"Thánh Tông Di Thảo - Khuyết Danh full prc pdf epub azw3 [Truyện Dân Gian] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Thánh Tông Di Thảo - Khuyết Danh full prc pdf epub azw3 [Truyện Dân Gian] Ebooks Nhóm Zalo Mục lục Thánh Tông Di Thảo - Giới Thiệu Truyện Yêu Nữ Châu Mai Truyện Dòng Dõi Con Thiềm Thử Truyện Hai Phật Cãi Nhau Truyện Người Hành Khất Giàu Truyện Hai Thần Nữ Phả Ký Sơn Quân Bức Thư Của Con Muỗi Duyên Lạ Ở Hoa Quốc Trận Cười Ở Núi Vũ Môn Truyện Lạ Nhà Thuyền Chài Lời Phân Xử Của Anh Điếc Và Anh Mù Ngọc Nữ Về Tay Chân Chủ Truyện Hai Thần Hiếu Để Truyện Chồng Dê Người Trần Ở Thủy Phủ Gặp Tiên Ở Hồ Lãng Bạc Truyện Một Giấc Mộng Truyện Tinh Chuột Một Dòng Chữ Lấy Được Gái Thần Việt Nam Kỳ Phùng Sứ Lục - Giới thiệu Việt Nam Kỳ Phùng Sứ Lục Điểu Thám Kỳ Án - Giới Thiệu Tiết Thứ 1 Tiết Thứ 2 Tiết Thứ 3 Tiết Thứ 4 Tiết Thứ 5 Tiết Thứ 6 Tiết Thứ 7 Tiết Thứ 8 Tiết Thứ 9 Tiết Thứ 10 Tiết Thứ 11 Tiết Thứ 12 Tiết Thứ 13 Thơ Cuối Truyện THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Thánh Tông Di Thảo - Giới Thiệu GIỚI THIỆU VĂN BẢN Thánh tông di thảo (Bản thảo còn sót lại thời Thánh Tông) không đề tên tác giả, không ghi năm biên soạn. Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào lối xưng hô trong sách (dùng đại từ nhân xưng "dư" = tôi), cho rằng cách gọi này phù hợp với lối tự xưng của Lê Thánh Tông trong Thiên nam dư hạ. Tác phẩm Thiên nam dư hạ đã được xác định của Lê Thánh Tông, nên Thánh Tông di thảo cũng phải là của Lê Thánh Tông. Một số nhà nghiên cứu khác dựa vào tên đất như địa danh "Hà Nội" xuất hiện trong truyện Hoa quốc kỳ duyên, hay sự kiện lịch sử như nạn lụt năm Quý Tỵ trong truyện Lưỡng Phật đấu thuyết ký, hoặc các danh từ chỉ học vị Phó bảng, Cử nhân trong truyện Trần nhân cư thủy phủ, đi đến kết luận rằng tác phẩm này không phải của Lê Thánh Tông và sách chỉ có thể xuất hiện vào cuối đời Nguyễn, có khả năng sau năm Quý Tỵ (1893). Lại có những nhà nghiên cứu dựa vào văn phong một số truyện mang tính khẩu khí thiên tử hoặc nội dung tư tưởng phản ánh sự thịnh trị thời Lê sơ bên cạnh một số truyện khác có nội dung tư tưởng xa lạ với tư tưởng của Lê Thánh Tông đã đi đến kết luận trong Thánh tông di thảo có một số truyện của Lê Thánh Tông, có một số truyện của người đời sau (từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19). Thánh tông di thảo hiện có một bản chép tay lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu A.202. Sách gồm 2 quyển đóng thành 1 tập dày 198 trang khổ 31x21cm, 1 tựa, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 19 chữ. Thánh tông di thảo đã được Bùi Văn Nguyên và Nguyễn Ngọc San tuyển dịch 4 truyện (Hoa quốc kỳ duyên, Thử tinh truyện, Phú cái truyện, Lưỡng Phật đấu thuyết ký) in trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Thế kỷ 10 đến thế kỷ 17), NXB Văn hóa và Viện Văn học, 1962. Đến năm 1963, NXB Văn hóa, Viện Văn học đã in bản dịch toàn bộ Thánh tông di thảo do Nguyễn Bích Ngô thực hiện. Bản dịch dưới đây là của Nguyễn Bích Ngô, do Phạm Văn Thắm biên tập lại, chủ yếu là về mặt chuyển đổi địa danh và kỹ thuật trình bày. TỰA Khổng Tử không bao giờ nói những chuyện quái dị, thần kỳ vì những chuyện ấy mắt không trông thấy, mọi người sinh ra ngờ vực. Nhưng thử nghĩ xem: trong bốn bể, biết bao núi thẳm, đầm to, thì những truyện quái dị, thần kỳ kể sao hết được? Kìa như những truyện Bá Hữu nước Trịnh, khi chết hóa thành quỷ dữ (1), Hoàn Công nước Tề trông thấy yêu quái trong núi (2), ông bạc đầu ăn thịt con trai, con gái (3), không phải là truyện lạ hay sao? Lại như hải khách với chim âu (4), Đinh Lệnh Uy cưỡi hạc (5), gió của Liệt Tử (6), bè của Trương Khiên (7), không phải là truyện dị thường hay sao? Nào nuốt trứng chim huyền điển rồi sinh ra ông tổ nhà Thương (8), nào ướm chân vào vết chân lớn rồi sinh ra ông tổ nhà Chu (9), nào nằm mộng thấy đi lại với thần rồi sinh ra ông tổ nhà Hán (10), những truyện ấy không phải là thần kỳ cả sao? Những truyện ta chép ra đây như Hoa quốc kỳ duyên (Duyên lạ Hoa Quốc), Ngư gia chí dị (Truyện lạ nhà thuyền chài)... đều là những truyện có kê cứu, không giống những loại truyện Tề Hài (11). Những người chấp nhất cho những truyện ấy là có sự việc mà không có lý, hoặc có lý mà không có sự việc. Đó chỉ là kiến thức của bọn người ngồi đáy giếng, không đủ bàn đến những sự vật trong bầu trời rộng lớn. Nay tựa. ----- (1) Đời Xuân Thu, Bá Hữu làm đại phu nước Trịnh, tính tàn bạo, bị người ta giết. Sau hóa làm ma dữ báo mộng sẽ giết hai người là Tử Đới và Công Tôn Đoạn. Quả nhiên hai người ấy đều chết, nên người nước Trịnh rất sợ, thường lấy tên Bá Hữu dọa nhau. (2)Đời Xuân Thu, Tề Hoàn Công đi săn, trông thấy con ma to, về sợ sinh ốm. Sau có người bầy tôi vào thăm, nói rằng: Ai trông thấy con ma to ấy thì sẽ nên nghiệp bá vương. Hoàn Công mừng rồi khỏi bệnh. (3) Chưa rõ điển tích. (4) Liệt Tử: có người ở gần bể, cứ sáng sáng xuống bể chơi với chim âu. Chim âu xúm xít đến gần, không sợ hãi gì. Người cha thấy vậy, bảo con bắt chim âu về. Hôm sau người con đến bể thì chim âu chỉ bay lượn bên trên mà không xuống nữa. (5) Đinh Lệnh Uy đời Hán bỏ nhà đi tu tiên. Sau hóa thành con hạc bay về thăm nhà, lượn ở trên không, đọc một bài thơ rồi lại bay đi (Sách Sưu thần hậu ký). (6) Sách Trang Tử nói: Liệt Tử cưỡi gió mà đi. (7) Trương Khiên đời Hán đi bè ra bể, đi mãi không ngờ lên đến sông Vân Hán, tới chỗ Chức Nữ dệt cửi (Bác vật chí). (8) Sử ký chép: Giản Định vợ vua Đế Cốc nuốt trứng chim huyền điểu, đẻ ra Tiết là thủy tổ nhà Thương. (9) Sử ký: Khương Nguyên, vợ Cao Dương, ướm chân mình vào vết chân lớn thấy ở ngoài đồng, cảm động rồi có thai, sinh ra Hậu Khí là thủy tổ nhà Chu. (10) Sử ký: vợ Thái Tông thường nghỉ ở bờ đầm, mộng giao hợp với thần, sinh Hán Cao Tổ. (11) Tề Hài: nguyên là tên người chuyên chép truyện quái dị. Về sau người ta dùng danh từ đó để đặt tên sách chép truyện quái dị, như sách Tề Hài ký của Vô Nghi Tiên Sinh đời Tùy. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Truyện Yêu Nữ Châu Mai Cuối niên hiệu Nguyên Phong đời nhà Trần, ở châu Mai có một nữ yêu tinh biến hiện nhiều hình quái gở. Khi nó hiện ra người đầu to bằng bánh xe, hoặc hai đầu sáu mình, ai trông thấy cũng chết khiếp. Khi nó biến thành gái đẹp, hoặc nhẹ như Phi Yến (1), hoặc béo tốt như Dương Phi (2), ai say mê tất phải thiệt mạng. Người địa phương bị khổ sở vì nó, đã dùng nhiều phép trừ yểm, nhưng đều vô hiệu. Những đêm trăng sáng, nó thường ở trên không ngâm rằng: Muốn mặc văn bào chơi đế đô, Lương nhân có biết cho? Ngư ông khắp đất một sông hồ, Mai thưa thớt, liễu gầy gò, Lục giáp, lục giáp, gặp chồng xưa. Tiếng hát trong như vàng ngọc, ai cũng nghe rõ, nhưng không hiểu ý tứ trong bài ra sao. Khi còn ở tiềm để (3) , ta biết việc ấy, bèn viết thư sai người đến đền Phù Đổng mượn gươm của Thiên Vương để trừ nó. Nữ yêu kinh sợ, ẩn trong cỏ rậm ven sông đầm, không dám tác quái như trước nữa. Đến năm Hồng Đức thứ sáu (1475), nó lại hiện thành một người con gái đẹp tuyệt trần, trạc mười sáu tuổi, mắt long lanh như nước mùa thu, môi đỏ như son vẽ, tóc mây mặt hoa, cười nói duyên dáng, làm cho người ta phải động lòng. Nó vào một nhà hát, nói rằng: - Tôi mồ côi từ tấm bé, phải nương tựa chị gái. Vì anh rể là kẻ khinh bạc, nên phải đem thân trốn đến đây. Chủ nhà hát hỏi: - Họ tên chị là gì? Quê quán ở đâu? - Thưa, tôi họ Ngư, tên Nương, quê ở làng Văn Mộc (4). ----- (1) Phi Yến: Triệu Phi Yến là vợ Hán Thành Đế, người rất nhẹ, có thể đứng múa ở trên bàn tay. (2) Dương Phi: tức là Dương Quý Phi, vợ Đường Minh Hoàng, rất đẹp nhưng đẫy người. (3) Tiềm để: nhà riêng dành cho con vua ở khi chưa lên ngôi vua. (4) Văn Mộc: chữ Văn ( 文 ) và chữ Mộc (木 ) ghép lại thành chữ Mai ( 枚 ). - Những chữ đồng âm với "Ngư" và "Nương" cũng nhiều, chị hãy nói rõ chữ "Ngư" và chữ "Nương" nào? - Thưa, chữ "Ngư" ở trong chữ "Ngư nhân", chữ "Nương" ở trong chữ "Nương tử". - Chị có biết hát không? - Thưa có. Chủ nhà bảo nó vừa hát vừa đánh phách. Nó cất tiếng hát, giọng trong và hay tuyệt. Chủ nhà rất mừng, cho nó mặc gấm vóc, đeo nữ trang vàng ngọc, muốn làm cho bọn trai trẻ say mê để kiếm được nhiều tiền. Nhưng, hễ khách làng chơi vừa bước chân vào cửa thì gót sen đã quay ngoắt, chỉ để lại hương ngát sau lưng; phong lan vội trở vào, chỉ còn thấy phất phơ dải yếm. Chủ nhà hát ngán quá, thường ngon ngọt dỗ dành, hoặc xẵng lời dọa dẫm, hết ân lại uy, chung quy vô bổ. Muốn đuổi đi sợ phí công từ trước, muốn giữ lại, e không lợi về sau. Cuối cùng, chủ nhà hát đành chịu để tạm ít lâu nữa, họa may nó có đổi nết cũ đi chăng. Thình lình một hôm, có một người áo quần mộc mạc, hình dung tiều tụy, đến nhà hát. Khách tự xưng là Lương Nhân. Các con hát trong nhà cự rằng: - Hình thù thế ấy, ăn mặc thế kia, đến đây để làm gì? Lại có kẻ nói đùa rằng: - Anh chàng đến đây, chừng muốn làm nữ thi (5)cho chị Ngư Nương đó. Lương Nhân nghiêm sắc mặt nói: - Người xưa có câu: "Ăn bánh bột cũng say"(6). Phàm ca nhi vũ nữ đều chỉ mong kiếm được nhiều tiền, chớ có cần chi hình dung bên ngoài? Đoạn nghiễm nhiên ngồi lên chiếu cao, và lớn tiếng cho mọi người đều nghe: - Ta không phải là ai lạ. Nhà ta ở giáp thứ sáu, bên tả được mạch tốt của sông Nhị, bên hữu được khí thiêng của Hồ Tây, tục gọi là Lục Giáp Ông, tức là người "một lúc hết trăm vạn, ngậm ngùi không nửa lời". Nhân đi tìm lối cũ của Thái Công (7), thăm dấu thơm của Tử Lăng (8), ngẫu nhiên vui chân đến đây. Trong đám ca nhi, ả nào thanh sắc hơn người, hãy hát một khúc ta nghe, chuốc vài chén ta uống, ta sẽ thưởng cho nhiều tiền. Ngư Nương ở trong phòng nghe tiếng, vội trang sức chỉnh tề rồi bước ra, xịu mặt khóc: - Thiếp ẩn náu ở đây đã hơn một năm, người Kim Cốc (9)tới, khách chu môn (10)vào, tính đốt ngón tay không biết bao nhiêu mà kể. Thiếp thường ở trong vách tối dòm ra, chỉ thấy rặt những phường ngoài mặt thì như ngọc vàng mà trong lòng thì như bông nát (11), không được ai vừa ý cả. ----- (5) Đời cổ, khi tế lễ thì cử người ngồi trên bàn thờ gọi là "thần thi", ta gọi là "thần vị". Người ta cho rằng những cử động của người này lúc bấy giờ đều do thần sai khiến. Chữ "nữ thi" ở đây ý nói là người để cho Ngư Nương sai khiến. (6) Loại thư toản yếu: Tô Ngũ Nô có vợ đẹp, người ta thường cho y uống say để trêu vợ y. Một hôm, có nhiều người mời y uống rượu, y nói: "Cứ cho ta nhiều tiền, thì bánh bột ăn cũng say, không cần phải rượu". Về sau, câu "Ăn bánh bột cũng say" được dùng để xỉ vả người tham tiền. (7) Thái Công: tức là Lã Thượng hay Khương Tử Nha đời nhà Chu, khi chưa giúp Văn Vương thì đi câu ở trên sông Vị Thủy. (8) Tử Lăng: tức Nghiêm Quang, bạn của Quang Vũ đời Đông Hán. Khi Hán Quang Vũ lên ngôi, mời Tử Lăng ra làm quan, nhưng ông từ chối, trở về đi câu ở bến sông Đồng Giang. (9) Kim Cốc: chỗ ở của Thạch Sùng (một nhà giàu địch quốc ở đời Tấn). ở đây ý nói những người nhà giàu. (10) Chu môn: cửa son, ý nói người sang. (11) Cổ văn, Truyện người bán cam: Lưu Cơ, Tể tướng nhà Minh, mua được quả cam bên ngoài rất đẹp nhưng trong thì khô nát, gọi người bán cam trách rằng: "Cam nhà ngươi ngoài như vàng ngọc mà trong như bông nát". Người bán cam trả lời rằng: "Trong đời còn vô số người ngoài như vàng ngọc, trong như bông nát, sao ông không nói, mà chỉ nói đến cam tôi?". Lang quân hỡi lang quân! Cách biệt ba mươi xuân, Mây Vu Sơn, mưa Vu Sơn, Hôm hôm, sớm sớm ai tri âm? Lang quân hỡi lang quân, Lâm Cùng (12)từ đi, ai người thân? ----- (12) Lâm Cùng: chỗ ở của Trác Văn Quân, nhưng sau Trác Văn Quân bỏ nơi ấy, đi theo Tư Mã Tương Như. Khí gươm Thiên Vương, hầu không lánh thân. Lang quân hỡi lang quân! Khóc xong, cởi dây lưng lụa lấy ra một đôi ngọc bích và mười lạng vàng đưa cho chủ nhà hát mà rằng: - Chút quà nhỏ mọn, gọi là đền ơn Phiếu Mẫu. Rồi hai người cùng thở than, dắt tay nhau lên xe cùng đi. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Ngẫm nghĩ hai bài ca: bài trước có nói "chồng xưa", bài sau có nói "cách biệt", ngờ rằng Ngư Nương và Lương Nhân nguyên cùng nhau có duyên Chu Trần, khi chết hồn vẫn không tan, lâu ngày thành yêu, đến bây giờ lại làm vợ chồng. Còn cái tên gọi là Lục Giáp Ông, chỉ là nói thác ra mà thôi. Xét nay ở động Mai Châu có đền thờ Ngư Nhân rất thiêng, thường làm hại dân, có lẽ là hai con ma Ngư Nương và Lương Nhân đó chăng? Người đọc truyện nên lấy ý mà lĩnh hội. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Truyện Dòng Dõi Con Thiềm Thử Cóc và ếch, hai con đều là dòng dõi con thiềm thừ, ở phủ Thanh Hư, ăn thuốc ngọc thỏ, nhiễm hương quế tiên, không hiểu đã trải qua mấy vạn năm. Một đêm rằm kia, chúng nhìn xuống nhân gian, bỗng sinh lòng yêu non xanh nước biếc, mến người đông cảnh đẹp, bèn nảy ra ý muốn xuống ở cõi trần, nài xin với Hằng Nga. Hằng Nga thuận cho. Bấy giờ hai con cùng duỗi đùi, múa tay, nhảy xuống trần gian. Từ khi xuống trần, cóc vẫn giữ được bản tính trời sinh: mặc áo vải thô, ở nơi kín đáo. Ghét đàn kiến đốt người ta, thì thè lưỡi đớp liền; thấy giống giun uống nước mạch, thì há miệng nuốt ngay. Khi không làm những việc ấy, cóc ngậm miệng ngồi yên không thích chi cả. Cóc phun nọc xanh để chống lại lũ gà vịt đến trêu ghẹo. Nọc ấy nhiễm vào chỗ nào thì da chỗ ấy phồng lên, rồi nứt vỡ ra. Vì vậy các loài vật không tốt đều không dám đến gần cóc. Người ta bị mụn nhọt độc, lấy thịt cóc đắp lên thì khỏi ngay; trẻ em mắc chứng ngũ cam gầy yếu, cắt đùi cóc mà ăn sẽ béo tốt. Vì thế không ai nỡ giết cóc. Tính cóc hay quyến luyến chỗ ở; nếu ai lấy vôi bôi vào mình nó rồi đem tống đi xa, thì chỉ vài ba ngày sau, nó lại trở về nơi cũ. Cóc lại chăm lo làm việc thiện: những khi hạn hán, nó nghiến răng cho cảm động trời đất, mưa gió đến ngay. Cóc được lòng trời đến như thế. Ếch thì khác hẳn: hắn ta giữ mãi kiến thức của Bạch Đế (1): sinh trong hang lỗ bùn lầy, mặc áo gấm hoa, dâm dục và bạo ngược vô chừng. Rủ nhau đàn đúm khắp chốn sông hồ đồng nội. Cá, tôm, sâu bọ, nhiều con bị ếch sát hại. Ngay đến cua cậy có đôi gươm, khi đi thường giương thẳng lên, tự đắc không ai làm gì được mình. Thế mà ếch chỉ vỗ tay vào mai cua để đánh lừa, cua ta mắc mẹo, thu hai càng lại, liền bị ếch đớp nuốt ngay. Đấy, ếch ngông cuồng bạo ngược đến như thế. Vào khoảng tháng năm, tháng sáu, trời hay mưa rào, ruộng đồng đầy nước, ếch cứ ồm ộp đua nhau mà kêu, lại bắt đôi với nhau, đuốc soi đến nơi vẫn không tỉnh. Đấy, nó hoang dâm đến như thế. ----- (1) Cuối đời Tây Hán, Công Tôn Thuật chiếm cứ một khu vực, tự xưng là Bạch Đế. Vì Thuật kiến thức hẹp hòi, nên người đương thời ví Thuật như ếch ngồi đáy giếng. ở đây nói: "giữ mãi kiến thức của Bạch Đế" là nói giữ cái kiến thức của con ếch dưới đáy giếng. Người ta ghét ếch lắm, rủ nhau đi bắt, đem về chặt đầu, lột da, dùng các vị cay nấu thành món ngon. Bởi vậy, ếch ở trong mưa, thì người ta dùng đuốc soi bắt; ếch ngồi tại bờ bãi, thì người ta dùng lưới mà vơ. Con nào rúc sâu trong hang lỗ thì người ta dùng lưỡi câu sắt và ngành cây mà lôi ra; con nào lặn lặn bơi bơi ở ao bèo, vũng lau thì người ta dùng cần trúc, dây tơ, móc mồi mà nhử. Thế là bao nhiêu cái tham lam, tàn bạo thường ngày nuôi cho ếch béo tốt, đều làm món ăn ngon cho người. Ôi! Thế mới hiểu rõ câu nói của tiên triết: "Phàm những người ít lòng tham dục mà không bảo toàn được tấm thân thì xưa nay ít có; còn những kẻ nhiều lòng tham dục mà vẫn bảo toàn được tấm thân, xưa nay cũng hiếm". Thật đúng là vậy. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Đây chỉ là bài ký dòng dõi con thiềm thừ. Nhưng trong đó vạch rõ người ít dục vọng thì giữ được thân, kẻ nhiều dục vọng thì thân phải mất. Phân tích từng chữ, thần diệu tinh vi, mà câu nào cũng vẫn là lời ghi truyện cóc và ếch. Lớn lao thay lời nói của thánh vương: nói gần mà ý xa. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Truyện Hai Phật Cãi Nhau Năm Quý Tỵ lụt to. Những nơi nước đến, rắn rết bò lên ngọn cây, người ta phải nuôi gà chó trên cành. Đến chùa phần nhiều bị nước cuốn đi hay là đổ nát. Ngày hai mươi bảy tháng tám, nước rút, Ta đi thuyền xem xét nơi nào bị thiệt hại thì chẩn cấp cho dân. Buổi chiều, đến bến đò Văn Giang, gió mưa mờ mịt. Ta cho buộc thuyền trước chùa rồi nằm ngủ. Đến canh ba, bốn bên im lặng như tờ, ta bỗng nghe trong chùa có tiếng nói xì xào. Lúc ấy, quan hầu đều ngủ say. Ta lén đi lên bờ, tựa cửa chùa dòm trộm, thấy một tượng phật bằng đất, chân đạp lên đầu một con thú, tay cầm kiếm, râu ria tua tủa như những ngọn kích, mặt vuông đầy thước, lưng rộng ba ôm, sắc mặt giận dữ, chỉ thẳng vào mặt một tượng phật gỗ ngồi ở bên trên, mắng rằng: - Khoảng tháng sáu, tháng bảy, Hà Bá gây ra tai vạ, chính thân ngươi cũng không thể chống nổi nước lũ, phải trôi dòng dạt bãi, lúc nổi lúc chìm, mũ hoa để lem nhem, hài vẽ để bùn lấm. Khi ấy, các mụ nhà quê trông thấy ngươi, ngờ là cây chuối nổi, thợ mộc trông thấy ngươi nghi là khúc gỗ trôi. Đã bao lâu, ngươi vẫn là chỗ để cho bọn áo nâu tay chùng nấp bóng, thế mà bây giờ ngươi không sao kiếm nổi một bữa cúng chay (1). Cũng may mà thân nhà ngươi hãy còn, được nhà sư đem về sửa lại áo mũ, tô lại vàng son. Ta nghĩ: trước ngươi đã gặp cảnh ngộ nhường ấy, nay còn mặt mũi nào dám ở trên ta mà hưởng lộc ba phẩm nữa? Phật gỗ cũng phát khùng đứng lên nói: - Ngươi không nghe trong kinh có câu: "Thế gian vạn sự bất như thường, hựu bất kinh nhân, hựu cửu trường"(2)hay sao? Ôi! Lụt và hạn là bởi thiên tai gây ra. Lụt thì ta cùng trôi theo nước, khi nước rút, ta lại trở về ngôi cũ, dẫu bị xiêu dạt giang hồ, nhưng có hại gì đến "chân thân" của ta? Vậy chẳng phải là "làm chủ muôn hiện tượng, không theo luật bốn mùa"(3)hay sao? Khi ở trên dòng nước lũ, ta trông về cảnh chùa nhà mà thương thay cho nhà ngươi gặp bước truân chuyên. Nước đến chân thì chân ngươi nát rữa, nước đến bụng thì bụng ngươi vỡ lở, nước đến lưng thì lưng và vai ngươi đổ sụp. Trán rộng, mi dài, thôi còn đâu nữa! Hỡi ôi, thương thay! Thân hình không giữ nổi, còn cười người chi? Hai Phật còn đương nói, chợt Phật Thích Ca tay xách bầu rượu, dáng say lảo đảo, bước ra mà rằng: - Chao ôi! Hai ngươi đều có lỗi cả. Trong khi nước lớn mênh mông các ngươi đã không biết vận ngũ thông, dùng lục trí (4)thét lui muôn dòng nước về biển Đông, mà chỉ biết giữ cái hình hài bằng gỗ đất, ngồi hưởng rượu thịt của dân chúng, như thế đã không biết xấu hổ, lại còn đấu khẩu với nhau, không sợ "vách có tai" ư? ----- (1) Nguyên văn chữ Hán viết "vu bồ". Nhưng chữ "vu bồ" chỉ có nghĩa là đánh bạc. Có lẽ đây là chữ "y bồ" nghĩa là bữa cơm chay thì đúng hơn. Chữ "y bồ" từng được dùng ở bài ký Tạ An đi chơi núi Kê Túc, trong bài ký ấy có nói việc nhà sư dọn cơm chay cho ăn, gọi là "y bồ soạn", bữa cơm chay của người mộ đạo. (2) Đây là hai câu kệ ở sách Phật. Có hai cách hiểu: ý kiến thứ nhất: "Muôn việc ở trên đời, không chi bằng bình thường, đã không làm cho người ta kinh sợ, lại được lâu đài". Cắt nghĩa như thế, câu trên và câu dưới xuôi nghĩa với nhau một chiều. ý kiến thứ hai: "Mọi việc ở trên đời thay đổi luôn luôn (bất như thường), nhưng lại (hựu) không làm cho ai kinh sợ và giữ nguyên được bản thể lâu dài (bất kinh nhân-cửu trường)". Phật gỗ đem câu này ra để chứng tỏ thân mình đã qua một phen trôi dạt, rồi lại trở về chốn cũ y nguyên như trước, như trong bài đã nói: "Lụt, thì ta cùng trôi theo với nước (bất như thường), khi nước rút, ta lại trở về ngôi cũ (bất kinh nhân-cửu trường). Dẫu bị xiêu dạt giang hồ (bất như thường), nhưng có hại gì đến chân thân của ta (bất kinh nhân-cửu trường)". (3) Đây cũng là một câu kệ. Nguyên văn chữ Hán là: "Hựu vật tiên thiên địa, vô hình bản tịch liêu. Năng vi vạn tượng chủ, bất trục tứ thời điêu". Dịch nghĩa: Có vật tồn tại từ trước khi có trời đất, không có hình mà vốn lại lặng lẽ, làm chủ muôn hiện tượng, không điêu tàn theo bốn mùa. (4)Lục trí: Thần cảnh trí, Thiên nhãn trí, Tha tâm trí, Túc trụ tùy niệm trí, Lậu tận trí. Ngũ thông: Đạo thông, Thần thông, Y thông, Báo thông, Yêu thông. Nói chung là những pháp thuật thần thông của nhà Phật. Hai Phật bị phật Thích Ca bẻ lý, toan tìm lời chống chế, bỗng nghe bên chùa có tiếng người, ai nấy im thít. Ta đẩy cửa trông vào, chỉ thấy đèn nến sáng choang, hai Phật cùng Phật Thích Ca đều trơ trơ ba khối đất và gỗ thôi. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Hai phật cãi nhau là việc lạ, Phật Thích Ca bẻ hai Phật, lời nói lại càng lạ. Kể thì hai phật đều là vô công, mà còn đem việc ngồi trên ngồi dưới, lộc hậu, lộc bạc để tranh nhau, nên Phật Thích Ca chê là phải. Nhưng tay xách bầu rượu, dáng say lảo đảo, thì có công gì với dân? Chẳng qua cũng như hai Phật kia thôi! Thánh thiên tử ruồng những lời nói tà, chống những việc làm lệch, chép nên bài văn lạ này, lời lẽ sâu sắc. Chẳng những kẻ ngồi không ăn lộc đọc đến phải toát mồ hôi trán, mà cả những người xuất gia đọc đến, cũng tự biết trở lại đường ngay. Thực là "đầu đề nho nhỏ, mà văn chương lớn lao". THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Truyện Người Hành Khất Giàu Ở Tam Thanh có một người đàn bà góa trạc ba mươi tuổi, con cái không có, bố mẹ chồng mất cả, anh em cũng ít, không một tấc đất cắm dùi. Ăn thì lần bữa sáng mất bữa tối, một mình vò võ, gửi thân dưới rào giậu nhà người ta, làm nghề giặt thuê để nuôi thân. Rồi thì, đã nghèo lại hay đau ốm, nên hết kế sinh nhai. Người làng ai cũng đuổi và không ai cho vay mượn. Mụ phải đến một mảnh vườn hoang của làng, nhặt mo rụng, vơ rạ nát, bẻ cành tre, uốn cây nhỏ để làm một túp lều dung thân. Từ đó, áo vá trăm mảnh, nón mê đội đầu, gậy tre chống gió, chiếu rách che mưa, theo lốt chân cũ của Tấn Công tử (1)khi đi qua cánh đồng; học thói thanh cao của Ngũ Minh Phụ (2)ngồi thổi ống tiêu. Khi thì chạy vạy ngược xuôi, ngấp nghé đám tế xuân trong xóm; khi thì loanh quanh đây đó, dòm ngó đám cúng mộ ngoài đồng. Lên núi tìm lương, lần cửa xin nước, đến đâu mụ cũng khéo lạy khéo quỳ, khéo ton hót gia chủ, nên bao giờ cũng kiếm được nhiều hơn các bạn hành khất khác. Cứ như thế hơn bốn mươi năm, gió lạnh mưa ướt, sớm đi tối về, người làng không ai thèm nói chuyện cùng. Bỗng dưng bẵng đi trong vòng mười ngày, trong lều vắng hẳn khói lửa, sớm tối không ai thấy mụ đi lại. Trước còn nghe có tiếng rên rỉ, sau thì thấy im lặng hẳn. Người làng biết là mụ đã chết, mới rủ nhau đến để mai táng. Kẻ cho manh chiếu rách, người cho chiếc chão tre, rồi khiêng xác đem chôn ở bãi tha ma. Chôn xong, mọi người bảo nhau: - Mụ già đã về Âm Phủ, lều mụ ta phải đốt đi. Nếu không thì rắn rết có chỗ nương thân, sẽ gây hại cho người. Mọi người lấy làm phải, xúm lại châm lửa đốt lều. Bao nhiêu mo nang, rạ nát, lạt nhỏ, tre cành, thần Chúc Dung (3)đi qua một lượt là hết sạch không còn gì. ----- (1)Tấn Công tử: tên là Trùng Nhĩ, sau là Tấn Văn Công, khi lánh nạn ra nước ngoài, có lúc phải ăn xin ở ngoài đồng. (2)Ngũ Minh Phụ: tức là Ngũ Tử Tư người nước Sở, khi đi tìm cách báo thù cho cha và anh, đến Lăng Thủy, phải ngồi thổi sáo để xin cái ăn. (3)Chúc Dung: Tên thần lửa, theo truyền thuyết. Lều đốt rồi, những đống lô nhô ở nền đất đều hiện rõ mồn một. Mọi người có ý nghi ngờ, mới quét tro, giẫy cỏ, cuốc ra xem thì thấy những chuỗi xâu đều đặn, xanh xanh mà chồng chất lên nhau toàn là tiền kẽm, đếm được hơn hai trăm chuỗi; những hố đất vùi sâu, đo đỏ mà mục nát, toàn là thóc nếp, đem đong được tám chục bát. Ngoài ra gạo tẻ, thóc tẻ món nào cũng nhiều như thế. Bát, đĩa sứ, chén uống chè, cốc uống rượu, tất cả đựng đầy hai thúng. Ai cũng cho là lạ quá, ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu mụ hành khất ấy lấy ở đâu ra. Nhưng các của cải kể trên đã thành vô chủ, thì dù là của ăn mày cũng mặc, họ vẫn chia nhau lấy tất. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Truyện người hành khất giàu này thật là lạ; người này do nghề hành khất mà giàu hay đã giàu mà còn đi hành khất? Nhưng, có ai đã giàu mà còn đi hành khất, hoặc cứ phải hành khất rồi mới giàu? Thật là không sao đoán được. Duy có điều lạ là: mụ ăn mày ở Tam Thanh đầu đầy tóc tuyết, mặt điểm đầy sương, sống đã ngoài bảy mươi tuổi, lúc sống không người giúp đỡ, khi chết chẳng có cháu con, đã tích được nhiều của như thế, há không đủ ăn cho đến già sao? Thế mà cứ phải khéo lạy khéo quỳ, khéo nịnh các gia chủ, sống làm nghề ăn mày, chết vẫn là người ăn mày, đem cả cái của mà mình suốt đời phải chắp tay cúi đầu, ăn trộm, lấy cắp, phó cho cái lũ người không mảy may giúp đỡ cho mình khi còn sống. Chắc là mụ làm nhiều điều bất thiện nên ma quỷ mê muội. Còn như lũ người làng, đã chẳng giúp đỡ gì khi mụ còn sống, lại còn rủ nhau đến chia của khi mụ chết, thật là vô sỉ trong đám vô sỉ, ăn mày trong đám ăn mày. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Truyện Hai Thần Nữ Hồi ấy là năm thứ tư niên hiệu Thuận Thiên (1431). Sau khi đại định, khách bộ hành sung sướng được đi trên đường sá của ta, người buôn bán vui mừng được bày hàng hóa ở chợ của ta. Thượng Kinh là nơi đô hội. Bỗng một hôm có hai người đàn bà đến ngồi trong một quán chợ để xem bói và đoán số. Hai người này, sáng ở chợ Thanh Xuân, chiều ở chợ Dừa, khi ra Kinh ấp, lúc về Tràng An, không nhất định ở nơi nào, hình như có ý ngược xuôi để dò xét sự gì. Nhìn kỹ hình dung thì thấy một người ước ngoài bốn mươi, tóc xanh đã điểm sương trắng, mặt ngọc đã nhạt màu hồng, nhưng cái vẻ phương phi thùy mị còn đủ làm cho thiên hạ xiêu lòng. Còn cô gái trẻ thì đương tuổi cập kê, mặt hoa da tuyết. Thực là: Triệu Yến cùng xe hờn kém sắc, Thôi Oanh đối diện thẹn thua xinh. Tuy ăn mặc mộc mạc, quần nâu áo vải, mà gương mặt sáng sủa ưa nhìn. Nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ tưởng. Nhưng hễ kẻ nào mang tâm trêu ghẹo, thì tự nhiên rối trí nhức đầu. Bởi vậy không ai dám đến gần cả. Ngày ngày họ đến quán chợ từ sáng sớm, trải hai chiếc chiếu cói, trên đặt nửa bộ sách số và một con rùa bề ngang độ một tấc, trên treo mảnh vải đỏ, có hai câu viết chữ mực: "Bói toán không thần - Ba đồng một quẻ". Bày xong, hai người cùng ngồi xuống chiếu, cất tiếng hát. Người nhiều tuổi hát rằng: Ngựa không vẩy! Ngựa không vẩy (1), Con báo thù cha, ai rằng không phải? Thấm thoắt giáp hoa gần nửa đấy! (2) Mẹ vậy, mẹ vậy! Gió cuốn không thể nhờ, Cánh bay không thể cậy. Mối giận Kim Lân (3)dốc sông ngòi, Đêm ngày tóc bạc lo ngay ngáy. Ngựa không vẩy! Ngựa không vẩy. Cô gái trẻ hát: Đông Ngu! Đông Ngu! Đã trải ba thu, Ba thu chữ "độc" nặng căm thù. (4) Núi có cây dâu, thiếp có hiền phu. Thế nào ru? Thế nào ru? Khua ngọc chơi đế đô, Chưa thể chừa cơm lên thiên cù (5). Lên thiên cù, cùng hoạn ngu. Kia kìa đỉnh núi tượng nàng Tô. ----- (1) Một loài cá không vẩy nào đó. (2) Một hoa giáp có sáu mươi năm. (3)Kim Lân: con cá chép. Mối giận Kim Lân là ý nói chồng nàng vì Kim Lân rủ đi chơi đến nỗi bị Vương Thông giết. (4) Chữ độc ( 毒 ) do chữ sinh ( 生 ) và chữ mẫu ( 母 ) ghép lại. Câu này ý nói báo thù cho mẹ. (5) Hai câu này lấy ở bài ca của Lý Bật đời Đường. "Khua ngọc chơi đế đô" là ý nói phú quý, vì ngày xưa các nhà phú quý lấy ngọc (kha) làm nhạc ngựa- "Chừa cơm thiên cù" là ý nói thành tiên. Khúc hát chuyển nghìn vạn đoạn, tiếng rất thảm buồn. Người đi chợ đứng nghe xung quanh, có kẻ phải sa nước mắt. Họ hát xong mới tiếp khách. Cách đoán số thì chỉ khẽ bấm đốt ngón tay mà đoán được giàu, nghèo, thọ, yểu, việc sinh tiền, việc tử hậu... rất thần tình; cách xem bói chỉ hơ qua mai rùa mà tính rõ năm, tháng, ngày, giờ, chuyện còn mất, chuyện tử sinh... đều đúng cả. Đoán xong, hé môi son, bảo nhỏ khách rằng: - Trả tôi ba đồng tiền và đặt xuống cạnh chiếu cho tôi. Khi người xem đã đi khuất, họ trông thấy người nghèo đói nào đi qua là gọi lại chỉ cho tiền, không từng thò tay cầm của người hay tự tay cầm đưa cho người khác. Cả chợ chưa ai trông thấy họ ăn uống ra sao. Hễ mặt trời lặn là họ ra về. Có kẻ hiếu kỳ dò theo, có ý muốn xem họ trú ngụ nơi đâu, nhưng chỉ được vài bước là chóng mặt ngã lăn, không theo được nữa. Cứ như thế đến hơn ba tháng. Thốt nhiên một hôm kia, người nhiều tuổi tuy cùng đi với cô gái trẻ, nhưng không hát, cũng không xem bói, đoán số, mà nét mặt buồn rười rượi. Cô gái trẻ thì vẫn hát như mọi hôm. Người không biết thì cho là điên. Hồi ấy có một nhà nho già, quê ở phường Đại Lợi, vì nhà nghèo, ngồi dạy học ở đất Đông Anh, tiếp được tin cha ốm nặng, cho học trò nghỉ rồi một mình đi bộ về nhà. Vì lòng hiếu thúc giục, nhà nho đi không kể đêm tối. Đầu canh năm vừa đến bến đò Bồ Đề. Trong ánh trăng tàn, cụ nhác trông thấy hai người ở trên ngọn cây bồ đề đi xuống, bước đi ung dung, không ra dáng leo cây. Nhà nho vốn có chính khí, nghi là ma, vội chạy lại túm lấy áo hai người ấy, định giết. Té ra chính là hai cô thầy bói thường ngày ở chợ. Nhà nho già quát: - Ngày ở trong chợ, đêm ở ngọn cây, chúng bay há không phải là yêu tinh ư? Hai người đàn bà ấp úng nói không ra lời. Nhà nho lấy làm lạ ôn tồn mà rằng: - Ta không phải là bọn thiếu niên ở Ngũ Lăng (6), mà vốn là một nhà nho tài cao học rộng, buồn vì thời loạn không ra làm quan. Ngày nay thiên tử đã lên ngôi, nhiều người vui vẻ ra phò vua giúp nước, thì ta lại già rồi. Người xưa có câu: "Bóng chiều đẹp vô hạn, chỉ tiếc sắp hoàng hôn!". Vì vậy, ta cố gây dựng cho lũ hậu tiến, mong để lại chút ơn nhỏ về đời sau. Hiện nay, trong số hơn hai trăm công thần thì một nửa là học trò của ta. Xét tình hai người, quyết không phải là kẻ bán nghề kiếm ăn, mà là người đang muốn tìm kiếm sự gì. Sự thể ra sao, nên nói cho thật. Hai người nghe lão nho nói hai tiếng "công thần" thì động đến bản tướng của mình. Người có tuổi che mặt khóc và nói: - Tôi chính là cháu dâu Long Vương. Năm xưa vì chồng tôi thích hương sen trắng, bị chàng Kim Lân rủ rê cùng bơi đến hồ Dâm Đàm (7)chơi, không ngờ gặp phải ngày Vương Thông xem đánh cá ở đó, bị nó bắt được, đem giết đi. Con trai tôi xin với Long Vương đi báo thù cha. Bấy giờ nó cưỡi ngựa không vẩy, rẽ nước lên trần. Khi con tôi rời thủy cung ra đi, tôi bảo nó rằng: "Con báo thù cha là con có hiếu. Nhưng mẹ đã già, khuya sớm thiếu người chăm nom, con phải hẹn cho đúng ngày về". Con tôi khóc mà thưa rằng: "Con đi chuyến này, nếu báo được thù cha thì đúng nửa hoa giáp sẽ về phụng dưỡng mẹ. Nếu thù kia không trả được, thì con sẽ không có ngày về!". Từ bấy đến nay, đã qua ba mươi sáu năm, tựa cửa chờ con, không nơi nương tựa, tôi đành giả tiếng đi bói để chờ con. Hôm mới đây, tôi đã được tin: sau khi lên cõi trần, con tôi thờ vua Lê, rất được tin yêu. Nó đã từng làm thích khách, lẻn được vào dinh Vương Thông, nhưng ba lần đâm đều không trúng cả. Khi vua Lê giảng hòa với Vương Thông, cho Thông được toàn thân về nước, con tôi nghĩ mệnh vua là trọng, đã không dám trái mệnh vua thì thù cha không bao giờ báo được. Nó bèn trông về thủy cung, bái vọng tôi, rồi treo cổ lên cây tự sát, cách đây đã bốn năm rồi. Việc đã chẳng ra làm sao, tôi muốn về ngay thủy phủ. Nhưng nghĩ đến cái nghĩa cùng đi với nhau, sao nỡ vội dứt, tôi nán ở lại mươi ngày nữa với Sơn cô. ----- (6)Ngũ lăng: Một vùng đất cổ đời Hán, có tiếng là phồn hoa, khách hào hoa các nơi đến tụ họp, chơi bời ở đấy rất nhiều. (7) Tức Hồ Tây. Nhà nho già nghe, động lòng thương xót. Cụ hỏi đến người thiếu nữ. Thiếu nữ kéo vạt áo lau nước mắt, hé bộ răng nhỏ, cúi đầu thưa rằng: - Thiếp không phải là người quái dị mà là vợ Sơn thần Đông Ngu. Khi Hoàng Phúc làm quan trấn phủ, tính hay đào xẻ núi non, đã làm đoản thương long mạch núi Mẫu Sơn. Vì thế, mạch Mẫu Sơn khô cạn. Phu quân thiếp giận lắm, thường sai người rình đợi xe Hoàng Phúc đi qua thì quăng đá cho gãy nát bánh xe để báo thù. Phúc đoán biết việc ấy, không dám qua núi nữa. Phu quân thiếp bèn cưỡi hổ thần lên hầu Tinh quan tòa Nam Tào, hỏi việc dưới nhân gian để mưu toan trả thù cho mẹ. Tinh quan đem sách Thái Ất ra tính và nói: "Rồi đây Hoàng Phúc về triều, Vương Thông ra trấn, nhưng sau hơn mười năm nữa sẽ có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Phúc sẽ cầm quân sang cứu viện, đến ải Lê quân thì bị Lê Lợi bắt sống. Từ đấy thiên hạ đại thịnh". Phu quân thiếp mừng lắm, liền thác sinh vào nhà họ Bùi. Lúc chia tay, thiếp khóc xin theo: "Vợ chồng hai người như một, lang quân liều chết vì mẫu thân, thiếp đem kim chỉ xin tòng quân". Phu quân thiếp ngoảnh lại bảo: "Người xưa nói: "Đàn bà ở trong quân binh khí sợ không mạnh", giang sơn này, thần dân này, khanh hãy ở lại một mình làm chủ. Đợi ba năm sau khi đại định, lại sẽ cùng nhau chăn gối như xưa. Nay đi theo làm gì?". Nói xong, đi ngay. Thiếp hằng ở trong thạch động, bấm đốt tay, đến nay đã hai mươi bốn năm. Lòng những e chồng mắc mối phú quý ở trần gian mà quên lời ước cũ, thiếp mới mượn cớ bói toán, ca hát, tìm khắp nơi nơi, may ra phu quân thiếp nghe thấy tiếng ca mà động lòng chăng. Thế mà đã ba bốn tháng nay, vẫn không dò được tung tích. Dám hỏi lão nho có biết gì về việc này chăng? Nhà nho già nói: - Công thần nhiều lắm, lại đều được ban quốc tính. Vì thế, khó thể theo họ tên cũ mà dò tìm. Sơn cô hãy nói hình dạng con người để tôi nhận kỹ xem sao? Thiếu nữ nói: - Phu quân thiếp thân cao, đầu nhọn (8), vành tai có hai chấm đỏ, sắc rất sáng tươi; tính tình ít nói, thường khi cả ngày ngồi yên, không cất tiếng. Lòng bàn tay trái có ngấn chữ "nhân" (人 ) lòng bàn tay phải có ngấn chữ "cửu" ( 九 ). Hai chữ ấy chắp lại thành chữ "cừu" ( 仇 ). Do khi thác sinh, sợ có quên thù chăng, nên phải ghi hai chữ ấy vào lòng bàn tay để nhớ. Dám hỏi lão nho có biết người nào như thế chăng? ----- (8) ám chỉ vào núi. Nhà nho già ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: - Cô từ xa đến thực phí công. Người ấy chính là quan Tham tán quân vụ Bùi Khả Gia ở phủ Tiền quân thống chế và cũng là môn sinh của tôi đấy. Nghe nói khi Hoàng Phúc xuống ngựa rập đầu xin hàng, anh ta cười lớn mấy tiếng rồi tự tay trói Phúc giải về dâng công. Sau khi đại định hai năm, anh ta tâu bày vì tòng chinh nhọc mệt, xin về dưỡng bệnh ở núi Tam Đảo, Hoàng thượng ưu đãi, ban cho quốc tính, gọi là Lê Khả Gia, tước Minh Tự. Được một năm, giữa giờ Dậu, ngày mười bảy tháng trước, anh ta đã bị bệnh mất, còn tìm làm gì? Thiếu nữ đang buồn hóa tươi, mỉm cười nói rằng: Vợ đi, chồng lại về, Tìm nhau như Sâm, Thương. (9) Biết lòng ông thần núi, Vì thiếp phải vội vàng. Đoạn, sửa lại khăn áo, chắp tay vái chào nhà nho già. Chớp mắt, hai người thần nữ đã biến mất. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Núi xanh nước rộng, sự tích mơ màng; bể bút làm văn, tả nên sự thật. Đọc bài này mới biết lòng trung hiếu, tình ân ái, Dương Gian, Âm Phủ cũng giống nhau. Cái người gọi là nhà nho già, có lẽ tiền thân là Văn Trung Tử (10)chăng? ----- (9)Sâm, Thương: tức là sao Hôm, sao Mai, ý nói không bao giờ gặp nhau. (10)Văn Trung Tử: một đại nho đời Tùy, dạy học trò nhiều người thành đạt. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Phả Ký Sơn Quân Sơn Quân! Sơn Quân! Mình sắc trắng là giống chính tông. Đứng bày hàng với các vì tinh tú trên trời; trấn ngự ở phương Tây. Cùng với các sao Thanh Long, Chu Tước và Huyền Vũ trấn thủ bốn phương trời. Đời Xuân thu xuống cho Tử Văn bú, sau Tử Văn làm tướng nước Sở. Vì vậy người Sở kiêng tên "hổ" mà gọi là "Ô đồ" (1). Cuối niên hiệu Trinh Quán đời Đường, thác sinh làm Tiết Nhân Quý (2), giúp Thái Tông bình định Cao Ly. Tiết Cương, Tiết Cường đều là dòng dõi. Sơn Quân sắc đỏ phát tích ở triều Ngu, dự hàng cửu quan (3). Đời sau có Chu Tam, tức là cháu xa. Lại như giúp Chu Tuyên Vương bình định Hoài Nam (4), làm ngũ tướng quân khôi phục nhà Hán (5), giữ đất Ba Thục để trông vào Trung nguyên (6), giúp Tần Mục Công làm bá chủ chư hầu (7). Tống Thái Tông giống được bước đi mà làm chủ thiên hạ (8); Hán Ban Siêu giống được cái đầu mà được phong làm hầu muôn dặm (9). Đó là loài hổ thiện. Còn như Sùng Hầu thì gièm Văn Vương (10). Dương Hóa thì trộm rùa lớn (11), nhãng đề phòng thì phá cũi ra (11), làm mộng gở để ăn cùng bọn (12); hổ đẻ (13), hổ nằm (14)đều có tiếng là hổ dữ. ----- (1)Tử văn: người đời Xuân Thu, làm tướng nước Sở. Lúc mới sinh bị bố đem vứt đi, nhờ có hổ cho bú nên khỏi chết, sau được mang về nuôi thành người. Nguyên họ Đấu. Tiếng Sở hồi đó gọi hổ là "Ô đồ", gọi việc cho bú là "cấu", nên đặt tên Tử Văn là Đấu Cấu Ô Đồ, không phải là kiêng tên. Trong bài nói "kiêng tên" là phiên ý, để cho đẹp câu chuyện. (2)Tiết Nhân Quý: người đời Đường, có nhiều chiến công được Đường Thái Tông gọi là "Hổ tướng". (3) Một người trong hàng cửu quan của Ngu Thuấn là Ông ích. Khi được cử làm quan núi Chằm, Ông ích nhường cho Chu Hổ, Hùng, Bi, nhưng vua Thuấn không nghe (Chu Hổ là hổ sắc đỏ). (4) Chu Tuyên Vương có bầy tôi là Thiệu Hổ, có công bình định Hoài Nam. (5) Đời Tam Quốc: Thục Hán có chức Ngũ hổ tướng quân. Đây gọi là Ngũ tướng quân, giấu chữ hổ đi, có ý coi như hổ làm những chức ấy. (6) Đời Tam Quốc, Lưu Bị giữ được đất Ba Thục. Người ta bảo giữ được Ba Thục là có thế như hổ dòm vào Trung Nguyên. (7) Điển này chưa tường. Bầy tôi Tần Mục Công có người tên là Phi Báo, không có ai tên là Hổ. (8) Sử chép: Tống Thái Tông long hành hổ bộ, nghĩa là đi như rồng, bước như hổ. (9)Ban Siêu: đời Hán, lúc còn hàn vi có người đoán rằng: "Hàm như én, đầu như hổ, có thể bay mà ăn thịt, đó là tướng phong hầu muôn dặm". Quả nhiên sau Ban Siêu có lập nhiều công ngoài biên cương, được phong làm Đinh Viễn Hầu. (10)Sùng Hầu: cũng tên là Hổ, gièm Chu Văn Vương với vua Trụ, Văn Vương phải giam ở ngục Dữu Lý. (11) Dương Hóa đời Xuân thu cũng tên là Hổ, làm phản nước Lỗ, lấy trộm rùa lớn và những đồ quí báu khác (Con rùa được người xưa dùng để xem bói). (12)Luận ngữ: Khổng Tử mắng học trò là Nhiễm Cầu rằng: "... Để cho hổ hủy xổng ra khỏi cũi là lỗi tại ai?". (13) Điển này cũng chưa tường. (14) Sách Hán thư có câu: "Thà gặp hổ đẻ còn hơn Nịch Thành đang giận". Các giống thú đến ngày đẻ con đều có tính dữ hơn ngày thường. Hổ đẻ lại càng dữ nữa, nên bọn quan lại ác, người ta ví là hổ đẻ. (15) Từ Hoành đời Hán, làm quan bạo ngược, người ta gọi là hổ nằm. Đó là loài hổ ác. Tuy rằng phân loại có nhiều giống khác nhau, nhưng nhân nghĩa dũng mãnh thì cùng chung một tính. Sinh con thì chăm nom nuôi nấng, há không phải là nhân? Chính sự tốt thì sang sông lánh lên phía Bắc (16), há không phải là nghĩa? Ở đâu thì đến rau lê, rau hoắc cũng không ai dám hái (17), há không phải là dũng mãnh ư? Vì vậy, thiên hạ đều sợ; trên bình phong đắp tượng hổ, nhà Đạo sĩ vẽ hình hổ, tướng xưng là hổ tướng, quân gọi là hổ bôn. Bài hổ, ấn hổ là lấy nghĩa về võ; trướng hổ, cửa hổ là lấy nghĩa về uy; sức như hổ là lấy nghĩa về mạnh, gầm như hổ là lấy nghĩa về tiếng. Da hổ có vằn rực rỡ, thiên hạ đều rất ưa thích; ngựa nước Lỗ đội vào mà đánh lui quân thù (18), Trương Hoành Cừ ngồi lên mà giảng dạy Kinh Dịch (19), vua nhà Tần lấy để khâu túi đựng cung, vua nhà Chu dùng để phong cho Hàn Hầu. Thế là vừa được người sợ vừa được người yêu. Bởi vậy, Thượng Đế phong làm Sơn Quân và gọi là đại nhân (20). Ngày thụ phong, hổ phủ phục kêu rằng: - Có vua, há lẽ không có bầy tôi? Thượng Đế ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi gọi thần gió (21)đến truyền rằng: - Sắc cho ngươi làm bầy tôi Sơn Quân. Nhưng, tính nết của y, khi mừng thì là em con rồng, mà giận thì là anh con sói (22). Bởi vậy, khi y mừng thì ngươi nên lượn vòng quanh mà dỗ dành ve vuốt, khi y giận thì ngươi chớ làm sừng làm cánh (23)cho y, chớ có ở chung với y. Phải đợi khi y cất tiếng gầm hãy đến. Sơn Quân nghe mệnh lệnh ấy lấy làm đắc ý, cúi đầu lạy tạ rồi gầm thét bước ra, gặp người thì cắn hại. Bởi vậy người ta phải ở sàn cao và đóng kín cửa để lánh hại, đặt cạm, giăng lưới để trừ nó đi. Hổ rời khỏi núi là mất uy thế ngay: bị Biện Trang đâm chết (24), bị Phùng Phụ bắt sống (25); Cung Thúc Đoạn tay không mà bắt được hổ dâng vua (26), Tống Minh Công cưỡi lưng không nhảy xuống (27); Địch Lương Công giẫm lên đuôi mà không kinh (28), bọn Lý Ưng tát vào mõm mà chẳng sợ (29). Cho nên Kinh Dịch có câu: "Không cắn người, tốt (30)". ----- (16) Sách Hậu Hán chép: Lưu Côn làm quan ở Hoằng Nông, có nhiều thiện chính, hổ phải cõng con, lội sông đi về phía Bắc. (17) Hán Thư nói: "Núi có thú dữ (ý nói hổ) thì rau lê rau hoắc không ai dám hái; trong triều có người trực thần thì những kẻ gian tà không dám mưu việc càn." (18)Tả truyện: Tề và Lỗ đánh nhau, tướng Lỗ lấy da hổ khoác cho ngựa ra trận. Ngựa của quân Tề tưởng là hổ thực, quay lại chạy, quân Tề phải rút lui. (19)Trương Hoành Cừ: tức là Trương Tái, một đại nho đời Tống. (20)Kinh Dịch quẻ Cách nói: "Đại nhân hổ biến", ở đây dùng điển ấy rồi phiên ý cho đẹp câu văn. (21) Ngày trước người ta cho rằng mây theo rồng, gió theo hổ, hễ hổ gầm là gió đến. (22) ý câu này nói chữ "hổ" đi sau chữ "long", như "long hổ bảng" "long bàn hổ cứ", thì là việc tốt, mà đứng trước chữ "lang" thành "hổ lang" thì là việc ác. (23) Hổ vốn không có sừng, cũng không có cánh. Câu này chỉ là câu giả thiết một vật khỏe như hổ mà lại có sừng, có cánh, thì rất nguy hiểm, không thể ở chung được. (24)Biện Trang: người nước Lỗ đời Xuân Thu, sức rất khỏe, thường đâm chết hổ, có lần đâm chết hai con hổ. (25)Phùng Phụ: người nước Tấn, có tài bắt hổ (sách Mạnh Tử) (26)Cung Thúc Đoạn: là em vua nước Trịnh, sức rất khỏe, có khi tay không bắt được hổ đem dâng vua (Kinh Thi, thơ Thúc vu điền). (27)Tống Công Minh: tức Tống Giang, làm thủ lĩnh các hảo hán, giữ Lương Sơn Bạc, chống lại triều đình nhà Tống, sau muốn quy thuận nhà Tống, nhưng các hảo hán không nghe. Người ta cho là Tống Giang ở vào thế cưỡi hổ khó xuống được. (28) Đời Đường, Trương Quang Phụ có công được cử làm Tể tướng. Ông để cho quân sĩ hoành hành. Địch Lương Công (tức là Địch Nhân Kiệt) bảo Quang Phụ rằng: "Ước gì được thanh gươm "thượng phương" đưa vào đầu ông, dẫu có chết cũng không oán". Người ta từ đó bảo là: "Địch Nhân Kiệt giẫm vào đuôi hổ mà không sợ". (29) Đời Đông Hán, bọn hoạn quan chuyên quyền làm nhiều điều xằng bậy. Lý Ưng giết em ruột một viên hoạn quan, khiến bọn này rất sợ. Người ta bảo là: "Lý Ưng tát vào mõm hổ mà không sợ". (30) Nguyên câu trong Kinh Dịch: "Giẫm vào đuôi hổ mà nó không cắn người là tốt". LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Truyện này đoạn đầu phân tích từng chi từng phái, chính hợp thể lệ chép phả ký. Đoạn giữa nói những điều đáng sợ, đáng yêu, lại có lời bàn tán, khen ngợi. Một đoạn nói thần gió, không mà thành có, thật là văn hay kiệt xuất. Đoạn cuối lời lẽ thật là nghiêm nghị. Sơn Quân có linh chắc cũng phải ẩn náu, không dám càn rỡ, bạo ngược nữa. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Bức Thư Của Con Muỗi Có con muỗi đồng quen thân với con muỗi nhà. Muỗi đồng nhường muỗi nhà làm anh, tự xưng là em. Một chiều kia, muỗi nhà bay ra đồng thăm em. Muỗi đồng nói: - Bao nhiêu đầu trâu, lưng dê ở ngoài đồng này, mời quan anh cứ xơi cho đẫy dạ, kẻo khi bóng chiều đổ xuống, trâu, dê về chuồng, thì chúng ta chỉ ngồi tán chuyện suông thôi. Không bao lâu, mục đồng dong cả trâu dê về chuồng. Muỗi nhà vẫn chưa được no nê, nhưng cũng đành miễn cưỡng theo muỗi đồng đậu trên lá cói. Chúng cùng nhau trò chuyện chưa được mấy lời, gió đông đã hiu hiu thổi tới. Muỗi đồng đưa muỗi nhà vào trong đốt lau đã mục. Được một lát thì trời mưa. Hai anh em đưa nhau vào ẩn trong lá sen cụp. Muỗi đồng bảo muỗi nhà: - Đây tuy chật, nhưng trời có mưa hàng tuần, em vẫn bình chân như vại. Tảng sáng hôm sau, muỗi nhà cáo từ ra về và bảo muỗi đồng rằng: - Than ôi! Tầm mắt của hiền đệ sao quá hẹp, chỗ ở của hiền đệ sao quá thấp như vậy? Này cảnh tượng trong nhà khác với chốn đồng không mông quạnh này nhiều. Mái nhà rộng mênh mông, bất chấp mưa sa gió táp. Ngày ta nương cột chạm; tối ta đậu màn hoa. Vui họp chợ lúc sáng mai, vo ve đắc ý; thú lượn đàn khi chiều tối, đủng đỉnh kiếm ăn. Lúc người nhà đã ngủ mệt, là lúc ta no say. Nào chỉ có thế mà thôi đâu, còn biết bao nhiêu niềm vui khác nữa. Muỗi đồng nghe nói, lấy làm thích lắm. Chập tối hôm sau, nó liền bay đến nhà người tìm muỗi nhà. Thoạt thấy muỗi đồng, muỗi nhà đã nở nang mày mặt, tươi cười mà rằng: - Hiền đệ ta có lẽ hôm nay thực chỉ (1)động chăng? Vừa rồi có hai cô ả ở thôn xa đến đây. Nghe chừng đêm nay chủ nhà không đủ màn cho họ nằm. Hiền đệ ta rồi đến phải lấy dây tơ mà buộc bụng, há chỉ giống như lũ trâu dê lúc trời sắp tối mà thôi ư? ----- (1)Thực chỉ: ngón tay trỏ. Ngày xưa người ta tin rằng thực chỉ động là điềm được ăn thứ ngon (Tả truyện). Muỗi đồng nghe nói, hơi có ý thẹn. Đến canh khuya, muỗi nhà đưa muỗi đồng đi khắp mọi nơi trong nhà, khoe rằng chỗ ở của mình sung sướng vẻ vang. Rồi chúng cùng nhau tìm kẽ hở lọt vào phòng ngủ. Quả nhiên thấy hai người con gái nằm trần, tiếng ngáy như sấm. Muỗi nhà trỏ bảo muỗi đồng rằng: - Chỗ rốn máu nóng, không bằng đùi vế êm ấm. Tay trắng da dầy, kém đứt má hồng mềm mại! Đoạn cùng nhau chẫu miệng thò ngòi, trong giây lát đã cảm thấy mình nặng như trái anh đào chín. Muỗi nhà mới đưa muỗi đồng đến đậu ở màn hoa cùng ngủ. Một lát sau nghe tiếng chủ nhà gọi người ở, bảo rằng: - Đêm nay nhiều muỗi quá, phải lấy lửa mà đốt. Muỗi nhà nói với muỗi đồng: - Trên mái ngói có nhiều khe hở. Chúng mình lên đấy mà ẩn, dẫu lửa cháy to mấy cũng không sợ. Dùng kế ấy, quả nhiên hai muỗi được vô sự. Một lát sau, lại nghe tiếng chủ nhà gọi người ở bảo rằng: - Lửa đốt vẫn chưa hết muỗi. Phải lấy lá soan, cá tươi và mai ba ba mà hun. Thế là khắp trong nhà khói lên nghi ngút. Phàm những khe hở đều có khói cay khí độc lùa vào. Hai muỗi ở trong khe ngói, mắt sưng húp như quả táo chín, đã mấy lần suýt làm mồi cho lũ kiến. Muỗi đồng vội bảo muỗi nhà rằng: - Bây giờ biết tính sao đây? Nếu không thì mới được no bụng đã bị thiệt thân, anh thành ra người bất nhân mà em là kẻ bất trí đó. Muỗi nhà khiếp thất đảm, vừa sợ vừa mê, cùng muỗi đồng tìm ra chuồng lợn để tránh khói. Khi ấy mắt bị khói hun, trông không rõ nữa, hai lần bay nhầm ngay vào mạng nhện, phải dùng hết sức lực mỏng manh của mình mới thoát ra được. Khoảng một giờ sau, chúng mới tìm được chỗ đậu, cũng chẳng còn nghĩ chi đến việc bị hơi hôi thối nhiễm vào mình. Nào ngờ đậu chưa yên thân, bỗng thấy một đàn dơi từ trên mái chuồng lợn bay ra, liệng vòng quanh sân. Phàm những chú muỗi nào sợ khói bay trốn ra ngoài, đều bị biến thành những hạt sa dạ minh (2). Muỗi đồng sợ quá, chết khiếp đến hơn một giờ. Khi tỉnh lại thì thấy lửa đã tắt, khói đã tan và lũ dơi đã về tổ, bèn vội vàng từ biệt, vỗ cánh bay về. Khi đã hoàn hồn, muỗi đồng viết một bức thư nhờ một con dãn đồng chuyển đến muỗi nhà. Lời thư như sau: ----- (2)Hạt sa dạ minh: sách thuốc gọi mắt muỗi là dạ minh sa, người ta thường lọc ở phân con dơi ra dùng để chữa bệnh mắt mờ. ở đây nói "biến thành những hạt sa dạ minh" là có ý nói bị dơi bắt ăn. Thưa với hiền huynh, Máu tươi má phấn, bụng còn no chăng? Khí độc khói hun, mắt còn mờ chăng? Trộm nghĩ: Lũ ta sinh ở Bảo Hà (3), Thân nương gấm vóc. Mỏng manh như tơ trời (4)trong ánh nắng. ----- (3)Sinh ở Bảo Hà: dùng câu phương ngôn: "Muỗi Bảo Hà, ma xứ Nghệ". (4)Tơ trời: mùa thu trời nắng, ngoài đồng thường có những sợi tơ trắng như tơ nhện bay ở trong không, người ta gọi là tơ trời, ở đây dùng nói vật rất nhỏ. Nhỏ nhen tựa hạt bụi đầu sợi lông. Đèn lửa chưa soi, trong đêm tối hiện hình ma quỷ; Bay kêu đắc ý, chốn âm phòng được lúc vắng tanh. Màn cô ả hé ra, nhẹ mình len lỏi, Giấc cậu em thiu ngủ, hút máu no nê. Cho nên kẻ tham ăn ban ngày, nếu không tay đập tan thây, cũng bị mảnh quạt tống đi xa lắc; Đứa tham ăn buổi tối, chẳng bị khói hun mù mắt, ắt lửa hồng thiêu cháy tấm thân. Sao bằng: Ở đầu trâu sừng quật không kinh, Đậu lưng dê, đuôi xua chẳng tới. Đốt lau nát nhưng thân nương vững chắc; Lá sen cụp mà chân nghỉ bình yên. Muỗi nhà, muỗi nhà! Ta nói không nghe, thì làm than trong lửa, làm bụi trên khói chưa biết ngày nào đó thôi! Nên mau mau lo liệu... Muỗi nhà đọc thư cảm thấy vô cùng hổ thẹn. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Muỗi đồng chỉ là con vật nhỏ, mà nói được vỡ lẽ vinh hiển là con đường đáng sợ, có tầng thứ phân minh. Nếu không phải là người am hiểu thế tình, không thể làm được bài văn như thế. Có lẽ thánh thiên tử cũng có sở nhân mới chép truyện này, không chỉ những kẻ ở nơi quyền quý phải lấy làm răn, mà những người chơi bời với người quyền quý cũng nên chọn kỹ. Thực là: một nét bút nghiêm minh mà ý nghĩa đầy đủ. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Duyên Lạ Ở Hoa Quốc Động Sơn La, tỉnh Hưng Hoa, có chàng Chu Sinh, mồ côi cả cha lẫn mẹ từ lúc mới lọt lòng. Chú ruột đem về nuôi nấng. Năm Sinh lên tám, được chú cho ra trường học. Thiên tư cũng sáng, nhưng tính rất lười. Nhà chú vốn nghèo, thế mà Chu Sinh chẳng chịu làm gì cả, chỉ sáng đến trường học, tối về nằm khoèo. Ngày xanh thấm thoắt, chả mấy chốc Sinh đã mười chín tuổi. Người thím của Sinh lấy làm chán. Nhân khi chồng vắng nhà, hai bữa sớm tối chỉ để phần Sinh nồi nhẵn bát không, lại còn cả tiếng nhiếc mắng nữa. Bất đắc dĩ Sinh phải cắp sách về căn nhà nát của cha mẹ để lại. Căn nhà ấy từ khi cha mẹ Sinh qua đời, đóng cửa bỏ không đã mười chín năm. Trong phòng cỏ rậm, ngoài cửa chông gai. Sinh rẽ cỏ vào nhà, chỉ thấy một chiếc ghế mọt, một chiếc giường và nửa manh chiếu rách. Liền đặt sách trên ghế, đến giường ngả lưng, không lòng oán giận, cũng chẳng nét buồn rầu. Chiều hôm ấy, chú về đến nhà, thím lại đặt điều thêm để kể tội cháu. Chú tuy biết rõ, nhưng lại nể vợ, bèn giả vờ giận cháu, nói: - Nó lười biếng như thế, còn ai hơi đâu mà nuôi cho? Không phải gọi, nó cũng sẽ bò về. Lại hỏi vợ: - Nó đi mấy ngày rồi? Người vợ trả lời: - Hai ngày rưỡi rồi. Người chú nín lặng, ăn cơm rồi đi ngủ. Đợi đến đêm khuya thanh vắng, mới lẻn đem tiền gạo đến nhà cũ của anh mình để cho Chu Sinh và dặn: - Vài ba ngày nữa, thím nguôi giận thì cháu lại về. Sinh vâng dạ, nhưng sau ba hôm vẫn không về. Người chú lại đến, nói: - Thím đã nguôi giận, sao cháu chưa về? Tiền gạo chú cho hôm nọ, chừng đã hết, nhà chú thì nghèo, lấy gì cung cấp cho cháu mãi? Cổ nhân có câu: "Thêm bát thêm đũa, gạo không phải thêm", nhà chú thêm một cháu ăn cũng chẳng tốn gì. Cháu cứ cố chấp thế này, định làm ma đói hay sao? Anh chị ta mất đi, chỉ còn để lại một giọt máu là cháu, cháu không nên tự hoại thân. Chu Sinh lại hẹn ba ngày nữa sẽ về. Nhưng hết hẹn cũng vẫn không về. Người chú lại đến gọi ba bốn lần nữa, nhưng Sinh chỉ khất lần. Chú giận vừa khóc vừa nói: - Mày mê muội đến thế, ta đành mặc ý mày thôi. Từ nay ta không đến nữa, cũng chẳng có gì mà cho nữa đâu. Nói xong, người chú bỏ về. Sinh nhịn đói đi ngủ. Chợt thấy một viên quan đầu đội mũ vuông, có vài chục người theo hầu, tay cầm thẻ bài vàng, trên có dòng chữ: "Sắc cho Phò mã vào chầu. Khâm thử" (1). ----- (1)Khâm thử: thời phong kiến, cuối sắc chỉ của vua, thường có hai chữ ấy, nghĩa là phải kính cẩn làm như thế. Chu Sinh theo viên quan ấy đi bộ năm dặm thì đến một nơi cung điện san sát, có vẻ như chỗ vua ở. Viên quan dẫn Chu Sinh theo những lối ngoắt ngoéo tiến vào, đi qua nhiều lầu nọ gác kia, không sao tả được. Một lát, đến một tòa điện vàng, cột sơn xà chạm, sân lát pha lê, vách phượng thềm rồng, mái lợp ngói bạc. Gian giữa có rủ một bức mành trân châu. Viên quan đó thưa với Chu Sinh rằng: - Xin phò mã hãy tạm đứng ở sân, đợi tiểu thần vào bẩm mệnh. Nói xong, viên quan đó bước vào trong điện, một lát sau trở ra, bảo Chu Sinh: - Quốc Mẫu ra lễ, mời Phò mã vào làm lễ. Chu Sinh vừa lạy hai lạy, đã nghe trong mành có tiếng nói to rằng: - Con rể không như các bầy tôi, hà tất phải lễ bái trọng thể như thế? Đoạn, Quốc Mẫu sai quan nâng Chu Sinh dậy và dẫn lên điện. Sinh thấy một bà già ngồi trên sập rồng, tuổi trạc sáu mươi, trông có vẻ oai nghiêm đáng sợ. Vị quan ghé tai Sinh nói nhỏ: - Quốc Mẫu đấy. Quốc Mẫu thấy Chu Sinh, cười niềm nở mà rằng: - Thật là rể quý! Thật là rể quý! Nói đoạn, cho phép Chu Sinh ngồi. Quan hầu dắt Chu Sinh đến ngồi ở một chiếc giường vàng bên cạnh. Quốc Mẫu truyền ban trà. Chu Sinh thấy bốn người thị nữ nhan sắc tuyệt vời, bưng chén ngọc đến đặt trước mặt mình, mùi lan ngào ngạt đưa hương, Sinh nâng chén. Sau tuần trà, Quốc Mẫu truyền quan Thượng thực dọn tiệc rượu. Khi ấy đội ca nhạc đi trước, tiếp sau là tám người cùng bưng một mâm vàng to đến đặt ở chỗ Chu Sinh ngồi. Tiệc rượu đã bày, Quốc Mẫu truyền cho mời Nguyên tử. Một lát sau thì thấy một gã thiếu niên, mới độ mười một tuổi, ngồi trong kiệu vàng mà đến. Cung nữ xúm lại, rước thiếu niên xuống kiệu. Quốc Mẫu bảo thiếu niên rằng: - Chồng chị con mới đến lần đầu, chắc còn e thẹn, con phải năng khuyên mời. Bấy giờ, quan Thượng thực rót rượu. Rượu trong hương ngát, mâm bày la liệt món ăn, toàn là của ngon vật lạ, trần gian không có bao giờ. Khi rượu đã ngà ngà say, Quốc Mẫu trên sập thong thả phán rằng: - Tiên Hoàng Đế cùng tiên quân Phò mã ngày xưa có hẹn ước Châu Trần với nhau. Nay Phò mã đã mười chín tuổi, mà Công chúa Mộng Trang cũng đã mười tám xuân xanh. Ta thì đã ngoài sáu mươi, chỉ còn một gái nhỏ này, nay được thành gia thất, thì tấm lòng mong trai có vợ gái có chồng của ta cũng được mãn nguyện. Chu Sinh không hiểu đầu đuôi ra sao, chỉ vâng vâng dạ dạ mà thôi. Còn đang nói chuyện, chợt thấy một người gọi là quan Thái sử, cúi đầu trước Quốc Mẫu tâu rằng: - Hôm nay không phải ngày tốt để nhận rể. Qua ba ngày nữa, tới ngày thiên đức hợp với nguyệt đức mới là ngày thượng cát. Quốc Mẫu trầm ngâm hồi lâu, đợi khi tiệc rượu đã xong, ngoảnh lại bảo Chu Sinh rằng: - Việc trăm năm không nên cẩu thả. Mà chưa làm lễ thành hôn, Phò mã nghỉ lại đây cũng không hợp lễ. Vậy hẹn đến ngày đó, ta sẽ sai quan đem xe lại đón. Nói xong, Quốc Mẫu truyền cử nhạc tiễn Chu Sinh ra ngoài cõi, còn mình thì nhìn theo. Sinh vừa ra khỏi cửa, chợt nghe gió thổi, bừng mắt tỉnh dậy mới biết là mình vừa nằm mơ. Nhưng miệng còn sặc hơi rượu, bụng vẫn còn no. Suốt ba ngày liền, Sinh thấy mình vẫn no say như thế. Tới ngày hẹn, Chu Sinh lại nằm mộng như lần trước, thấy trên điện vàng, hương hoa tề chỉnh, đàn sáo đang hòa. Quốc Mẫu truyền quan Ngự y, đem áo mũ mới may đến, có đủ các màu. Lại sai quan đội mũ, mặc áo cho Chu Sinh, rồi truyền cho cung nữ phò Mộng Trang ra phòng làm lễ giao bái. Lễ xong, Quốc Mẫu tự tay rót rượu vào hai chén ngọc mà rằng: - Chúc vợ chồng con trăm con ngàn cháu! Rồi đến lượt Nguyên tử và cung nhân, mỗi người đều có lời chúc tụng. Một lát sau, tả hữu đỡ Phò mã và Công chúa về tây phòng. Chu Sinh cùng Mộng Trang ngồi đối diện nhau. Sinh nhìn kỹ Mộng Trang thì thấy: tuyết hờn thua trắng, ngọc thẹn kém trong, ngón tay búp măng thon thon, hàm răng hạt bầu nho nhỏ. Nếu không là gái dưới trăng Dao Đài, thì cũng là tiên trên núi Quần Ngọc (2), trần gian làm gì có người như vậy? Nhưng nhìn kỹ, sau lần áo lót mình, Sinh thấy ở bụng Mộng Trang có nhiều ngấn ngang, duy có điều ấy là hơi lạ. ----- (2)Dao Đài, Quần ngọc: đều là những nơi tiên ở. Đêm ấy vui vầy êm ấm, bất tất kể hết. Sáng hôm sau, vợ chồng thức dậy, ăn uống vừa xong thì có triệu Chu Sinh. Sinh mũ áo chỉnh tề ra hầu. Quốc Mẫu cho Chu Sinh ngồi ở một chiếc ghế đặt trước sập rồng rồi khoan thai nói: - Nơi đây là nước Hoa, từ khi Tiên Đế băng hà, việc nước rất nhiều, Nguyên tử còn thơ ấu, ta lại là một bà già, một mình khó đảm nhiệm. May nhờ dưới gối có Mộng Trang sớm hôm giúp việc, ta đỡ mệt nhọc. Không vì lẽ ấy thì con gái xuất giá phải theo chồng cho đúng lễ xưa. Vậy Phò mã nên gượng theo ý ta, cho Mộng Trang cứ ở đây, rồi ba ngày một lần, ta sẽ sai sứ giả Xuyên Hoa (3)đem xe lại đón, xin đừng sai hẹn. ----- (3)Xuyên Hoa sứ giả: tức là con bướm. Chu Sinh vâng mệnh, lạy rồi từ biệt. Mộng Trang cũng đến tiễn chồng, vẻ mặt buồn rầu. Nguyên tử đùa rằng: - Vợ chồng mới một đêm, đã coi bằng trăm năm ư? Quốc Mẫu mỉm cười. Mọi người cũng che miệng cười. Mặt trời dần dần lên cao, Sinh bỗng tỉnh giấc, biết lại là một giấc mộng. Cứ như thế ba mươi ngày thì mười ngày nằm mộng. Thật là: Mộng về thăm Hoa Quốc, Tỉnh giấc lại văn thơ. Lửa bếp không hề đỏ, Dung nhan đẹp quá xưa. Người chú lấy làm lạ, không hiểu vì lẽ gì. Được một năm, Mộng Trang sinh con trai. Quốc Mẫu sắc cho vợ lẽ các quan đại phu và vợ cả các quan thượng sĩ, đều đến cho bú. Lại qua một năm nữa, Quốc Mẫu bảo Chu Sinh: - Đến ngày đầy "tuổi tôi" của cháu, con nên đến sớm. Hôm ấy, Sinh vừa nhắm mắt, đã thấy sứ giả đến mời. Đến nơi thấy trên có sáu quan, sáu chức, sáu phủ, sáu Công ngồi hàng ăn yến ở hai bên giải vũ, dưới có các bô lão trong Kinh cũng đang ngồi dự tiệc. Lễ vật chúc mừng chất cao như núi. Quốc Mẫu đang đùa với cháu, quay lại hỏi Chu Sinh rằng: - Cháu bé giống ai? - Thưa, phần nhiều giống mẹ. Quốc Mẫu nói: - Không phải, cháu giống tiên quân Phò mã ngày xưa. Đoạn, tiệc tan. Từ đó, Sinh vẫn lui đến nhà vợ như thường lệ. Bỗng một hôm, Chu Sinh thấy nét mặt Quốc Mẫu rất buồn, bèn lạy và hỏi: - Con trông mặt rồng hình như có vẻ phiền muộn, dám hỏi vì cớ gì? Quốc Mẫu rơm rớm nước mắt trả lời: - Từ hai tháng nay, ngày nào cũng có tin ngoài biên cương cáo cấp có giặc Ô Thước kéo đến từng đàn hàng ngàn hàng vạn quân, hiện nay đã đến cửa nước. Nhân dân và binh sĩ bị giặc cắn nuốt đã mất tới một phần ba. Ta định ngày mai sẽ thiên đô. Mẹ vợ, con rể ngày một xa nhau nên ta rất buồn. Quốc Mẫu chưa dứt lời, Thượng thư Bộ Binh đã quỳ trước ngai tâu rằng: - Giặc mỗi lúc một đông, nếu Bệ hạ nán lại một ngày thì dân đinh sẽ mất tới nửa, còn lấy gì mà dựng nước được? Giờ Hợi đêm nay là giờ Hoàng đạo, thần dám xin xa bay lánh dấu thì mới có thể bảo toàn quân và dân được. Quốc Mẫu hoảng sợ, cầm bút hạ sắc như sau: Bộ Hộ việc bộ, Bộ Binh việc binh. Nỏ trước cờ sau, Của thì trung doanh. Lễ cần nghiêm túc, Nhạc lặng âm thanh. Cục nào việc ấy, Giờ Hợi khởi hành. Khâm thử. Đoạn Quốc Mẫu ngoảnh lại bảo Chu Sinh: - Hiện nay bốn phương đầy quân giặc, nói chẳng hết lời. Mẹ có chút quà mọn, gọi là giúp con tiền nghiên bút, hiện đã phái một vị đại thần đệ đến nhà. Còn cháu thì đang thơ ấu, chưa tiện theo cha. Hai mươi sáu tháng nữa, sẽ xin trao trả. Chu Sinh nghe xong, chạy thẳng đến phòng tây, ôm Mộng Trang khóc rằng: - Nghĩa vợ chồng sống chết gắn bó, sao nỡ vội biệt ly? Còn sống thì cùng đi với nhau, chớ nỡ nào cam chịu trong cảnh cha con, vợ chồng mỗi người một ngả. Khóc rồi ngất lăn xuống đất. Mộng Trang vội nâng dậy: - Trước tạm chia sau lại hợp, đó là lẽ thường trong đời. Thiếp lo chàng cô đơn lạnh lẽo, đã có Đồng Nhân đi theo hầu hạ, sao phải oán hận quá như thế? Đêm qua, nghe Quốc Mẫu hạ lệnh khởi hành, thiếp trằn trọc thâu canh. Của riêng thiếp có một lá ngọc mềm, thiếp đã đề một bài thơ tỏ ý. Giờ xin tặng lại lang quân. Lang quân đeo luôn trong mình thì cũng như có thiếp ở luôn bên cạnh. Vả lại ngọc này là bởi chất tinh túy của muôn hoa luyện thành, của báu vô giá. Đeo nó thì mùa hè chống được nóng, mùa đông trừ được lạnh. Lang quân nên giữ gìn cẩn thận. Rồi ra ta lại đoàn viên, cũng chẳng lấy gì làm muộn. Thiếp nay hiếu nghĩa hai bề khó vẹn, theo chồng không được, mà để chồng theo lại không nên. Chỉ mong lang quân muôn nghìn trân trọng, giữ lấy sức khỏe, ngủ sớm lúc đêm mưa, dậy muộn khi trời gió. Ngày vui sau sẽ còn dài. Mộng Trang nói xong, tự tay mở túi Chu Sinh, bỏ ngọc vào trong, rồi dứt áo ra đi. Chu Sinh tỉnh giấc lại, chỉ trơ trọi một mình. Đốt lửa lên soi, thấy trên ghế có một túi gấm, trong đựng mười lạng vàng. Sinh đem giấu dưới vách nát. Lại sờ trong túi, quả nhiên có một vật dài độ hai tấc, dày ước nửa phân, cuốn tròn như hình quản bút. Sinh mở ra xem, thấy vật ấy trắng như hoa mai, vân như gấm vóc, sáng bóng đáng yêu, mềm dẻo khác thường. Trong lá ngọc có đề một bài thơ tám câu, chữ viết rất tốt, đã có lực lại có thần. Trước thì Vệ Phu nhân, sau thì Vương Hữu quân (4), trong rừng nho xưa nay không có lối chữ của ai sánh kịp. ----- (4)Vệ Phu nhân, Vương Hữu quân là hai người viết chữ tốt đời Tấn. Vệ Phu nhân tên là Thước, Vương Hữu quân chính là Vương Hi Chi. Thơ rằng: Nhất kiếm hoành thu lịch giải tuyền, Nghĩ tương nhị tiểu thiếp song thiên. Hoa cương đối ngạn ưng đông thượng, Hồ Thủy lâm lưu thả hữu tuyền. Nhất thập nhất triêu tiên túc hối, Lục thiên thử dạ thoại tiền duyên. Lương nhân vật tác mê hoa ý, Điên đảo phùng quân thập ngũ niên. Nghĩa là: Một thanh gươm đương mùa thu vượt qua khe suối. Định đem nhị tiểu thiếp vào song thiên. Đến chỗ đối ngạn với núi Hoa thì nên rẽ về đông, Tới ngòi Hồ thì quay về hữu. Ngày "nhất thập nhất" sẽ tiêu trừ được túc hối, Đêm "lục thiên" ấy sẽ nói chuyện về duyên trước. Khuyên chàng đừng quá lòng mê hoa, Xoay xỏa gặp chàng mười lăm năm sau. Sinh đọc đi đọc lại bài thơ hai ba lượt, nghĩ mãi vẫn không hiểu ý nói gì. Cho là huyền hoặc chăng? Sao trước mắt có ngọc vàng thật? Cho là sự thực chăng? Thì những chuyện trong mơ sao nay chẳng thấy? Buồn bã bồi hồi ngồi đợi đến sáng. Sinh thầm nghĩ: từ nay trở đi, đã không nằm mộng như trước, tất lại bị đói khát như thường, bèn cầm bút đề lên vách một bài thơ như sau: Hoa quốc duyên ưa đã mấy thu, Mà nay tâm sự nguội như tro! Xe rồng, kiệu phượng về đâu tá? Giấc mộng, canh tàn đến nữa ru? Đề thơ vừa xong, Sinh nghe xóm xa có tiếng khóc, hỏi ra mới biết bà thím đã mất. Liền đem vàng và sách vở trở về nhà chú. Người chú thoắt trông thấy Sinh, giận mắng rằng: - Hai năm đã qua rồi, nay cháu lại về với chú à? Sinh bèn nói thác ra rằng: - Đêm qua cháu mơ thấy cha cháu về bảo: "Chú con đã nghèo lại gặp cảnh góa vợ, cha có mười lạng vàng tốt cất ở chỗ kia, con hãy đem về làm món tiền trợ táng cho thím con". Ý giả tấm lòng của cháu đã cảm đến vong linh cha cháu, mong chú thương tình cho. Hồi lâu, người chú mới nói: - Thôi thì ta cũng nhận tấm lòng thành của cháu cho thỏa vong linh anh ta. Nhưng sau tang lễ, cháu phải ở luôn đây, để cho thân không phải lo củi nước, lòng được chuyên việc thi thư, có lúc học, lúc nghỉ để đợi khoa thi. Sinh vâng lời. Từ đó sớm tối lại ăn học như trước. Năm sau, gặp khoa thi Hương, Sinh nộp quyển vào trường, đỗ Hương cống thứ mười tám. Sau khi vinh quy, Sinh được chú đi dạm vợ cho, nhưng từ thành thị đến thôn quê, Sinh chẳng bằng lòng đám nào cả. Chú giận, nói: - Cao thì chê ngỏng, thấp lại chê lùn, quan Hương cống định lấy Công chúa ư? Sinh mỉm cười thưa: - Biết đâu lại chẳng như thế? Chú nói: - Đã thế thì năm ngoái chú đi buôn, có gặp một người con gái ngồi khóc bên đường, trông chừng không nơi nương tựa. Chú hỏi, thì người ấy thưa rằng: "Tôi họ Đồng, tên Nhân, người ở Vân Đồn, lạc lối đến đây, nay không biết đường về". Chú thương tình, đem về nuôi. Đồng Nhân nay mới mười tám tuổi, tính tình hiền lành, nết na hòa nhã. Hiện nay cháu cũng đã luống tuổi, vậy có thể trước hãy lấy cô ta làm thiếp, rồi sau đây gặp đám cao sang danh giá, sẽ lấy làm vợ cả cũng được chớ sao? Sinh nghe chữ Đồng Nhân hợp với lời dặn của Mộng Trang khi trước, rất đỗi vui lòng, liền trả lời ngay: - Cháu xin vâng theo lời chú dạy. Người chú liền may sắm quần áo cho Đồng Nhân, lại chọn ngày lành tháng tốt, đưa Đồng Nhân đến trước mặt Chu Sinh làm lễ. Từ đó gọi nàng là Chu Thiếp. Được một năm sau, Chu Thiếp sinh con trai. Chu Sinh bế con ra để đặt tên, nhìn kỹ dung mạo nó, thấy giống hệt như đứa con ở Hoa Quốc, Sinh nghĩ bụng đã hiểu ngay, lại bấm đốt ngón tay, tính ra cũng đúng hai mươi sáu tháng. Ngày tháng thoi đưa, lại tới kỳ thi Hội, Sinh vào thi, được xếp vào hạng có phân số (5), nên được bổ làm Giáo thụ Hà Nội (6). Từ đó, cứ ba năm được thăng một bậc. Sau mười hai năm thì làm nên quan to. Đến năm Quý Mùi, ở đạo Tuyên Quang có giặc Vũ Văn Hối (tức tỵ tổ của Vũ Văn Uyên (7)), dựa vào thế núi hiểm trở, không nộp cống thuế, triều đình đã nhiều lần đánh, nhưng không dẹp được. Nhà vua giận lắm, liền phong Chu Sinh làm Bình man Đại tướng, đem hai vạn quân đi đánh. Thật là: Đặt Đổng Giả (8)vào việc binh, không đánh, đánh là phải thắng; Bàn Tôn, Ngô (9)ở trên chiếu, chẳng làm, làm tất phải nên. ----- (5)Có phân số: theo thể lệ thi Hội: người nào làm bài tuy chưa đủ số phân điểm được đậu, nhưng đã đạt đến một phân số điểm nào đó, được xếp vào hạng khá. Việc dùng người thi hội có phân số đến đời Minh Mạng triều Nguyễn mới có. (6) Tên Hà Nội, đến thời Minh Mạng mới có. (7)Vũ Văn Uyên: công thần đời Lê trung hưng, có công phò Lê chống Mạc dưới triều Lê Chiêu Tông (1516-1522), được cử làm Tuyên Quang Đô đốc binh sự. Ông là anh ruột của Vũ Văn Mật. (8)Đổng, Giả: tức Đổng Trọng Thư và Giả Nghị, hai nhà đạo nho đời Hán. "Đặt Đổng Giả vào việc binh" ý nói Chu Sinh là một nhà nho thần nay cử đi đánh giặc. (9)Tôn, Ngô: tức Tôn Tẫn tướng nước Tề và Ngô Khởi tướng nước Sở, những nhà quân sự giỏi đời Chiến quốc. "Bàn Tôn Ngô" ý nói bàn việc quân. Bấy giờ Sinh bèn đeo ấn ngư phù, cầm cờ vũ tiết, tinh kỳ đổi sắc, quân lính ngậm tăm, lặn lội suối ngàn, xông pha lam chướng, đi đúng nửa tháng thì đến địa phận châu Lục An. Khi gần tới trại giặc, chợt gặp một con suối lớn, không thuyền không thể vượt qua được. Sinh truyền lệnh hạ trại và cho tìm thổ dân đến hỏi về tình hình hư thực của địch và đường lối xa gần mọi nẻo như thế nào? Thổ dân đáp: - Suối trước mặt gọi là suối Hồ Thủy. Rẽ suối đi về phía bên phải, chỉ một ngày là đến trại giặc. Nếu đi bộ theo phía Đông thì trong một ngày cũng có thể đến nơi. Còn một cách nữa là: bên kia suối này có một trái núi gọi là Hoa Điệp, nếu tướng quân vượt suối qua núi ấy mà tiến thẳng lên, thì chỉ trong nửa ngày là đến. Nhưng phải chặt cây, mở lối thì mới tiến quân được. Chu Sinh lại hỏi: - Chu vi núi ấy chừng bao nhiêu dặm? Thổ dân trả lời: - Ngang dọc khoảng bốn mươi dặm, um tùm cây cối, bốn mùa đầy hoa. Mười lăm năm trước đây, vào khoảng nửa đêm, bỗng có đàn bướm tới vài vạn con bay đến hội tụ nơi đây. Hiện nay, mỗi lần bướm bay lên thì rợp cả một góc trời. Vì thế mới có tên là núi Hoa Điệp. Chu Sinh nghe thổ dân nói, câu nào cũng đúng như lời thơ trong lá ngọc, mới hiểu rõ giấc mộng năm xưa: Quốc Mẫu tức là vua bướm; Mộng Trang là con gái bướm. Ngày xưa, Trang Chu chiêm bao hóa làm bướm. Trong chữ, tên Mộng Trang đã hình dung được ý nghĩa. Tên ta cũng ngẫu nhiên phù hợp, hay là kiếp trước cũng đồng loại chăng? Sứ giả Xuyên Hoa tức là "con bướm luồn hoa" nói ở trong cổ thi (10); ngấn ngang ở bụng và lưng Mộng Trang tức là ngấn ở mình bướm; giặc "Ô Thước" là những giống chim đến ăn bướm. Và gọi đó là thiên đô, tức là dời đến chỗ này vậy. ----- (10) Thơ Đỗ Phủ: "Xuyên hoa gián điệp thâm thâm hiện, điểm thủy thanh đình khoản khoản phi", nghĩa là: Con bươm bướm luồn hoa hiện ra ở nơi sâu thăm thẳm, con chuồn chuồn chấm nước bay chập chờn. Sinh lại đem bài thơ của Mộng Trang ra chiết đoán từng câu: Câu phá ý nói mình mang quân đi đánh giặc ở nơi rừng núi hiểm trở. Câu thứ hai có hai chữ "nhị tiểu" ( 二 小 ) đem ghép lại thành chữ Mùi ( 未 ) và hai chữ "song thiên" ( 雙 天 ) đem ghép lại thành chữ quý ( 癸 ). Năm nay chính là năm Quý Mùi. Câu thứ ba ý nói: nên nhằm phía đông mà tiến quân, không nên đi qua núi Hoa bên kia bờ suối vì phải chặt phá cây cối. Câu thứ tư có nghĩa đã rõ. Câu thứ năm có ba chữ: "nhất thập nhất" ( 一 十 一 ) đem ghép lại thành chữ "nhâm" ( 壬 ). Ngày Nhâm ta sẽ đánh tan giặc và giết được tên Hối nên câu thơ mới nói là "tiêu túc hối". Câu thứ sáu có hai chữ "lục thiên" ( 六 天 ) đem ghép lại thành chữ "tân" ( 辛 ). Đêm ngày tân ta sẽ gặp lại Mộng Trang như cũ, nên câu thơ mới nói là thoại tiền duyên. Câu thứ bảy không cần phải giải đoán. Câu kết nói: mười lăm năm sau khi dời đi nơi khác, thì sẽ được gặp chàng. Đoán nghĩa bài thơ xong, Chu Sinh dẫu biết mình là người lấy vật, nhưng nghĩa cũ tình xưa, lẽ nào quên được. Sau đó, Sinh gặp chư tướng bàn rằng: - Đường qua núi Hoa tuy gần, nhưng phải nhọc công chặt phá cây cối, lại làm kinh động quân giặc. Chi bằng ta hãy men theo bờ ngòi Hồ, quanh mé hữu đánh vào bên tả trại giặc; còn phó tướng thì đem quân theo đường bộ, vòng sang phía đông núi mà lén đánh vào bên hữu trại giặc, như thế mới là kế vẹn toàn. Hổ phù đưa xuống, các tướng tuân lệnh răm rắp. Khi đến nơi quả nhiên bắt sống được Vũ Văn Hối, Chu Sinh cho niêm phong kho tàng, biên sổ dân đinh, đốt phá hết đồn lũy của giặc, xếp đặt công việc trong mười ngày, rồi theo đường cũ kéo quân khải hoàn. Bấy giờ là ngày Tân Sửu, Sinh đỗ thuyền bên núi Hoa, ngẫm nghĩ lời thơ cũ, đoán chắc sẽ được giấc mộng hay. Mặt trời mới ngả bóng, Sinh đã cho chăng hổ trướng, nằm ngủ trong thuyền. Quả nhiên chàng thấy ngay sứ giả khi trước cầm thẻ bài đến đón. Sinh theo sứ giả đi, qua lâu đài lộng lẫy, thấy đẹp gấp mười khi trước. Thoạt tới sân điện, Sinh đã thấy Quốc Mẫu ngự ngoài hiên, xa xa cất tiếng: - Ông tướng Bình man có nhọc mệt không? Râu ria xồm xoằm thế kia, không trẻ đẹp như xưa nữa. Thế mới biết năm tháng thoi đưa, ngày xuân chóng hết, người ta ở đời không nên để thì giờ lãng phí. Sinh lạy rồi lên điện. Sau lễ vấn an, Quốc Mẫu hạ sắc cho quan Thượng thực đặt đại yến ở tây phòng, ở đây phòng vắng người thưa, mới có thể cùng nhau hàn huyên hết lời được. Bấy giờ Chu Sinh và Mộng Trang ngồi đối ẩm với nhau. Một người thì nhạn sa cá lặn (11), nàng tiên rạng vẻ trong phòng; một người thì ưng vút hổ gầm (12), ông tướng thành công ngoài cõi. Bao năm xa cách, một buổi trùng phùng, phú quý nhà trời, thần tiên quyến thuộc, tình nồng rượu nhạt, mắt liếc mày đưa, không ngờ từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn mà tiệc yến vẫn chưa tàn. ----- (11)Nhạn sa cá lặn: chỉ sắc đẹp tuyệt trần. (12)Ưng vút hổ gầm: ý nói uy phong của người võ tướng như chim ưng bay vút, như hổ gầm lên. Quốc Mẫu biết vậy, lập tức truyền sắc chỉ cho Công chúa: - Chồng con mang lệnh quân vương trên mình, con chớ nên kéo dài cuộc vui như thế. Sắc chỉ truyền đến, tiệc rượu mới tan. Chu Sinh ra bái từ, Quốc Mẫu cầm tay chàng mà rằng: - Nay mẹ đã già yếu, mà Nguyên tử cũng đã lớn khôn. Trong khoảng một tháng nữa, mẹ sẽ về thăm cung tĩnh dưỡng. Nước sẽ chia làm hai: từ bên tả ra phía Đông thuộc phần Nguyên tử làm chủ; từ bên hữu ra phía Tây thuộc quyền Công chúa làm chủ. Kể từ khi dời đô đến đây, số dân, số của tăng gấp mấy lần khi trước. Công chúa một thân yếu ớt, khó mà làm cho thần dân khuất phục. Vậy Phò mã nên sớm làm xong việc vua giao, rồi về đây trị vì cùng Công chúa. Chu Sinh vâng lời. Quốc Mẫu nói tiếp: - Cổ nhân thường nói: "Biết phòng bị trước, khỏi lo hoạn nạn về sau". Lại có câu: "Khi chưa thấy xảy ra sự biến, cũng phải lo trước". "Việc ràng buộc cửa ngõ cần phải làm trước mùa mưa". Phò mã lại còn phải lo liệu thế nào giặc Ô Thước qua núi Hoa này. Giữ dân đã có mưu xa, vinh hoa tất sẽ được lâu dài mãi mãi. Chu Sinh lại vâng lời. Một lát sau, gió màn lay động. Chu Sinh bừng tỉnh giấc. Quan hầu thưa rằng: - Tướng quân ngủ lúc giờ Thân, qua mười hai giờ, bây giờ thẻ canh đã lại báo giờ Thân, ý chừng ngài mải lo việc biên phòng nên quá mệt mà ngủ say và lâu như thế chăng? Chu Sinh cười mà rằng: - Lâu nay vất vả, nay mới được một giấc ngon. Sau đó Chu Sinh một mình lên bộ, đi vòng núi Hoa xem xét vài lượt, rồi mua ba mươi khu ruộng, mộ những thổ dân có tài cung nỏ, đến ở để bắn đuổi chim chóc, không cho tụ tập ở đấy. Xếp đặt chu đáo xong mọi việc, Sinh mới về triều dâng công. Sinh biết mình sắp làm chúa Hoa quốc, tất nhiên không thể ở lâu cõi trần, bèn dâng sớ xin về quê lo liệu việc nhà. Về chưa được một ngày thì mất. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Người đọc truyện đều bảo bài này ít có sự thực, chỉ là bút sinh ngành lá, thêu vẽ thêm lời, cho nên mới thành ra một bài trường thiên này. Đó chỉ vì ít trông thấy nên mới cảm thấy lắm điều kỳ quái thôi. Nước ta, trong các sơn động ở các tỉnh Hưng, Tuyên, Thái, Lạng, Cao Bằng... nhiều vật hình dáng kỳ quái, quốc sử không thể chép hết. Đại để như: ngày làm người sống, đêm làm ma bay, làm Mán sơn đầu, làm tiền của tằm vàng (13), người chết thì bỏ xác để thờ, năm đói thì hóa hổ để đi kiếm ăn. Biết bao nhiêu là sự quái gở. Người còn như thế, vật có khác gì. Biết đâu được trong rừng suối âm u, không người đi tới, vật ở đấy lâu ngày thành yêu. Bươm bướm có vua cũng như ong kiến có vua tôi vậy. Bài này có ý nghĩa cũng như truyện "mẹ ong" (14). ----- (13) Xem phần phụ lục ở dưới. (14) Chưa rõ truyện này như thế nào. Những bài kia thì: - Sau mộng hết tình, hội ngộ biến thành bóng gió. Bài này thì: - Sau mơ thành thật, giống nòi giữ được anh hoa. Câu chuyện văn chương, ai bảo người đời nay không bằng người đời xưa. PHỤ LỤC: Động núi có giống "tằm vàng" là vật rất đáng ghét. Các loài kim, loài gỗ, nước lửa không làm hại nó được. Nó yêu ma tác quái, đã bám vào nhà nào thì không chịu bỏ đi. Có nhà nọ không muốn cho nó ở, đem một nửa số của cải, đồ đạc trong nhà mình gói cả con tằm vàng vào trong ấy, để ở bên đường. Người qua đường không hiểu cớ gì, nhặt lấy tài vật ấy đem về, làm nên giàu ngay. Người ấy mừng lắm, đem con tằm vàng để ở trong cũi bếp, sớm hôm cúng bái. Ít lâu sau thì mặt vàng bủng như con tằm, bụng dần to bằng cái trống. Uống thuốc gì cũng không công hiệu. Phỏng chừng dăm năm thì người ấy chết. Cha chết truyền đến con. Con chết truyền đến cháu. Vẫn cúng vẫn tiễn tống nhưng không trừ được. Thường thường có nhà bị nó làm đến nỗi chết mất giống. Khổng Minh vào đất Thục, dùng nước bùa giải đi (15). Sau có người khách thường dân phương ấy mắc phải thảm họa, bèn cho một bài thuốc để trị nó. Dùng ba đồng cân "lôi hoàn" tán nhỏ trộn với một ít phèn chua, hòa cho đều, cất giấu chỗ kín. Khi thấy con tằm vàng bò ra thì lấy một ít thuốc bột ấy rắc lên mình nó. Con tằm hóa ngay ra thứ nước đỏ như máu. Ma của nó giận dỗi tác ác. Nhưng khi nghe trên không có tiếng thì lại lấy thuốc bột ấy, theo chỗ có tiếng vang mà vảy lên. Bấy giờ con ma quát mắng là "phụ bạc" rồi nó xéo mất. Từ đó không trở lại nữa. Thế là được thoát tai vạ. ----- (15) Bài Phụ lục này chép truyện con tằm vàng ở động núi nước ta, là để dẫn chứng cho câu "làm tiền của tằm vàng" trong bài bàn của Sơn Nam Thúc, nhưng đột nhiên dẫn việc Khổng Minh vào Thục ở đời Tam quốc, vào thế kỷ thứ III, cách đời Lê Thánh Tông chừng 1200 năm. Tất nhiên đoạn văn này có chỗ chép sai. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Trận Cười Ở Núi Vũ Môn Năm mới lên ngôi, đầu tháng Giêng, Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống chiếu như sau: "Trẫm nghĩ: thấm nhuần cho dân chúng là bởi tại mưa, mà phun mưa xuống cho thế gian là phải có rồng. Kinh Dịch nói: "Lợi kiến đại nhân" (1)là lấy nghĩa đó. Trẫm cưỡi sáu rồng ngự trị trên trời. Xét thấy: rồng sông thì già nua mà đổi cốt, rồng núi thì nằm náu để yên thân, hoặc hiện ở ruộng, hoặc nhảy ở vực (2); như vậy thì việc cuốn nước phun mưa làm thế nào cho khắp được? Nay định mở một hội tuyển rồng, bắt đầu vào ngày mồng bốn tháng Tư năm thứ tư. Ở tất cả mọi nơi rộng lớn như bốn bể, chia nhánh như sông ngòi, tròn như Ngũ Hổ, nhỏ như kênh lạch - không cứ giống có đuôi hay không đuôi, có vảy hay không vảy, đều được dự thi. Con nào vượt qua ba cấp Vũ Môn (3), ta sẽ làm cho vinh hiển: biết phép biến hóa, trạng mạo oai hùng, sáng chơi sông Vân Hán, chiều về ở cửa trời, lại được mây năm sắc theo hầu. Thật là cao hơn các vật tầm thường vạn vạn lần. Than ôi! Vỗ sóng quạt gió, sá chi trong chậu vẫy vùng? Gọi mây làm mưa, gì bằng đường trời rong ruổi. Các ngươi phải tắm rửa sạch sẽ để đợi kỳ thi!". Ngay hôm tờ chiếu ban xuống, con cua tự xưng là "công tử không ruột" (4) huênh hoang nói: ----- (1) Câu: "Lợi kiến đại nhân" ở Kinh Dịch ý nói: thấy rồng hiện ra thì biết là sắp có thánh nhân ra đời. (2) ý nói rồng không làm được việc. (3)Vũ Môn: nguyên là tên núi. Tục truyền vua Hạ Vũ đi trị thủy, đào để lấy đường cho nước chảy, nên gọi là Vũ Môn. ở đây có nhiều cấp, nước chảy mạnh như thác. Ngày xưa tin rằng cá vượt qua được Vũ Môn thì hóa rồng. Người ta thường dùng điển này để nói bóng người thi đỗ. (4)Công tử không ruột: trong văn thơ cổ, người ta thường dùng để gọi con cua. - Người quân tử bảo: "Nhanh chân thì được trước". Ta đây: trên cất hai đao, dưới duỗi tám chân, thường ngang tàng trong biển cả. Nay nhắc bàn chân lớn, bước những bước dài. Vũ Môn dẫu cao, chỉ nháy mắt là tới. Giật giải Khôi Nguyên, không ta thì ai? Ếch nhảy lên nói khoác: - Ta sẽ múa hai đùi mập mạp, chỉ nhảy ba cái là tới đỉnh. Lươn, chạch vươn mình, tự khoe: - Ta cuộn thân dài lại rồi quăng mình ba vòng là đã lên hẳn đỉnh núi. Cá rô tự đắc: - "Tập quen thành tự nhiên". Leo núi là ngón thạo của ta. Ta sẽ giương vây cứng mà rạch lên, phỏng có khó gì? Tôm bể cũng hớn hở: - Công hầu phải có dòng giống. Tiền thân ta vốn bay lên trời. Nay ta chỉ cần co mình lại một cái là giật giải, nào có khó gì? Thật đúng câu: "Chín lần chiếu thiên tử, Bốn bể chí Khôi Nguyên!". Không bao lâu, sang tiết mùa hạ. Thượng Đế sai thầy rồng làm quan giám khảo, giải (5)và ba ba làm đội đàn áp, cá nhỏ mặc áo ngũ sắc luân phiên làm lính hầu, ốc thì rê áo thụng dài sung chức lễ sinh. ----- (5) Nguyên văn bản chữ hán: giải miết, dịch đúng nghĩa thì là cua và ba ba. Nhưng xét thấy cua ứng thí, không thể làm đội đàn áp được. Có thể ở đây, tác giả dùng chữ nhầm. Vả lại theo tiếng Việt, giải và ba ba là cùng loài, hình dáng giải to lớn nên dùng làm đội đàn áp. Vậy nên chúng tôi dịch là "giải". Ngày hôm ấy, dưới chân núi Vũ Môn, các loài thủy tộc giương râu vểnh ria dồn đến như mây họp, như ngói xếp, mình ngoe nguẩy, miệng lép nhép. Ngoài trăm dặm còn trông thấy chúng ngóc đầu muốn nhảy. Một lát, viên lễ sinh vừa gọi tên xong, cá chép vảy vàng đang thong dong trong đám thủy tộc, bỗng rẽ nước bay lên, vượt thẳng ba cấp núi. Các con chép khác cũng nhảy theo. Trong mười con có năm sáu con lên được. "Công tử không ruột" chưa bò lên được một bước đã bị rêu trơn ngã lăn xuống; từ đó đào lỗ ở dưới đất, thẹn mình trước trót nói càn. Chàng ếch ta vỗ tay, vừa mới nhảy một cái, hai chân trước đã bị gãy, từ đó chỉ ngồi nép ở ao bèo, hổ mình mang tật cho thiên hạ cười chê. Lươn và chạch vừa quằn quại lên được một bậc đã rơi tõm xuống bùn lầy. Cá rô ngênh ngang rạch lên, chưa được một tầng đã bị đá đè xuống đầu. Tôm bể, con nào con ấy no kềnh bụng, cong đuôi nhảy lên, không ngờ đuôi ở trên đầu ở dưới, lá yếm (6)không che được bụng, thành ra chất tanh ở ruột lộn cả lên đầu. ----- (6)Lá yếm: nguyên văn chữ Hán chép "Hội yếm bất năng yểm phúc", nghĩa là cái hội yếm không che được bụng. Nhưng chữ hội yếm là một danh từ sinh lý học, nó là một bộ phận trong cuống họng dùng để đậy không cho đồ ăn vào khí quản, có sách khoa học dịch là cái lưỡi gà. ở đây dùng để nói con tôm là mượn chữ, nên tạm dịch là lá yếm. Bấy giờ các giống cúp đuôi đi thẳng. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Đây chỉ là một bài văn đùa, nhưng ngòi bút tài hoa, tả lúc nói khoác rõ ra trạng thái anh nói khoác; tả lúc hổ thẹn, rõ ra bộ mặt kẻ hổ thẹn. Chẳng khác một bức truyền thần. Những kẻ nói không biết thẹn, đọc bài này nên lấy làm răn. THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Truyện Lạ Nhà Thuyền Chài Nhà thuyền chài có một đôi vợ chồng, không rõ họ tên, cũng không biết quê quán ở đâu, đến trú ngụ ở miền biển Đông, làm nghề đánh cá. Thật là: Chồng đem tám lưới chặn dòng sâu, Vợ vác cần dài tới bến câu. Gió sớm đi ra, chèo một mái, Trăng đêm trở lại cá từng xâu. Cũng thật là: Khi sông sớm lúc biển chiều, Quên mình trong cảnh lao đao tối ngày. Cá nhiều bán được tiền ngay, Đêm về có bát cơm đầy phần con. Gần sáu mươi tuổi mới sinh được một con trai. Vợ chồng rất yêu quý. Đêm hôm sinh đứa bé, có đánh lưới được một con cá mè to, nên đặt tên cho đứa bé là Thúc Ngư, tự là Hà Bảo. Khi Thúc Ngư mười lăm tuổi, người cha muốn cho con rời nghiệp nhà đi học. Thúc Ngư hỏi cha: - Đi học là thế nào? Cha nói: - Những lời nói và việc làm của thánh hiền đời xưa chép trong sách, có học mới biết mà bắt chước. Thúc Ngư lại hỏi: - Trong sách có cá không? Cha rằng: - Không! Thúc Ngư lại hỏi: - Lấy lời nói và việc làm của thánh hiền mà đánh cá có được không? Cha nói: - Lời nói chỉ là văn không, cá là vật thật, làm thế nào mà đánh được. Mày nói sao ngu thế? Thúc Ngư nói: - Trong sách đã không có cá, lời nói lại không thể đem đánh được cá, còn học làm gì? Rồi không chịu đi học. Cha mẹ yêu con, không nỡ cưỡng bách. Hàng ngày, cơm sáng xong, đợi cha mẹ đem lưới ra vực, Thúc Ngư vội vàng đi ngay. Hoặc một ngày thì về, hoặc hai, ba ngày mới về. Cha mẹ cố dò xét chỗ con đi chơi, nhưng không sao tìm được. Trước còn kinh ngạc đi hỏi thăm mọi người, sau cũng coi như thường. Một hôm cha ôn tồn hỏi rằng: - Trong hai, ba ngày vừa qua, ai cho con ăn? Con làm việc gì? Con chơi ở đâu? Sao cứ mê man đi tràn như thế? Nay đã không đi học, lại bỏ nghề nghiệp nhà, như thế rút lại chỉ là một đứa lêu lổng mà thôi! Thúc Ngư thưa: - Tục ngữ có câu: "Có người là có của". Con nghĩ cha mẹ tuổi già mà gia tư lại bần bạc, muốn tìm một người vợ về làm thay cha mẹ, chung sức lại có thể kiếm được nhiều tiền hơn, may ra nghiệp nhà có thể khá lên được ít nhiều. Nhưng việc trăm năm không nên cẩu thả, cho nên con phải đi lâu ngày để xét cho kỹ. Dám đâu chỉ rong chơi mà cam chịu thành người lêu lổng. Cha thấy con nói rất khôn, không nỡ trách mắng nữa. Trong khoảng hai, ba năm, con đi về thế nào cũng mặc. Một hôm, vợ chồng đánh cá ở bờ biển, được nhiều hơn mọi khi, ham cá quên cả về. Đến lúc thu lưới lên thuyền, trống đã điểm canh ba rồi. Trời tối sương mù, không sao tìm được đường về. Bỗng thấy đèn lửa đằng xa, tựa hồ có nhà ở. Vợ chồng bảo nhau rằng: - Cách chỗ người ở không xa nữa, nên tìm đến ngủ trọ một đêm. Rồi ghé thuyền lên bờ. Gần đến nhà, nghe trong nhà có tiếng người nói: - Ông thông gia đã đến, mau ra mở cửa đón. Tiếng nói vừa dứt, một ông già dưới cằm có hai cái râu rất dài từ trong cửa bước ra, trong ánh đèn sáng, miệng cười niềm nở, vái chào vợ chồng ông chài và nói rằng: - Đường xa đêm khuya, phiền ông bà đến thăm. Hậu tâm ấy biết lấy gì báo đáp? Vợ chồng không hiểu duyên cớ, chỉ biết theo ông già bước vào trong nhà. Ngồi nói chuyện qua loa một lúc rồi đi ngủ. Sáng mai, ông chài xin đi. Ông già nói: - Xin hãy tạm ngồi lại để Ngọa Vân làm lễ cho phải đạo làm dâu. Ông chài nói: - Dám hỏi Ngọa Vân là ai? Ông già nói: - Nó là con gái thứ tám mươi chín của lão đệ. Cùng lệnh lang là Thúc Ngư gặp nhau ở bờ biển, liền có lời hẹn ước Chu Trần. Hiềm còn ít tuổi, chưa tiện cho đẹp duyên cưỡi rồng, nên thường thường lại đây cho được tiện nơi đỗ phượng. Đến nay đã ba năm rồi. Định đến cuối tháng này chọn ngày cho về nhà chồng. Đoạn gọi Ngọa Vân bảo rằng: - Hai vị ngồi kia là bố mẹ chồng của con đấy, con phải lạy mừng. Ngọa Vân ngồi lễ bốn lạy. Vợ chồng ông chài thấy con gái nhà giàu sang, người lại đẹp, trong bụng rất mừng, chỉ hiềm chưa biết tung tích thế nào. Một lát, cơm được bưng lên. Ông chài nhìn trong vạc xanh đặt trên bàn ăn, thấy toàn là vật sống đang bơi nhảy. Có thứ quẫy lượn như rồng, cũng có thứ chạy bon bon như ngựa, có thứ như lũ trẻ đùa bỡn, cũng có thứ như đàn gà chọi nhau. Tuy mỗi vật chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay, mà vảy, sừng, lông, cánh, tai, mắt, chân, tay, con nào rõ ra con ấy. Ông chài xưa nay chưa từng trông thấy như thế, sợ không dám ăn. Ông già hiểu ý, mỉm cười nói: - Núi cao chót vót, biển rộng mênh mông, những vật sinh ở trong đó ai dễ biết hết. Đem cái tài vận chuyển như thần như thánh mà chế ra các món ăn hai buổi sớm tối, người ta sở dĩ quý hơn mọi loài là ở chỗ ấy. Hai vị việc gì mà sợ? Bởi ít khi trông thấy nên có nhiều điều lấy làm lạ đấy thôi. Lão đệ xin ăn trước, rồi mời hai vị xơi sau. Khi cầm đũa gắp thì đều là vật chín, ngon tuyệt phẩm, thơm lạ thường. Cơm xong, vợ chồng ông chài cáo từ ra về. Ngọa Vân thân hành tiễn chân ra đến chỗ cắm thuyền. Nhìn vào trong cái hang ở bãi cát gọi to rằng: - Gã bán kinh! Gã bán kinh! (1)Nhờ hai người tiễn bố mẹ chồng tôi trở lại nhà. ----- (1) Chữ kình ( 鯨 ) là cá voi có một nửa chữ là kinh ( 京 ). Quả nhiên có hai người trong hang ở bãi cát đi ra. Ngọa Vân dặn rằng: - Hôm nay sóng to, không thể dùng chèo bơi thuyền được. Hai anh phải cởi áo lội xuống nước, một người đi sau đẩy thuyền, một người đi trước kéo thuyền, mới có thể chóng đến nơi. Hai người vâng lời. Bấy giờ Ngọa Vân dắt vợ chồng ông chài lên thuyền, ghé tai nói nhỏ: - Chốn này chướng khí trong nước rất độc, vào mắt thì bị mù ngay. Xin thầy mẹ nhắm chặt mắt lại, lấy hai tay che lên, không nên mở ra nhìn. Chỉ đi độ một khắc có thể qua muôn dặm đường trường. Nói xong, từ giã quay về. Vợ chồng ông chài theo lời dặn, nhắm mắt ngồi trong thuyền, phó mặc hai người đẩy, kéo thuyền đi. Độ nửa khắc sau, hai người hé mắt nhìn trộm qua kẽ ngón tay, thấy một nước một trời, không biết đâu là bờ bến. Cá nhảy sau lái, trập trùng trăm trượng trời cao; sóng vỗ mui thuyền, man mác ngàn tầm biển rộng. Hai gã đi sau, đi trước, tựa người nhưng không phải người, vẩy rồng mồm giải, mặt thú thân xà, nổi chìm lên xuống nhanh như mây bay. Sáu mươi năm về trước, ông chài tuy là khách giang hồ, cũng chưa từng thấy cảnh vật hình thù như vậy. Vợ chồng đều sợ mất vía, ôm nhau mà ngồi. Đi chừng ba khắc, nghe hai người kia nói: - Đến nơi rồi. Hai vợ chồng mở mắt trông ra thì rõ ràng bến cũ của mình, mừng lắm, bước ngay lên bờ. Chưa kịp quay lại nói, đã thấy hai người "bán kinh" trở gót ra về và trong chớp mắt đã biến đâu mất tích. Về nhà, ông gọi Thúc Ngư ra bảo rằng: - Tục ngữ có câu: "Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng". Người mà con định chọn làm vợ thì nay bố mẹ đã thấy rõ ràng. Thật là "con giỏi dâu hiền". Nhưng chưa biết cưới vào ngày nào? Quê quán ở đâu? Gia thế sang hay là hèn? Đường đi gần hay là xa? Con phải nói cho rõ, ta mới lo kịp. Rồi kể lại rõ ràng quãng đường biển đã qua, cùng hai người kỳ dị tiễn về như thế nào. Thúc Ngư nói: - Chỗ ở là đảo ấp, dòng dõi là hải tiên. Từ đảo ấp đến bờ biển Đông này xa chừng một vạn dặm. Theo lời người mối nói thì cuối tháng này tới kỳ hạn làm lễ cưới. Cha hoảng sợ nói: - Muôn dặm thì phải đi tới nửa năm. Cuối tháng thì chỉ còn ba ngày. Làm thế nào cho kịp được? Thúc Ngư nói: - Vợ con đã có thuật rút đường. Bố vợ lại không thách lấy lụa vàng. Lo gì không kịp việc? Cuối tháng, có hai người đưa Ngọa Vân đến làm lễ cưới. Trông như người thường, không có vẻ gì khác cả. Từ đó, một nhà bốn miệng ăn, cùng sống trong thuyền lênh đênh trên mặt nước. Mỗi lần buông lưới là được toàn cá ngon, chốc lát đã đầy nửa thuyền. Chiều đem về chợ bán, thường được giá đắt. Gia tư giàu có dần. Cứ như thế được bốn năm. Một đêm mồng bảy tháng bảy, người cha nói với cả nhà rằng: - Nhà ta ăn sẻn để dành, nay đã được dư dật. Vậy có nghỉ một ngày cũng chẳng hại gì. Đêm nay, sao Ngưu và sao Nữ gặp nhau, ta nên làm lễ "khất xảo" (2). ----- (2)Khất xảo là xin tài khéo. Đêm mồng bảy tháng bảy, người ta bày hương hoa, lễ vật cúng thần sao Chức Nữ xin ban cho tài khéo dệt gấm vóc, vải lụa (tục người Trung Quốc đời xưa). Người nhà vâng lời. Đang khi lạy khấn, nghe đồn nước biển dâng to. Chỗ nào cây nước đổ xuống là làng xóm sạch nhẵn. Mọi người cùng ra cổng xem, thấy sóng to cuồn cuộn tràn đến. Dù có mọc lông mọc cánh, cũng không bay khỏi ra ngoài nước được. Ngọa Vân thấy tình thế nguy bách quá, vội giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng: "Biến!". Tức thì nàng hóa ra một con cá to, dài độ ngàn thước, mình lớn ước tới ba mươi quầng, nằm chắn chỗ ngọn nước tràn vào. Vợ chồng ông chài và Thúc Ngư vin ngay râu cá trèo lên. Nhờ thế được bình an vô sự. Qua một đêm, nước rút xuống. Trông về làng xóm: người, vật, nhà cửa đều bị sông bể cuốn đi hết. Còn nhà, vườn của ông chài thì vẫn y nguyên như trước ở trên đồi đất cao. Bấy giờ Ngọa Vân cầm tay Thúc Ngư khóc rằng: - Thiếp vốn là nữ Học sĩ ở Long Cung, cùng chàng gặp gỡ những hẹn trăm năm. Hay đâu vạ từ ngoài đến, nếu không lộ bản hình, sao giữ toàn được tính mệnh nhà chồng? Nhưng đã làm thiên cơ tiết lộ, thì đoàn tụ với nhau là sự rất khó. Từ nay trở đi, thiếp không thể chung mộng đẹp được nữa. Đoạn, lau nước mắt mà hát rằng: Từ ngày thay áo lạy cô chương (3), ----- (3)Cô chương: bố mẹ chồng. Cách tháng về nhà chàng, Trăm năm ân ái ngày còn trường, Bỗng đâu cơn bão táp, Biển cả sóng điên cuồng, Rào rạt mênh mang. Thời ấy, thế ấy, Không lấy thân đương, Thì cô chương, thì hiền lang, Chôn trong bụng cá rất bi thương. Thiên cơ đã lộ, Lại e cha mẹ mắc tai ương, Làm sao giữ được cảnh đồng sàng? Thúc Ngư lang! Trời một phương! Ghi nhớ trong tâm trường: Trước song chẳng quản trăng soi bóng, Nhắn nhủ hoa mai tự chủ trương. Ông xanh, ông xanh sao phũ phàng! Hát đi hát lại hai ba lượt, rồi nhổ một ít nước bọt trắng trao cho Thúc Ngư và nói: - Từ nay vĩnh biệt, gọi là chút đỉnh tặng lang quân, đem hòa với nước mặn mà uống thì xuống nước không chìm, không bao giờ bị nạn chết đuối. Một lát nàng hóa rồng, theo phương Tây Bắc bay đi. LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Duyên giải cấu như vậy cũng là truyện lạ xưa nay. Là một nàng hải tiên ở đảo ấp, lại đi làm dâu một nhà thuyền chài ở biển Đông, rất là không hợp. Thế mà ngoi lặn hụp hơi, đuổi cá ngon vào trong chài lưới, chỉ bốn năm đã trở nên giàu. Đến khi gặp cơn nguy biến, đem thân cản sóng cho nhà chồng. Lại sợ để tai vạ cho cha mẹ, phải tự cắt đứt tình ái vợ chồng, bi ca oán hận; hiếu nghĩa vẹn cả đôi đường. Đọc bài ca để lại, tưởng như trông thấy người vậy. Thế gian làm gì có nàng dâu như thế! Kìa những kẻ cậy giàu sang mà khinh rẻ bố mẹ chồng, chả hóa người mà lại không bằng cá ru! THÁNH TÔNG DI THẢO Khuyết Danh www.dtv-ebook.com Lời Phân Xử Của Anh Điếc Và Anh Mù Khi ta còn ở Đông Cung (1), một hôm đi xem phong tục thôn quê, thấy anh điếc, anh mù cãi nhau tranh vị thứ trên dưới, từ khi mặt trời mới mọc đến lúc đứng bóng mà chưa ai chịu ai cả. Ta sai người bắt cả hai anh lại, hỏi rằng: - Các ngươi đều là người tàn tật, còn đáng kể gì vị thứ cao với thấp. Sao cứ chê kém, khoe hơn, đã lâu mà không quyết định được như thế? Bây giờ mỗi người bày tỏ ý mình, ta sẽ phán xử cho. Anh mù nghe hỏi, đứng phắt dậy thưa rằng: - Dòng thiêng lặc diệp (2), tổ tiên nhà tôi có đã lâu: từ vua Phục Hy nhận được Hà đồ của con Long mã (3), phong làm quan Thái bốc, giúp thiên hạ định việc do dự, giải điều hiềm nghi. Tới khi vua Hoàng Đế làm nhạc Hàm Trì, lập làm nhạc công, giúp thiên hạ sửa đổi thanh âm, điều hòa luật lã (4). Từ thuở xưa đến nay, thường kiêm hai chức. Về sau, khi còn ở trong Nhạc phủ, đời đời vẫn gọi là quan Thái sư. Còn như chức Thái bốc thì đối với vận hội cổ kim rất quan trọng. Ông thử xem: mệnh tổng quân của Hạ Vũ (5), do tôi định cho! Mưu dời ấp Bặc của Bàn Canh (6), do tôi quyết cho! Gặp Thái Công ở Vị Thủy (7), cất bảo sách ở kim đằng (8), không phải bởi tôi ư? Sửa ấp Lạc để chư hầu vào chầu (9), đi Đông Sơn dẹp yên dân chúng nhà Ân (10), không phải bởi tôi ư? Trải đời Ngu đến đời Chu, đều được bày hàng trong Lục thái. Chú điếc thì không có quan chức gì. Khi nhà Tần lên, dẫu chôn học trò, đốt sách vở, mà sách của tôi vẫn còn để ở bác sĩ (11), chức tôi vẫn bày hàng ở triều đình. Tôi được nhà vua tin dùng biết chừng nào! Khi nhà Hán dấy lên, Văn Đế là một vị vua hiền, do quẻ bói Đại Hoành (12)giải lòng hồ nghi. Khi Vương Mãng cướp ngôi, tôi dấy lên ở đất Hàm Đan, mà thiên hạ đều hưởng ứng (13). Tôi lại được lòng người tin theo biết chừng nào! Chú điếc tranh vị thứ với tôi sao được? ----- (1)Đông cung: Cung Thái tử ở (khi chưa lên làm vua). (2) Cách thức và công việc gieo quẻ xem bói. (3) Tương truyền vào đời Phục Hy có con Long mã mang một bức đồ họa từ dưới sông Hoàng Hà lên. Phục Hy nhân đấy đặt ra bát quái. (4)Luật, lã: hai thứ nhạc cụ cổ dùng để điều chỉnh âm nhạc, mỗi thứ có sáu ống gọi là lục luật và lục lã. (5) Ngu Thuấn sai Hạ Vũ mang quân đi đánh Tam Miêu, có xem bói trước. (6) Vua Bàn Canh nhà Thương, dời Kinh đô đến ấp Bặc, cũng xem bói rồi mới quyết. (7) Chu Văn Vương đi săn, xem bói, quẻ nói sẽ được một tay giúp việc giỏi để nên nghiệp bá vương. Quả nhiên gặp được Lã Vọng tức Thái Công tại Vị Thủy. (8) Vũ Vương nhà Chu đau nặng, em là Chu Công làm văn khấn với các vua trước xin chết thay. Bài văn khấn ấy để vào cái hòm gọi là "kim đằng". Sau Chu Công bị ngờ là muốn cướp ngôi, Thành Vương là con Vũ Vương mở kim đằng, thấy bài văn ấy, nên không ngờ nữa. (9) Thành Vương khi sửa sang ấp Lạc làm Kinh đô, có xem bói. (10) Chu Công đi dẹp giặc ở Đông Sơn, có xem bói. (11) Tần Thủy Hoàng đốt sách, nhưng sách bói, sách thuốc đều không đốt mà vẫn đặt quan Thái sư để trông coi. (12) Trước khi Hán Văn Đế từ đất Đại vào làm vua, còn do dự. Sau xem bói được quẻ Đại Hoành. Quẻ này nói "làm vua tốt", bấy giờ mới quyết định. (13) Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, hào kiệt các nơi nổi lên chống lại. Bấy giờ có Vương Lang là một thầy bói có tiếng cũng nổi dậy chống Vương Mãng, có nhiều người theo. Hỏi đến anh điếc. Điếc trừng mắt nhìn ta mà nói rằng: - Làm chúa thiên hạ, làm chủ một nhà, quý nhất là người điếc. Thiên hạ mong mỏi mà không thể được, cũng là người điếc. Những kẻ chỉ khu khu một quan một chức đáng so sánh cao thấp với tôi. Ta nghe nói lấy làm lạ, quát mắng rằng: - Nói xằng! Ngươi lấy lẽ gì mà nói vậy? Anh điếc thưa rằng: - Làm vua như Ngu Thuấn cũng đã đủ, nhưng còn phải hỏi các quan nhạc để rộng tai nghe việc bốn phương (13), bảo người nghe các thanh âm, để chỉnh sáu luật (14), không điếc là gì? Phàm những người ở ngôi trời, phải có bầy tôi can ngăn để làm "nhĩ quan" (15), không điếc là gì? Không thế thì lại rủ bông vàng để che tai (16), không phải là xem trọng điếc ư? Không điếc thì không làm nổi bố vợ (17), không phải là quý điếc ư? Huống hồ bỏ không thèm nghe những câu thị phi, chẳng để lọt tai những lời gièm nịnh. Mình ngồi bệ vệ, lấy mắt mà trông. Giả sử người trong thiên hạ mà đều như tôi, thì Kinh Thi không phải vịnh câu "có tai bên vách" (18), đức Khổng không phải răn việc nghe lỏm ngoài đường (19). Còn một điều nữa: giả sử thiên hạ mà đều như tôi, thì mọi việc có thể lấy tâm mà hiểu, lấy thần mà biết, không cần, phải có tiếng mới nghe được. Những tiếng ong ve không có, các nhà ca xướng không mở. Công việc ăn uống hàng ngày cứ đường thẳng mà đi, không cần phải dùng lời nói. Nếu có kẻ bẻm mép, cũng không dựa vào đâu mà làm sụp đổ nước nhà người ta được (20). Há không phải là điều thiên hạ mong muốn mà không thể được ư? Người không có khen chê, tục không có phải trái. Tôi sẽ thấy điếc cả đến quan vậy (21). Nguồ.n.: i.re.ad.vn ----- (13) Vua Ngu Thuấn có đặt các quan ở bốn phương để giúp vua nghe ngóng công việc trong thiên hạ. (14) Vua Ngu Thuấn sai Hạ Vũ làm bốn việc, trong đó có việc phải nghe để giúp vua chỉnh lục luật, ngũ thanh, bát âm. (15)Nhĩ quan: chức quan để nghe ý kiến thiên hạ mà can ngăn vua, coi như là tai của vua. (16) Đời xưa mũ vua thường có bông vàng rủ xuống che hai tai, sợ nhiều tiếng bên ngoài vào làm rối lòng vua. (17) Quách ái đời Đường là con Quách Tử Nghi, lấy Công chúa. Một hôm, mắng vợ nói phạm đến vua. Quách Tử Nghi vào triều, xin nhận tội, vua Đường nói: "Không ngây không điếc thì không làm được bố vợ. Những câu chuyện đàn bà, con gái ở chỗ buồng the thì không nên nghe". (18) Thơ Tiễu biền trong Kinh Thi: "Nhĩ chúc vu viên", nghĩa là có người nghe tai bên vách. (19)Luận ngữ: "Tử viết: Đạo thính nhi đồ thuyết, đức chi khí giã", nghĩa là: "nghe chuyện ngoài đường, lại đem nói ở ngoài đường là bỏ cả đạo đức". (20) Sách Luận ngữ nói: "ố lợi khẩu chi phúc bang gia giả", nghĩa là ghét những kẻ bẻm mép, làm đổ sụp nước nhà. (21) Câu này nguyên văn chữ Hán là: "Ngô tướng kiến kỳ lung vu quan dã". Ngờ có chép mất vài chữ nên chưa rõ nghĩa. Ta nghe xong, cầm bút phê rằng: - Ngạn ngữ có câu: "Trăm lần tai nghe không bằng một lần mắt thấy". Thư nói nhĩ mục, Dịch chép khảm ly (22). Thánh nhân đặt chữ, trước sau tinh vi. Giác quan giữ lửa, quan coi một ty (23), Liêm lại đời Hán, tai điếc hại gì?(24) Còn như chú mù, thành nghề nhưng vẫn là bậc dưới (25), chỉ là tiểu đạo, có chút khả quan, nhưng người quân tử không làm. ----- (22) Theo Kinh Dịch, thì tai thuộc quẻ "khảm", mặt thuộc quẻ "lỵ". Cả hai câu này đều có ý nói tai ở trên mắt. (23) Hai câu này cũng chưa rõ nghĩa, cứ theo ý văn thì không thấy có ý nói anh điếc là anh hơn. (24) Đời Hán có một người huyện Thừa họ Hứa, tuổi già, tai điếc, có người muốn đuổi đi. Nhưng Hoàng Bá giữ lại nói: ông cụ ấy là người liêm lại, còn làm được việc, điếc có hại gì. """