🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Hội Đồng Lý Luận Trung Ương – 25 Năm Xây Dựng Và Phát Triển
Ebooks
Nhóm Zalo
Chịu trách nhiệm xuất bản
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN
Chịu trách nhiệm nội dung
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN TS. VÕ VĂN BÉ
Biên tập nội dung: ThS. PHẠM THỊ KIM HUẾ TS. HOANG MẠNH THẮNG
TRẦN THỊ THANH PHIỆT
ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ
Trình bày bìa: LÊ THỊ HÀ LAN Chế bản vi tính: NGUYỄN THU THẢO Sửa bản in: PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT Đọc sách mẫu: TRẦN THỊ THANH PHIỆT ThS. NGUYỄN TRƯỜNG TAM
NGUYỄN VIỆT HÀ
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4070-2021/CXBIPH/4-50/CTQG. Số quyết định xuất bản: 837-QĐ/NXBCTQG, ngày 16/11/2021. Nộp lưu chiểu: tháng 11 năm 2021.
Mã ISBN: 978-604-57-7279-9.
BAN BIÊN SOẠN
GS.TS. NGUYỄN QUANG THUẤN TS. LÊ MINH NGHĨA
PGS.TS. NGUYỄN VIẾT THÔNG PGS.TS. TRẦN QUỐC TOẢN TS. NGUYỄN HỒNG SƠN ThS. HOjNG THỊ BÍCH NGỌC
5
LỜI NHj XUẤT BẢN
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta hơn 90 năm qua, dù trong thời kỳ tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc vô cùng khó khăn, gian khổ hay khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đều rất coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, trong đó có nghiên cứu lý luận chính trị. Nhiều cơ quan đã tham gia vào việc nghiên cứu lý luận chính trị nhằm tư vấn cho các đồng chí lãnh đạo trong hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Dựa trên những điều kiện cụ thể, Đảng ta đã thành lập những cơ quan có chức năng nghiên cứu lý luận chính trị ở cấp Trung ương, đó là Ban Nghiên cứu Lý luận Trung ương trong giai đoạn chiến tranh và những năm đầu mới thống nhất đất nước, là Viện Mác - Lênin (sau đổi tên thành Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) những năm 1980 và đầu những năm 1990. Các cơ quan này đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu lý luận, làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đến năm 1996, sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đòi hỏi phải giải quyết. Việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, tham mưu, tư vấn cho Đảng nói chung, nhất là ở cấp Trung ương, trực tiếp là cho Ban
6 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong giai đoạn mới ngày càng trở thành đòi hỏi cấp bách. Chính vì vậy, ngày 30/10/1996, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 06-QĐ/TW về việc thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương với nhiệm vụ “tư vấn cho Bộ Chính trị công tác lý luận; giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội thời kỳ 1996-2000 nhằm xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”.
Trong 25 năm xây dựng và phát triển (1996-2021), Hội đồng Lý luận Trung ương đã trải qua 5 nhiệm kỳ hoạt động theo các nhiệm kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, với cơ chế tổ chức hoạt động ngày càng chặt chẽ, hoàn thiện. Hội đồng Lý luận Trung ương đã có những đóng góp nổi bật trong tư vấn về lý luận chính trị cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; tổ chức, quản lý các chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị; đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng; hợp tác, trao đổi, đối thoại với các đảng cộng sản, đảng cầm quyền trên thế giới về lý luận; thực hiện tốt các nhiệm vụ khác mà Trung ương giao phó. Với những thành tích đạt được trong công tác, góp phần vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, ngày 19/8/2016, Hội đồng Lý luận Trung ương vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Nhằm góp phần nhìn nhận, đánh giá quá trình xây dựng, phát triển và những thành tựu đạt được trong 25 năm hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Hội đồng Lý luận Trung ương - 25 năm xây dựng và phát triển.
Cuốn sách gồm hai phần chính, tập trung phân tích, đánh giá đặc điểm mô hình tổ chức và hoạt động; công tác nghiên cứu xây
LỜI NHj XUẤT BẢN 7
dựng báo cáo tư vấn; công tác tổ chức nghiên cứu lý luận chính trị; công tác tổ chức đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng; hợp tác quốc tế về lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và một số chính đảng trên thế giới… của Hội đồng Lý luận Trung ương qua 25 năm xây dựng và phát triển (1996-2021). Đồng thời, trên cơ sở dự báo bối cảnh mới tác động đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu lý luận của Đảng và mô hình tổ chức hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương trong những năm tiếp theo, Hội đồng Lý luận Trung ương đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu lý luận của Đảng và mô hình tổ chức hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương giai đoạn từ nay đến năm 2025, năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Với lĩnh vực nghiên cứu rộng, chuyên môn đa dạng, chắc chắn nội dung cuốn sách chưa thể phản ánh được đầy đủ quá trình hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương trong 25 năm qua, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện nội dung cuốn sách trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 10 năm 2021
NHj XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
T
9
MỞ ĐẦU
rong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hơn 90 năm qua, dù ở các thời kỳ khác
nhau, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác lý luận. Về phương diện tổ chức cơ quan nghiên cứu lý luận, Đảng ta cũng có sự quan tâm khá sớm. “Từ khi hòa bình được lập lại, Đảng ta có chú ý đến công tác lý luận, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót. Vì không có một tổ chức chuyên trách giúp Trung ương nghiên cứu lý luận, cho nên nhiều vấn đề về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới không được nghiên cứu sâu để giải quyết hoặc giải đáp kịp thời. Một số cơ quan làm công tác lý luận vì thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, cho nên chưa phục vụ được tốt cho sự lãnh đạo của Trung ương Đảng...”1.
Từ tình hình đó, để đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận của Đảng, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Lý luận của Trung ương (Nghị quyết số 131- NQ/TW ngày 28/12/1965) do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng ban. Nhiệm vụ của Ban Nghiên cứu Lý luận của Trung ương là tổ chức và hướng dẫn việc tổng kết những kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta; tổ chức nghiên cứu những vấn đề lý luận nhằm phục vụ cho Trung ương Đảng
__________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t. 26, tr. 661.
10 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
trong việc hoạch định đường lối, chính sách của cách mạng Việt Nam; tổ chức nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế1.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, trong giai đoạn cả nước đi vào xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác nghiên cứu lý luận trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 20/11/1980 về công tác tổ chức, trong đó có việc thành lập Viện Mác - Lênin. Ban Bí thư đã ra Quyết định số 102-QĐ/TW ngày 09/02/1982) về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và chế độ làm việc của Viện Mác - Lênin, trong đó nêu rõ: “Viện Mác - Lênin là cơ quan nghiên cứu khoa học trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, có chức năng: xuất bản, giới thiệu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện của Đảng; nghiên cứu những vấn đề lý luận rút ra từ lịch sử của Đảng ta, từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề lý luận của phong trào cách mạng thế giới... nhằm phục vụ việc nâng cao công tác lãnh đạo của Đảng, góp phần đáp ứng yêu cầu về công tác lý luận và tư tưởng của Đảng”2.
Ngày 05/5/1992, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 29-QĐ/TW về tên gọi, chức năng, nhiệm vụ mới của Viện Mác - Lênin, theo đó Viện Mác - Lênin đổi tên thành “Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một “Trung tâm nghiên cứu lý luận
__________
1. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.26, tr.662-663.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.43, tr.1-2.
MỞ ĐẦU 11
của Đảng trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương”. Trong 15 năm xây dựng, hoạt động và phát triển (đến năm 1996), nhất là trong 10 năm đầu của công cuộc đổi mới, với sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những đóng góp xứng đáng vào quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy lý luận phục vụ cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới.
Sau 10 năm tiến hành đổi mới Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Tại Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định đất nước đã vượt qua một giai đoạn thử thách, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được tạo ra để chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới. Quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới mở rộng. Khả
năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm.
Tuy nhiên, tình hình thế giới và thực tiễn công cuộc đổi mới đang nổi lên một số vấn đề lớn, đặt ra cho Đảng ta những nhiệm vụ và bước đi mới. Trong khi đó, trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo của Đảng có mặt chưa theo kịp bước chuyển của sự nghiệp đổi mới. Yêu cầu nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu - tham mưu - tư vấn cho Đảng trong giai đoạn mới ngày càng trở thành đòi hỏi cấp bách. Thực tế này đòi hỏi cần thiết phải sắp xếp lại một bước hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị và đào tạo cán bộ của Đảng cho phù hợp với tình hình mới. Do đó, ngày 30/10/1996, Bộ Chính trị ban hành hai quyết định quan trọng: Quyết định số 07-QĐ/TW về việc hợp nhất Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
12 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Quyết định số 06-QĐ/TW thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương. Sau 25 năm xây dựng và phát triển, Hội đồng Lý luận Trung ương đã bám sát tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, triển khai nhiều hoạt động thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Về mô hình, cơ cấu tổ chức ngày càng được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá cao những đóng góp của Hội đồng Lý luận Trung ương qua các nhiệm kỳ. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Tư duy lý luận của Đảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển”1. Những thành tựu về lý luận qua hơn 35 năm đổi mới là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, trong đó có sự đóng góp quý giá của Hội đồng Lý luận Trung ương.
Tuy nhiên, công tác nghiên cứu lý luận nói chung còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhìn chung, lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn, thiếu gắn bó mật thiết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, định hướng chính sách. Lý luận còn chưa giải đáp được đầy đủ những vấn đề mới mà thực tiễn đặt ra. Một trong những nguyên nhân là việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các cơ quan nghiên cứu lý luận còn hạn chế.
Để sớm khắc phục tình trạng này, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối
__________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.74.
MỞ ĐẦU 13
đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách. Thực hiện nghiêm Quy định dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị, tạo môi trường dân chủ, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của các tổ chức và cá nhân...”1.
Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội XIII của Đảng đặt ra: trong 5 năm tới, kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước và chuẩn bị tổng kết 40 năm đổi mới; trong 10 năm tới tổng kết 100 năm thành lập Đảng, và đến năm 2045 kỷ
niệm 100 năm thành lập nước... những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần phải làm sáng tỏ... Với ý nghĩa như vậy, việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương, góp phần đề xuất, kiến nghị với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác lý luận, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo trong tình hình mới hiện nay của Đảng là vô cùng cấp thiết.
Cuốn sách Hội đồng Lý luận Trung ương - 25 năm xây dựng và phát triển, được hình thành trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Đề án KHBĐ (2019)-35 “Đổi mới mô hình tổ chức hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương trong tình hình mới”. Bên cạnh việc nêu bật quá trình hình thành, phát triển và khẳng định những đóng góp của Hội đồng trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cuốn sách làm rõ đặc điểm mô hình tổ chức và hoạt động, phân tích, đánh giá
__________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.181-182.
14 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
thuận lợi, khó khăn, vấn đề đặt ra, đồng thời đề xuất các định hướng, giải pháp đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị của Hội đồng Lý luận Trung ương cũng như công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Hội đồng Lý luận Trung ương nói riêng, công tác nghiên cứu lý luận của Đảng nói chung đến năm 2025 và những năm tiếp theo. Việc biên soạn nội dung cuốn sách được sự chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016-2021 và nhiệm kỳ 2021-2026.
Hy vọng cuốn sách sẽ cung cấp những cứ liệu luận giải khoa học và đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, góp phần vào nhiệm vụ đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác lý luận trong giai đoạn mới hiện nay.
15
PHẦN I
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG 25 NĂM QUA
I. ĐẶC ĐIỂM MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG
1. Hội đồng Lý luận Trung ương là cơ quan được tổ chức theo mô hình “hội đồng”
Hội đồng Lý luận Trung ương có quyết định thành lập từ năm 1996. Trải qua 25 năm, cũng là 5 lần có quyết định thành lập, 5 nhiệm kỳ hoạt động với tư cách là tổ chức “Hội đồng”.
“Hội đồng” là một hình thức tổ chức khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Có nhiều loại hội đồng khác nhau, tùy thuộc chức năng, nhiệm vụ được xác định. Có hội đồng khi quyết định do hội đồng thông qua có giá trị pháp lý, bắt buộc cơ
quan, tổ chức hay cá nhân phải thực hiện; có hội đồng là cơ quan tư vấn, chỉ có vai trò tư vấn, những kết luận của hội đồng chỉ có giá trị tham khảo đối với các cơ quan lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền; có hội đồng được tổ chức ổn định, lâu dài, có hội đồng được tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, kết thúc hoạt động sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Dù có chức năng, nhiệm vụ, thời gian tồn tại khác nhau, đa dạng, nhưng tất cả các hội đồng đều có đặc trưng chung là: được thành lập để sử dụng, phát huy trí tuệ của tập thể, phát huy
16 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
dân chủ, bảo đảm quyết định đưa ra được đúng đắn và đều phải có các cơ quan (bộ phận) chức năng (chuyên môn, chuyên trách) chuẩn bị trước các đề án, các nội dung để hội đồng thảo luận, thông qua trong các phiên họp toàn thể hội đồng, có sự tham gia của tất cả các thành viên hội đồng. Mọi quyết định của hội đồng đều mang tính tập thể.
Qua 1/4 thế kỷ, mô hình hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương là mô hình “hội đồng”. Sau mỗi nhiệm kỳ hoạt động, mô hình này ngày càng được củng cố và phát huy tốt vai trò là cơ quan tư vấn về các vấn đề lý luận chính trị, làm cơ sở cho việc hoạch định, hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; về những chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận chính trị, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của Đảng. Mô hình Hội đồng Lý luận Trung ương là mô hình “động”, mang tính tích cực, có khả năng thu hút và quy tụ nguồn trí tuệ quốc gia. So với nhiều tổ chức khác, mô hình Hội đồng Lý luận Trung ương có nhiều ưu điểm: về nhân sự, tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động linh hoạt hơn, mềm hơn, cơ động hơn, dễ điều chỉnh, thêm, bớt hoặc bổ sung hơn qua mỗi nhiệm kỳ, thậm chí ngay trong mỗi nhiệm kỳ. Các thành viên của Hội đồng được lựa chọn đều là các chuyên gia tiêu biểu đầu ngành về lý luận chính trị trong nhiều lĩnh vực khác nhau và liên tục, có kế thừa, điều chỉnh, bổ sung. Thông qua hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, các thành viên của Hội đồng đã có đóng góp quan trọng cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng nhiều nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xây dựng và bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng, xây dựng dự thảo văn kiện đại hội Đảng. Thông qua các văn kiện quan trọng này, nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước được hình thành, bổ sung,
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 17
phát triển, ngày càng sáng tỏ hơn; đồng thời, vị trí của Hội đồng ngày càng được khẳng định.
Tuy nhiên, Hội đồng Lý luận Trung ương được thành lập theo nhiệm kỳ, 5 năm một lần, nên có một số bất cập do tính ổn định không cao, tính liên tục trong chuyên môn bị hạn chế. Việc định danh vị trí của Hội đồng trong hệ thống chính trị
cũng chưa có sự thống nhất về nhận thức và tổ chức, sắp xếp bộ máy. Vấn đề sắp xếp vị trí việc làm của Hội đồng còn đang vướng mắc (cơ quan không có cán bộ cấp vụ chuyên môn; chức danh vị trí việc làm của thư ký khoa học chưa rõ...).
Nếu so sánh với mô hình Ban Nghiên cứu Lý luận Trung ương hay Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy, mô hình Hội đồng Lý luận Trung ương có điểm khác biệt, là mô hình “hội đồng”, bên cạnh khía cạnh tích cực nêu trên, còn có những hạn chế, như: tính ổn định không cao, tính chính danh chưa thực sự được khẳng định; tính liên tục của một tổ chức làm công tác lý luận bị hạn chế; vai trò của các thành viên Hội đồng chưa được phát huy... Trong khi đó, mô hình Ban Nghiên cứu Lý luận Trung ương hay Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều là mô hình của cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng. Là cơ quan Ban Nghiên cứu lý luận hay Viện Nghiên cứu, các tổ chức này đều là đơn vị
được tổ chức như một ban chuyên môn của Đảng, có các đơn vị chức năng làm công tác nghiên cứu, tham mưu và phục vụ rõ ràng, không phải là cơ quan được thành lập theo nhiệm kỳ, nên theo nguyên tắc là có tính ổn định lâu dài.
2. Tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác lý luận chính trị
Một là, Hội đồng Lý luận Trung ương có chức năng được
18 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
quy định xuyên suốt 25 năm qua là cơ quan tư vấn. Ngay từ ngày đầu thành lập, Quyết định số 06-QĐ/TW ngày 30/10/1996, đã nêu rõ: Hội đồng Lý luận Trung ương có chức năng “tư vấn cho Bộ Chính trị về công tác lý luận; giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội thời kỳ 1996-2000 nhằm xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”. Và gần đây nhất, Quyết định thành lập Hội đồng nhiệm kỳ 2016-2021 cũng tiếp tục khẳng định chức năng này. Đặc trưng của tư vấn là tính độc lập, khách quan. Cái làm nên giá trị hay sức nặng chất lượng của chủ đề tư vấn chính là ở cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn, ở tính thuyết phục của nội dung tư vấn. Chức năng của Hội đồng đến nay vẫn là cơ quan tư vấn cho Đảng về các vấn đề lý luận chính trị, làm cơ sở cho việc hoạch định, hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách của Đảng, không phải là cơ quan tham mưu, nghiên cứu... Mối quan hệ và cơ chế chỉ đạo, phối hợp giữa Cơ quan Hội đồng với các ban của Đảng, các bộ, ngành, địa phương, các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu liên quan đến công tác nghiên cứu lý luận, đường lối, chính sách phục vụ hiệu quả cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng còn chưa rõ ràng... Lâu nay, các hoạt động nghiên cứu lý luận nói chung, lý luận chính trị nói riêng, nhất là khâu nghiên cứu và phát triển (R&D), trực tiếp phục vụ cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng chưa được đẩy mạnh, còn phân tán và trùng lặp. Các ban đảng làm công tác tham mưu (tuyên giáo, tổ chức, kiểm tra, kinh tế, nội chính, đối ngoại, văn phòng...) thường chỉ tiến hành hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn theo chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của từng cơ quan riêng biệt. Các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu của các bộ, ngành...
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 19
hoặc là nặng về nghiên cứu lý luận cơ bản, hoặc là nặng về nghiên cứu phục vụ công tác đào tạo, giảng dạy hay quản lý chuyên môn một lĩnh vực nhất định nào đó. Những phát hiện mới có tính sáng tạo trong nghiên cứu lý luận chính trị không chỉ rất hạn chế mà còn ít được sử dụng, cho nên, công tác nghiên cứu lý luận vốn đã lạc hậu, lại càng chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế và trong nước. Để phát triển, không thể chỉ tập trung vào khoa học mà bỏ quên công nghệ nghiên cứu và phát triển. Hội đồng Lý luận Trung ương với chức năng tư vấn, chỉ đóng vai trò là “cung cấp nguyên liệu đầu vào” (cơ sở lý luận - thực tiễn) cho việc hoạch định (soạn thảo) chủ trương, đường lối phát triển đất nước, không tham gia vào quá trình tham mưu xây dựng các chính sách để cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng đã vạch ra. Nói cách khác, xét về mặt tổ chức, còn thiếu một loại hình cơ quan có chức năng tham mưu nghiên cứu tổng hợp làm cầu nối giữa nghiên cứu lý luận cơ bản với yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn thông qua các chính sách cụ thể.
Bản thân chức năng tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương lại có nhiều điểm đặc thù khác biệt với cơ quan tư vấn thông thường. Mục đích của tư vấn là đưa ra căn cứ lý luận - thực tiễn khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định, hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách xây dựng đất nước của Đảng, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của Đảng.
Hai là, Hội đồng Lý luận Trung ương là cơ quan tư vấn những vấn đề lý luận chính trị, định hướng nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị trong các chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận chính trị, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của Đảng, đưa ra căn cứ lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc hoạch định, phát triển, hoàn thiện
20 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
chủ trương, đường lối, chính sách phát triển đất nước. Mặc dù công tác tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương là công tác tư vấn trong Đảng, của Đảng nhưng không tách rời mối liên hệ với các tổ chức, cơ quan khoa học khác có cùng hoặc gần nhau về một lĩnh vực chuyên môn nào đó. Trên thực tế, nhiệm vụ tư vấn về lý luận chính trị của Hội đồng Lý luận Trung ương gắn chặt với nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận chính trị của các viện nghiên cứu khoa học, các học viện, nhà trường, tiêu biểu như: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; một số học viện, viện nghiên cứu của Quân đội, Công an và các bộ, ngành khác.
Tư vấn về các vấn đề lý luận chính trị liên quan trực tiếp đến ý thức hệ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam; tác động đến cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, giáo dục chính trị trong Đảng và trong xã hội, nhằm giữ vững lập trường, quan điểm, bồi dưỡng niềm tin khoa học, bồi dưỡng tình cảm và đạo đức cách mạng. Vì vậy, nhiệm vụ của Hội đồng Lý luận Trung ương phải kịp thời phát hiện những vấn đề mới để nghiên cứu, tổng kết thực tiễn vừa để kiểm chứng lý luận, vừa phát triển lý luận mới, kịp thời có những dự báo chính xác về diễn biến và xu hướng tư tưởng, về tâm trạng xã hội để chủ động trong công tác giáo dục, tuyên truyền. Tư vấn là công việc mang tính khoa học thực sự, tính tổng hợp rất cao. Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của công tác tư vấn về các vấn đề lý luận chính trị là phải đúng và trúng. Đúng tức là phải bảo đảm tuân thủ nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trúng tức là phải bảo đảm tính hiệu quả về thực tiễn.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 21
Ba là, tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương là tư vấn ở tầm chiến lược, gắn liền với những vấn đề “quốc gia đại sự, quốc kế dân sinh”; nội dung tư vấn là những vấn đề chung về đường lối cách mạng Việt Nam, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của Đảng. Hội đồng còn có nhiệm vụ thẩm định những vấn đề mà các ngành, các cấp trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có liên quan đến các lĩnh vực hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng; nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng. Những nội dung nêu trên trong hoạt động tư vấn của Hội đồng đều phục vụ cho hoạt động lãnh đạo của Đảng, chỉ
đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư mang tính chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Bốn là, tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương là tư vấn của cả tập thể Hội đồng. Nội dung tư vấn của Hội đồng là kết quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của toàn thể Hội đồng (dù theo sự phân công do một tiểu ban của Hội đồng thực hiện). Hoạt động chắt lọc kết quả nghiên cứu của các chương trình nghiên cứu khoa học, các đề tài nghiên cứu khoa học, xuất phát từ đặc điểm tổ chức, lực lượng nghiên cứu khoa học của Hội đồng phục vụ cho thực hiện nhiệm vụ tư vấn. Chắt lọc kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học, Hội đồng Lý luận Trung ương lựa chọn những kết quả nghiên cứu tốt nhất theo một định hướng nội dung, nhóm vấn đề nhất định, phù hợp với yêu cầu tư vấn để lý giải các vấn đề đặt ra bằng các tư liệu, luận cứ có sức thuyết phục, kiến nghị những giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn cho các cơ quan lãnh đạo quyết định về đường lối và chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách...
22 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
3. Nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận và trực tiếp tham gia đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng
Nhiệm vụ này là một trong những nội dung đặc thù góp phần tạo nên giá trị và định hình vị thế của Hội đồng Lý luận Trung ương trong hệ thống chính trị quốc gia. Nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận đấu tranh và trực tiếp tham gia đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng là vũ khí sắc bén “hạng nặng” trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ. Trong những năm đổi mới, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, gieo rắc nghi ngờ đối với chủ trương, đường lối phát triển đất nước, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp huy động nhiều lực lượng đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch. Ban Bí thư và Chính phủ đã lập ra các ban chỉ đạo, như: Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Ban Chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ, Ban Chỉ đạo đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Trung ương (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương 94), Ban Chỉ đạo “Đề án xây dựng hệ thống lý luận đấu tranh chống âm mưu hoạt động “diễn biến hòa bình”” (Ban Chỉ đạo 609 và sau này là Ban Chỉ đạo 35), Ban
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 23
Chỉ đạo 213 đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật...
Là một trong các tổ chức đi tiên phong trong cuộc đấu tranh này, Hội đồng Lý luận Trung ương được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ “nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận đấu tranh và trực tiếp tham gia đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng”. Qua 25 năm hoạt động, Hội đồng đã tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong đó đã xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy của Ban Chỉ đạo 609 (sau này là Ban Chỉ đạo 35); tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, viết bài phê phán đăng trên các báo, tạp chí, internet và xuất bản hàng chục đầu sách; tiến hành trao đổi, đối thoại lý luận chính trị; tham mưu để Bộ Chính trị ban hành Quy chế về trao đổi, đối thoại với những người có ý kiến trái với chủ trương, đường lối của Đảng...; cung cấp thông tin, phối hợp lực lượng, tạo nên hệ thống luận cứ làm cơ sở cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng.
4. Cơ quan “giữ mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản và đảng cầm quyền trên thế giới” trong điều kiện mới
Nhiệm vụ giữ mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản và đảng cầm quyền trên thế giới thực sự là một cấu phần không thể thiếu góp phần tạo nên đặc điểm, vị thế của Hội đồng Lý luận Trung ương suốt 25 năm qua. Vào những năm cuối thế kỷ XX, trên thế giới, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn. Trong điều kiện mới đó, chính sách đối ngoại của Đảng
24 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
và Nhà nước ta cũng có nhiều thay đổi. Mặc dù Việt Nam không còn chủ trương hợp tác trao đổi hoặc cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa như trước đây, nhưng chúng ta vẫn cần giữ mối quan hệ với các quốc gia trên thế giới, tùy theo yêu cầu phát triển của đất nước nói chung, mỗi ngành, mỗi cấp nói riêng. Hội đồng là cơ quan được giao trọng trách về việc giữ mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản và đảng cầm quyền trên thế giới. Hơn 20 năm qua, kể từ cuộc hội thảo đầu tiên với Đảng Cộng sản Trung Quốc (vào tháng 6/2000) đến nay, quan hệ quốc tế có những khúc thăng trầm, nhưng Hội đồng Lý luận Trung ương luôn thực sự là một trong những điểm sáng, là đầu mối tổ chức hợp tác quốc tế về lý luận và chịu trách nhiệm về nội dung trong các cuộc hội thảo, các cuộc làm việc với các đảng cộng sản và đảng cầm quyền của một số nước trên thế giới. Là cơ quan hàng đầu tham gia quá trình hợp tác quốc tế về lý luận, Hội đồng Lý luận Trung ương được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức các cuộc hội thảo lý luận, các cuộc tọa đàm, trao đổi lý luận - thực tiễn với một số đảng cộng sản và đảng cầm quyền. 25 năm qua, nhiều cuộc hội thảo với Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Nhật Bản, Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Xã hội Dân chủ Đức, Đảng Lao động Bỉ... và trao đổi với nhiều đoàn của các đảng trên thế giới về lý luận đã được thực hiện, góp phần thúc đẩy phát triển chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Kết quả các cuộc hội thảo, đối thoại lý luận có chủ đề, nội dung thiết thực, bổ ích; là cơ sở quan trọng giúp các cơ quan nghiên cứu lý luận của Việt Nam và các đảng bạn chia sẻ thông tin, tiếp thu kinh nghiệm tốt của bạn góp phần tham mưu, tư vấn cho việc hoạch định đường lối, chủ
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 25
trương, chính sách của Đảng cũng như sự chỉ đạo thực tiễn trong công cuộc đổi mới. Đồng thời, các cuộc hội thảo, đối thoại lý luận với các đảng bạn đã góp phần củng cố, tăng cường quan hệ hợp tác giữa Đảng ta, nước ta với các đảng bạn, nước bạn. Từ kết quả các cuộc hội thảo lý luận giữa Đảng ta với các đảng bạn, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chỉ đạo tuyển chọn, phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự
thật biên tập, xuất bản và phát hành hàng chục đầu sách.
II. MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG
GIAI ĐOẠN 1996-2021
Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương giai đoạn 1996-2021 được cấu trúc bao gồm: chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; quy chế, cơ chế làm việc, hoạt động và mối quan hệ công tác...
1. Chức năng, nhiệm vụ
Xuyên suốt cả 5 nhiệm kỳ, Hội đồng Lý luận Trung ương được xác định là cơ quan có chức năng tư vấn về lý luận chính trị của Đảng. Ngay từ ngày đầu thành lập, Hội đồng Lý luận Trung ương đã được Bộ Chính trị xác định rõ về chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định số 06-QĐ/TW ngày 30/10/1996. Trong Quyết định, ghi rõ: “Thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương để tư vấn cho Bộ Chính trị về công tác lý luận chính trị; giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội thời kỳ 1996-2000 nhằm xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”. Trong nhiệm kỳ này, Hội đồng chưa chính thức được giao
26 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
nhiệm vụ nghiên cứu các đề tài khoa học và quản lý công tác nghiên cứu các đề tài khoa học.
Trong nhiệm kỳ thứ hai (2001-2005), chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Lý luận Trung ương có sự bổ sung mới, được xác định trong Quyết định số 13-QĐ/TW ngày 10/11/2001 của Bộ Chính trị khoá IX “về việc thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương”, bên cạnh chức năng tư vấn đã được xác định với những nội dung chính sau đây: (1) Hội đồng Lý luận Trung ương là cơ quan tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những vấn đề lý luận chính trị làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, về những chương trình, đề tài cấp Nhà nước về lý luận chính trị cơ bản, phục vụ trực tiếp cho công tác lãnh đạo của Đảng; (2) Thẩm định những vấn đề mà các ngành, các cấp trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng; (3) Nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng; (4) Giữ mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản và đảng cầm quyền trên thế giới.
Trong nhiệm kỳ thứ ba (2006-2010), về chức năng, nhiệm vụ: Bên cạnh chức năng tư vấn như nhiệm kỳ trước, về nhiệm vụ, so với nhiệm kỳ trước, trong nhiệm kỳ này, Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao cho Hội đồng nhiệm vụ trực tiếp nghiên cứu một số đề tài. Nếu như nhiệm kỳ trước, Hội đồng Lý luận Trung ương có nhiệm vụ: “Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức triển khai và nghiệm thu các chương trình và đề tài nghiên cứu khoa học về lý luận chính trị”, thì nhiệm kỳ này: “Hội đồng có nhiệm vụ trực tiếp nghiên cứu một số đề tài do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao hoặc chấp thuận đề xuất của Hội đồng, đồng thời kế thừa, chắt lọc kết quả của các chương trình,
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 27
đề tài nghiên cứu khác để thực hiện tốt chức năng tư vấn của Hội đồng và thực hiện một số nhiệm vụ tư vấn khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao”.
Nhiệm kỳ thứ tư (2011-2015) và thứ năm (2016-2021), về cơ bản, chức năng của Hội đồng Lý luận Trung ương tương tự như các nhiệm kỳ trước. Riêng có một điểm mới trong nhiệm vụ đấu tranh lý luận là: không chỉ cung cấp luận cứ mà còn bổ sung thêm nhiệm vụ “trực tiếp tham gia đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng”.
Như vậy, có thể nói, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Lý luận Trung ương, qua mỗi nhiệm kỳ, ngày càng được xác định rõ hơn, hoàn thiện và hiệu quả hơn, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu tình hình mới đặt ra.
2. Về tổ chức bộ máy
Tổ chức bộ máy của Hội đồng Lý luận Trung ương (gọi tắt là Hội đồng) về cơ bản có cấu trúc, bao gồm các bộ phận: (1) Thường trực Hội đồng do Bộ Chính trị quyết định theo nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Thường trực Hội đồng gồm Chủ tịch Hội đồng; các Phó Chủ tịch Hội đồng, trong đó có một Phó Chủ tịch thường trực, một số Phó Chủ tịch chuyên trách, một số Phó Chủ tịch kiêm nhiệm và Tổng Thư ký.
(2) Thành viên Hội đồng do Ban Bí thư quyết định. Trong đó về số lượng, nhiệm kỳ thứ nhất: 29 thành viên; nhiệm kỳ thứ hai: 36 thành viên; nhiệm kỳ thứ ba: 38 thành viên; nhiệm kỳ thứ tư: 42 thành viên; nhiệm kỳ thứ năm: 44 thành viên; nhiệm kỳ thứ sáu: 50 thành viên.
28 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
(3) Các tiểu ban của Hội đồng (cơ bản có 4 tiểu ban)1: (i) Tiểu ban Chính trị; (ii) Tiểu ban Kinh tế; (iii) Tiểu ban Văn hoá - Xã hội - Con người; (iv) Tiểu ban Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại. Mỗi tiểu ban có một trưởng tiểu ban, một hoặc một số phó trưởng tiểu ban do Thường trực Hội đồng quyết định. Mỗi thành viên Hội đồng tham gia một tiểu ban. Các tiểu ban làm việc theo Quy chế làm việc của Hội đồng và Quy chế làm việc của tiểu ban.
(4) Cơ quan Hội đồng gồm: Phó Chủ tịch thường trực, các Phó Chủ tịch chuyên trách, Ban Thư ký khoa học, Văn phòng Hội đồng. Chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của Cơ quan Hội đồng do Thường trực Hội đồng quyết định.
(5) Ban Thư ký khoa học do Thường trực Hội đồng quyết định. Ban Thư ký khoa học gồm Tổng Thư ký và các thư ký khoa học. Thư ký khoa học gồm những người trong biên chế của Cơ quan Hội đồng. Ban Thư ký khoa học làm việc theo Quy chế làm việc của Hội đồng và Quy chế làm việc của Ban Thư ký khoa học.
(6) Văn phòng Hội đồng là cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Hội đồng, thực hiện theo Quy chế làm việc của Hội đồng và Quy chế làm việc của Văn phòng Hội đồng. Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Văn phòng Hội đồng do Thường trực Hội đồng quyết định sau khi thống nhất với Ban Tổ chức Trung ương bằng văn bản. Nhân sự Văn phòng Hội đồng Lý luận Trung ương do Thường trực Hội đồng quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ.
Ngoài ra, Hội đồng có một số cộng tác viên khoa học chuyên trách; cộng tác viên tư vấn cho Hội đồng; cộng tác
__________
1. Riêng nhiệm kỳ thứ hai (2001-2005) có 5 tiểu ban (Tiểu ban Chính trị tách làm 2: Tiểu ban Xây dựng Đảng và Tiểu ban Hệ thống chính trị).
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 29
viên vụ việc. Danh sách và số lượng cộng tác viên do Thường trực Hội đồng quyết định. Cộng tác viên làm việc theo Quy chế cộng tác viên của Hội đồng và phối hợp chặt chẽ với Ban Thư ký khoa học của Hội đồng.
3. Về nguyên tắc, quy chế làm việc của Hội đồng
Trong nhiệm kỳ đầu (1996-2000), chưa có Quy chế làm việc. Từ nhiệm kỳ thứ hai (2001-2005) đến nay, Quy chế làm việc của Hội đồng đã được xây dựng và do Ban Bí thư ban hành. Trong Quy chế làm việc, ngoài chức năng, nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng và các thành viên của Hội đồng Lý luận Trung ương, luôn quy định ngày càng rõ hơn: nguyên tắc, chế độ làm việc và các mối quan hệ công tác của Hội đồng Lý luận Trung ương.
Tư tưởng xuyên suốt, nhất quán trong 25 năm qua, Quy chế làm việc luôn được xây dựng và hoàn thiện để bảo đảm cho Hội đồng Lý luận Trung ương vận hành làm tốt vai trò là “cơ quan tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về các vấn đề lý luận chính trị làm cơ sở cho việc hoạch định, hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; về những chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận chính trị phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của Đảng”. Một trong số những nội dung cốt lõi trong chế độ làm việc của Hội đồng được quy định tại Quy chế làm việc, thể hiện ở vị trí, trách nhiệm và quyền hạn của cá nhân và tổ chức mỗi bộ phận như sau: (1) Theo quy định, Hội đồng làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; (2) Chủ tịch Hội đồng chịu trách nhiệm toàn bộ việc lãnh đạo, tổ chức, điều hành hoạt động của Hội đồng; quyết định những vấn đề quan trọng về quan điểm, đường lối của Đảng...; (3) Thường trực Hội đồng: Được thay mặt Hội đồng chỉ đạo
30 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
thực hiện Chương trình công tác của Hội đồng; giải quyết công việc thường xuyên của Hội đồng; (4) Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng chịu trách nhiệm thay mặt Thường trực Hội đồng điều hành và giải quyết các công việc hằng ngày của Hội đồng; trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm về các hoạt động của Cơ quan Hội đồng; giữ mối liên hệ giữa Hội đồng với các cấp ủy, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và các tổ chức liên quan khác của Đảng và Nhà nước; thay mặt Thường trực Hội đồng ký các văn bản theo ủy nhiệm của Chủ tịch Hội đồng; phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan có liên quan bảo đảm các điều kiện, phương tiện làm việc cho Hội đồng, Cơ quan Hội đồng và an toàn trụ sở Hội đồng; chịu trách nhiệm trước Thường trực Hội đồng về việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, nhân viên, người lao động trong Cơ quan Hội đồng và các chi tiêu tài chính của Hội đồng; là thủ trưởng, chủ tài khoản Cơ quan Hội đồng; (5) Các Phó Chủ tịch Hội đồng chuyên trách và kiêm nhiệm thực hiện trách nhiệm, quyền hạn của thành viên Hội đồng và tham gia công tác chỉ đạo của Thường trực Hội đồng; thực hiện những công việc theo sự phân công của Thường trực Hội đồng và những công việc do Chủ tịch Hội đồng giao; phụ trách và theo dõi công việc theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng; (6) Tổng Thư ký Hội đồng trực tiếp điều hành công việc của Ban Thư ký khoa học và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Ban Thư ký khoa học, tham gia các công việc khác do Thường trực Hội đồng phân công; (7) Ban Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương là đầu mối tham mưu, giúp việc cho Hội đồng mà trực tiếp và thường xuyên là Thường trực Hội đồng trong công việc chuyên môn, tổ chức các hoạt động khoa học, tư vấn về lý luận chính trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chung của Hội đồng do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 31
Chính trị, Ban Bí thư giao; (8) Văn phòng Hội đồng là cơ quan tham mưu, giúp việc Hội đồng, trực tiếp là Thường trực Hội đồng, xây dựng kế hoạch công tác, bảo đảm các điều kiện vật chất - tài chính, chăm lo chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, người lao động; quản lý phương tiện, cơ sở vật chất, kỹ
thuật; bảo đảm an toàn và các điều kiện cần thiết cho hoạt động của Hội đồng, Cơ quan Hội đồng...; (9) Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Trong nghiên cứu, thảo luận và hội thảo, thực hiện cá nhân tự do tư tưởng, phát huy dân chủ, khuyến khích tranh luận, tìm tòi những giải pháp mới và những vấn đề lý luận mới nảy sinh. Đối với những đề xuất mới, dù của một người, đều được nghiên cứu chu đáo...
4. Quan hệ công tác của Hội đồng với các ban và các cơ quan của Trung ương Đảng và các địa phương
Trong quá trình công tác, Hội đồng Lý luận Trung ương thực hiện giữ mối liên hệ và nhận những thông tin cần thiết có liên quan của các ban Đảng Trung ương, các cấp, các bộ, ngành Trung ương, các địa phương, các tổ chức liên quan của Đảng và Nhà nước; huy động lực lượng nghiên cứu khoa học của các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học xã hội cấp Nhà nước; hợp tác với các cơ quan, các địa phương và các nhà khoa học để chuẩn bị những nội dung tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư...
Có thể nói, mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương giai đoạn 1996-2020, trên tất cả các bộ phận cấu thành (chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc, mối quan hệ công tác...), trải qua 5 nhiệm kỳ hoạt động đã có những thay đổi quan trọng theo hướng ngày càng phù hợp và hiệu quả hơn.
32 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Bên cạnh chức năng tư vấn xuyên suốt 1/4 thế kỷ qua, từ chỗ mô hình chưa phải là cơ quan độc lập, chưa có con dấu riêng trong nhiệm kỳ đầu (1996-2000), chỉ được giao nhiệm vụ “Giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội giai đoạn 1996-2000”, sang nhiệm kỳ 2001-2005, mô hình và tổ chức hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương được kiện toàn đầy đủ hơn rất nhiều so với nhiệm kỳ trước, làm nền tảng cho tổ chức hoạt động của Hội đồng những nhiệm kỳ sau. Đặc điểm nổi bật là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Hội đồng vừa trực tiếp, vừa sát sao, thể hiện mối quan tâm to lớn của Đảng đối với hoạt động của Hội đồng. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc của Hội đồng rõ ràng và đầy đủ hơn. Lần đầu tiên, Hội đồng là một cơ quan độc lập, có văn phòng, có trụ sở, con dấu và ngân sách riêng. Sang nhiệm kỳ 2006-2010 và nhiệm kỳ 2011-2015, cùng với sự kiện toàn về mô hình tổ chức bộ máy và quy chế làm việc, Hội đồng đã được giao chủ trì triển khai thực hiện Chương trình KX.04/2006-2010 và Chương trình KX.04/2011-2015 (dù mới là chủ trì về thực hiện nội dung nghiên cứu). Đến nhiệm kỳ 2016-2021, Hội đồng đã được giao chủ quản Chương trình nghiên cứu KX.04/16-20 (quản lý đồng bộ cả về nội dung, cơ chế thực hiện nghiên cứu và cơ chế tài chính). Đồng thời, trong nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, Hội đồng không chỉ được giao “cung cấp cơ sở đấu tranh” mà còn “trực tiếp tham gia đấu tranh...”. Đây là một bước tiến rất quan trọng, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng trong việc thành lập, từng bước kiện toàn mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Lý luận Trung ương. Việc Hội đồng được giao chủ trì, rồi chủ quản Chương trình nghiên cứu lý luận chính trị cấp quốc gia đã cho thấy
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 33
yêu cầu khách quan đối với Hội đồng là để làm tốt công tác tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng phải từng bước đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận chính trị.
III. CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG
BÁO CÁO TƯ VẤN CỦA HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 1996-2021
Tư vấn lý luận chính trị là chức năng cơ bản, xuyên suốt, là “thiên chức” của Hội đồng Lý luận Trung ương. Hoạt động tư vấn về lý luận chính trị của Hội đồng Lý luận Trung ương phát triển qua các giai đoạn, ngày càng có tiến bộ và phục vụ
thiết thực sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Nội dung của các báo cáo tư vấn đóng vai trò rất quan trọng làm cơ sở cho việc hoạch định, hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực chính trị, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, xã hội, con người; quốc phòng - an ninh - đối ngoại... Những nội dung này đã được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá cao và được sử dụng đưa vào các văn kiện Đại hội IX, X, XI, XII và XIII của Đảng, cũng như một số Nghị quyết chuyên đề quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương.
1. Nhiệm kỳ 1996-2000
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao: tư vấn cho Bộ Chính trị về công tác lý luận; giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội cấp nhà nước thời kỳ 1996-2000 nhằm xây
34 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong nhiệm kỳ này, Hội đồng Lý luận Trung ương đã lựa chọn một số vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách để tư vấn cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Cụ thể các công trình đã được Hội đồng nghiên cứu để tư vấn là: (i) Những vấn đề cần nhận thức cho đúng và cần tiếp tục bổ sung, điều chỉnh, phát triển đối với chủ nghĩa Mác - Lênin; (ii) Những vấn đề về tư tưởng Hồ Chí Minh được xem xét một cách toàn diện và có hệ thống; (iii) Những vấn đề về kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước; (iv) Những quan điểm về đổi mới hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân; (v) Vấn đề xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo Nhà nước; (vi) Vấn đề xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng nền pháp chế và sự quản lý xã hội bằng pháp luật; (vii) Vấn đề xây dựng nền văn hoá Việt Nam và con người Việt Nam trong thời đại mới.
Để thực hiện có kết quả chất lượng các báo cáo tư vấn trên đây, bên cạnh việc phối hợp với các chương trình, đề tài nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tiến hành chắt lọc các kết quả nghiên cứu, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức một loạt các hoạt động nghiên cứu sau:
(1) Tiến hành hội thảo theo các chủ đề nêu trên1. Sau mỗi hội thảo, Thường trực Hội đồng có bản báo cáo tóm tắt
__________
1. Để tiến hành hội thảo có kết quả, Hội đồng Lý luận Trung ương đã làm tốt khâu chuẩn bị: (i) Xây dựng đề cương hội thảo, nêu rõ mục tiêu và nội dung cần tập trung thảo luận; (ii) Phân công người viết báo cáo đề dẫn; (iii) Gửi trước bản đề cương và báo cáo đề dẫn cho các thành viên tham gia hội thảo; (iv) Hầu hết những người tham gia hội thảo đều có bài viết gửi cho Hội đồng Lý luận Trung ương, trong đó có những bài được chuẩn bị rất công phu.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 35
về nội dung gửi Bộ Chính trị. Các bản báo cáo, bài phát biểu trong hội thảo của các ủy viên Hội đồng và các nhà khoa học bên ngoài đều được biên tập để đưa vào kỷ yếu hội thảo. Tất cả các kỷ yếu hội thảo đã cung cấp cho các đồng chí Bộ
Chính trị, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, ủy viên Trung ương Đảng, một số đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, các thành viên của Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban Thư ký của Hội đồng. Dư luận chung đều đánh giá các tập kỷ yếu có nội dung khoa học tốt, là tài liệu tham khảo rất bổ ích.
(2) Hội đồng đã triển khai và hoàn thành việc nghiên cứu 5 vấn đề mà đồng chí nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười giao cho: (i) Khả năng của các nước tư bản có giải quyết được mâu thuẫn trong các nước đó và trong phạm vi quốc tế không?; (ii) Triển vọng sự phát triển (đi lên) của Trung Quốc?; (iii) Vấn đề “tư bản nhà nước” đối với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội (vai trò, khả năng, phát triển...) ở nước ta; (iv) Vì sao ở các nước tư bản, phong trào công nhân và Đảng Cộng sản không phát triển?; (v) Việt Nam với xu hướng quốc tế hóa (toàn cầu hóa), khu vực hóa (quan hệ đối ngoại với ASEAN, EU, AFTA, WTO...) và một số nước.
(3) Hội đồng đã tổ chức nhiều buổi đóng góp ý kiến với dự thảo nghị quyết của một số hội nghị Trung ương, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội IX. Nhiều thành viên trong Hội đồng Lý luận Trung ương được mời tham gia soạn thảo các văn kiện nói trên.
(4) Căn cứ vào các bản kiến nghị khoa học của chương trình và đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 1996- 2000, tháng 12/1999, Thường trực Hội đồng đã tập hợp thành một bản kiến nghị gửi lên Ban văn kiện Đại hội IX của Đảng và được đánh giá cao.
36 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
2. Nhiệm kỳ 2001-2005
Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2001-2005 đã triển khai nhiều công trình nghiên cứu lý luận có giá trị tư vấn cho Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng.
Những kết quả hoạt động tư vấn nổi bật về lý luận chính trị của Hội đồng trong giai đoạn này là:
(1) Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới
Ngày 01/3/2003, Bộ Chính trị khoá IX quyết định tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, lập Ban Chỉ đạo tổng kết và giao nhiệm vụ cho Hội đồng Lý luận Trung ương làm Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo.
Triển khai nhiệm vụ được giao, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương xây dựng Đề cương tổng kết được đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết thông qua, gửi đến 5 nhóm tổng kết ở Trung ương; tổ chức, hướng dẫn nội dung, cách thức và tiến độ tổng kết đối với 30 tỉnh ủy, thành ủy và 24 bộ, ban, ngành ở Trung ương. Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cùng 5 nhóm tổng kết trực tiếp đi thực tế, đến làm việc, khảo sát, tìm hiểu tình hình tại 44 tỉnh, thành phố, 15 quận, huyện, xã, phường, tổ chức 23 cuộc hội thảo, đồng thời tổ chức điều tra xã hội học.
Sau một quá trình nghiên cứu, đầu năm 2005, Hội đồng Lý luận Trung ương hoàn thành Dự thảo “Báo cáo kết quả tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới”. Ngày 17/01/2005, Hội nghị Trung ương 11 khoá IX đánh giá Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới là “một cuộc tổng kết có quy mô lớn, quan trọng, rất thành công, có một số đột phá lý luận và rút ra được một số bài học quý giá, là cơ sở lý
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 37
luận - thực tiễn cho việc chuẩn bị các văn kiện Đại hội X của Đảng”; Hội nghị đã ra Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 25/01/2005, trong đó ghi rõ: Cơ bản tán thành “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới”. Hội nghị Trung ương 12 khoá IX ra Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 13/7/2005, trong đó ghi rõ: “giao Hội đồng Lý luận Trung ương bổ sung, hoàn chỉnh Báo cáo tổng kết trình Ban Chỉ đạo tổng kết trước khi công bố”. Ngày 05/8/2005, Bộ
Chính trị và Ban Chỉ đạo tổng kết giao Hội đồng Lý luận Trung ương hoàn thiện Báo cáo “Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới” và cho công bố vào tháng 9/2005 với số lượng 6 vạn cuốn, kịp thời phục vụ đại hội đảng bộ các cấp và đưa phần cốt lõi của tổng kết vào Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng.
Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới đã chứng minh đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Mặc dù còn không ít vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, nhưng qua tổng kết, Đảng ta đã bước đầu hình thành được trên những nét cơ bản một hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho đường lối của Đảng.
(2) Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chính trị phục vụ trực tiếp việc soạn thảo các văn kiện Đại hội X của Đảng Hội đồng Lý luận Trung ương đã hoàn thành nghiên cứu những vấn đề do Bộ Chính trị, Ban Bí thư và một số hội nghị Trung ương khoá IX giao nhằm phục vụ việc soạn thảo các văn kiện Đại hội X của Đảng:
- “Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân” Đây là một vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm cả về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội, đã được thảo luận trong Đảng gần 20 năm.
38 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức một số đoàn đi khảo sát thực tế tại nhiều tỉnh và thành phố, điều tra dư luận xã hội, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học và trực tiếp nghe ý kiến của nhiều cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, các đồng chí lão thành cách mạng, của một số chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước; dành phần lớn thời gian 2 kỳ họp của Hội đồng để hội thảo dân chủ, cởi mở vấn đề nói trên, tập trung vào các vấn đề: (i) Tiêu chí của kinh tế tư bản tư nhân; quan niệm về bóc lột trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; (ii) Cần có những quy định gì của Đảng đối với đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân; những thách thức gì có thể đặt ra khi Đảng cho đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân.
Kết quả nghiên cứu về vấn đề đi tới kiến nghị của Hội đồng: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và theo một số điều kiện nhất định” và đã được Bộ Chính trị khoá IX chấp nhận.
- Làm rõ nội dung “Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Đây là vấn đề được tranh luận nhiều trong Đảng và ngoài xã hội. Nhiều người cho rằng nội dung “định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường” mà Đảng ta đề ra chưa rõ. Hội đồng đã tập hợp được trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, các nhà quản lý trong và ngoài Hội đồng để nghiên cứu vấn đề trên, làm rõ hơn những khía cạnh: tính tất yếu khách quan; những nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nội dung tính xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường; những điều kiện bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của Hội đồng đã góp phần làm rõ thêm nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 39
tế thị trường ở nước ta. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn “mở” để tiếp tục nghiên cứu sâu thêm thời gian tới.
- Nghiên cứu chuyên đề “Dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền và các hình thức thực hiện dân chủ”
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, công trình nghiên cứu chuyên đề trên của Hội đồng Lý luận Trung ương đã làm rõ thực trạng dân chủ ở nước ta và các nguyên nhân; đề xuất những quy chế, cơ chế để thực thi dân chủ cả ở trong Đảng và trong xã hội. Kết quả nghiên cứu đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư chấp nhận.
- Nghiên cứu chuyên đề “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước”
Đây là đề tài nghiên cứu do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao. Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức hội thảo, nghiên cứu làm rõ quá trình đổi mới nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; đánh giá, phân tích thực trạng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong quá trình đổi mới, từ đó xác định những vấn đề bức xúc đang nảy sinh, nguyên nhân và bài học; hình thành những luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phù hợp tình hình mới. - Nghiên cứu một số chuyên đề khác
Hội đồng Lý luận Trung ương xây dựng báo cáo “Đẩy mạnh công tác lý luận - một nhiệm vụ quan trọng bức thiết hiện nay” trình Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, góp phần xây dựng Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX; đã tổng kết phần công tác lý luận trong Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về tư tưởng, lý luận sau 3 năm thực hiện. Ngoài ra, Hội đồng Lý luận Trung ương còn góp ý kiến vào những dự thảo
40 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
các Nghị quyết Trung ương khoá IX và tổ chức những kỳ họp để hội thảo, góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội X của Đảng.
(3) Thực hiện Đề tài độc lập cấp nhà nước của Hội đồng: “Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
Đề tài đã được nghiệm thu và xuất bản thành sách, tái bản nhiều lần, góp phần tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, làm rõ hơn nhiều nội dung về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
3. Nhiệm kỳ 2006-2010
Trong Thông báo Kết luận số 47-TB/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: Hướng nghiên cứu tư vấn giai đoạn 2006- 2010 của Hội đồng Lý luận Trung ương tập trung vào chuẩn bị cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và chuẩn bị soạn thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về đặc điểm của thời đại, của tình hình thế giới hiện nay; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình Việt Nam; về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; về phát triển văn hoá - xã hội; về chiến lược bảo vệ Tổ quốc; về phát huy dân chủ, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời kỳ mới...
Chủ động triển khai tích cực theo hướng nghiên cứu trên, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tăng cường bám sát thực tiễn, chủ động đẩy mạnh các hoạt động khoa học để kịp
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 41
thời tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư:
- Đã tổ chức các cuộc hội thảo về “Tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình hiện nay”; về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, về “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế”; về “Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Từ đó, đã đúc kết được nhiều luận cứ khoa học mới có giá trị, góp phần thiết thực tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương ban hành các nghị quyết về các vấn đề nêu trên.
- Khi khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương đã chủ động đề xuất và được Ban Bí thư giao cho Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức 3 cuộc hội thảo liên quan đến vấn đề này và đã xây dựng báo cáo tư vấn đề xuất kịp thời với Bộ Chính trị, Ban Bí thư một số vấn đề lớn về thời kỳ hậu khủng hoảng: một là, nhận định nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi tích cực vào những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010, song vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Sau khủng hoảng, các nước đều phải điều chỉnh, thay đổi chính sách, mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; hai là, trong bối cảnh chung đó, việc cơ cấu lại nền kinh tế nước ta là yêu cầu hết sức bức thiết, cần phải được chỉ đạo tập trung và tổ chức thực hiện quyết liệt với những mục tiêu, kế hoạch, giải pháp và bước đi thiết thực, rõ ràng trên cơ sở tính toán, cân nhắc thật sự hợp lý, chặt chẽ, đầy đủ các điều kiện, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài...
42 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
- Hội đồng đã tổ chức có kết quả nhiều cuộc hội thảo quan trọng khác, với những chủ đề và nội dung thiết thực: (1) Cuộc Hội thảo về triển khai và tổ chức việc nghiên cứu bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 (tổ chức vào tháng 01/2008), đã tập trung làm rõ sự cần thiết và góp phần bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991; yêu cầu của việc tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh; những quan điểm chỉ đạo; những vấn đề lý luận cần tổng kết, nghiên cứu để bổ sung, phát triển Cương lĩnh; bối cảnh quốc tế; đặc trưng của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; những định hướng lớn về phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; văn hoá và con người; về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng.
(2) Cuộc Hội thảo về “Một số vấn đề có ý kiến khác nhau trong các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng” tập trung vào 3 vấn đề lớn: một là, mô hình và những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (phục vụ cho việc tiếp tục hoàn thiện dự thảo bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội); hai là, những cơ chế, giải pháp mới bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta giai đoạn 2011-2020 (phục vụ cho việc tiếp tục hoàn thiện dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020); ba là, thực trạng và yêu cầu tiếp tục đổi mới, kiện toàn công tác tổ chức, cán bộ của Đảng trong giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020.
(3) Đã chuẩn bị tốt cho Hội thảo về chủ đề “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn cốt yếu góp phần tiếp tục hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng”. Căn cứ vào tình
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 43
hình thực tế, Hội đồng Lý luận Trung ương không tổ chức hội thảo, nhưng đã xây dựng Báo cáo chắt lọc, tổng hợp ý kiến của 28 bài tham luận trong và ngoài Hội đồng thành 2 Báo cáo tư vấn kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Hai bản báo cáo tư vấn chắt lọc, tổng hợp ý kiến được Bộ Chính trị, Ban Bí thư đánh giá có chất lượng tốt, góp phần tiếp tục hoàn thiện các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng.
4. Nhiệm kỳ 2011-2015
Bám sát Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị khóa XI, ngay sau khi có quyết định thành lập, Hội đồng Lý luận Trung ương đã chủ động xây dựng Chương trình làm việc cho cả nhiệm kỳ 2011-2015.
Một trong những điểm nổi bật của Hội đồng Lý luận Trung ương trong nhiệm kỳ này là tăng cường khảo sát, tổng kết thực tiễn1, tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, từ đó tổng hợp, chắt lọc để kịp thời xây dựng nhiều báo cáo tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết, kết luận. Đó là các báo cáo tư vấn: “Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992”; “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay”; “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn góp phần tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai”; “Một số vấn đề cốt yếu về tiếp tục đổi mới, nâng cao
__________
1. Tổ chức các đoàn nghiên cứu, khảo sát thực tế kết hợp với tổ chức tọa đàm chuyên sâu tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Quân khu 3, Quân khu 7, Quân khu 9; tổ chức điều tra xã hội học với quy mô lớn.
44 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”; “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”; “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam”; “Chủ trương, giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường”; “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động nhân dân trong tình hình mới”; “Một số căn cứ lý luận, thực tiễn tiếp tục hoàn thiện quan điểm xây dựng, phát triển văn hóa trong thời kỳ mới”; “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về đảng cầm quyền”; “Giấc mơ Trung Hoa và sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc; những tác động đến Việt Nam”... Các báo cáo tư vấn nói trên nhìn chung có chất lượng tốt, được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị sử dụng trong soạn thảo và ban hành các nghị quyết, kết luận (xem Phụ lục 1).
5. Nhiệm kỳ 2016-2021
Bám sát Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thực tiễn phát triển đất nước, Hội đồng Lý luận Trung ương đã định hướng những nội dung tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2016-2021, thể hiện trong Kế hoạch số 26- KH/HĐLLTW ngày 22/12/2016 như sau: (i) Tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những vấn đề lý luận chính trị nhằm tiếp tục phục vụ việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; Báo cáo chính trị và các văn kiện khác tại Đại hội XII của Đảng; (ii) Chủ trì và tham gia soạn thảo một số đề án và báo
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 45
cáo tư vấn phục vụ trực tiếp các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII; (iii) Tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư một số vấn đề, nội dung phục vụ trực tiếp việc soạn thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; (iv) Tư vấn cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc tiếp tục triển khai thực hiện và tổ chức sơ kết, tổng kết các nghị quyết liên quan đến công tác tư tưởng, lý luận đã ban hành trong những năm đổi mới vừa qua và thực hiện những nhiệm vụ được phân công.
Định hướng các nội dung tư vấn đó được cụ thể hóa thành kế hoạch thực hiện từng năm, từng quý, gắn với mỗi kỳ họp của Hội đồng. Kết quả trong nhiệm kỳ 2016-2021, Hội đồng Lý luận Trung ương đã thực hiện 13 báo cáo tư vấn (xem Phụ
lục 2).
Các báo cáo này tập trung làm rõ những bất cập, hạn chế, những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước, trên cơ sở đó đề xuất bổ sung, hoàn thiện quan điểm, chủ trương, định hướng phát triển. Đồng thời, những đề xuất các báo cáo tư vấn của Hội đồng đã góp phần cung cấp các luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng và chuẩn bị cho việc dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
IV. CÔNG TÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 1996-2021
Công tác tổ chức nghiên cứu lý luận chính trị của Hội đồng Lý luận Trung ương có nhiều công đoạn, nhiều khâu
46 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
công việc, trong đó quan trọng nhất là 3 khâu: định hướng nội dung nghiên cứu; lựa chọn, tổ chức lực lượng nghiên cứu; và công tác tổ chức, quản lý triển khai, đánh giá, sử dụng kết quả nghiên cứu.
1. Nhiệm kỳ 1996-2000
Bộ Chính trị giao cho Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm vụ quan trọng là “Giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội giai đoạn 1996-2000”. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII về phương hướng nghiên cứu khoa học xã hội trong giai đoạn 1996-2000, Hội đồng Lý luận Trung ương đã phối hợp với Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cụ thể hóa phương hướng nghiên cứu đó thành 7 chương trình, với 56 đề tài và 13 chuyên đề triển khai nghiên cứu. Để triển khai thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Hội đồng Lý luận Trung ương đã được giao thực hiện các nhiệm vụ cụ thể giúp Thường vụ Bộ Chính trị, như sau: (i) Thẩm định các quan điểm, nội dung các chương trình dài hạn và các vấn đề có liên quan tới công tác lý luận của Đảng theo yêu cầu của Bộ Chính trị; (ii) Cụ thể hóa phương hướng, phạm vi nghiên cứu của các chương trình, đề tài nghiên cứu. Xem xét việc bổ sung, điều chỉnh nội dung các đề tài trong quá trình thực hiện do nhu cầu của thực tiễn đặt ra; (iii) Chỉ định và thay đổi các chủ nhiệm đề tài khi cần thiết; (iv) Chỉ đạo việc thành lập các Hội đồng khoa học để thông qua đề cương nghiên cứu và nghiệm thu các chương trình, đề tài; (v) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra quá trình nghiên cứu của các chương trình và đề tài; (vi) Xem xét kết quả nghiên cứu của các chương trình và kiến nghị với Bộ Chính trị cho nghiệm thu
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 47
chương trình khi có đủ điều kiện; (vii) Thẩm định nội dung để đề xuất với Bộ Chính trị cho phép mức độ công bố kết quả nghiên cứu của các chương trình và đề tài; (viii) Xem xét những kết luận và kiến nghị khoa học của các chương trình, đề tài và đề xuất với Bộ Chính trị về khả năng vận dụng những kết luận, kiến nghị đó.
Theo mô hình này, trên thực tế, Hội đồng Lý luận Trung ương trực tiếp quản lý về nội dung nghiên cứu của các chương trình, đề tài; Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm quản lý về phương diện tổ chức hành chính quá trình thực hiện các chương trình, đề tài.
2. Nhiệm kỳ 2001-2005
Trách nhiệm của Hội đồng Lý luận Trung ương (theo Quyết định số 13-QĐ/TW ngày 10/11/2001 của Bộ Chính trị) về công tác chỉ đạo, quản lý triển khai các chương trình nghiên cứu lý luận chính trị do Bộ Chính trị, Ban Bí thư “đặt hàng” ở giai đoạn 2001-2005 có những điều chỉnh mới về căn cứ pháp lý trong chỉ đạo nội dung của Hội đồng Lý luận Trung ương và trong quản lý nhà nước của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Theo đó, rút kinh nghiệm của nhiệm kỳ 1996-2000, Hội đồng Lý luận Trung ương đã sớm xây dựng và trình Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII về dự kiến các chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị
nhiệm kỳ 2001-2005. Sau khi Thường vụ Bộ Chính trị cho ý kiến, Hội đồng Lý luận Trung ương đã giới thiệu Hội đồng tư vấn cho các chương trình này và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ra quyết định thành lập các Hội đồng khoa học, có nhiệm vụ tư vấn xác định về mục tiêu, nội dung chương trình và các đề tài cụ thể trong chương trình. Trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Khoa học, Công
48 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
nghệ và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, trong đó có 8 chương trình khoa học xã hội và nhân văn.
Căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và đề nghị của Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ra Quyết định số 1336/QĐ BKHCNMT về thành lập ban chủ nhiệm 8 chương trình, Hội đồng Lý luận Trung ương đề nghị chỉ định chủ nhiệm các đề tài để chuẩn bị đề cương và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ra quyết định thành lập các Hội đồng tư vấn xét duyệt các đề tài thuộc 8 chương trình. Sau khi có kết luận của Hội đồng Lý luận Trung ương và kết quả xét duyệt đề cương của các đề tài thuộc 8 chương trình, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ra quyết định về danh mục 79 đề tài và bổ nhiệm 79 chủ nhiệm đề tài thuộc 8 chương trình (trên cơ sở danh sách Hội đồng Lý luận Trung ương chỉ định). Sự chỉ đạo và quản lý triển khai thực hiện các chương trình, đề tài trong giai đoạn này về cơ bản giống như giai đoạn 1996-2000, mặc dù có một số điều chỉnh cụ thể.
3. Nhiệm kỳ 2006-2010
Hướng nội dung nghiên cứu nhiệm kỳ này của Hội đồng Lý luận Trung ương là tập trung vào chuẩn bị cho việc tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và chuẩn bị soạn thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng...
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm các nhiệm kỳ trước, Hội đồng Lý luận Trung ương đã báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đề nghị thành lập Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị nhiệm kỳ 2006-2010” do Hội đồng Lý luận Trung ương trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện và được Bộ Chính trị, Ban Bí thư đồng ý. Thường trực Hội đồng Lý luận
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 49
Trung ương đã xây dựng khung chương trình, nêu rõ 3 mục tiêu và nội dung nghiên cứu gồm 12 cụm vấn đề lớn, đồng thời xác định rõ sản phẩm và yêu cầu sản phẩm của chương trình cũng như các tiêu chí chương trình phải đạt tới. Trên cơ sở xác định những nội dung lớn, Hội đồng Lý luận Trung ương đã cụ
thể hóa thành 32 đề tài thuộc Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006-2010” (mã số KX.04/06-10). Ngày 23/3/2007, Bộ Khoa học và Công nghệ ra Quyết định số 416-QĐ/BKHCN phê duyệt Chương trình.
Về cách thức tiến hành: thống nhất các đề tài nghiên cứu lý luận chính trị trong một chương trình, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương là Ban Chủ nhiệm Chương trình. Bộ Khoa học và Công nghệ làm chức năng quản lý nhà nước đối với các đề tài và chương trình do Hội đồng Lý luận Trung ương thực hiện. Như vậy, trong nhiệm kỳ 2006-2010, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng liên quan đến công tác nghiên cứu lý luận chính trị đã có sự thay đổi quan trọng so với các nhiệm kỳ trước, đó là: nhiệm kỳ 2001-2005, Hội đồng Lý luận Trung ương là cơ quan “giúp Thường vụ Bộ Chính trị chỉ đạo phương hướng, nội dung các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội”, “phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức triển khai và nghiệm thu các chương trình và đề tài nghiên cứu khoa học về lý luận chính trị”, thì nhiệm kỳ 2006-2010 “Hội đồng có nhiệm vụ trực tiếp nghiên cứu một số đề tài do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao hoặc chấp thuận đề xuất của Hội đồng, đồng thời kế thừa, chắt lọc kết quả của các chương trình, đề tài nghiên cứu khác để thực hiện tốt chức năng tư vấn của Hội đồng và thực hiện một số nhiệm vụ tư vấn khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao”.
Chương trình được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Hội đồng Lý luận Trung ương thành lập Ban
50 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Chủ nhiệm Chương trình bao gồm các đồng chí trong Thường trực Hội đồng; Chủ nhiệm Chương trình là đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Phó Chủ nhiệm Chương trình là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương. Đồng thời thành lập Ban Thư ký khoa học, hành chính của Chương trình. Các cơ quan chủ trì đề tài là các cơ quan khoa học lớn, đại học lớn trong cả nước. Các chủ nhiệm đề tài thường là cán bộ lãnh đạo, cũng là nhà khoa học ở các cơ quan khoa học, quản lý lớn. Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 20/2007/TT-BKHCN dành riêng cho việc tổ chức, quản lý hoạt động của Chương trình này.
Ban Chủ nhiệm Chương trình đã xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chủ nhiệm, Ban Thư ký và quyết định nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên trong Ban Chủ nhiệm, Ban Thư ký. Xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ giữa Ban Chủ nhiệm Chương trình với các đề tài; với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Với việc tổ chức lại Hội đồng thành 4 tiểu ban (Tiểu ban Chính trị và Xây dựng Đảng; Tiểu ban Kinh tế - Xã hội; Tiểu ban Văn hóa và Xây dựng con người; Tiểu ban Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại); và xác định rõ hơn chức năng của Ban Thư ký khoa học “giúp Hội đồng tổ chức nghiên cứu các đề tài lý luận chính trị cấp nhà nước” do Hội đồng chủ trì, đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Hội đồng thực hiện chức năng nghiên cứu lý luận. Đây là một nhiệm vụ mới rất đặc trưng của nhiệm kỳ 2006-2010.
Nghiệm thu kết quả thực hiện Chương trình KX.04/06-10 cho thấy: Đối chiếu với mục tiêu, 12 nội dung lớn và các yêu cầu sản phẩm của Chương trình, có thể khẳng định Chương trình KX.04/06-10 do Hội đồng Lý luận Trung ương trực tiếp
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 51
quản lý, tổ chức thực hiện là hợp lý, có hiệu quả và đạt kết quả xuất sắc. Ban Bí thư hoan nghênh kết quả đạt được và đánh giá cao sự cố gắng của Hội đồng Lý luận Trung ương và các nhà khoa học đã tham gia thực hiện Chương trình1.
4. Nhiệm kỳ 2011-2015
Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng rõ mục tiêu và nội dung nghiên cứu của Chương trình. Trên cơ sở định hướng đó, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương đã xây dựng khung Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015” và cụ thể hóa nội dung nghiên cứu của Chương trình gồm 31 đề tài. Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt Chương trình.
- Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/11-15 được hình thành trên cơ sở quyết định của Bộ Khoa học và Công nghệ về Quy chế tổ chức quản lý hoạt động Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp nhà nước “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015”; mã số KX.04/11-15 (Quyết định số 3778/QĐ-BKHCN ngày 09/12/2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ).
Cách thức tổ chức, quản lý Chương trình KX.04/11-15 của Hội đồng Lý luận Trung ương, về cơ bản như Chương trình KX.04/06-10 giai đoạn 2006-2010, nhưng có sự đổi mới ở một số khâu công tác, như: Ban Chủ nhiệm Chương trình là các đồng chí trong Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương; Chủ tịch Hội đồng là Chủ nhiệm Chương trình; Tổ Thư
ký giúp việc có 5 đồng chí. Chương trình được thực hiện theo hình thức tuyển, xét chọn công khai, “đấu thầu”. Hội đồng Lý luận Trung ương đã trực tiếp gửi công văn đến 90 cơ quan
__________
1. Thông báo số 367-TB/TW ngày 17/8/2010 của Ban Bí thư Trung ương.
52 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
khoa học thông báo về nội dung, kế hoạch tuyển, xét chọn. Bình quân mỗi đề tài có 3 hồ sơ, một số đề tài có 2 hồ sơ tham gia “đấu thầu”. Riêng các đề tài về quốc phòng - an ninh - đối ngoại được giao trực tiếp cho các cơ quan nghiên cứu của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao (mỗi đề tài cử 2 đơn vị chuẩn bị hồ sơ và Hội đồng tổ chức xét chọn một trong hai đơn vị đó).
Hội đồng Lý luận Trung ương đã thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, đúng quy định của Luật Khoa học và Công nghệ cũng như các thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ từ khâu tư vấn xây dựng nhiệm vụ đến tuyển, xét chọn, kiểm tra, nghiệm thu đề tài... và có sự vận dụng phù hợp đối với Chương trình nghiên cứu lý luận. Giống như Chương trình giai đoạn 2006-2010, Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2011-2015 quản lý tổ chức thực hiện về nội dung còn Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý về tài chính.
Chương trình đã được triển khai đúng tiến độ, tháng 12/2015, 100% đề tài đã bảo vệ xong cấp nhà nước. Các sản phẩm nghiên cứu của Chương trình, gồm 31 đề tài trong Chương trình đã được báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tiểu ban Văn kiện Đại hội XII cũng như Ban Chỉ đạo tổng kết 30 năm đổi mới.
Trong nhiệm kỳ này, Hội đồng Lý luận Trung ương còn được giao làm thường trực Chương trình Tổng kết 30 năm đổi mới và Thường trực Hội đồng đã làm tốt nhiệm vụ này, trên cơ sở chỉ đạo các đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề phục vụ trực tiếp tổng kết 30 năm đổi mới và một số đề tài nghiên cứu trực tiếp phục vụ Trung ương, Bộ Chính trị ra các nghị quyết về văn hóa, về hội nhập quốc tế, về chiến lược bảo vệ Tổ quốc, về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, sửa đổi Luật Đất đai, về tập đoàn kinh tế...
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 53
5. Nhiệm kỳ 2016-2021
Trong nhiệm kỳ 2016-2021, về nhiệm vụ nghiên cứu lý luận chính trị, theo đề xuất của Hội đồng Lý luận Trung ương, Thường trực Ban Bí thư đã có ý kiến “Đồng ý về nguyên tắc với Chương trình Nghiên cứu lý luận chính trị giai đoạn 2016-2020” (Công văn số 1804-CV/VPTW ngày 12/8/2016 của Văn phòng Trung ương Đảng). Ngày 30/8/2016, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra Quyết định số 2423/QĐ-BKHCN về việc phê duyệt mục tiêu, nội dung và dự kiến sản phẩm của Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia 2016-2020: “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị”, mã số KX.04/16-20; Chương trình gồm 34 đề tài. Trong Quyết định nêu rõ mục tiêu của Chương trình là: (i) Góp phần cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020; (ii) Góp phần tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận nhằm cung cấp cơ sở cho việc định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới; (iii) Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm góp phần phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII và xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.
Về cơ chế quản lý Chương trình KX.04/16-20, Bộ khoa học và Công nghệ đã đồng ý giao cho Hội đồng Lý luận Trung ương là Cơ quan chủ quản Chương trình KX.04/16-20. Đây là một bước cải tiến mới trong công tác quản lý Chương trình này so với các giai đoạn trước. Hội đồng Lý luận Trung ương có đầy đủ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý đồng bộ cả về nội dung, cơ chế hành chính và cơ
chế tài chính đối với toàn bộ hoạt động của Chương trình.
54 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Bước đổi mới cơ chế này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tính chủ động, tinh thần sáng tạo, nâng cao trách nhiệm của Cơ quan chủ quản và Ban Chủ nhiệm Chương trình. Hội đồng Lý luận Trung ương đã thống nhất với Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định thành lập Ban Chủ nhiệm Chương trình, các văn bản quy định về chế độ làm việc của Chương trình.
Trên cơ sở các quy định chung của Nhà nước về quản lý hoạt động khoa học - công nghệ, với sự hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban Chủ nhiệm Chương trình KX.04/16-20 đã xây dựng và ban hành các quy chế quản lý hoạt động của Chương trình, gồm: (i) Quyết định thành lập Ban Chủ nhiệm Chương trình; (ii) Xây dựng các quy chế hoạt động của Chương trình và các đề tài phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của Chương trình, kế hoạch hoạt động của Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2016-2020”; (iii) Quyết định thành lập Văn phòng Chương trình và xây dựng Quy chế hoạt động của Văn phòng Chương trình; (iv) Xây dựng kế hoạch chi tiết hoạt động của Chương trình trong 5 năm 2016-2020 và kế hoạch công tác hằng năm, hằng quý, hằng tháng; (v) Tổ chức tuyển, xét chọn đề tài (phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức các hội đồng tư vấn tuyển, xét chọn đề tài), thẩm định đề tài theo hình thức tuyển, chọn công khai, đấu thầu (trừ một số ít đề tài về quốc phòng, an ninh được giao trực tiếp); (vi) Xây dựng kế hoạch chỉ đạo triển khai nghiên cứu các đề tài; (vii) Xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ (nửa năm, hằng năm). Giám sát thúc đẩy việc thực hiện các đề tài theo tiến độ kế hoạch.
- Quy định chế độ và yêu cầu Báo cáo chắt lọc kết quả nghiên cứu nửa năm và hằng năm. Ban Chủ nhiệm Chương
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 55
trình tổng hợp, chắt lọc, xây dựng Báo cáo trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
- Xây dựng Quy chế tài chính của Chương trình và các đề tài theo các quy định chung của Nhà nước và vận dụng phù hợp với điều kiện và tính chất của Chương trình KX.04/16-20.
- Xây dựng Quy chế tổ chức nghiệm thu các đề tài: nghiệm thu cấp cơ sở (tự đánh giá) và nghiệm thu cấp quốc gia. Với tinh thần trách nhiệm cao, sự chỉ đạo thường xuyên và chặt chẽ của Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban Chủ nhiệm Chương trình, sự nỗ lực của các Ban Chủ nhiệm đề tài, đến hết năm 2020, 34/34 đề tài trong Chương trình đã hoàn thành nghiệm thu cấp quốc gia, trong đó có 25 đề tài xuất sắc, 9 đề tài đạt yêu cầu. Ban Chủ nhiệm Chương trình đã tổ chức tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Chương trình KX.04/16-20 ngày 18/12/2020; kết luận: Chương trình đã hoàn thành rất tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra. Sơ bộ đánh giá ban đầu kết quả công tác tổ chức nghiên cứu lý luận chính trị của Hội đồng Lý luận Trung ương giai đoạn 1996-2021, có thể thấy:
- Ưu điểm: Từ năm 1996 đến nay, công tác tổ chức nghiên cứu lý luận đã được coi trọng và đẩy mạnh, phục vụ có hiệu quả việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Cụ thể là: Hệ thống các chương trình, đề tài được tổ
chức có quy mô lớn, đã tập trung khá toàn diện những vấn đề trọng yếu của đất nước trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế; nội dung và phạm vi nghiên cứu được điều chỉnh, từ chỗ mở rộng dần dần đã tập trung vào một số trọng điểm, từ cơ bản, lâu dài đến kết hợp cả cơ bản và lâu dài với cấp thiết, trực tiếp trước mắt. Đã thu hút ngày càng đông đảo lực lượng các nhà khoa học tham gia. Các chương trình, đề tài đã bảo đảm định hướng chính trị; nhiều kết quả
56 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, từ kết quả nghiên cứu của hàng trăm đề tài từ năm 1996 đến nay, đã có hàng nghìn kiến nghị được gửi đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Hàng trăm đầu sách tham khảo, chuyên khảo đã được xuất bản, hàng nghìn bài báo khoa học đã được công bố trên các báo và tạp chí, làm phong phú thêm các hoạt động nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của cả nước, góp phần nâng cao nhận thức lý luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Hạn chế, bất cập: Lý luận còn chưa theo kịp sự biến đổi của thực tiễn, còn thiếu tính thuyết phục, chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới. Công tác định hướng nghiên cứu lý luận chưa được tổ chức bài bản, còn hiện tượng tự phát: các cơ quan tham mưu của Đảng, các học viện, nhà trường tự đưa ra chương trình nghiên cứu. Định hướng nghiên cứu lý luận chưa thực hiện hiệu quả nguyên tắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; còn một số đề tài nghiên cứu ít có giá trị sử dụng trong thực tiễn.
Công tác lý luận chưa định hướng nghiên cứu tháo gỡ những vấn đề thực tiễn của lĩnh vực mình: chưa định hướng xây dựng đội ngũ chuyên gia về nghiên cứu lý luận; chưa khắc phục khuynh hướng coi nhẹ nghiên cứu lý luận, chưa coi trọng giảng dạy lý luận trong các học viện, nhà trường; biểu hiện nặng về hành chính hóa trong công tác nghiên cứu lý luận; thủ tục hành chính, cơ chế tài chính chưa phát huy được sáng tạo trong nghiên cứu lý luận.
- Nguyên nhân của hạn chế, bất cập: Trong 25 năm qua, công tác nghiên cứu lý luận chính trị phát triển theo chiều
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 57
rộng đã đề cập nghiên cứu nhiều vấn đề trên nhiều lĩnh vực, nhưng chưa giải quyết dứt điểm về lý luận. Nhận thức về vai trò của nghiên cứu lý luận chính trị và tổng kết thực tiễn còn hạn chế. Công tác xây dựng, tổ chức lực lượng nghiên cứu lý luận chính trị còn nhiều hạn chế, tự phát, thiếu thống nhất, thiếu bài bản. Phương pháp nghiên cứu chưa thực sự đổi mới, chưa sát với yêu cầu của thực tiễn; còn có biểu hiện hành chính hóa trong nghiên cứu lý luận.
Tính độc lập sáng tạo trong nghiên cứu lý luận chính trị chưa cao. Đội ngũ làm công tác lý luận chính trị đông nhưng chất lượng chưa cao, thiếu chuyên gia; đánh giá chưa coi trọng từ chất lượng sản phẩm, còn nặng về bằng cấp, quan hệ; không ít công trình nghiên cứu lý luận thiếu tính ứng dụng. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu lý luận chưa theo kịp với thực tiễn và đang ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác nghiên cứu lý luận chính trị.
V. CÔNG TÁC TỔ CHỨC ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1996-2021
“Nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận đấu tranh và trực tiếp tham gia đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái với đường lối, quan điểm của Đảng” là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặc thù của Hội đồng Lý luận Trung ương được Bộ Chính trị xác định. Qua 25 năm xây dựng và phát triển với 5 nhiệm kỳ hoạt động, Hội đồng Lý luận Trung ương đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ này, góp phần quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận của Đảng.
58 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
1. Nhận thức về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch
(1) Trong những năm đổi mới, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Các thế lực thù địch sử dụng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc thông qua hàng trăm cơ quan báo chí, xuất bản ở nước ngoài, móc nối với các phần tử cơ hội chính trị ở trong nước; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư... hòng chuyển hóa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện can thiệp sâu hơn chống phá cách mạng Việt Nam.
Các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, yếu kém trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của cán bộ, đảng viên để gây ra những dao động về tư tưởng, mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, lập các tổ chức phản động trong nước.
Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 59
đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, văn minh ống khói, còn bây giờ sang thế kỷ XXI, thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; hoặc cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam, cho rằng, sự sụp đổ của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”(!).
Các thế lực thù địch còn đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ xúy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, cho rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng coi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn là “mù mờ”, “không tưởng”, “không rõ chủ nghĩa xã hội là gì mà dám lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa”; hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân giàu, nước mạnh”(!); chúng tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, thậm chí cho rằng “xưa kia trong chế độ phong kiến làm gì có chủ nghĩa xã hội đâu mà ông cha ta vẫn giữ vững được độc lập dân tộc”; v.v..
Đồng thời, chúng còn xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng, đạo đức, tác phong, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Hồ Chí Minh không phải là người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin (!).
60 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Chúng xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có “Báo cáo tình hình nhân quyền”, trong đó họ tự dành cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác trong đó có Việt Nam, cố tình lờ đi tình trạng vi phạm nhân quyền đầy rẫy trên đất nước Mỹ.
Các thế lực thù địch muốn truyền bá lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy, khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra những quan điểm sai trái nhất là trên Internet, trên các blog, mạng xã hội để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo, bôi đen chế độ ta.
Ý đồ lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống “lai căng” vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên, dần dần từng bước tạo sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông của nhân dân ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn. Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, tình trạng suy thoái
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 61
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tiếp tục diễn ra; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa có mặt bị giảm sút. Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn trái với cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên như phủ phận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, thậm chí muốn đa nguyên, đa đảng; một số người viết, phát tán những quan điểm sai trái trên Internet...
Trước tình hình đó càng đòi hỏi Đảng ta, cán bộ, đảng viên của Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp không được dao động trong bất cứ tình huống nào. Đồng thời các cơ quan, tổ chức của Đảng và hệ
thống chính trị, trong đó có Hội đồng Lý luận Trung ương cần kiên quyết, tăng cường cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
(2) Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các văn kiện Đại hội thời
62 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
kỳ đổi mới, Đảng ta đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ1. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ “phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”2, “uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những hiểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng”3. Đại hội IX của Đảng khẳng định phải “đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch”4. Với tinh thần trên đây, Đại hội X của Đảng đã yêu cầu “chủ động và kiên quyết phê phán những quan điểm sai trái, bác bỏ những luận điệu phản động, góp phần làm thất bại mọi mưu toan “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch”5; Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định “kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”6. Đại hội XII yêu cầu “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi
__________
1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, Ph.I (Đại hội VI, VII, VIII, IX), tr.543, 733-734, 733, 910.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.284.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.257.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 63
âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”1. Như vậy, đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một chủ trương kiên quyết và nhất quán của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
Để thực hiện chủ trương đó, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị và nhiều chỉ thị của Ban Bí thư.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, đã nêu lên 6 nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, trong đó nhiệm vụ thứ tư là “chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch”.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, đã nhận định: tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả trong những lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ, đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc, đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội. Các phần tử cơ hội chính
__________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.201.
64 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
trị trong nước móc nối với thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài xuyên tạc, vu cáo, chống phá quyết liệt Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Trên cơ sở nhận định đó, Nghị quyết đã yêu cầu “triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến ở cả trung ương và các ngành, các cấp”1.
Để thực hiện chủ trương của Trung ương, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 19/4/2009 về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Để phục vụ cho nhiệm vụ này, Ban Bí thư và Chính phủ đã lập ra một số ban chỉ đạo như: Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, Ban Chỉ đạo Nhân quyền của Chính phủ, Ban Chỉ đạo đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Trung ương (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương 94), Ban Chỉ đạo “Đề án xây dựng hệ thống lý luận đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”” (Ban Chỉ đạo 609), Ban Chỉ đạo 213 đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Các ban chỉ đạo này trở thành đầu mối chỉ đạo cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong từng thời kỳ, đầu mối cung cấp thông tin, phối hợp các lực lượng từ các cơ quan nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị, __________
1. Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2005-2010, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012, tr.125.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 65
các cơ quan tuyên giáo đến các cơ quan quốc phòng, an ninh, đối ngoại, các cấp ủy, các cơ quan báo chí - truyền thông, xuất bản (cả báo viết, báo nói, báo hình, báo mạng). Thông qua cuộc đấu tranh đó góp phần giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ta, cũng như đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu được tính đúng đắn, chính nghĩa trong các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, phản bác kịp thời những luận điệu vu khống, xuyên tạc của các thế lực thù địch, làm rõ đúng - sai, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đồng thời, có biện pháp đấu tranh ngăn chặn, từng bước đẩy lùi các hoạt động chống phá của chúng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thành tựu của công cuộc đổi mới, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng chính trị nhằm chống những quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được tình hình và nhiệm vụ đặt ra. Chẳng hạn: Còn không ít cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa nhận thức đúng tính chất nguy hiểm của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, của những quan điểm sai trái, thù địch đi ngược lại đường lối của Đảng, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; chất lượng và hiệu quả đấu tranh còn thấp. Tính chiến đấu, tính khoa học, tính thuyết phục còn hạn chế. Công tác lý luận còn có mặt yếu kém, bất cập nên chưa tạo được cơ sở khoa học vững chắc cho đấu tranh tư tưởng - lý luận có hiệu quả. Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng còn chung chung,
66 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
sáo mòn, kém hiệu quả, trong khi sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang diễn biến phức tạp càng làm cho sức đề kháng về tư tưởng chính trị của Đảng giảm sút, dễ bị tiêm nhiễm bởi những quan điểm sai trái, thù địch và là môi trường cho lực lượng cơ hội chính trị lợi dụng khoét sâu để đả kích Đảng, chế độ. Do chưa dự báo được những vấn đề mới nảy sinh, kể cả sự xuất hiện những quan điểm sai trái nên chúng ta còn thiếu chủ động, tích cực trong đấu tranh phê phán, không kịp thời trước các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phê phán chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ nên chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh. Nhận thức đúng đắn yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, Hội đồng Lý luận Trung ương mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao cho trong những nhiệm kỳ qua, đạt được những kết quả tích cực.
2. Hoạt động đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch của Hội đồng Lý luận Trung ương - kết quả, nguyên nhân
2.1. Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy của Ban Chuyên trách (Ban Chỉ đạo 609)
Để tham mưu, giúp cho Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, thực hiện Chỉ thị số 34- CT/TW ngày 19/4/2009 của Ban Bí thư, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo “Đề án
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 67
xây dựng hệ thống lý luận đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”” (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 609) từ tháng 6/2009 (thuộc nhiệm kỳ 2006-2010) và đầu nhiệm kỳ 2011-2015 đã kiện toàn Ban Chỉ đạo 609 về tổ chức, nhân sự và cơ chế hoạt động. Ban Chỉ đạo 609 gồm các đồng chí trong Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, có trách nhiệm chỉ đạo việc triển khai hệ thống lý luận chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Cùng với sự ra đời Ban Chỉ đạo 609, thành lập Nhóm Phối hợp điều hành gồm các đồng chí đại diện lãnh đạo của một số cơ quan Trung ương như Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, các tổng biên tập một số cơ quan báo, đài chủ lực như Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Lý luận chính trị, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội... Nhóm Phối hợp điều hành có nhiệm vụ trực tiếp và thường xuyên tổ chức lực lượng viết, đăng tải báo, đài, in sách các bài đấu tranh lý luận chống “diễn biến hòa bình”. Đồng thời, thành lập Tiểu ban Hỗ trợ có nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị mọi điều kiện vật chất, hậu cần cho hoạt động của Ban Chỉ đạo 609 xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động của cả nhiệm kỳ, phân công trách nhiệm cho các thành viên, định hướng nội dung, chủ đề cho các hội thảo khoa học, thường xuyên đặt, đăng tải bài lý luận đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, xuất bản sách. Trong nhiệm kỳ 2011-2015, Ban Chỉ đạo 609 cùng với Ban Chỉ đạo Trung ương 94, Ban Chỉ đạo 213 đã thảo luận và xây dựng Đề án triển khai “Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ đấu
68 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn học, nghệ thuật giữa Ban Chỉ đạo Trung ương 94 với Ban Chỉ đạo Đề án 609 và Ban Chỉ đạo Đề án 213” (tháng 3/2013).
Trước tình hình, nhiệm vụ mới, ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ra Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, Hội đồng Lý luận Trung ương đã sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự và xây dựng kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 của Hội đồng. Hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 đã dần đi vào nền nếp, có chuyển biến tích cực, hiệu quả.
Nhờ có Ban Chỉ đạo 609 và Ban Chỉ đạo 35 (từ năm 2018) nên công tác đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch đã được đẩy mạnh, đi vào nền nếp, thường xuyên và hiệu quả hơn.
2.2. Xây dựng hệ thống luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch với đường lối, quan điểm của Đảng
Để tăng cường tính khoa học, tính thuyết phục trong phê phán, Hội đồng Lý luận Trung ương đã quan tâm tổ chức nghiên cứu, đề xuất những luận cứ về lý luận đấu tranh. Thông qua kết quả nghiên cứu các đề tài trong Chương trình khoa học lý luận chính trị (như Chương trình KX.04/06-10, Chương trình KX.04/11-15, Chương trình KX.04/16-20) đã cung cấp những luận cứ lý luận và thực tiễn quan trọng để phê phán những quan điểm sai trái trên các lĩnh vực xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị, những vấn đề về quốc tế, thời đại, dân tộc, tôn giáo, dân chủ,
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 69
nhân quyền, về sở hữu, về doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tư nhân, v.v..
Đồng thời, để phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ đấu tranh phê phán, Hội đồng Lý luận Trung ương đã xây dựng và thực hiện Đề án “Xây dựng hệ thống luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch với đường lối, quan điểm của Đảng” (được triển khai từ tháng 4/2013). Đến giai đoạn 2016-2020, trong bối cảnh triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, thiên tai, bão lũ liên tiếp, cũng là giai đoạn diễn ra đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng và là dịp dịch bệnh Covid-19 kéo dài, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức xây dựng hệ thống luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước và sau Đại hội XIII của Đảng; đã phối hợp với Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức in ấn, phát hành cuốn sách “Một số luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng” (tập 1).
Hệ thống luận cứ được xây dựng để cung cấp cho các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy đảng và chính quyền tỉnh, thành phố, các cơ quan báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật, các trường chính trị, học viện, đại học, cao đẳng, cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên nhằm giúp cán bộ, đảng viên tiến hành đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch với quan điểm, đường lối của Đảng, uốn nắn những nhận thức mơ hồ, lệch lạc, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.
70 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
2.3. Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học để phê phán
Một trong những hình thức rất quan trọng để phê phán các quan điểm sai trái, thù địch là tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học. Căn cứ vào những quan điểm sai trái, tác hại của chúng trong từng thời kỳ, Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương xác định chủ đề từng cuộc hội thảo, đặt hàng bài viết cho các nhà khoa học, các chuyên gia trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, quản lý; tổ chức hội thảo để trao đổi, thảo luận về những quan điểm sai trái đó và luận cứ về lý luận và thực tiễn để phê phán, bác bỏ. Qua hơn 6 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo 609, đã tổ chức 7 cuộc hội thảo (xem Phụ lục 3).
2.4. Tổ chức viết bài phê phán đăng trên các báo, tạp chí, Internet và xuất bản sách
Tính chung qua 4 nhiệm kỳ, nhất là sau hơn 6 năm tồn tại của Ban Chỉ đạo 609, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức viết khoảng 300 bài đăng trên các báo, tạp chí, Internet và xuất bản 7 cuốn sách1về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.
__________
1. Gồm: (1) “Vững bước trên con đường đã chọn”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; (2) “Lẽ phải của chúng ta”, Nxb. Hà Nội, 2004; (3) “Đảng Cộng sản Việt Nam - trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011; (4) “Dân chủ, nhân quyền - giá trị toàn cầu và đặc thù quốc gia”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011; (5) “Kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013; (6) “Luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014; (7) “Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 71
Trong giai đoạn 2016-2020, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức 5 cuộc tọa đàm1 về phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước và sau Đại hội XIII của Đảng.
Tổ chức nghiên cứu, xây dựng 11 chuyên đề2 và cử cán bộ tham gia Ban Biên tập cuốn sách “Giữ vững nền tảng tư
__________
1. Gồm: (1) Tọa đàm và cho ý kiến về “Nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch mới đang chống phá ta hiện nay”; (2) Tọa đàm và cho ý kiến về “Đề cương Nhiệm vụ và những vấn đề xây dựng luận cứ phê phán”; (3) Tọa đàm và cho ý kiến về các nội dung: “Một số luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước và sau Đại hội XIII” (phần 1 gồm 18 chuyên đề); (4) Tọa đàm và cho ý kiến về các nội dung: “Một số luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước và sau Đại hội XIII” (phần 2 gồm 16 chuyên đề); (5) Phối hợp với Bộ Công an và Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng tổ chức Hội thảo quốc gia “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Hội đồng có 1 bài đề dẫn và 5 bài tham luận).
2. 11 chuyên đề thực hiện theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương gồm: (1) Đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại; (2) Bản chất, đặc điểm, xu hướng vận động của chủ nghĩ tư bản hiện đại; (3) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; (4) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (5) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị
trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; (6) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; (7) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; (8) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; (9) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ
và hội nhập quốc tế; (10) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; (11) Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.
72 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
tưởng của Đảng trong tình hình mới” theo đề nghị của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng. Các cán bộ của Hội đồng Lý luận Trung ương thường xuyên, trực tiếp viết các bài phê phán các quan điểm sai trái, thù địch và đấu tranh với cá nhân có quan điểm sai trái với chủ trương, đường lối của Đảng đăng tải trên các báo, tạp chí, mạng xã hội.
2.5. Tiến hành trao đổi, đối thoại lý luận chính trị
Hội đồng Lý luận Trung ương đã xây dựng “Quy chế trao đổi, đối thoại với những người có ý kiến khác hoặc trái với đường lối, quan điểm của Đảng” (từ ngày 19/12/2012 đến tháng 01/2013) trình Ban Bí thư.
Trên cơ sở Quy chế đã được Ban Bí thư ban hành, trong hai năm 2014-2015, Hội đồng Lý luận Trung ương đã tổ chức 8 cuộc đối thoại với những người có ý kiến trái hoặc khác với đường lối, quan điểm của Đảng. Đây là điểm mới trong đấu tranh trên lĩnh vực lý luận chính trị của nhiệm kỳ 2011-2015. Các buổi trao đổi, đối thoại được chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc với tinh thần dân chủ, thẳng thắn, cởi mở. Phần lớn những người được mời đến trao đổi, đối thoại đều thừa nhận những nhận định của bản thân là sai do không được học tập cơ bản về lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thiếu thông tin; đồng thời hứa sẽ không tiếp tục viết và phát tán những tài liệu. Có thể khẳng định việc tổ chức trao đổi, đối thoại với những người có ý kiến khác hoặc trái với đường lối, chủ trương của Đảng là cần thiết; đạt kết quả, mục đích, yêu cầu. Hội đồng Lý luận Trung ương đã kiến nghị với Ban Bí thư chỉ đạo các cơ quan hữu quan cần sử dụng đồng bộ các giải pháp cả về hành chính, pháp lý, kiểm tra, tổ chức và an ninh để giải quyết hiện tượng này.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 73
Sơ bộ đánh giá ban đầu kết quả hoạt động đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch của Hội đồng Lý luận Trung ương giai đoạn 1996-2020, có thể thấy:
- Ưu điểm:
+ Thông qua việc tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học khá thường xuyên, kịp thời, Ban Chỉ đạo 609, Ban Chỉ đạo 35 của Hội đồng Lý luận Trung ương đã cung cấp nhiều luận cứ đấu tranh và trực tiếp tham gia đấu tranh lý luận bằng nhiều bài viết trên sách, báo, trang mạng xã hội phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng.
+ Ban Chỉ đạo 609, Ban Chỉ đạo 94, Ban Chỉ đạo 213 (và sau này là Ban Chỉ đạo 35) đã chủ động phối hợp với các đơn vị liên ngành và một số báo, đài chủ lực trong việc thực hiện nhiệm vụ chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Nhờ đó đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động quan trọng này của từng cơ quan và của toàn hệ thống công tác tư tưởng - văn hóa nói chung.
+ Thông qua các cuộc trao đổi, đối thoại lý luận chính trị, đã tăng cường không khí dân chủ, cởi mở trong lĩnh vực này; thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học; nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với việc đóng góp xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Có được những ưu điểm, thành quả trên đây là nhờ sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, sự phối kết hợp, giúp đỡ của các ban, ngành Trung ương, các cơ quan báo, đài chủ lực, sự tham gia tích cực của cộng tác viên và sự cố gắng, nỗ lực của Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương mà trực tiếp là Ban Chỉ đạo 609, Ban Chỉ đạo 35 của Cơ quan Hội đồng Lý luận Trung ương.
74 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
- Hạn chế:
+ Hệ thống lý luận đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” còn chưa đầy đủ và hoàn thiện. Các bài viết phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng còn chưa thật phong phú, sắc bén và sức thuyết phục chưa cao.
+ Sự phối hợp hoạt động giữa Ban Chỉ đạo 609 với Ban Chỉ đạo 94, Ban Chỉ đạo 213 (và sau này là Ban Chỉ đạo 35) với các báo, đài chủ lực chưa thật thường xuyên, chặt chẽ.
+ Việc trao đổi, đối thoại lý luận chính trị được thực hiện còn chưa nhiều; chưa được tổ chức thật chặt chẽ, đồng bộ nên hiệu quả chưa thật cao.
- Nguyên nhân của hạn chế:
+ Về khách quan: các thế lực phản động, thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” tấn công thường xuyên, quyết liệt về tư tưởng - lý luận chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; những hạn chế, yếu kém của ta trong thực tế xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa chậm được khắc phục nên đã tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá ta.
+ Về chủ quan: lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng - lý luận chưa mạnh, chưa tích cực tham gia; các thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương trực tiếp viết bài đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều; sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 609 (Ban Chỉ đạo 35) chưa thật sâu sát, thường xuyên; lực lượng thường trực của Ban Chỉ đạo 609 (Ban Chỉ đạo 35) còn mỏng, thông tin được cung cấp còn ít; sự tham gia giúp đỡ của các cơ quan, báo, đài phối hợp chưa liên tục, cụ thể.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 75
VI. HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ LÝ LUẬN
GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Vj MỘT SỐ CHÍNH ĐẢNG TRÊN THẾ GIỚI
Chủ động mở cửa hội nhập và hợp tác quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới. Trong các giai đoạn xây dựng và phát triển, nhất là sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm tới việc chủ động hội nhập quốc tế về các lĩnh vực, trong đó có hoạt động đẩy mạnh hợp tác quốc tế về lý luận. Một trong những cơ quan hàng đầu tham gia quá trình hợp tác quốc tế về lý luận phải kể đến vai trò của Hội đồng Lý luận Trung ương. Là cơ quan được giao trọng trách về việc giữ mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản và đảng cầm quyền trên thế giới, Hội đồng Lý luận Trung ương được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức các cuộc hội thảo lý luận, các cuộc tọa đàm, trao đổi lý luận - thực tiễn với một số đảng cầm quyền và đảng cộng sản ở các nước như: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Nhật Bản, Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Dân chủ Xã hội Đức...
Trong quá trình đổi mới, hội nhập, quan hệ quốc tế có những khúc thăng trầm, nhưng Hội đồng Lý luận Trung ương luôn thực sự là một trong những điểm sáng, là đầu mối tổ chức hợp tác quốc tế về lý luận và chịu trách nhiệm về nội dung trong các cuộc hội thảo, các cuộc làm việc với các đảng cộng sản, đảng cầm quyền một số nước trên thế giới.
Công tác tổ chức các hội thảo quốc tế về lý luận giữa Đảng ta và một số chính đảng trên thế giới được vận hành trên cơ sở phối hợp chủ yếu giữa ba cơ quan: Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương và Văn phòng
76 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Trung ương Đảng. Trong đó, Hội đồng Lý luận Trung ương được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ: “Giữ mối quan hệ với các cơ quan nghiên cứu lý luận của các đảng cộng sản và đảng cầm quyền trên thế giới”1. Thực tế triển khai các hội thảo thời gian qua cho thấy, trên cơ sở Ban Bí thư đồng ý về chủ trương, ba cơ quan đã phân chia trách nhiệm trong từng đề án tổ chức hội thảo và cơ bản được xác định như sau: (i) Hội đồng Lý luận Trung ương là cơ quan chủ trì về tổ chức nội dung, tham gia điều hành tại hội thảo, xây dựng báo cáo kết quả hội thảo; (ii) Ban Đối ngoại Trung ương là cơ quan chủ trì về liên lạc với đảng đối tác và tổ chức triển khai các hoạt động, chủ yếu là lễ tân - hậu cần, phục vụ hội thảo; (iii) Văn phòng Trung ương Đảng là cơ quan bảo đảm về tài chính và tham gia công tác hậu cần.
Có thể khái quát cách thức phối hợp tổ chức qua ba giai đoạn: trước, trong và sau hội thảo. Theo đó, tổ chức các hoạt động trong từng giai đoạn, chủ yếu thể hiện ở công tác nội dung hội thảo, công tác lễ tân - hậu cần phục vụ hội thảo và một số công tác khác (như các cuộc làm việc, tiếp xúc song phương khác,...). Tuy mức độ ở mỗi nội dung hoạt động trong từng giai đoạn có sự khác biệt nhất định, nhưng có liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau. Trong đó, sự gắn kết giữa công tác nội dung và công tác lễ tân - hậu cần quyết định đến mức độ thành công cũng như chất lượng, hiệu quả của từng cuộc hội thảo.
Qua 25 năm hoạt động, Hội đồng đã thực hiện 42 cuộc hội thảo, trao đổi lý luận với một số đảng như sau:
__________
1. Dẫn theo Quyết định số 28-QĐ/TW ngày 25/7/2016 của Bộ Chính trị về việc thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương.
PHẦN I: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC Vj HOẠT ĐỘNG… 77
- Hội đồng Lý luận Trung ương đã phối hợp với Ban Tuyên truyền, Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức 15 cuộc hội thảo lý luận.
- Hội thảo lý luận với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào 7 lần.
- Hội thảo lý luận với Đảng Cộng sản Pháp 3 lần. - Trao đổi lý luận với Đảng Cộng sản Nhật Bản 9 lần. - Hội thảo lý luận với Đảng Cộng sản Cuba 4 lần. - Đối thoại lý luận với Đảng Dân chủ Xã hội Đức 4 lần. Ngoài ra, Hội đồng Lý luận Trung ương đã trao đổi, tiếp xúc với nhiều đoàn đại biểu, học giả quốc tế.
Kết quả các cuộc hội thảo, đối thoại lý luận có chủ đề, nội dung thiết thực, bổ ích. Nhiều cuộc hội thảo có giá trị tham khảo gợi mở, chất lượng thông tin cao, tiêu biểu như: 3 cuộc hội thảo với Trung Quốc; 2 cuộc hội thảo với Lào; 2 cuộc hội thảo với Cuba; hội thảo với Pháp, Nhật Bản, Đức, mỗi Đảng một cuộc1. Trong đó, nhiều cuộc Hội thảo với trung Quốc và
__________
1. Cụ thể: (1) Hội thảo với Trung Quốc: Hội thảo lý luận lần thứ nhất với chủ đề: “Chủ nghĩa xã hội - cái phổ biến và cái đặc thù”, tổ chức tại Trung Quốc, năm 2000. Đây là chủ đề trọng yếu bàn về mô hình chủ nghĩa xã hội mà hai Đảng đều hết sức quan tâm; Hội thảo lý luận lần thứ tư với chủ đề:
“Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc”, tổ chức tại Việt Nam năm 2006. Trên thực tế, hai Đảng có mối tương đồng, Đảng vừa là cơ quan lãnh đạo đất nước, vừa là đảng cầm quyền. Việc cầm quyền của hai Đảng đã được thực hiện qua thực tiễn tại hai nước nhưng có nhiều vấn đề vừa cơ bản, vừa bức thiết đặt ra có giá trị gợi mở hướng giải quyết và đúc rút kinh nghiệm; Hội thảo lý luận lần thứ tám với chủ đề: “Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc”, tổ chức tại Việt Nam, năm 2012. Hội thảo đã đưa ra những chủ trương, chính sách và những kết quả bước đầu trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc. Từ đó, trao đổi những kinh nghiệm thực tiễn đã được đúc rút trong quá trình phát triển kinh tế ở hai nước.
78 HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG - 25 NĂM XÂY DỰNG Vj PHÁT TRIỂN
Lào có ý nghĩa hết sức thiết thực. Các hoạt động trao đổi lý luận này là cơ sở quan trọng giúp cho các cơ quan nghiên cứu lý luận1của Việt Nam và các đảng bạn chia sẻ các kết quả
__________
(2) Hội thảo với Lào: Hội thảo lý luận lần thứ hai với chủ đề: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện một đảng cầm quyền ở Lào và Việt Nam”, tổ chức tại Lào, năm 2014. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong điều kiện một đảng cầm quyền là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản đối với cả hai Đảng. Hội thảo đã phân tích thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của hai đảng hiện nay, làm rõ những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực cầm quyền của hai Đảng trong tình hình mới; Hội thảo lý luận lần thứ ba với chủ đề: “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào - Lý luận và thực tiễn”, tổ chức tại Việt Nam, năm 2015. Hội thảo đã nêu bật tính tương đồng và những nét đặc thù của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại hai nước, những quan điểm mới về kinh tế thị trường; thực trạng việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường là nội dung được đề cập nhiều và phân tích khá đậm nét trong Hội thảo, đồng thời đây cũng là vấn đề lý luận cần tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc và sáng tỏ hơn.
(3) Hội thảo lý luận với Cuba: Hội thảo lý luận lần thứ nhất với chủ đề: “Đảng Cộng sản lãnh đạo quá trình đổi mới tại Việt Nam, cập nhật hóa mô hình phát triển kinh tế - xã hội tại Cuba: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, tổ chức tại Việt Nam, tháng 11/2012. Hội thảo đã nêu bật quá trình thực hiện công cuộc đổi mới tại Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đồng thời, Hội thảo đã làm rõ việc cập nhật hóa mô hình phát triển kinh tế - xã hội tại Cuba với những thành quả bước đầu; Hội thảo lý luận lần thứ hai với chủ đề: “Vai trò của Đảng trong cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội ở Cuba và đổi mới tại Việt Nam”, tổ chức tại Cuba, tháng 11/2014. Hội thảo nêu bật vai trò của hai Đảng trong công cuộc đầy sáng tạo là cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội tại Cuba và đổi mới tại Việt Nam, đồng thời đưa ra những kinh nghiệm quý báu mà hai Đảng đã tổng kết qua việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn.