"Tập Tục Qui Chánh - Trương Đăng Mảo full prc pdf epub azw3 [Biên khảo] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Tập Tục Qui Chánh - Trương Đăng Mảo full prc pdf epub azw3 [Biên khảo] Ebooks Nhóm Zalo Tên sách : TẬP-TỤC QUI-CHÁNH Tác giả : TRƯƠNG-ĐĂNG-MẢO IN TẠI NHÀ IN XƯA-NAY, SAIGON Năm xuất bản : 1928 ------------------------ Nguồn sách : ndclnh-mytho-usa.org Đánh máy : white-eyes Kiểm tra chính tả : Max Pham, Bouillard Huế Biên tập ebook : Thư Võ Ngày hoàn thành : 03/08/2018 Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG Cảm ơn tác giả TRƯƠNG-ĐĂNG-MẢO đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá. Ghi chú : Nhằm lưu giữ vết tích Tiếng Việt của sách xưa, nhóm làm ebook này đã sao y bản chánh chính tả của sách gốc in lần thứ nhất năm 1928. MỤC LỤC 1. TIỂU DẨN 2. TÓM LUẬN 3. LỄ NHẠC 4. LỄ TANG LỄ TẾ 5. LỄ TANG TẾ KIÊM THỜI 6. KHÁCH ĐIẾU KIÊM THỜI 7. TUẦN TỰ 8. TUẦN TỰ KIÊM THỜI 9. THẦY CHÙA 10. TỤC ĐỐT GIẤY 11. TỤC ĐỐT HƯƠNG 12. NGÀY KỴ, TỤC GỌI LÀ ĐÁM GIỖ 13. TIẾT NHỰT, TỤC GỌI LÀ NGÀY TẾT 14. BÓNG CHÀNG 15. ĐÌNH THẦN 16. LÀM LÀNG 17. LỄ HÔN NHƠN 18. TU NHƠN ĐẠO TẬP-TỤC QUI-CHÁNH TRƯƠNG-ĐĂNG-MẢO dit MẸO INSTITUTEUR À L’ECOLE DE LONG-THUONG CHOLON Tác giả giữ bản quyền IN TẠI NHÀ IN XƯA-NAY 62-64, Boulevard Bonard, 62-64 SAIGON 1928 TÓM ĐỀ I. Lật quyển xem cho khấp trước sau, Phải cùng không phải tự Đồng-bào, Khai đường tấn bộ là thang ấy, Xả hội từ đây bước tới mau. II. Xả-hội trông ngày tới bực cao, Trước mong hương tục cải-lương mau, Nhơn tài cũng kẻ trong làng xuất, Làng thạnh thì sau nước mới giàu. Trương-đăng-Mảo dit Mẹo 1. TIỂU DẨN Đương nay nước nào mà đặng văn-minh cường thạnh là phần nhiều bỡi tại dân thông thái, song dân mà đặng thông thái là cũng nhờ có sự học thức cao xa, lại cũng năng coi nhựt báo nên mới có sự rộng thấy rộng nghe. Vì trong đời mà có ai đi cho khấp cã hoàn cầu, nhưng cũng nhờ có các báo chương nên mới có thế ngồi nhà mà biết được việc thế gian. Nghĩ lại như kẻ nghèo kia mảng việc dầm mưa chải nắng, lo buổi sớm rồi tới buổi chiều, đặng nuôi bề gia quyến vì mãng câu gia bần tri đoản, nên đâu đủ dư trí mà coi xét và suy nghĩ việc đời. Còn như người có tiền đủ cơm tẻ ngày hai, thì lòng thơ thới, nếu lòng mà thơ thới thì trí lại dể sanh, nên vậy phải lấy chút trí dư mà lo gồm cho xả-hội. Nghĩ vì loài vật như con tầm thì nhổ ra tơ, con ong thì gầy ra mật, loài vật mà còn có hữu dụng cho đời, huống chi con người ở đời phải làm sao cho hữu ích cho đời, chẳng nhiều thì ít. Nếu gọi rằng đèn ai nấy sáng, việc ai nấy lo, công dư đâu mà gánh bao hàm cho việc thế, nếu nói vậy thì sao cho đáng bực làm người. Bởi vậy nên nay mà có bài Tập Tục-Qui-Chánh nầy là có ý muốn sữa đoạn các tục tệ của nước nhà, cho rỏ việc nào phải thì phải làm, việc nào quấy thì phải bỏ, chớ chẳng phải đặt ra dây mà để khoe danh khoe tánh. Song vì thương thế mẩn thời, nên mới ra công mà sữa tục, nhưng muốn sữa tục thì cũng nhờ những người thức giả xem qua rồi suy xét, đặt sữa lần mổi khi mổi ít, lâu ngày có lẻ phải nên. Nghĩ vì thấy trong địa phận ở làng ít có người hay ưa coi ưa xét, nên có nhiều chuyện mù mù ít thấy ít nghe, vậy muốn ước ao sao trong chốn hương thôn mà sữa phong tục lại cho đặng chỉnh đốn thì con đường tấn bộ mới có vẻ phát đạt mau. Nên nay các trang đọc giả như có xem đến mấy bài nầy rồi suy nghĩ, xin chớ gọi tôi là người bày ra đây mà múa môi khua mép. Có câu rằng : « Tri ngả giả kỳ duy. Tập-tục-qui-chánh hồ, tội ngả giả kỳ duy Tập-tục-qui chánh hồ ! ». Nghĩa là : « Ai biết tôi thì cũng tại bổn sách nầy, còn ai mà bắt tội tôi thì cũng tại bổn sách nầy, vì câu nầy, là đạo theo ý của đức Khổng-tử lời than khi đã làm ra bộ sách Xuân-thu ». Long-Thượng : Trương-đăng-Mảo, dit Mẹo 2. TÓM LUẬN Trời tây tịch mịch cãnh vật tiu hiu, ngồi dựa mái lan can nay nghĩ đến chuyện đời mà chạnh lòng ngán dạ. Vì thấy đời lắm kẻ xu danh trục lợi, người thì lo tu niệm ẫn thân, ít ai hay xét cho cùng mà sữa lần theo lẻ phải. Nghĩ cũng muốn trộm ý thánh hiền mà sữa dời thói tục, song hiềm nhiều nỗi kẻ chê, rất đổi là thánh nhơn xưa sanh đời Châu Mạc, phong tục thiệt thà, dân còn chất phát, mà cũng còn có nhiều mối đạo phân vân, bởi cớ nên ngài thấy vậy mới đem mối đạo ra mà giãng dạy cho đời, nhưng vì thế thời bất ngộ, nay Vệ mai Tề, mốt Trần bửa kia Tống, châu lưu nhiều nước mà chẳng đặng yêu dùng, ngài thấy vậy ý cũng choán đời, song nghĩ vì sanh ra mà không lẽ làm một người vô ích cho đời, nên rốt lại phải trở về mà chuyên nghề dạy học, để đạo đức lại cho đời sau. Qua đến khi thầy Mạnh-tử cũng lấy theo đạo của ngài mà bát bẽ việc đời càng thạnh hơn nữa, mà cũng còn phải lắm nổi. Huống chi tôi nay là người thiểu học, đâu dám gọi đũ trí mà chê bẽ tục đời, vì thấy nhiều người hay tranh luận chữ văn minh mà không phân rỏ nghĩa văn minh là thể nào. Vã việc văn minh là người các nước đặng văn minh, nay con mắt ta mới vừa đặng thấy, chớ không phãi như sự hớt tóc, thay áo đỗi quần, chưn giày chưn vớ, cất nhà theo kiểu mới, đồ từ khi sấm theo buỗi nay, xem cho đẹp mắt, khoe lấy bề ngoài, thấy vậy tưỡng mình là văn minh sao cho nhằm lẽ. Muốn biết nẽo văn minh thì trước phãi chuyên cần việc học, học biết thì phải rộng coi, năng coi thì phải hay suy xét, đặng gióng lấy sự thế nơi cỏi Âu-Châu và cỏi Á-Châu thể nào ? Rồi phãi nghĩ đến dân tộc của nước mình thể nào đặng tập sữa lần lại mà diều dắc lấy nhau theo đường tấn bộ. Nghĩ lại theo bên cỏi Á-Đông duy có nước Tàu là lớn, còn xẻo đất nước Nam ta ỡ về phía Cực-Nam, nên xưa đã trãi mấy ngàn năm đều phãi về tay người Tàu áp chế, mỗi việc đều theo phong tục của Tàu lưu truyền thâm nhiểm, nên vậy dân tộc nước nam ta phãi lu lờ chậm chạp, duy có đạo Khổng-giáo là thạnh hơn hết. Còn như nước Nhựt-Bổn thì cũng ỡ về miềng Á-Đông, vẩy vùng độc lập, trong nước có nhiều mối đạo, như đạo Thần giáo « là đạo kính trọng linh hồn » đạo cội rể của nước Nhựt. Sau đạo Khổng-Giáo là đạo Khổng-Tữ ở nước Tàu truyền sang, dạy việc cang thường luân lý, sau lần có đạo Phật-Giáo và đạo Gia-Tô, mà nay bên nước Nhựt thích có hai đạo, là đạo Thần Giáo và đạo Khổng-Giáo hơn hết. Còn các nẻo học thức đều học theo như bên cỏi Âu Châu. Bỡi vậy nay nước Nhựt Bổn là một nước văn minh cường thạnh bên cỏi Á-Đông, cũng đặng đứng vào bực ngủ cường là Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nhứt nơi Âu-Châu vậy. Còn như phía Cực-Nam ta thì có nước Xiêm-la, trước cũng yếu hèn, nay lại vẩy vùng độc lập, cũng đặng văn minh cường thạnh, còn ngó lại như dân tộc của nước mình thì nhìn nhau là thể nào ? Vã lại nước Nam ta nay đã ngoại vòng trung quốc, lại có nước khác làm thầy, mà dân tộc của chúng ta chẵng phãi là dân u tối, vốn là dân dể hóa mau nghe, mà lại có tánh thông minh, hể học đặng thì có nhượng gì như dân các nước. Song có tánh ít hay lo cho đời, có học làm nên đặng thì hay lo bề phong gia ấm tử, nghĩa là bảo bọc vợ con nhà cữa muốn cho nguy nga, xe ngựa muốn cho rực rỡ, áo quần muốn cho rè rẹt, làm như ai so sánh chẵng kịp mình là bực cao sang hơn hết. Bỡi vậy có nhiều người làm lớn, khi ra đến chốn công đường, trên thì tuy lo việc nước, dưới thì muốn sâu mọt của dân, đặng cho rộng bề gia viên điền sãn, chớ không thấy ai mà hay suy nghĩ việc đời hoặc lo hóa dân sữa tục, mà cứu vớt lần những tục lầm lạc nhỏ mọn của người đồng chưỡng với mình, cứ thấy sao để vậy, nên phong tục coi ra tồi bại. 3. LỄ NHẠC Theo phong tục cỏi Á-Đông thì đạo nào cho qua đạo Khổng-tử, xưa nay nước nào lại không dùng, dẩu cho đến dân bên cỏi Âu-châu cũng đều khen ngợi, vì dạy nói những lẻ thường, không nói những điều huyền vọng dị đoan, nên gọi là đạo chánh hơn hết, cho đến các đều chế tác lể nhạc để sung dùng cho vẽ viên trong việc tang việc tế, cũng là dùng theo lẻ thiệt. Nhưng vì lâu đời kẻ thêm người bớt, mạnh ai nấy sửa, mảng vậy mà phải hóa ra chổ tệ. Nghĩ như trong việc tế lể, có ai mà không biết lạy, ai mà không biết rót rượu, ai lại chẳng biết đốt hương, nên còn phải đi cậy người chỉ bảo. Vì các thánh hiền xưa chế lể tác nhạc là có ý đặt để cho có chừng, làm đâu cho có thứ, đặng cho nghiêm chỉnh trong việc tang hay là việc tế. Song kêu là lể, lể là chủ nơi đều kỉnh có kỉnh mới có nghiêm, mà có lể thì phải có nghi, nếu không có nghi thì sao thành việc lể. Nhưng có lể thì phải có nhạc, nhạc là chử nhạc « Vui ». Nhạc là chủ nơi việc hòa, vì các tiếng âm tuy mổi cây đều khác, mà làm cho in rập hiệp thành với nhau, coi ra oai nghi lẩm lẩm, ai xem thấy mà không tỏ dạ kính vì. 4. LỄ TANG LỄ TẾ Khi xưa nhà nào có người qua đời, thì chủ nhà phải đi lạy xóm giềng và bà con đến mà phụ giúp nhau : vì xưa số dân còn ít, nhà cửa rải rác không đặng gần nhau, đường xá không thông lại thêm rừng bụi, nên lâm việc biến thì phải đi cầu lụy lấy người ; nên vậy phải sấm heo bò mà đải đằng cho nhau. Đến sau ông Văn-Công lại dùng lể mà chế qua việc ấy, vì nhơn sự tùng sự, cho tế lể khi quan tài còn trên mặt đất, đặng tiện việc đải đằng cho nhau, đó là ý ông phải dụng theo quyền. Bởi vậy sách có câu : « Khổng-Tử thực ư hửu tang chi trắc, vị thường bảo giả ». Nghĩa là : « đức Khổng-Tử đến ăn nơi nhà người có tang chẳng hề no, và trong ngày ấy không hề ca hát » vì có lòng thương người thát mà chẳng vui. Tưỡng lại như nay đường xá thông lưu phố phường liên lạc, quán xá sẳn sàng, lại có nhà Dư Xa « Nhà-vàng » và dân đạo tì cũng đả sẳn, mà phải đi lạy từ người và đải đằng khó nhọc dường ấy sao cho phải lẻ. Bởi vậy đương nay khi mới vào nhà tang thì thấy chủ nhà bày trầu rượu ra mà lạy khách từ người, đến khi người khách làm lể điếu, thì chủ nhà phải lạy đáp, điếu xong rồi còn phải đem trầu rượu ra mà lạy đền ơn nữa. Tội gì mà lắm vậy ? ơn gì mà quá vậy ? lại gọi là báo hiếu, có phải như vậy đâu, xét lại cũng như cuộc vần công lấy nhau mà thôi. Lại còn thấy nơi án tiền thì bày những vật tế lể, như thây heo nọ đối với thây kia, nhạc trổi van tai, còn thêm xen đại cổ. Đải đằng trà rượu, cổ dọn lưu liên không giờ không khắc, nghỉ lại cực nhọc cho chủ biết là bao nhiêu. Còn nổi lúc đem quan cửu lên đường. Nếu người ngoại quấc mà xem vào, họ tưởng đâu là cuộc chưng cộ chi đó. Vả lại cuộc tang là quí nơi tịnh, vì chổ phải buồn, có đâu lại làm rần rần rộ rộ vui quá là đám chay đám hát, như vậy thì có phải là đám tang đâu, nên thấy việc tang của nước khác rồi, coi lại tục của mình cách nhau biết là bao nhiêu. 5. LỄ TANG TẾ KIÊM THỜI Khi lâm cơn biến hoặc là cha mẹ có qua đời, thì lòng con thảo thương xót vô cùng. Song thương thì muốn cho thỏa chí nên hay bày biện nhiều đều, tuy vậy thương thì phải cho có độ, đừng làm cho quá sự thương, phải tùy gia vô hửu, không phải so sánh việc xa xí mà che miệng chúng làm hơn, vì tang là quí nơi thương, hể thương thì phải có sắc buồn, nào phải luận gì phô trương lòe lẹt. Vả như nhà có của thì lòng con thảo có chổ chẳng đành, muốn làm cho thỏa chí, cũng nên bày biện có lể có nghi mà thọ phục, là ý muốn cho có oai nghiêm của tiên nhơn nơi chổ linh sàng, nên vậy thánh hiền xưa cũng cho là lẻ phải. Như có lễ thì phải có nhạc, đặng làm có khuôn rập cho lể dưng, khi sau phát phục rồi chẳng nên dùng nhạc mà làm rộn ràng cho khách điếu, nếu như muốn vẻ viên thì dùng lấy cuộc ngủ âm mà thôi. Vì tang là chủ tịnh chẳng nên bày biện lể hi sanh mà tế tự khi quan tài còn trên mặt đất, song phải nên có vài người hộ tang cho biết việc, khi khách đến thì dùng rượu trà trầu nước mà đải đằng thay mặt thế cho chủ nhà, cũng nên chế lần nhửng việc dọn mâm dọn cổ. Song chẳng khá để chi lâu, vì tữ thì lo việc táng, khi định ngày táng thì trước phải mời khách điếu đến bửa đi đưa, khi đưa chẳng nên dùng trống Tiều trống Quảng mà làm cho van đường van xá. Sau khi an táng rồi thì phải nên mời khách trở về mà thiết đải, lúc ấy mặt tình tế lể đền ơn, đặng như vậy mới là phải lẻ. 6. KHÁCH ĐIẾU KIÊM THỜI Khi đến nhà người tang làm lể điếu vừa xong, như chủ nhà họ dùng trà thuốc mà đải mình rồi, thì phải nên lui về cho người khác đến. Vì cơn lâm biến như người giàu thì chẳng luận, còn như kẻ nghèo không ai sấm tiền sẳn mà dự phòng trong việc. Nên rủi gặp cơn như thế, dẩu cho giàu nghèo cũng vậy, mảng lấy sự thương nhớ buồn rầu quên ăn quên ngủ, còn mình là khách điếu, đả đến mà thù tạc giúp đở cho nhau, lại nở lòng nào mà vui cười ăn uống. Tưởng lại việc tang là lẻ thường, vì ai ai cũng không khỏi, nên phải chế lần những sự khó nhọc cho nhau, chẳng nên noi theo tục củ mà bắt tì bắt ố. Qua đến ngày di táng, như chủ nhà có lòng mời, nếu mình có rảnh cũng nên đến đó đi đưa, vì lấy theo nghĩa thương người trong giây phút mà cách biệt trăm năm, lại cũng chia buồn cho kẻ sống, cũng chẳng nên hút thuốc hoặc là uống rượu chuyện vảng nơi dọc đàng. Nên sửa đặng như thế ; thì cũng khá gọi là theo nẻo văn minh. 7. TUẦN TỰ Thiên hạ phần nhiều ưa tin đều huyển hoặc, hay nghe những sự dị đoan, nên gặp khi cha mẹ có qua đời cho đến khi tuần tự, như có người lòng thảo, thì ý muốn ước ao cầu siêu linh hồn cha mẹ cho đặng lên cỏi thiên đàng, còn người thì ý muốn khoe khoan cho thiên hạ khen, nên mới rước thầy chùa mà biện bày phô trương nhiều cách, như là : Thập-vương, Tam-Bảo, có thĩnh thánh đề phan, trai đàng mở rối, có phướng xá sớ khoa, thầy thì đội Từ-lư Hiệp-chưởng, đắp y đắp khậu, coi ra rực rở oai nghi, thấy cuộc vui ấy thì cũng dể coi, nhưng xét lại trong việc ấy thì ra như đám hát bội phật. Lại đến lúc ăn trai tăng, thì chủ nhà cứ lui cui mà lạy mải mấy ông thầy, gọi là kĩnh phật trọng tăng, coi ra phi lý. Nghĩ lại đã có tiền mướn họ đến mà làm việc cho mình, mắc phải dưng cơm còn thêm lạy họ nữa, tội gì quá vậy ? xét vì tục đời lầm lạc, không hay suy xét cho cùng, vì thấy nhiều khi phận họ đã không xong, đâu có đến đổi siêu độ giùm cho người khác. Phải biết rằng : người đời ưa tin sự huyển, nên họ lấy cớ đặng mượn lấy bức phật mà làm ăn, chớ khác nào như đứa kép hát kia vậy, nên những người mà có kiến thức chẳng hề lấy sự ấy mà tin dùng. 8. TUẦN TỰ KIÊM THỜI Cứ theo sách vỡ của Tàu thì xưa nay ai ai cũng gọi hình đất là vuông, nay nhờ có Vạn-Quốc thông lưu, xét lại mới biết hình đất là tròn. Nhưng thấy trong địa cầu hình tròn như trái bưởi, phía nào cũng đều có thiên hạ ở cả, đây sáng thì bên kia tối, trái đấy xoay theo mặt trời cứ luân lưu như vậy hoài, nên vậy mà còn nói theo lời huyển hoặc, thì biết gọi âm phủ ở chổ nào. Thí như các đấng tiên nhơn mà có qua đời, thế thì cái hồn nhẹ phải bay lên cao mà theo gió theo mây, còn cái phách nặng phải hạ xuống mà làm tro làm đất, có lẻ đâu còn chổ gì nữa mà phưỡng phất đi hưởng lấy của trần cho đặng. Nhưng vì lòng thương và sự thảo không nở làm lơ, lại không biết lấy gì mà báo bổ cho phĩ chút tình, nên mới bày ra sự cúng, là có ý ước ao mơ tưởng cũng như lúc còn. Nhưng trong hai năm đầu thì thường có cúng cơm bữa, là cơm sớm và cơm chiều, cách ít ngày lại bày ra một lể cúng lớn, như hai mươi mốt ngày rồi tới năm mươi ngày, sau lại tới tuần bá nhựt, dầu nhặt sau thưa, thĩnh thoảng đến cúng giáp năm, sau cách giáp một năm nữa mới qua mãng phục. Nghĩa là : vì trong hai năm chịu phục và bày lể cúng kiến nhiều là ý tưởng như đáp công sanh thành khi mấy năm bồng ẩm. Song sự cúng nầy phải tùy gia vô hữu, như có tiền thì cũng nên bày ra có lể có nghi, còn như không tiền thì đĩa dưa đĩa muối, có sự tưởng thì hơn, chẳng luận gì phải so sánh mà phô trương cho thiên hạn khen ; sự cũng là tốn hao vô ích. 9. THẦY CHÙA Đạo phật cũng là một đạo lớn, giữ việc từ bi, chủ ý cứu dân nơi khổ hải. Song phật nầy là gốc ở bên Thiên-trước thuộc về nước Ấn-độ là xứ Chà-và bây giờ. Nhơn vì xưa bên Tàu đời nhà Hớn vua Minh-Đế chiêm bao thấy phật, đem lòng mơ tưởng, nên mới cho người qua xứ Thiên-trước rước phật đem về Trung-Quấc.Việc đã nhiều năm lần lần qua đến đời Tấn đời Đường nhẩn xuống thì đạo Phật đã lưu truyền khắp tràn trong nước. Thuở có nhiều tay học thức, mới bày ra kinh kệ, lại vẻ viên thêm các nẻo thiêng liêng, dân tục tin lầm thấm vào xương cốt. Thuở cũng có ít người như ông Địch-nhơn-Kiệt nghe nhiều sự quái gở nên xin phá hết mấy trăm cảnh chùa, còn ông Hồ-Vịnh thì phá tượng phật giết con yêu xà, đốt chùa đánh đuổi tăng chúng, đặng giải phá lấy tục mê lầm của thiên hạ mà cũng còn chẳng đặng1. Thỉnh thoảng đạo ấy lại lần lần truyền nhiểm qua đến nước ta. Bởi vậy cho nên cũng có hiếm tay gặp nhiều việc khuẩn, ý choán sự đời, mới đi tiềm chổ thâm sơn cùng cốc mà ẩn mình, giữ việc tu thân, tương rau hẩm hút, dứt đường chồng vợ, công danh phú quí chẳng màng, vui thú sơn lâm, ca ngâm kinh kệ. Người mà như vậy thì cũng đáng khen, nhưng xét lại thì ra người vô ích cho đời, vì việc vua chẳng quản việc người cũng không hay, lo lấy bổn phận cho một mình mà thôi. Song thiên hạ thường hay có tánh dua mị lạt lòng, thấy người như vậy thì tôn, xúm nhau kẻ ít người nhiều, lập chùa thỉnh phật cho người vào ở, kính trong coi dường như ông Phật vậy. Nên có nhiều người dòm thấy thói đời yêu chuộng như thế, thì hay bắt chước làm theo, bởi vậy đạo phật coi ra càng ngày càng thạnh. Lại có những tay thức giả họ thêm bày biện vẽ viên ra nhiều khoa nhiều luật, cho sung túc trong đạo của mình, nên nay trong nước Nam ta như tính ra thì biết là bao nhiêu cảnh chùa, biết là bao nhiêu sãi vãi, ấy có phải tại lòng thiên hạ mê lầm không. Nếu như tưởng phật, thì phật tại tâm, linh bất linh tại ngã, lại còn đua nhau sùng tu cảnh chùa cho tốt, đặng quến lấy bổn đạo cho đông, ấy chẳng phải là thầy chùa ngồi không mà đặng hưởng phước hay sao. Bởi vậy nên thầy chùa đời nay thật là sang cả, nhưng kẻ thiệt tu thì ít, còn kẻ giả tu thì nhiều, ấy cũng tại lòng thiên hạ không ai diều dắt, ưa nghe điều huyển hoặc, không hay suy nghĩ nên mới đến nổi sa lầm, cho đến cuộc tang hay là tuần tự còn phải đi thỉnh họ về mà bái quị. Bởi vậy nên nước nào mà tin huyển hoặc dị đoan nhiều, thì nước ấy phải yếu hèn hơn hết. 10. TỤC ĐỐT GIẤY Xưa nay đạo nào cho qua đạo Khỗng-giáo, mà biết khen đạo khỗng-giáo thì chẳng hề tin dị đoan, như Đức-Khổng-Tữ sanh đời Châu-Mạc, dạy truyền đạo đức chói rạng muôn đời. Trải đến đời Tần, đời Hớn chưa biết dùng giấy, qua đến đời Tấn đời Đường nhẩn sau mới chế bày ra giấy mà dùng trong việc văn tự. Lại có nhiều kẻ chuyên theo đạo Phật tin đều huyển hoặc, mới bày biện ra những môn giấy tiền vàng bạc mà tiêu dùng theo việc cúng, lần lần nhiễm tục thiên hạ tin dùng, lại bày thêm những giấy bông giấy áo, bày đâu tin đó, lâu ngày quen mắt cứ việc làm theo mà không ai xét. Bỡi vậy theo mấy đám tang đáng tế, thì thầy chùa họ lại bày ra những là phướng xá kho tàng, rương trấp, còn những đám giổ cùng là Tết thì dùng đũ vàng bạc giấy tiền giấy bông giấy áo, màu nọ sắc kia coi như huê dạn. Ấy cũng tại lòng thiên hạ tin dùng, nên những kẻ đồ lợi mới bày ra các chuyện dối ma cho mà dùng. Xét lại cho kỹ thì những đồ ấy đốt ra tro ra buội, đã lỗn tiền mà ăn nhập về đâu. 11. TỤC ĐỐT HƯƠNG Các đấng tiên nhơn khi đã qua đời, con cháu hay có lòng thương tưỡng, nên bày ra dọn chổ linh sàng mà phụng tự « Tục gọi là giường thờ » là ý muốn giữ niềm sớm lửa tối hương cho phỉ tình con thảo, lẻ ấy khá khen, xét lại hương nầy là mùi tẫy uế, là có ý cung kính không cho vật chi uế trược bay vào nơi chổ phụng tự. Nhưng vì hương không phải rẽ, ít ai đủ sức mà dùng, nên phải chế ra hương cây đặng dùng cho tiện việc. Song có nhiều người tánh hay háo lợi, nên mua thì muốn mua cho rẽ, còn người bán lại muốn bán cho lời, mãng vậy hóa ra hương chẳng tốt. Nên việc đốt hương nầy là tỏ lòng cung kính, lẻ ấy đáng khen. 12. NGÀY KỴ, TỤC GỌI LÀ ĐÁM GIỖ Ngày kỵ là ngày lể vía của các đấng tiên nhơn, vì khi cha mẹ hoặc ông bà đã qua đời, thì con cháu còn phải lo bề sanh nhai mà nuôi sự sống, không lẽ ỡ nhà mà lo sự cúng hoài. Nhưng vì ngày lụn tháng qua chẳng bao lâu lại tới chừng ngày kỵ. Lẽ thường, lòng con thảo hay mơ tưỡng, nhớ khi cha mẹ lúc qua đời cũng ngày nọ tháng nầy, nguồi nguồi thương nhớ không nỡ làm ngơ, nghĩ lại cây còn có cội, nước cũng có nguồn, huống chi con người sanh ra ở đời, ai lại không cội rể. Nên vậy ít nhiều gì cũng bày ra sự cúng. Đặt ra kẻ có ít thì làm ít, kẻ có nhiều thì làm ra nhiều, tùy gia vô hửu, trước cúng sau lại mời bà con và trong xóm diềng những kẻ thân bằng cố hửu đáp nghĩa thù tạc với nhau, cho biết ngày ấy là của vị nào mà nhắt nhỡ, vì sách có câu : « sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn », ấy là lòng con thảo chớ chẳng hề nguôi. 13. TIẾT NHỰT, TỤC GỌI LÀ NGÀY TẾT Cỏi Á-Đông xưa bên Tàu từ đời Ngũ-Đế cho đến đời Tam Vương mới chế ra lễ Tết, nghèo giàu cũng đều thích hạp nhơn tình. Vì đời Tam-Vương đương thuỡ nhà Hạ, thì dùng tháng Dần làm tháng giêng là đầu năm mà ăn Tết, đời ấy lại chuộng sắc đen, (nhưng dùng lể hinh sanh mà tế trời đất thì ưa dùng sắc ấy.) Đến đời nhà Thương thì dùng tháng Sữu là tháng chạp bây giờ làm tháng giêng là đầu năm mà ăn Tết, đời ấy lại chuộng sắc trắng. Qua đời nhà Châu thì dùng tháng tí là tháng mười một bây giờ làm tháng giêng là đầu năm mà ăn Tết, đời ấy ưa chuộng sắc đỏ. Vì trong ba đời Vương nầy đều lấy theo trời đất khi mới sơ khai, thì trời khai nơi hội tí, đất mở nơi hội Sữu, người thì sanh nơi hội Dần ? Nên ba đời Vương tuy dùng đầu năm khác nhau mà cũng đều lẻ phải. Qua đến đời Đông-Châu, đức Khổng-Tữ lại muốn theo lể nhà Hạ, gọi tháng Dần làm tháng giêng thì đúng hơn hết. Nhưng vì đời của ngài cũng chưa cải đặng. Sau đến đời nhà Tần cải lại dùng tháng hợi là tháng mười bây giờ làm tháng giêng là đầu năm mà ăn Tết, thì sai lẻ hơn hết. Qua đến đời nhà Hớn mới sữa lại đến dùng theo lời của Đức-Khổng-Tữ mà để tháng Dần làm tháng giêng noi theo cho đến đời nay. Bởi các Đế Vương xưa luận phân trong một năm thì có bốn mùa, duy có mùa xuân là thạnh hơn hết, là vì vạn vật qua đến lúc ấy thảy đều sanh trưỡng, con người thảy đều khỏe mạnh, các việc nông tang cũng đã vừa thanh. Vì trong cả năm ai ai cũng lo làm mà đấp bồi việc nước việc nhà, chớ đâu có đặng dư công mà thong thõa. Nên mới chế ra trong bảy ngày đầu cho chung cả nước đều đặng ăn chơi tự thích. Song để tục bảy ngày đầu đây cũng là dùng theo lời bàn của ông Đông-Phương-Sóc đời nhà Hớn, như là : « trời đất khi mới sanh, thì ngày thứ nhứt sanh gà, ngày thứ hai sanh chó, ngày thứ ba sanh heo, ngày thứ tư sanh dê, ngày thứ năm sanh trâu, ngày thứ sáu sanh ngựa, ngày thứ bảy sanh người, qua đến thứ tám mới sanh ra lúa ». Nhưng vì con người có tánh linh hơn muôn vật, nên mới để cho ăn tết tới ngày thứ bảy, tục gọi là ngày khai hạ, là noi theo tích ấy. Song đặng thong thỏa như vậy mà không lẻ quên đến chổ cội rể của mình, nên có bày ra sự cúng, tưỡng cũng như ngày cúng hội vậy. Vì đầu năm vạn vật nghinh xuân trổ sanh ra mới, con người và nhà cữa cũng muốn sữa soạn cho mới, nhơn tình lẻ thường, sự ấy cũng là lẻ phải, nhưng tục ăn Tết của mình cũng có nhiều điều lệ, thật cũng khá chê. Như theo xưa thói mỵ của nước Kinh nước Sỡ bên Tàu thường đến tiết Đoan-dương là ngày mùng năm tháng năm hay đi hái cỏ bện bù nhình mà treo nơi trước cữa, lại còn có nhiều tục khác nữa. Còn qua đến đầu năm thì hay đi bẽ nhánh đào mà cậm nêu, gọi để mà tránh quỹ trừ tà. Tục mình có tánh ưa bắt chước, thấy vậy làm theo sau lần lần mới dùng cây nêu tre mà thế, lưu truyền cho đến nay hảy còn. Lại trong lúc ấy chẳng luận nghèo giàu nhà nào cũng mua cho đặng vàng bạc giấy tiền giấy bông giấy áo, những là người thế bộ đồ, lớp thì ra mắc đầu năm, lớp thì cúng sao cúng hạn, đặng để thế căn thế số, lớp thì để đốt khi rước khi đưa. Đến bữa mùng ba lớp thì tết cửa tết nhà, tết trâu tết bò, lại còn cắt vàng bạc mà dán nghinh ngang cùng chổ, coi ra lạ mắt. Tưỡng khi có ý ước ao cho vàng bạc đầy cữa đầy nhà. Xét lại việc ấy đã tốn của mà lại tốn công, chớ có ích vào đâu mà không bỏ tục. 14. BÓNG CHÀNG Bóng chàng là những bọn vô sư vô sách, hay nói những chuyện mỵ mộng mà dối người, xưa nay đều có, nhưng cũng tại thiên hạ hay tin dùng, nhứt là đờn bà nước Nam ta hay ưa hơn hết. Thấy nhiều nhà có thờ các vị thần nữ, cùng những nhà có người bịnh hoạn họ hay dùng. Nhưng vì không hay suy xét, đả có lòng thờ kính thánh thần, mà thánh thần nào lại còn quở phạt, biểu phải dùng cho có chị bóng mà dưng bông. Nếu nói như vậy thì ai mà dám thờ, còn như kẻ bịnh hoạn là tại nơi bịnh căn, chớ có ai hành phạt chi mà phải đi cậy chú chàng xin rổi. Nếu nói như vậy thì ra như mình không có miệng sao. Tục thường rằng : « đau chơn hả miệng », lời nói ấy sai lầm, bỡi hay tin mị mộng nên mới rước họ đến mà bày chuyện dối ma cho mình, chớ có ích vào đâu. Xét lại mà coi, như người nào tiếng thanh hơi tốt, thì nghe chơi cái giọng của họ cũng giải buồn ; còn nghe mà nghĩ đến cái câu ca của họ, thì thật là không nghĩa lý. Nhiều lần ca hát cho đến khi mê, lại gọi là ông lên bà xuống. Ngáp vắn ngáp dài dường như còn đương mê ngủ mà ai kêu thức dậy. Lại thêm ợ ngược ợ xuôi, cũng như bị ăn đồ hàn lảnh mà không tiêu vận được. Thật là quái mị khó coi lắm, mà còn tin nổi gì ? Nếu dân trong nước Nam ta mà còn tin như vậy, thì biết thuở nào mà bước tới nẻo văn minh. 15. ĐÌNH THẦN Xưa nay trong nước Nam ta dân tục đâu đâu cũng hay lập miểu phụng thờ các vị linh thần thổ vỏ, bốn mùa hương khói. Lại thường năm qua đến tiết xuân, mổi làng đều có định ra một lể kỉnh thần. Theo ý tưởng trước là tế tự đặng bồi đáp ơn thánh thần bảo hộ trong thôn dân, sau lại hiệp vầy nhau mà sữa đoan tục lệ trong làng, và đải đằng vui vầy với nhau trong một lúc. Tục ấy cũng cho là phải. Nhưng mà phải biết cội rể của vị thần nào, hoặc là vị thiên thần, hay là tôi trung thần đời trước phò vua vực nước, công lao rất lớn ; đến khi sau qua đời, hoặc là lòng dân trọng tưởng, hay là có bực đế vương nghĩ niềm tôi chúa, nên tặng sắc phong cho một cỏi để làng quí tế mà hưởng phần huyết thực thiên niên, ấy cũng là sự nêu gương tốt cho kẻ làm tôi, nghĩ vậy mà phải nên thờ. Nay đâu đâu cũng có lập miểu thờ thần, là ý tưỡng cũng muốn tỏ ra lòng cung kính, nhưng mà có chổ không phải. Như chổ nào có sắc tặng phong thần, thì có phụ thêm các vị thành hoàng mà truy tặng, thì sự tế tự đả đành ? Còn như có làng mà không có sắc, lại cũng bày ra nêu một chử thần mà tế tự, thì vị thần nào có biết đâu mà hưởng lể. Tưởng lại cũng như mình bày ra cuộc ăn chơi mà phải cho có lể có nhạc đó thôi, đả vậy lại còn thêm sự tranh trường tranh đoản với nhau cho có sự mích lòng. Nếu trong làng mà có người kiến thức suy nghĩ cao xa, muốn trong làng cho có bực kính thờ, cũng nên chọn nhửng vị trung thần nào công lao có danh trong nước, cung thỉnh mà vọng thờ, đặng làm gương tốt cho kẽ hậu lai. Như vậy thì có khác nào người Pháp mà dựng hình người tôi có công trận ấy đâu. 16. LÀM LÀNG Khi xưa bờ cỏi còn hoang, nhơn dân còn ít, lần lần mới có sự qui dân lập ấp mỡ mang ruộng đất thĩnh thoảng mới có lập làng, có đặng nhiều làng mới thành ra một nước. Nên có câu : « nhứt triều đình nhì hương đãng », vì việc trong hương đảng chẳng khác chi như đám tiểu triều đình. Bởi vậy khi xưa lập ra làng thì có cữ nhiều chức việc, là lựa những người tuổi tác có tánh thuần lương mần thiệp, đặng để giúp tay chơn cho quan trên, thay mặt cho dân ỡ dưới, phải lo những việc thâu nạp binh sưu thuế khóa, đặng quyền bĩnh cán và coi sóc phòng bị các việc nhỏ mọn trong làng, cho đến các việc kỳ thần bái xả cũng tự quyền sấp đặt. Song những bực làm làng xưa chẳng phải được bực như ông Đồ ông Nhiêu hay mấy ông trí sỉ hồi hương, toàn là những người điền xá xuất thân, nên phong tục xưa trong làng có nhiều nơi còn lu lờ hủ tệ. Nay làm làng thì cũng có ý khác hơn xưa một thí, là dùng những người tuổi trẻ, chẳng phải đặng bực như người có bằng cấp tiểu học hay là sơ học chi, miểng là có gia viên điền sãn biết chữ ký tên thì cũng đặng ra làm, nên thấy nhiều người có tiền có của hay đua chen mà tranh giành nhau hăm hở lắm, nghĩ lại ỡ làng không nghe quan trên bán chức, mà sao có nhiều kẻ vát bạc đi mua, là bởi cũng có nhiều người có tiền có của muốn vói bực trên thì chẳng tới, nên quơ đở lấy chức làng, đặng mà mua lấy chổ ăn chổ ngồi cho mỷ mục, đến khi làm đặng ông làng rồi thì tưởng mình cũng như bực đàn anh đàn chị, lại hay lấn lước phe nầy, đè ép phe kia, không muốn cho ai ra làm mà sánh vai sánh bực với mình, bởi vậy có nhiều người trí hóa thấp thởi, giận quá trí ngu, mới vát tiền trăm bạc chục mà đi mua lậu. Nghĩ phận ở làng chẳng trước thì sau, tránh sao cho khỏi lấy chức làng, cực chẳng đã ép cữ thì làm đặng mà đáp bồi nợ nước, chớ có danh giá chi mà phải đua giành. Vã phận làm làng đả không có lương bổng, mổi việc cứ cơm nhà áo vợ, mà nay thì đến tĩnh, mai thì đến Tòa, mốt đến Quận, bữa nọ lại đến Tổng, chẳng khác chi như kẻ nhiều cha, đã vậy mà nay lại rước ông tân quan nầy, mai đi đám ông tân quan nọ, lại còn lúc đem bạc đăng kho, thì phải ít nhiều chi với thầy đăng kho mới dể, đến kỳ tu bộ, phải da thiểu với thầy coi bộ mới xong, nghĩ lại công việc làm làng đã không giờ không khắc, mà lại thêm tốn kém nhiều bề, bỡi vậy thấy có nhiều người ra làm làng đến đổi điền viên tán tận mà cũng không ghê. Nghĩ như nay cũng có nhiều người trí thức, biết xét cao xa, chẳng nên tranh giành chi cho tốn kém, muốn vậy thà để ra một số tiền ấy, cứ lệ mổi năm ai có ra làm làng, thì phải chịu tổn số tiền bỏ vào công sỡ chừng 100$00 cho gọi tiền ấy là tiền Hương-cống, mổi làng sao cũng đặng mươi người hương chức, thì tiền ấy có lẻ cũng đặng số ngàn, phải lựa những người có hằng sãn lớn mà giao giử của ấy, đặng để giúp cho tên học sanh nào nghèo ở trong làng mà có tư chất thông minh, cho qua Pháp-quấc mà học, làng nào thì giúp cho dân làng nấy. Nếu đặng như vậy thì trong nước có mấy trăm làng thì sẻ có mấy trăm tên học sanh, thì chắc ít năm trong nước nam ta thiếu chi là kẻ nhơn tài, nếu có nhơn tài nhiều thì nước mới có thạnh vượng. Ấy là cái lòng nguyện vọng của tôi ước ao sao cho đặng như thế, thì quí biết là dường nào. 17. LỄ HÔN NHƠN Theo phép xưa bên Tàu con trai hai mươi tuổi thì đúng chừng gia quan (là lể đội mủ) còn con gái thì mười sau tuổi đúng chừng cặp kê (là lể cày tóc dắt trâm) vì con trai con gái đến lúc ấy đả vừa bực thành nhơn, mới đúng chừng cưới gả. Song việc cưới gả theo xưa, thì chế bày sáu lể, mới đủ phép rước dâu, đến khi nàng dâu mới về thì có làm lể giao bôi hiệp cẩn (tục gọi là nhập phòng) rồi qua sau ba tháng mới đặng làm lể miếu-hiện (là lể lạy ông bà) ý là để coi đứa con gái ấy có quả lòng trinh hay là chẳng phải sau lần lần chế bớt lể ấy còn lại ba ngày. Theo tục con gái bên Tàu khi gả rồi thì phải cách xa cha mẹ, nên khi gả về thì có sấm những đồ phụ tùng vật kiện xe giá bộn bàn. Bởi vậy nước Nam ta noi theo phong tục Tàu cũng bắt chước lể ấy, mà bây giờ chế lần còn chừng ba bốn lể mà thôi. Nên khi rước dâu về thì trước lại làm lể Từ-đường, rồi làm luôn lễ Hiệp-cẩn, vì muốn chế theo cho tiện trong nhựt thời, còn các việc khiên gánh thì bày ra khác tục. Song tục con gái bên nước ta không phải như tục bên Tàu, tuy đã gả rồi mà sự đi đi về về cũng đều thong thỏa. Nhưng lại đương nay trong lễ hôn nhơn có nhiều người còn noi theo tục củ, nên khi cưới gả thì bày che lọng, khiên trầu, khiên rượu, khiên heo, khiên sề, coi ra bề bộn, tục ấy cũng nên chế bớt, vì sự khó nhọc kình càng. Bỡi trong lễ hôn nhơn ai cũng là khăn dài áo lớn phong thể đoàn hoàn, mà bắt ra thân khiên gánh như thế, thì e mổi khi mượn chác khó lòng. Bởi vậy ước ao nay có nhiều tay thức giả, cũng nên sữa lần tục ấy, như muốn sữa cho tiện theo kiêm thời, thì nên sữa chàng rể nàng dâu cách ăn mặc, hoặc là xe giá cách nào phân biệt cho thiên hạ biết. Còn khi rước dâu về hiệp vầy hai họ, thì cũng nên dùng lễ Từ-đường và ông-cô cho đủ pháp, rồi làm luôn lễ giao-bôi trước mặt hai họ, đặng tỏ ý rở ràng cuộc nên chồng nên vợ, nào luận phải noi xưa mà bày lễ nhập-phòng mắc phải coi giờ định hướng cho ra chổ khó lòng. Song luận trong việc hôn nhơn nầy giải bày sơ lược, xin các đấng văn nhơn xem vào mựa đừng nê chấp. 18. TU NHƠN ĐẠO Từ thuở thái cực chưa khai, đất trời chung một, đến lúc khí nhẹ bay lên cao làm trời, khí nặng đọng xuống thấp mà làm đất, khoản giửa hóa trống, khi ấy mới có sanh ra con người cùng các loài muôn vật. Song con người đương thuở ấy ở nội nằm hang ăn tươi uống huyết, cùng loài cầm thú ở chung ở lộn, ăn lẩn với nhau, ai mạnh thì hơn. Trời thấy vậy mới phú tánh linh cho người tiên triết là Họ Hửu-Sào đặng làm chủ tể, mới bày dùng cây gát ổ, có cửa có nhà, thần truyền thánh kế, sau tới họ Toại-nhơn, kiếm thế dùng cây lấy lửa, bày cho dân ăn chín, từ ấy về sau mới có sự phân biệt và khỏi bị hại về loài cầm thú dử. Lúc ấy thiên hạ càng ngày càng đông, mà đâu có phân biệt gì là sự đạo đức. Nếu khi ấy mà không có người hiền triết cầm quyền dạy dổ, không phân biệt cang thường luân lý, thì con người có khác chi là loài cầm thú. Bởi vậy mới có các vị thánh đế minh vương để đứng đầu mà cai trị, đương thuở ấy chưa hề có chử nghĩa sách vở chi cả, mổi việc đều phải thắt gút cho nhớ mà thôi. Sau lần lần mới chế ra văn tự, dạy dân học hành, sấp bày lể nhạc, mới có sự đạo đức cho đến ngày nay. Nên kể từ Đường-Ngu nhẩn lên thì về đời thượng cổ, công việc phân vân nghe truyền không chắc, chớ như kể từ Đường-Ngu nhẩn xuống, thì có các bực thánh đế minh-vương như Hạ Vỏ, Thương Thang, Châu Văn Vỏ, và Châu-Công, Khổng-Tử. Mấy bực ấy mới chế bày ra lể nhạc, sấp đặt đạo đức hóa khấp nhơn dân, bởi vậy thiên hạ mới có ca tụng thái bình, đến đổi nhà ngủ không lo đóng cửa, kẻ đi đường chẳng lượm của rơi, đời trung cổ như vậy thật quí biết là dường nào, lại đương thuở ấy đâu có đạo gì là khác nữa. Lần lần qua đến Châu Mạc, thiên hạ càng ngày càng khôn, phong tục càng ngày càng đổi, mới sanh ra nhiều mối đạo, như đạo họ Phật, họ Lảo, Dương-Châu và Mạc-Địch mới có duy truyền. Bỡi vậy trong nước mà có nhiều mối đạo chừng nào thì nước càng thêm hèn, dân càng thêm yếu chừng nấy, vì kẻ thì tin theo đạo nầy, người thì tin theo đạo khác, làm cho rối rấm lòng dân, không biết chắc đạo nào là quyết đoán. Nên phải xét cho kỷ, nghĩ tới cho xa, thì đạo nào cho qua cái đạo làm người. Kể từ thời Ngủ-Đế cho đến thời Tam Vương đều dạy dân tu trong tám chữ là : Hiếu, Để, Trung, Tín, Lể, Nghĩa, Liêm, Sĩ mà thôi. Vì trong tám chử này cũng như cái dao có cán cái lưỡi có giềng, dể cầm dể nắm, nếu người mà làm đặng thì chắc phải siêu phàm nhập thánh chớ có gì mà hơn nửa. Tám chữ đạo người xin giãi sơ lược ra sao nầy. 1. HIẾU. – Cha mẹ là trời, thờ cha mẹ hết lòng cung kính, sống giử cho trọn đạo, thát thờ cho trọn, đạo ông bà xa khuất chớ phụ chớ quên, nối nghiệp cho thành đừng cho hư nhục. 2. ĐỂ. – Thuận với anh em, thuận với kẻ lớn, đi đường nhường bước, đi cày nhường bờ. 3. TRUNG. – Làm tôi hết ngay cùng nước, làm tớ hết lòng với chủ, thấy phú quí chẳng xiêu lòng, gặp nguy biến không đổi chí. 4. TÍN. – Một tiếng ừ khó đỗi ngàn vàng, nói đâu chắt đó, không đổi tất lòng, nếu làm người mà không ai tin, thì có khác gì cái xe không bánh, cái cửa không chốt. 5. LỂ. – Lể là chủ nói sự kĩnh, kĩnh trời đất, kĩnh thánh thần, kĩnh bực tiền nhơn, kĩnh người tuổi tác, kĩnh nhường lời nói, lể ấy lại có chế ra nghi, đặng để kính tặng trời đất thánh thần cùng bực tổ tiên cho tỏ ra lòng cây có cội, nước có nguồn. 6. NGHĨA. – Nghĩa là chủ nói sự phải, gặp việc phải thì phải làm, thấy vạc nghiêng thì phải đở, gặp kẻ yếu thì phải binh, gặp kẻ nghèo thì phải giúp, sang đừng đổi vợ, giàu đừng đổi bạn. 7. LIÊM. – Làm quan lấy lẻ công làm phải, làm dân giữ nết sạch làm hơn, thà nghèo mà trong hơn giàu mà đục, không ăn hối lộ, của chẳng phải chẳng dùng, lời gièm chớ nghe, dua bợ chẳng chịu. 8. SỈ. – Đừng gian tham trộm cướp, đừng làm hỗ tông môn, đừng mải quấc cầu vinh, đừng làm nhục quấc thể. Nghĩ lại trong đời trên có bực vua dưới có bực quan, đủ quyền cai trị, trước dùng đạo đức mà sữa lấy mình, sau lại dạy dân tu theo đức ấy, thì dân sự có lẻ thái bình có khác nào như đời Trung cổ ấy đâu. Xét lại từ khi có họ Phật họ Lảo cho đến nay, hể người tu phật thì muốn cho mình hóa theo phật, người tu tiên thì muốn luyện mình hóa theo tiên, sớm lữa tối hương riêng lo cho bổn phận, chớ đâu có quản chi đến việc nước việc đời, nếu lòng người mà đồng như vậy cả, thì còn chi là nước là dân. Nhưng xét ra cho rỏ lý, thữ coi cả một đời cuả mình có thấy ai mà siêu phàm nhập thánh hay không ? hoặc hỏi thữ từ bực tam đại của mình sấp xuống coi có ai nghe ai thấy hay không. Chẳng những từ bực tam đại mà thôi, trưng ra từ đời tiền Hớn cho đến triều Cách-mạng bây giờ chắt cũng chưa ai nghe ai thấy. Nhớ lại bên Tàu khi đời tiền Hớn có ông Trương-Tữ Phòng thấy lòng vua Cao-Tổ hưu thủy vô chung, giả bịnh lánh mình, mới theo Xích-Tòng-Tử mà tùng tiên, luyện thuốc trường sanh mà tuyệt cốc, chẳng hay công quả của ông có thành cùng chăng mà không nghe truyền tông tích. Lại đến khi vua Hớn Vỏ-Đế cũng mộ đạo tiên, muốn dụng tiên đơn cho mình trường cữu, mới cất Bá-lương-Đài dựng hình tiên đưa tay bưng mâm vàng mà hứng nước Cam-lộ, đương thuở ấy thiếu chi là kẻ phương sỉ giỏi, bày đàng chĩ nẻo cho vua đi đến cỏi Bồng-lai, đến rốt lại nào có thấy vua Vỏ-Đế mà đặng trường sanh bao giờ. Còn như ông Quan Công ở đời Hớn mạc, phò Lưu-Bị hết lòng trung, xữ với Tào Ngụy hết bực nghĩa, tung hoành trong Vỏ-Trụ, kéo về nghiệp Hớn cho nhà Lưu, đến khi sau lâm chung, lại đặng hiển thánh nơi Ngọc-tuyền-sơn danh truyền thiên cổ, ấy có phải là xữ tròn trung nghĩa mà đặng xiêu phàm nhập thánh hay không. Còn như sự ngoa truyền về đời nhà Lê, là triều của Việt nam ta, thuỡ có một ông quan cựu thần tên là Từ-Thức, ngày nọ có nghe đồn nhà vua có mở hội Bá-hoa, thiên hạ đua nhau đi coi nượp nượp, ông ấy thấy vậy cũng đi coi chơi cho biết, khi ông mới đến, tình cờ lại thấy một nàng-thiếu nữ đương xuân, cớ chi lại bị trói vào nơi dưới cội, ông bèn lại gần hỏi thữ, nàng ấy đáp rằng : “Tôi là Giáng-Chơn-Hương, nhơn đi coi hội, rủi vì rờ gảy hết một nhành hoa, năng nỉ hết lời mà cũng không đặng, nên phải bị trói, ông Từ-Thức tánh hay háo nghĩa, nghe nói chạnh lòng, nghĩ chẳng trọng gì một nhành hoa mà đến nổi hành thân phụ-nử. Nghĩ rồi ông bèn hết sức xin giùm, mà bọn quân canh ấy cũng không dám thả. Túng thế ông phải cổi áo triều ban xin thế, như vua có bắt tội thì ông phải cam tâm. Lúc ấy nàng Chơn-Hương mới đặng ra khỏi, đến khi bải hội rồi thì mạnh ai về nấy. Ngày kia ông Từ-Thức khiến lòng bứt rứt, buồn bực không biết lấy gì mà giải cho khuây, người mới dọn ra một chiếc tiểu thuyền, một mình chèo đi ngao du trên mặt nước. Ngày qua tháng lụn đến đổi quên nẻo lạc đường đi vào nhằm hang Động. Tình cờ lại gặp một nàng thiếu nử tiên nga coi lại thì người của mình làm sự phải khi trước. Nàng ấy mới rước về kết nghĩa vợ chồng mà đền ơn lúc nọ. Khi ông mới đến, thì thấy càng khôn một cỏi, phong cảnh khác thường, những là kỳ hoa dị thảo, lầu cát nguy nga, coi ra khác tục, vui mắt đẹp lòng, quên bề trần thế. Ở chẳng bao lâu, ngày kia nàng Giáng-Chơn-Hương nhằm bữa đi chầu thượng đế, dặn ông ở nhà một mình không nên mở cửa hậu, khi nàng đi rồi, ông ấy lấy làm lạ, mới lén mở thử ra xem, thì thấy về dương thế, bắt trong lòng khoăn khoái trần trọc tráo trở nhớ đến việc nhà, tính bề ở lại không đặng, cực chẳng đả nên nàng ấy phải đưa về. Khi ông về đến nhà thì không ai biết ông hết, hỏi ra thì đả đến lớp cháu đôi ba đời, vì lời tục hay gọi một ngày tiên bằng ba năm của thế. Xét lại việc nầy cũng là lời huyển hoặc, vì trời đất cũng là trời đất chung, không lẻ nào lại có ngôi trời khác nữa cho đến đổi mà ngày dài như vậy. Song phải nghĩ lại, như việc ông Từ-Thức nầy mà có quả, thì ông cũng vì xử đặng một chử nghĩa, lại ngẩu nhiên mà đặng vợ tiên, và đặng trường sanh như thế, vậy thì cái đạo làm người quí biết là bao nhiêu. * Nguyên bài Tập-Tục Qui-Chánh giải nói trên đây, là có ý muốn cho các trang độc giả xem vào mà đàm luận đặng sữa lần phong tục của mình. Bỡi có câu : « một cây làm chẳng nên rừng », chẳng phải một mình tôi mà sữa đặng, như vị nào có xem vào gọi cách luận ấy cho là phải, thì phải nên làm, đặng cho kẻ hậu lai bắt chước, còn như vị nào gọi chổ nào là không phải, xin hồi tin mà châm chước lại giùm, nếu gọi phải mà không làm, thì cũng như không phải. Vì sách có câu : « nhơn phi Nghiêu, Thuấn, yên năng mổi sự tận thiện ». Nghĩa là : « con người đâu phải là ông Nghiêu, ông Thuấn, nên mổi việc đều phải hết ». Còn như vị nào có kiến thức cao xa, biết những đều nào còn tệ trong tục nước nhà, xin phụ giải nối thêm đây cho thành nguyên bổn, để làm gương mà phụ ích cho nhau, ấy mới gọi là thương dân thương nước. SÁCH CỦA NGUYỄN-HẢO-VỈNH Sách in mới vừa rồi CÁCH VẬT TRÍ TRI Phổ thông sơ giai QUYỂN THỨ NHẤT 18 bài và 123 cái hình, cả thảy trên 260 trương, đóng bìa carton cứng, lưng vải, đẹp chẳng thua gì sách bên Âu-Mỹ, giá mỗi cuốn 1$50, par la poste 1$70, contre remboursement 1$90 Kỳ thi « làm sách » của Nam kỳ Khuyến Học Hội Saigon năm 1922, quyển sách nầy dựt được dải nhứt, được thưởng một trăm năm chục nguơn bạc. Hình in trong sách nầy toàn mướn khắc bên Đại Pháp. Chúng tôi chẳng nài sự tốn kém, quyết một sự giúp ích cho đồng bào mà thôi. Kiểu in rất đẹp, hình thật khéo, giấy tốt, đóng bìa thật tốt và chắc, mà chúng tôi chỉ bán có 1$50. Chúng tôi chẳng cố ý chác lợi, miểng thâu vào đủ các sở phí đã xuất ra in quyển sách nầy, đặng xuất bản những sách hữu-ích khác, thì chúng tôi đủ toại chí. Xin các đấng lo về đường tiên hoá của dân tộc ta vào giúp với, thì chúng tôi rất cảm ơn. Có trử bán tại nhà-in Xưa-Nay 62-64 Bd Bonnard Saigon. Xin chủ ý : Sách nầy của Nguyễn-hảo-Vỉnh làm ra chớ không phải dịch sách ngoại quốc. Nhà-in xưa-Nay có trử bán nhiều thứ sách nói về việc hiện thời, chư vị thích xem sách viết thơ hỏi mục lục (catalogue) thì chúng tôi sẽ vui lòng gởi hầu chư vị liền. Nguyễn-hảo-Vỉnh Chủ nhơn Nhà-in Xưa-Nay đồng kính. Notes [←1] Ông Hồ-Vịnh lúc đi Kinh-lược tại tỉnh Quảng-đông, nghe thiên hạ đồn có một cái chùa rất linh, nếu ai đem cúng vật chi, đều có phật chứng hưởng. Ông ấy nghe đều quái mị như thế, mới đi đến đó xem thử cho biết. Khi đến thì thấy mùi hương xông nực, khói tỏa mịt mù ngó lên trên bàn án thì không thấy chi cho tỏ rỏ. Ông mới lại gần coi kỷ, thì thấy hình như có một cái đầu giống chi ló ra mà ăn những vật cúng ấy, ông mới truyền phá cốt phật ra thì thấy có một con rắn lớn ở trong. """