🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Gương Điển Hình Tiên Tiến Của Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Trong Phong Trào Thi Đua Yêu Nước Ebooks Nhóm Zalo HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN Chủ tịch Hội đồng PGS. TS. PHẠM VĂN LINH Phó Chủ tịch Hội đồng PHẠM CHÍ THÀNH Thành viên TRẦN QUỐC DÂN TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI TS. NGUYỄN AN TIÊM NGUYỄN VŨ THANH HẢO TUYỂN CHỌN MAI LINH NHÂM NGUYỄN HẢI ANH VŨ THỊ PHƯƠNG LỜI NHÀ XUẤT BẢN Bác Hồ đã dạy: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc”. Thực hiện lời dạy của Bác, đồng bào dân tộc thiểu số đoàn kết, sáng tạo, chung sức, đồng lòng thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với nhiều hình thức, nội dung phong phú, các phong trào thi đua yêu nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được phát động, đã và đang đi vào cuộc sống, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, chương trình trọng tâm, trọng điểm của từng địa phương, đơn vị; hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra như: phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới... góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, văn hóa vùng đồng bào dân tộc phát triển; các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát huy, từng bước đẩy lùi hủ tục; an ninh chính trị, trật tự - an toàn xã hội được giữ vững; công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đạt nhiều thành tích; khối đại đoàn kết giữa các dân tộc không ngừng được củng cố và tăng cường. 5 Mặt khác, các phong trào thi đua đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư tưởng, đột phá trong cách nghĩ cách làm và ý chí tự chủ vươn lên, góp phần khơi dậy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ các phong trào thi đua, xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân, hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất, kinh doanh giỏi; không ít già làng, trưởng bản, người có uy tín trở thành tấm gương đoàn kết, tích cực tham gia xây dựng chính quyền, xây dựng đời sống văn hóa mới ở cơ sở; nhiều cá nhân, tập thể làm công tác dân tộc đã có nhiều thành tích trong triển khai và thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Cuốn sách Gương điển hình tiên tiến của đồng bào dân tộc thiểu số trong phong trào thi đua yêu nước được tuyển chọn trên cơ sở tham luận của các đại biểu trong Đại hội Thi đua yêu nước giai đoạn 2011-2015 do Ủy ban Dân tộc tổ chức. Cuốn sách góp phần tôn vinh, biểu dương các gương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, nhân tố tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số trong phong trào thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hy vọng, những kinh nghiệm, mô hình, cách làm hay, bài học bổ ích của các gương tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến sẽ lan tỏa và nhân rộng trong đồng bào dân tộc thiểu số. Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc. Tháng 4 năm 2016 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT6 LAI CHÂU CHÚ TRỌNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Lai Châu là một tỉnh miền núi biên giới xa xôi của khu vực Tây Bắc với gần 265,095km đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt. Lai Châu là mái nhà chung của 20 dân tộc anh em với phong tục tập quán và ngôn ngữ phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, bà con dân tộc trình độ dân trí thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Cách đây hơn 10 năm, khi mới bắt đầu chia tách và thành lập tỉnh Lai Châu mới, tỷ lệ hộ nghèo ở Lai Châu lên tới 31,3% theo tiêu chuẩn cũ và tương đương với 63% của tiêu chuẩn mới. Đây là thách thức không nhỏ đối với chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu trong công tác phát triển kinh tế - xóa đói giảm nghèo của địa phương. Thực tế cho thấy, xóa đói giảm nghèo ở vùng cao khác với các vùng đồng bằng, nó không chỉ là 7 vấn đề kinh tế, mà còn là chính sách dân tộc gắn liền với công tác bảo vệ đường biên của Tổ quốc. Muốn bà con thoát nghèo phải tạo được niềm tin trong nhân dân, chính trị, an ninh được giữ vững. Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác bảo vệ đường biên mốc giới, tỉnh Lai Châu đã chú trọng đến chính sách dân tộc, ưu tiên bà con người dân tộc thiểu số. Đây là một trong những nhân tố quan trọng tạo được lòng tin của nhân dân, giúp nhân dân yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế. Đảng bộ, chính quyền Lai Châu đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ về nông nghiệp giúp bà con yên tâm sản xuất như: Chương trình 134, 135; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo; hỗ trợ y tế; hỗ trợ giáo dục; trợ giúp pháp lý; và đặc biệt là chính sách về hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27-12-2008 của Chính phủ... Đây là những chính sách quan trọng đã có tác động tích cực đến những hộ nghèo đang sản xuất nông nghiệp. Tỉnh Lai Châu đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh trong phát triển kinh tế nông nghiệp, người dân đã chú trọng việc sản xuất hàng hóa theo nhu cầu của thị trường. Ban Dân tộc tỉnh Lai Châu đã phối hợp với các sở, ngành liên quan trong tỉnh, hoàn thành vai trò là “cầu nối” thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh. 8 Từ năm 2011 đến năm 2015 từ vốn đầu tư của Chương trình 135, đã giải ngân được 260.335 triệu đồng với 112 công trình giao thông, 77 công trình thủy lợi, 115 công trình giáo dục, 29 công trình nước sinh hoạt, 13 công trình điện... Các công trình trên được triển khai hiệu quả đã giúp người dân thuận lợi trong sinh hoạt, thuận tiện trong sản xuất. Đến năm 2015, tỉnh Lai Châu đã hình thành các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp với quy mô lớn như: chè, cao su, rau xanh... Trong đó, cây chè được coi là mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xóa đói giảm nghèo cho bà con. Tổng diện tích chè của toàn tỉnh là 3.560 hecta phân bố chủ yếu ở thành phố Lai Châu, Tam Đường và Tân Uyên. Việc hình thành các vùng chuyên canh thuận lợi cho việc chế biến cũng như tiêu thụ sản phẩm hàng hóa với quy mô lớn, tập trung. Huyện Tân Uyên đã và đang hình thành vùng chè chất lượng cao để tăng thu nhập cho người dân trên cùng một diện tích đất canh tác. Cây cao su cũng là cây công nghiệp có diện tích lớn ở tỉnh Lai Châu với 13.000 hecta tập trung chủ yếu ở huyện Sìn Hồ, Phong Thổ, Mường Tè và Than Uyên. Đây là loại cây trồng hứa hẹn sẽ mang lại thu nhập cao, góp phần cải thiện đời sống cho người dân. Cùng với việc hình thành các vùng chuyên canh, người dân đã biết sản xuất hàng hóa theo 9 nhu cầu của thị trường, không còn sản xuất theo hướng tự cung, tự cấp như trước đây. Nhiều mô hình sản xuất mới đã mang lại hiệu quả kinh tế như: mô hình trồng hoa, trồng rau sạch, nuôi lợn theo mô hình khép kín bảo đảm vệ sinh môi trường,... Bằng nhiều nguồn vốn hỗ trợ khác nhau như Chương trình 30a, Chương trình 135, Chương trình khuyến nông và người dân tự mua..., đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh có khoảng 10.700 máy móc, thiết bị sản xuất nông nghiệp các loại như máy làm đất, công cụ xạ hàng, máy chế biến thức ăn gia súc... đã góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các cánh đồng lớn đã cơ giới hóa sản xuất được 60% diện tích. Riêng một số cánh đồng như Mường So, Khổng Lào của huyện Phong Thổ; Mường Khoa của huyện Tân Uyên và Mường Than thuộc huyện Than Uyên tỷ lệ đưa cơ giới hóa vào khâu làm đất đạt trên 90% diện tích. Để nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật cho người dân, những năm qua ngành nông nghiệp tỉnh Lai Châu đã triển khai nhiều mô hình, dự án khuyến nông để giúp người dân tiếp cận với phương thức sản xuất mới, từng bước thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để nâng cao thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích đất. Hầu hết các mô hình, dự án đều mang lại kết quả tốt, đặc biệt là 10 có thể nhân rộng và đưa vào sản xuất đại trà. Ngành nông nghiệp đã phối hợp với Công ty cổ phần Đầu tư thương mại Đại Dương sản xuất 3 hecta lúa lai F1, đồng thời nhập thêm các giống lúa, ngô lai chất lượng cao phù hợp với địa hình, khí hậu của tỉnh cho người dân sản xuất. Các giống lúa địa phương có chất lượng cao được quan tâm đưa vào sản xuất nhiều như lúa Tẻ Râu, Séng Cù được người dân gieo trồng nhiều ở huyện Tam Đường, Than Uyên và thành phố Lai Châu được người tiêu dùng ưa chuộng. Ban Dân tộc tỉnh Lai Châu đã chú trọng công tác phối hợp với Ban Dân vận, Hội Nông dân, cán bộ xã và nhất là trưởng bản - những người có uy tín trong bản vận động bà con xóa bỏ tập quán du canh du cư. Cùng với đó, Ban Dân tộc đã phát huy có hiệu quả nguồn vốn từ Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 4-6-2013 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015. Theo đó, 5 điểm định canh - định cư tập trung với 10 công trình bao gồm: giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, lớp học... Kết quả giải ngân đạt 99,5% kế hoạch giao (với tổng số tiền 36.293 triệu đồng). Bên cạnh đó, cũng bằng nguồn vốn của chương trình trên, đã sắp xếp định canh - định cư cho 139 hộ dân. Chương trình định canh - định cư giúp bà con ổn 11 định cuộc sống tại các bản: Tá Bạ (xã Tá Bạ); Gia Tè (xã Mù Cả); Hà Xi, Hà Nê (xã Pa Vệ Sử)... Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp, công nghiệp cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Lai Châu. Tốc độ phát triển ngành công nghiệp bình quân hằng năm đạt 22,9%. Năm 2014, toàn tỉnh Lai Châu đã có trên 2.000 cơ sở sản xuất công nghiệp (năm 2004 mới có 1.100 cơ sở) thu hút và giải quyết việc làm cho 5,5 nghìn lao động. Ngành công nghiệp ở Lai Châu đã thu hút 90 dự án đầu tư các lĩnh vực: thủy điện, khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm thủy sản với số vốn đăng ký trên 85 nghìn tỷ đồng, một số ngành nghề truyền thống của bà con dân tộc thiểu số được khôi phục như: dệt thổ cẩm, sản xuất rượu... Những thành quả trên đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Trong 4 năm (2011-2014), tỉnh Lai Châu đã được đầu tư gần 4 tỷ đồng vào Chương trình xây dựng nông thôn mới. Mỗi năm, tổng số vốn được giải ngân đạt từ 75% trở lên. Với sự nỗ lực và cố gắng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận trong công tác phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Tốc độ 12 tăng trưởng kinh tế khá, trung bình 7,4%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2014 thu nhập bình quân đầu người tăng 2,03 lần so với năm 2010, đạt 16,27 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh và bền vững, bình quân giảm 5,2%/năm. Năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh còn 22,02%. Thời gian tới, các cấp, các ngành của tỉnh Lai Châu sẽ tập trung huy động các nguồn lực đẩy mạnh thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo; thực hiện hiệu quả chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi phương thức chăn nuôi, phát triển bảo vệ rừng, phát triển vùng chè, trồng cây cao su... nhằm giúp đồng bào các dân tộc phát triển kinh tế, từng bước xóa được đói, giảm nghèo. (Tống Thanh Bình - Dân tộc Thái Trưởng ban Dân tộc tỉnh Lai Châu) 13 MƯỜNG TÈ VỚI CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC Huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu là huyện vùng cao biên giới, có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.679,34km2, có đường biên giới giáp với Trung Quốc. Toàn huyện có 14 đơn vị hành chính bao gồm 13 xã và 1 thị trấn; dân số là 7.860 hộ, 40.314 nhân khẩu; có 12 dân tộc cùng chung sống, đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện chiếm tỷ lệ cao (94,8%), trong đó có những dân tộc đặc biệt khó khăn như Cống, Mảng, Si La, La Hủ... Trong những năm qua, cùng với việc chú trọng chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc trong huyện luôn được Đảng bộ, chính quyền quan tâm. Một số nghi lễ - lễ hội truyền thống của các dân tộc đã được phục dựng, thực sự trở thành ngày hội của cộng đồng, là dịp giao lưu văn hóa, thắt chặt tình đoàn kết các dân tộc và để mọi người có ý thức gìn giữ, phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc mình. Việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện 14 trong những năm qua được các cấp, các ngành từ Trung ương đến tỉnh, huyện rất quan tâm từ công tác điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn cho đến triển khai thực hiện. Điển hình như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với huyện tổ chức phục dựng một số lễ hội như: lễ hội mừng cơm mới của dân tộc Si La, La Hủ; Tết Ngô của dân tộc Cống; lễcầu mùa của dân tộc La Hủ... Tuy nhiên, những năm gần đây, do ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và hội nhập quốc tế, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc nói chung và các dân tộc sinh sống tại huyện Mường Tè nói riêng đang đứng trước những thách thức lớn. Một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên, bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng, phim ảnh và những sản phẩm văn hóa không lành mạnh nên rơi vào trạng thái mất phương hướng, không kiểm soát được hành vi, dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật; có lúc có nơi một bộ phận đồng bào còn bị các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền kích động, có những hành vi vi phạm pháp luật. Do đời sống kinh tế khó khăn nên nhiều giá trị văn hóa truyền thống không còn được lưu giữ; lớp trẻ lớn lên không mặn mà với nền văn hóa truyền thống của dân tộc mình; nhiều nghệ nhân tài giỏi chưa kịp truyền dạy vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình cho thế hệ trẻ; vai trò già 15 làng, trưởng bản, các luật tục cộng đồng cũng bị phai mờ trong đời sống sinh hoạt văn hóa của không ít dân tộc, bên cạnh đó một số tập tục lạc hậu vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn. Thực trạng trên đang đặt ra sự cần thiết phải đẩy mạnh việc bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong việc bảo tồn văn hóa các dân tộc. Việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa và văn học, nghệ thuật trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải trở thành nội dung quan trọng của chiến lược phát triển nền kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện. Nếu không đặt đúng vị trí và giải quyết tốt mối quan hệ này thì không thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Để bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; Chỉ thị số 46-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X) về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”; triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát 16 triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” theo Chỉ thị số 194/CT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội các dân tộc đặc biệt khó khăn như Cống, Mảng, La Hủ và các chương trình, đề án, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa của các cấp từ Trung ương đến tỉnh, huyện, huyện Mường Tè cần thực hiện một số giải pháp sau: Một là, cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc xây dựng và phát triển văn hóa; cần phải có sự kế thừa, chọn lọc và phát huy có hiệu quả bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, đấu tranh bài trừ các sản phẩm văn hóa, loại hình văn hóa độc hại, văn hóa lai căng ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Trong đó chú trọng cải tạo các tập quán lạc hậu như: mê tín dị đoan, chi tiêu thiếu kế hoạch, nếp sống không bảo đảm vệ sinh, tập quán thả rông gia súc, tảo hôn, người chết để lâu ngày mới chôn cất... Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao vai trò, ý thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân tham gia vào công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hóa trong cộng đồng các dân tộc. Nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đề cao vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn 17 hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên đầu tư sưu tầm, nhân rộng các phong tục tập quán tốt đẹp. Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, quản lý, bảo đảm mối quan hệ phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa. Ba là, quy hoạch, đầu tư cho các chương trình, dự án, đề án phải luôn gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa ở các cấp, xây dựng các công trình phục vụ cho hoạt động văn hóa cộng đồng. Tổ chức hình thành cụm văn hóa các cấp với các thiết chế văn hóa bảo đảm tạo ra môi trường văn hóa phù hợp với phong tục, tập quán của các dân tộc. Coi trọng việc củng cố và phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa hiện có. Lựa chọn, bố trí những cán bộ có trình độ để quản lý và tổ chức các hoạt động thiết thực, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của đồng bào các dân tộc. Khắc phục khuynh hướng sử dụng các cơ sở văn hóa sai mục đích, coi nhẹ tính phục vụ cộng đồng. Phát huy giá trị các di sản văn hóa bản địa bằng việc sưu tầm, nghiên cứu, phục dựng, bảo tồn di sản, ví như các điệu múa truyền thống của các dân tộc, xây dựng các đội văn nghệ phục vụ các dịp lễ hội. Hỗ trợ các nghệ nhân truyền bá văn hóa dân tộc bản địa như: xây dựng nhà trưng bày, góc trưng bày dân tộc học tại một số nhà văn hóa cộng đồng ở các bản trung tâm các xã. Hằng năm tuyển chọn các nghệ nhân am hiểu văn 18 hóa dân tộc để tập huấn phương pháp truyền dạy các giá trị văn hóa cho lớp kế cận. Bảo đảm hằng năm mỗi bản đều có thể duy trì hoạt động hoặc xây dựng mới các đội văn nghệ. Bốn là, hằng năm cần tổ chức các lễ hội, giao lưu văn hóa, văn nghệ, các hội thi giữa các dân tộc vào các ngày lễ lớn của đất nước, ngày hội đại đoàn kết các dân tộc, ngày tết truyền thống... nhằm tạo sự giao lưu, gắn kết để tăng mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Năm là, tiếp tục đầu tư, hỗ trợ để đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo để có điều kiện khôi phục, duy trì và phát huy những bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Đồng thời cần xây dựng một cơ chế thỏa đáng cho công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số như dân tộc Cống, Mảng, La Hủ, Si La. (Vũ Văn Thống - Dân tộc Kinh Trưởng phòng Dân tộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu) 19 NGƯỜI DAO Ở SÁ NHÈ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Gương cá nhân điển hình: Tẩn Chang Củi Dân tộc: Dao Xã Sá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Vinh dự là đại biểu dự Hội nghị điển hình tiên tiến, anh Tẩn Chang Củi tâm sự: Dân tộc Dao chúng tôi sinh sống tại bản Lịch 1, xã Sá Nhè có 39 hộ với 202 nhân khẩu, trong đó có 30 hộ kinh tế khá và 9 hộ thuộc diện hộ nghèo. Thu nhập hằng năm chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, canh tác ruộng nước và lúa nương, chăn thả gia súc. Ở Sá Nhè, các hộ gia đình thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp vừa trồng trọt vừa chăn nuôi, và kinh doanh ngành nghề phụ. Nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong đổi mới và phát triển đất nước, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước bằng các chương trình, dự án chính sách dân tộc đặc thù đã giúp cho nông dân ở Sá Nhè phấn khởi, yên tâm gắn bó với ruộng đất, chủ động đầu tư vốn để 20 thâm canh tăng vụ, kinh tế ngày một ổn định. Anh Tẩn Chang Củi cho biết: Tổng thu nhập của gia đình khoảng 100 triệu đồng gồm: thu từ nuôi cá ao 30 triệu đồng; thu từ chăn lợn, gà, vịt 10 triệu đồng; thu từ trồng trọt 30 triệu đồng; thu từ làm giấy cúng và các nguồn thu khác là 30 triệu đồng. Không chỉ làm kinh tế để thoát nghèo, bản thân anh Tẩn Chang Củi còn tích cực tham gia công tác ở thôn bản, cùng các đoàn thể chăm lo, giúp đỡ các gia đình khó khăn hơn. Hướng dẫn các hộ làm kinh tế gia đình như chăn nuôi, trồng lúa nương, lúa nước, giúp đỡ về vốn và tư vấn kỹ thuật. Thời gian qua, anh đã vận động được 5 hộ đào ao thả cá và nuôi lợn để phát triển kinh tế, mỗi năm thu nhập bình quân được 10 đến 15 triệu đồng/hộ. Ở Sá Nhè, nhiều hộ khác đang học tập cách làm của anh để vươn lên xây dựng cuộc sống khấm khá, tốt đẹp hơn. Cùng với hướng dẫn các hộ trong thôn làm kinh tế, anh còn vận động các cháu thanh niên chăm chỉ học hành, không mắc các tệ nạn như hút thuốc phiện, trộm cắp, cờ bạc. Phong trào nông dân thi đua sản xuất giỏi đã tạo cho nhân dân có bước nhận thức đúng và nhạy cảm với cơ chế thị trường; thực sự thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, từng bước khai thác có hiệu quả các tiềm năng, góp phần vào phát triển kinh tế - văn hóa trên địa bàn nông thôn của tỉnh Điện Biên. Và, anh Tẩn Chang Củi là một trong số những gương nông dân tiêu biểu đó. 21 NẬM PỒ VỚI CÔNG TÁC GIỮ GÌN AN NINH VÀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI Huyện Nậm Pồ là một huyện miền núi vùng cao biên giới của tỉnh Điện Biên, có tổng diện tích tự nhiên là 149.812,96 hecta, chủ yếu là đất đồi, núi; có đường biên giới Việt - Lào dài 119,7km. Huyện gồm 15 xã, trong đó có 8 xã (33 bản) giáp biên giới; 14 xã thuộc khu vực III, 1 xã thuộc khu vực II. Toàn huyện có 127 bản, 7.919 hộ với 43.640 nhân khẩu thuộc 8 dân tộc anh em cư trú, với hơn 95% cư dân là đồng bào dân tộc thiểu số trong đó dân tộc Khơ Mú chiếm 1,58% với hơn 690 nhân khẩu sống rải rác ở các xã Nậm Khăn, Nà Hỳ, Nậm Chua. Công tác giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Do đó muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này điều cốt lõi là phải xây dựng được thế trận toàn dân, huy động sức mạnh tổng hợp của quần chúng tham gia công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Nhận thức đúng đắn vấn đề đó nên trong những 22 năm qua, đồng bào Nậm Pồ đã phối hợp chặt chẽ với các dân tộc khác trên địa bàn huyện tổ chức triển khai đồng bộ các biện pháp công tác giữ gìn bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, phối kết hợp chặt chẽ với việc tham gia xóa đói giảm nghèo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng gia đình văn hóa, bản văn hóa, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang và lễ hội... Trong những năm qua đồng bào ở Nậm Pồ luôn xác định: Công tác phối hợp cùng với các dân tộc khác và các lực lượng chức năng đứng chân trên địa bàn huyện giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, và đã được cụ thể hóa như sau: Thứ nhất: Xây dựng nội quy hương ước giữa đồng bào dân tộc Khơ Mú với các dân tộc khác trong địa bàn, trong đó xác định rõ nội dung phối hợp cần tập trung triển khai và tổ chức thực hiện. Thứ hai: Tích cực thực hiện, giáo dục quần chúng nhân dân nắm vững những nội dung cơ bản của phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc” để thấy được tầm quan trọng của việc giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội là trách nhiệm của mọi người dân chứ không riêng gì của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Thứ ba: Tích cực đấu tranh, phòng chống, tố giác các loại tội phạm, cụ thể đã cung cấp nhiều tin cho các lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn, 23 trong đó có nhiều tin có giá trị; vận động quần chúng nhân dân tham gia phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”, giữ gìn an ninh trật tự bản, khu vực; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân và trận địa biên phòng toàn dân vững mạnh. Thứ tư: Xác định tinh thần, nêu cao cảnh giác cách mạng, không nghe, không tin những luận điệu tuyên truyền xấu của kẻ địch và các phần tử bất mãn, tiêu cực; phổ biến cho quần chúng nhân dân, nhất là các trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư nắm được âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của kẻ địch và các loại đối tượng; sẵn sàng phối hợp cùng lực lượng chức năng, bộ đội biên phòng giải quyết các tình huống xảy ra trên địa bàn. Xây dựng phong trào toàn dân tham gia bảo vệ giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội cùng với các ngành chức năng kết hợp các biện pháp công tác khác đã góp phần giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, huy động được sức mạnh tổng hợp vào bảo vệ vững chắc an ninh khu vực, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Nậm Pồ. Đây là cách làm hay, sáng tạo và hiệu quả. (Lý Thị Rơi - Dân tộc Khơ Mú Đại diện xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên) 24 LÀM GIÀU TỪ NUÔI TRỒNG, ĐÁNH BẮT, THU MUA HẢI SẢN Gương cá nhân điển hình: Đinh Văn Lưng Dân tộc: Mường Bản Khảo 2, xã Tường Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Trước đây gia đình ông Đinh Văn Lưng, bản Khảo 2, xã Tường Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La còn rất nhiều khó khăn, phương thức sản xuất chưa ổn định, thiếu vốn làm ăn, đời sống sinh hoạt hằng ngày chỉ dựa vào thu nhập từ cây trồng trên nương, canh tác trên đất dốc, phụ thuộc vào thiên nhiên là chính nên thu nhập không tương xứng so với công sức bỏ ra. Năm 2012, là trụ cột của gia đình, ông Lưng suy nghĩ không biết làm cái gì mới có cái ăn. Sau khi bàn bạc trong gia đình và cuối cùng gia đình ông quyết định đầu tư 6 triệu đồng, trong đó mua 1.500 trúm đánh bắt tôm hết 5 triệu đồng, còn 1 triệu đồng chi mua vật liệu làm một chiếc thuyền xi măng chở được 2 người. Sau 3 tháng phân công 25 nhau mỗi người một việc, thức khuya dậy sớm, gia đình ông có thu nhập 15 triệu đồng (đã trừ số tiền gốc). Với thu nhập đó, trừ chi phí sinh hoạt hằng ngày hết 5 triệu đồng, còn 10 triệu đồng cộng với vay thêm Ngân hàng Chính sách xã hội 20 triệu đồng, gia đình ông tiếp tục đầu tư mua một chiếc thuyền sắt 30 triệu đồng để vừa đánh bắt tôm vừa thu mua gom tôm từ các vó bè của bà con đánh tôm cá xung quanh, đồng thời, ông liên hệ với chủ mua tôm từ dưới xuôi nhập bán theo giá thị trường. Mỗi tháng cả 2 lao động chính trong gia đình vừa đánh bắt tôm cá vừa thu mua thủy sản, thu được từ 10 - 15 triệu đồng. Năm 2013, được sự quan tâm hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, sau khi bàn bạc với các thành viên trong gia đình, ông Lưng lại quyết định đầu tư nuôi cá lồng và làm vó kéo tay tận dụng tôm tép làm thức ăn cho cá nuôi lồng. Từ năm 2013 trở về đây, thu nhập mỗi năm của gia đình ông sau khi trừ chi phí còn: thu từ trồng trọt mỗi năm 12.000.000 đồng; thu từ chăn nuôi gia súc 18.000.000 đồng; thu từ đánh bắt, thu mua tôm 148.000.000 đồng. Trong hai năm (2012-2013), gia đình ông Lưng đã trả hết nợ đầu tư vào sản xuất và xây dựng được một nhà sàn 3 gian bằng gỗ trị giá trên 200 triệu đồng. Hiện nay công việc đã tạm ổn định, gia 26 đình đã quen với phương thức đầu tư làm ăn trên sông nước, tháo gỡ được những khó khăn tồn tại, cuộc sống ngày càng đổi thay, đồng thời có điều kiện để giúp đỡ bà con trong bản, trong xã. Từ nguồn thu nhập trên, mỗi năm gia đình ông Lưng đã hỗ trợ và giúp đỡ 20 hộ gia đình bà con xung quanh thông qua việc cho vay bằng tiền mặt không tính lãi và giúp mua trúm để họ đánh bắt thủy sản và phát triển sản xuất khác. Ngoài ra, gia đình ông còn mua 2 vó kéo tay cho 2 hộ đánh bắt thủy sản (sản phẩm thu được bán lại cho gia đình ông Lưng) và mở thêm ngành nghề vừa đánh bắt tôm, cá vừa nuôi trồng thủy sản tạo việc làm và tăng thu nhập cho 20 lao động trên địa bàn xã. Là Bí thư chi bộ bản Khảo 2 thuộc Đảng bộ xã Tường Hạ, ông Lưng có điều kiện và thời gian tuyên truyền kinh nghiệm sản xuất chăn nuôi gia súc, gia cầm và đánh bắt thủy sản cho bà con để nhân ra diện rộng trên địa bàn: cần thường xuyên nắm bắt tình hình diễn biến của thời tiết xảy ra và mùa vụ nước có thể dâng lên, rút xuống thất thường; phương tiện đi sông nước và các dụng cụ phải bảo đảm đủ an toàn; trong đánh bắt, nuôi trồng thủy sản phải nghiêm túc tuân thủ các quy định của Nhà nước, lao động có tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi lúc, mọi nơi để tạo thành sức mạnh, không ép giá, tranh mua, 27 tranh bán; người lao động phải được trang bị kiến thức và công nghệ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, cần nắm vững thông tin thị trường, không chạy theo phong trào. Trong thời gian tới, với kinh nghiệm trên, gia đình ông Lưng tiếp tục đầu tư phát triển thêm số lồng nuôi cá, đa dạng chủng loại giống cá nuôi thương phẩm phù hợp với thị trường. Đầu tư hỗ trợ thêm cho nhiều hộ gia đình trong việc tham gia đánh bắt tôm, cá để có sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của khách hàng. Ngoài ra, ông còn tận dụng tối đa số diện tích ruộng của gia đình; đẩy mạnh việc phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Sau nhiều năm chăm chỉ, nỗ lực học hỏi, giúp đỡ, vận động bà con, ông Đinh Văn Lưng đã giúp nhân dân phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, ổn định trong việc tiêu thụ sản phẩm và trở thành ngành sản xuất chính ở bản Khảo 2, xã Tường Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. 28 “PHẢI LÀM GƯƠNG ĐỂ QUẦN CHÚNG NOI THEO” Gương cá nhân điển hình: Bùi Văn Nay Dân tộc: Mường Xóm Vó Trên, xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Xóm Vó Trên thuộc xã miền núi Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, có 195 hộ, 795 nhân khẩu, là xóm có đông đồng bào Mường (97% dân số của xóm). Người Vó Trên có truyền thống yêu nước, hiếu học, trung thành với Đảng, tin tưởng ở chính quyền, cần cù trong lao động, đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đó là sức mạnh tổng hợp giúp cho xóm phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, các chính sách an sinh xã hội được triển khai tích cực và có hiệu quả. Thời gian qua, bộ mặt của xóm đã thay đổi rõ rệt: chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và kế hoạch hóa gia đình có nhiều tiến bộ. Liên tục 15 năm trong xóm không có trường hợp sinh con thứ ba. Đời sống nhân dân 29 được cải thiện đáng kể, bà con được hưởng lợi từ nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo nên đời sống được nâng cao. Với cương vị vừa là bí thư chi bộ vừa là trưởng xóm và là người có uy tín của địa phương, nhận thấy vai trò và trách nhiệm của mình rất lớn, ông Bùi Văn Nay đã tích cực giáo dục con cháu, vận động bà con trong xóm giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống, hòa giải các vụ việc mâu thuẫn trong xóm, thực hiện tốt nội quy, quy ước thôn xóm; tích cực tuyên truyền vận động nhân dân đoàn kết, tham gia các phong trào do Nhà nước, chính quyền địa phương đề ra...; nghiêm túc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát triển kinh tế thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, xây dựng nếp sống văn hóa. Bước đầu, bộ mặt thôn xóm đã có nhiều biến chuyển: việc cưới, việc tang được tổ chức gọn nhẹ, người ốm được đưa đến cơ sở y tế khám chữa bệnh; trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường; trong xóm không có người mắc các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, không buôn bán, không tàng trữ, không sử dụng vũ khí, vật liệu nổ... Ông nắm bắt tâm tư tình cảm và những yêu cầu chính đáng của nhân dân, kịp thời báo cáo cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc xem xét 30 giải quyết, đồng thời đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của địa phương đến với nhân dân để mọi người cùng thực hiện. Với uy tín của mình, miệng nói tay làm nên ông luôn nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân bằng các việc cụ thể: đóng góp ngày công lao động được 3,5km đường giao thông nông thôn, nâng cấp kiên cố hóa được 3km kênh mương; đóng góp xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng diện tích sử dụng 90m2 trị giá 170 triệu đồng, sân và công trình phụ trong khuôn viên nhà sinh hoạt cộng đồng được xây dựng khang trang sạch sẽ; hằng năm các hộ gia đình trong xóm thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước cũng như của địa phương đạt 100%; tích cực tham gia các cuộc vận động như cuộc vận động Ngày vì người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ nạn nhân chất độc màu da cam, quỹ ủng hộ xây dựng nhà bia tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ... Cùng với những việc làm đó, ông Bùi Văn Nay còn rất tích cực tuyên truyền để bà con hiểu và không tin, không nghe theo lời kẻ xấu xúi giục; hòa giải các mâu thuẫn trong nhân dân, thực hiện “lá lành đùm lá rách”, làng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, tích cực lao động sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự thôn xóm. Xác định người có uy tín phải làm trước để quần chúng noi theo, ông và gia đình rất tích cực 31 trong việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà trọng tâm là chính sách dân tộc và tôn giáo, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật hôn nhân và gia đình. Vận động nhân dân thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền địa phương, góp phần cùng với Đảng bộ và nhân dân xã Nhân Nghĩa về đích nông thôn mới trong năm 2015. 32 NGƯỜI SẢN XUẤT GIỎI XÓM LŨNG VÀI Gương cá nhân điển hình: Hoàng Văn Dính Dân tộc: Tày Bí thư Chi bộ thôn Lũng Vài, xã Cần Nông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng Trước đây, gia đình ông Hoàng Văn Dính cũng như nhiều gia đình khác trong xóm, sản xuất không đủ ăn, luôn thiếu ăn trong thời gian giáp hạt, con cái không được ăn no, mặc đẹp để đến trường. Đến năm 2015, về chăn nuôi, gia đình ông Dính có 30 con bò, 40 con dê, 12 con lợn thịt và 2 con lợn nái, hơn 200 con gà. Hằng năm thu nhập bình quân đạt trên 100 triệu đồng. Trồng cây lương thực đã đáp ứng được nhu cầu của gia đình và chăn nuôi, có năm còn dư bán ra thị trường. Qua sự nỗ lực và phấn đấu của gia đình trong xây dựng và phát triển kinh tế, ông Dính đã không ngừng vận động bà con trong xóm cũng như các xóm khác cùng áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất như đưa giống ngô có năng suất cao 33 vào trồng đúng kỹ thuật; truyền đạt những kinh nghiệm sản xuất cho mọi người cùng học hỏi và làm theo; đồng thời cho những hộ gặp khó khăn vay không lấy lãi để phát triển kinh tế. Hiện nay, xóm có đàn dê trên 160 con, có hộ có trên 30 con bò, ngoài ra còn chăn nuôi lợn và gia cầm. Bên cạnh đó, với cương vị là bí thư chi bộ và là người uy tín trong xóm, ông Dính luôn phát huy vai trò, chức trách nhiệm vụ được giao, thường xuyên tham mưu cho chi bộ và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo đảng viên, nhân dân trong xóm trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, giữ gìn an ninh, trật tự ở thôn xóm. Với tinh thần trách nhiệm cao, ông Dính đã chủ động bàn bạc, thống nhất kiện toàn ban dân cư, các đoàn thể xóm đi vào hoạt động có hiệu quả, tổ chức triển khai tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Đồng thời ông tích cực vận động bà con đóng góp các khoản quỹ đầy đủ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, thực hiện đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua vận động, tuyên truyền, trong năm 2013, 90% hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, xóm đạt làng văn hóa bảo đảm cho việc dạy và học, con em đến trường đầy đủ. Trong xóm, công tác chăm sóc sức khỏe luôn được bảo đảm, người bị ốm đau đều được vận động đưa đến 34 trạm y tế để khám chữa kịp thời, không chữa bệnh bằng các hình thức mê tín dị đoan; không ai mắc vào các tệ nạn xã hội; không nghe theo kẻ xấu tuyên truyền xúi giục, kích động, chia rẽ mất đoàn kết, không có hộ đi theo đạo trái pháp luật; làm tốt công tác hòa giải, việc sinh con thứ 3 đã giảm hẳn. Tình hình an ninh trong xóm luôn được bảo đảm và giữ vững. Với những thành tích đạt được trong các mặt công tác tại xóm Lũng Vài, xã Cần Nông, huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng, ông Hoàng Văn Dính vinh dự là điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2011-2015. 35 BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU ĐỂ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Sa Pa từng được biết đến là địa danh của các loại dược liệu quý như giảo cổ lam, đương quy, atisô, đỗ trọng, tam thất... Tả Phìn là một xã có điều kiện về khí hậu và thổ nhưỡng để phát triển cây dược liệu. Phát triển cây dược liệu được coi là một trong bốn sản phẩm mũi nhọn của ngành nông nghiệp Sa Pa, cây dược liệu đã và đang mang lại thu nhập cao cho người dân địa phương. Nhờ điều kiện đất đai, khí hậu, nhiệt độ thuận lợi, nên một số tiểu vùng của Sa Pa tập trung nhiều loài dược liệu quý (khoảng hơn 100 loài), như các loài thuộc họ thông, ngũ bì, mao lương, bạc hà... Bên cạnh đó, dân tộc Dao tại Sa Pa còn lưu giữ nhiều phương thuốc bí truyền liên quan đến sự kết hợp giữa các loài thảo dược như: tùng de, tơ biệt, ngùng uân, zchu tay, đia búa, phiu hỏa, zche gay xiết, đia rản, dằng nai, ma gay khăng và nhiều loài cây khác. Năm 2006, được sự giúp đỡ của Đại học Dược và Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Lý Láo Lở cùng 36 một số bà con ở trong xã đứng ra thành lập công ty với mục đích: tổ chức dịch vụ tắm lá thuốc tại chỗ cho du khách; sản xuất các sản phẩm thuốc tắm bán tại chỗ và bán ra thị trường; triển khai các hoạt động trồng và bảo tồn cây thuốc tắm. Ngày đầu thành lập công ty với số vốn ít ỏi (nguồn hỗ trợ của Đại học Dược 60 triệu đồng) và không có kinh nghiệm trong quá trình sản xuất và kinh doanh nên trong giai đoạn 2007-2009 công ty gần như làm ăn không có lãi. Lý Láo Lở suy nghĩ mình cần phải nghiên cứu sách vở, tài liệu và tìm đến các đơn vị kinh doanh để học hỏi và quảng bá, giới thiệu sản phẩm là vô cùng quan trọng. Bằng cách làm và hướng đi phù hợp, sản phẩm thuốc tắm của công ty hiện nay được tiêu thụ rộng khắp cả nước nhưng chủ yếu là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, bình quân khoảng 7.000 lít/năm. Doanh thu đến năm 2014 đạt 4,1 tỷ đồng. Hiện nay, những bài thuốc này đang đem lại lợi ích kinh tế lớn cho những người sở hữu. Người dân bản địa với bài thuốc gia truyền từ đời này qua đời khác đã biết kết hợp thành những gói thuốc bán cho khách du lịch. Thuốc tắm của người Dao Đỏ là minh chứng rõ nhất về điều này, không chỉ nổi tiếng trong nước mà cả với khách nước ngoài. Ngoài ra, người dân bản địa cũng vào rừng khai thác các loại dược liệu tự nhiên về bán trực tiếp cho khách du lịch và các hiệu thuốc nam đem lại nguồn thu đáng kể. 37 Tuy nhiên, khai thác hợp lý đi đôi với bảo tồn các loài dược liệu tự nhiên đang là vấn đề đặt ra đối với phát triển cây dược liệu tại Sa Pa nói chung cũng như ở Tả Phìn nói riêng. Việc người dân khai thác cây dược liệu tràn lan, theo kiểu “tận thu” trong khi địa phương chưa có kế hoạch bền vững nhằm bảo tồn và phát triển diện tích cây dược liệu tự nhiên đã đẩy cây dược liệu đến bờ vực cạn kiệt. Dự báo được điều này, trước đây, những người đầu ngành y, dược Việt Nam đã nghiên cứu nhằm bảo tồn các loài dược liệu quý tại Sa Pa, theo đó đã có 5 hecta cây dược liệu quý được bảo vệ nghiêm ngặt. Song, hiện nay tại địa phương không có công trình bảo vệ nào tương tự. Cây dược liệu đang góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương, nhưng để giảm nghèo đói thực sự bền vững cần có kế hoạch bảo tồn, phát triển cây dược liệu một cách khoa học, trong đó phần nhiều phụ thuộc vào ý thức của chính những người đang khai thác dược liệu. Để tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát triển các loại cây dược liệu quý trong thời gian tới cần áp dụng một số giải pháp sau đây: Một là, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo tồn các loại cây dược liệu quý. Xây dựng đề cương, biên soạn sổ tay về cây thuốc để mọi người dân có thể hiểu được những giá trị của cây thuốc. Hai là, khuyến khích người dân không nên chỉ đi khai thác cây thuốc tự nhiên để bán mà hãy đưa cây thuốc vào trồng, canh tác. 38 Ba là, hợp tác kinh doanh giữa các công ty dược liệu với các hộ gia đình trồng cây thuốc sẽ tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm từ cây thuốc, tạo ra công ăn việc làm ổn định cho những người tham gia lao động trực tiếp. Hiện nay, công nhân tại Công ty cổ phần kinh doanh các sản phẩm bản địa xã Tả Phìn có thu nhập ổn định từ 3-5 triệu đồng/tháng và tăng thêm thu nhập cho hộ cổ đông cung cấp nguyên liệu khoảng 10 triệu đồng/hộ/năm. Công ty còn giúp 99 hộ cổ đông bảo vệ và chăm sóc 82 khu rừng, phối hợp với ban quản lý dự án ODA huyện Sa Pa liên kết với 5 xã, chia ra 8 nhóm gồm 211 hộ về phát triển thuốc tắm và chế biến tinh dầu tạo liên kết vùng nguyên liệu bền vững cho công ty, từ đó nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo bền vững và vươn lên trở thành hộ khá, giàu ở địa phương. Để nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo tồn và phát triển cây dược liệu, Nhà nước cần đề ra các giải pháp hỗ trợ như sau: - Có chính sách bảo tồn những loài cây thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng, các loại cây quý hiếm; không bảo tồn tràn lan các loài cây đã bị thoái hóa về nguồn gen. Công việc này cần được kết hợp chặt chẽ với công tác quản lý và khai thác các nguồn dược liệu. Việc khai thác dược liệu có chọn lọc, có giới hạn trong toàn vùng sẽ tạo ra môi trường phát triển ổn định, 39 bảo đảm sự hài hòa giữa vấn đề khai thác, bảo tồn cây thuốc với phát triển kinh tế. - Hỗ trợ các mô hình mang tính chất bảo tồn và phát triển những nghề như mây tre đan, thổ cẩm, thuốc tắm... giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa có điều kiện được góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Được thiên nhiên ưu đãi là vùng có nhiều cây dược liệu quý hiếm, Sa Pa sẽ càng phải nâng cao hơn nữa ý thức khai thác và bảo tồn tài nguyên này tới mọi người dân ở địa phương và toàn xã hội. (Lý Láo Lở - Dân tộc Dao Giám đốc Công ty cổ phần kinh doanh các sản phẩm bản địa xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) 40 GƯƠNG ĐỒNG BÀO CAO LAN LÀM KINH TẾ GIỎI Gương cá nhân điển hình: Lê Thị Thơm Dân tộc: Cao Lan Thôn Khuôn Đát, xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Gia đình chị Lê Thị Thơm ở Thôn Khuôn Đát, xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ hoàn cảnh gia đình khó khăn nghèo túng đến nay gia đình chị đã ổn định cuộc sống, thoát được nghèo. Với 8.380m2 đất sản xuất, trong đó diện tích trồng lúa nước 2 vụ là 2.880m2, đất đồi rừng và trồng cây ngắn ngày là 5.500m2, trong những năm gần đây do gia đình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất lúa đã đạt được 110 tạ/hecta/năm. Đất đồi ngoài diện tích trồng cây lâu năm, gia đình chị trồng sắn, mỗi năm thu lãi 12 triệu đồng; sản xuất thu được lúa, ngô mỗi năm lãi 36 triệu đồng. 41 Kết hợp sản xuất nông nghiệp, gia đình chị đã chủ động mua sắm máy nghiền, xay xát vừa phục vụ nhân dân thôn xóm vừa phục vụ việc chế biến thức ăn chăn nuôi gia đình, thu nhập từ dịch vụ này mỗi năm từ 7 - 10 triệu đồng. Ngoài ra, gia đình chị còn kinh doanh tạp hóa đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho bà con trong thôn xóm. Phần lương thực còn dư thừa gia đình chị chuyển sang phát triển chăn nuôi. Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, quy hoạch 200m2 chuồng trại nuôi, bố trí các ô chuồng trại khoa học, thường xuyên tiêu độc khử trùng đúng quy định nên rủi ro thấp. Mỗi năm nuôi 3 lứa, mỗi lứa nuôi 40 - 50 con lợn thịt và 3 lợn nái sinh sản cho xuất chuồng 10 - 12 tấn lợn hơi đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ cách làm trên, gia đình chị đã thoát được nghèo. Đến nay trong nhà chị đã có tương đối đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, xây dựng được nhà ở kiên cố, ổn định, con cái được đầu tư ăn học. Không chỉ làm kinh tế gia đình, với trách nhiệm Phó Chi hội Phụ nữ thôn, chị còn tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn cho một số hộ trong thôn kết hợp sản xuất, dịch vụ, chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình. Nhờ có đất sản xuất, mở rộng thêm dịch vụ xác định lấy ngắn nuôi dài, tiết kiệm chi tiêu, đầu tư cho chăn nuôi là nguồn thu nhập chính hằng năm của gia đình chị. Thu nhập bình quân trong 5 năm 42 từ năm 2011 đến năm 2015 là 250 triệu đồng/năm. Lợi nhuận mỗi năm là 138 triệu đồng. Chị Thơm chia sẻ: Tới đây gia đình chị sẽ tiếp tục mở rộng chuồng trại để nuôi thêm lợn nái sinh sản, tự túc giống và cung cấp giống lợn cho dân bản. Duy trì mỗi lứa nuôi từ 30 con lợn thịt. Đầu tư thâm canh diện tích lúa nước, đất đồi nhằm ổn định lương thực, dự trữ thức ăn chăn nuôi, lấy ngắn nuôi dài. Kết hợp làm dịch vụ phục vụ bà con trong thôn. Phấn đấu doanh thu mỗi năm 300 triệu đồng, lợi nhuận tăng lên 180 triệu đồng/năm. Bản thân là Chi hội phó Hội Phụ nữ thôn, chị luôn tích cực tham gia công tác của hội, tuyên truyền, vận động chị em thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, đoàn kết nơi cư trú, tích cực tham gia các hoạt động phong trào của hội. Chị và gia đình luôn gương mẫu chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lối sống lành mạnh giản dị, trung thực, hòa mình với mọi người, tích cực hoạt động cùng thôn, bản thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Với những thành tích đã đạt được, chị đã nhận được nhiều giấy khen, bằng khen của Hội Phụ nữ xã, huyện, Ủy ban nhân dân xã vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất, phát huy, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc. 43 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở THƯỢNG LONG Thượng Long là xã miền núi của huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 2.853 hecta, dân số 5.839 người với ba dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Mường chiếm 70%, dân tộc Dao chiếm 16%, dân tộc Kinh chiếm 14%. Nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác thi đua yêu nước, công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua ở Thượng Long rất được chú trọng, góp phần phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ sở. Nội dung và hình thức hoạt động của phong trào thi đua yêu nước ở Thượng Long rất đa dạng, phong phú, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể với các tổ dân cư đã đem lại hiệu quả thiết thực thu hút đông đảo mọi tầng lớp, mọi tổ chức tham gia tích cực như các phong trào “Mừng Đảng, mừng xuân ra quân quyết thắng”, động viên tân binh lên đường, phát huy truyền 44 thống tiếp bước cha anh xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, gắn với các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng gia đình văn minh, hạnh phúc; xây dựng và bảo vệ an ninh Tổ quốc; phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo, xóa đói giảm nghèo” gắn với phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, thanh niên xung kích, thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ sáng tạo... Thời gian qua, Hội đồng Thi đua, khen thưởng của xã đã phối hợp tốt với các ngành, đoàn thể trong xã làm tốt chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân triển khai các cuộc vận động. Do vậy công tác thi đua đã có sự đổi mới về nội dung và hình thức hoạt động, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Là xã miền núi, tình hình kinh tế tuy đã có bước phát triển khá, song xã Thượng Long vẫn là một xã nghèo, đời sống của một bộ phận nhân dân ở các thôn còn gặp nhiều khó khăn do trình độ dân trí không đồng đều, kết cấu hạ tầng còn thấp, tình hình an ninh chính trị còn diễn biến phức tạp, các tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, những nhân tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị vẫn tồn tại, đặc biệt là vấn đề dân tộc, tôn giáo và an ninh nông thôn. Để thực hiện tốt chính sách dân tộc, 45 tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong 5 năm qua (2011-2015) Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã thường xuyên chỉ đạo lực lượng dân quân, công an xã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể và các lực lượng trên địa bàn thực hiện tốt công tác dân vận, tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện. Thông qua các hoạt động đã góp phần động viên nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội nhất là địa bàn các thôn trọng điểm với các giải pháp: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hai là, tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở địa phương trong sạch, vững mạnh, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân, trước hết là các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ba là, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh. Bốn là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang địa phương. Đây là giải pháp cơ bản, rất quan trọng, đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng công an, 46 dân quân địa phương thường xuyên tiến hành tốt công tác dân vận, đoàn kết gắn bó chặt chẽ “quân với dân một ý chí”, tích cực giúp dân phát triển sản xuất, kinh doanh, khắc phục giải quyết thiên tai, thảm họa. Đó là những việc làm thiết thực nhất để xây dựng mối quan hệ máu thịt với nhân dân, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của lực lượng vũ trang để xử lý kịp thời có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh trong thời bình, đồng thời làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trong tổ chức vận hành có hiệu quả cơ chế: Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, an ninh tại địa phương. (Triệu Văn Tiên - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thượng Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ) 47 CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG ĐỂ THOÁT NGHÈO Gương cá nhân điển hình: Ma Hoa Tàm Dân tộc: Tày Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Phong trào trồng cam trên đất Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có từ những năm 1990, với con số ban đầu khoảng 10 hộ trồng thử nghiệm. Cây cam được trồng trên những sườn đồi cheo leo nhưng cho trái ngọt, so với canh tác lúa nương, trồng sắn, ngô... thì trồng cam đem lại giá trị kinh tế cao hơn hẳn. Nhận thấy đây là cây trồng chủ lực, hứa hẹn sẽ đem lại sự đổi thay cho diện mạo kinh tế của địa phương, cải thiện đời sống cho bà con vươn lên làm giàu, ông Ma Hoa Tàm đã cùng cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể xã tích cực vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt tập trung vào phát triển cây cam sành. Đến nay xã Phù Lưu đã có hơn 1.000 hộ trồng cam, với diện 48 tích trên 1.600 hecta, sản lượng trung bình hằng năm đạt 15.700 tấn. Năm 2013, tổng thu nhập từ cam của xã đạt gần 1.100 tỷ đồng, nhiều hộ thu nhập ngưỡng 1 - 2 tỷ đồng/năm. Nhiều hộ gia đình thoát nghèo, vươn lên làm giàu từ cây cam như các hộ gia đình ông Hoàng Văn Việt (dân tộc Tày), ông Ma Văn Hải (dân tộc Tày), ông Ma Văn Tài (dân tộc Tày) cùng trú tại thôn Mường; ông Triệu Văn Cầu (dân tộc Dao) cư trú tại thôn Táu... Những ngôi nhà tranh tre ở Phù Lưu nay đã dần được thay thế bằng ngôi nhà tầng kiểu dáng hiện đại, tiện nghi trong nhà cũng đầy đủ hơn, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, thụ hưởng cuộc sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo từ đầu năm 2011 là 39,9% đến năm 2015 đã giảm xuống còn 18,45%. Những kết quả đạt được như trên đã phản ánh được sự quyết tâm, nỗ lực không ngừng của Đảng ủy, chính quyền cùng toàn bộ đồng bào trên địa bàn xã trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo của địa phương. Khi cam sành Hàm Yên liên tiếp được bình chọn trong Top 50 trái cây nổi tiếng nhất Việt Nam, rồi Top 10 thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam, ông Ma Hoa Tàm càng thêm trăn trở làm thế nào để giữ vững thương hiệu cam sành - cây trồng chủ lực của xã? Làm thế nào hạn chế thấp nhất rủi ro cho người trồng cam khi thời tiết mưa ẩm kéo dài làm rụng và thối quả? Làm thế 49 nào giảm được chi phí vận chuyển cam do đường giao thông đi lại khó khăn?... Từ thực tiễn những vấn đề đặt ra, ông đã chỉ đạo chính quyền đẩy mạnh công tác vận động nhân dân sản xuất cam theo hướng an toàn, phun thuốc bảo vệ thực vật theo đúng hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, sản xuất cam theo tiêu chuẩn VietGAP. Phân công cán bộ xã phụ trách theo dõi và thực hiện việc trồng thử nghiệm để khuyến khích nhân dân. Tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng giống được sản xuất tại cơ sở nhân giống cam sạch bệnh của Trung tâm cây ăn quả huyện, hạn chế việc sử dụng cành chiết làm ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng sản phẩm; xây dựng vườn cam theo hướng thâm canh hàng hóa, khuyến khích nhân dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng, chăm sóc, bảo quản cam nhằm tạo ra sản phẩm cam có chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần phát triển thương hiệu cam sành Hàm Yên. Vận động nhân dân đóng góp tu sửa đường giao thông tạo điều kiện cho nhân dân đi lại thuận tiện và giúp cho việc vận chuyển, tiêu thụ cam được nhanh chóng, thuận lợi hơn. Ông Ma Hoa Tàm tâm sự: Trong giai đoạn tiếp theo, Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã xác định rõ nhiệm vụ tiếp tục lãnh đạo xã thực hiện tốt các 50 chủ trương của Trung ương, của tỉnh, của huyện về phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt quan tâm vận động nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, trong đó phát huy và duy trì tốt thương hiệu cây cam sành trên địa bàn xã. Hiện nay, qua rà soát, diện tích đất có khả năng chuyển đổi sang trồng mới cam trên địa bàn xã giai đoạn 2015-2020 là 246,9 hecta. Tiếp tục vận động nhân dân sử dụng giống cam sạch bệnh được sản xuất tại cơ sở nhân giống của Trung tâm cây ăn quả huyện; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng, chăm sóc, bảo quản cam nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả tiêu thụ, góp phần nâng cao thương hiệu cam sành Hàm Yên. Ông còn phối hợp với các tổ chức đoàn thể, tạo điều kiện cho nhân dân được tiếp cận với nguồn vốn vay lãi suất thấp để đầu tư trồng, chăm sóc cam; tiếp tục vận động nhân dân tu sửa đường giao thông thôn, bảo đảm thuận tiện cho bà con đi lại và tiêu thụ cam vào mùa thu hoạch. 51 GƯƠNG NGƯỜI CÓ UY TÍN TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO Ở NA RÌ, BẮC KẠN Gương cá nhân điển hình: Dương Văn Sơn Dân tộc: Mông Thôn Khuổi Nộc, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Thôn Khuổi Nộc, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là một thôn vùng sâu, vùng xa nằm ở phía tây bắc của huyện, thôn có 136 hộ với 637 nhân khẩu, trong đó dân tộc Dao có 3 hộ, 133 hộ đồng bào dân tộc Mông, tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 70% trở lên, dân cư sinh sống rải rác trên 7 chòm, bản. Ông Dương Văn Sơn là người dân tộc Mông sinh sống ở đây. Ông tâm sự: Khi được bà con tín nhiệm bầu là người có uy tín của thôn bản, tôi nhận thấy người có uy tín có vai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng; có sự ảnh hưởng trực tiếp hằng ngày với cộng đồng; có kinh nghiệm, uy tín, bản lĩnh và sức thuyết phục; có 52 khả năng tác động, tập hợp đồng bào để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động đồng bào thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phát động; tham gia đóng góp ý kiến vào các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn đang sinh sống; hướng dẫn đồng bào lao động sản xuất, ổn định cuộc sống, xây dựng thôn, làng văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương, tham gia hòa giải những vụ việc mâu thuẫn nảy sinh trong các gia đình, dòng tộc, giáo dục đạo đức và truyền thống tốt đẹp cho các thế hệ con cháu; thường xuyên phối hợp cùng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể vận động đồng bào thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu đi đầu trong các phong trào, các cuộc vận động, trong phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, được cộng đồng hưởng ứng tin theo. Với vai trò là người có uy tín, là một bí thư chi bộ thôn từ năm 2011 đến năm 2015, ông Dương Văn Sơn luôn sát cánh cùng các đồng chí đảng viên trong chi bộ và các đoàn thể, chính quyền trong thôn thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ xã; tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân thực 53 hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi người dân cùng hiểu và cùng thực hiện. Do đó nhân dân trong thôn luôn ổn định tư tưởng, hăng hái thi đua phát triển sản xuất, hằng năm đạt chỉ tiêu kế hoạch giao. Ông đã vận động các hộ và các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ thực hiện sinh từ 1 đến 2 con để nuôi dạy cho tốt, đồng thời đi học tập kinh nghiệm về ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, tuyên truyền cho người dân trong thôn chuyển đổi giống cây trồng và luân phiên canh tác, trồng rừng sản xuất, chăn nuôi vỗ béo trâu, bò, lợn... Đến nay tỷ lệ hộ đói trong thôn cơ bản đã được khắc phục, hộ nghèo giảm theo từng năm. Về an ninh, trật tự, trong thôn không có người mắc các tệ nạn xã hội, không có người theo tà đạo, không có trộm cắp, cờ bạc..., người dân một lòng theo Đảng. Trong phát triển kinh tế gia đình, ông là người luôn đi đầu áp dụng khoa học kỹ thuật chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để người dân trong thôn làm theo như trồng cỏ nuôi trâu sinh sản, trồng được 6 hecta cây keo, một số diện tích đã được khai thác. Quán triệt đường lối của Đảng về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ông là một trong những người đã tham mưu 54 với Thường trực Đảng ủy, Ủy ban nhân dân thực hiện công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở đồng bào dân tộc Mông thôn Khuổi Nộc, xã Lương Thượng giai đoạn 2010-2015, góp phần thực hiện đề án xây dựng và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số xã Lương Thượng, và đề án phát triển phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Lễ hội văn hóa, thể thao ở thôn Khuổi Nộc được duy trì tổ chức hằng năm vào ngày 4 tháng Giêng âm lịch. Thông qua ngày hội văn hóa đã tổ chức biểu diễn nhạc cụ truyền thống như múa khèn, thi trang phục, hội chọi bò, thi hát dân ca cùng với các trò chơi dân gian khác, đặc biệt các món ăn dân tộc trong đó có rượu ngô, thắng cố, mèn mén được bảo tồn và phát triển. Công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn bảo tàng văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào dân tộc Mông được giữ gìn và phát huy. Hoạt động thể dục - thể thao ở thôn những năm qua đã duy trì ổn định và từng bước phát triển, các môn thể thao như bóng đá, đẩy gậy, kéo co, điền kinh, tung còn, đi cà kheo và một số trò chơi dân gian đã được đưa vào trong các ngày hội văn hóa - thể thao. Ông chia sẻ, muốn để người dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm an ninh, trật tự thôn bản cần tham khảo kinh nghiệm như sau: 55 - Hương ước, quy ước thôn bản phải được dân bàn, dân xây dựng và được nhân dân nhất trí thông qua khi thực hiện mới đem lại hiệu quả. Hành vi vi phạm các điều khoản trong hương ước, quy ước phải được xử lý thật nghiêm. - Những người giữ các chức vụ bí thư chi bộ, trưởng thôn, công an viên... phải thường xuyên quan tâm, gặp gỡ nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân và làm tốt công tác tư tưởng trong dân. Với những đóng góp thiết thực cho địa phương, ông Dương Văn Sơn thực sự đã trở thành gương điển hình người có uy tín trong cộng đồng người Mông ở Na Rì - Bắc Kạn. 56 THOÁT NGHÈO TỪ TRỒNG RỪNG Gương cá nhân điển hình: Dương Chống Lỷ Dân tộc: Dao Bí thư Chi bộ thôn Hin Đăm, xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn Với 18,6 hecta đất lâm nghiệp, 5 sào ruộng (ruộng 2 vụ có 2 sào), những năm gần đây được sự tuyên truyền vận động, hướng dẫn, hỗ trợ của cán bộ huyện, xã thông qua các lớp tập huấn của Chương trình 135, của cán bộ khuyến nông - khuyến lâm và được đi tham quan học hỏi kinh nghiệm các mô hình phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo, ông Dương Chống Lỷ thôn Hin Đăm, xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn nhận thấy muốn xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu ngay trên đất quê mình thì phải đầu tư vào trồng rừng, trong đó chủ yếu là cây thông vì cây thông có giá trị kinh tế khá cao, thích hợp với đất đai, khí hậu vùng này, kỹ thuật trồng lại đơn giản. Được nhà nước khuyến khích trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc theo dự án trồng rừng 661, 57 dự án trồng rừng hỗ trợ phát triển sản xuất, dự án trồng rừng nguyên liệu giấy, chương trình trồng cây phân tán và các chính sách cho vay vốn ưu đãi để phát triển trồng rừng..., ông đã vận động mọi người trong gia đình quyết tâm phải trồng bằng hết diện tích đất lâm nghiệp được giao. Hiện nay gia đình ông đã trồng được khoảng 15 hecta thông (30.000 cây), trong đó, diện tích trồng rừng theo các dự án nhà nước hỗ trợ đầu tư là 8,6 hecta (dự án nguyên liệu cho sản xuất giấy 3,6 hecta, dự án trồng rừng hợp tác phát triển sản xuất 3 hecta, trồng các loại cây khác 2 hecta). Các dự án này được nhà nước hỗ trợ cây giống, phân bón nên gia đình ông chỉ mất công trồng và chăm sóc 3 năm đầu. Diện tích rừng gia đình tự ươm cây để trồng và vay vốn ngân hàng trồng khoảng 7 hecta. Đến nay trên diện tích thông của gia đình, bước đầu đã có khoảng trên 2.000 cây cho khai thác nhựa, nhờ vậy cuộc sống đã khấm khá hơn, ông đã mua được xe máy, máy cày, máy xát gạo... Hằng năm tổng thu nhập từ khai thác nhựa thông, trồng cây lương thực, hoa màu, chăn nuôi khoảng 60 triệu đồng. Ông cho biết, những năm tới, khi diện tích rừng thông cho khai thác nhựa tăng thì đến năm 2016 gia đình ông sẽ trả hết nợ ngân hàng và có tiền để xây nhà mới, hỗ trợ cho con cháu học hành được tốt hơn... 58 Xác định phát triển kinh tế đồi rừng là mô hình xóa đói giảm nghèo chính đáng, thiết thực và bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, gia đình ông Dương Chống Lỷ đã tìm ra hướng làm giàu ngay trên đất quê mình. Đây là cách làm hay cần được nhân rộng ở nhiều địa phương. 59 XÃ CHI LĂNG TRÊN HÀNH TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Xã Chi Lăng cách trung tâm huyện Chi Lăng 7km về phía nam, có diện tích tự nhiên là 24,1km2, gồm 14 thôn bản, 5.450 nhân khẩu với 1.250 hộ, có 3 dân tộc sống quần tụ lâu đời bên nhau, trong đó dân tộc Tày chiếm 5%, dân tộc Kinh chiếm 15%, dân tộc Nùng chiếm 80%. Đời sống của nhân dân phát triển, kinh tế chủ yếu tập trung sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, trồng cây ăn quả, ngoài ra còn phát triển chăn nuôi và dịch vụ. Chi Lăng là xã miền núi có điều kiện phát triển kinh tế tương đối thuận lợi, hệ thống thủy lợi được đầu tư, cơ bản chủ động đáp ứng tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp. Đảng ủy, chính quyền địa phương luôn xác định mục tiêu hàng đầu là phát triển kinh tế nên đã có những chính sách để chuyển nhanh, chuyển mạnh về cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Xã chủ trương sử dụng giống mới có năng suất cao, ứng 60 dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, sử dụng hết diện tích, thâm canh tăng mùa vụ... nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất, chính vì vậy diện tích gieo trồng năm sau cao hơn năm trước, sản lượng lương thực hằng năm đều tăng, kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Đồng thời phong trào văn hóa, văn nghệ luôn được xã quan tâm, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư” được triển khai thực hiện tốt, nhà văn hóa thôn bản luôn phát huy hiệu quả, thực sự là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân. Đảng ủy, chính quyền địa phương luôn chủ động tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc trên địa bàn thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng đề ra trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Vì vậy giai đoạn 2011-2015, kinh tế xã Chi Lăng liên tục phát triển, an ninh chính trị được bảo đảm, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện từng bước. Năm 2011, xã Chi Lăng vinh dự được tỉnh chọn chỉ đạo điểm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015. Chương trình đã được nhân dân trong xã đồng tình ủng hộ với số tiền gần 30 tỷ đồng bằng nhiều hình thức: hiến 61 đất làm đường giao thông, đầu tư kinh phí xây dựng, nâng cấp, tu sửa nhà cửa, công trình phụ, đóng góp kinh phí, ngày công làm đường bê tông nông thôn, đóng góp kinh phí giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình phúc lợi như: nhà trung tâm văn hóa xã, trạm y tế xã, chợ nông thôn, nhà văn hóa thôn, trường học... Xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ phải được quan tâm, chú trọng hàng đầu nên chính quyền xã đã tuyên truyền, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hình thành một vùng sản xuất hàng hóa như: chăn nuôi lợn nái, lợn siêu nạc, tiếp tục phát triển, nâng cấp những cây đặc sản của địa phương (na dai, hồng, vải thiều). Hiện nay nhiều hộ cho thu nhập hằng năm từ 100 đến 200 triệu đồng từ cây ăn quả. Nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn từ 100 đến 200 con/năm đem lại nguồn thu nhập cao. Nhiều hộ là người dân tộc thiểu số làm kinh tế giỏi, đã vươn lên làm giàu. Kinh tế phát triển, nhiều hộ trong xã xây nhà cao tầng, sắm đồ dùng tiện nghi, có điều kiện nuôi dạy con em ăn học thành đạt. Do có nhiều cố gắng trong phát triển kinh tế, hiện nay trên địa bàn không còn hộ đói, tỉ lệ hộ nghèo của xã hiện còn 4,6%, tổng thu nhập bình quân đạt 22 triệu đồng/người/năm. Văn hóa - xã hội cũng được phát triển, đến nay số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa là trên 82%, số thôn văn 62 hóa cấp huyện đạt trên 78,5%. Những kết quả đó là sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trên địa bàn. Qua 4 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (2011-2014), các công trình phúc lợi được đầu tư xây dựng, đường bê tông nông thôn được làm khang trang sạch đẹp, kinh tế tăng trưởng, văn hóa - xã hội được duy trì và phát triển, an ninh chính trị được bảo đảm, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tình đoàn kết các dân tộc ngày càng được củng cố, bộ mặt nông thôn ngày càng được đổi mới. Đến tháng 12-2014, xã Chi Lăng hoàn thành mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới với 19/19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí Quốc gia. (Lăng Văn Thạch - Dân tộc Nùng Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn) 63 ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỂ TẠO RA SẢN PHẨM HÀNG HÓA CHẤT LƯỢNG CAO Gương cá nhân điển hình: Trần Văn Hành Dân tộc: Sán Dìu Xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Vinh dự được bầu là đại biểu đi dự Đại hội Thi đua yêu nước giai đoạn 2011-2015 của Ủy ban Dân tộc, ông Trần Văn Hành chia sẻ: Gia đình tôi sinh sống ở thôn Chão Cũ, xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, thôn có 80 hộ với 100% là người dân tộc thiểu số. Cũng như bao hộ gia đình khác ở trong thôn, trước đây kinh tế gia đình tôi gặp nhiều khó khăn. Nhờ có các chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi của Đảng và Nhà nước, năm 1999 gia đình tôi đã trồng 2 hecta vải thiều và nhãn. Năm 2002 gia đình tôi mở rộng thêm 1,7 hecta vải thiều và 0,3 hecta nhãn, vay Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện 15 triệu đồng đầu tư mua giống, phân bón, thuốc 64 bảo vệ thực vật để chăm sóc. Trong những năm đầu, do thiếu kinh nghiệm, kỹ thuật chăm sóc nên năng suất, chất lượng vải còn thấp, việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn. Nhận thấy cần phải có kiến thức, kinh nghiệm thì sản xuất mới đem lại hiệu quả, cá nhân tôi thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với những người đi trước, học hỏi qua các tài liệu và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt thông qua các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật đã giúp tôi nắm bắt được kỹ thuật chăm sóc vải thiều. Năm 2006, gia đình tôi đã áp dụng kỹ thuật sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP nên năng suất vải thiều cao hơn, chất lượng, màu sắc quả vải tươi vượt trội so với chăm sóc theo lối truyền thống, do đó việc tiêu thụ vải tươi cũng được thuận lợi hơn. Từ năm 2009 cho đến năm 2015, gia đình tôi luôn có nguồn thu nhập ổn định từ cây vải thiều, mỗi năm trừ chi phí còn được 450-500 triệu đồng. Đây là nguồn thu nhập quan trọng giúp gia đình tôi thoát nghèo, có tiền trả hết các khoản nợ, giúp tôi theo học 5 năm đại học tại chức và nuôi hai con ăn học, xây được nhà kiên cố, mua sắm được đồ dùng, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt, giúp đỡ anh em họ hàng phát triển kinh tế. Qua kinh nghiệm thực tế kết hợp với nghiên cứu tìm tòi, ông Trần Văn Hành thành công trong việc xử lý để cây vải thiều ra quả trên thân cây, 65 tạo ra quả vải to đẹp, chất lượng, bán được giá cao. Với sáng kiến này, năm 2012 ông Hành vinh dự đạt giải Nhì cấp tỉnh trong cuộc thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông về kỹ thuật xử lý vải thiều ra quả trên thân cây. Ngoài thành tích phát triển kinh tế hộ gia đình, trên cương vị là Chủ tịch Hội Nông dân xã, trong 5 năm qua (2011-2015), ông đã tham mưu triển khai có hiệu quả công tác xây dựng tổ chức hội (11/11 chi hội đăng ký danh hiệu Chi hội vững mạnh; kết nạp được 1.142 hội viên/1.700 hộ nông nghiệp). Năm 2009, số hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất giỏi ở địa phương là 315 hộ, chiếm 25% số hộ nông nghiệp; năm 2013 tăng lên 820 hộ, chiếm 52% số hộ nông nghiệp (trong đó cấp Trung ương là 24 hộ; cấp tỉnh là 162 hộ; cấp huyện là 281 hộ; cấp xã là 384 hộ). Tích cực tuyên truyền hội viên nông dân đóng góp sức người, sức của xây dựng các công trình tập thể. Đã vận động được 3.520 ngày công và 120 triệu đồng tu sửa, nâng cấp, bảo dưỡng đường bê tông, nạo vét 22km đường mương phục vụ sản xuất; phối hợp với khuyến nông, trạm vật tư nông nghiệp tổ chức tập huấn, hội thảo đầu bờ cho trên 2.589 lượt người tham dự với nội dung sản xuất vải thiều an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, chăm sóc, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả và an toàn... 66 Để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế đối với cây vải thiều nói riêng và cây ăn quả nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, cá nhân ông Trần Văn Hành đã đưa ra những đề xuất: - Nhà nước cần quan tâm nghiên cứu, đầu tư, hỗ trợ biện pháp bảo quản quả vải thiều tươi; tạo điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh xúc tiến thương mại, giới thiệu quảng bá sản phẩm quả vải thiều đến các thị trường châu Âu. - Đề nghị Nhà nước có chính sách khuyến khích xây dựng mô hình sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn GlobalGAP để quả vải bảo đảm chất lượng xuất khẩu sang thị trường EU và các thị trường khó tính khác, hạn chế sự phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc. Năm 2014 tại Đại hội dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang, ông Trần Văn Hành đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Trong thời gian qua, gia đình ông đã đón nhiều đoàn khách ở trong và ngoài tỉnh đến thăm và trao đổi kinh nghiệm về kỹ thuật chăm sóc cây vải thiều. Đặc biệt năm 2015, gia đình ông vinh dự được Chủ tịch nước đến thăm và động viên. 67 “ĐỂ LÀM TỐT CÔNG TÁC DÂN TỘC PHẢI TẬN TÂM, TẬN LỰC” Gương cá nhân điển hình: Nềnh Quốc Sinh Dân tộc: Cao Lan Huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh Là một cán bộ người dân tộc thiểu số lại trực tiếp tham gia triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước về dân tộc tại huyện Đầm Hà, Nềnh Quốc Sinh cho biết để làm tốt công tác dân tộc, trước hết phải có những cán bộ tận tâm, tận lực với đồng bào, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Trong quá trình công tác, Nềnh Quốc Sinh rất tích cực tham gia các lớp học về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, học tập, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thường xuyên đi cơ sở nắm tình hình, trao đổi làm rõ từng nội dung công việc liên quan để làm cơ sở tham mưu, đề xuất. Trong quá trình thực hiện các chế độ chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đầm Hà, Nềnh Quốc Sinh đã tham mưu, 68 phối hợp, chỉ đạo thực hiện tốt một số chính sách dân tộc như: Chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn, Chính sách đối với người có uy tín, Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo Quyết định số 755 ngày 20-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là các chính sách hỗ trợ đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi góp phần giảm bớt những khó khăn cho người nghèo vùng đồng bào dân tộc. Trong quá trình tham mưu cho lãnh đạo huyện tổ chức triển khai thực hiện chính sách ông đều suy nghĩ tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất để đưa chính sách vào cuộc sống như: Chủ động, sâu sát đi nắm tình hình ở cơ sở để tham mưu những cách làm phù hợp; kịp thời rà soát đối tượng thụ hưởng, chủ động đề xuất tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai. Nhờ đó, các chính sách dân tộc triển khai trên địa bàn huyện Đầm Hà đã mang lại hiệu quả thiết thực, tác động trực tiếp đến người dân trong nhận thức và hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo của huyện, cụ thể: Năm 2014 chỉ còn 752 hộ nghèo (7,86%), tỷ lệ hộ nghèo giảm dần theo các năm, giảm bớt việc trông chờ ỷ lại của người dân, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu 69 số ổn định, không có hoạt động truyền đạo trái phép, không có hiện tượng nghiện ma túy, không có mại dâm trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, yên tâm bám bản bám làng để phát triển sản xuất. Qua tiếp xúc với nhiều công việc khác nhau và trực tiếp triển khai thực hiện một số chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện, Nềnh Quốc Sinh chia sẻ một số kinh nghiệm trong tham mưu, chỉ đạo công tác dân tộc như sau: Thứ nhất, cần đi sâu nghiên cứu nắm chắc đặc điểm, tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, tâm tư tình cảm, nhu cầu thiết yếu của đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết vấn đề phải trên cơ sở khoa học và thực tiễn, có lý, có tình, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc phải cụ thể, trung thực và sáng tạo. Thực tiễn cho thấy, nơi nào quán triệt được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách sâu sắc, thực hiện một cách công khai dân chủ và xuất phát từ nhu cầu của người dân thì nơi đó sẽ thực hiện thành công và ngược lại. Trong quá trình thực hiện công tác dân tộc cần phải cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể và bám sát vào đó để thực hiện mới đạt hiệu quả cao. Thứ hai, thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tăng cường công tác 70 kiểm tra, thanh tra, giám sát, việc thực hiện các chính sách dân tộc; qua đó biểu dương những ngành, địa phương và cán bộ làm tốt; kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh và kiên quyết xử lý nghiêm những ngành, đơn vị, cá nhân làm chưa tốt hoặc có vi phạm pháp luật. Thứ ba, động viên nhân dân các dân tộc thiểu số thực hiện tốt các chính sách dân tộc. Vận động đồng bào tự vươn lên trong sản xuất và đời sống, tránh ỷ lại, trông chờ. Phải làm tốt công tác bồi dưỡng, tập huấn, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến cho đồng bào. Thứ tư, thường xuyên thực hiện tốt công tác phổ biến tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc đến cán bộ và nhân dân để mọi người nâng cao nhận thức về công tác này; vận động và tổ chức tốt cho đồng bào hưởng ứng thực hiện, tạo điều kiện để đồng bào phát huy nội lực, vươn lên. Thứ năm, trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy và chính quyền các cấp phải có quyết tâm cao trong việc chỉ đạo, kiên trì trong thực hiện mục tiêu, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. 71 KINH NGHIỆM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở BA VÌ Dân số toàn huyện Ba Vì là 275.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 27.000 người (gồm 24.000 người Mường, hơn 2.000 người Dao và một số ít đồng bào dân tộc thiểu số khác). Đồng bào dân tộc thiểu số huyện Ba Vì chiếm gần 50% đồng bào dân tộc thiểu số của Thủ đô Hà Nội. Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì đã xây dựng và thực hiện có hiệu quả Đề án “Khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến năm 2020”. Công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân triển khai Đề án được thực hiện sâu rộng; công tác quản lý nhà nước đối với việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được tăng cường. Kết quả đạt được cụ thể như sau: Một là, đã thực hiện việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể truyền thống như tu bổ, nâng cấp hệ thống đình, đền, chùa, miếu, nhà văn hóa... 72 trên địa bàn sinh sống và do đồng bào dân tộc thiểu số lập nên với tổng kinh phí khoảng 221 tỷ đồng. Trong đó, đã hoàn thành dự án cải tạo, nâng cấp cụm Di tích lịch sử quốc gia Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ từ nguồn vốn xã hội hóa (140 tỷ đồng); triển khai xây dựng các nhà văn hóa thôn, bản, trung tâm văn hóa theo cụm xã, dự kiến đến cuối năm 2015 sẽ hoàn thành 41/75 nhà văn hóa thôn, bản; tiến hành khôi phục các dụng cụ âm nhạc và vật dụng sinh hoạt truyền thống (hiện nay các xã miền núi đều có đội cồng chiêng dân tộc Mường và chuông, chiêng dân tộc Dao), hoàn thành dự án bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc Mường, Dao được sử dụng vào ngày lễ, tết, các hoạt động cộng đồng. Hai là, triển khai thực hiện việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể truyền thống như không gian văn hóa dân tộc Mường, Dao; các làn điệu dân ca như hát ru của người Mường; các hình thức biểu diễn văn nghệ, diễn xướng dân gian (múa cồng chiêng, ném còn của người Mường; múa chuông, múa Rùa, Tết nhảy của người Dao); các phong tục, tín ngưỡng, ẩm thực, lễ hội, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được phát huy; lễ hội Tản Viên Sơn Thánh được tổ chức hằng năm với quy mô lớn và mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường, Dao; triển khai dự án bảo tồn 73 tiếng nói của đồng bào dân tộc Mường, Dao có hiệu quả, thông qua các hình thức như truyền miệng, truyền dạy trong dịp lễ tết, thủ tục thờ cúng bằng tiếng dân tộc, tổ chức các hội nghị, hoạt động cộng đồng và xây dựng phim tư liệu sử dụng tiếng dân tộc. Ba là, các hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào Mường, Dao trên địa bàn huyện đã bước đầu được thực hiện có nền nếp, có tính cộng đồng cao, không còn tình trạng tự phát như trước kia. Nhận thức của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc Mường, Dao về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống được nâng lên; 7/7 xã miền núi đã thành lập các tổ, đội bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, thành viên chính là những già làng, trưởng bản, người có uy tín, những đoàn viên thanh niên tiêu biểu, những người có hiểu biết về văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Hoạt động của các tổ, đội này ngày càng có hiệu quả, thu hút đông đảo nhân dân tham gia góp phần phát huy tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch trên địa bàn các xã miền núi, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Qua thực tế thực hiện Đề án, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Ba Vì rút ra một số kinh nghiệm đó là: 74 - Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng; nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong sự nghiệp phát triển văn hóa nói chung, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. - Tập trung các nguồn lực, đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. - Tăng cường xây dựng, hoàn thiện, bảo tồn và phát huy giá trị của các thiết chế văn hóa ngay tại cơ sở. Trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền và nhân dân huyện Ba Vì xác định việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ rất quan trọng và đề ra một số mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như sau: Thứ nhất: Làm tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và thực hiện có hiệu quả các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Thứ hai: Tiếp tục chỉ đạo đầu tư, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa vật thể; trong đó chú trọng 75 xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện các thiết chế văn hóa làng, xã, phấn đấu 100% các thôn có nhà văn hóa, phục vụ các hoạt động cộng đồng; khuyến khích đồng bào xây dựng nhà ở, nhà thờ dòng họ theo kiến trúc nhà sàn truyền thống. Thứ ba: Kết hợp khôi phục, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số với đẩy mạnh khai thác tiềm năng, thế mạnh du lịch, nhất là các sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng gắn với xây dựng làng văn hóa dân tộc Mường, dân tộc Dao trên địa bàn. Thứ tư: Rà soát, lập hồ sơ đề nghị công nhận các nghệ nhân dân gian có hiểu biết sâu sắc về các giá trị văn hóa truyền thống đối với các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc Mường, Dao vì đó là những hạt nhân nòng cốt để duy trì và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống. Những kết quả Ba Vì đạt được bên cạnh sự nỗ lực của địa phương có sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, Ủy ban Dân tộc, các bộ, ngành Trung ương và Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Thời gian tới, Ba Vì mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm hơn nữa để huyện thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng và bảo tồn, phát huy tốt các 76 giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn nhằm xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp, văn minh. (Hà Xuân Hưng - Bí thư Huyện ủy huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) 77 CÁN BỘ XÃ LÀM KINH TẾ GIỎI Gương cá nhân điển hình: Trần Thị Loan Dân tộc: Cao Lan Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Nguồn thu nhập chính của gia đình chị Trần Thị Loan và nhân dân xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc là từ sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc điều kiện thiên nhiên nên kinh tế đại đa số các hộ gia đình còn khó khăn. Là cán bộ xã, xác định ngoài việc cố gắng hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao, chị Trần Thị Loan cùng gia đình quyết tâm phát triển kinh tế gia đình. Năm 2008, chị mạnh dạn đầu tư xây dựng 400m2 chuồng trại và mua 20 con lợn nái siêu nạc của Công ty CPI, sau một năm chăn nuôi, gia đình chị thu lãi 100 triệu đồng. Xác định được nuôi lợn nái siêu nạc, lợn lớn nhanh, giá bán lại cao hơn lợn ta, năm 2009 chị mạnh dạn vay thêm vốn Ngân hàng Nông nghiệp 78