🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Hiện Tượng Con Người
Ebooks
Nhóm Zalo
Hiện Tượng Con Người XLI of Tủ Sách Tinh Hoa Tri Thức Pierre Teilhard de Chardin Tri Thức (2021)
TỦ SÁCH TINH HOA TRI THỨC
PIERRE TEILHARD DE CHARDIN
HIỆN TƯỢNG
CON NGƯỜI
Đặng Xuân Thảo dịch
Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
ebook©tudonald78 | 31-07-2021
TÁC GIẢ
--------
PIERRE TEILHARD DE CHARDIN
(1881-1955)
Pierre Teilhard de Chardin sinh năm 1881 tại vùng Augverne của nước Pháp. Say mê thiên nhiên từ nhỏ, cậu bé Pierre đã sớm tìm thấy ở quê hương minh nguồn cảm hứng cho những tìm tòi về lịch sử tự nhiên và địa chất học. Ông thụ phong linh mục Dòng Tên năm 1911. Năm 1920, ông bắt đầu giảng dạy tại Học viện Công giáo Paris (Institut Catholique de Paris) và bảo vệ luận án Tiến sĩ ngành địa chất học năm 1922. Năm 1926, ông đóng vai trò quan trọng trong cuộc khám phá người vượn Bắc Kinh. Cuộc đời ông là những chuyến viễn thám trên nhiều lục địa, gồm cả những năm dài lưu vong ở Trung Hoa, do bị Giáo hội Công giáo buộc phải chấm dứt các nghiên cứu vốn thể hiện ý tưởng về sự tiến hóa. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông như Cảnh vực thần linh (Le Milieu divin), Tinh thần Trái đất (L’Esprit de la Terre) bị Giáo hội cấm truyền bá, và ông cũng không
được phép xuất bản cuốn sách Hiện tượng con người (Le Phénomène humain), tác phẩm quan trọng nhất trình bày quan niệm độc đáo của ông về sự tiến hóa của vũ trụ. Đến năm 1951, sau những chuyến du hành đến Anh, châu Phi và Mĩ, ông quyết định làm việc cho Wenner-Gren Foundation tại thành phố New York, nơi ông sống những năm cuối đời của mình. Những thành tựu khoa học của ông thể hiện qua hơn một trăm công trình đăng báo, và nhất là vào năm 1937 ông được trao tặng Huy chương Mendel (Mendel Medal) cho tài năng khoa học và những đóng góp to lớn cho ngành cổ sinh vật học.
--------
THƯ GỬI BẠN1
Vậy là lúc này đây, tôi đang dùng hết sức lực và thời gian có được để làm tiến triển viẹc viết cuốn sách mà bạn đã biết. Nếu cuốn sách được hoàn thành, có lẽ đó sẽ là một hành động có ý nghĩa và từ đó sẽ tiếp nối những hành động có ý nghĩa khác. Hãy nguyện cầu cho tôi tìm ra những ngôn từ mà tôi mong muốn, để diễn đạt và để làm người khác nhìn ra điều tôi tin mình đã nhìn thấy. Nói đúng ra, tôi ý thức được rằng tôi không viết cho bản thân mình, mà tôi viết với một niềm khao khát (như chưa từng cảm thấy) làm cho Điều tôi nhìn thấy hiện ra lớn lao hơn, - đúng như Nó phải là như vậy. Nhưng thật khó diễn giải nhãn quan của một lí tưởng thành lời, dù nhãn quan đó sáng rõ biết bao… Để làm được điều đó, cần phải có những suy tư và phong cách của chính Platon… Dù sao thì tôi cũng sẽ làm tất cả những gì trong khả năng của mình. Tôi nghĩ rằng cuốn sách sẽ được hoàn thành vào cuối hè. Và như thế, sang đến năm sau chính tôi sẽ phải xem xét đến vấn đề xuất bản cuốn sách, ở châu Âu nếu có thể.
Bạn hãy cho tôi biết những gì bạn đang làm và đang nhìn thấy. Tôi xin gửi lời chào trân trọng và chân thành.
Teilhard de Ch.
--------
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Xin bạn đọc lưu ý, Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu cuốn sách Hiện tượng con người (Le phénomène humain, Nhà xuất bản Éditions du Seuil, 1955) của Pierre Teilhard de Chardin, do Đặng Xuân Thảo dịch một cách đầy đủ và mạch lạc.
Chúng tôi tôn trọng, nhưng không nhất thiết đồng tình với quan điểm, cách tiếp cận và lý giải riêng của tác giả về các vấn đề được đề cập đến trong cuốn sách.
Chúng tôi mong độc giả đọc cuốn sách này như môt tài liệu tham khảo với tình thần phê phán và khai phóng.
Xin chân thành cảm ơn!
--------
LỜI NGƯỜI DỊCH
Pierre Teilhard de Chardin sinh năm 1881 tại vùng Auvergne của Pháp, mất năm 1955. Ông là một học giả rất đặc biệt, vì ngoài việc là một nhà cổ sinh vật học nổi tiếng với việc tham gia vào khám phá người vượn Bắc Kinh năm 1929, ông cũng là một nhà nghiên cứu triết học, thần học và còn là một linh mục Dòng Tên.
Cuốn sách Hiện tượng con người được xuất bản lần đầu năm 1955, sau khi ông đã mất. Tác phẩm đã gây tiếng vang lớn trong nhiều năm, và những âm hưởng mạnh mẽ của nó đến nay vẫn còn. Cuốn sách trình bày một quan điểm độc đáo về vũ trụ. Quan điểm này mở rộng thuyết tiến hóa đến lĩnh vực tinh thần và được coi là bước tiến quan trọng trong sự hòa giải giữa khoa học hiện đại và tôn giáo.
Nghiên cứu trong cuốn sách khởi đầu từ một nghịch lí con người, biểu lộ qua việc khoảng cách hình thái học giữa con người và khỉ giống người là không đáng kể, trong khi đó, con người lại khác những động vật ấy biết bao. Để giải thích nghịch lí này, tác giả lần theo quá trình tiến hóa trong Quá khứ, cho đến tận những cội nguồn của sự sống trên trái đất. Bằng cách nhìn ra những đường nét chủ đạo của quá trình đó (đôi khi bị che phủ bởi những vẻ bề ngoài đối nghịch), tác giả chỉ ra những điều kiện chung mà sự sống trong quá khứ phải thỏa mãn để có được diện mạo như ngày hôm nay. Rồi từ đó, tác giả rút ra quy luật về độ phức hợp và ý thức.
Cũng chính từ cách nhìn này, tác giả nhận ra sự cần thiết của việc đưa vào quá trình đó một biến số mới nhằm diễn giải hợp lẽ hiện tượng con người. Biến số đó là mặt nội tại của sự vật, hay chính là tâm thần, được giả
định hiện hữu dưới một dạng sơ đẳng ngay từ cấp độ tế bào. Theo những nấc thang tiến hóa, cấp độ tâm thần ngày càng tăng lên và bắt đầu từ con người, tác động của nó trở nên nổi trội sau khi đã trở thành ý thức có phản tư. Từ đó, tinh thần trở thành động lực chủ chốt của sự tiến hóa, một tuệ quyển ra đời bên trên sinh quyển. Tiếp nối bước chuyển vượt qua ngưỡng phản tư trong mỗi cá thể con người là sự đi lên của ý thức hướng đến bước chuyển tập thể của sự phản tư, biểu lộ qua những hiện tượng xã hội.
Một hệ quả quan trọng của đề xuất này là sự tiến hóa hướng đến tính thống nhất ngày càng cao; và còn hơn thế nữa, con người chính là mũi tên chỉ hướng của sự tiến hóa. Đồng thời với việc xã hội hóa của loài người, ba tính chất tâm sinh học đang tăng mạnh trên trái đất: năng lực phát minh, khả năng hấp dẫn hay đẩy xa nhau giữa các cá thể con người, và cuối cùng là đòi hỏi về một sự sống vô hạn. Dù thế giới vật chất có phân rã đến những trạng thái thấp nhất, thì những hi vọng cho tương lai của tuệ quyển, tức cũng chính là tương lai của sự phát sinh sự sống và rốt cuộc của sự phát sinh vũ trụ, nằm trong chính con người chúng ta, tức là trong nỗ lực của con người cùng đồng lòng xây dựng tinh thần của trái đất.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhiều đồng nghiệp đã đóng góp cho bản dịch này qua những góp ý trao đổi vô cùng bổ ích về các vấn đề học thuật và dịch thuật, cũng như sự cổ vũ nhiệt tình của họ, đặc biệt là các dịch giả Bùi Văn Nam Sơn, Hà Dương Tuấn, Hà Dương Tường và Nguyễn Minh.
--------
PHÀM LỆ
Trong cuốn sách này, độc giả sẽ gặp nhiều tên sinh vật, tên thời đại địa chất và tên địa danh trong ngành cổ sinh vật học. Trừ những tên đã trở nên phổ biến, do hiện nay chưa có quy tắc phiên âm thống nhất, chúng tôi không phiên âm mà dùng tên tiếng Anh (vì đây cũng là ngôn ngữ quen thuộc với nhiều độc giả hơn so với tiếng Pháp), ví dụ: Người Neanderthal. Nhiều thuật ngữ quan trọng được tác giả viết hoa và chúng tôi cũng giữ nguyên cách viết hoa này. Hơn thế nữa, khi các tên và thuật ngữ đó được tác giả viết hoa và trong tiếng Việt chúng lại là từ ghép, vì vậy để phân tách chúng trong câu, chúng tôi viết hoa chữ cái đầu của mỗi thành phần quan trọng trong mỗi tên hay thuật ngữ đó, ví dụ Tư duy, Chất liệu Kết cấu, Thời đại Đồ đá Mới, sự Phát sinh loài Người.
Để tham chiếu nguyên bản tiếng Pháp của các thuật ngữ quan trọng, độc giả có thể xem chỉ mục ở cuối bản dịch. Trong chỉ mục này, bên cạnh các từ tiếng Pháp, chúng tôi bổ sung những từ tiếng Anh tương đương, được sử dụng trong bản dịch Phenomenon of Man của Bernard Wall với lời giới thiệu của Julian Huxley.
Để làm rõ nghĩa hơn, chúng tôi thêm một vài ghi chú của dịch giả, được viết trong ngoặc vuông và kèm thêm kí hiệu viết tắt ND.
--------
LỜI MỞ ĐẦU
Dể hiểu đúng, cuốn sách này của tôi cần được đọc không phải như một cuốn sách về siêu hình học, càng không phải như một loại tiểu luận thần học, mà chỉ duy nhất và đơn thuần như một luận văn khoa học. Sự lựa chọn nhan đề cũng nói lên điều đó. Không có gì ngoài Hiện tượng. Và cũng về toàn thể Hiện tượng [con người].
Điều trước tiên - không có gì ngoài Hiện tượng. Vì thế không có một lời giải thích Thế giới nào trong những trang sách này, mà chỉ là một bài nhập đề cho lời giải thích Thế giới. Thiết lập xung quanh Con người (được chọn làm trung tâm) một trật tự mạch lạc giữa hệ quả và tiền đề; khám phá một quy luật hồi quy thực nghiệm để thể hiện sự xuất hiện kế tiếp nhau theo Thời gian của các phần tử của Vũ trụ, chứ không phải khám phá một hệ thống các mối quan hệ bản thể học và nhân quả giữa các phần tử đó - vậy đó, đơn giản thế thôi, đấy là tất cả những gì tôi cố gắng làm. Vượt ra ngoài những suy ngẫm khoa học khởi đầu này, tất nhiên, vẫn còn nhiều chỗ rộng mở, thiết yếu và còn trống cho những suy ngẫm sâu xa hơn của các nhà triết học và các nhà thần học. Trong lĩnh vực về tồn tại sâu kín này, tôi cũng luôn cố cẩn thận để không lan man ở bất cứ điểm nào. Cùng lắm, tôi chỉ có thể tự tin, trên phương diện kinh nghiệm, rằng mình đã nhận thấy, với độ chính xác nào đó, sự vận động tổng thể (hướng đến tính thống nhất) và đã đánh dấu được đúng những chỗ mà tư duy triết học và tôn giáo có quyền đòi hỏi được tách ra, trong những bước nghiên cứu xa hơn và vì những lí lẽ phức tạp hơn2.
Nhưng cuốn sách này còn bàn đến toàn thể Hiện tượng [con người]
nữa. Và đây chính là điều (không hề mâu thuẫn, mặc dù có vẻ vậy, với những gì tôi vừa nói trên) có nguy cơ dẫn đến những cách nhìn cho rằng điều tôi đang đề xuất có vẻ như một triết lí. Từ khoảng 50 năm nay, giới phê bình khoa học đã chứng minh quá nhiều rằng: không có một sự kiện thuần túy nào; tuy nhiên, mọi kinh nghiêm, dù có vẻ khách quan, cũng không tránh khỏi bị bao phủ bởi một hệ thống các giả thuyết, ngay từ lúc nhà nghiên cứu cố trình bày kinh nghiệm đó. Vì vậy, nếu trong một vùng quan sát bị giới hạn, đám mây của những diễn giải chủ quan này có thể không bị nhận ra, nhưng trong một tầm nhìn mở rộng cho đến cái Toàn thể, những diễn giải chủ quan này không tránh khỏi trở nên nổi trội. Khoa học, Triết học và Tôn giáo tất yếu hội tụ tại vùng lân cận của cái Toàn thể, giống như điều xảy ra với những đường kinh tuyến đang tiếp cận Điểm cực. Các lĩnh vực này hội tụ, tôi xin nói như vậy, nhưng không trộn lẫn, và không ngừng khám phá cho đến cùng cái Thực tồn dưới những góc độ và ở các bình diện khác nhau. Hãy lấy bất kì cuốn sách nào viết về Thế giới bởi một học giả hiện đại nổi tiếng, như Poincaré, Einstein, Jeans v.v. Không ai có thể cố đưa ra một giải thích khoa học mang tính tổng quát về Vũ trụ mà không tỏ vẻ muốn giải thích cho đến cùng. Nhưng nếu xét kĩ điều này hơn, bạn sẽ thấy rằng môn “Siêu vật lí học” này vẫn chưa phải là một môn Siêu hình học.
Trong quá trình thực hiện mọi nỗ lực theo kiểu như thế để mô tả cái Toàn thể một cách khoa học, việc ảnh hưởng của một số giả thuyết ban đầu (mà toàn bộ cấu trúc của hệ thống tiếp theo dựa vào đó) xảy ra với mức độ tối đa là điều tự nhiên. Trong trường hợp cụ thể của bài khảo luận này, tôi muốn nhấn mạnh vào hai giả thuyết tối quan trọng bổ sung cho nhau để hỗ trợ và dẫn dắt mọi tiến triển lập luận. Giả thuyết đầu tiên là tính ưu cấp dành cho cái thuộc về tâm thần và cho Tư duy trong Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ. Và giả thuyết thứ hai là giá trị “sinh học” gắn cho Thực kiện Xã hội
xung quanh chúng ta.
Ý nghĩa ưu việt của Con người trong Tự nhiên và bản chất hữu cơ của Nhân loại - hai giả thuyết này có thể bị bác bỏ ngay tại điểm khởi đầu; nhưng nếu thiếu hai giả thuyết này, tôi không nhìn ra cách nào khác để có thể đưa ra một sự hình dung mạch lạc và toàn diện của Hiện tượng Con người.
Paris, tháng 3 năm 1947
--------
DẪN NHẬP
NNHÌN
hững trang sách này thể hiện nỗ lực nhìn và làm cho nhìn thấy Con người sẽ như thế nào và đòi hỏi điều gì, nếu ta đặt Con người vào khung cảnh của những hiện tượng bề ngoài, một cách toàn diện và triệt để.
Tại sao lại cố tìm cách nhìn? Và tại sao chúng ta lại hướng sự chú ý của mình về đối tượng Con người một cách đặc biệt như vậy?
Nhìn. Chúng ta có thể nói rằng tất cả Sự sống là việc đó – nếu không phải sau chót thì ít nhất căn bản cũng là việc đó. Tồn tại hơn nữa tức là thống nhất hơn nữa - đó chính là lời tóm tắt và thậm chí là kết luận của cuốn sách này. Nhưng, chúng ta hãy nhấn mạnh lại rằng tính thống nhất chỉ tăng lên nếu được hỗ trợ bởi sự phát triển của ý thức, hay chính là của sự nhìn. Đó chắc hẳn là lí do tại sao lịch sử Thế giới sinh vật lại có thể được rút gọn lại trong sự chế luyện ra những con mắt ngày càng hoàn hảo hơn giữa một Vũ trụ mà ở đó, việc nhận thức phong phú hơn là luôn khả hữu. Chẳng phải độ hoàn hảo của một động vật và tính ưu thế của sinh vật biết suy nghĩ được đo bởi sự thông suốt và năng lực tổng hợp của sự nhìn đó sao? Tìm cách để nhìn nhiều hơn và đúng hơn chẳng phải là vì ngông cuồng, tò mò, hay xa hoa. Nhìn hay là chết. Đây chính là hoàn cảnh chung của tất cả những phần tử của Vũ trụ nào được hưởng món quà tặng bí ẩn của sự tồn tại. Và do đó, ở một mức độ cao hơn, đây cũng chính là thân phận làm người.
Nếu hiểu biết thật sự là quan trọng và ân phúc, thì ta hãy thử ngẫm thêm lần nữa, tại sao chúng ta lại ưu tiên hướng sự chú ý của mình vào Con
người? Chẳng phải Con người đã được mô tả đầy đủ rồi, và chẳng phải Con người là một chủ đề nhàm chán đó sao? Và chẳng phải một trong những điểm lôi cuốn của Khoa học là chuyển hướng và dõi đôi mắt chúng ta lên một đối tượng không phải là chính chúng ta?
Bằng hai cách khác nhau mà cũng chính nhờ đó Con người hai lần trở thành tâm điểm của Thế giới, Con người buộc nỗ lực nhìn của chúng ta phải chấp nhận Con người là chìa khóa mở cánh cửa Vũ trụ.
Trước hết, một cách chủ quan, chúng ta không tránh khỏi làm tâm điểm của hướng nhìn, so với chính chúng ta. Đó sẽ là một sự ngây thơ, tuy có thể cần thiết, nếu Khoa học khi mới ra đời tự cho rằng có thể quan sát những hiện tượng tự thân, như thể chúng diễn ra bên ngoài chúng ta. Bằng bản năng, trước đây các nhà vật lí và các nhà tự nhiên học làm việc như thể họ nhìn từ trên xuống một Thế giới mà ý thức của họ có thể thâm nhập vào Thế giới đó, trong khi không bị Thế giới đó tác động và không thay đổi nó. Nhưng bây giờ thì họ bắt đầu nhận ra rằng cả những quan sát khách quan nhất của họ cũng đều bị nhiễm các quy ước được chọn ban đầu và cả các cách thức hoặc thói quen suy nghĩ được tạo nên trong lịch sử phát triển của ngành Nghiên cứu. Khi đạt đến điểm cuối cùng trong phân tích, họ cũng chẳng còn biết có phải cấu trúc mà họ tìm ra chính là bản chất của Vật chất đang được họ nghiên cứu, hay cấu trúc đó chỉ phản ánh suy nghĩ của họ mà thôi. Và chính tại lúc này, bởi cú sốc ngược do những khám phá của họ gây ra, họ nhận ra rằng chính họ, với cả thân thể và linh hồn, đang là một phần của mạng lưới các mối quan hệ mà họ từng muốn áp đặt lên mọi vật từ bên ngoài vào - nói khác đi, họ bị giam trong chính cái lưới của mình. Sự biến thái và tự đồng cấu, một nhà địa chất học sẽ mô tả như thế. Trong hành vi của tri thức, đối tượng và chủ thể gắn kết với nhau và làm biến đổi lẫn nhau. Dù muốn hay không, từ đó Con người luôn có mặt và tự hướng về bản thân trong mọi thứ Con người nhìn.
Đây hẳn là một sự lệ thuộc, nhưng được đền bù bằng một tầm quan trọng vô song không thể nghi ngờ.
Thật là vô vị và thậm chí còn gò bó nếu một nhà quan sát dù đi bất kì đâu cũng phải mang theo tâm điểm của cảnh vật mà người đó đi qua. Nhưng điều gì sẽ xảy ra với nhà quan sát này, nếu những sự tình cờ trong hành trình này dẫn người đó đến một điểm có ưu thế rõ ràng (ví dụ như giao điểm của các con đường hoặc của các thung lũng) từ đó không chỉ cách nhìn của nhà quan sát mà ngay cả chính sự vật cũng đều sáng tỏ? Vì vậy, khi một cách nhìn chủ quan trùng với một sự phân bố khách quan của sự vật, tri giác được thiết lập trọn vẹn. Cảnh vật tự giải mã và bừng sáng. Người ta nhìn thấy.
Điều này trông có vẻ là đặc quyền của tri thức của con người.
Nhưng không cần phải là con người để nhận ra các vật thể và các lực một cách rõ ràng và chi tiết. Động vật nào cũng có khả năng này như chính chúng ta vậy. Nhưng một nét đặc biệt của Con người là chiếm một vị trí trong Tự nhiên mà sự hội tụ của các đường không chỉ liên quan đến thị mà còn có tính cấu trúc. Các trang tiếp sau chỉ làm nhiệm vụ xác minh và phân tích hiện tượng này. Nhờ phẩm chất và các tính chất sinh học của Tư duy, chúng ta được đứng tại một điểm đơn biệt, trên một điểm nút điều khiển một phần trọn vẹn của Vũ trụ mà hiện giờ đang phơi mở cho ta trải nghiệm. Là tâm điểm của hướng nhìn, Con người cũng đồng thời là tâm điểm trong kết cấu của Vũ trụ. Vì lợi ích cũng như do sự cần thiết, mọi Khoa học cuối cùng buộc phải quay về với chính Con người. Nếu thực sự, nhìn tức là tồn tại nhiều hơn, thì chúng ta hãy nhìn Con người và chúng ta sẽ sống được nhiều hơn.
Và vì thế chúng ta hãy điều chỉnh mắt mình cho chính xác. Trong suốt quá trình tồn tại, Con người tự đóng kịch cho mình xem.
Thật vậy, từ hàng chục thế kỉ nay, Con người chỉ nhìn vào bản thân. Tuy nhiên, chỉ từ gần đây thôi Con người mới bắt đầu có cách nhìn khoa học về ý nghĩa của chính mình trong Vật lí Thế giới. Chúng ta hãy đừng ngạc nhiên về sự giác ngộ chậm này Những điều khó nhận thấy thường là những điều chọc vào măt chúng ta”. Chẳng phải vì vậy mới cần giáo dục trẻ con để chúng biết phân tách những hình ảnh vây hãm giác mạc mới mở ra của chúng? Để khám phá Con người cho đến cùng, Con người cần một loạt “cảm thức”, và như chúng tôi sẽ chứng minh, việc dần dần đạt được các cảm thức đó bao trùm và đánh nhịp cho toàn bộ lịch sử các cuộc đấu tranh của Tinh thần.
Cảm thức về sự bao la của không gian, trong độ lớn và độ nhỏ: cảm thức này tháo dỡ và làm dãn cách, ở bên trong một khối cầu có bán kính vô hạn định, những phạm vi của các vật thể bị nén ép xung quanh chúng ta.
Cảm thức về độ sâu3: cảm thức này khổ nhọc đẩy lùi xa hơn chuỗi vô hạn các sự kiện trên những khoảng cách thời gian quá chừng lớn, mà đối với chúng ta một kiểu sức ì (tri thức) nào đó không ngừng có xu hướng siết chặt các sự kiện đó lại trong một lát mỏng của Quá khứ4.
Cảm thức về số lượng: cảm thức này khám phá và ước lượng (mà không làm ta chau mày) cái số lượng lớn gây hoảng loạn của các phần tử vật chất hay sinh vật đang tham gia vào sự biến đổi dù nhỏ nhất của Vũ trụ.
Cảm thức về quy mô: cảm thức này nhận ra, đúng cũng nhiều như sai, sự khác nhau về nấc thang vật lí vốn phân tách nguyên tử với tinh vân, cái rất nhỏ với cái bao la, trong các chiều kích và nhịp điệu.
Cảm thức về phẩm chất, hay về sự mới mẻ: cảm thức này có thể phân biệt ra được trong Tự nhiên những nấc thang tuyệt đối của sự hoàn hảo và sự tăng trưởng, mà không làm vỡ tính thống nhất vật lí của Thế giới.
Cảm thức về vận động: cảm thức này có khả năng nhận thấy những sự phát triển bất khả kháng ẩn giấu trong độ chậm rất lớn, sự khuấy động cực kì mạnh bị che giấu dưới một tấm voan của sự yên tĩnh, cái toàn thể mới mẻ đang lẩn vào giữa sự lặp lại đơn điệu của cùng sự vật.
Cảm thức về cái hữu cơ: cảm thức này khám phá những mối liên kết vật lí và tính thống nhất về cấu trúc khi đặt kề nhau một cách bề mặt những diễn thế và những tập thể.
Thiếu những phẩm chất này trong cách nhìn của chúng ta, bất kể ai có làm gì cho chúng ta thấy, đối với chúng ta, Con người sẽ vĩnh viễn là đối tượng thất thường trong một Thế giới lỏng lẻo, và điều này vẫn còn đúng cho biết bao nhiêu trí óc. Trái lại, khi bộ ba ảo tưởng về độ nhỏ, về cái đa nguyên và về cái bất động, biến khỏi đôi mắt chúng ta, và Con người dễ dàng đến giữ vị trí trung tâm mà chúng ta đã tuyên bố, thì đó là cực đỉnh nhất thời của một sự Phát sinh5 loài Người, và sự Phát sinh loài Người này hoàn tất một sự Phát sinh Vũ trụ.
Con người sẽ không thể nhìn thấy mình trọn vẹn khi ở bên ngoài Nhân loại; cũng như Nhân loại sẽ không thể nhìn thấy mình trọn vẹn khi ở bên ngoài Sự sống, cũng như Sự sống sẽ không thể nhìn thấy mình trọn vẹn khi ở bên ngoài Vũ trụ.
Từ đó, cấu trúc căn bản của cuốn sách này là như sau: sự Tiền sinh, Sự sống, Tư duy, - ba sự kiện này đã thiết kế trong Quá khứ và điều khiển cho Tương lai (Sự sống Siêu việt!) một quỹ đạo duy nhất và luôn cùng một quỹ đạo đó: đó chính là đường biểu diễn của Hiện tượng con người. Hiện tượng con người, - tôi nói chính xác như vậy.
Từ này không được chọn một cách tình cờ. Mà tôi chọn nó vì ba lí do. Trước hết, để khẳng định rằng Con người, trong Tự nhiên, là một thực kiện
đích thực, và thực kiện này làm nổi bật (ít nhất là phần nào) những đòi hỏi và những phương pháp của Khoa học.
Tiếp đó, lí do thứ hai là để nói rõ rằng, giữa những thực kiện được trình hiện cho tri thức của chúng ta, không thực kiện nào lại lạ thường hơn, cũng như không thực kiện nào lại sáng tỏ hơn [Hiện tượng con người].
Lí do cuối cùng là để nhấn mạnh vào tính chất đặc biệt của Tiểu luận mà tôi đang trình bày.
Mục đích duy nhất và điểm mạnh thực sự của tôi trong cuốn sách này đơn giản là tìm cách nhìn, tức là phát triển một cách nhìn đồng nhất và mạch lạc về kinh nghiệm chung của chúng ta trải rộng cho đến Con người. Một tập hợp đang được triển khai.
Ở đây xin bạn đọc đừng đi tìm một lời giải thích sau chót nào cho mọi thứ, - tức là một thuyết siêu hình hoc. Và xin bạn đọc đừng, hiểu sai cấp độ thực tại mà tôi gắn cho những phần khác nhau của diễn biến mà tôi trình bày sau đây. Khi tôi cô gắng hình dung Thế giới trước những khởi đầu của Sự Sống, hay là hình dung Sự sống ở Đại cổ sinh, tôi sẽ không quên rằng có những mâu thuẫn ở cấp độ Vũ trụ khi hình dung Con người như khán giả của những pha trước khi Tư duy xuất hiện trên Trái đất. Vì thế tôi không có tham vọng mô tả chúng đúng như thực tế trong Quá khứ, mà chỉ mường tượng chúng đã phải như thế nào để Thế giới sẽ đúng như bây giờ trong mắt chúng ta: Quá khứ, không phải chính tự nó, mà như cách nó hiện ra trước mắt một nhà quan sát đang đứng tại một đỉnh phát triển cao hơn, nơi mà sự Tiến hóa đã đặt chúng ta vào. Một phương pháp chắc chắn và khiêm tốn; tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, phương pháp này đủ để làm nảy sinh những cách nhìn đáng kinh ngạc về tương lai, bằng phép đối xứng về phía trước.
Hiển nhiên là, thậm chí bị rút giản lại ở các quy mô khiêm tốn này,
những cách nhìn mà tôi đặt cho mình nhiệm vụ phải thể hiện trong cuốn sách này, phần lớn chỉ có tính toan tính và cá nhân. Dù sao thì chúng cũng vẫn được dựa trên một nỗ lực tìm tòi nghiên cứu đáng kể và một suy ngẫm lâu dài, và chúng đem đến một ý tưởng, qua một ví dụ, về cách mà vấn đề về con người đặt ra trong Khoa học ngày nay.
Được nghiên cứu hạn hẹp trong chính mình bởi những nhà nhân học và những nhà luật học, Con người là một thứ nhỏ bé và thậm chí còn đang thu nhỏ lại. Tính cá thể quá rõ nét của Con người che đi tính Toàn thể khỏi đôi mắt chúng ta, nên khi xem xét Con người, trí óc của chúng ta thiên về chia nhỏ Tự nhiên và quên mất những liên kết sâu xa và những phạm vi lớn quá chừng của Tự nhiên: toàn bộ học thuyết sai lầm lấy con người làm trung tâm là vậy đấy. Từ đó dẫn đến sự ghê sợ, vẫn còn cảm thấy được ở các học giả, khi phải chấp nhận Con người như một đối tượng của Khoa học theo một cách khác chứ không phải qua thân thể của Con người.
Đã đến lúc ta cần nhận thấy rằng, để một diễn giải thậm chí mang tính thực chứng về Thế giới là thỏa đáng, thì nó phải bao hàm cái nội tại cũng như cái ngoại tại của sự vật, - bao hàm Tinh thần cũng nhiều như bao hàm Vật chất. Ngành Vật lí đích thực là ngành một ngày nào đó sẽ sáp nhập Con người trọn vẹn vào trong một hình dung mạch lạc về thế giới.
Tôi chỉ mong sẽ làm bạn đọc ở đây cảm thấy rằng cái toan tính này là khả hữu, và với những ai muốn và biết tìm hiểu sự vật đến cùng, sự bảo tồn lòng dũng cảm và niềm vui hành động trong chúng ta phụ thuộc vào cái toan tính đó.
Thực ra, tôi nghi ngờ lại có một giây phút nào có tính quyết định cho sinh vật có tư duy hơn giây phút khi mà những lớp vảy rơi ra khỏi mắt sinh vật đó và nó khám phá ra rằng mình không phải là một phần tử lạc lõng trong những sự cô độc vũ trụ và một ý muốn được sống mang tính phổ
quát đang hội tụ và đang tiến hóa thành người trong nó.
Con người không phải là tâm điểm tĩnh của Thế giới, - như từ lâu họ vẫn nghĩ vậy; mà Con người là trục và hướng của sự Tiến hóa, - và chẳng phải điều này lại càng đẹp hơn rất nhiều đó sao.
PHẦN I
-------- SỰ TIỀN SINH
Chương I
CHẤT LIỆU KẾT CẤU CỦA VŨ TRỤ V
iệc di chuyển một vật lùi về quá khứ tương đương với việc quy nó về các phần tử đơn giản nhất của nó. Khi lần theo những thớ tận cùng của phức thể con người, theo hướng về nguồn cội của chúng ở mức xa nhất có thể, ta sẽ thấy chúng trùng với chính Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ.
Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ: đó là phần còn lại cuối cùng của mọi phân tích luôn ngày càng tiến bộ của Khoa học… Tôi chưa hề được tiếp xúc trực tiếp và gần gũi với cái chất liệu kết cấu đó, để biết cách mô tả nó đủ nghiêm túc; và chính sự tiếp xúc này tạo nên sự khác biệt giữa một người mới chỉ đọc và một người đã từng thực nghiệm. Và tôi cũng biết mối nguy hại khi dùng các giả thuyết mà chính những người đề xuất cũng nghĩ chỉ có giá trị ngày một ngày hai, để làm vật liệu cho một công trình mà ta mong muốn sẽ bền lâu.
Những biểu diễn của nguyên tử hiện giờ được chấp nhận mà các nhà khoa học có được, chủ yếu chỉ là một công cụ mang tính đồ thị và nhất thời, nhằm tập hợp các “hiệu ứng” ngày càng nhiều hơn do Vật chất biểu lộ, và nhằm xác minh sự không mâu thuẫn giữa các hiệu ứng đó; hơn nữa, nhiều hiệu ứng trong số đó vẫn chưa hề có sự tiếp diễn nhận thấy được nào ở Con người.
Là một nhà tự nhiên học hơn là một nhà vật lí, tôi đương nhiên sẽ tránh
lan man và tránh dựa vào những cấu trúc phức tạp mong manh này một cách không hợp lẽ.
Tuy vậy, trong các lí thuyết đa dạng giao thoa nhau, một vài đặc tính nổi bật lên và trình hiện lại một cách bắt buộc trong bất kì lời giải thích về Vũ trụ từng được đề xuất nào. Chính cái điều “bắt buộc” luôn có này, trong chừng mực nó biểu diễn được những điều kiện cố hữu của mọi sự biến đổi của tự nhiên và thậm chí của cả sự sống, phải là điểm khởi đầu tất yếu cho các nhà tự nhiên học đang dấn thân vào một nghiên cứu tổng quát về Hiện tượng con người, và đây cũng là chủ đề họ có thể bàn luận một cách hợp lẽ.
VẬT CHẤT CƠ BẢN
Được quan sát dưới góc nhìn cụ thể này và được lấy để khởi đầu trong trạng thái cơ bản (bằng cụm từ “trạng thái cơ bản” tôi muốn nói đến việc ở một thời điểm nào đó, tại một vị trí nào đó, và trong một dung tích nào đó), kết cấu của các sự vật hữu hình biểu lộ cho chúng ta thấy, ngày càng rõ hơn, rằng nó có tính hạt một cách triệt để nhưng vẫn có tính liên kết - và cuối cùng là nó có hoạt tính phi thường.
Tính đa nguyên, tính thống nhất và năng lượng: đó là ba mặt của Vật chất.
A. Tính đa nguyên
Trước hết chúng ta bàn về tính đa nguyên.
Tính nguyên tử sâu kín của Vũ trụ hiện ra dưới dạng nhìn thấy được ở ngay trong kinh nghiệm đời thường. Nó tự biểu lộ trong những giọt mưa và những hạt cát. Nó mở rộng đến vô số sinh vật và thiên thể. Và thậm chí nó còn được nhận ra cả trong tro xác chết. Con người không cần đến kính
hiển vi hay các phân tích điện tử để ngờ rằng mình đang sống với một lớp bụi bao quanh và sống dựa vào lớp bụi đó. Nhưng để đếm và mô tả các hạt bụi này, ít nhất cần đến sự sáng suốt kiên trì của Khoa học hiện đại. Các nguyên tử của Epicure có tính trơ và không thể phân chia được. Và thế giới vi phân của Pascal còn có thể có những vi động vật. Về độ chắc chắn và chính xác, chúng ta bây giờ đã vượt xa cái giai đoạn tiên trí bằng bản năng và cảm hứng này. Lớp bụi này không bị giới hạn về sự thoái biến. Giống như khi được phóng đại hơn nữa, đường nét của các vỏ li ti của tảo vỏ phân giải thành những đường nét mới một cách gần như vô định, - dưới những phân tích của các nhà vật lí, mỗi đơn vị vật chất nhỏ hơn có xu hướng phân giải thành một cái gì đó có độ mịn cao hơn chính nó. Và trong mỗi bước mới như thế, xuống đến các phần tử nhỏ nhất với số lượng nhiều nhất, chính hình dạng toàn thể của Thế giới đổi mới và mờ đi.
Vượt qua một độ sâu và độ loãng nào đó, các tính chất thông thường nhất của cơ thể chúng ta (ánh sáng, màu sắc, nhiệt, tính không thẩm thấu…) mất đi ý nghĩa của chúng.
Thực vậy, cảm nghiệm của chúng ta cô đặc lại và trôi nổi trên một nhóm hệ những điều không thể định nghĩa được. Khi số lượng và độ nhỏ trở nên quá mức, thể nền của Vũ trụ hữu hình tan rã vô hạn về phía thấp hơn.
B. Tính thống nhất
Chúng ta càng chẻ thớ và tán nhỏ Vật chất một cách nhân tạo bao nhiêu, tính thống nhất căn bản cua Vật chất càng thể hiện cho chúng ta thấy rõ hơn bấy nhiêu.
Dưới hình thức không hoàn chỉnh nhất nhưng đơn giản nhất để hình dung, tính thống nhất này thể hiện qua sự giống nhau đáng kinh ngạc giữa các thành phần tìm thấy. Các phân tử, các nguyên tử, các điện tử, những
thực thể nhỏ bé này, bất kể độ lớn và tên của chúng thế nào, đều biểu lộ (ít nhất trong tầm quan sát của chúng ta) một sự đồng nhất tuyệt đối về trọng lượng và cách hoạt động. Trong các kích thước và các hoạt động của mình, chúng dường như được định cỡ chuẩn một cách đáng kinh ngạc - và đơn điệu. Cứ như là những vẻ bề mặt lung linh muôn màu sắc làm con người say mê lại có xu hướng mờ dần đi theo chiều sâu. Cứ như là chất liệu kết cấu của mọi chất liệu kết cấu được quy về một mô dạng đơn giản và duy nhất của thể chất.
Vì thế đó là tính thống nhất về độ đồng đều. Chúng ta thấy thật tự nhiên khi gắn cho các tiểu thể vũ trụ một phạm vi tác động riêng cũng hạn chế như kích thước của chúng. Thế mà, ngược lại, điều trở nên rõ ràng là mỗi tiểu thể đó chỉ có thể xác định được theo ảnh hưởng của nó lên tất cả mọi thứ xung quanh. Bất kể nó được giả thiết đặt vào không gian nào, mỗi thành phần vũ trụ bức xạ lên toàn bộ chính khối không gian đó. Bất kể “nhân” của một nguyên tử có phạm vi nhỏ hẹp đến đâu, miền bức xạ của nó bao trùm lên miền bức xạ của bất kì nguyên tử nào khác, ít nhất một cách tiềm tàng. Đó là một tính chất lạ lùng mà chúng ta sẽ còn thấy, cho đến tận các phân tử của cơ thể con người!
Và thế là chúng ta đã chỉ thêm ra tính thống nhất tập thể. Những tụ điểm nhiều vô kể trong cùng một khối Vật chất cũng không vì thế mà độc lập với nhau. Một cái gì đó nối chúng lại với nhau, làm chúng liên kết. Không gian chứa đầy vô số tụ điểm đó không hề hoạt động như một bể chứa trung tính, nó tự tác động lên bản thân như một môi trường có hoạt tính để định hướng và truyền tải, và ở giữa môi trường đó tính đa nguyên của các tụ điểm tự tổ chức. Nếu chỉ đơn thuần là được thêm vào và xếp kề nhau, các nguyên tử vẫn chưa trở thành Vật chất được. Một sự đồng nhất bí ẩn nào đó bao trùm và gắn kết chúng lại; trí óc chúng ta vấp phải sự đồng nhất này, nhưng rốt cuộc cũng buộc phải chấp nhận nó.
Đó là phạm vi ở bên trên các tâm điểm và bao phủ chúng.
Trong suốt cuốn sách này, ở mỗi bước mới của việc Nghiên cứu Nguồn gốc loài Người, chúng ta sẽ lại phải đối mặt với thực tại không mường tượng nổi của các mối liên kết tập thể, và chúng ta sẽ phải không ngừng đối đầu với những mối liên kết đó, cho đến khi chúng ta nhận biết và xác định được bản chất thực sự của chúng. Tại bước khởi đầu này, chúng ta chỉ cần tóm gọn chúng dưới một cái tên dựa vào kinh nghiệm, được Khoa học dùng để nói về nguồn gốc chung ban đầu của chúng: Năng lượng.
C. Năng lượng
Năng lượng, mặt thứ ba của Vật chất.
Theo nghĩa tâm lí học, từ này được hiểu là nỗ lực; bằng từ này ngành Vật lí đưa ra cách diễn tả chính xác một năng lực tác động, hoặc chính xác hơn, năng lực tương tác. Năng lượng là thước đo những gì truyền từ một nguyên tử này sang nguyên tử khác trong quá trình biến đổi của chúng. Vì vậy, đó là khả năng liên kết, nhưng cũng còn là một giá trị về cấu tạo, nguyên tử có vẻ tự làm mình mạnh hơn hoặc yếu đi trong quá trình trao đổi.
Về phương diện năng lượng, do được đổi mới bằng các hiện tượng phóng xạ, các tiểu thể vật chất hiện giờ có thể được coi như các kho tạm thời với một tiềm năng được tập trung cô đặc lại. Trên thực tế, Năng lượng chưa bao giờ được tìm thấy trong trạng thái thuần khiết, nhưng lưôn ít nhiều mang tình hạt (thậm chí trong ánh sáng!); hiện giờ đối với Khoa học, Năng lượng biểu diễn hình thức nguyên sơ nhất của Chất liệu Kết cấu vũ trụ. Từ đó, trí tưởng tượng của chúng ta có xu hướng bản năng nhìn Năng lượng như một loại dòng chảy đồng đều nguyên thủy mà từ đó tất cả mọi thứ có hình thể trên Thế giới chỉ là “cơn xoáy” thoảng qua. Trên quan điểm
này, Vũ trụ sẽ đạt đến độ bền vững và tính thống nhất tối hậu của nó ở cuối quá trình phân rã của nó. Và nếu như thế, nó sẽ được giữ vững từ phía dưới.
Chúng ta hãy giữ lại những kết quả và những phép đo lường không thể phủ nhận của ngành Vật lí. Nhưng chúng ta hãy tránh tự gắn cho mình cách nhìn hướng đến điểm cân bằng cuối cùng mà ngành này thường đề xuất. Một quan sát đầy đủ về sự vận động của Thế giới sẽ buộc chúng ta từ từ đảo ngược cách nhìn này, tức là khám phá ra rằng: nếu mọi thứ giữ vững và tự giữ vững được, đó chỉ có thể là do sự phức hợp từ phía trên.
VẬT CHẤT TỔNG THỂ
Cho đến giờ chúng ta đã xem xét Vật chất như hiện tượng “tự thân”, tức là dựa theo những tính chất của nó và trong một dung tích bất kỉ - như thể chúng ta được tùy ý tách ra một mảnh và nghiên cứu mẫu đó riêng biệt với phần còn lại. Đã đến lúc chúng ta cần lưu ý rằng cách thức này chỉ là một thủ thuật khôn khéo thuần túy của trí não. Khi được xem xét trong thực tại vật lí và cụ thể của nó, Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ không thể bị xé rách. Tuy nhiên, như một loại “nguyên tử” khổng lồ, chính nó, khi được xem xét trong tổng thể của mình, tạo nên (ở bên ngoài Tư duy nơi nó tự hướng tâm hóa và tự tập trung lại, ở điểm cực kia) cái Không-Chia-cắt được6 thực tồn duy nhất. Lịch sử và vai trò của Ý thức trong Thế giới sẽ vẫn là điều không thể hiểu được cho những ai chưa nhìn ra rằng Vũ trụ (nơi Con người đang lẩn mình), do sự toàn vẹn không thể phủ nhận của tổng thể của nó, làm thành một Hệ thống, một Chỉnh thể và một Lượng tử: Vũ trụ là một Hệ thống bởi tính Đa thể của mình, Vũ trụ là một Chỉnh thể bởi tính Thống nhất của mình, và Vũ trụ là một Lượng tử bởi Năng lượng của mình; vả lại cả ba đều cùng ở bên trong một đường biên không bị giới
hạn.
Chúng ta hãy cố gắng giải thích điều này.
A. Hệ Thống
Trong Thế giới, đối với bất kì nhà quan sát Tự nhiên nào, “Hệ thống” này ngay lập tức có thể tri giác được.
Cách sắp xếp các bộ phận của Vũ trụ luôn là đối tượng băn khoăn của con người. Vậy mà, sự xếp đặt này lại ngày càng cho ta thấy nó đáng kinh ngạc hơn, trong chừng mực Khoa học có thể nghiên cứu các thực kiện càng chính xác hơn và sâu sắc hơn. Bằng những công cụ ngày càng hiệu lực, chúng ta càng thâm nhập sâu và xa vào trong Vật chất, những mối liên kết qua lại giữa các bộ phận của nó lại càng làm chúng ta bối rối khó xử hơn. Mỗi phần tử của Vũ trụ thực sự được đan kết bởi mọi phần tử khác: đan kết ở phía dưới nhờ hiện tượng “kết hợp” bí ẩn, chính hiện tượng này làm cho phần tử đó vững chắc được ở đỉnh của một tập hợp có tổ chức, và đan kết ở phía trên do ảnh hưởng của các đơn vị cao cấp bao trùm nó và chi phối nó cho mục đích riêng của các đơn vị đó.
Cái mạng lưới này không thể bị xuyên cắt, và ta không thể tách riêng một mảng của nó ra mà không làm mảng đó bị tháo tung và tan rã ở mọi góc.
Cho đến hết tầm nhìn, Vũ trụ xung quanh chúng ta đứng vững được nhờ tổng thể của nó.
Và chỉ có một cách thực sự khả dĩ để nghiên cứu nó. Đó là coi toàn bộ nó như một khối.
B. Chỉnh thể
Vậy mà, trong khối này, nếu xem xét nó kĩ hơn, chúng ta nhanh chóng
thấy rằng hẳn có cái gì đó khác hơn một mớ các liên kết khớp nối. Nếu nói đến mạng đan hay mạng lưới, tức là ta nghĩ đến một mạng đồng đều chằng chịt các đơn vị tương tự - có lẽ thực sự là không thể cắt xẻ nó được - nhưng nhận ra đơn vị cơ bản của nó và xác định được quy luật là đủ để điều khiến toàn bộ mạng lưới đó, rồi hình dung các phần còn lại, bằng phép tái lặp: dù ở dạng tinh thể hay theo mô-típ hình học, quy luật lấp đầy là có hiệu lực cho toàn bộ một không gian, nhưng khi thu gọn toàn bộ lại, không gian này lại chỉ nằm trọn trong một mắt lưới duy nhất.
Cái cấu trúc vừa tả phía trên và cấu trúc của Vật chất không có điểm gì chung cả.
Ở những cấp độ khác nhau, Vật chất không bao giờ tái lập những tổ hợp của mình. Để thiết thực và đơn giản, đôi khi chúng ta muốn hình dung Thế giới như một chuỗi các hệ hành tinh xếp chồng lên nhau và tự xếp loại từ nhỏ vô hạn đến lớn vô hạn: ở đây, một lần nữa, ta lại thấy hai bờ vực thẳm của Pascal. Đó chỉ là một ảo giác. Nhưng lớp vỏ cầu thành nên Vật chất có bản chất di động với nhau. Đầu tiên, chúng ta có một lớp, tuy mới được xác định mơ hồ, bao gồm các điện tử và các đơn vị khác cấp thấp hơn. Rồi đến một lớp, được xác định rõ ràng hơn, bao gồm những đơn chất, trong đó các phần tử phân bố theo hàm tuần hoàn của nguyên tử của hydro. Một lớp xa hơn nữa, gồm vô số các tổ hợp phân tử. Cuối cùng, bằng bước nhảy vọt hoặc đảo ngược từ cực nhỏ đến cực lớn, là đến lớp các ngôi sao và các thiên hà. Những vùng đa bội của Vũ trụ bao bọc nhau mà không lặp lại - vì thế, chúng ta không thể chuyển từ một lớp này sang lớp khác đơn giản bằng cách thay đổi hệ số. Ở đây, không có sự tái tạo cùng một khuôn mẫu ở quy mô khác. Trật tự, đường nét chỉ xuất hiện trong tổng thể. Cái mắt lưới của Vũ trụ chính là Vũ trụ.
Chỉ khẳng định rằng Vật chất tạo thành một khối hay một tập hợp như
thế là chưa đủ.
Đan kết từ một mảnh duy nhất, luôn theo một cách thức duy nhất, nhưng không bao giờ lặp lại từ điểm này sang điểm khác, Chất liệu Kết cấu Vũ trụ tương ứng với một thể dạng duy nhất: về mặt cấu trúc nó tạo thành một cái Toàn thể.
C. Lượng tử
Và bây giờ, nếu phần tử đơn vị tự nhiên của không gian cụ thể nào cũng trùng hợp với chính toàn bộ Không gian, chúng ta phải cố định nghĩa lại Năng lượng so với toàn bộ Không gian.
Điều này dẫn chúng ta đến hai kết luận.
Kết luận đầu tiên là: phạm vi tác động của mỗi phần tử vũ trụ, về lí thuyết, phải kéo dài thẳng đến những giời hạn cuối cùng của Thế giới. Bởi vì, như đã nói ở trên, mọi nguyên tử khi được đặt trong bất kì không gian nào cũng đương nhiên bao trùm không gian đó. Mặt khác, như chúng ta vừa thấy, do một không gian vũ trụ lại chính là không gian duy nhất tồn tại, chúng ta buộc phải chấp nhận rằng chính độ rộng lớn bao la này biểu diễn miền tác động chung của mọi nguyên tử. Mỗi nguyên tử có dung tích chính là dung tích của Vũ trụ. Nguyên tử không còn là Thế giới vi mô khép kín như chúng ta có lẽ đều tưởng tượng. Nó là tâm điểm vi phân của chính Thế giới.
Mặt khác, bây giờ chúng ta hãy mở rộng hướng nhìn của mình đến tập hợp các tâm điểm vi phân ở cùng trong phạm vi vũ trụ. Dù số lượng của chúng có không thể xác định được đến đâu, bằng sự vô số của mình, chúng tạo nên một sự hợp nhóm có các tác động nhất định. Bởi vì cái Toàn thể do tồn tại, phải tự thể hiện bằng năng lực tác động toàn cục7; vả lại, chúng ta tìm thấy một phần kết quả cuối cùng của nó trong chính mỗi chúng ta. Như
thế chúng ta được dẫn đến việc xem xét và đề xuất một đơn vị đo lường mang tính động cho Thế giới.
Tất nhiên, Thế giới có những đường biên không bị giới hạn trong vẻ bề ngoài. Chúng ta có thể đưa ra các hình ảnh ẩn dụ khác nhau như sau - đối với các giác quan của chúng ta, nó hoạt động hoặc như một môi trường giảm dần và biến mất, sự biến mất này không do một bề mặt giới hạn mà bằng một sự vô hạn giảm dần nào đó; hoặc nó hoạt động như một vùng uốn cong và khép kín mà trong đó tất cả những nét của kinh nghiệm của chúng ta cuộn vào nhau - trong ví dụ thứ hai này chúng ta cảm thấy Vật chất không có biên giới chỉ vì chúng ta không thể ló hiện ra khỏi nó.
Điều này không phải là lí lẽ để không coi nó như một Lượng tử Năng lượng, mà tình cờ biết bao các nhà vật lí hiện giờ tin rằng họ có thể đo được.
Nhưng Lượng tử này chỉ thể hiện được ý nghĩa đầy đủ của nó khi chúng ta tìm cách định nghĩa nó so với một vận động tự nhiên cụ thể - có nghĩa là, trong Thời lượng.
SỰ TIẾN HÓA CỦA VẬT CHẤT
Ngành Vật lí ra đời trong thế kỉ trước, giương cao ngọn cờ nghiên cứu tính cố định và tính hình học. Trong giai đoạn non trẻ của mình, nó có mục đích tìm ra một cách giải thích toán học cho một Thế giới được cấu tạo theo kiểu một hệ thống các phần tử ổn định trong thế cân bằng khép kín. Rồi sau đó, cùng với mọi khoa học nghiên cứu cái thực tồn, người ta nhận thấy nó bị chính sự tiến bộ của mình dẫn dắt, không cưỡng lại được, để trở thành một Lịch sử. Ngày nay, tri thức thực chứng về các sự vật đồng nghĩa với việc nghiên cứu sự phát triển của chúng. Trong phần tiếp theo, ở chương về Tư duy, chúng ta sẽ mô tả và diễn giải cuộc cách mạng của sự
sống, được tiến hành trong ý thức con người, nhờ sự khám phá mới chỉ gần đây về Thời lượng. Còn bây giờ, chúng ta hãy tự hỏi bản thân rằng việc đưa ra chiều kích mới mẻ này mở rộng cách nhìn của chúng ta về Vật chất như thế nào?
Về căn bản, sự thay đổi trong kinh nghiệm của chúng ta, do sự xuất hiện của cái chúng ta sắp gọi là khối Không-Thời gian, bao gồm những điều trong kinh nghiệm, mà trước đó, khi giải thích về Vũ trụ, những điều này được xem xét và xử lí như những điểm, còn giờ đây chúng trở thành mặt cắt tức thời của các thớ thời gian vô định. Đối với đôi mắt giờ đã được mở rộng của chúng ta, mọi phần tử của các sự vật kéo dài ngược trở lại (và có xu hướng tiếp tục đi về phía trước) đến xa tít tắp. Đến mức toàn thể độ rộng lớn bao la về không gian cũng chỉ là một lát cắt “tại thời điểm t” của một trục có gốc đâm sâu vào hố thẳm của một Quá khứ không dò thấu được, và các nhánh của trục đó vươn cao lên đến một chỗ nào đó trong một Tương lai, mà Tương lai này từ ngay cái nhìn đầu tiên ta đã thấy là không bị giới hạn. Trong cách nhìn mới mẻ này, Thế giới xuất hiện như một khối đang trong quá trình biến đổi. Cái Chỉnh thể và cái Lượng tử vũ trụ này có chiều hướng tự biểu lộ và tự xác định trong việc Nghiên cứu về sự Phát sinh Vũ trụ.
Hiện giờ, trong cách nhìn của các Nhà vật lí thì sự Tiến hóa đó của Vật chất có thể dạng như thế nào (về mặt định tính) và tuân theo những quy tắc nào (về mặt định lượng)?
A. Thể dạng
Theo các lí thuyết hiện hành, khi được quan sát ở phần trung tâm, tức là phần rõ ràng nhất của mình, sự Tiến hóa của Vật chất được quy về việc kiến dựng dần dần các phần tử đa dạng mà đã được ngành Hóa lí nhận biết, nhờ sự phức tạp hóa tăng lên. Sự kiến dựng đó bắt đầu, từ dưới cùng,
với một điều đơn giản còn chưa được xác định, và không thể định nghĩa được về mặt thể dạng, và có bản chất ánh sáng. Rồi, sau đó đột ngột (?)8 hình thành một nhóm các tiểu thể cơ bản, có điện tích dương và âm (proton, nơtron, điện tử, photon…) mà danh sách của chúng dài ra không ngừng. Tiếp đến chuỗi tuần hoàn của các đơn chất dàn trải từ Hydro đến Urani theo số thứ tự trong bảng tuần hoàn các nguyên tố. Và tiếp đó là vô vàn các hợp chất khác nhau, trọng lượng các phân tử của chúng tăng lên cho đến một giá trị tới hạn, và khi vượt qua giá trị này, ta chuyển sang Sự sống, như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo của cuốn sách. Nhờ các chứng minh thực nghiệm hợp lí, không một phần tử nào của chuỗi dài này lại không được xem như một hợp chất của hạt nhân và điện tử. Khám phá có tính nền tảng rằng tất cả các chất được tạo ra do sắp xếp từ một loại tiểu thể ban đầu duy nhất, là tia sáng soi rọi lịch sử của Vũ trụ trước mắt chúng ta. Theo cách riêng của nó, Vật chất ngay từ đầu đã tuân theo định luật sinh học quan trọng về “sự phức hợp hóa” (chúng ta sẽ không ngừng trở lại vấn đề này).
Theo cách của nó, như tôi nói ở trên; bởi vì lịch sử của Thế giới trong giai đoạn nguyên tử vẫn còn nhiều điểm chúng ta chưa hiểu.
Trước hết, phải chăng để tiến lên theo chuỗi các đơn chất, mỗi phần tử phải lần lượt vượt qua từng cấp bậc (từ đơn giản nhất cho đến phức tạp nhất), nhờ một dạng phát sinh cá thể hoặc phát sinh loài? Hay là, phải chăng các trị số nguyên tử chỉ biểu diển một chuỗi tuần hoàn các trạng thái cân bằng và các trạng thái cân bằng này như một loại bẫy nơi các hạt nhân và các điện tử đột nhiên bị tập hợp lại với nhau? - Và tiếp đó, trong cả hai trường hợp này, ta có cần biểu diễn các tổ hợp khác nhau của hạt nhân như có thể xảy ra ngay lập tức và với khả năng xảy ra ngang nhau không? Hay ngược lại, ta có cần hình dung rằng nhìn chung, theo cách thống kê, các
nguyên tử nặng chỉ xuất hiện sau các nguyên tử nhẹ và theo một trật tự tất định?
Dường như Khoa học còn chưa thể giải đáp dứt khoát các câu hỏi này, cũng như các câu hỏi tương tự khác, về sự tiến hóa theo chiều tăng (tôi không nói đến “sự phân rã”) của nguyên tử, hiện giờ hiểu biết của chúng ta về điều này còn ít hơn về sự tiến hóa của các phân tử tiền sinh và phân tử sống. Tuy nhiên vẫn còn một điểm; và đối với chủ đề chúng ta đang quan tâm, đây là điểm duy nhất thực sự quan trọng. Đó là ngay từ trong những sự thể thức hóa của Vật chất ở thời kì xa xăm nhất, Vật chất biểu lộ cho chúng ta thấy trong trạng thái phát sinh - sự phát sinh này biểu lộ hai (trong nhiều) khía cạnh và chúng làm rõ nét nhất đặc tính của Vật chất ở những thời kì sau của nó. Trước hết: khởi đầu bằng một pha tới hạn: tức là pha hạt hóa làm ra đời đột ngột (chỉ một lần dứt điểm?) các thành phần của nguyên tử, và có lẽ làm ra đời chính nguyên tử. Sau đó là, tiếp diễn một cách cộng thêm, theo một quá trình có độ phức hợp ngày càng tăng, ít nhất là bắt đầu từ các phân tử trở đi.
Mọi thứ trong vũ trụ không hình thành một cách liên tục, bất kể ở thời điểm nào. Mọi thứ trong Vũ trụ cũng không hình thành ở khắp mọi nơi.
Chúng ta mới chỉ vừa tóm tắt trong vài dòng ý tưởng rằng hiện giờ Khoa học chấp nhận những biến đổi của Vật chất, nhưng mới chỉ bằng cách đơn giản xem xét chúng trong trình tự thời gian, mà chưa định vị chúng trong phạm vi trải dài của vũ trụ. Về mặt lịch sử, Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ tập trung lại dưới các hình thức ngày càng có tính tổ chức cao hơn của Vật chất. Thế nhưng, những sự biến thái này, ít ra là từ sự kiến tạo của các phân tử trở đi, xảy ra ở đâu vậy? Có phải ở bất kì chỗ nào trong Không gian? Không, hoàn toàn không phải thế. Như chúng ta đều biết, điều đó chỉ diễn ra trong lòng và trên bề mặt các ngôi sao. Chính việc đã
xem xét đến các phần tử cơ bản vô cùng nhỏ buộc chúng ta vội ngước mắt nhìn lên các khối thiên thể lớn vô hạn.
Những khối thiên thể… Các đơn vị khổng lồ này làm Khoa học của chúng ta bối rối nhưng cũng đồng thời bị chúng quyến rũ, chúng hoạt động theo cách như các nguyên tử, nhưng cấu tạo của chúng gây hoang mang do độ phức hợp cao và (dường như?) không đồng đều của cấu tạo đó. Có lẽ đến một ngày nào đó sẽ xuất hiện một sự săp xếp hoặc một tính chu kì nào đó trong sự phân bố các thiên thể, theo thành phần cũng như vị trí. Chẳng phải một sự khảo cứu “phân tầng” và “hóa học” nào đó về các vùng trời tất yếu làm dài thêm lịch sử của các nguyên tử đó sao?
Chúng ta không buộc phải đi theo các phương hướng còn mơ hồ này. Dù rất hấp dẫn, các phương hướng này bao quanh Con người chứ không dẫn đến Con người. Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý và ghi nhận một mối liên kết chắc chắn giữa một nguyên tử với một ngôi sao về mặt di truyền học, bởi vì mối liên kết này có hệ quả cho đến tận sự phát sinh của Tinh thần. Có thể còn lâu nữa ngành Vật lí sẽ vẫn không dứt khoát về cấu trúc cần gắn với những độ rộng lớn bao la của các thiên thể. Nhưng trong khi chờ đợi, có một điều đã được bảo đảm, và như thế là đủ để hướng dẫn chúng ta trên con đường Nghiên cứu sự Phát sinh loài Người. Đó là việc tạo ra các hợp chất vật liệu phức tạp chỉ có thể diễn ra theo hướng đạt đến một sự cô đặc tiên quyết của Chất liệu Kết cấu Vũ trụ thành các tinh vân và các mặt trời. Bất kể thể dạng chung của các Thế giới ra sao, đối với chúng ta, chức năng hóa học của mỗi Thế giới đã có một ý nghĩa khả định. Các thiên thể là những phòng thí nghiệm nơi sự Tiến hóa của Vật chất tiếp diễn theo hướng tiến đến các phân tử khổng lồ, - vả lại, sự Tiến hóa này tuân theo những quy tắc định lượng xác định, và đã đến lúc chúng ta cần nghiên cứu các quy tắc đó.
B. Các định luật định lượng
Điều mà Tư duy cổ đại đã thoáng nhìn thấy và hình dung như một sự hài hòa tự nhiên của các con Số, đã được Khoa học hiện đại nắm bắt và thực hiện bằng sự chính xác của các công thức được thiết lập nên dựa trên sự Đo lường. Tri thức của chúng ta về cấu trúc vi mô và vĩ mô của Vũ trụ có được là nhờ các phép đo lường ngày càng tinh vi, hơn là nhờ các quan sát trực tiếp. Và chính nhờ các phép đo lường ngày càng táo bạo hơn, chúng ta đã tìm ra các điều kiện tính toán được, mà hiệu lực của mọi sự biến đổi của Vật chất đều chịu ràng buộc với các điều kiện đó.
Ở đấy, tôi không cần phải bước vào một cuộc thảo luận mang tính phê phán về các định luật của ngành Năng lượng học. Chúng ta hãy tóm tắt đơn giản những định luật này bằng những nội dung hiểu được và cần thiết cho mọi nhà nghiên cứu lịch sử Thế giới. Khi được xem xét dưới góc độ sinh học, đa số các định luật đó có thể được quy về hai nguyên lí sau đây.
Nguyên lí thứ nhất. Trong quá trình diễn ra những biến đổi mang bản chất hóa lí, chúng ta không hề ghi nhận một sự xuất hiện đo đạc được nào của một năng lượng mới.
Bất kì sự tổng hợp nào cũng đều tốn kém. Đó là một điều kiện căn bản của các sự vật, và như chúng ta biết, điều kiện này đúng cho đến tận những phạm vi tinh thần của thực thể. Trong mọi lĩnh vực, tiến bộ, để được thực hiện, đòi hỏi một sự tăng thêm của nỗ lực và do đó là của hiệu lực. Tuy nhiên, sự tăng thêm này đến từ đâu?
Một cách trừu tượng, người ta có thể mường tượng rằng, một sự phát triển nội tại của các nguồn khả năng của Thế giới và một sự tăng tuyệt đối của sự phong phú cơ học theo thời gian, đang chỉ cấp cho các nhu cầu của sự Tiến hóa. Trong thực tế, mọi thứ dường như lại diễn ra theo một cách khác. Dường như không có một trường hợp nào năng lượng tổng hợp lại
được tính bằng sự đóng góp của một nguồn mới, mà bằng một sự tiêu tốn. Điều gì một bên đạt được thì bên kia mất đi. Không có gì được xây dựng nên mà không phải trả giá bằng một sự phá hủy tương đương.
Một cách thực nghiệm và thoạt nhìn, Vũ trụ, khi được xem xét trong hoạt động cơ học của mình, không thể hiện cho chúng ta thấy như một Lượng tử mở, có khả năng gói trọn trong góc chứa của mình một cái Thực tồn ngày càng lớn hơn - mà như một Lượng tử khép kín và trong đó không gì tiến triển được ngoài cách trao đổi những gì được cung cấp ban đầu.
Đó là vẻ bề ngoài thứ nhất.
Nguyên lí thứ hai. Nhưng còn hơn thế nữa. Ngành Nhiệt động học bổ sung rằng, trong bất kì quá trình biến đổi hóa lí nào, một phần nhỏ năng lượng khả dụng cùng bị “entropy hóa” một cách không thể cứu vãn, tức là phần năng lượng đó bị tổn thất dưới dạng nhiệt. Chúng ta có thể bảo toàn phần năng lượng suy tổn này bằng các biểu tượng trong các phương trình, nhằm diễn tả rằng không có gì tự mất đi, cũng như không có gì tự tạo ra trong các hoạt động của Vật chất. Đây chỉ là một thủ thuật toán học thuần túy. Thực ra, trên quan điểm tiến hóa, trong mọi quá trình tổng hợp có một cái gì đó bị đốt cháy vĩnh viễn để chi trả cho sự tổng hợp này. Cái Lượng tử năng lượng của Thế giới mà càng hoạt động, thì nó càng bị hao mòn. Trong phạm vi kinh nghiệm của chúng ta, Vũ trụ vật chất cụ thể có vẻ không thể tiếp tục hành trình của mình mãi mãi được. Thay vì chuyển động vô hạn theo một chu trình khép kín, Vũ trụ vẽ nên một nhánh có độ dài bị giới hạn, một cách không đảo ngược được. Và chính vì thế, nó tách ra khỏi các đại lượng trừu tượng để được xếp vào loại các thực tại sinh ra, phát triển và chết đi. Từ Thời gian nó chuyển sang Thời lượng, và nó vĩnh viễn thoát khỏi Hình học, để trở thành, thật đáng kinh ngạc làm sao, một đối tượng của
Lich sử, nhờ toàn thể cũng như nhờ các thành phần của nó.
Chúng ta hãy diễn dịch bằng hình ảnh ý nghĩa tự nhiên của hai Nguyên lí Bảo tồn và Thoái hóa Năng lượng này.
Về mặt định tính, như đã nói ở trên, sự Tiến hóa của Vật chất biểu lộ cho chúng ta thấy, ở đây và bây giờ, như một quá trình trong đó những phần cấu thành nên nguyên tố tự “siêu cô đặc” và tự kết hợp qua lại với nhau, về mặt định lượng, giờ đây chúng ta thấy sự biến đổi này có vẻ giống như một hoạt động xác định, nhưng tốn kém, và trong quá trình hoạt động đó động lực ban đầu từ từ bị hao mòn. Với nhiều công sức, từ cấp độ này lên cấp độ khác, các cấu trúc nguyên tử và phân tử trở nên phức tạp hơn và vươn lên cao hơn. Nhưng, sức lực bị mất trên đường đi. Hơn nữa, ở mỗi giai đoạn của quá trình tổng hợp, Vũ trụ trong toàn thể của nó bị xói mòn do cùng một dạng tiêu hao (và ở giai đoạn càng cao hơn thì sự xói mòn này diễn ra càng nhanh hơn). Dần dần, các tổ hợp khó xảy ra (mà các giai đoạn này biểu diễn) bị phá vỡ thành các phần tử đơn giản hơn, và các phần tử này rơi xuống và phân hủy trong sự vô định hình của các phân bố dễ xảy ra.
Một quả tên lửa bay lên theo hướng của trục thời gian, chỉ bùng cháy để rồi tắt ngấm - một xoáy nước dâng lên giữa dòng nước đang chảy xuống, đó sẽ là thể dạng của Thế giới. Khoa học chỉ ra như thế. Và tôi tin Khoa học. Nhưng chẳng phải cho đến giờ Khoa học chưa từng gắng sức xem xét Thế giới một cách khác hơn là qua cái Ngoại tại của các sự vật?…
Chương II
CÁI NỘI TẠI CỦA SỰ VẬT
T
rên bình diện khoa học, những cuộc tranh cãi giữa các nhà duy vật và các nhà duy tâm, giữa những người theo thuyết tất định và những người theo thuyết mục đích vẫn kéo dài mãi. Sau một thế kỉ tranh chấp, mỗi bên vẫn giữ quan điểm của mình và đưa ra cho đối phương những lí lẽ vững chắc để tiếp tục tồn tại.
Theo cách tôi hiểu về cuộc tranh chấp mà tôi thấy mình cũng liên đới này, sự kéo dài của nó là do sự khó khăn mà hai trường phái này gặp phải để đứng chung với nhau, hơn là do nỗi khổ nhọc trong trải nghiệm của con người để hòa giải một vài vẻ bề ngoài đối lập trong Tự nhiên của sự ràng buộc cơ học và của sự tự do, của cái chết và của sự bất tử. Một mặt, các nhà duy vật ngoan cố nói về các đối tượng như thể chúng chỉ bao gồm các tác động bên ngoài, trong những mối quan hệ mang tính “nhất thời”. Mặt khác, các nhà duy tâm cứng đầu không chịu thoát ra khỏi một sự nội quan cô độc, mà trong sự nội quan này các sinh thể, trong các hoạt động “nội tại” của chúng, được xem xét như bị giam giữ trong chính bản thân chúng. Đây đó, người ta chiến đấu trên hai bình diện khác nhau, mà không giao lưu với nhau, và mỗi bên chỉ nhìn thấy một nửa vấn đề.
Tôi tin rằng hai quan điểm này đòi hỏi được hội tụ và chúng sẽ nhanh chóng hội tụ dưới một dạng Hiện tượng học hay Vật lí học mở rộng, trong đó, mặt nội tại của các sự vật cũng như mặt ngoại tại của Thế giới đều sẽ
được xem xét. Tôi thấy không có cách nào khác để bao quát được toàn thể Hiện tượng vũ trụ bằng một lời giải thích mạch lạc, và đây chính là mục đích Khoa học cần phải hướng đến.
Chúng ta vừa mô tả cái Ngoại tại của Vật chất, trong những mối liên kết và những chiều kích đo đạc được của nó. Để tiến xa hơn theo hướng đến con người, chúng ta cần mở rộng cơ sở của lời giải thích sắp tới của chúng ta, cho đến cái Nội tại của chính Vật chất.
Ta có thể nói rằng sự vật có phần bên trong của chúng, cái “về bản thân” của chúng. Và cái phần bên trong này tồn tại trong mối quan hệ xác định (hoặc mang tính định tính hoặc mang tính định lượng) với những sự phát triển được Khoa học nhận thấy trong Năng lượng vũ trụ. Ba điểm [được viết nghiêng trong hai câu trước] mà chúng ta vừa khẳng định là nội dung chính của ba phần trong chương này.
Nghiên cứu ba điểm ấy là nhiệm vụ của tôi lúc này, và để thực hiện nhiệm vụ đó tôi buộc phải lấn sang chủ đề về “sự Tiền sinh” và dự đoán đôi chút về Sự Sống cùng Tư duy. Nhưng phải chăng đặc điểm riêng và khó khăn của bất kì sự tổng hợp nào cũng chính là việc đoạn kết của nó đã bị bao hàm ngay trong những khởi đầu của nó?
SỰ HIỆN HỮU
Nếu những tiến bộ mới nhất trong ngành Vật lí có mở ra một phương hướng rõ ràng thông suốt nào, thì đó chính là việc, đối với kinh nghiệm của chúng ta, có các phạm vi (hay các mức bậc) với độ lớn khác nhau trong sự thống nhất của Tự nhiên; mỗi phạm vi này được đặc trưng bởi tính ưu thế của một số nhân tố nào đó; và trong phạm vi hay ở mức bậc kề cận, những nhân tố này trở nên không thể nhận thấy được, hoặc không đáng kể. Trên quy mô trung bình của các sinh vật và của các sự kiến tạo của chúng
ta, tốc đọ dường như không làm thay đổi bản chất của Vật chất. Vậy mà, hiện giờ chúng ta đã biết rằng tại những điểm cực trị trong chuyển động của các nguyên tử, tốc độ làm thay đổi đáng kể khối lượng của các chất. Trong các nguyên tố hóa học “bình thường”, tính ổn định và tính trường sinh dường như là thông lệ. Và rồi việc khám phá ra các chất phóng xạ đã phá vỡ những ảo tưởng đó. Trong khuôn khổ cuộc sống con người, các ngọn núi và các thiên thể có vẻ là một hình mẫu của tính cố định cực kì cao. Bây giờ chúng ta thấy rằng, khi quan sát trong một khoảng thời gian rất dài, lớp vỏ Trái đất dưới chân của chúng ta liên tục biến đổi, trong khi các tầng trời cuốn chúng ta vào một dòng lốc xoáy của các vì sao.
Trong những ví dụ này và trong nhiều ví dụ tương tự, đều không có bất cứ sự xuất hiện tuyệt đối của một thứ nguyên tố mới nào. Mọi khối vật chất bị biến đổi bởi tốc độ của nó. Bất cứ chất nào cũng bức xạ. Mọi chuyển động chỉ cần đủ chậm là bị dáng vẻ bất động che phủ. Tuy nhiên, ở một quy mô hoặc một cường độ khác, một hiện tượng nào đó sẽ trở nên rõ ràng, nó trải rộng khắp tầm nhìn, làm mờ đi các sắc thái khác và mang đến cho toàn cảnh vật một màu sắc riêng của mình.
Cái nội tại” của Sự Vật là như vậy đấy.
Trong ngành Hóa lí, vì lí do sẽ được làm rõ ngay trong phần tiếp theo, các vật thể tự biểu lộ chỉ bằng tính tất định bên ngoài của chúng. Trong mắt nhà vật lí, (ít nhất là cho đến nay) chính xác là không có gì khác, ngoại trừ một cái “ngoại tại” của các Sự Vật. Thái độ đó ở một nhà vi khuẩn học vẫn còn có thể chấp nhận được, những sản phẩm cấy trồng của họ được xử lí (ngoài một số khó khăn lớn) như các chất phản ứng trong phòng thí nghiệm. Nhưng sự cấy trồng này khó hơn nhiều trong thế giới Thực vật. Nó có chiều hướng trở thành một thách thức cho các nhà sinh học quan tâm đến tập tính của Côn trùng hay Động vật ruột khoang. Và trong trường
hợp Động vật có Xương sống, sự cấy trồng này dường như chỉ vô ích. Và cuối cùng nó thất bại hoàn toàn với Con người, sự tồn tại của một cái “bên trong” ở họ là không thể tránh né được, vì nó trở thành đối tượng của một trực giác trực tiếp và cũng trở thành chất liệu kết cấu của mọi tri thức.
Việc hiện tượng ý thức rõ ràng bị giới hạn trong các hình thức cao cấp của Sự sống từ lâu đã được dùng làm cái cớ để Khoa học loại bỏ hiện tượng đó ra khỏi những hình dung của Khoa học về Vũ trụ. Một ngoại lệ bất thường, một chức năng lệch lạc, một hiện tượng phụ: đó là những từ được đưa ra để xếp loại Tư duy, nhằm dọn vứt nó đi. Thế chuyện gì sẽ xảy ra với ngành Vật lí hiện đại nếu người ta cũng xếp Rađi, chưa cần thêm gì khác, vào loại các chất “bất thường”?…
Dĩ nhiên hoạt tính của Rađi đã không bị và không thể bị bỏ qua, bởi vì nó có thể đo được, nên nó mở được đường vào lớp mạng bên ngoài của vật chất - trong khi việc sáp nhập ý thức vào một hệ thống Thế giới đòi hỏi phải tính đến sự hiện hữu của một mặt hay một chiều kích mới trong Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ. Chúng ta chùn bước trước thử thách này. Nhưng không ai trong chúng ta lại không nhìn thấy, trong cả hai trường hợp, một vấn đề đồng nhất được đặt ra cho các nhà nghiên cứu, và vấn đề này cần được giải đáp bằng cùng một phương pháp: khám phá ra cái phổ biến nằm dưới cái cá biệt.
Gần đây chúng ta đã thực nghiệm cái cá biệt quá nhiều để còn có thể nghi ngờ nó: một sự bất thường tự nhiên chỉ là một sự thái quá tới mức có thể cảm nhận được của một đặc tính phổ biến ở khắp nơi, trong trạng thái mà chúng ta còn chưa hiểu được. Khi được quan sát kĩ, kể cả chỉ tại một điểm duy nhất, một hiện tượng, nhờ tính thống nhất căn bản của Thế giới, nhất thiết có một giá trị và những nguồn gốc ở khắp nơi. Nếu áp dụng cái quy tắc này vào trường hợp của “sự tự nhận biết” của con người, nó sẽ dẫn
chúng ta đến đâu nào?
“Ý thức chỉ xuất hiện một cách hoàn toàn hiến nhiên trong Con người”, chúng ta đã từng thử tuyên bố vậy, “vì thế, ý thức là một trường hợp riêng biệt, không đáng để Khoa học quan tâm.”
“Ý thức xuất hiện một cách hoàn toàn hiển nhiên trong Con người”, chúng ta tiếp đó đã sửa lại nhận định trên như thế, “do đó, được thoáng nhìn thấy trong tia chớp đơn lẻ này, ý thức có độ mở rộng ở tầm cỡ vũ trụ và vì thế nó được bao phủ bởi một vầng hào quang kéo dài vô định cả trong không gian lẫn thời gian”.
Kết luận này có hậu quả nặng nề. Và dù vậy, bằng phép loại suy đúng đắn với mọi kết quả khác của Khoa học, tôi không thể nhìn ra bằng cách nào chúng ta lại thoát khỏi nó được.
Sâu thẳm trong chính chúng ta, không thể bàn cãi gì nữa, một cái nội tại hiện ra ở giữa bản thân chúng ta, như thể được nhìn qua một kẽ hở. Điều đó đủ để cái “nội tại” này buộc chúng ta phải chấp nhận sự hiện hữu của nó ở mọi thời điểm từ trước đến nay và ở khắp mọi nơi trong Tự nhiên. Bởi vì ở một điểm của chính mình, Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ có một mặt bên trong, vậy thì nó bắt buộc phải có tính hai mặt về cấu trúc, tức là tính hai mặt đó có ở bất cứ vùng nào của không gian và thời gian, cũng như tính hạt của nó chẳng hạn; tức là, mọi sự vật có một cái Nội tại Đồng Bao hàm đến cái Ngoại tại của chúng.
Một cách hợp lí ta rút ra từ đó cách biểu diễn Thế giới sau đây, cách biểu diễn này làm trí tưởng tượng của chúng ta bối rối, nhưng đó là cách biểu diễn duy nhất mà lí trí chúng ta có thể tiếp thu được. Bị giữ ở chỗ thấp nhất của chính nó, chính xác là chỗ chúng ta nghiên cứu ở đầu cuốn sách này, Vật chất nguyên thủy là cái gì đó phức tạp hơn sự lúc nhúc của các hạt được ngành Vật lí hiện đại phân tích tuyệt hay. Dưới cái lớp ban
đầu mang tính Cơ học này, chúng ta cần phải hình dung ra một lớp mang tính “sinh học” được làm mỏng đến tối đa nhưng thật sự cần thiết cho việc giải thích trạng thái của Vũ trụ trong các giai đoạn tiếp theo. Cái Nội tại, Ý thức9, và do đó tính Tự phát là ba cách biểu đạt của cùng một thứ; và chúng ta không được tùy ý hơn trong việc cố định bằng thực nghiệm một điểm khởi đầu tuyệt đối cho chúng, so với khi làm việc đó cho mọi đường dáng của Vũ trụ.
Trong một cách nhìn Thế giới mạch lạc, Sự sống tất yếu giả định sự Tiền sinh10 tồn tại trước nó, đến xa hết tầm nhìn trong quá khứ.
Nhưng thế thì, cả những nhà duy vật lẫn những nhà duy tâm sẽ cùng nhau phản bác lại như sau: nếu mọi thứ trong Tự nhiên cốt yếu đều là những sinh vật hay ít ra là những tiền sinh vật, vậy thì bằng cách nào một nền khoa học dựa trên thuyết cơ giới về Vật chất lại có thể được kiến tạo và đạt đến thành công rực rỡ như thế?
Khi bị xác định ở bên ngoài và “tự do” ở bên trong, các vật thể, bằng hai mặt của chúng, lại có thể không tối giản và không thông ước được sao?… Và trong trường hợp này, giải đáp sẽ là gì?
Câu trả lời cho vấn đề này ẩn chứa trong những quan sát, được trình bày ở phần trước, về sự đa dạng của “các phạm vi của kinh nghiệm” xếp chồng lên nhau ở bên trong Thế giới. Câu trả lời sẽ hiện ra rõ hơn khi chúng ta tìm ra các quy luật định tính của sự biến đổi và sự lớn lên của cái mà chúng ta vừa gọi là “Nội tại” của các Sự Vật, trong những biểu lộ của nó.
NHỮNG QUY LUẬT ĐỊNH TÍNH VỀ SỰ TĂNG TRƯỞNG Điều hòa mọi vật trong Thời gian và Không gian mà không có tham
vọng xác định các điều kiện có thể chi phối đến bản thể sâu kín của chúng. Thiết lập trong Tự nhiên một chuỗi tuần tự mang tính thực nghiệm, chứ không phải một mối liên hệ nhân quả “bản thể học”. Nói cách khác, xem xét chứ không giải thích, ta không nên quên rằng đó là mục đích nghiên cứu duy nhất của cuốn sách này.
Trên quan điểm hiện tượng học (cũng là quan điểm của Khoa học), có cách nào để vượt qua được nơi việc phân tích Chất liệu Kết cấu Vũ trụ của chúng ta vừa dừng lại? Trong việc phân tích này, chúng ta vừa mới công nhận một mặt bên trong có ý thức và cái mặt bên trong này nhất thiết bồi lót, ở khắp nơi, cái mặt bên ngoài mang tính “vật chất”; mặt bên ngoài này là mặt duy nhất thường được Khoa học xem xét. Phải chăng chúng ta có thể đi xa hơn nữa và xác định theo quy tắc nào cái mặt thứ hai thường ẩn kín nhất này, toát lộ ra được, rồi nổi hiện lên trong một số phạm vi của kinh nghiệm con người?
Vâng, dường như chúng ta có thể, và thậm chí một cách rất đơn giản, miễn là chỉ cần xếp kế tiếp ba nhận xét mà mỗi chúng ta đều có thể nhìn ra, nhưng ba nhận xét này chỉ có giá trị thật sự nếu chúng ta kết nối chúng lại.
A. Nhận xét thứ nhất
Khi xem xét trong trạng thái tiền sinh, chúng ta không nên hình dung cái Nội tại của mọi Sự Vật (chúng ta vừa công nhận thực tại của nó cho đến tận các hình thức mới nảy sinh của Vật chất) như tạo thành một lớp liên tục, mà chúng ta cần hình dung nó như có cùng độ hạt của chính Vật chất.
Chúng ta sẽ nhanh chóng trở lại điểm thiết yếu này. Tại chỗ xa xưa nhất nơi chúng ta đã bắt đầu nhận ra chúng, các sinh vật đầu tiên biểu lộ cho kinh nghiệm của chúng ta thấy, về độ lớn và số lượng, như các loại “đại phân tử” hay “siêu phân tử”, tức là một số đông đáng kinh ngạc các vi hạt nhân. Điều này có nghĩa rằng, do tính đồng đều và tính liên tục, ta có
thể dự đoán được các tiền sinh vật, ở xa hơn tầm nhìn, như một đối tượng tham gia tạo nên cấu trúc và các tính chất hạt của Thế giới. Khi được xem từ bên trong, cũng như khi được quan sát từ bên ngoài, Chất liệu Kết cấu Vũ trụ cũng có xu hướng phân giải ngược lại thành một lớp hạt: 1) hoàn toàn tương tự nhau (ít nhất là khi ta quan sát chúng từ xa), 2) mỗi hạt đồng bao phủ với toàn bộ miền vũ trụ, 3) kết nối với nhau một cách bí ẩn bằng một Năng lượng chung. Ở độ sâu này, cả hai mặt bên ngoài và bên trong của Thế giới tương ứng với nhau, tại từng điểm một. Vì vậy, để có thể chuyển từ mặt này sang mặt kia, ta chỉ cần thay thế “tác động cơ học qua lại” bằng “ý thức” trong định nghĩa các tâm điểm cục bộ của Vũ trụ (được đưa ra phía trên (xem trang 38)).
Tính nguyên tử là một tính chất chung của cái Nội tại và cái Ngoại tại của các Sự Vật.
B. Nhận xét thứ hai
Gần như đồng đều giữa chúng lúc ban đầu, các phần tử của ý thức (chính xác cũng như các phần tử tương ứng của vật chất) sẽ dần dần phức tạp hóa và khác biệt hóa bản chất của mình trong quá trình của Thời lượng. Trên quan điểm này, và khi được xem xét trong cách nhìn thuần túy kinh nghiệm, Ý thức biểu lộ như một tính chất của Vũ tru, có độ lớn biến thiên, và chịu một sự biến đổi toàn diện. Hiện tượng lớn lao này sẽ được chúng ta lần theo trong suốt quá trình phát triển của Sự Sống cho đến tận Tư duy; và khi bị giữ theo đường đi lên, Hiện tượng này cuối cùng cũng làm chúng ta thấy bình thường. Theo hướng ngược lại, như chúng ta đã lưu ý phía trên, nó lại dẫn chúng ta đến một khái niệm. Ít quen thuộc hơn về trạng thái cấp thấp, ngày càng kém được xác định rõ và như là ngày càng dãn ra hơn.
Khúc xạ ngược lại trong quá trình Tiến hóa, về mặt định tính, ý thức dàn trải theo một phổ tối dần mà các gam thấp biến dần vào màn đêm.
C. Nhận xét thứ ba
Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét hai phần tử hạt ý thức đạt đến mức độ tiến hóa khác nhau, trong hai vùng khác nhau của phổ màu này. Như chúng ta vừa nhận thấy, do cấu trúc, mỗi phần tử hạt này tương ứng với một sự hợp nhóm vật chất xác định mà từ đó các phần tử hạt này tạo nên cái Nội tại. Chúng ta hãy so sánh hai sự hợp nhóm bên ngoài này, và hãy tự chất vấn về cách chúng tự sắp xếp giữa chúng và so với khối Ý thức mà mỗi sự hợp nhóm đó bao trùm.
Câu trả lời đến ngay tức thì.
Dù xét đến bất kể trường hợp nào, chúng ta có thể chắc chắn rằng ý thức phát triển cao nhất lúc nào cũng sẽ tương ứng với một cấu trúc ngày càng phong phú hơn và được sắp xếp tốt hơn. Các chất nguyên sinh đơn giản nhất đã là một thể chất có độ phức tạp hiếm có. Sự phức tạp hóa này tăng theo cấp số nhân, từ các Động vật Nguyên sinh cho đến các Động vật Đa bào ngày càng cao cấp hơn. Và cứ như vậy, ở mọi nơi mọi lúc, trong mọi sinh vật còn lại. Ở đây, một lần nữa ta lại thấy rằng, hiện tượng này hiển nhiên đến độ chúng ta đã không còn ngạc nhiên về nó từ lâu rồi. Tuy nhiên, hiện tượng này có vai trò rất chủ chốt. Thật vậy, nhờ nó mà chúng ta nắm trong tay một “tham số” xác thực cho phép kết nối cả hai lớp bên ngoài và bên trong của Thế giới, không chỉ về mặt vị trí (từ điểm này đến điểm khác), mà còn cả trong vận động; và chúng ta sẽ còn kiểm nghiệm điều này trong phần tiếp theo.
Chúng ta có thể nói rằng, mật độ của ý thức biến đổi tỉ lệ nghịch với sự đơn giản của thành phần vật chất mà nó bao phủ. Hay nói cách khác, một ý thức càng hoàn chỉnh hơn khi nó bao phủ một cấu trúc vật chất càng phong phú hơn và có tổ chức tốt hơn.
Sự hoàn thiện tinh thần (hay “tính hướng tâm” của ý thức) và sự tổng
hợp vật chất (hay là độ phức hợp) chỉ là hai mặt hay là hai phần liên kết với nhau của cùng một hiện tượng.11
Và như vậy từ chính điều này, chúng ta đã đạt đến lời giải đáp cho vấn đề nêu ra. Chúng ta đã tìm kiếm một quy luật định tính về sự phát triển mà có khả năng giải thích trước hết sự bất khả kiến, rồi đến sự xuất hiện, rồi tiếp đến là sự nổi hiện dần dần của cái Nội tại so với cái Ngoại tại của Sự Vật, từ phạm vi này đến phạm vi khác. Quy luật này biểu lộ ngay từ khi Vũ trụ được hình thành, bằng cách chuyển từ trạng thái A, được đặc trưng bởi một số rất đông các phần tử vật chất đơn giản (tức là có cái Nội tại rất đơn sơ) sang trạng thái B được xác định bởi một số rất ít hơn các tập hợp rất phức tạp (tức là có cái Nội tại rất phong phú).
Khi ở trạng thái A, các tâm điểm của Ý thức, chỉ biểu lộ bằng các tác động tổng thể tuân theo các luật thống kê, bởi vì các tâm điểm này rất đông và đồng thời lại cực kì lỏng lẻo. Vì thế các tâm điểm này tuân theo các định luật toán học một cách tập thể. Đó chính là lĩnh vực thực sự của ngành Hóa lí.
Khi ở trạng thái B, ngược lại, những phần tử này ít đông hơn12 và đồng thời ít cá thể hóa hơn; và chúng dần dần thoát khỏi sự bó buộc của quy luật các số lớn. Những phần tử này để lộ ra tính tự phát nền tảng không đo được của mình. Chúng ta có thể bắt đầu nhìn thấy những phần tử này và lần theo từng phần tử một. Và kể từ lúc này đây, chúng ta bước vào thế giới của ngành Sinh học.
Tóm lại, toàn bộ phần tiếp theo của Tiểu luận này không bàn về điều gì ngoài lịch sử của cuộc đấu tranh dấn thân, trong Vũ trụ, giữa cái Bội thể được thống nhất và cái Vô số không được tổ chức: tức là việc liên tục áp dụng Quy luật về Độ Phức hợp và Ý thức, một quy luật tự nó bao hàm một
cấu trúc, một độ cong, mang tính hội tụ về mặt tâm thần13 của Thế giới.
Nhưng hãy đừng đi quá nhanh. Và tại đây, do chúng ta vẫn còn đang bận tâm nghiên cứu sự Tiền sinh, chúng ta hãy chỉ cần ghi nhớ rằng, trên quan điểm định tính, ta không phải chấp nhận mâu thuẫn nào, khi chỉ ra rằng một thế giới của các hiện tượng bề ngoài bị cơ học hóa có thể được kiến tạo từ những “sự tự do”, chỉ cần những “sự tự do” này được chứa trong một trạng thái có sự phân chia đủ mạnh và độ kém hoàn thiện đủ lớn.
Bây giờ để kết thúc, bằng cách chuyển sang cách nhìn tinh tế hơn về số lượng; chúng ta hãy cùng xem xét khả năng định nghĩa Năng lượng chứa trong một Vũ trụ như thế, mà không đi ngược lại các quy luật của ngành Vật lí.
NĂNG LƯỢNG TINH THẦN
Không có một khái niệm nào quen thuộc với chúng ta hơn Năng lượng tinh thần. Tuy nhiên, về mặt khoa học, không có năng lượng nào, đối với chúng ta, lại khó hiểu hơn thế. Một mặt, thực tại khách quan của một nỗ lực và của một hoạt động tâm thần là chắc chắn, đến mức toàn bộ Luân lí dựa trên thực tại đó. Mặt khác, bản chất của cái năng lực ở bên trong này lại khó cảm nhận đến độ toàn bộ ngành Cơ học đã được tạo dựng nên [mà không cần xem xét đến nó].
Không ở đâu khác lại biểu lộ rõ rệt đến vậy những khó khăn chúng ta đang phải đương đầu để tập hợp Tinh thần và Vật chất trong một cách nhìn hợp lí. Và cũng như vậy, không ở đâu khác sự cấp thiết xây một cây cầu nối hai bờ thể chất và tinh thần của cuộc sống chúng ta lại biểu lộ một cách hữu hình đến thế, nếu chúng ta muốn hai mặt tinh thần và vật chất trong sinh hoạt của mình thổi sức sống cho nhau.
Về vấn đề liên hệ một cách chặt chẽ hai Năng lượng của thân thể và của tâm hồn lại với nhau - Khoa học đã quyết định tạm thời bỏ qua nó. Và cũng sẽ tiện lợi biết bao nếu ta làm theo như vậy. Đen đủi (hay may mắn) thay, chúng ta lại đang ở chỗ này, tức là ở giữa logic của một hệ thống nơi, so với cái Ngoại tại của các Sự Vật, cái Nội tại của chúng lại điều chỉnh cũng chừng ấy giá trị hay thậm chí còn nhiều giá trị hơn, vì thế chúng ta vấp phải khó khăn. Không thể nào né tránh khó khăn đó được. Chúng ta phải tiến bước thôi.
Những nghiên cứu tiếp theo dĩ nhiên không có tham vọng mang đến một lời giải đáp thật sự thỏa đáng cho vấn đề Năng lượng tinh thần. Mục đích của những nghiên cứu này đơn giản nhằm chỉ ra, qua một ví dụ, quan điểm cá nhân của tôi về đường hướng mà một ngành khoa học toàn vẹn về Tự nhiên cần đi theo, và về cách giải thích ngành đó phải đeo đuổi.
A. Vấn đề hai Năng lượng
Bởi vì, sâu thẳm trong ý thức của con người, mặt bên trong của Thế giới xuất hiện và tự phản chiếu lên chính nó, dường như chúng ta chỉ cần tự nhìn bản thân để hiểu ra cái Nội tại và cái Ngoại tại của các Sự Vật ở một điểm bất kì trong Vũ trụ có những mối quan hệ mang tính động nào.
Thực ra, làm được điều này là một trong những việc khó nhất.
Trong từng hành động cụ thể của mình, chúng ta hoàn toàn cảm thấy được sự kết hợp của hai lực đang hiện diện. Chiếc động cơ đang hoạt động. Nhưng chúng ta không giải thích được sự vận hành có vẻ mâu thuẫn của nó. Trong vấn đề Năng lượng tinh thần, cái gai nhọn thật khó chịu đâm chọc vào lí trí chúng ta là cảm thức rõ rệt và không dứt về việc các hoạt động của chúng ta lại phụ thuộc vào các sức mạnh của Vật chất và đồng thời lại độc lập với các sức mạnh đó.
Trước hết là về sự phụ thuộc. Sự phụ thuộc này hiển nhiên đến mức gây buồn nản nhưng đồng thời nó lại thật hoành tráng. “Để suy nghĩ, thì phải ăn.” Cái công thức thô thiển này mô tả toàn thể một nền kinh tế; và tùy chỗ chúng ta nhìn vào, nó làm thành một nền chuyên chế của Vật chất, hay ngược lại một sự chăn thả tinh thần trái phép của Vật chất. Sự tư biện ở mức cao nhất, tình yêu nồng cháy nhất, như chúng ta đều biết rõ, đi cùng với một sự tiêu tốn năng lượng vật lí và trả giá cho sự tiêu tốn đó. Đôi khi bánh mì là thứ chúng ta cần, đôi khi lại là rượu vang; đôi khi là một chất hóa học hay hoóc-môn cần tiêm vào người, đôi khi lại là sự bừng sáng của một sắc màu, đôi khi là sự thần bí của một âm thanh lọt vào tai chúng ta chỉ như một dao động nhưng lại xuất hiện trong bộ não chúng ta dưới dạng những cảm hứng…
Không thể nghi ngờ gì nữa, nhờ một điều gì đó, Năng lượng vật chất và Năng lượng tinh thần gắn với nhau và nối tiếp nhau. Suy cho đến cùng, bằng cách nào đó, hắn chỉ có một Năng lượng duy nhất hoạt động trong Thế giới này. Và ý tưởng đầu tiên nảy ra trong đầu chúng ta là mô tả “tâm hồn” như một tụ điểm của sự chuyển hóa, và tại đó, bằng mọi con đường của Tự nhiên, năng lực của các chất sẽ hội tụ lại, để nhằm tự nội tại hóa và thăng hoa thành cái đẹp và chân lí.
Tuy nhiên, vừa mới hé lộ, ý tưởng thật hấp dẫn về một biến đổi trực tiếp giữa hai Năng lượng này cần bị từ bỏ ngay. Bởi vì, ngay khi ta cố ghép chúng lại, sự độc lập giữa chúng biểu lộ cũng rõ như mối liên kết giữa chúng,
“Để suy nghĩ, thì phải ăn”, lại thêm một lần nữa. Nhưng biết bao nhiêu suy nghĩ khác nhau có được từ cùng một mẩu bánh mì! Cũng như từ một bảng chữ cái, người ta có thể tạo ra một mớ tạp nham cũng như những áng thơ hay nhất trên đời, dường như cùng lượng ca-lo đó vừa không quan
trọng lại vừa cần thiết cho những giá trị tinh thần chúng nuôi dưỡng.
Nhìn tổng thể, hai Năng lượng vật lí và tinh thần trải rộng tương ứng trên lớp ngoài và lớp trong của Thế giới có chung một cách hoạt động. Chúng không ngừng liên hợp với nhau và bằng cách nào đó chuyển từ cái này sang cái kia. Nhưng dường như không thể làm đường biểu diễn của chúng tương ứng với nhau một cách đơn giản. Một mặt, chỉ một phần rất nhỏ của Năng lượng “vật lí” được dùng bởi những sự phát triển cao nhất của Năng lượng tinh thần. Mặt khác, cái phần nhỏ bé này, một khi được hấp thụ, lại gây ra những dao động bất ngờ nhất ở khung cảnh bên trong.
Một sự chênh lệch mang tính định lượng như thế đủ để bác bỏ ý tưởng quá đơn giản về một sự “thay đổi mô dạng” (hay là một sự biến đổi trực tiếp), - và tiếp đó, nó bác bỏ luôn cả hi vọng tìm thấy một “cái tương đương mang tính cơ học” với Ý chí hay Tư duy. Những sự phụ thuộc về mặt năng lượng giữa cái Nội tại và cái Ngoại tại của các Sự Vật là không thể chối bỏ. Nhưng những sự phụ thuộc này hẳn chỉ có thể được mô tả bằng một hệ biểu tượng phức tạp trong đó có mặt những phần tử thuộc nhiều loại khác nhau.
B. Một phương hướng giải đáp
Để thoát ra khỏi một thuyết nhị nguyên cực đoan bất khả và phản khoa học - nhưng để vẫn giữ được sự phức tạp hóa tự nhiên của Chất liệu Kết cấu của Vũ trụ, tôi sẽ đề xuất một biểu diễn sau đây. Biểu diễn này sẽ được sử dụng làm nền móng cho toàn bộ những khai triển tiếp theo của chúng ta.
Về căn bản, chúng ta sẽ công nhận rằng mọi năng lượng đều có bản chất tâm thần. Nhưng chúng ta sẽ bổ sung rằng, trong mỗi phần tử hạt, năng lượng cơ bản này sẽ được chia ra làm hai thành phần riêng biệt: một năng lượng tiếp tuyến, năng lượng này làm phần tử đó liên kết với tất cả các phần tử cùng loại với nó (tức là có cùng độ phức hợp và cùng “độ
hướng tâm”) trong Vũ trụ; và một năng lượng xuyên tâm, năng lượng này dẫn phần tử đó đến trạng thái ngày càng phức tạp và được hướng tâm hơn, theo hướng tiến triển hơn.14
Từ trạng thái ban đầu này, và với giả thiết rằng phần tử hạt có một năng lượng tiếp tuyến tự do nào đó, ta thấy rõ ràng rằng phần tử hạt được cấu tạo như thế, có năng lực làm tăng độ phức tạp nội tại lên một lượng nào đó (nhờ liên kết với các phần tử hạt bên cạnh), và sau đó (do độ hướng tâm của nó sẽ tự động tăng theo) phần tử hạt đó làm tăng năng lượng xuyên tâm của mình cũng một lượng chừng ấy - năng lượng này, đến lượt nó, sẽ có thể tác động trở lại dưới dạng một sự sắp xếp mới trong miền tiếp tuyến. Và cứ tiếp tục như vậy.
Trên quan điểm này, năng lượng tiếp tuyến chính là “năng lượng” vẫn được nghiên cứu trong Khoa học. Điều khó khăn là giải thích phép sắp xếp tiếp tuyến cho phù hợp với các định luật nhiệt động lực học. Vả lại, về vấn đề này ta có thể đưa ra những nhận xét như sau.
a) Trước hết, theo giả thuyết của chúng ta, sự biến thiên của năng lượng xuyên tâm theo năng lượng tiếp tuyến diễn ra thông qua một sự sắp xếp, do vậy một lượng biến thiên lớn bất kì của năng lượng xuyên tâm lại có thể chỉ liên quan đến một lượng biến thiên nhỏ bất kì của năng lượng tiếp tuyến: bởi vì một sự sắp xếp vô cùng hoàn hảo có thể chỉ đòi hỏi một công năng vô cùng nhỏ. Và điều này phù hợp với những thực kiện đã được ghi nhận (xem trang 83).
b) Tiếp đó là trong hệ thống được đề xuất ở đây, ta bị dẫn dắt một cách nghịch lí đến việc công nhận rằng năng lượng vũ trụ luôn tăng không ngừng, không những chỉ dưới dạng xuyên tâm, mà nghiêm trọng hơn là còn dưới dạng tiếp tuyến (bởi vì áp lực giữa các phần tử tăng theo chính độ hướng tâm của chúng): và điều này có vẻ đối lập hoàn toàn vói nguyên lí
Bảo toàn Năng lượng trong Thế giới. Nhưng, chúng ta hãy cùng quan sát điều sau đây: sự tăng lên của năng lượng Tiếp tuyến thuộc loại thứ hai15 (cái mối phiền hà duy nhất cho ngành Vật lí này) chỉ được cảm thấy rõ rệt ở các mức năng lượng xuyên tâm từ rất cao trở lên (như trường hợp của Con người, chẳng hạn, và những áp lực xã hội). Ở các mức thấp hơn, và đối với một số lượng tương đối bất biến của các phần tử hạt trong Vũ trụ, tổng năng lượng vũ trụ tiếp tuyến hầu như không thay đổi trong các quá trình biến đổi về mặt thống kê. Và đó là toàn bộ những gì mà Khoa học đòi hỏi.
c) Và cuối cùng, trong sơ đồ của chúng ta, toàn bộ cơ cấu Vũ trụ đang hướng tâm hóa, trong mọi giai đoạn của nó, liến tục được trụ đỡ bởi những sự sắp xếp sơ đẳng. Vì vậy hiển nhiên rằng, sự hoàn chỉnh của cơ cấu Vũ trụ, cho đến những cấp độ cao nhất, vẫn còn phụ thuộc vào một đại lượng cốt yếu của năng lượng tiếp tuyến tự do mà sẽ dần dần cạn kiệt, như nguyên lí về entropy đòi hỏi.
Nhìn tổng quan, bức tranh này thỏa mãn những đòi hỏi của Thực tại. Tuy nhiên, ba câu hỏi vẫn còn chưa được giải đáp:
a) Trước hết, nhờ năng lượng đặc biệt nào mà Vũ trụ lại mở rộng, theo trục chính của nó, và theo hướng ít khả nhiên hơn để tiến đến các hình thức cao hơn về độ phức hợp và độ hướng tâm?
b) Tiếp đó là, có hay không một giới hạn và một thời hạn xác định cho giá trị cơ bản và cho tổng thể năng lượng xuyên tâm được phát triển trong quá trình biến đổi?
c) Cuối cùng là, có phải hình thức sau chót tạo ra từ các năng lượng xuyên tâm này, nếu hiện hữu, bị lệ thuộc và một lúc nào đó buộc phải giải tỏa ngược lại, theo đúng nguyên lí về entropy, cho đến khi rơi một cách vô
định vào các tâm điểm của các tiền sinh vật và dưới thấp hơn, bởi sự vơi cạn và suy giảm dần của năng lượng tự do dạng tiếp tuyến chứa trong các lớp vỏ kế tiếp nhau của Vũ trụ mà chính từ đó, năng lượng xuyên tâm này xuất hiện?
Ba câu hỏi này sẽ chỉ được trả lời thỏa đáng trong phần sau của cuốn sách, khi việc Nghiên cứu Con người dẫn chúng ta đến việc xem xét một cực điểm tối cao của Thế giới - “Điểm Omega”.
Chương III
TRÁI ĐẤT NON TRẺ
C
ách đây vài nghìn triệu năm, dường như không phải do một quá trình tiến hóa của các ngôi sao, mà do một sự tình cờ lạ thường (các vì sao sượt qua nhau? một sự gãy vỡ bên trong?…), một mảnh vật chất được cấu tạo từ các nguyên tử có tính ổn định đặc biệt, tự tách ra khỏi bề mặt của mặt trời. Và trong khi không hề cắt đứt các mối liên hệ từng gắn nó với mọi vật thể khác và lại ở cách ngôi sao cha đẻ của mình đúng một khoảng cách đủ để cảm nhận được sự bức xạ ở một cường độ trung bình, mảnh vật chất này tự kết tụ, tự cuốn lại quanh bản thân và tạo hình dáng16.
Bị giam giữ trong khối cầu và trong quỹ đạo của mình, tương lai mang tính con người, - một thiên thể nữa, và lần này đó là một hành tinh - vừa ra đời.
Cho đến lúc này, chúng ta đã để đôi mắt mình phiêu du trên những tầng lớp vô hạn nơi Chất liệu Kết cấu Vũ trụ triển khai.
Bây giờ chúng ta hãy giới hạn và tập trung chú ý vào một vật thể nhỏ bé bí ẩn nhưng hấp dẫn mê hồn vừa xuất hiện. Đó là điểm duy nhất của Thế giới mà ở đó chúng ta còn có thể nghiên cứu sự tiến hóa của Vật chất ở những giai đoạn cuối cùng và cho đến tận chính chúng ta.
Chúng ta hãy cùng xem xét Trái đất non trẻ, hoàn toàn mới mẻ và tiềm tàng những năng lực đang ra đời, đang tự cân bằng trong những giai đoạn
quá khứ xa xăm.
1. CÁI NGOẠI TẠI
Trong quả cầu vừa mới ra đời dường như do một sự tình cờ trong khối vũ trụ, điều thu hút sự chú ý của các nhà vật lí là sự có mặt của các hợp chất hóa học vốn không quan sát được ở bất kì nơi nào khác17, ở nhiệt độ cực cao ngự trị trên những ngôi sao, Vật chất chỉ giữ nguyên được ở những trạng thái có độ phân li cao nhất của nó. Chỉ các đơn chất tồn tại được trên các ngôi sao nóng sang. Trên Trái đất, sự đơn giản này của các phần tử còn giử nguyên được ở lớp ngoại vi, trong các lớp khí ít nhiều bị ion hóa của Khí quyển và của tầng Bình lưu, và có thể còn ở tít sâu, trong các kim loại của tầng “Kim quyển”. Nhưng giữa hai thái cực này, một chuỗi dài các chất phức hợp, các thành phần “chủ nhà” và các sản phẩm chỉ có thể đến từ những ngôi sao “đã tắt” xếp loại thành các vùng kế tiếp nhau; các chất này biểu lộ trong giai đoạn khởi đầu của chúng những năng lực tổng hợp chứa trong Vũ trụ. Trước hết là tầng Silic, tạo nên bộ áo giáp kiên cố cho hành tinh. Và tiếp đó là vùng nước và axit carbonic, bao bọc các silicat bằng một lớp vỏ không ổn định, có tính thẩm thấu và di động.
Kim quyển, Thạch quyển, Thủy quyển, Khí quyển, tầng Bình lưu.
Cái cấu tạo căn bản này đã có thể biến đổi và phức tạp hóa rất nhiều, về chi tiết cụ thể. Nhưng, khi được xem xét trong những đường nét chính của nó, cấu tạo này phải được thiết lập ngay từ những điểm khởi đầu. Và chính từ nó, những tiến bộ trong ngành Địa hóa học khai triển theo hai hướng khác nhau.
A. Thế giới đang kết tinh
Theo hướng thứ nhất, tức là hướng phổ biến nhất, năng lượng của Trái
đất, ngay từ khởi nguyên, đã có xu hướng phát ra và tự giải thoát. Silic, Nước, Khí carbonic: các oxit căn bản này đã được tạo thành khi cháy và khi làm trung hòa những ái lực của các phần tử của chúng (việc làm trung hòa này hoặc là tự chúng, hoặc là bằng cách kết hợp với các đơn chất khác). Theo sơ đồ được nối tiếp này, dần dần nảy sinh một sự đa dạng phong phú của “Thế giới Khoáng vật”. Thế giới này mềm dẻo và biến động hơn rất nhiều so với điều Khoa học cổ đại từng có thể ngờ đến: hơi có phần đối xứng so với sự biến thái của các sinh vật, đến giờ chúng ta biết rằng trong các khối đá rắn chắc nhất cũng có một sự biến đổi không ngừng của các loài khoáng vật.
Nhưng Thế giới này lại khá đơn sơ về tổ hợp, bởi vì nó bị giới hạn chặt chẽ trong cấu trúc nội bộ của các phần tử của mình (theo những kết quả điều tra gần đây nhất, chúng ta chỉ vỏn vẹn biết đến vài trăm loại silicat trong Tự nhiên).
Về mặt sinh học ta có thể nói rằng, điểm đặc trưng của những loài khoáng vật, cũng như ở nhiều sinh vật bị cố định một cách không chữa được, là đã đi theo một hướng làm khép kín chúng vào chính bản thân quá sớm. Do cấu trúc bẩm sinh, các phân tử của chúng không đủ khả năng lớn lên. Để lớn lên và lan rộng, những loài khoáng vật này bằng cách nào đó phải tự thoát khỏi chính mình, và phải dùng đến một mẹo để kết hợp đơn thuần ở bên ngoài: ghép các nguyên tử lại với nhau hay nối chuỗi các nguyên tử, mà không thật sự tan vào nhau và cũng không thật sự hợp nhất với nhau. Đôi khi các khoáng vật này xếp thành hàng, như trong ngọc thạch. Đôi khi chúng dàn trải thành mặt phẳng như trong mica. Đôi khi chúng xếp thành nanh sấu vững chắc, như trong ngọc hồng lựu.
Từ đó hình thành các tập hợp đồng đều, có độ kết cấu rất cao, nhưng lại không tương ứng với bất cứ đơn vị nào thật sự hướng tâm hóa. Chỉ là
một sự xếp kề đơn giản của các nguyên tử hay của các tập hợp nguyên tử không phức tạp lắm, trên một mạng hình học. Một bức tranh khảm vô định làm từ những phần tử nhỏ bé, đó là cấu trúc của tinh thể có thể chụp được nhờ tia X. Đó là tổ chức đơn giản và ổn định, và nhìn chung ngay từ ban đầu Vật chất cô đặc xung quanh chúng ta đã phải chọn sử dụng cách này.
Khi được xem xét trong khối chính, ngược trở lại xa đến mức có thể nhìn thấy, Trái đất được phủ bởi một mạng hình thể. Trái đất kết tinh.
Nhưng không phải toàn bộ [Trái đất].
B. Thế giới đang polyme hóa
Trong quá trình vận động ban đầu của các phần tử trái đất đến trạng thái tinh thể và cùng chính nhờ vận động này, một năng lượng phát ra không ngừng và trở nên tự do (đúng như điều xảy ra trong Nhân loại xung quanh chúng ta bây giờ, dưới tác động của máy móc…). Năng lượng này đã tăng lên, do được cung cấp bởi sự phân rã nguyên tử của các chất phóng xạ. Năng lượng này cũng đã không ngừng tăng lên, nhờ năng lượng trút xuống trong các tia mặt trời. - Cái tiềm năng trở nên có sẵn để dùng trên bề mặt Trái đất non trẻ này có thể đi đâu được nào? Có phải nó đơn giản tự hao tổn quanh khối cầu trong những luồng lan tỏa bí hiểm?
Một giả thuyết, có vẻ đúng hơn, được đề xuất bởi cảnh quan của Thế giới hiện tại. Năng lượng tự do của Trái đất vừa mới ra đời lúc này quá yếu để có thể thoát đi bằng hiện tượng nóng sáng, mà trái lại năng lượng này trở nên có khả năng quay lại vào bản thân để dùng cho việc tổng hợp. Chính vì thế, cũng như hiện giờ, năng lượng này, qua sự hấp thụ nhiệt, đã chuyển đến để dùng cho việc cấu thành nhiều hợp chất có chứa carbon, hydro hay hydrat, nitơ, tương tự như các hợp chất vốn làm chúng ta kinh ngạc bởi khả năng làm tăng đến vô hạn sự phức tạp hóa và độ bất ổn định
của các phần tử của chúng. Đó là Vương quốc của sự polyme hóa18 nơi các phần tử hạt nối chuỗi, hợp nhóm và đổi chỗ, giống như trong các tinh thể tại đỉnh của các mạng rộng vô tận một cách lí thuyết, nhưng ở đây là từ phân tử này đến phân tử khác, và bằng cách ngày càng tạo ra một phân tử luôn lớn hơn và phức tạp hơn, nhờ một sự kết hợp khép kín hay ít ra cũng hạn hẹp. Thế giới của các “hợp chất hữu cơ” này, chúng ta được cấu tạo nên từ nó và bên trong nó. Và chúng ta đã có thói quen chỉ xem xét nó trong mối liên hệ trực tiếp với Sự Sống đã hình thành, bởi vì thế giới này trong mắt chúng ta liên hệ mật thiết với Sự Sống. Hơn nữa, sự phong phú lạ thường về dạng thể của thế giới này vượt xa sự đa dạng của các hợp chất khoáng, nhưng lại chỉ liên quan đến một phần nhỏ của chất liệu Trái đất. Vì thế, theo bản năng, chúng ta có xu hướng chỉ dành cho nó một vị trí và ý nghĩa phụ trong ngành Địa hóa học - giống như amoniac và oxit bao quanh những luồng sấm chớp.
Nếu tiếp sau dây chúng ta muốn định vị Con người trong Tự nhiên, điều tôi thấy cốt yếu là phục hồi cho hiện tượng độ thâm niên và diện mạo đích thực của nó.
Cơ chế hóa học vô cơ và cơ chế hóa học hữu cơ. Bất kể sự chênh lệch mang tính định lượng giữa các khối chất chịu tác động của chúng, hai chức năng này là và chỉ có thể là hai mặt không phân tách được của cùng một hoạt động trọn vẹn của Trái đất. Vì vậy, cũng như cơ chế hóa học vô cơ, cần phải coi cơ chế hóa học hữu cơ như đã được khơi mào ngay từ giai đoạn sơ khai của Trái đất. Và toàn bộ nghiên cứu trong cuốn sách này dựa vào lí do sau đấy: “Trong Thế giới, xuyên suốt các ngưỡng khác nhau mà sự Tiến hóa đã lần lượt vượt qua (bất kể các ngưỡng đó có tính tới hạn đến đâu), không gì có thể một ngày nào đó bừng nở như ở trạng thái sau chót mà nó trước hết lại không từng âm thầm tồn tại ngay từ ban đầu”.
Nếu từ những khoảnh khắc đầu tiên, chat hữu cơ đã không tồn tại ngay khi có thể, nó sẽ không bao giờ hình thành sau đó cả.
Cho nên, xung quanh hành tinh vừa mới ra đời của chúng ta, ngoài những mầm mống của một Kim quyển chứa kim loại, của một Thạch quyển chưa silicat, của một Thủy quyển và của một Khí quyển, ta còn cần nghiên cứu những đường nét của một lớp vỏ bọc đặc biệt - có thể được gọi là một vùng đối ngẫu của bốn vùng nói trên: một vùng có độ polyme hóa trung bình, ở giữa đó đã có Nước, Amoniac và Axit carbonic trôi nổi, và vùng đó được tắm dưới ánh mặt trời. Việc bỏ qua tầng hơi nước mỏng mảnh này sẽ làm ngôi sao non trẻ mất đi lớp trang phục quan trọng nhất. Bởi vì chính tại đó, nếu chúng ta chấp nhận quan điểm tôi vừa đề xuất phía trên, “cái Nội tại của Trái đất” sẽ sớm tích tụ lại.
CÁI NỘI TẠI
Ở đây qua cụm từ “cái Nội tại của Trái đất” tôi hiển nhiên không muốn nói đến những bề dày vật chất nơi mà vài ki-lô-mét sâu dưới chân chúng ta hé lộ một trong những bí ẩn khó ưa nhất cho Khoa học: bản chất hóa học và các tình trạng vật lí chính xác của các vùng bên trong quả Địa cầu. Như trong chương trước, tôi dùng cụm từ này để chỉ mặt “tâm thần” của cái phần Chất liệu Kết cấu của vũ trụ, bị giới hạn trong một phạm vi nhỏ hẹp của Trái đất non trẻ, ngay từ những buổi đầu tiên. Trong mảnh chất liệu thiên thể vừa tự tách ra, cũng như ở khắp nơi khác trong Vũ trụ, một Thế giới bên trong tất yếu trùng khít từng điểm với mặt bên ngoài của mọi vật. Điều này chúng ta đã chỉ ra. Nhưng ở đây, các tình trạng đã trở nên khác. Vật chất không dàn trải dưới mắt chúng ta theo các lớp không thể xác định được và lan tỏa. Mà Vật chất tự bao bọc lấy bản thân thành một khối kín. Lớp bên trong của nó sẽ phản ứng ra sao với sự uốn lại này?
Một điểm đầu tiên cần xem xét là, do chính sự cá thể hóa của hành tinh chúng ta, một khối ý thức cơ sở nào đó ban đầu bị giam hãm trong Vật chất của Trái đất. Các nhà bác học từng tin rằng, để giải thích, ta buộc phải ém vào vài mầm mống nào đó nằm giữa những ngôi sao một khả năng thụ tinh ra các ngôi sao đã nguội. Giả thuyết này làm biến dạng, mà không hề giải thích, sức mạnh của hiện tượng sống và cả sức mạnh của hệ quả quý báu của nó, tức là hiện tượng con người. Thực ra, giả thuyết này là hoàn toàn vô dụng. Tại sao cho trường hợp trái đất, chúng ta lại đi tìm trong khoảng không những nguyên lí thụ tinh khó hiểu? Trái đất non trẻ, với cấu tạo hóa học ban đầu, trong tổng thể của mình, đã chính là một mầm phức tạp khác thường mà ta đang cần. Tôi dám nói rằng, một cách bẩm sinh Trái đất đã mang trong mình sự tiền sinh với một lượng xác định. Toàn bộ vấn đề bây giờ là chỉ rõ bằng cách nào mọi thứ còn lại ra đời từ lượng tử nguyên thủy có bản chất linh động này.
Để hiểu được những pha đầu tiên của sự tiến hóa này, chúng ta sẽ chỉ cần so sánh từng giai đoạn của chúng với nhau, một mặt theo các quy luật chung mà chúng ta đã cho là có thể gắn với sự phát triển của Năng lượng tinh thần, và mặt khác theo những điều kiện hóa lí trên Trái đất non trẻ vừa được công nhận phía trên. Chúng ta đã nêu ra rằng, do bản chất tự nhiên, Năng lượng tinh thần tăng lên về giá trị “xuyên tâm”, một cách thực chứng và tuyệt đối; sự tăng lên này không có một giới hạn quy định được, và nó tuân theo độ phức hợp hóa học tăng lên của các phần tử mà Năng lượng này biểu diễn lớp lót bên trong của chúng. Nhưng trong đoạn phía trên, chúng ta cũng vừa mới công nhận rằng độ phức hợp hóa học của Trái đất tăng lên theo đúng các quy luật Nhiệt động học trong một vùng đặc biệt, trên bề mặt, nơi các phần tử của nó polyme hóa. Chúng ta hãy để hai mệnh đề này xích lại gần nhau. Hai mệnh đề này ăn khớp với nhau và làm sáng tỏ nhau một cách rõ ràng. Hai mệnh đề này đều chỉ ra rằng, vừa bị khép kín
trong Trái đất mới ra đời, sự Tiền sinh ra khỏi trạng thái ngủ yên, trước đó nó dường như từng bị giữ trong trạng thái ngủ yên này bởi sự khuếch tán trong không gian của mình. Những hoạt động của nó, trước đó vẫn ngủ yên, bắt đầu một vận động, đồng đều cùng với sự bừng tỉnh của các sức mạnh tổng hợp chứa trong Vật chất. Và, cùng chính lúc đó, trên toàn bộ ngoại vi của quả Địa cầu mới hình thành, áp lực của các sự tự do bên trong bắt đầu tăng lên.
Chúng ta hãy xem xét cái bề mặt bí ẩn này một cách chú tâm hơn.
Một đặc tính đầu tiên cần được chú ý. Đó là độ nhỏ vô cùng và số lượng không tính được của các phần tử hạt mà nó phân giải. Trên bề dày hàng ki-lô-mét, trong nước, trong không khí, trong lớp bùn đọng lại, những hạt protein siêu hiển vi phủ đặc kín bệ mặt Trái đất. Trí tưởng tượng của chúng ta không cưỡng lại được ý tường đếm các hạt tuyết này. Tuy vậy, nếu chúng ta hiểu rằng sự Tiền sinh đã đột sinh trong nguyên tử, chẳng phải tiếp đó chúng ta cần trông chờ đến hằng hà sa số các phân tử lớn đó sao?…
Nhưng còn một điều khác cần xem xét.
So với số lượng lớn này, có một điều còn đáng lưu ý hơn theo một nghĩa nào đó, và cũng chính là điều quan trọng tương đương cần ghi nhớ cho việc nghiên cứu tương lai: đó là sự thống nhất vốn nối kết trong nó lớp bụi ban đầu của các ý thức, bằng chính sự phát sinh của các ý thức đó. Điều làm những sự tự do cơ sở tăng lên, tôi xin nhắc lại, căn bản chính là sự tăng lên của việc tổng hợp các phân tử do những sự tự do này làm nền. Nhưng sự tổng hợp này, tôi cũng xin nhắc lại, tự nó sẽ không hoạt động nếu, nhìn tổng thể, quả Địa cầu không cuốn những lớp chất liệu của nó lại, ở bên trong một bề mặt khép kín.
Như vậy, tại một điểm nào đó mà chúng ta xem xét trên Trái đất, sự
tăng lên của cái Nội tại chỉ diễn ra nhờ một sự cuốn kép liên hợp, tức là một sự cuốn của phân tử vào chính mình, và một sự cuốn của hành tinh cũng vào chính mình19. Cái lượng tử ý thức ban đầu chứa trong Thế giới của Trái đất không đơn thuần được tạo nên từ một tập hợp các mảnh ngẫu nhiên bị giữ trong cùng một chiếc lưới. Nó biểu diễn một khối liên kết các tâm điểm vi phân, được nối với nhau về mặt cấu trúc nhờ những điều kiện ban đầu và sự khai triển của chúng.
Ở đây, một lần nữa lại lộ diện cái điều kiện nền tảng đặc trưng cho Vật chất nguyên thủy - sự thống nhất của tính đa nguyên, nhưng điều kiện này bây giờ biểu lộ trên một miền được xác định rõ hơn và được đưa tới một cấp độ mới. Có thể Trái đất được sinh ra do một sự tình cờ. Nhưng theo một trong những quy luật chung nhất của sự Tiến hóa, sự tình cờ này, vừa mới xuất hiện, đã ngay lập tức được sử dụng, và chuyển biến thành một cái gì đó có định hướng một cách tự nhiên. Bằng cơ chế của chính sự ra đời của mình, lớp màng nơi cái Nội tại của Trái đất tập trung lại và thấm sâu vào bên trong, đột sinh20 trong mắt chúng ta dưới dạng một Toàn thể hữu cơ, và ở trong đó ta không còn thể phân tách bất cứ phần tử nào ra khỏi các phần tử bao quanh nó được nữa. Một cái không chia cắt được mới đã xuất hiện ở giữa cái Vĩ đại Không-chia cắt-được - chính là Vũ trụ. Nói chính xác, đó là một Tiền Sinh quyển.
Đây chính là lớp vỏ mà từ giờ chúng ta sẽ nghiên cứu - chỉ một mình lớp vỏ đó và toàn bộ nó.
Trong khi vẫn luôn hướng tới những vực thẳm của Quá khứ, chúng ta hãy quan sát sự chuyển màu của nó.
Từ thời kì này sang thời kì khác, độ đậm của màu sắc tăng lên. Một cái gì đó sẽ nở bung ra trên Trái đất non trẻ.
Sự Sống! Sự Sống đây rồi!
PHẦN II
-------- SỰ SỐNG
Chương I
SỰ XUẤT HIỆN CỦA SỰ SỐNG S
au những gì chúng ta vừa công nhận về các năng lực sinh sôi nảy nở của Trái đất non trẻ, dường như trong Tự nhiên không còn gì để đánh dấu được sự khởi đầu của Sự sống (và người ta có thể phản đối nhan đề của chương này). Thế giới khoáng vật và Thế giới sinh vật: hai thiết tạo đối lập, nếu chúng được xem xét trong số đông, trong hình thức cuối cùng của chúng, và ở quy mô trung bình của các cơ quan con người. Nhưng hai Thế giới đó lại là một khối duy nhất từ từ tan ra lên chính mình, nếu chúng ta cố nghiên cứu chúng cho đến tận mức hiển vi và còn xuống thấp hơn đến mức cực nhỏ, bằng một phân tích không gian hoặc bằng cách lùi lại theo thời gian (mà rốt cuộc cũng tương đương).
Tại các độ sâu này, mọi sự khác nhau có mờ nhạt đi không? - Không còn một giới hạn rạch ròi nào giữa động vật và thực vật ở cấp đơn bào (điều này chúng ta đã biết từ lâu). Và ngày càng có ít ranh giới được biết chắc (chúng ta sẽ nhắc lại điều này trong phần tiếp sau) giữa chất nguyên sinh “sống” và các protein “đã chết” ở cấp độ các đám tích tụ phân tử rất lớn. “Chết”, ta còn gọi các chất chưa được xếp loại này như vậy… Nhưng chẳng phải chúng ta đã công nhận rằng các chất này sẽ không thể hiểu được, nếu sâu bên trong chúng lại không chứa một tâm thần thô sơ nào đó sao?
Vậy theo một nghĩa nào đó, điều nói trên là đúng. Từ giờ chúng ta sẽ
không thể định ra một Điểm Không tuyệt đối trên trục thời gian cho Sự Sống, cũng như cho bất kì một thực tại thí nghiệm nào, như trước đó chúng ta vẫn nghĩ có thể làm được. Đối với một Vũ trụ và mỗi phần tử của nó, trên bình diện kinh nghiệm và hiện tượng, chỉ có thể có một và duy nhất một thời lượng, và thời lượng này không có bến bờ nếu đi theo hướng lùi lại. Vì thế, do chính điều làm mỗi vật là chính nó nhất, nó trải dài cấu trúc và đâm sâu rễ của mình vào một Quá khứ luôn mãi xa hơn. Mọi thứ đã bắt đầu từ những cội nguồn, nhờ một sự mở rộng giảm đi rất nhanh của chính chúng. Chẳng thể nào làm gì để đối đầu trực tiếp với tình trạng sơ đẳng này của tri thức chúng ta.
Nhưng đối với mọi sinh thể mới, việc nhận ra và dứt khoát chấp nhận sự cần thiết và thực kiện của một sự phôi sinh mang tính vũ trụ lại không loại bỏ thực tại của một sự ra đời mang tính lịch sử, đối với những sinh thể mới đó.
Trong mọi miền, khi một đại lượng đã tăng đủ lớn, nó đột ngột thay đổi dáng, thể và bản chất. Đường cong vòng ngược lại; bề mặt co lại thành một điểm; chất rắn vỡ vụn; chất lỏng sôi; trứng phân đoạn; trực giác nảy sinh từ những thực tại tích lũy được… Điểm tới hạn, sự thay đổi trạng thái, những bậc thang trên con đường dốc, - những cú nhảy đủ loại trong quá trình phát triển: từ giờ, đó không chỉ là cách duy nhất, mà còn là cách đúng đắn để Khoa học hình dung và thâu tóm được “cái khoảnh khắc” ban đầu này.
Theo hướng mới chỉ ra này, - thậm chí tiếp theo điều chúng ta đã nói về sự Tiền sinh (và đúng phải là tiếp theo), chúng ta còn cần xem xét và xác định ra một khởi đầu của Sự Sống.
Trong những khoảng thời gian mà chúng ta không xác định được độ dài chính xác, tuy chắc hẳn rất lớn, Trái đất, đủ lạnh để trên bề mặt của nó các
chuỗi phân tử chứa carbon có thể hình thành và sống sót được, lúc này có lẽ được bao bọc bởi một lớp nhầy mà những nụ chồi đầu tiên của các lục địa tương lai chỉ đột sinh ra từ đó và Trái đất lúc này hẳn mang vẻ hoang vắng và bất động trong mắt của một nhà quan sát được trang bị những công cụ nghiên cứu hiện đại nhất. Tĩnh lặng trong giai đoạn đó, những vùng nước của Trái đất hẳn không để những tấm lọc kín nhất giữ lại bất kì phân tử hạt di động nào. Những vùng nước này hẳn chỉ cho phép những tập hợp trơ là nhìn thấy được qua những kính hiển vi với độ phóng đại mạnh nhất.
Vậy mà, chắc chắn rằng vào một thời điểm muộn hơn, sau một thời gian đủ dài, những vùng nước này bắt đầu chứa đầy các sinh thể li ti, ở chỗ này chỗ kia. Rồi từ cái đám đông ban đầu này mà sinh ra khối vật chất kì lạ có tổ chức, và sự đan bện chằng chịt phức tạp của nó hiện đang làm nên sự hình thành cuối cùng của các lớp vỏ hành tinh của chúng ta (hay chính xác hơn là ngay trước cuối cùng): Sinh quyển.
Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết được (trừ phi Khoa học tương lai tình cờ biết tái tạo hiện tượng này trong phòng thí nghiệm), - dù thế nào đi chăng nưa, chỉ mình ngành Lịch sử thôi cũng sẽ không bao giờ trực tiếp tìm lại được những dấu vết vật chất của sự ló hiện của vi sinh vật từ phân tử, của chất hữu cơ từ chất hóa học, và của sinh vật từ tiền sinh vật. Nhưng điều chắc chắn là sự biến thái như thế không thể lí giải được bằng một quá trình mang tính liên tục thuần túy. Bằng phép tương tự với những kết quả nghiên cứu so sánh các quá trình phát triển tự nhiên, chúng ta cần đặt vào thời điểm đặc biệt này trong quá trình Tiến hóa của Trái đất một sự chín muồi, một sự lột xác, một cái ngưỡng, một cơn khủng hoảng ở mức cao nhất: đó là sự bắt đầu của một trật tự mới.
Chúng ta hãy xác định điều gì đã phải một mặt là bản chất, mặt khác lại là các dạng thức trong không gian và thời gian của bước chuyển này, và
việc xác định này phải đồng thời thỏa mãn những tình trạng giả định của Trái đất non trẻ và những đòi hỏi chứa trong Trái đất ngày nay.
NGƯỠNG CỦA SỰ SỐNG
Hiện giờ, cùng lắm chúng ta chỉ có thể nhận định rằng, về mặt vật chất và khi nhìn từ bên ngoài, Sự Sống, theo đúng nghĩa đen, bắt đầu từ tế bào. Từ một thế kỉ nay, Khoa học càng tập trung nghiên cứu cái đơn vị siêu phức tạp về mặt hóa học và cấu trúc này, ta càng thấy rõ rằng đó chính là nơi ẩn giấu điều bí mật; và nếu biết được điều bí mật này thì ta sẽ thiết lập được sự liên kết (đã được dự cảm nhưng còn chưa được nhận ra) giữa thế giới của ngành Vật lí và thế giới của ngành Sinh học. Tế bào là hạt tự nhiên của Sự sống, cũng như nguyên tử là hạt tự nhiên của Vật chất không có tổ chức. Chắc chắn rằng, nếu chúng ta muốn định ra được điều đặc thù làm nên Ngưỡng của Sự Sống, thì tế bào chính là điều chúng ta cần cố gắng hiểu.
Nhưng để hiểu được, chúng ta phải xem xét như thế nào?
Người ta đã viết hàng chồng sách về tế bào. Bao nhiêu thư viện trọn vẹn cũng không chứa hết những quan sát được tích lũy tỉ mỉ về kết cấu, về những chức năng tương đối của “tế bào chất” và nhân của nó, về cơ chế phân chia và những mối quan hệ của nó với tính di truyền. Tuy vậy, tự bản thân tế bào vẫn bí ẩn và khép kín hơn bao giờ hết. Dường như, mỗi khi đạt đến một độ sâu nào đó trong lí giải, chúng ta lại không tiến thêm được nữa mà chỉ xoay quanh một cái gì đó bị rút giản không thể xuyên qua được.
Có phải những phương pháp phân tích của ngành mô học và sinh lí học hiện giờ đã không cung cấp cho chúng ta những gì ta chờ đợi, và cuộc tấn công để tiến bước cần phải được tiếp diễn dưới một góc độ khác?
Thực ra, vì những lí do tự nhiên, cho đến nay ngành Tế bào học hầu
như chỉ được xây dựng hoàn toàn từ quan điểm sinh học: tế bào được coi như một vi sinh vật hay một sinh vật nguyên sinh cần được diễn giải qua các hình thức và các quần hợp ở cấp cao nhất của nó.
Vậy mà, làm như thế thì chúng ta đơn giản đã bỏ rơi một nửa vấn đề trong bóng tối. Như một hành tinh trong tuần thượng huyền, đối tượng nghiên cứu của chúng ta tỏa sáng trên mặt hướng về các đỉnh điểm của Sự sống. Nhưng trên những lớp thấp hơn của cái được chúng ta gọi là sự Tiền sinh, đối tượng tìm hiểu của chúng ta vẫn đang trôi nổi trong màn đêm. Và về mặt khoa học, đối với sự tìm kiếm của chúng ta, có thể đó chính là điều đang làm cho sự huyền bí của nó kéo dài quá lâu.
Tế bào tuyệt vời đến độ trong mắt chúng ta nó hiện ra trong sự cô lập với các cấu tạo khác của Vật chất; và như bất kì vật thể nào khác trên Thế giới, ta sẽ chỉ hiểu tế bào (tức là đưa được nó vào một hệ thống Vũ trụ mạch lạc) khi nó được đặt lại vào giữa một Tương lai và một Quá khứ, trên một trục Tiến hóa. Chúng ta đã quan tâm nhiều đến những sự phân dị và sự phát triển của tế bào. Nếu muốn đến được bản chất đích thực của sự mới mẻ của tế bào, giờ đây chúng ta cần hội tụ những nghiên cứu của mình, tại chính cội nguồn của tế bào, tức là tại những gốc rễ mà nó đâm sâu vào thế giới không có tổ chức.
Đối lập với những gì kinh nghiệm chỉ giáo cho chúng ta trong mọi lĩnh vực khác, chúng ta đã quá quen hay là quá cam chịu cách tư duy về tế bào như một đối tượng không có tổ tiên gốc gác. Bây giờ chúng ta hãy cố xem tế bào sẽ ra sao khi quan sát nó và coi nó như một vật thể vừa là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài, lại vừa hết sức nguyên bản, có nghĩa là như một vật thể được sinh ra.
A. Vi sinh vật và đại phân tử
Trước hết tôi xin bàn về quá trình chuẩn bị. Mọi nỗ lực quan sát Sự
sống lúc khởi đầu, so với những gì trước đó chứ không phải là so với những gì tiếp sau đó, đều đạt tới một kết quả bước đầu - đó là nêu lên được một nét đặc thù mà kì lạ thay lại không đập vào mắt chúng ta nhiều - nét đặc thù đó là: chính ở bên trong và nhờ tế bào mà Thế giới phân tử “dưới dạng con người” (nếu tôi có thể nói vậy…) lộ ra, đi qua rồi biến vào giữa những cấu tạo cao cấp hơn của Sự sống.
Tiếp đây tôi xin giải thích điều vừa nói trên.
Khi quan sát một Vi khuẩn, chúng ta lại luôn nghĩ đến Thực vật và Động vật cao cấp. Và đó chính là điều làm chúng ta lóa mắt. Chúng ta hãy làm khác đi. Chúng ta hãy nhắm mắt trước những hình thức cao cấp nhất của Sinh vật. Chúng ta cũng hãy gạt sang một bên đa số các Động vật Nguyên sinh bởi việc này cũng hợp lí, các động vật này gần như cũng bị phân dị nhiều trong họ của chúng như Động vật Đa bào vậy. Và giữa các Động vật Đa bào, chúng ta hãy bỏ qua các tế bào thần kinh, tế bào cơ, tế bào sinh sản - chúng thường rất lớn và dù thế nào đi chăng nữa cũng đều siêu chuyên môn hóa. Như thế chúng ta hãy giới hạn việc quan sát của mình vào những phần tử ít nhiều độc lập và vô định hình hay đa hình trong bề ngoài, bởi vì chúng có nhiều trong các quá trình lên men tự nhiên, - bởi vì chúng di chuyển trong mạch ven của chúng ta, - bởi vì chúng tích tụ trong các cơ quan của chúng ta dưới dạng mô liên kết. Nói cách khác, chúng ta hãy hạn chế vùng quan sát chỉ trong tế bao dưới các dạng vẻ đơn giản nhất, tức là sơ đẳng nhất mà chúng ta còn có thể quan sát được trong Tự nhiên ngày nay. Và khi đã làm được việc này, tiếp đó chúng ta hãy quan sát khối tiểu thể này trong mối quan hệ với Vật chất mà nó bao trùm. Đó là những việc cần phải làm. Chúng ta còn có thể giây lát đắn đo công nhận mối quan hệ họ hàng hiển nhiên gắn thế giới sinh vật nguyên sinh với thế giới của ngành Hóa lí về cấu tạo và dáng vẻ nữa không?… Sự đơn giản trong hình thức tế bào. Sự đối xứng trong cấu trúc. Những kích thước nhỏ
li ti… Sự đồng nhất bên ngoài của những đặc tính và tập tính trong sự Vô số… Không thể không nhận ra cho được, chẳng phải đây chính là những đường nét, những tập quán của Chất hạt đó sao? Tức là, chẳng phải đó vẫn còn là nấc thang đầu tiên của Sự Sống, nếu không phải là ở giữa thì ít nhất cũng ở ngay bờ mép của “Vật chất”?
Không hề nói quá, đúng như đối với các nhà cổ sinh vật học, Con người tan vào khối Động vật lớp Thú đứng ngay trước nó về mặt giải phẫu học - thì cũng như thế, khi theo các bậc thang đi xuống, về mặt định tính và định lượng, tế bào chìm vào thế giới các kiến tạo hóa học. Lùi lại ngay sau chính mình, tế bào rõ ràng hội tụ về Phân tử.
Tuy vậy, sự hiển nhiên này không còn là một trực giác đơn giản của trí tuệ.
Mới cách đây vài năm thôi, điều tôi vừa nói về sự chuyển tiếp dần từ Hạt Vật chất đến Hạt Sự sống hẳn có vẻ cũng mang tính đề xuất nhưng cũng thiếu bằng cứ như những luận văn đầu tiên của Darwin hay của Lamarck về thuyết biến hình. Nhưng giờ thì mọi thứ đang thay đổi. Từ thời Darwin và Lamarck, nhiều khám phá đã thiết lập được sự hiện hữu của những hình thức chuyển tiếp mà trước đó thuyết Tiến hóa đã mặc nhận. Tương tự vậy, những tiến bộ mới nhất của ngành Hóa sinh bắt đầu thiết lập được thực tại của các tập hợp phần tử, những tập hợp này dường như lấp dần và cắm sào vào cái vực thẳm được giả định là há hốc giữa chất nguyên sinh và Vật chất vô cơ. Nếu chấp nhận một số phép đo là chính xác (dù đúng là chúng còn mang tính gián tiếp), những trọng lượng phân tử của nhiều chất protit tự nhiên (như các “vi khuẩn” liên quan một cách bí hiểm đến các bệnh do vi trùng ở Thực vật và Động vật) phải được ước lượng đến hàng triệu. Nhỏ hơn mọi Vi trùng, nhỏ đến độ không bộ lọc nào có thể giữ lại được, những phần tử hạt tạo nến các chất này tuy thế lại
rất lớn, so với các phần tử thường được nghiên cứu trong hóa học carbon. Và một gợi ý sâu sắc ở đây là ta hãy ghi nhận rằng, nếu ta còn chưa xếp chúng vào cùng với tế bào, một vài đặc tính của chúng (nhất là khả năng tự nhân lên khi tiếp xúc với một mô sinh) đã báo hiệu rằng đó là những đặc tính của các sinh vật hoàn toàn có tổ chức21.
Nhờ việc khám phá ra các tiểu thể khổng lồ này, sự hiện hữu từng được dự đoán của các trạng thái trung gian giữa các vi sinh vật và cái siêu vi “bất động vật” chuyển sang được nghiên cứu trong lĩnh vực thực nghiệm trực tiếp.
Từ giờ, không chỉ do đòi hỏi của trí tuệ về tính liên tục mà còn qua những dấu hiệu thực chứng, ta có thể khẳng định được điều sau: đúng theo những dự đoán lí thuyết của chúng ta về thực tại của một sự Tiền sinh, một vài chức năng tự nhiên thực sự nối kết cái Vi Hữu cơ với cái Đại Phân tử, trong sự xuất hiện kế tiếp và trong sự tồn tại ngày nay của chúng.
Và chính sự ghi nhận đầu tiên này đưa chúng ta tiến thêm một bước nữa để hiểu rõ hơn về những sự chuẩn bị và rồi để hiểu rõ hơn về nguồn gốc của Sự Sống.
B. Một đại22 bị lãng quên
Tôi không đủ khả năng để đánh giá cả tính có căn cứ lẫn những giới hạn của ngành Vật lí Tương đối trên quan điểm toán học. Nhưng với tư cách một nhà tự nhiên học, tôi phải công nhận rằng việc xem xét một miền thứ nguyên nơi Không gian và Thời gian kết hợp với nhau theo kiểu hữu cơ là cách duy nhất chúng ta đã tìm ra để giải thích sự bố trí của các thực thể vật chất và sinh vật xung quanh chúng ta. Thật vậy, sự hiểu biết của chúng ta về Lịch sử Tự nhiên của Thế giới càng tiến bộ, thì chúng ta lại càng khám phá ra rằng sự phân bố của các vật thể và hình thức tại một thời
điểm nào đó chỉ có thể lí giải được bằng một quá trình có độ dài thời gian biến thiên trực tiếp theo sự phân tán trong không gian (hay sự phân tán hình thái học) của các sinh vật được nghiên cứu. Mọi khoảng cách trong không gian, mọi sự khác biệt hình thái học đều giả định và biểu diễn một thời lượng.
Hãy lấy trường hợp đặc biệt đơn giản của Động vật có Xương sống hiện nay vẫn còn sống. Từ thời Linné, sự phân loại động vật đã đủ tiến bộ để tập hợp của chúng biểu lộ một cấu trúc xác định, được biểu diễn bằng các Bộ, các Họ, các Chi v.v. Tuy nhiên, các nhà tự nhiên học lúc đó không đưa ra được một giải thích khoa học nào cho sự sắp xếp này. Còn ngày nay chúng ta biết rằng cách phân loại của Linné đơn giản biểu diễn một lát cắt được di chuyển theo thời gian cho đến ngày nay, thành một chùm phân li của các dòng giống (dòng)23 xuất hiện kế tiếp qua nhiều thế kỉ24, - để mà khoảng cách động vật học của các loại sinh-vật đa dạng lộ ra trước mắt chúng ta và là thước đo sự khác nhau về tuổi cho từng trường hợp. Vì thế trong chùm các Loài, mọi sinh vật và mọi vị trí đều đi kèm với một Quá khứ nào đó và với một sự Phát sinh nào đó. Đặc biệt mỗi khi các nhà động vật học tìm ra một loại nguyên sơ hơn những loại đã biết (hãy lấy ví dụ con Lưỡng tiêm), điều này không chỉ có kết quả duy nhất là mở rộng gam các hình thức động vật thêm một chút. Một khám phá như thế còn tự chính nó chỉ ra một giai đoạn thêm nữa, một vòng, một khâu nữa trên trục của sự Tiến hóa. Ví dụ, chẳng hạn chúng ta chỉ có thể tìm được trong Tự nhiên một chỗ cho con Lưỡng tiêm bằng cách hình dung trong Quá khứ, ở trước Cá, một giai đoạn trọn vẹn của Sự sống “tiền xương sống”.
Trong khối Không-Thời gian của các nhà sinh học, việc bổ sung một phần tử hay một cấp độ hình thái học thì đòi hỏi được diễn giải bằng một sự kéo dài tương liên của trục Thời gian.
Chúng ta hãy tiếp nhận cái nguyên lí này. Và hãy quay lại việc nghiên cứu các phân tử khổng lồ mà sự hiện hữu của chúng vừa được Khoa học bất ngờ khám phá.
Có thể những phần tử hạt to lớn này hiện giờ chỉ làm thành một nhóm cá biệt và khá hạn hẹp trong Tự nhiên, dù khả năng điều này đúng là nhỏ. Tuy nhiên, dù hiếm có (như ta giả dụ) và bị biến đổi đến mức ta hình dung chúng thông qua liên kết phụ với những mô sinh vật bị chúng sống nhờ, không có lí do nào để coi chúng là những sinh vật khủng khiếp hay dị dạng. Ngược lại, mọi điều đều dẫn đến việc cần xem xét chúng như chúng biểu diễn (dù ở một thể dư thừa sống sót) một nấc thang đặc biệt trong những sự kiến tạo Vật chất Trái đất.
Chính vì vậy, điều này ngầm chỉ rằng giữa vùng Phân tử và vùng Tế bào vốn trước đó từng được giả định là kề nhau, có một vùng Đại Phân tử. Nhưng cũng do chính điều này, bởi mối quan hệ đã được công nhận phía trên giữa Không gian và Thời lượng, một giai đoạn bổ sung biểu lộ và xếp xen vào giữa quá khứ đằng sau chúng ta trong lịch sử Trái đất. Một hình tròn nữa trên thân cây, tức là một khoảng thời gian nữa cần tính đến trong tuổi đời của Vũ trụ. Sự khám phá ra virút hay các phần tử tương tự khác không chỉ làm cho chuỗi trạng thái và hình thức của Vật chất phong phú hơn với một phần tử quan trọng thêm vào Vật chất. Khám phá này còn buộc chúng ta phải chèn thêm một đại bị quên lãng từ trước đó cho đến giờ (tức là một đại của “tiểu sinh vật”) vào chuỗi các thời kì vốn dùng để đo độ dài Quá khứ của hành tinh chúng ta.
Vì thế, bằng cách xuất phát từ Sự sống ban đầu và đi ngược về quá khứ, chúng ta gặp lại ở đây pha và diện mạo của Trái đất trẻ dưới một dạng kết thúc được xác định rõ ràng; pha và diện mạo này là giả thuyết chúng ta đưa ra trong chương trước, khi đi lên theo các nấc thang của cái bội thể cơ
bản.
Chúng ta hiển nhiên còn chưa thể nói được gì chính xác về độ dài Thời gian cần thiết để hình thành thế giới đại phân tử này trên Trái đất. Nhưng nếu chúng ta không thể nghĩ đến việc gán vào đó một con số, thì vẫn có một vài hướng để ước lượng độ dài đó. Hiện tượng được xem xét đã phải diễn ra chậm chạp vô cùng, vì ba (trong nhiều) lí do sau đây.
Trước hết, hiện tượng này, trong sự xuất hiện và phát triển của nó, phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến dổi chung của điều kiện hóa học và nhiệt học trên bề mặt hành tinh. Khác với Sự sống vốn dường như lan tỏa với một tốc độ riêng trong một môi trường vật chất trở nên gần như ổn định (so với chính Sự Sống), những đại phân tử chỉ có thể được hình thành với nhịp độ thiên thể của Trái đất (tức là chậm đến kinh ngạc).
Thứ hai là, sự biến đổi một khi đã bắt đầu, trước khi có khả năng tạo ra nền tảng cần thiết cho sự ló hiện của Sự sống, đã phải lan trên một khối Vật chất đủ lớn và đủ rộng để hình thành một miền hay một lớp vỏ có kích thước của trái đất. Và điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian nữa.
Thứ ba là, những đại phân tử có lẽ mang trong mình dấu vết của một lịch sử lâu đời. Thật vậy, làm sao hình dung ra rằng, như những hạt đơn giản hơn, chúng đã có thể được tạo nên một cách đột ngột và giữ nguyên như thế, một lần thôi nhưng cho mãi mãi? Sự phức tạp hóa và tính bất ổn định của chúng hơi giống những đặc điểm này của Sự sống, đúng ra gợi đến một quá trình dài mang tính cộng thêm, được thực hiện qua những sự tăng trưởng liên tiếp, trong một chuỗi các thế hệ.
Vì ba lí do này, nhìn chung, chúng ta có thể xét đoán rằng một thời lượng cần thiết cho việc hình thành các protein trên bề mặt trái đất có lẽ dài hơn mọi thời đại địa chất từ Kỉ Cambri. Như vậy, phía sau chúng ta, cái vực thẳm Quá khứ này sâu thêm một tầng, và một sự yếu kém về tri thức
có thể sẽ đưa chúng ta đến việc nén cái vực thẳm này thành một lát Thời lượng ngày càng mỏng, trong khi Khoa học, bằng những phân tích của mình, buộc chúng ta phải luôn kéo dãn nó ra hơn nữa.
Và như vậy, chúng ta đã có được một nền tảng cần thiết cho việc biểu diễn tiếp theo.
Thiếu một giai đoạn trưởng thành lâu dài, không một sự thay đổi sâu sắc nào có thể diễn ra trong Tự nhiên. Ngược lại, nếu một giai đoạn trưởng thành như thế là có trước, tất yếu một cái hoàn toàn mới sẽ hình thành. Một Đại của Đại Phân tử trên trái đất - đó không chỉ là một thời kì bổ sung thêm vào bảng thời lượng của chúng ta. Hơn thế nữa, đó còn là đòi hỏi có một điểm tới hạn để kết thúc và khép lại Đại đó. Đây đích xác là điều chúng ta cần để lí giải ý tưởng rằng một sự đứt đoạn kiểu cao cấp nhất của sự tiến hóa nằm tại cấp độ được đánh dấu bằng sự xuất hiện của những tế bào đầu tiên. Nhưng rốt cuộc, bằng cách nào chúng ta lại có thể hình dung ra được bản chất của sự đứt đoạn này?
C. Cuộc cách mạng tế bào
1) Cuộc cách mạng ngoại tại
Từ góc nhìn bên ngoài, tức là góc nhìn thông thường của ngành Sinh học, điểm độc đáo căn bản của Tế bào là dường như nó đã tìm ra một phương pháp mới để bao bọc một khối Vật chất lớn hơn thành một đơn vị riêng. Hẳn đó là một khám phá được chuẩn bị lâu dài, với những mò mẫm mà từ đó dần dần sinh ra các Đại phân tử. Những khám phá này khá đột ngột và mang tính cách mạng khá cao, để có thể ngay lập tức trở nên một thành công kì diệu trong Tự nhiên.
Chúng ta còn lâu mới có thể xác định được chính nguyên lí tổ chức của phân tử (chắc hẳn là đơn giản một cách rõ ràng). Tuy nhiên, chúng ta đã có
đủ hiểu biết để đo được độ phức hợp khác thường trong cấu trúc của nó và đo được độ cố định cũng khác thường không kém của loại cơ sở của nó.
Trước hết về độ phức hợp. Ngành Hóa học chỉ cho chúng ta biết rằng tại gốc của cấu trúc phân tử có các albuminoid, các chất hữu cơ có nitơ (hay “axit amin”) với khối lượng phân tử rất lớn (đến 10.000 và hơn nữa). Khi kết hợp với các chất béo, với nước, với phospho và mọi loại muối khoáng (kali, xút, magie, nhiều hợp chất kim loại khác nhau…), những albuminoid này tạo nên một “sinh vật nguyên sinh”, đó là chất xốp được tổ chức từ các phần tử hạt nhiều vô kể, tại đó các lực do tính nhớt, do thẩm thấu, do xúc tác bắt đầu có tác dụng nhận thấy được; các lực này là những đặc tính của Vật chất đạt đến những cấp độ cao của sự hợp nhóm phân tử. Và như thế vẫn chưa hết. Ở giữa tập hợp này, trong hầu hết mọi trường hợp, một cái nhân chứa các “nhiễm sắc thể” nổi rõ trên nền “tế bào chất”, và có thể tế bào chất này lại tự nó cấu tạo bởi các sợi hay các que (“thể hạt”). Ở mức phóng đại của kính hiển vi và khả năng phân tách cửa chất phẩm màu ngày càng cao - ta thấy xuất hiện cũng càng nhiều phần tử cấu trúc mới trong phức thể này, hoặc ở mức cao hơn, hoặc ở mức thấp hơn. Một sự nở rộ của tính đa dạng tích tụ lại theo kiểu hữu cơ trong một khoảng không gian tối thiểu.
Tiếp đó là tính cố định. Dù những biến tấu khả dĩ từ chủ đề của Tế bào có vô hạn đến đâu, - dù quả thật trong Tự nhiên những hình thức nó khoác lên mình có biến đổi không ngưng cạn, trong mọi trường hợp, Tế bào về căn bản vẫn chỉ giống chính nó. Chúng ta đã nói điều này trong phần trước. Khi đối mặt với nó, tư tưởng của chúng ta do dự trong việc tìm kiếm những thứ tương tự với nó trong thề giới “động vật” hay trong thế giới của “bất động vật”. Chẳng phải mức giống nhau giữa các Tế bào là như mức giống nhau giữa các phân tử và cao hơn mức giống nhau giữa các động vật?… Chúng ta đã làm đúng khi xem xét chúng như các hình thức sống