🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Giáo trình Công nghệ tạo Phụ Tùng Ebooks Nhóm Zalo TRẦN ĐÌNH QUÝ (Chủ biên) TRƯƠNG NGUYỄN TRUNG – TRẦN THỊ VÂN NGA  CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO PHỤ TÙNG NHÀ XUẤT BẢN GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI - 2005 CNCTPT..1 LỜI NÓI ĐẦU Công nghệ chế tạo phụ tùng là môn học dùng cho các ngành Cơ giới hoá xây dựng giao thông, Cơ khí ôtô, Cơ khí Giao thông công chính, Máy động lực, nhằm trang bị cho các kỹ sư Cơ khí chuyên ngành Giao thông các kiến thức cơ bản trong gia công chế tạo phục vụ cho việc chế tạo thay thế các chi tiết của các phương tiện GTVT. Khi biên soạn giáo trình này, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu của nước ngoài, tài liệu của Trường đại học Bách khoa Hà Nội, tài liệu của các cơ sở sản xuất trong nước để có nội dung vừa đảm bảo tính hiện đại vừa đảm bảo thực tế sản xuất của Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong được sự góp ý của người đọc để các lần tái bản được hoàn chỉnh hơn. Ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Công nghệ Giao thông – Khoa Cơ khí – Trường Đại học GTVT Hà Nội. Xin trân trọng cảm ơn. Nhóm tác giả CNCTPT..3 4.CNCTPT Chương I CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CHI TIẾT DẠNG HỘP 1.1- KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHI TIẾT DẠNG HỘP Trong tất cả các loại máy móc từ máy công cụ, máy phát động lực, máy xây dựng, máy làm đường, máy trên các phương tiện đường thuỷ, đường bộ, các máy chuyên dùng đều có các chi tiết dạng hộp. Hộp là loại chi tiết cơ sở quan trọng của mọi sản phẩm. Hộp bao gồm những chi tiết có hình khối rỗng, xung quanh có thành vách làm nhiệm vụ của chi tiết cơ sở để lắp ráp, các đơn vị lắp (nhóm, cụm, bộ phận) của những chi tiết khác lên nó để tạo thành một bộ phận máy nhằm thực hiện một nhiệm vụ nào đó của thiết bị, phương tiện. Trong thực tế, có nhiều kiểu hộp và công dụng khác nhau như thân động cơ đốt trong, hộp tốc độ, hộp chạy dao, hộp giảm tốc, thân máy bơm v.v… Đặc điểm của chi tiết hộp là có nhiều vách ngăn có chiều dày khác nhau, trong các vách có gân cứng vững, có nhiều phần lồi lõm. Trên thân hộp có nhiều bề mặt phải gia công với yêu cầu chính xác khác nhau và cũng có nhiều bề mặt không cần gia công cơ khí. Trên hộp có nhiều lỗ cần được gia công có độ chính xác cao để thực hiện các mối lắp ghép: các lỗ chính. Ngoài ra còn có các lỗ không yêu cầu độ chính xác cao, để kẹp chặt các bộ phận khác, đó là các lỗ phụ. Nhìn chung chi tiết dạng hộp là một chi tiết phức tạp, khó gia công, khi chế tạo phải đảm bảo nhiều yêu cầu kỹ thuật khác nhau. 1.2- YÊU CẦU KỸ THUẬT CỦA CHI TIẾT DẠNG HỘP Hộp có những bề mặt chính như các mặt đáy, mặt lỗ. Độ chính xác của những bề mặt này có yêu cầu khá cao. Ngoài những bề mặt chính, trên hộp còn có các bề mặt phụ như các bề mặt đậy nắp, các lỗ bắt bu lông… các bề mặt này độ chính xác không đòi hỏi cao. Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản bao gồm: 1/ Độ không bằng phẳng và độ không song song của các bề mặt chính trong khoảng 0,05 – 0,1mm trên toàn bộ chiều dài. Độ nhám bề mặt Ra = 5 ÷1,25 (∇5 ÷ ∇7). 2/ Các lỗ chính yêu cầu có độ chính xác từ cấp 1 đến cấp 3. Sai số hình dáng của các lỗ là 0,5 ÷ 0,7 dung sai đường kính lỗ (tương đương cấp 6 đến 9 theo tiêu chuẩn ISO). Độ nhám bề mặt của các lỗ Ra = 2,5 ÷ 0,63 (∇6 ÷ ∇8); đôi khi cần đạt tới Ra : 0,32 ÷ 0,16 (∇9 ÷ ∇10). Cnctpt..5 3/ Dung sai về khoảng cách tâm giữa các lỗ phụ thuộc vào chức năng của nó. Nếu lỗ lắp trục bánh răng thì dung sai bằng 0,02 ÷ 0,1mm. 4/ Dung sai độ không song song của các tâm lỗ bằng dung sai của khoảng cách tâm. 5/ Độ không vuông góc của các tâm lỗ khi lắp bánh răng côn và trục vít là 0,02 ÷ 0,06mm. 6/ Dung sai độ không đồng tâm của các lỗ, lấy bằng 1/2 dung sai đường kính của lỗ nhỏ nhất. 7/ Độ không vuông góc giữa mặt đầu và tâm lỗ trong khoảng 0,01 ÷ 0,05mm trên 100mm bán kính. 1.3- TÍNH CÔNG NGHỆ TRONG KẾT CẤU CỦA CHI TIẾT HỘP 1.1.1- Ý nghĩa Tính công nghệ trong kết cấu của chi tiết hộp có ảnh hưởng lớn đến khối lượng gia công để chế tạo hộp, đồng thời còn ảnh hưởng đến mức độ tiêu hao vật liệu gia công. Vì vậy ngay khi thiết kế cần phải quan tâm đến kết cấu của hộp, sao cho đảm bảo chúng có tính công nghệ cao. 1.1.2- Các biện pháp cần áp dụng khi thiết kế a) Hộp phải có đủ độ cứng vững để gia công không bị biến dạng, trong quá trình gia công có thể dùng chế độ cắt cao, đạt năng suất cao. b) Các bề mặt làm chuẩn phải có đủ diện tích nhất định, phải cho phép thực hiện được nhiều nguyên công khi dùng bề mặt chuẩn đó, đảm bảo quá trình gá lắp nhanh. c) Các bề mặt cần gia công không được có các vấu lồi, lõm; phải thuận lợi cho việc ăn dao, thoát dao. Kết cấu của các bề mặt phải tạo điều kiện cho việc gia công đồng thời nhiều dao. d) Các lỗ trên hộp phải có kết cấu đơn giản, không nên có rãnh hoặc có dạng định hình, bề mặt lỗ không được đứt quãng. Các lỗ đồng tâm nên có đường kính giảm dần từ ngoài vào trong. Các lỗ nên thông suốt và rỗng. e) Không nên bố trí các lỗ nghiêng so với mặt phẳng của vách để khi khoan, khoét, doa không bị ăn lệch hướng dao. f) Các lỗ kẹp chặt của hộp phải là các lỗ tiêu chuẩn để có thể dùng các dụng cụ cắt ren tiêu chuẩn gia công. 1.4- VẬT LIỆU VÀ PHÔI 1.4.1- Vật liệu chế tạo hộp Vật liệu để chế tạo các chi tiết dạng hộp thường dùng là gang xám, thép đúc, hợp kim nhôm, thép tấm hàn… Tuỳ theo điều kiện làm việc và kết cấu của hộp mà 6.CNCTPT sử dụng các loại vật liệu phù hợp. Đối với thân động cơ đốt trong thường là các loại gang: GX 15-32; GX 18-36; GX 21-40; GX 24-44. 1.4.2- Các dạng phôi a) Phôi đúc Phôi đúc được đúc từ các vật liệu: gang, thép, hợp kim nhôm. Đó là loại phôi phổ biến nhất để chế tạo các chi tiết dạng hộp. Để chế tạo phôi đúc, người ta thường dùng các phương pháp đúc sau: - Đúc trong khuôn cát, mẫu gỗ, làm khuôn bằng tay Phương pháp này cho độ chính xác thấp, lượng dư gia công lớn, năng suất thấp, phù hợp với sản xuất đơn chiếc và hàng loạt nhỏ. - Đúc trong khuôn cát, mẫu kim loại, làm khuôn bằng máy Phương pháp này đạt được độ chính xác cao và năng suất cao, lượng dư gia công nhỏ, phù hợp với sản xuất loạt lớn và hàng khối. - Đúc trong khuôn vỏ mỏng Phương pháp này đạt độ chính cao (0,3 ÷ 0,6mm) cơ tính vật đúc tốt. Phương pháp này phù hợp với sản xuất loạt lớn và hàng khối, nhưng chỉ thích hợp với các chi tiết hộp cỡ nhỏ. - Đúc áp lực Phương pháp này để chế tạo các chi tiết hộp nhỏ và có hình thù phức tạp. Các phôi đúc khi chế tạo cần phải có kết cấu hợp lý, các chỗ gấp khúc của hộp phải có góc lượn, các hốc bên trong cần phải làm sạch, các mặt cạnh và đáy cần sạch và phẳng. Vật đúc không được có các vết nứt, rỗ và các khuyết tật khác. Vật đúc thường nguội không đều sẽ gây ra ứng suất dư và biến dạng nhiệt, do đó trước khi gia công cơ khí phải có các biện pháp khử ứng suất dư. b) Phôi hàn Phôi hàn được chế tạo từ các tấm thép hàn lại thành hộp. Loại phôi này được dùng trong sản suất đơn chiếc. Phôi hàn có hai kiểu: - Kiểu phôi thô: hàn các tấm thép thành hộp rồi mới gia công cơ khí. - Kiểu phôi tinh: gia công sơ bộ các tấm thép rồi mới hàn lại. Phôi hàn có nhược điểm cơ bản là có ứng suất dư khi hàn lớn. c) Phôi dập Được dùng cho các chi tiết hộp có hình dạng đơn giản ở dạng sản xuất loạt lớn và hàng khối. Vật liệu thép: dùng dập nóng. Hợp kim màu: dùng dập nguội. Phôi dập có cơ tính tốt và đạt được năng suất cao. Cnctpt..7 1.5- QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ GIA CÔNG CHI TIẾT HỘP 1.51- Chọn chuẩn định vị Khối lượng gia công chủ yếu của chi tiết dạng hộp là gia công các lỗ. Để đảm bảo việc gia công các lỗ trên nhiều bề mặt khác nhau, qua các giai đoạn gia công thô, tinh v.v… đạt yêu cầu chính xác cao phải có một mặt chuẩn tinh thống nhất. Thông thường mặt chuẩn này là một mặt phẳng nào đó và 2 lỗ vuông góc với mặt phẳng đó. Hai lỗ dùng làm chuẩn tinh phải gia công đạt đến cấp chính xác 2, 3 và có khoảng cách càng xa nhau càng tốt (hình 1.1). Khi định vị chi tiết hộp trên đồ gá, phải định vị 6 bậc tự do (mặt phẳng 3 bậc, 2 lỗ 3 bậc). Hai lỗ chuẩn tinh thường được dùng là các lỗ lắp bu lông trên đế hộp. Tuy vậy tuỳ theo kết cấu cụ thể của hộp mà có thể dùng các mặt khác mà không cần gia công chính xác 2 lỗ bu lông để làm chuẩn. Có thể sử dụng các kết cấu rãnh, sống trượt để dùng làm chu ẩn. Hình 1.1. Hai lỗ chuẩn định vị Để có các mặt bề mặt kể trên làm chuẩn cb a tinh thì nguyên công đầu tiên người ta phải gia công các mặt chuẩn đó. Việc chọn chuẩn thô ở các nguyên công này rất quan trọng. Có thể dùng các phương án chọn chuẩn thô như sau: a) Mặt thô của các lỗ chính (4 bậc tự do). b) Mặt thô không gia công của hộp ở phía trong (3 bậc tự do) (Xem hình vẽ 1.2). Hình 1.2. Các phương án chuẩn thô. Trong các bề mặt làm chuẩn thô nói trên, quan trọng hơn cả là các lỗ chính vì nếu chọn bề mặt này làm chuẩn ban đầu thì sẽ đảm bảo được lượng dư của lỗ đầy đủ, 8.CNCTPT tạo điều kiện dễ dàng gia công lỗ chính xác sau này. Khi chọn chuẩn thô, nếu không chú ý đến mặt trong không gia công sẽ có thể làm cho khe hở lắp ghép giữa nó với các bộ phận lắp bên trong (bánh răng, tay gạt…) không đảm bảo. Trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc phôi được chế tạo có độ chính xác thấp và khi gia công không dùng các đồ gá chuyên dùng nên có thể thực hiện nguyên tắc chọn chuẩn như trên bằng phương pháp lấy dấu. Khi lấy dấu, phải kết hợp việc chọn chuẩn thô này với các chuẩn thô khác để phân phối lượng dư gia công cho thoả mãn các yêu cầu khác nhau. Phương pháp lấy dấu có nhược điểm là năng suất thấp nên giá thành cao. 1.5.2- Thứ tự gia công các bề mặt chủ yếu của hộp Quy trình công nghệ gia công các chi tiết hộp bao gồm các giai đoạn chính sau đây: a) Gia công mặt phẳng chuẩn và 2 lỗ chuẩn tinh. b) Gia công các bề mặt còn lại. Sử dụng mặt phẳng và 2 lỗ làm chuẩn gia công các bề mặt khác: - Gia công các mặt phẳng còn lại. - Gia công thô và bán tinh các lỗ lắp ghép - Gia công các lỗ dùng để kẹp chặt. - Gia công tinh các lỗ lắp ghép - Tổng kiểm tra. 1.6- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN CÔNG CHÍNH 1.6.1- Gia công các mặt chuẩn a) Gia công mặt phẳng chuẩn - Đối với hộp gia công có sản lượng nhỏ có thể tiến hành trên máy phay hoặc máy bào để gia công mặt chuẩn phẳng. Nếu hộp có kích thước lớn, bề mặt làm chuẩn có dạng hình vuông hoặc tròn thì có thể gia công trên máy tiện đứng, còn nếu có kích thước nhỏ có thể gia công trên máy tiện bằng cách gá trên mâm cặp 4 chấu hoặc đồ gá chuyên dùng. - Trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối đối với hộp có kích thước vừa và lớn thì tiến hành gia công trên máy có nhiều trục hoặc máy có bàn quay nhiều vị trí. Với các hộp nhỏ có thể gia công trên các máy tổ hợp hoặc chuyên dùng. b) Gia công 2 lỗ chuẩn. - Trong sản xuất hàng loạt lớn hoặc hàng khối thường sử dụng máy khoan nhiều trục để gia công 2 lỗ chuẩn. Khi gia công người ta thực hiện tuần tự các bước khoan, khoét, doa trong một lần gá và sử dụng bạc dẫn hướng để đảm bảo độ chính xác về đường kính lỗ và khoảng cách tâm 2 lỗ định vị. Cnctpt..9 - Trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc việc gia công 2 lỗ được thực hiện bằng cách lấy dấu 2 lỗ và khoan trên máy khoan cần, đối với các hộp nhỏ có thể dùng máy khoan đứng. 1.6.2- Gia công các mặt ngoài của hộp Gia công các mặt phẳng ngoài hộp có thể áp dụng nhiều phương pháp: phay, bào, tiện, mài, chuốt tuỳ theo sản lượng và kích thước, kết cấu của hộp. a) Trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc Thường dùng phương pháp bào vì đơn giản và rẻ. Có thể nâng cao năng suất bào bằng cách gá nhiều phôi một lúc. b) Trong sản xuất hàng loạt vừa và lớn Dùng phương pháp phay để gia công các mặt ngoài. Hộp có kích thước nhỏ có thể gá nhiều phôi một lúc để gia công. Hộp có kích thước lớn có thể gia công trên máy phay giường hay máy bào giường. Gia công trên các máy này có thể đạt được năng suất và độ chính xác cao. Độ song song của các mặt 0,02mm/1000mm. Độ không phẳng 0,02 ÷ 0,03mm/1000mm. Độ không vuông góc 0,03 ÷ 0,06mm/500mm. c) Trong sản xuất hàng khối Dùng phương pháp phay liên tục trên máy phay có nhiều vị trí (máy phay có bàn quay, máy phay có tang trống) để gia công 2 mặt phẳng song song cùng một lúc bằng 2 dao. Hình 1.3 giới thiệu sơ đồ gia công trên máy phay có bàn quay. I1 2 3 2 13 II a) III b) Hình 1.3. Sơ đồ gia công trên máy phay có bàn quay. Hình a. Gia công 2 mặt phẳng song song bằng 2 dao. Trên bàn máy có bàn quay (3) gá chi tiết gia công (2) dùng dao (1) để gia công ở 2 phía cùng một lúc. Tiến 10.CNCTPT hành gia công thô ở vị trí I và gia công tinh ở vị trí II. Có thể bố trí như hình b khi ở một vị trí gá 2 chi tiết ngược nhau để gia công 2 bề mặt ngược nhau. Đối với các hộp có bề mặt tròn xoay có thể gia công trên máy tiện đứng. Khi thực hiện gia công tinh trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối người ta tiến hành trên máy mài phẳng. Trong sản xuất đơn chiếc và loạt nhỏ thường dùng phương pháp cạo. 1.6.3- Gia công các lỗ lắp ghép a) Chọn phương pháp gia công Thời gian gia công các lỗ lắp ghép chiếm tỷ lệ lớn trong quá trình gia công chi tiết hộp. Vì vậy cần chọn phương pháp gia công hợp lý để đảm bảo được độ chính xác cao và năng suất gia công cao. Biện pháp gia công lỗ phụ thuộc vào sản lượng; có thể sử dụng nhiều loại máy công cụ khác nhau để gia công, nhưng đều phải thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật cơ bản sau: + Đường kính của lỗ. + Độ chính xác về khoảng cách tâm các lỗ, độ song song, độ vuông góc giữa các lỗ với nhau. Tuỳ thuộc vào dạng sản xuất mà có các biện pháp công nghệ khác nhau. - Trong sản xuất hàng loạt lớn, hàng khối tiến hành gia công các lỗ trên máy doa tổ hợp có nhiều trục. Có thể gia công song song hoặc song song liên tục trên hai hoặc ba bề mặt của hộp. Vị trí của các lỗ được xác định bằng cách bố trí các đầu trục chính trên máy. Tiến hành gia công các lỗ theo 2 nguyên công: thô và tinh hoặc 2 bước thô và tinh tại 2 vị trí của máy. Trên hình 1.4 trình bày sơ đồ gia công trên máy tổ hợp. Vị trí I là vị trí gá chi tiết; vị trí II là vị trí gia công. 1. Đầu lực; 1 2 II doa Trôc dao toa 2. Hộp trục chính máy; 3. Bàn máy; 3 4. Đầu thay đổi trục dao doa. I4 Hình1.4. Sơ đồ gia công trên máy tổ hợp. Đối với các hộp có kích thước không lớn lắm, có thể gia công trên máy khoan đứng có đầu khoan nhiều trục và dùng bạc dẫn hướng để gia công một lúc các lỗ trên 1 bề mặt. Có thể dùng máy khoan cần để gia công các lỗ thông qua các bạc dẫn hướng. - Trong sản xuất hàng loạt: Cnctpt..11 Dùng máy doa ngang hoặc doa đứng để gia công các lỗ. Kích thước của lỗ phụ thuộc vào kích thước của dao. Khoảng cách tâm và độ song song của các tâm lỗ được đảm bảo nhờ sự dịch chuyển của bàn máy và vị trí của các bạc dẫn hướng trục dao doa. Độ vuông góc giữa các lỗ được đảm bảo bằng cách quay bàn máy gá chi tiết so với trục dao doa. Các biện pháp kỹ thụât cụ thể phụ thuộc vào chiều sâu lỗ; số lượng lỗ trên một hàng; số hàng lỗ trên một bề mặt hộp và số bề mặt hộp có lỗ phải gia công. + Nếu lỗ không sâu, khi gia công cần dùng bạc định hướng cho trục doa ở phía trước (hình 1.5a) hoặc phía sau lỗ gia công (hình 1.5b). Khi hộp có chiều dài lớn thì phải dẫn hướng cả phía trước và sau (hình 1.5c). + Nếu có nhiều lỗ trên một hàng, có thể thực hiện trên máy doa và nên chia ra 2 nguyên a) 1 2b) a) 1 2b) công thô và tinh. 2 1 2 1 c) 2 1 2 c) 2 1 2 Hình 1.5. Gia công các lỗ chính. 1- Lỗ gia công; 2- Đồ gá để gá bạc dẫn hướng. b) Gia công thô các lỗ Khi gia công thô các lỗ, trước tiên gia công lỗ ngoài cùng ở một phía hộp bằng trục dao công xon. Sau đó gia công các lỗ tiếp theo. Tiến hành gia công một nửa số lỗ sau đó quay bàn máy 180o để gia công nốt nửa số lỗ còn lại trên một hàng. Ví dụ phải gia công một hàng lỗ có 4 lỗ trên 4 vách khác nhau, đường kính các lỗ này nhỏ dần về 1 phía Φ1 < Φ2 < Φ3 < Φ4 (Hình 1.6). Hình 1.6. Các lỗ chính trên Việc gia công sẽ được thực hiện như sau: a) c) 1 dãy lỗ. 12.CNCTPT b) 1.7c). án: Hình 1.7. Thứ tự gia công các lỗ chính. Bước 1: Gia công lỗ Φ4 đạt Φ’4 (Hình 1.7a) Bước 2: Gia công lỗ Φ3 đạt Φ’3 (Hình 1.7b) Bước 3: Quay bàn máy 180o tiếp tục gia công lỗ Φ1 đạt Φ’1 (Hình Bước 4: Gia công lỗ Φ2 đạt Φ’2 (Hình 1.7d) c) Gia công tinh các lỗ Gia công tinh các lỗ trên một hàng có thể thực hiện theo 2 phương - Phương án 1: Gia công liên tục các lỗ bằng cách sử dụng các lỗ gia công trước làm dẫn hướng để gia công các lỗ tiếp sau (Hình 1.8). Cnctpt..13 Hình 1.8. Phương án gia công liên tục các lỗ. - Phương án 2: Lần lượt gia công 2 lỗ ngoài cùng của 2 mặt ngoài ở 2 phía đối diện của hộp. Sau dó dùng 2 lỗ này làm dẫn hướng gia công các lỗ còn lại (Hình 1.9). Để gia công nhiều lỗ trên một bề mặt hay nhiều bề mặt thì biện pháp công nghệ cũng tương tự như gia công một lỗ hay một hàng lỗ. Có thể thực hiện theo các phương pháp sau: Hì nh 1.9. Phương án gia công 2 lỗ phía ngoài cùng. + Gia công hoàn chỉnh từng lỗ hoặc từng hàng lỗ riêng biệt (như đã nêu ở trên). 14.CNCTPT + Với cùng một dao, gia công đạt đến một kích thước nào đó cho tất cả các lỗ như nhau trên tất cả các bề mặt của hộp. Sau đó thay dao để thực hiện gia công các bước tiếp theo. Tiến hành quá trình gia công như vậy cho đến khi toàn bộ các bề mặt lỗ giống nhau trên các mặt của hộp được gia công xong. Nhóm lỗ khác lại được gia công lặp lại giống như nhóm lỗ ban đầu. + Dùng nhiều dao trên đầu dao nhiều trục để gia công đồng thời nhiều lỗ có đường tâm song song với nhau. Hình 1.10 giới thiệu máy gia công tự động theo chương trình có thể có đến 60 dụng cụ và 2 bàn máy để gia công một chi tiết dạng hộp. Trên mỗi bàn máy là một chi tiết gia công. Ví dụ trong khi bàn máy 1 thực hiện quá trình gia công thì bàn máy 2 thực hiện quá trình gá lắp chi tiết khác. Quá trình thay dao được thể hiện trên hình 1.11. Hình 1.10. Máy gia công lỗ tự động theo chương trình. 1- Bàn gá phôi; 2. Bàn gá phôi đang gia công. Hình 1.11. Quá trình thay dao trên đầu trục chính của máy. Trong sản xuất đơn chiếc và hàng loạt nhỏ việc gia công các lỗ của hộp có thể thực hiện trên các loại máy khoan cần, máy doa đứng, máy doa ngang. Việc định tâm các lỗ có thể thực hiện bằng phương pháp rà gá hoặc dùng đồ gá có bạc dẫn hướng. Hình 1.12a là máy doa nằm ngang để gia công các lỗ theo phương nằm ngang và hình 1.12b là máy khoan cần để gia công các lỗ theo phương thẳng đứng. Cnctpt..15 Hình 1.12a. Máy doa nằm ngang. Hình 11.2b. Máy khoan cần. 1.64- Gia công các lỗ kẹp chặt Trong chi tiết hộp, ngoài các lỗ chính còn có các lỗ dùng để kẹp chặt và các lỗ có ren. Đối với các lỗ có độ chính xác thấp: cấp 10 ÷ 12 (TCVN) hay 16 ÷ 17 (ISO) và độ nhám bề mặt RZ = 80 ÷ 40 thì chỉ cần gia công bằng phương pháp khoan. Đối với các lỗ có cấp chính xác 9 ÷ 10 (TCVN) hay 15 ÷ 16 (ISO) và độ nhám RZ = 20 thì sau khi khoan cần phải gia công bằng phương pháp khoét. Đối với các lỗ yêu cầu độ chính xác cao hơn nữa: cấp 7 ÷ 8 (TCVN) hay 13 ÷ 14 (ISO) thì phải qua nhiều bước: khoan, khoét và khoét tinh. Căn cứ vào sản lượng hàng năm mà chọn các biện pháp gia công phù hợp. - Đối với sản lượng nhỏ, người ta có thể gia công trên các loại máy khoan đứng một trục hoặc máy khoan cần tuỳ thuộc vào Hình 1.13. Đầu Rê-von ve. 16.CNCTPT kích thước và trọng lượng của phôi. Gia công trên các máy này việc định tâm các lỗ được thực hiện theo phương pháp lấy dấu hoặc đồ gá có bạc dẫn hướng mũi khoan. Đối với các hộp quá lớn người ta có thể sử dụng máy khoan di động trên nền xưởng hoặc máy khoan di động kẹp trực tiếp vào chi tiết gia công. - Đối với sản lượng trung bình, người ta tiến hành gia công các lỗ trên máy khoan cần có lắp đầu Rê-von-ve, trên đó lắp được nhiều dụng cụ gia công khác nhau: mũi khoan các kích thước, mũi khoét, mũi doa… (Hình 13). - Đối với sản lượng lớn (dạng sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối), các chi tiết hộp cỡ trung bình được gia công trên các máy tổ hợp hoặc máy khoan nhiều trục để gia công đồng thời nhiều lỗ. Đối với các hộp nhỏ, nguyên công này có thể thực hiện trên máy tổ hợp cùng với một số nguyên công khác. Riêng đối với sản xuất hàng khối, người ta có thể gia công trên các đường dây gia công tự động. Các lỗ ren của chi tiết dạng hộp còn thêm gia công ren sau khi đã khoan, khoét lỗ. Phụ thuộc vào sản lượng, kết cấu của hộp và yêu cầu kỹ thuật mà chọn các phương pháp cắt ren khác nhau: ta rô tay, ta rô máy. 1.6.5- Kiểm tra các thông số kỹ thuật của hộp Trong quá trình chế tạo, cần phải kiểm tra các thông số kỹ thuật của hộp. Việc kiểm tra giữa các nguyên công được tiến hành sau khi gia công các bề mặt quan trọng, yêu cầu độ chính xác cao. Cuối giai đoạn gia công cần phải tổng kiểm tra các yếu tố đã đề ra trong yêu cầu chế tạo. - Kiểm tra độ thẳng và độ phẳng của bề mặt: Độ thẳng của bề mặt được kiểm tra bằng cách dùng thước hoặc đồng hồ so. Độ phẳng của mặt phẳng được kiểm tra bằng ni-vô, bằng đồng hồ so hoặc bằng bàn rà trên đó có bôi sơn đỏ áp vào bề mặt cần kiểm tra. Độ phẳng được đánh giá bằng số vết sơn trên một đơn vị diện tích. Đối với các mặt phẳng quá lớn, có thể kiểm tra độ phẳng theo nguyên lý bình thông nhau. Hình 1.14. Kiểm tra kích thước lỗ. - Kiểm tra kích thước và hình dạng hình học của lỗ: Cnctpt..17 Kích thước và hình dạng lỗ được kiểm tra bằng các dụng cụ kiểm tra: thước cặp, ca-líp, đồng hồ so hoặc dụng cụ đo lỗ có trang bị đồng hồ so. Hình vẽ 1.14 trình bày sơ đồ kiểm tra kích thước lỗ. Trên sơ đồ này hình dạng hình học của lỗ theo tiết diện ngang như độ ô-van, độ e-líp, độ đa cạnh được xác định bằng cách đo kích thước ở nhiều vị trí khác nhau rồi so sánh kết quả để rút ra kết luận. Sai số hình dạng hình học theo chiều trục của lỗ như độ côn, độ tang trống… được xác định bằng cách kiểm tra đường kính lỗ theo chiều trục. Kích thước theo chiều dài lỗ được kiểm tra bằng thước cặp hoặc bằng Ca-líp. - Độ đồng tâm của các lỗ chính được kiểm tra bằng các loại trục kiểm (trục trơn hoặc trục bậc). Các lỗ có đường kính quá lớn có thể gá trục trong bạc (hình 1.15a). Để xác định cụ thể giá trị đồng tâm của 2 lỗ có thể dùng trục kiểm tra có gắn đồng hồ so (hình 1.15b) Ngoài ra, để kiểm tra độ đồng tâm có thể dùng đồ gá chuyên dùng. Trên hình 1.16 trình bày phương pháp kiểm tra độ đồng tâm của 3 lỗ trên 3 vách ngăn của hộp. a) b) a. Kiểm tra độ đồng tâm nhờ trục gá b. Kiểm tra độ đồng tâm nhờ trục kiểm tra có đồng hồ so. Hình 15. Kiểm tra độ đồng tâm nhờ trục gá. Hình 16. Kiểm tra độ đồng tâm các lỗ trên 3 vách ngăn. Trong hình vẽ này, đồng hồ 1 liên hệ với mũi đo 2 nhờ một hệ thống tay đòn. Khi quay tay quay 4, trục kiểm 3 (đã gá trong 2 lỗ của hộp) quay theo. Nhờ mũi đo 2 tỳ sát vào mặt lỗ và có liên hệ với đồng hồ so 1 nhờ hệ thống tay đòn, ta có thể đọc được giá trị lệch tâm của lỗ giữa so với 2 lỗ đầu và cuối. 18.CNCTPT - Kiểm tra khoảng cách tâm và độ song song giữa các đường tâm lỗ. Kiểm tra thông số này bằng thước cặp hoặc đồng hồ so. Hình vẽ 1.17 trình bày nguyên lý kiểm tra độ không song song của các đường tâm lỗ theo 1 phương. Hình 1.17. Kiểm tra khoảng cách tâm các lỗ theo 1 phương. Đối với các lỗ phải kiểm tra độ song song của các đường tâm theo 1 phương, người ta kiểm tra trên đồ gá, kiểm tra theo nguyên lý như hình 1.18. Hình 1.18. Kiểm tra tâm các lỗ theo 2 phương. 1. Đồng hồ kiểm tra theo phương thẳng đứng; 2. Đồng hồ kiểm tra theo phương nằm ngang; 3. Tay treo; 4. Trục gá; 5. Trục gá. Lắp 2 trục kiểm tra vào 2 hàng lỗ được kiểm tra, dùng bạc điều chỉnh để không còn khe hở. Lắp tay treo 3 có gắn đồng hồ 1 và 2 vào trục 5 quay tay treo để mũi tỳ của đồng hồ 1 và 2 tiếp xúc vào trục 4 sau đó chỉnh vạch đồng hồ về số 0. Tháo tay treo ra và lắp vào phía đối diện của trục 4 và 5. Tiến hành thao tác như trước và sẽ có kết quả như sau: Cnctpt..19 Hiệu số trên đồng hồ 1 ở 2 lần đo là sai số và độ không song song theo phương thẳng đứng trên chiều dài bằng khoảng cách giữa 2 đầu lắp tay treo. Hiệu số trên đồng hồ 2 là sai số về độ không song song theo phương nằm ngang. Tiết diện B – B biểu diễn về cách đo sai số theo phương ngang. Trên thân tay treo có một chốt tỳ tiếp xúc với trục 4, đầu kia là đầu của đòn bẩy, qua đó báo đến đồng hồ so để chỉ rõ độ không song song. - Kiểm tra khoảng cách từ tâm các lỗ đến bề mặt của hộp và độ không song song của chúng. Thông số kỹ thuật này được kiểm tra trên đồ gá theo nguyên lý như hình vẽ 1.19. Hình 1.19. Kiểm tra khoảng cách từ tâm lỗ đến mặt phẳng của hộp và độ song song của chúng. - Kiểm tra độ vuông góc giữa tâm các lỗ. Người ta tiến hành kiểm tra độ vuông góc giữa đường tâm các lỗ đối với những hộp có các lỗ cùng nằm trên một mặt phẳng và có đường tâm vuông góc với nhau bằng đồng hồ so hoặc bằng ca-líp. Hình 1.20a kiểm tra bằng đồng hồ so; hình 1.20b kiểm tra bằng ca-líp. a) b) Hình 1.20. a,b. a. Kiểm tra độ vuông góc bằng đồng hồ. b. Kiểm tra độ vuông góc bằng ca-líp. Trong trường hợp dùng ca-líp, cần phải xác định khe hở Δ1 và Δ2 . Độ không vuông góc chính là hiệu số của 2 đại lượng này. - Kiểm tra độ vuông góc giữa đường tâm lỗ và mặt đầu của lỗ. 20.CNCTPT Tiến hành kiểm tra bằng đồng hồ so (hình 1.21a) hoặc bằng calip chuyên dùng (hình 1.21b). a) b) Hình 1.21. a,b. a. Kiểm tra độ vuông góc giữa đường tâm lỗ và mặt đầu bằng đồng hồ so. b. Kiểm tra bằng calíp. 1.7- QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MỘT SỐ CHI TIẾT ĐIỂN HÌNH DẠNG HỘP 1.7.1- Quy trình công nghệ chế tạo thân hộp giảm tốc 1- Đặc điểm kết cấu và vật liệu chế tạo thân hộp giảm tốc Hình 1.22. Kết cấu của vỏ hộp giảm tốc. Hộp giảm tốc là một chi tiết dạng hộp, kết cấu của hộp gồm 2 nửa lắp ghép với nhau bằng 1 mặt phẳng lắp và 2 chốt định vị. Hộp giảm tốc là một tổng thành máy được dùng rất phổ biến trong các thiết bị nâng chuyển và các thiết bị dùng trong Cnctpt..21 ngành xây dựng. Vỏ hộp giảm tốc thường sử dụng vật liệu là gang xám (dùng phôi đúc) hoặc thép tấm hàn (dùng cho phôi hàn). Chọn dạng phôi của hộp giảm tốc phải dựa vào sản lượng chế tạo. Sau đây giới thiệu quy trình công nghệ chế tạo vỏ hộp giảm tốc có kết cấu như hình vẽ 1.22. 2- Quy trình công nghệ Gia công vỏ hộp này gồm một số nguyên công chính sau đây: 1. Gia công mặt phẳng chuẩn của phần thân dưới. 2. Khoan và doa 2 lỗ chuẩn vuông góc với mặt phẳng chuẩn. 3. Gia công thô mặt đầu các lỗ và các lỗ lắp ghép của phần thân dưới. 4. Gia công bán tinh mặt đầu các lỗ và các lỗ lắp ghép của phần thân dưới. 5. Gia công các lỗ lắp ghép trên mặt phẳng lắp ghép của thân dưới. 6. Gia công các lỗ khác trên thân dưới. 7. Gia công mặt phẳng lắp ghép của nắp trên. 8. Gia công thô mặt đầu các lỗ và các lỗ lắp ghép của nắp trên. 9. Gia công bán tinh mặt đầu các lỗ và lỗ lắp ghép của nắp trên. 10. Gia công các lỗ lắp ghép trên mặt phẳng lắp ghép của nắp trên. 11. Gia công các lỗ khác trên nắp. 12. Ráp nắp vào thân. 13. Gia công 2 lỗ côn định vị nắp và thân dưới. 14. Gia công lại mặt đầu các lỗ lắp ghép. 15. Doa thô và doa tinh các lỗ lắp ghép (lỗ lắp vòng bi). 16. Tổng kiểm tra các thông số kỹ thuật. 1.72- Quy trình công nghệ chế tạo thân động cơ đốt trong. 1- Đặc điểm kết cấu của thân động cơ (blốc xylanh) Thân động cơ là một chi tiết dạng hộp có kết cấu rất phức tạp. Hình 1.23 giới thiệu chung kết cấu của thân động cơ Điêzen SMD-14. 22.CNCTPT Hình 1.23. Kết cấu của thân động cơ đốt trong. 1,2,3,4… các chi tiết lắp trên chi tiết cơ sở là thân động cơ đốt trong của một thân động cơ hoàn chỉnh. Trên thân động cơ có nhiều bề mặt phải gia công đạt độ chính xác cao về kích thước, hình dạng hình học, vị trí tương quan giữa các bề mặt. Đó là các lỗ xy lanh các lỗ lắp trục khuỷu, lỗ lắp trục phân phối khí, các lỗ dẫn hướng của cơ cấu phối khí. Vật liệu chế tạo thân động cơ là gang hoặc hợp kim nhôm được chế tạo bằng phương pháp đúc. Tuỳ theo kết cấu của thân động cơ mà có các yêu cầu kỹ thuật cụ thể, nhưng nói chung đều giống các yêu cầu kỹ thuật cơ bản như các chi tiết dạng hộp khác. 2- Quy trình công nghệ Là một chi tiết dạng hộp, do đó quy trình công nghệ và các phương pháp gia công các bề mặt đều như các chi tiết dạng hộp khác. Cnctpt..23 Tuy vậy, vì thân động cơ đốt trong kết cấu khá phức tạp, có nhiều dạng khác nhau (động cơ làm mát bằng nước ; động cơ làm mát bằng không khí…) nên thứ tự gia công cụ thể có những thay đổi khác nhau. Sau đây xin giới thiệu một quy trình công nghệ chế tạo thân động cơ đốt trong 1 hàng xylanh thẳng, làm mát bằng nước. 1. Gia công mặt phẳng chuẩn trên và dưới thân động cơ. 2. Gia công các mặt phẳng khác. 3. Gia công sơ bộ các lỗ xylanh. 4. Gia công sơ bộ các lỗ lắp trục khuỷu, trục phân phối khí. 5. Kiểm tra khuyết tật của phôi. 6. Gia công bán tinh các lỗ xylanh. 7. Gia công bán tinh các lỗ lắp ghép trục cam và trục khuỷu. 8. Gia công thô các lỗ lắp ghép khác. 9. Gia công bán tinh các lỗ lắp ghép khác. 10. Gia công các lỗ kẹp chặt. 11. Gia công tinh mặt lắp ghép với nắp máy. 12. Gia công tinh lỗ xylanh. 13. Gia công tinh các lỗ lắp ghép trục cam và trục khuỷu. 14. Gia công lần cuối lỗ xylanh. 15. Tổng kiểm tra. 24.CNCTPT Chương II CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO PISTON ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG 2.1. NHỮNG YÊU CẦU KỸ THUẬT CỦA PISTON Piston là một chi tiết máy trong động cơ đốt trong, có tác dụng quyết định đến công suất và hiệu suất của động. Vì phải làm việc trong những điều kiện khó khăn: áp suất lớn, nhiệt độ cao, tốc độ dịch chuyển cao nên piston phải có hình dạng, kích thước chính xác, kết cấu gọn, nhẹ, cân bằng. Piston thường được làm theo dạng hình trụ tròn xoay hoặc hơi côn. Piston được chia làm 2 phần: đầu và thân piston. 2.2.1- Đầu piston Chiếm khoảng 1/3 chiều cao piston gồm đỉnh và thân có rãnh séc măng. Phần đầu piston là phần chính chịu áp lực và nhiệt khi piston làm việc. - Đỉnh piston có dạng phẳng hoặc định hình tạo thành một phần buồng đốt của động cơ. Một số đỉnh piston động cơ điêzen có đỉnh dạng đặc biệt, độ chính xác về hình dạng đỉnh không yêu cầu quá cao. Yêu cầu kỹ thuật chung của đỉnh khi gia công đạt độ bóng ∇5 ÷∇6 (Rz = 20) phải đảm bảo chiều dày đỉnh, tuyệt đối không bị rỗ khi đúc. - Vùng rãnh séc măng: có từ 3 đến 6 rãnh để lắp sec măng. Các rãnh sec măng hơi thường được chế tạo cùng một kích thước danh nghĩa nhưng phạm vi sai lệch không giống nhau, rãnh trên thường lớn hơn rãnh dưới 0,02 ÷ 0,03mm. Các rãnh này được dùng để lắp các sec măng hơi cùng chiều dày (cho dễ chế tạo và đỡ lẫn khi lắp ráp). Các vành đai ngăn cách giữa các rãnh sec-măng có kích thước đường kính theo hình bậc thang lớn dần về phía dưới D2 = D1 +(0,2 ÷ 0,3). + Mặt trụ ngoài và cạnh của rãnh sec măng phải đạt độ bóng ∇6 ÷∇7 (Ra = 2,5 ÷ 1,25). Chiều rộng rãnh sai lệch cho phép không quá +0,025mm. + Đường kính ngoài của đầu piston cho phép sai số không quá 0,1mm. Độ chính xác và độ bóng của đường kính bên trong rãnh không yêu cầu cao (∇5 ÷∇5; dung sai kích thước 0,2 ÷ 0,25mm). + Phải đảm bảo độ vuông góc giữa rãnh sec măng và đường kính tâm piston, sai số không quá 0,05/100. + Độ đồng tâm giữa phần đầu và thân piston sai số không quá 0,1mm. + Khoảng cách từ đỉnh piston đến rãnh sec măng không sai quá ±0,3mm, riêng đối với rãnh đầu không quá ± 0,15mm. + Chiều dày các vành đai ngăn cách giữa các sec măng sai lệch không quá ± 0,2mm. 2.1.2- Thân piston 26.CNCTPT a) Thân piston làm nhiệm vụ dẫn hướng chuyển động nên yêu cầu về độ bóng và độ chính xác khá cao: + Độ nhám bề mặt yêu cầu ∇7 ÷ ∇8 (Ra = 1,25 ÷ 0,63). + Đường kính thân đạt cấp chính xác 2 (TCVN) (cấp 7 ISO). (Đối với các piston có đường kính D: 80 ÷ 150mm chỉ cho phép sai lệch 0,02 ÷ 0,03mm). Để đảm bảo piston không bị bó kẹt khi dẫn nở nhiệt, piston nhôm được chế tạo thân có hình côn (nhỏ dần về phía đỉnh) với độ côn trung bình 0,1/100. Tiết diện ngang thân được gia công hình ôvan (đường kính nhỏ nằm về phía đường tâm lỗ chốt) với độ ôvan trung bình 0,15 ÷ 0,3mm. Piston gang có thể làm tròn xoay. + Độ dày của vách piston không được chênh lệch quá 0,5mm trên cùng một tiết diện. Đối với các piston của động cơ cao tốc, để giảm trọng lượng người ta thường thiết kế piston có vát 2 bên thân (xem hình 2.1). Với loại thân vát này sẽ giảm được ma sát giữa thân và thành xylanh đồng thời tránh được va đập giữa thân piston và má trục khuỷu nhất là với loại động cơ có hành trình piston ngắn. Thân piston gồm 2 loại: thân cứng và mềm. Piston thân cứng là loại thân không xẻ rãnh phòng nở hoặc rãnh phòng nở không xẻ dài hết chiều dài thân. Loại này thường là piston gang hoặc piston nhôm của động cơ điêzen có chiều dày thân đánh kể. Tiết diện ngang của thân chỉ làm ôvan ở khoảng có lỗ chốt và côn theo chiều dài thân. Piston thân mềm thường gặp ở động cơ xăng chiều dày thân mỏng. Dọc theo thân có rãnh phòng nở phay hết chiều dài thân. Loại thân mềm có độ cứng vững kém. b) Lỗ chốt piston Cnctpt.27 . Hình 2.1. Kết cấu của piston động cơ đốt trong. 28.CNCTPT Độ chính xác về kích thước, hình dạng và vị trí của lỗ chốt có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sử dụng piston. Sau đây là một số yêu cầu về độ chính xác của lỗ chốt. + Đường kính lỗ chốt cho phép sai số chế tạo không quá 0,01 ÷ 0,015mm. + Độ côn và độ ôvan của lỗ không quá 0,005mm. + Độ không đồng tâm giữa hai lỗ không quá 0,005mm. + Độ nhám bề mặt lỗ không thấp hơn ∇8 (Ra = 0,63). Đối với piston đỉnh phẳng, sai số khoảng cách từ tâm lỗ chốt đến đỉnh không vượt quá 0,1mm. Đối với piston có đỉnh định hình cho phép sai số không quá 0,2mm. + Độ không vuông góc giữa tâm lỗ chốt và tâm piston không quá 0,02÷0,04/100mm. + Độ lệch tâm giữa tâm lỗ chốt và tâm piston theo mặt phẳng ngang không vượt quá 0,1mm. + Đảm bảo độ dày đều giữa lỗ và bệ lỗ chốt (chênh lệch không quá 0,5mm). + Chiều rộng rãnh hãm chốt không sai lệch quá 0,1mm. Piston sau khi chế tạo xong được phân nhóm lắp ráp giữa piston – xylanh và chốt piston – piston. Thường phân nhóm lắp ráp từ 4 đến 5 nhóm. Ngoài ra còn qui định dung sai về trọng lượng của từng loại piston. Sai lệch về trọng lượng của các piston được lắp trên cùng một động cơ không vượt quá giá trị 5 ÷ 10gr. 2.2- VẬT LIỆU CHẾ TẠO VÀ PHÔI PISTON 2.2.1- Vật liệu chế tạo Do phải làm việc dưới áp suất và nhiệt độ cao, chịu ma sát lớn do đó vật liệu chế tạo piston phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Trọng lượng riêng nhỏ - Độ bền cao - Hệ số ma sát nhỏ - Truyền nhiệt và chịu nhiệt tốt - Chịu mài mòn và chịu ăn mòn cao - Hệ số dãn nở nhiệt thấp - Dễ gia công (đúc, cắt gọt) - Dễ tìm. Các vật liệu phù hợp với yêu cầu trên là gang, thép, hợp kim nhôm. Để chống giãn nở nhiệt, người ta chế tạo loại piston có lót một vành đai làm bằng hợp kim Inva (là hợp kim của sắt và niken) ở phần có rãnh xécmăng trên cùng hoặc phần lỗ chốt. Cnctpt.29 1- Gang Thường dùng gang xám, gang dẻo, gang cầu để chế tạo piston. - Gang xám có độ bền cơ học cao, độ bền nhiệt cao, hệ số giãn nở nhiệt thấp, tính công nghệ đúc và cắt gọt tương đối tốt, rẻ tiền. - Tuy nhiên gang xám có một số nhược điểm: Trọng lượng riêng lớn, ở nhiệt độ cao (725oC) dễ bị nứt nẻ. Do nhược điểm trên nên ít sử dụng gang xám để chế tạo piston của các động cơ cao tốc và tải trọng lớn. - Gang dẻo Peclit có tổ chức Peclit như gang xám nhưng có độ bền cao hơn vì grafit ở dạng tập trung. Gang dẻo được dùng trong các động cơ 2 kỳ có tải trọng lớn. - Gang cầu có độ bền cao, chịu nhiệt cao, chịu mài mòn cao. 2- Thép Thép có tỷ trọng lớn nhưng có độ bền cao nên có thể chế tạo các piston thành mỏng. Tuy nhiên vật liệu thép ít dùng vì giá thành cao. 3- Hợp kim nhôm Hợp kim nhôm đúc được sử dụng nhiều trong chế tạo piston. Piston nhôm có các ưu điểm: - Trọng lượng riêng nhỏ. - Truyền nhiệt tốt. - Hệ số ma sát nhỏ. - Dễ gia công cắt gọt. Tuy vậy piston nhôm có nhược điểm: hệ số giãn nở nhiệt lớn, khả năng chịu mài mòn kém hơn gang. Hợp kim nhôm thường dùng là Al-Cu và Al-Si. Vật liệu được dùng phổ biến là loại Aậ-10B có các thành phần chính sau: Mg: 0,2 ÷ 0,5% ; Cu 4 ÷8%; Si: 4 ÷ 6%; còn lại Al. Hiện nay nhiều nơi sử dụng hợp kim nhôm đúc có hệ số giãn nở nhiệt thấp, trọng lượng riêng nhỏ và có khả năng chịu nhiệt và chịu mài mòn tốt hơn Aậ-10B. Thành phần hợp kim này như sau: Si: 11 ÷ 13% ; Ni: 0,8 ÷ 1,3%; Mg: 0,8 ÷ 1,3% ; Ti: 0,05 ÷ 0,2%; Mn: 0,3 ÷ 0,6% ; Zn: ≤ 0,5%; Fe: ≤ 0,8% ; Sn: ≤ 0,02%; 30.CNCTPT Pb: ≤ 0,7% ; Al : % còn lại; Cu: 1,5 ÷ 3%. 2.2.2- Phương pháp tạo phôi piston Hiện nay trên thế giới sử dụng nhiều phương pháp chế tạo phôi piston: đúc trong khuôn kim loại, đúc trong khuôn cát, đúc áp lực, đúc chân không, dập. Tuỳ thuộc vào vật liệu chế tạo và dạng sản xuất mà người ta chọn phương pháp chế tạo phôi hợp lý. Phổ biến nhất là đúc trong khuôn cát và đúc trong khuôn kim loại. Các phương pháp khác ít sử dụng tuy nó có một số ưu điểm: năng suất cao, chất lượng tốt nhưng trang thiết bị phức tạp, khuôn đúc phức tạp nên giá thành cao, không kinh tế. Một số piston nhôm có hình dạng bên trong đơn giản, trong sản xuất hàng loạt người ta còn áp dụng phương pháp dập. Đó là hình thức ép kim loại lỏng vào khuôn kim loại ở nhiệt độ 400 ÷ 800oC. Piston sau khi đúc xong trước khi gia công cơ khí phải nhiệt luyện để khử ứng suất bên trong và giảm độ cứng của lớp kim loại bề mặt nhằm mục đích tăng khả năng dễ gia công cắt gọt. Độ cứng sau nhiệt luyện khoảng HB: 100 ÷ 140. 2.3- QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO PISTON 2.3.1- ĐẶC ĐIỂM GIA CÔNG CƠ PISTON 1- Phương án thực hiện quy trình công nghệ Piston là một chi tiết gia công có kết cấu phức tạp, nhiều bề mặt có yêu cầu độ chính xác và độ bóng cao. Trong quy trình có nhiều nguyên công, khi lập quy trình cần phải xét đến mức độ tập trung nguyên công hoặc phân tán nguyên công như thế nào cho hợp lý. + Trong sản xuất hàng loạt lớn ở các nhà máy có mức độ chuyên môn hóa cao, piston được chế tạo trên các dây truyền có mức độ cơ giới hoá và tự động hoá cao. Trên các dây truyền này, người ta sử dụng các máy tự động, nửa tự động, các máy nhiều trục, máy tổ hợp v.v… để gia công đồng thời nhiều bề mặt một lúc. Với các loại máy công cụ như vậy, người ta áp dụng phương án tập trung nguyên công song song để lập quy trình công nghệ. Theo phương án này năng suất gia công rất cao, giảm được sai số gá lắp do số lần định vị ít. + Trong sản xuất hàng loạt nhỏ, với thiết bị vạn năng kèm theo các gá lắp chuyên dùng thì người ta áp dụng phương án phân tán gia công. Mỗi nguyên công chỉ có ít bước và tiến hành gia công theo từng loạt chi tiết. Phương án này cho phép đạt được năng suất cao. + Trong sản xuất đơn chiếc, việc chế tạo chủ yếu phục vụ trong sửa chữa thay thế, quá trình gia công được thực hiện theo phương pháp đo cắt thử, do đó người ta thực hiện phương pháp tập trung nguyên công liên tục. Phương án này yêu cầu thợ gia công có tay nghề cao, thời gian gia công của phương án này lớn, do đó năng suất thấp. Cnctpt.31 2- Chọn chuẩn và phương pháp kẹp chặt Quá trình chế tạo piston gồm nhiều nguyên công, nhiều bước do đó phải thực hiện nhiều lần gá lắp. Gá lắp nhiều lần sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác gia công, do đó việc chọn chuẩn định vị có ý nghĩa rất quan trọng, trong quy trình công nghệ cần phải áp dụng nguyên tắc nào để chọn chuẩn cho hợp lý. Mặt khác, piston là một chi tiết kém cứng vững, dễ bị biến dạng khi kẹp chặt, do đó việc chọn mặt chuẩn định vị còn liên quan đến điểm đặt, phương và chiều của lực kẹp chặt. Trong sản xuất hàng loạt và sản xuất đơn chiếc, thường sử dụng các bề mặt sau đây để làm chuẩn định vị. a) Chuẩn định vị phụ Sử dụng chuẩn định vị phụ trong gia công piston có ưu điểm áp dụng được nguyên tắc thống nhất chuẩn trong quy trình công nghệ, do đó sẽ giảm được sai số vị trí tương quan giữa các bề mặt gia công với nhau. a) Định vị bằng mặt đáy và mặt trụ trong của phần thân piston. Định vị theo hai mặt này sẽ xác định được 5 bậc tự do của vật gia công (Hình 2.2). H×nh 2.2. Bề mặt kẹp chặt là lỗ chốt piston. Một trục rút có một đầu lồng qua chốt ngang lắp vào lỗ chốt, một đầu có ren được xiết chặt bằng đai ốc qua đầu trục chính của máy tiện sẽ giữ chặt chi tiết trên đài gá được lắp trên máy tiện. Phương án gá lắp này có ưu điểm chắc chắn, có thể gia công được toàn bộ các bề mặt bên ngoài piston, tuy nhiên phương án có thể gây biến dạng lớn hoặc nứt thân piston nếu lực kẹp quá lớn và điểm đặt của lực trên bệ lỗ chốt không đúng yêu cầu; ngoài ra phương án này còn có nhược điểm về độ chính xác khi định tâm không cao do có sai số mặt định vị phần lỗ trụ trong của thân piston gây nên. b) Định vị bằng mặt côn ở đáy thân và lỗ tâm ở đỉnh piston (Hình 2.3) 32.CNCTPT Hình 2.3. Chuẩn phụ của piston. a) Đúc lồi phần đỉnh; b) Phần đỉnh đúc phẳng. Định vị bằng 2 mặt chuẩn này cũng xác định được 5 bậc tự do. Mũi tâm ngoài tác dụng định vị còn có tác dụng kẹp chặt. Phương án này có ưu điểm định tâm chính xác, gá lắp nhanh nhưng độ cứng vững khi gá lắp kém và trong quy trình công nghệ phải thêm các nguyên công gia công lỗ tâm ở đỉnh và xén bỏ lỗ tâm. Để truyền chuyển động quay cho piston, cần có thêm tốc gạt truyền môment cho piston thông qua điểm tiếp xúc giữa tốc và bệ lỗ chốt phía trong thân piston. Dùng các mặt chuẩn định vị này có thể gia công được toàn bộ các mặt ngoài piston: rãnh sec măng, đỉnh piston, thân piston. Riêng đối với các piston có tiết diện thân dạng ôvan, cần phải định vị thêm bậc tự do thứ 6. Mặt chuẩn định vị này có thể là then định vị, bệ lỗ chốt, 2 lỗ định vị trên phần đáy piston (đối với piston có thân bị khuyết) hoặc có thể dùng phương pháp rà gá theo dấu. b) Chuẩn định vị chính Hầu hết các nguyên công trong quy trình công nghệ chế tạo piston đều sử dụng chuẩn phụ để định vị vì dùng mặt này sẽ rất thuận lợi trong quá trình gia công, đảm bảo được nguyên tắc sử dụng thống nhất chuẩn. Đối với nguyên công gia công tinh lỗ chốt, ở các piston có đỉnh phẳng cần phải sử dụng chuẩn định vị chính để gia công. Vì dùng chuẩn này sẽ đảm bảo được độ chính xác vị trí tương quan cao nhất giữa đường tâm lỗ chốt với đỉnh piston và với đường trục của thân piston. Chuẩn định vị chính dùng trong trường hợp này là mặt đỉnh piston và phần mặt trụ đầu piston. 2.3.2. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO PISTON Phụ thuộc vào sản lượng, kết cấu của piston và điều kiện sản xuất cụ thể của xí nghiệp mà khi chế tạo có các quy trình công nghệ khác nhau. Ở đây chỉ xin đưa ra 1 quy trình công nghệ để có tính chất tham khảo đối với một loại piston hợp kim nhôm, đỉnh phẳng của các loại động cơ 1 dãy xylanh thẳng. Quá trình gia công được thực hiện thứ tự theo các công việc cơ bản sau đây: 1- Cắt bỏ đậu của phôi đúc. 2- Nhiệt luyện: đun trong dầu sôi với nhiệt độ 200 ÷ 250oC trong 5 giờ. 3- Gia công chuẩn phụ. 4- Gia công thô lỗ chốt piston. 5- Tiện thô mặt ngoài và các rãnh. 6- Tiện đứng chiều dài và các rãnh. 7- Gia công bán tinh lỗ chốt (khoét). 8- Khoan các lỗ thoát dao trên thân. Cnctpt.33 9- Khoan các lỗ thoát dầu trên rãnh sec măng dầu. 10- Phay rãnh phòng nở. 11- Doa đúng lỗ chốt, vát mép lỗ. 12- Mài đúng thân piston (gia công ôvan và côn thân piston nếu có). 13- Tiện các rãnh hãm chốt. 14- Sửa nguội các cạnh sắc. 15- Tổng kiểm tra, phân loại kích thước và trọng lượng. 16- Bao gói bảo quản. 2.4- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN CÔNG CHÍNH 2.4.1- Gia công chuẩn phụ Nguyên công gia công chuẩn phụ là nguyên công gia công cơ khí đầu tiên trong quy trình công nghệ chế tạo piston. Để đảm bảo độ chính xác vị trí tương quan giữa các bề mặt không phải gia công của piston (mặt trụ trong, mặt đáy của đỉnh piston) với các bề mặt khác phải gia công việc chọn chuẩn thô ở nguyên công này phải hợp lý. Theo các nguyên tắc chọn chuẩn thô, khi gia công các chuẩn phụ của piston (mặt đáy và mặt gờ trụ trong của thân) người ta phải lấy mặt trụ trong và mặt đáy của đỉnh piston làm chuẩn thô. Trong sản xuất hàng loạt nhỏ phôi đúc được chế tạo khá chính xác, do đó sai số tương quan giữa mặt trụ ngoài và trong thân piston không lớn nên có thể dùng mâm cặp 3 vấu tự định tâm định vị theo mặt trụ ngoài. Khi thực hiện định vị tuỳ theo phương pháp gia công theo cách đo cắt thử hoặc điều chỉnh máy tự động đạt kích thước mà xác định số bậc tự do khi định vị. Đối với phôi đúc kém chính xác, phải định vị bằng mặt trụ trong của piston, lúc này dùng mâm cặp 4 vấu để kẹp chặt mặt trụ ngoài. Hình thức định vị là rà gá theo mặt trụ trong, khi xén phẳng mặt đáy piston phải dùng chuẩn đo lường là mặt dưới của đỉnh piston. 34.CNCTPT Hình 2.4 1. Đầu dao; 2. Phôi; 3. Mâm quay; 4. Trục khoan; 5. Dao xén góc; 6. Dao khoét; 7. Dao vát góc. Đối với các piston cần thêm chuẩn phụ là lỗ tâm ở đỉnh, phải đảm bảo độ đồng tâm giữa lỗ tâm và gờ trụ phía trong thân piston. Trong sản xuất hàng loạt lớn gia công trên máy tiện liên hợp tác dụng 2 phía đồng thời gia công 2 bề mặt (hình 2.4) đối với phôi đúc chính xác. Theo hình 2.4, piston được kẹp trên mâm cặp (3) không quay, đầu dao (1) và đầu khoan (4) vừa quay vừa chuyển động chạy dao tiến vào piston, đến chiều sâu nhất định thì đầu dao tự động dừng lại và lùi ra khỏi chi tiết. Đối với phôi đúc có độ chính xác không cao, chuẩn phụ được gia công trên máy tiện bán tự động (hình 2.5). Phôi được gá trên trục chính của máy tiện. Có 2 bàn dao gia công mặt đáy và mặt trụ trong, đồng thời phía đỉnh piston có mũi khoan để khoan lỗ tâm. Cnctpt.35 Hình 2.5. Gia công chuẩn phụ trên máy tiện bán tự động. Đối với sản xuất đơn chiếc và hàng loạt nhỏ để đảm bảo được độ đồng tâm phải áp dụng nguyên tắc chuẩn thô chỉ sử dụng 1 lần. 2.4.2- Gia công mặt ngoài thân piston Mặt ngoài thân piston bao gồm các bề mặt trụ phần đầu piston, phần thân dẫn hướng, mặt đỉnh piston và các rãnh lắp secmăng. Khi gia công các mặt này người ta đều dùng chuẩn phụ định vị và kẹp chặt bằng đồ gá rút qua lỗ chốt. Trong sản xuất đơn chiếc và hàng loạt nhỏ việc gia công mặt ngoài 36.CNCTPT được tiến hành trên máy tiện vạn năng và chia làm các bước tiện thô, tiện tinh. Trong sản xuất hàng loạt lớn, nguyên công này được thực hiện trên máy tiện nhiều dao (Hình 2.6). Bàn dao dọc của máy gá dao gia công phần đầu và thân piston. Bàn dao ngang của máy gia công mặt đỉnh và cắt các rãnh sec măng. Hình 2.6. Sơ đồ gia công mặt ngoài trên máy tiện nhiều dao. 2.4.3- Gia công định hình thân piston Gia công ôvan và mặt ngài thân piston là một khâu quan trọng và phức tạp, nhất là trong dạng sản xuất đơn chiếc. Trong sản xuất đơn chiếc có thể gia công ôvan thân piston bằng phương pháp gia công lệch tâm nhờ đồ gá lệch tâm. Đài gá gá piston theo chuẩn định vị phụ có độ lệch tâm so với tâm trục chính máy tiện một trị số ε = 2Δ, trong đó Δ là hiệu số giữa đường kính trục lớn và nhỏ của tiết diện dạng ôvan. Mỗi lần tiện được một bên thân piston, sau đó quay piston 180o để tiện phía bên kia của thân. Đồ gá tiện này đơn giản nhưng năng suất thấp. Trong sản xuất loạt nhỏ có thể gia công ôvan thân piston bằng nguyên lý gia công chép hình nhờ một bộ gá chép hình cơ khí trên máy tiện vạn năng (hình 2.7). Trong sản xuất hàng loạt lớn, nguyên công này thực hiện trên các máy tiện chép hình bán tự động. Cnctpt.37 Hình 2.7. Đồ gá tiện chép hình thân piston. Mài ôvan thân piston được thực hiện trên các máy mài chuyên dùng hoặc máy mài vạn năng. Các loại máy mài chuyên dùng thường là các loại máy bán tự động truyền động thuỷ lực hoặc khí nén. Trong sản xuất đơn chiếc, có thể dùng đồ gá chép hình trên máy mài vạn năng. Hiện nay đối với các piston nhôm người ta ít sử dụng phương pháp mài, nhưng vẫn áp dụng phương pháp mài thân piston đối với các loại piston gang hoặc thép. 2.4.4- Gia công buồng cháy đỉnh piston Các loại piston động cơ ôtô, máy kéo, máy gạt thường có một số loại đỉnh không phẳng mà có dạng mặt cầu lồi hoặc lõm, có loại lại có các dạng định hình tạo ra các dạng buồng cháy khác nhau (hình 2.8). Đỉnh các bề mặt buồng cháy này không yêu cầu cao về độ chính xác kích thước, nhưng yêu cầu cao về độ chính xác hình dạng và độ bóng bề mặt. Việc tạo hình các dạng buồng cháy này phụ thuộc vào các điều kiện sản xuất khác nhau. Gia công buồng cháy đỉnh piston có thể chế tạo bằng phương pháp đúc sau đó gia công cơ khí. Có 2 phương pháp gia công cơ khí: - Gia công buồng cháy bằng phương pháp định hình: 38.CNCTPT Dùng dao tiện định hình để gia công. Quá trình tiện định hình phải qua nhiều bước: gia công thô, gia công tinh. Để đảm bảo độ bóng bề mặt của buồng cháy có thể dùng phương pháp cán lăn trên bề mặt bằng các viên bi (xem hình 2.9). Hình 2.8. Cấu tạo của piston có đỉnh định hình. Hình 2.9. Cán lăn bằng các viên bi. - Gia công buồng cháy bằng phương pháp chép hình: Gia công bằng phương pháp chép hình là tạo ra hình dạng bề mặt Cnctpt.39 gia công nhờ bộ gá chép hình: dùng cụ cắt chuyển động theo một quỹ đạo nhờ một dưỡng mẫu. Đồ gá chép hình có thể dẫn động bằng hệ thống thuỷ lực hoặc khí nén đạt được độ chính xác cao hơn so với đồ gá chép hình cơ khí. Dưới đây là một số đồ gá gia công theo nguyên lý này (hình 2.10 a,b). 1. Xylanh khí nén; 2. Trục gá rút; 3. Chốt kẹp; 4. Núm ở đỉnh có lỗ tâm; 5. Dưỡng chép hình; 6. Con lăn chép hình; 7. Bàn dao ngang; 8. Bàn trượt trên; 9. Ụ đứng máy tiện. Hình 2.10a. Tiện buồng cháy đỉnh piston. a) . b) 40.CNCTPT Hình 2.10b. Tiện đỉnh lồi và lõm của piston nhờ cần đẩy. 1. Bàn trượt; 2. Cần đẩy; 3. Dao tiện. a) Tiện đỉnh lồi, b) Tiện đỉnh lõm. 2.4.5- Gia công lỗ chốt piston Lỗ chốt piston là một bề mặt gia công tương đối khó và có quyết định đến chất lượng làm việc của piston. Lỗ chốt thường phải gia công qua nhiều bước, nhiều nguyên công: khoan lỗ, khoét lỗ, doa lỗ… Các công việc này không thực hiện liên tục mà làm xen vào giữa các nguyên công gia công khác. a) Gia công sơ bộ lỗ chốt: Đối với phôi đã có lỗ đúc sẵn có thể dùng mũi khoét để khoét rộng lỗ sau đó tiện bán tinh hoặc doa bằng mũi doa. Độ chính xác sau khi tiện bán tinh cần đạt cấp 3 đến cấp 4 (TCVN) tương đương cấp 8 ÷ 9 (ISO). Khi gia công sơ bộ, piston được định vị đủ 6 bậc tự do, mặt chuẩn định vị là chuẩn phụ. Có thể thực hiện nguyên công này trên máy khoan, máy khoét hoặc máy tiện. Khi gia công trên máy tiện, thường dùng bộ gá chi tiết trên bàn xe dao máy tiện. Khi gia công, chi tiết có chuyển động dọc theo băng dẫn hướng máy tiện, còn mũi khoan hoặc mũi khoét được gá trên trục chính của máy tiện và có chuyển động quay tròn. Tuy nhiên gia công trên các loại máy này chỉ phù hợp với dạng sản xuất đơn chiếc và loạt nhỏ. Trong trường hợp sản lượng nhiều, trong các nhà máy chế tạo ôtô, người ta thường gia công trên máy khoan tác dụng 2 phía (hình 2.11). Hình 2.11. Gia công sơ bộ lỗ chốt trên máy khoan tang trống, tác dụng 2 phía. Cnctpt.41 b) Gia công tinh lỗ chốt: Khi gia công tinh lỗ chốt, đối với các piston đỉnh phẳng phải dùng mặt chuẩn định vị chính để gá lắp (mặt phẳng đỉnh và mặt trụ đầu piston) tuỳ theo sản lượng mà có thể thực hiện trên các loại máy khác nhau. Nếu sản xuất với sản lượng không lớn, có thể dùng bộ gá trên bàn dao máy tiện để gá chi tiết. Dao cắt là dao tiện gá trên trục tâm lắp trên trục chính của máy tiện. Với dạng sản xuất lớn có thể sử dụng máy tiện tinh lỗ chốt tác dụng 2 phía đồng thời có một trục chính hoặc nhiều trục chính. Hình 2.12 là sơ đồ gia công tinh lỗ chốt trên máy tiện (khoét) tinh tác dụng 2 phía. Hình 2.12. Sơ đồ gá khoét tinh lỗ chốt. 1. Trục dao khoét bán tinh; 2. Càng kẹp chặt; 3. Trục dao khoét tinh; 4. Đế tựa định vị; 5. Vấu kẹp. Để nâng cao độ bóng bề mặt lỗ chốt sau khi đã tiện (khoét) tinh, có thể doa tinh lần cuối bằng mũi doa tuỳ động trên máy khoan, máy khoét hoặc dùng mũi doa tay để doa. Trong sản xuất loạt vừa và nhỏ, còn có thể gia công lỗ chốt theo các nguyên công: khoan, khoét, doa thô, doa tinh và lăn miết lỗ. Ưu điểm chính của phương pháp lăn miết là: - Độ bền dụng cụ cao. - Năng suất cao. 42.CNCTPT - Độ bóng cao. - Đơn giản hoá quy trình công nghệ. - Làm tăng độ cứng bề mặt vật liệu sản phẩm. 2.4.6- Gia công rãnh hãm chốt piston Nguyên công tiện rãnh hãm chốt piston cần được thực hiện trước nguyên công tiện tinh lỗ chốt. Gia công rãnh hãm chốt được thực hiện sau 2 lần gá. Phương pháp này không cho phép đạt độ đồng tâm của 2 rãnh cao nhưng cũng cho phép đảm bảo sai số từ 0,1 ÷ 0,2 mỗi bên. 7- Gia công rãnh phòng nở và lỗ dầu trên rãnh vòng găng dầu Trong sản xuất hàng loạt lớn, người ta dùng loại máy phay, khoan liên hợp công suất nhỏ để gia công các lỗ và phay rãnh ở các vị trí khác nhau. Hình 2.13 là sơ đồ gia công trên máy phay khoan liên hợp nhiều vị trí có bàn máy quay tròn. Máy khoan có các đầu khoan, phay bố trí theo kết cấu cụ thể của piston để gia công các lỗ và 2 rãnh phòng nở nghiêng và nằm ngang. Quá trình gia công có 5 vị trí. Hình 2.13. Sơ đồ gia công lỗ dầu và rãnh phòng nở trên máy phay khoan liên hợp nhiều vị trí. - Vị trí 1: gá lắp phôi. - Vị trí 2: Khoan lỗ. - Vị trí 3: Phay rãnh nghiêng thứ 1. Cnctpt.43 - Vị trí 4: Phay rãnh ngang. - Vị trí 5: Phay rãnh nghiêng thứ 2. 2.4.8- Điều chỉnh trọng lượng piston. Sự không đồng đều về trọng lượng của piston trong một động cơ có ảnh hưởng lớn đến sự cân bằng của động cơ trong quá trình làm việc. Điều chỉnh trọng lượng piston bằng cách lấy bớt kim loại ở piston ra. Thường lấy kim loại ở các bề mặt sau: - Khoét mặt trong ở mặt chuẩn phụ. - Lấy bớt kim loại ở bên trong thành piston (ở phía dưới bệ lỗ chốt). Việc thực hiện lấy bớt kim loại ra được thực hiện trên máy bán tự động vừa cân vừa khoét, nguyên công này được thực hiện trước khi gia công tinh thân và lỗ chốt piston. 2.4.9- Kiểm tra piston Công việc kiểm tra piston được tiến hành qua 2 bước: Kiểm tra trong quá trình gia công và sau khi gia công. Piston sau khi gia công phải kiểm tra theo các yêu cầu kỹ thuật trên bản vẽ thiết kế. Kiểm tra kích thước của piston có thể dùng các dụng cụ đo vạn năng hoặc các đồ gá chuyên dùng. Đối với các yêu cầu kiểm tra độ chính xác vị trí tương quan: độ lệch tâm của lỗ chốt và tâm piston, độ vuông góc… phải dùng các đồ gá kiểm tra. Sau khi kiểm tra, piston được phân loại theo nhóm với xylanh và chốt piston và được đánh dấu theo từng nhóm. Piston còn được phân nhóm trọng lượng để đảm bảo các piston trong cùng một động cơ không có sai lệch trọng lượng quá yêu cầu cho phép. Sau đây giới thiệu một số đồ gá kiểm tra sau khi gia công sau: Hình 2.14 là đồ gá kiểm tra đường kính, độ ôvan, độ côn của piston bằng thiết bị đo có đầu tiếp xúc điện. Nguyên lý đo của đồ gá này như sau: Piston kiểm tra được đặt trên khối V tại một vị trí nhất định theo điểm tựa 2. Piston được cố định bằng chốt 1 và bộ phận kẹp chặt 10. Mũi đo 6 trong khi gá piston được ép chặt nhờ hệ thống cần 8 tác dụng từ bàn đạp. Sau đó mũi đo 6 được hạ xuống chạm vào thang thước đo xác định đường kính thân piston. Chốt trượt 11 dùng để đo độ ôvan, chốt trượt 5 dùng để đo độ côn của thân piston. Nhờ các cần 9 và 3, các chốt trượt 11 và 5 có thể đo được đường kính, độ ôvan, độ côn thân piston. Nếu sai số thì một trong các công tắc 4 sẽ bật lên và đèn 7 sáng lên. . 44.CNCTPT Hình 2.14. Đồ gá kiểm tra kích thước hình dạng mặt ngoài piston nhờ đầu đo tiếp xúc điện. Hình 2.15 cũng là dụng cụ kiểm tra để xác định kích thước phần thân piston và phân loại piston. Thiết bị gồm 1 đồng hồ đo 1, các cảm biến tiếp xúc 2 và 4. Đồng hồ 1 và cảm biến tiếp xúc điện 2 sẽ xác định độ sai lệch của độ côn cho phép; đồng hồ 1 và cảm biến điện 4 xác định độ sai lệch về độ ôvan cho phép. Trường hợp có sai lệch thì đèn ở bảng 3 sáng lên. Việc nhả các cảm biến khi đặt và tháo piston được thực hiện bằng hệ thống bàn đạp ở phía dưới. . Cnctpt.45 Hình 2.15. Đồ gá kiểm tra và phân loại kích thước thân piston. H×nh 2.16 giíi thiÖu dông cô g¸ l¾p ®Ó kiÓm tra vÞ trÝ cña t©m lç chèt piston đối với mặt phiá ngoài thân piston, kiểm tra đường kính lỗ chốt và phân loại piston theo đường kính lỗ chốt. Độ vuông góc giữa tâm trục lỗ chốt được xác định như sau. Piston được xê dịch theo trục calíp mẫu số 1 và tựa vào bề mặt thân piston và các miếng tựa 2 được gắn vào khối V a và b. Độ không vuông góc của đường sinh tiếp xúc với khối V đối với tâm trục lỗ chốt sẽ được chỉ rõ nhờ đồng hồ 3. Độ không vuông góc của tâm trục lỗ chốt với tâm trục piston cũng được tính bằng một nửa tổng số trên đồng hồ 3 qua mỗi bên của piston, có nghĩa là sau mỗi lần piston cho vào trục calíp số 1 thì rút ra và quay đi 180o, sau đó cho vào kiểm tra lại. Kiểm tra hình dạng lỗ chốt bằng cách dịch chuyển piston dọc theo trục calíp mẫu số 1. 46.CNCTPT Hình 2.16. Đồ gá kiểm tra kích thước và vị trí lỗ chốt piston. Cnctpt.47 Chương III CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CHI TIẾT DẠNG CÀNG 3.1- KHÁI NIỆM VỀ CHI TIẾT DẠNG CÀNG Càng là loại chi tiết máy có một hoặc nhiều lỗ mà đường tâm của chúng song song với nhau hoặc tạo với nhau một góc nào đó. Chi tiết càng ở trong máy có chức năng biến chuyển động thẳng của chi tiết này thành chuyển động quay cho chi tiết khác. Chi tiết càng còn có công dụng để đẩy các bánh răng truyền động trong hộp tốc độ khi thay đổi tỷ số truyền. Trên chi tiết càng có các lỗ cần phải gia công chính xác gọi là các lỗ chính, ngoài ra còn các lỗ dùng để kẹp chặt, các rãnh then, các bề mặt khác cần phải gia công. Những dạng khác nhau của chi tiết càng được thể hiện ở hình 3.1. Hình 3.1. Các dạng chi tiết càng. 3.2- ĐIỀU KIỆN KỸ THUẬT Khi chế tạo các chi tiết dạng càng cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: 1. Kích thước các lỗ chính được gia công với độ chính xác cấp 2 ÷ 3; độ nhám bề mặt Ra : 0,63 ÷ 0,32 (∇8 ÷ ∇9). 48.CNCTPT 2. Độ không song song của tâm các lỗ cơ bản trong khoảng 0,03 ÷ 0,05mm trên 100mm chiều dài. 3. Độ không vuông góc của các tâm lỗ so với mặt đầu trong khoảng 0,05 ÷ 0,1 trên 100mm chiều dài. 4. Độ không song song của các mặt đầu lỗ chính trong khoảng 0,05 ÷ 0,25 trên 100mm bán kính mặt đầu. 5. Các rãnh then gia công đạt cấp chính xác 3 ÷ 5; độ nhám Rz: 40÷10 (∇4 ÷ ∇6) hoặc Ra = 10 ÷ 2,5. 6. Các bề mặt làm việc của càng được nhiệt luyện đạt độ cứng 50 ÷ 55HRC. 3.3- VẬT LIỆU VÀ PHÔI 3.3.1- Vật liệu Chi tiết càng được sử dụng các vật liệu như thép các bon 20, 40, 45; thép hợp kim 18XMHA; 18X2H4BA và 40XMA có độ bền cao; các loại gang xám GX12-28; GX24-44 và gang dẻo GZ 37-12; GZ 35-10. Đôi khi càng còn được chế tạo từ kim loại màu. Sử dụng vật liệu chế tạo chi tiết càng phụ thuộc vào điều kiện làm việc của chúng. Đối với những chi tiết làm việc với tải trọng trung bình có thể chọn là gang xám. Những càng có độ cứng vững thấp, làm việc có tải trọng va đập thì chọn gang dẻo. Những càng chịu tải trọng lớn phải chọn vật liệu thép có độ bền cao và phải qua nhiệt luyện. 3.3.2- Các dạng phôi Phôi chế tạo càng có nhiều dạng. Dạng phôi chọn phụ thuộc vào vật liệu và sản lượng chế tạo. a) Phôi rèn dập: - Càng cỡ vừa và nhỏ, sản lượng thấp, vật liệu là thép thì được chế tạo bằng phương pháp rèn tự do. - Sản lượng có thể dùng phương pháp dập. Phôi dập có kết cấu hợp lý, khối lượng gia công cơ khí sau này được giảm bớt rất nhiều. b) Phôi đúc: Phôi đúc dùng cho càng bằng gang, kim loại màu và thép. Tuỳ theo điều kiện sản xuất và sản lượng mà đúc trong khuôn cát, khuôn kim loại, khuôn mẫu chảy. c) Phôi hàn: Càng loại lớn nếu sản lượng nhỏ thì chủ yếu dùng phôi hàn. Nếu sản lượng nhiều thì có thể dùng kết hợp phương pháp hàn và dập tấm. 3.4- TÍNH CÔNG NGHỆ VÀ KẾT CẤU CỦA CÀNG Cnctpt.49 Càng là một chi tiết có hình dạng và kết cấu phức tạp, do đó có ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác và năng suất gia công. Do đó khi thiết kế chi tiết dạng càng cần đảm bảo tính công nghệ của nó. Tính công nghệ của càng phải được chú ý khi thiết kế theo một số nội dung cơ bản sau đây: 1- Đảm bảo độ cứng vững của càng. Độ cứng vững cao của càng làm cho chi tiết ít bị biến dạng khi gia công do đó đảm bảo được độ chính xác cao trong các yếu tố gia công. 2- Chiều sâu của các lỗ lắp ghép nên bằng nhau sẽ đảm bảo quá trình gia công đồng thời các lỗ này được thuận tiện, nâng cao được năng suất và độ chính xác gia công. 3- Các mặt đầu của các lỗ có chiều cao bằng nhau: sẽ đảm bảo quá trình gia công đồng thời các bề mặt này cùng một lúc, quá trình định vị dễ dàng và kết cấu đồ gá đơn giản. 4- Càng phải có kết cấu đối xứng qua một mặt phẳng nào đó. 5- Đối với các càng có các lỗ vuông góc với nhau thì kết cấu phải thuận lợi cho việc gia công các lỗ nhỏ. 6- Kết cấu của càng phải thuận lợi cho việc gia công nhiều chi tiết cùng lúc. 7- Hình dáng của càng phải thuận lợi cho việc sử dụng chuẩn thống nhất. 3.5- QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CÁC CHI TIẾT DẠNG CÀNG 3.5.1- Chọn chuẩn định vị Khi định vị chi tiết càng để gia công, phải đảm bảo được độ chính xác tương quan giữa các bề mặt của càng: các mặt đầu, các lỗ chính của càng. 1- Chuẩn định vị thô Ở nguyên công đầu tiên gia công càng thường là gia công mặt đầu càng, do đó chuẩn thể để gia công mặt đầu càng là một mặt đầu làm chuẩn để gia công mặt phía bên kia, theo phương án này 2 mặt đầu càng sẽ có sai số không đối xứng với thân của chúng. Để tránh sai số này, có thể chọn phương án dùng thân càng là bề mặt không phải gia công làm chuẩn định vị thô để gia công đồng thời 2 phía mặt đầu của càng (xem hình 3.2). Khi gia công các lỗ cơ bản của càng, dùng mặt ngoài của vành lỗ làm chuẩn. 2- Chuẩn định vị tính Sau khi đã có lỗ và mặt đầu đã gia công, chuẩn định vị tinh sẽ là các mặt đầu và lỗ cơ bản đã được gia công. Khi dùng mặt đầu càng làm chuẩn định vị, cần lưu ý một số trường hợp: 50.CNCTPT - Nếu các mặt đầu của càng không có độ dày bằng nhau (là các mặt phẳng khác nhau) thì chỉ dùng 1 bề mặt đầu làm chuẩn định vị để tránh siêu định vị khi gá lắp. Thông thường phải chọn các bề mặt có diện tích lớn nhất làm chuẩn. Để tăng cường cứng vững khi gá lắp, tuỳ theo kết cấu cụ thể mà dùng các biện pháp để tăng cứng vững khi gia công. - Trên càng có nhiều lỗ cơ bản, dùng 1 trong các lỗ đã gia công tinh làm chuẩn định vị, ngoài ra còn cần phải dùng các bề mặt định vị phụ khác để loại trừ đủ số bậc tự do cần thiết để gia công thoả mãn yêu cầu kỹ thuật đề ra. Hình 3.2. Chuẩn thô là thân càng. 3.5.2- Thứ tự gia công các bề mặt của chi tiết dạng càng Từ sự phân tích về sử dụng chuẩn định vị nêu ở trên, các nguyên công chủ yếu để gia công chi tiết càng gồm: - Gia công mặt đầu - Gia công các mặt phẳng chuẩn phụ nếu có (là các bề mặt cạnh đứng). - Gia công các lỗ cơ bản. - Gia công các lỗ phụ, các lỗ ren. - Cân bằng trọng lượng (nếu cần). - Kiểm tra. 3.6- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN CÔNG CHÍNH 3.6.1- Gia công mặt đầu Mặt đầu của càng thường được tạo hình lồi lên khi chế tạo phôi. Tuỳ theo độ chính xác của phôi mà mặt đầu có thể gia công bằng các phương pháp khác nhau: tiện, phay, chuốt, mài, bào… - Trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối, do phôi được chế tạo chính xác cao nên thường dùng phương pháp chuốt hoặc mài. Gia công bằng các phương pháp này đạt được độ chính xác cao và năng suất gia công cao. - Trong sản xuất loạt nhỏ thường dùng phương pháp phay hoặc tiện để gia công mặt đầu. Tuy nhiên ngay trong sản xuất hàng loạt lớn mà độ chính xác của phôi thấp, thì vẫn phải dùng phay để gia công thô các mặt này. Khi phay có thể phay từng phía của bề mặt trên máy phay nằm ngang hoặc máy phay thẳng đứng. Có thể gia công 2 mặt đầu ở 2 phía cùng một lúc bằng một trục gá dao gá 2 dao phay đĩa 3 mặt trên máy phay nằm ngang. Lúc này chuẩn định vị là thân biên không gia công. Để tăng năng suất khi phay có thể dùng máy phay nhiều trục phay các mặt đầu cùng một lúc hoặc dùng đồ gá quay nhiều vị trí để gia công. Một đầu sau khi phay, phải gia công tinh: bằng phương pháp chuốt hoặc mài. Cnctpt.51 Khi chuốt mặt đầu được gia công riêng từng đầu. Đối với các trường hợp yêu cầu mặt đầu có độ chính xác cao, thì mặt đầu còn phải qua nguyên công mài trên máy mài phẳng. Có thể mài từng phía mặt đầu hoặc mài đồng thời 2 phía trên các máy mài phẳng chuyên dùng. 3.6.2- Gia công các lỗ cơ bản Các lỗ cơ bản của càng yêu cầu độ chính xác khá cao về kích thước, vị trí tương quan của chúng. Tuỳ theo sản lượng và điều kiện sản xuất mà có các phương án gia công thích hợp. Trong sản xuất hàng loạt nhỏ, các lỗ cơ bản được gia công trên máy khoan đứng, máy khoan cần hoặc trên máy tiện, máy doa ngang. Lỗ được xác định bằng phương pháp lấy dấu hoặc rà gá. Trong sản xuất loạt lớn, các lỗ được gia công trên máy khoan đứng, máy khoan cần, hoặc máy khoan có đầu Rơ-von-ve. Tâm lỗ được xác định bằng bạc dẫn hướng trên đồ gá khoan. Các phương án gia công có thể thực hiện cụ thể như sau: a) Gia công từng lỗ của càng: Phương án này thực hiện gia công từng lỗ trên càng, sau đó dùng lỗ này làm chuẩn định vị tinh để gia công các lỗ tiếp theo. Lỗ được gia công đầu tiên sẽ được xác định vị trí bằng chuẩn thô: vành ngoài của lỗ. Vì chỉ gia công 1 lỗ nên chỉ cần định vị 5 bậc tự do, lỗ được gia công qua các bước: khoan, khoét, doa. Các lỗ tiếp theo được tiến hành gia công sau khi đã gia công lỗ đầu tiên để làm chuẩn tinh. Khi gia công các lỗ còn lại phải định vị đủ 6 bậc tự do của chi tiết. Khoảng cách tâm của các lỗ được đảm bảo nhờ độ chính xác của khoảng cách tâm chốt định vị và tâm bạc dẫn lỗ đang gia công. b) Gia công đồng thời các lỗ: Phương án này thường được áp dụng trong sản xuất loạt lớn và hàng khối, được tiến hành trên các máy khoan nhiều trục hoặc máy tổ hợp. Dùng máy tổ hợp có thể đạt hiệu quả kinh tế cao, trên đó dụng cụ tổ hợp có thể đồng thời gia công các lỗ và các mặt đầu của lỗ. Gia công đồng thời các lỗ đảm bảo được độ chính xác cao về khoảng cách các lỗ và độ song song của các đường tâm lỗ. Chi tiết gia công sẽ được định vị đủ 6 bậc tự do qua các bề mặt định vị: mặt đầu và các bề mặt ngoài của lỗ. 3.6.3- Gia công các lỗ ren, lỗ để kẹp chặt Thông thường các lỗ này có yêu cầu độ chính xác không cao (thường là cấp 5). Trường hợp dùng để định vị đúng vị trí của càng và bộ phận khác thì lỗ gia công đạt cấp chính xác 2 (lỗ lắp bu lông thanh truyền động cơ). Nói chung các lỗ này được gia công sau mặt đầu và các lỗ cơ bản. Đối với các lỗ có độ chính xác không cao thì dùng phương pháp khoan; còn các lỗ có độ chính cao phải thực hiện qua các bước: khoan, khoét, doa. 52.CNCTPT 3.6.4- Kiểm tra các thông số kỹ thuật của chi tiết dạng càng Các thông số kỹ thuật cần kiểm tra gồm: - Đường kính các lỗ cơ bản. - Chiều dày của các bề mặt càng. - Độ không song song của các đường tâm lỗ: dùng đồ gá kiểm tra. - Độ không vuông góc giữa các mặt đầu và tâm lỗ. 3.7- QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO THANH TRUYỀN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG 3.7.1- Đặc điểm kết cấu của thanh truyền Thanh truyền động cơ đốt trong là 1 chi tiết điển hình của chi tiết dạng càng. Thanh truyền động cơ đốt trong chịu tải trọng thay đổi trong quá trình làm việc của động cơ: các lực quán tính của piston và của bản thân thanh truyền gây ra ứng suất và tạo ra độ võng tại tiết diện ngang của thân thanh truyền. Thân thanh truyền có tiết diện chữ I thay đổi theo chiều dài thân, bề mặt thân không phải gia công. Đầu nhỏ thanh truyền có lắp bạc đồng, đầu lớn được lắp máng đệm hợp kim chống ma sát. Đầu lớn thanh truyền gồm hai nửa, mặt phẳng lắp ghép giữa nắp đầu lớn và thân có thể vuông góc với mặt phẳng đối xứng với thân hoặc nghiêng một góc nhất định. Các mặt đầu lớn và nhỏ của thanh truyền thường bố trí đối xứng với thân. Thân và nắp đầu lớn thanh truyền không chế tạo bằng phương pháp lắp lẫn mà phải qua gia công lần cuối sau khi nắp và thân được lắp lại thành bộ. Hình vẽ 3.3a,b giới thiệu kết cấu một số thanh truyền của động cơ ôtô, máy kéo. Cnctpt.53 Hình 3.3a. Thanh truyền động cơ ôtô. 54.CNCTPT Hình 3.3b. Thanh truyền động cơ máy kéo. 3.7.2- Điều kiện kỹ thuật chế tạo thanh truyền Để đảm bảo được yêu cầu làm việc của thanh truyền thì khi chế tạo cần phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật cơ bản sau: - Độ chính xác gia công lỗ bạc đồng đầu nhỏ phải đạt cấp chính xác 1 (TCVN) hoặc cấp 5 (ISO): dung sai 0,008 ÷ 0,012. Khi gia công xong, đường kính lỗ bạc được chia ra 2 ÷ 4 nhóm; mỗi nhóm có dung sai từ 0,002 ÷ 0,003. - Độ côn và ôvan của lỗ bạc đồng không quá 0,002 ÷ 0,004. - Độ chính xác của lỗ đầu lớn đạt cấp 1 (TCVN) (dung sai 0,01 ÷ 0,015); độ côn và ôvan không quá 0,003 ÷ 0,005. Cnctpt.55 - Độ không song song của 2 đường tâm lỗ đầu lớn và nhỏ không quá 0,02 ÷ 0,06 trên 100mm dài. - Dung sai khoảng cách hai đường tâm lỗ giới hạn trong khoảng 0,07 ÷ 0,1. - Độ không vuông góc giữa mặt đầu của lỗ đầu lớn và đường tâm lỗ không quá 0,03 ÷ 0,05. - Đường tâm lỗ đầu nhỏ và đầu lớn phải cũng nằm trên mặt phẳng đối xứng qua thân thanh truyền. - Bạc đầu nhỏ gia công đạt độ bóng ∇8 (Ra : 0,63). - Sai lệch của thanh truyền theo trọng lượng: phần đầu nhỏ và 2/3 chiều dài thân nằm trong phạm vi ± 1 ÷ 2 gram; phần đầu lớn nằm trong giới hạn ± 2 ÷ 5 gram. 3.7.3- Vật liệu và phôi chế tạo thanh truyền Thanh truyền động cơ đốt trong chịu tải trọng thay đổi lớn, để nâng cao giới hạn bền mỏi cho thanh truyền, vật liệu chế tạo là các loại thép có chất lượng tốt và có sự phân bố đúng đắn các thớ kim loại trong chi tiết. Thông thường vật liệu chế tạo thanh truyền có thể là các loại thép các bon kết cấu có hàm lượng các bon: 0,4% ÷ 0,45% các bon hoặc các loại thép hợp kim kết cấu có hàm lượng 0,4% ÷ 0,45%C và các nguyên tố hợp kim (2% Mn); (1% Cr); (1% Cr 1%Ni). Đối với các động cơ điezen làm việc trong điều kiện tăng áp với áp lực khí thể lớn nên thường được chế tạo từ các loại thép hợp kim kết cấu có giới hạn bền, giới hạn chảy cao. Hàm lượng các bon: 0,18% hoặc 0,4%. Hàm lượng các nguyên tố hợp kim: 1% Crôm; 1% Niken; 1% Môlip đen; 1% Volfram. Phôi của thanh truyền thường được chế tạo bằng phương pháp dập nóng, có thể thực hiện phôi dập liền nắp đầu lớn hoặc dập thân và nắp riêng biệt. Đối với loại phôi dập liền nắp, lỗ đầu lớn của nó thường là dạng ôvan để sau khi cắt ra và gia công lại thì hình dạng của nó sẽ là vòng tròn. Trong quá trình chế tạo phôi, cần có nguyên công sửa lại độ cong vênh của phôi để đảm bảo độ song song giữa 2 mặt đầu của đầu to và nhỏ. Sau khi gia công cơ khí thanh truyền sẽ được nhiệt luyện như thường hoá hoặc tôi và ram. Độ cứng của thanh truyền phải đạt 220 ÷ 280HB. Một phương pháp chế tạo phôi đạt năng suất cao là phương pháp cán nóng. Công nghệ này được áp dụng tại Italia. Phôi khởi điểm là một thỏi thép hình chữ nhật. Quá trình tạo phôi được mô tả theo hình 3.4. 56.CNCTPT a) b) Hình 3.4 a. Trục cán tạo hình; b. Phôi thanh truyền qua các giai đoạn cán. Đối với các động cơ xăng cỡ nhỏ, phôi còn được chế tạo bằng phương pháp đúc từ gang dẻo Péclit. Phôi đúc có ưu điểm đạt độ chính xác cao do đó giảm được chi phí sản xuất, hiệu quả sử dụng kim loại cao đối với các thanh truyền có kết cấu phức tạp. 3.7.4- Quy trình công nghệ chế tạo thanh truyền Thanh truyền là một chi tiết thuộc dạng càng, do đó quá trình sử dụng chuẩn định vị, các phương pháp gia công các bề mặt cơ bản của thanh truyền đều thực hiện như các chi tiết dạng càng khác. Đối với các lỗ lắp bu lông thanh truyền là các lỗ lắp bu lông tinh, do đó cần phải gia công chính xác qua các gia đoạn: thô, bán tinh, tinh. Các nguyên công chủ yếu để gia công thanh truyền bao gồm: - Gia công các mặt đầu và lỗ. - Gia công các mặt chuẩn định vị phụ. - Gia công thô các lỗ chính. - Gia công các mặt phẳng lắp ghép giữa nắp, thân và các mặt phẳng khác. - Ráp thân và nắp thanh truyền. - Gia công tinh các lỗ chính. - Điều chỉnh trọng lượng. - Tổng kiểm tra. Quy trình công nghệ chế tạo thanh truyền phụ thuộc vào nhiều điều kiện cụ thể khác nhau. Sau đây xin giới thiệu một quy trình có tính chất làm mẫu (loại phôi dập nắp và thân riêng biệt). Cnctpt.57 * Quy trình gồm các nguyên công chính: + Gia công mặt đầu lỗ của 2 đầu lớn và nhỏ (nếu đầu nhỏ phải gia công cơ khí). + Khoan, khoét lỗ đầu nhỏ. + Vát mép lỗ đầu nhỏ. + Gia công các mặt lắp ghép giữa nắp và thân thanh truyền. + Gia công các mặt tỳ của đầu bu lông thanh truyền và các mặt chuẩn định vị phụ. + Khoan, khoét thô các lỗ lắp bu lông thanh truyền. + Gia công tinh các mặt phẳng lắp ghép giữa nắp và thân thanh truyền. (Các công việc gia công trên được thực hiện trên thân và nắp tuỳ theo các kết cấu cụ thể của thân và nắp đầu lớn). + Ráp nắp, thân và gia công đồng thời 2 lỗ lắp bu lông của thân và nắp (khoét, doa). + Gia công bán tinh lỗ đầu lớn. + Tháo nắp và thân thanh truyền. + Phay rãnh hãm bạc đầu to trên nắp và thân. + Lắp nắp vào thân. + Gia công tinh mặt đầu lỗ đầu lớn. + Gia công tinh lỗ đầu lớn. + Ép bạc đồng vào lỗ đầu nhỏ. + Doa và vát mép bạc đồng lỗ đầu nhỏ. + Điều chỉnh trọng lượng thanh truyền. + Tổng kiểm tra. 3.7.5- Phương pháp gia công các bề mặt cơ bản của thanh truyền Quy trình công nghệ chế tạo thanh truyền trình bày ở phần trên chỉ có tính chất làm mẫu với các nguyên công gia công các bề mặt của thanh truyền mà không chỉ định các phương pháp gia công cụ thể. Phụ thuộc vào kết cấu của từng loại thanh truyền, phụ thuộc vào sản lượng, phụ thuộc vào các điều kiện sản xuất cụ thể… mà có các phương pháp gia công khác nhau. 1- Gia công các mặt đầu lỗ đầu nhỏ và đầu lớn Quá trình gia công thanh truyền bắt đầu thực hiện từ nguyên công gia công các mặt đầu của thanh truyền. Phụ thuộc vào sản lượng mà có nhiều phương án gia công khác nhau: bào, phay, chuốt… khi gia công các bề mặt này, cần đảm bảo sự phân bố đối xứng của chúng với đường trục của thân thanh truyền, do đó cần phải tuân theo các nguyên tắc sử dụng chuẩn thô như đã trình bày ở phần đầu của gia công chi tiết dạng càng. 58.CNCTPT Đối với sản xuất đơn chiếc có thể áp dụng phương pháp bào hoặc phay từng bề mặt của thanh truyền trên máy bào và các loại máy phay đứng hoặc nằm ngang. Trong sản xuất hàng loạt, phay các mặt đầu của thanh truyền có thể thực hiện trên máy phay bán tự động nhiều trục để đồng thời gia công các bề mặt này cùng một lúc (Hình 3.5). Người ta còn có thể gia công các bề mặt đầu thanh truyền bằng phương pháp chuốt trên các máy chuốt đứng nhờ 2 dao chuốt mặt phẳng gia công đồng thời 2 bề mặt cùng một lúc (Hình 3.6). Khi chuốt, do lực cắt rất lớn nên cần lưu ý đảm bảo đủ lực kẹp chặt cần thiết cho các cơ cấu kẹp chặt. a) b) Hình 3.5. a) Phay mặt đầu thanh truyền; b. Chuốt mặt đầu thanh truyền. Mặt đầu của thanh truyền yêu cầu độ chính xác cao nên phải tiến hành gia công tinh ở các nguyên công cuối trong quy trình công nghệ. Mài các mặt đầu thanh truyền có thể tiến hành trên các loại máy mài phẳng trục nằm ngang hoặc thẳng đứng. Cnctpt.59 Hình 3.6. Đồ gá chuốt mặt đầu thân và nắp thanh truyền. Đối với các thanh truyền dạng phôi dập không liền nắp và thân thì việc mài các bề mặt này được thực hiện sau khi nắp và thân được lắp ráp với nhau bằng các bu lông thanh truyền để đảm bảo độ phẳng giữa nắp và thân sau khi đã lắp ráp. 2- Gia công lỗ đầu to và đầu nhỏ thanh truyền Khi gia công các thanh truyền dạng phôi và nắp riêng, để đảm bảo vị trí tương quan giữa nắp và thân thường sử dụng lỗ đầu nhỏ thanh truyền làm chuẩn định vị để gia công các bề mặt của đầu lớn thanh truyền. Khi khoan lỗ đầu nhỏ thanh truyền, chi tiết được định vị bằng mặt đầu của lỗ và mặt trụ ngoài của đầu nhỏ (mặt chuẩn thô). Trong sản xuất hàng loạt gia công các lỗ đầu nhỏ thường được thực hiện trên máy khoan đứng nhiều trục, nhiều vị trí (hình 3.7; 3.8). Lỗ đầu nhỏ thanh truyền sau khi khoan thường được doa hoặc chuốt lại. Đối với các thanh truyền lớn thì các lỗ này sau khi khoan sẽ tiến hành khoét rộng và doa lần cuối. Để đảm bảo độ chính xác cao, cần thực hiện các công việc này ở một lần gá bằng cách gia công trên máy khoan nhiều trục, nhiều vị trí. 60.CNCTPT Đối với loại thanh truyền phôi dập liền với nắp, để đảm bảo độ chính vị trí tương quan giữa 2 lỗ nên gia công đồng thời 2 lỗ đầu to và nhỏ ở 1 lần gá. Thanh truyền được định vị bằng mặt đầu của lỗ và chuẩn phụ ở đầu thanh truyền. Quá trình gia công được thực hiện qua các bước khoan, khoét, doa trên máy khoét đứng nhiều trục, nhiều vị trí. Trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc có thể thực hiện gia công trên máy khoét đứng (doa đứng) một trục, nhưng trong trường hợp này phải tiến hành gia công lần lượt từng lỗ, đầu tiên gia công lỗ đầu nhỏ sau đó tiến hành gia công lỗ đầu to. Khi gia công lỗ thứ 2 (lỗ đầu to) chuẩn định vị là lỗ đầu nhỏ, mặt đầu của lỗ đầu to và 2 chuẩn Hình 3.7. Đồ gá gia công lỗ đầu nhỏ thanh truyền. phụ ở mặt cạnh của đầu to. Trong sản xuất đơn chiếc có thể dùng phương pháp rà gá để thực hiện quá trình định vị. Gia công theo phương pháp gia công từng lỗ riêng biệt sẽ không đảm bảo được độ chính xác vị trí tương quan cao giữa 2 lỗ của thanh truyền. * Gia công lần cuối lỗ đầu to và đầu nhỏ. Lỗ đầu nhỏ thanh truyền được doa, chuốt chính xác trước khi ép bạc đồng – Bạc đồng sau khi được ép vào đầu nhỏ lại phải doa chính xác. Nếu thực hiện được việc gia công lỗ bạc đồng và lỗ đầu to đồng thời sẽ đảm bảo được độ chính xác cao của 2 lỗ. Gia công lần cuối cùng lỗ đầu to thanh truyền được thực hiện sau khi đã lắp ráp giữa nắp và thân thanh truyền bằng bu lông thanh truyền. Gia công lần cuối lỗ đẫu to qua 2 bước: khoét và doa tinh. Hình 3.9 là sơ đồ gia công đồng thời 2 lỗ trên máy khoét tinh nằm ngang 2 trục. Do lỗ đầu nhỏ đóng bạc đồng có yêu cầu cao về độ bóng nên trục dao có gắn 2 dao khoét: khoét thô và khoét tinh. Lỗ đầu to thanh truyền chỉ cần gắn một dao khoét tinh vì khoét thô đã được thực hiện ở nguyên công trước. Thanh truyền được định vị bằng mặt đầu của lỗ đầu lớn và nhỏ (lỗ đầu lớn và đầu nhỏ có chiều dày bằng nhau), đồng thời còn được định vị bằng mặt ngoài của mép đầu lớn thanh truyền. Để tăng độ cứng vững gá lắp còn dùng thêm các điểm tỳ phụ có điều chỉnh. Cnctpt.61 Gia công lần cuối lỗ đầu lớn thường dùng phương pháp mài khôn (hình 3.10) trên máy này có thể gá đồng thời 2 chi tiết để gia công. Hình 3.8. Các bước gia công lỗ đầu nhỏ thanh truyền. 62.CNCTPT Hình 3.9. Gia công đồng thời 2 lỗ đầu to và nhỏ trên máy khoét 2 trục. Hình 3.10. Đồ gá mài khôn lỗ đầu lớn thanh truyền. 3- Gia công mặt phẳng tiếp xúc của thân và nắp thanh truyền . Hình 3.11. Đồ gá chuốt. Cnctpt.63 Hình 3.12. Đồ gá mài. Mặt phẳng tiếp xúc giữa nắp và thân thanh truyền của loại phôi dập riêng thân và nắp có thể dùng nhiều phương pháp: phay, chuốt, mài. Đối với các loại phôi dập liền nắp và thân thì bề mặt này sẽ được chuốt hoặc mài sau khi đã cắt đôi thân và nắp. Hình 50 và hình 51 giới thiệu đồ gá chuốt và đồ gá mài mặt tiếp xúc của thân và nắp thanh truyền. 4- Gia công các lỗ lắp bu lông thanh truyền Lỗ lắp bu lông thanh truyền thường là các lỗ xuyên thấu, riêng đối với các thanh truyền có mặt tiếp xúc nghiêng mới làm các lỗ không xuyên thân. Lỗ lắp bu lông xuyên thấu giữa thân và nắp cần phải đạt độ chính xác 2 ÷ 3 TCVN (7 ÷ 8 ISO). Gia công các lỗ lắp bu lông được thực hiện sau khi gia công các mặt đầu và lỗ, mặt phẳng tiếp xúc giữa nắp và thân, mặt phẳng cạnh làm chuẩn phụ. Đối với loại thanh truyền phôi nắp và thân không liền nhau thường tiến hành gia công 2 lỗ này đồng thời trên máy khoan có 2 trục hoặc trên máy khoan đứng 1 trục có gắn thêm đầu khoan 2 trục. Để đảm bảo độ trùng tâm cao giữa các lỗ của nắp và thân cần phải gia công chúng trên cùng một máy. Đối với loại thanh truyền phôi có thân và nắp dập liền thì tiến hành gia công khoan 2 lỗ này trước khi cắt rời nắp và thân. Lỗ lắp bu lông thanh truyền phải thực hiện qua nhiều bước: khoan, khoét, doa. Muốn định tâm nắp và thân thanh truyền chính xác cần phải đảm bảo khe hở lắp ráp phải phân bố đều giữa nắp và thân. Muốn đảm bảo yêu cầu này, cần phải tiến 64.CNCTPT hành gia công thông suốt lỗ nắp và lỗ thân ở một lần gá. Phụ thuộc vào sản lượng có thể có nhiều phương án thực hiện. - Gia công thông suốt lỗ bu lông trên máy khoan đứng 2 trục, nhiều vị trí (hình 3.13). Hình 3.13. Sơ đồ gia công thông suốt lỗ bu lông. - Gia công thông suốt 2 lỗ trên máy khoan đứng một trục có gắn đầu khoan 2 trục. - Gia công thông suốt 2 lỗ trên máy khoan đứng một trục, có 2 bạc dẫn hướng để định tâm dụng cụ. Cnctpt.65 Gia công theo các phương pháp nêu trên thì nắp và thân sẽ được lắp ráp theo từng cặp. Trong sản xuất hàng loạt lớn khi các mặt chuẩn định vị có độ chính xác cao cần thiết, thiết bị gia công có độ chính cao thì không nhất thiết phải gia công các lỗ lắp bu lông theo phương pháp gia công thông suốt và như vậy nắp và thân thanh truyền có thể thực hiện lắp lẫn. 5- Điều chỉnh trọng lượng thanh truyền Điều chỉnh trọng lượng được thực hiện trên máy phay chuyên dùng. Lượng kim loại lấy ra khi điều chỉnh là các mặt trụ ngoài của đầu to và nhỏ. Việc kiểm tra trọng lượng được thực hiện trên thiết cân chuyên dùng (hình 3.14). Hình 3.14. Cân điều chỉnh trọng lượng thanh truyền. 6- Kiểm tra lần cuối thanh truyền Nội dung kiểm tra lần cuối gồm các công việc chính sau: - Kiểm tra bên ngoài thanh truyền - Kiểm tra các kích thước của đầu to thanh truyền theo yêu cầu kỹ thuật. - Kiểm tra các kích thước của đầu nhỏ thanh truyền theo yêu cầu kỹ thuật và phân nhóm kích thước của đường kính đầu nhỏ (phân 3 đến 4 nhóm). - Kiểm tra độ chính xác vị trí tương quan giữa các bề mặt của thanh truyền: kiểm tra khoảng cách của 2 tâm lỗ đầu to, đầu nhỏ; kiểm tra độ song song của 2 tâm lỗ đầu to, đầu nhỏ; kiểm tra uốn và xoắn của thân thanh truyền… Kiểm tra các nội dung trên được thực hiện bằng các đồ gá kiểm tra chuyên dùng. Sau đây giới thiệu một số đồ gá kiểm tra: Hình 3.15 là sơ đồ gá kiểm tra độ song song của 2 tâm lỗ đầu lớn và nhỏ. Độ không song song của tâm lỗ được xác định theo công thức sau: L .b a = Trong đó: 1 L 2 L1 – Khoảng cách giữa hai mũi dò của cần kiểm tra; L2 – Khoảng cách từ tâm chốt đến tâm mũi dò của đồng hồ; 66.CNCTPT b – Giá trị đo trên đồng hồ. Hình 3.15. Sơ đồ dụng cụ kiểm ra độ song song của 2 đường tâm lỗ đầu nhỏ và đầu to thanh truyền. Hình 3.15 1. Trục kiểm; 2. Đòn kiểm tra; 3. Đồng hồ đo; 4. Lò xo; 5. Chốt. Hình 55 là đồ gá kiểm tra vị trí của 2 đường tâm lỗ đầu to và đầu nhỏ. Khi tiến hành kiểm tra, dùng một mẫu đo chuẩn để điều chỉnh các đồng hồ kiểm tra: Đồng hồ 1: kiểm tra khoảng cách 2 tâm lỗ. Đồng hồ 9: kiểm tra độ song song 2 đường tâm lỗ nhờ càng kiểm tra 10. Đồng hồ 5: Kiểm tra độ xoắn của thanh truyền. Đồng hồ 4: kiểm tra độ đảo mặt đầu của đầu nhỏ thanh truyền. Thanh truyền cần kiểm tra được định vị bằng chốt 2 ở đầu nhỏ và chốt 7 ở đầu lớn và được kẹp chặt từ đầu lớn nhờ xy lanh khí nén 8. Cnctpt.67 Hình 3.16. Đồ gá kiểm tra vị trí của 2 đường tâm lỗ thanh truyền. 68.CNCTPT Cnctpt.69 Chương 4 CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CHI TIẾT DẠNG TRỤC 4.1. KHÁI NIỆM VỀ CHI TIẾT DẠNG TRỤC 4.1.1. Khái niệm: Các chi tiết dạng trục là loại chi tiết được dùng rất phổ biến trong ngành chế tạo máy. Chúng có bề mặt cơ bản cần gia công là mặt tròn xoay ngoài. Mặt này thường dùng làm bề mặt lắp ghép với các chi tiết máy khác trong cụm máy. 4.1.2. Phân loại chi tiết dạng trục Tuỳ theo kết cấu của trục, có thể phân loại các trục sau: a) Trục trơn: Trên suốt chiều dài trục chỉ có một kích thước đường kính d L< : trục trơn ngắn Khi 4 d L= ÷ : trục trơn thường d 4 10 L> : trục trơn dài d b) Trục bậc: 10 Trên suốt chiều dài của trục có một số kích thước đường kính khác nhau. Trên trục bậc còn có rãnh then, then hoa hoặc có ren. c) Trục rỗng: Là trục rỗng có tác dụng giảm trọng lượng và còn có thể làm các mặt lắp ráp. d) Trục răng: Là loại trục mà trên đó có bánh răng liền trục. e) Trục lệch tâm: Là loại trục có các cổ trục không cùng nằm trên một đường tâm (trục khuỷu). 4.2. ĐIỀU KIỆN KỸ THUẬT CHUNG CỦA TRỤC Khi chế tạo trục cần phải đảm bảo các điều kiện kỹ thuật sau: (theo: TCVN) 1. Kích thước đường kính các cổ lắp ghép yêu cầu đạt cấp chính xác 2 ÷5, trong một số trường hợp cần đạt cấp 1. 2. Độ chính xác hình dạng hình học: Cnctpt.69 Độ côn, độ ô van của các cổ trục nằm trong giới hạn 0,25 ÷ 0,5 dung sai đường kính cổ trục. 3. Bảo đảm dung sai chiều dài mỗi bậc trục trong khoảng 0,05÷0,2. 4. Độ đảo các cổ trục lắp ghép không vượt quá 0,01 ÷0,03. 5. Độ không song song của các rãnh then hay then hoa đối với tâm trục không vượt quá 0,01 trên 100 mm dài. 6. Độ nhám của các cổ trục lắp ghép đạt Ra: 1,25 ÷0,16 (∇7 ÷∇10 ) của các mặt đầu trục Rz: 40 ÷ 20 (∇4 ÷∇5) và bề mặt không lắp ghép Rz: 80 ÷ 40 (∇3 ÷ ∇4). 7. Các bề mặt làm việc của trục phải đảm bảo độ cứng, độ thấm tôi tuỳ từng trường hợp cụ thể của mỗi trục. Ngoài ra, đối với các trục làm việc với tốc độ cao còn có yêu cầu cân bằng tĩnh và cân bằng động. 4.3. VẬT LIỆU VÀ PHÔI CHẾ TẠO TRỤC 4.3.1. Vật liệu để chế tạo Vật liệu trục thường dùng gồm một số loại: - Thép cac bon: Thép 35, 40, 45. - Thép hợp kim: Thép Grôm hoặc thép Crôm – Ni ken…. - Gang có độ bền cao. Việc chọn phôi để chế tạo trục phụ thuộc vào hình dạng, kết cấu và sản lượng. Ví dụ đối với trục trơn thì tốt nhất là dùng phôi thanh, với trục bậc có đường kính chênh nhau không lớn lắm thường dùng phôi cán nóng. 4.3.2. Các dạng phôi của trục a) Trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc phôi của trục có thể chế tạo bằng phương pháp rèn tự do hay rèn trong khuôn đơn giản, đôi khi có thể dùng phôi cán nóng. Phôi của các trục lớn được chế tạo bằng phương pháp rèn tự do. b) Trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối, phôi của trục được chế tạo bằng phương pháp dập nóng trên máy dập hoặc ép trên máy ép. Đối với các trục bậc có thể rèn trên máy rèn ngang hoặc chế tạo bằng phương pháp đúc. Đối với các trục bằng gang có độ bền cao chế tạo bằng phương pháp đúc. Phôi đúc chính xác cho phép giảm lượng dư gia công trong quá trình chế tạo. Thông thường, trước khi gia công trục, việc gia công chuẩn bị phôi được tiến hành ở các phân xưởng chuẩn bị phôi. - Nếu là phôi thanh, quá trình chuẩn bị bao gồm: + Nắn thẳng + Cắt phôi thành từng đoạn. 70.CNCTPT + Gia công các lỗ tâm. - Nếu là phôi rèn, dập đúc quá trình chuẩn bị gồm: + Cắt đậu ngót, đậu rót + Làm sạch ba via. Đôi khi việc gia công lỗ tâm cũng được thực hiện trong phân xưởng chuẩn bị phôi. 4.4. TÍNH CÔNG NGHỆ TRONG KẾT CẤU CỦA TRỤC Để đảm bảo khả năng gia công thuận tiện các chi tiết trục, khi thiết kế trục cần quan tâm đến kết cấu của trục phải có tính công nghệ cao: - Các bề mặt trên trục có khả năng gia công được bằng các dao thông thường. - Đường kính các cổ trục nên giảm dần về 2 đầu. - Tận dụng khả năng thay rãnh then kín bằng rãnh then hở để nâng cao năng suất gia công. - Quan tâm đến độ cứng vững của trục khi gia công. Đối với trường hợp tiện nhiều dao thì tỉ số L/D phải nhỏ hơn 10. Nghiên cứu khả năng thay thế trục bậc thành trục trơn. 4.5. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO CÁC CHI TIẾT DẠNG TRỤC 4.5.1. Chuẩn định vị Đối với các chi tiết dạng trục, yêu cầu về độ đồng tâm giữa các cổ trục là rất quan trọng, do đó khi gia công các cổ trục cần phải có một chuẩn tinh thống nhất. Chuẩn tinh thống nhất khi gia công trục là 2 lỗ chống tâm ở 2 đầu trục. Dùng chuẩn này, có thể hoàn thành quá trình gia công thô và tinh hầu hết các bề mặt của trục. Sơ đồ định vị trên mũi tâm được thể hiện trên hình vẽ 56 a) b) Hình 4.1 a: định vị trên 2 mũi tâm. b: Định vị trên 2 mũi tâm cụt. Có thể dùng mũi tâm thường đối với các trục đặc, còn đối với các trục rỗng dùng mũi tâm cụt, hoặc mũi tâm khía nhám. Khi dùng lỗ tâm làm chuẩn để gia công các mặt ngoài sẽ không có sai số chuẩn theo kích thước đường kính nhưng sẽ có sai số chuẩn theo kích thước chiều Cnctpt.71 dọc trục nếu như mũi tâm phía ụ đứng (bên trái) là mũi tâm cứng khi thực hiện việc gia công chiều dài các cổ trục theo phương pháp điều chỉnh sẵn dao để đạt kích thước. Sai số này là do có sai số về chiều sâu lỗ tâm trong quá trình gia công các lỗ tâm trên phôi trục (sai số mặt định vị). Sai số chuẩn theo chiều trục ảnh hưởng đến dung sai chiều dài các cổ trục bậc mà chuẩn đo lường là mặt đầu trục. Để khắc phục sai số này, ngươì ta sử dụng mũi tâm tuỳ động ở phía ụ đứng (mũi tâm có lò xo đẩy). Khi dùng 2 mũi tâm để định vị phải sử dụng tốc để truyền mômen xoắn cho phôi. Khi dùng phương pháp gia công nhiều dao, đối với các trục dài có thể dùng truyền môment xoắn từ 2 đầu trục. Trong quá trình gia công, nếu số vòng quay chi tiết lớn hơn 500 vòng /phút phải dùng mũi tâm quay lắp ở ụ động máy. Đối với các trục có độ cứng vững kém phải dùng luynét (khi tiện, mài) hoặc các chốt tỳ phụ (khi phay) để chống biến dạng khi gia công. Ngoài việc sử dụng 2 lỗ tâm, còn có thể dùng chuẩn định vị là mặt trụ ngoài của trục để gia công các bậc trục khác, gia công các rãnh then, then hoa… trên trục. Khi dùng mặt chuẩn này có thể dùng mâm cặp, ống kẹp, khối V tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Đối với các trục rỗng, để đảm bảo về độ đồng tâm cao giữa mặt ngoài và mặt trong của trục, khi gia công tinh mặt ngoài người ta dùng mặt trụ trong đã gia công làm chuẩn định vị. Nhiều khi để gia công trục, người ta còn dùng phối hợp giữa một mặt trụ và một lỗ tâm làm chuẩn định vị. Trên cơ sở việc chọn chuẩn định vị cho các chi tiết trục, cần có các biện pháp công nghệ và thứ tự gia công các bề mặt thích hợp với kết cấu của từng loaị trục 4.5.2. Thứ tự các nguyên công và biện pháp công nghệ chế tạo trục 1. Thứ tự gia công các bề mặt Thứ tự gia công các bề mặt trục trơn và trục bậc có thể đặc trưng cho các chi tiết dạng trục. Việc lập trình tự gia công các bề mặt và chọn thiết bị cho các chi tiết dạng trục phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản như hình dạng, kích thước, độ cứng vững, độ chính xác yêu cầu và sản lượng của sản phẩm. Khi chế tạo trục có thể chia ra các giai đoạn chính sau đây: a) Giai đoạn gia công chuẩn bị. - Cắt đứt phôi theo chiều dài hoặc bội số chiều dài của trục. - Xén 2 mặt đầu khoan lỗ tâm. b) Gia công trước nhiệt luyện. 72.CNCTPT - Tiện thô và bán tinh các mặt trụ. - Tiện tinh các mặt trụ. Nếu là trục rỗng thì sau khi tiện thô và bán tinh mặt trụ ngoài phải khoan và doa lỗ mới tiện tinh mặt trụ ngoài. - Mài thô một số cổ trục để định vị chi tiết khi phay then, then hoa, răng… L  vµ ) - Nắn thẳng trục đối với các trục có độ cứng vững thấp ( < 100 < 10 D - Gia công các mặt định hình, rãnh then, rãnh chốt, răng trên trục. - Gia công các lỗ nghiêng góc với đường tâm trục, các bề mặt có ren và một số bề mặt khác không quan trọng. c) Nhiệt luyện. d) Nắn thẳng sau khi nhiệt luyện. e) Gia công tinh sau nhiệt luyện. - Mài thô và tinh các cổ trục. - Mài thô và tinh các mặt định hình (nếu có). - Đánh bóng. - Tổng kiểm tra. 2. Biện pháp thực hiện các nguyên công chính a) Xén mặt đầu và khoan lỗ tâm. Khi chế tạo các trục có chiều dài L > 120mm từ phôi dập hoặc phôi thanh, dùng 2 lỗ tâm làm chuẩn định vị. Sau khi cắt đứt phôi (phôi thanh) thì tiến hành xén khoả mặt đầu và khoan 2 lỗ tâm. Phụ thuộc vào sản lượng của sản phẩm mà có các phương pháp khác nhau. *) Trong sản xuất đơn chiếc và loạt nhỏ có 2 phương pháp: - Phương pháp 1: + Phay 2 mặt đầu của trục. + Lấy dấu tâm. + Khoan 2 lỗ tâm; - Phương pháp 2: + Tiện mặt đầu và khoan tâm. + Đổi đầu gia công phía còn lại giống như đầu trục đầu tiên. *) Trong sản xuất hàng loạt và hàng khối có 3 phương pháp thực hiện: - Phương pháp 1: + Phay mặt đầu trên máy phay có tang quay. + Khoan 2 lỗ tâm trên máy khoan tác dụng 2 phía. - Phương pháp 2: + Phay mặt đầu trên máy phay ngang Cnctpt.73 + Gia công lỗ tâm trên máy chuyên dùng - Phương pháp 3: 1 5 1 5 I I 4 4 3 II 3 II 4 4 2 2 1 1 Hình 4.2. Phay mặt đầu trục trên máy phay có bàn quay. 1. Khối V; 2. Vấu kẹp; 3. Phôi; 4. Chốt tỳ; 5. Dao phay mặt đầu. Quá trình gia công chuẩn định vị được thực hiện ở 1 nguyên công bằng máy phay khoan liên hợp tác dụng 2 phía. Bao gồm 2 bước: phay 2 mặt đầu đồng thời, sau đó khoan 2 lỗ tâm đồng thời từ 2 phía. Sơ đồ gia công các phương án được trình bày trên hình vẽ 4.2 và 4.3. 25 4 B1 3 B1 B B2 2 6 A 6 2 1 Hình 4.3. Phay mặt đầu trên máy phay khoan liên hợp. 1. Khối V; 2. Vấu kẹp; 3. Phôi; 4. Chốt tỳ; 5. Dao phay; 6. Mũi khoan b) Tiện thô và tinh các mặt trụ của trục. Công việc tiện được thực hiện trên các loại máy: máy tiện vạn năng, máy tiện nhiều dao nhiều trục, máy tiện nhiều dao một trục… v. v.. Chọn loại máy nào để gia công phụ thuộc vào sản lượng và điều kiện sản xuất cụ thể. 74.CNCTPT - Trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc, phôi trụ là phôi cán hoặc rèn tự do. Phụ thuộc và hình dạng và kích thước trục cũng như tỉ lệ giữa các đường kính cổ trục mà tiến hành tiện liên tục các bậc trên máy tiện vạn năng. Khi gia công trục có độ cứng vững thấp phải dùng luynét. Do đó trước hết phải dùng luynét. Do đó trước hết phải gia công cổ đỡ luynét khi thực hiện tiện các cổ trục. Đối với các trục có đường kính nhỏ hơn 20mm để không phải gia công cổ đỡ luynét. Ống được kẹp lên cổ không gia công và mặt ngoài ống được định vị trong luynét. Để tâm của ống trùng với tâm của chi tiết gia công phải rà gá và điều chỉnh bằng các vít đầu chìm, kết cấu ống này được trình 2 3 3 1 bày trên hình vẽ 4.4. Để tạo thành các bậc trục có thể cắt gọt theo từng lớp, theo từng đoạn hoặc cắt hỗn hợp. Nếu sản lượng nhiều hơn có thể thực hiện Hình 4.4. Ống điều chỉnh để gá luynét. 1. Phôi; 2: Ống điều chỉnh; 3: Vít đầu chìm. cắt dần từng bậc trên mỗi máy tiện khác nhau. Trong sản xuất hàng loạt nhỏ mặt trụ nhiều bậc được gia công trên máy tiện thông thường có trang bị thêm đồ gá chép hình. - Trong sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối, việc gia công các mặt trụ của trục được thực hiện trên máy bán tự động một trục nhiều dao hoặc nhiều trục nhiều dao. Sơ đồ gia công trục bậc trên máy bán tự động 1A730 được trình bày ở hình 4.5. H×nh 4.5. Gia c«ng trôc trªn m¸y tiÖn nhiÒu dao. Khi sử dụng phương pháp tiện nhiều dao sẽ có một loạt nhân tố ảnh hưởng đến độ chính xác gia công: + Sai số do vị trí dao điều chỉnh không chính xác. Cnctpt.75 + Sai số do mòn dao không đều nhau. + Biến dạng đàn hồi của hệ thống công nghệ. Vì vậy gia công trên các máy nhiều dao chỉ có thể đạt cấp chính xác 4÷5 khi tiện thô và khi tiện tinh. Tiện nhiều dao trên bất kỳ kiểu máy nào đều có ưu điểm hơn tiện một dao về năng suất gia công. Việc bố trí dao có thể thực hiện theo nhiều cách. + Chia đoạn theo chiều dài bậc trục (hình 4.6). Theo cách này, trừ dao đầu tiên cắt vào mặt đầu trục, còn các dao khác trước khi chay dọc phải ăn vào chi tiết. Khi ăn vào không cho phép ăn theo hướng kính mà phải ăn nghiêng một góc θ < ϕ1. + + + s H­í ng ¨n dao θϕ1 Hình 4.6. Gia công nhiều dao theo phương pháp chia đoạn chiều dài bậc trục. Chia nhỏ đoạn trục có chiều dài lớn nhất. Theo cách này, nếu chiều dài các bậc trục khác nhau nhiều, để rút ngắn hành trình chạy dao thì chia nhỏ đoạn trục có chiều dài lớn nhất thành nhiều đoạn có chiều dài gần tương đương với chiều dài các bậc trục còn lại. Chiều dài mỗi đoạn được xác định: l Lmax p = . m Trong đó: Lmax: Chiều dài bậc trục lớn nhất; m: Số dao bố trí trong đoạn đó. Sơ đồ bố trí dao được thể hiện ở hình vẽ 62. + + + + Lp 76.CNCTPT . Hình 4.7. Tiện nhiều dao theo phương pháp chia nhỏ đoạn trục. Phương pháp này có năng suất cao hơn phương pháp trên khi gia công các trục bậc có chiều dài của các bậc khác nhau nhiều, nhưng sau khi tiện có các vết dao tại các vị trí dừng xe dao; do đó sau tiện phải có mài để xoá các bậc do vết dao để lại. + Chia theo lượng dư. Theo phương pháp này, tất cả các dao được gá theo đường kính xác định và cách nhau những đoạn bằng chiều dài các bậc. Sơ đồ gá dao được trình bày trên hình 4.8. L1 L 2 L3 + + + Hình 4.8. Tiện nhiều dao theo phương pháp chia theo lượng dư. Theo phương pháp này, hành trình chạy dao dọc của xe dao lớn và bị hạn chế bởi ụ sau. Phương pháp này thường dùng để tiện các trục có bậc nhỏ dần về một phía, chiều dài từng bậc ngắn, lượng dư nhỏ. Số lượng dao sử dụng bị hạn chế do độ cứng vững của phôi, do công suất máy và cấu tạo của giá dao. Trong sản suất hàng loạt lớn và hàng khối, để gia công mặt trụ của trục người ta còn dùng máy bán tự động chép hình thủy lực. Dùng máy này có nhiều ưu điểm so với tiện nhiều dao: + Thời gian điều chỉnh và điều chỉnh lại giảm 2 ÷ 3 lần. + Năng suất gia công cao vì có thể cắt ở tốc độ cao nếu công suất máy cho phép. - Sử dụng thuận lợi đối với các trục kém cứng vững. c) Mài thô và tinh các cổ trục. Mài các cổ trục thường được hoàn thành qua 2 nguyên công: mài thô và mài tinh. Khi mài có thể thực hiện trên máy mài tròn ngoài với tiến dao dọc hoặc tiến dao ngang. Với các trục bậc ngắn và trục trơn có thể mài trên máy mài vô tâm. Mài trên máy mài tròn ngoài, chuẩn định vị thường là 2 lỗ tâm. Để đảm bảo độ chính xác cao, trước khi mài tinh cần sửa các lỗ tâm để loại trừ sai hỏng của bề mặt lỗ tâm do bị ôxy hoá hoặc bị cháy trong quá trình nhiệt luyện. Mài chạy dao dọc được áp dụng khi chiều dài gia công l ≥ 80mm còn khi chiều dài l < 80mm có thể dùng chạy dao ngang. Mài chạy dao ngang còn được áp dụng khi mài các bề mặt định hình tròn xoay bằng cách dùng đá mài định hình. d) Gia công các bề mặt định hình các mặt định hình trên trục bao gồm các mặt có ren, bánh răng liền trục, then hoa, rãnh then, các mặt lệch tâm. Cnctpt.77 Để gia công các mặt này phải có các biện pháp kỹ thuật thích hợp. * Gia công mặt có ren trên trục. Trên trục thường có ren theo chiều trục và ren trên các lỗ được bố trí một góc nào đó so với tâm trục. - Gia công ren theo chiều trục. Thường có 2 loại: Ren kẹp chặt và ren truyền lực. Đối với ren kẹp chặt có biên dạng ren tam giác, khoảng chiều dài ren ngắn. Với mọi cỡ của trục ren này thường thực hiện gia công trên máy tiện. Nếu sản lượng nhỏ: Dùng dao tiện ren 1 lưỡi cắt hoặc bàn ren. (hình 4.9). Nếu sản lượng lớn dùng dao tiện răng lược. Trong sản xuất hàng khối dùng đài cắt ren hoặc cán ren (hình 4.10 và hình 4.11). Đối với ren truyền lực có dạng hình thang hoặc hình vuông, người ta gia công trên máy tiện vạn năng ren vít nếu sản lượng nhỏ. Với sản lượng lớn dùng phương pháp phay ren bằng dao phay đĩa hoặc dao phay ngón (hình 4.12). - Gia công ren trên các lỗ. Loại lỗ ren này thường dùng để bắt bulông kẹp chặt các chi tiết khác với trục. Các lỗ ren này thường được cắt bằng ta rô trên máy tiện, máy khoan. Nếu sản lượng nhỏ có thể làm ren bằng phương pháp ta rô trên bàn nguội. a) Hình 4.9 b) c) a) Cắt ren bằng dao tiện ren; b) Cắt ren bằng 2 dao; c) Cắt ren bằng ba dao. Hình 4.10. Đầu dao quay để tiện ren. 78.CNCTPT a) Cán ren bằng một con lăn cán: 1: phôi; 2: con lăn cán; 3: giá đỡ. b) Cán ren bằng hai con lăn cán ăn dao hướng tâm. 1: phôi; 2: giá đỡ; 3: con lăn cán c) Cán ren bằng 2 con lăn cán ăn dao dọc trục. H×nh 4.11. a) b) c) Hình 4.12. Phay ren bằng dao phay đĩa. * Gia công răng trên trục. Một số loại trục có kết cấu răng của bánh răng liền trục. Quy trình công nghệ chế tạo loại trục này cũng tuân theo trình tự như các loại trục khác, chỉ có thêm giai đoạn gia công răng của bánh răng. Việc gia công răng bánh răng có thể thực hiện bằng phương pháp định hình hay bao hình tuỳ theo điều kiện sản xuất và sản lượng. Các phương pháp cắt răng được trình bày riêng trong một chương. * Gia công rãnh then và then hoa - Rãnh then trên trục được gia công trên máy quay. Có thể dùng dao phay ngón trên máy phay đứng hoặc dao phay đĩa trên máy phay ngang. Khi gia công, trục được định vị trên hai cổ trục nhờ khối V hoặc dùng 2 lỗ tâm làm chuẩn (hình 4.3) - Then hoa trên trục có thể gia công bằng phương pháp phay, bào, chuốt. Phay then hoa có thể phay theo phương pháp định hình hoặc bao hình (hình 4.14). Ở các nước có trình độ kỹ thuật cao người ta còn gia công then hoa bằng Cnctpt.79 phương pháp cán nguội, với phương pháp này trục then hoa có độ bền xoắn cao hơn phương pháp phay then. Với các then hoa chính xác, sau khi cắt then hoa còn phải gia công tinh bằng phương pháp mài. a) b) Hình 4.13 a) Phay then bằng dao phay đĩa; b) Phay then bằng dao phay ngón. Hình 4.14a. Phay then hoa bằng dao phay định hình. Hình 4.19b. Phay then hoa theo phương pháp bao hình bằng dao phay trục vít. Để có biện pháp thích hợp khi gia công, cần phải xem xét điều kiện kỹ thuật định tâm của trục then hoa. 80.CNCTPT