉnh lại đi! (Giật cuốn sách của Nastya.)
NASTYA (đứng dậy). Anh muốn gì? Đưa trả đây! Đồ càn quấy! Thế mà lại đòi là quý tộc nữa chứ...
NAM TƯỚC (trả lại cuốn sách). Nastya! Quét giúp tôi cái nhà với, được không?
NASTYA (đi vào bếp). Cần quét làm quái gì... rõ chuyện!
KVASHNYA (trên cửa bếp, với Nam tước). Này đi thôi! Người ta sẽ dọn dẹp thay anh... Nghệ sĩ à, anh ta đã nhờ vả thì anh cũng cứ giúp đi... đừng có vặn vẹo nữa mà.
NGHỆ SĨ – Hừ... lúc nào cũng là tôi... chẳng hiểu ra sao nữa...
NAM TƯỚC (mang những cái giỏ móc vào một cái đòn từ trong bếp ra. Trong những chiếc giỏ là những cái hũ phủ vải bên trên). Hôm nay cái gì mà nặng thế...
SATIN – Anh sinh ra làm quý tộc cũng đáng...
KVASHNYA (với Nghệ sĩ). Anh nhớ quét nhà nhé! (Đi ra phòng ngoài, nhường cho Nam tước đi trước.)
NGHỆ SĨ (tụt xuống khỏi lò sưởi). Hít bụi là có hại cho tôi lắm. (Vẻ tự hào.) Cơ thể của tôi bị rượu đầu độc... (Ngồi xuống giường, suy tư.)
SATIN – Cơ thể... cơ thí...
ANNA – Anh Andrey Mitrich...
KLESH – Gì nữa đây?
ANNA – Ở kia có bánh vằn thắn chị Kvashnya để cho em... anh lấy ăn đi.
KLESH (lại gần vợ). Còn cô không ăn à?
ANNA – Em không muốn ăn... Em ăn để làm gì cơ chứ? Anh phải làm việc... anh cần ăn...
KLESH – Cô sợ à? Đừng sợ... có khi vẫn còn...
ANNA – Đi đi, đi ăn đi! Em mệt lắm rồi... chắc cũng sắp rồi...
KLESH (rời khỏi vợ). Không sao đâu... có khi cô lại khỏi... vẫn có chuyện như thế! (Đi vào bếp.)
NGHỆ SĨ (nói to, giống như vừa sực tỉnh). Hôm qua trong bệnh viện, bác sĩ đã bảo tôi là: Cái cơ thể của anh hoàn toàn bị rượu đầu độc rồi...
SATIN (mỉm cười). Cơ thí...
NGHỆ SĨ (cương quyết). Không phải cơ thí, mà là cơ... th...ể... SATIN – Đồ ngốc...
NGHỆ SĨ (xua tay). Ê, đó không phải chuyện vớ vẩn đâu nhé! Tôi nói nghiêm túc đấy... Nếu như cơ thể bị đầu độc... nghĩa là quét nhà có hại cho tôi... hít bụi có hại...
SATIN – Vi trùng phải không... hả?
BUBNOV – Anh nói cái gì đó?
SATIN – Các từ mới ấy mà... Lại còn cái này nữa: t-iê-n... ngh-iệ-m... BUBNOV – Nghĩa là gì?
SATIN – Tôi không biết... quên rồi...
BUBNOV – Thế thì nói để làm gì?
SATIN – Thế đấy... Tôi chán lắm rồi, người anh em ạ, tôi chán ngấy tất cả những từ ngữ của chúng ta rồi! Từ nào tôi cũng nghe có lẽ đến hàng ngàn lần rồi...
NGHỆ SĨ – Trong vở Hamlet có câu: “Lời nói, lời nói, lời nói!”. Vở kịch hay lắm... Tôi đóng vai người phu đào huyệt trong đó...
KLESH (từ trong bếp đi ra). Anh có định cầm chổi quét nhà không đấy?
NGHỆ SĨ – Không phải việc của anh... (Đấm vào ngực.) “Ophelia ơi! Ôi... nàng hãy mê hoặc ta trong những lời cầu nguyện của nàng!...”
Phía sau sân khấu, xa xa đâu đó có tiếng ồn ào, la hét, tiếng còi của cảnh sát. Klesh ngồi xuống làm việc và tiếng cưa rít lên.
SATIN – Tôi thích những từ ngữ lạ khó hiểu... Khi tôi còn trẻ... làm việc trong sở điện báo... tôi đã đọc nhiều sách lắm...
BUBNOV – Anh từng làm điện báo viên à?
SATIN – Phải... (Cười khẩy.) Có những cuốn sách rất là hay... và có rất nhiều những từ ngữ kỳ lạ... Tôi từng là người có học... anh biết chứ?
BUBNOV – Tôi đã nghe... hàng trăm lần rồi! Từng có học... quan trọng gớm!... Tôi đây từng làm nghề thuộc lông thú... có xưởng của mình hẳn hoi... Hai cánh tay tôi cứ vàng khè – vì thuốc nhuộm ấy mà: tôi nhuộm lông thú, thành ra tay vàng đến tận khuỷu ấy. Tôi đã nghĩ là mình đến chết cũng không rửa sạch được... và sẽ chết với hai cánh tay vàng khè... Còn bây giờ chúng đây này, hai tay tôi... chỉ bẩn thôi... phải không!
SATIN – Ừ, rồi thì sao nào?
BUBNOV – Rồi thì chẳng có gì nữa hết...
SATIN – Anh nói thế là có ý gì?
BUBNOV – Thế... để cho dễ hình dung thôi... Nghĩa là bên ngoài anh có sơn quét như thế nào đi nữa thì rồi nó cũng trôi sạch hết... trôi sạch hết đi thôi, thế đấy!
SATIN – Còn... tôi thì đau thấu trong xương cốt!
NGHỆ SĨ (ngồi, tay bó gối). Học thức là thứ vớ vẩn, quan trọng là tài năng. Tôi biết một nghệ sĩ... ông ta phải đánh vần kịch bản, nhưng lại diễn hay đến nỗi nhà hát rung rinh chao đảo vì công chúng cuồng nhiệt...
SATIN – Bubnov, đưa tôi năm xu!
BUBNOV – Tôi chỉ có hai xu thôi...
NGHỆ SĨ – Theo tôi tài năng mới là cái cần cho nhân vật. Mà tài năng – đó là niềm tin vào bản thân, vào sức mạnh của mình...
SATIN – Đưa cho tôi năm xu đi, và tôi sẽ kiểm tra xem anh có tài năng như thế nào, nhân vật, cá sấu, hay là cảnh sát khu vực... Klesh, đưa năm xu đây!
KLESH – Cút hết đi! Các người ở đây quá đông rồi đấy...
SATIN – Việc gì mà anh phải cáu gắt lên vậy? Anh chẳng có đồng xu nào cả, tôi biết...
ANNA – Andrey Mitrich... Em khó thở quá... mệt quá...
KLESH – Tôi phải làm gì bây giờ?
BUBNOV – Mở cửa phòng ngoài đi...
KLESH – Được đấy! Anh ngồi trên giường, còn tôi thì ngồi dưới đất... đổi chỗ cho tôi rồi ra mở cửa đi... còn tôi không cần thế đã đủ cảm lạnh rồi...
BUBNOV (bình tĩnh). Tôi không cần mở cửa... đấy là vợ anh yêu cầu... KLESH (cau có). Người ta còn ít yêu cầu lắm sao...
SATIN – Đầu tôi ong ong lên rồi... ôi! Tại sao mà người ta lại đánh nhau vào đầu cơ chứ?
BUBNOV – Họ không chỉ đánh vào đầu thôi đâu, mà đánh vào khắp người. (Đứng dậy.) Tôi đi mua ít chỉ may đây... Còn ông bà chủ đâu sao hôm nay mãi chưa thấy nhỉ... y như đã ngoẻo rồi vậy. (Bỏ đi.)
Anna ho. Satin chắp tay sau gáy nằm bất động.
NGHỆ SĨ (buồn bã nhìn xung quanh, lại gần Anna). Sao? Mệt quá hả? ANNA – Khó thở quá.
NGHỆ SĨ – Cô có muốn tôi đưa ra phòng ngoài không? Nào, ngồi dậy đi. (Giúp Anna ngồi dậy, khoác lên vai chị cái áo rách nào đó, và dìu chị ra phòng ngoài.) Nào nào... cố vững lên! Chính tôi đây cũng ốm đau... bị rượu đầu độc...
KOSTYLEV (xuất hiện ở cửa). Đi dạo hả? A, thật đẹp đôi, một con cừu đực với một con cừu cái...
NGHỆ SĨ – Còn ông... tránh ra đi... không thấy những người bệnh đang đi à?...
KOSTYLEV – Xin mời đi qua, xin mời... (vừa hát khe khẽ một bài thánh ca gì đó, vừa nghi ngờ dò xét căn nhà trọ và nghiêng đầu sang trái như đang nghe ngóng cái gì đó trong phòng của PEPEL).
Klesh lườm nguýt theo lão chủ nhà, dữ tợn đập lũ chìa khóa kêu xủng xẻng và làm cái cưa rít lên ầm ĩ.
KOSTYLEV – Làm gì kêu ken két vậy?
KLESH – Cái gì?
KOSTYLEV – Tao nói làm gì kêu ken két vậy?
Im lặng.
KOSTYLEV – A... a... tao muốn hỏi mày thế đấy? (Nói nhanh và nhỏ.) Vợ mày không có đây à?
KLESH – Không trông thấy...
KOSTYLEV (thận trọng tiến lại gần cửa phòng Pepel). Có hai rub một tháng mà mày chiếm bao nhiêu chỗ của tao! Giường này... cả mày ngồi đó nữa... hừm! Phải năm rub một chỗ, có trời chứng giám! Mày phải trả thêm năm mươi xu nữa...
KLESH – Ông cứ vòng cái thòng lọng quanh cổ tôi và siết lại đi... Chết đến nơi rồi mà còn nghĩ đến những đồng năm mươi xu...
KOSTYLEV – Tăng tiền của mày làm gì? Ai cần thứ đó? Chúa phù hộ cho mày, cứ sống mà vui thú đi... Còn tao sẽ lấy thêm của mày năm mươi xu, mua dầu cho vào đèn... và vật dâng hiến của tao sẽ cháy lên trước ảnh thánh để chuộc lỗi cho tao, và cho cả mày nữa. Vì mày chẳng bao giờ thèm nghĩ đến tội lỗi của mày... thế đấy... Ôi Andryushka, mày là đứa độc ác! Vợ mày ho lao chỉ vì sự độc ác của mày... chẳng ai ưa mày cả, chẳng ai tôn trọng mày... công việc của mày thì ồn ào, quấy nhiễu tất cả mọi người...
KLESH (hét). Ông đến đây... để đầu độc tôi phải không?
Satin gầm rít lên.
KOSTYLEV (giật nảy người). Ối cha cha...
NGHỆ SĨ (ra). Tôi đặt chị ta ngồi ở phòng ngoài rồi, quấn chăn cẩn thận rồi...
KOSTYLEV – Cậu tốt bụng quá, người anh em ạ! Rồi mọi việc tốt của cậu sẽ được ghi công...
NGHỆ SĨ – Khi nào?
KOSTYLEV – Trên đời này, anh bạn ạ... tất cả, bất cứ việc gì của ta cũng đều được tính công hết...
NGHỆ SĨ – Và ông ở đây là để thưởng công cho lòng tốt của tôi...
KOSTYLEV – Tôi thì có thể làm gì được?
NGHỆ SĨ – Thì ông xóa bớt một nửa nợ đi...
KOSTYLEV – Hê hê! Cậu cứ hay đùa, anh chàng dễ thương ạ... Chẳng lẽ lòng tốt lại đem đi so sánh với tiền bạc được sao? Lòng tốt quý hơn tất cả mọi của cải. Còn món nợ của cậu là bổn phận! Nghĩa là cậu phải hoàn trả cho tôi... Lòng tốt của cậu đối với một lão già như tôi đây thì cần phải là vô tư...
NGHỆ SĨ – Ông là đồ lừa bịp, ông già ạ... (Đi vào bếp.)
Klesh đứng dậy đi ra phòng ngoài.
KOSTYLEV (với Satin). Cái thằng ồn ào ấy nó chạy mất rồi, hê hê! Nó không ưa tao...
SATIN – Ngoài quỷ ra thì còn ai ưa ông nữa đâu?
KOSTYLEV (cười). Mày là thằng báng bổ làm sao! Còn tao thì lại yêu quý tất cả chúng mày... tao hiểu, những người anh em của tao rất bất hạnh, cùng đường, sa ngã... (Bỗng nói nhanh.) Còn... Vaska có nhà chứ?
SATIN – Ông ngó xem...
KOSTYLEV (lại gần cánh cửa và gõ). Vasya!
Nghệ sĩ xuất hiện trên khung cửa bếp. Anh ta đang nhai cái gì đó. PEPEL – Ai đó?
KOSTYLEV – Tao đây... tao đây, Vasya.
PEPEL – Ông cần gì?
KOSTYLEV (tránh ra xa). Mở cửa ra...
SATIN (không nhìn Kostylev). Anh ta mở cửa, còn chị ta thì ở trong đó... Nghệ sĩ phì cười.
KOSTYLEV (lo sợ, nói nhỏ). Hử? Ai ở trong đó? Mày... nói cái gì? SATIN – Gì cơ? Ông hỏi tôi đấy à?
KOSTYLEV – Mày vừa nói cái gì đấy?
SATIN – Đấy là tôi nói... về mình ấy mà...
KOSTYLEV – Coi chừng đấy, người anh em ạ! Đùa cũng vừa vừa phai phải thôi... hừ! (Gõ mạnh vào cửa.) Vasily!...
PEPEL (mở cửa). Gì thế? Có chuyện gì mà ông quấy nhiễu tôi vậy hả? KOSTYLEV (ngó vào phòng). Tao... mày thấy đấy...mày... PEPEL – Ông mang tiền đến chưa?
KOSTYLEV – Tao có việc nhờ mày...
PEPEL – Ông mang tiền đến chưa?
KOSTYLEV – Tiền nào? Gượm đã...
PEPEL – Tiền, bảy rub tiền cái đồng hồ... thế nào?
KOSTYLEV – Đồng hồ nào hả Vasya?... Ôi mày...
PEPEL – Này, ông coi chừng đấy! Hôm qua có mọi người chứng kiến nhé, tôi bán cho ông cái đồng hồ giá mười rub, tôi đã lấy ba rub rồi, còn bảy rub nữa trả đây! Ông làm gì mà ngó láo liên vậy? Lăng xăng ở đây, làm phiền mọi người... còn chuyện của mình thì lại không biết...
KOSTYLEV – Đừng giận, Vasya... Cái đồng hồ, nó...
SATIN – Nó là của ăn cắp...
KOSTYLEV (nghiêm nghị). Tao không bao giờ nhận đồ ăn cắp... sao mày dám...
PEPEL (nắm lấy vai Kostylev). Tại sao ông cứ làm phiền tôi vậy? Ông cần gì?
KOSTYLEV – Hừ... tao không cần gì... tao sẽ đi đây... nếu như mày như thế...
PEPEL – Đi đi, và mang tiền lại đây!
KOSTYLEV (bỏ đi). Ôi cái bọn người thô lỗ làm sao!
NGHỆ SĨ – Đúng là hài kịch!
SATIN – Hay lắm. Tôi khoái thế lắm...
PEPEL – Lão tới đây làm gì vậy?
SATIN (cười). Cậu không hiểu à? Lão đi tìm vợ đấy... mà tại sao cậu không đánh chết lão đi hả Vasily?
PEPEL – Vì cái đồ bẩn thỉu đó tôi sẽ làm hỏng đời tôi mất...
SATIN – Cậu thông minh lắm mà. Rồi sau đó cậu cưới Vasilisa, thành ông chủ của bọn tớ...
PEPEL – Thế thì sướng quá nhỉ! Rồi các người sẽ phá sạch gia sản của tôi, và cả chính tôi nữa các người cũng sẽ bán xới trong quán rượu nốt... (Ngồi xuống giường.) Con quỷ già... đánh thức người ta dậy... Còn tôi, tôi đang mơ một giấc mơ rất hay: Dường như tôi đang câu cá, mà tôi tóm được một con cá mè thật là to! Ôi cái con cá mè – cá như thế chỉ có ở trong mơ... Tôi vừa lôi nó ra khỏi lưỡi câu vừa sợ nó vuột ra mất! Rồi tôi chuẩn bị cái vợt... thế, tôi nghĩ, bây giờ...
SATIN – Đó không phải là con cá mè mà là Vasilisa đấy... NGHỆ SĨ – Vasilisa anh ta tóm được từ lâu rồi...
PEPEL (tức giận). Quỷ bắt các người đi... và cả mụ ta nữa! KLESH (từ phòng ngoài đi vào). Lạnh kinh khủng... thật chó má... NGHỆ SĨ – Tại sao anh không mang Anna vào, chị ấy chết cóng mất... KLESH – Natasha đưa cô ta vào bếp rồi...
NGHỆ SĨ – Lão già sẽ đuổi mất...
KLESH (ngồi xuống làm việc). Hừ... thì Natasha sẽ dẫn lại đây... SATIN – Vasily, đưa năm xu đây...
NGHỆ SĨ (với Satin). Ôi cái anh này... năm xu! Vasya, cho chúng tôi hai mươi xu đi...
PEPEL – Phải đưa nhanh thôi trước khi các người đòi một rub... Này! SATIN – Không ai trên đời này tốt hơn bọn ăn cắp!
KLESH (cau có). Họ kiếm tiền dễ dàng... họ không phải làm việc...
SATIN – Nhiều người kiếm tiền dễ dàng, nhưng không phải nhiều người dễ dàng chia tay với tiền... Làm việc ấy à? Hãy làm sao cho công việc thú vị đối với tôi thì có lẽ tôi sẽ làm việc... Phải! Có thể thế! Khi mà lao động là nguồn vui thì cuộc đời sẽ tốt đẹp! Còn khi lao động là nghĩa vụ, cuộc đời sẽ là nô lệ! (Với Nghệ sĩ.) Nào, ta đi thôi...
NGHỆ SĨ – Đi thôi. Tôi sẽ uống bằng... bốn mươi ngàn thằng say... Họ đi khỏi.
PEPEL (ngáp). Thế nào, vợ anh ra sao rồi?
KLESH – Chắc cũng sắp rồi...
Im lặng.
PEPEL – Nhìn anh, tôi thấy anh cứ cưa kéo như thế chỉ phí công thôi. KLESH – Thế thì phải làm gì?
PEPEL – Chẳng làm gì cả...
KLESH – Thế thì lấy gì mà ăn?
PEPEL – Thì người ta vẫn sống đấy thôi...
KLESH – Những người ở đây ấy à? Khố rách áo ôm, một bọn người quý báu lắm đấy! Tôi là người lao động... tôi nhìn bọn họ mà thấy xấu hổ... tôi từ nhỏ đã lao động... Cậu nghĩ rằng tôi không thể thoát khỏi nơi đây được sao? Tôi sẽ thoát khỏi đây... dẫu có trầy vi tróc vẩy nhưng tôi sẽ thoát khỏi... Đấy cứ chờ xem... khi nào vợ tôi chết... Tôi ở đây mới nửa năm... mà cứ như là đã sáu năm vậy...
PEPEL – Không ai ở đây tệ hơn anh cả... anh nói vậy vô ích thôi... KLESH – Không thua kém ấy ư! Họ sống vô lương tâm, vô danh dự.
PEPEL (thờ ơ). Thế chúng dùng để làm gì – cái danh dự với lương tâm ấy? Hai chân không thể xỏ danh dự với lương tâm vào để đi thay ủng được... Danh dự, lương tâm chỉ cần cho những người có quyền lực và sức mạnh thôi...
BUBNOV (ra). Ôi ôi... cóng quá!
PEPEL – Này Bubnov, anh có lương tâm không?
BUBNOV – Cái gì cơ? Lương tâm ấy à?
PEPEL – Phải!
BUBNOV – Lương tâm để làm gì? Tôi có phải người giàu có đâu...
PEPEL – Đấy tôi cũng nói thế đấy: Danh dự với lương tâm cần cho bọn nhà giàu, phải! Thế mà Klesh mắng chúng ta, anh ta nói chúng ta không có lương tâm...
BUBNOV – Còn anh ta thì sao, muốn có nó à?
PEPEL – Anh ta có nhiều lắm rồi...
BUBNOV – Nghĩa là anh ta muốn bán à? Hừ, ở đây không ai mua đâu. Như mấy cái hộp rách thì tôi mua đấy... mua chịu thôi...
PEPEL (vẻ dạy đời). Anh là đồ ngốc, Andryushka ạ! Về chuyện danh dự thì anh nên nghe Satin... hoặc là Nam tước ấy...
KLESH – Tôi chẳng có việc gì để nói với bọn họ cả...
PEPEL – Họ thông minh hơn anh đấy... mặc dù họ là bọn nghiện rượu...
BUBNOV – Mà ai vừa say lại vừa thông minh thì trong anh ta có hai cái lợi đấy...
PEPEL – Satin nói rằng bất cứ người nào cũng muốn người bên cạnh anh ta có lương tâm, anh thấy đấy, chẳng ai thấy có lợi khi có lương tâm cả... Và điều đó là phải lắm...
Natasha ra. Sau cô là Luka, tay chống gậy, trên vai đeo một cái bị, ngang lưng đeo một cái nồi và một ấm nước nhỏ.
LUKA – Xin chúc sức khỏe những con người lương thiện! PEPEL (vuốt ria mép). A... a, Natasha!
BUBNOV (với Luka). Từng là người lương thiện đấy, nhưng từ mùa xuân năm kia năm kìa cơ...
NATASHA – Đây là người thuê nhà mới...
LUKA – Đối với lão thì sao cũng vậy! Lão kính trọng cả bọn bịp bợm, theo lão thì không con rận nào là xấu cả: con nào cũng màu đen, tất cả đều nhảy... như thế. Cô bé thân mến, lão có thể vào chỗ nào được đây?
NATASHA (chỉ ra phía cửa bếp). Ông ra chỗ kia, ông nội ạ...
LUKA – Cảm ơn cháu gái! Chỗ kia, ra chỗ kia... Với ông già thì chỗ nào ấm áp thì chỗ đó là quê hương...
PEPEL – Cô dẫn đến một ông lão lý thú làm sao, Natasha ạ...
NATASHA – Thú vị hơn các anh... Andrey, vợ anh đang ở trong bếp chỗ chúng tôi đấy... anh ngừng tay sang với chị ấy đi.
KLESH – Thôi được... tôi đi đây...
NATASHA – Anh nên dịu dàng hơn với chị ấy... chẳng còn được bao lâu nữa đâu...
KLESH – Tôi biết rồi...
NATASHA – Biết rồi... Anh biết quá ít đấy. Anh phải hiểu, chết là khủng khiếp lắm...
PEPEL – Còn tôi thì tôi không sợ...
NATASHA – Thế sao? Dũng cảm quá nhỉ...
BUBNOV (huýt gió). Còn chỉ thì bục quá...
PEPEL – Phải đấy, tôi không sợ đâu! Ngay bây giờ tôi có thể chết được ngay! Các người cứ cầm dao đâm vào tim tôi... tôi sẽ chết mà chẳng kêu