"
Võ Sĩ Đạo - Linh Hồn Nhật Bản - Inazo Nitobe full prc pdf epub azw3 [Biên Khảo]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Võ Sĩ Đạo - Linh Hồn Nhật Bản - Inazo Nitobe full prc pdf epub azw3 [Biên Khảo]
Ebooks
Nhóm Zalo
VÕ SĨ ĐẠO - LINH HỒN NHẬT BẢN
(BUSHIDO - THE SOUL OF JAPAN)
Tác giả : INAZO NITOBE
NXB Công an Nhân dân 2006
Người dịch : Nguyễn Hải Hoành
Dịch từ bản tiếng Trung Quốc
(Tham khảo và bổ sung từ bản tiếng Anh do Tuttle Publishing xuất bản năm 2001)
Khổ 13 x 19. Số trang : 279
Thực hiện ebook : hoi_ls (TVE)
KÍNH TẶNG BÁC
TOKITOSHI OTA
NGƯỜI ĐÃ DẠY TÔI BIẾT TRÂN TRỌNG QUÁ KHỨ VÀ KHÂM PHỤC CÔNG TRẠNG CỦA CÁC SAMURAI
LỜI NÓI ĐẦU
ĐỌC CHẬM TỰA CỦA LÊ ĐẠT
LỜI NÓI ĐẦU CỦA NHÀ XUẤT BẢN TUTTLE PUBLISHING LỜI TỰA BẢN TIẾNG TRUNG
LỜI TỰA LẦN XUẤT BẢN THỨ NHẤT
LỜI TỰA BẢN IN LẦN THỨ 10
LỜI TỰA
Ĩ À Ứ
CHƯƠNG 1 : VÕ SĨ ĐẠO LÀ MỘT HỆ THỐNG ĐẠO ĐỨC CHƯƠNG 2 : NGUỒN GỐC CỦA VÕ SĨ ĐẠO
CHƯƠNG 3 : YẾU TỐ CỐT LÕI CỦA VÕ SĨ ĐẠO - NGHĨA CHƯƠNG 4 : DŨNG – TINH THẦN DÁM LÀM DÁM CHỊU CHƯƠNG 5 : NHÂN – LÒNG THƯƠNG NGƯỜI
CHƯƠNG 6 : BÀN VỀ LỄ
CHƯƠNG 7 : THÀNH THẬT VÀ CHÂN TÌNH
CHƯƠNG 8 : DANH TIẾT
CHƯƠNG 9 : ĐẠO TRUNG
CHƯƠNG 10 : GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÕ SĨ
CHƯƠNG 11 : TỰ KIỀM CHẾ
CHƯƠNG 12 : TẬP TỤC TRẢ THÙ VÀ TỰ SÁT
CHƯƠNG 13 : THANH GƯƠM - LINH HỒN CỦA VÕ SĨ CHƯƠNG 14 : PHỤ NỮ - SỰ GIÁO DỤC VÀ ĐỊA VỊ CHƯƠNG 15 : ẢNH HƯỞNG CỦA VÕ SĨ ĐẠO
CHƯƠNG 16 : VÕ SĨ ĐẠO CÒN HAY MẤT
CHƯƠNG 17 : TƯƠNG LAI CỦA VÕ SĨ ĐẠO
CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT
TIỂU SỬ INAZO NITOBE (1862 - 1933)
Người dịch xin chân thành cảm ơn:
- Nhà thơ, nhà văn hoá Lê Đạt.
- Nhà báo Văn Thành (Tạp chí Tia Sáng của Bộ KHCN). - Các chuyên gia phiên dịch Phạm Thiều (tiếng Anh), Nguyễn Thành Công (tiếng Trung).
- Các chuyên gia Hán-Nôm: Mai Xuân Hải (Viện Hán-Nôm), Đinh Công Vỹ (Viện Sử học)
- Nhà thơ Nam Sơn.
- Nhà văn nữ Trần Thanh Hà.
đã có đóng góp quý báu vào việc hoàn thành bản dịch này. Người dịch tha thiết mong nhận được và chân thành cảm ơn tất cả mọi ý kiến đóng góp của bạn đọc về chất lượng bản dịch. NGUYỄN HẢI HOÀNH
LỜI NÓI ĐẦU
Lâu nay, chúng ta thường nhắc đến Nhật Bản như một cường quốc kinh tế. Lâu nay, chúng ta đã vô cùng ngưỡng mộ và ngạc nhiên trước sự vươn lên mạnh mẽ của đất nước này. Do đâu mà đảo quốc nhỏ bé nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Hoa, mới đó còn là một nước phong kiến lạc hậu, phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn, nghèo nàn về tài nguyên, luôn bị thiên tai đe dọa, kiệt quệ sau Thế chiến thứ hai..., trong mấy mươi năm đã trở thành cường quốc kinh tê đứng thứ hai thế giới, chỉ sau nước Mỹ ? Do đâu mà đất nước Nhật Bản có mức độ hiện đại hóa cao nhất thế giới, lại giữ được trong đời sống hàng ngày những truyền thống văn hóa cổ xưa đầy quyến rũ ?
Câu trả lời cho những thắc mắc đó có trong cuốn sách Võ Sĩ Đạo - Linh hồn Nhật Bản của Inazo Nitobe.
Cuốn sách này của Nitobe được xuất bản lần đầu vào năm 1905, nghĩa là đến nay nó đã tròn 100 năm tuổi. Trong một trăm năm ấy, nó đã không ngừng được đọc ở Mỹ, ở châu Âu, ở Trung Quốc, và cả ở Nhật Bản quê hương của tác giả. Những phân tích về Võ Sĩ Đạo đã cho thấy hệ thông đạo đức này đóng một vai trò rất lớn trong việc hình thành Tính Cách Nhật Bản - do đó nó cũng đóng vai trò quan trọng để làm nên một nước Nhật Bản như hiện nay.
Từ góc độ thực tiễn, những kinh nghiệm của người Nhật trong xây dựng kinh tế và bảo tồn, phát triển một nền văn hóa độc đáo rất đáng để chúng ta học tập. Hơn nữa, ngày nay Nhật Bản đang trở thành đối tác kinh tế lớn nhất của Việt Nam. Giao lưu kinh tế - văn hóa Việt - Nhật đang ngày càng mở rộng. Trong bối cảnh đó, nhu cầu hiểu biết về Nhật Bản sẽ ngày càng lớn. Cuốn sách của Nitobe, do vậy là một công cụ thiết yếu cho chúng ta khi tìm hiểu về Nhật Bản.
Bản dịch Võ Sĩ Đạo - Linh hồn Nhật Bản được dịch giả Nguyễn Hải Hoành thực hiện từ bản tiếng Trung, được đối chiếu và bổ sung từ bản tiếng Anh của Tuttle Publishing xuất bản năm 2001 và đã được nhiều học giả góp ý hiệu đính. Để giúp độc giả Việt Nam dễ
dàng nắm bắt nội dung cuốn sách, dịch giả đã thực hiện phần chú giải hết sức công phu.
Chúng tôi chân thành cảm ơn Japan Foundation và Đại sứ quán Nhật Bản lại Việt Nam đã có những hỗ trợ thiết thực để cuốn sách đến tay bạn đọc trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày ra đời. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Nhà xuất bản Công an nhân dân
ĐỌC CHẬM
TỰA CỦA LÊ ĐẠT
1- Trong thời đại kỹ học, hình như hiện đại gắn liền với tốc độ. Người ta ăn nhanh, uống nhanh... Cả cái biệt khu ngàn năm "Duy hữu độc thư cao" cũng không tránh khỏi áp lực. Lớp độc giả thâm canh ngày càng hiếm. Người ta viết sách để dạy phương pháp học nhanh. Những cuốn Reader Digest (Tóm tắt giúp người đọc) được in hàng chục vạn cuốn và bán đắt như tôm tươi.
Đó là một hiện tượng chưa chắc đã tốt. Nó dễ dẫn đến những kiến thức ăn xổi và những kết luận vội vàng. Cổ nhân dạy: Thà không biết còn hơn biết nửa chừng.
Một khái niệm khi rơi vào cõi mù mờ tranh tối tranh sáng của huyền thoại có thể gây ra nhiều tai nạn nguy hiểm chẳng kém gì những tai nạn giao thông.
2- Cuốn sách Võ Sĩ Đạo, linh hồn Nhật Bản của Inazo Nitobe được xuất bản lần đầu tiên tại Mỹ năm 1905.
Nghĩa là đến nay nó đã xấp xỉ một trăm năm tuổi.
Một trăm năm nay, nhân loại vẫn đọc chưa xong cuốn sách nhỏ này.
Nó đã được tái bản rất nhiều lần và được dịch sang nhiều thứ tiếng, trong đó có tất cả những ngôn ngữ chủ chốt của loài người - tiếng Anh (tất nhiên, vì nó được xuất bản lần đầu tiên tại Mỹ), tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha và gần đây, tiếng Trung Quốc.
Trong ngôn ngữ văn hoá, những cuốn sách đọc hàng trăm năm chưa hết này, người ta gọi chúng là những sách cổ điển. Chúng được kính trọng không phải đơn thuần vì chính sách "kính lão đắc thọ", mà còn vì tính sâu sắc và cần thiết của nội dung. 3- Võ Sĩ Đạo không đơn thuần là một nhân vật đao kiếm thậm chí "võ biền"(?), mà chủ yếu là một nhân vật văn hoá, hơn nữa, đạo đức.
Người ta thường đổ tội cho cơ chế thị trường là nguyên nhân mọi sự suy thoái trong đời sống xã hội.
Đó có thể là một cách trốn trách nhiệm. Mọi hình thái xã hội đều có mặt tích cực và tiêu cực.
Không phải cơ chế thị trường sinh ra đại trà sự dối trá, tham nhũng đáng xấu hổ, mà chính nền tảng đạo đức chưa tiến kịp đà phát triển của.xã hội đã sinh ra nạn đồi bại đến mức báo động nói trên.
Trong việc xây dựng nền tảng đạo đức hiện nay của xã hội, tôi nghĩ rằng cuốn Võ Sĩ Đạo, linh hồn Nhật Bản sẽ có những đóng góp tích cực. Nó là một cuốn sách cần đọc.
4- Tại chương VIII, khi nói về "Thanh gươm - linh hồn của võ sĩ”, tác giả có một nhận xét rất quan trọng: "Lý tưởng của Võ Sĩ Đạo là hoà bình."
Đáng tiếc rằng Nitobe qua đời quá sớm không có điều kiện trải qua cuộc thử thách hết sức bi kịch của nền văn minh hiện đại. Khi Đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ năm 1939 , ông đã đi xa trước đó 6 năm. Cái ranh giới giữa thiện và ác trong đời sống xã hội mới mong manh bất định làm sao? Đó là sự trớ trêu của lịch sử, nó đòi hỏi loài người phải hết sức tỉnh táo.
5- Khi nói về tương lai của Võ Sĩ Đạo, Nitobe có vẻ như ngậm ngùi:
"Xã hội đã thay đổi. Ngày nay, vấn đề không phải là đơn thuần phản đối Võ Sĩ Đạo nữa, mà trào lưu của xã hội đều đã hoàn toàn đứng về phía phản diện với Võ Sĩ Đạo. Vinh quang của Võ Sĩ Đạo sắp sửa rút ra khỏi vũ đài lịch sử."
Nitobe không có thời gian để chứng kiến một trớ trêu nữa của lịch sử.
Vào lúc nước Nhật quân phiệt bại trận, những điều kiện thực tế hình như đã đánh dấu sự tàn lụi nhỡn tiền của Võ Sĩ Đạo, thì tinh thần Võ Sĩ Đạo lại hồi sinh giúp nước Nhật bại trận, nghèo khổ kiệt quệ chỉ trong hai ba thập niên ngắn ngủi đã trở thành một cường quốc dân chủ đứng hàng thứ hai sau Hoa Kỳ về sức mạnh kinh tế.
Thác là thể phách, còn là tinh anh.
Cái thể xác của Võ Sĩ Đạo đã diệt, nhưng tinh anh của Võ Sĩ Đạo vãn còn và tiếp tục đầu thai qua nhiều kiếp sống khác trong nền văn hoá tâm linh bất diệt của loài người.
Hà Nội, tháng 9 năm 2004
LỜI NÓI ĐẦU CỦA NHÀ XUẤT BẢN TUTTLE PUBLISHING
(Theo “Bushido, The Soul of Japan”, bản in năm 2001 của Tuttle Publishing ; Boston Rutland, VT Tokyo.)
Cuốn sách nhỏ hấp dẫn giải thích về "Linh hồn của Nhật Bản" này đã được hoan nghênh nồng nhiệt và nhận được phản ứng ngay từ lần xuất bản đầu tiên năm 1905. Ngày nay, nhu cầu tái bản cuốn sách vẫn còn lớn hơn bao giờ hết, mặc dù Nhật Bản đã "phương Tây hoá".
Lý do chính của nhu cầu đó có lẽ là vì cuốn sách này đã giải đáp và tiếp tục giải đáp - cho người Nhật cũng như người phương Tây, về nguyên nhân tại sao những tư tưởng và tập tục nào đó lại có thể thịnh hành ở Nhật Bản.
Từng có nhiều định nghĩa về Võ Sĩ Đạo, nhưng xem ra có lẽ định nghĩa sau đây được nhiều người chấp nhận hơn cả: Võ Sĩ Đạo là một bộ luật bất thành văn chi phối đời sống và hành động của các nhà quý tộc Nhật Bản; trên nhiều mặt, giới quý tộc đó tương đương với giới hiệp sĩ (chivalry) châu Âu.
Những hiệp sĩ và nhà quý tộc ấy của nước Nhật Bản phong kiến là các samurai, tức thị vệ của các daimyo (lãnh chúa). Vì vậy, Võ Sĩ Đạo (Bushido) là bộ luật hành xử của giới samurai, một tầng lớp quân nhân quý tộc xuất hiện vào thế kỷ XII khoảng giữa thời kỳ Taira và Minamoto - và được phát triển mạnh trong thời kỳ Tokugawa.
Giới samurai trau dồi võ nghệ, họ trung thành với chúa của mình và lãnh đạm trước cái chết và nỗi đau đớn. Samurai có đặc quyền đeo hai thanh gươm - theo Nitobe, chúng được gọi là "Linh hồn của samurai".
Sách này trình bày về Võ Sĩ Đạo của Nhật Bản bằng những từ ngữ đơn giản và do đó rất thú vị. Trong khi thuyết minh quan điểm của mình, tác giả đồng thời trích dẫn các thí dụ đối chiếu lấy từ lịch sử và văn học châu Âu. Cuối cùng và trước hết, tác giả tin tưởng
vào các điều luật viết trong trái tim. Cuốn sách được Nhà xuất bản G. P. Putnam's Sons, New York xuất bản lần đầu tiên vào năm 1905.
LỜI TỰA BẢN TIẾNG TRUNG
(Theo “Võ Sĩ Đạo”, NXB Quản lý Xí nghiệp, Bắc Kinh 2004) Chúng ta thường hay nhắc tới thành tích kinh tế ngày nay của Nhật Bản và ngạc nhiên trước sức mạnh phát triển mà đảo quốc bé nhỏ này nuôi dưỡng lâu dài được. Đồng thời, chúng ta cũng khó có thể quên quá khứ. Là người Trung Quốc, chúng ta không thể bỏ qua một sự thật này: Trung Quốc là điểm khởi đầu và là nguồn gốc của văn hoá truyền thống Nhật Bản. Bởi vậy, việc nghiên cứu vấn đề Nhật Bản có ý nghĩa sâu xa đối với chúng ta. Một mặt, từ góc độ văn hoá, và xét từ quan điểm địa chính trị, chúng ta nghi hoặc: cùng một tín điều như nhau, tại Nhật Bản tín điều đó lưu hành theo cách nào để cuối cùng phát triển thành nền văn hoá độc đáo của Nhật Bản; mặt khác, từ góc độ thực tiễn, chúng ta nghiên cứu Nhật Bản vừa để tiếp thu kinh nghiệm phát triển của họ, vừa đồng thời để tránh con đường vòng họ đã đi qua, từ đó có thể hấp thụ bài học phản diện, nhằm trở thành một gương mẫu và nhằm đóng góp cho nền hoà bình và ổn định của thế giới, vì sự phát triển tốt đẹp của lịch sử nhân loại.
Sách này do tác giả người Nhật Bản viết bằng tiếng Anh vào đầu thế kỷ XX. Trong 6 năm ngắn ngủi sau ngày xuất bản, sách đã được tái bản 10 lần, sau đấy in lại hết lần này đến lần khác trên phạm vi toàn thế giới, trở thành cuốn sách cần đọc để nghiên cứu và tìm hiểu văn hoá Nhật Bản. Đúng như tác giả viết Võ Sĩ Đạo đã hoàn tất việc dựng xây tinh thần đạo đức Nhật Bản, hình thành tinh thần chỉnh thể của Nhật Bản. Đồng thời, do tác giả có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới phương Tây, cho nên khi viết sách, ông đã đối chiếu với tinh thần đạo đức của thế giới phương Tây, nhờ đó cuốn sách không những phản ánh được hiện thực tâm lý ở tầng nấc sâu kín nhất của người Nhật Bản, mà còn thích hợp với nhóm bạn đọc đông đảo nhất, khiến cho tầm mắt của bạn đọc được mở rộng vô cùng.
Tổng thống Mỹ Roosevelt từng đích thân mua sách này và phân phát cho thuộc hạ, bạn bè của ông đọc, với dụng ý rõ ràng nhằm tìm hiểu cường quốc Nhật Bản nhỏ bé ấy đã dựa vào sức mạnh nào
nâng đỡ để có thể đóng một vai trò như vậy trong cuộc đại chiến. Cái gì đã làm cho họ hiếu chiến, có một quân đội giỏi; tinh thần nào đã dễ dàng khích lệ toàn dân họ như vậy? Điều gì đã làm cho quốc gia này nhất trí đến thế trong các vấn đề đối ngoại?
Là người Trung Quốc, chúng ta lại càng bức thiết cần đọc cuốn sách này. Nhất là trong thế giới ngày nay, Nhật Bản là đối thủ lớn mạnh nhất của ta trong phạm vi châu Á. Trước hết, sự hiếu lễ của người Nhật Bản rõ ràng là chịu ảnh hưởng từ tinh thần Khổng Mạnh của Trung Quốc. Bắt tay từ khởi điểm này, ta có thể thấy, quy chế cuối cùng hình thành trên đất Nhật Bản là như sau: không ba hoa, cực kỳ kín đáo, trong bất cứ tình huống nào đều không biểu lộ tình cảm; võ sĩ làm thơ, tăng cường tu dưỡng nội tâm; thích trà đạo; một tấm gương, một tịnh thất dùng để người ta tu thân dưỡng tính - tất cả những cái đó khiến người Trung Quốc và người Nhật Bản từng quen biết nhau. Điều càng làm ta muôn phần kinh ngạc là những phụ nữ Nhật Bản kiên trinh bất khuất được đào tạo dưới sự răn dạy của Võ Sĩ Đạo. Hệt như đàn ông, họ điềm tĩnh, không kinh hãi khi gặp nguy biến, trọng lễ tiết. Những tình cảm tốt đẹp người Nhật đã phát triển được đều mang dấu ấn văn hoá truyền thống Trung Quốc vô cùng rõ nét, rất đáng để chúng ta khâm phục. Là láng giềng bè bạn, đúng là ta có thể học các phẩm chất ưu tú đó của họ.
...Trong sách này, chương nói về tự sát và mổ bụng là phần có thể trình bày rõ nhất vấn đề, là đoạn người ta muốn đọc nhất. Về cảm tính, chương này thường làm người ta bất giác sởn tóc gáy và có thể hiểu sâu sắc hơn người võ sĩ có một sức mạnh to lớn ra sao, chỗ cùng cực trong kết cấu tinh thần tầng sâu của dân tộc này là thế nào. Mỗi một võ sĩ Nhật Bản, kể từ đứa trẻ lên 8 tuổi trở đi, đều có thể hoàn tất một cách tuyệt đẹp hành vi mổ bụng tàn khốc, coi đó là cách chết vinh dự. Tác giả không tiếc lời ca ngợi hành động đó. Song có thể nhìn sự việc này từ mặt ngược lại: người võ sĩ có thể coi đấy là cái chết oanh liệt của mình, nhưng nếu mổ bụng người khác thì sẽ là một thảm kịch trần gian.
Trong sách còn đề cập đến vấn đề thương nhân. Ngày xưa, địa vị của tầng lớp thương gia Nhật Bản rất thấp kém, công chúng cũng kỳ vọng cực thấp về đạo đức của họ, cho nên dẫn đến sự bất nghĩa phổ biến của nghề buôn; đồng thời chưa một võ sĩ nào từng thành công trong kinh doanh buôn bán. Xét bề ngoài, dường như dân tộc
này không thích hợp với việc phát triển ngành thương mại; song sự thật thì lại không thế. Do thời đại thay đổi, địa vị của thương mại trong con mắt người dân ngày càng được nâng cao, lẽ tự nhiên, có thể dùng Võ Sĩ Đạo làm đạo buôn bán, và sự ứng dụng này thậm chí xuất hiện trên tầng nấc vô ý thức tập thể. Tục ngữ nói, không có lòng ham muốn thì tính tình sẽ cứng rắn (vô dục tắc cương), Võ Sĩ Đạo có truyền thống trọng nghĩa khinh lợi; truyền thống vững bền dẻo dai ấy có thể đem lại sự phát triển vô tận cho thương mại, trở thành sự phát triển có hệ thống, ào ạt như bầu khí quyển, sự phát triển toàn cầu hoá, có tính lấn át. Bởi vậy, chỉ có hiểu rõ Võ Sĩ Đạo thì mới giải thích hợp lý được sự phát triển của kinh tế Nhật Bản ngày nay.
Có ba loại người sau đây cần đọc cuốn sách này : 1) Những người muốn hiểu toàn diện Nhật Bản từ góc độ văn hoá, chính trị, kinh tế, lịch sử. 2) Những người tham gia các hoạt động thương mại hoặc chính trị có liên quan tới Nhật Bản. 3) Những ai muốn học được điều gì đó từ tinh thần của người Nhật và ứng dụng vào thực tiễn.
Với những lý do trên, chúng tôi tái dịch "Võ Sĩ Đạo - Linh hồn Nhật Bản", tác phẩm độc nhất vô nhị nổi tiếng thế giới này để bạn đọc thưởng thức.
PHÓ TÙNG KHIẾT
LỜI TỰA LẦN XUẤT BẢN THỨ NHẤT
10 năm trước đây, cố luật gia nổi tiếng người Bỉ De Laveleye từng tiếp tôi tại nhà riêng của ông, chúng tôi cùng trải qua mấy ngày khó quên. Một lần khi đi bách bộ, câu chuyện chuyển sang đề tài tôn giáo. Vị giáo sư đáng kính hỏi: “Chẳng lẽ các trường học ở Nhật không dạy môn tôn giáo ư ?” Khi thấy tôi trả lời là đúng thế, ông ngạc nhiên đến mức đứng sững lại, rồi nói tiếp: “Không dạy môn tôn giáo! Lẽ nào Nhật Bản không có môn đạo đức học ư ?"
Đây là một vấn đề tôi suy nghĩ nhiều. Lúc ấy tôi có chút bối rối, chưa biết trả lời ra sao. Theo tôi, người Nhật không dạy môn đức dục trong các trường học. Từ đó trở đi, tôi đặc biệt quan tâm đến nguồn gốc các loại giới luật đạo đức làm nên tính cách dân tộc Nhật Bản. Cuối cùng tôi phát hiện, chính là ảnh hưởng và sự gợi ý của Võ Sĩ Đạo đối với người Nhật đã hoàn tất việc hình thành tinh thần đạo đức Nhật Bản.
Động cơ trực tiếp khiến tôi bắt tay viết cuốn sách nhỏ này bắt nguồn từ vợ tôi. Bà ấy thường hay hỏi tôi một số vấn đề có liên quan đến tập tục tư tưởng, các tập tục ấy bắt đầu phổ biến lưu truyền ở Nhật Bản như thế nào, nguyên do tại đâu.(Vợ Nitobe tên là Mariko. Theo tiến sĩ Trần Văn Thọ - giáo sư Đại học Tokyo, bà ấy là người Mỹ.)
Trong khi cố gắng giải đáp các câu hỏi của ông De Laveleye và của vợ mình, tôi phát hiện thấy, nếu không hiểu biết về chế độ phong kiến và Võ Sĩ Đạo (tiếng Anh là Bushido) thì không thể hiểu được các quan niệm đạo đức của nước Nhật Bản hiện tại.
Tranh thủ thời gian dưỡng bệnh nhàn rỗi, tôi chỉnh lý lại nội dung một phần các buổi trò chuyện trong gia đình và nay công bố ra ngoài. Nền giáo dục của chế độ phong kiến tôi được hưởng trong thời niên thiếu, cùng các sự việc tôi từng trải qua và được nghe kể lại, là các yếu tố giúp tôi có được sự hiểu biết thấu triệt về Võ Sĩ Đạo.
Những người đặt câu hỏi bên phía vợ tôi còn có ông Lafcadio Heam và bà Hugh Fraser, phía tôi có Sir Ernest Satow và giáo sư Chamberlain.(Tại một số nước châu Âu, những người được Hoàng gia phong tước Hiệp Sĩ (Knight) đều được viết Sir trước tên đầu, coi như tước hiệu, có thể dịch là Ngài, hoặc Hầu tước, Nam tước). Việc dùng tiếng Anh để viết chuyện Nhật Bản khiến tôi có cảm giác khó tin vào hiệu quả. Thế nhưng, tôi vẫn có được một ưu thế trội hơn tất cả các nhà lý luận viết bằng tiếng Anh; xin dùng một cách ví von: có thể coi họ là các luật sư và thẩm phán, còn tôi là kẻ bị cáo. Tôi thường nghĩ: giả thử mình giỏi tiếng Anh như họ thì tôi sẽ dùng những ngôn từ phong phú, hùng biện để kể lại tất cả mọi điều về Nhật Bản! Nhưng khi đã dùng ngôn ngữ của người khác thì mọi cố gắng của tôi cũng chỉ có thể nói lên được điều cần nói một cách rõ ràng dễ hiểu, đâu dám theo đuổi mục tiêu viết văn cho hay.
Trong sách, tôi sử dụng nhiều trích dẫn lấy từ lịch sử và văn học châu Âu; như vậy sẽ có thể giúp bạn đọc nước ngoài hiểu sâu hơn về Nhật Bản và Võ Sĩ Đạo.
Khi nói về vấn đề tôn giáo và các nhà truyền giáo, có thể là tôi đã động chạm tới tình cảm tôn giáo của các tín đồ Ki Tô giáo, nhưng xin các bạn tin rằng tôi luôn tôn kính đạo Ki Tô. Tôi có chút đồng cảm với học thuyết Ki Tô giáo, song tôi không đồng tình đối với thể chế dung tục của giáo hội và các nghi thức tôn giáo làm lu mờ học thuyết ấy. Tôi dành niềm tin duy nhất của mình cho Chúa Ki Tô và Tân Ước cùng tinh thần Ki Tô giáo khắc sâu trong lòng người. Đồng thời tôi tin vào Cựu Ước; nó là Kinh Thánh chung của mỗi người và mỗi dân tộc - dị tộc hoặc Do Thái, tín đồ Ki Tô giáo hoặc dị giáo. Thiết nghĩ, ở đây không cần trình bày các quan điểm của tôi về thần học.
Khi kết thúc lời tựa, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và các kiến nghị của bạn tôi là bà Anna C. Hartshorne, người đã có nhiều gợi ý giá trị và đã vẽ bìa cuốn sách này theo một phong cách đậm đà đặc tính Nhật Bản.
INAZO NITOBE
Malvern, Pa., Tháng Mười Hai, 1899
LỜI TỰA BẢN IN LẦN THỨ 10
(CÓ SỬA CHỮA)
Cuốn sách nhỏ này xuất bản lần đầu tại Philadelphia cách đây đã hơn 6 năm. Nhiều sự việc thú vị đã xảy ra trong quãng thời gian sau ngày cuốn sách ra đời. Tại Nhật Bản, sách đã được in lại 8 lần; ấn bản này là bản thứ 10 bằng tiếng Anh. Đồng thời nó sẽ được các nhà xuất bản Mỹ và Anh phát hành, thông qua các nhà xuất bản Messrs. George H. Putnam's Sons ở New York.
Cho tới nay, Võ Sĩ Đạo đã được ông Dev ở Khandesh (Ấn Độ) dịch ra tiếng Mahratti, được chị Fraulein Kaufmann ở Hamburg dịch ra tiếng Đức, được ông Hora ở Chicago dịch ra tiếng Bohemia, được Hội Khoa học và Đời sống ở Lemberg (tức L'vov, Ukraine) dịch ra tiếng Ba Lan. - tuy rằng Chính phủ Nga lên án bản dịch tiếng Ba Lan đó(Có lẽ là do Nga vừa thua Nhật trong trận hải chiến ở eo biển Đối Mã - Tsushima năm 1904. ). Bản tiếng Na Uy và tiếng Pháp cũng đang được chuẩn bị. Người ta cũng đang dự định dịch cuốn sách này ra tiếng Trung Quốc. Một sĩ quan người Nga hiện đang bị giam giữ ở Nhật Bản đã hoàn thành bản dịch viết tay bằng tiếng Nga sẵn sàng để xuất bản. Một số chương trong sách đã được giới thiệu với công chúng Hungary. Về Nhật ngữ, báo chí tiếng Nhật đã liên tiếp đăng nhiều kỳ nội dung sách này và in riêng thành sách có chú thích chi tiết. Bạn tôi là ông H. Sakurai còn biên soạn các ghi chú tường tận để giúp các sinh viên trẻ đọc sách này; tại đây tôi xin có lời cảm ơn ông đã giúp đỡ tôi.
Tôi thành thật cảm thấy hài lòng khi nghĩ tới việc cuốn sách nhỏ này của mình được nhiều bạn đọc ưa chuộng. Sự việc đó đồng thời cho thấy các vấn đề trình bày trong sách đã được mọi người trên thế giới quan tâm rộng rãi. Điều làm tôi cảm thấy muôn phần vui thích là, theo các nguồn tin chính thức cho biết, Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt đã đích thân đọc sách này và tặng cho bạn bè ông mấy tá sách.
Nội dung sửa đổi trong lần xuất bản này chỉ hạn chế ở chỗ thêm một số thí dụ cụ thể. Tôi vẫn lấy làm tiếc là cuốn sách thiếu một
chương nói về "Hiếu”; nó cũng quan trọng như “Trung", cùng nhau làm nên hai bánh xe của cỗ xe đạo đức Nhật Bản. Sở dĩ tôi không thêm chương ấy, không phải vì không biết tính chất quan trọng của nó, mà là do tôi không tài nào hiểu được thái độ của người phương Tây đối với "Hiếu”, bởi vậy tôi không thể tiến hành sự so sánh Đông Tây trên vấn đề này. Tôi nghĩ rằng, sau này tôi nhất định sẽ có dịp bổ sung nội dung đó. Ngoài ra, tất cả các vấn đề được đề cập tới trong sách này đều có thể bổ sung và bàn thảo thêm. Nhưng muốn sửa đổi thì phải tăng số trang của cuốn sách, điều đó hiện nay tạm thời khó làm được.
Tôi xin cảm ơn vợ tôi về các đóng góp cho cuốn sách. Bà ấy đã đọc kỹ bản thảo gốc, góp rất nhiều ý kiến bổ ích và nhất là đã luôn luôn động viên tôi sáng tác. Trong lời tựa lần xuất bản này, tôi cần đặc biệt nêu ra vấn đề đó, nếu không thì sẽ là một lời tựa thiếu hoàn chỉnh và công bằng.
INAZO NITOBE
Kyoto, ngày 12 tháng 1 năm 1905
(Lời lựa này lấy từ The Project Gutenberg EBook of Bushido, the Soul of Japan)
LỜI TỰA
Tôi rất hân hạnh được viết bài giới thiệu tác phẩm của tiến sĩ Inazo Nitobe nổi tiếng - cuốn "Võ Sĩ Đạo" bản mới nhất - cho các bạn đọc tiếng Anh trên thế giới. Sở dĩ nhà xuất bản yêu cầu tôi viết lời tựa cho bản mới in này, không những chỉ vì tôi quen biết tác giả đã hơn 15 năm nay, mà còn vì tôi có những mối quan hệ khăng khít với chủ đề của cuốn sách; mối quan hệ đó đã kéo dài ít nhất 45 năm qua.
Năm 1860 , tại Philadelphia (nơi vào năm 1847 tôi từng chứng kiến cảnh hạ thuỷ chiếc kỳ hạm Susquehanna của hạm đội Perry (Matthew Calbraith Perry (1794-1858): đô đốc hải quân Mỹ, năm 1853 dẫn 4 tàu chiến vào vịnhTokyo và ở lại đó chờ cho tới khi sứ thần Nhật Bản đồng ý tiếp nhận yêu cầu của Tổng thống Mỹ M.F. Fillmore đòi ký một hiệp ước lập quan hệ ngoại giao và buôn bán giữa 2 nước. Tháng 2-1854. Perry quay lại ký kết Hiệp ước này, đánh dấu bước ngoặt Nhật mở cửa với thế giới phương Tây và hiện đại hoá. ), lần đầu tiên tôi có dịp tiếp xúc với người Nhật Bản, gặp các cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Triều đình Yedo (còn viết là Edo, tức Giang Hộ, tên cũ của Tokyo. ). Ấn tượng mãnh liệt nhất mà những người nước ngoài ấy để lại trong tôi là tinh thần Võ Sĩ Đạo. Họ hoàn toàn hành xử mọi việc theo chuẩn tắc của tinh thần đó. Về sau, khi công tác ở trường đại học Rutgers tại thành phố New Brunswich bang New Jersey, tôi từng có dịp sinh hoạt với các thanh niên Nhật trong thời gian 3 năm. Tôi lên lớp dạy họ học, và coi họ như bạn bè. Một trong các chủ đề chúng tôi thường bàn bạc với nhau là Võ Sĩ Đạo và tôi phát hiện thấy nó thật duyên dáng đáng yêu. Các lưu học sinh Nhật này trong tương lai khi về nước sẽ được bổ nhiệm làm quan chức chính quyền, nhà ngoại giao, sĩ quan hải quân, nhà giáo dục và nhà ngân hàng. Tôi thấy mọi hành vi thường ngày của họ đều đượm hương thơm ngào ngạt của loại hoa thơm nhất của xứ Nhật bản xa xôi, ngay cả vào giờ phút hấp hối của những người sắp "yên giấc ngàn thu” trong nghĩa trang Willow Grove cũng vậy. Tôi không bao giờ quên cái chết của võ sĩ thiếu
niên Kusakabe. Khi anh hấp hối, có người khuyên anh cải đạo theo Ki Tô giáo, anh trả lời: "Cho dù tôi tin Chúa Jesus của các bạn đi nữa, thì tôi vẫn không thể chỉ dâng hiến cho Ngài những thứ vô giá trị của cuộc đời tôi." Cho nên, "bên bờ sông Raritan cổ xưa", trong các hoạt động thể thao và nhiều dịp đùa vui bên bàn ăn bữa tối khi chúng tôi so sánh sự khác nhau giữa Nhật Bản với nước Mỹ, và trong các buổi thảo luận về vấn đề đạo đức hoặc lý tưởng, tôi cảm thấy rất tán đồng "sự phản bác của nhà truyền giáo giấu mặt" mà bạn tôi là Charles Dudley Wamer từng có lần viết. Về một số điểm, hệ thống luân lý và lễ nghi của hai nước có khác nhau, nhưng sự khác nhau ấy không quá nhiều. 1000 năm trước, một nhà thơ Nhật khi dạo bước bên dòng suối áo ông chạm vào bụi hoa hồng và những giọt sương bám trên cây làm ướt tay áo ông; nhưng nhà thơ nói: "Vì hoa thơm ngát nên tôi không đành lòng rũ bỏ những giọt sương ấy." Quả vậy, tôi rất mừng là đã thoát ra khỏi vết xe đổ (thói quen cũ) mà nghe nói nó chỉ khác huyệt mộ ở chiều dài mà thôi. Nên chăng so sánh cuộc đời của khoa học và văn hoá? Trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, luân lý đạo đức, tôn giáo và luật hành xử, phải chăng "chỉ biết một mà không biết hai" là không đúng sao?
Năm 1870 , với tư cách là nhà giáo dục đầu tiên đến Nhật Bản để giới thiệu về phương pháp và tinh thần của hệ thống nhà trường công lập Mỹ, tôi rất phấn khởi rời Tokyo đến Fukui thuộc tỉnh Echizen. Tại đây, tôi có dịp thấy chế độ phong kiến thuần tuý đang thống trị vùng này. Tôi đã nhìn thấy thứ Võ Sĩ Đạo chính cống, khác với thứ Võ Sĩ Đạo giới thiệu ra nước ngoài như một của lạ. Trong đời sống hàng ngày, tôi hiểu rằng Võ Sĩ Đạo, với những nghi thức của nó như trà đạo (cha-no-yu), nhu thuật (Jujutu "jiu-jitsu, ) tự mổ bụng (hara-kiri), cách quỳ người trên chiếu và cúi gập người khi gặp nhau ngoài đường, cách thức đeo kiếm, lễ nghi giao tiếp, cách thăm hỏi hoà nhã, thái độ trịnh trọng khi trò chuyện, quy tắc của các động tác nghệ thuật và cư xử cũng như hành vi nghĩa hiệp bảo vệ vợ và đầy tớ gái cùng trẻ em v.v... đã hình thành tín điều và tập tục của tất cả giới thượng lưu ở thị trấn và ở tỉnh này. Tại đây, Võ Sĩ Đạo như một nhà trường của cuộc sống, nơi đào tạo các em trai em gái, dạy dỗ chúng về tư tưởng và lối sống. Tôi có sự cảm nhận thiết thân đối với tất cả những gì tiến sĩ Nitobe viết trong cuốn sách này: ông tiếp thu chúng như những di sản truyền thống, thở hít trong tinh thần Võ
Sĩ Đạo và viết về chúng một cách hấp dẫn, sinh động, với tầm mắt bao quát và sức quan sát thấu triệt. Ngày nay, chế độ phong kiến Nhật Bản không còn tồn tại nữa, tuy rằng vẫn có một số người mạnh mẽ ủng hộ nó và những người kiên trì nghiên cứu nó. Có lẽ đối với những người ấy, chế độ phong kiến Nhật Bản là một thứ hương thơm bay đi theo gió không thể lấy lại. Đối với tôi, thì nó là một gốc cây hoặc bông hoa toả sáng.
Chính là vì thế mà tôi có thể làm chứng rằng: tất cả những gì tiến sĩ Nitobe viết trong sách này, về bản chất đều hoàn toàn chân thực. Bản thân ông từng sống trong bào thai của Võ Sĩ Đạo - chế độ phong kiến, và từng thấy sự diệt vong của chế độ đó. Sự phân tích và tổng kết của ông vô cùng chân thực bình dị. Ngòi bút bậc thầy của Nitobe đã phản ánh được những nét tinh tuý của nền văn học Nhật Bản có lịch sử hàng nghìn năm, như dựng lại một bức tranh muôn màu muôn vẻ. Cho tới nay, Võ Sĩ Đạo đã trải qua lịch sử hơn nghìn năm. Tác giả sách đã nắm bắt chính xác tinh hoa của Võ Sĩ Đạo tồn tại trong hàng triệu đồng bào ông.
Trong sách này, phần phê phán của tác giả đã giúp tôi càng hiểu thêm về sức mạnh và giá trị của Võ Sĩ Đạo đối với tính cách dân tộc Nhật. Muốn hiểu người Nhật trong thế kỷ XX thì cần phải quay trở lại thời cổ xưa, tìm hiểu cái gốc rễ mà dân tộc này đã cắm sâu trong quá khứ. Ngày nay, không riêng gì người nước ngoài mà ngay cả người Nhật hiện đại cũng không nhìn thấy những dấu vết xưa kia ấy. Thế nhưng, một nhà nghiên cứu thạo suy nghĩ sẽ biết từ hiện thực ngày nay nhìn thấy kết quả nối tiếp của tinh thần đời xưa. Từ trong địa tầng hình thành thời cổ đại, Nhật Bản đã khai quật và tạo dựng nên động lực chiến tranh và hoà bình ngày nay. Tinh thần Võ Sĩ Đạo vẫn tồn tại dai dẳng trong những con người được nuôi dưỡng trên mảnh đất này. Nó như một chất thơm tan ra trong cốc nước, để lại vị thơm ngọt ngào. Tóm lại, Võ Sĩ Đạo đúng như Kinh Thánh viết, "Nếu một hạt giống bất tử thì nó vẫn là một hạt giống; nếu nó chết đi và rơi xuống đất thì nó sẽ nảy nở thành rất nhiều hạt khác."
Phải chăng tiến sĩ Nitobe đã lý tưởng hoá tinh thần Võ Sĩ Đạo? Nhưng nếu nói ngược lại, chúng ta sao có thể yêu cầu ông không lý tưởng hoá nó? Tiến sĩ tự xưng lập trường của ông là lập trường của một kẻ "bị cáo". Toàn bộ mọi giáo nghĩa, tín điều hệ thống, đều sẽ chuyển biến tuỳ theo sự thay đổi trong cách lý giải của người ta; các
chuyển biến ấy tích tụ lại sẽ tạo nên sự hài hoà. Đây là một quy luật. Võ Sĩ Đạo chưa bao giở phát triển đến cực điểm của tự thân, nó vẫn có cơ hội sống còn vô hạn cũng như khả năng tự tạo dựng. Cực điểm của Võ Sĩ Đạo nên là sự thống nhất hoàn mỹ giữa sức mạnh với cái đẹp. Khi tại nước Nhật xảy ra va chạm giữa sự chuyển động của thế giới "đi ra thế giới" (từ ngày lý thuyết của Perry và Harris bắt đầu phát huy tác dụng, chúng ta dùng từ này để khái quát sự thay đổi gấp rút xảy ra trên thế giới- (W. Griffis không ghi họ của Harris; theo chúng tôi đây có lẽ là Townsend Harris(1804-1878), Tổng Lãnh sự đấu tiên của Mỹ tại Nhật (1856 - 1861), người đã tranh thủ việc Anh và Pháp gây ra cuộc Chiến tranh Thuốc phiện lần hai với Trung Quốc để ký kết Hiệp định Thương mại Mỹ - Nhật năm 1858) với chế độ phong kiến bản địa, Võ Sĩ Đạo không còn là cái xác ướp trát thạch cao, mà là một linh hồn sống. Nó tràn đầy tinh thần nhân văn, ảnh hưởng của nó sẽ tiếp tục lan sang các nước khác. Nhật Bản từng có những bậc tiên liệt cao quý ngày nay vẫn được tôn kính và kế thừa, trong khi không bỏ mất những tinh hoa của lịch sử và của nền văn minh bản địa, đồng thời họ vẫn tiếp thu các yếu tố tốt đẹp nhất từ phương Tây đến và hoá giải nó vào nền văn hoá của mình. Như thế, nước Nhật sẽ đem lại tin mừng mới cho châu Á và cho loài người. Hơn nữa, người Nhật nắm được cơ hội hoà nhập với thế giới - "sức mạnh của ta sẽ tăng lên khi ta mở rộng dấu chân ta". Ngày nay ở phương Tây đâu đâu cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá Nhật, từ nghề làm vườn đến nghệ thuật, cách ăn ở, “dù chỉ một phút sảng khoái hay là thói quen lâu dài", đều trở nên phong phú nhờ ảnh hưởng độc đáo của người Nhật trong nghề làm vườn, hội họa và các bộ môn nghệ thuật khác. Người Nhật đang gợi ý cho chúng ta về khoa học tự nhiên, vệ sinh công cộng, thậm chí cả về mặt kinh nghiệm độc đáo cấu trúc cục diện chiến tranh và hoà bình.
Khi trình bày nội dung sách này, tác giả trước hết đóng vai bị cáo, sau đó đóng vai người biện hộ; và khi làm nhà dự báo, với tư cách là một bậc trưởng giả hiền minh từng trải nắm bắt được nhiều sự vật cũ mới, tác giả đã có sức mạnh dạy dỗ chúng ta. Tại nước Nhật, ông là người duy nhất có khả năng như vậy, ông đã kết hợp những giáo huấn của Võ Sĩ Đạo với thực tiễn, với đời sống và công việc, tay nghề và lao động trí óc, trồng cây và dạy dỗ linh hồn. Là người kế thừa tinh thần truyền thống Nhật Bản, tiến sĩ Nitobe đồng
thời còn là nhà kiến tạo thật sự nước Nhật ngày nay. Dù ở Đài Loan, mảnh đất mới thuộc về đế quốc Nhật Bản, hoặc ở Kyoto, tiến sĩ đều là học giả và nhà thực tiễn, là tấm gương trên cả hai lĩnh vực khoa học và học thuật. (Sau cuộc chiến tranh Trung-Nhật năm Giáp Ngọ 1894, Trung Quốc thua phải ký điều ước bất lợi, phải cắt Đài Loan và một số vùng đất khác của Trung Quốc cho Nhật. Sau Đại chiến hai, Đài Loan mới trở lại thuộc Trung Quốc.)
Cuốn sách nhỏ viết về Võ Sĩ Đạo này không những có tác dụng gợi mở quan trọng đối với các dân tộc Anglo-Saxon, mà còn là đóng góp độc đáo cho nhiều vấn đề lớn trong thế kỷ này, như giao lưu hoà nhập và phát triển hài hoà văn hoá Đông Tây. Loài người thời cổ từng có nền văn minh đa nguyên; ngày nay, trong xã hội hiện đại, nền văn minh nhân loại đang hướng về một loại hình chung. Cái gọi là sự khác biệt giữa văn minh phương Đông (Orient) với phương Tây (Occident) sau khi trải qua vô vàn lần bài xích và hoà nhập lẫn nhau, nay đang tiến đến sự hiểu nhau và đồng nhất. Nhật Bản đang ở giữa hai nền văn minh đó, có sự khôn ngoan và chủ nghĩa tập thể của truyền thống châu Á, đồng thời cũng có sức mạnh hành động và chủ nghĩa cá nhân của văn minh phương Tây. Nhật Bản có thể tiếp tục cống hiến cho thế giới.
Thấu hiểu lịch sử cổ kim và văn hoá các nước trên thế giới, tiến sĩ Nitobe là nhân vật quan trọng đầu tiên được chọn để hoàn thành nhiệm vụ đó. Tiến sĩ thực sự là người chấp hành và điều hòa. Với niềm tin kiên trinh của một tín đồ Ki Tô giáo (Inzo Nitobe là người Nhật đầu tiên theo đạo Quaker và du học ở Mỹ và Đức, có 5 bằng tiến sĩ), tiến sĩ Nitobe không cần dùng quá nhiều lời lẽ để giải thích thái độ của mình; trên thực tế, ông rất ít nhắc tới điều đó. Ông hiểu rằng, lịch sử nhân loại thật ra là do thần linh dẫn dắt, không có điểm nào không hợp với ý chí của Thượng Đế tối cao. Bởi vậy, là một học giả, ông không thể không tách biệt giáo lý nguyên thuỷ của tôn giáo và các kinh điển mà thần linh đã ban cho tôn giáo, với các tập quán dân tộc hoặc tất cả các thể chế giáo hội bày vẽ thêm. Trong lời tựa của mình, tiến sĩ Nitobe đã bóng gió nói rằng các nước đều có giáo lý của Cựu Ước, nhưng sự ra đời của Ki Tô giáo không phải là để phá hoại giáo lý của Cựu Ước, mà là để phát triển, hoàn thiện nó. Ki Tô giáo ở Nhật Bản cũng sẽ hoàn toàn thoát khỏi các hình thức bầy vẽ thêm và ảnh hưởng của nước ngoài, sẽ không còn là tôn giáo
của nước ngoài nữa, mà sẽ bén rễ trên mảnh đất được Võ Sĩ Đạo nuôi dưỡng, sẽ hoàn toàn Nhật Bản hoá. Dứt bỏ mọi sợi dây ràng buộc, thoát khỏi cái vỏ bọc của nước ngoài, Ki Tô giáo sẽ như một luồng khí hòa nhập vào khí chất của đất nước này.
WILIJIAM EILIOT GRIFFIS
Ithaca, tháng Năm, năm 1905
“Trên con đường nhỏ ấy,
Người kỵ sĩ muốn vượt qua đỉnh núi có biết chăng
đó là một con đường đầy khả nghi.
Khi từ cánh đồng hoang xa tít ngắm nhìn con đường ấy sẽ phát hiện thấy một đường viền rõ ràng
từ đỉnh núi xa xa cho tới đỉnh núi
Không còn ngờ vực gì nữa
Những khe núi từ đâu mà ra?
Sườn núi dài dằng dặc ấy cũng lộ ra khe nứt
Hãy để một triết lý mới ùa vào
chống đỡ những khe nứt ấy
Gieo mối hoài nghi vào lòng mọi người
Hiểu được ý nghĩa thật sự của niềm tin
Cuối cùng sẽ như vậy, ý đồ chờ đợi ánh sáng
Không cái nào không hoàn mỹ."
ROBERT BROWNING
Lời biện hộ cho giáo chủ Blougram.
(Nhà thơ người Anh (1812 - 1889), có ảnh hưởng khá lớn trên văn đàn thế ký XX, đã đột phá đề tài truyền thống, sáng tạo phương pháp độc thoại sân khấu và diễn tả tâm lý trong thơ văn.)
“Có linh hồn hùng mạnh bay lướt trên mặt nước từ thời này sang thời khác và đem lại những kích thích mạnh mẽ cho đạo đức, tình cảm và tinh thần của loài người. Ba linh hồn ấy là tự do, tôn giáo và vinh dự. "
HALLAM
Châu Âu thời Trung Thế kỷ.
(Arthur Henry Hallam (1811-1833), nhà thơ và nhà văn người Anh. chết trẻ, các tác phẩm của ông dược người cha là nhà sử học Henry Hallam biên soạn in thành sách.)
“Hiệp sĩ đạo chính tà bài thơ của cuộc đời. "
SCHLEGEL
Triết học của lịch sử.
(Frederich von Schlegel (1772-1823) : nhà văn, nhà bình luận văn hóa, nhà ngôn ngữ học người Đức, người đặt nền móng cho văn học lãng mạn Đức.)
CHƯƠNG 1 : VÕ SĨ ĐẠO LÀ MỘT HỆ THỐNG ĐẠO ĐỨC
Biểu tượng của Võ Sĩ Đạo là hoa anh đào, cả hai đều là sản phẩm của nước Nhật Bản. Nó không phải là loại tiêu bản ép khô chẳng có chút sinh khí nào được lưu giữ trong tập tiêu bản của lịch sử nước chúng tôi. Ngược lại, nó là một vật sống động kết hợp hài hoà giữa sức mạnh với vẻ đẹp tồn tại trong dân tộc Nhật Bản. Tuy ta không thể chạm vào nó, nhưng với hương thơm độc đáo, nó phát ra những màu sắc kỳ lạ quanh ta, trùm lên ta một bầu không khí đạo đức hoàn mỹ. Hình thái xã hội trong đó Võ Sĩ Đạo sinh ra và phát triển đã biến mất từ lâu; song, cũng như các vì sao xa xăm tuy đã biến đi nhưng vẫn còn toả sáng trên bầu trời, với tư cách là sản phẩm của chế độ phong kiến sau khi chế độ ấy đã chết, Võ Sĩ Đạo vẫn tồn tại như trước và giờ đây vẫn chiếu rọi trên bầu trời đạo đức của chúng tôi. Tại châu Âu, khi Hiệp Sĩ Đạo (1) - tương tự như Võ Sĩ Đạo - chết đi mà không ai luyến tiếc, một chính khách người Anh là Burke(2) từng viết những lời tống biệt xúc động được khắp nơi truyền tụng. Giờ đây tôi không khỏi cảm thấy vô cùng sung sướng khi cũng dùng cùng thứ ngôn ngữ của Burke - Anh ngữ - để trình bày các vấn đề của Võ Sĩ Đạo.
Do sự thiếu hiểu biết đáng buồn về văn minh vùng Viễn Đông, ngay cả đến tiến sĩ George Miller thông thái (tác giả sách "Lịch sử Triết học", History Philosophically Illustrated, bản in lần 3 năm 1853, tập II, trang 2) cũng đều không do dự khi tuyên bố rằng trên thực tế ở phương Đông cổ đại hoặc hiện đại đều chưa từng tồn tại những thể chế tương tự Hiệp Sĩ Đạo. Song ta hoàn toàn có thể tha thứ cho sự thiếu hiểu biết của ông. Vì khi phát hành bản in lần thứ 3 tác phẩm của vị tiến sĩ tốt bụng ấy thì viên tư lệnh của hạm đội Perry đã mở toang được cánh cửa lớn của quốc sách bế quan toả cảng Nhật Bản hồi đó đang thực thi. Trong hơn 10 năm sau đấy, chế độ phong kiến Nhật Bản sống lay lắt và tàn lụi dần. Karl Marx viết trong cuốn "Tư bản" rằng, nếu muốn nghiên cứu xã hội phong kiến thì lúc ấy(3)
chỉ ở Nhật Bản là còn có thể nhìn thấy hình thái sống động của chế độ này. Tại đây, tôi cũng muốn lưu ý các nhà nghiên cứu phương Tây rằng, về phương diện lịch sử và luân lý học, các bạn cũng có thể nghiên cứu Võ Sĩ Đạo bắt đầu từ nước Nhật Bản hiện đại.
So sánh chế độ phong kiến và Võ Sĩ Đạo của Nhật Bản với chế độ phong kiến và Hiệp Sĩ Đạo của châu Âu là một điều vô cùng lý thú(4). Song cuốn sách này không nhằm mục đích nghiên cứu sâu các vấn đề đó. Các cố gắng của tôi chẳng qua chỉ để thuyết trình về: thứ nhất, nguồn gốc ban đầu và sâu xa của Võ Sĩ Đạo Nhật Bản; thứ hai, đặc tính và các giáo huấn của Võ Sĩ Đạo Nhật Bản; thứ ba, ảnh hưởng của nó đối với dân chúng Nhật Bản; thứ tư, ảnh hưởng của Võ Sĩ Đạo được tiếp nối và thực thi ra sao. Trong mấy điểm nói trên, điểm đầu tiên sẽ được trình bày ngắn gọn, vì nếu không, tôi sẽ có nguy cơ dẫn dắt bạn đọc đi lạc đường trong các ngõ hẻm vòng vèo của lịch sử Nhật Bản. Điểm thứ 2 sẽ được bàn kỹ hơn. Xét về mặt luân lý học quốc tế và tính cách học so sánh, sự trình bày đó sẽ làm các nhà nghiên cứu hào hứng đối với phương thức tư duy và hành động của dân chúng Nhật Bản. Những điểm còn lại chỉ là hệ luận.
Danh từ tiếng Nhật Bu-shi-do (Võ Sĩ Đạo) mà tôi tạm dịch ra tiếng Anh là Chivalry tức Hiệp Sĩ Đạo ấy, trên thực tế có ý nghĩa hàm súc hơn từ Thuật Cưỡi Ngựa. Xét về nghĩa của mặt chữ, thì Võ Sĩ Đạo là con đường của người Hiệp sĩ - Quân nhân - đạo lý mà người võ sĩ phải tuân theo trong nghề nghiệp và trong đời sống hàng ngày. Nói khái quát, đó là “Lời răn của võ sĩ", cũng tức là các nghĩa vụ cao cả người võ sĩ phải làm tròn, tuỳ theo tầng lớp xã hội mà họ lệ thuộc vào. Sau khi đã hiểu rõ nghĩa từ, xin cho phép tôi, trong các phần tiếp theo được sử dụng nguyên nghĩa của Võ Sĩ Đạo. Xét từ các góc độ khác, điều này cũng sẽ giúp cho cách hành văn được tiện lợi hơn. Mô thức tư duy và tính cách khác thường có đặc trưng rõ ràng ấy lại có ảnh hưởng chính xác về địa lý, tất sẽ sản sinh nhiều đặc trưng có tính đặc dị về biểu tượng. Bởi vậy, ngay cả các chuyên gia phiên dịch giỏi nhất cũng khó có thể dùng ngôn ngữ nước ngoài để truyền đạt nổi ý nghĩa một số từ có đặc trưng dân tộc; đôi lúc khó tránh được tình trạng hiểu lầm do phiên dịch thiếu thoả đáng. Thử hỏi, ai có thể dịch được chính xác ý nghĩa của từ tiếng Đức Gemuth? Ai có thể cảm nhận được sự khác biệt tinh tế về
ngữ nghĩa cụ thể của hai từ rất giống nhau về hình thức là Gentleman trong tiếng Anh và gentilhomme trong tiếng Pháp? Võ Sĩ Đạo như trên đã nói là một loạt lời răn đạo đức mà người võ sĩ phải tuân theo hoặc nên tuân theo. Nó thuộc vào loại luật pháp bất thành văn. Thông thường, đó là một số câu cách ngôn truyền miệng, hoặc trải qua nhiều đời truyền khẩu rồi được một võ sĩ nào đó ghi lại. Nó không phải là loại bộ luật trình bày bằng văn tự mà là một thứ luật pháp khắc sâu trong lòng người. Chính vì vô ngôn vô văn tự, chỉ thể hiện qua hành động thực tế, nên Võ Sĩ Đạo mới càng có sức mạnh to lớn hơn. Nó không do đầu óc của một người nào đó sáng tạo ra, cho dù người đó giàu trí tuệ và vĩ đại thế nào đi nữa, lại càng không phải là sản phẩm của cuộc đời một người nào đó từng trải qua, dù cuộc đời ấy hiển hách thế nào; mà nó được phát triển qua cuộc sống hàng trăm năm của các võ sĩ. Địa vị của Võ Sĩ Đạo trong lịch sử đạo đức Nhật Bản gần như sánh ngang với địa vị của Hiến pháp Anh Quốc trong toàn bộ lịch sử chính trị nước Anh. Thế nhưng Võ Sĩ Đạo không có điểm nào có thể so sánh với Đại Hiến Chương(5) hoặc Chế độ Bảo đảm Nhân thân(6) của nước Anh. Đúng là hồi đầu thế kỷ XVII từng xuất hiện những thứ như Gia pháp Võ sĩ (tiếng Nhật: Buké Hatto), nhưng 13 điều lệnh của Gia pháp Võ sĩ phần lớn là các quy định cứng nhắc về hôn nhân, kết bè lập phái, xây dựng thành quách, chỉ có một chút quan hệ với các lời răn của võ sĩ. Bởi vậy trên thực tế Võ Sĩ Đạo không có thời gian và địa điểm hình thành rõ ràng. Nhưng vì nó phát triển tự giác trong chế độ phong kiến cho nên về mặt thời gian có thể coi là nó trùng hợp với thời điểm khởi thuỷ chế độ phong kiến. Đồng thời, bản thân chế độ phong kiến là do nhiều yếu tố tạo nên, bởi thế Võ Sĩ Đạo cũng kế thừa bản tính phức tạp của chế độ đó. Tại nước Anh, chế độ phong kiến và chế độ chính trị phong kiến khởi đầu từ thời đại bị người Norman chinh phục (7); cũng tương tự, chế độ phong kiến Nhật hình thành vào cuối thế kỷ XII, cùng thời với sự thống trị của Yoritomo (8). Các yếu tố của chế độ xã hội phong kiến Anh quốc đã tồn tại từ lâu trước khi William đệ nhất chinh phục nước này; cũng như vậy, mầm mống của chế độ phong kiến Nhật Bản đã bắt đầu xuất hiện từ rất lâu trước thời đại Yoritomo tôi đã nhắc tới.
Tương tự như châu Âu, sau khi chế độ phong kiến Nhật chính thức thiết lập, tầng lớp võ sĩ chuyên nghiệp tự nhiên trở nên quan
trọng. Tên gọi chính thức của họ là samurai tức "thị vệ". Xét về từ nghĩa, nó tương tự với từ tiếng Anh cổ đại cniht (knecht, knight, tức kỵ sĩ hoặc hiệp sĩ), nghĩa là kẻ hộ vệ hoặc tuỳ tòng. Về tính chất, nó giống như soldurii (dũng sĩ) từng sống trong vùng rừng núi Aquitiana (9) thời Caesar (10); hoặc theo Tacitus (11) là những comitati (vệ sĩ) đi theo các thủ lĩnh người German (12) thời đó. Khi ta nói về các thế hệ sau nữa, họ càng giống các milites medii (đấu sĩ) của châu Âu thời Trung cổ. Một tên gọi khác cũng được dùng rộng rãi là từ Hán Nhật Bu-ké (võ gia, nhà võ) hoặc Bu-shi (võ sĩ).
Võ sĩ là một tầng lớp đặc quyền; nguồn gốc ban đầu của họ là những người bẩm tính thô bạo, lấy chinh chiến làm nghề nghiệp. Trải qua bao cuộc chiến tranh liên miên, những đấu sĩ ban đầu do quả cảm và giàu tinh thần mạo hiểm mà được chiêu mộ để tham gia các cuộc chiến đó, rốt cuộc còn lại không nhiều. Những người tồn tại qua các lần đào thải ấy tất nhiên không phải là loại người nhút nhát nhu nhược. Tính cách của họ, xin tạm mượn lời của Emerson (13) để diễn tả, là một "dòng dõi thô lỗ, cường tráng, đầy sức mạnh hung bạo". Họ hình thành các gia tộc và đội ngũ samurai. Vào thời ấy, cùng với những đặc quyền to lớn và vinh dự cao quý mà tầng lớp mình được hưởng, các samurai nhận thức được việc tầng lớp võ sĩ của họ có một trách nhiệm trọng đại và cần có một chuẩn tắc hành xử chung. Vì họ lệ thuộc vào các gia tộc lãnh chúa khác nhau và các gia tộc đó thường xuyên giao chiến với nhau, cho nên việc xây dựng một chuẩn tắc hành xử như vậy lại càng cần thiết và bức xúc đối với chính các samurai. Cũng như giới y học phải dựa vào quy tắc hành y để kiềm chế sự cạnh tranh giữa các thầy thuốc, hoặc giới luật gia buộc phải tuân theo các nghi thức toà án, nếu không chính họ đều sẽ có nguy cơ bị rơi vào cảnh bị khởi tố, các samurai cũng phải cần có một thứ luật pháp như vậy nhằm ràng buộc hành vi của họ.
Trong chinh chiến, họ phải có thái độ quang minh chính đại ! Ngay trong các tộc người dã man hoặc trong lũ trẻ con cũng có các mầm mống của loại ý thức đạo đức như thế. Đây chẳng phải là cái gốc của tất cả mọi chế độ văn trị, võ trị đó sao? Chúng ta chê cười mong ước của Tom Brown (14), một đứa trẻ người Anh, tựa như bởi lẽ ta lớn rồi mà không nên có điều ước đó nữa. Nhân vật chính trong "Thuở học trò của Tom Brown" (Tom Brown's School Days) từng
muốn lưu danh muôn thưở là một kẻ không bắt nạt lũ nhóc bé hơn mình, cũng không quay lưng lại với lũ trẻ lớn.” Thế nhưng, bạn đã bao giờ nghĩ rằng, chính cái nguyện vọng đơn giản ấy lại là nền móng của cả một toà lâu đài đạo đức không? Nếu tôi nói với bạn rằng, ngay cả các tôn giáo ôn hoà nhất, hoà bình nhất cũng sẽ tán thành nguyện vọng ấy, phải chăng bạn sẽ cảm thấy tôi có gì quá lời? Điều phi thường của nước Anh vĩ đại chính là ở cái nguyện vọng nho nhỏ ấy của bé Tom. Hơn nữa, ta còn phát hiện thấy nền tảng kiến tạo nên Võ Sĩ Đạo chính là một nguyện vọng nào đó cũng vĩ đại như nguyện vọng của bé Tom. Cho dù tín đồ giáo phái Quakers (15) chứng minh đúng rằng, chiến tranh dù là tấn công, xâm lược hoặc phòng thủ, tự vệ, đều là dã man và không chính đáng cả, thì chúng ta vẫn còn có thể học tập Lessing (16) mà nói: “Chúng ta đều biết rằng dù khuyết điểm lớn đến đâu, thì mỹ đức bao giờ cũng vẫn có thể sinh ra từ chiến tranh."
[Ở đây còn ghi chú thêm: học giả Ruskin (17) là một trong những người tốt bụng và yêu hoà bình hơn ai hết, nhưng xuất phát từ nhiệt tình với cuộc sống và nhu cầu phấn đấu, ông vẫn vững tin vào giá trị của chiến tranh. Trong tác phẩm "Vương miện trên cây ô-liu dại" (Crown of Wild Olive) ông viết: "Khi nói chiến tranh là cơ sở của mọi nghệ thuật, tôi cũng muốn nói rằng nó cũng là cơ sở của mọi đạo đức cao quý và tài năng của loài người. Đối với tôi sự phát hiện ra điều ấy quả là kỳ quặc và đáng sợ. Nhưng đó là một sự thật không thể phản bác... Nói gọn lại, tôi phát hiện thấy các dân tộc vĩ đại đều qua chiến tranh mà học được chân lý của ngôn từ và sức mạnh của tư duy. Họ được nuôi dưỡng trong chiến tranh, nhưng lại bị hao mòn trong hoà bình; được chiến tranh dạy dỗ rồi lại bị hoà bình lừa gạt; họ được chiến tranh tôi luyện rồi bị hoà bình phản bội; tóm lại, họ sinh ra trong chiến tranh và bị tiêu tan trong hoà bình."]
(Theo chúng tôi, có lẽ chỗ này bản tiếng Anh in nhầm, vì J. Ruskin có tác phẩm The Grown of Wild Olive (Sự lớn lên của cây ô liu dại) chứ không có tác phẩm Crown of Wild Olive.)
Những từ ngữ như "ti tiện" và "hèn nhát" là lời phỉ báng xấu xa nhất đối với các võ sĩ tính cách chân chính và có cái tâm kiện toàn. Các trẻ em bắt đầu cuộc đời chúng từ quan niệm ấy, và các võ sĩ cũng vậy. Nhưng đồng thời với cuộc sống ngày càng mở rộng và các mối quan hệ trở nên đa nguyên hoá, những niềm tin ban đầu đã
không đủ để nâng đỡ sự phát triển về sau, cần có những quyền uy cao hơn và các nguồn lực hợp lý hơn để chấp thuận các niềm tin đó. Nếu chỉ thích nghi với quy luật chiến tranh mà không có sự nâng đỡ về mặt đạo đức ở mức cao hơn, thì lý tưởng của giới võ sĩ sẽ bị suy sụp, Võ Sĩ Đạo sẽ không thể phong phú muôn màu muôn vẻ. Tại châu Âu, Ki Tô giáo không những tạo dựng được một thoả hiệp về giáo lý thích hợp với Hiệp Sĩ Đạo, mà còn truyền vào nó những dữ kiện của linh hồn. Nhà thơ Pháp Lamartin (18) từng nói: "Tôn giáo, chiến tranh và vinh quang là 3 linh hồn của một hiệp sĩ Ki Tô giáo hoàn hảo." Võ Sĩ Đạo ở Nhật Bản cũng có những nguồn gốc như vậy.
CHƯƠNG 2 : NGUỒN GỐC CỦA VÕ SĨ ĐẠO
Phật giáo là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự ra đời Võ Sĩ Đạo. Tâm trạng bình thản yên tĩnh đối với số phận, lặng lẽ phục tùng những gì tất phải đến, không sợ hãi khi gặp hiểm nguy, coi thường tính mạng và thân thiện với cái chết - tất cả đều là những điều Phật giáo gợi ý và ban phát cho Võ Sĩ Đạo. Khi một võ sư kiếm thuật nổi tiếng truyền cho các môn đệ những tuyệt chiêu của mình, ông dạy: "Ngoài những đường kiếm ta đã truyền, các ngươi phải học Zen." Trong tiếng Nhật, Zen ("Thiền") được dịch từ phạn ngữ Dhyâna, nghĩa là "sự gợi mở nhận được khi qua thiền định mà tiến hành suy ngẫm tại nơi vượt ra bên ngoài phạm vi biểu đạt bằng ngôn ngữ” (Lafcadio Hearn (19), "Từ ngoại lai và sự nhìn lại quá khứ”, Exotics and Retrospectives, trang 84). Suy ngẫm là phương thức của Thiền; theo tôi hiểu, mục đích suy ngẫm là để đạt tới chân lý ở phía sau mọi hiện tượng, và tiến gần một cách vô hạn tới cái Tuyệt Đối, hài hoà nhất trí với Tuyệt Đối. Khi định nghĩa như vậy về Thiền trong Võ Sĩ Đạo thì các lời răn nói trên đã không còn là một cảm xúc tôn giáo nữa, mà trở thành một thứ đạo để người ta tu hành; bất cứ ai cũng đều có thể thông qua nó để thấu hiểu cái Tuyệt Đối, để siêu thoát thế sự, đạt tới sự đốn ngộ triệt để, "tiến vào một bầu trời mới và vùng đất mới."
Ngoài Phật giáo ra thì nguồn gốc thứ hai của Võ Sĩ Đạo là Shinto (20); nó bổ sung các lời răn mà Phật giáo không có. Trước hết, Thần đạo yêu cầu phải trung thành khắc cốt ghi xương với thần linh (tức chúa phong kiến, quân chủ), sự tôn kính tổ tiên và hiếu thuận với cha mẹ đều là các biến thái của lòng trung này, qua đó làm cho Võ Sĩ Đạo vượt xa khỏi phạm trù tôn giáo. Tóm lại, các bẩm tính của sự trung thành ấy đem lại đặc trưng phục tùng cho tính cách ngạo mạn của các samurai. Trong loại Thần đạo này không có thứ giáo lý “nguyên tội"(21) . Ngược lại, nó tin rằng con người vốn lương thiện, cũng thuần khiết như chính các thần linh; con người được nâng lên
tới vị trí thiêng liêng như nơi trú ngụ của các thần linh. Ai từng đến thăm các miếu thờ Thần đạo đều thấy trong miếu không có tượng thần thánh và đạo cụ, chỉ có một tấm gương treo ở gian trong, ngoài ra chẳng có gì hết. Hàm nghĩa tồn tại của tấm gương này khá rõ ràng, nó biểu thị khi tâm hồn thuần khiết trong sạch thì hình ảnh của thần linh sẽ được hiện lên trong tấm gương. Bởi vậy, khi làm lễ trước thần linh, người ta chỉ nhìn thấy hình ảnh của mình trong gương. Cách hành lễ như thế tương đương với lễ Delphi (22) thời xưa: hãy nhận biết chính bản thân mình! Có điều, "nhận biết bản thân" dù là trong tín ngưỡng Hy Lạp hoặc Nhật Bản, cái nhận biết được không phải là các hiểu biết về thân xác và tâm-sinh lý, mà là cái đạo đức trong thâm tâm. Mommsen từng so sánh thú vị về nghi thức tôn giáo của người Hy Lạp và người La Mã: khi hành lễ, người Hy Lạp nhìn lên Trời, còn người La Mã che mặt bằng một tấm vải; nghĩa là người Hy Lạp chăm chú nhìn lên thần linh, còn người La Mã thì tự kiểm điểm chính mình. Sự phản tỉnh của người Nhật Bản có cùng tính chất như người La Mã; hơn thế, ý nghĩa của nó không chỉ dừng lại ở sự hoàn thiện đạo đức cá nhân mà là ở ý thức tập thể của toàn dân tộc. Phương thức thờ cúng của Thần đạo khiến cho đối tượng sùng bái của người võ sĩ là lãnh thổ và chủ quyền của nước Nhật Bản; họ sùng bái tổ tiên trên tất cả các phổ hệ, cách sùng bái ấy khiến hoàng gia Nhật Hoàng trở thành tổ tiên xa xưa nhất (23) của toàn thể dân chúng Nhật Bản. Cho nên với chúng tôi lãnh thổ đất nước không có nghĩa là mảnh đất để trồng trọt hoặc để khai thác lấy được vàng bạc châu báu, mà là nơi ở thiêng liêng của các vị thần linh, là tinh thần của tổ tiên chúng tôi. Người Nhật Bản coi Thiên Hoàng không chỉ có ý nghĩa là Rechtsstaat (nguyên thủ chính trị cai trị đất nước) hoặc Culturstaat (người bảo vệ văn hoá của quốc gia văn minh) - mà hơn thế nữa, còn là đại biểu ở dưới đất của ông Trời, gieo rắc lòng nhân ái cho nhân gian, thi hành quyền lực của Trời. Nếu M. Boutmy tác giả cuốn "Người Anh" (The English People, trang 188) là đúng khi ông nói Hoàng gia Anh quốc không những chỉ là hình ảnh của quyền lực, mà là tác giả và biểu tượng của sự thống nhất dân tộc" - thế thì tôi tin rằng, ấn tượng về sự thiêng liêng của Hoàng gia tại Nhật Bản lại càng nên nhấn mạnh gấp đôi gấp ba.
Thần đạo mang lại cho người võ sĩ hai đặc tính vượt trội trong đời sống tình cảm của dân tộc chúng tôi - đó là tình yêu nước và lòng trung thành với đất nước. Arthur May Knapp rất đúng khi nói: “Trong văn học Hebrew (24), thường là rất khó phân biệt chỗ nào tác giả nói về Thượng Đế hay là về đất nước, nói về Trời hay là về Jerusalem; nói về Chúa Cứu thế Messiah hay là về quốc dân.” (xem: "Chế độ phong kiến và nước Nhật Bản hiện đại". Feudal and Modern Japan, tập 1 trang 183). Sự lẫn lộn nhập nhằng tương tự cũng xuất hiện trong tên gọi các đức tin của dân tộc chúng tôi. Tôi nói nhập nhằng, vì những người trọng logic cảm thấy bối rối trước sự mơ hồ của từ ngữ. Là bộ khung của bản năng và của tình cảm dân tộc, Thần đạo không bao giờ giả trang thành một thứ triết học có hệ thống hoặc thần học hợp lý. Loại tín ngưỡng này - dù là có tính tôn giáo hay bản thân nó là hoá thân của tình cảm dân tộc - đã truyền cho Võ Sĩ Đạo một tình cảm trung quân ái quốc tương đối triệt để. Việc chăm sóc tình cảm đó không phải là sự răn dạy giáo lý, mà là sự nhận biết- cảm tính. Vì, khác với Nhà thờ Ki Tô giáo thời Trung cổ, Thần đạo Nhật Bản không dùng bất cứ kinh sách nào để dạy dỗ tín ngưỡng thiêng liêng cho các tín đồ của mình, mà cung cấp ngay cho họ một quy chế hành xử thẳng thắn, đơn giản.
Nói đến quy chế đạo đức nghiêm ngặt, thì học thuyết của Khổng Tử (25) là nguồn đạo đức phong phú nhất của Võ Sĩ Đạo. Những lời dạy về 5 mối quan hệ luân lý vua-tôi (quân thần), cha-con, chồng vợ, anh- em, bạn bè với nhau, mà người Trung Quốc gọi là Ngũ Luân, thì Nhật Bản đã có kiểu trật tự tự phát như thế ngay từ trước khi các bộ sách kinh điển của Nho giáo truyền vào nước chúng tôi. Nhưng học thuyết của Khổng Tử đã có tác dụng cố định và thể chế hoá trật tự ấy. Về chính trị, Khổng Tử đề xướng cách ứng xử nhân ái, bình tĩnh và có lý trí. Những tư tưởng và ngôn luận bảo thủ, quý tộc hoá ấy đều rất thích hợp với tầng lớp võ sĩ Nhật Bản thời bấy giờ. Với tư cách là kẻ thực hành cai trị nước Nhật, giới võ sĩ tìm được từ các kinh sách của Trung Quốc những phẩm chất họ muốn có. Sau Khổng Tử, học thuyết của Mạnh Tử (26) cũng có ảnh hưởng lớn đối với Võ Sĩ Đạo. So Với Khổng giáo thì học thuyết của Mạnh Tử bình dân hơn, giàu lòng đồng tình. Tuy dễ được rất nhiều người bản tính nhân ái tiếp thu, nhưng tư tưởng Mạnh Tử lại bị cho là phản nghịch đối với trật tự xã hội hiện hành. Trong một thời gian
dài, sách của Mạnh Tử bị cấm ở Nhật, song điều đó không ngăn cản các võ sĩ hiếu học vẫn tiếp thu tư tưởng Mạnh Tử và dùng nó làm chuẩn mực xử thế.
Các trước tác Khổng Mạnh trở thành sách vỡ lòng của thanh thiếu niên Nhật, và là chỗ dựa để người lớn bàn thảo mọi vấn đề. Nhưng chỉ tinh thông các kinh điển ấy của Nho giáo thôi thì chưa thể được mọi người kính trọng. Các nhà hủ Nho đọc đầy một bụng kinh sách mà không tiêu hoá nổi, bị người đời chê cười là "đọc mà không hiểu”. Một võ sĩ nổi tiếng gọi họ là những con "mọt sách". Một võ sĩ khác ví học vấn là thứ thức ăn đã bốc mùi thiu. Ông nói, học vấn khác nào một món ăn đã thiu, cần phải đun lại trước khi ăn. Đọc càng lắm sách thì mùi thiu thối càng nặng. Đọc ít sách thì mùi thối sẽ bớt. Sở dĩ các võ sĩ có lối cao đàm khoát luận như thế là do trong lòng họ chỉ có một học vấn duy nhất là học vấn về cách xử thế, tức cách tu thân, biến tri thức thành tâm hồn chứa đựng tràn trề trong cái hình hài võ sĩ. Nếu không, tuy lắm kiến thức mà không biến nó thành hành động, thì chẳng khác gì một cỗ máy không có chút sức quyến rũ nào. Tri thức của người võ sĩ sẽ biến thành phẩm chất, khí tiết, chứa đựng khí thiêng của vũ trụ. Bởi vậy, Võ Sĩ Đạo không chấp nhận một số tri thức, như quan điểm của Huxley (27) về Thuyết Tiến hoá, nó chẳng liên quan gì đến việc tu thân mà chỉ là sự chứng minh máy móc về vũ trụ không phải là tri thức trong lòng người võ sĩ.
Võ Sĩ Đạo coi thường các hiểu biết thuần tuý về mặt học thức. Trong con mắt các võ sĩ, tri thức nên là biện pháp để có được trí tuệ, họ không tìm hiểu tri thức chỉ vì để nắm bắt được nó. Những người có học vấn suông bị các võ sĩ coi là một thứ máy đọc biết ngâm vài câu thơ theo yêu cầu của người khác. Bởi thế câu nói của Socrates (28) "Tri thức phải chỉ đạo hành động thực tế của con người" trở thành thước đo hành động của võ sĩ. Triết gia Trung Quốc Vương Dương Minh (29), người từng trình bày chính xác học thuyết ấy của Socrates, cũng nhiều lần nhắc lại tính chất quan trọng của "Tri Hành hợp nhất" (biết thế nào thì làm thế ấy).
Trong khi đang nói về đề tài này, tôi xin phép ra ngoài đề một chút, bởi lẽ một số loại võ sĩ nổi tiếng từng chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi học thuyết của Vương Dương Minh. Bạn đọc phương Tây dễ dàng nhận thấy là trong các tác phẩm của Vương Dương Minh có nhiều chỗ tương đồng với Tân Ước. Khi xem xét các từ ngữ đặc
trưng cho một học thuyết nào đó, thì đoạn văn “Trước hết hãy tìm vương quốc của Chúa và lẽ công bằng của Người, và tất cả những thứ đó sẽ được cộng vào cho mi", đã chuyển tải một tư tưởng có thê tìm thấy trong hầu hết các trang sách của Vương Dương Minh. Một môn đệ người Nhật của Vương là Miwa Shissai nói: "Vị chúa tể của Trời, Đất và của mọi chúng sinh thì ở ngay trong trái tim con người, trở thành trí óc (tiếng Nhật: Kokoro) của nó; do đó trí óc là một sinh thể và mãi mãi toả sáng", và lại nữa, "ánh sáng tâm linh của sự hiện hữu căn bản của chúng ta là thuần khiết và không chịu ảnh hưởng của ý chí con người tự phát bật ra trong trí óc chúng ta, nó cho thấy cái gì là đúng, cái gì là sai, sau đó nó được gọi là ý thức, thậm chí nó là ánh sáng tiếp nối từ Chúa Trời." Những từ ngữ đó nghe giống biết bao với những đoạn trích từ Isaac Pennington hoặc những huyền học triết lý khác! Tôi thiên về ý nghĩ rằng, trí óc Nhật Bản, như được diễn đạt trong những giáo điều giản dị của Thần đạo (Shinto), thì đặc biệt cởi mở tiếp nhận các giáo huấn của Vương Dương Minh. Ông đã đưa học thuyết không gì phá vỡ nổi của ông về ý thức tới thuyết siêu nghiệm cực đoan, gán cho nó khả năng cảm nhận không chỉ sự khác biệt giữa đúng và sai, mà cả bản chất của những sự kiện tâm lý và các hiện tượng vật lý. Ông đã đi khá xa như, nếu không muốn nói là xa hơn Berkeley và Fichte trong chủ nghĩa duy tâm, khi phủ định sự tồn tại tất cả những gì ở ngoài phạm vi hiểu biết của con người. Nếu hệ thống của ông có tất cả mọi sai lầm logic của thuyết duy ngã, thì nó lại có mọi hiệu quả của một đức tin mạnh mẽ và sự nhập khẩu đạo đức của nó trong sự phát triển tính cá thể của nhân cách và sự điềm tĩnh của tâm trạng là không thể phủ nhận được.
Vì thế, cho dù bất cứ nguồn gốc nào, các nguyên tắc cốt yếu của Võ Sĩ Đạo hấp thụ từ nguồn gốc đó và tự tiêu hoá, đều là ít và đơn giản. Chúng ít và đơn giản, vừa đủ để trang bị một lời chỉ dẫn an toàn cho cuộc đời như nhau qua những ngày rối ren của thời kỳ không ổn định nhất trong lịch sử Nhật Bản. Với bản chất thuần phác, các tổ tiên dũng cảm của chúng tôi kiếm được cho mình đầy đủ các món ăn tinh thần phong phú từ một bó lúa nơi công cộng và từ các học thuyết chắp vá nhặt mót được trên những con đường cái và đường tắt của tư duy cổ đại rồi được kích thích bởi các yêu cầu của thời đại, hình thành một dạng tính khí nam nhi cương nghị mới
và độc đáo từ những bó lúa mót được ấy. Một người Pháp uyên bác sắc sảo là ông De la Mazelière đã tóm tắt ấn tượng của ông về thế kỷ XVI như sau: "Trong khoảng giữa thế kỷ XVI, tại Nhật Bản đã diễn ra sự lộn xộn trong chính quyền, xã hội và giáo hội. Trong các cuộc nội chiến, mọi tập quán đã quay trở lại thời kỳ dã man, nhu cầu mỗi người tự thực thi sự công bằng - do đó đã hình thành những con người có thể so sánh với người Ý của thế kỷ XVI, từng được Taine (30) ca ngợi là sự khởi đầu mạnh mẽ, thói quen giải quyết vấn đề một cách đột ngột và liều mạng, khả năng to lớn hành sự và chịu đựng. Tại Nhật cũng như tại Ý, các thói quen thô lỗ của thời Trung cổ làm cho con người trở thành loài động vật tuyệt vời hoàn toàn hiếu chiến và hoàn toàn kháng cự. Và đó là lý do tại sao thế kỷ XVI thể hiện ở mức cao nhất những phẩm chất chủ yếu của chủng tộc Nhật Bản. Sự thay đổi lớn đó được phát hiện thấy giữa tư duy cũng như giữa các khí chất. Trong khi tại Ấn Độ và ngay cả tại Trung Quốc, người ta khác nhau chủ yếu ở mức độ nghị lực hoặc trí thức, thì tại Nhật Bản, người ta khác nhau bởi tính cách ban đầu. Giờ đây, cá tính là dấu hiệu của các chủng tộc cao hơn và của nền văn minh phát triển. Nếu sử dụng cách diễn đạt quen thuộc của Nietzsche (31), ta có thể nói rằng ở châu Á, khi nói về nhân loại là nói về các vùng đồng bằng; còn tại Nhật Bản và châu Âu, điều đó thể hiện tất cả qua các ngọn núi."
Để thấm nhuần các đặc tính của những người được ông Dễ la Mazelière mô tả ở trên, chúng ta hãy bắt đầu với yếu tố Nghĩa.
CHƯƠNG 3 : YẾU TỐ CỐT LÕI CỦA VÕ SĨ ĐẠO - NGHĨA
Nghĩa là yếu tố quan trọng nhất trong nội dung của Võ Sĩ Đạo. Hành vi ti tiện và gian trá là điều bị người võ sĩ ghét nhất. Nhưng có lẽ đôi lúc cái định nghĩa về Nghĩa sẽ nhầm lẫn vì bị hiểu một cách hẹp hòi. Một võ sĩ nổi tiếng từng định nghĩa Nghĩa là quyết tâm,
ông nói: "Nghĩa khác với Dũng. Nghĩa tức là quyết tâm, đã hiểu đạo lý thì phải hành động, ngoan cường bất khuất; khi cần chết thì tất phải dám chết; khi cần chinh chiến thì tất phải dám chinh chiến." Một võ sĩ khác trình bày khái niệm Nghĩa như sau: "Nghĩa là
cốt cách của con người, nó nâng đỡ toàn thân; nếu không có nó thì người sẽ không thể nào đứng được, hành động được, thậm chí không thể thành người. Bởi vậy không có Nghĩa, thì dù có tài năng, học thức vẫn chưa đủ để lập thân. Khi đã có Nghĩa, thì dù mắc các tật như thô tục, vô lễ, người đó vẫn đủ tư cách để được gọi là võ sĩ." Mạnh Tử của Trung Quốc cũng từng nói rằng, "Nhân, là lòng người vậy; Nghĩa, là con đường lớn của người vậy." (Nguyên văn chữ Hán: "Nhân, nhân tâm dã. Nghĩa, nhân lộ dã." Câu này lấy từ "Mạnh Tử - Cáo Tử, thượng". Toàn bộ các trích dẫn lời Khổng Tử, Mạnh Tử trong sách này, chúng tôi đều lấy từ sách "Tứ Thư Ngũ Kinh - Hiện đại bản" của Trương Chấn Đức chủ biên, NXB Ba Thục, Trung Quốc, xuất bản năm 1996 - Chú thích của người dịch bản tiếng Việt). Ông từng cảm thán: "Điều đáng buồn của người ta là bỏ mất con đường ngay thẳng Nghĩa, bỏ mất chân tâm của mình. Nếu nhà ai bị mất con gà con chó thì còn biết đi tìm chúng về; nhưng nếu đã mất chân tâm thì chẳng biết tìm nó về nữa !..." (“Xá kỳ lộ nhi phất do, phóng kỳ tâm nhi bất tri cầu, ai tai ! Nhân hữu kê khuyển phóng, tắc tri cầu chi; hữu phóng tâm nhi bất tri cầu” Câu này lấy từ "Mạnh Tử - Cáo Tử, thượng"). Tựa như nhìn thấy ánh sáng yếu ớt từ một tấm gương mờ, qua câu nói trên, ta có thể phảng phất nhìn thấy hình bóng tư tưởng của Jesus vĩ đại xuất hiện sau Mạnh Tử 300 năm. Jesus cũng từng có câu ví “Con đường chính nghĩa mà chúng ta để
.mất". Có lẽ có bạn cho rằng ở đây sự trình bày của tôi đã đi chệch chủ đề. Tóm lại, theo quan điểm của Mạnh Tử, Nghĩa là con đường thẳng nhưng hẹp mà con người tất phải bước lên nhằm để giành lại thế giới đại đồng đã bị bỏ mất.
Vào thời kỳ cuối của chế độ phong kiến, do xã hội Nhật Bản trải qua một thời gian dài được hưởng hoà bình, cuộc sống ca hát nhảy múa đã làm cho giới võ sĩ quen với sự nhàn hạ và tiêu khiển, họ trở nên tinh thông các ngón nghề vui chơi, và ham mê giải trí tiêu khiển. Thế nhưng ngay cả khi ấy, Nghĩa Sĩ (tiếng Nhật: Gishi) vẫn là danh hiệu cao quý nhất được tặng cho các bậc thầy về học vấn hoặc nghệ thuật. Trong thực tế, theo quan niệm của người Nhật Bản, Nghĩa quan trọng hơn hết thảy các thứ như học vấn, nghệ thuật v.v... Câu chuyện "47 Gishi” được lưu truyền lâu dài trong dân gian; sự tích của 47 vị trung thần này luôn luôn được nhắc đến trong giáo dục quốc dân ở Nhật Bản.
Trong thời đại phong kiến, các kiểu ứng xử thịnh hành như mưu mô thủ đoạn, quyền biến, xảo trá thường được coi là sách lược xử thế. Nhưng chính vào thời này, đã ra đời phẩm chất Nghĩa cương trực, thẳng thắn. Đó là phẩm chất của người đàn ông chân chính, nó toả sáng vô hạn, được người đời mãi mãi ca ngợi, hướng tới. Nghĩa và Dũng đều là đức của người võ sĩ, tương tự một cặp anh em sinh đôi. Ở đây, ta tạm thời chưa bàn tới Dũng mà chỉ nói về cái trong tiếng Nhật Bản gọi là Giri - "Đạo Hành Nghĩa". Lẽ tự nhiên, "Đạo Hành Nghĩa" sinh ra từ chữ Nghĩa, song vì câu nói này được dùng lâu ngày trong xã hội nên nó dần dần đi chệch hàm nghĩa ban đầu, bị người ta hiểu sai dùng bậy. Xét về mặt chữ, thì "Đạo Hành Nghĩa" dĩ nhiên là nói nên làm việc Nghĩa như thế nào. Song, cùng với thời gian, dư luận xã hội đã mô thức hoá câu nói này, khiến cho cái gọi là "đạo" ở đây trở nên dung tục và vẩn đục. Trên thực tế, hàm nghĩa ban đầu của “đạo” chính là nói về một thứ nghĩa vụ tương đối đơn thuần - chẳng hạn, chúng ta đều có nghĩa vụ đối với cha mẹ, với người trên, đối với trẻ em, với xã hội. “Đạo Hành Nghĩa" trước tiên là nói về sự thi hành các nghĩa vụ đó. Trong trường hợp này, "Đạo Hành Nghĩa" tức là thi hành nghĩa vụ. Ở đây, nghĩa vụ tức là yêu cầu của chức trách; ta phải làm một việc nào đó do yêu cầu của quy ước đạo đức trong xã hội, chứ không phải vì lý do nào khác. Chẳng
phải thế sao? Lẽ nào lý do chính đáng (chính nghĩa) mà xã hội đã quy ước lại không phải là mệnh lệnh duy nhất đối với ta hay sao? Nguyên ý của "Đạo Hành Nghĩa" chẳng qua là thực hành nghĩa vụ, nhưng theo tôi, sự xuất hiện chữ “Đạo”, là do những thực tế sau đây. Hành vi của chúng ta, chẳng hạn hành vi "Hiếu” có động cơ là tình yêu. Thế nhưng, trường hợp thiếu tình yêu thì nên thế nào đây? Thì phải có một uy quyền nào đó bảo đảm thực thi sự hiếu thảo. Thế là người ta nhấn mạnh sự "Hành Nghĩa". Đây là một lý do vô cùng chính đáng: nếu lực của tình yêu chưa đủ mạnh, nếu thiếu tình yêu thương, thế thì người ta nhất định phải dùng lý trí để giải quyết. Cũng tức là nói, cái gọi là "Hành Nghĩa" yêu cầu người ta phải dựa vào lý trí để hành động, dựa theo quy ước đạo đức đã xây dựng nên để ràng buộc hành vi của mình. Đạo Hiếu là như vậy; các nghĩa vụ đạo đức khác cũng đều thế cả. Hiểu "Hành Nghĩa” theo cách đó thì sẽ có thể hiểu nó là một kẻ giám sát nghiêm ngặt, một khi tình cảm lơi lỏng thì lý trí sẽ lập tức tràn vào, tay cầm roi đôn đốc ta kiềm chế ham muốn của bản thân, làm đúng với lễ ("khắc kỷ phục lễ”). Nghĩa vụ là thứ không thể trốn tránh được, "Đạo Hành Nghĩa" bảo đảm thực thi điều đó. Trong thực tế, với ý nghĩa chân chính của đạo đức, "Hành Nghĩa" chẳng qua chỉ chiếm vị trí công hiệu thứ hai mà thôi; động cơ đầu tiên của chúng ta nên là tình yêu. Về điểm này, sự dạy bảo của "Hành Nghĩa" không thể so được với lời dạy của Chúa Jesus - dạy bảo lấy tình yêu. làm luật pháp. Bởi vậy, theo quan điểm của tôi, "Hành Nghĩa" chẳng qua là thứ sản phẩm của sự ràng buộc xã hội - một xã hội trong đó ngẫu nhiên có sự khác biệt giai cấp, ngoài ra còn có sự bênh vực không liên quan tới thực lực của kẻ được bênh vực. Xã hội lấy gia đình (gia tộc) làm đơn vị, cho nên người lớn tuổi thì được tôn trọng hơn người có tài năng. Tình yêu tự nhiên thường hay bị các thế lực xã hội bóp méo. Chính vì Nghĩa trở thành hành vi bị sức người quy ước, nên “Đạo Hành Nghĩa" cũng dần dần suy đồi, trở thành một chuỗi các hành vi không thể nào không tự mâu thuẫn. Chẳng hạn, tại sao khi cần thiết, bà mẹ có thể hy sinh tất cả các con của mình chỉ để cứu lấy một đứa con trưởng? Tại sao vì để kiếm tiền cung phụng ông bố ăn chơi phóng đãng mà cô con gái lại có thể bán trinh tiết của mình cho kẻ khác? Và các thí dụ khác nữa. Khi nêu ra những vấn đề đó thì tính chất hợp lý của cái gọi là "Hành Nghĩa" trở nên bị vẩn đục. Theo quan điểm của tôi,
"Hành Nghĩa" tuy xuất phát từ Nghĩa, nhưng thông thường lại hay trở nên khúc mắc bởi những nghịch lý trái đạo đức khó nhận ra. Thậm chí vì nguyên nhân này mà "Hành Nghĩa" trở nên nhu nhược, sợ bị trách cứ. Scott (32) từng hình dung như sau về lòng yêu nước: "Nó đẹp nhất, nhưng đồng thời cũng đáng nghi ngờ nhất; nó là cái mặt nạ của nhiều tình cảm ti tiện”. Tôi cho rằng có thể dùng câu nói đó để hình dung "Hành Nghĩa". Khi mức độ của "Hành Nghĩa" (Giri) vượt quá phạm vi chính nghĩa thì nó trở thành nơi quy tụ các lời che đậy lẩn tránh. Bên trong cái mặt nạ ấy ẩn giấu các kiểu ngụy thiện và ngụy biện. Bởi vậy, khi thực thi Võ Sĩ Đạo mà không gắn liền với lòng dũng cảm chân chính, không có dũng khí nhạy bén và chính trực, không có tinh thần dám làm dám chịu, kiên trinh bất khuất, thì Nghĩa sẽ
trở thành nơi tụ họp lời ngụy biện của những kẻ hèn nhát.
CHƯƠNG 4 : DŨNG – TINH THẦN DÁM LÀM DÁM CHỊU
Dũng chỉ có giá trị ở trường hợp khi thấy Nghĩa mà có hành vi Dũng. Trong Luận
Ngữ, Khổng Tử định nghĩa Dũng từ phía phản diện - đây cũng là phương pháp bàn luận ông thường dùng khi tránh né vấn đề - định nghĩa của ông như sau: “Thấy việc chính nghĩa mà không hành động là vô Dũng vậy." (kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã - câu này lấy từ sách Luận Ngữ). Giả dụ chuyển định nghĩa này thành cách nói chính diện, thì “Dũng là hành động khi thấy Nghĩa." Dám xông pha nơi hiểm nguy, liều mạng xả thân, khảng khái đi tới chỗ chết - những phẩm chất đó thường gọi là Dũng. Nhưng những người lấy đấu dũng làm nghề nghiệp thì không đáng được ca ngợi là "có tinh thần Dũng". Shakespeare (33) gọi kiểu Dũng không có giá trị tinh thần ấy là "Con riêng của lòng dũng cảm". Võ Sĩ Đạo gọi một cách khinh miệt kiểu chết vì một việc không đáng chết là "cái chết của con chó". Plato (34) định nghĩa về Dũng như sau: “Biết phán đoán chính xác sự vật đáng sợ hãi và không nên sợ hãi." Hoàng tử Mito tuy chưa từng biết đại danh của Plato, nhưng định nghĩa của ông về Dũng lại giống như định nghĩa của nhà hiền triết Hy Lạp ấy. Mito nói: "Chết trên sa trường không khó, thậm chí kẻ hèn mọn cũng có thể làm được. Biết sống khi đáng sống, biết khẳng khái chết khi đáng chết thì mới đáng gọi là dũng sĩ chân chính." Nghĩa là, trong định nghĩa của phương Tây có cái Dũng với ý nghĩa đạo đức, và cái Dũng về thể xác; còn ở Nhật Bản, từ rất lâu về trước, người ta đã biết tách bạch rạch ròi sự khác biệt đó. Mỗi một võ sĩ ngay từ thuở niên thiếu đã am hiểu sâu sắc sự khác nhau giữa "Đại Dũng" với "cái Dũng của kẻ thất phu (35)".
Trong nền giáo dục ở Nhật Bản, phẩm chất cương nghị bất khuất, dũng cảm, bình tĩnh được các thiếu niên tiếp thu từ rất sớm; họ dần dần có được khí chất đó qua thực tiễn và rèn rũa. Ai có đức tính ấy thì được khích lệ, được nhiều người tán thưởng. Ngay từ khi
còn được mẹ bế ẵm, các em nhỏ đã được nghe kể nhiều lần về những chuyện chiến chinh. Nếu đứa trẻ khóc vì những nỗi đau nhỏ nhặt nào đấy, thì bà mẹ sẽ mắng nó: “Đồ hèn nhát, mới đau một tí mà đã khóc ! Nếu khi ra chiến trường mà con bị chém đứt cánh tay thì sao? Giả dụ phụng mệnh phải hara-kiri (tự mổ bụng mình), con có dám làm hay không?" Trong vở ca vũ kịch "Tiên đài thu”, chú bé hoàng tử Sendai ngây thơ đã có phẩm chất nhẫn nại chịu đựng: "Sendai rất thích thú khi thấy cảnh chim mẹ mang thức ăn mớm cho chim con trong lồng ăn, lũ chim con há những cái mỏ xinh xinh nuốt thức ăn mẹ chúng mớm cho; nhưng chú bé hiểu rằng mình là con nhà võ sĩ thì phải biết nhịn đói nhịn khát." Trong các truyện đồng thoại ở Nhật Bản có vô số những câu chuyện về lòng kiên nhẫn và dũng cảm. Song việc rèn rũa phẩm chất Dũng cho trẻ em không chỉ dựa vào kể chuyện. Trong hành động, rất nhiều bậc cha mẹ rèn luyện lòng can đảm cho con cái bằng các phương pháp xem ra khá là khắc nghiệt. Họ cho rằng, sư tử dám quẳng lũ con của chúng xuống vực sâu, thì người võ sĩ cũng nên đặt con mình vào hoàn cảnh gian nan hiểm nguy, có vậy chúng mới đủ nghị lực hoàn thành được công việc lao dịch cực khổ như Sisyphus (36). Họ cố ý cho trẻ chịu đói chịu rét để chúng quen với sự rèn luyện gian khổ và chịu đựng. Họ buộc đứa trẻ khi còn bé tí đã phải một mình đi tới một gia đình hoàn toàn không quen biết. Hoặc vào sáng sớm mùa rét, họ gọi chúng ra khỏi giường ngủ, bắt nhịn ăn sáng, đi chân đất đến nhà thầy giáo để tập đọc thơ. Hoặc mỗi tháng một lần vào ngày lễ của Đạo giáo, cho lũ trẻ họp lại, suốt đêm thay nhau đọc thơ không ngủ; hoặc họ bắt chúng đi một mình đến những địa điểm dễ khiến người ta khiếp sợ như bãi tha ma, nơi hành quyết tử tù, nhà bỏ hoang bị coi là có ma. Cách dạy con như vậy thậm chí lại làm cho lũ trẻ trở nên thích những trò chơi kiểu như ban ngày xem cảnh hành quyết tử tù, đến đêm lại một mình đi tới đoạn đầu đài, đánh dấu vào cái đầu lâu bị chặt của kẻ tử tù rồi mới về nhà.
Các phương pháp "rèn rũa lòng can đảm" nói trên của người Nhật còn tàn nhẫn hơn cả phương pháp "rèn luyện thần kinh" của người Sparta (37), khiến cho các nhà giáo dục hiện đại kinh sợ phân vân: phải chăng các phương pháp đó có thể bóp chết tình cảm nhu mì trong lòng người, rèn đúc các thiếu niên mới vào đời trở thành kẻ
tàn bạo dã man? Chúng ta hãy phân tích các quan niệm khác của Võ Sĩ Đạo về lòng can đảm.
Nếu trong tâm có Dũng thì nó sẽ làm cho người ta luôn tỏ ra bình tĩnh, nghĩa là nội tâm ổn định, ung dung điềm nhiên. Tĩnh nghĩa là đại dũng trong trường hợp tĩnh lặng, yên bình; dám làm dám chịu là đại dũng trong trường hợp hành động. Kẻ Dũng thường có thái độ Tĩnh, gặp nguy biến chẳng hề giật mình, trong lòng không một chút bối rối, bất cứ sự việc nào cũng không thể làm họ mất bình tĩnh. Dù cho trong lúc đang kịch chiến, kẻ đó vẫn ung dung tự tại, trấn tĩnh như thường; dù trời sập đất sụt cũng không làm thần sắc họ thay đổi. Động đất, bão tố đều không mảy may làm kẻ đó biến sắc mặt. Hiểm nguy, cái chết đều không thắng nổi sự điềm tĩnh của họ. Tai nạn lớn ập xuống đầu vẫn ngâm thơ, chết đến nơi vẫn ca hát. Người như thế là vĩ nhân chân chính, họ luôn luôn có phong thái ung dung không vội vàng nôn nóng, ta gọi thái độ đó là tư tưởng phóng khoáng (nguyên văn tiếng Nhật: yoyu), vì trong lòng họ không một chút vương vấn, tạp niệm, lòng dạ trống không, từng trải muôn vàn sự việc vẫn như không có gì xảy ra, cõi lòng như vậy thật là mênh mông vô hạn.
Những điều nói trên đều có thí dụ thực tế minh hoạ:
Chính sử Nhật Bản chép: ông Ota Dokan, .người sáng lập thành Edo, tức Tokyo ngày nay, bị thích khách đâm giáo vào người. Biết ông thích ngâm thơ, thích khách cao giọng đọc câu thơ. "Chỉ khi chết mới hiểu ra,
Rằng sống mới là việc khó biết bao!"
Nghe câu thơ ấy, Ota Dokan đang hấp hối chẳng thèm bận tâm đến vết thương chí tử trên người mình, vẫn ung dung sang sảng hoạ lại bằng câu thơ:
“Tử sinh là lẽ thường tình ,
Nên ta chẳng tiếc hy sinh thân này!"
Phẩm chất Dũng có yếu tố tinh thần, cũng có cả yếu tố thể lực. Những sự việc người thường cho là rất nghiêm trọng, thì samurai chỉ coi đó chẳng qua là thứ trò chơi mà thôi. Trong chiến tranh thời xưa, bao giờ cũng vậy, hai bên giao chiến trước hết mở đầu bằng dăm câu chuyện đùa vui, sau đó hát nói đối đáp, xướng và ca với nhau. Đây là một quy ước. Kiểu giao chiến như thế không những chỉ là đấu sức mà còn là đấu trí đấu dũng nữa.
Trận chiến bên bờ sông Koromo hồi thế kỷ XI đúng là mang tính chất như vậy. Quân miền Đông thua trận, thủ lĩnh Sadato phóng ngựa chạy. Bên địch đuổi theo, khi áp sát bại quân, tướng địch là Yoshiie thét lớn: "Đổ hèn nhát chạy trốn khỏi chiến trường kia, quay lại mau ! " Sadato ghìm cương quay ngựa lại. Yoshiie bèn đọc câu thơ:
"Chiến bào muôn mảnh rách bươm !" (koromo)
Yoshiie vừa dứt lời, Sadato đã ung dung đọc câu tiếp theo: "Bao năm chinh chiến sao còn lành nguyên! "
Nghe địch thủ đọc xong câu thơ ấy, Yoshiie bèn buông cung xuống, để cho Sadato tiếp tục rút lui.
Về sau có người trách Yoshiie tại sao thắng trận mà lại tha kẻ địch, ông thở dài đáp: Một dũng sĩ bị địch đuổi sát, chết đến nơi mà còn ung dung tự tại như thế, sao ta nỡ đành lòng lăng nhục người ấy !
Cái chết của Brutus làm cho Antony và Octavius (38) vô cùng đau xót, có thể coi là cái chết của một dũng sĩ. Chuyện ấy tương tự như hai lãnh chúa Kenshin và Shingen đánh nhau 14 năm trời; đến khi nghe tin Shingen chết, Kenshin nức nở than khóc là mình đã mất một "địch thủ tốt nhất trần đời". Đây thật là một thí dụ cao thượng. Lãnh địa của Shingen là một vùng đồi núi xa biển, cần được lãnh chúa Hojo ở vùng Tokaido cung cấp muối ăn. Tuy không giao chiến với Shingen nhưng Hojo lại ra lệnh cấm chở muối lên quê hương của Shingen nhằm làm yếu lực lượng của Shingen. Biết chuyện ấy, Kenshin bèn viết thư cho Shingen nói: "Hojo dùng việc cung cấp muối để uy hiếp Ngài, đó là một hành động đê tiện. Ta tuy giao chiến với Ngài nhiều năm nay, nhưng chỉ dùng cung kiếm chứ không dùng muối làm vũ khí. Từ nay trở đi, muối của Kenshin, Ngài cần bao nhiêu xin cứ dùng bấy nhiêu." Câu chuyện này chẳng khác gì lời đánh giá của nhà sử học Camillus: "Người La Mã chúng tôi dùng sắt thép để chiến đấu chứ không dùng vàng bạc." Thí dụ kể trên của Nhật Bản cho thấy, người Nhật cao thượng chẳng kém người La Mã. Nietzsche từng nói: "Nếu bạn có thể tự hào về địch thủ của mình, thì vinh quang của kẻ địch cũng là vinh quang của bạn." Tinh hoa của Võ Sĩ Đạo là ở chỗ đó. Đúng thế, dũng cảm là một vinh hạnh. Kẻ đáng mặt kết bạn trong thời bình, thì trong thời chiến mới
xứng đáng là địch thủ của nhau. Khi Dũng đạt tới đỉnh cao đạo đức như thế thì nó đồng nghĩa với Nhân vậy.
CHƯƠNG 5 : NHÂN – LÒNG THƯƠNG NGƯỜI
Tình yêu, sự đồng tình, lòng thương cảm và độ lượng xưa nay vẫn là những mỹ đức được người đời công nhận, là phần cao thượng nhất trong tâm hồn con người. Nó được gọi là đạo đức cao nhất trên cả hai ý nghĩa sau đây. Trước hết, là phần phong phú nhất trong các thuộc tính tinh thần của loài người, nó được gọi là vua của đạo đức. Thứ hai, với tư cách là phong cách mẫu mực mà kẻ làm vua tất phải có, nó chứa đựng sự tôn kính của bậc vương giả. Dùng lòng nhân từ để đội lên đầu kẻ làm vua thì thích hợp hơn dùng vương miện; dùng lòng nhân từ để thống trị đất nước thì hơn hẳn kẻ dùng quyền thế để cai trị đất nước. Đây là một quan niệm minh bạch được thể hiện trong nền văn hoá của tất cả các nước. Các nhà hiền triết Trung Hoa, dù là Khổng Tử hay Mạnh Tử, đều nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa của Nhân trong việc dùng nó để cai trị; điều kiện đầu tiên để làm người quân tử là phải có lòng Nhân. Khổng Tử trình bày sự quan trọng của đức đức hạnh như sau: "Cho nên, người có phẩm chất cao thượng trước hết đều coi trọng sự tu dưỡng đức hạnh. Có đức hạnh thì mới có người ủng hộ, có người ủng hộ lại mới có được đất đai, có đất đai thì mới có của cải, có của cải thì mới có cái cung cấp để sử dụng. Đức là gốc, của cải là ngọn vậy". (câu này lấy từ sách "Đại Học": “Thị cố quân tử tiên thận hô đức. Hữu đức thử hữu nhân, hữu nhân thử hữu thổ, hữu thổ thử hữu tài, hữu tài thử hữu dụng. Đức giả, bản dã; tài giả, mạt dã"). Qua đó ta thấy Khổng Tử coi đức quan trọng hơn tất cả. Ông còn nói: “Trên ưa việc nhân mà dưới không chuộng việc nghĩa, điều ấy chưa chắc đã có vậy." (Thượng hiếu nhân nhi hạ bất hiếu nghĩa giả, vị chi hữu dã). Khi luận bàn câu này, Mạnh Tử nói: "Kẻ bất nhân mà được nước, chuyện ấy có đấy; kẻ bắt nhân mà được thiên hạ, chuyện ấy không có vậy” (bất nhân nhĩ đắc quốc giả, hữu chi hĩ; bất nhân nhì đắc thiên hạ giả, vị chi hữu dã) (Kẻ không có phẩm chất Nhân thì vẫn có khả năng dùng bạo lực mà cướp được chính quyền, nhưng không
thể nào không có Nhân mà lại trở thành vua thiên hạ). Các nhà Nho ngày xưa của Trung Quốc, kể cả Khổng Tử, Mạnh Tử, đều coi Nhân là điều kiện tiên quyết của kẻ làm vua. "Nhân là yêu thương người vậy” (nhân giả, nhân giả", câu này lấy từ sách "Trung Dung" của Khổng Tử). Nhân ở đây cũng có nghĩa là thấu hiểu tình người, biết nhân đạo.
Chế độ thống trị phong kiến có một tệ nạn là dễ sinh ra chủ nghĩa quân phiệt (lạm dụng vũ lực), mà Nhân là lối thoát nảy sinh rà từ trong tệ nạn ấy. Kẻ bị thống trị thì hiến dâng hết tính mạng, thân xác, sự tôn nghiêm của mình; còn kẻ thống trị thì chỉ dựa vào ý chí của bản thân mình để ban phát lòng nhân từ cho kẻ bị cai trị. Cho nên, nếu không thực hành Nhân thì chủ nghĩa cực quyền sẽ phát triển hết mức, chế độ chuyên chế cũng được đội cái mũ có tên "nền chuyên chế phương Đông", dường như chuyên chế là sản phẩm đặc biệt của phương Đông, chưa từng tồn tại ở phương Tây.
Tôi không phải là kẻ cổ vũ cho bất kỳ hình thức chuyên chế nào. Nhưng chế độ phong kiến không đồng nghĩa với sự chuyên chế. Các nhà pháp luật học đã đúng khi đánh giá Đại Đế Frederick (39) từng nói một câu mở đầu cho thời đại dân chủ đầu tiên: “Quốc vương là kẻ đầy tớ (công bộc) số Một của quốc gia." Cũng vào thời ấy, vua Yozan ở Yonezawa, một vùng hẻo lánh tại miền Đông Bắc Nhật Bản cũng nói: "Vua là kẻ lập quốc (dựng nước) chứ không phải kẻ lập dân. Vua là do dân lập nên.” Điều đó cho thấy, chế độ phong kiến không phải là chế độ hoàn toàn áp bức bóc lột. Có lẽ các Vua chúa phong kiến không cho rằng họ có trách nhiệm trước các hạ thần của mình, nhưng lại hoàn toàn không thể phủ nhận rằng họ có chức trách cao độ đối với tổ tiên và Trời. Vua là cha mẹ của dân, được Trời cử xuống để trông coi và bảo vệ con dân. Trong "Kinh Thi", một kinh điển của Trung Hoa cổ đại có viết: "Khi triều đình nhà Ân(40) còn chưa mất lòng dân thì họ còn có thể hợp ý Trời." Khổng Tử cũng nói trong sách "Đại Học” rằng: "(Kẻ làm vua một nước) chỉ khi nào yêu cái dân yêu, ghét cái dân ghét thì mới đáng là cha mẹ dân." Như thế, yêu cầu của dân mới thống nhất được với ý chí của vua, hoặc nói là dân chủ sinh ra trong cực quyền. Chính vì thế mà Võ Sĩ Đạo kiên quyết ủng hộ sự thống trị phụ quyền; nó khác với "sự thống trị của chú bác" (cũng tức là sự cai trị của chú Sam ! - chế độ chính trị của nước Mỹ), một chế độ thiếu quan tâm đến dân chúng
trong tình hình ngày nay. Có thể gọi sự thống trị phụ quyền là "nền chính trị cha đẻ". Do vậy, thống trị phụ quyền khác với chuyên chế. Trong chế độ chuyên chế. nhân dân chẳng qua miễn cưỡng phải phục tùng; còn dưới sự thống trị phụ quyền, nhân dân "có sự quy thuận tự hào, giữ sự phục tùng tôn nghiêm, dù làm kẻ nô lệ cũng là loại nô lệ từ đáy lòng cảm thấy được tự do cao độ." (Burke, "Cách mạng Pháp", French Revolution). Ngạn ngữ cổ từng nói, vua nước Anh là "vua của ác quỷ, vì bầy tôi của vua nhiều lần phản nghịch và cướp ngôi, các bầy tôi đều như loài quỷ dữ”. Còn vua nước Pháp thì là "vua của thuế má", vì ông ta đánh thuế dân chúng rất nặng. Chỉ có vua Tây Ban Nha thì có thể gọi là vua của người, vì dân chúng Tây Ban Nha cam tâm tình nguyện phục tùng nhà vua". Truyền thuyết trên chưa chắc là sai. Thôi, vấn đề này xin tạm bàn đến đây vậy!
Nhà chính trị Nga Pobyedonostseff (41) từng so sánh chính xác cơ sở xã hội nước Anh với nước Nga. Ông cho rằng, xã hội các nước đại lục châu Âu xây dựng trên cơ sở lợi ích cộng đồng, còn xã hội nước Anh có đặc điểm phát triển cao nhân cách độc lập. Ông nói, tại các nước đại lục châu Âu, đặc biệt các quốc gia dân tộc Slave, nhân cách cá nhân có liên quan tới một kiểu liên minh xã hội nào đó, nói cho đến cùng, là sản phẩm do nhà nước tạo ra. Kết luận này cũng có thể áp dụng cho người Nhật Bản. Bởi lẽ, dân chúng nước chúng tôi không căm ghét chế độ quân chủ như người châu Âu. Tình cảm của dân chúng đối với nền quân chủ cũng giống như tình cảm đối với cha đẻ của mình; nhờ đó mâu thuẫn giai cấp được hoà dịu. Bismarck (42)từng nói "Sự chuyên chế trước hết đòi hỏi kẻ thống trị phải có lòng vô tư, trung thực, tận tuỵ với nhiệm vụ, có nghị lực và nội tâm khiêm nhường." Về vấn đề này, xin cho phép tôi tiếp tục trích dẫn một câu của Hoàng đế nước Đức nói tại Coblenz: “Ngôi vua là sự bố thí của Thượng Đế, có ý nghĩa phải thực thi nghĩa vụ nặng nề và trách nhiệm to lớn trước Thượng Đế, không ai có thể bãi miễn được nhà vua, dù là Nghị viện, các đại thần hoặc bất kỳ cơ quan nào.”
Nhân là đức hạnh như mẹ hiền. Nếu nói đạo nghĩa chính trực và sự răn dạy nghiêm khắc là phẩm chất của đàn ông, thì nhân từ thể hiện sự dịu dàng của đàn bà. Người Nhật Bản chúng tôi luôn được nhắc nhở chớ nên chìm đắm trong lòng nhân từ không có nguyên
tắc mà phải có đầy đủ những lời răn bảo chính nghĩa. Người ta thường dẫn một câu nói của lãnh chúa Masamune: "Quá ư Nghĩa thì cứng rắn, quá ư Nhân thì mềm yếu.”
May sao, nhân từ là đức hạnh chứ không phải của hiếm. Có một lời bàn bất thành văn: "Người cương nghị nhất lại là người hiền lành nhất; nhân ái gần với dũng cảm." Thật cảm động khi dùng từ Bushi no nasaké (Tình thương hiệp sĩ) để hình dung tình cảm của võ sĩ. Tình thương của người võ sĩ và lòng nhân ái thường tình đều là cùng một loại tình thương yêu; chỉ có điều lòng nhân ái của võ sĩ không mù quáng, mà trước hết lấy chính nghĩa làm đầu, tình thương đó không những chỉ là một loại tình cảm, mà tiềm ẩn sau nó là sức mạnh dùng để cứu sống hoặc giết chết kẻ khác. Cũng như khái niệm hữu hiệu và vô hiệu trong kinh tế học, tình thương của người võ sĩ có tính hữu hiệu, nó chứa đựng hàm nghĩa dùng hành động thực tế để giúp đỡ kẻ khác.
Võ sĩ tự hào vì mình có sức mạnh hơn người và có đặc quyền sinh sát kẻ khác; song đồng thời họ cũng là tín đổ đạo Nhân của Mạnh Tử. Mạnh Tử nói: “Nhân thắng bắt nhân cũng như nước có thể dập tắt lửa vậy. Nhưng ngày nay những người phụng sự đạo Nhân thì giống như dùng một chén nước để dập lửa một xe củi đang cháy vậy." Lại nói: "Lòng trắc ẩn là khởi đầu của Nhân vậy." (ý là Nhân cũng giống như nước, cứu vớt tai nạn đạo đức cả thế giới như cứu hoả; mà nguồn gốc Nhân là ở tấm lòng trắc ẩn). Mạnh Tử đã làm như thế rất lâu trước khi Adam Smith lấy sự đồng tình làm nền móng cho toàn bộ triết học của ông.
Các lời răn của Võ Sĩ Đạo Nhật Bản có mối liên hệ khăng khít như vậy với triết học truyền thống của Trung Quốc láng giềng, hiện tượng này làm cho người ta ngạc nhiên. Nói cách khác, toàn bộ phương Đông đều có một thứ triết học giống nhau. Ở châu Âu cũng có những câu cách ngôn tương tự như vậy. Thí dụ câu thơ nổi tiếng dưới đây của thi sĩ người Ý Virgin:
"Chức trách của bạn chẳng qua là,
An ủi kẻ thua, bắt kẻ thắng kiêu ngạo phải cúi đầu. " Xem ra, dường như câu thơ này bắt chước một cách vụng về mấy câu thơ cách ngôn của Nhật Bản thời cổ.
Lòng nhân của võ sĩ thường ban phát cho kẻ yếu hoặc kẻ bại trong chiến trận. Những người có nghiên cứu qua về hội hoạ Nhật
Bản đều biết bức tranh nổi tiếng vẽ một nhà sư ngồi quay lưng về phía trước trên một con bò. Nhà. sư có pháp danh Liên Sinh này trước đây từng là một võ sĩ chiến công hiển hách; tên thật của ông là Kumagayé, kẻ địch chỉ mới nghe uy danh ông là đã kinh hồn bạt vía. Trong trận chiến Sumano-ura khủng khiếp (năm 1184) - một trong những trận đánh có tính chất quyết định nhất trong lịch sử nước chúng tôi, ông đuổi theo và quật ngã một địch thủ. Theo luật thời bấy giờ, kẻ thắng trận chỉ giết những đối thủ có võ công tương đương, hoặc đối thủ là một võ sĩ nổi danh; nếu không thì không cần giết. Vì vậy Kumagayé bèn hỏi tên họ của đối thủ, nhưng người ấy không nói. Khi lật chiếc mũ giáp của địch thủ ra xem, ông rất đỗi kinh ngạc thấy bên trong mũ là một khuôn mặt trẻ măng khôi ngô tuấn tú. Kumagayé bèn đỡ chàng thiếu niên đứng dậy, bảo cậu bé bằng giọng của người cha: "Hãy đi đi con! Chàng Hoàng tử trẻ này, hãy về với mẹ con đi. Thanh đao của Kumagayé quyết không bao giờ nhuốm máu con. Ta xin con hãy cao chạy xa bay ngay cho." Nhưng người thiếu niên từ chối đề nghị ấy, và vì để giữ danh dự, chàng trai cầu xin ông chặt đầu mình. Kumagayé lòng đau như cắt, trước mắt ông như hiện lên cảnh đứa con trai của mình đang xung trận. Thanh đao của ông tuy từng lấy đầu hàng trăm, hàng nghìn địch thủ, nhưng lần này ông khó lòng có thể dùng đến nó. Lúc ấy bỗng vang lên tiếng chân rầm rập của truy binh bên phía Kumagayé đuổi sát đến nơi; thấy thế ông bèn thét lớn: "Bây giờ ngươi không kịp chạy nữa rồi! Chết bởi tay một võ sĩ vô danh thì không bằng để cho lão phu kết liễu đời ngươi! Lão phu cầu chúc ngươi được mãi mãi hưởng phúc dưới suối vàng!" Nói đoạn, ông niệm Phật, rồi hạ đao. Thế là đầu rơi máu chảy, lưỡi đao sắc nhuốm đầy máu đỏ. Xong chiến trận, Kumagayé thắng lợi trở về, nhưng trong lòng ông đâu còn niềm vui chiến thắng, khát vọng công danh cũng biến đâu mất. Ông từ giã cuộc đời võ sĩ, bỏ đi chu du bốn phương rồi trở thành nhà sư từ đấy.
Có lẽ có nhà phê bình sẽ vạch ra chỗ không thật của câu chuyện trên. Dù nó chứa đựng một vài chi tiết không ăn nhập với thực tế nhưng lòng nhân từ của người võ sĩ thể hiện trong câu chuyện này là hoàn toàn chân thực. Người võ sĩ sử dụng vũ lực tàn khốc nhất, song lòng họ lại tràn đầy tình nhân ái và thương cảm; tình cảm ấy làm nhẹ bớt không khí chém giết nặng nề. Người xưa nói: người đi săn không giết con chim cùng đường sa vào tay mình. Trên cái nền
ấy, chúng ta có thể hiểu tại sao phong trào Chữ Thập Đỏ của Ki Tô giáo lại dễ dàng phát triển rộng rãi ở Nhật Bản thế. Vài chục năm trước ngày Công ước Hội Chữ Thập Đỏ Quốc tế được ký tại Geneva, nhà văn Nhật Bản nổi tiếng Bakin từng viết một cuốn tiểu thuyết về đề tài nhân đạo, trong đó ông nêu ra việc cứu chữa thương binh đối phương. Cuốn tiểu thuyết của ông được người Nhật khen ngợi. Satsuma là một địa phương nổi tiếng nước chúng tôi về tinh thần thượng võ, thế nhưng rất nhiều thanh thiếu niên vùng này lại đặc biệt yêu thích âm nhạc. Thứ âm nhạc họ say mê không phải là tiếng kèn hoặc tiếng trống xung trận sặc mùi máu me chết chóc như khi mãnh hổ xuống núi, mà là tiếng đàn tỳ bà (tiếng Nhật: biwa, một loại đàn giống như đàn guitar) sầu cảm uỷ mị réo rắt; nhờ đó mà lòng hung hãn dữ tợn được thư thái khuây khoả, đầu óc được tạm thời xa lánh cảnh chém giết, nội tâm trở nên bình thản tĩnh lặng. Qua khảo sát nghiên cứu, nhà sử học Polybius nhận thấy tại vùng Arcadia giàu tinh thần thượng võ nhất, luật lệ của địa phương này yêu cầu thanh niên dưới 30 tuổi đều phải học âm nhạc, với mục đích dùng loại nghệ thuật êm dịu đó để làm cho tính cách dữ dằn hung tợn của người dân vùng này trở nên mềm dịu hơn. Nhờ tác dụng của âm nhạc tuy vùng rừng núi này rất hoang vắng nhưng không thấy người dân nào có tính cách tàn nhẫn cả.
Không riêng vùng Satsuma mới thế, mà nhìn chung tầng lớp võ sĩ Nhật Bản xưa nay vẫn có truyền thống nho nhã. Bút ký của một hoàng tử vùng Shirakawa có viết những câu như "Đêm khuya bên gối hoa thơm ngát, xa xa vẳng lại tiếng chuông chùa, gió đưa trong trẻo lời giun dệt - u tịch niềm riêng gợi ý thơ.” Và đây nữa: "Gió lay hoa rụng, mây che; chinh phu có kẻ gầm ghè nhân gian; cả ba đều đáng phàn nàn; nhưng ta có thể dễ dàng tha cho. "
Xưa nay, người ta đều khuyến khích các võ sĩ làm thơ để thể hiện những tình cảm tốt đẹp ấy. Nhiều người biết giai thoại sau đây về một võ sĩ vùng thôn quê : khi lần đầu tiên được người khác khuyên nên học làm thơ về đề tài tiếng hót của chim hoạ mi (hoặc dạ mi, dạ anh, tiếng Nhật là uguisu), mới đầu võ sĩ đó làm câu thơ:
Dũng sĩ vừa quay lưng,
Chim đã hót vang lừng.
Dù thấy câu thơ thô kệch, nhưng ông thầy của võ sĩ ấy vẫn khuyến khích học trò mình làm thơ. Cuối cùng, một ngày nọ, tình
cảm tế nhị trong lòng người võ sĩ được thức tỉnh; khi nghe tiếng hoạ mi hót, người ấy đã viết nên câu thơ như sau:
Đứng lâu võ sĩ lắng nghe
Véo von tiếng hót hoạ mi vọng về.
Thi sĩ trẻ người Đức Korner bị trọng thương trên chiến trường, trong lúc hấp hối đã kịp ứng khẩu sáng tác bài thơ nổi tiếng "Vĩnh biệt cuộc sống". Cuộc đời oanh liệt ngắn ngủi của Korner thật đáng để chúng ta vô cùng hâm mộ. Nên biết rằng ở Nhật Bản cũng có những chiến sĩ làm thơ ngay trên sa trường. Thi ca Nhật có cách ghép vần đơn giản và có khả năng kéo dài triền miên, thích hợp nhất để nắm bắt các tình cảm ngẫu hứng nảy ra trong phút chốc. Những người Nhật Bản có học đều biết làm thơ ca hoặc hát đối. Trên chiến trường thường hay xảy ra chuyện người võ sĩ tựa lưng ngựa mà làm thơ rồi tử trận, khi người khác lục túi áo giáp tìm được bản nháp các bài thơ đó, ai nấy đều xúc động rơi lệ.
Phải có sức mạnh tinh thần như thế nào thì người chiến sĩ mới tìm được giây phút xúc cảm và làm thơ trong khung cảnh khủng khiếp đáng sợ trên chiến trường. Ở phương Tây, sức mạnh ấy là do Ki Tô giáo đem lại. Còn tại Nhật Bản, đó là sức mạnh kết hợp giữa âm nhạc với văn học. Nhờ đó tình cảm ôn hoà nhu mì ấy được chăm bón, nó sinh ra lòng đồng tình và thương xót. Xuất phát từ tình cảm ấy, người võ sĩ luôn có thái độ ứng xử khiêm nhường và sẵn sàng giúp kẻ khác, đây chính là cốt lõi của Lễ - đạo đức của người võ sĩ.
CHƯƠNG 6 : BÀN VỀ LỄ
Người Nhật Bản hiếu Lễ, nghi lễ phiền phức ân cần mà chu đáo, thường hay làm người nước ngoài ngạc nhiên. Đúng vậy, nếu ý nghĩa của Lễ chỉ là để tránh các cử chỉ bất lịch sự hoặc chỉ để có phong độ lễ phép, thế thì Lễ không đáng gọi là một đức hạnh gì. Nhưng ý nghĩa chân chính của Lễ không phải như vậy. Nó là hình thức bên ngoài của sự đồng tình và quan tâm, quý mến đối với người khác, đồng thời còn thể hiện sự tôn trọng chính đáng đối với sự vật và sự khẳng định địa vị xã hội của sự vật đó. Khác với tiền bạc và quyền thế, địa vị xã hội là sự thể hiện giá trị xã hội thực tế của một con người.
Tột điểm của Lễ thì tương tự lòng yêu thương, Chúng ta nên có lòng cung kính đối với Lễ, cho rằng “Tột điểm của Lễ là bụng dạ khoan dung, từ bi. Không ghen tỵ, không khoe khoang, không tự cho mình là giỏi, không làm những việc vô lễ, không tham cái lợi riêng, không tức giận, không nghĩ xấu về người khác." Cho nên, khi đề ra 6 tính cách tốt đẹp của con người. giáo sư Dean cho rằng Lễ có địa vị cao nhất và được coi là sản phẩm tối ưu của xã giao. Không có gì lạ khi ông đưa ra kết luận như vậy.
Tuy rất coi trọng địa vị của Lễ, nhưng tôi không cho nó là thứ đức hạnh hàng đầu. Có những thứ đức hạnh cao hơn nếu phân tích, ta sẽ phát hiện quan hệ tế nhị giữa Lễ với chúng. Thật ra, các loại đức hạnh đều liên quan với nhau, chúng không thể tồn tại lẻ loi đơn độc. Nếu không có những đức hạnh khác giá trị hơn mà chỉ có Lễ thôi, thì đó chẳng qua chỉ là Lễ giả tạo. Từ xưa đến nay, Lễ là đức hạnh được võ sĩ tôn sùng nhất, nó có địa vị quá cao, được tôn sùng quá cao, do đó đã xuất hiện Lễ giả tạo, chỉ có hình thức. Khổng Tử cũng có lời bàn về vấn đề này. Ông nói, lễ giả tạo không phải là lễ, chẳng khác gì chỉ có tiếng động thôi thì không làm nên âm nhạc.
Sau khi Lễ đã trở thành sine qua non (điều kiện tất yếu) để tiện cho lớp thanh thiếu niên học xã giao bèn xuất hiện một loạt quy tắc lễ mạo chi tiết và chuẩn tắc hành vi. Tại Nhật Bản, người ta rất chú ý đến cung cách cúi mình trước người khác, cách đi đứng, tư thế
ngồi. Cử chỉ ăn uống là cả một ngành học vấn chuyên môn: cách gắp thức ăn và uống trà lại càng là một nghi thức. Người có giáo dục thì phải hiểu kỹ mọi lễ tiết. Bởi thế, Veblen(45) trong cuốn sách thú vị của mình "Bàn về tầng lớp nhàn hạ" (Theory of the Leisure Class, New York, 1899, trang 46) có viết, lễ nghi là "sản phẩm và tượng trưng của đời sống tầng lớp nhàn hạ".
Tôi thường nghe thấy người châu Âu phê bình một cách khó chịu về lễ nghi rắc rối của người Nhật Bản. Họ nói, ở Nhật Bản, lễ nghi chiếm mất quá nhiều tinh thần và sức lực của con người, khiến người ta không còn rảnh rang để suy nghĩ, và nghiêm ngặt tuân theo các quy tắc phiền toái ấy thì không thể không nói là quá nực cười. Tôi thừa nhận là vấn nạn ấy có tồn tại, nhưng so với những cử chỉ thời thượng mà người phương Tây cố sức theo đuổi, thì chưa chắc nó đã nực cười hơn. Vấn đề này đâu có đơn giản như vậy. Động cơ theo đuổi thời thượng chưa chắc là do thói hư vinh, mà ngược lại, nó xuất phát từ lòng yêu cái đẹp không giới hạn của loài người; điều đó đáng được tôn trọng. Cũng vậy, lễ nghi rắc rối và chặt chẽ cũng có giá trị của nó. Lâu nay, người Nhật Bản dùng cách ấy để đạt được hiệu quả họ muốn có. Khi định làm việc gì, chúng tôi đã có sẵn phương thức ước định để làm nó, và đó là phương thức hoàn tất việc ấy một cách duyên dáng nhất, tiết kiệm nhất. Ông Spencer(46) định nghĩa duyên dáng là cách thức tiết kiệm nhất để hoàn thành một động tác. Trong trà đạo có một loạt đổ dùng như bát uống trà, gáo múc trà, khăn uống trà; ai chưa quen thì cho rằng nắm được cách dùng các dụng cụ ấy là quá ư rắc rối; nhưng khi đã quen rồi thì họ sẽ thấy dùng các dụng cụ này sẽ tiết kiệm đáng kể thời gian và công sức, cũng tức là kinh tế nhất, và theo cách nói của Spencer - là duyên dáng nhất.
Bởi vậy, ý nghĩa của lễ nghi thì lớn hơn rất nhiều so với những gì ta biết. Trong cuốn "Triết lý của trang phục" (Philosophy of Clothes) có viết: Lễ nghi là chiếc áo ngoài của các phép tắc tinh thần. Đúng là chúng ta có thể làm như ông Spencer, nghiên cứu lễ nghi để tìm ra những động cơ đạo đức và động cơ của sự hợp lý hoá đằng sau lễ nghi. Song đó không phải là nội dung cần bàn trong sách này. Tại đây, tôi cần làm rõ và nhấn mạnh về các nghi thức nghiêm ngặt và sự rèn luyện đạo đức mà lễ nghi đòi hỏi mọi người phải thực hiện.
Như trên đã nói, lễ tiết của Nhật Bản phiền toái đến mức quy định tất cả các chi tiết hành động. Trên cơ sở đó, đã có nhiều hệ thống và trường phái lễ nghi khác nhau. Tuy các chi tiết của những hệ thống và trường phái này không giống nhau, nhưng tinh thần bên trong đều nhất trí. Lý thuyết lễ pháp của phái Ogasawara cho rằng "Bí quyết quan trọng để tuân theo Lễ, trước nhất là ở sự tăng cường tu dưỡng. Người tu dưỡng sâu sắc khi đang ngồi theo lễ pháp mà có kẻ côn đồ cầm kiếm xông đến thì người đó vẫn có thể ngồi trơ trơ bất động." Nói cách khác, nhờ không ngừng rèn luyện theo lễ pháp, người ta có thể hoàn thiện tư thế của thân mình, điều tiết cơ năng thân thể, đạt tới cõi nội tâm và ngoại giới hoà làm một, thể xác hoàn toàn do tinh thần cao thượng chi phối. Như thế, chúng ta có thể liên tưởng đến ý "ngồi nghiêm chỉnh" của từ tiếng Pháp biensèance. Qua đây có thể thấy, lễ nghi có ý nghĩa tinh thần khác với ý nghĩa bình thường.
Nếu cách nói cử chỉ duyên dáng nhất chính là cử chỉ tiết kiệm công sức nhất của Spencer là đúng, thì khi suy diễn tiếp theo cách nói ấy, ta sẽ thấy một loạt cử chỉ duyên dáng tất sẽ tích tụ và gìn giữ được sức mạnh. Cho nên, sự duyên dáng làm theo lễ tiết tất nhiên sẽ làm cho sức mạnh toàn thân ở vào trạng thái được tích luỹ, khi đó người ta trở nên có sức mạnh. Theo truyền thuyết, khi bộ lạc dã man Gauls (47) tấn công La Mã tiến vào nơi Viện Nguyên Lão đang họp, họ xông đến túm lấy râu của các vị nguyên lão nghị viên - chúng tôi nghĩ rằng, các vị quý phái cao tuổi ấy sẽ rất xấu hổ vì họ thích sự trang nghiêm và sức mạnh của lễ tiết; nếu các vị đều tinh thông lễ tiết thì chuyện ấy đã không thể xảy ra. Lễ nghi làm cho con người tu luyện được tới cõi tinh thần cao thượng, và có thể dùng các phương thức khác để đạt tới cõi ấy. Tại sao lại không nhỉ? Mọi nẻo đường đều dẫn đến La Mã kia mà !
Tôi vẫn nêu thí dụ về Cha-no-yu tức trà đạo - nghi thức uống trà. Nó tuy đơn giản nhưng đáng gọi là một nghệ thuật , và nó có thể nâng cao sự tu dưỡng tư tưởng của con người. Người nước ngoài sẽ ngạc nhiên, cũng có thể sẽ chê cười : người Nhật Bản coi uống trà là một nghệ thuật ! Sao lại không thể nhỉ? Ai bảo trong những đứa trẻ vẽ trên cát hoặc những người cổ đại man dã chạm hình vẽ bông hoa trên đá lại không có bản năng nghệ thuật trời phú cho như Raphael hoặc Michael Angelo (48) ? Khởi thuỷ của trà đạo là sự suy
ngẫm vá tĩnh tọa của các vị cao tăng Ấn Độ, cho nên nó có ý nghĩa tinh thần to lớn, đáng được chúng ta coi là sản phẩm kèm theo của tôn giáo và đạo đức. Khi uống trà, lòng người thanh tịnh, tình cảm trong sáng, cử chỉ siêu. thoát mà tĩnh lặng. Trong trạng thái như vậy, tâm hồn im lặng và tình cảm cương trực sẽ xuất hiện. Trà thất - căn phòng nhỏ dùng để thực hành trà đạo - yên tĩnh sạch sẽ, gây không khí xa cách bụi trần, đưa đầu óc con người tới cõi lâng lâng. Trong phòng trà thanh tịnh cũng không treo những bức tranh hoặc cổ vật làm người ta hoa mắt như trong nhà thờ hoặc phòng khách ở phương Tây, nhiều nhất chỉ có một bức tranh cuốn (tiếng Nhật: kakémono, có thể là bức hoạ hoặc bức thư pháp, dùng để trang trí), nét vẽ trang nhã không sặc sỡ. Trong tình trạng ấy, người uống trà theo đuổi một tâm hồn thanh tịnh vui vẻ chứ không phải nỗi sợ hãi đượm màu sắc tôn giáo. Trong những năm tháng chiến tranh khủng khiếp, tuy có nhiều tin đồn tùm lum, nhưng một ẩn sĩ đã nêu ra ý tưởng hoà bình đầy thi vị chứng minh sự áp dụng lễ pháp trong thế gian. Ông nói, những người mang chiến đao nên cùng nhau ngồi vào phòng trà, trong không khí tĩnh lặng vứt bỏ hết mọi sự tàn bạo và lo lắng, trừ khử mọi nghiệp chướng, chỉ còn hoà bình và tình bạn là được tồn tại.
Cha-no-yu không những chỉ là một nghi lễ, nó đồng thời còn là một nghệ thuật. Khi thực hành trà đạo động tác của người ta nhịp nhàng như vần điệu của câu thơ: trà đạo là một modus operandi (biện pháp) thể hiện tâm hồn con người, đây chính là giá trị tinh tuý nhất của môn nghệ thuật này. Các môn đồ học trà đạo thường hay để ý đến các thao tác chi tiết của nghi thức này, song về bản chất, trà đạo là một hành vi vì tinh thần.
Vứt bỏ những cái nói trên, chỉ xem xét riêng về một điểm cử chỉ duyên dáng thôi, thì lễ nghi tự nó cũng có một giá trị vô biên. Song công dụng của lễ nghi vượt xa điều đó. Lễ nghi có động cơ là lòng nhân từ và đức khiêm nhường, giai điệu êm ái của nó thường bắt nguồn từ sự đồng tình và lòng thương xót. Trong các hành vi mà Lễ yêu cầu chúng ta cùng cười với người vui mừng, cùng khóc với kẻ đau xót. Thói quen ấy sẽ tiếp tục duy trì trong các chi tiết nếp sống hàng ngày không ai để ý đến. Trong một số trường hợp đặc biệt khác thường, đặc điểm đó của Lễ lại càng thể hiện rõ. Chẳng hạn một nữ tu sĩ truyền
giáo người nước ngoài từng sống 20 năm ở Nhật Bản có kể cho tôi nghe một chuyện mà người ngoại quốc không thể nào hiểu nổi. Hôm ấy đang giữa mùa hè, bà trông thấy một người đi đường không mang ô, khi ông này gặp một người khác và cả hai đứng lại trò chuyện với nhau, người kia vội bỏ mũ ra. Họ cứ đứng như thế dưới ánh nắng gay gắt, dù sau đó người nhà của ông kia mang ô đến, nhưng ông ta cũng không mở ô. Theo con mắt người nước ngoài, chuyện ấy xem ra có vẻ ngớ ngẩn. Nhưng động cơ của người Nhật Bản chẳng qua chỉ là "Bạn đứng dưới ánh nắng gay gắt, tôi tuy không có ô để bạn cùng che nắng thì chí ít tôi phải chia sẻ nỗi khổ của bạn." Những cử chỉ như vậy có rất nhiều ở Nhật Bản, nhưng các chuyện vụn vặt hàng ngày ấy nói chung không làm người ta chú ý. Đó không chỉ là một thói quen hoặc phong thái, mà là lễ nghi đã thấm sâu vào nếp sống thường ngày. Sự quan tâm đến người khác xuất phát từ tình cảm suy nghĩ sâu sắc đã trở thành hành vi tự giác, tự chủ.
Xin nêu thêm một thí dụ "khó hiểu” khác về các tập tục Lễ của chúng tôi. Một số tác giả hiểu biết nông cạn nhìn nếp sống của người dân Nhật Bản một cách quá đơn giản. Các vị ấy võ đoán nói rằng khi làm việc gì, bao giờ người Nhật Bản cũng làm ngược lại. Một người nước ngoài thẳng thắn nói ra sự khó hiểu của mình đối với cách làm việc của người Nhật Bản, cách đó làm cho họ không biết nên ứng xử thế nào. Chẳng hạn ở Mỹ, khi tặng quà cho nhau, người ta sẽ cố gắng nói với người được tặng là món quà này tốt ra sao; còn ở Nhật Bản thì người ta lại nói rằng món quà này không có giá trị gì. Chẳng cần nói ra, ta cũng biết logic của người Mỹ: "'Đây là một món quà rất tốt, là tấm lòng của tôi đối với bạn; tất nhiên tôi phải tặng bạn thứ quà tốt, nếu không thì tức là không tôn trọng bạn." Nhưng logic của người Nhật Bản lại là: “Chẳng có thứ tặng phẩm nào xứng đáng với bạn cả, nếu trong món quà này không có tấm lòng của tôi thì chắc bạn sẽ không nhận bất cứ thứ gì, dù tôi đặt nó trước mặt bạn. Món quà đơn giản này chẳng có giá trị mấy, chỉ vì nó chứa đựng tấm lòng của tôi đối với bạn nên bạn mới nhận nó. Cho dù món quà ấy rất quý giá đi nữa thì nó vẫn không thể so sánh được với giá trị đáng kính của bạn và với tấm lòngcủa tôi.” Nếu so sánh hai thứ logic, này ta thấy thực chất chúng không có gì khác nhau mà đều là sự tôn trọng đối phương. Người Mỹ coi trọng ý nghĩa vật chất
của món quà còn người Nhật Bản coi trọng tấm lòng của cả hai phía cho và nhận, mà món quà ấy đại diện.
Hệ thống lễ pháp của nước chúng tôi rất phức tạp, cho nên không thể nào từ đó lấy ra một chi tiết coi là điển hình để thảo luận, nhằm phân tích tính cách quốc dân của cả nước Nhật Bản. Làm như vậy sẽ đi ngược lại nguyên tắc suy luận. Với người Nhật Bản, hoàn toàn có thể thảo luận song song hai vấn đề: tôn trọng lễ pháp ăn uống và tính chất quan trọng của ăn uống. Mạnh Tử của Trung Quốc cổ đại từng nói: "Việc ăn là quan trọng hay việc tuân theo lễ phép ăn mới là quan trọng?" Hai chuyện đó có vẻ giống như sự khác nhau giữa kim loại với lông: "Kim loại nặng hơn lông, nhưng không thể nói một mẩu
kim loại bằng chiếc cúc áo lại nặng hơn một cỗ xe chứa đầy lông.” (Hai câu này lấy từ "Mạnh Tử - Cáo Tử, hạ", nguyên văn: "Kim trọng ư vũ giả, khởi vị nhất câu kim dữ nhất dư vũ chi vị tai? Thủ thực chi trọng giả dữ lễ chi khinh giả nhi tỷ chi, hề xí thực trọng?" Tạm dịch: Ta nói kim loại nặng hơn lông vũ, lẽ nào có thể nói một mẩu kim loại to bằng cái cúc áo lại nặng hơn một cái xe đầy lông ư? Lấy mặt quan trọng của việc ăn uống đem so sánh với các chi tiết lễ nghi, sao có thể bảo là ăn uống quan trọng hơn?) Nếu đặt một khúc gỗ lên chỗ cao nhất của toà nhà cũng không thể bảo gỗ cao hơn toà nhà.(Phương thốn chi mộc khả sứ cao vu sầm lầu: một khúc gỗ vuông một tấc có thể đặt cao hơn trên nóc nhà. Ý nói sự nguỵ biện. Tại đây, Mạnh Tử muốn nói: khi so sánh hai đối tượng, phải đặt cả hai trên cùng một mặt bằng, một tiêu chuẩn cơ bản, chứ không nên đẩy một đối tượng này tới cực đoan, rồi so sánh với chi tiết nhỏ nhặt của đối tượng kia.)
Bởi vậy có người sẽ nói: “Tuân thủ lễ pháp chẳng bao giờ quan trọng hơn nói thật sao?" Người Nhật Bản không nghĩ vấn đề theo cách đó, họ không cho rằng tuân thủ lễ pháp là sự giả dối. Người Mỹ thì ngược lại - nhưng ở đây tôi xin tránh bất cứ lời bình phẩm nào trước khi nói về sự thành thật và chân tình.
CHƯƠNG 7 : THÀNH THẬT VÀ CHÂN TÌNH
Nếu trong lễ nghi mà không có sự thành thật và chân tình thì lễ nghi chẳng qua chỉ là một màn kịch vui. Lãnh chúa - võ sĩ Masamuné từng nói: "Lễ quá nặng thì có gì khác với giả dối nịnh nọt". Một nhà thơ cổ đại cũng viết: "Người chân thành cũng như đi giữa đường lớn, không cần cầu phúc thì phúc cũng tự đến.” Nhận thức này mạnh hơn người cổ Hy Lạp. Trong "Trung Dung", Khổng Tử cũng đề cao “Chân thành", nâng nó lên vị trí vô cùng cao, gần như thần linh. “Chân thành là bắt đầu và kết thúc của muôn vật, không chân thành thì không có gì hết ("Thành giả, vật chi chung thuỷ, bất thành vô vật." Câu này lấy từ sách Trung Dung). Sau đó, ông lại luận bàn về cơ sở tư tưởng vững chắc của ý nghĩa của sự thành thật và chân tình, và tính chất đã có lâu đời của chân thành. Chân thành có thể không hành động mà hành động, không biến đổi mà biến đổi (thành khả dĩ vô vi nhi vi, bất biến nhi biến). Trong Hán tự, chữ "Thành" là do chữ "Ngôn" trong "Ngôn thuyết" (nói) ghép với chữ "Thành trong "Thành công"(49); điều đó khiến người ta bất giác nghĩ đến từ Logos - danh từ của trường phái Plato mới, có nghĩa là ngôn ngữ, tư tưởng, ý nghĩa, khái niệm v.v... Với sự bay bổng thần bí về tư tưởng, Khổng Tử đã vượt qua các suy diễn của phái Plato, vạch rõ ý nghĩa thực sự của "chân thành".
Giả dối và cách nói mập mờ nước đôi đều là biểu hiện của sự hèn nhát. Người võ sĩ Nhật Bản có địa vị cao trong xã hội, những người thị dân và nông dân đều không thể so sánh với họ được, cho nên yêu cầu đạo đức đối với tầng lớp võ sĩ cũng cao hơn. Cái gọi là Bushi no ichi-gon tức "Lời của võ sĩ” - nghĩa tương ứng của từ này chỉ có thể tìm được ở từ ein Ritterwort trong tiếng Đức, là sự bảo đảm tính chất xác thực của lời nói. Người võ sĩ trọng lời hứa, lời hứa ấy không viết ra trên giấy mà là hứa miệng. Viết cam kết để bảo đảm thực hiện lời hứa chỉ là sự sỉ nhục tư cách võ sĩ. Tại Nhật Bản từ xưa đã lưu truyền nhiều câu chuyện chỉ vì ni-gon - tức “nuốt lời
hứa", mà phải lấy cái chết của mình để chuộc lỗi, do cái gọi là "lời hứa" ấy cũng chẳng qua là nói suông mà thôi.
Vì trọng lời hứa đến mức như thế, nên không riêng việc viết cam kết, mà cả đến thề thốt cũng trở thành việc làm tổn thương tư cách võ sĩ. Điều này khác với quy định "không được thề" trong giáo lý của đạo Ki Tô, các tín đồ đạo này thường hay vi phạm quy định đó. Có khi người võ sĩ đeo kiếm để thề, hoặc gọi tên chư thần; nếu đã như thế thì lời hứa trở nên quan trọng đến mức phải dùng tính mạng và máu của mình để thực hiện lời hứa. Kiểu thề như vậy quyết không có thể trở thành trò đùa trên miệng. Bạn đọc có thể đọc tác phẩm Faust của nhà thơ Goethe(50), trong đó có chương viết về sự thề thốt.
Gần đây, nhà văn người Mỹ Peery có viết trong một cuốn sách của ông rằng: "Nên để một người Nhật Bản bình thường lựa chọn giữa giả tạo và thất lễ, thì người ấy sẽ không do dự chọn giả tạo." (xem: Peery, "Chân tướng Nhật Bản", The Gist of Japan, trang 86).
Câu nói của tiến sĩ Peery chỉ đúng một phần. Không riêng gì người Nhật Bản bình thường, mà cả đến người võ sĩ cũng lựa chọn như vậy, điểm này ông Peery nói không sai. Nhưng tiến sĩ chưa hiểu đầy đủ tiếng Nhật Bản. Trong tiếng Nhật, từ uso ("giả tạo" hoặc "nói dối", mà Peery dịch là falsehood, tức giả dối) chỉ biểu thị ý không phải là sự thật mà thôi, chứ không có nghĩa là không thành thật. Người Nhật Bản bình thường không phân biệt được hai ý nói trên thì cũng như nhà thơ người Anh Wordsworth(51) không thể phân biệt giữa truth (sự thật; tiếng Nhật: makoto) với fact (thực tế, tiếng Nhật: honto). Điển tích này lấy từ sách "Tinh thần Viễn Đông" của nhà thiên văn học Mỹ Lowell (52). Chẳng hạn, khi trả lời câu hỏi "Bạn có thích tôi không?" hoặc "Bạn có bị bệnh đau dạ dày không?", người Nhật Bản có thể không do dự mà trả lời một cách giả tạo là "Tôi rất mến bạn." hoặc "Tôi rất khoẻ mạnh, xin cảm ơn." Người Mỹ có văn hoá cũng sẽ làm như vậy. Có lẽ điều đó sẽ bị gọi là hy sinh sự thật vì lễ nghi, bị coi là "giả tạo" (tiếng Nhật: kyorei), hoặc "dùng lời nói sai sự thật để dối người khác".
Sách này bàn về quan niệm đạo đức của võ sĩ, song nếu tôi nói vài câu về vấn đề đại loại như đạo đức trong buôn bán của người Nhật Bản thì có lẽ cũng chẳng sao. Đó là do tôi đã nghe được không ít lời oán trách của báo chí nước ngoài trên vấn đề này. Quả là các
khuyết điểm về đạo đức thương mại có ảnh hưởng xấu đến thanh danh của người dân nước chúng tôi. Có điều, mắng nhiếc khiếm khuyết ấy, hoặc trách cứ người Nhật Bản thì không bằng hãy bình tĩnh phân tích vấn đề này. Nếu làm như thế thì có lẽ ta có thể đưa ra chút kiến nghị cho tương lai.
So với các ngành nghề khác trong xã hội, thương mại là nghề nghiệp cách người võ sĩ xa nhất. Trong 4 tầng lớp sĩ nông, công, thương, thì thương nhân bị xếp dưới cùng. Người võ sĩ có ruộng đất của mình, và nếu họ muốn thì thậm chí họ có thể cày cấy trên mảnh đất ấy, làm một nông dân không chuyên nghiệp. Nhưng võ sĩ không thể đi kinh doanh thương mại, không thể động chạm vào các thứ như bàn tính. Quy ước xã hội này có tầm nhìn xa. Montesquieu (53) từng nói, nên để giới quý tộc cách xa nghề buôn, như thế mới ngăn chặn được tình trạng tài sản xã hội tập trung vào trong tay kẻ cầm quyền. Quyền phải tách khỏi tiền, thì tài sản mới được phân phối hợp lý. Trong cuốn "Xã hội La Mã trong thế kỷ cuối cùng của Đế chế Tây La Mã” (Roman Society in the Last Century of the West Empire), giáo sư Dill đã phân tích nguyên nhân diệt vong của đế chế Tây La Mã. Một trong các nguyên nhân đó là do giới quý tộc làm thương mại, cho nên một số ít nguyên lão nghị viên đã độc quyền chiếm hữu tài sản, khiến cho quyền lực và tiền tài gắn với nhau. Sự phân tích đó làm chúng ta ngày nay giật mình.
Bởi vậy, chế độ phong kiến đã ngăn cản sự tự do phát triển thương mại của Nhật Bản. Do hoạt động buôn bán bị khinh thường, trong xã hội có một số người không cần chú ý đến thanh danh bèn nhảy vào lĩnh vực này. "Gọi người ta là kẻ trộm thì có thể bức người đó làm trộm cắp” - nếu một ngành nghề bị coi là không chính đáng thì người làm nghề ấy sẽ dùng tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức thấp để yêu cầu bản thân. Như Hugh Black nói: “Lương tâm của người bình thường thì rất dễ nâng lên tới một yêu cầu cao hơn và cũngcó thể rất dễ sa sút xuống một tầng nấc thấp." Sự thay đổi yêu cầu đạo đức là vô cùng tự nhiên. Dù là thương nghiệp hoặc ngành nghề khác đều cần có các chuẩn mực đạo đức để gìn giữ. Thương nhân Nhật Bản ở thời phong kiến cùng có một quy ước đạo đức nếu không thì các thể chế như hợp tác xã thương nghiệp, ngân hàng, thị trường chứng khoán, sở giao dịch, bảo hiểm, đổi tiền v.v... đã không phát triển nhanh như vậy ở Nhật Bản, tuy còn ở trạng thái ban đầu.
Thế nhưng trừ các hoạt động thương mại có liên quan đến lợi ích ra, khi giao tiếp với những người thuộc ngành nghề khác, hành vi của các nhà buôn thường hay khiến người ta nhớ đến những lời phê phán mức độ đạo đức của giới thương nhân.
Chính vì thế mà khi Nhật Bản mới bắt đầu buôn bán với nước ngoài, chỉ những người dám mạo hiểm nhất và không kiêng kỵ gì hết mới dám đến các bến cảng để tiến hành hoạt động thương mại. Trong khi đó, các nhà buôn có danh tiếng lại trì hoãn mở rộng quy mô kinh doanh mặc dù chính quyền yêu cầu họ phát triển hoạt động thương mại. Hành vi mở rộng hoạt động thương mại càng ngày càng trở nên không đẹp mặt. Võ Sĩ Đạo không có cách nào ngăn cản tình hình nói trên ư? Chúng ta hãy phân tích vấn đề này.
Những người hiểu lịch sử Nhật Bản đều biết, chỉ vài năm sau khi nước chúng tôi bắt đấu mở cửa thông thương thì chế độ phong kiến ở Nhật Bản đã bị xoá sổ. Đồng thời chế độ cấp lương bổng cho võ sĩ cũng bị huỷ bỏ; Nhà nước cấp phát một số công trái cho các võ sĩ và khuyến khích họ tự do đầu tư trong lĩnh vực thương mại. Có người sẽ hỏi: "Tầng lớp võ sĩ nhảy vào ngành thương mại, như thế chẳng phải là họ sẽ mang vào ngành này lòng thành thật mà họ vốn tự hào? Phải chăng vì thế các hoạt động đầu cơ và không trung thực trong thương mại Nhật Bản sẽ được chấn chỉnh?" Trên thực tế, tình hình lại không như vậy. Nhiều võ sĩ cao thượng và chính trực hoàn toàn không biết nên tiến hành hoạt động thương mại ra sao, dùng cách nào để cạnh tranh và mặc cả với các đối thủ bình dân khôn ngoan. Vì vậy họ rơi vào kết cục vô cùng bi đát, mất hết vốn liếng, bị người khác cướp mất miếng ăn. Nghe nói ngay ở Mỹ, cũng có tới 80% các nhà đầu tư bị lỗ vốn, nói gì đến tầng lớp võ sĩ vừa mới lao vào lĩnh vực kinh doanh. Giới võ sĩ làm kinh doanh mà không kiếm được tiền; trong 100 người thì chưa chắc có nổi một người kinh doanh thành công. Không thể áp dụng Võ Sĩ Đạo vào thương mại được. Các thử nghiệm thất bại ấy đã làm tiêu tán rất nhiều tài sản, nhiều tới mức không thể thống kê rõ ràng. Nhưng mọi người đều biết, làm giàu và danh dự đạo đức là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Vậy khác biệt là ở đâu?
Lecky (54) từng vạch rõ, có 3 điều kiện tất yếu để tạo dựng sự trung thực trong thương mại, đó là các nhân tố trên 3 mặt kinh tế, chính trị và triết học. Võ Sĩ Đạo thiếu mất nhân tố thứ nhất. Dưới
chế độ phong kiến, nhân tố thứ hai cũng không thể được phát triển đầy đủ. Sở dĩ người dân Nhật Bản vẫn có quan niệm về trung thực thương mại, chủ yếu là do nhân tố triết học phát huy tác dụng. Trung thực nói ở tầng nấc này chính là thể hiện cao nhất của từ ngữ đó. Dân tộc Anglo- Sacxon có trình độ đạo đức thương mại rất cao, thế nhưng khi được hỏi về các yếu tố của đạo đức ấy, người ta sẽ trả lời: "Có tôn trọng đạo đức thương mại thì mới có thể thu được lợi nhuận lớn nhất." - cũng tức là nói, việc xây dựng đạo đức thương mại thì xuất phát từ lý do kinh tế. Thế nhưng, với người Nhật Bản thì thù lao duy nhất trả cho đức hạnh lại chính là bản thân đức hạnh. Giả thử vì để kiếm được nhiều tiền mà tuân theo quy phạm đạo đức, giả thử nói thật thì có lợi hơn nói dối và giả thử vì nguyên nhân đó mà nói thật, thì tôi e rằng tất cả các võ sĩ chính trực sẽ đều tình nguyện nói dối.
Tuy Võ Sĩ Đạo không muốn tiếp thu chủ nghĩa kiếm lời quit pro quo "có đi có lại”, song các thương nhân say mê lợi nhuận lại dễ dàng tiếp nhận chủ nghĩa đó. Bởi vậy, kết luận của Lecky - quan niệm trung thực thương mại phát triển được là nhờ đã tạo dựng được quan niệm giữ chữ tín trong thương mại - là vô cùng chính xác. Như Nietzsche nói: "Trung thực là thứ đức hạnh nhỏ tuổi nhất trong các loại đức hạnh"; nói cách khác, nó là đứa con nuôi của công nghiệp hoặc của công nghiệp hiện đại. Không có bà mẹ công nghiệp hiện đại thì trung thực thương mại dường như là một đứa trẻ mồ côi xuất thân quý phái mang dòng máu cao quý nhất. Nhiều người trong tầng lớp võ sĩ có tâm hồn cao quý như vậy, chẳng khác đứa con nuôi quý phái nói trên. Thế nhưng, nếu không có bà mẹ
bình dân là nền công nghiệp, thì đứa con nuôi ấy sẽ không được nuôi dưỡng chu đáo. Cùng với sự phát triển công nghiệp hiện đại, người ta dần dần phát hiện thấy, giữ chữ tín không phải là một việc khó, vì qua đó có thể kiếm lời. Ta hãy tham khảo một thí dụ thực tế sau đây. Hồi tháng 11 năm 1880 , Bismarck từng gửi một công văn cho các viên lãnh sự Đức ở nước ngoài cảnh báo rằng chất lượng hàng hoá chở trên các tàu thuyền Đức rất xấu và không đủ trọng lượng. Ngày nay, các tàu buôn của nước Đức không còn làm như vậy nữa; cuối cùng thì người Đức đã hiểu được rằng trong buôn bán phải giữ chữ tín, vì làm như thế thì có lợi hơn. Các thương gia Nhật bản cũng phát hiện quy luật này. Tôi xin giới thiệu với bạn đọc hai
cuốn sách có liên quan tới vấn đề trên: "Nước Nhật Bản phong kiến và hiện đại" và "Nhật Bản trong thời kỳ biến đổi" (Knapp, Feudal and Modern Japan, tập I, chương IV; Ransome, Japan in Transition, chương VIII). Đọc hai cuốn sách này, bạn sẽ hiểu hơn về quan niệm tín nhiệm thương mại của các thương gia Nhật Bản. Thậm chí khi vay tiền, các thương gia cũng viết giấy cam kết bảo đảm bằng danh dự của mình. Đây là một việc rất có ý nghĩa. "Nếu tôi chậm trả nợ, tôi tình nguyện để Ngài chê cười tôi trước công chúng rộng rãi mà tuyệt đối không oán trách gì", hoặc "Nếu tôi không trả tiền thì Ngài có thể gọi tôi là đồ lừa đảo" - những câu như vậy thường viết trong các cam kết vay nợ.
Tôi thường hay nghĩ về việc phải chăng sự trung thực của Võ Đạo cũng có động cơ cao thượng như Dũng? Trong thực tế, không có văn bản pháp luật rõ ràng nào cấm người ta làm chứng giả; nới dối không phải là phạm tội mà chỉ là một việc không trọng danh dự, bị trách là hèn nhát. Khái niệm danh dự có liên hệ khăng khít với danh dự của người võ sĩ. Trong tiếng La Tinh và tiếng Đức trung thực (honesty) và danh dự (honour) là những
từ có cùng một gốc. Bởi thế, xuất phát từ đây, chúng ta hãy khảo sát quan niệm danh dự của Võ Sĩ Đạo.
CHƯƠNG 8 : DANH TIẾT
Từ danh tiết (danh dự và tiết tháo) hàm chứa ý nghĩa bảo vệ sự tôn nghiêm và giá trị đặc biệt của nhân cách. Bởi vậy, danh tiết là đặc điểm của võ sĩ, vì khi ra đời họ đã có danh phận và cũng có nghĩa vụ cùng sự tôn nghiêm của mình; suốt đời họ được dạy dỗ một cách đặc biệt. Tuy rằng thời bấy giờ từ danh dự (honour) chưa được sử dụng rộng rãi, nhưng các từ danh tiết, thể diện, thanh danh (các từ này trong tiếng Nhật lần lượt là na, men-koku và guai-bun) đều biểu đạt cùng ý như vậy. Ba từ ấy có cùng ý nghĩa với danh (name) trong Kinh Thánh, nhân cách (personality) và thanh danh (fame) trong tiếng Hy Lạp. Danh tiết - "Bộ phận bắt hủ trên con người mà thiếu nó thì con người chẳng khác gì con vật” - lẽ tự nhiên, không thể chịu bất cứ sự bôi nhọ nào. Trong giáo dục trẻ em, trước tiên người ta dạy chúng biết quý trọng cảm giác xấu hổ (tiếng Nhật: Ren-chi-shin). "Làm thế sẽ bị người ta chê cười đấy", "Mất thể diện quá!", "Không thấy xấu hổ ư?" những câu nói như thế là sự trách mắng nặng nề nhất đối với các thiếu niên phạm lỗi. Động chạm vào danh dự của thiếu niên thì sẽ động chạm tới bộ phận nhạy cảm nhất trong nội tâm chúng, bởi lẽ ngay từ trong bụng mẹ, lũ trẻ đã được hun đúc, rèn rũa phải trọng danh dự. Nói như vậy không phải là quá đáng, vì danh dự thì gắn chặt với quan niệm gia đình mạnh mẽ. Balzac(55) nói: “Trong một xã hội không có sự liên kết giữa các gia đình với nhau, thì cái sức mạnh căn bản mà Montesquieu gọi là Danh dự sẽ không còn nữa." Thật
vậy tôi cũng cho là như thế. Cảm giác sỉ nhục là cái không thể thiếu được khi đạo đức của loài người đạt tới mức tự giác; loài người có thể dùng nó để tự quản lý bản thân. Cho nên tôi cho rằng sự trừng phạt đầu tiên và nặng nề nhất đối với loài người do họ ăn vụng trái cấm(56) thì không phải là nỗi đau của người đàn bà khi sinh đẻ, cũng không phải là nỗi gian truân phải đi trên con đường gai góc và mất thiên đường (tức vườn Eden), mà là sự thức tỉnh cảm giác xấu hổ. Giờ phút lịch sử khiến loài người đau xót nhất đã xảy ra khi Eva- người mẹ đầu tiên của nhân loại, vừa thở hổn hển vừa
dùng tay run rảy đính mấy chiếc lá để che thân, còn Adam - ông bố của nhân loại, chán chường ngồi bên nhìn. Vì không vâng lời Thượng Đế nên cái quả đắng ấy cứ mãi mãi đeo bám chúng ta dai dẳng vô cùng. Ngày nay, kỹ thuật may mặc của loài người đã cực kỳ cao nhưng vẫn không thể nào may nổi vuông vải che sự xấu hổ một cách hoàn toàn kín không có chỗ hở. Võ sĩ nổi tiếng Hakuseki từng nói: “Mất danh dự cũng giống như vết sẹo trên thân cây, nó sẽ không bao giờ mất đi mà ngược lạt càng ngày càng to ra." Lý lẽ đúng là như thế. Ngay từ thời niên thiếu, Hakuseki đã chống lại bất cứ lời xúc phạm nhẹ nhàng nào đến phẩm giá của mình.
Carlyle(57) từng nói: "Cảm giác xấu hổ là mảnh đất gieo trồng của một thứ đạo đức, mọi cách ứng xử tốt, và mọi tinh thần tốt đẹp." Từ nhiều thế kỷ trước đó, Mạnh Tử đã nói : "Biết hổ thẹn với cái ác tức là sự mở đầu của việc nghĩa vậy. (Tu ác chi tâm, nghĩa chi đoan dã- Câu này lấy từ "Mạnh Tử -Công Tôn Sửu, thượng")
Tuy rằng trong văn học Nhật Bản không có đoạn văn kinh điển như "Vua Lia” (Lear) trong tác phẩm của Shakespeare, mượn lời của Norfolk thao thao bất tuyệt nói về ý nghĩa của cảm giác xấu hổ, nhưng văn học Nhật Bản cũng luôn thể hiện cảm giác sợ hãi to lớn đối với xấu hổ. Cảm giác mất danh dự tương tự như thanh gươm Damocles(58) treo trên đầu người võ sĩ, khiến họ run rẩy sợ hãi, thậm chí có chút bệnh hoạn. Trong các điều răn của Võ Sĩ Đạo, đôi khi có những việc không có công dụng nào cả mà làm việc đó chỉ để vì danh dự. Do một chút sự việc cực kỳ nhỏ nhặt, thậm chí chỉ là một chút sỉ nhục trong tưởng tượng, các võ sĩ nóng tính có thể tuốt gươm ra đâm chém nhau, thậm chí mất mạng một cách vô ích. Có một câu chuyện như sau: một nhà buôn không hề có ý định xấu nào khi nhắc nhở một võ sĩ là trên lưng ông ta có một con rận, thế là võ sĩ kia lập tức rút gươm ra chém nhà buôn này làm đôi. Nguyên do chỉ vì võ sĩ cho rằng chấy rận là thứ sống ký sinh trên loài cầm thú, sao có thể nói trên thân người võ sĩ cao quý như ông ta lại có rận được Nói thế khác gì mắng ông ta là loài cầm thú? - Câu chuyện này vô cùng hoang đường và không thể tin được, nhưng lại lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Điều đó ít nhất cũng nói lên mấy điểm : (1) Có trường hợp võ sĩ dùng câu chuyện ấy để dọa dẫm dân chúng, khiến họ tin là võ sĩ thì dễ nổi nóng và trọng danh dự, bất khả xâm phạm. (2) Trên thực tế, danh dự và khí tiết của võ sĩ đã bị lạm
dụng; (3) Trong tầng lớp võ sĩ, quan niệm cực mạnh về danh tiết đang được phát triển. Dĩ nhiên, nếu dùng thí dụ không có thật kể trên để lên án khiếm khuyết của toàn bộ Võ Sĩ Đạo thì không công bằng. Trong giáo lý đạo Ki Tô cũng có các kiểu nói xằng, các phán quyết nguỵ thiện, nhưng không thể căn cứ vào đó mà chỉ trích sự dạy bảo của Thượng Đế. Nhưng nếu khi so sánh một tín đồ cuồng tín với một kẻ điên cuồng vì say rượu mà bạn thấy có nhiều lý do để bênh vực người tín đồ, thế thì khi nhìn vào thái độ cực kỳ nhạy cảm của võ sĩ đối với danh dự của họ, phải chăng bạn cũng có thể phát hiện thấy có bóng dáng của đức hạnh chân chính?
Những điều răn dạy về danh dự và khí tiết dễ gây ra sự nhạy cảm quá đáng, thậm chí khiến người ta rơi vào các hành động quá khích có tính bệnh hoạn. Thế nhưng, Võ Sĩ Đạo còn có những lời dạy về tinh thần khoan dung và nhẫn nại. Vì một chút kích động nhỏ mà nổi giận thì sẽ bị nhiếc là "nóng tính”. Nhật Bản có câu cổ ngữ "Nhẫn điều không thể nhẫn được mới là nhẫn thật sự”. Trong các gia huấn của dòng họ Tokugawa có câu: "Đời người ví như đường xa vác nặng, không cần vội vàng... Chỉ có lấy chữ nhẫn làm đầu thì mới đi được lâu... Thà trách mình chứ chớ trách người." Cuộc đời của Tokugawa Ieyashu(59), người để lại gia huấn đó, là một minh hoạ cực hay cho câu nói trên. Một nghệ sĩ cuồng ca (60) đã dùng hình thức cuồng ca để tổng kết phong cách nói của 3 danh nhân trong lịch sử Nhật Bản. Nobunaga(61) nói: "Con chim cuốc kia, mi mà không kêu thì ta giết mi!" Hideyoshi(62) nói: “Con chim cuốc kia, mi không kêu thì ta bắt mi phải kêu!", còn Ieyashu thì nói: "Chim cuốc kia, nếu mi không kêu thì ta đợi cho đến khi nào mi kêu mới thôi."
Mạnh Tử cũng cực kỳ tôn trọng sự nhẫn nại và kiên trì ông từng diễn tả ý như thế này: “Ngươi dùng cách trần truồng đi bên cạnh ta để làm nhục ta, dù thế đi nữa ta cũng không vì vậy mà bị tổn thương." (Toàn bộ câu này nguyên văn như sau: "Nhĩ thị nhĩ, ngã thị ngã, tuy đản tích lõa trình ư ngã trắc, nhi yên năng mỗi ngã tai." Tạm dịch: Ngươi là ngươi, ta là ta; dẫu ngươi có trần truồng đi cạnh ta thì há có thể làm gì vấy bẩn được ta chăng? - Câu này lấy từ "Mạnh Tử - Vạn chương, hạ”). Ông còn nói, người quân tử nên cảm thấy xấu hổ khi mình nổi nóng chỉ vì chuyện nhỏ nhặt; chỉ có nổi giận vì làm trái đại nghĩa thì mới thật sự xứng đáng là nổi giận.
Bằng cách nào mà Võ Sĩ Đạo có thể đạt được sự khiêm hoà thật sự, không cần đấu tranh mà tự có uy danh? Qua lời nói của một số võ sĩ nổi tiếng, chúng ta có thể biết họ đã tu dưỡng ra sao để làm được điều đó. Chẳng hạn, võ sĩ Ogawa nói: "Khi kẻ khác nói những lời xúc phạm ta, ta không cần xúc phạm lại, mà chỉ cần tự suy nghĩ xem ta đã làm tròn nghĩa vụ của mình hay chưa.” Còn Kumazawa thì nói: “Khi người khác chê trách ta, ta không chê trách lại; khi kẻ khác giận ta, ta cũng chẳng giận lại họ. Không oán trách, không cáu giận, không ham muốn - như thế sẽ làm cho tâm trạng mình bình yêu không lo buồn.” Võ sĩ cao quý Saigo đã tu dưỡng đạt tới mức như vậy. Hai chữ xấu hổ cứ thấy ông là biến mất tăm mất tích. Saigo từng nói: "Đạo, là con đường của Trời Đất, làm người thì phải đi theo con đường đó. Trời ban lòng nhân ái cho chúng sinh, mọi người đều được hưởng phần như nhau, cho nên ai cũng phải thương người như thể thương thân. Không nên so bì mình với kẻ khác mà nên làm theo đạo Trời, đối chiếu mình với Trời. Không bao giờ trách người mà phải tự xét mình.” Những lời lẽ cao thượng nói trên khiến chúng ta nghĩ đến đạo Ki Tô. Mức độ thâm thuý của các lời lẽ đạo này thì rất gần với các tín ngưỡng tự nhiên sinh ra để thực hành đạo đức và các tôn giáo dưới sự dẫn dắt của Chúa. Các võ sĩ kể trên không chỉ nói, mà đã dùng hành động thực tế thực hiện những điều ấy.
Tại đây cần nói thêm là, trong thực tế, có rất ít, rất ít người đạt được đạo đức cao cả như vậy, trở thành người cao thượng có lòng khoan dung, nhẫn nại và nhân ái. Nói cho đến cùng, cho tới nay vẫn rất khó định nghĩa được danh tiết là một khái niệm như thế nào. Chỉ có một số ít người tài năng và đức hạnh xuất chúng mới ý thức được rằng, trên thực tế, danh tiết không những chỉ là sản phẩm sinh ra khi gặp một cảnh ngộ nào đó, mà là điều người ta phải cố gắng làm được trong bất cứ lúc nào và nơi nào. Có kẻ khi đọc sách từng học lời Mạnh Tử: "Dục quý giả, nhân chi đồng tâm dã. Nhân nhân hữu quý vu kỷ giả, phất tư nhĩ. Nhân chi sở quý giả, phi lương quý dã. Triệu Mạnh sở quý giả, Triệu Mạnh năng tiện chi." (câu này lấy từ "Mạnh Tử - Cáo Tử, thượng". Trong câu này Mạnh Tử muốn nhấn mạnh: Kẻ có tự tôn (có sự tôn nghiêm của mình) thì được người khác tôn trọng, kẻ tự quý trọng mình thì được người khác quý trọng. Cái quý của con người là biết tự tôn tự quý, đừng bao giờ bắt chước kẻ thấp hèn hạ tiện, tức là đừng có “cầm bát vàng đi xin ăn".
Muốn tự tôn tự quý, mấu chốt là phải biết mình có cái đáng được tôn quý ("có bát vàng”). Mạnh Tử cho rằng trên thế gian có hai loại tôn quý: - loại ngoại tại, tức loại dựa vào người khác cho mà có; - loại nội tại, tức nhân nghĩa đạo đức, là thứ do mình tự tu dưỡng mà có. Nhân vật Triệu Mạnh vốn là Chính Khanh nước Tấn đời Xuân Thu tên Triệu Thuẫn, tự Mạnh; con cháu đều lấy tên này. Do đó khi nói Triệu Mạnh là nói một người có quyền thế chứ không nhất định chỉ một người cụ thể nào.)
[Tạm dịch ý câu này như sau: "Tâm lý chung của mọi người là muốn được tôn quý. Thế nhưng thực ra mỗi người đều có cái đáng tôn quý của mình, chẳng qua bình thường không nghĩ tới điều đó mà thôi. Cái tôn quý người khác cho ta không phải là sự tôn quý thật sự. Triệu Mạnh có thể làm cho anh được tôn quý thì Triệu Mạnh cũng có thể hạ nhục anh (làm anh trở thành hạ tiện).] thế nhưng đến khi thực sự hành động thì lại quên mất lời dạy đó, vẫn là kẻ mê mải theo đuổi công danh, hoặc là kẻ chỉ vì bị xúc phạm một chút mà đã rút dao đâm chém nhau, hoặc là kẻ liều chết báo thù địch thủ. Những kẻ ấy chẳng qua chỉ muốn được người đời ca ngợi mà thôi, đâu phải là kẻ biết trọng danh tiết chân chính.
Chỉ có sự chí thiện của đời người mới là danh tiết chân chính, đó mới là mục tiêu nên theo đuổi, chứ không phải sự giàu sang hoặc một chút tri thức khô khan. Nhiều thiếu niên khi đi khỏi gia đình đã thề trong lòng là nếu chưa lập công hiển hách thành danh thì quyết không về nhà. Nhiều bà mẹ trọng công danh cũng bức bách con trai bao giờ mặc áo gấm thì hãy về nhà, nếu không thì không gặp lại nữa. Để được thành danh, để được vẻ vang, các võ sĩ trẻ chịu đựng mọi thử thách tàn khốc từ tinh thần cho đến thể chất. Mọi người đều biết rằng người nào ngay từ tuổi thiếu niên mà đã thành danh thì sau này sẽ được hưởng ngày càng nhiều vinh hiển. Trong chiến dịch vây đánh thành Osaka, một người con trai nhỏ tuổi của Ieyashu bị bố trí ở quân đội hậu phương, tuy rằng cậu bé rất muốn được sung vào đội tiên phong. Sau khi chiếm được thành, cậu ta vô cùng đau khổ. Thấy thế, một người lính già bèn an ủi: "Thưa, ngài không đi đâu mà vội, đời ngài còn dài, còn nhiều trận đánh nữa ạ." Vị công tử nhà Ieyasu ấy tức giận trả lời: "Ngươi nói gì mà ngu thế hả! Lẽ nào tuổi 14 tươi đẹp này còn trở lại với ta lần nữa được sao?"
Với người võ sĩ, nếu chưa giành được vinh quang thì cuộc sống cũng chẳng có ý nghĩa gì. Thậm chí, các võ sĩ sẵn sàng bình tĩnh đi vào chỗ chết chỉ để giành lấy vinh quang, là thứ họ coi trọng hơn cả tính mạng của mình.
Người ta có thể hy sinh tính mạng quý giá của mình vì rất nhiều lý do, trong đó lý do lớn nhất là một chữ "Trung". Nó là hòn đá tảng quan trọng nhất xây đắp nên cái vòm cửa cân đối của nền đạo đức phong kiến.
CHƯƠNG 9 : ĐẠO TRUNG
Đạo đức xã hội phong kiến có những điểm tương đồng với đạo đức của các xã hội khác hoặc các hệ thống luân lý khác, nhưng riêng đạo Trung lại là sản phẩm đặc hữu của xã
hội phong kiến. Trung là sự phục tùng và tôn kính đối với người trên. Theo tôi hiểu, trung thành là sợi đây đạo đức kết nối một tập thể lại với nhau, dù họ thuộc đẳng cấp nào, hoàn cảnh nào. Ngay cả lũ trộm cũng phải trung thành với tên trùm của chúng, chẳng hạn như tên Fagin(63) trùm băng nhóm trộm cắp trong truyện "Lũ trẻ mồ côi của thành phố sương mù”. Song, chỉ có trong các lời răn của Võ Sĩ Đạo thì trung thành mới có được tính chất quan trọng tối thượng như vậy.
Trong cuốn triết học của Lịch sử " (Philosophy of History, bản tiếng Anh của Sibree dịch, phần II, chương II) Hegel(64) đã phê phán sự trung thành của các triều thần trong xã hội phong kiến chỉ là lòng trung thành đối với một cá nhân nào đó chứ không phải là nghĩa vụ đối với cộng đồng. Bởi vậy, trung thành chẳng qua chỉ là một mối quan hệ có tính trói buộc, được xây dựng trên các nguyên tắc bất hợp lý. Tuy thế, người đồng bào vĩ đại của Hegel là Bismarck lại ra sức khoe khoang phẩm chất trung thành của người Đức. Bismarck làm thế không phải vì Treue (trung thành) là một mỹ đức của đất nước ông, mà là do có sự ràng buộc của lòng trung thành mà Hiệp Sĩ Đạo trở nên sống dai dẳng nhất trong xã hội Đức, một nước có chế độ phong kiến kéo dài lâu nhất. Tại nước Mỹ, quan niệm bình đẳng đã ăn sâu vào lòng người, "ai cũng tốt như nhau cả", và tại Ireland, người ta bổ sung thêm: tất cả "đều tốt hơn". Người Nhật Bản thì trung thành với vua chúa; quan niệm này tuy có thể coi là tốt đẹp trong một giới hạn xác định, nhưng không nên khuyến khích quá mức trong dân chúng Nhật Bản. Rất lâu về trước, Montesquieu từng cảm khái nhận xét rằng, điều mà người bên này dãy núi Pyrenees (65) cho là đúng thì người bên kia dãy núi ấy lại cho là sai. Vụ Dreyfus(66) mới xảy ra thời gian gần đây đã chứng minh sự đúng đắn của nhận xét đó. Chính nghĩa của người Pháp khi
vượt qua dãy Pyrenees sang đến đất Tây Ban Nha thì không nhận được sự hưởng ứng nữa. Cũng như vậy lòng trung thành mà người Nhật Bản cho là đúng thì lại ít được các nước khác ca ngợi. Đó không phải vì quan điểm của chúng tôi sai, mà vì, tôi e rằng, người ta không coi trọng nó, và do chúng tôi đề cao lòng trung thành lên tới mức không nước nào đạt được. Trong cuốn 'Tôn giáo ở Nhật Bản " (Religions of Japan), nhà tôn giáo học người Mỹ Griffis nói rất đúng rằng Nho giáo ở Trung Quốc coi sự hiếu thảo của con đối với cha mẹ là nghĩa vụ cao nhất, còn ở Nhật Bản thì sự trung thành đối với vua chúa là mỹ đức số một. Tại đây, tôi xin nêu một câu chuyện làm thí dụ. Nhân vật chính trong chuyện này cùng chung hoạn nạn với chúa của mình, và do đó tên tuổi của ông được lưu truyền muôn thuở, tình tiết câu chuyện tương tự một vở kịch của Shakespeare.
Nhân vật chính của câu chuyện này là Michizané, một trong các danh nhân vĩ đại nhất của lịch sử Nhật Bản. Do người khác ghen ghét, ông bị vu khống và bị đuổi ra khỏi kinh thành. Kẻ thù tàn ác không dừng lại ở đấy, mà còn tiếp tục “nhổ cỏ nhổ cả rễ", đi khắp nơi truy tìm đứa con trai nhỏ của Michizané hòng trừ hậu hoạ. Khi kẻ thù biết đứa bé ấy còn sống và được một cựu thần của Michizané là Genzo dấu ở một trường tư thục trong một ngôi đền, chúng ra lệnh cho Genzo đúng hẹn phải giao nộp thủ cấp đứa con trai của Michizané. Thế là Genzo nghĩ cách tìm một kẻ thế mạng cho ấu chúa của mình. Ông đi đi lại lại trong ngôi đền kín đáo dùng ánh mắt sâu sắc quan sát lũ trẻ đang học trong trường, xem có đứa bé nào giống khuôn mặt của ấu chúa không. Nhưng lũ trẻ ở đây đều là trẻ em nông thôn, không đứa nào có chút khí chất của ấu chúa cả. Ông bất giác tuyệt vọng. Đúng lúc ấy thì chúa cứu thế của ông bỗng xuất hiện. Đó là một người đàn bà dáng điệu quý phái đang đi vào ngôi đền, tay dắt một đứa bé khôi ngô trạc tuổi với ấu chúa.
Thiếu niên nọ có khuôn mặt giống hệt ấu chúa, hơn thế nữa, bà mẹ và cậu con trai cũng đã từ lâu biết chuyện ấu chúa đang bị săn lùng. Và chính là vì thế mà hai mẹ con đã tuyên thệ ngay trong phòng kín ở nhà họ: chàng thiếu niên chuẩn bị dâng tính mạng mình cho ấu chúa, còn bà mẹ thề quên đi nỗi thương tiếc con trai trong quãng đời còn lại của bà. Tình cảm ấy hai mẹ con không hề để lộ ra ngoài. Genzo không biết gì về chuyện đó, nhưng khi vừa nhìn thấy cậu bé có khuôn mặt giống hệt ấu chúa, ông đã có chủ ý của mình.
Bây giờ, con dê thế tội đã được đưa lên đàn tế thần... Hãy để tôi kể cho bạn nghe kết cục của câu chuyện. - Đúng ngày đã định, viên quan phụ trách việc giám định và tiếp nhận thủ cấp của con trai Michizané đến chỗ ngôi đền. Lúc ấy, Genzo đáng thương tay cắp đao, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra ngoài lồng ngực. Cái thủ cấp thế thân này liệu có qua nổi lần nhận dạng này hay không? Nếu không, thì ta phải đâm cho viên quan kia một nhát rồi sau đó tự sát, ông nghĩ. Viên quan giám định cầm chiếc thủ cấp của đứa bé, xem đi xem lại khuôn mặt, ngắm nghía rất lâu, cuối cùng mới lạnh lùng tuyên bố: "Đúng là nó đây rồi."
Tối hôm ấy, trong căn nhà yên tĩnh, bà mẹ mà ta đã thấy ở trường học hồi hộp lo lắng ngồi chờ kết quả việc nhận dạng thủ cấp. Bà đã biết số phận của con trai mình. Bây giờ con bà đã không còn trên cõi đời này nữa. Bà nóng lòng nhìn ra cổng, ngóng chờ chồng về. Bao năm qua, bố chồng bà được Michizané quan tâm giúp đỡ, nay Michizané đang bị lưu đày. Do tình thế bắt buộc, chồng bà lại phải phục dịch kẻ thù của ân nhân gia đình mình. Tuy trong lòng không muốn thế, nhưng ông buộc phải trung thành với chủ mới của mình. Giờ đây, con trai ông đã thay mặt ông phụng sự cho ân nhân của đại gia đình. Còn ông lại chính là kẻ được giao nhiệm vụ nhận dạng thủ cấp ấu chúa, vì kẻ thù biết là ông quen biết gia đình Michizané và biết mặt đứa con của Michizané. Hôm ấy, ông đã làm xong nhiệm vụ khó khăn nhất trong đời mình. Khi vừa về tới nhà, chưa bước qua bậc cửa, ông đã nước mắt ròng ròng bảo vợ: "Bà hãy vui lên! Con trai yêu quý của chúng ta đã phụng sự chúa của nó rồi!”
"Một câu chuyện thảm khốc tàn bạo !"- tôi nghe thấy bạn đọc của mình hét lên. "Cha mẹ chủ tâm hy sinh đứa con thơ ngây của mình để cứu tính mạng kẻ khác!" Nhưng đứa trẻ ấy hoàn toàn tự giác và tình nguyện hy sinh thân mình cơ mà! Câu chuyện cái chết thế mạng này cũng nổi tiếng như chuyện Abraham(67) dâng tính mạng con trai mình là Isaac cho Chúa Trời trong "Sáng Thế kỷ", nhưng không chứa đựng lắm tình tiết khiến người ta cảm thấy khó chịu như chuyện của Abraham. Cả hai trường hợp này đều là sự tuân theo tiếng gọi của nghĩa vụ, sự tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của tiếng nói cao cả từ thiên thần, dù là thiên thần có thật hoặc thiên thần trong nội tâm, hoặc sứ mệnh đó có thể nghe thấy bằng tai hay hằng
trái tim - nhưng ở đây, tôi xin tránh nói tiếp phần này mà tiếp tục trở lại phần trước.
Người phương Tây theo chủ nghĩa cá nhân; dù là cha con, vợ chồng với nhau cũng phân chia lợi ích của mỗi người một cách rõ ràng, do đó từng người không có nhiều nghĩa vụ với nhau. Nhưng trong Võ Sĩ Đạo thì mỗi thành viên gia đình và gia tộc đều là một khối thống nhất không thể chia cắt. Sự thống nhất ấy được gìn giữ không phải bằng lợi ích mà là bằng tình yêu - một tình yêu tự nhiên, bản năng, không thể chống lại. Võ Sĩ Đạo thống nhất nghĩa vụ với tình yêu làm một, đây chính là điểm cao thượng của Võ Sĩ Đạo. Nếu ta chết vì người mà ta yêu bằng tình yêu bản năng (ngay cả loài vật cũng làm thế), thì đó là cái gì? "Bạn sẽ nhận được gì nếu bạn yêu họ như họ yêu bạn? Ngay cả những người thu thuế cũng không làm như vậy chăng?"
Trong cuốn Nhật Bản Ngoại sử, Sanyo có kể lại câu chuyện của võ tướng Shigemori cuối thời Heian. Do cha mình phản nghịch chống lại triều đình nên trong lòng Shigemon diễn ra một cuộc đấu tranh gay gắt, "Muốn trung với chúa thì không thể hiếu với cha, mà muốn hiếu thì lại không thể toàn trung được." Sanyo vô cùng thương hại Shigemori, con người ấy cuối cùng chỉ đành cầu Trời cho mình chết nhằm giải thoát khỏi nghịch cảnh hai đạo trung và hiếu không thể song toàn.
Trong thực tế, nhiều người như Shigemori từng ở trong hoàn cảnh trớ trêu tình cảm và nghĩa vụ xung khắc với nhau, đều phải trải nghiệm những nỗi đau khổ dữ dội. Tại phương Tây, dù là trong các tác phẩm của Shakespeare hoặc trong Cựu Ước đều không thấy nêu ra khái niệm nào tương đương với khái niệm ko, tức Hiếu của chúng tôi. Trong trường hợp gặp tình trạng mâu thuẫn như trên, người võ sĩ Nhật Bản sẽ dứt khoát chọn "Trung" với vua chúa của mình. Các bà mẹ cũng sẽ khuyến khích con mình hy sinh hết thảy vì vua chúa. Thời vua Charles I nước Anh, bà quả phụ Windham có ba con trai đều chết trong các trận chiến đấu bảo vệ vua Anh, khi có người đến an ủi, bà nói: "Tôi không hối hận vì đã dâng ba đứa con của mình cho nhà vua. Nếu tôi còn đứa con nào nữa thì tôi vẫn cứ cho nó đi chiến đấu hy sinh vì đức vua." Các bà mẹ và bà vợ Nhật Bản hoàn toàn không thua kém bà Winham. Họ sẽ kiên quyết lựa
chọn "Trung", giúp con mình, chồng mình dâng tính mạng cho sự trung nghĩa.
Theo quan niệm của Võ Sĩ Đạo, quốc gia được đặt lên trên cá nhân; cá nhân chỉ là một bộ phận của quốc gia, người ta sinh ra là để phụng sự quốc gia, bởi vậy mọi cá nhân đều nên không ngại hy sinh thân mình vì sự hưng vong của quốc gia. Trên thực tế, chính kẻ nắm chính quyền hợp pháp của quốc gia lại là kẻ thay thế khái niệm quốc gia. Tại phương Tây cũng có những người giữ quan điểm như vậy, chẳng hạn Aristotle(68) và một số nhà xã hội học cận đại. Socrates cũng nêu ra vấn đề đó trong tác phẩm của mình. Khi đang bị giam trong ngục thất và có cơ hội trốn ra ngoài, Socrates đã đứng trên lập trường của quốc gia mà nói với chính mình: "Mi vốn do ta sinh ra, ta đã nuôi nấng và dạy dỗ mi. Mi và tổ tiên của mi chẳng qua đều là con cháu hoặc đầy tớ của ta cả!", chính vì lý do ấy mà ông đã không bỏ trốn. Câu nói này của Socrates không có gì lạ đối với người dân Nhật Bản, vì nó thể hiện dụng ý của Võ Sĩ Đạo. Chỉ có điều là tại Nhật Bản, nhà nước và pháp luật được thể hiện bằng một cá nhân cụ thể. Đạo Trung là nền tảng luân lý sinh ra từ nhân tố chính trị ấy.
Trong cuốn "Nguyên lý Luân lý học" (Principles of Ethics, tập I, phần II, chương X), Spencer định nghĩa "Trung" là sự phục tùng chính trị và cho rằng nó chỉ có chức năng hạn chế, nghĩa là chỉ hạn chế trong một triều vua mà thôi, chứ không thể mãi mãi tận trung được. Song "một triều vua" cũng là một thời gian rất dài, huống chi trong quốc ca Nhật Bản có câu "khi những hòn đá nhỏ biến thành vách đá đầy rêu”. Nghĩa là tuy triều đại khác nhau, nhưng toàn bộ vương triều phong kiến đều có một nền tảng thiêng liêng.
Chúng ta có thể nhớ lại là vào thời đó ngay cả trong một nước dân chủ như nước Anh, "tình cảm trung thành cá nhân đối với một người và hậu duệ người đó mà tổ tiên người Đức của họ nuôi dưỡng đối với các nhà lãnh đạo của mình," như ông Boutmy gần đây nói, "ít hoặc nhiều đã chuyển thành lòng trung thành sâu sắc đối với chủng tộc và dòng dõi các hoàng thân của họ; như thể hiện trong lòng ái mộ đặc biệt của họ đối với vương triều.”
Từ đó, Spencer dự đoán, sự phục tùng chính trị sẽ bị thay thế bằng mệnh lệnh của lương tâm. Nếu suy luận của Spencer là đúng, thì phải chăng phẩm chất của “Trung" sẽ biến mất? Thực ra, chúng
ta đổi từ chủ này sang chủ khác, từ nhà thống trị nắm quyền bính chuyển sang đức vua thiêng liêng trong nội tâm ta. Bởi lẽ lòng trung và sự tôn sùng thật ra đều là bản năng của lòng người. Cách đây vài năm, các đệ tử của Spencer đã tranh luận về vấn đề này, và cuộc tranh cãi đó đã làm cho giới trí thức Nhật Bản lo ngại. Các môn đệ của Spencer chưa hiểu toàn diện về lý thuyết của Spencer. Họ nhiệt tâm giữ lòng trung thành với Hoàng gia mà trách cứ các tín đồ đạo Ki Tô thề trung thành với Thượng Đế, cách làm như vậy có vẻ chưa triệt để. Thật ra, họ thiếu tài tranh biện mà chỉ phơi bày tư thế của các nhà nguỵ biện, logic cũ rích, thiếu chọn lọc, nâng cao. Thật ra, người Nhật Bản có thể làm được "Cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar, cái gì của Thượng Đế thì trả lại cho Thượng Đế”, "Thờ cả hai chúa mà không giữ chúa này, bỏ chúa khác". Socrates đã làm được như vậy, ông tuyệt đối không cải chính bất cứ "ý nghĩ bậy bạ" nào của mình, vì tôn trọng pháp luật mà ông đã ung dung đi đến chỗ chết. Sinh thời, Socrates hoàn toàn hành động theo mệnh lệnh của trái tim mình; cái chết của ông là kết quả sự phục tùng mệnh lệnh của quốc gia. Nhà nước ngang nhiên cướp mất quyền chỉ huy (của lương tâm) đối với một công dân. Đây chính là chỗ đáng buồn của câu chuyện Socrates.
Nhưng Võ Sĩ Đạo thì không đòi hỏi người Nhật Bản bắt lương tâm mình phải làm nô lệ cho bất cứ một vị chúa hoặc vua nào. Mấy câu thơ dưới đây của Thomas Mowbray đã diễn tả cùng một tư tưởng như vậy :
"Bẩm Đức vua của tôi!
Tôi xin quỳ phục dưới chân Người.
Dâng tính mạng nhưng không dâng danh dự,
Trách nhiệm của tôi là chết! Là tận trung với Người,
Nhưng dù tôi có chết chăng nữa,
Cũng không thể để tên tuổi bị mờ trên bia."
Những kẻ bề tôi có hành vi xu nịnh làm theo ý định ngông cuồng của vua chúa và những kẻ thờ chúa trái với lương tâm mình đều bị Võ Sĩ Đạo khinh bỉ, gọi là nei-shin (tiếng Nhật, tức nịnh thần), hoặc là chô-shin (sủng thần), dùng cách hạ mình phục tùng của kẻ đày tớ để giành được sự sủng ái của chúa. Hai loại bầy tôi đó tương ứng chính xác với câu nói của Iago(69) trong vở kịch Othello của Shakespeare: Có một bọn nô tài vào luồn ra cúi, chỉ biết vâng lệnh
trên, cam tâm đeo gông xiềng trên người, bán cả cuộc đời mình, sống như con lừa của chủ nhân... ngoài ra còn có một hạng người ngoài mặt tỏ ra trung thành nhưng trong bụng thì luôn luôn tính toán cho bản thân ...
Đúng là có hai loại bề tôi như vậy. Một loại thật thà như con lừa, trên cổ buộc sợi dây xích và không để tâm đến chuyện sống hoài phí cuộc đời, đi đâu cũng khúm núm luồn cúi. Một loại khác, ngoài mặt tỏ ra trung thành vô hạn. Người bề tôi chân chính có thái độ phục tùng khác hẳn về chất với sự "Trung" của hai loại nịnh thần nói trên. Họ dùng biện pháp của mình để giúp vua chúa sửa chữa các sai lầm, như Kent từng làm với vua Lear. Khi lời can ngăn không được vua chúa tiếp thu thì nên có hành động tiếp theo. Trong trường hợp đó, thông thường các võ sĩ dùng cái chết của mình để đưa ra lời can gián, bày tỏ lòng trung thành và qua đó thức tỉnh lương tri của bậc quân vương.
Tính mạng là bảo đảm cuối cùng của sự trung thành, và sự trung thành lý tưởng được xây dựng trên nền tảng danh dự. Đây chính là thành phần cốt lõi của toàn bộ sự giáo dục và huấn luyện võ sĩ.
CHƯƠNG 10 : GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÕ SĨ
Trong giáo dục đào tạo võ sĩ, điều quan trọng nhất không phải là dạy võ thuật mà là dạy dỗ tính cách. Tạo dựng được khí chất của người võ sĩ còn quan trọng hơn sự học được kiến thức, tài ăn nói, năng lực suy nghĩ. Mỹ dục nói ở phần trên là thứ không thể thiếu được đối với người võ sĩ song vẫn chưa phải là thứ quan trọng nhất. Tri thức cũng quan trọng, nhưng khi nói đến chữ "tri" thì cần biết là trong toàn bộ sự giáo dục, “tri" chỉ có địa vị phụ thuộc. Cái kiềng ba chân nâng đỡ bộ khung của Võ Sĩ Đạo là "Trí”, "Nhân", "Dũng" - tiếng Nhật là Chi, Jin, Yu. Bản chất con người võ sĩ là hành động, còn về tri thức thì chỉ cần nắm được các hiểu biết có liên quan trong phạm vi chức trách của võ sĩ là được. Thí dụ, thần học là nội dụng học tập của giới tăng lữ, nhưng đối với võ sĩ thì chỉ khi nào cần sử dụng tín ngưỡng để tăng dũng khí của mình, thì họ mới cần học môn này. Một nhà thơ người Anh viết "Bản thân đức tin không thể cứu vớt được con người; nhưng con người thì lại làm cho đức tin có sức mạnh"; các samurai cũng tin như vậy. Nội dung chính trong giáo dục tri thức cho người võ sĩ là triết học và văn học, thế nhưng, võ sĩ học những thứ đó không nhằm mục đích tìm chân lý mà là nhằm vào công dụng rõ ràng: học văn học để tu thân dưỡng tính và để giải trí, học triết học để giải quyết các vấn đề về quân sự và chính trị, hoặc để trau dồi phẩm chất kiên định.
Trong các chương ở trên, chúng ta đã biết rằng các môn học trong giáo dục Võ Sĩ Đạo gồm có: kiếm thuật, bắn cung, nhu thuật (70) hoặc yawara (trong tiếng Nhật, nhu thuật là jiujutsu; trong cách nói tiếng Anh thông dụng thường đọc nhầm từ này là jiu-jitsu . Đây
là một nghệ thuật quý phái "không dùng vũ khí”, thuật cưỡi ngựa, thuật dùng giáo dài, binh pháp, thư pháp, luân lý học, văn học, và lịch sử. Hầu hết các môn học này chúng ta đều đã biết, riêng về nhu thuật jiujutsu và thư pháp, ở đây cần nói thêm vài câu. Tại sao Võ Sĩ Đạo coi trọng thư pháp như vậy? Có lẽ vì chữ viết Nhật Bản có vẻ
đẹp của hội hoạ, cho nên thư pháp có giá trị nghệ thuật rất lớn; đồng thời, nét chữ của một người như thế nào thường phản ánh tính cách của người đó. Còn nói về jiujutsu, sử dụng quan điểm hiện đại để định nghĩa thì có thể nói nó là kết quả sử dụng tri thức giải phẫu học dùng vào tấn công và phòng ngự. Nhu thuật khác với vật ở chỗ không dùng sức mạnh cơ bắp để thắng đối phương; ngoài ra, nó cũng không giống các kiểu tỉ thí võ nghệ khác ở chỗ không dùng bất cứ thứ vũ khí nào cả, hoàn toàn dùng tay không. Bí quyết của nhu thuật là nắm bắt hoặc công kích vào một điểm yếu nào đó trên người kẻ địch, khiến địch thủ không thể chống đỡ được. Do đó, cách này không dùng để giết chết kẻ địch mà là để khống chế không cho kẻ địch hoạt động được.
Trong giáo dục Võ Sĩ Đạo hoàn toàn không có một số môn học của giáo dục quân sự hiện đại, thí dụ toán học. Trong thời kỳ phong kiến, khi tiến hành chiến tranh, người ta không dùng cách tính toán chính xác để giành chiến thắng, hơn nữa, toàn bộ nội dung giáo dục của Võ Sĩ Đạo rất khó dung nạp khái niệm số học.
Võ Sĩ Đạo cũng không có khái niệm kinh tế, ngược lại thanh bần chính là điều Võ Sĩ Đạo lấy làm tự hào. Trong vở kịch "Taiman của Athen" của Shakespeare, nhân vật chính là Ventidius nói: "Hiệp sĩ coi trọng danh dự, nếu có vàng bạc mà bị ô danh thì thà vứt vàng bạc cam chịu thiệt thòi còn hơn.” Tương tự, Don Quixote (71) tuy coi khinh vàng bạc và đất đai, song lại vô cùng quý chiếc mũ sắt đã gỉ sét và con chiến mã gầy guộc chỉ còn da bọc xương của mình. Về điểm này, người samurai có thái độ hệt như người đồng liêu của vị La Mancha ấy. Người võ sĩ coi khinh vàng bạc tiền nong, càng không cần nói đến việc họ kiếm chác hoặc giữ những thứ ấy. Họ cho rằng bản thân tiền bạc là thứ bất nghĩa. Có một câu nói: “Quan văn thích tiền, quan võ quý mạng." Người đời coi khinh thậm tệ những kẻ quý trọng tiền bạc và tính mạng của mình, còn những ai có thái độ ngược lại thì được ca ngợi. Ngạn ngữ Nhật Bản có câu: "Chớ nên tham lam quý trọng tiền bạc, lắm tiền thì trí óc bị tổn hại." Bởi vậy, trẻ em nước chúng tôi được lớn lên trong hoàn cảnh hoàn toàn không biết tiền bạc là gì, ai bàn chuyện tiền nong bị coi là tầm thường ti tiện. Tiêu chí trẻ em được dạy tốt là em đó hoàn toàn không biết đến tiền bạc. Kiến thức số học dạy cho võ sĩ chỉ hạn chế trong việc dùng để tập hợp binh lực, hoặc khi phân phong đất đai
thái ấp; còn những việc liên quan đến tính toán tiền nong là việc của các quan lại cấp dưới. Phần lớn các chư hầu trong nước Nhật Bản cổ đại đều giao công việc tài chính cho các samurai cấp thấp hoặc tăng lữ thực hiện. Các võ sĩ có đầu óc đều biết tiền bạc là thứ rất quan trọng trong chiến tranh; thế nhưng trong đời sống hàng ngày họ vẫn không thể bận tâm chút nào đến tiền bạc. Ý thức tiết kiệm mà Võ Sĩ Đạo dạy dỗ cũng không phải xuất phát từ nguyên nhân về kinh tế, mà từ nhu cầu rèn luyện tinh thần tự kiềm chế ham muốn cho các võ sĩ. Bệnh xa xỉ bị coi là kẻ địch lớn nhất của loài người, vì tầng lớp võ sĩ được yêu cầu phải sống giản dị; nhiều chư hầu đều nghiêm cấm bất cứ hành vi xa xỉ nào.
Trong lịch sử La Mã cổ đại, địa vị của các quan thu thuế và của những người nắm tài chính ngày càng được nâng cao, cuối cùng họ được đưa lên hàng ngũ hiệp sĩ và được Nhà nước thừa nhận. Sự thật lịch sử đó chứng tỏ tác phong xa xỉ và lòng tham của người La Mã. Nhưng Võ Sĩ Đạo thì khác, luôn coi các chức vụ tài chính là công việc thấp hèn, kẻ tráng sĩ không bao giờ thèm làm - vì các chức trách ấy không thể nào so sánh được với các chức trách về đạo đức và tri thức. Do cực lực khinh thường tiền bạc, bài trừ lòng tham, cho nên trong một thời gian dài, trong Võ Sĩ Đạo hoàn toàn không có các tệ nạn do tiền bạc sinh ra. Trong thực tế, giới quan chức Nhật Bản xưa nay không có khuynh hướng tham ô đồi bại, đây là do tác dụng giáo dục của Võ Sĩ Đạo. Thế nhưng chao ôi ! Trên thế giới hiện nay, chủ nghĩa sùng bái tiền bạc đang lan tràn nhanh chóng biết bao!
Ngày nay, việc đào tạo trí năng chủ yếu được thực hiện bằng cách học toán học và khoa học tự nhiên; còn ngày xưa, nhiệm vụ đó được giao cho văn học và luân lý học. Như tôi đã nói ở trên, nhiệm vụ của giáo dục ngày xưa là bồi dưỡng phẩm chất, cho nên thanh thiếu niên rất ít quan tâm đến các vấn đề trừu tượng. Ngày ấy, học sâu biết rộng không chứng tỏ sự ưu việt. Trong ba mặt công hiệu của học vấn mà Bacon (72) đề xuất - niềm vui, trang sức và khả năng ứng dụng - Võ Sĩ Đạo chỉ coi trọng điểm cuối cùng, và loại ứng dụng ấy chủ yếu là ở chỗ phán đoán chính xác và xử lý công việc. Dù là giải quyết việc công hoặc tự kiềm chế trong hành động hàng ngày, sự giáo dục của Võ Sĩ Đạo đều chú trọng đào tạo kỹ năng thực tế. Đúng như trong Luận Ngữ, Khổng Tử giải thích về học tập
"""