"
Xác Chết Ngoài Biển Khơi - Mary Higgins Clark & Võ Liên Phương (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Trinh Thám]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Xác Chết Ngoài Biển Khơi - Mary Higgins Clark & Võ Liên Phương (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Trinh Thám]
Ebooks
Nhóm Zalo
Xác Chết Ngoài Biển Khơi Mary Higgins Clark & Võ Liên Phương (dịch) NXB Văn Học (2021)
Từ khóa: Trinh Thám, Tiểu Thuyết
MARY HIGGINS CLARKS Xác chết ngoài biển khơi
Người dịch: Võ Liên Phương Thực hiện ebook: Page Duyên sách
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC
Table of Contents
Mở đầu
Một
Hai
Ba
Bốn
Năm
Sáu
Bảy
Tám
Chín
Mười
Mười một
Mười hai
Mười ba
Mười bốn
Mười lăm
Mười sáu
Mười bảy
Mười tám
Mười chín
Hai mươi
Hai mươi mốt
Hai mươi hai
Hai mươi ba
Hai mươi bốn
Hai mươi lăm
Hai mươi sáu
Hai mươi bảy
Hai mươi tám
Hai mươi chín
Ba mươi
Ba mươi mốt
Ba mươi hai
Ba mươi ba
Ba mươi bốn Ba mươi lăm Ba mươi sáu Ba mươi bảy Ba mươi tám Ba mươi chín Bốn mươi
Bốn mươi mốt Bốn mươi hai Bốn mươi ba
Bốn mươi bốn Bốn mươi lăm Bốn mươi sáu Bốn mươi bảy Bốn mươi tám Bốn mươi chín Năm mươi
Năm mươi mốt Năm mươi hai Năm mươi ba
Năm mươi bốn Năm mươi lăm Năm mươi sáu Năm mươi bảy Năm mươi tám Năm mươi chín Sáu mươi
Sáu mươi mốt Sáu mươi hai Sáu mươi ba
Sáu mươi lăm Sáu mươi sáu Sáu mươi bảy Sáu mươi tám Sáu mươi chín
Bảy mươi
Bảy mươi mốt Bảy mươi hai Bảy mươi ba
Bảy mươi bốn Bảy mươi lăm Bảy mươi sáu Bảy mươi bảy Bảy mươi tám Bảy mươi chín Bảy mươi chín Tám mươi
Tám mươi mốt Tám mươi hai Tám mươi ba
Tám mươi bốn Tám mươi lăm Tám mươi sáu Tám mươi bảy Tám mươi tám Tám mươi chín Chín mươi
Chín mươi mốt Chín mươi hai Chín mươi ba
Chín mươi bốn Chín mươi lăm Chín mươi sáu Chín mươi bảy Chín mươi tám Chín mươi chín Một trăm
Một trăm lẻ một Một trăm lẻ hai Một trăm lẻ ba Một trăm lẻ bốn
Một trăm lẻ năm Một trăm lẻ sáu Một trăm lẻ bảy Một trăm lẻ tám Một trăm lẻ chín Một trăm mười
Mở đầu
Vào khoảng chín giờ tối, cơn bão bắt đầu hoành hành, một cơn cuồng phong xô đẩy các ngọn sóng tấn công vào bờ biển phía đông Cap Cod. "Lần này có vẻ nghiêm trọng đây" - Menley tự nhủ khi khom nguời ra để đóng cửa sổ lại. "Chuyện này có thể hấp dẫn lắm" — chị nghĩ để tự trấn an mình. Tất cả phi trường vùng Cap đều bị đóng cửa nên Adam phải mướn một chiếc xe để trở về từ Boston. Có lẽ anh ấy sắp về tới! Chị đã chuẩn bị khá nhiều thức ăn.Chị mua đèn cầy để phòng hờ cúp điện, nếu quả thật chuyện này xảy ra, nội việc phải ở một mình trong ngôi nhà được thắp sáng chỉ với ngọn đèn cầy cũng đã khủng khiếp lắm rồi.
Chị mở radio, xoay nút và dò được đài Chatham đang phát các bản nhạc của thập niên 40. Chị nhướng đôi mày vì ngạc nhiên khi nghe ban nhạc Benny Goodman bắt đầu hòa tấu bản "Tưởng Nhớ".
"Thật là một bản nhạc rất phù hợp với hoàn cảnh nếu bạn đang ở trong ngôi nhà mang tên "Tưởng Nhớ"" - chị nghĩ. Cố nén ý muốn xoay nút tìm đài khác, chị cầm lấy dao xắt mấy trái cà chua thành lát để trộn xà lách. Qua điện thoại, Adam có nói là anh không có thời giờ để ăn tối.
Tiếng gầm thét dữ dội của các cơn gió đập vào ngôi nhà đã bắt đầu trở lại. Nằm chơi vơi trên ngọn đồi trước đại dương đang cuồng nộ, ngôi nhà đột nhiên như đã biến thành một máy thổi gió phát ra lời than dài vô tận như tiếng từ một nơi rất xa đang gào thét "Tưởng Nhớ, Tưởng Nhớ."
Menley cứng người. Chị cố trấn tĩnh lại. Adam sẽ về trong giây lát nữa thôi, rồi họ sẽ uống một ly rượu trong khi chị chuẩn bị món bột.
Một tiếng động làm chị giật mình. "Cái gì thế? Một ngọn gió lùa đã mở tung cánh cửa rồi phải không? Đang xảy ra một việc gì đó không bình thường thì phải."
Chị liền tắt radio. Con bé con! Có phải Hannah đang khóc không? Nghe như là một tiếng hét hay một tiếng động bị tắt nghẽn. Menley bỏ chạy về
phía bàn vẽ, chụp lấy máy liên lạc nội bộ và đưa lên tai mình. Một tiếng nấc nhỏ vang lên rồi im bặt. Con bé con đang nghẹt thở!
Chị phóng ra khỏi nhà bếp, chạy về phía cầu thang. Đế vòm hình rẽ quạt ngay trên cánh cửa ra vào, chiếu rọi nhiều vết mờ xám và tím trên các miếng lati rộng bản của sàn nhà.
Chân của chị gần như không chạm đất khi chị chạy lên tầng một và dọc theo hành lang. Trong nháy mắt chị đã tới phòng của con bé nhưng trong đó không một tiếng động nào được phát ra từ chiếc giường nhỏ. "Hannah! Hannah!" - chị hét to.
Hannah đang nằm mặt úp xuống, hai tay dang thẳng ra, bất động. Run rẩy, Menley cúi xuống, lật ngửa con bé lên và ôm nó vào lòng, mở to đôi mắt vì kinh hãi.
Cái đầu của con búp bên cũ bằng sứ đang nằm trong bàn tay chị. Cái khuôn mặt sơn của nó đang nhìn chị.
Menley hét thật lớn nhưng không một âm nào được phát ra. Ngay lúc đó, một giọng nói thì thầm từ phía sau lưng chị "Tôi rất tiếc Menley ạ, mọi việc đã kết thúc rồi".
Một
15 tháng 7
Trong suốt thời gian thẩm vấn, Scott Covey hết sức cố nhẫn nại, cố cắt nghĩa cho mọi người hiểu sự việc đã xảy ra như thế nào.
***
Vivian và anh nằm ngủ trên chiếc mền được trải ngay trên sàn tàu, mặt trời bị che khuất và tiếng vỗ bì bõm của nước đã ru ngủ họ hồi nào không biết.
Anh mở một mắt ra rồi ngáp.
- Anh cảm thấy nóng quá - Anh nói - Em có muốn lặn một chút không? Vivian hôn phớt lên cằm anh.
- Em chưa muốn - Giọng nói của cô dịu dàng nhưng uể oải, tựa như một tiếng thì thầm thỏa mãn vậy.
- Nhưng anh thì có đấy - Anh đứng lên một cách cương quyết và đưa mắt nhìn mặt nước biển - Ở dưới đó tuyệt lắm đấy, nó trong như nước suối vậy.
Gần đến bốn giờ chiều và họ đang ở ngoài khơi, cách hòn đảo Monomoy khoảng một hải lý. Mặt nước bay phất phơ một lớp sương mờ như một cơn gió thoảng.
- Anh đi lấy trang thiết bị đây. - Nói xong, anh bước ngang sàn tàu, đưa tay xuống cabin nhỏ có chứa trang thiết bị của chiếc tàu.
Vivian cũng vừa đứng lên, ưỡn người cho giãn gân cốt, nói với theo "Anh lấy luôn phần của em".
Anh xoay lại bảo cô ta:
- Em có chắc không? Anh ở dưới không lâu đâu đó! Sao em không nằm xuống ngủ tiếp đi?
- Không đời nào! - Cô chạy lại, hai tay ôm lấy cổ anh. Tháng Sáu khi chúng ta đi Hawai, em muốn có thể đi khám phá các dãy san hô cùng anh. Bây giờ anh phải huấn luyện cho em.
Sau đó anh xác nhận là không để ý thấy mấy chiếc tàu kia đã trở vô bờ trong khi họ đang ngủ. Không, anh không có nghe bản tin dự báo khí tượng.
Họ đã ở dưới nước gần hai mươi phút khi cơn giông tố ập đến. Mặt biển nổi sóng dữ dội. Họ cố trở về chiếc tàu đang được neo. Khi họ vừa ló mặt ra khỏi mặt nước, một con sóng cao hơn một thước đánh úp xuống đầu họ. Vivian đã mất tích. Anh đã kiếm, hụp lặn tìm kiếm một lúc thật lâu, cho đến khi anh không còn dưỡng khí.
Họ biết những việc xảy ra sau đó. Các tàu tuần tra bờ biển đã nhận được tin cầu cứu trong khi cơn bão đạt đến cực điểm. "Vợ của tôi đã mất tích! - Scott Covey hét thật to - Vợ của tôi đã mất tích".
Hai
28 tháng 7
Elaine Atkins ngồi đối diện Adam Nichols, họ đang ăn trưa tại Chillingsworth, nhà hàng của vùng Brewster mà Elaine luôn mời các khách hàng quan trọng nhất của công ty địa ốc của cô. Đây là thời điểm đông khách của vùng Cap Cod nên không còn bàn nào trống.
- Anh không cần phải vảnh tai nghe họ nói gì - Cô nói thật nhỏ. Bàn tay cô làm một cử chỉ bao trùm căn phòng - Một phụ nữ trẻ tên Vivian Carpenter bị mất tích trong khi lặn dưới nước cách đây hai tuần. Em có giới thiệu cho cô ấy mua một ngôi nhà tại Chatham, sau đó chúng em đã trở thành bạn của nhau. Trong lúc anh điện thoại, em hay tin xác của cô ấy vừa mới trôi giạt vào bờ.
- Cách đây vài năm, anh có mặt trên một tàu đánh cá và có người kéo lên một cái xác đã ở dưới nước hai tuần, cảnh tượng thật kinh khủng - Adam từ tốn nói.
- Vivian lội rất giỏi nhưng lại là một tập sự trong môn lặn. Scott huấn luyện cho chị ta và họ không có nghe lời cảnh báo bão trên radio. Anh chàng tội nghiệp này suy sụp hoàn toàn. Họ vừa mới lấy nhau có ba tháng.
Adam chau mày lại.
- Đi lặn ngay trong lúc bão tố quả là hết sức điên rồ.
- Đúng, là một thảm kịch - Elaine cương quyết đáp lại - Vivian và Scott rất hạnh phúc và chị ấy biết khá rõ khu vực này. Giống như anh, cô ấy luôn nghỉ hè tại vùng Cap. Quả đúng là số mệnh. Trước khi gặp Scott, cô ấy sống như kẻ mất hồn. Cô ấy là một thành viên của dòng họ Carpenter tại Boston, là con út của một gia đình mà các anh chị đều thành đạt. Bị đuổi học ở cuối trung học và cũng không hòa thuận với cha mẹ. Cô ta đã làm đủ mọi công việc lặt vặt, cách đây ba năm, khi cô ấy được hai mươi mốt tuổi,
hưởng được số gia tài do bà ngoại để lại. Cô ấy mới mua ngôi nhà vào lúc đó. Cô ấy rất yêu Scott và có thể làm đủ mọi thứ vì anh ta.
- Ngay cả việc lặn xuống nước trong khi có bão à? Vậy tên đó làm gì để sống?
- Scott à? Anh ta làm phó quản lý một nhà hát tại Cap trong dịp hè vừa qua. Cũng chính tại đây, anh ta đã làm quen với Viv. Em nghĩ có lẽ Viv đã đến nhà thăm anh ta vào mùa đông. Sau đó anh ta đến ở luôn tại đây vào tháng Năm, và người ta bất ngờ hay tin là họ đã lấy nhau.
- Thế anh ta tên gì vậy?
- Covey, Scott Covey. Anh ta sống đâu đó ở vùng Trung Tây.
- Một gã xa lạ cưới một cô thừa kế giàu có, và cô ấy đã chết sau ba tháng. Nếu anh là cảnh sát, anh sẽ yêu cầu được xem tờ di chúc ngay.
- Ồ thôi đi - Elaine phản đối - Anh là luật sư chớ đâu phải là công tố. Em gặp họ nhiều lần rồi khi đưa họ đi coi nhà. Họ muốn mua một căn nhà lớn hơn. Họ muốn lập một gia đình hạnh phúc nên muốn có một ngôi nhà rộng rãi. Tin em đi, đó là một tai nạn thôi.
- Có thể lắm - Adam nhún vai - Có thể anh quá đa nghi.
Hai người nhâm nhi ly rượu của họ. Elaine thở dài.
- Thôi mình nói chuyện khác đi. Hai anh em mình không phải ngồi đây để nói chuyện buồn. Trông anh có vẻ rạng rỡ và hạnh phúc lắm đấy! Chắc anh vừa lòng với cuộc sống lắm phải không? Ý em muốn nói là với Menley. Em rất muốn làm quen với chị ấy.
- Menley là một con người cứng cỏi, cô ấy sẽ không sao đâu. Sẵn đây, khi nào em gặp cô ấy, em làm ơn đừng nói là anh có kể cho em nghe về cơn sợ hãi của cô ấy nghe. Menley không muốn bất cứ ai đề cập đến việc này.
- Em hiểu mà - Elaine ngắm nhìn Adam, mái tóc màu nâu sậm của anh bây giờ bắt đầu lốm đốm bạc. Cũng như cô, Adam đã gần ba mươi chín tuổi rồi. Cao lớn nhưng hơi gầy, tuy nhiên anh vẫn không mất đi tính lanh lợi của người thanh niên. Họ quen biết nhau khi họ mới mười sáu tuổi. Gia đình anh kiếm một người giúp việc và có đến nhờ văn phòng giới thiệu việc làm của mẹ cô.
Không có gì thay đổi hết - Elaine thầm nghĩ. Cô thấy ánh mắt của những người phụ nữ khác trong nhà hàng này ngó theo khi anh đến ngồi vào bàn của cô.
Người phục vụ mang thực đơn tới. Adam đọc qua.
- Một miếng thịt bò Tartare vừa chín tới - Anh vui vẻ nói. Cô trề môi.
- Anh đừng có giễu em được không? Em còn là một đứa con nít khi em phạm sai lầm đó.
- Việc đó vẫn được ghi nhớ trong sử sách mà Elaine. Anh rất sung sướng khi em cho anh viếng thăm tòa nhà Tưởng Nhớ. Anh sợ không thuê được căn nào ra hồn cho tháng Tám này.
Elaine nhún vai.
- Chuyện gì cũng có thể xảy ra mà, nhưng cũng rất vui là mọi chuyện đã được dàn xếp xong. Khi em hay tin ngôi nhà tại Eastham đột nhiên có trở ngại về ống nước, em cũng không tin ở tai em nữa. Những ngôi nhà này không thể chê vào đâu được. Như em đã kể cho anh, nó bị bỏ không suốt hai mươi lăm năm trời. Vợ chồng Paley có xem qua và họ nhận ra ngay là họ có thể làm được gì với ngôi nhà này. Họ đã mua nó cách đây hai năm với giá rẻ mạt. Họ vừa hoàn tất phần lớn việc trùng tu khi Ted đột ngột chết vì đau tim. Ông ấy đã làm việc mười hai giờ mỗi ngày như thế. Rốt cuộc bà vợ Jan cũng đi đến quyết định rằng ngôi nhà quá lớn cho một mình bà, vì thế hiện giờ nó đang được rao bán. Rất hiếm có những lâu đài như
thế trên thị trường địa ốc và người ta sẽ không bỏ qua cơ hội này đâu. Em hy vọng anh nên mau chóng quyết định mua nó đi nhé!
- Để coi đã. Anh cũng rất muốn có một ngôi nhà khác trong vùng này nếu như tụi anh muốn tiếp tục sống trong thành phố, và đây là một dịp may rất tốt. Quả thật những người thủy thủ trước kia đã biết cách cất một ngôi nhà trên đất liền cho họ.
- Ngôi nhà có cả một sự tích đấy. Ông thuyền trưởng Andrew Freeman đã cho xây cất ngôi nhà này hồi năm 1703 cho bà vợ. Sau đó đã bỏ bà ta khi ông biết bà đã ngoại tình với một người đàn ông khác trong lúc ông đi biển.
Adam cười mỉa.
- Mẹ anh thường nói, các người định cư đầu tiên phần lớn là những con người nghiêm cách. Dù thế nào đi nữa anh cũng chưa định sửa nó ngay vì đang là mùa nghỉ của tụi anh. Hơn nữa anh phải thường xuyên đến New York. Anh phải lo vụ của Potter vừa được chống án. Chắc em có nghe nói đến vụ này chứ? Việc buộc tội người đàn bà khốn khổ đó được ngụy tạo một cách trắng trợn. Anh muốn bào chữa cho bà ta ngay từ lúc đầu kìa.
- Em rất muốn đi xem anh cãi trong một ngày gần đây.
- Em cứ đến New York đi, hay bảo John đưa em đi. Thế chừng nào hai người mới chịu lấy nhau đây?
- Tụi em chưa nhất định ngày cụ thể, nhưng chắc chắn sẽ vào mùa thu này. Anh biết đấy, đứa con gái của John không thích chúng em lấy nhau. Con bé đã quen có John và sợ có người tranh mất tình cảm của bố đối với mình. Vì con bé sẽ vào đại học vào tháng Chín nên tụi em nghĩ mùa Tạ Ơn sẽ thích hợp nhất cho tất cả mọi người.
- Em cũng có vẻ hạnh phúc lắm đó. Rất có duyên và tràn đầy sức sống, hình như màu tóc vàng này rất hợp với em.
- Ồ sao quá nhiều lời khen thế? Anh không nên phá hư tình bạn của chúng ta có được không? - Elaine đáp lại trong tiếng cười - Nhưng anh nói đúng đấy, em rất hạnh phúc. John đúng là vị Hoàng Tử mà em hằng mong chờ. Và em cũng cảm ơn Chúa đã cho em gặp lại anh đúng như người mà em quen trước đây. Anh có thể tin em đi Adam, hồi năm ngoái khi anh trở về đây sau khi định ly dị với Menley, em thật sự rất lo cho anh.
- Ai mà không gặp phải những lúc khổ tâm như thế chứ?
Elaine liếc nhìn vào thực đơn, rồi cất giọng dí dỏm:
- Anh yên tâm đi, công ty Atkins mời anh ăn trưa hôm nay đấy. Anh không được cự nự đó. "Tưởng Nhớ" đang được rao bán và anh đã quyết định mua nó sau một thời gian thuê mướn, và như thế em sẽ có một số tiền hoa hồng kha khá đấy.
Khi hai người gọi thức ăn xong, Adam đứng lên.
- Đường dây còn bận lúc anh gọi điện cho Menley. Để anh gọi lại một lần nữa xem sao.
Một phút sau Adam trở lại, vẻ mặt lo lắng.
- Vẫn còn bận.
- Anh không có hệ thống báo sao?
- Menley rất ghét cái đó. Cô ấy cảm thấy thô lỗ khi bảo người ta chờ trong khi mình trả lời một đường dây khác.
- Chị ấy nghĩ như thế cũng đúng, nhưng cách đó rất tiện lợi - Elaine do dự - Hình như anh có vẻ lo âu. Bộ chị ấy chưa hoàn toàn bình phục hay sao?
- Cô ấy rất khỏe - Adam nói thật chậm rãi - Nhưng mỗi khi cô ấy sợ hãi cô ấy trở nên khủng khiếp lắm. Menley trở nên cuồng loạn mỗi khi cô ấy hồi tưởng lại tai nạn đó. Anh sẽ gọi lại một lần nữa, trong khi chờ đợi em muốn xem hình con bé không?
- Anh có mang theo à?
- Em nghĩ gì thế? - Anh thọc tay vào trong túi để lấy nó ra - Đây là tấm hình được chụp sau cùng. Con bé tên Hannah, tuần qua nó vừa tròn ba tháng tuổi. Nó tuyệt đẹp có phải không?
Elaine ngắm nhìn bức ảnh một lúc lâu.
- Đúng là con bé tuyệt đẹp!
- Nó giống Menley như đúc, nên có thể khi lớn lên cũng duyên dáng như thế - Adam kết luận một cách quả quyết. Anh nhét tấm hình vào trong bóp rồi đứng lên - Nếu đường dây vẫn còn bận, anh sẽ yêu cầu nhân viên tổng đài cắt ngang cuộc nói chuyện đó mới được.
Elaine nhìn anh ta len lỏi giữa các bàn ăn. Có lẽ anh ấy đang lo việc bỏ Menley ở nhà một mình với đứa bé.
"Elaine!"
Cô nhìn theo hướng gọi. Đó là Carol March, nhân viên quảng cáo ở New York độ năm mươi tuổi mà cô đã giới thiệu bán một căn nhà cho bà ta. Carol không để cho cô chào hỏi mà đã huyên thuyên:
- Em có biết gia tài của Vivian Carpen tới bao nhiêu không? Năm triệu đôla đấy ! Gia đình Carpenter không bao giờ đề cập đến vấn đề tiền bạc nhưng chính bà vợ của một người bà con tiết lộ ra bí mật này đấy. Và Viv luôn nói với mọi người là chị ta để hết tài sản lại cho chồng mình. - Em có nghĩ số tiền đó có thể làm khô hết nước mắt của Covey không?
Ba
Nghe điện thoại reo, Menley đoán chắc của Adam vì anh có nói sẽ gọi điện vào giờ này. Menley ôm đứa bé vào lòng rồi nhấc điện thoại lên. "Coi nào Hannah" - chị thì thầm. "Con đã uống hết phân nửa bình sữa thứ hai rồi còn gì. Với cái đà này con sẽ là đứa bé ba tháng duy nhất được ghi tên vào danh sách Những đứa bé cần kiểm tra trọng lượng".
Chị kẹp ống nói giữa vai và lỗ tai của mình trong khi vỗ vào lưng Hannah. Người gọi là Jane Pierce, biên tập viên của tờ Travel Times. Như thường lệ, Jane nói ngay vào vấn đề:
- Menley ơi, cô định ở suốt tháng Tám tại Cap phải không?
- Tôi cũng mong được như thế - Menley đáp lại - Ngôi nhà mà chúng tôi mướn dường như có vấn đề với hệ thống ống nước. Chúng tôi mới hay chuyện đó hôm qua. Tôi không thích những rắc rối về nhà vệ sinh nên sáng nay Adam đã chạy đi kiếm một ngôi nhà khác rồi.
- E rằng khó có thể tìm được một ngôi nhà tương đối tiện nghi phải không?
- Elaine, cô bạn cũ của Adam đang điều hành một công ty địa ốc. Chính cô Elaine đã tìm cho chúng tôi căn nhà đầu và cô ta nói có một ngôi nhà khác rất hợp cho chúng tôi, hy vọng Adam cũng sẽ nghĩ như thế.
- Nếu như thế thì...
- Chị Jane à, chúng em nên đi thôi, em rất muốn kiếm tư liệu cho một cuốn sách mới về các cuộc phiêu lưu của David. Adam nói có nhiều chuyện về vùng Cap này và em lấy nơi này làm cảnh trí cho cuốn sách của em.
David là người anh hùng bé nhỏ của một loạt sách cho thiếu nhi đã đưa Menley lên tượng đài vinh quang.
- Chị biết đây là một lời cầu xin ân huệ, Menley, nhưng em là người duy nhất có thể dựng được cảnh trí lịch sử mà chị đang cần cho bài viết của chị
- Jane Pierce van nài.
Khi Menley gác máy mười lăm phút sau đó, chị đã bị thuyết phục để viết một bài về vùng Cap Cod cho tờ Travel Times.
"Con yêu" - Chị vừa vỗ vào lưng đứa bé vừa thì thầm "Dù sao đi nữa cũng chính Jane là người đã cho mẹ cái cơ hội đầu tiên mười năm trước đây. Có đúng thế không? Đó điều tối thiểu mà mẹ có thể làm cho bà ta".
Hannah đang ngủ say trên vai chị.
Căn hộ này trên tầng hai mươi tám ở Đại lộ East End có một tầm nhìn tuyệt vời xuống con sông East và những cầu bắc ngang qua.
Rời bỏ Rye để trở lại New York sau cái chết của Bobby đã giúp chị thoát khỏi cơn điên loạn. Nhưng nếu đi khỏi được thành phố này vào tháng Tám là điều hay nhất. Sau cơn đầu tiên, vị bác sĩ phụ khoa của chị đã thúc chị đến khám một bác sĩ tâm lý.
- Chị mắc phải chứng rối loạn hậu chấn thương, mặc dù đó là một tình trạng bình thường sau một sự cố đau buồn, nhưng có cách để chữa trị nó và tôi khuyên chị nên đi khám ở một bác sĩ tâm lý.
Vì vậy, mỗi tuần một lần, chị đến gặp bác sĩ Kaufman và vị này bắt chị phải mau chóng đi nghỉ hè.
- Các cơn đó rất tự nhiên và về lâu lại còn rất có ích nữa. Hai năm sau cái chết của Bobby, chị luôn từ chối nhìn vào sự thật. Bây giờ chị đã có Hannah rồi, chị có thể đương đầu các cơn đó. Chị hãy đi nghỉ ngơi ở đâu đó, hãy thụ hưởng cuộc đời, nhưng nhớ phải mang theo thuốc của chị. Chị đừng ngại gọi điện cho tôi nếu chị cảm thấy cần, và nếu không có gì khác, tôi sẽ gặp lại chị vào tháng Chín.
"Chúng ta sẽ tha hồ mà vui đùa" - Menley thầm nghĩ.
Chị mang Hannah lên phòng, thay quần áo cho con bé trước khi đặt xuống giường và ru cho nó ngủ lại. "Bây giờ con phải ngoan và ngủ thật giỏi cho
mẹ" - chị thì thầm trong tai con bé.
Cổ và vai chị cứng đơ nên chị phải xoay đầu qua lại và ưỡn người cho đỡ mệt. Bộ tóc màu hung nâu của chị lắc lư quanh cổ áo thun. Menley ước gì mình cao thêm một tí nhưng ở vào cái tuổi ba mươi mốt, chị rồi cũng phải quen với chiều cao một thước sáu mươi hai của mình. Ít ra mình cũng khá cân đối, chị tự an ủi, và cái thân hình thon thả hiện giờ là hiệu quả của nhiều buổi tập thể dục trên tầng một của tòa nhà chị đang ở.
Trước khi tắt đèn, chị ngắm nhìn đứa con thân yêu của mình. Đúng là một phép lạ! Được lớn lên cùng người anh trai, chị không khác gì một thằng con trai, không thích búp bê lại mê đá banh hơn chơi bán hàng. Chị luôn cảm thấy thoải mái với đám con trai, hồi còn trẻ chị là người thân tín và vú em được ưa chuộng của hai đứa cháu mình.
Nhưng không có gì cho thấy tình yêu bao la mà chị cảm nhận được khi sinh Bobby, và lần này nó lại biểu lộ một lần nữa trước cái khuôn mặt tròn trịa của con bé đáng yêu mà tánh tình đôi khi khá thất thường.
Khi chị bước vào phòng khách, điện thoại lại reo vang. "Lần này chắc thế nào cũng là Adam vì có thể anh đã cố gọi cho mình trong lúc mình đang nói chuyện với Jane" - chị tự nhủ khi cầm máy lên.
Đúng là Adam.
- Chào anh yêu - chị nói bằng giọng thật vui vẻ - Anh có tìm được nhà không?
Không kịp trả lời câu hỏi, Adam hỏi lại đầy lo lắng:
- Anh đây em yêu. Em thấy thế nào? Con bé ra sao rồi?
Menley giữ im lặng trong khoảnh khắc. Mình không nên trách khi anh tỏ ra lo lắng như thế, tuy vậy chị không khỏi chọc ghẹo anh.
- Em thì không sao hết, nhưng em phải thú thật với anh là em không chăm gì được cho Hannah từ khi anh ra khỏi nhà lúc sáng nay. Anh chờ em một
chút để em đi coi thử nghe.
- Menley ơi!
- Anh tha lỗi cho em đi, nhưng sao anh cứ đặt có mỗi một câu hỏi mà thôi, có vẻ như anh đang chờ nhận tin xấu vậy.
- Anh rất tiếc em yêu, đừng giận anh nhé. Chỉ vì anh quá yêu hai người đó thôi, em có biết không, anh luôn muốn em và con lúc nào cũng khỏe mạnh. Anh đang ở cùng Elaine đây và tụi anh đã tìm được một ngôi nhà thật hết ý. Ngôi nhà của một thuyền trưởng, có gần ba trăm năm tuổi, trên Đảo Morris ở Chatham. Nó tọa lạc tại một nơi thật lý tưởng, ngay trên vách đá nhìn ra đại dương. Em sẽ thích nó mà. Nó có cái tên "Tưởng Nhớ" nữa đấy. Anh sẽ kể cho em rõ khi anh trở về. Anh sẽ về sau bữa ăn tối.
- Anh phải nhớ là anh còn lái xe suốt năm tiếng đồng hồ nữa đấy - Menley phản đối - và sáng nay anh đã làm một chuyến rồi. Đáng lẽ anh nên ở lại đó đêm nay và về đây lúc sáng sớm mai.
- Anh không bận tâm khi phải về trễ vì anh muốn ở cạnh bên em và con tối nay. Anh yêu em!
- Em cũng yêu anh - Menley đáp lại hết sức nhiệt tình.
Sau khi nói lời chúc ngủ ngon, chị gác máy và thì thầm một mình. "Em hy vọng lý do thật sự khi muốn trở về khuya như thế vì anh lo sợ khi để em ở nhà một mình với con bé mà thôi".
Bốn
31 tháng 7
Cầm tay vợ, Henry Sprague bước dọc theo bãi biển. Vài đám mây bay lả lướt trong ánh chiều dương, ông tự khen mình đã cột cái khăn choàng bằng len quanh đầu Phoebe. Đột nhiên ông có cảm nhận rằng, trời đêm tạo vẻ gì đó khác lạ cho phong cảnh. Loại bỏ mấy người đang tắm biển, bãi cát dài vô tận cùng khối nước lạnh của đại dương bao la dường như đã tìm được sự hòa hợp nguyên thủy với thiên nhiên.
Ông ngắm nhìn các con hải âu nhún nhảy nơi mép nước. Vỏ sò đủ màu nằm rải rác trên mặt cát ẩm ướt. Nhiều năm trước đây, ông tìm thấy một phao cứu sinh của chiếc tàu Andrea Doria mà sóng biển đã đánh dạt vào bờ.
Phoebe và ông rất thích những giây phút này trong ngày. Và cũng chính tại đây, Henry đã nhận thấy nơi người vợ của mình các triệu chứng đầu tiên của bệnh mất trí nhớ. Ngày hôm nay, với lòng nặng trĩu, ông biết mình không thể nào giữ bà vợ thân yêu ở nhà lâu hơn nữa. Người ta có cho bà uống Tacrine và đôi khi tình trạng của bà có vẻ khả quan hơn, nhưng rồi nhiều lần trong thời gian sau này, bà ta bỏ trốn mỗi khi ông bận làm một việc gì khác. Cách đây vài ngày, ông tìm thấy bà trên bãi biển này lúc hoàng hôn, bà đã đi ra rất xa, trong khi ông phóng ra, một ngọn sóng đánh bà té nhào, suýt chút nữa đã nhấn chìm bà.
Chúng mình đã có bốn mươi sáu năm hạnh phúc - ông tự nhủ - Mình có thể hàng ngày đến trung tâm chữa bệnh tâm lý thăm bà ấy kia mà. Và ông cho đó là giải pháp hay nhất. Ông biết ông không còn cách nào khác, tuy vậy ông rất khổ tâm khi phải quyết định như thế. Bà im lặng bước đi một cách vô hồn bên cạnh ông, chìm đắm trong cái thế giới bí mật của bà. Thật là một sự thật quá phũ phàng. Giáo sư Phoebe Cummings Sprague - một nhà sử học lừng danh giảng dạy tại trường Đại học Harvard, giờ đây không còn biết cách cột khăn choàng như thế nào kể cả việc mình đã ăn sáng hay chưa.
Ông nhận ra chỗ mà họ đang đứng và ngước mặt lên nhìn. Ngay phía sau đụn cát, ở bên trên một chút, ngôi nhà lộ rõ ở cuối chân trời. Nó nằm chơi vơi ngay bờ vách đá với vẻ kiêu kỳ, nó luôn tạo ra vẻ như một con chim ưng.
- "Này em Phoebe" - ông gọi nhỏ.
Bà xoay mặt lại và nhìn ông không chớp mắt, trán nhăn lại. Những cử chỉ này của bà bây giờ đã trở thành như máy móc. Lúc đầu bà chau mày lại để che giấu một cách tuyệt vọng sự mất trí nhớ của mình.
- Tôi đã nói với bà là Adam Nichols cùng Menley và đứa con Hannah của họ sẽ mướn nó trong suốt tháng Tám. Tôi sẽ mời họ đến nhà mình chơi vì tôi biết bà luôn có tình cảm quyến luyến đặc biệt dành cho Adam.
Adam Nichols. Đám sương mù dày đặc bao trùm tâm trí của Phoebe đã buộc bà phải cố gắng để hiểu những gì chồng mình vừa nói đang tan dần trong chốc lát. Bà nhớ lại, dường như lúc đầu mang tên Nickquenum mà.
Nickquenum, tiếng người thổ dân có nghĩa là: "Tôi trở về nhà". Tôi từng dạo quanh nó - bà tự nhủ - Tôi đã vào ngôi nhà đó rồi. Một người nào đó tôi từng quen - là ai mới được chứ - có làm một việc gì đó kỳ lạ. Không được để cho vợ của Adam đến ở đây. Rồi đám sương mù lại che kín các ý nghĩ của bà, bao trùm lấy đầu óc của bà. Bà nhìn chồng mình:
- Nhưng Adam Nichols là ai vậy?
Năm
1 tháng 8
Sccott Covey không thể ngủ trước mười hai giờ đêm.
Tuy nhiên có khi anh vẫn không ngủ được khi ánh sáng tờ mờ của buổi bình minh chiếu rọi trong căn phòng. Sau đó anh lại chìm trong một giấc ngủ chập chờn để khi thức dậy với cảm giác đang bị một cái gì đó siết chặt đầu mình, một cơn nhức đầu thật dữ dội.
Nhăn mặt vì đau đớn, anh hất tung tấm mền. Nhiệt độ đã hạ thấp trong đêm, nhưng anh biết việc đó không kéo dài. Đến trưa, mặt trời chiếu rực rỡ và họ sẽ có một ngày thật ấm áp của mùa hè mà gió biển sẽ làm cho dịu bớt. Tuy vậy trong căn phòng cũng khá lạnh và nếu Vivian có mặt trong đây, anh sẽ phải đóng cửa sổ lại trước khi nàng bước ra khỏi giường để làm việc đó.
Hôm nay sẽ là ngày làm lễ mai táng cho Vivian.
Trước khi ra khỏi phòng, Scott nhìn lại chiếc giường để nhớ lại trong suốt ba tháng họ lấy nhau, những lần mà anh mang cà phê đến tận giường khi nàng thức dậy.
Họ đắp mền thật kỹ và âm thầm uống cà phê bên nhau. Anh hình dung lại nàng để cái dĩa thật vững trên hai đầu gối chụm lại với nhau, lưng tựa vào chiếc gối và anh tưởng chừng nghe được cả tiếng cười giòn tan của nàng khi đề cập đến cái đầu giường bằng đồng.
- Mẹ em đã cho làm lại chiếc giường khi em được mười sáu tuổi - nàng kể lại với một giọng trầm đục - Bằng mọi giá em muốn có một chiếc giường như thế này nhưng mẹ bảo là em không hề có chút nghệ thuật nào về trang trí nội thất và bây giờ không còn ai nằm giường bằng đồng nữa cả. Việc làm đầu tiên khi em nhận lãnh phần tiền của mình là mua ngay một chiếc giường cổ nhất mà em có thể tìm được. Rồi nàng bật cười. Nhưng em phải
công nhận là một cái đầu giường được bọc vẫn êm hơn khi mình muốn tựa đầu vào đó.
Buổi sáng đó, anh đã lấy dĩa và tách bỏ xuống đất.
- Vậy em hãy tựa đầu vào người anh đi.
Thật kỳ lạ khi đúng ngay lúc này, kỷ niệm ấy lại hiện trong tâm trí của anh. Scott bước xuống bếp, pha cà phê, làm bánh mì nướng rồi lại ngồi trước quầy. Mặt tiền ngôi nhà nhìn ra đường, còn phía sau là Ao Oyster. Qua cửa sổ bên hông nhà, xuyên tán lá cây, người ta có thể nhìn thấy một góc ngôi nhà của gia đình Sprague.
Vivian có nói là không bao lâu nữa bà Sprague sẽ được đưa vào dưỡng trí viện.
- Henry không muốn em đến thăm bà ta nhưng mình phải mời ông ta ăn tối khi nào ông ở nhà một mình - Rồi cô tiếp - "Em rất thích đãi khách khi có anh bên cạnh em" - Nói xong cô choàng hai tay ôm lấy cổ anh - "Nhưng anh yêu em thật lòng chứ, có phải không Scott?"
Anh đã bảo đảm với cô bao nhiêu lần rồi, anh ôm chặt cô vào lòng làm cho cô cảm thấy vững lòng và tìm lại sự hăng say để nêu ra tất cả các lý do khiến cô yêu anh đến điên cuồng.
- Em luôn hy vọng chồng em sẽ cao hơn một thước tám mươi và quả thực đúng như thế thật. Em luôn hy vọng anh ta sẽ có mái tóc vàng và đẹp trai đến mức làm cho các cô gái khác phải chết mê chết mệt. Và như vậy là em đã được toại nguyện, tất cả những người đàn bà khác đều ghen với em, nhưng điều em muốn hơn hết là anh ta phải say mê em đến điên dại.
- Thì cũng đúng như trường hợp của anh đây. Anh đã nói điều này không biết đến lần thứ mấy ngàn rồi.
Scott nhìn chăm chăm ra cửa sổ, cố nhớ lại hai tuần lễ sau cùng, nhớ lại vài người thân của gia đình Carpenter và rất nhiều bạn bè đến chia buồn khi họ hay tin Vivian bị mất tích. Nhưng cũng có rất nhiều người khác không
làm việc đó. Cha mẹ cô luôn giữ khoảng cách. Anh biết là đối với rất nhiều người, anh chỉ là một thằng lấy vợ vì tiền mà thôi, một tên cơ hội chủ nghĩa. Có vài tờ báo ở Cap và Boston đăng bài phỏng vấn của nhiều người bảo rằng họ rất hoài nghi về nguyên nhân tai nạn.
Gia đình Carpenter là một dòng họ thế phiệt tại bang Massachusetts và đã tồn tại trong nhiều thế hệ. Vào những thời trước, gia đình đó có nhiều người làm thống đốc hay thượng nghị sĩ. Nên tất cả những gì liên quan đến gia đình này đều được in bằng chữ đậm trên báo chí.
Anh đứng lên, đi rót cho mình một tách cà phê khác. Nhưng đột nhiên cái viễn cảnh của tang lễ và mai táng cũng như sự hiện diện không thể tránh khỏi của các phóng viên thông tin đại chúng làm cho anh bốì rối. Anh sẽ là điểm nhắm của toàn thể cử tọa.
- Các người cút xéo cho tôi nhờ, chúng tôi yêu nhau mà - anh hét thật lớn trong nhà bếp khi để bình pha cà phê xuống bàn.
Anh uống thật nhanh một ngụm nhưng vì nóng quá nên anh phải chạy lại bồn rửa để nhả nó ra.
Sáu
Họ dừng chân tại Buzzards Bay để mua một ít cà phê, bánh mì ổ nhỏ và tờ báo Boston Globe. Khi họ đi trên chiếc xe thùng chất đầy hàng qua cầu Sagamore, Menley thở dài:
- Anh có tin trên thiên đường cũng có cà phê ?
- Anh nghĩ là có, vì nếu không em sẽ không bao giờ đủ tỉnh trí để hưởng thụ cuộc sống vĩnh cửu - Adam đáp lại với niềm vui trong ánh mắt.
Họ lên đường lúc bảy giờ sáng, đến mười một giờ rưỡi trưa họ băng ngang qua con kênh Cap Cod. Hannah gần như đã ngủ say sau khi khóc suốt mười lăm phút khi vừa mới khởi hành.
Ánh nắng mặt trời phản chiếu trên các cấu trúc bằng thép của chiếc cầu. Chạy dài theo con kênh dưới chân họ, một chiếc tàu hàng chầm chậm tiến tới trước trên mặt nước gợn sóng lăn tăn. Vài phút sau họ lăn bánh trên Quốc lộ 6.
- Vào mỗi mùa hè, ngay tại chỗ này đây ba anh thường la thật to "Chúng ta đã trở về Cap lại rồi". Dường như ông chỉ cảm thấy mình thật sự trở lại nhà ngay tại đây mà thôi.
- Thế mẹ anh có tiếc đã bán ngôi nhà không?
- Không, vùng Cap không còn ý nghĩa gì đối với mẹ anh khi ba đã qua đời. Mẹ hạnh phúc hơn khi ở cùng các chị em gái của mình tại bang Bắc Carolina. Nhưng anh giống bố hơn. Anh như mang vùng đất này trong máu, vì gia đình anh đã định cư tại đây từ ba thế kỷ nay.
Menley hơi nhích người qua để nhìn chồng mình rõ hơn. Cuối cùng chị cảm thấy thật sự hạnh phúc khi trở về vùng Cap này với chồng. Họ chỉ định về đây vào mùa hè trước ngày sinh nở nhưng ông bác sĩ không cho phép chị đi xa như thế trước khi ở cữ. Mùa hè sau đó họ mua căn nhà ở
Rye và đang sắp xếp cuộc sống, vì thế việc đi nghỉ hè ở một nơi khác là không hợp lý chút nào.
Rồi họ mất đi Bobby. Đến lúc đó Menley cảm thấy mình không còn cái cảm giác đó nữa. Bù vào đó là một cảm giác tách rời khỏi thế giới, không còn biết xúc động, không thể nào đáp lại sự trìu mến của Adam được.
Năm ngoái Adam đến đây một mình. Chị đề nghị họ nên tạm thời xa nhau một thời gian và anh đành phải chấp nhận.
Anh đi được ba tuần thì chị mới nhận thấy mình đã có thai. Trong suốt thời gian đó, anh không hề gọi điện cho chị. Chị đã do dự suốt một thời gian dài, áy náy trong việc phải báo tin cho anh, tự hỏi không biết phản ứng của anh sẽ như thế nào. Rốt cuộc chị cũng phải gọi điện cho anh. Lời chào lạnh lùng và vô tình làm cho tim chị thắt lại. Nhưng đến khi chị nói:
- Này anh Adam, có thể đây là một tin mà anh không muốn nghe em báo cho anh, nhưng em đang mang thai và rất sung sướng với việc đó.
Quá bất ngờ, không để cho Menley nói tiếp, anh đã gào lên: - Anh đến với em ngay đây.
Tiếng hét vui mừng của anh làm cho chị rưng rưng nước mắt.
Và chính ngày hôm nay, chị đang cảm nhận hơi ấm của bàn tay Adam trong bàn tay chị.
- Anh không biết chúng mình có cùng một ý nghĩ không nữa - anh nói.
Họ giữ im lặng trong khoảnh khắc, Menley cố kềm nước mắt cười thật tươi và nói:
- Anh có nhớ khi vừa sanh ra nó, Phyllis luôn cố gọi nó bằng được Menley Hannah không? - Và chị bắt chước cái giọng the thé của người chị dâu mình "Chị cho rằng rất đúng khi tiếp tục duy trì truyền thống gia đình và đặt cho đứa bé cái tên Menley nhưng chị yêu cầu đừng đặt thêm cho nó cái
tên Hannah. Tên đó bây giờ đã lỗi thời rồi. Tại sao không đặt tên Menley Kimberley, như thế mình có thể gọi nó bằng Kim, có phải dễ thương hơn không?"
Rồi chị lấy lại giọng bình thường của mình "Thật không thể tin được!"
- Anh hy vọng em không đưa anh ra làm bia đỡ đạn, em yêu - Adam cười nói - Anh cũng hy vọng Phyllis sẽ không làm cho mẹ em phải bực mình. Khi mẹ đi du lịch qua Ai Len với người con trai và cô con dâu. Phyl quyết định tìm kiếm nguồn gốc phả hệ thuộc hai nhánh của dòng họ. Anh dám bắt cá nếu chị tìm trong số các tổ tiên có ai đó là dân ăn cắp ngựa thì cũng không một người nào có thể biết được.
Họ nghe có tiếng lục đục ở băng sau. Menley ngoái nhìn ra sau.
- Em nghĩ chắc Nàng Công Chúa sắp sửa tham gia vào cuộc nói chuyện của chúng ta rồi đấy và anh cứ tin là cô nàng sẽ hét vì đói cho mà xem - Chồm người ra sau, chị nhét một que kẹo mút vào trong miệng Hannah — cầu xin sao nó ở yên cho đến khi chúng ta về đến nhà.
Chị bỏ cốc cà phê không vào trong túi xách và cầm tờ báo lên.
- Adam, anh nhìn xem. Trong đây có hình của hai vợ chồng mà anh nói với em. Vụ bà vợ đã chết trong khi lặn xuống biển. Lễ mai táng được cử hành hôm nay. Tội nghiệp anh chàng đó quá! Một tai nạn hết sức khủng khiếp!
Một tai nạn hết sức khủng khiếp! Chị đã nghe câu này bao nhiêu lần rồi nhỉ? Chúng gợi cho chị quá nhiều kỷ niệm đau buồn. Chị đang lái xe trên con đường đồng quê xa lạ đó, và Bobby đang ngồi trên băng sau. Hôm đó là một ngày nắng ráo, trời thật đẹp. Chị rất sung sướng. Chị hát thật to và Bobby bập bẹ hát theo. Đến đoạn đường ray không có ba-ri-e, mặt đất như đang rung chuyển. Một cái nhìn ra cửa sổ. Khuôn mặt hoảng hốt của người thợ máy. Tiếng gầm rú của chiếc xe lửa, tiếng đạp thắng rít chói tai trong khi chiếc xe lửa vẫn cứ ào ào lao tới. Bobby hét lên "Mẹ ơi, Mẹ ơi!". Chị nhấn hết ga. Tiếng va chạm của chiếc xe lửa vào cánh cửa sau, ngang tầm với Bobby. Rồi chiếc xe lửa lôi chiếc xe hơi theo phía sau. Bobby vẫn khóc thét "Mẹ ơi, Mẹ ơi!". Rồi hai con mắt đó từ từ khép lại. Có lẽ nó đã
chết rồi. Chị ôm con chặt vào lòng, vỗ về như đang ru nó ngủ trong khi miệng thì không ngừng hét "Bobby, tôi muốn thằng Bobby của tôi! Bobbbbby ơi!
Một lần nữa, Menley cảm thấy mồ hôi rịn khắp người. Chị bắt đầu run và chị phải kẹp hai tay giữa đùi mình để khống chế các cơn co giật liên hồi.
Adam nhìn thấy cảnh tượng này, khẽ thốt lên "ôi trời ơi!". Rồi đến một nơi rộng rãi cho xe đậu, anh liền chạy thẳng vào đó rồi đạp thắng. Anh ôm lấy chị, thật chặt.
- Không sao đâu em yêu, không có gì đâu.
Ở băng sau, Hannah khóc ré lên.
Menley bỗng biến sắc, đầu óc nàng quay cuồng như nghe chính Bobby đang vọng về "Mẹ ơi, Mẹ ơi!"
Hannah vẫn đang khóc thét.
- Anh làm cho nó nín được không! - Menley gào lên - Anh làm cho nó nín đi.
Bảy
Đã mười hai giờ kém mười lăm rồi. Elaine nhận xét khi liếc nhìn vào đồng hồ trên bảng điều khiển. Không mấy chốc nữa thôi, Adam và Menley sẽ về đến nơi, vì vậy muốn kiểm tra lại tình trạng ngôi nhà trước khí họ có mặt. Một trong các dịch vụ mà chị tặng cho khách hàng của mình là bảo đảm một lần quét dọn hoàn hảo trước và sau khi họ ở đó. Chị tăng tốc. Lễ mai táng Vivian Carpenter Covey đã làm cho chị trễ giờ.
Không cưỡng lại được cơn thúc giục, chị ngừng xe trước một siêu thị.
Mình sẽ mua một ít cá hồi hun khói vì Adam rất thích món đó. Chị thầm nghĩ món đó rất thích hợp với chai sâm banh chị luôn để trong tủ lạnh chỉ dành cho khách quí. Và có lẽ chị chỉ có đủ thời giờ để nguệch ngoạc vài ba chữ chúc mừng trước khi họ đến nơi.
Buổi sáng u ám đã biến thành một ngày nắng chói rực rỡ với nhiệt độ 20 độ. Elaine đưa tay lên kéo cái mui di động và nghĩ lại những lời chị đã tuyên bố với người phóng viên truyền hình. Ngay lúc khách đưa lễ tang chuẩn bị rời khỏi nhà thờ, chị thấy anh ta tiếp xúc với nhiều người trong cử tọa để đặt câu hỏi. Chị tiến thẳng đến anh ta và nói “Tôi có thể nói được gì không?".
Rồi nhìn thẳng vào máy quay, chị bắt đầu.
- Tên tôi là Elaine Atkins. Chính tôi đã bán ngôi nhà cho Vivian Carpentero ở Chatham cách đây ba năm. Trước khi chết, cô ta đã cùng chồng xem vài ngôi biệt thự rộng lớn hơn. Hai người đó rất hạnh phúc và họ định có con. Điều xảy ra là một thảm kịch, không có gì bí mật cả. Theo ý tôi, những kẻ phao tin đồn về ông Covey nên kiểm tra lại xem có bao nhiêu người đi biển trong ngày hôm đó không nghe được thông báo của các tuần tra bờ biển và suýt tí nữa bị chết chìm như họ khi trận bão nổi lên.
Khi nghĩ lại việc này, chị nở một nụ cười mãn nguyện. Chị chắc chắn Scott Covey đã để ý đến chị từ trong chiếc xe Limudin của mình.
Chị chạy ngang qua ngọn hải đăng và tiến vào trong vùng của đảo Morris có tên là Quitnesset, bỏ lại phía sau khu trú ẩn của Hiệp Hội Quốc Gia Bảo Vệ Thiên Nhiên Monomoy. Chị đi dọc theo đường mòn Awarks để quẹo vào con đường tư nhân dẫn đến ngôi nhà "Tưởng Nhớ". Khi qua khúc quanh, ngôi nhà xuất hiện và chị tưởng tượng xem phản ứng của Menley khi trông thấy nó lần đầu tiên.
Rộng lớn và sang trọng hơn phần lớn các ngôi nhà được xây từ thế kỷ XVIII, ngôi nhà đứng sững đó như một bằng chứng hùng hồn của tình yêu mà ông thuyền trưởng Andrew Freeman dành cho cô vợ trẻ vào đầu cuộc hôn nhân của họ. Nằm vững vàng trên bờ vách đá, lối kiến trúc đơn giản, hiện rõ trên bầu trời và biển cả. Nó nằm lẫn trong đám tường vi và các khóm đỏ chói của cây nhựa ruồi điểm đây đó trên nền đất bao quanh nó. Vài cây minh quyết và sồi lâu năm tạo ra những bóng râm rộng lớn giữa trời trưa.
Con đường dẫn đến ngôi nhà được lát đá và chạy quanh ngôi nhà cho đến bãi đậu xe ở sân sau, ngay trước cửa khu bếp. Elaine chau mày khi thấy chiếc xe của Carrie Bell. Carrie là một người giúp việc đắc lực nhưng luôn đi làm trễ giờ. Đáng lẽ giờ này chị ta phải đi rồi mới phải.
Elaine bắt gặp Carrie trong nhà bếp, cái túi xách nắm trong tay. Nét mặt gầy gò khắc khổ của bà hơi tái. Khi bà ta lên tiếng, cái giọng trầm nay có vẻ gấp gáp và hơi lớn tiếng.
- Ồ thưa cô Atkins, tôi biết là tôi có phần trễ nải, nhưng tôi phải ghé bỏ Tommy ở nhà mẹ tôi. Mọi thứ đều hoàn chỉnh, nhưng tôi muốn cho cô biết là tôi rất vui khi được rời khỏi nơi đây.
- Có chuyện gì vậy? - Elaine vội vàng hỏi.
- Trong đời, tôi chưa bao giờ hoảng sợ như thế này - Carrie cắt nghĩa với giọng run run - Tôi đang làm việc trong phòng ăn thì nghe có tiếng bước chân ở trên lầu. Tôi cứ nghĩ cô đang ở trên đó nên lên tiếng gọi. Không nghe trả lời, tôi mới bước lên xem. Cô Atkins, cô có nhớ cái nôi cũ xưa trong căn phòng trẻ nhỏ với cái giường chiếc lớn và giường nhỏ cho con nít không?
- Đương nhiên là nhớ chứ!
Mặt của Carrie tái mét hơn nữa. Bà nắm chặt lấy tay của Elaine.
- Cô Atkins ơi, cửa sổ thì đóng và cũng không có một ngọn gió nào thổi vào. Tấm trải giường hơi bị nhàu tựa như ai ngồi trên đó vậy. Còn cái nôi thì đung đưa. Có một người nào đó tôi không thấy được đang ngồi trên cái giường và đung đưa cái nôi.
- Thôi mà Carrie, chị nghe quá nhiều chuyện ma người ta đồn về ngôi nhà này kể từ khi nó bị bỏ hoang - Elaine đáp lại - Chị cũng biết là cái sàn bằng gỗ cũ gập ghềnh mà, cái nôi lúc lắc chỉ vì bước chân của chị quá nặng và có thể chị đã đạp phải một miếng ván sàn bị long ra mà thôi.
Ngay phía sau lưng họ, có tiếng một chiếc xe hơi đang lăn bánh trên lối đi. Gia đình của Adam vừa tới nơi.
- Chuyện này hết sức lố bịch - Elaine nghiêm khắc chỉ trích - Chị không được nói bất cứ điều gì cho gia đình Nichols nghe không - Chị ta nhắc nhở rồi xoay người lại nhìn Adam và Menley bước xuống xe. Nhưng chị cũng biết lời cảnh báo đó là vô ích, bởi Carrie Bell sẽ kể chuyện này cho bất cứ người nào muốn nghe.
Tám
Nathaniel Coogan phục vụ trong ngành cành sát Chatham từ mười tám năm nay. Quê quán ở Brook-lyn, Nat học đại học John - Jay ở Manhattan và đã trình luận án về tội phạm học khi gặp được người vợ ông ta. Bố mẹ vợ của ông ở tại Hyannis Port. Deb không muốn sống ở New York nên sau khi nhận được bằng, ông đã nhận ngay một chỗ làm tại Sở Cảnh Sát của Cap. Ở độ tuổi bốn mươi, là cha của hai thiếu niên, ông là một nhân vật đặc biệt ít thấy. Với tính tình cởi mở, hài lòng với cuộc sống gia đình cũng như trong công việc. Phải nói ông là một người đàn ông hạnh phúc. Nỗi lo âu duy nhất là mấy kí lô thừa mà cách nấu bếp tuyệt vời của bà vợ đã tặng thêm cho cái thân thể to lớn bình thường của ông.
Tuy nhiên, sau cái chết của Vivian, tâm trạng của ông có vẻ bất an lo lắng. Hay nói đúng hơn nó đã làm cho ông bận tâm suốt thời gian dài. Nat biết ông sếp của mình, Frank Shea, luôn cho rằng cái chết của Vivian Carpenter là do tai nạn. "Có hai vụ chết đuối khác trong ngày hôm đó - Frank nhấn mạnh - Vivian là chủ chiếc tàu và cô ta biết rõ vùng này hơn chồng mình. Nếu có người nào đó phải nghe tin tức khí tượng thì không ai khác hơn ngoài cô ta". Dù sao, vẫn có cái gì đó làm cho Nat phải băn khoăn. Giống như một con chó tìm được một khúc xương, ông ta không dễ gì từ bỏ các mối nghi ngờ của mình trước khi kiểm chứng hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn.
Sáng ngày hôm đó, Nat đến sở cảnh sát rất sớm và xem xét thật kỹ các bức ảnh giảo nghiệm vị bác sĩ pháp y đã gởi từ Boston. Mặc dù ông được huấn luyện rất kỹ khi xem xét ảnh của nạn nhân một cách khách quan, nhưng hình ảnh của cái thân thể mảnh khảnh đó - chính xác hơn là những gì còn lại - bị phình lớn vì nước biển và mang nhiều vết cắn nham nhở của cá hay của loại thân giáp, vẫn làm cho ông phải giật mình. Án mạng hay tai nạn đây? Câu trả lời sẽ như thế nào?
Đến chín giờ, ông bước vào phòng làm việc của Jack và yêu cầu được nhận nhiệm vụ điều tra vụ án này.
- Tôi muốn phụ trách vụ này, đây là một vụ quan trọng.
- Lại thêm các linh lính của anh có phải không? Shea hỏi
- Đúng vậy.
- Tôi nghĩ anh sai rồi nhưng cũng sẽ không vô ích nếu chúng ta phải xem xét mọi khía cạnh của vấn đề. Thôi được rồi, anh cứ nhận nó đi.
Đến mười giờ, Nat đi dự đám tang của Vivian. Cô gái tội nghiệp này đến khi chết ngay cả một điếu văn cũng không có. Những khuôn mặt lạnh như đá của cha mẹ và chị em của Vivian Carpenter đang che giấu điều gì đây? Một nỗi khổ mà lòng tự trọng buộc họ phải che kín trước mắt thiên hạ hay sao? Có phải là sự phẫn nộ trước thảm kịch vô lý này không? Hay một tội lỗi nào đó chăng? Những thông tin đại chúng đã bình luận không sót một chi tiết nào về quá khứ đau buồn của Vivian. Những người chị của cô ta, một người là nhà phẫu thuật, một người là nhà ngoại giao, cả hai đều thành đạt và có hôn nhân tốt đẹp. Trong khi đó Vivian bị đuổi học vì hút cần sa và sau đó bỏ ngang việc học của mình. Dù không cần phải làm việc để kiếm sống nhưng cô ta vẫn kiếm việc làm và đến định cư tại vùng Cap này. Rồi cô ta bỏ việc làm đó để nhận một việc khác và tiếp tục làm như thế sáu bảy lần liên tiếp.
Ngồi một mình ngay hàng đầu, Scott Covey đã khóc sướt mướt từ đầu đến hết buổi lễ tang. Chắc mình cũng giống như anh ta nếu như có việc gì đó xảy ra cho Deb, Nat tự nhủ. Gần như bị thuyết phục là mình đã đi sai hướng, ông rời khỏi nhà thờ sau buổi lễ và nán lại để nghe ngóng các lời nhận xét của mấy vị khách.
Mà các lời nhận xét đáng được quan tâm lắm chứ! "Ôi tội nghiệp con bé Vivian đó quá. Tôi rất tiếc nhưng cô ta cũng quá quắt lắm có đúng không?"
Một bà đứng tuổi thở dài "Tôi biết mà, cô ta lì lắm".
Nat nhớ lại lời Covey bảo người vợ mình cứ tiếp tục ngủ khi anh ta đi lặn. Một phóng viên truyền hình đang nói chuyện với mọi người trong cử tọa, ghi nhận những lời bình phẩm của họ. Nat nhận thấy một cô gái tóc vàng
ẳ
bước thẳng đến trước mặt anh ta. Ông nhận ra người này. Đó là Elaine Atkins, nhân viên địa ốc. Ông kín đáo tiến lại gần để nghe.
Khi cô ta kết thúc, Nat liền ghi nhận một chi tiết vào cuốn sổ tay của mình. Elaine Atkins nói là hai vợ chồng Covey đang tìm kiếm một ngôi nhà lớn hơn và dự định có con. Có vẻ như cô ta quen họ khá thân đấy. Ông quyết phải có một cuộc nói chuyện với cô Atkins này mới được.
Khi trở về văn phòng làm việc, ông lấy ra các bức ảnh giảo nghiệm, cố tìm kiếm những điểm quan trọng để xem xét.
Chín
Menley lách khỏi cánh tay của Adam để lăn ra mép giường. Anh lẩm bẩm gọi tên chị nhưng mắt vẫn cứ nhắm lại. Chị đứng lên, mặc áo ngủ vào, rồi ngắm nhìn anh với nụ cười tràn đầy hạnh phúc. .
Vị luật sư tài ba này có thể làm rung động cả một bồi thẩm đoàn với tài ăn nói của mình, lại dường như hoàn toàn bất lực trong giấc ngủ. Anh ngủ trong tư thế nằm sấp, đầu gối đè lên hai tay. Mớ tóc rối nùi với nhiều sợi bạc điểm đó đây cho thấy sự khởi đầu chứng rụng tóc.
Căn phòng khá lạnh nên Menley kéo mền đắp lên tận cổ Adam và không quên hôn nhẹ lên trán chồng. Ngày chị hai mươi sáu tuổi, chị có tuyên bố là mình không tìm được một người đàn ông nào đủ hấp dẫn để lấy làm chồng. Hai tuần sau đó, chị gặp Adam trên chiếc tàu chở khách Sagafjord. Chiếc tàu đi một chuyến vòng quanh thế giới và vì Menley có viết nhiều bài về miền Viễn Đông, nên chị được mời diễn thuyết vài buổi về khu vực Bali-Singapour.
Trong ngày thứ hai, Adam đến làm quen với chị trên boong tàu. Anh đi thu thập vài bằng chứng ở Úc châu và bị thôi thúc phải dành một chỗ trong chuyến đi này.
Khi gặp chị anh giải thích rằng: "Hành trình này có nhiều chặng dừng chân và việc đó giúp tôi có một tuần lễ nghỉ xả hơi thật sự". Chỉ đến cuối ngày, chị mới hiểu tại sao mình lại hủy cuộc đính hôn của mình ba năm trước đây.
Nhưng đối với anh mọi việc xảy ra hoàn toàn khác. Anh chỉ cảm thấy mến chị lần hồi trong suốt một năm sau đó. Đôi khi Menley tự nhủ rằng có thể chị không gặp lại anh, nếu như anh không ở cách nhà chị có ba con đường trong khu vực Manhattan.
Tuy nhiên, do họ cùng chung quan điểm và những nét tương đồng nên đó cũng là phần quan trọng giúp họ gần nhau hơn. Hai người đều sinh trưởng tại New York và cả hai cùng có một nỗi đam mê cho khu vực Manhattan dù
họ sống trong hai môi trường hoàn toàn khác nhau. Gia đình Adam có một căn hộ rộng lớn trên Đại Lộ Công Viên và theo học tại trường Collegiate. Chị sống những năm tuổi thơ của mình tại Stuyvesant Town, trên đường 14, nơi mà mẹ chị vẫn còn đang sống và theo học các trường đạo trong khu vực. Nhưng có sự trùng hợp lạ kỳ là cả hai đều lấy bằng đại học của trường Georgetown, dù với chín năm cách biệt. Cả hai đều yêu thích biển cả; Adam luôn đi nghỉ hè tại Cap Cod trong khi chị thường đi bơi tại bãi biển Jones.
Khi họ bắt đầu trở nên thân thiết hơn, Menley nhận thấy Adam rất hài lòng với cuộc sống độc thân ở tuổi ba mươi tư của mình. Cũng đúng thôi! Là một luật sư nổi tiếng, có một căn hộ sang trọng tại Manhattan với vô số bạn gái. Đôi khi nhiều tuần lễ liền anh không hề gọi điện cho chị.
Ngày anh tỏ tình với chị, Menley nghi ngờ quyết định này có liên quan đến ngày sinh nhật thứ ba mươi lăm cận kề. Nhưng điều đó không mấy quan trọng đối với chị. Sau khi lấy nhau, chị mới nhớ lại câu nói của một người chị. "Trong một hôn nhân đôi khi người đàn ông và người đàn bà không yêu nhau cùng một mức độ. Sẽ là điều tốt nếu người phụ nữ ít si tình hơn".
"Tại sao sẽ là điều tốt hơn chứ?" - Menley tự hỏi và đứng nhìn Adam ngủ một cách yên lành. "Có gì tệ hại hơn đâu nếu mình cũng yêu anh ấy quá nhiều".
Đã bảy giờ rồi. Ánh nắng rọi chiếu vào căn phòng xuyên qua màn sáo được thả xuống. Căn phòng này được trang trí đơn sơ chỉ với một chiếc giường có tán, một bàn trang điểm, một cái tủ và một chiếc đèn ngủ cùng một cái ghế thẳng. Tất cả đều là đồ cổ. Elaine có nói với chị rằng, trước khi chết, ông Paley và vợ có đi rảo các phòng bán đấu giá để tìm mua đồ đạc thuộc đầu thế kỷ XVIII.
Menley rất thích mỗi căn phòng đều có lò sưởi riêng dù điều này không mấy cần thiết cho thời tiết tháng Tám. Căn phòng kế cận phòng họ nhỏ hơn nhưng rất thích hợp cho em bé. Menley siết chặt hơn nữa sợi dây buộc áo choàng khi bước đi trong hành lang.
Khi mở cánh cửa phòng của Hannah, một ngọn gió lùa lạnh buốt trùm lấy chị. Đáng lẽ mình phải để thêm một cái mền bông trong này mới phải, Menley tự trách về khuyết điểm này. Trước khi đi ngủ chị có vào xem đứa bé lúc mười một giờ đêm, tuy do dự nhưng cũng không muốn đắp thêm mền cho con bé. Tất nhiên là trong đêm nhiệt độ đã hạ khá nhiều.
Menley vội vã bước lại chiếc giường nhỏ. Bé Hannah ngủ thật say, cái mền bông đắp quanh người cô bé. "Mình đâu thể nào quên được nếu đêm qua mình có đến đây" - Menley thầm nghĩ "Ai đắp mền cho nó vậy kìa?"
Rồi chị cảm thấy sao mình quá khờ. Có lẽ đêm qua Adam đã thức dậy và qua đây xem con bé. Song chị lại tự thắc mắc vì rất hiếm khi anh ấy làm việc đó. Hay chính chị đã đến phòng con bé? Có lẽ do chị uống thuốc an thần nên chị trở nên đờ đẫn.
Chị muốn hôn con bé lắm nhưng sợ nó thức dậy. "Thôi để sau đi thiên thần bé nhỏ của mẹ" - chị thì thầm. Trước hết mình cần uống một tách cà phê cho sảng khoái mới được.
Chị đứng lại ngay đầu cầu thang, đột nhiên cảm thấy trống ngực đánh thình thịch, một cảm giác buồn vô hạn. Một nỗi lo sợ đột biến chiếm lấy người chị. Mình cũng sẽ mất Hannah thôi. Không, không! Thật lố bịch! - Chị kịch liệt phản đối - Làm sao mình lại có thể nghĩ như thế được chứ?
Chị vào nhà bếp pha cà phê. Mười phút sau với một tách nóng hổi trong tay, chị bước lại đứng ngay cửa sổ nhỏ nhìn ra biển, chiêm ngưỡng Đại Tây dương bao la tuyệt diệu trong ánh nắng mặt trời.
Ngôi nhà nằm đối diện với Monomoy Strip, một mũi đất dài chia đôi đại dương với vịnh mà Menley luôn nghe nói là nơi thường xảy ra vô số vụ đắm tàu chết người. Vài năm trước đây, biển cả có đào một lối đi trên bãi cát và Adam đã chỉ cho chị xem nơi mấy ngôi nhà bị chôn vùi trong lòng nước sâu. Nhưng "Tưởng Nhớ" nằm rất chắc chắn trên bờ vách đá, khá sâu ở phía sau để không bao giờ gặp phải tình trạng đó.
Menley ngắm nhìn các con sóng đánh trên lưỡi cát, hất tung các chùm bọt biển trắng xóa lên trời cao. Ánh mặt trời nhún nhảy trên các ngọn sóng
trắng tinh. Có rất nhiều tàu đánh cá xuất hiện cuối chân trời. Chị mở cánh cửa kính ra để nghe tiếng kêu của mòng biển và tiếng chiêm chiếp của lũ chim sẻ.
Chị vui tươi rời khỏi cửa sổ. Chỉ mới ba ngày thôi mà chị cảm thấy rất thoải mái. Chị đi hết phòng này qua phòng khác, tưởng tượng xem phải trang trí chúng như thế nào nếu chị trở thành chủ nhân của ngôi nhà này. Căn phòng chánh chỉ có mỗi một món đồ cổ. Đồ đạc trong các căn phòng kia toàn là những thứ rẻ tiền, hoặc đồ phế thải.
Duy chỉ có chiếc băng ghế dài màu xanh táo có thể tân trang lại. Chị lướt bàn tay mình trên đó để cảm nhận các sớ mịn màng của gỗ hồ đào.
Gia đình Paley đã tiến hành các sửa chữa trọng yếu. Toàn bộ mái nhà gần như mới nguyên kể cả hệ thống sưởi ấm. Hệ thống ống nước và điện vừa được thay mới. Tuy nhiên phần trang trí nội thất như giấy dán tường thì bạc màu, phòng ăn toàn là những thứ tởm lợm, các trần giả nghịch chỏi với kích thước hoàn hảo của hai phòng khách và thư phòng. Nhưng chẳng có gì quan trọng cả, ngôi nhà mới đáng kể. Menley thầm nghĩ nếu như họ trở thành chủ nhân, sẽ dùng một phòng để đặt bàn làm việc, và sẽ trang trí một phòng tuyệt đẹp cho Hannah và bạn của nó vui chơi thỏa thích.
Chị lướt các ngón tay trên khung gỗ căn phòng nhỏ dành cho ông mục sư cạnh lò sưởi. Người ta kể cho chị biết hồi xưa mấy người nhập cư đầu tiên thường mời ông mục sư một ly rượu mỗi khi ông đến thăm viếng bất cứ gia đình nào. Ông mục sư tội nghiệp đó chắc cần lò sưởi lắm - chị thầm nghĩ. Bởi vì vào thời đó, người ta hiếm khi đốt lửa trong phòng khách cho nên các tăng lữ thường bị lạnh cóng.
Các gia đình định cư đầu tiên tại vùng Cap hầu như chỉ sống trong một căn bếp rộng lớn, căn phòng được làm ấm bởi một lò sưởi, nơi phát ra nhiều mùi hương thom ngon ngào ngạt. Chính tại đây những trẻ nít làm bài trên chiếc bàn ăn dưới ngọn nến và tất cả quây quần bên nhau trong các đêm đông giá lạnh. Menley tưởng tượng đến những con người sống trong thời đó với định mệnh bi thảm của họ.
Chị nghe tiếng chân trên cầu thang và bước ra cửa. Adam đang đi xuống với Hannah trên tay.
- Ai nói là anh không thể nghe Hannah khóc chứ? - Anh tỏ ra hãnh diện - Con bé được thay quần áo rồi và đang đói lắm đây.
Menley đưa tay bồng lấy đứa bé.
- Đưa đây cho em. Em thật hạnh phúc khi chúng ta cùng chung sức lo cho nó và thỉnh thoảng mới gọi một đứa giữ em thôi. Nếu đứa con riêng của chồng tương lai Elaine không phải là một đứa hậu đậu thì chúng ta sẽ có một mùa hè lý tưởng đấy.
- Chừng nào con bé tới vậy?
- Em nghĩ khoảng mười giờ thì phải.
***
Đúng mười giờ, một chiếc xe con xanh chạy vào lối đi. Menley nhìn Amy bước đến ngôi nhà, ngắm nhìn cái dáng mảnh khảnh với bộ tóc dài vàng óng được cột thành đuôi ngựa của nó. Có một nét gì đó thật hung dữ toát ra từ người con bé - có thể cách nó thọc hai tay vào trong túi quần và hai vai cứng đơ trong lúc bước đi dường như đang khiêu khích một ai đó.
"Mình không biết có nên..." Menley tự hỏi trong lúc ra mở cửa. Adam ngước mắt lên khỏi mớ giấy tờ đang bày trên bàn. - Em không biết có nên cái gì?
- Suỵt!
Tuy nhiên khi vào đến nhà, Amy lại cho thấy một cảm giác khác hẳn. Cô ta tự giới thiệu rồi bước ngay đến đứa bé đang nằm trong cái cũi dành cho nó được đặt trong bếp.
- Chào Hannah.
Cô ta lắc lắc bàn tay mình nhè nhẹ cho đến khi Hannah chụp lấy một ngón tay.
- Hay lắm! Em trông khỏe lắm đấy. Em nghĩ chúng ta có thể làm bạn với nhau được không?
Adam và Menley nhìn nhau. Nét dịu hiền của cô bé có vẻ thành thật đấy. Sau vài phút trò chuyện với Amy, Menley cho là Elaine đã đánh giá thấp kinh nghiệm của đứa con riêng chồng tương lai của cô ta. Amy bắt đầu giữ trẻ khi mười tuổi và mới đây thôi đã trông chừng một cặp song sinh suốt một năm trời. Cô bé muốn trở thành cô giáo dạy mẫu giáo.
Họ đã đồng ý với nhau là Amy sẽ đến canh giữ bé Hannah nhiều lần trong tuần để Menley có thời gian làm các cuộc tìm kiếm tư liệu cho cuốn sách của chị và thỉnh thoảng ở lại đêm mỗi khi hai vợ chồng muốn đi chơi tối.
Trước khi Amy ra về, Menley nói:
- Tôi rất mừng là Elaine đã giới thiệu em, Amy à. Thế em có muốn hỏi gì không?
- Có... mà thôi, không có gì quan trọng lắm đâu.
- Nhưng điều đó là gì thế?
- Không, thật sự không có gì.
Khi cô bé đã đi xa, Adam mới nói:
- Có vẻ con bé sợ cái gì đó.
Mười
Ngồi trên băng ghế ngoài hàng hiên, Henry Sprague lật xem cuốn album để trên đùi. Phoebe ngồi cạnh ông, chăm chú theo dõi. Ông chỉ vào các bức ảnh.
- Đây là ngày mà lần đầu tiên chúng mình đưa mấy đứa nhỏ đi xem ngọn núi Plymouth. Bà có kể cho chúng nghe việc mấy người định cư đầu tiên đổ bộ tại đây. Lúc đó chúng mới tám hay mười tuổi gì đó nên mê mẩn nghe bà kể. Bà có cái tài thêu dệt câu chuyện thành một chuyện phiêu lưu hết sức hấp dẫn.
Ông nhìn sang bà. Trong ánh mắt đó không có một dấu hiệu nào cho thấy có được sự hiểu biết nhưng bà vẫn làm ra vẻ cho ông vui lòng. Lúc hai giờ sáng, Henry thức giấc và nhận thấy Phoebe không còn nằm bên cạnh ông. Quá hốt hoảng, ông vội vàng nhảy ra khỏi giường, run sợ bà lại trốn mất một lần nữa. Tuần vừa qua, sau khi ông đã cho thay các ổ khóa đặc biệt vào các cửa, bà đã thoát được bằng cánh cửa sổ nhà bếp. Ông đã đuổi bắt được khi bà cho nổ máy xe.
Đêm qua, ông tìm thấy bà trong nhà bếp với bình nước nóng đã cắm điện và một bếp lò ga đang cháy không. Tuy nhiên, ông đã nhận được tin của dưỡng trí viện là ngày một tháng Chín sẽ có một chỗ trống.
- Mấy đứa nhỏ nào dễ thương quá vậy. Thế tên chúng là gì? - Phoebe bất chợt hỏi:
- Richard và Joan.
- Bây giờ chúng đã lớn chưa?
- Lớn rồi. Richard đã bốn mươi ba tuổi. Nó đang sống với vợ con tại Seattle, còn Joan thì bốn mươi mốt, sống cùng chồng và đứa con gái tại bang Maine. Em yêu, em có biết là em có ba đứa cháu không?
- Tôi không muốn coi hình nữa, tôi đói rồi đây.
- Em vừa ăn sáng mới có mấy phút thôi mà Phoebe.
- Không, không phải như thế đâu - giọng bà trở nên ngoan cố.
- Thôi được rồi, chúng mình đi làm cái gì đó cho em ăn nghe. Ông choàng vai bà khi đứng lên. Ông rất tự hào về dáng cao lớn và lịch lãm, cái cảm giác tự tin mặn nồng thoát ra từ cơ thể của bà. Ôi, ước gì tôi có thể sống lại một ngày, dù chỉ một ngày duy nhất thôi, giống như các ngày mà chúng tôi đã sống trước đây, ông thầm nghĩ.
Trong khi Phoebe ngấu nghiến ăn một ổ bánh mì nhỏ chấm với sữa, ông báo cho bà biết là họ sắp có khách.
- Một ông tên Nat Coogan. Chỉ là chuyện công việc thôi - Ông nhẹ nhàng nói.
Vì ông biết rằng không cần phải cắt nghĩa cho Phoebe biết Nat Coogan là một thanh tra cảnh sát và ông ta muốn hỏi ông về Vivian Covey.
***
Ngang qua ngôi nhà của Vivian Carpenter, Nat ngắm nhìn rất kỹ. Đây là một ngôi nhà đặc trưng của vùng Cap mà theo năm tháng đã được sửa chữa và thêm vào các phần phụ tạo thành một khối nhà thật đồ sộ. Được bao quanh bằng bông tử dương xanh và hồng ở trên các bệ cửa sổ, đây đúng là một ngôi nhà đáng được in trên các bưu thiếp, dù cho các phòng có phần hơi nhỏ một chút. Nhưng ngôi nhà được gìn giữ hết sức cẩn thận và tọa lạc trên một khuôn viên rất có giá trị. Theo lời của Elaine Atkins, Vivian và Scott Covey đang tìm kiếm một ngôi nhà rộng hơn cho gia đình tương lai của họ.
Thế ngôi nhà này sẽ được rao bán với giá bao nhiêu? - Nat tự hỏi - Tọa lạc ngay tại Oyster Pond với nửa mẫu đất. Nửa triệu không? Tờ di chúc của Vivian để lại toàn bộ tài sản cho người chồng và đó là một số vốn khổng lồ mà Scott Covey sẽ được hưởng.
Ngôi nhà của gia đình Sprague nằm ngay sát bên. Cũng rất dễ thương nhưng theo một phong cách khác hẳn. Một ngôi nhà "saltbox" rất đặc trưng của vùng New England, có thể được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII. Nat chưa hề gặp gia đình Sprague nhưng ông có đọc qua các bài viết của Giáo sư Phoebe Sprague trong tờ Cap Cod Times. Các bài viết thường kể về các sự kiện đầu tiên và các truyền thuyết của vùng Cap. Nhưng mấy năm gần đây ông không còn thấy xuất hiện trên mặt báo nữa.
Khi Henry Sprague ra mở cửa, mời ông vào và giới thiệu cho vợ của mình, Nat hiểu ngay tại sao Phoebe Sprague không còn viết báo được. "Căn bệnh Alzheimer" - ông thầm nghĩ. Và với sự cảm thông chia sẻ khi ông nhìn thấy các vết hằn vì mỏi mệt quanh miệng và ánh mắt đầy nỗi buồn nhẫn nhục của Henry Sprague.
Ông từ chối tách cà phê được mời.
- Tôi sẽ không quấy rầy quý vị lâu, tôi chỉ muốn hỏi vài câu thôi. Thưa ông, ông có quen biết Vivian Covey không?
Henry Sprague trả lời ngay. Với bản chất trung thực, ông không muốn giấu điều gì.
- Như ông đã biết, Vivian đã mua ngôi nhà đó được ba năm rồi. Chúng tôi có đến đó thăm cô ta. Và ông thấy đấy, bà vợ tôi không được khỏe, hơn nữa căn bệnh của bà cũng bộc phát vào đúng thời điểm đó. Chúng tôi rất khó chịu khi Vivian rất thường đến thăm chúng tôi. Cô ta học nấu vài món ăn và đem cho chúng tôi những thứ mà cô ta đã học nấu được, đến nỗi vợ tôi cảm thấy bực mình. Dù Vivian chỉ muốn tỏ ra tử tế với chúng tôi thôi nhưng tôi đành phải yêu cầu cô ta chấm dứt các cuộc thăm viếng tùy hứng đó.
Ông ta ngưng một lúc rồi tiếp.
- Về mặt tình cảm tôi nghĩ Vivian là một con người rất nhạy cảm.
Nat gạt đầu, ghi nhận sự việc. Điều này khớp với những gì ông ta đã thu thập được từ các nguồn thông tin khác.
- Vậy ông có biết gì về Scott Covey không?
- Đương nhiên là tôi có gặp anh ta. Tuy họ tổ chức lễ cưới bí mật nhưng sau đó cô ta có làm một bữa tiệc tại nhà và chúng tôi được mời đến dự. Đó là vào tháng Năm, nhưng chỉ có gia đình cô ta cùng một số ít bạn bè thân thiết và vài người láng giềng có mặt mà thôi.
- Thế ông nghĩ Scott Covey là người như thế nào?
Henry Sprague tránh việc trả lời thẳng câu hỏi.
- Vivian tỏ vẻ rất hạnh phúc và tôi thấy mừng cho cô ta. Tôi thấy Scott rất chăm chút cho cô ta.
- Sau đó ông có thường gặp họ không?
- Chỉ thỉnh thoảng thôi. Họ thường xuyên dùng tàu để đi biển. Có khi chúng tôi tổ chức một buổi tiệc nướng ở sân sau, chúng tôi hay trao đổi vài câu nói đùa với nhau.
- Tôi hiểu rồi - Nat cảm nhận Henry Sprague chưa nói hết sự thật, rồi ông hỏi tiếp:
- Thưa ông Sprague, ông cho rằng Scott chăm chút vợ mình. Nhưng ông có thật sự nghĩ rằng anh ta có thật lòng yêu vợ mình hay không?
Sprague trả lời câu này không mấy khó khăn.
- Chắc chắn là anh ta đã hành động giống như cảm xúc của mình. I
Nhưng có một cái gì đó khác nữa nên Henry lại do dự. Có thể người ta sẽ cho ông là một con người nhiều chuyện nếu ông kể lại sự kiện xảy ra hồi tháng Sáu. Ông đã đưa Phoebe đến tiệm uốn tóc và Vivian cũng có mặt ở đó. Để giết thời giờ trong khi chờ đợi, ông băng qua đường, vào quán Cheshire Pub để uống một ly bia và xem trận cầu giữa hai đội Red Sox và Yankees.
Scott Covey cùng đang có mặt trong quán và ngồi tại quầy. Hai người đã nhìn thấy nhau và Henry có chào anh ta. Ông không hiểu sao Covey lại tỏ ra bối rối. Một lúc sau, có một cô gái trông thật rực rỡ độ ba mươi tuổi bước vào trong quán. Covey liền đứng dậy.
- Trời ơi Tina, em làm gì ở đây thế này? - anh ta nói - Anh cứ cứ tưởng em có một buổi diễn tập vào chiều thứ ba kia mà.
Cô gái đó nhìn anh ta với ánh mắt ngạc nhiên nhưng rồi trấn tĩnh ngay.
- Ồ anh Scott, quả là một ngạc nhiên hết sức thú vị khi gặp anh ở đây. Không, chiều nay em không có diễn tập. Mấy đứa bạn hẹn gặp nhau ở đây hay tại quán Impudent Oyster. Em đến trễ và nếu như bọn chúng không có ở đây em phải đến quán kia mới được.
Sau khi cô ta đi rồi, Scott mới nói cho Henry biết cô ta thuộc một ca đoàn của một vở nhạc kịch đang trình diễn tại nhà hát Cap.
- Vivian và tôi có đến đó xem buổi trình diễn đầu tiên và sau đó có nói chuyện với cô ta trong nhà hàng - anh ta cắt nghĩa thật rành mạch.
Nhưng nửa giờ sau đó khi Henry đến rước Phoebe, Scott vẫn còn chờ vợ mình tại quầy tiếp tân. Khi Vivian bước ra, ông nghe Scott nói với Vivian là thời gian chờ đợi không lâu gì cho lắm, rằng anh ta cùng Henry đã xem trận banh trên tivi trong lúc ăn trưa. Ngay lúc đó Henry tự hỏi phải chăng Scott đã cố ý không nói cho vợ mình biết chuyện đã gặp Tina trong quán.
Chắc là không đâu, ông nghĩ lại. Có thể Scott không kể lại việc này vì đối với anh ta nó không quan trọng cho lắm. Cũng rất có thể ông đã tưởng tượng quá nhiều khi nghĩ rằng Scott tỏ ra bối rối trong ngày hôm đó. Chúng ta không nên ngồi lê đôi mách, ông tự nhủ khi ngồi đối mặt với viên thanh tra "Tại sao phải tiết lộ ra chi tiết này chứ?"
"Có lẽ ông ta đang giấu mình một cái gì đó. Nhưng là cái gì mới được chứ?" - Nat tự hỏi khi chìa tấm danh thiếp cho Henry.
Mười một
Menley lái xe đưa Adam ra phi trường Bamstable
"Trông anh có vẻ bực bội?" - chị trêu anh khi đậu trong bãi xe dành cho hành khách.
Khuôn mặt buồn bã của Adam bỗng sáng lên trong khoảnh khắc với nụ cười.
- Đúng vậy. Những chuyến đi tới lui không ngừng giữa đây và New York làm cho anh bực mình. Anh không thể để em cùng Hannah ở một mình và anh cũng không muốn xa vùng Cap này.
- Tội nghiệp anh yêu của em - Menley nói bằng giọng chọc ghẹo của mình và lấy hai tay nựng vào mặt Adam - Hai mẹ con em sẽ nhớ anh nhiều lắm. Và sau một khắc do dự, chị nói thêm - Chúng mình vừa có hai ngày thật tuyệt vời, anh có thấy thế không?
- Hai ngày thật sự hết ý.
Chị chỉnh lại cà vạt của anh. "Em thích thấy anh mặc quần soọc và mang dép hơn".
- Anh cũng vậy. Men à, em có chắc là em không muốn có Amy ngủ lại đêm trong nhà với em và con không?
- Chắc chắn và nhất định. Adam ơi, em xin anh.
- Thôi được rồi em yêu. Tối nay anh sẽ gọi cho em - Anh chồm người ra băng sau gãi gãi bàn chân nhỏ bé của Hannah "Hãy ngoan nghe không, bé yêu của ba".
Hannah nở một nụ cười rạng rỡ khi Adam biến mất trong nhà khách sân bay với cái vẫy tay chào.
Sau bữa ăn trưa, Adam nhận một cuộc điện thoại khẩn cấp tại phòng làm việc. Một phiên tòa đặc biệt được triệu tập để bác bỏ đơn xin tại ngoại của bà Pottor, thân chủ của anh. Tòa án cho rằng bà ta đã hăm dọa bà mẹ chồng của mình. Adam hy vọng có thể ở mười ngày liền tại Cap nhưng vụ kiện này khá quan trọng nên anh cảm thấy mình phải đích thân lo vụ này mới được. Thế là anh phải ra đi mặc dù anh hoàn toàn không yên lòng khi để Menley ở nhà một mình.
Menley lái xe ra khỏi phi trường, đi quanh bùng binh và chạy theo bảng chỉ dẫn để vào đường 28. Chị đến một ngã tư cắt ngang đường sắt và tự nhiên mồ hôi lạnh lấm tấm trên trán chị. Chị ngừng xe lại, đưa ánh mắt lo âu nhìn hết hướng này rồi đến hướng kia. Có một chuyến xe lửa chở hàng, nhưng còn rất xa trên đường ray. Nó đang đậu lại, đèn báo hiệu không chớp, ba- ri- e chưa được bỏ xuống. Nhưng toàn thân chị tê cứng, không thể cử động được.
Mấy tiếng kèn xe ở phía sau buộc chỉ phải quyết định. Chị nhấn thêm ga và chiếc xe phóng qua khỏi đường ray. Chị phải thắng thật gấp để không đụng vào chiếc xe ở phía trước- "Ô Chúa ơi, xin giúp con, con van xin Ngài đó" - chị cầu nguyện. Trên băng sau Hannah bắt đầu khóc ré lên.
Menley cho xe rẽ vào bãi đậu của một nhà hàng và đậu ở nơi xa nhất. Sau đó chị bước xuống và mở cửa sau để bồng Hannah. Chị ôm cứng con bé và cả hai cùng khóc.
Mười hai
Graham Carpenter không sao ngủ được. Ông cố nằm thẳng chân trên chiếc giường mà trước đây ông cùng Anne đã mua về thay thế chiếc giường cũ trong thời gian hai người sống chung với nhau. Khi gần đến kỷ niệm lần thứ hai mươi ngày cưới của họ, cả hai đều nhất trí họ cần phải có chỗ rộng rãi hơn. Phải có thêm chỗ để ngủ thoải mái hơn và phải có thời gian đi du lịch nhiều hơn nữa. Với đứa con gái thứ hai vào đại học, các ước nguyện của họ trở thành hiện thực.
Khi chiếc giường mới được đem về nhà, họ đã ăn mừng bằng sâm banh. Và Vivian được thụ thai một thời gian sau đó. Đôi khi ông tự hỏi có phải ngay từ đầu, cô đã biết mình là một đứa con bất đắc dĩ. Phải chăng sự chống đối của cô, sự thiếu tự tin của cô đã có từ lúc cô chưa chào đời ?
Có thể đó là một ý nghĩ quái lạ. Vivian luôn là một đứa bé khó tính, một đứa trẻ cá biệt và một người trưởng thành ngang bướng. Là một học sinh tồi, luôn gợi lòng thương xót của mọi người với phương châm "Tôi đã làm hết sức mình rồi".
Ở trường học nội trú, nơi mà các chị của cô tỏ ra xuất sắc thì Vivian bị khiển trách hai lần rồi bị đuổi học vĩnh viễn. Có một dạo cô làm quen với ma túy, cũng may là không đam mê nó. Thêm vào đó cái tính luôn đương đầu với Anne. Cô luôn yêu cầu mẹ mình dẫn đi mua sắm nhưng không bao giờ nghe theo ý kiến của bà.
Việc học đã không thành, lại không bao giờ giữ một chỗ làm lâu hơn sáu tháng. Vài năm trước đó, Graham yêu cầu Anna không được cho Vivian đụng vào số tiền ủy thác dành cho riêng cô trước năm ba mươi tuổi. Nhưng cô lại nhận hết phần gia tài của mình ở tuổi hai mươi mốt, mua ngôi nhà và sau đó ít thấy ló mặt về nhà cha mẹ. Hồi tháng Năm vừa qua, hai ông bà cảm thấy bị sốc thật sự khi nhận được điện thoại của cô mời họ đến nhà dự tiệc. Cô đã lấy chồng.
Có thể nói gì về Scott Covey? Đẹp trai, có học vấn, khá thông minh, lo cho Vivian từng chút một. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là khi một cô bạn của Vivian trong lúc nói chơi, có đề cập đến hợp đồng hôn nhân, Vivian đã phản đối quyết liệt "Không, tụi tao không có làm, nhưng chúng tao đã làm di chúc cho nhau".
Graham tự hỏi không biết Scott có thể để bất cứ gia tài gì cho ai kia chứ? Vivian có nói bóng nói gió là anh ta có vài lợi tức, cũng có thể lắm.
Có một lần Vivian đã nói sự thật rằng nhân ngày cưới của mình, cô đã sửa di chúc, và hôm nay Scott thừa hưởng toàn bộ tài sản của cô kể cả ngôi nhà tại Chatham.
Họ lấy nhau được mười hai tuần lễ! Mười hai tuần lễ!
- Graham? - Anne khẽ gọi.
Ông chụp lấy bàn tay của vợ. "Anh thức rồi đây".
- Này anh Graham, em biết là cái xác của Vivian ở trong tình trạng ghê rợn lắm. Nhưng điều gì đã xảy ra với bàn tay phải của nó vậy?
- Anh không biết nữa em yêu, nhưng tại sao vậy?
- Bởi vì không một ai đề cập đến chiếc nhẫn ngọc bích. Có thể vì Vivian không còn bàn tay mang nó nữa. Nhưng nếu trong trường hợp ngược lại thì chính Scott đang giữ nó và em muốn lấy nó lại. Nó luôn là vật gia bảo và em không thể chịu được khi một người đàn bà khác mang nó.
- Anh sẽ dọ hỏi chuyện này, em yêu.
- Anh Graham, tại sao em không thể thân thiết được với Vivian vậy? Em đã làm gì sai?
Ông siết tay bà mạnh hơn vì ông không làm sao trả lời được câu hỏi đó. ***
Vào sáng sớm, hai người đi đánh gôn. Đối với hai ông bà đây là một liều thuốc cho tinh thần lẫn thể xác. Họ về nhà vào khoảng năm giờ ba mươi, tắm rửa xong Graham chuẩn bị pha rượu cocktail.
- Em à, anh có gọi điện cho Scott trong khi em thay quần áo. Có một tin nhắn trên máy trả lời cho biết là anh ta đã đi biển và khoảng sáu giờ mới về. Em nghĩ chúng ta có nên tạt qua nhà anh ta để nói chuyện chiếc nhẫn đó không? Sau đó chúng ta sẽ ăn tối ở ngoài - Ông ngưng một chút - Ý anh muốn nói là chỉ anh và em thôi.
- Nếu anh ta đang giữ chiếc nhẫn đó, chắc anh ta không chịu trả nó lại đâu vì nó thuộc trong tài sản thừa kế.
- Trong trường hợp đó chúng ta có thể đề nghị mua nó lại theo giá thị trường. Nếu anh ta không chịu, chúng ta sẽ trả theo giá anh ta yêu cầu.
Graham mím môi lại một cách đáng sợ. Nếu Scott phản ứng như ông nghĩ thì đó sẽ là câu trả lời chính xác cho mối nghi ngờ mà ông có về anh ta.
Mười ba
Khi Menley về đến Chatham thì đã năm giờ ba mươi chiều. Sau khi rời khỏi bãi đậu xe, Menley buộc phải vượt qua đoạn đường sắt một lần nữa. Chị phải chạy vòng bùng binh đến lần thứ ba. Không được hoảng hốt khi lái xe, chị thề với chính mình như thế, nhất là mình có thể gây tai nạn cho Hannah.
Mặt trời vẫn còn cao trên mặt biển và Menley có cảm tưởng như đang ngồi tắm nắng và đón nhận các ánh nắng ấm áp trên bãi biển. Ôm cứng Hannah trong tay, Menley bước đến cánh cửa sổ rộng lớn nhìn ra biển. Một khi ngôi nhà được cất xong, chắc người vợ trẻ cũng đứng ngay tại chỗ này, tìm kiếm cánh buồm của chiếc tàu của chồng mình đang trở về từ một chuyến du hành xa xôi, hay cô ta đang âu yếm với người tình nhân của mình?
Hannah đang biểu lộ sự khó chịu. "Đồng ý rồi cô bé, đã đến giờ ăn rồi" - Menley nói trong sự hối tiếc là không thể nuôi Hannah bằng sữa mẹ được. Ngay từ các triệu chứng đầu tiên của chứng suy nhược thần kinh, ông bác sĩ đã cho cô uống nhiều thuốc an thần và cấm cô cho con bú.
"Dù sao thì mày cũng đã làm tròn bổn phận của mày" - Menley tự an ủi mình trong khi chuẩn bị bình sữa cho bé Hannah.
Đến bảy giờ, chị chuẩn bị giường cho Hannah, chị liếc nhanh trong căn phòng để chắc cái mền bông được xếp ngay ngắn trên chiếc ghế. Menley nhìn nó với ánh mắt e ngại. Chị hỏi có phải Adnm đã đắp mền cho con bé lúc tối không. Anh ta trả lời không và tỏ ra ngạc nhiên trước câu hỏi đó.
Chị suy nghĩ thật nhanh.
- Hình như ở đây nó ít quậy phá hơn ở New York, có thể do ảnh hưởng của gió biển.
Chị đứng do dự nơi ngưỡng cửa. Đúng là ngu xuẩn nếu để đèn nơi cánh cửa bật sáng. Nhưng Menley vẫn lo sợ khi trở lại căn phòng này chỉ với ánh sáng của chiếc đèn ngủ.
Chị đã lo đủ mọi thứ cho một đêm cô độc của mình. Có cà chua trong tủ lạnh, chị sẽ làm cho mình một dĩa xốt theo kiểu Ý để chan nó trên món spaghetti, ăn cùng một dĩa rau cải xoong. Chị sẽ nướng lại ổ bánh mì nhỏ mà chị còn giữ trong tủ đông và uống một ly rượu chardonnay.
Tuyệt lắm, trong khi ăn mình có thể lấy vài ghi chú cho cuốn sách của mình. Mấy ngày sống tại Chatham vừa qua đã cho chị vài ý nghĩ về diễn biến cốt truyện. Với sự vắng mặt của Adam, chị sẽ dành vài giờ rảnh rỗi của mình để tạo sức sống cho các nhân vật.
Mười bốn
Anh ta ở suốt ngày trên chiếc Viv's Toy. Đây là một chiếc tàu máy dài sáu thước rưỡi, trông nó hoàn hảo. Vivian có nói đến việc thay thế nó bằng một chiếc tàu buồm.
- Bây giờ em đã có một thuyền trưởng, có lẽ mình nghĩ đến việc tậu một chiếc khác lớn hơn để đi biển một cách nghiêm túc rồi đấy.
Ôi biết bao kế hoạch! Biết bao mộng ước! Từ ngày Vivian mất đến giờ Scott chưa hề lặn một lần nào. Anh ta chỉ câu cá một lúc, kiểm tra lại các rọ tôm hùm, trong đó có bốn con khoảng hơn một ký, rồi anh mặc đồ lặn để thám hiểm đáy biển.
Anh neo chiếc tàu tại chỗ dành cho riêng anh tại cảng và về nhà vào lúc năm giờ ba mươi. Không chậm trễ, anh đem hai con tôm biếu các người láng giềng.
Henry Sprague mở cửa cho anh.
- Thưa ông Sprague, tôi nhớ hồi đám cưới chúng tôi ông có vẻ thích món tôm hùm. Hôm nay có bắt được vài con và tôi nghĩ chắc hai con này sẽ làm cho ông hài lòng.
- Ô cám ơn anh nhiều lắm, anh rất tử tế khi nghĩ đến chúng tôi như thế - Henry đáp lại - Mời anh vô nhà.
- Thôi khỏi, xin cám ơn ông. Thế bà Sprague ra sao rồi?
- Không có gì thay đổi. Anh có muốn chào bà ấy một tiếng không? Hãy chờ một chút, bà ấy ra tới kìa.
Ông xoay đầu lại để nhìn bà bước ra cửa.
- Em yêu, Scott có đem cho em hai con tôm hùm. Có phải anh ta quá tử tế không?
Phoebe Sprague nhìn Scott Covey với đôi mắt mở to.
- Tại sao cô ta khóc lớn quá vậy? - bà hỏi - Thế bây giờ cô ta đã khỏe lại chưa?
- Không có ai khóc hết em yêu - Henry nói bằng giọng dỗ ngọt và choàng cánh tay qua vai bà.
Phoebe lách người ra.
- Hãy nghe đây - đột nhiên bà hét lên. Tôi đã nói cho ông biết là có một người đàn bà sống trong ngôi nhà này mà ông không chịu tin. Anh kia anh đi theo tôi - Bà chụp lấy tay Scott và chỉ vào trong tấm gương được gắn ngay cửa ra vào. Hình của ba người phản chiếu trong đó - Anh có thấy người đàn bà kia không? Bà đưa tay đụng ngay hình của mình trong tấm gương. Bà ta sống trong nhà tôi mà ông ấy không chịu tin.
Hơi lúng túng trước lời nói xàm của Phoebe Sprague, Scott bỏ về nhà, đầu óc nghĩ mông lung. Anh định luộc một con tôm cho bữa ăn tối của mình nhưng rồi cảm thấy không đói nữa. Anh bèn rót một ly rượu xcốt và nghe máy trả lời. Có hai tin nhắn. Elaine Atkins có điện tới hỏi anh có muốn bán nhà không. Chị ta có một người khách có tiềm năng mua đấy. Cuộc gọi kia là cha của Vivian. Hai ông bà này có việc cần gì đó muốn hỏi anh. Họ sẽ đến nhà anh vào khoảng sáu giờ ba mươi và chỉ ở lại vài phút thôi.
Có chuyện gì vậy kìa? Scott tự hỏi. Anh nhìn đồng hồ, đã sáu giờ mười rồi. Anh để ly rượu xuống và bỏ đi tắm. Anh mặc một chiếc áo thun màu xanh dương, một quần bằng vải mịn và đôi giày mọi. Anh đang chải đầu thì chuông cửa vang lên.
Đây là lần đầu tiên Anne Carpenter đến nhà con gái mình từ sau cái chết của cô ta. Chưa biết mình muốn kiếm gì nữa, bà ngó ngang ngó dọc căn phòng khách. Suốt ba năm Vivian sống tại đây, bà chỉ đến có đôi ba lần và dường như mọi thứ đều đúng với trí nhớ của bà. Vivian đã thay bàn tủ trong phòng ngủ nhưng cô ta gần như để nguyên đồ đạc trong phòng này. Anne có đề nghị với con gái mình bỏ cái ghế tựa hai chỗ cùng với các bức
chạm khắc vô vị nhưng Vivian lại phản đối trong khi chính cô ta mở miệng để xin ý kiến của bà.
Scott cố mời họ uống một ly rượu.
- Con cũng vừa pha cho con một ly đây. Bố mẹ hãy uống với con nhé! Cho đến giờ con cũng chưa tiếp ai khác nhưng thấy được bố mẹ là niềm an ủi lớn lao cho con đấy.
Anne miễn cưỡng công nhận là anh ta buồn thật sự. Anh ta trông rất đẹp trai với mái tóc vàng óng, nước da ngăm đen và đôi mắt màu hạt dẻ. Điều đó thật dễ hiểu tại sao Vivian lại si mê anh ta đến thế. Nhưng còn anh ta, anh ta tìm thấy nơi cô ta, nếu không phải gì khác hơn là một người rất giàu có? Hoảng sợ, bà không dám nghĩ tiếp điều này nữa. Một người mẹ mà nghĩ về con mình như thế quả là một điều ghê tởm.
- Thế dự định của anh là gì thế Scott? - ông Graham Carpenter hỏi.
- Con không có dự định nào hết. Đối với con tất cả việc này giống như một ác mộng. Con chưa hoàn toàn chấp nhận sự thật này được. Bố mẹ biết là Viv và con đang kiếm một ngôi nhà lớn hơn. Các phòng trên lầu hơi nhỏ, và vì chúng con muốn có em bé nên chúng con muốn tìm cho được một ngôi nhà mà chúng con có thể dành một phòng cho bà vú để không phải vướng bận vì con bé. Chúng con đã làm cho bố mẹ thất vọng nhiều rồi nên muốn làm lành với bố mẹ. Cô ta luôn nhận lỗi về mình chớ không hề đổ lỗi cho bố mẹ.
Anne cảm thấy bị nghẹn nơi cổ họng. Bà thấy miệng của Graham mím lại.
- Chúng tôi có cảm nghĩ mình luôn bất đồng ý kiến với con bé - bà bình thản nói - Đó là những điều thường xảy ra mà không cần có lý do chính đáng giữa cha mẹ và con cái và mình cứ phải hy vọng là nó sẽ thay đổi. Mẹ rất vui khi biết Viv đã mong muốn như thế, đó cũng là ước nguyện sâu kín nhất của bố mẹ đấy.
Chuông điện thoại reo. Scott giật nẩy mình. "Để con trả lời bảo họ gọi lại sau". Nói xong anh bỏ xuống bếp ngay.
Một lúc sau, Anne ngạc nhiên khi ông Graham cầm ly rượu đi vào trong hành lang hướng về nhà tắm. Ông xuất hiện trở lại khi Scott trở ra.
- Tôi chỉ muốn thêm một ít nước vào trong ly rượu thôi - ông cắt nghĩa.
- Sao bố không xuống nhà bếp lấy - Scott đáp lại - Cú điện thoại này là của chị nhân viên địa ốc hỏi ngày mai chị ta có thể đưa một người khách lại coi nhà được không. Con bảo với chị ta là căn nhà không còn được rao bán nữa.
- Này Scott, có một việc bố mẹ muốn hỏi con - Ông Graham Carpenter cố hết sức mình để giữ cho thật bình tĩnh - Đó là chuyện chiếc nhẫn ngọc bích Vivian luôn đeo trên tay. Nó là vật gia bảo của gia đình từ nhiều thế hệ rồi. Con có giữ nó không?
- Không. Con không có nó.
- Chính con là người nhận dạng cái xác. Thế lúc người ta tìm thấy nó, vợ con không có mang trên tay sao?
Scott xoay mặt qua chỗ khác.
- Thưa bố mẹ, con rất mừng là bố mẹ không nhìn thấy cái xác của Viv. Cái xác đó bị mấy con sinh vật biển ăn thịt nhiều đến mức gần như không còn gì cả. Nhưng nếu con tìm lại được chiếc nhẫn đó, con sẽ trả lại cho bố mẹ ngay. Con biết đó là một vật gia bảo. Thế bố mẹ có muốn vật gì khác trong mớ đồ đạc của vợ con không?
Anne giật mình "Ờ... không... không"
Cả hai ông bà Carpenter đứng lên cùng một lúc. "Bố mẹ sẽ mời con đến ăn tối trong một ngày rất gần đây" - Anna tuyên bố.
- Cảm ơn mẹ, con luôn muốn chúng ta hiểu nhau nhiều hơn.
- Trừ khi anh muốn giữ hết mấy tấm hình của Vivian, nhưng nếu có thể anh lựa cho chúng tôi vài tấm được không? - Ông Graham nói.
- Dạ được chứ!
Khi cả hai đã lên xe và đi khá xa, Anne mới xoay qua hỏi chồng mình.
- Ông có bao giờ thêm nước vào trong rượu xcốt của ông đâu. Thế ông đã làm gì vậy?
- Tôi chỉ muốn nhìn qua phòng ngủ một cái. Anne, bà có nhận thấy là không có một bức ảnh nào của Vivian trong phòng khách không? Cả trong phòng ngủ cũng không có nữa. Tôi dám cá với bà trong căn nhà đó không còn bất cứ một dấu vết nào của đứa con gái mình. Tôi không thích tên Covey này và tôi cũng không bao giờ tin tưởng anh ta. Nó là một thằng đểu cáng. Nó biết nhiều hơn những gì nó nói và tôi quyết định phải tìm cho ra sự thật.
Mười lăm
Họ đã cho lắp đặt một máy vi tính, máy in cùng máy fax trong thư phòng. Máy vi tính và máy in chiếm gần hết chỗ trống nhưng diện tích còn lại vừa đủ cho Menley làm việc. Tuy nhiên, Menley không hề có ý định làm việc trong suốt thời gian rảnh rỗi. Adam có mang về một máy đánh chữ xách tay, cái mà Menley muốn vứt đi từ lâu nhưng người ta có thể dùng nó bất cứ đâu.
Mãi cho đến giờ, Adam luôn đương đầu với các cố gắng của Menley trong việc dạy anh sử dụng máy vi tính. Còn về phần mình, Menley cũng tỏ ra khá cứng đầu trong việc từ chối học cách đánh gôn.
- Em biết phối hợp các động tác và ý nghĩ của mình một cách hoàn hảo. Không mấy chốc, em sẽ trở thành một tay chơi cừ khôi đấy - Adam nhấn mạnh.
Menley mỉm cười khi chị đang ngồi viết trên chiếc bàn dài trong bếp. Không phải là nhà bếp mà là phòng chung, chị nhớ lại. Chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ địa phương mới được, nhất là khi mình muốn đặt cốt truyện của mình trong vùng này. Ở nhà một mình với con bé, đôi khi chị cảm thấy rất thoải mái khi phải làm việc trong căn phòng dễ thương nhưng lỗi thời này, đã cũ kỹ theo thời gian với cái lò sưởi to lớn kia và cái mùi tỏi phảng phất trong không khí. Tối nay chị chỉ muốn ghi ra giấy vài chi tiết thôi nên chị luôn dùng một cuốn tập với giấy có thể tách rời. "Chúng ta lại có mặt đây" - chị nói lớn tiếng khi viết "Những chuyện phiêu lưu của David trên Dải Đất Hẹp".
Sau khi tốt nghiệp đại học, chị tìm một chỗ làm tại tờ báo Travel Times. Chị biết là mình muốn viết đấy, nhưng chưa biết chính xác phải viết về cái gì. Mẹ chị luôn mong muốn chị theo ngành nghệ thuật nhưng Menley nghĩ nó không phù hợp với mình.
Thời cơ mỉm cười với chị khi ông tổng biên tập một tạp chí đã phái chị đi tham dự lễ khai trương một khách sạn tại Hong Kong. Bài viết của chị
được đăng mà gần như không có chỉnh sửa. Sau đó, chị đưa các bức tranh dầu của khách sạn đó và các vùng phụ cận ra họ đã dùng chúng để minh họa cho bài viết. Ở tuổi hai mươi, Menley đã có một mục riêng của mình.
Cái ý tưởng viết một loạt sách cho thiếu niên về đề tài "Hôm qua và ngày nay" trong đó David, một cậu thiếu niên, đi ngược thời gian theo cuộc sống của một thiếu niên thuộc thời đại khác lần hồi hình thành trong tâm trí chị. Cho đến hôm nay chị đã xuất bản được bốn quyển. Chị vừa là tác giả vừa là người minh họa, chuyện này xảy ra tại New York, London, Paris và cuối cùng là tại San Francisco. Tất cả đều gặt hái thành công vang dội khi vừa được xuất bản.
Cũng vì nghe Adam kể rất nhiều chuyện về vùng Cap này mà chị có ý nghĩ muốn câu chuyện sắp tới của mình được xảy ra tại đây. Đề tài sẽ là chuyện một cậu bé sống trong thời kỳ của những người định cư đầu tiên đến Cap, hay Dải Đất Hẹp theo tên gọi của người thổ dân.
Như tất cả các câu chuyện trước, ý tưởng chỉ vừa hình thành là đã in sâu trong tâm trí chị. Hôm trước, họ đã đến thư viện của Chatham để Menley mượn nhiều sách về nguồn gốc của vùng Cap. Sau đó chị khám phá thêm nhiều cuốn cũ xưa đầy bụi trong một tủ sách tại nhà chị. Và tối nay, chị hớn hở chuẩn bị đọc chúng.
Đến tám giờ, điện thoại reo.
- Có phải là Nichols không ạ? - Đầu dây kia lên tiếng.
Chị không nhận ra giọng nói nên dè dặt hỏi lại "Phải, nhưng ai đấy?"
- Thưa bà Nichols, tôi là Scott Covey. Cô Elaine Atkins đã cho tôi số điện thoại của bà. Tôi muốn hỏi ông Nichols có ở nhà không?
Scott Covey! Menley nhớ tên này rồi.
- Tôi rất tiếc là chồng tôi không có ở nhà - chị đáp lại - ngày mai anh ấy mới về. Ông có thể gặp vào lúc chiều.
- Xin cảm ơn, tôi xin lỗi đã quấy rầy chị.
- Không có gì đâu. Và tôi rất tiếc cho những gì đã xảy ra với vợ anh.
- Đúng là một việc khủng khiếp. Tôi hy vọng chồng chị có thể giúp tôi. Mất Viv đã là một việc đau buồn rồi mà bây giờ cảnh sát lại nghĩ không phải do tai nạn.
Sau đó vài phút Adam gọi về.
- Gia đình của Kurt Potter quyết định bằng mọi cách phải cho Susan vào tù. Họ thừa biết là một vụ phòng vệ chính đáng nhưng khi chấp nhận điều này, họ phải công nhận là đã lơ là các dấu hiệu cảnh báo họ phải chú ý.
Nghe giọng nói, Menley biết anh đang mệt đừ. Anh chỉ có ba ngày nghỉ trước khi bắt tay vào làm việc trở lại. Chị không đành lòng kể lại lời yêu cầu của Scott. Ngày mai khi anh ấy về, chị sẽ nói anh đến gặp Scott. Hơn ai hết, chị hiểu được người ta cảm nhận như thế nào khi biết cảnh sát muốn xem xét lại một tai nạn chết người.
Chị quả quyết với Adam là chị cùng Hannah rất khỏe mạnh, rằng hai người nhớ anh nhiều lắm và chị đang kiếm tư liệu cho cuốn sách mới của mình.
Nhưng cú điện của Scott Covey và sau đó là cuộc gọi của Adam đã làm chị mất tập trung, nên đến chín giờ chị tắt đèn để lên phòng mình.
Chị kiểm tra lại xem Hannah ngủ có ngon giấc không và hít ngửi không khí trong phòng. Dường như chị nhận thấy nó có mùi ẩm mốc. Không biết nó bốc ra từ đâu? Chị hé mở cửa sổ ra. Hương vị mặn của muối bay theo cơn gió thoảng vào trong phòng. Thế có phải hay hơn không? - chị thầm nghĩ.
Chị khó có thể nhắm mắt được. Hôm nay, khi phải băng ngang đoạn đường sắt đã khơi dậy trong trí nhớ chị một tai nạn ghê rợn. Lần đó chị nhớ rất rõ ngọn đèn báo hiệu cứ chớp liên hồi. Chị chắc là đã nhìn thấy nó - đó là một phản xạ tự nhiên của chị - nhưng mặt trời chiếu sáng đến mức chị không nhận thấy nó đã đổi qua màu đỏ. Dấu hiệu đầu tiên của hiểm nguy là sự
ẳ
rung chuyển của đoàn tàu đang lao thẳng đến họ. Rồi chị nghe tiếng còi hú đinh tai, một tiếng còi hú dài thật khẩn trương.
Chị cố nuốt nước miếng, cảm thấy môi mình tê cứng, nhưng lần này chị không ra mồ hôi hay bắt đầu run. Chị chìm trong một giấc ngủ trằn trọc.
Đến hai giờ sáng, chị bật người dậy. Tiếng trẻ đang khóc và tiếng gầm rú của một đoàn tàu lửa đang vang dội trong khắp ngôi nhà.
Mười sáu
Adam Nichols không thể chế ngự được cái linh cảm khó chịu đó. Anh đang mơ màng trong giấc ngủ chập chờn và mỗi khi anh mở mắt ra, anh có cảm giác như vừa thoát khỏi một giấc mơ rối bời mà anh không tài nhớ được.
Đến sáu giờ sáng, khi mặt trời ló dạng trên Sông East, anh hất tung chăn và đứng lên. Sau khi làm cho mình một tách cà phê, anh cầm nó ra uống ngoài hàng hiên, cố chờ đến bảy giờ ba mươi để gọi điện cho Menley. Lúc này đã hơn bảy giờ chắc Hannah văn còn ngủ nên anh không muốn đánh thức vợ mình dậy.
Một nụ cườỉ hiện trên môi khi anh nghĩ về Menley và Hannah. Đó là gia đình của anh. Đúng là một phép mầu với sự ra đời của Hannah. Nỗi buồn khổ vì cái chết của Bobby cuối cùng cũng bắt đầu nguôi ngoai đối với hai người. Vào thời điểm này năm ngoái, Adam đang ở một mình tại Cap và không dám tin rằng cuộc hôn nhân của mình sẽ tồn tại. Anh nói chuyện với một nhà tư vấn hôn nhân gia đình và được biết cái chết của một đứa con thường hay kéo theo sự chia tay của hai người. Nỗi đau lớn đến mức cả cha mẹ đôi khi không thể sống chung trong một nhà nữa.
Vì vậy Adam nghĩ tốt hơn hết anh và Menley nên bắt đầu lại cuộc đời của mỗi người theo cách riêng. Sau đó Menley gọi điện và anh biết mình thật sự ước muốn một cách cuồng dại tiếp nối lại cuộc sống chung.
Sự thai nghén của Menley tiến triển một cách bình thường. Anh đã có mặt trong lúc chị sinh nở. Chị chịu đau đớn nhiều lắm nhưng đã ngoan cường vượt qua được. Và trong lúc đó họ đã nghe một người phụ nữ ở đầu hành lang hét lên. Mặt của Menley liền biến sắc, trở nên trắng bệt, không còn một giọt máu. Đôi mắt xanh của chị trở nên to hơn và chị úp mặt mình trong hai tay "Ôi trời ơi, hãy thương lấy tôi!" - chị cũng hét to, người run vì tiếng nấc. Tình trạng này đã làm tăng cường độ của sự co rút, khiến cho việc sinh đẻ trở nên khó hơn.
Đến khi Hannah chào đời, vị bác sĩ đặt nó trên cánh tay của Menley trong phòng sanh, điều không thể tin khi chị từ chối đứa bé "Tôi muốn thằng Bobby của tôi, tôi muốn thằng Bobby" - chị nức nở.
Adam vội vã ôm đứa bé lên và thì thầm sát vào tai của nó.
- Mọi việc êm xuôi rồi con yêu. Cha mẹ sẽ yêu con, Hannah à - Anh nói giống như thể anh sợ con bé hiểu những gì mẹ nó nói vậy.
Sau đó Menley thì thầm với anh.
- Ngay khi họ đặt đứa bé trên tay, em liền nhớ lại giây phút em ôm Bobby ngay sau tai nạn đó. Lần đầu tiên trong đời, ngay lúc đó em mới thực sự biết mình đã cảm nghĩ gì.
Và đó là sự bắt đầu của cái mà bác sĩ gọi là các triệu chứng rối loạn thần kinh tâm lý sau khi sanh. Tháng đầu tiên quả hết sức khó khăn, vì Hannah khóc suốt mấy giờ liền, rồi bị thêm chứng đau bụng. Họ bắt buộc phải mướn một nữ y tá ở lại nhà, nhưng vào một buổi chiều trong lúc cô y tá đi ra ngoài mua cái gì đó, ở nhà con bé lại khóc thét lên. Khi đi làm về, Adam thấy Menley ngồi bệt dưới đất cạnh chiếc nôi, run rẩy và mặt tái xanh, hai ngón tay che lấy lỗ tai mình. Nhưng phép lạ đã xảy ra với sự thay đổi của Hannah và các cơn hoảng sợ của Menley cũng bắt đầu thưa dần.
Dù sao mình cũng không được để cô ấy một mình, Adam tự nhủ. Đáng lẽ mình cố bắt buộc cô giữ trẻ phải ngủ lại qua đêm mới đúng.
Đến bảy giờ, không thể chờ lâu hơn nữa, anh điện về Cap.
Một niềm hân hoan nhẹ người chiếm lấy anh khi anh nghe tiếng của Menley.
- Cô công chúa đã làm cho em thức sớm hơn mọi khi phải không? - Không sớm lắm đâu bởi cả hai mẹ con đều thức rồi mà.
Có cái gì đó khác lạ trong giọng nói của Menley. Adam không dám thốt ra câu hỏi đang ở đầu môi anh "Thế em có khỏe không?" Bởi vì anh không muốn nghe Menley trách anh bận tâm quá mức cho cô ta.
- Anh sẽ đáp chuyến bay bốn giờ chiều. Em có thể nào nhờ Amy trông chừng đứa bé để chúng mình ăn tối ở ngoài không?
Anh cảm nhận một sự do dự ở Menley. Không biết chuyện gì đã xảy ra? Nhưng Menley liền trả lời "Ý kiến hay lắm anh Adam".
- Có chuyện gì vậy em yêu?
- Không có gì hết, ngoại trừ một điều là hai mẹ con em nhớ anh mà thôi. Ngay khi gác máy, Adam gọi cho hãng hàng không ?
- Có chuyến bay nào sớm hơn trong buổi chiều không?
Anh rời tòa án lúc mười hai giờ. Có một chuyến bay lúc 1 giờ ba mươi phút.
Đã xảy ra chuyện gì đó không bình thường, điều tệ hại nhất là Menley không bao giờ chịu nói với anh.
Mười bảy
Văn phòng địa ốc của Elaine Atkins nằm ngay trên con đường chính của Chatham. Tất cả, phải tất cả mọi thứ đều phụ thuộc vào vị trí mà thôi, cô thầm nghĩ khi thấy một khách bộ hành đứng lại trước cửa kính để nhìn hình ảnh các ngôi nhà bán hay cho mướn. Từ khi đặt văn phòng tại đây, khách khứa đã tăng lên thấy rõ và tiền hoa hồng của cô cũng tăng theo số khách.
Mùa hè này cô áp dụng một chiến thuật mới. Cô đã cho chụp ảnh từ trên không những ngôi nhà có vị trí đặc biệt. Một trong số đó là Tưởng Nhớ. Lúc mười giờ sáng nay, khi cô đến làm việc, Marge Salem, người phụ tá của cô báo có hai người đã chú ý đến ngôi nhà đó.
- Bức không ảnh đó nổi bật sự khác biệt. Chị thấy có nên cho hai vợ chồng Nichols mướn mà không yêu cầu họ cho người ta viếng căn nhà không? - Marge hỏi.
- Điều đó nên lắm chứ - Elaine trả lời cộc lốc - Adam Nichols không phải thuộc người chấp nhận cho khách coi nhà lũ lượt đến viếng trong mùa hè và nhất là anh ta đã trả giá cao rồi. Nhưng chúng ta sẽ không mất mối bán đâu. Trước sau gì hai vợ chồng Nichols cũng sẽ mua ngôi nhà đó thôi.
- Tôi cứ nghĩ họ muốn kiếm một cái gì đó ở miệt Hamich Port. Gia đình anh ta gốc gác ở vùng đó và họ luôn nghỉ hè tại đó mà.
- Đúng vậy. Nhưng Adam luôn thích Chatham và anh ta biết đánh hơi một vụ béo bở. Anh ta rất có biệt tài về nhà cửa. Tôi nghĩ anh ta luôn hối tiếc việc không mua lại ngôi nhà của gia đình khi mẹ anh ta bán nó. Nếu vợ anh ta cảm thấy hạnh phúc tại Tưởng Nhớ, chúng ta nắm chắc một người mua trong tay rồi. Hãy kiên nhẫn đi. Mà nếu việc mua bán đó không thành, Scott Covey cũng rất thích chỗ đó. Khi mọi việc có phần quên lãng rồi, anh ta sẽ là một mối mua khác của chúng ta vì anh ta không muốn ở trong ngôi nhà của Vivian.
Khuôn mặt tươi cười của Marge chợt biểu lộ nét nghiêm trọng. Bà ta chưa hề nghĩ là sẽ làm việc cho đến khi năm mươi tuổi. Rồi Elaine đã thu nhận bà hồi đầu mùa hè này và bất ngờ bà cảm thấy thích thú với nghề địa ốc. Bà cũng thích nghe ngóng những lời đồn đại, luôn ghi nhận những gì bà nghe, như Elaine thường trêu chọc. Bà nói: Có nhiều lời xì xầm về Scott Covey.
Elaine quơ tay, tỏ vẻ bực bội.
- Tại sao người ta không để cho anh chàng tội nghiệp đó được yên chứ? Nếu Vivian không thừa hưởng được gia tài đó của gia đình, người ta sẽ động lòng thương xót anh ta. Dân ở đây thật khó chiu. Trên nguyên tắc, họ không muốn thấy tiền bạc rơi vào tay một kẻ xa lạ.
Marge gật đầu. "Trời ơi, quá đúng đi thôi".
Câu chuyện của họ bị ngắt ngang bởi tiếng chuông cửa, báo tin sự hiện diện của một người khách. Sau đó họ bận bịu cho đến hết buổi sáng. Đến một giờ, Elaine vào trong toa lét để trang điểm lại.
Marge ngắm nhìn cô ta. Cô mặc một cái váy bằng lanh trắng tinh và đôi xăng đan tương xứng nhưng rất tương phản với nước da ngăm đen của thân hình, mớ tóc vàng sậm óng ánh được giữ ra sau bằng một chiếc băng đô.
- Ô trông cô tuyệt lắm - Marge nhận xét - Có thể việc đính hôn rất hợp với cô đấy.
Elaine xoay xoay chiếc nhẫn quanh ngón tay mình, làm cho viên kim cương chiếu lấp lánh.
- Tôi không phủ nhận điều đó. Tôi có hẹn ăn trưa với John tại quán Impudent Oyster, tôi xin giao nhà lại cho chị đấy.
Khi cô ta trở về một giờ sau đó, Marge báo có vô số cú điện thoại gọi đến nhưng chỉ có cuộc gọi đầu tiên là hấp dẫn hơn hết. Đó là cuộc gọi của
thanh tra Nat Coogan. Ông yêu cầu được nói chuyện với cô Atkins bất cứ lúc nào.
Mười tám
Khoảng 9 giờ sáng, Menley tự thuyết phục rằng cơn hoảng sợ đã đánh thức chị đêm qua chỉ là một ác mộng. Ôm con sát vào lòng, chị đi dạo trên bờ vách đá. Bầu trời xanh phản chiếu trên mặt nước đang vỗ vào bờ biển. Đang là lúc thủy triều xuống nên hiện rõ bãi cát tuyệt đẹp trải dài dưới mắt chị.
Nếu không có biển, ngôi nhà cũng trông rất hùng vĩ, chị tự nhủ khi ngắm phong cảnh quanh đó. Trong suốt nhiều năm dài ngôi nhà bị bỏ hoang nên các cây minh quyết và sồi tha hồ mọc tràn lan. Các tán lá xum xuê của chúng hòa lẫn một cách hài hòa với lá nhọn mượt mà của các cây thông.
"Niềm hoan hỉ của mùa hè - Menley thầm nhủ. Nhưng chị cũng nhận thấy sự xuất hiện của màu hung báo hiệu mùa thu đang đến gần.
Ba chị mất khi anh chị mới mười một tuổi, còn chị chỉ mới lên ba. Học vấn quan trọng hơn nhà ở, mẹ chị đã quyết định như thế. Và bà đã kí cóp từng xu bằng đồng lương y tá trưởng tại Bệnh viện Bellevue để cho hai đứa con đi học tại Georgetown. Bà vẫn sống trong căn nhà chật chội chỉ có hai phòng, nơi mà Menley và Jack đã lớn lên.
Menloy mơ được ở trong một ngôi nhà hẳn hoi. Lúc còn bé, chị thường hay mơ về ngôi nhà chị sẽ ở sau này. Nhớ lại, Menley cảm thấy rất giống với Tưởng Nhớ. Chị đã vẽ không biết bao nhiêu lần căn nhà chị cùng Adam đã mua tại Rye. Nhưng sau cái chết của Bobby, nó vẫn không đọng lại nhiều kỷ niệm.
- Sống tại Manhatttan sẽ thích hợp cho hai mẹ con ta - chị nói lớn tiếng cho Hannah nghe - Như thế bố con sẽ mất có mười phút để về nhà. Còn ngoại là nữ hoàng của các cô giữ em trong khi mẹ là người thành thị. Nhưng gia đình của bố là dân vùng Cap này, họ là thành viên của các người định cư
đầu tiên. Nơi đó sẽ là chỗ nghỉ hè hết ý hay các kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời. Con nghĩ sao.?
Đứa bé xoay mặt qua và hai mẹ con cùng nhìn về ngôi nhà đứng sững sau lưng họ.
- Còn rất nhiều việc phải làm cho ngôi nhà đó - Menley nói tiếp - mặc dù người ta tạo lại cho nó hình dáng xưa kia. Cũng có thể vì hai mẹ con mình ở một mình đêm qua nên cơn ác mộng có vẻ như quá thật lúc thức dậy, con có nghĩ như thế không?
Hannah ngọ nguậy dữ dội, chị liền trề môi nói:
- Mẹ biết là con mệt mà. Chúa ơi, con là một đứa bé dễ thương hết chỗ nói nhưng thiếu nhẫn nại - Chị quay trở về nhà nhưng cố nhìn lại một lần nữa. Quả thật nó mang đúng vẻ của một nơi trú ẩn lý tưởng - chị thì thầm.
Chị cảm thấy người nhẹ nhõm, tràn đầy hy vọng. Chiều nay Adam trở về và họ sẽ lại nghĩ hè. Trừ phi.
Trừ phi Adam quyết định bào chữa cho Scott Covey. Adam không bao giờ làm việc gì nửa vời và như thế anh sẽ dành phần lớn thời gian cho việc đó. Dù gì mình cũng muốn anh ta chấp nhận bảo vệ cho Scott. Chị đã hãi hùng nhớ lại cái ngày, hai tuần lễ sau đám tang của Bobby, Adam nhận được cú điện thoại của ông biện lý muốn truy tố Menley về tội vô ý gây tử thương.
- Ông ấy nói em đã bị phạt hai lần về tội lái xe quá tốc độ và ông ta có thể chứng minh em đã phớt lờ dấu hiệu đèn đỏ ở ngã tư cắt ngang đường sắt chỉ vì em muốn qua trước đoàn xe lửa - Khuôn mặt của Adam lúc đó tỏ ra dữ dằn - Nhưng em không phải lo, em yêu. Ông ta không có cơ hội để mở miệng đâu.
Ông công tố đành ngậm họng khi nghe Adam liệt kê ra một danh sách dài đáng kể những tai nạn chết người xảy ra ngay tại nơi đó.
Elaine có nói là nếu Scott Covey bị xử tội nặng, chỉ vì có rất nhiều người cho rằng đúng lý anh ta phải biết cơn bão đang đến gần.
Cho dù việc đó có ảnh hưởng đến ngày nghỉ của mình đi nữa, mình cũng mong là Covey sẽ nhận được sự trợ giúp nào đó, Menley tự nhủ. Đúng vậy, Covey cần sự giúp đỡ như mình đã cần nó vậy.
Mười chín
Từ đường lộ, người ta không nhìn thấy được ngôi nhà nghỉ hè của gia đình Carpenter. Khi vừa vượt qua hàng rào và chạy dọc trên lối vào, thanh tra Nat Coogan nhận thấy bãi cỏ được cắt xén cẩn thận và các bồn đầy hoa. Rất ấn tượng. Gia tài kếch xù từ lâu đời. Không có gì gọi là lòe loẹt cả.
Ông đậu xe ngay trước cửa nhà. Đây là ngôi nhà cổ xưa từ thời Victona với một cánh cổng lớn bằng lưới sắt rèn. Với thời gian, các mè bằng gỗ đã lên nước và có một màu xám tuyệt đẹp trong khi các khung cửa sổ và lá sách thì mang một màu trắng sáng chói trong ánh nắng buổi chiều
Sáng nay, khi ông điện tới để xin một cuộc diện kiến, ông hơi ngạc nhiên khi nghe câu trả lời sốt sắng của Graham, cha của Vivian Carpenter.
- Thế ông muốn tới trong ngày hôm nay phải không thanh tra Coogan? Bởi vì chúng tôi định đi đánh gôn lúc chiều nay, nhưng việc đó cũng không cần thiết cho lắm
Nat không hề mong chờ sẽ được họ phản ứng như thế. Gia đình Carpenter có tiếng là một gia đình khó tiếp xúc. Ông nghĩ sẽ nhận được một câu trả lời lạnh lùng, rằng ông phải cho biết lý do ông muốn nói chuyện với họ.
Lý thú đấy, ông tự nhủ.
Một cô hầu dẫn ông đến hàng hiên ở phía sau nhà, nơi ông bà Graham Carpenter ngồi trong các ghế bành bằng mây đang nhâm nhi một ly trà lạnh. Trong buổi lễ tang, họ tỏ ra lạnh nhạt và kiêu ngạo. Những giọt nước mắt duy nhất được khóc cho Vivian Carpenter Covey là chồng của cô ấy. Và ngày hôm nay khi thấy họ ngồi đối diện với mình, ông mới nhận ra là mình đã lầm. Khuôn mặt quý phái của cha mẹ Vivian biểu lộ nét căng thẳng, đượm vẻ sầu não.
Họ tiếp ông một cách trầm tĩnh, mời ông dùng một ly trà lạnh hay một thứ gì đó tùy thích. Ông lễ phép từ chối và Graham Carpenter đề cập ngay vào vấn đề.
- Tôi nghĩ chắc ông không đến đây để nói lời chia buồn với chúng tôi, có phải không thanh tra Coogan?
Nat ngồi trên một chiếc ghế thẳng lưng. Ông hơi cúi người ra phía trước, hai tay đan vào nhau, một tư thế rất quen thuộc mà các cộng sự thường thấy ở ông mỗi khi ông đánh hơi được đầu mối.
- Tôi xin chia buồn cùng gia quyến, nhưng đúng như ông nói thưa ông Graham. Đó không phải lý do đưa tôi đến đây. Tôi sẽ không úp mở. Tôi không thể chấp nhận cái giả thuyết con gái ông chết do tai nạn cho đến khi tôi có thể kiểm chứng tính xác thực của nó, vì vậy tôi phải gặp thật nhiều người để đặt càng nhiều câu hỏi càng tốt.
Có vẻ như ông vừa chích điện vào họ thì phải. Thoáng chốc, vẻ đờ đẫn của họ biến mất, và ông Graham xoay qua nói với bà vợ "Em thấy không Anne, anh đã nói rồi mà"
Bà gật đầu. "Tôi không thể nào tin được."
- Bà không thể nào tin cái gì thế, thưa bà Carpenter? - Nat liền hỏi lại.
Họ nói cho ông biết các lý do khiến họ nghi ngờ người con rể mình nhưng Coogan không tìm thấy một cái gì khả dĩ có thể thuyết phục được ông.
- Tôi có thể hiểu cảm nghĩ của hai ông bà khi không thấy bất cứ một tấm hình nào của con gái mình trong căn nhà - ông đáp lại - Nhưng tôi cũng thường thấy người ta đôi khi có một phản ứng rất kỳ lạ trước thảm kịch. Có người thì đem trưng bày hết những bức ảnh của người quá cố mà họ có thể tìm thấy được, trong khi nhiều người khác thì hủy đi tất cả hình ảnh hay vật kỷ niệm, đem cho hết quần áo, bán chiếc xe của người vừa chết và có khi đánh đổi một nhà khác nữa. Giống như thể khi hủy bỏ những kỷ niệm kia, họ sẽ vượt qua được nỗi khổ của họ.
Cuối cùng Nat nói:
- Hai ông bà đã làm quen với Scott Covey sau cuộc hôn nhân của con gái ông bà. Vì rằng đối với ông bà anh ta là một người xa lạ, tôi cho là hợp lý
khi ông bà cảm thấy lo âu. Thế ông bà có biết gì về quá khứ của anh ta không?
Graham Carpenter gật đầu.
- Có, tôi có làm điều đó. Tuy nhiên tôi không điều tra tỉ mỉ, nhưng những gì anh ta đã nói với chúng tôi là đúng sự thật. Anh ta được sinh ra và lớn lên tại Colombus, bang Ohio. Người cha và bà mẹ kế thì sống tại California. Anh ta theo học tại trường đại học Kansas nhưng không lấy được bằng. Sau đó anh ta có tập tành làm diễn viên hài nhưng không được lâu. Và cuối cùng làm công việc quản lý cho hai gánh hát nhỏ. Cũng chính tại đó Vivian làm quen với anh ta hồi năm ngoái - Ông cười buồn, rồi nói tiếp: Vivian nói anh ta có tài sản riêng nhưng đó chỉ là một lời nói khoác dành cho chúng tôi.
- Ra vậy - Nat đứng lên - Tôi xin nói thật với ông bà, cho đến giờ mọi việc đều khớp với nhau. Con gái ông bà đã si mê Covey và anh ta cư xử như thể anh ta rất yêu cô ấy. Họ định đi du lịch ở Hawai và cô ấy có rêu rao khắp thiên hạ cô muốn trở thành một tay lặn giỏi trước khi đi. Là một tay bơi lội cừ nhưng anh ta chưa hề lái một chiếc tàu nào trước khi gặp cô ấy. Cơn bão đó được dự báo sẽ ập đến vào đêm khuya. Thành thật mà nói, chính cô Viv là người có kinh nghiệm hơn và đúng ra chính cô phải là người nghe dự báo thời tiết.
- Điều này có nghĩa là ông chấm dứt cuộc điều tra có phải không? - ông Carpenter hỏi.
- Không đâu. Nhưng có nghĩa, ngoài việc cô Vivian là một người đang rất khỏe mạnh và họ chỉ mới lấy nhau một thời gian ngắn, thì vụ này không có gì đáng ngờ cả.
- Tôi hiểu. Tốt thôi. Tôi xin cám ơn ông đã đến đây để thông báo cho chúng tôi sự việc. Tôi sẽ tiễn ông.
Họ đã ra đến cửa khi nghe tiếng bà Anne gọi họ lại. "Thưa ông Coogan!" Nat và Graham đồng loạt xoay người lại.
- Chỉ một chi tiết thôi. Tôi biết là cái xác con gái tôi trông khiếp lắm sau một thời gian ở dưới nước và bị các sinh vật biển cắn.
- Tôi e là đúng như thế.
- Em yêu, anh nghĩ em không nên dằn vặt mình như thế - Người chồng phản đối.
- Không, xin ông hãy nghe tôi ông Coogan. Các ngón tay của bàn tay phải con gái tôi còn nguyên vẹn hay đã mất hết rồi?
Nat do dự.
- Một bàn bị hủy hoại nhiều, còn bàn kia còn nguyên. Hình như bàn tay trái bị cắn nhiều thì phải, tôi sẽ kiểm tra lại trên các bức ảnh khám nghiệm. Tại sao bà lại hỏi câu đó?
- Tại vì con gái tôi có mang một chiếc nhẫn ngọc bích rất đắt giá ở ngón áp út bàn tay mặt. Từ ngày mẹ tôi tặng nó cho Vivian, con bé chưa hề tháo nó ra lần nào. Chúng tôi có hỏi Scott về chiếc nhẫn này bởi nó là một vật gia truyền và chúng tôi muốn thu hồi lại nếu người ta tìm được nó. Nhưng anh ta có xác nhận với chúng tôi là bàn tay bị hủy hoại nhiều và không có chiếc nhẫn đó.
- Sau một giờ nữa, tôi sẽ gọi điện cho ông bà - Nat trả lời.
***
Về đến phòng làm việc, Nat nghiên cứu thật kỹ các tấm hình trước khi gọi điện cho ông bà Carpenter.
Trong mười ngón tay, không ngón nào còn lóng thứ ba. Trên bàn tay trái, chiếc nhẫn cưới vẫn còn ở ngón áp út, trong khi bàn tay phải thì nát bấy. Giữa lóng thứ nhất và lòng bàn tay, thịt đã mất tận xương. Cái gì đã cuốn hút các sinh vật biển ăn xác chết như thế? Nat tự hỏi.
Khi ông gọi điện cho vợ chồng Carpenter, ông dè dặt không đưa ra kết luận quá vội vàng, rằng bàn tay con gái của họ bị hủy hoại nhiều và không có chiếc nhẫn.
- Hai ông bà có biết chiếc nhẫn đó chật hay rộng đối với ngón tay không?
- Nó rất chật - Ông Carpenter trả lời. Rồi ông ta hỏi tiếp - "Thế ông nghĩ gì?"
- Tôi không nghĩ gì hết thưa ông Carpenter. Đó chỉ là một chi tiết buộc tôi phải chú ý. Tôi vẫn giữ liên lạc với ông bà.
Khi gác máy, Nat biết mình vừa mới nhận được một đầu mối quan trọng. Chiếc nhẫn đó có phải là tang vật để người ta làm sáng tỏ nội vụ không? Mẹ kiếp! Chắc chắn tên khốn kiếp Covey đã tháo chiếc nhẫn đó rồi bỏ mặc xác con bé tội nghiệp. Bởi vì khi tháo ra hắn ta đã làm chảy máu và điều này cuốn hút các sinh vật biển.
Hai mươi
“Elaine phải trả giá cho việc này mới được" - Adam làu bàu khi thấy một chiếc xe hơi đang lăn bánh trên lối ra vào. Họ đã tổ chức một buổi picnic ở ngoài bãi biển trong khi Hildy, người giúp việc mà Elaine giới thiệu đang làm vệ sinh ngôi nhà. Đến hai giờ trưa, họ về cho kịp cuộc hẹn mà Adam đã ấn định với Scott Covey.
Adam vừa tắm xong, đang mặc một quần soọc và áo thun, còn Menley vẫn còn mặc đồ tắm khi họ nghe tiếng xe của Covey ngừng lại.
- Em rất mừng là anh ta đến đây - Chị nói với Adam - Trong lúc hai người nói chuyện em cùng Hannah sẽ ngủ một giấc. Em muốn được sảng khoái để đương đầu với cuộc gặp mặt của các người bạn cố tri của anh.
Elaine có tổ chức một bữa tiệc nhỏ để chiêu đãi hai vợ chồng họ và mời thêm vài người bạn lâu năm mà Adam nhiều lần nghỉ hè với họ tại vùng Cap.
Anh ta ôm lấy eo chị.
- Khi họ nói em may mắn lạ kỳ, anh xin em cứ gật đầu cho qua chuyện được không.
- Adam, em xin anh.
Chuông cửa reo lên. Menley liếc nhìn xuống nhà bếp. Chị không có thời giờ để lấy bình sữa cho Hannah và cũng không thể ra khỏi căn phòng trước khi Scott Covey bước vào. Một đằng chị muốn biết mặt người đàn ông mà chị đã dành nhiều thương cảm và đằng khác chị giữ một khoảng cách trong trường hợp Adam, vì một lý do nào đó, không muốn nhận lãnh công việc bào chữa cho anh ta. Nhưng sự tò mò đã thắng thế: chị quyết định đứng đó chờ.
Adam chậm rãi bước ra cửa. Anh nhã nhặn chào đón Scott, nhưng vẫn dè dặt.
Menley quan sát người khách thật kỹ. Không lạ gì Vivian Carpenter đã si mê anh ta. Scott Covey rất quyến rũ, màu da nâu sẫm vì ánh nắng mặt trời, với nét mặt thật cân đối và cương nghị, tóc quăn vàng óng được cắt ngắn. Cao nhưng mảnh khảnh, đôi vai rộng của anh ta tạo thêm cho mình một sức mạnh ngoài dáng vẻ tao nhã. Khi Adam giới thiệu anh ta cho Menley, điều trước tiên là chị chú ý ngay đến đôi mắt anh ta. Chị không những bị cái màu mắt nâu đó làm cho mê hồn mà chị còn thấy được nỗi lo sợ chị thường thấy trong ánh mắt của mình khi tự nhìn vào trong gương sau cái chết của Bobby.
Anh ta vô tội! Chị quyết định như thế. Chị bồng thẳng người Hannah lên. Chị cười rồi đổi con bé qua tay kia và chìa tay ra. "Rất hân hạnh được biết.." - Chị nói nhưng rồi lại do dự. Anh ta gần bằng tuổi của mình, chị suy nghĩ, và anh ta quen rất thân với một người bạn cố tri của Adam. Thế mình phải gọi anh ta như thế nào đây? Ông Covey thì có vẻ ngượng nghịu quá - "...anh Scott" - chị kết thúc câu nói. Chị chụp lấy bình sữa - Thôi bây giờ tôi và Hannah để cho hai người yên ổn nói chuyện với nhau.
Rồi chị lại do dự một lần nữa. Chị không thể giả vờ không biết lý do anh ta tới đây.
- Như tôi đã nói với anh trên điện thoại, tôi thành thật rất tiếc cho tai nạn xảy ra với vợ anh.
- Cám ơn - Giọng anh ta có vẻ trầm và rất êm tai. Một loại giọng rất dễ gây niềm tin cho người khác.
***
Hannah không hề buồn ngủ. Khi Menley đặt cô bé lên giường nó liền khóc rống lên, hất bình sữa qua một bên và lấy chân đạp cái mền đi chỗ khác.
- Mẹ sẽ ghi tên con vào trong trung tâm nhận làm con nuôi mới được - Menley hăm dọa con với nụ cười. Rồi chị nhìn vào chiếc nôi xưa và nhủ thầm "Mình không biết..."
Có hai cái gối nằm trên cái giường đơn. Chị lấy một cái bỏ vào trong nôi, đặt Hannah với khuôn mặt vẫn đỏ vì giận dữ và lấy mền đắp con bé lại. Xong chị ngồi trên mép giường và bắt đầu đung đưa cái nôi. Hannah từ từ cũng bớt giận và chỉ vài phút sau hai con mắt nhỏ bé đó nhắm khít lại.
Menley cũng cảm thấy mắt mình nặng trĩu. Tốt hơn hết mình phải thay bộ đồ tắm này trước khi lăn ra ngủ, chị thầm nghĩ. Nhưng làm gì cho mất công, dù sao nó cũng đã khô rồi. Chị nằm dài ra và lấy cái khăn choàng xếp nơi chân giường, đắp lên người. Hannah cất tiếng rên nhỏ nhỏ. "Được rồi" chị thì thầm và đưa tay ra lúc lắc cái nôi thật nhẹ.
Chị không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, khi có tiếng chân là chị giật mình thức dậy. Mở mắt ra, chị cho rằng mình đang nằm mơ, không có ai trong phòng cả. Nhưng chị cảm nhận được luồng gió mát đang thổi vào đây. Cửa sổ được mở và chắc gió đã thổi mạnh lên. Chị chớp mắt và nhìn sang chiếc nôi. Bé Hannah ngủ như một thiên thần.
Chúa ơi, mẹ quả là một người mẹ gương mẫu, phải không công chúa? Ngay cả khi ngủ, mẹ vẫn chăm lo cho con mà!
Cái nôi cứ lắc lư thật chậm.
"""