🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Giáo trình khoa học điều tra hình sự
Ebooks
Nhóm Zalo
• £** \ _ ẵ« ■
-» f 0 . Vị
IP*- . fpw -ỹr, * '* • * *f» * k "
V ,0|w .t '■
. *** 1 •
%
(DÙNG CHO CÁC TRƯỜ NG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG LUẬT, AN NINH, CẢNH SÁT, HỌC VIỆN T ư PHÁP)
^ J-' ' ' t^Ê ắấ *<*Mẫ$Ệáầ
* - ầ' '■ - V
' # v ~ -
C ?5Ị$ *Ị» r /
» ;ă;7-:j ;
G D Iấ
NHÀ XUÂT BẦN GIÁO DỤC VIỆT NAM
PGS.TS. LÊ MINH HÙNG (Chủ biên)
Bi áo trình
KHOA HỌC ĐIỀU TRA ■ HÌNH Sự■
(Dùng cho các trường Đại học, Cao đẳng Luật, An ninh, cảnh sát, Học viện tư pháp)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Biên soạn:
Chương I, Chương III- GS.TS. Nguyễn Thủ Thanh; PGS.TS. Lê Minh Hùng Chương II- PGS.TS. Lẽ Minh Hùng; TS. Phạm Việt Trường
Chương IV, Chương VIII - GS.TS. Nguyễn Thủ Thanh; PGS.TS. Nguyễn Quý Khoát Chương V - PGS.TS. Lê Minh Hùng; TS. Lẽ Ngọc An
Chương V I- PGS.TS. Nguyễn Quý Khoát; TS. Nguyễn Tiến Trường Chương V II- PGS.TS. Nguyễn Quý Khoát; ThS. Đoàn Anh Vũ Chương IX -PGS.TS. Lê Minh Hùng; TS. Phan Bá Toản
Chương X, Chương XV- PGS.TS. Lê Minh Hùng; TS. Lê Ngọc An Chương X I- TS. Phạm Việt Trường; ThS. Trần Tuấn Tú
Chương X II- TS. Phạm Thành Hương; ThS. Nguyễn Thị Lan Hồng Chương X III- TS. Phạm Thành Hương; TS. Nguyễn Quang Trung Chương XIV - TS. Trần Thế Quân; ThS. Chu Quang Thiện
Chương X V I- PGS.TS. Lê Minh Hùng; ThS. Lẽ Thái Sơn
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Khoa học Điều tra hình sự được biên soạn dành cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng Luật, An ninh, Cảnh sát, Học viện tư pháp với tư cách là môn chuyên ngành khoa học pháp lý ứng dụng, có tính bổ trợ trong hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam.
Để phù hợp với mục tiêu đào tạo, nội dung và chương trình đào tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng giảng dạy môn Khoa học điều tra hình sự, nội dung giáo trình này không đề cập đến tất cả các vấn đề của Khoa học điều tra hình sự mà chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất của Khoa học điều tra hình sự. Hướng biên soạn tập trung vào phần phương pháp luận và đặc biệt vào phần tổ chức và chiến thuật điều tra hình sự.
Giáo trình được biên soạn bởi nhóm tác giả là các chuyên gia, nhà giáo có uy tín và kinh nghiệm lâu năm hiện đang công tác, giảng dạy về Khoa học điều tra hình sự của Học viện An ninh nhân dân.
Tiếp cận nội dung giáo trinh này, sinh viên không chỉ được củng cố các tri thức về Khoa học điều tra hình sự mà còn được củng cố thêm các tri thức pháp lý có liên quan, hình thành bước đầu khả năng áp dụng các quy định của Luật Tố tụng hình sự và Luật Hình sự trong thực tiễn điều tra, khám phá và chứng minh tội phạm. Giáo trình cũng là tài liệu tham khảo bổ ích đối với tất cả những ai quan tân, nghiên cứu muốn tìm hiểu kiến thức về Khoa học điều tra hình sự.
Mặc dù đã rất cố gắng trong việc biên soạn nhưng chắc chấn giáo trình không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Nhóm tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc và đồng nghiệp để giáo trình được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau.
Mọi góp ý xin gửi về Công ty c ổ phần sách Đại học - Dạy nghề 25 Hàn Thuyên - Hà Nộiắ
Xin trán trọng cảm ơn!
CÁC TÁC GIẢ
3
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 3 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC ĐIẾU TRA HlNH s ự
I - ĐỔI lương, nhiệm vu, hệ thông, phương pháp nghiên cửu của Khoa học điểu tra hình s ự .... ..........7
II - Một số nét vé quả trinh phát triển của Khoa học điéu tra hình sự, mối quan hê của Khoa học điéu tra hỉnh sự và các ngành khoa học pháp lý liên q ua n ....................................................13
CHƯƠNG 2: DẤU VỂT HỈNH s ự
I - Khải niệm, cách phân loại, ý nghĩa của dấu vết hỉnh s ự .............................................................17
II - Phương pháp phát hiện nghiên cứu, đảnh giá và ghi nhận thu lượm bảo quản các bai dấu vết hỉnh s ự ............................................................................................................................................................ 20
III - Phương pháp lấy mẫu so sánh......................................................................................... ......... 35 CHƯƠNG 3: ĐIẾU TRA TẠI HIỆN TRƯỜNG
! - Nhận thức chung vé điéu tra tại hiện trường...................................................................... .........37 II - Những hoạt động cấp bách tại hiện trường................................................................................38 III - Bảo vệ hiện trường......................................................................................................................40 IV - Khám nghiêm hiện trường................................................................................................. ........ 45 CHƯƠNG 4: Tổ CHỨC ĐIẾU TRA vụ ÁN HlNH s ự
I - Nhận thức chung vé tổ chức điều tra vụ án hỉnh s ự ............................................................... .........49 II - Các hoạt động tổ chức điéu tra vụ án hình s ự ................................................................... ........51 CHƯƠNG 5: BẮT NGƯỜI TRONG ĐIỀU TRA HỈNH s ự
I - Nhận thức chung vé bắt người trong điéu tra hình s ự ........................................................ ....... 66 II - Trinh tự bất người trong điếu tra hỉnh s ự ........................................................................... ........ 69 III - Các chiến thuât bắt cu th ể .................................................................................................. 78 IV - Bal ngươi trong những trường hợp cụ th ể .................................................................................84
4
CHƯƠNG 6: KHẢM XÉT TRONG ĐIẾU TRA HlNH s ự
I - Nhận thức chung vé khảm xét trong điêu tra hình s ự ........................................................ II-T rin h tư khám x é t................................................................................................................ 93
III - Các chiến thuật khám xét cụ th ể .................................................... ................................ CHƯƠNG 7: THU THẬP, BẢO QUẢN VÀ x ử LÝ VẬT CHỨNG TRONG ĐIỀU TRA HlNH s ự I - Nhận thức chung vé thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điéu tra hình s ự ....... 105 II - Phương pháp thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điéu tra hình s ự ................. 110 CHƯƠNG 8: HỎI CUNG BỊ CAN TRONG ĐIẾU TRA HỈNH s ự
I - Nhận thức chung về hỏi cung bị c a n ................................................................................. 124 II - Trinh tự hỏi cung bị c a n ..................................................................................................... 129 III - Các chiến thuật hỏi cung cụ th ể .....................................................................................
CHƯƠNG 9: LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG ĐỈÉU TRA HÌNH s ự I - Nhận thức chung vé lấy lời khai người làm chứng............................................................ 143 II - Trinh tự lấy lời khai người làm chứng................................................................................ 148 III - Giải quyết một số trường hợp lấy lời khai người làm chứng cụ th ể ................................. 158 CHƯƠNG 10: LẤY LỜI KHAI NGƯỜI BỊ HẠI TRONG ĐIỀU TRA HỈNH SƯ
I - Nhận thức chung vé lấy lời khai người bị h ạ i..................................................................... 164 II - Trinh tự lấy lời khai người bị h ạ i......................................................................................... 169 III - Cách giải quyết một số trường hơp cụ th ể ................................................................... 179 CHƯƠNG 11: ĐỐI CHẤT TRONG ĐIẾU TRA HỈNH s ự
I - Nhận thức chung vé đối ch ất.............................................................................................. 184 II — Trình tự đối chất............................................................................................................ 190 CHƯƠNG 12: NHẬN DẠNG TRONG ĐIỀU TRA HỈNH s ư
I - Nhận thức chung về nhận dạng trong điều tra hỉnh s ự ..................................................... 199 II - Phương pháp tổ chức nhận dang....................................................................................... 203 III - Chiến thuật nhận dạng...................................................................................................... 213
5
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đau ° CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VẾ KHOA HỌC ĐIẾU TRA HlNH s ự
I - ĐỎI tương, nhiệm vụ, hệ thống, phương pháp nghiên cứu của Khoa học điéu tra hình s ự ...............7
II - Một số nét vé quả trinh phát triển của Khoa học điều tra hình sự, mối quan hệ của Khoa học điéu tra hỉnh sự vả các ngành khoa học pháp lý liên qu a n ....................................................13
CHƯƠNG 2: DẤU VẾT HÌNH s ự
I - Khái niệm, cách phân loại, ý nghĩa của dấu vết hình s ự .............................................................17
II - Phương pháp phát hiện nghiên cứu, đánh giá và ghi nhận thu lượm bảo quản các loại dấu vết hỉnh s ự .......................................................................................................................................... ........ 20
III - Phương pháp lấy mẫu so sá nh ...................................................................................................35 CHƯƠNG 3: ĐIẾU TRA TẠI HIỆN TRƯỜNG
! - Nhận thức chung vé điếu tra tại hiện trường............................................................................... 37 II - Những hoạt động cấp bách tại hiện trường.................................................................................38 III - Bảo vệ hiên trường...................................................................................................................... 40
IV - Khám nghiêm hiên trường.......................................................................................................... 45 CHƯƠNG 4: Tổ CHỨC ĐIẾU TRA v ụ ÁN HỈNH s ự
I - Nhận thức chung vé lổ chức điếu tra vu án hình s ự ........................................................................ 49 II - Các hoạt động tổ chức điéu tra vụ án hình s ự ................................................................... ........51 CHƯƠNG 5: BẮT NGƯỜI TRONG ĐIẾU TRA HÌNH s ự
I - Nhận thức chung vẽ bắt người trong điêu tra hỉnh s ự ........................................................ ....... 66 II - Trinh tự bắt người trong điẽu tra hỉnh s ự ....................................................................................69 III - Các chiến thuật bát cụ th ể ..........................................................................................................78 IV - Bát ngươi trong những trường hợp cụ th ể ..................................................................... ........... 84
4
CHƯƠNG 6: KHÁM XÉT TRONG ĐIẾU TRA HlNH s ự
I - Nhận thức chung vé khám xét trong điéu tra hinh s ự ........................................................ II-T rin h tư khám x é t............................................................................................................... 93
III - Các chiến thuật khám xét cụ th ể .................................................... ................................ CHƯƠNG 7: THU THẬP, BẢO QUẢN VÀ x ử LÝ VẬT CHỨNG TRONG ĐIỀU TRA HỈNH s ự I - Nhận thức chung vé thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điếu tra hình s ự ....... 105 II - Phương pháp thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điéu tra hình s ự .................. 110 CHƯƠNG 8: HỎI CUNG BỊ CAN TRONG ĐIẾU TRA HỈNH s ự
I - Nhận thức chung về hỏi cung bị c a n .......................................................................................... 124 II-T rinh tự hỏi cung bị c a n .............................................................................................................. 129 III - Các chiến thuật hỏi cung cụ th ể ...................................................................................... .........138
CHƯƠNG 9: LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LẢM CHỨNG TRONG ĐIÉU TRA HỈNH s ự I - Nhận thức chung vé lấy lời khai người làm chứng............................................................ 143 II - Trình tự lấy lời khai người làm chứng................................................................................ 148 III - Giải quyết một số trường hợp lấy lời khai người làm chứng cụ th ể ................................. 158 CHƯƠNG 10: LẤY LỜI KHAI NGƯỜI BỊ HẠI TRONG ĐIẾU TRA HỈNH s ư
I - Nhận thức chung vé lấy lời khai người bị h ạ i..................................................................... 164 II — Trinh tư lấy lời khai người bị h ạ i......................................................................................... 169 III - Cách giải quyết một sổ trường hơp cụ th ể ..................................................................... 179 CHƯƠNG 11: ĐỐI CHẤT TRONG ĐIỀU TRA HỈNH SƯ
I - Nhân thức chung vé đối ch ấ t.............................................................................................. 184 II - Trinh tư đối ch ất............................................................................................................... 190 CHƯƠNG 12: NHẬN DẠNG TRONG ĐIỂU TRA HỈNH s ự
I - Nhận thức chung vé nhận dạng trong điếu tra hình s ự ..................................................... 199 II - Phương pháp tổ chức nhàn dang....................................................................................... 203 III - Chiến thuật nhận dạng...................................................................................................... 213
5
CHƯƠNG 13: THỰC NGHIỆM ĐIÉU TRA vụ ÁN HÌNH sự
I - Nhận thức chung vé thực nghiệm điéu tra ......................................................................... II - Trình tự thực nghiệm điéu tra ............................................................................................. III - Các chiến thuật thực nghiệm diêu tra cụ th ể ................................................................... 239 CHƯƠNG 14: TRƯNG CẢU GIÁM ĐỊNH TRONG ĐIỀU TRA HlNH s ự
I - Nhận thức chung vé trưng cầu giảm định trong điéu tra hình s ự ...................................... 248 II - Trình tự trưng cầu giám định............................................................................................... 255 CHƯƠNG 15: CÔNG TÁC Hổ sơ vụ ÁN HlNH sự
I - Nhận thức chung vé công tác hổ sơ vụ án hỉnh s ự ............................................................ 268
II - Trình tự công tác hổ sơ vụ án hình s ự ................................................................................ 271 CHƯƠNG 16: BẢN KẾT LUẬN ĐIỀU TRA vụ ÁN HÌNH sự
I - Khái niệm, tác dụng yêu cấu của bản kết luận điéu tr a .................................................... 276 II - Cấu tạo, nội dung và phương pháp viết bản kết luận điêu tr a ......................................... 280 III - Những vấn đé phát sinh cần được giải quyết sau khi có bản kết luận điéu tr a ............. 287
6
CHUÔNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VÈ KHOA HỌC
ĐIỀU TRA HÌNH s ự
I - ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM v ụ , HỆ THỐNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KHOA HỌC ĐIỂU TRA HÌNH s ự
1. Đối tượng nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự Bất cứ khoa học nào muốn tồn tại với tư cách là một khoa học độc lập đểu phải hình thành đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Đối tượng nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự ngày càng được phát triển, bổ xung và hoàn thiện cùng với sự phát triển hoàn thiện của Khoa học điểu tra hình sự. Tuy nhiên, không phải ỡ mọi quốc gia trên thế giới, thậm chí ngay trong một quốc gia vào một thời điểm nhất định, các nhà khoa học đều không thống nhất với nhau về đối tượng nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự. Tính không thống nhất đó đã dẫn đến những xu hướng khác nhau trong sự phát triển của Khoa học điều tra hình sự của từng thời kỳ, từng nước và từng trường phái. Chính vì vậy, vấn đề đối tượng nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự cho đến nay vẫn luôn là đề tài tranh luận của nhiều tác giả, xong về cơ bản có thể khái quát đối tượng nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự bao gồm:
- Các quy luật về đặc điểm của tội phạm mang đặc tính hình sự có ý nghĩa đối với điều tra, khám phá vụ án hình sự. Đó là các quy luật về sự
7
chuẩn bị thực hiện tội phạm; Các quy luật hình thành và thực hiện các phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm và che giấu tội phạm (công cụ, phương tiện gây án, thủ đoạn gây án, các hành vi, thủ đoạn xóa dấu vết, che giấu tội phạm...); Các quy luật xuất hiện và diễn biến của các hiện tượng có liên quan đến tội phạm trước, trong, sau khi nó được thực hiện; Các quy luật về nhân thân người phạm tội, nhân thân người bị hại... tất cả các quy luật đó đều có ý nghĩa phát hiện tội phạm, khám phá và phòng ngừa tội phạm.
- Các quy luật về sự xuất hiện, hình thành, tồn tại và mất đi của các thông tin tội phạm.
- Các quy luật về phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
- Các quy luật về tổ chức điều tra, về các phương pháp, phương tiện, các chiến thuật, thủ thuật, các chỉ dẫn khoa học điều tra hình sự.
- Các quy luật về những hoạt động bổ trợ, kết hợp điều tra theo Tố tụng hình sự với các hoạt động khác (hoạt động trinh sát, kỹ thuật nghiệp vụ, quản lý hành chính, vận động quần chúng, vũ trang...).
- Các quy luật về phòng ngừa tội phạm.
2, Nhiệm vụ của Khoa học điều tra hình sự
a) Nhiệm vụ chung của Khoa học điều tra hình sự
Tiến hành nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động điều tra, vận dụng một cách toàn điện các thành tựu của khoa học và kỹ thuật soạn Ihảo hệ thống những tri thức điều tra, giúp các cơ quan chức nãng (chủ yếu là cơ quan điều tra) có hệ thống tri thức cần thiết để có thể phát hiện, điểu tra và phòng ngừa tội phạm một cách có hiệu quả nhất.
b) Nhiệm vụ cụ thê của Khoa học điều tra hình sự
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chung, căn cứ vào thực trạng khuynh hướng, khả năng và điều kiện phát triển của Khoa học điều tra hình sự, nhiệm vụ cụ thê cúa Khoa học điều tra hình sự là:
- Nghiên cứu thực hiện hoạt động phạm tội theo hướng đi sâu nghiên cứu những đặc điểm hình sự của tội phạm, đồng thời nghiên cứu thực tiễn hoạt động điều tra hình sự.
8
- Nghiên cứu sự phát triển và hoàn thiện lý luận và phương pháp luận của Khoa học điều tra hình sự, tạo cơ sớ vững chắc cho việc nghiên cứu, phát triển kỹ thuật hình sự, chiến thuật điều tra và phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể.
- Nghiên cứu soạn thảo các phương pháp, chiến thuật, thủ thuật, chỉ dẫn khoa học, các phương tiện mới, tối ưu về kỹ thuật hình sự, chiến thuật điều tra và phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể.
- Nghiên cứu thực tế ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực điều tra hình sự.
3. Hệ thống của Khoa học điều tra hình sự
Hệ thống của Khoa học điều tra hình sự bao gồm 4 bộ phận hợp thành đó là: Lý luận chung của Khoa học điều tra hình sự; Kỹ thuật hình sự; Tổ chức và chiến thuật điều tra hình sự; Phương pháp điều tra từng tội phạm cụ ihể.
a) Lý luận chung của Khoa học điểu tra hình sự
Lý luận chung của Khoa học điều tra hình sự là bộ phận được cấu thành bởi những quan điểm chung nhất mang tính phương pháp luận của Khoa học điều tra hình sự, là cơ sở để nghiên cứu kỹ thuật hình sự, tổ chức và chiến thuật điều tra và phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể.
Nội dung chủ yếu của bộ phận này bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự;
- Nhiệm vụ của Khoa học điều tra hình sự;
- Hệ thống của Khoa học điều tra hình sự;
- Phương pháp nghiên cứu của Khoa học điều tra hình sự;
- Sự phát triển của Khoa học điều tra hình sự;
- Mối quan hệ của Khoa học điều tra hình sự với một số ngành khoa học pháp lý khác có liên quan.
b) Kỹ thuật hình sự
Kỹ thuật hình sự là hệ thống các quan điểm, khái niệm, nguyên tắc, phương tiện, phương pháp và các chỉ dẫn khoa học tiến hành giám định và ứng dụng vào quá trình diều tra hình sự.
9
Nội dung của Kỹ thuật hình sự bao gồm:
- Tri thức chung về Kỹ thuật hình sự;
- Ảnh hình sự;
- Dấu vết hình sự;
- Giám định hình sự;
- Tả dạng người;
- Truy nguyên hình sự;
- Kỹ thuật phòng chống tội phạm.
c) Tổ chức và chiến thuật điêu tra (còn gọi là chiên thuật điều tra hình sự)
- Tổ chức và chiến thuật điều tra là hệ thống các quan điểm, khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, các phương pháp, chiến thuật, thủ thuật và các chỉ dẫn khoa học thực hiện hoạt động điều tra.
- Hiện nay có nhiều thuật ngữ ở phần này như: chiến thuật, phương pháp, biện pháp, trình tự, thủ tục, mưu trí, thủ thuật, thủ pháp... có thể khái quát hệ thống các thuật ngữ trên thành 3 nhóm:
Nhóm 1 là hệ thống các quan điểm.
Nhóm 2 là hệ thống các chiến thuật cụ thể (bao gồm các chiến thuật, thủ thuật, thủ pháp, mưu trí, phương pháp, biện pháp...)-
Nhóm 3 là các chỉ dẫn khoa học, trình tự, thủ tục về quy trình và những giai đoạn tiến hành các hoạt động điều tra.
- Nội dung của tổ chức chiến thuật điều tra bao gồm:
+ Tổ chức điều tra các vụ án hình sự. (Bao gồm tổ chức lực lượng điều tra, chỉ đạo điều tra; Kế hoạch điều tra, giả thuyết điều tra; Mối quan hệ phối hợp trong điều tra, sử dụng các lực lượng, phương tiện nghiệp vụ trong điều tra...).
+ Điều tra tại hiện trường.
+ Bắt người trong điều tra hình sự.
+ Khám xét trong điều tra hình sự.
+ Thu thập, bảo quản, xử lý vật chứng trone điều tra hình sự. 10
+ Hỏi cung bị can.
+ Lấy lời khai người làm chứng.
+ Lấy lời khai người bị hại.
+ Đối chất trong điều tra hình sự.
+ Nhận dạng trong điều tra hình sự.
+ Thực nghiệm điều tra.
+ Trung cầu giám định trong điều tra hình sự.
+ Công tác hổ sơ vụ án hình sự.
+ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự.
d) Phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể
Phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể là hộ thống các quan điểm, hướng dẫn cách thức tổ chức và tiến hành điều tra đối với từng tội phạm cụ thể.
Phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật Hình sự, ứng dụng kĩ thuật hình sự, tổ chức và chiến thuật điểu tra, ứng dụng các thành tựu của khoa học tự nhiên, xã hội và công nghệ vào thực tiễn điều tra.
Xây dựng phương pháp điều tra tùng tội phạm cụ thể phụ thuộc vào tính phổ biến và sự tồn tại lâu dài của tội phạm đó; Những kinh nghiệm điều tra vể loại tội phạm này đã được tích lũy; Nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn về điều tra loại tội phạm này.
Phương pháp điều tra từng bộ phận cụ thể bao gồm điểu tra theo nhóm tội phạm cụ thể và điều tra theo từng tội phạm riêng biệt (từng tội cụ thể).
4. Phương pháp của khoa học điều tra hình sự
a) Phương pháp chung duy nhất của Khoa học điều tra hình sự: là phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. b) Phương pháp chung của Khoa học điểu tra hình sự
- Phương pháp quan sát: Trong Điều tra hình sự, quan sát được thực hiện bằng hai hình thức:
+ Dùng mắt trực tiếp tri giác đối tượng nghiên cứu.
11
+ Sử dụng sự trợ giúp của các loại phương tiện kỹ thuật thích hợp để quan sát. Chẳng hạn sử dụng các thiết bị quang học (kính lúp, kính hiển vi...).
- Phương pháp đo đạc:
Đối tượng của phương pháp này là những thuộc tính khác nhau cùa các vật thể về số lượng, kích thước, trọng lượng, nồng độ, khối lượng, nhiệt độ, khoảng cách giữa các vật, các điểm, giới hạn của không gian, vật thê chuyển động cùa các vật trong một điểu kiện xác định.
Khi đo đạc, thường phải sử dụng các phương tiện từ thô sơ đến hiện đại, chuyên dùng. Ngày nay, cùng với những tiến bộ của khoa học công nghệ cho phép các cơ quan bảo vệ pháp luật sử dụng những thiết bị tiên tiến nhất vào đo đạc trong quá trình hoạt động thực tiễn ĐTHS.
- Phương pháp mô tả:
Trong hoạt động thực tiễn điều tra hình sự, phương pháp mô tả được sử dụng rộng rãi, nhiều trường hợp trong điều tra, mô tả là phương pháp mang tính bắt buộc do pháp luật tô' tụng hình sự quy định. Chẳng hạn như việc lập các biên bản, các quyết định.ẵẾ
Việc mô tả được tiến hành bằng ngôn ngữ và chữ số, bằng phác họa, sơ đồ, phim, ảnh, băng hình. Trong một số trường hợp có sử dụng đến các ký hiệu quy chuẩn chuyên ngành Điều tra hình sự.
- Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được sử dụng bằng mắt thường hoặc thông qua các phương tiện kỹ thuật thích hợp. Ngày nay, chúng ta đang sử dụng rộng rãi các phương tiện khá hiện đại để so sánh như kính hiển vi, các thiết bị quang học khác nhau.
- Phương pháp đổng nhất:
Theo quan điểm truy nguyên hình sự, phương pháp đồng nhất là việc khẳng định trong tư duy sự giống nhau của một trường hợp riêng biệt này với một trường hợp riêng biệt khác hoặc giữa trường hợp chung này với trường hợp chung khác.
- Phương pháp thực nghiệm:
Phương pháp thực nghiệm trong Khoa học điều tra hình sự chủ yếu đươc sử dụng trong kỹ thuật hình sự, trong các phòng thí nghiệm, trong giám định
12
hình sự. Trong Khoa học điều tra hình sự đã hình thành chiến thuật thực nghiệm điều tra.
- Phương pháp mô hình hóa:
Mô hình hóa là phương pháp sử dụng mẫu của các đồ vật, thiết bị, hệ thõng được chuẩn bị để tái hiện lại đối tượng nghiên cứu và có thê thay thê chúng trong quá trình nghicn cứu. Trong Khoa học điều tra hình sự phương pháp này dược sử dụng vào các hoạt động như xây dựng giả thuyết điều tra, giả thuyết giám định, tiến hành các hoạt động điều tra như bắt, khám xét, khám nghiệm hiện trường.
c) Các phưong pháp chuyên ngành của Khoa học điểu tra hình sự Thường được chia thành 2 nhóm cụ thể:
Nlìóm /.ế Bao gồm các phương pháp chuyên ngành của chính bản thán Khoa học điều tra hình sự chẳng hạn như: trong kỹ thuật hình sự có các phương pháp về ánh hình sự, dấu vết súng đạn, đường vân, cháy nổ.ế.; trong chiến thuật điều tra hình sự có các phương pháp về khám nghiệm hiện trường, bắt, khám xét. hỏi cung bị can...; trong phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể có phương pháp điều tra vụ án gián điệp, điều tra vụ án hoạt dộng nhằm lật đổ...
Nlìóm 2: Các phương pháp của những khoa học khác được Khoa học điều tra hình sự ứng dụng như: các phương pháp toán học (phương pháp cân, đo, đong đếm); các phương pháp vật lý, hóa học, hóa lý chú yếu được sử dụng trong kỹ thuật hình sự đế ghi lại và nghiên cứu các dấu vết có tính chất hóa lý; các phương pháp sinh lý người được sử dụng khi tiến hành các cuộc giám định như xác định tính đồng nhất của con người sống và các thi thể dựa trên các dấu hiệu sinh lý người, khi tiến hành nhận diện, truy nã đối tượng.
II - MỘT SỐ NÉT VỀ QUÁ TRỈNH PHÁT TRIEN c ủ a k h o a h ọ c ĐIỂU TRA HÌNH s ự , Mổl QUAN HỆ CỦA KHOA HỌC ĐIỂU TRA HÌNH S ự VÀ CÁC NGÀNH KHOA HỌC PHÁP LÝ LIÊN QUAN 1. Một sô nét về quá trình phát triển của Khoa học điều tra hình sự
- Từ cuối thế ký XIX. ớ một số nước trên thế giới đã xuất hiện môn Khoa học điéu tra hình sự.
13
Nét đặc trưng của Khoa học điều tra hình sự thời đó là tập trung nghiên cứu về kỹ thuật hình sự, nghiên cứu việc ứng dụng khoa học và công nghệ cao vào công tác điều tra hình sự. BỚI vậy, Khoa học điều tra hình sự ở một sô nước được gọi là “Kỹ thuật hình sự”, “Cảnh sát kỹ thuật”, “Cảnh sát tư pháp”.
- Ở Liên Xô và các nước Đông Âu (cũ) Khoa học điều tra hình sự đã có từ trước cánh mạng tháng 10 năm 1917 nhưng chủ yếu nghiên cứu kỹ thuật hình sự. Sau Cách mạng tháng 10 nãm 1917, nền Khoa học hình sự Xô Viêt được phát triển mạnh mẽ, toàn diện từ những phát triển mạnh về lý thuyêt Kỹ thuật hình sự, Chiến thuật điều tra hình sự và Phương pháp điều tra tội phạm cụ thể.
- Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam đấu tranh quyết liệt chống trả các âm mưu của các thế lực thù địch. Khoa học điều tra hình sự từ thực tiễn của cuộc đấu tranh chống tội phạm, gắn liền với sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Thời kỳ đầu Khoa học điều tra hình sự chủ yếu nghiên cứu về kỹ thuật hình sự, các bộ phận khác của Khoa học điều tra hình sự ít được đề cập, quan tâm đến. Đến hội nghị Khoa học hình sự toàn quốc năm 1990 mới thống nhất được hộ thống của Khoa học điều tra hình sự gồm 4 bộ phận: Lý luận chung về Khoa học điều tra hình sự; Kỹ thuật hình sự; Tổ chức và chiến thuật điều tra hình sự; Phương pháp điều tra tội phạm cụ thể.
Hiện nay, Khoa học điều tra hình sự đã được thừa nhận là một nền khoa học độc lập có đối tượng, phương pháp nghiên cứu riêng, có hệ thống cấu trúc gồm các bộ phận hợp thành liên hộ chặt chẽ với nhau.
- Hướng phát triển của Khoa học điều tra hình sự trong thời gian tới:
+ Tập trung nghiên cứu hoàn thiện Lý luận chung của Khoa học điểu tra hình sự.
+ Nghiên cứu ứng dụng những thành tựu khoa học và cống nghệ tiên tiến trên thế giới vào lĩnh vực điều tra hình sự, đặc biệt là kỹ thuật hình sựỗ
+ Nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu những đặc điểm hình sự của các loại tội phạm, tổng kết những thành tựu mới nhất của thực tiễn điều tra và thực tiễn giám định hình sự, hình thành những chỉ dẫn khoa học mới trong lĩnh vực điều tra.
+ Hoàn thiện hệ thống các khái niệm, thuật ngữ của Khoa học điều tra hình sự.
+ Xây dựng lý luận và phương pháp luận điều tra các tội phạm cụ thể. 14
2. Mối quan hệ của Khoa học điểu tra hình sự và các ngành khoa học pháp lý liên quan
a) Mối quan hệ giữa Khoa học điêu tra hình sự với Khoa học luật hình sự
— Khoa học luật hình sự xác định những hành vi bị coi là tội phạm và quy định những dấu hiệu bắt buộc phải có của nó.
Khoa học điểu tra hình sự có nhiệm vụ làm cho Luật Hình sự đi vào thực tiễn cuộc sống xã hội bằng chính phương tiện, phương pháp, chiến thuật, thủ thuật, các chỉ dần khoa học cùa mình. Trong khi xây dựng phương pháp điều tra từng tội phạm cụ thể, Khoa học điều tra hình sự coi các dấu hiệu đặc trưng trong cấu thành của từng tội phạm cụ thể trong Bộ luật Hình sự Việt Nam là một trong những căn cứ quan trọng nhất để xây dựng đặc điểm hình sự của tội phạm và đối tượng chứng minh cho quá trình điều tra. Mặt khác các nguyên tắc, nhiệm vụ của Luật Hình sự luôn luôn được quán triệt sâu sắc trong quá trình nghiên cứu soạn thảo Khoa học điều tra hình sự.
Thực tiễn công tác điều tra hình sự và Khoa học điểu tra hình sự sẽ kiểm nghiệm độ chính xác, tính hợp lý, cần thiết, sự khiếm khuyết trong các quy định của Luật Hình sự, từ đó có thể đưa ra những gợi ý cho các nhà làm luật và sự cần thiết phải hình sự hóa một loại hành vi nào đó chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự hoặc ngược lại phải phi hình sự hóa một loại hành vi nào đó đã được quy đinh trong Bộ luật Hình sự nhưng không còn phù hợp nữa.
b) M ôi quan hệ của Khoa học điều tra hình sự với Khoa học luật tô tụng hình sự
Khoa học luật tố tụng hình sự nghiên cứu xác định giới hạn hay điều kiện áp dụng những chỉ dẫn của Khoa học điều tra hình sự trong hoạt động điểu tra. Khoa học luật tố tụng hình sự nghiên cứu xác định hệ thống các quy định về trình tự thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, xác định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và môi quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tô tụng, xác định quyền và nghĩa vụ cùa những người tham gia tố tụng và của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.
Luật Tố tụng hình sự là cơ sờ pháp lý có tính bắt buộc điều chỉnh hoạt động điểu tra, quy định rõ chức nãng, nhiệm vụ, thẩm quvển của Cơ quan điều tra, Thủ trường, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong
15
quá trình điều tra vụ án hình sự, các biện pháp, chiên thuật, thù thuật trong điều tra hình sự mang tính đặc thù riêng nhưng không được trái với các quy định của Luật Tô tụng hình sự.
- Khoa học điều tra hình sự nghiên cứu và đưa ra những phương tiện, biện pháp, những chỉ dẫn nhằm thực hiện các quy định của Khoa học luật tô tụng hình sự một cách có hiệu quả nhất, cho nên Khoa học điều tra hình sự, hoạt động điều tra là phương tiện chuyên Luật Tố tụng hình sự, tri thức, kêt quả nghiên cứu của Khoa học luật tố tụng hình sự vào thực tiễn cuộc đấu tranh chỏng tội phạm. Khoa học điều tra hình sự là “nguồn cung cấp nguyên liệu” cho Luật Tố tụng hình sự và Khoa học luật tô tụng hình sự dê phát triển hoàn thiện.
c) Mỉ ối quan hệ của Khoa học điếu tra hình sự và Tội phạm học
Tội phạm học nghiên cứu những nguyên nhân, điều kiện phạm tội và đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm, Khoa học điều tra hình sự cũng nghiên cứu việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm nhưng những biện pháp đó chủ yếu mang tính chất kỹ thuật hoặc chiến thuật. Những biện pháp này được tội phạm học sử dụng để đưa vào hệ thông các biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Mặt khác, những chỉ dẫn của tội phạm học về các loại người phạm tội, các nguyên nhân đặc trưng của các loại tội phạm cụ thể được Khoa học điều tra hình sự sử dụng để nghiên cứu và đưa ra đặc điểm hình sự của các loại tội phạm cụ thể, xác định các phương pháp điều tra, phòng ngừa tội phạm phù hợp.
d) Mối quan hệ của khoa học điều tra hình sự với Tám lý học tư pháp
Tâm lý học tư pháp nghiên cứu quy luật, quá trình, đặc điểm tâm lý của những người tiến hành và tham gia các quá trình Tố tụng hình sự. Những kết quả nghiên cứu của Tâm lý học tư pháp sẽ giúp Khoa học điều tra hình sự hình thành được những phương pháp, chiến thuật có cơ sở khoa học và tối ưu hóa các phương pháp, chiến thuật này. Mặt khác, đối với Điều tra viên thì tri thức tâm lý tư pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức và vận dụng các chiến thuật điều tra hình sự.
Ngược lại, Khoa học điều tra hình sự là nguồn cung cấp thông tin về thực tiễn điều tra giúp tâm lý học tư pháp trong việc xác định hướng nghiên cứu các vấn đề tâm lý cần giái quyết đối với thực tiễn.
16
CHUÔNG í
DẤU VÉT HÌNH S ự
I - KHÁI NIỆM, CÁCH PHÂN LOẠI, Ý NGHĨA CỦA DẤU VẾT HÌNH S ự
1. Khái niệm
Dấu vết hình sự là những phản ánh vật chất hình thành trong mối quan hệ với những sự việc mang tính hình sự.
Trong thế giới khách quan, vật chất luôn luôn vận động. Mọi sự vận động và biến đổi của các sự vật, hiện tượng đều để lại các dấu hiệu, đặc điểm, sự phản ánh ấy là dấu vết.
Phản ánh là thuộc tính của vật chất. Các sự vật, hiện tượng mang tính hình sự cũng không thể tách khỏi quy luật chung này.
Mỗi vụ việc mang tính hình sự đều gây nên những phản ánh trong ý thức của con người (thủ phạm, nạn nhân, người biết việc) được gọi là phản ánh tinh thần và phản ánh trong môi trường xung quanh (hiện trường, nạn nhân...) được gọi là phản ánh vật chất. Tuy có sự khác nhau về hình thức phản ánh nhưng về bản chất kết quả của cả hai dạng phản ánh này trong các vụ việc mang tính hình sự đều được xác định là dấu vết. Trong kỹ thuật hình sự, một bộ phận cấu thành của khoa học điều tra hình sự, dấu vết được nghiên cứu chủ yếu ờ dạng phản ánh vật chất.
17
Dấu vết hình sự bao hàm cả "tính hình sự" và "tính liên quan". Nếu một biểu hiện vật chất nào đó hình thành mà không có liên quan gì đến vụ việc mang tính hình sự thì không được coi là dấu vết hình sự.
Cần phân biệt dấu vết hình sự với dấu vết tội phạm. Dấu vết tội phạm là những phản ánh vật chất do tội phạm gây ra. Trong quá trình điều tra có những trường hợp chưa hoặc không xác định được ngay dấu vết nào là dấu vết tội phạm, vì trong số các dấu vết hình sự có dấu vết là tội phạm, có dấu vết không phải là tội phạm mà chỉ là dấu vết mang tính hình sự. Từ dấu vết hình sự xác định được dấu vết tội phạm.
Dấu vết phản ánh các sự vật, hiện tượng thê hiện rất đa dạng, ơ hiện trường xuất hiện cả dấu vết hình sự và những dấu vết không có liên quan đến sự việc hình sự. Vì vậy, để xác định một dấu vết là dấu vết hình sự cần phải dựa vào các căn cứ sau đây:
- Sự phản ánh ấy phải phù hợp với nội dung và tính chất của vụ việc xảy ra. - Phù hợp với thời gian diễn ra sự viộcệ
- Phù hợp với không gian và địa điểm diễn ra sự việc.
- Phù hợp với phương thức, thù đoạn hoạt động của tội phạm.
Dấu vết hình sự hình thành và tổn tại theo quy luật. Tuy nhiên, trong công tác điều tra cần chú ý các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và tồn tại của dấu vết hình sự, đó là: Thuộc tính và đặc điểm của đối tượng gây dấu vết và đối tượng mang dấu vết; sự tác động qua lại giữa đối tượng gây dấu vết và đối tượng mang dấu vết; điều kiện môi trường và sự tự biến đổi.
2. Phân loại dâu vết hình sự
Có nhiều cách phân loại dấu vết hình sự khác nhau. Trong thực tiễn thường gặp những cách phân loại sau:
- Phân loại theo đối tượng gây dấu vết và bản chất của dấu vết thì có các loại dấu vết sau:
+ Dấu vết công cụ;
+ Dấu vết đường vân;
+ Dấu vết phương tiện giao thông;
+ Dấu vết chân, giầy, dép;
18
+ Dấu vết súng đạn;
+ Dấu vết răng;
+ Dấu vết cháy, nổ và sự cố kỹ thuật;
+ Dấu vết hóa học;
+ Dấu vết sinh vật...
- Phân loại theo sự hình thành của dấu vết có các dấu vết sau: + Dấu vết in;
+ Dấu vết trượt;
+ Dấu vết cắt;
+ Dấu vết khớp.
- Phân loại theo tính chất phản ánh và điều kiện hình thành của dấu vết hình sự thì có hai loại dấu vết sau:
+ Dấu vết phản ánh hình dạng bên ngoài và một số thuộc tính cũng như cấu trúc bên trong của đối tượng gây dấu vết mà đặc điểm của nó là các nghiên cứu chủ yếu để truy nguyên chúng (như dấu vết súng đạn; dấu vết chân, giầy dép, chữ viết...).
+ Dấu vết phản ánh cấu trúc bên trong và có thể một phần hình dáng bên ngoài của đối tượng gây dấu vết được hình thành do sự di chuyển vật chất và thuộc tính vật chất của nó là cái nghiên cứu chủ yếu để truy nguyên chúng (như dấu vết lông, tóc, sợi...).
- Phân loại theo khả năng thị giác có dấu vết ẩn và dấu vết hiện.
3. Ý nghĩa của dấu vết hình sự
- Dấu vết hình sự là một trong những cãn cứ quan trọng để đánh giá về diẻn biến của vụ việc, vể phương thức, thủ đoạn hoạt động của thủ phạm, góp phần xác định nguyên nhân, tính chất, diễn biến của sự việc xảy ra, trên cơ sờ đó xác lập các giả thuyết điều tra xác hợp.
- Dấu vết hình sự là cơ sở để tiến hành truy nguyên đối tượng gây ra dấu vết đê xác lập chứng cứ phục vụ công tác điều tra, xử lý người phạm tội.
- Dấu vết hình sự là một trong những cãn cứ quan trọng để dựng lại hiện trường, tổ chức thực nghiệm điều tra khi cần thiết, đổng thời nó còn là cơ sở
19
để kiểm tra kết quả của các biện pháp điều tra có liên quan khác. Dấu vết hình sự là một căn cứ quan trọng mang tính khách quan đế kiếm tra lời khai của bị can, người làm chứng và kiểm tra kết quả của một số hoạt động điều tra có liên quan khác.
II - PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN NGHIÊN cứu, ĐÁNH GIÁ VÀ GHI NHẬN THU LƯỢM BẢO QUAN CÁC LOẠI DẤU VẾT HÌNH s ự 1 ễ Dâu vết vân tay, vân chân
Dấu vết vân tay, chân là dấu vết của những đường vân (bàn. ngón của tay chân) để lại trên bề mặt các vật, khi có sự tác động của bàn tay, bàn chân vào vật đó. Dấu vết loại này chủ yếu tổn tại ở hai dạng dấu vết in. dấu vết hằn. Bé mặt của vật mang dấu vết cứng và rắn sẽ để lại dấu vết in qua mồ hôi, nước, máu con người có thể nhìn thấy hoặc bằng phương pháp kỹ thuật (ví dụ: trẽn giấy mắt thường khó nhìn thấy). Bề mật vật mang dấu vết mềm hơn vật gây dấu vết sẽ để lại dấu vết hằn (lõm).
Vân tay, vân chân có hai đặc tính cơ bản:
Thứ nhất, tính ổn định: bào thai 5, 6 tháng đã hình thành tương đối hoàn chinh từ sớm và ổn định cho tới khi lớn lên trưởng thành và chết (không thay đổi về sô' lượng, vị trí và đặc điểm các đường vân).
Khi bị phá húy qua da, dường vân cũng bị phá hủy, song để lại sẹo, còn không đường vân sau một thời gian hoàn toàn được hổi phục như cũ.
Thứ hai, tính riêng biệt: Đặc điểm này có giá trị đặc biệt để truy nguyên, vì số lượng và vị trí, đặc điểm cấu tạo các đường vân không ai giông ai.
- Plìương pliáp phát hiện, nghiên cím đánh giá dấu vết vân tay, vân chân: + Sử dụng ánh sáng để phát hiện:
Dùng ánh sáng mật trời hay nhân tạo (hoặc kết hợp), chú ý ở các nơi yếu, thiếu ánh sáng, ở khe, kẽ, phải điểu chỉnh nguồn sáng, tính vị trí đứng quan sát ờ góc độ và cự ly thích hợp.
+ Sử dụng các loại bột kim loại và các chất hóa học:
Bột kim loại (gốm ô xít đồng, ô xít nhôm và ô xít sắt) phài mịn và khô và vật mang dấu vết cũng khô. Thừ rắc bột lên nơi tương tự trước khi lên nơi nghi có dấu vết. Mỗi loại bột có cách rắc khác nhau.
20
Dùng I ốt ( I ốt nóng hoặc phương pháp I ốt lạnh).
Phát hiện được dấu vết (vân tay hoặc dấu vết vân chân) sẽ có cách nghiên cứu riêng.
- Nghiên cí(ì( dấu vết vân tay: đ ể nhận biết dấu vết do ngón tay nào của bàn tay đ ể lại, phái dựa vào các yếu tố:
+ Độ cao thấp giữa các ngón tay trong cùng bàn tay.
+ Các đường vân ở đỉnh đầu ngón tay cái: theo quy luật các đường vân này bao giờ cũng chạy xiên từ trên xuống, sang một bên, nếu xiên về bên phải thì là do ngón cái bàn tay phải để lại, ngược lại.
+ Dựa vào các mẫu vân tay cơ bản gồm 4 mẫu: vân hình cung, vân hình quai, vân hình xoáy và vân hình chữ “S” ngược.
+ Dựa vào trạng thái cầm nắm, tì ấn. Khi cầm nắm, vân tay dấu vết các ngón trỏ, giữa, nhẫn và út của bàn tay phải sẽ in đậm, rõ lệch về phía phải và của bàn tay trái là về phía trái.
- Cách ghi nhận và thu lượm bảo quản dấu vết vân tay, vân chân.
+ Chụp ảnh: Chụp kiểu xác định vị trí, ảnh mô tả đặc điểm chung và ảnh đặc tả dấu vết (có thước tỷ lệ).
+ Ghi vào văn bản: trong các văn bản nhất là biên bản khám nghiệm hiện trường cần mô tả tỉ mỉ, đầy đủ và chính xác về loại mẫu vân, vị trí của dấu vết. Khi mô tả dấu vết vân tay, chân nêu rõ đặc điểm sau đây:
- Mẫu vân cơ bản của dấu vết (trên, dưới, trước, sau so với một đích nào đó) và vị trí của nó.
- Đặc điểm của dấu vết (rõ hay không rõ đường vân).
- Phương pháp phát hiện tlìii lượm và bảo quán dấu vết.
+ Lập hổ sơ ghi nhận dấu vết vào sơ đồ chung và sơ đồ riêng.
Ở sơ đổ chung cần thể hiện cho được chiều hướng, vị trí trạng thái và mối tương quan giữa các dấu vết, giữa dấu vết với đồ vật ở hiện trường.
Ở sơ đồ riêng phải thể hiện cho được hình thể, đặc điểm và kích thước của dấu vết.
Các số liệu ờ sơ đồ phải thống nhất với nội dung ghi ở biên bản. 21
+ Đổ khuôn bằng thạch cao hoặc bằng si-li-ken (áp dụng khi dấu vết ở dạng hằn (lõm).
+ Sao in bằng giấy “Pô-li” sau khi dấu vết được hiện lên rõ ràng bằng phím quét các loại bột (đồng, nhôm, sắt, bổ hóng, muỗi khói nhựa PVC, cao su, cần dùng giấy pô li để sao inề Giấy pô li có 3 mầu (đen, trắng và trong suốt) cấu tạo làm 3 lớp: lớp đế (mềm và dài), lớp nhựa dính (có tác dụng giữ lớp bột đã làm rõ các chi tiết, đặc điểm của dấu vết) và lớp bảo vệ (làm bằng mi ca trong suốt và mỏng). Khi dùng: bọc lớp giấy bảo vệ riêng: áp mặt nhựa dính từ từ vào dấu vết đã được hiện rõ trước đó từ 30 giây đến 1 phút, rồi từ từ gỡ ra và lập tức áp ngay lớp bảo vệ lên lớp dính (áp từ từ đê đẩy hết bọt khí ra khỏi mặt lớp nhựa dính). Dùng giấy pô li màu do mầu sắc trái lại của dấu vết đã hiện ra.
+ Thu vật mang dấu vết về cơ quan điều tra:
Những vật mang dấu vết nhỏ, gọn, nhẹ (mảnh kính, đoạn dây, búa, dao, chai lọ...) cần mang về cơ quan điều tra để tiện phát hiện và nghiên cứu dấu vết song phải ghi vào biên bản khám nghiệm hiện trường trước khi thu về. Cách thu, mang tránh tác động xấu vào dấu vết ở trên vật mang dấu vết.
+ Bảo quản vật mang dấu vết và các dấu vết.
Phải đóng gói riêng từng dấu vết, từng vật mang dấu vết và bên ngoài cần phải ghi rõ: số thứ tự, tên vụ án, thời gian và nơi sảy ra vụ án, họ tên người phát hiện, thu lượm bảo quản. Có thể dùng bìa cứng, hộp các tông, ống thủy tinh để bảo đảm an toàn trong thu lượm, vận chuyển, nghiên cứu và lưu giữ.
Các dấu vết thu lượm bằng in sao qua giấy pô li phải bảo quản ở nơi khố ráo, thoáng gió và khi vận chuyển phải để trong phong bì.
2. Dấu vết cơ học
Dấu vết cơ học gồm: dấu vết tay, chân, giày, dép, dấu vết phương tiện giao thông (chủ yếu là phương tiện giao thông bộ) dấu vết công cụ, dấu vết khóa, dấu vết súng đạn, dấu vết răng, dấu vết khớp... Đối tượng gây dấu vết và đối tượng mang dấu vết của dấu vết cơ học rất đa dạng. Dấu vết để lại hiện rõ tới mức nào phụ thuộc nhiều vào thuộc tính, đặc điểm tốc độ chiều hướng, thời gian cũng như lực và góc độ tác động giữa hai đối tượng (gâv và mang dấu vết) với nhau.
22
Mỗi loại dấu vết cụ thể của dấu vết cơ học, có phương pháp phát hiện, nghiên cứu đánh giá và ghi nhận, thu lượm bảo quản riêng. a) Dấu vết chán, giầy, dép
- Đặc điểm cấu tạo dấu vết chân giầy, dép:
Dấu vết loại này chia làm 4 phần: phần ngón, phần dưới các ngón, phần lõm bàn chân, phần gót chân.
Dấu vết chân có 3 loại:
Thứ nhất, dấu vết chân dầy (phần gan bàn chân to bè, không hoặc quá ít phần lõm vào).
Thứ lĩai, vết chân lõm (phần giữa gan bàn chân lõm vào rõ rệt, có khi bị tách thành hai phần giữa phần gan và phần gót).
Thứ ba, vết chân bình thường (phần gan bàn chân hơi lõm một chút).
Dấu vết giày có có ba phần chính: mũi giày, đế giầy và gót giầy. Ngày nay có nhiều loại giầy, dép, khác nhau được sử dụng ngày càng rộng rãi và luôn được cải tiến theo thời trang, sở thích lứa tuổi và địa phương. Nên phải có cách đánh giá cụ thể khi nghiên cứu.
- Phương pháp phát hiện và nghiên cứu, đánh giá:
Đày là loại dấu vết có mặt phổ biến ở các hiện trường và có tác dụng lớn trong điểu tra xử lý.
Cách phát hiện tương tự như khi phát hiện dấu vết vân tay, chân.
Nghiên cứu dấu vết chân, giầy dép rút ra những cơ sở để nhận định về diễn biến của sự việc, hành động của thủ phạm. Cụ thể, có thê nhận biết:
+ Tầm cao của người để lại dấu vết (theo công thức và bản hệ số). + Nhận biết loại và cỡ giầy, dép (theo một công thức cho trước). + Nhận biết số lượng người có mật ở hiện trường.
+ Hướng mà thủ phạm đến và thoát khỏi hiện trường.
+ Sự đi lại hoạt động của thủ phạm tại hiện trường.
- Nhận biết dáng đi của thủ phạm, có khuyết tật hay không (bị thọt, đi lại khập khiễng, đi vòng kiềng, đi kiểu chữ bát, chống nạng hay chân giả...). - Nhận biết được trạng thái đi lại của thủ phạm (nhanh hay chậm, chạy nhảy, đi thường, hay đi lùi...).
23
- Nhận biết thủ phạm có mang vác nặng hay không.
Phương pháp ghi nhận, thu lượm và bảo quản dấu vết chân giầy, dép. Vận dụng ba phương pháp là chụp ảnh, ghi nhận vào biên bản và lập sơ đồ. Trường hợp dấu vết chân giầy, dép để lại ờ trạng thái hằn có thể áp dụng
phương pháp đổ khuôn thạch cao (Theo phương pháp thạch cao ướt và thạch cao khô).
b) Dấu vết phương tiện giao thông bộ
- Đặc điểm hình thành của dấu vết giao thông đường bộ:
Phương tiện giao thông bộ là các loại xe ô tô, xe gắn máy hoặc không gắn máy, bánh lốp, bánh gỗ hoặc bánh sắt xe chạy trên mặt đường những dấu vết mặt lốp bánh xe hoặc các loại dấu vết khác của xe.
Lốp xe có nhiều loại đường vân và mặt lốp khác nhau.
Khi chạy với tốc độ chậm bình thường trên đường mềm hoặc ướt thì đường vân mặt lốp tương đối rõ.
Khi xe đang chạy gặp tình huống đột xuất, trở ngại, người lái sử dụng phanh thì dấu vết mặt lốp chỉ còn là một vết dài (một số trường hợp có đường vân mặt lốp). Nếu tinh huống bất ngờ, thì mặt đường sẽ để lại một vết đen (nếu phanh gấp). Độ dài, độ đậm của vết đen phụ thuộc vào tốc độ xe đang chạy, trọng tải xe và mặt đường. Trên đường đất, vết kéo lê này sẽ rất rõ.
Hiện tượng xe pa-ti-nê (xê trượt, các bánh xe quay mà xe không di chuyển) các vật nhỏ bắn tóe về phía sau và hai bên bánh xe theo hướng sau xe.
Ngoài dấu vết mặt lốp, còn có một sô dấu vết khác cũng để lại như: + Dáu vết chất lỏng ở xe rơi ra (nước, bùn, dầu, xăng).
+ Dấu vết sơn (khi gây tai nạn hoặc chạm vào vật nào đó).
+ Mảng kính (kính chắn gió, kính đèn, gương phản chiếu). Thu mảnh kính trên hiện trường để khớp lại với phần kính còn lại ở xe người gây tai nạn.
Ngoài ra, khi xe gây tai nạn và va chạm có thể để lại các vết xước thúng, bẹp, gẫy.
- Phương pháp phát hiện và nghiên cứu, đánh giá dấu vết cùa phương tiện giao thông đường bộ:
24
+ v ề phương pháp tương tự các trường hợp trên (đường vân tay, chân.ẵ)-
+ Nghiên cứu phân tích các loại dấu vết của phương tiên giao thông đường bộ để lại trên hiện trường, dọc đường trốn chạy sau khi gây tai nạn, có thể nhận biết được.
- Loại và kiểu xeẾ. qua số lượng vết bánh xe (xe đạp, mô tô thì để lại một vết; ô tô du lịch 2 vết cũng như xe vận tải cỡ nhỏ, xích lô, ô tô vận tải chở thực phẩm loại nhỏ để lại 3 vết, ô tô vận tải loại lớn từ sáu bánh trờ lên để lại 4 vết bánh xe) qua mầu đường vân mặt lốp (mẫu vân, bề rộng mặt lốp tìm ra xe gây tai nạn) qua khoảng cách giữa hai trục bánh xe mà xác định xe để lại dấu vết.
- Nhận biết hướng xe chạy: Điều tra các vụ tai nạn giao thông mà lái xe gây tai nạn bỏ trốn, tìm ra hướng chạy là vấn để rất có ý nghĩa. Căn cứ vào các cơ sở sau để xác định hướng xe chạy.
Khi xe chạy mà tránh ổ gà, các chướng ngại vật thì phía góc nhỏ chỉ hướng xe chạy tới (so với trục đường).
Khi xe chạy qua hòn đá, rễ cây bên phải và trái của hòn đá đều có khoảng trống không có vết lốp bánh xe đi qua để lại. Xe chạy theo hướng có khoảng trống dài hơn.
Khi bánh xe lăn qua những hòn đá, hòn sỏi, gạch nằm ở những hố con thì nhũng vật này sẽ bị bật tung về phía sau của hướng xe chạy.
Vết phanh cháy mật đường: hướng xe chạy theo hướng vết phanh đậm dần. Vết xe bị trượt (pa ti nê) hướng xe chạy là hướng mà không có các vật bị bắn tung tóe.
Vết xe chạy qua bùn, đất ướt, chất có màu thì xe chạy theo hướng vết bùn, đất mờ dần.
Vết xe chạy qua vũng chất lỏng thì xe chạy tới theo hướng các tia chất lỏng bị bắn tung tóe và vết lốp xe in mờ dần.
Vết xe chạy qua cỏ, cỏ bị cuốn ngả theo hướng xe chạy.
Trong khi xe đang chạy chất lỏng trên xe rơi xuống mặt đường nên vết có hình hoa chuối hoặc như chiếc chai.
Đầu nhọn cùa vết này chỉ hướng xe chạy.
25
- Nhận biết tình trạng kỹ thuật của xe.
Lốp xe bị non hơi: dấu vết bề mặt lốp bè to ra hem và ngoằn ngoèo. Mảnh kính vỡ, các vật ở xe rơi ra; hư hỏng một số bộ phận. - Nhận biết tốc độ xe khi gây nạn qua dấu vết phanh: xác định được điều này qua công thức v = 2GES
V : vận tốc
G: gia tốc
E: hệ số ma sát đường
S: Độ dài vết phanh
- Các ghi nhận và thu lượm bảo quản dấu vết phương tiện giao thông đồng bộ cũng tương tự các trường hợp trên. Song cần chú ý: Cạnh dấu vết xe cộ còn có một số dấu vết khác, có thể có dấu vết khó nhìn thấy, vì vậy phải có kỹ thuật thích hợp. Bảo quản tốt các dấu vết ở dạng dấu vết khớp.
c) Dấu vết công cụ
- Điều kiện và đặc điểm dấu vết công cụ.
Bọn tội phạm thường sử dụng nhiều công cụ rất khác nhau vào thực hiện tội phạm, do đó chúng thường để lại dấu vết dụng cụ ở hiện trường vụ án hình sự.
Dấu vết công cụ để lại mờ hay rõ phụ thuộc vào ba điều kiện: Thứ nhất, đối tượng mang dấu vết phù hợp.
Thứ hai, công cụ mang dấu vết thích hợp.
Thứ ba, phải có một lực nhất định tác động.
Dấu vết công cụ thường tồn tại ở các dạng cụ thể sau:
+ Dấu vết hằn, hình thành khi công cụ được thủ phạm dùng cậy hay bẩy, đánh, đập, trọc... vào đối tượng mang dấu vết. Ở loại dấu vết này lại mang các đặc điểm công cụ.
+ Dấu vết trượt, hình thành do công cụ bị trượt trên bể mặt vật mang dấu vêt nên thường đê lại dấu vết chỉ rõ hình dáng chung của công cụ.
+ Dấu vết cắt: thường do công cụ một lưỡi gây ra (đục, rìu, dao...) hoặc công cụ hai lưỡi (dao, kìm, kéo...) mỗi loại công cụ khác nhau do cách sử dụng cắt khác nhau, nên để lại hình thù dấu vết riêng.
26
- Phương pháp phát hiện và nghiên cứu đánh giá dấu vết công cụ. Qua nghiên cứu, phân tích dấu vết công cụ ở hiện trường có thể nhận biết:
+ Loại và kiểu công cụ để lại dấu vết:
* Dấu vết cắt do loại công cụ một lưỡi gây ra sẽ có hai mặt cắt và hai góc cắt. * Dấu vết cắt do loại công cụ hai lưỡi gây ra sẽ có bốn mặt cất và bốn góc cắt.
Kết hợp kinh nghiệm tích lũy có thể xác định ra công cụ cụ thể gây ra dấu vết.
+ Dấu vết do loại khoan nào gây nên.
Khoan xoắn ốc, khoan hình rắn, khoan trung tâm... là các loại khoan phổ biến. Căn cứ vào lỗ, phoi khoan có thể xác định được loại khoan.
Thành dấu vết khoan, vết khoan và phoi khoan hình thành thế nào phụ thuộc nhiều vào độ sắc của lưỡi khoan và lực ấn khi khoan.
+ Nhận biết nghề nghiệp và thói quen của thủ phạm.
Phải kết hợp nhiều tư liệu mới phán đoán ra. Mật cưa gọn, thẳng, ít nhiều thủ phạm biết nghề mộc.
+ Nhận biết hướng tay phá:
Qua dấu vết công cụ và một số dấu vết khác có thể biết thủ phạm cậy phá khóa từ ngoài vào hay trong ra, từ phải hay từ trái sang...
Ví dụ: Khi thủ phạm đập kính thì mảnh kính bị bắn tung ra theo hướng lực tác độngỄ
Khi thủ phạm đào khoét tường thì hướng cậy phá thường là phía đáy lớn của lỗ đục khoét. Chỗ cậy phá ban đầu sẽ có nhiều nguyên liệu làm tường rơi ra và một số dấu vết khác tại nơi đó: vết chân, giầy, dép, khuỷu tay, đầu gối... thủ phạm ở ngoài đục vào thì chỗ đục khoét thường một người chui vào được.
Khi thủ phạm dỡ ngói để chui vào nhà sẽ có dấu vết chân, giầy, dép hay vết tay ở giữa nơi thuận tiện đê ỉeo lên mái ngói (tường, cột đèn, cành cây gần mái...) hoặc (ống dẫn nước, đường cột thu lôi...). Các viên ngói ở mái sẽ có vết bong rêu, rạn nứt (nhất là chỗ mối ghép). Các viên ngói thường để sang hai bên chỗ dỡ. Có một số dấu vết ở chỗ thuận tiện cho việc tụt xuống: vết tay, chân, vết buộc dây, mạng nhện và bụi bị lau đi...
27
- Phương pháp ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết công cụ: Cần chú ý tính đặc thù của dấu vết công cụ ở dạng dấu vết hằn. d) Dấu vết ở khóa
- Cấu tạo của khóa:
Thủ phạm thường cậy, phá hoặc dùng các loại chìa thích hợp đê mờ khi thực hiện tội phạm.
Hiện nay thường dùng nhíp khóa và khóa bi. Mỗi loại có nguyên lý riêng (về cấu tạo và cách mở), ngoài ra còn khóa số.
- Phương pháp phát triển và nghiên cứu, đánh giá dấu vết khóa. Sử dụng tốt ánh sáng, kết hợp sự quan sát của mắt để sơ bộ kết luận xem khóa bị cậy, phá, cưa, cắt hay mở bằng cách nào, phương tiện gì. Sau đó giữ nguyên tình trạng của khóa và áp dụng các phương pháp phát hiện dấu vết.
Từ dấu vết cậy, phá, mở khóa ở hiện trường giúp ta nhận biết: + Loại, kiểu công cụ mà thủ phạm dùng để mở hoặc cậy phá khóa. + Nhận biết khóa bị mở thật hay giả tạo.
- Phương pháp ghi nhận và thu lượm bảo quản dấu vết ở khóa. Phải đặc biệt chú ý thu nguyên vẹn trạng thái ở khóa không tháo rời, không dùng chìa thật hoặc bất kỳ vật gì khác để mở thử.
e) Dấu vết răng
Dấu vết loại này hình thành khi rãng người cắn vào một vật gì nào đó. Loại dấu vết này thường gặp trong các vụ trộm cắp thực phẩm, cưỡng dâm, hiếp dâm, án mạng hay các vụ án gây thương tích...
Việc nghiên cứu dấu vết răng cho phép rút ra đặc điểm của răng, số lượng người gây án.
Mỗi răng có hình dáng và độ lớn không giống nhau. Rãng cừa chiều ngang lớn hơn so với các răng khác; rãng nanh thường nhọn: răng hàm trên bề mặt thường lồi lõm và bề mặt rộng hơn. Các rãng có độ cong khác nhau.
Thông thường dấu vết rãng là do các răng cửa, răng nanh đê lai khi cắn vào vật. Dấu vết do răng hàm để lại rất ít. Dấu vết răng thường để lại ở dấu vết hằn và dấu vết cắn đứt. Dấu vết răng xuất hiện ở dạng nào, có rõ hay không phụ thuộc vào vật mang dấu vết và lực cắn.
28
Trong vụ người chết cần chú ý tìm trên thân thể nạn nhân, chỗ che khuất quần áo hoặc bầm tụ máu chỗ vết thương. Trong các vụ thương tích cần phải hỏi nạn nhân. Ngoài ra, chú ý phát hiện dấu vết của răng gẫy, sứt rơi ra ờ hiện trường hoặc trên các vật khác.
Các vật mang dấu vết răng có thể thu mang về cần đóng gói cẩn thận, nếu là hoa quả thì cho chất Co-ti-len làm cho hoa quả cứng lại (chống thối rữa...) khi mang về bảo quản trong điều kiện lạnh.
Căn cứ vào hình dáng dấu vết đê nhận định dấu vết ấy do các răng nào để lại và đặc điểm vị trí các rãng (răng dô, thụt, dày, thưa, lệch...) các đặc điểm riêng của răng (răng mọc lẫy, mẻ, mòn, sứt, bị sâu ăn khuyết...), nhận định người đê lại vết răng có mang răng giả hay không (khít đều nhau nếu mang cả hàm). Qua vị trí của dấu vết răng cắn còn xác định sự việc diễn ra (sự vật lộn, giằng xé...). Cần tham khảo các ý kiến của các chuyên gia nha khoa...
Ngoài ra, một số trường hợp có thể nhận biết dấu vết răng ấy do người, công cụ nào gây ra hay do con vật nào gây ra (chó, mèo, chuột...).
3. Dâu vết súng đạn
a) Súng đạn có rất nhiều loại và nhiều cỡ đa dạng: dấu vết súng đạn chủ yêu gổm
- Dấu vết trên đầu đạn:
Trên đầu đạn đã bắn, có dấu vết của các đường xoắn, trong nòng súng để lại. Mỗi loại súng, căn cứ dấu vết có thể xác định được nó, dựa vào các cơ sở sau:
+ Sô lượng đường xoắn;
+ Kích cỡ đường xoắn;
+ Chiểu hướng đường xoắn;
+ Góc độ của các dường xoắn;
+ Những đặc điểm riêng của từng đường xoắn (xuất hiện trong quá trình sử dụng súng).
Súng càng mới, những dấu vết của đường xoắn đê lại càng rõ. - Dấu vết trên vỏ đạn.
29
Trên vỏ đạn đã bắn thường có một số vết do các bộ phận sau ở súng gây ra: Hộp tiếp đạn, bộ phận cơ bản, cửa thoát vỏ đạn, móc vỏ đạn. kim hỏa, bộ phận hất vỏ đạn ra ngoài.
Dấu vết trên đầu đạn và vỏ đạn đóng vai trò quyết định tìm ra khẩu súng cần phải dựa vào các dấu vết khác đê lại trên vật cán.
- Dấu vết trên vật cản:
Đây là loại dấu vết đê lại trên những vật mà đầu đạn tác động (đã chạm đến, xuyên qua hoặc nằm lại). Chúng thường tổn tại dưới các dạng: vêt thung, trượt, vết xuyên sâu. Bờ miệng dấu vết ở hướng đạn xuyên vào gọn và có dạng hình tròn hay bầu dục tùy thuộc vào góc độ bắn.
Nếu bắn ở cự ly gần, xung quanh vết đạn vào đầu tiên ờ vật cản có thể thấy rất rõ các dấu vết do khói thuốc súng và cả thuốc súng cháy chưa hết bám vào. Nếu bắn quá gần lực do thuốc súng tạo nên khi cháy có thế gây nên những dấu vết phá.
b) Phương pháp phái hiện và nghiên cứu, đánh giá dấu vết súng đạn Từ dấu vết súng đạn, có thể:
- Xác định loại và kiểu súng qua ký hiệu ớ đít vỏ đạn, dấu vết ở đầu đạn. - Xác định hướng bắn. Qua xác định lỗ đạn vào, lỗ đạn ra.
+ Trường hợp bắn gần tuyệt đối: (dí sát súng vào mới bắn) khi ấv vải, da bị xé toạc thành dấu vết hình sao nhiều cánh và bị cháy xém xung quanh thuốc đạn chưa cháy hết và khói thuốc chui sâu vào trong theo đường xuyên của đầu đạn tạo thành khói. Bắn ớ khoáng cách lm thì khói thuốc súng chưa cháy hết tỏa ra bám xung quanh, lỗ đạn vào cự ly càng gần số lượng thuốc và khói bám càng dày đặc, ở lỗ đạn vào có vòng bắn của đầu đạn. Các sợi vải và da thịt bị cuốn vào theo hướng đường đạn đi.
Nếu bắn gần ở cự ly vài mm thì có thể có vết hằn của đầu nòng súng. Bắn với góc độ từ 45"c đến 90I)C độ thì lổ đạn hơi tròn đến tròn. Bắn ớ góc độ nhỏ hơn 45(lC độ thì lỗ đạn vào có hình bầu dục.
Trường hợp bắn xa (lm trờ lên): vải, da... bị cuốn vào theo hướng đầu đạn đi nên bờ lỗ đạn vào gọn.
Trong mọi trường hợp bắn gần tuyệt đối, bắn gần và bắn xa lỗ đạn ra đều có biểu hiện: nếu đạn xuyên qua phần mềm cơ thể thì lỗ đạn ra hơi tròn
30
và hơi to hơn hoặc có khi khó phân biệt lỗ đạn vào hay ra to hơn; da, thịt, xương, vải.ẽ. bị đẩy tung, bờ lỗ đạn nham nhờ, không gọn. Nếu đạn xuyên qua phần cứng của cơ thể hoặc các vật cứng khác thì lỗ đạn ra to hơn lỗ đạn vào một cách rõ rệt.
- Xác định vị trí bắn, cần căn cứ:
+ Hướng bắn: chủ yếu dựa vào xác định lỗ đạn vào, lỗ đạn ra. + Nơi tìm thấy vỏ đạn: nói chung các loại súng, sau khi bắn vỏ đạn nếu bị hất tung sang bên phải và hơi chếch về phía sau một tí cách nơi đứng bắn từ 3 đến 7 m. Trên cơ sở đó mà tìm nơi đứng bắn.
Dĩ nhiên, không thể không dựa vào các dấu vết khác, như đất lún, vỡ lờ, cây cỏ bị giẫm, ngả... mới có thể kết luận một cách chắc chắn.
- Phương pháp ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết súng đạn.
Nếu thấy súng ở hiện trường phải cầm vào nơi không có dấu vết và cẩn thận khóa chốt an toàn, lấy đạn trong nòng súng ra (nếu có) và đóng gói riêng. Tháo băng ra khỏi súng và đếm số đạn đã qua băng đạn. Lập biên bản. Nếu đầu đạn chui vào các vật thì phải nhẹ nhàng lấy ra, tránh để lại dấu vết trên đầu đạn. Nếu đầu đạn ở trên cơ thể người, thì phải rửa sạch máu người bằng nước lã rồi thấm khô mới đóng gói. Nếu có nhiều đầu đạn và vỏ đạn phải đóng gói riêng, tránh cọ xát gây thêm dấu vết. Coi trọng khâu chụp ảnh chung và đặc tả. Nếu dấu vết trên quần áo thì cởi quần áo nạn nhân một cách nhẹ nhàng hoặc cắt ỉấy phần có dấu vết.
4. Dâu vết sinh vật
Dấu vết sinh vật bao gồm dấu vết máu, lông, tóc, sợi, các chất bài tiết, rong, rêu, khuê, tảo, côn trùng,... mà khi hành động phạm tội chúng đã để lại ờ hiện trường.
Dấu vết sinh vật có giá trị truy nguyên cá biệt, tìm ra người cụ thể, qua việc sàng lọc và thu hẹp diện đối tượng điều tra, cùng tài liệu, chứng cứ khác có tác dụng buộc tội bị can.
a) Dấu vết máu
Dấu vết máu ờ hiện trường có khi đọng thành vũng, mảng, có khi là các vết nhỏ li ti, màu của vết máu thường màu đỏ, đỏ sẫm hoặc đỏ nâu... do phụ thuộc vào thời gian tổn tại và yếu tô' môi trường, sự tác động các loại vi khuẩn hóa chất, vì thế nó có thể biến màu.
31
Cần tìm loại dấu vết này nơi thù phạm đập phá, lục lọi, lau chùi, ra chán tay, thay quần áo, vứt bỏ đồ vật hung khí.
Cần tìm kỹ vết máu ở các khe kẽ khuất kín của các phương tiện, hung khí.
Qua dấu vết máu, kết hợp dấu vết khác để nhận biết quá trình diễn biến cùa sự việc, hành động của thủ phạm.
- Trường hợp cơ thê bị chém, bị đánh mạnh vào các mạch máu, hoặc vào phần mềm, nếu bị toác vỡ thì máu sẽ phun thành tia, tạo nên các dấu vết có hình chai một đầu to một đầu nhỏ. Đầu to chỉ hướng máu phun đến.
- Nhận biết độ cao và góc độ của máu khi rơi: nếu vết máu (thường thường) rơi thẳng với độ cao dưới lm thì hình dáng của dấu vết là tròn, xung quanh có hình răng cưa, ở độ cao từ lm trở lên, khi rơi ngoài đặc điểm trên xung quanh bèn ngoài có hình răng cưa viền có những chấm máu li ti khá đều, độ rơi càng cao thì những chấm li ti càng lớn và nhiều. Nếu người bị thương còn sống thì khi di động máu ớ vết thương rơi trên hiện trường vừa có đặc điểm của những vết ở trên cao rơi xuống, vừa có đặc điém dấu vết của chất lỏng từ trên vật di động rơi xuống, trường hợp có người bê, vác nạn nhân bị thương chảy máu mang đi nơi khác thì cũng có dấu vết tương tự.
Máu rơi trên bề mặt không phẳng dấu vết máu để lại không tròn, góc độ rơi càng nhỏ thì sự nhiễu dài càng lớn.
- Nhận biết dấu vết máu có hành động chùi, quệt của thủ phạm gây ra, thì dấu vết máu để lại có hình thù không rõ ràng; vật dùng để lau chùi có dính máu theo đường sọc song song.
Khoa học hình sự ngày nay đủ phương tiện và phương pháp để xác định có phải đó là vết máu, máu gì, nhóm máu.ễ.
- Phương pháp ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết máu: + Chụp ảnh;
+ Thu cả vật mang dấu vết nhỏ gọn, nhẹ (dao, kéo, búa, mảnh chai lọ...). Nếu vật mang dấu vết máu quá cổng kềnh (tường, nền...) dùng phương tiện bóc tách và thu bỏ vào ống nghiệm. Phải làm khô dấu vết máu trước khi đóng gói.
b) Dấu vết lông, tóc, sợi
Khi hành động tại hiện trường, thủ phạm có thể để lại những phần lông tóc, sợi...
32
- Phương pháp phát hiện dấu vết lông, tóc, sợi:
Trước hết phải xác định phạm vi có thể đế lại loại dấu vết này; chúng thường tập trung nơi thủ phạm đi vào hoặc thoát ra khỏi hiện trường (vật rào dậu, tường đổ, mảnh vỡ... các đồ vật thủ phạm đánh rơi, áo, mũ, khăn...). Hiện trường trong nhà, chú ý tìm ở nền nhà, giường, chiếu, góc bàn,... cúc áo, quần, lược chải, găng tay..Ể
- Nghiên cứu, đánh giá dấu vết lỏng, tóc, sợi:
+ Qua hình thể, kích thước, đặc điểm có thể xác định được đó là lông hay tóc ớ bộ phận nào.
+ Lông ấy bị đứt, nhổ hay bị rụng (dùng kính lúp có thể xác định: Phần chân dính lại nhiều tế bào ở lớp da nơi bị nhổ, nếu rụng thì vết ít gần như không có tế bào).
+ Lông ấy bị cắn hay bị đứt.
Nếu bị đứt, đoạn đầu lông bị đứt sẽ không đều, có hình răng cưa. Nếu bị cắt, vết đứt sẽ gọn, sắc, đều.
+ Lông tóc bị nhiệt hay lực cơ học tác động.
Nếu lực cơ học tác động thì chủ yếu biến dạng như corig, xước... nếu bị nhiệt tác động sẽ bị biến màu và ít nhiều bị biến dạng (quăn queo). Nếu nhiệt tác động từ 150oc thì trong ống tóc có bọt không khí.
+ Tóc có bị nhuộm hay không.
Tóc quăn tự nhiên hay do sấy, quấn? Qua xem kỹ phần gốc, các tóc mới mọc nhú ra.
Qua dấu vết sợi còn để lại ở hiện trường ta có thể biết màu sắc và loại sợi cũng như cách dệt.
Kết hợp giám định hình sự có thể xác định hàng loạt vấn để khác. - Cách ghi nhận, thu lượm và bảo quản:
Dùng tay nhặt bỏ vào ống nghiệm (tránh dùng panh, que, để cặp, gắp). Hoặc dùng băng dính trắng nhẹ nhàng áp dán nơi có lông, tóc, sợi rồi từ từ gỡ ra. Dấu vết lông, tóc, sợi cùng vết máu dính trên hung khí thì bảo quản cả hung khí ấy.
33
c) Dấu vết chất bài tiết, nội tiết...
- Tác dụng. Tại hiện trường có thể thủ phạm hoặc những người liên quan để lại các chất: Nước bọt (qua nước bọt, đầu mẩu thuốc lá...), phần nước giải, dịch mũi, đờm, chất nhờn âm hộ... dấu vết của các chất này, gọi là dấu vết bài tiết, nội tiết.
Kết luận về dấu vết chất bài tiết, nội tiết sẽ xác định nhóm máu từ đó có thể đưa ra diện đối tượng nghi gây án.
- Phương pháp phát hiện, ghi nhận và thu lượm, bảo quản dấu vêt bài tiết, nội tiết:
Chủ yếu xác định nơi tập trung hoặc khả năng tập trung các dấu vết loại này. Tùy chất mà có thời gian thu lượm riêng. Chất thu lượm và cách bảo quản cũng khác nhau.
d) Dấu vết tinh trùng
- Tác dụng: Trong các vụ án xâm phạm tình dục thường có tinh trùng của thủ phạm để lại, kết hợp dấu vết tinh trùng với các tài liệu, dấu vết khác cho những cơ sở để nhận định diễn biến hành động của thủ phạm, nguyên nhân, tính chất sự việc xảy ra. Từ chỗ kết luận đúng là dấu vết tinh trùng thì có phải hoặc khả năng của một trong những đối tượng nghi vấn không?
- Cách phát hiện, thu lượm, ghi nhận và bảo quản:
Chú ý tìm lại nơi nạn nhân bị hiếp; các vật dụng để lau chùi, lót... ở quần áo, bẹn, đùi, quanh và trong bộ phận sinh dục. Nếu nạn nhân tố cáo bị hiếp, có thể kết hợp bác sỹ chuyên khoa lấy tinh trùng trong âm hộ (vì tinh trùng tồn tại trong môi trường này 72 giờ).
Thu lượm và bảo quản loại dấu vết này cần phải sử dụng các kiến thức về sinh học và y học.
e) Dấu vết cáy cỏ, rong rêu, khuê tảo và côn trùng
- Khái niệm và tác dụng:
Đế tránh và đánh lạc hướng sự chú ý của cơ quan điểu tra khi dùng chó nghiệp vụ truy lùng, thủ phạm thường lội qua ao, hồ, ruộng... khi ấy trên người, quần áo sẽ mang theo loại dấu vết này.
Khi thủ phạm rình mò, chui vào hiện trường, vật lộn đâm chém... trên quần áo, giày dép... sẽ có bụi phấn của hoa, cây, nước quả dính vào, có khi trong túi áo, quần còn một phần lá, quả, cây cài lại...
34
Một xác chết ở những quãng thời gian khác nhau sẽ có những côn trùng nhất định xâm nhập. Qua nghiên cứu loại dấu vết này có cơ sở xác định thời gian tổn tại ở thực địa của xác chết.
Phương pháp phát hiện, ghi nhận và thu lượm, bảo quản dấu vết cây cỏ, rong rêu, khuê tảo và côn trùng.
Thu thập được loại dấu vết này sẽ có tác dụng làm rõ sự có mặt cũng như diễn biến hành động của thủ phạm tại hiện trường.
5. Dấu vết hóa học
- Khái niệm và cách nghiên cứu, đánh giá xét nghiệm dấu vết hóa học. Dấu vết hóa học là những phần vật chất của các sản phẩm hóa học để lại hiện trường và trên người thủ phạm.
Từ các dấu vết loại này có thể xác định diện đối tượng khi gây án. Kết hợp phương pháp xét nghiệm hóa lý của kỹ thuật hình sự sẽ giải quyết khá lớn các yêu cầu đặt ra (các loại độc tố, thuốc gây nghiện, chất dẻo...).
- Cách phát hiện, ghi nhận và thu lượm, bảo quản.
Tùy thuộc vào ba thể cơ bản của dậu vết hóa học là: thể rắn, thể lỏng và thể khí mà có cách riêng. Cán bộ điều tra phải có hiểu biết chuyên môn nhất định hoặc sử dụng chuyên gia vào quá trình.
III - PHƯƠNG PHÁP LẤY m ẫu s o s á n h
1 ề Sự cần thiết
- Khi đã có dấu vết hình sự thì chưa phải là mục đích của quá trình điều tra. Quá trình chứng minh tất yếu dẫn tới phải xác định người nào hoặc vật nào gây ra và để lại dấu vết ấy. Từ đó tất yếu dẫn đến chỗ: Cơ quan điều tra phải lấy các vật mẫu tương ứng ở người, vật nghi vấn để xét nghiệm và giám định. Những thứ lấy ờ người, vật nghi vấn gọi là mẫu so sánh.
2. Yêu cầu cơ bản khi lấy mẫu so sánh
a) Đủ số lượng
- Mẫu so sánh mà các chất hóa học phải từ một gram trở lên. ở thể lỏng, thể khí từ 500ml trờ lên:
35
- Mẫu so sánh là các vật bằng kim loại: ít nhất là 1/4 các vật có trọng lượng là lkg và 1/2 đối với vật nhỏ hơn.
- Lông tóc ít nhất 10 chiếc, lấy ở nơi mọc tương ứng...
b) Bảo đảm về chất lượng
- Đường vàn phải tương đối rõ;
Công cụ, súng, phương tiện gây án... thì nguyên cả vật;
- Không đê các vật hư, thối;
- Không đé lẫn tạp chất.
36
CHƯƠNG ỉ
ĐIÊU TRA TẠI HIỆN TRƯỜNG
I - NHẬN THỨC CHƯNG VỂ ĐIỂU TRA TẠI HIỆN TRƯỜNG Điều tra tại hiện trường là một giai đoạn của quá trình điều tra vụ án có hiện trường, bao gồm những hoạt động điều tra và hoạt động cần thiết khác được tiến hành một cách cấp bách nhằm thu thập những tài liệu, chứng cứ và ngăn chặn kịp thời có hiệu quả hoạt động phạm tội.
Những vụ án không có hiện trường thì không có điều tra tại hiện trường. Điều tra tại hiện trường thường diễn ra ở giai đoạn điều tra ban đầu đối với vụ án đột xuất xảy ra (cá biệt có các vụ việc mang tính hình sự).
Có trường hợp nhờ tiến hành điều tra tại hiện trường mà xác định được sự việc xảy ra không phải là sự việc phạm tội. Trường hợp xác định có sự việc phạm tội xảy ra, điều tra tại hiện trường xác lập những căn cứ khới tố vụ án, khới tô' bị can, xác lập những căn cứ và điều kiện cần thiết cho cuộc điều tra tiếp theo.
Điểu tra tại hiện trường bao gồm những hoạt động điều tra và hoạt động cần thiết khác được tiến hành một cách cấp bách tại hiện trường.
Điều tra tại hiện trường nhằm thu thập những tài liệu, chứng cứ làm sáng tỏ vụ án, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả hoạt động phạm tội.
Cơ quan điều tra các cấp theo quy định của pháp luật được tiến hành điều tra tại hiện trường.
37
Ngoài ra, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sô' hoạt động điều tra, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ cùa mình có thể tiến hành điều tra tại hiện trường.
Khi tiến hành điều tra tại hiện trường, các cơ quan nêu trên phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan kỹ thuật hình sự. Trong một số trường hợp có thể phải thu hút các cơ quan, chuyên gia trên các lĩnh vực khác nhau tham gia vào quá trình điều tra tại hiện truờng.
n - NHỮNG HOẠT ĐỘNG CÁP BÁCH TẠI HIỆN TRƯỜNG Những hoạt động cấp bách tại hiện trường là những biện pháp được áp dụng ngay không chậm trễ do cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm điều tra tại hiện trường tiến hành tại hiện trường. Sau đây là những hoạt động cấp bách tại hiện trường:
1. Tiếp nhận tin báo, tô giác
Việc tiếp nhận tin báo, tố giác thường do trực ban hình sự các cấp đảm nhận.
Sau khi nhận được tin báo, tố giác, cơ quan công an tiếp nhận tin phải tiến hành xác minh, sàng lọc, nghiên cứu tin, đưa ra quyết định xử lý tin đúng đắn.
2. Tổ chức lực iượng và phương tiện đến ngay hiện trưòng bằng mọi sự ưu tiên nhất
Dựa trẽn cơ sở tin đã được nghiên cứu xác minh, cán bộ trực ban hình sự báo cáo với lãnh đạo, đề xuất các biện pháp cần áp dụng ngay. Lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền, bằng mọi sự ưu tiên nhất tổ chức lực lượng và phương tiện đến ngay hiện trường.
3 ẵ Cứu chữa người bi nạn
Nếu hiện trường có người bị nạn phải tổ chức cấp cứu ngav. Tùy theo vết thương nặng hay nhẹ mà chọn cách cấp cứu ngay tại hiện truờng hoặc đưa ngay người bị nạn đến cơ sở y tế nơi gần nhất.
Trường hợp người bị nạn bị thương nặng thì phải tiến hành lấy lời khai ngay để thu thập những thông tin cần thiết về vụ việc xảy ra. Khi lấy lời khai nội dung cần tập trung khai thác: ai đã gây ra vụ việc, tại sao xảy ra vụ việc đó, người gây ra vụ việc đang ở đâu, việc gì nguy hiểm đang hoặc sắp xảy ra...
38
4 ề Ngản chặn thiệt hại đang tiếp diễn và ngăn chặn những ảnh hưỏng xấu có thể xảy ra
Trường hợp hiện trường đang có những thiệt hại xảy ra về vật chất như kho đang bốc cháy, dầu xăng đang chảy ra từ ống, các chất độc đang rò ri... thì phải tổ chức cứu chữa, ngăn chặn ngay những thiệt hại đang tiếp tục xảy ra.
Các vụ án xảy ra tùy theo tính chất, mức độ, đặc điểm, thời gian, địa điểm, bối cảnh chính trị... đều có ảnh hưởng không tốt đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong một thời gian nhất định. Vì vậy, phải áp dụng ngay những biện pháp cần thiết để hạn chế, ngăn chặn những ảnh hưởng xấu có thể xảy ra.
5. Truy tìm và bắt người phạm tội
Trường hợp biết người phạm tội còn ở xung quanh khu vực hiện trường, chưa chạy được xa hoặc xác định được hướng chạy trốn thì cần phải tổ chức truy tìm, truy lùng, truy bắt người phạm tội.
6. Lây lòi khai ngưòi bi bắt
Trong trường hợp phát hiện ra người gây án thì bắt giữ và lấy lời khai ngay người bị bắt về những vấn đề khẩn cấp như: đổng bọn còn đang lẩn trốn, tài liệu, vật chứng còn cất giấu chưa bị phát hiện, thu giữ, tạm giữ; những hoạt động phạm tội đang tiếp tục xảy ra cần ngăn chận ngay...
7. Bảo vệ hiện trường
Khi đến hiện trường cần tổ chức ngay việc bảo vệ hiện trường nguyên vẹn như tình trạng ban đầu khi mới phát hiện.
8. Bảo vệ ngay các dâu vết, vật chứng có nguy cơ bi hư hại Thực tiễn điều tra cho thấy, khi đến hiện trường có những dấu vết, vật chứng đang bị đe dọa hư hỏng do thời tiết, mưa, nắng, gió... trong những trường hợp nêu trên, phải áp dụng ngay những biện pháp và phương tiện thích hợp để bảo vệ ngay những dấu vết, vật chứng đó.
9. Lấy lời khai ngưòi biết việc
Khi xác định có người biết những sự việc phạm tội xảy ra, cán bộ điều tra tại hiện trường phải lấy lời khai của họ về nội dung, điều kiện, hoàn cảnh họ biết được sự việc và những tin tức có liên quan đến quá trình làm sáng tỏ
39
vụ án. Trong nhiều trường hợp lấy ngay lời khai của họ giúp cơ quan điều tra truy tìm, bắt giữ thủ phạm gây án.
10. Ghi nhận những biến đôi trên hiện trường
Cán bộ được cử đến hiện trường đầu tiên phải quan sát hiện trường và ghi nhận những biến đổi trên hiện trường trong suốt quá trình khám nghiệm hiện trường.
Cán bộ khám nghiệm hiện trường cần phải hỏi những cán bộ phát hiện ra hiện trường hoặc bảo vệ hiện trường đầu tiên về những biến đổi trên hiện trường.
11. Sử dụng chó nghiệp vụ truy tìm thủ phạm và vật chứng theo dấu vết "nóng"
12. Khám nghiệm hiện trường
13. Nêu những nhận xét, nhận đinh ban đầu về sự việc đã xảy ra
III - BẢO VỆ HIỆN TRƯỜNG
1. Khái niệm hiện trường
Hiện trường là nơi có dấu vết, vật chứng của tội phạm hoặc liên quan đến tội phạm.
Hiện trường có thể là nơi xảy ra vụ phá hoại máy móc; nơi rải truyền đơn, dán khẩu hiệu phản động; nơi xảy ra vụ cháy, vụ giết người, vụ trộm hay vụ tai nạn giao thông... hoặc cũng có thể chỉ là những nơi đê lại dấu vết, vật chứng liên quan đến những vụ, việc trên mà cơ quan điều tra cần phải nghiên cứu xem xét.
Bọn tội phạm dù gian ngoan xảo quyệt đến đâu, khi hành động cũng không thể xóa được hêt dấu vết và nhất định chúng vẫn phải để lại các dấu vết, vật chứng. Những dấu vết, vật chứng đó phản ánh khách quan quá trinh hành động của chúng ở hiện trường. Vì vậy, hiện trường là nơi quan trọng để thu thập chứng cứ phục vụ cho công tác điều tra, xử lý.
Tùy theo yêu cầu của công tác bảo vệ và khám nghiệm hiện trường mà có các cách phân loại hiện trường khác nhau:
- Phân loại theo địa điểm như: hiện trường trong nhà, hiện trường ngoài trời.
40
- Phân loại theo nội dung, tính chất vụ việc xảy ra như: hiện trượng vụ truyền đơn khẩu hiệu phản động, hiện trường máy móc bị hư hại; hiện trường vụ cháy nổ; hiện trường vụ gây thiệt hại về sức khỏe, sinh mạng và nhân phẩm con người..
Phân loại theo tình trạng của dấu vết, vật chứng như: hiện trường nguyên vẹn, hiện trường bị xáo trộn.
Trong thực tế, một vụ việc xảy ra có thể có một hiện trường, nhưng cũng có vụ có thể có hai, ba... hiện trường. Đối với trường hợp có nhiều hiện trường, hiện trường nào phát hiện đầu tiên thì gọi là hiện trường số 1, các hiện trường được phát hiện tiếp theo thì gọi là hiện trường số 2, số 3... theo trình tự phát hiện.
Bất cứ hiện trường nào, dù đó là nơi xảy ra sự việc hay chỉ là nơi để lại dấu vết, vật chứng cũng đều phải được bảo vệ và khám nghiệm đúng quy định. Phải kiên quyết xóa bỏ nhận thức lệch lạc như cho rằng nơi xảy ra sự việc là: hiện trường chính, các nơi có dấu vết, Vật chứng chỉ là “hiện trường phụ”...
Việc phân loại hiện trường theo các cách trên là cơ sở để lãnh đạo công an các cấp tính toán trong việc điểu động lực lượng và phương tiện kỹ thuật cần thiết, áp dụng những biện pháp thích hợp để bảo vệ và khám nghiệm đạt kết quả đối với từng loại hiện trường.
2. Khái niệm bảo vệ hiện trường
Bào vệ hiện trường là giữ gìn nguyên vẹn tình trạng nơi có dấu vết, vật chícng của tội phạm hoặc liên quan đến tội phạm.
Hiện trường được bảo vệ nguyên vẹn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khám nghiệm đạt kết quả.
Thực tế cho thấy, hiện trường luôn có thể bị thay đổi, xáo trộn do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu do các nguyên nhân sau:
Do con người gây ra như làm cho hiện trường có thể bị thay đổi xáo trộn trong các trường hợp cứu chữa người bị nạn, cứu chữa tài sản, nhà cửa... hay do sự tò mò, mất bình tĩnh, hoảng hốt của những người có mặt tại hiện trường gây nên.
Do sự đi lại, đục khoét cắn phá, rỉa rói.. . của các súc vật gây nên làm thay đổi, xáo trộn hoặc làm hư hại dấu vết, vật chứng ở hiện trường.
41
Do thiên nhiên như mưa, nắng, gió, bão gây ra làm thay đổi, xáo trộn hiện trường, có những trường hợp phá hủy cả dấu vết, vật chứng.
Nhũng yếu tố trên làm thay đổi hiện trường, gây ảnh hưởng không tốt đến kết quả của việc phát hiện, thu lượm, bảo quản và nghiên cứu đánh giá đấu vết, vật chứng ờ hiện trường. Vì vậy, khi nhận được tin báo có vụ việc xảy ra cơ quan công an các cấp cần tiến hành ngay các biện pháp ngãn ngừa những tác động làm thay đổi đấu vết, vật chứng và tình trạng hiện trường; ghi nhận những biến đổi ở hiện trường và những tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ việc xảy ra theo chức năng được phân công và báo cáo ngay cho cơ quan công an cấp trên. Cần nhận thức rằng: Các dấu vết, vật chứng ở hiện trường luôn luôn có nguy cơ bị thay đổi, xáo trộn. Vì vậy, việc giữ gìn nguyên vẹn vị trí trạng thái các dấu vết, vật chứng... là việc làm có tính khẩn cấp, nghĩa là việc bảo vệ, khám nghiệm hiện trường phải được tiến hành ngay sau khi nhận được tin báo.
3. Nội dung bảo vệ hiện trường
Bảo vệ hiện trường bao gồm những công việc sau:
a) Xác định phạm vi hiện trường và tiến hành các biện pháp bảo vệ hiện trường
Khi đến hiện trường lực lượng bảo vệ hiện trường phải xác định ngay phạm vi hiện trường, sử dụng một số biện pháp cần thiết như: cắm biển cấm, chãng dây để khoanh khu vực hiện trường cần bảo vệ và bố trí người canh gác, bảo vệ một cách cẩn thận. Đối với những vụ trọng án, nếu cần có thể lập hai vòng ngăn để bảo vệ hiện trường không cho người ra vào. Nếu phải bảo vệ hiện trường qua đêm thì cần sử dụng các phương tiện hỗ trợ như: Đèn dầu, đèn pin, đèn điện, đèn báo hiệu giới hạn phạm vi hiện trường. Phải có trang bị vũ khí phục vụ cho công tác bảo vệ.
b) Bảo vệ các dấu vết vật chứng, đồ vật... có nguy cơ bị hư hại
Nguyên tắc bảo vệ là phải giữ nguyên vị trí, trạng thái dấu vết, vật chứng, đổ vật ờ hiện trường. Nhưng nếu thấy chúng có nguy cơ bị phá huỷ, bị biến đổi vì một lý do nào đó thì lực lượng bảo vệ hiện trường phải tiến hành một sô biện pháp thích hợp đê bảo vệ.
Đối với những dấu vết, vật chứng, đổ vật đang có nguy cơ bị hư hại biến đổi nhưng có thể áp dụng những biện pháp bảo vệ tại chỗ thì nhất thiết không được đụng chạm hoặc di chuvển chúng.
42
Đối với những dấu vết, vật chứng, đồ vật nếu để nguyên tại chỗ mặc dù đã có những biện pháp bảo vệ nhưng khó có khả năng bảo vệ tốt được thì phải áp dụng những biện pháp khác để bảo vệ như di chuyển chúng đến nơi an toàn... Trước khi di chuyển phải ghi nhận và đánh dấu lại vị trí, trạng thái của chúng và trong khi di chuyển, phải hạn chế đến mức thấp nhất sự thay đổi trạng thái của dấu vết, vật chứng.
c) Ghi nhận những biến đổi ở hiện trường
Trong thời gian bảo vệ, dù ít hay nhiều, hiện trường đều có những biến đổi nhất định do người, súc vật, hoặc do thiên nhiên gây ra. Nếu nhận biết được sự biến đổi ấy thì phải ghi nhận lại. Đó là một trong những nội dung quan trọng của công tác bảo vệ hiện trường.
Phải ghi nhận một cách đầy đủ những gì bị biến đổi, biến đổi như thế nào và tại sao bị biến đổi.
d) Ghi nhận những tin tức, tài liệu có liên quan đến sự việc xảy ra
Bảo về hiện trường không chỉ thụ động trong việc canh giữ không cho người không có nhiệm vụ ra vào khu vực hiện trường, giữ gìn, bảo vệ các dấu vết, vật chứng mà còn phải chủ động nắm mọi tình hình, tin tức, tài liệu có liên quan trong các thời điểm: trước và sau khi sự việc xảy ra.
e) Báo cáo với lực lượng khám nghiệm hiện trường khi họ đến
Lực lượng bảo vệ hiện trường có nhiệm vụ phải báo cáo cho đồng chí chỉ huy và các thành viên trong lực lượng khám nghiệm hiện trường toàn bộ nội dung công việc đã làm và tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ hiện trường cho đến khi đồng chí chỉ huy cuộc khám nghiệm ra lệnh bãi bỏ việc bảo vệ hiện trường.
4. Công tác tổ chức và những vân đề cần chú ý khi bảo vệ hiện trường
Bảo vệ hiện trường có vị trí rất quan trọng đối với việc khám nghiệm hiện trường và công tác điểu tra, nên đòi hỏi cán bộ làm công tác bảo vệ hiện trường phải có kiến thức nhất định mới có thê hoàn thành được nhiệm vụ. Vì vậy, về mật tổ chức, cần phải có sự bô' trí, sắp xếp huy động lực lượng thích hợp.
Người chì huy bảo vệ hiện trường phải là người phụ trách công an ở cơ sở hoặc người phụ trách bảo vệ của cơ quan, xí nghiệp công trường.Ễ.
43
Lực lượng nòng cốt tham gia bảo vệ hiện trường là các chiến sỹ công an, cán bộ bảo vệ ớ các cơ quan xí nghiệp, công trường... Ngoài ra, nếu cần thiết có thể huy động lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ... tham gia.
Trong thực tế, quần chúng nhân dân thường là người đầu tiên phát hiện và có mặt từ đầu ở hiện trường, có trường hợp họ là nạn nhân cùa sự việc xảy ra. Quần chúng nhân dân nếu được học tập, hướng dẫn thì họ có điều kiện và khả năng làm tốt công tác bảo vệ bước đầu đối với hiện trường mà họ phát hiện được. Do đó, bên cạnh việc hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ hiện trường cho cán bộ, chiến sĩ công an và các lực lượng khác làm công tác bảo vệ, công an các cấp cần quan tâm đến việc tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong quần chúng về ý nghĩa, mục đích của việc bảo vệ các hiện trường và phải tìm cách báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất biết mỗi khi có vụ việc xảy ra.
Trong quá trình bảo vệ hiện trường, cần chú ý một số vấn đề sau: - Phải kịp thời, linh hoạt và bao quát được phạm vi hiện trường.
Dấu vết, vật chứng, đồ vật ớ hiện trường luôn luôn có nguy cơ bị người, vật, thiên nhiên làm biến đổi, phá huỷ. Vì vậy, đòi hỏi việc bảo vệ hiện trường phải tiến hành ngay sau khi nhận được tin báo có sự việc xảy ra.
Viộc bảo vệ hiện trường phải hết sức nghiêm ngặt nhưng đồng thời cũng phải linh hoạt trong việc khoanh vùng, xác định phạm vi hiện trường cần bảo vệ, nhất là trong việc cấp cứu người bị nạn, cứu chữa, ngãn chặn những thiệt hại đang tiếp diễn cũng như việc bảo vệ dấu vết, vật chứng.
Mặt khác, việc bảo vệ hiện trường đòi hỏi phải bao quát được toàn bộ phạm vị hiện trường, không rộng quá và không hẹp quá phạm vi cần bảo vệ.
- Không đ ể những người không có nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường ra vào tùy tiện khu vực hiện trường.
Để tạo điều kiện cho khám nghiệm hiện trường đạt kết quả tốt thì trước và trong quá trình khám nghiệm không để cho những người không có nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường ra vào hiện trường một cách tùy tiện. Đó là một vấn đề có tính nguyên tắc.
- Không mang bất cứ đồ vật nào ở khu vực hiện trường đi nơi khác và ngược lại cũng không bỏ bất cứ vật nào vào khu vực hiện trường.
Các đồ vật ờ hiện trường vừa có thể là vật mang dấu vết, vừa có thể là vật gây dấu vết. Vị trí, trạng thái cúa chúng có liên quan chặt chẽ đến diễn
44
biến của sự việc, hành động của thủ phạm. Vì vây, nhất thiết không mang chúng đi nơi khác khi chưa kết thúc cuộc khám nghiệm (nếu thấy không cần thiết cho công tác bảo vệ dấu vết, vật chứng như đã nói ở trên). Mặt khác, cũng không được mang bất cứ vật nào khác vào khu vực hiện trường.
- Không tự ý đi lại và tuỳ tiện đụng chạm vào các đồ vật ở hiện trường.
Tất cả các nơi và đồ vật trong hiện trường đều có khả năng có dấu vết của thủ phạm để lại, do đó việc đi lại ở hiện trường đều có thể làm mất dấu vết, vì vậy lực lượng bảo vệ hiện trường không được tùy tiện đi lại trong hiện trường, chỉ đi lại ở những nơi thật cần thiết và phải đánh dấu những nơi đã đi lại. Tuyệt đối không được đụng chạm vào các đồ vật, trừ trường hợp đặc biệt cần phải di chuyển để bảo vệ dấu vết.
- Không tiết lộ những tin tức, tài liệu vê hiện trường.
Lực lượng báo vệ hiện trường nắm được rất nhiều tin tức tài liệu về hiện trường. Thủ phạm thường rất muốn biết công an đã nắm được những gì có liên quan đến hành động phạm pháp của chúng để tìm cách đối phó. Hơn nữa các vụ việc xảy ra ít nhiều đểu có ảnh hường đến an ninh chính trị hoặc trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, lực lượng bảo vệ hiện trường không được nói cho những người không có trách nhiệm biết về những tin tức, tài liệu quan đến sự việc xảy ra ờ hiện trường cũng như kết quả khám nghiệm hiện trường.
- Không làm việc khác hoặc tự ý rời bỏ vị trí khi dang làm nhiệm vụ bảo vệ hiện trường.
Làm nhiệm vụ bảo vệ hiện trường là đang thi hành nhiệm vụ. Vì vậy, mọi cán bộ chiến sĩ khi được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ hiện trường phải tập trung sức lực đê đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ; phải giữ nghiêm kỷ luật, chưa có lệnh không được rời bỏ vị trí.
IV - KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG
1. Khái niệm
Khám nghiệm hiện trường là tổ chức việc nghiên cíni, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết, vật chứng và các tin tức tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường.
Ngay sau khi nhận được tin báo có sự việc xảy ra cần khám nghiệm hiện trường thì lực lượng khám nghiệm hiện trường phải bằng mọi cách nhanh
45
nhất đến hiện trường và tiến hành ngay việc khám nghiệm. Khám nghiệm hiện trường là hoạt động tố tụng hình sự của Nhà nước, chỉ có cơ quan điều tra mới được tiến hành khám nghiệm hiện trường và việc khám nghiệm hiện trường phải do điều tra viên chủ trì. Quá trình khám nghiệm hiện trường phải được tiến hành theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, ngoài việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, đánh giá, thu lượm và bảo quản các dấu vết, vật chứng liên quan đến sự việc xảy ra, còn phải tiến hành một số công việc điều tra ban đầu như: lấy lời khai người biết việc, nắm tình hình như các đối tượng nghi vấn, thu thập tin tức, tài liệu liên quan đến sự việc xảy ra, còn phải tiên hành một số công việc điều tra ban đầu như: lấy lời khai người biết việc, nắm tình hình các đối tượng nghi vấn, thu thập các tin tức, tài liệu có liên quan.
2. Yêu cầu và nhiệm vụ của khám nghiệm hiện trường a) Yêu cầu của khám nghiệm hiện trường
Đế khám nghiệm hiện trường đạt kết quả tốt cần quán triệt các yêu cầu sau:
- Phái kịp thời: có nghĩa là ngay sau khi nhận được tin báo, phải nhanh chóng bảo vệ và tiến hành khám nghiệm hiện trường. Đây là-một yêu cầu cấp bách của khám nghiệm hiện trường.
- Phái khoa học: Yêu cầu khoa học trong khám nghiệm hiện trường là phải khám nghiệm có kế hoạch, theo đúng quy trình công việc, với tác phong thận trọng, tỉ mỉ, kiên nhẫn, chính xác, khách quan và toàn diện. Mặt khác, phải sừ dụng một cách hợp lý nhất mọi phương tiện kỹ thuật hỗ trợ trong quá trinh khám nghiệm đê phát hiện, ghi nhận đánh giá, thu lượm và bảo quản tốt các dấu vết, vật chứng.
Để đảm bảo thực hiện tốt yêu cầu này, trong quá trình khám nghiệm phải chống lối làm việc hời hợt, qua loa, đại khái, lối suy nghĩ phiếm diện, một chiều, định kiến.
- Phái đứng quy đinh của pháp luật: Việc khám nghiệm hiện trường có thê được tiến hành trước hoặc sau khi khởi tố vụ án hình sự. Quá trinh tiến hành khám nghiệm hiện trường phải tuân theo đúng quy định cùa pháp luật.
b) Nhiệm vụ của khám nghiệm hiện trường
- Phát hiện, ghi nhận và thu lượm bảo quản các dấu vết, vật chứng ở hiện trường.
46
Chuyên viên kỹ thuật hình sự cần sử dụng kiến thức nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ cần thiết để tìm, phát hiện bằng hết các dấu vết, vật chứng của tội phạm để lại ở hiện trường và tiến hành ghi nhận, thu lượm và bảo quản chúng một cách đầy đủ, tỉ mỉ, chính xác...
- Đánh giá các dấu vết, vật chứng đã phát hiện được.
Ngay khi phát hiện được các dấu vết, vật chứng ờ hiện trường cần phải nghiên cứu đánh giá chúng một cách tỉ mỉ, thận trọng và chính xác. Chỉ trên cơ sở đó mới có căn cứ khoa học để phán đoán về diễn biến của sự việc, hành động của thủ phạm ở hiện trường; về nguyên nhân, điều kiện và tính chất của vụ án.
- Thu thập, phân tích, chọn lọc những tin tức tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường.
Song song với việc phát hiện, ghi nhận, đánh giá, thu lượm bảo quản các dấu vết, vật chứng cần thu thập, phân tích, chọn lọc các tin tức tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường như dư luận của quần chúng về nguyên nhân, tính chất của vụ việc xảy ra.
2. Phương pháp khám nghiệm hiện trưòng
a) Quan sát
Trước khi khám nghiệm hiện trường một cách tỉ mỉ, cần phải quan sát hiện trường để nắm bao quát vị trí trạng thái chung của hiện trường.
Ở giai đoạn này, chủ yếu dùng mắt để quan sát. Khi quan sát, cần chọn vị trí đứng thích hợp để qua đó có thể xác định và ghi nhận được toàn bộ phạm vi hiện trường, vị trí các dấu vết, vật chứng. Phải hết sức hạn chế sự đi lại trên hiện trường để khỏi làm hư hại dấu vết, vật chứng.
b) Khám nghiệm tỉ m ỉ
Khám nghiệm tỉ mỉ là bước cán bộ khám nghiệm sử dụng kiến thức nghiệp vụ, sử dụng các phương tiện kỹ thuật để phát hiện, nghiên cứu, đánh giá và ghi nhận, thu lượm, bảo quản các dấu vết, vật chứng ờ hiện trường.
Nhiệm vụ của giai đoạn này là nghiên cứu chi tiết, tỉ mỉ hiện trường để phát hiện tất cả các dấu vết, vật chứng tài liệu có liên quan đến sự việc xảy ra. Trong quá trình khám nghiệm, cán bộ khám nghiệm phải xem xét kỹ từng nơi, từng đổ vật nghi có dấu vết liên quan đến sự việc xảy ra với thái
47
độ, tác phong công tác hết sức khách quan, tỉ mỉ, chính xác, thận trọng và toàn diện.
c) Phương pháp khám nghiệm cụ thể
Đổ công tác khám nghiệm hiện trường đạt kết quả trong quá trình khám nghiệm (kể cả giai đoạn quan sát, ghi nhận chung hiện trường) cần áp dụng một số phương pháp khám nghiệm cụ thể sau:
- Khám nghiệm theo phán chia khu vực: là phương pháp khám nghiệm riêng biệt và lần lượt từng khu vực của hiện trường ngay sau khi đã được phân chia. Khám nghiệm theo phương pháp này, hiện trường được chia ra làm nhiều khu vực khác nhau (trong từng khu vực có thể chia ra làm nhiều ô nhỏ để khám). Mỗi khu vực giao cho một cán bộ phụ trách việc khám nghiệm hoặc có thể cả nhóm khám lần lượt từ khu vực này đến khu vực khác. Phương pháp khám nghiệm này thường được sử dụng đê khám đối với những hiện trường có phạm vi rộng lớn, có cấu tạo địa hình phức tạp hoặc tuy phạm vi không rộng nhưng cấu trúc của hiện trường đã có sự phân chia sẵn thành từng khu vực tương đối đập lập với nhau.
Cũng có thê khám nghiệm cùng một lúc từ hai đầu hiện trường lại, hoặc khám song song theo từng khu vực đã được chia.
- Khám nghiệm lần theo dấu vết: Là phương pháp khám nghiệm lần theo những nơi thủ phạm để lại dấu vết, vật chứng đã bước đầu xác định được trong quá trình quan sát.
Phương pháp khám nghiệm này chủ yếu sử dụng đối với hiện trường các vụ việc mà phạm vi có dấu vết, vật chứng không rộng lớn.
3. Xây dựng hồ sò khám nghiệm hiện trưòng
Hồ sơ khám nghiệm hiện trường bao gồm các tài liệu sau:
- Biên bản khám nghiệm hiện trường.
- Sơ đổ hiện trường.
- Bản ảnh hiện trường.
- Báo cáo khám nghiệm hiện trường.
48
CHUUNG4
TỎ CHỨC Đ IÈU TRA v ụ ÁN HÌNH s ự
I - NHẬN THỨC CHƯNG VỀ T ổ CHỨC ĐỀU TRA v ụ ÁN HÌNH s ự 1. Khái niệm
Tổ chức điều tra vụ án hình sự là hoạt động của các cliủ thê điều tra hình sự trong việc xây dựnẹ giả thuyết điều tra, xác định phương hướng điêu tra; xây clipĩẹ k ể hoạch điều tra; chỉ đạo diều tra; tổ chức hợp lý các lực lượng, phương tiện, chiến thuật điều tra trong các giai đoạn điều tra... nhằm xác định sự thật vụ án một cách klìáclt quan, toàn diện, đầy đủ.
Chủ thể chính tổ chức điều tra vụ án hình sự là Thủ trường, Phó Thú trường Cơ quan điều tra, Điểu tra viên, Thủ trưởng các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi tắt là các chủ thê điều tra hình sự). Tuỳ theo vị trí tố tụng của từng thành viên tiến hành và tham gia điểu tra vụ án mà họ có vai trò khác nhau trong hoạt động tổ chức điều tra vụ án hình sự. Thủ trường Cơ quan điều tra là người chịu trách nhiệm tổ chức toàn bộ việc điều tra vụ án. Điều tra viên tổ chức công việc điều tra được Thủ trường, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra giao. Thủ trướng các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điểu tra tổ chức điều tra vụ án do cơ quan mình khới tố ờ giai đoạn đầu, còn các giai đoạn sau thường chỉ giữ vai trò phối hợp.
Tổ chức điểu tra vụ án hình sự bao gồm nhiều hoạt động của các chủ thể điều tra hình sự.
49
Trước hết các chủ thể điều tra hình sự phải xây dựng những già thuyết điểu tra làm cơ sở cho việc xác định phương hướng điều tra.
Sau đó các chủ thể điều tra hình sự phải dựa vào các căn cứ khoa học để xây dụng và thực hiện kế hoạch điều tra. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch điều tra vụ án được tiến hành iheo ba giai đoạn: giai đoạn điều tra ban đầu, giai đoạn điều tra làm rõ vụ án và giai đoạn kết thúc điều tra.
Để thực hiện thành công kế hoạch điều tra vụ án hình sự thì vấn đề tổ chức lực lượng điều tra có vai trò rất quan trọng. Cơ quan điều tra có thể giao cho một Điều tra viên hoặc một nhóm Điều tra viên thụ lý vụ án.
Trong quá trình điều tra đòi hỏi Cơ quan điều tra phải tổ chức tốt môi quan hệ phối hợp với các lực lượng khác đê phát huy sức mạnh tổng hợp trong điều tra vụ án hình sự.
Điểu tra vụ án hình sự là một công tác khó khăn, phức tạp và luôn tiềm ẩn nguy cơ sai lầm. Muốn điều tra vụ án hình sự đạt hiệu quả cao, tránh sai lầm, thiếu sót thì phải đám bảo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Thủ trướng Cơ quan điểu tra và lãnh đạo các cấp có thẩm quyển.
Trên đây là những nội dung chính của hoạt động tổ chức điều tra vụ án hình sự, các chủ thể điều tra hình sự cãn cứ vào đặc điểm, tính chất của từng vụ án để tổ chức thực hiện các nội dung này.
Để tổ chức điều tra vụ án đạt kết quả tốt Thủ trướng Cơ quan điều tra, Điều tra viên và các cán bộ khác tham gia điều tra không những phải có tri thức về điều tra hình sự, mà còn phải có sự hiểu biết về khoa học quản lý, khoa học tổ chức lao động.
2. Vai trò, tác dụng
- Tổ chức điều tra vụ án đóng vai trò rất quan trọng đối với toàn bộ cuộc điều tra. Sự thành công, tính hiệu quả của toàn bộ cuộc điều tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết là việc tổ chức điều tra vụ án có khoa học, hợp lý hay không.
- Nếu tổ chức điều tra vụ án hình sự được tiến hành tốt sẽ mang lại các tác dụng sau:
+ Giúp cho cuộc điều tra được tiến hành đúng hướng, khoa học. đat hiêu quả cao.
50
+ Cơ quan điều tra chủ động lựa chọn, tiến hành và phối hợp các hoạt động điều tra, hỗ trợ điều tra một cách tối ưu.
+ Cơ quan điều tra tiết kiệm lực lượng, phương tiện, kinh phí, thời gian điều tra vụ án hình sự.
3. Yêu cầu
Tổ chức điều tra vụ án hình sự là một bộ phận của công tác điều tra hình sự nên phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau:
- Bảo đảm sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và lãnh đạo các cấp có thẩm quyền.
- Bảo đảm phát huy được tính tích cực, sáng tạo của từng thành viên tham gia điều tra vụ án.
- Bảo đảm những điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần, tạo ra môi trường thích hợp cho việc áp dụng có hiệu quả các hoạt động điều tra, hỗ trợ điều tra.
- Bảo đảm cho toàn bộ cuộc điều tra cũng như từng hoạt động điều tra được tiến hành một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả.
II - CÁC HOẠT ĐỘNG T ổ CHỨC ĐIỂU TRA v ụ ÁN HÌNH s ự Tổ chức điều tra vụ án hình sự có nhiều hoạt động, giáo trình này chỉ trình bày một số hoạt động sau:
1. Xây dựng, kiểm tra giả thuyết điều tra
a) Khái niệm giả thuyết điều tra
Giả thuyết điều tra là những nhận định, phán đoán về các vấn đề cần làm rõ trong các vụ phạm tội dã xảy ra dựa trên những căn cữ khoa học, được đưa ra trong quá trình điều tra vụ án hình sự với mục đích xác định
phương hướng, phạm vi đúng đắn cho cuộc điều tra, làm cho cuộc điều tra đạt liiệu quá cao.
Điều tra vụ án hình sự là quá trình xác định sự thật khách quan về sự việc phạm tội đã xảy ra. Thực chất đó là quá trình nhận thức hiện thực khách quan về vụ án hình sự đã xảy ra. Để nhận thức được các tình tiết của vụ phạm tội đã xảy ra không thể không sử dụng đến các phương pháp tư duy khoa học. Việc phân tích một cách khoa học những dấu vết tội phạm đã phát
51
hiện được, so sánh các dấu vết của tội phạm đang bị điểu tra với những diên biến tương tự của tội phạm đã điều tra trước đây, với các quy luật của quá trình diễn ra tội phạm, quy luật hình thành dấu vết tội phạm... cho phép đưa ra những kết luận hoặc những nhận định, phán đoán về các vấn đề của vụ án. Việc đưa ra những nhận định, phán đoán về các vấn đề cùa vụ án trong quá trình điều tra là nhiệm vụ của Điều tra viên, của Thú trướng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, của cán bộ và thủ trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Nhờ có những nhận định phán đoán chính xác mà cuộc điều tra được tiến hành đúng hướng, thu hẹp nhanh phạm vi điều tra, tạo điều kiện thuận lợi cho vạch kế hoạch điều tra và thực hiện kế hoạch điều tra. Việc kiêm tra các nhận định, phán đoán này trong quá trình điều tra cho phép làm rõ tội phạm, xác định sự thật khách quan về sự việc đã xảy ra.
Có nhiều loại giả thuyết khác nhau cần phải xây dựng trong quá trình điều tra vụ án như: giả thuyết về tính chất vụ án, giả thuyết về người phạm tội, giả thuyết về công cụ phạm tội, giả thuyết về thú đoạn phạm tội, giả thuyết về nguyên nhân phạm tội, giả thuyết về người bị hại...
Giả thuyết điều tra là những nhận định, phán đoán về các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá khứ. Việc xây dựng giả thuyết điều tra trước hết phải hướng vào sự kiện đã xảy ra và phải dựa trên cơ sở những tài liệu, dấu vết tội phạm đã phát hiện, thu thập được. Từ những tài liệu, dấu vết để lại đó lần theo các mối liên hệ của chúng, Cơ quan điều tra sẽ tìm ra sự thật khách quan một cách đầy đủ, toàn diện về sự kiện đã xảy ra.
b) Xây dựng giả thuyết điểu tra
- Khái niệm xây dựng già thuyết điều tra.
Xây dipĩg giá thuyết điêu tra là tông thẻ các hoạt động của các chủ thể điên tra hình sự trong việc tập hợp tài liệu và sử dụng các thao tác tư duy để xử lý các tài liệu và đưa ra các giả thuyết điểu tra xác thực.
Hoạt động xây dụng giả thuyết điều tra mang đậm tính chất nghiệp vụ của Cơ quan điều tra. Để xây dựng được các giả thuyết điều tra sát hợp thì các chủ thể điều tra hình sự phải nắm chắc các cãn cứ, phương pháp xây dựng giả thuyết điều tra và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nghiệp vụ khác.
52
Tính hiện thực của giả thuyết điều tra phụ thuộc vào những cãn cứ, phương pháp mà Điều tra viên sử dụng để xây dựng nó. Nếu việc xây dựng giả thuyết điều tra dựa trên những cãn cứ và phương pháp khoa học, hợp lý thì sẽ cho những giả thuyết mang tính hiện thực cao.
- Căn cứ xây diữĩg giá thuyết điều tra.
Giả thuyết điều tra là những nhận định phán đoán, mang tính khả năng. Việc xây dựng các giả thuyết điều tra phải dựa trên các tài liệu sau:
+ Những tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án thu thập được từ những nguồn và biện pháp khác nhau. Những tài liệu này có thể được thu thập từ các hoạt động điểu tra, thanh tra, kiểm tra; từ quần chúng hoặc những phương tiện thông tin đại chúng...
+ Những tài liệu về bối cảnh tự nhiên, xã hội có liên quan đến vụ án như tình hình thời tiết; đặc điểm địa hình; tình hình kinh tế, chính trị, tội phạm ở địa bàn xảy ra vụ án.
+ Những tài liệu phản ánh thành tựu của khoa học có liên quan như: khoa học điều tra hình sự; tâm lý học, sinh học, tội phạm học, xã hội học, vật lý, hóa học, sinh học ...
+ Những tài liệu phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học tổng kết thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử. Những tài liệu này bao gồm: báo cáo kết quả các đề tài khoa học cấp cơ sở, cấp bộ, cấp nhà nước; các bài báo khoa học; các sách chuyên khảo nghiên cứu về quy luật hoạt động phạm tội, thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.
+ Ngoài những căn cứ trên, các chủ thể điều tra hình sự còn dựa vào kinh nghiệm cuộc sống, kinh nghiệm nghề nghiệp để xây dựng giả thuyết điều tra. Những kinh nghiệm nghề nghiệp sẽ tạo cho họ có linh cảm nghiệp vụ cao với tình huống điều tra, nhờ đó mà nhanh chóng hình thành dược các giả thuyết điều tra sát thực.
- Phương pháp xây dipĩg giả thuyết điều tra.
Khi xây dựng giả thuyết điều tra, các chủ thể điều tra hình sự phải sử dụng phối hợp các phương pháp: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, mô hình hoá, chuyên gia...
53
- Trình tự xây diũĩg giả thuyết điều tra.
Việc xây dựng giả thuyết điều tra thường diễn ra qua ba bước: Bước 1: Thu thập và tập hợp các tài liệu.
Các chủ thể điều tra phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác để thu thập, tập hợp đầy đủ tài liệu cần thiết cho việc xây dựng giả thuyết điều tra.
Bước 2: Xỉ( lý các tài liệu đã thu thập.
Các chủ thể xây dựng giả thuyết điều tra phải tiến hành nghiên cứu, phân tích các tài liệu đã thu thập, tập hợp rồi đưa các dữ liệu đã phân tích vào một hệ thống, thiết lập mối liên hệ logic giữa chúng với nhau, từ đó mô hình hóa sự kiện, vấn đề cần có giả thuyết điều tra.
Bước 3: Trình bày các giả thuyết điều tra.
Ở bước này các chủ thể điều tra hình sự dựa trên mô hình đã có được ở bước hai và sử dụng tri thức tổng hợp của mình để trình bày một cách khoa học, đầy đủ, dễ hiểu giả thuyết về sự kiện, về vấn đề cần có giả thuyết điều tra.
c) Kiêm tra giả thuyết điểu tra
Kiểm tra giả thuyết điều tra là việc Cơ quan điều tra xác định có hay không có trong thực tế những sự kiện, hiện tượng, tình tiết... được nêu ra trong giả thuyết điều tra.
Kiểm tra giả thuyết điều tra được tiến hành trong quá trình điều tra vụ án. Quá trình kiểm tra giả thuyết điều tra có thể bổ sung những nội dung mới vào giả thuyết điều tra đã có, loại bỏ những giả thuyết điều tra thiếu căn cứ khoa học, khẳng định một hoặc một số giả thuyết điều tra đã đưa ra là hiện thực. Trong trường hợp các giả thuyết điều tra bị quá trình kiểm tra loại bỏ thì cần xây dựng giả thuyết điều tra mới.
Cơ quan điều tra phải sử dụng tổng hợp các biện pháp để kiểm tra giả thuyết điều tra. Việc áp dụng biện pháp nào để kiểm tra giả thuyết điều tra là tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của giả thuyết đó. Kiểm tra giả thuyết điều tra chủ yếu phải bằng các biện pháp điều tra đổng thời với các biện pháp khác.
54
Kiểm tra giả thuyết điều tra đòi hỏi cán bộ điều tra và các cán bộ khác tham gia phải hết sức kiên trì, khách quan, toàn diện. Phải tuân thủ nghiêm chỉnh các nguyên tắc hoạt động điều tra hình sự.
2. K ế hoạch điều tra
a) Khái niệm k ế hoạch điều tra
Kế hoạch điều tra là sự dự kiến tổng thể về việc điều tra vụ án hoặc về việc tiến hành từng hoạt động điều tra cụ thể. Kế hoạch điều tra có hai loại chính là: kế hoạch điều tra vụ án và kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra.
— K ế hoạch điều tra vụ án là sự dự kiến tổng thể của Cơ quan điều tra về yêu cầu, nội dung, mục đích, chiến thuật hoạt động điều tra, thời gian, địa điểm, lực lượng, phương tiện điều tra... đ ể giải quyết các nhiệm vụ dặt ra đối với việc điều tra một vụ án cụ thể.
Cấu trúc của một bản kế hoạch điều tra vụ án hình sự ngoài phần thủ tục của một văn bản nói chung (tên cơ quan, tên vụ án, tên người lập kế hoạch, người phê duyệt kế hoạch...) thường có nội dung và cấu trúc như sau:
Phần 1: Tóm tắt tình huống tiếp nhận điều tra vụ án; các hoạt động điều tra cấp bách đã áp dụng và kết quả các hoạt động đó; các giả thuyết điều tra; yêu cầu điều tra.
Phần 2: Nội dung cần điều tra làm rõ.
Phần 3: Tổ chức thực hiện, bao gồm: các hoạt động điều tra, hoạt động bổ trợ điều tra sẽ áp dụng; thời gian, địa điểm, lực lượng, các điều kiện vật chất, kỹ thuật, trình tự, cách thức thực hiện những hoạt động đó.
- K ế hoạch tiến hành tìữig hoạt động điều tra cụ thể là sự dự kiến tổng thể của Cơ quan điều tra về mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, thời gian, địa điểm, lực lượng, phương tiện, chiến thuật điều tra cụ thể... đ ể thực hiện một hoạt động diều tra.
Kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra cụ thể là sự cụ thể hóa kế hoạch điểu tra vụ án hình sự nhằm giúp cho hoạt động điều tra đạt hiệu quả cao, góp phần giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự.
Cấu trúc của bản kế hoạch tiến hành một hoạt động điều tra ngoài phần thủ tục của một vãn bản nói chung (tên cơ quan, tên hoạt động điều tra
55
tên người lập kế hoạch, người phê duyệt kế hoạch...), thường có các phần chính sau:
Phần ỉ: Mục đích, yêu cầu.
Phần 2: Thời gian, địa điểm, lực lượng, phương tiện, trình tự, chiến thuật, cách thức tiến hành hoạt động điều tra.
Phần 3: Các tình huống có thể xảy ra và phương án giải quyết. b) Xảy dựng kẻ hoạch điều tra
- Khái niệm:
Xây dựng kế hoạch điều tra là tổng thể những hoạt động của các chủ thê điều tra hình sự trong việc nghiên cí(u tài liệu, clìíữig cứ và tình hình có liên quan đ ể dự tlìảo, thảo luận, phê duyệt k ế hoạch điều tra vụ án, k ế hoạch tiến hành tìừig hoạt động điều tra.
Kế hoạch điều tra vụ án và kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra thường do Điều tra viên được phân công thụ lý chính vụ án hoặc nhóm trưởng nhóm điều tra dự thảo, trình Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra duyệt.
- Yêu cầu:
Quá trình xây dựng bản kế hoạch điều tra vụ án và bản kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo tính riêng biệt của kếhoạcli điều tra.
Điểu tra viên phải nắm chắc đặc điểm riêng biệt của vụ án, từng hoạt động điều tra, từ đó xây dựng kê hoạch điều tra phù hợp với đặc điểm riêng của từng vụ án, từng hoạt động điều tra.
+ Đảm bảo tính khả thỉ của k ế hoạch điều tra.
Nội dung của yêu cầu này là kế hoạch điều tra vụ án, kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra cụ thê phải được xây dựng trên cơ sớ thực tiễn của địa phương, của đất nước, của Cơ quan điều tra để có khả nãng thực hiện được trong quá trình điều tra.
+ Đảm bảo tính hiệu quả của kế hoạch điều tra.
Nội dung của yêu cầu này là khi lập kế hoạch điểu tra vụ án hay kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra, Điểu tra viên phải tính toán khoa
ằ
học, tỉ mỉ để tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của trong quá trình điều tra vụ án nói chung và thực hiện từng hoạt động điều tra nói riêng. Tính hiệu quả còn được thể hiện ở chỗ kế hoạch điều tra vụ án, kế hoạch tiến hành từng hoạt động điều tra phải tính toán đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe cho nhân dân và cho chính cán bộ thực hiện kế hoạch điều tra đó.
-T rìn h tự xây dựng k ế hoạch điều tra:
+ Trình tự xây dựng kế hoạch điều tra vụ án.
Điều tra viên được giao nhiệm vụ xây dựng kế hoạch điều tra vụ án phải tiến hành các công việc theo trình tự sau:
* Nghiên cứu, phân tích các tài liệu, chứng cứ và các giả thuyết điều tra của vụ án.
* Xác định mục đích, yêu cầu điều tra vụ án.
* Xác định nội dung cần điều tra làm rõ.
* Xác định các hoạt động điều tra và hoạt động hỗ trợ điều tra cần sử dụng trong điều tra vụ án.
* Xác định thời gian, địa điểm, trình tự tiến hành các hoạt động điều tra và hỗ trợ điều tra.
* Xác định các điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo cho cuộc điều tra đạt kết quả tốt.
* Dự kiến thời gian điều tra.
* Dự kiến các tình huống điều tra có thể xảy ra và phương án loại trừ, phương án giải quyết những tình huống đó.
* Viết bản dự thảo kế hoạch điều tra vụ án.
* Thảo luận dự thảo kế hoạch điều tra. Sau khi viết xong bản dự thảo kế hoạch điều tra vụ án, Điều tra viên xây dựng kế hoạch có thể đề xuất và tổ chức thảo luận với các Điều tra viên khác cùng nhóm điều tra về dự thảo kế hoạch điều tra vụ án.
* Tiếp thu các ý kiến hợp lý, đúng đắn trong cuộc thảo luận để chỉnh lý bản dự thảo kế hoạch điều tra vụ án rồi trình Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra duyệt.
57
+ Trình tự xây dipĩg k ế hoạch từng hoại động điều tra cụ thể.
Xây dựng kế hoạch từng hoạt động điều tra cụ thể là sự cụ thể hóa kế hoạch điều tra vụ án. Khi xây dựng kế hoạch hoạt động điều tra cụ thể Điều tra viên xây dựng kê hoạch cần tiến hành các công việc theo trình tự sau:
* Nghiên cứu kế hoạch điều tra vụ án.
* Nghiên cứu tài liệu đã có liên quan đến hoạt động điều tra sẽ tiến hành. * Xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ tiến hành từng hoạt động điều tra. * Xác định thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra. * Xác định trình tự, cách thức tiến hành hoạt động điều tra. * Xác định các chiến thuật cụ thể sẽ sử dụng.
* Xác định các phương tiện kỹ thuật cần thiết cho hoạt động điều tra đó. * Xác định những người tham gia và nhiệm vụ của từng người. * Dự kiến các tinh huống có thể xảy ra và phương án loại trừ, giải quyết. * Viết bản dự thảo kế hoạch.
* Thảo luận bản dự thảo kế hoạch và chỉnh sửa theo ý kiến đã thảo luận. * Trình Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra duyệt. 3. Tổ chức các giai đoạn điều tra vụ án
a) Điểu tra ban đầu
Tổ chức điêu tra ban đầu bao gồm tổ chức các hoạt động điểu tra và các hoạt động khác kê gần (liền trước và liền sau) với việc ra quyết định khởi tô'vụ án hình sự.
Trong điều tra ban đầu các vụ án, Cơ quan điều tra cần phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ sau:
Tiếp nhận tin báo tô' giác tội phạm; tiếp nhận hồ sơ, tài liệu từ các tổ chức, cá nhân đã phát hiện dấu hiệu tội phạm;
Kiểm tra, xác minh nguồn tin để xác định dấu hiệu tội phạm, tiến hành các hoạt động đê thu thập thêm những tài liệu ban đầu cho khởi tố vụ án, khởi tố bị can (nếu cần thiết);
Tiến hành công tác điều tra tại hiện trường (nếu vụ án có hiện trường cần điểu tra);
58
Thực hiện mối quan hệ phối hợp với các cơ quan phát hiện tội phạm và với Viện kiểm sát;
Xây dựng kế hoạch điều tra vụ án.
Trường hợp chưa phát hiện được người gây án thì phải tổ chức ngay công tác truy xét theo các tài liệu, dấu vết để lại. Nếu đã phát hiện được người phạm tội thì phải lấy lời khai ngay và tổ chức truy tìm tài liệu, vật chứng cùng những người phạm tội khác (nếu có).
b) Điều tra làm rõ toàn bộ vụ án
Giai đoạn điều tra làm rõ vụ án là giai đoạn kế tiếp giai đoạn điều tra ban đầu cho đến khi thu thập đầy đủ chứng cứ làm rõ toàn bộ các nội dung cần điều tra của vụ án.
Giai đoạn này chủ yếu là tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ như khám xét người, chỗ ở, đổ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, thu giữ, tạm giữ vật chứng, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, tiến hành đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định... và có thể tiếp tục áp dụng các biện pháp ngân chặn cần thiết như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Cùng với việc tiến hành các hoạt động điều tra là các hoạt động hỗ trợ điều tra nhằm nhanh chóng khám phá toàn bộ vụ án. Những hoạt động hỗ trợ điều tra có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành trong mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động điều tra nhằm giải quyết yêu cầu điều tra đặt ra.
Giai đoạn điều tra làm rõ toàn bộ vụ án thường là giai đoạn dài và có khối lượng công việc nhiều hơn so với giai đoạn điều tra ban đầu và giai đoạn kết thúc điều tra.
Tổ chức điều tra ờ giai đoạn này cũng có thể diễn ra quá trình nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra theo Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Ở giai đoạn này Cơ quan điều tra phải tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra các giả thuyết điều tra;
- Thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án;
59
- Thiết lập, tích lũy và củng cô' các văn bản trong hồ sơ vụ án hình sự; - Hình thành hướng xử lý vụ án;
- Thu thập, tích lũy những tài liệu mở rộng công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm;
- Phát hiện những sơ hở, thiếu sót mà kẻ phạm tội đã lợi dụng đê hoạt động phạm tội.
c) Két thúc điều tra
Giai đoạn kết thúc điều tra là giai đoạn tiếp nối của giai đoạn điểu tra làm rõ vụ án cho đến khi giải quyết xong toàn bộ các nhiệm vụ điều tra vụ án.
Việc điều tra vụ án kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra, trong đó đề nghị truy tố vụ án hoặc đình chỉ điều tra. Ở giai đoạn kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải tổ chức giải quyết những vấn đề sau đây: - Hoàn thiện hồ sơ vụ án hình sự.
- Kiểm tra lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã thu được trên các mặt như: mức độ chính xác, giá trị chứng minh, giá trị pháp lý của chứng cứ.
- Xem xét những yêu cầu về phòng ngừa tội phạm đã được giải quyết đầy đủ chưa.
- Đề xuất xử lý vụ án.
4. TỔ chức lực lượng điều tra vụ án hình sự
a) Vụ án hình sự do một Điêu tra viên tiến hành điều tra
Đối với vụ án hình sự ít nghiêm trọng, ít bị can thì việc thụ lý điều tra có thể giao cho một Điều tra viên tiến hành dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
Điểu tra viên phải vạch kế hoạch điều tra, chịu trách nhiệm cá nhân đối với quá trình và kết quả điểu tra vụ án trước pháp luật và trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Điều tra viên cũng được quyền tiến hành các hoạt động điểu tra để làm sáng tỏ toàn bộ vụ án một cách khách quan, đầy đủ và kịp thời theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự và những văn bản pháp quy khác có liên quan đến tổ chức điều tra vụ án do các cấp có thẩm quyền ban hành.
60
Điều tra viên tiến hành điều tra vụ án trong mối quan hệ chỉ đạo, điểu hành của Thú trường Cơ quan điều tra. Các kê hoạch điều tra, các hoạt động điều tra phức tạp, quan trọng, các chủ trương khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp dụng các biện pháp xử lý và thực hiện mối quan hệ phối hợp trong quá trình điểu tra đều phải có sự phê duyệt của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Những vấn để điều tra thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo luật định thì Điều tra viên phải đề xuất và xin ký duyệt các vãn bản (lệnh, quyết định, công văn, kết luận điều tra...).
Trong những trường hợp phải giải quyết yêu cầu điểu tra vụ án mà tự bản thân tiến hành sẽ gặp nhiều khó khăn (chẳng hạn như phải tiến hành hoạt động điều tra ở một địa bàn xa) thì Điều tra viên có thể đề nghị với Thủ trường Cơ quan điều tra sử dụng thẩm quyền của mình được quy định ờ Điểu 118 Bộ luật Tố tụng hình sự về uỷ thác điều tra.
Mặt khác Điều tra viên cũng cần triệt để thực hiện mối quan hộ phối hợp và sự phân công, phân cấp về điều tra được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự và một số quy định cụ thể của ngành Công an. Nếu thực hiện tốt các mối quan hệ này sẽ làm giảm gánh nặng công việc điều tra vụ án và tạo ra môi trường thuận lợi cho tiến hành các hoạt động điều tra, đáp ứng được đòi hỏi về thời hạn điều tra do pháp luật quy định.
b) Vụ án hình sự do một nhóm Điều tra viên tiến hành điêu tra
Điều tra vụ án do một nhóm Điều tra viên tiến hành là trường hợp vụ án được điều tra bởi hai Điều tra viên trở lên theo sự chỉ đạo thống nhất của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và sự quản lý của nhóm trưởng.
- Sô' lượng Điều tra viên và các cán bộ khác tham gia nhóm điều tra:
Số lượng Điểu tra viên và các cán bộ khác tham gia nhóm điều tra phụ thuộc vào số lượng các giả thuyết điều tra, số lượng các hoạt động điều tra và các hoạt động khác bổ trợ, số lượng những người phải truy cứu trách nhiệm hình sự và khả năng chủ quan của Cơ quan điều tra cũng như các cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra. Sô' lượng Điều tra viên và các cán bộ khác (nếu có) tham gia nhóm điều tra là hai người trờ lên.
- Nhiệm vụ cùa các thànli viên trong nhóm điểu tra:
Nhóm trướng là người được Thú trướng, Phó Thù trường Cơ quan điều tra giao cho nhiệm vụ quản lý nhóm và thường là Điều tra viên giàu kinh
61
nghiệm. Trong một số trường hợp, nhóm trưởng có thể là Phó Thủ trưởng Cơ quan điểu tra. Nhóm trưởng nhóm điều tra có nhiệm vụ: thông nhất quản lý công tác điều tra của nhóm, duy trì quan hệ tiếp xúc giữa các thành viên trong nhóm; tổ chức quan hộ với các đơn vị khác, đảm bảo những điểu kiện bình thường cho nhóm hoạt động, kiêm tra công việc của các thành viên khác, tiếp nhận trực tiếp ý kiến chỉ đạo của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và thú trưởng cấp trên để tổ chức cho nhóm thực hiện.
Mỗi thành viên của nhóm có nhiệm vụ tìm hiểu, thực hiện và chịu trách nhiệm phần việc mình được phân công, thường xuyên tiếp xúc và trao đổi thông tin với các thành viên khác của nhóm điều tra. Mỗi thành viên cũng có thể được huy động tham gia vào hoạt động điều tra của thành viên khác khi cần thiết, đồng thời có thể thực hiện mối quan hệ phối hợp với các lực lượng khác để giải quyết yêu cầu điều tra.
Theo quy định đã thống nhất trong kế hoạch hoặc khi cần thiết, nhóm trưởng triệu tập toàn nhóm họp thảo luận kết quả điều tra, phân tích những tài liệu đã thu được, nêu những nhận định mới, bổ sung hay điểu chỉnh kế hoạch điều tra; đánh giá tình huống điều tra, tiếp tục bàn phối hợp với các lực lượng khác để giải quyết vụ án, uốn nắn những khuyết điểm trong quá trình điều tra...
Dựa trên cơ sở kế hoạch chung cùa toàn nhóm, mỗi thành viên cần có kế hoạch công tác riêng của mình. Trong kế hoạch riêng của từng thành viên cần tính tới mối quan hệ với các thành viên khác của nhóm để đảm bảo sự hài hòa giữa công việc của từng cá nhân và của toàn nhóm. Vai trò điều hành này thuộc về nhóm trưởng.
5. Mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong quá trình điều tra vụ án hình sự
a) Tính tất yếu của môi quan hệ phôi hợp
Bọn phạm tội hoạt động vói những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, bí mật. Chúng sử dụng những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến vào thực hiện che giấu tội phạm, đánh lạc hướng các cơ quan bảo vệ pháp luật. Trong điều kiện đó, nếu chúng ta chi giới hạn phát hiện tội phạm bằng một lực lượng và biện pháp điều tra công khai theo tố tụng hình sự thì sẽ hạn chế hiệu quả đấu tranh vạch trần tội phạm. Vì vậy, thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm là yếu tố khách quan quy định tính tất yếu của mối quan hộ phối hợp trong quá trình điểu tra.
62
Điều tra, truy tố, xét xử là giai đoạn của tố tụng hình sự do những cơ quan và lực lượng khác nhau đảm nhận. Tuy nhiên, đó là ba giai đoạn liên tục mà kết quả của giai đoạn trước là cơ sở của giai đoạn sau. Yếu tố này cũng là lý do làm xuất hiện yêu cấu quan hệ phối hợp trong điều tra vụ án hình sự.
Luật Tố tụng hình sự và một số văn bản của Bộ Nội vụ đã quy định về phân công, phân cấp điều tra, mối quan hệ phối hợp trong điều tra vụ án hình sự. Những quy định này bắt buộc các lực lượng nhất định phải tham gia vào mối quan hệ phối hợp trong điều tra.
Những yếu tố trên đây khẳng định tính tất yếu của mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong quá trình điều tra và chi phối cả nội dung mối quan hệ ấy.
b) Những đặc điểm của môi quan hệ phôi hợp giữa các lực lượng trong quá trình điếu tra vụ án hình sự
Các yếu tố điều chỉnh mối quan hệ phối hợp trong quá trình điều tra cũng là yếu tố xác định đặc điểm của mối quan hộ phối hợp ấy.
Quan hộ phối hợp trong quá trình điều tra là mối quan hệ phức tạp nhiều chiều. Tính phức tạp ấy thể hiện ở chỗ lực lượng điều tra phải phối hợp với nhiều lực lượng khác trong quá trình điều tra. Những mối quan hệ phối hợp đó là:
- Quan hệ giữa lực lượng điều tra với cơ quan đơn vị hoặc chính quyền cơ sờ quản lý đối tượng hoạt động phạm tội.
- Quan hệ giữa lực lượng điều tra với lực lượng kỹ thuật hình sự. - Quan hệ giữa lực lượng điều tra với trại tạm giam.
- Quan hệ giữa lực lượng điểu tra với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
- Quan hệ giữa lực lượng điều tra vói Viện kiểm sát.
- Quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với cơ quan điều tra khác được uỷ thác điều tra.
- Quan hộ phối hợp giữa lực lượng điều tra với cơ quan thanh tra và các cơ quan hữu quan khác.
Thực hiện mối quan hộ phối hợp trong quá trình điều tra, lực lượng điều tra luôn luôn phải là lực lượng chủ động, nòng cốt.
63
Trong quá trình điều tra vụ án, có mối quan hệ phối hợp mang tính chất tố tụng hình sự bị điều chinh bằng luật tố tụng hình sự mang tính chất bắt buộc như quan hệ giữa cơ quan điều tra với Viện kiểm sát, có mối quan hộ khống mang tính chất tố tụng hình sự. Những quan hệ phối hợp không mang tính chất tô' tụng hình sự bị điều chỉnh bởi các loại văn bản khác.
Quan hệ phối hợp trong quá trình điều tra vụ án hình sự được chia làm 3 giai đoạn, phù hợp với tình huống điều tra của từng giai đoạn. - Quan hộ phối hợp trong giai đoạn điều tra ban đầu.
- Quan hệ phối hợp trong giai đoạn điều tra, khám phá toàn bộ vụ án.
Trong mỗi giai đoạn, do tình huống điều tra có những đặc điểm khác nhau nên lực lượng, phương tiện, biện pháp tham gia mối quan hệ phối hợp cũng có đặc trưng khác nhau.
c) Mỗi quan hệ phôi hợp trong quá trình điều tra vụ án cần phải tuán thủ một sô quy tắc sau
- Mối quan hệ phối hợp phải dựa trên quy định của pháp luật có liên quan đến điểu tra vụ án, trước hết là luật tố tụng hình sự (kê cả những quy định của từng ngành và liên ngành trong bộ máy nhà nước).
- Mối quan hệ phối hợp phải thể hiện tính chủ động cúa các chủ thể tham gia phối hợp với mục đích khám phá nhanh chóng, kịp thời, khách quan và toàn diện vụ án hình sự.
- Mối quan hệ phối hợp trong quá trình điều tra chỉ kết thúc khi không còn yêu cầu điểu tra phải giải quyết bằng mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng điều tra với các lực lượng khác.
- Mối quan hệ phối hợp trong quá trình điều tra giữa các lực lượng phải xây dựng trên cơ sở kế hoạch hóa điều tra và từng hoạt động điều tra. Đồng thời, phải coi nó là một bộ phận cấu thành của kế hoạch hóa điều tra.
d) Nội dung quan hệ phôi hợp giữa các lực lượng trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Quan hệ phối hợp trong quá trình điều tra vụ án hình sự rất phong phú, đa dạng và linh hoạt, song có thể khái quát thành một số nội dung cơ bản sau đây:
- Quan hệ phối hợp trên lĩnh vực trao đổi và xử lý tin.
Đế phối hợp hoạt động trước hết phải trao đổi những thông tin cần thiết. Thiếu những dữ liệu này không thể thực hiện và thực hiện thành còng mối
64
quan hệ phối hợp nảy sinh, v ề nguyên tắc, các lực lượng cần trao đổi thông tin đầy đú và khi sử dụng thông tin có nhiệm vụ giữ bí mật, không làm phương hại đến những yêu cầu công tác khác. Trong một số trường hợp phải cùng nhau tập hợp và phân tích tin đế có thể đưa ra những nhận định, kết luận chính xác.
Trao đổi thông tin phải diễn ra thường xuyên giữa các lực lượng tham gia mối quan hệ phối hợp và kéo dài cho đến khi không còn yêu cầu quan hệ phối hợp nữa.
- Quan hệ phối hợp trong việc chuẩn bị các văn bản làm cơ sớ cho quá trình điều tra vụ án.
Chuẩn bị văn bản trong mối quan hộ phối hợp cùa quá trình điều tra bao gồm soạn thảo văn bản và lựa chọn văn bản. Soạn thảo văn bản bao gồm kế hoạch, báo cáo, kết luận điểu tra ề.. Lựa chọn vãn bản cần thiết là tìm kiếm những văn bản pháp lý, những văn bản không mang đặc trưng pháp lý nhưng có giá trị làm cơ sở, căn cứ cho quá trình điều tra vụ án.
- Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch điều tra vụ án và xử lý vụ án.
Đối với những vụ án truy xét, việc phối hợp soạn thảo kế hoạch điều tra giữa Cơ quan điều tra và lực lượng đã tiến hành truy xét thường diễn ra rất phổ biến. Tùy theo từng loại kế hoạch mà một trong hai lực lượng sẽ chù trì soạn thảo, còn lực lượng kia cung cấp thông tin, tham gia thảo luận xây dựng kế hoạch cho hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu điều tra tội phạm.
- Phối hợp trong việc tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể.
Quá trình điều tra vụ án có những hoạt động điều tra phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của một số lực lượng, phương tiện, biện pháp khác nhau. Điển hình là các hoạt động bắt, khám xét, khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, thực nghiệm điều tra... Sự tham gia này có thể có lực lượng kỹ thuật hình sự, đại diện Viện kiếm sát, các nhà chuyên môn kỹ thuật...
- Phối hợp tiến hành các cuộc họp nghiệp vụ để trao đổi, bàn bạc, bổ sung và đề ra những hướng mới cho điều tra vụ án; điểu chỉnh nhữriR lệch lạc, những thiếu sót về quan hệ phối hợp giữa các lực lượng, phương tiện, biện pháp trong quá trình điều tra.
- Phối hợp chuẩn bị các điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết cho cuộc điểu tra được tiến hành bình thường.
65
BẮT NGƯỜI TRONG ĐIÈU TRA HÌNH s ự
I - NHẬN THỨC CHUNG VỂ BAT n g ư ờ i t r o n g đ iể u t r a HÌNH S ự
1. Khái niệm
Bắt người trong điều tra hình sự là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền tiến hành, tạm tliời hạn ch ế quyền tự do cá nhản đối với người có hành vi plìạm tội hoặc người bị nghi thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật T ố rung hình sự nhầm ngăn chận tội plìạni, ngăn chặn người pliạm tội trốn tránh pháp luật, báo dám cho các hoạt động điều tra tiến hành thuận lợi.
Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn rất nghiêm khắc, vì nó tạm thời hạn chế quyền tự do cá nhân, đặc biệt là quyền tự do về thân thể của người bị bắt. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền bắt được luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ, bắt buộc các cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng hoạt động này phải tuân thủ đúng đắn và dầy đủ.
Đối tượng bắt trong điều tra hình sự được qui định tại các Điều 80, 81, 82,88 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bắt người là một biện pháp ngăn chặn rất phức tạp và hệ trọng. Bắt đúng, kịp thời sẽ có tác dụng to lớn trong công tác điều tra, xử lý tội phạm, nhưng nếu bắt oan, bắt sai có thể gầv nên hậu quả rất nghiêm trọng về
66
chính trị, xã hội. Đối với các vụ án xâm phạm An ninh quốc gia, việc bắt oan, sai sẽ tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp vào quá trình điểu tra xử lý của ta. Do vậy, việc bắt người luôn luôn phải quán triệt tinh thần kiên quyết và thận trọng, khách quan và toàn diện.
2. Yêu cầu
a) Yêu cầu pháp luật
Đê quyết định bắt phải có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cụ thể là:
-Trường hợp bắt đ ể tạm giam phái đàm bảo cấc điều kiện: + Đối tượng bắt là bị can (đã bị khởi tố về hình sự).
+ Đối tượng bắt là người phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp người đó phạm tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng thì chỉ được bắt tạm giam khi tội phạm mà người đó đã bị khởi tố là tội phạm mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.
- Trường hợp bắt khẩn cấp phải đảm bảo các điều kiện:
+ Đối với trường hợp khẩn cấp thứ nhất (Điểm a Khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự), cần phải đảm bảo có tài liệu xác thực chứng minh (căn cứ khẳng định) người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm và tội phạm mà họ đang chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
+ Đối với trường hợp khẩn cấp thứ hai (Điểm b Khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự), việc bắt người trong trường hợp này chỉ được quyết định khi có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm, đồng thời phải có yêu cầu ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
+ Đối với trường hợp khẩn cấp thứ ba (Điểm c Khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tô' tụng hình sự) chỉ được quyết định bắt khi thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ờ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần phải ngãn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
67
- Trường hợp bắt người phạm tội quả tang phải dám bào các diên kiện như: người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.
-Trường hợp bắí người đang bị truy nã, thì điều kiện để bắt là người đó phải đang có quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Khi xét quyết định bắt cũng như khi tiến hành bắt, phải tuân thủ đúng quyền hạn, trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định ở các Điều 79, 80. 81, 82, 83, 84, 85, 88. Đối với trường hợp bắt đối tượng là người chưa thành niên phạm tội còn phái tuân thú đúng quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sựế Ngoài ra, quá trình tiến hành việc bắt đòi hỏi Cơ quan điều tra phải tuân thú những quy định có liên quan trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự; thông tư liên tịch số 05 ngày 07/9/2005 giữa Viện kiếm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.ỗ.
Cần chống khuynh hướng cho pháp luật là gò bó nên không chấp hành nghiêm chính pháp luật hoặc pháp luật đon thuần, máy móc dẫn đến gây trở ngại cho việc tính toán yêu cầu chính trị, nghiệp vụ trong đấu tranh chống tội phạm.
b) Yêu cầu chính trị
- Việc bắt người phải phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị cúa Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, ớ phạm vi toàn quốc cũng như ờ từng địa phương, trong từng giai đoạn cách mạng.
- Bắt người cần kêt hợp chặt chẽ với công tác vận động quần chúng, tập hợp đồng đảo quần chúng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
- Bắt trong điều tra hình sự phải góp phần nâng cao uy tín của các cơ quan Đảng, Nhà nước; phân hóa nội bộ tội phạm.
c) Yêu cầu nghiệp vụ
- Phải bào đảm yếu tố bí mật, bất ngờ.
Cơ quan điều tra phải giữ bí mật các chú trương, quvết định, kế hoạch bắt phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của từng chiến thuật bắt cụ thể, đảm bảo tạo ra được yếu tô bất ngờ với người bị bắt và đổng bọn.
- Phải kịp thời bắt hết các đối tượng định bắt, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho lực lượng đi bắt, không để các đối tượng có điều kiện tự sát. chạy trốn
68
chống trả lại hoặc phạm thêm tội mới dần đến hậu quả khó khăn, bế tắc cho cuộc điều tra hoặc gây thiệt hại về nhiều mặt.
II - TRÌNH T ự BẮT NGƯỜI TRONG ĐIỂU TRA HÌNH s ự 1. Xét quyết định bắt
Để việc bắt người trong điểu tra hình sự có thể đáp ứng tốt nhất các lợi ích về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, khi xét quyết định bắt, Cơ quan điều tra phải tiến hành các công việc cụ thể sau:
— Tập hợp, nghiên cíãi những thông tin, tời liệu có Hên quan đến việc ra quyết định bắt.
Thông tin, tài liệu có liên quan đến quyết định bắt người chủ yếu được thể hiện trong hồ sơ vụ án hình sự. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn có thể nghiên cứu thông tin có liên quan đến quyết định bắt người như: dư luận quần chúng, ý kiến của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điểu tra, công an cấp cơ sở... Trường hợp cần thiết có thể đến thực địa nghiên cứu và trao đổi với các đơn vị có liên quan để nắm chắc những thông tin liên quan đến việc xét quyết định bắt đối tượng.
Khi nghiên cứu các thông tin tài liệu nhằm xác định cãn cứ để bắt người trước hết cần hướng vào cãn cứ bắt trong các trường hợp mà luật tố tụng hình sự quy định; nếu thấy chưa đủ cơ sở để quyết định bắt thì phải áp dụng những biện pháp điều tra xác minh bổ sung.
Quá trình nghiên cứu những thông tin, tài liệu có liên quan đến xét quyết định bắt, cần chú ý giữ bí mật để loại trừ khả nãng đối tượng lẩn trốn hoặc chuẩn bị đối phó với quá trình điều tra của cơ quan điều tra.
- Đôi cliiếu những tliông tin, tài liệu, chímg cứ thu được với các căn cứ bắt và báo cáo lãnh đạo có ílìẩm quyền.
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ đã có, đối chiếu với các yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, cán bộ điều tra được phân công thụ lý vụ án phải báo cáo Thú trường, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra vé những nhận định của mình và đề xuất việc bắt hay không bắt đối với từng trường hợp cụ thể, kèm theo các văn bản, tài liệu cần thiết cho việc ra quyết định bắt. Trường hợp đối tượng bắt là những đối tượng thuộc diện quy định trong Chỉ thị số 15 - CT/TW ngày 07 tháng 7 năm 2007 của Bộ Chính trị thì
69
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải thực hiện việc báo cáo các cấp có thẩm quyền theo quy định để bảo đảm yêu cầu chính trị và nghiệp vụ.
- Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra trong phạm vi quyền hạn của mình ra lệnh bắt đối tượng.
Sau khi đã có chủ trương bắt đối tượng, Thủ trưởng, Phó Thủ trường cơ quan điều tra phải ra lệnh bắt theo đúng quy định của pháp luật và phân công lực lượng tiến hành các bước công việc cần thiết nhằm tổ chức thực hiện việc bắt đạt hiệu quả cao, đảm bảo một cách tốt nhất các lợi ích về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ.
2. Chuẩn bi bắt
a) Nghiên cứu về người đã có quyết định bắt, địa điểm bắt và các tình hình có liên quan đến việc tô chức bắt
Trong giai đoạn chuẩn bị, cán bộ điều tra được giao thực hiện lệnh bắt cần nghiên cứu làm rõ các nội dung sau:
- Về người đã có quyết định bắt: khi nghiên cứu cần nắm vững những thông tin về nhân thân của người bị bắt như: họ, tên, tuổi, nghề nghiệp, thành phần, địa vị xã hội, tiền án, tiền sự, vai trò của đối tượng trong vụ án; đặc điểm tâm lý, cá tính hoạt động chính trị qua các thời kỳ, quan hộ gia đình và xã hội, điều kiện sinh hoạt, làm việc, đi lại...
- Về địa điểm bắt: khi nghiên cứu phải nắm vững địa chỉ, đặc điểm cấu trúc, địa hình, địa vật của địa điểm bắt và lưu lượng người thường xuyên có mặt tại địa điểm.
- Về tình hình khác có liên quan đến việc tổ chức bắt đối tượng: cần chú ý nắm tình hình thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương; tình hình hoạt động của bọn tội pham; dư luận, nguyện vọng chính đáng của quần chúng xung quanh vấn để đấu tranh chống tội phạm...
b) Lập ké hoạch bắt
Kế hoạch bắt phải thể hiện rõ mục đích, yêu cầu, nội dung và cách thức tổ chức thực hiện việc bắt. Cụ thể là:
70
- Xác định mục đích, yêu cầu cụ thê của cuộc bất: là nhăm ngăn chặn tội phạm hay ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật của họ... Trên cơ sở xác định mục đích, cơ quan điểu tra đề ra các yêu cầu cụ thể khi bắt đối với từng đối tượng hoặc từng cuộc bắt.
- Xác định trường hợp bắt, tội danh bắt, địa điểm và thời gian bắt. Phải xác định rõ trường hợp bắt đối tượng: bắt bị can để tạm giam, bắt khẩn cấp hay bô' trí bắt quả tang và phải xác định rõ tội danh bắt.
Địa điểm bắt đối tượng có thể tại chỗ ở của đối tượng hoặc chỗ ở của người khác, tại nơi đối tượng làm việc hoặc nơi khác như trên tàu, xe, nhà ga, bến cảng, cửa khẩu, trên sông, biển, rừng núi... Thời gian bắt đối tượng có thể vào ban ngày hoặc ban đêm (trừ trường hợp khi bắt bị can tạm giam thì không được bắt vào ban đêm). Theo quy định tại Khoản 1, Điều 96 Bộ luật Tố tụng hình sự thì ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau.
- Quy định thành phần và phân công lực lượng tham gia bắt.
Phải căn cứ vào yêu cầu bắt đối với từng đối tượng cụ thể trong từng vụ án mà quy định thành phần và lực lượng tham gia bắt cho sát hợp.
Thông thường thành phần và lực lượng tham gia bắt gồm có: Người chỉ huy cuộc bắt; người được ủy quyền thi hành lệnh bắt; lực lượng trực tiếp tiếp cận để bắt đối tượng; lực lượng giám sát, bao vây; người chứng kiến và những người phục vụ cuộc bắt. Trong một số trường hợp còn cần phải bố trí cả y sĩ, bác sĩ để cấp cứu khi cần thiết, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ để ghi nhận, phản ánh quá trình bắt đối tượng. Có khi phải bố trí cán bộ giỏi võ thuật và sử dụng chó nghiệp vụ trong cuộc bắt. Trường hợp bắt đối tượng là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số còn phải có người sử dụng thành thạo tiếng mà đối tượng đang sử dụng để phiên dịch trong quá trình bắt. Cán bộ chủ trì chỉ huy cuộc bắt là người nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến việc bắt đối tượng, có kinh nghiệm trong việc bắt người phạm tội. Trong kế hoạch bắt phải phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng cho từng người hoặc từng nhóm người tham gia bắt.
- Dự kiến cách giải quyết các tình huống bất trắc có thể xảy ra.
Bọn tội phạm luôn tìm cách đối phó lại cơ quan điều tra. Vì vậy, phải cãn cứ vào tính chất đối tượng, tình hình thực tế của vụ án và tinh hình thực tế ở nơi bắt... mà dự kiến các tinh huống bất trắc có thể xảy ra như: đối tượng hành
71
hung cán bộ, chạy trốn, tự sát, tiêu huỷ vật chứng; gia đình đối tượng gây khó khăn chống đôi; quần chúng lạc hậu bị kích động không đồng tình, cản trớ, phản đối việc bắt; người lạ mặt xuất hiện tại nơi bắt... để chù động có kế hoạch giải quyết, bảo đảm thắng lợi cho cuộc bắt trong mọi tình huống.
- Dự kiến nội dung và phương pháp ổn định tư tưởng đối với gia đình người bị bắt và tranh thù sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng ờ nơi bắt.
Khi bất đối tượng đều phải chuẩn bị nội dung và phương pháp ổn định iư tưởng đối với gia đình người bị bắt và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng ở nơi bắt nhằm phát huy khí thế cách mạng của quần chúng trong đấu tranh chống tội phạm; tạo ra những điều kiện thuận lợi để bắt gọn đối tượng.
- Dự kiến phương án dẫn giải người bị bắt.
Dẫn giải là việc làm tiếp sau khi bắt đối tượng. Nó có vị trí quan trọng đối với kết quả cuộc bắt và có ảnh hường đến quá trình điều tra. Nếu không có kế hoạch dẫn giải tốt để đối tượng chạy trốn, tự sát hoặc gây thêm tội mới trên đường dẫn giải... đều gây tác hại lớn.
Tuỳ tính chất đối tượng, tuỳ chú trương bắt của từng vụ án là bắt nhiều hay ít, có bắt cùng một lúc hay không và tuỳ hoàn cảnh không gian, thời gian cụ thể mà đề ra kế hoạch dẫn giải cho sát hợp, nhất là bô' trí lực lượng và phương tiện dẫn giải.
- Dự kiến nội dung hỏi cung hoặc lấy lời khai người bị bắt.
Trong mọi trường hợp bất, cơ quan điều tra phải chuẩn bị nội dung hỏi cung, lấy lời khai ngay người bị bắt nhằm nhanh chóng thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người bị bắt, từ đó đưa ra các quyết định tiếp theo trong quá trình điều tra được đúng đắn.
- Dự kiến về các điều kiện vật chất, kỹ thuật, thông tin liên lạc và công tác chỉ huy, chỉ đạo việc bắt.
Trên đây là các nội dung cần được thể hiện trong kế hoạch bắt. Kê hoạch bắt phải được lãnh đạo phê duyệt trước khi thực hiện. Kế hoạch cần được bổ sung phù hợp, kịp thời khi tình hình thực tiễn có sự thav đổi.
c) Chuẩn bị văn bản, giấy tờ, phương tiện cần thiết
Trên cơ sờ kế hoạch bắt, tùy theo nhiệm vụ được phân công, lực lượng bắt phải chuán bị đầy đú các loại vãn bản, giấy tờ và phương tiện cần thiết
72
cho cuộc bắt như: lệnh bắt; biên bản; khóa hoặc dáy trói, vũ khí; bút viết, phương tiện giao thông, phương tiện liên lạc, máy ảnh, camera, phương tiện y tế...
d) Chuẩn bị nơi tạm giam, tạm giữ người bị bắt
Trước khi bắt đối tượng, lực lượng điểu tra cần trao đổi thống nhất với trại tạm giam về kế hoạch bố trí tạm giam, tạm giữ không để đối tượng trốn; thông cung, tự sát.
e) Giám sát bí mật và nhận diện người có quyết định bắt
Ngay sau khi có quyết định bắt, phải tiến hành giám sát bí mật chỗ ở hoặc nơi người có quyết định bắt đang có mặt. Thời gian giám sát bí mật kéo dài bao lâu tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động của các đối tượng, yêu cầu điều tra vụ án và yêu cầu bắt của Cơ quan điều tra.
Việc giám sát phải đảm bảo yêu cầu: không lộ, không gián đoạn và bao quát được toàn bộ khu vực cần giám sát.
Nhiệm vụ của lực lượng giám sát bí mật là nắm chắc mọi tình hình diễn biến tại khu vực đang giám sát như: di biến động của đối tượng định bắt; tình hình mới xuất hiện.ệ.
Để nhận biết người định bắt, có thể tiến hành nhận diện trực tiếp hoặc nhận diện gián tiếp qua hình ảnh. Nếu tổ chức nhận diện trực tiếp, cần chú ý giữ bí mật.
3. Tiến hành bắt
a) Phô biên kê hoạch, triển khai lực lượng tiếp cận
Trước khi triển khai lực lượng đến địa điểm bắt, người chủ trì cuộc bắt tập trung toàn bộ lực lượng bắt để phổ biến chi tiết về kế hoạch bắt, kiểm tra toàn bộ các công việc chuẩn bị, nhắc nhớ nhiệm vụ của từng thành viên tham gia cuộc bắt.
Lực lượng bắt và lực lượng giám sát bí mật phải có sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp với nhau bằng ám hiệu, tín hiệu liên lạc. Sau khi đã nhận được ám, tín hiệu cùa lực lượng giám sát bí mật và khẳng định người định bắt đã có mặt tại địa điểm bắt thì lực lượng bắt triển khai đội hình bao vây
đột nhập vào địa điểm bắt.
73
Yêu cầu của việc bao vây đột nhập là phải đảm bảo yếu tố bất ngờ với người định bắt, không để người định bắt tẩu thoát, tiêu huỷ tài liệu, chứng cứ, chống cự, tự sát. Việc bao vây, giám sát phải đảm bảo khống chế, kiểm soát được người định bắt và khi đột nhập phải nhanh chóng, kịp thời và đúng thời gian quy định trong kế hoạch.
b) Kiểm tra xác định người định bắt
Việc kiểm tra này nhằm xác định chính xác người có tên trong lệnh bắt, loại trừ khả năng nhầm lẫn. Có thể kiểm tra bằng nhiều cách như: qua chứng minh thư nhân dân hoặc giấy tờ tuỳ thân khác; qua người đại diện của chính quyền địa phương hoặc người láng giềng, qua ảnh..ệ
c) Tuyên bô lý do, giới thiệu thành phần và đọc lệnh bắt (đôi với trường hợp bắt tạm giam và bắt khẩn cấp)
Người chủ trì cuộc bắt phải tuyên bố lý do có mặt và tự giới thiệu chức vụ, cấp bậc của mình và những người cùng đi. Việc giới thiệu, tuyên bố lý do có mặt một mặt tác động trực tiếp đến đối tượng bị bắt, mặt khác làm cho những người có mật tại nơi bắt yên tâm, tin tưởng, không sợ kẻ xấu mạo danh.
Cán bộ điều tra khi đọc lệnh phải chọn vị trí thích hợp và yêu cầu người bị bắt đứng dậy để nghe đọc lệnh (trừ trường hợp đặc biệt). Trong quá trình đọc lệnh bắt, cán bộ đọc lệnh phải có thái độ dứt khoát thể hiện rõ uy thế chính quyền, giọng đọc phải rõ ràng, nhấn mạnh những thông tin cần thiết trong lệnh bắt như người ra lệnh, hành vi phạm tội của người bị bắt, điều luật, người thi hành lệnh... khi đọc lệnh, phải giải thích lệnh cho người bị bắt, có thể cho người bị bắt xem lệnh bắt.
Giải thích cho người bị bắt và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ theo luật định khi cơ quan điều tra tiến hành bắt.
d) Khám xét sơ bộ người bị bắt
Tiến hành khám xét sơ bộ người bị bắt nhằm tước vũ khí, chất nổ, chất độc và các tài liệu, vật chứng dễ tìm thấy trong người bị bắt. Phải khám ngay những nơi người bị bắt thường cất giấu vũ khí như túi áo, túi quần, ve áo, bụng, giày...
e) Trói hoặc khóa tay người bị bắt
Mục đích của việc trói khoá tay người bị bắt là nhằm phòng ngừa hạn chế, loại bỏ khả năng bỏ trốn, chống cự, tiêu huỷ tài liệu, vật chứng tư sát
74
của người bị bắt, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình bắt và dẫn giải. Nhìn chung, phải khóa, trói tay đối với người bị bắt, trừ những trường hợp xét thấy cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc cảm hóa, giáo dục trong quá trình hỏi cung sau này hoặc xét thấy họ là người già yếu, phụ nữ không có khả năng chống cự, chạy trốn. Đối với trường hợp không khóa, trói người bị bắt cần chú ý phân công cán bộ tiến hành giám sát chặt chẽ và cảnh giác trong khi bắt cũng như khi dẫn giải họ.
g) Lập biên bản bắt
Dù bắt người trong trường hợp nào cũng đều phải lập biên bản theo quy định tại Điều 84, Điều 95, Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Biên bản phải được lập và thông qua tại nơi bắt, trừ trường hợp bắt người ở ngoài đường hoặc nơi khác, lực lượng bắt có thể đưa người bị bắt về cơ quan công an hoặc trụ sở chính quyền gần nơi bắt để lập biên bản.
Biên bản bắt phải được ghi rành mạch, rõ ràng, cùng loại mực, loại chữ. Không ghi vào biên bản các nội dung theo ý suy luận chủ quan hay theo sự phán đoán cá nhân. Nếu có sửa chữa thì phải có chữ ký xác nhận của người bị bắt ngay bên lề cùng hàng có chỗ sửa chữa đó.
Nếu thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu của người bị bắt thì phải ghi rõ vào biên bản bắt.
Sau khi lập xong biên bản, phải thông qua các biên bản cho người bị bắt và những người có mặt tại nơi bắt nghe, yêu cầu người bị bắt và các thành phần tham gia cuộc bắt như người chủ trì, người ghi biên bản, người chứng kiến, đại diện chính quyền địa phương ký vào biên bản. Trường hợp người bị bắt không chịu ký biên bản thì cũng cần phản ánh rõ việc đó trong biên bản bắt.
Trên đây là các công việc cần thực hiện khi tiến hành bắt. Tùy từng trường hợp cụ thể mà lực lượng bắt có thể thay đổi trật tự các công việc trên. Chảng hạn với đối tượng côn đồ, nguy hiểm, có vũ khí thì khi tiến hành bắt phải trói, khóa, khám xét sơ bộ tước vũ khí rồi mới tuyên bố lý do, giới thiệu thành phần, đọc lệnh bắt.
Khi tiến hành bắt, thái độ, tác phong của các lực lượng tham gia bắt phải đàng hoàng, dứt khoát, nghiêm chỉnh, đúng mực, tỏ rõ ân, uy nhằm khuất phục, cảm hóa với chính người bị bắt và thân nhân của họ cũng như tranh thú sự đồng tình của quần chúng nhân dân tại nơi bắt. Phải chú ý tôn
75
trọng các phong tục tập quán dân tộc, tự do tín ngưỡng của người bị bãt, không đế xảy ra các sơ suất dù là nhỏ để người bị bắt có thể lợi dụng xuyên tạc, kích động quần chúng chống đối.
4. Những công việc cần làm sau khi bắt
a) Dẫn giải người bị bắt
Dẫn giải người bị bắt là việc đưa đối tượng từ nơi bắt về cơ quan công an hoặc nơi giam giữ. Khi dẫn giải phải bảo đảm tuyệt đối an toàn, không để đối tượng chạy trốn, chống cự, tự sát, thông cung hoặc gây thêm tội mới.
Nói chung không dùng người ngoài ngành công an dẫn giải người bị bắt. Trường hợp cần thiết phải sử dụng lực lượng bảo vệ, dân quân tự vệ thì cần nói rõ yêu cầu của cuộc dản giải để họ biết mà thực hiện.
Trước khi xuất phát, cán bộ dẫn giải công bố kỷ ỉuật đi đường, tiến hành trói hoặc khóa tay người bị bắt. Nếu cần giữ bí mật việc dẫn giải thì phải hóa trang phù hợp.
Trong khi dẫn giải, phải chú ý quan sát kỹ thái độ của người bị bắt để đề phòng những diễn biến đột xuất có thể xảy ra. Tuyệt đối không cho người bị bắt tiếp xúc với ai trên đường dẫn giải và phải giám sát chặt người bị bắt, nhất là lúc ăn uống, nghỉ ngơi, đại tiểu tiện, vệ sinh cá nhân.
Không cho những người bị bắt nói chuyện, trao đổi với nhau trong quá trình dẫn giải.
Nếu dẫn giải bằng đường bộ, không mang, vác súng đi trước hoặc đi ngang hàng với người bị bắt. Phải để người bị bắt đi trước, cán bộ dẫn giải đi sau. Khi nghỉ ngơi không cởi trói hoặc mở khóa tay các đối tượng nguy hiểm. Không để vũ khí bên cạnh người bị bắt nhằm bảo đảm tuyệt đối an toàn cuộc dẫn giải.
Nếu dẫn giải bằng phương tiện cơ giới thì không để người bị bắt ngồi gần cửa lên xuống hoặc ngồi cạnh hay ngay sau người lái xe. Phải đóng cửa sổ nơi đối tượng ngồi. Bố trí đối tượng ngồi giữa, hai cán bộ dẫn giải ngồi hai bên. Trói hoặc khóa tay người bị bắt vào thành ghế hoặc treo tay đối tượng lên mui xe, thành xe.
Khi dẫn giải cần chú ý:
Không dẫn giải cùng một lúc các đối tượng trong cùng vụ án mà tiến hành dẫn giải riêng để tránh thông cung hoặc biết nhau đã bị bắt.
76
Nghiêm cấm những hành động vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức khi dẫn giải. Nghiêm cấm dẫn giải đối tượng bằng xe môtô hai bánh, xe đạp.
Đang dần giải mà đối tượng chạy trốn, trước hết phải tự mình nỗ lực đuổi bắt, đồng thời báo ngay cho công an địa phương hoặc phối hợp với lực lượng vũ trang đóng quân nơi gần nhất truy lùng. Mặt khác, phải tìm mọi cách để báo cáo gấp tới người phụ trách cơ quan điều tra biết xin chỉ thị. Dù bắt được hay không bắt được đối tượng chạy trốn đều phải lập biên bản bảo đảm chặt chẽ cả về nội dung và thủ tục pháp luật.
b) Thông báo về việc bắt người
Trong mọi trường hợp bắt người, người ra lệnh bắt phải thông báo ngay cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết. Nếu ihông báo cản trở việc điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh bắt phải thông báo ngay.
Đối với trường hợp ủy thác bắt khẩn cấp thì ngay sau khi kết thúc việc bắt, Cơ quan điều tra được ủy thác phải thông báo ngay cho cơ quan điều tra đã ủy thác đến nhận người bị bắt và các tài liệu có liên quan. Khi dẫn giải người bị bắt về đến trụ sớ của minh, Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải chuyển ngay hổ sơ kèm theo quyết định ủy thác việc bắt khẩn cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.
Đối với trường hợp người bị bắt là công dân nước ngoài và người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài thì việc thông báo còn phải được thực hiện theo đúng Chỉ thị số 21/2000/CT - TTg ngày 16 tháng 10 nãm 2000 của Thú tướng Chính phủ.
c) Làm thủ tục đề nghị phê chuẩn và xem xét quyết định việc tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt
Đối với trường hợp bắt tạm giam, do lệnh bắt đã được Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thực hiện nên không cần làm thủ tục phê chuẩn mà tiến hành ngay thủ tục đưa người bị bắt vào trại tạm giam và nhanh chóng tiến hành hỏi cung bị can.
Đôi với trường hợp bắt khẩn cấp, sau khi dẫn giải người bị bắt về đến trụ sờ, Cơ quan điều tra phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm iheo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp này bao
77