"
Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện Tập 8 - Vương Hiểu Lỗi full prc pdf epub azw3 [Danh Nhân]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện Tập 8 - Vương Hiểu Lỗi full prc pdf epub azw3 [Danh Nhân]
Ebooks
Nhóm Zalo
CHƯƠNG 1: HÔN TÍNH VŨ UY, HÀN TOẠI LÀM LOẠN HẬU PHƯƠNG.
Quân phiệt Quan Trung.
Một đêm muộn mùa xuân năm Kiến An thứ mười lăm (năm 210 sau Công nguyên) , ánh trăng tỏa ánh sáng mờ ảo xuống cả một vùng đất Quảng Mậu, Lương Châu, như trải một tấm lụa mỏng phía trên hoang nguyên bao la, thảy đều hiện lên vẻ bình lặng. Nhưng ngay trên đại đạo dẫn đến huyện Cô Tàng, quận Vũ Uy, một đội binh mã đang hành quân từ đông sang tây, ai nấy đều cầm bó đuốc bập bùng, tiếng quất ngựa và giục giã phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng nơi này.
Trong thời tao loạn, cảnh binh mã qua lại không phải hiếm, nhưng đội quân này có vẻ khác lạ — Tổng cộng mới khoảng hơn một ngàn người với hơn trăm chiến mã, quân khí trang bị không đầy đủ. Một số tướng lĩnh không có khôi giáp, chỉ quấn tạm chiến bào trong tiết trời giá lạnh đầu xuân, cũng không có đai gài kiếm, mà phải dùng cỏ dại bện lại thành thừng, rồi quấn quanh lưng để treo kiếm. Những tên lính còn thảm hại hơn, không ít người ngay cả giày cũng chẳng có, đi độc chân trần trên con đường bụi bặm; số khác thì mặc lộn tấm da dê, những sợi lông dài rủ xuống phơ phất, chỉ cần nhìn là biết không phải người Hán. Hành quân vội vã xuyên đêm, sĩ binh sớm đã mệt không thở ra hơi, đám binh mã ít ỏi này kéo nhau đi trải dài gần nửa dặm, căn bản không có trận thế, sức chiến đấu vô cùng rệu rã. Có một tướng lĩnh tuổi độ trung niên, khôi giáp chỉnh tể có vẻ là thống soái, cưỡi trên ngựa không ngừng quát giục: “Nhanh lên, nhanh lên! Chúng ta phụng mệnh triều đình đi dẹp loạn, mau phấn chấn lên cho ta!” Đám tạp binh thất thểu đó lại tự xưng đi dẹp loạn cho triều đình, há không phải chuyện cười?
Trước khi giặc Khăn Vàng khởi nghĩa, thiên hạ nhà Hán vững chắc, duy chỉ có Lương Châu chiến loạn liên miên, từ khi người Khương bắt đầu khởi bĩnh tạo phản vào năm Vĩnh Sơ nguyên niên, thời Hán An đế (năm 107 sau Công nguyên) , Hán Khương vẫn chưa bao giờ dứt cơn binh lửa, đến nay đã kéo dài cả trăm năm. Bọn Đặng Chất, Bàng Tham, Ngu Hủ, Hoàng Phủ Quy, Trương Hoán, Đoàn Ổi, Hoàng Phủ Cao, Đổng Trác sau này không ai chưa từng phải vất vả đánh trận ở Lương Châu, máu xương của mấy thế hệ đều bị chôn vùi ở đó. Nhưng dường như người Khương đã kết mối tử thù với người Hán, bị thảo phạt rồi lại phản, phản rồi lại bị thảo phạt, cứ mãi như vậy
không có hồi kết, cho đến khi Linh Đế băng hà, thiên hạ đại loạn vẫn chưa kết thúc.
Cuộc nổi loạn do hai thủ lĩnh của người Khương Hồ là Lý Văn Hầu và Bắc Cung Bách Ngọc cầm đầu cuối thời Linh Đế có thể tính là lần cuối cùng, thanh thế lớn mạnh lan khắp cả Lương Châu, nhưng kết quả lại có chút nằm ngoài dự liệu, người Khương chưa kịp làm loạn đã bị quan quân người Hán đoạt mất đại quyền trong quân. Bọn họ kinh qua công chiến với bên ngoài và tranh đấu với nội bộ bên trong, sau cùng chỉ còn lại hai thế lực quân phiệt lớn mạnh nhất là Hàn Toại và Mã Đằng cát cứ xưng hùng ở Lương Châu, về sau khuếch trương thế lực đến một dải Quan Trung, Thứ sử triều đình chỉ là bù nhìn. Ngoại trừ hai nhà Hàn, Mã, còn có Tống Kiến, Trình Ngân, Hầu Tuyển, Lương Hưng mười mấy thế lực nhỏ, hoặc ở Lương Châu hoặc ở Quan Trung, binh mã mỗi phương không đều, nhiều thì một vạn ít thì vài nghìn, thề thốt vào sinh ra tử cùng huynh đệ. Xuất thân của đám quân phiệt này gồm ba loại: phản tướng, cường đạo, thổ hào.
Đầu mục của đội quân trước mặt này tên gọi Dương Thu, cũng xuất thân phản tướng, tuổi trạc tứ tuần, từng trải chiến loạn đã lâu. Do Tào Tháo gấp rút nam hạ nên muốn vỗ về chư tướng Lương Châu, vì vậy ông ta cũng được phong tước Kỵ đô úy, Quan nội hầu ở triều đình. Nhưng trong tay ông ta chỉ có hai ngàn binh, địa bàn chỉ có mấy huyện nhỏ trực thuộc quận An Định, không những không thể so sánh với hai nhà Hàn, Mã mà thậm chí cũng tương đối yếu khi đặt lên bàn cân cùng với các thế lực nhỏ khác.
Tháng Bảy năm ngoái, Thái thú Vũ Uy Trương Mãnh nhân lúc Tào Tháo nam chinh thất bại đã dấy binh báo tư thù, giết hại Thứ sử Lương Châu Hàm Đan Thương. Hàn Toại cũng lập tức công bố hịch văn, triệu tập binh mã các bộ hợp công Trương Mãnh, luôn miệng nói phải trừ hại cho triều đình. Nhưng lần khởi binh này vừa không biểu tấu cho triều đình, cũng chẳng thông báo cho Tào Tháo, hoàn toàn do Hàn Toại tự ý dụng binh. Các bộ Lương Châu nhao nhao hưởng ứng, duy có Dương Thu nghe theo ý kiến của thuộc hạ, không dám liều lĩnh hành động, bí mật phái người đến thỉnh thị Tào Tháo, sau khi được ngầm cho phép mới phát binh, cố tình bỏ lỡ mất mấy tháng. Trong khoảng thời gian đó, Hàn Toại thống lĩnh các bộ đánh nhanh thắng nhanh, cuộc chiến lần này sắp đến hồi kết thúc. Theo minh ước giữa các bộ quân Lương Châu, phàm là những đội quân hiệp đồng tác chiến
đều được phân chia những tài sản quan trọng của kẻ địch, thậm chí còn được quyền tùy tiện cướp bóc trong thành của địch, Dương Thu đã đến muộn một bước, nếu không mau trợ chiến thì chẳng còn vớt vát được chút gì nữa.
Liên tục hành quân quên ngày quên đêm như vậy được chừng bảy tám ngày, sĩ tốt đều mệt mỏi rã rời, cuối cùng cũng đến được dưới chân thành Cô Tàng. Binh mã các bộ ai nấy khôi giáp đen kịt, tầng tầng lớp lớp đã vây chặt thành từ lâu, đến một con ruồi cũng chẳng thoát được. Quân của Dương Thu vốn đã ít, lần này hành quân ngàn dặm đã mệt, nhất thời không theo kịp tới nơi, bên cạnh ông ta lúc này chỉ có mười mấy thân binh.
Không biết tên tiểu tướng nào phụ trách đốc hậu, vừa thấy Dương Thu liền cao giọng hỏi: — Binh mã nơi nào, dám đến đây làm loạn?
— Ta là Kỵ đô úy An Định quận Dương Thu, phái binh đến yểm trợ. Hãy mau dẫn đường, ta muốn gặp Hàn tướng quân.
Do binh mã trong tay không nhiều, làm tướng soái cũng phải nhẫn nhịn, tên tiểu tướng kia căn bản không coi ông ta ra gì, cười nhạt nói: “Dương Thu tướng quân của tôi ơi, ngài đến thật rồi đấy ư? Muộn thêm chút nữa chúng tôi đã công hạ thành.” Làm gì có thời gian dẫn đường, quân lính chỉ rẽ thành một lối nhỏ, bảo ông ta tự đi.
Người bước dưới hiên thấp, không thể không cúi đầu. Dương Thu cũng không tính toán, quất ngựa dẫn đám thân binh đi vào, lòng vòng một hồi lâu, cuối cùng cũng đến được thành hào. Chỉ nhìn thấy mười tên lính tay cầm bó đuốc, ở giữa có bảy tám tướng lĩnh đang ngồi trên lưng ngựa. Một người trông số đó mình khoác giáp sắt, đầu đội kim khôi, chiến mã đen bóng, mặt rộng râu dài, đôi mắt phản chiếu ánh lửa đỏ rực, mặc dù tuổi đã gần lục tuần nhưng không hổ là bảo đao bất lão, khuôn mặt vẫn toát lên vẻ anh võ, cứng cỏi — Đó chính là Chinh Tây Tướng quân Hàn Toại. Bên cạnh ông ta là Trình Ngân, Lý Kham, Mã Ngoạn, Lương Hưng, Hầu Tuyển, đều là đầu mục các bộ của Lương Châu và Quan Trung.
Hàn Toại thấy Dương Thu giờ này mới đến, bất giác nhíu mày. Lương Hưng là kẻ thô lỗ, oang oang cất giọng: — Ái chà! Đây chẳng phải là Dương huynh đệ sao? Sao giờ này mới tới? Có phải là mải vui vầy với thê thiếp, mặc
nhầm quần của nương tử nên mới để lỡ công việc không?” — Câu nói khiến chư tướng bật cười ha hả.
Trình Ngân cũng phưỡn bụng mắng nhiếc: — Ngươi đúng là biết đục nước béo cò, chúng ta ở đâỵ chém giết, ngươi thì án binh bất động, lúc này mới đến chia phần, là cái giống gì chứ?
Dương Thu không thèm đếm xỉa đến họ, chỉ chắp tay giải thích với Hàn Toại: — Năm ngoái mất mùa không kiếm được lương thực, đám thuộc hạ của tại hạ sắp chết đói hết cả, nửa tháng trước mới cướp bóc ở vài thôn trang, tích lũy được chút quân lương mới đến được đây. Đến muộn vài ngày, mong ngài lượng thứ.
Hàm Toại tuy là đại đầu mục cát cứ một phương, nhưng xuất thân gia giáo, am Hiếu Kinh thư nên cũng có chút độ lượng, trong lòng không vui nhưng không hề trách cứ, chỉ lạnh lùng nói: — Chiến sự cấp bách, không cần nhiều lời. Mau mau lãnh binh vây cửa Tây, chớ làm lỡ việc nữa.
— Vâng. — Dương Thu nhận lệnh đi ngay.
— Khoan đã! Huynh đệ ở đây đều đã vất vả không ít, duy chỉ ngươi bây giờ mới đến, vậy là không công bằng. Đến khi công phá xong thành trì, phân chia tài vật của địch, lão phu sẽ trừ của ngươi một nửa.
Các bộ quân Lương Châu đều do Mã Đằng, Hàn Toại cùng đứng đầu, phàm mọi việc đều do hai nhà bàn bạc quyết định. Nay Mã Đằng đã nhập triều, con ông ta là Mã Siêu mặc dù kiêu dũng, thiện chiến nhưng xét cho cùng vẫn là vãn bối, hiện giờ tất cả đều do Hàn Toại làm chủ. Dương Thu một là đuối lý, hai là không dám không phục, chỉ đành khúm núm lui đi.
— Nhìn xem! Trương Mãnh ra rồi! — Cùng với tiếng kêu của tên lính, một viên lão tướng xuất hiện trên địch lâu.
Thái thú Vũ Uy Trương Mãnh, tự Thúc Uy, vốn là con của danh tướng tiên triều Trương Miễn, giờ tuổi gần lục tuần. Năm xưa khi ông ta nhậm chức Thái thú Vũ Uy, triều đình cũng phong Hàm Đan Thương làm Thứ sử Lương Châu, hai người cùng phụng lệnh, đáng lẽ nên đồng tâm hiệp lực, ai ngờ lại đến bước không đội trời chung. Thứ sử Lương Châu vốn là chức quan do Kinh Triệu hào tộc Vi Đoan đảm nhiệm, sau này Vi Đoan vào triều, Tào
Tháo lại đưa một văn nhân đất Duyện Châu là Hàm Đan Thương lên thay. Người này tuy là một kẻ sĩ có tài, nhưng lại không nắm bắt được tình hình Lương Châu, lúc nào cũng có ý kiềm chế Trương Mãnh. Hai người tỵ hiềm như lửa với nước, đến nỗi Trương Mãnh dẫn binh bao vây phủ Thứ sử, giết chết Hàm Đan Thương. Trương Mãnh tưởng rằng Tào Tháo vừa mới bại trận Xích Bích, không có thời gian đâu quản chuyện này, nào ngờ bọ ngựa bắt ve, chim sẻ chực sẵn, ông ta mải lo đấu đá nội bộ mà cõng giặc ngoài về. Vô duyên vô cớ giết hại mệnh quan vốn đã không được nhân tâm, lại thêm việc Hàn Toại người đông thế lớn, Trương Mãnh thất bại liên tiếp bị vây trong thành trống, sinh tử tồn vông chỉ còn trông đêm nay.
Hàn Toại cưỡi ngựa lên trước vài bước, ngước lên hét to: — Lão bằng hữu, đã lâu không gặp! — Bọn họ vốn đều xuất thân là người Lương Châu, trước tiên cũng nên hỏi han qua lại.
— Hàn Ước, cớ sao lại động binh xâm phạm thành trì của ta? — Trương Mãnh biết rõ Hàn Toại, ông ta vốn tên Hàn Ước, tự Văn Toại, sau này vì phản loạn nên phải thay tên đối tên thành Hàn Toại, tự Văn Ước.
— Đã biết cớ sao còn hỏi. Ngươi giết chết Thứ sử, ý đồ mưu phản, ta phát binh là để chấn hưng xã tắc, quét sạch hung đồ!
— Hừ! — Trương Mãnh gằn giọng chửi — Rõ ràng nhà ngươi thừa cơ làm loạn, vậy mà dám nói ta là phản tặc.
Hàn Toại cười nói: — Ngươi giết mệnh quan triều đình, chứng cứ rành rành, có tư cách gì mà giáo huấn ta? Hãy chống mắt lên nhìn mấy lộ binh mã, Lương Chấu các bộ đều ở đây cả, là ngươi một mình mưu phản, hay là tất cả bọn ta cùng mưu phản, còn chưa rõ hay sao?
— Quân bỉ ổi vô sỉ, giặc mà cũng hô hào bắt giặc! —Trương Mãnh đưa mắt nhìn đại đội binh mã trải dài ngút tầm mắt ở bên dưới, đều đang chờ xâu xé ông ta.
Trình Ngân cũng tiếp lời: — Trương Thúc Uy, ngươi có thể bay cao, nhảy xa đến đâu chúng ta đều hiểu rõ, hiện giờ trong thành e rằng chỉ có chưa đầy ba ngàn binh mã phải không? Hãy nghe lời khuyên của ta, mau mau mở thành đầu hàng, nể tình đồng hương, ta sẽ cho ngươi chết toàn thây!
— Chớ có cuồng ngôn! Viện binh của triều đình sắp tới rồi.
Trình Ngân lại nói: — Câu ấy ngươi hãy lừa trẻ con đi! Ngươi tự ý giết hại Thứ sử, triều đình há lại cứu ngươi? Chưa kể quan quân gần nhất ở tận Hoằng Nông, đợi bọn họ đến thì mười tòa Cô Tàng thành cũng tan nát rồi.
Trương Mãnh biết lời của mình hàm hồ, lại nói: — Bản bộ binh mã của con trai Vi Đoan là Vi Khang đang ở Dực Thành...
Không đợi ông ta nói xong, Hàn Toại đã ngửa cổ cười lớn: — Ha ha ha!... Tên tiểu tử Vi Khang chỉ có vài ngàn binh mã, đừng nói hắn không dám đến, mà nếu đến ta cũng một tay tru diệt.
Tên cẩu tặc Hàn Ước chớ có lộng ngôn! — Trương Mãnh sớm đã toát mổ hôi lạnh, nhưng vẫn cố rắn mặt biện bác, — Đừng quên rằng ngươi đang có họa sát nách, Mã Đằng tuy đã vào kinh nhậm chức Vệ úy, nhưng vẫn còn con trai hắn là Mã Siêu. Nay ngươi đến đánh ta, không sợ Mã Siêu tập kích sau lưng ngươi ư? Nếu như hắn phát binh đến cứu, lại có quan quân tiền hô hậu ứng, các ngươi ắt chết không có chỗ chôn! — Đây là pháp bảo cuối cùng của ông ta.
— Đừng có mơ! — Hàn Toại cười nhạt, đoạn cầm lấy một bó đuốc từ tên thân binh, thúc ngựa đi một vòng sang đội quân cánh trái, gằn giọng hét lên bên trên, — Mở đôi mắt chó của ngươi ra, xem đây là ai? — Dứt lời bèn đưa cây đuốc ra trước mặt một viên quan tướng đang ở cạnh.
Trương Mãnh nhíu mắt nhìn, dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đuốc, ông ta dần nhận ra người này — Thân hình cao lớn, tướng mạo dữ dằn, đầu báo mắt tròn, râu ria rậm rạp, mình vận khôi giáp chỉnh tể, lưng buộc chiến bào da hổ, vai đeo cung tên, trên tay cầm một ngọn giáo sáng lóa. Nhân sĩ Lương Châu đều nhận ra, người đó chính là mãnh tướng dưới trướng phụ tử Mã thị — Bàng Đức!
— Sao có thể... — Trương Mãnh bỗng cảm thấy trời đất quay cuồng, suýt chút nữa ngã nhào từ trên thành xuống dưới.
— Ha ha ha, nhìn rõ chưa hả? — Hàn Toại quẳng bó đuốc đi, phủi tay vẻ đắc ý, — Cả thiên hạ này đều là kẻ thù của ngươi, chẳng ai tới cứu ngươi đâu!
Trương Mãnh lúc này đã hoàn toàn tuyệt vọng. Vi Khang không có khả năng cứu viện, Mã Siêu lại âm thầm cấu kết với Hàn Toại, quân triều đình gần đây cũng ở Hoằng Nông, đừng nói chẳng buồn để tâm đến ta sống chết ra sao, kể cả có muốn quản cũng chẳng kịp nữa, trời triệt đường ta rồi... hết rồi!
Hàn Toại bắt đầu hết kiên nhẫn: — Trương Thúc Uy, ta cho nhà ngươi nửa canh giờ để mở thành đầu hàng, nếu dám kháng cự ta sẽ lập tức công thành! Đến lúc đó ngói vỡ ngọc tan, đừng trách ta không niệm tình!
Trương Mãnh chầm chậm đứng thẳng dậy, không buồn nhìn xuống dưới thành nữa, thất thểu lui vào lầu gác. Hai tên thân binh mặt mày lo lắng hỏi: — Quận tướng đại nhân, vậy chúng ta phải làm sao?
— Đắc tội với trời, biết cầu chi đây? — Trương Mãnh chỉ biết lắc đầu cười khổ, — Các ngươi mau lui ra, ta muốn yên tĩnh một mình.
Trông lầu gác chỉ còn lại một mình Trương Mãnh ngồi thẫn thờ, chết lặng bên soái án. Bất luận mở thành hay không, trọng tội “mưu phản” lơ lửng trên đỉnh đầu, dù chết cũng không trốn được. Ông ta chỉ muốn trước khi chết viết một bản tấu chương, bày tỏ sự hối hận vì tội lỗi của mình, và tố cáo Hàn Toại mới là phản tặc thực sự! Nhưng khi cầm bút lên, ông ta lại chẳng viết nổi chữ nào, ngoảnh đầu nhìn quanh căn gác, Trong đầu chỉ toàn những suy nghĩ kỳ quái — Triều đình đại Hán có chế độ, người Lương Châu không được chuyển hộ tịch ra khỏi bản quận, nhưng cha của Trương Mãnh là Trương Miễn được phá lệ do có công với triều đình, nên dời tới Hoằng Nông, từ đó thay đối được địa vị của cả gia tộc. Cũng thật tình cờ, Trương Mãnh sinh ra vào lúc Trương Miễn nhậm chức Thái thú Vũ Uy, nghe nói khi đó đang phải giao chiến với người Khương, cha ông ngày ngày ở trên thành lâu chỉ huy tác chiến, mẹ ông sinh ông trông chính thành lầu này. Như là định mệnh sắp đặt, lẽ nào sinh ra ở đâu thì sẽ phải chết ở đó? Trương Mãnh bất giác cảm thấy phẫn nộ, vung tay gạt đồ hết giấy mực, tấu chương xuống đất. Giữa tiết xuân giá lạnh, trong gác đốt ba bốn chậu than, thẻ tre rơi vào trong chậu than bắn lên những đốm lửa tựa hồ pháo hoa. Trương Mãnh lặng đi trong giây lát, đột nhiên đứng dậy đạp đổ chậu than, lửa bắt vào chiếu trúc tí tách cháy. Ông ta như đã phát điên, đá bay hết các chậu than, trong nháy mắt ghế tựa, rèm che, soái án đều bắt lửa cháy ngùn ngụt, ánh
lửa bao trùm trông lầu các.
— Đại nhân, có chuyện gì vậy? — Đám thân binh lập tức xô nhau vào.
Trương Mãnh quay đầu, giọng trầm đục: — Ta rơi vào tay Hàn Toại, ắt sẽ bị chém đầu đưa về Hứa Đô. Sau khi chết mà không linh thiêng thì tốt, nếu linh thiêng ta còn mặt mũi nào đi qua phần mộ tiên phụ ở huyện Hoa Âm nữa? Thôi đành, sống chết đã định, Trương mỗ ta cũng đành chấp nhận! Các ngươi thay ta chuyển lời đến gã họ Hàn đó, hắn cũng không đắc ý được bao lâu nữa đâu. Tào Tháo chắc chắn sẽ không dễ dàng tha cho hắn, ta sẽ ở bên kia đợi hắn! — Nói đoạn buông thõng hai tay ngã vào biển lửa đang cháy rừng rực...
Ngọn lửa trên thành càng cháy càng to, thống lĩnh tự thiêu, binh sĩ như rắn mất đầu đành phải đầu hàng. Cửa thành ầm ầm mở ra, không đợi Hàn Toại truyền lệnh, các lộ binh mã đã hò nhau xong vào. Nào giết! Nào tranh! Nào cướp! Nào chia chác! Đừng nói đến lương thảo, quân giới của quân vệ thành, ngay cả tài sản của bách tính cũng bị cướp bóc sạch sành sanh, chẳng ai để ý đến ngọn lửa đang hừng hực cháy trên tường thành, cứ mặc nó thiêu đốt một cách phẫn nộ, biến thành lâu thành một đống tro tàn — Đây chính là đạo quân chính nghĩa, vì triều đình mà trừ hại!
Các bộ quân Lương Châu cướp đoạt cả một đêm, thậm chí chỉ vì tranh nhau mà nội bộ còn đánh nhau một trận, mãi đến khi trời sáng mới rút khỏi huyện thành, ai về trại nấy. Dương Thu vừa trở về đại trướng liền không tiếc lời chửi rủa: — Lão cẩu tặc Hàn Toại là cái thá gì! Lại dám cạnh khóe ta trước mặt mọi người, dù gì ta cũng là Quan nội hầu do triều đình sắc phong, đâu phải là thuộc hạ của hắn, cớ sao phải chịu nhục thế này! Còn bị đám Trình Ngân, Lương Hưng chê cười. Cứ ép ta thế này, đừng trách ta một đao chém bay thủ cấp của hắn... — Chửi thì chửi, nhưng kỳ thực Dương Thu binh mã vừa ít lại thiếu lương thảo, uy vọng thực lực đều thua kém rất nhiều, há có thể liều mạng với Hàn Toại? Cũng chỉ nói cho đã mồm thôi.
Ông ta chửi được vài câu, bỗng một nô bộc trẻ tuổi, tướng mạo thanh tú mỉm cười bước lên nói: — Tướng quân xin hãy nguôi giận, hà tất phải so đo với người già? Vất vả mấy ngày rồi, mau nghỉ ngơi thôi. Tiểu nhân đi nướng thịt dê cho ngài. Đợi lát nữa ngài tỉnh dậy, thịt dê cũng nướng xong, không lạnh không bỏng, ngoài giòn trong mềm, thơm ngậy vô cùng, khoái
khẩu biết bao! Chúng ta nên vui thì cứ vui, há phải so đo với lão già kia.” — Hắn vừa nói vừa giúp Dương Thu cởi bỏ khôi giáp.
— Cút sang một bên! — Dương Thu hằn học xô ngã tên nô bộc, — Đều do ngươi cả! Xui ta đi thỉnh thị triều đình, đi đi lại lại chậm như vậy, nếu không phải đợi mệnh lệnh của Tào Tháo thì ta đã sớm đến đây rồi, sao đến nông nỗi bị Hàn Toại hạ nhục? Ngươi đúng là việc thành thì ít, việc bại thì thừa!
Tên nô bộc ngã vật dưới đất, không những không sợ, còn cười hì hì: — Tướng quân, thuộc hạ vì muốn tốt cho ngài thôi!
— Tốt cho ta? Những thứ cướp được lần này, bộ quân nào cũng được như nhau, riêng chúng ta bị Hàn Toại khấu mất một nửa. Đều do ngươi mà ra cả! — Dương Thu trót lỡ miệng, kỳ thực bị mắng mấy câu cũng chẳng sao, điều khiến ông ta hậm hực là chia chác không đều.
Tên nô bộc đó lại nói: — Những thứ này có đáng là gì, sau này phú quý đang chờ chúng ta đó!
— Vớ vẩn! — Dương Thu ném đâu mâu xuống đất, — Ta đúng là đầu óc mong muội mới nghe những lời hàm hồ của tiểu tử ngươi. Lại còn phú quý nữa à? Ngươi cứ mơ đi! Mau bê nước rửa chân đến cho ta!
Nụ cười của tên nô bộc trước sau vẫn không thay đổi, hắn chậm rãi bò dậy, nhặt mũ đâu mâu lên rồi thổi cho hết đất cát, nhẹ nhàng đặt lại lên soái án: — Phú quý hay không cứ tạm bỏ qua, tướng quân ngài có còn cần cái đầu nữa không?
— Hả? — Dương Thu giật mình, — Ý của ngươi là gì?
— Hàn Toại quá ngông cuồng, đắc tội với triều đình đã lâu. Ngài không thể cùng hắn đâm đầu vào cửa tử được, cần phải chừa lại đường lui cho mình chứ!
— Đường lui... — Dương Thu dần dần nghe lọt tai, — Ý ngươi là sao?
Tên nô bộc vừa cười vừa đi đến góc đại trướng, cầm một chiếc gáo đồng lên, vừa múc nước vừa nói: — Hàn Toại lập thân bằng cách tạo phản, rốt cuộc cũng là phường vô sỉ. Mặc dù hiện nay đã dựa vào triều đình,
nhưng hắn cát cứ Tây Lương hơn ba mươi năm, triều đình há có thể thực sự tín nhiệm hắn? Quân Tào đại bại ở Xích Bích, hắn lại nhân cơ hội này đục nước béo cò, lấy cớ dẹp loạn để công thành cướp đất, tưởng rằng Tào Tháo nước xa không cứu được lửa gần, nào biết làm vậy là không gì ngu ngốc hơn. Tướng quân, mời ngồi... — Hắn giúp Dương Thu cởi bỏ giày tất, quỳ xuống rửa chân cho ông ta, — Kỳ thực Hàn Toại nếu chịu giao lại quyền binh, vào triều giống như Mã Đằng, Tào Tháo chưa chắc đã làm gì hắn, hắn càng giữ chặt binh mã bao nhiêu, Tào Tháo càng muốn trừ khử hắn bấy nhiêu. Đừng nghĩ quân Tào bại một trận ở Trường Giang mà coi thường, lạc đà gầy vẫn to hơn ngựa, xét cho cùng thực lực của Hàn Toại vẫn chẳng thấm tháp gì so với Tào Tháo! Chúng ta không thể đắc tội, cần phải nhìn xa trông rộng hơn!
— Đúng. — Cũng không biết vì cảm thấy có lý hay ngâm chân thấy thoải mái, Dương Thu thở một hơi dài nhẹ nhõm, — Vậy theo ý ngươi, đáng lẽ ta không nên theo Hàn Toại đến đánh Trương Mãnh...
— Không phải. Chúng ta vẫn nên đến. — Nếu như không theo chúng đến đánh Trương Mãnh, vậy thì chúng diệt xong Trương Mãnh sẽ quay lại diệt chúng ta! Ngài nghĩ xem, các bộ binh mã đều đến cả, duy chỉ có chúng ta khoanh tay đứng nhìn, vậy Hàn Toại có chấp nhận không?
— Có lý. — Dương Thu dường như đã hiểu thấu, — Ý của ngươi là...
Tên bộc đồng cười hì hì, vừa bóp bóp chân cho Dương Thu vừa nói: — Chúng ta vừa hội quân cùng Hàn Toại, vừa tiết lộ quân cơ cho Tào Tháo. Quen một ông hùm ở chỗ gần, dựa một ông hổ ở nơi xa, như vậy chẳng đắc tội với ai cả. Hàn Toại hiện tại có thể lợi dụng được, chúng ta cứ cùng hắn uống rượu nhai thịt, sau này giả như Tào Tháo phát binh hỏi tội, chúng ta có thể nói rằng bị Hàn Toại đe dọa, đồ tất cả tội lỗi lên đầu hắn. Hơn nữa lại có công tiết lộ quân cơ, Tào Tháo ắt sẽ không hẹp hòi với chúng ta. Ngài nói xem như vậy có lý hay không?
— Có lý! Có lý! Ha ha ha!... — Dương Thu đắc ý vỗ vai nô bộc, — Khen cho ngươi nghĩ ra cái chủ ỷ trong ngoài lưỡng toàn này, ngươi đúng là một tên tiểu nhân có tài đấy!
— Tướng quân quá khen, hì hì hì.
Tên “tiểu nhân có tài” mà Dương Thu vừa nói tên Khổng Quế, tự Thúc
Lâm, người Thiên Thủy, xuất thân bần hàn, song thân mất sớm. Năm xưa Tây Lương phản loạn, Dương Thu thân làm tướng lĩnh đi chém giết cướp bóc, đem hắn về làm nô bộc, khi đó hắn chỉ là một đứa bé, Dương Thu thấy hắn tướng mạo thanh tú, bèn giữ lại trông trướng làm đầy tớ. Khổng Quế thông minh lanh lợi, đặc biệt có sở trường quan sát sắc diện người khác, mười mấy năm trời phục dịch, không chỉ hầu hạ Dương Thu ăn uống ngủ nghỉ rất mực chu toàn, mà còn tham dự quân vụ. Dương Thu binh cô tướng quả, chẳng có mưu sĩ nào, vì vậy Khổng Quế liền trở thành một nhân vật không thể thiếu trong doanh, vừa là nô bộc vừa là tham mưu.
Từ khi được trọng dụng, Khổng Quế không những không lơ là việc hầu hạ phục dịch, ngược lại còn cúc cung tận tụy hơn. Lúc này đây, hắn đang ôm chân Dương Thu hết nắn lại bóp, cứ như thể nâng niu một món đồ vô cùng quý báu: — Bẩm tướng quân, còn có một việc nữa tiểu nhân muốn hỏi ngài.
— Nói đi. — Dương Thu nhắm mắt, cảm thấy thoải mái vô cùng. — Có phải ngài đã biết trước việc Mã Siêu phái binh tới không?
— Ta sao biết được? Đêm qua trông thấy Bàng Đức ngay cả ta cũng giật mình.
— Ổ? — Khổng Quế giật mình, — Tên Mã Siêu đúng là giảo hoạt!
— Khốn kiếp, ngươi bóp nhẹ chút đi! — Dương Thu bị bóp đau cả chân.
Khổng Quế nhẹ nhàng đặt chân ông ta xuống, lại bắt đầu chuyển sang bóp vai đấm lưng: — Hiện nay Mã Đằng đang ở trong triều, theo lý mà nói Mã Siêu phải giữ bổn phận một chút, sao lại câu kết với Hàn Toại kia chứ! Hắn không dám diễu võ dương oai, bèn âm thầm phái bộ hạ lĩnh binh tham gia, tưởng rằng có thể lừa dược Tào Tháo... Tướng quân, đây chính là cơ hội tốt để lập công với triều đình đó!
— Tên tiểu tử ngươi lại có diệu kế gì thế?
— Chúng ta báo tin cho triều đình, tiết lộ tình hình ở đầy.
— Việc này không cần phải lo, Hàn Toại đang định biểu tấu tới triều đình.
Khổng Quế cười thầm ông ta không hiểu chuyện, nhưng vẫn nhẫn nại giải thích: — Hàn Toại tất nhiên sẽ gửi biểu tấu, nhưng chắc chắn sẽ không nhắc đến chuyện Mã Siêu tham gia, vì vậy chúng ta mới phải tiết lộ tin này cho Tào Tháo, để ông ta lưu tâm hơn nữa. Theo ý của tiểu nhân, ngài hãy mau viết một bản tấu chương, gửi đi trước khi Hàn Toại...
Dương Thu bĩu môi: — Ngươi cố ý chơi xỏ ta phải không? Ta há có thể so với lão cẩu tặc Hàn Toại? Hắn từng học ở Lạc Dương, ta thì một chữ bẻ đôi cũng không biết, viết biểu tấu thế nào kia chứ?
— Ây dà... vậy làm sao vậy giờ? — Khổng Quế giả vờ thở dài. — Ngươi đi một chuyến xem sao.
— Cũng được... — Điều Khổng Quế cần chính là câu nói này, nhưng vẫn giả vờ ngọt nhạt, — Chỉ cần vì tướng quân ngài, tiểu nhân vất vả thế nào cũng chịu dược.
— Chớ làm ta buồn nôn nữa, mau đi còn về, đến Hoằng Nông đừng để lỡ việc. Tư lệ hiệu úy Chung Do tọa trấn Hoằng Nông, giám sát việc quân vụ ở Quan Tây.
— Không đi Hoằng Nông, tiểu nhân sẽ đến Nghiệp Thành!
— Nghiệp Thành? — Dương Thu có chút không vui, — Ngươi còn muốn trực tiếp gặp Tào Tháo? Vừa đi vừa về dễ mất đến vài tháng, không thấy phiền sao?
— Hì hì hì, muốn lấy lòng thì phải trực tiếp đến gặp quan trên, há có thể sai kẻ khác làm thay? Nếu khiến Tào Tháo hài lòng, ngày sau tướng quân mới yên ổn chứ ạ! — Khổng Quế mới chỉ nói đến việc công, kỳ thực hắn vẫn có tư lợi không thể nói ra. Lẩn trước diện kiến Tào Tháo được ban thưởng không ít, dường như Tào Tháo đánh giá hắn khá cao, mặc dù vinh sủng này đến có vẻ bất ngờ, nhưng cũng là cơ hội tốt để tiến thân. Nếu có thể khéo léo quỵ lụy, trèo lên được cành cao này, vậy sẽ không phải ở Lương Châu ôm chân Dương Thu nữa, đến Nghiệp Thành ôm chân Tào Tháo chẳng phải tốt hơn ư?
—Tùy ngươi, chớ làm hỏng việc là được. — Dương Thu thích chí vì được hắn hầu hạ chu đáo, vươn người uể oải, — Bận rộn cả đêm cũng mệt
rồi, ngủ thôi! Ngươi mau thu xếp lên đường cho sớm.
— Không cần sắp xếp gì cả. — Khổng Quế cười nói, —Tiểu nhân cưỡi ngựa đến thẳng Nghiệp Thành, ắt có thể đến trước sứ giả của Hàn Toại. Tướng quân nghỉ ngơi đi, tiểu nhân đi nướng dê cho ngài trước, ngoài tiểu nhân ra, còn ai biết được khẩu vị của ngài chứ?
— Được, đi đi. — Dương Thu ngáp ngắn ngáp dài, ngả lưng nằm xuống, mắt vừa nhắm lại lập tức trừng lên: — Tiểu tử người phải nhớ rửa tay cho sạch, chớ vừa bóp chân lại quay ra làm đồ ăn cho ta đấy!
Sửa sang Nghiệp Thành.
Tần Thủy hoàng thôn tính sáu nước, nhất thống thiên hạ, phế bỏ chế độ phân phong để đặt ra quận huyện, chia bộ máy hành chính ở địa phương thành hai cấp quận, huyện. Nhưng Hán Cao tổ lại bãi bỏ quy chế này của nhà Tần, sau khi tiêu diệt Hạng Vũ, để phong thưởng công thần, củng cố tông tộc, ông lại bắt đầu sắc phong cho hàng loạt chư hầu vương, trải qua mấy triều đại các vua chư hầu dần dần bị hạn chế, mãi đến khi Hán Vũ đế ban bố “Thôi ân lệnh”1, ảnh hưởng của các nước chư hầu với chính quyền trung ương mới cơ bản bị xóa bỏ. Sau này để tăng cường sự không chế với các địa phương, Hán Vũ đế lại chia quận huyện trên khắp thiên hạ thành mười ba châu, mỗi châu nhậm mệnh một Thứ sử, chuyên phụ trách khảo sát lại trị, đôn đốc pháp trị. Do đô thành đại Hán nằm ở Trường An, Lạc Dương, vì vậy những nơi ấy không gọi là “châu” mà gọi là “tư lệ” , quan giám sát dưới chân thiên tử không gọi là “Thứ sử” mà gọi là “Tư lệ hiệu úy”.
Tư lệ hiệu úy không chỉ khác biệt về mặt danh xưng so với chức Thứ sử, đãi ngộ và quyền lực cũng lớn hơn nhiều. Thứ sử hưởng bổng lộc sáu trăm thạch, Tư lệ hiệu úy thì hai ngàn thạch; Thứ sử thông thường chỉ được phụ trách giám sát, nhưng Tư lệ hiệu úy không những có thể giám sát bách quan, mà còn cai quản cả việc phòng vệ của kinh thành, thậm chí cũng có ba bốn phần quyền trong việc quản lý các thành viên hoàng tộc! Thời Quang Vũ Đế, chức quan này do tên khốc lại Đồng Tuyên đảm nhậm, vì thế chức Tư lệ hiệu úy được gắn thêm một biệt hiệu là “Ngọa Hổ” , đủ để thấy sức nặng uy quyền của nó. Tình trạng này duy trì gần hai trăm năm, cho đến khi Tào Tháo đảm đương chính sự mới bắt đầu xuất hiện vấn đề.
Do Tào Tháo đón thiên tử đến huyện Hứa, Dự Châu, dựng kinh đô mới, cũng tức là thoát ly khỏi địa giới Tư lệ, nên mới xuất hiện cục diện khó xử Tư lệ hiệu úy “sở tại phi sở quản”. Thế nhưng bất cứ vấn đề nào cũng không làm khó được Tào Tháo khi ông đang nắm đại quyền trong tay. Trước tiên, ông lệnh cho vị lão bằng hữu tâm phúc là Đinh Xung kiêm nhiệm vài năm, nắm giữ binh mã vệ thành của Hứa Đô, tiếp theo lại chuyển cho Thị trung Chung Do, lệnh cho ông ta trấn giữ đất cũ Hoằng Nông, không chỉ giám sát địa phương, còn thống lĩnh binh mã, đối phó với thổ phỉ Quan Tây, quân cát cứ Lương Châu và cả người Hung Nô.
Chung Do là con của danh sĩ tiên triều Chung Hạo, vốn không thân quen gì với Tào Tháo, nhưng đã từng góp sức trong việc nghênh đón thiên tử, nên nhận được tín nhiệm, được Tào Tháo giao cho trọng trách mưu tính Quan Trung. Sở dĩ Tào Tháo có thể diệt Lã Bố, phá Viên Thiêu, bình định Hà Bắc, quả thực có một phần công lao rất lớn của Chung Do, chính nhờ có ông ta ổn định thế cục ở mặt tây, Tào Tháo mới bớt đi nỗi lo sau lưng, để có thể tận lực phát triển về đông. Đặc biệt, khi Cao Cán hai lần nhân lúc Tào Tháo viễn chinh dấy binh làm loạn, đều do một tay Chung Do hóa hiểm thành an. Vì thế công lao và địa vị của Chung Do chỉ đứng sau Thượng thư lệnh Tuân Úc, Quân sư Tuân Du, không những là tâm phúc của Tào Tháo mà còn là trọng thần của xã tắc.
Thế nhưng trước đó không lâu Chung Do nhận được một đạo chiếu lệnh, Tào Tháo lệnh cho ông ta rời khỏi Hoằng Nông, đến Nghiệp Thành thương nghị việc quân. Trương Mãnh giết Hàm Đan Thương, Hàn Toại nhân cơ hội đó khởi binh, mặt tây cũng có vẻ không an phận, nhưng có chuyện có thể gửi thư tín, cớ sao phải diện kiến? Chung Do nghĩ mãi không hiểu, lại không thể kháng lệnh, đành giao lại việc quân chính cho Yết giả bộc xạ Vệ Ký, Thái thú Hoằng Nông Giả Quỳ thay mình xử lý, khởi hành thẳng tiến Hà Bắc. Bao năm tại nhiệm hiếm khi rời khỏi Quan Trung, ông định thuận đường đến thăm Hứa Đô, bái kiến thiên tử, chuyện trò đàm đạo với Tuân Úc, nhưng vừa đặt chân đến địa giới Hà Nam bỗng có quân báo khẩn cấp từ sau đuổi đến — Thái thú Vũ Uy Trương Mãnh đã bị Hàn Toại tiêu diệt!
Chung Do cảm thấy việc này có can hệ vô cùng trọng đại, liền không đến Hứa Đô nữa, lệnh cho bộc nhân thúc ngựa bất kể ngày đêm đến thẳng Nghiệp Thành. Đường dài vất vả mất gần một tháng, ăn uống ngủ nghỉ ngay
trên xe ngựa, khó khăn lắm mới đến ngoại thành Nghiệp Thành, vị lão thần này xương cốt rã rời, đứng trên đất bằng mà liêu xiêu, mệt nhọc ngẩng đầu lên nhìn, phút chốc ngẩn ngơ: —Đây là Nghiệp Thành ư?
Phu xe mặt mũi lấm lem bụi cát, nghe thấy câu ấy nước mắt chực trào ra: — Đại nhân, nói vậy oan cho tiểu nhân quá. Tiểu nhân đánh xe cả nửa đời người, chẳng lẽ lại sai sao?
Cũng khó trách Chung Do nghi ngờ như vậy, đến nay Nghiệp Thành đã hoàn toàn khác trước: Bốn mặt tường thành đã được dỡ bỏ trùng tu, từ mặt đông sang mặt tây mở rộng bảy dặm, từ phía nam đến phía bắc mở rộng năm dặm, toàn bộ được xây bằng đá xanh, tường thành cao hơn trước một trượng, cửa thành táng thêm bảy cổng, thành lâu cũng to lớn hơn xưa rất nhiều. Ngay cả khi đã trông thấy doanh trung quân ở phía nam thành và lá đại kỳ của quân Tào phần phật bay trong gió, Chung Do vẫn không tin lời của phu xe. Ông cũng không ngồi trên xe nữa, mơ mơ hồ hồ men theo đường dịch đạo bước về phía trước, không lâu sau dến dưới cửa tây, ông ngước đầu nhìn lên, thì thấy ba chữ triện “Kim Minh môn” khắc trên cổng thành — Đúng là bút thể của Lương Hộc, không sai! Lúc này ông mới an tâm.
Vào trong thành lại càng lạ lẫm, một con đường lớn, thẳng tắp chạy từ đông sang tây. Phía nam nhà cửa phủ đệ san sát, còn phía bắc là ao Huyền Vũ để luyện thủy quân, nay tường thành mở rộng nên cũng rộng thêm một nửa. Từng tốp dân chúng lao dịch đang vung cuốc xúc xẻng, vác đá nâng gỗ, không khí vô cùng khẩn trương, còn có rất nhiều gỗ quý chất đầy hai bên đường, xem ra họ đang định cải tạo ao Huyền Vũ thành một tòa lâm viên. Chung Do bị cảnh tượng náo nhiệt trước mắt thu hút, cũng không ngồi trên xe nữa, đi theo đường lớn về hướng đông, vừa đi vừa nhìn. Đi được rất xa mới thấy đường cụt, lại trông thấy một dãy tường to lớn màu tuyết trắng — Đây hẳn là mạc phủ mới dựng.
Chung Do chắp tay sau lưng, chậm rãi bước về phía trước, không lâu sau đã đến trước một tòa môn lầu vẫn chưa dựng xong. Tòa môn lâu này rộng khoảng hai trượng, cửa lớn sơn đen, bậc thềm làm bằng đá cẩm thạch, bên cạnh dựng giàn giáo, đám thợ lố nhố đang trèo phía trên để dựng tầng hai của lầu các.
— Đồng đại nhân, Biện tư mã, sao các ngài lại thành quan đốc công?
— Chung Do trông thấy Đổng Chiêu và Biện Bỉnh, bèn cất lời chào hỏi.
Biện Bỉnh vốn hay nói cười, mắt vẫn chăm chú theo dõi thợ thuyền làm việc, chẳng buồn quay đầu lại, giọng đùa cợt: — Ai đang đùa ta vậy? Đợi đấy mà xem, khi nào ngươi xây phủ đệ, lão đây không lợp mái cho ngươi, cho ngươi tha hồ đếm sao! — Nói xong nghiêng đầu nhìn lại, trông thấy Chung Do đang đứng ở phía dưới mới vỗ trán liên tục, — Ôi trời, thì ra là Chung công, đắc tội, đắc tội rồi!
— Ha ha ha!... — Chung Do bật cười vui vẻ, — Tại hạ cũng chưa ở nhà không có nóc bao giờ, Biện tư mã khi nào sẽ xây cho ta đây?
Biện Bỉnh gãi đầu gãi tai cười nói: — Tại hạ văn không thông võ chẳng giỏi, chỉ biết khua môi múa mép thôi, ngoài việc làm đốc công ra cũng chẳng được tích sự gì, Chung công xin chớ chê cười. — Đây là những lời khiêm tốn, với tài trí của ông ta, tuyệt đối không chỉ giỏi khua môi múa mép.
Đổng Chiêu tuổi tuy đã ngoại ngũ tuần nhưng tay chân vẫn rất nhanh nhẹn, thoắt một cái đã bám vào giàn giáo cao hơn một trượng mà tụt xuống: — Nguyên Thường huynh sao lại đến đây vậy? Đã lâu không gặp!
Câu nói này khiến chung Do như rơi vào màn sương mù mịt — Ông đã nghe lời đồn, mấy năm gần đây Đổng Chiêu được Tào Tháo trọng dụng, rất nhiều việc cơ yếu đều giao cho ông ta xử lý. Vậy mà lần này ngay cả Đổng Chiêu cũng không biết Tào Tháo điều ông đến, có thể thấy sự vụ này có huyền cơ ẩn sau.
Xét kỹ những chuyện năm xưa, Đổng Chiêu và Chung Do đều được triều đình điều đi nhậm chức ở Tây Kinh, giao tình thân thiết, cũng đều từng giúp Tào Tháo nghênh đón thiên tử. Nhưng từ khi Đổng Chiêu và Tuân Úc bất hòa đến nay, nhân sĩ Dĩnh Xuyên, đứng đầu là Tuân thị đều nảy sinh ác cảm với ông ta. Chung Do với tư cách là nhân sĩ Dĩnh Xuyên tất nhiên cũng chịu ảnh hưởng, thế nhưng ngoài mặt vẫn giữ hòa khí, xưng huynh gọi đệ: — Công Nhân hiền đệ, ta phụng mệnh Thừa tướng đến đây.
— Vì việc của Lương Châu chăng?
— Đại khái như vậy.
Đổng Chiêu thấy ông ta không muốn nói nhiều, cũng không tiện hỏi
thêm, chỉ nói: — Mạc phủ đang tu bổ, tiểu đệ xin dẫn đường cho ngài. — Vậy cảm phiền rồi.
Biện Bỉnh đứng bên trên, bám vào lan can cười nói: —Chung công hãy đi gặp Thừa tướng trước. Tại hạ còn bận việc ở đây, đám tiểu tử này không giục thì chúng không biết vội là gì. Mấy ngày nữa chẳng may trời mưa thì khó làm tiếp. Xong việc, tại hạ nhất định đem hai vò rượu đến dịch quán tẩy trần cho ngài.
— Đa tạ, đa tạ! — Chung Do vẫy tay mỉm cười bước di, tận mắt trông thấy Nghiệp Thành dường lớn rộng rãi, nhà cửa ngay ngắn, không ít phủ đệ quan nha đã sắp hoàn công, trong lòng ông bất giác thở dài — Bại trận trở về mà vẫn dám xây nhà dựng phủ, lại còn xây nhanh đến vậy, Tào Mạnh Đức đúng là phóng khoáng!
Đổng Chiêu vừa dẫn đường vừa giới thiệu, không lâu sau đã đến trước cửa một tòa phủ, ông ta chắp tay mời: — Đấy chính là cửa chính của mạc phủ, Nguyên Thường huynh, xin mời.
Chung Do ngẩng đầu quan sát, tòa môn lầu này trông không khác là bao so với tòa môn lầu phía tây khi nãy, tuy nhiên đã hoàn công. Môn lầu uy nghiêm tráng lệ, phía trên có vệ binh canh phòng nghiêm ngặt, cánh cửa lớn màu đen vẫn đóng im lìm. Hai người đi vào từ cửa ngách phía đỏng, vệ binh bên trong đã quen mặt Đổng Chiêu, không cần hỏi gì, chỉ chắp tay thi lễ. Sau cổng có dũng đạo2 được lát bằng những phiến đá lớn, hai bên bát ngát tùng bách cùng với hoa nở bốn mùa, cỏ xanh quanh năm. Cách dó không xa là cánh cổng thứ hai cũng có vệ binh canh phòng, đều là những nam tử mình cao vai rộng, tay cầm trường thương, vô cùng uy nghiêm. Chung Do thầm khen mạc phủ phòng vệ vô cùng cẩn mật, nào hay ngẩng đầu lên — vẫn còn cánh cổng thứ ba!
Họ cứ đi tiếp đến cổng thứ tư mới đến nơi, vệ binh ở đấy đều là đội binh sĩ Hổ báo thân tín, mình khoác kim giáp, vai đeo cung tên, eo giắt đao sắc. Đổng Chiêu đến đây cũng không dám tùy tiện nữa, bước lên trước nói rõ họ tên mới được đi qua. Ông ta vừa bước qua bậc cửa, bỗng thấy một tướng quân tướng mạo hung ác, thân hình vạm vỡ đang trò chuyện cùng đám hiệu úy dưới hàng hiên dài có bảy tám chiếc ghế đẩu.
Chung Do lập tức nhận ra Hứa Chử: — Ồ, đây chẳng phải Hứa tướng quân sao?
— Mạt tướng tham kiến Chung đại nhân. — Hứa Chử đến nay tuổi cũng đã ngoại tứ tuần, nhưng râu tóc xồm xoàm, càng toát lên vẻ hung hãn, nói năng tuy thật thà, tùy tiện nhưng giết người thì chẳng khác gì ma đầu!
— Không dám. — Chung Do vội đỡ dậy, — Ngài được thụ phong Quan nội hầu, thân trải trăm trận, tại hạ đâu dám nhận lễ?
— Quan nội hầu, quan ngoại hầu gì chứ, tại hạ chỉ là kẻ võ biền thôi!
Chung Do rất quý trọng nhân phẩm thật thà, đôn hậu của ông ta: — Ai mà không biết ngài uy vũ hơn người, kẻ sĩ trông quân đều gọi là “Hổ hầu” ?
— Hổ hầu? Ha ha ha... — Hứa Chử ngửa cổ cười lớn, — Đó đều là những lời tán tụng trước mặt, sau lưng họ đều gọi ta là “Hổ si3”. — Câu nói này khiến đám hiệu úy cũng bật cười sảng khoái.
Chung Do lại hỏi: — Sao không thấy Tào Thuần, Lã Chiêu đấu?
Hứa Chử đáp: — Tên tiểu tử Lã Chiêu giờ khá lắm, không còn là gia tướng mà ra ngoài làm quan rồi, gần đây hắn bắt được mấy đám thổ phỉ, còn được Thừa tướng ban thưởng nữa! Còn tướng quân Tào Thuần thỉ... nhiễm bệnh khi nam chinh, hiện không thể đi xa, phải ở lại huyện Tiều tĩnh dưỡng, nghe nói không ổn lắm.
Chung Do thấy ông ta mặt thoáng phiền muộn, thôi không hỏi chuyện Tào Thuần nữa, chuyển sang chủ để khác:
— Thừa tướng gọi tôi đến, bây giờ có thể diện kiến không?
Hứa Chử vỗ đùi sực nhớ: — Chúng tôi đang bàn về chuyện này đây, mấy ngày trước không biết có một tên tiểu tử từ đâu đến, được lòng Thừa tướng, vừa được thưởng tiền vừa được ban yến, hiện đang ở phía sau cùng Thừa tướng dùng cơm nữa. Tên tiểu tử đó dẻo mồm dẻo miệng, chẳng khác gì mấy tên nô tài hạ tiện trong phủ, thực không hiểu Thừa tướng xem trọng hắn ở điểm gì. Thật là đáng ghét! — Ông ta cằn nhằn một hồi mới nói tiếp, — Người khác đến thì thôi, còn các ngài xin mời vào ngồi đợi một chút, lát nữa Thừa tướng sẽ ra.
Chung Do vạn phần nhẹ nhõm — Nói thì nói, cười thỉ cười, chứ ông biết tính khí Hứa Chử, có một lần Tào Phi thân mặc giáp trụđòi gặp Tào Tháo, bị Hứa Chử chặn ở ngoài, bắt đợi cả một canh giờ. Hôm nay ông ta lại cho phép ông vào trong đợi, vậy là nể tình lắm rồi.
Bước qua cánh cửa này Chung Do mới để ý, thì ra ở bên trong là một cái sân rất lớn, xung quanh phải rộng đến cả dặm, mặt sân đều được lát đá xanh, ở giữa bố trí một nghi đạo. Chính giữa sân có một đại đường cao khoảng hai trượng, mái ngói cong vút, vô cùng hoành tráng, thềm đá có đến mười mấy bậc, phía trên cánh cửa đồ sộ làm bằng gỗ nam mộc là một tấm bảng để ba chữ lớn “Thính Chính đường” , cũng là bút tích của Lương Hộc. Còn hai bên trái phải của sân, ngoài cửa ngách ra có mấy khu lâu các nhỏ vô cùng đẹp mắt, có vẻ là nơi làm việc.
Chung Do mắt nhìn rõ, trong lòng thầm hiểu: Phủ đệ của thần tử tu tạo như thế này rõ ràng là vượt quá lễ chế. Đây đâu phải là mạc phủ, rõ ràng là một hoàng cung, Thính Chính đường nghiễm nhiên là đại điện để triều hội. Nếu không phải cuộc nam chinh gặp thất bại, e rằng Tào Mạnh Đức sớm đã ở đây mình khoác lông bào, miệng tuyên thiên mệnh.
Đổng Chiêu nói: — Tại hạ còn việc công phải làm, không thể cùng Nguyên Thường huynh gặp Thừa tướng được. Ngài cứ vào đại đường ngồi chờ, lát nữa Thừa tướng sẽ đến, tại hạ xin cáo lui.
— Đa tạ, đa tạ, vậy xin ngài cứ tự nhiên. — Chung Do chắp tay cáo từ, cất bước đi lên đại đường. Vào bên trong nhìn quanh mới biết là chẳng khác gì so với trước kia: bình phong mộc mạc, soái án không có họa tiết chạm trổ cầu kỹ, ngay cả hương án cũng không có, ghế ngồi hai bên vẫn cũ sờn. Xem ra Tào Tháo xây lầu cất điện, nhưng tính cách giản dị vẫn không thay đối, những món đồ cũ kỹ đó đặt trong đại điện mới tinh khiến người ta bỗng cảm thấy lạc lõng.
Ở đây ngay đến một kẻ hầu cũng không có, Chung Do chắp tay đi đi lại lại, thầm đoán mục đích Tào Tháo gọi mình đến, vô tình trông thấy trên soái án có một cuốn thẻ tre đang mở, có vẻ vừa được phê bút cách đây không lâu. Ông không kìm nổi tò mò, bước dến nghiêng đầu đọc thử.
Tự cổ chí kim bậc minh quân nhận mệnh trời để trung hưng thiên
hạ, nào có ai không được hiền sĩ và quân tử phò giúp? Dù có được hiền sĩ bền thân, nếu không trọng dụng, há có thể làm nên đại nghiệp? Bậc chí tôn càng cầu được nghe lời phải. Nay thiên hạ vẫn chưa yên định, đây chinh là lúc gấp rút cầu hiền. “Mạnh Công Xước hợp làm gia thần của họ Triệu, ho Ngụy, nhưng không hợp làm đại phu của nước Đằng, nước Tiết.” Nếu như cứ muốn chọn kẻ sĩ liêm khiết, thì Tề Hoàn công sao có thể xưng bá! Hiện thiên hạ không có người mặc áo thô, bụng mang mưu lược ngồi câu cá bên sông Vị hay sao? Các ông hãy giúp ta tìm những người hiền xuất thân thấp hèn, miễn sao có tài năng, để ta dùng họ.
Thì ra là một đạo Cầu hiền lệnh, sau đại bại ở Xích Bích, Tào Tháo cảm thấy một mình độc hành là mối họa khôn lường, nên mới tự tay thảo lệnh cầu hiền. Lại thêm gần đây nội bộ bất ổn, khá nhiều lời ong tiếng ve thừa dịp nổi lên, làm như vậy cũng có thể bày ra bộ mặt khiêm nhường, cầu thị để lấy lòng người đời. Chung Do đọc đi đọc lại hai lần, bất giác trầm ngâm: — Chỉ cần có tài ắt sẽ dùng... chỉ cần có tài ắt sẽ dùng... Trọng tài mà không trọng đức...
Nào hay ông vừa lẩm bẩm đôi câu, phía sau bình phong vọng lại tiếng người: — Chỉ cẩn có tài ắt sẽ dùng, không trọng tài cũng không trọng đức, mà là dùng đức của kẻ có đức, lấy tài của kẻ có tài! — Đại Thừa tướng đương triều Tào Tháo bỗng nhiên xuất hiện từ phía sau.
Chung Do ngước mắt nhìn lên: Tào Tháo vận bộ tiện phục vải xám, búi tóc cài trâm bằng gỗ hoàng dương, dưới lưng thắt hờ một dải đai, chân đi giày, đây là lối ân vận thường ngày ở nhà. Đối với một người đã năm mươi sáu tuổi, Tào Tháo trông không hề già, chỉ hơi phát tướng. Ông vân vê chòm râu đã đốm bạc, mỉm cười gật đầu — Xem ra tinh thần ông không tồi, dường như đã thực sự thoát khỏi nỗi buồn binh bại.
Chung Do muốn vái chào nhưng bị Tào Tháo đưa tay giữ lấy, lúc này mới trông thấy một vài duyện thuộc theo sau ông. Một người thân thể gầy còm, bộ dạng thấp bé, một người tướng mạo dung dị, thần thái rụt rè, một người cao lớn, dáng vẻ anh tú, một người cử chỉ tiêu dao, thần thái phóng khoáng. Chung Do không biết rằng, họ là Vương Xán, Hòa Hiệp, Đỗ Tập và Dương Tu. Sau khi Quách Gia chết, chỉ có bốn người này được Tào Tháo
trọng dụng nhất, trở thành một lớp sủng thần mới.
Ngay sau đó cũng có hai đứa trẻ chạy ra. Đứa phía trước vui vẻ chạy nhảy, vô cùng hoạt bát, nhìn sang đứa phía sau, Chung Do thoáng chốc giật mình, lẽ nào Tào Xung hồi sinh? Nhìn kỹ mới phát hiện ra đứa bé đó nhỏ hơn Tào Xung, mặc dù tướng mạo khá giống nhưng thần thái lại có chút rụt rè, xấu Hổ. — Đó là Tào Cứ, do Hoàn phu nhân sinh hạ, là em cùng mẹ của Tào Xung. Tào Tháo không nguôi nỗi nhớ Tào Xung, nên ngày ngày dẫn theo cậu bé theo, trò chuyện cho khuây khỏa. Còn đứa trẻ đứng trước tên là Tào Lâm, do mỹ nhân Đỗ thị sinh hạ, cũng rất được yêu mến.
— Nguyên Thường đường xa đến đây, đã vất vả rồi! —Tào Tháo thuận tay vỗ lên vai Tào Cứ, — Thằng bé này, còn đứng im đó làm gì? Mau đi lấy ghế cho lão đại nhân đi!
— Dạ? — Tào Cứ năm nay mới mười hai tuổi, cũng không còn nhỏ nhưng bản tính nhút nhát, trông thấy người lạ là xấu hổ, cuối cùng vẫn là Tào Lâm chạy đi bê ghế lại, đặt bên cạnh soái án.
Tào Tháo nhẹ nhàng xoa đầu Tào Cứ: — Mau hành lễ với đại nhân đi!
— Vâng ạ. — Tào Cứ chạy đến cúi chào, rồi lại chạy tót về phía sau lưng cha.
Tào Tháo bật cười lắc đầu: — Được rồi, các con ra ngoài chơi đi. — Cái bóng vẫn mãi chỉ là cái bóng, đứa bé này dù giống Tào Xung, nhưng lại chẳng được thông minh, dĩnh ngộ bằng.
Tào Lâm dắt Tào Cứ nhảy chân sáo ra ngoài, Vương Xán, Hòa Hiệp cũng tự biết ý, hỏi han Chung Do vài câu rồi xin cáo lui. Chung Do ngồi xuống, lấy quân báo từ tay áo ra, nào ngờ vừa mới lôi ra, Tào Tháo đã mở lời trước: —Hàn Toại công diệt Trương Mãnh, ta đã hay tin.
Chung Do sững sờ: Ta chạy cả ngày cả đêm đến đây báo tin, vậy mà kẻ nào lại còn nhanh hơn ta một bước?
Tào Tháo cười khổ: — Trương Mãnh dù không có ý tạo phản, nhưng xét cho cùng hắn dám giết chết Hàm Đan Thương, Hàn Toại dẫn quân tiêu diệt cũng không phải là không có cớ, hắn tự mình đâm đầu vào chỗ chết thôi!
Chung Do lại nói: — Nhưng Hàn Toại khởi binh không phải vì triều đình trừ hại, mà để mở rộng thế lực.
— Ông mới biết một mà chưa biết hai. — Tào Tháo nhận lấy quân báo, vứt sang một bên mà chẳng buồn đọc, — Địa bàn của Hàn Toại vốn ở Tây Lương, sau này thảo phạt Cao Cán mới mở rộng đến Quan Trung. Thái thú Tửu Tuyển dưới trướng hắn là Từ Tập có ý quy hàng triều đình, vì thế lập mưu giết hào cường trông quận là Hoàng Ngang, việc chẳng may bại lộ bị Hoàng Ngang sát hại. Dưới trướng Từ Tập có một kẻ sĩ tên là Dương Phong, chạy đến quận Vũ Uy xin Trương Mãnh điều binh, được Trương Mãnh nhậm mệnh làm đô úy, trở về chiêu binh mãi mã giết được Hoàng Ngang. Ngươi nghĩ xem, Trương Mãnh động đến căn cơ của Hàn Toại, Hàn Toại lẽ nào không liều mạng với hắn?
Chung Do càng cảm thấy kỳ lạ: Bên trong thì ra lại có ẩn tình phức tạp đến vậy! Tây Lương mãi vùng biên viễn, đến ta ở Hoằng Nông cũng không hiểu rõ, Thừa tướng sao lại nắm rõ như lòng bàn tay? Lẽ nào có kẻ báo tin?
Ông vẫn đang trầm ngâm suy nghĩ, nào ngờ Tào Tháo lại tiết lộ thêm một tin động trời: — Ồng hẳn vẫn chưa biết, lần khởi binh này Mã Siêu cũng âm thầm tham gia.
— Sao cơ? — Chung Do giật mình sửng sốt, — Phụ thân và huynh đệ của hắn đều đang làm quan trong triều, lẽ nào hắn không sợ chuốc họa cho gia môn?
Tào Tháo mong lung nhìn ra bên ngoài, nói: — Tình phụ tử, nghĩa thủ túc gì chứ? Thứ khó đoán nhất trong thiên hạ, chính là lòng người!
— Theo ý của Thừa tướng, việc này nên xử trí ra sao?
Tào Tháo vân vê chòm râu, chậm rãi đáp: — Hàn Toại tà tâm chưa hết, Mã Siêu trước mặt thì quy phục, sau lưng lại ngầm làm phản, lại có chư tướng Quan Trung làm vây cánh, nếu không tru diệt tất sẽ thành hậu họa! — Ban đầu ông chủ trương vỗ về các thế lực cát cứ chứ không tru diệt, nhưng sau khi nam chinh thất bại, nhân tâm bất ổn, Quan Trung ngày càng khó không chế. Hơn nữa năm ngoái Đoàn Ổi, Vi Đoan nối nhau qua đời, Tào Tháo mất đi hai kẻ thân cận trong triều đình và cũng là những quân cờ có thể thay đối cục diện ở Quan Trung, nên đã phảỉ phong cho Khoái Việt làm Quang lộc
huân, Hàn Tung làm Đại Hồng lư, qua đó lôi kéo nhân sĩ Kinh Châu đối phó với Lưu Bị. Con đường chiêu an dần dần trắc trở, mâu thuẫn giữa Tào Tháo và Hàn Toại cùng với các lộ quân phiệt cát cứ sớm muộn cũng sẽ bùng phát.
Chung Do cũng đồng ý với quan điểm của Tào Tháo, ông ở Hoằng Nông đã lâu, tận mắt chứng kiến rất nhiều chuyện ngạo mạn, không theo phép tắc của chư tướng Quan Trung, sớm đã vô cùng oán hận, tuy nhiên do thực lực thua kém nên không thể hạ thủ. Lúc này nghe Tào Tháo quyết tâm chinh thảo, ông bèn lập tức nhắc nhở: — Với tài của Thừa tướng thì chuyện thảo phạt không khó, chỉ tiếc là chưa có danh nghĩa để cử binh. — Bất luận thế nào, chư tướng Quan Trung cũng đều là quan của triều đình, trên danh nghĩa thuộc về triều đình, không thể gán tội tạo phản cho hành động đánh giết Trương Mãnh, vậy dựa vào cái gì để thảo phạt hắn đây?
Tào Tháo cầm bút lên viết vỏn vẹn bốn chữ vào tấm lụa trắng: thảo phạt Trương Lỗ.
Chung Do giật mình kinh ngạc, nhưng lập tức hiểu ra, bất giác nở một nụ cười — Trương Lỗ là thủ lĩnh của Ngũ Đấu Mễ đạo4, tương tự với giặc Khăn Vàng ngày trước, địa bàn của hắn ở Hán Trung, thuộc phía bắc Ích Châu. Muốn thảo phạt Trương Lỗ, Tào Tháo bắt buộc phải đi qua đất Quan Trung, có thể nhân cơ hội đó ban bố chỉ lệnh với chư tướng Quan Trung, ép họ phải giao lại binh quyền và địa bàn. Nếu họ chịu giao lại binh quyền thì nguy cơ sẽ được hóa giải, đất Quan Trung không đánh mà yên; còn giả như họ kháng cự không phục, cùng nhau tạo phản, vậy thì Tào Tháo đã có danh nghĩa để thảo trừ.
Chung Do nói: — Theo dự liệu của bỉ chức, chư tướng Quan Trung tất sẽ làm phản. Hàn Toại cát cứ Tây Lương hơn hai mươi năm, há có thể dễ dàng cúi đầu giao lại binh quyền? Lại còn tên phản tặc Tống Kiến cát cứ Bao Hãn, tự xưng “Hà Thủ Bình Hán Vương” , nhân lúc chiến loạn xưng vua một phương gần ba mươi năm, loại người đó sao có thể quy thuận? Hiện tại chỉ có một kẻ duy nhất vẫn chưa thể đoán được là Mã Siêu. Thế lực của Mã thị và Hàn Toại tương đương nhau, nếu như Mã Siêu chịu hàng, chuyện này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
— Ép chúng sẽ phản, không ép chúng cũng phản, nếu chỉ giương mắt nhìn ẩn họa, chi bằng tiên hạ thủ vi cường. Mã Siêu cố ý đi theo Hàn Toại,
vậy đừng trách lão phu vô tình, đành phải ra tay với phụ tử Mã Đằng ở Hứa Đô thôi. Đến lúc đó phải mang tiếng ác hại cha, xem hắn còn mặt mũi nào đứng giữa trời đất! — Khi nói câu này, Tào Tháo mắt vẫn nhìn đám đăm ra ngoài đại đường, dường như tâm tư đang ở nơi khác, — Khi trở về ông tiện đường đến Hứa Đô một chuyện, hãy nhắc đến việc xuất binh đánh Hán Trung trước triều đường, xem quần thần phản ứng ra sao, cũng là để tạo thêm chút thanh thế, và bắn tiếng đến đám tặc khấu Tây Lương kia. Định hàng hay phản, cho bọn chúng tự mình cân nhắc, chúng ta xuất binh một trận, tất sẽ dẹp yên hậu họa! Ngoài ra ông hãy bí mật theo dõi động tĩnh của Mã Đằng, ta không tin ông ta phó mặc nhi tử của mình.
— Vâng. — Chung Do đáp lời, trong lòng thầm cảm thấy kỳ quặc: Ông không chỉ hiểu rõ chuyện Lương Châu như lòng bàn tay, còn có sẵn sách lược đối phó, đã như vậv hà tất phải gọi ta ngàn dặm trở về?
Thấy Tào Tháo không nói gì thêm, Chung Do cũng lặng thinh, ngồi được một lúc bèn muốn đứng dậy cáo từ. Nhưng đúng lúc đó Tào Tháo lại lên tiếng, phá tan sự trầm mặc: — Nguyên Thường...
— Có bỉ chức. — Chung Do lại ngồi xuống.
— Bao năm nay chúng ta ai giữ chức người ấy, chẳng mấy khi gặp mặt, ông đường xa vất vả đến đây, không có việc riêng thì ở lại Nghiệp Thành mấy ngày, trò chuyện cùng ta.
Chung Do tưởng mình nghe nhầm, những lời hoài niệm sầu não này đâu có giống với phong cách của Tào Tháo? Ông khẽ mỉm cười, đáp: — Cũng đúng, chúng ta đều đã tuổi ngoại ngũ tuần, chuyện xưa năm cũ thoảng như mấy khói. Bỉ chức gần đây cũng thường nhớ về những chuyện dĩ vãng, đôi lúc còn nằm mơ thấy.
Nét mặt Tào Tháo vẫn không thay đối, tựa hồ không phải ông muốn nói về những chuyện ngày xưa: — Có một việc muốn hỏi ông mà chưa có dịp. Trước khi ta nghênh giá đến Hứa Đô, có những ai từng tham gia triều chính? — Sau khi Đổng Trác chết, Lý Thôi, Quách Tỉ chiếm cứ Trường An, do bọn họ chỉ là những kẻ võ biền, chỉ biết chém giết không thạo văn thư nên những việc trong triều phải phó thác cho người khác.
Chung Do từng trải qua những ngày tháng đó, tất nhiên hiểu rõ hơn
Tào Tháo: — Đầu tiên chúng giao phó chính sự cho Giả Văn Hòa, sau đó Chu Công Vĩ vào triều, cũng nắm quyền một thời gian.
Nhắc đến Chu Tuấn, Tào Tháo trong lòng cũng có chút hoài niệm: — Khi Chu công còn tại thế đã đối xử với ta rất tốt, cuối cùng lại bị hai tên giặc Lý, Quách làm tức chết, thực khiến người ta thương tiếc. Còn Giả Văn Hòa lúc đó du thuộc phường tặc khấu, nhưng hành sự cũng có thể coi là đường đường chính chính.
— Không sai, thiên tử trước sau đều không có ác cảm với ông ta. Ở vị trí đó cũng chẳng dễ dàng gì. Ngoại trừ hại người bọn họ, còn có Tuân quân sư, Đinh Ấu Dương, cố Thượng thư Hàn Bân, Lỗ Sung, còn có huynh đệ Dương Bưu, Dương Kỳ và bỉ chức, cũng ít nhiều tham dự vào việc triều chính. Qua lại với hai tên giặc Lý, Quách, ngày nào cũng thấp thỏm không yên. — Chung Do lắc đầu thở dài, đến nay trong lòng chưa hết sợ hãi.
Tào Tháo lại trầm ngâm không nói, một lúc sau mới mở lời: — Năm xưa ông từng tham dự vào việc quốc chính, lại ít nhiều qua lại với các cố lão trông kinh. Nay ông cai quản quân vụ Quan Trung được mười năm, hẳn đã nhọc lòng mệt dạ, vô cùng vất vả rồi nhỉ? Ta định điều ông về triều.
— Về triều? — Chung Do thoáng chốc đã đoán được ý định của Tào Tháo, trong lòng lo lắng bất an, nhưng vẫn giả vờ hồ đồ nói, — Quan Trung và Lương Châu thế cục bất ổn, đều do bỉ chức bất tài mà ra, nếu Thừa tướng muốn thay người khác, bỉ chức không còn gì để nói.
— Ai nói ông bất tài? — Mắt Tào Tháo chợt sáng lên, — Một người trung hậu như ông sao cũng bắt đầu học dùng mưu kế thế? Nói thẳng ra, ta muốn điều ông về triều tiếp nhận chức Thượng thư lệnh.
Nỗi lo lớn nhất của Chung Do cuối cùng cũng trở thành sự thực — Tào Tháo muốn bãi miễn Tuân Úc.
Mâu thuẫn giữa Tào Tháo và Tuân Úc không phải chỉ mới ngày một ngày hai, từ sau đại bại ở Xích Bích quan hệ giữa hai người ngày càng lỏng lẻo. Dù Tào Tháo tiếp tục tăng phong ấp, lại định gả con gái cho nhà ông ta, nhưng trên thực tế ngày càng xa cách. Ban đầu chỉ là do tư tưởng khác biệt trong việc trung với nhà Hán, giờ đây chiến bại khiến Tào Tháo hổ thẹn với Tuân Úc, lúc nào cũng cảm thấy không ngẩng nổi đầu trước mặt ông ta.
Đúng vào lúc này, huynh trưởng của Tuân Úc là Tuân Diễn đột nhiên lâm bệnh qua đời. Năm xưa Tuân Diễn nhậm chức Tổng đốc, giám sát việc quân ở Hà Bắc, có công lớn giúp Tào Tháo bình định Viên thị, nhưng sau khi nảy sinh mâu thuẫn với Tuân Úc, Tào Tháo sợ thế lực gia tộc của Tuân thị quá mạnh, nên nhân khi bắc chinh mà bãi miễn chức quan đó của ông ta. Dân chúng Nghiệp Thành truyền tai nhau, nói rằng sau khi bị bãi miễn, Tuân Diễn uất ức lâu ngày rồi chết, điều này càng khiến quan hệ giữa hai nhà Tuân, Tào lâm vào thế khó xử, thế là Tào Tháo bèn nảy ra ý định thay đối Thượng thư lệnh.
Thế nhưng uy quyền của Tuân Úc đã vô cùng vững chắc, cũng không dễ gì thay đối được, chỉ có thể chọn trong những lão thần có uy vọng trong triều. Luận về quan hệ, Đinh Xung là tốt nhất, nhưng người này đến nay ngoài uống rượu ra ngay cả những việc thuộc chức phận cũng chẳng buồn quản, đẩy cho ông ta gánh nặng như vậy, chắc chắc không đảm đương nổi. Nếu thay bằng Tuân Du, thì vẫn là gia tộc Tuân thị nắm quyền, không đạt được mục đích. Còn Giả Hủ chẳng khác nào quả trứng trơn tuột, đừng nói Tháo sợ mất thể diện không thể dùng ông ta, kể cả muốn dùng, chắc chắn ông ta cũng nghĩ trăm phương ngàn kế thoái thác. Chọn đi chọn lại, người từng tham dự việc triều chính, lại có thể được đa số mọi người tiếp nhận, chỉ còn lại Chung Do.
Chung Do đương nhiên không muốn tiếp nhận chức vị này. Luận về việc công mà nói, Tuân Úc xử lý chính vụ chưa từng có lỗi lầm, vô cớ thay đối ắt không có lợi cho việc nước. Luận về tình riêng, Chung Do và Tuân thị vừa là đồng hương lại là chỗ thâm giao, há có thể cướp chức quan của ông ta? Ông nghĩ vậy bèn vội vàng đứng dậy khước từ:
— Bỉ chức tài lược có hạn, chỉ có thể đảm đương quân vụ, không thể tọa trấn trung đài, xin Thừa tướng soi xét.
Tào Tháo rõ ràng bất mãn với Tuân Úc, nhưng vẫn tìm cớ nói tránh: — Ông chớ nên nghĩ nhiều, ta chỉ thấy lệnh quân quá đỗi vất vả, muốn để ông san sẻ với ông ấy.
San sẻ? San sẻ kiểu này thì khác gì để Tuân Úc ngồi chơi xơi nước! Chung Do trong lòng lo lắng, hấp tấp quỳ xuống nói: — Thừa tướng, lẽ nào ngài không niệm tình chuyện năm xưa ở Duyện Châu sao?
— Hả? — Tào Tháo không ngờ ông ta lại nói thẳng như vậy, bất giác ngẩn ra — Trong cuộc phản loạn ở Duyện Châu năm xưa, nếu không có Tuân Úc kiên cường cố thủ các huyện, e rằng bản thân Tào Tháo đã chết dưới tay Lã Bố rồi!
Chung Do liều lĩnh nói ra câu đó, cũng cảm thấy quá lời, bèn nhanh chóng tìm lý do biện bạch cho mình:
— Bỉ chức nhậm mệnh ở Quan Trung đã hơn mười năm, một lòng một dạ vì triều đình ổn định Tây cương, nay đám tặc khấu nhăm nhe nổi loạn, sao ngài nỡ điều bĩ chức hồi kinh? Dám mong ngài suy xét nỗi lòng của bỉ chức, thuận cho bỉ chức tiếp tục lưu nhiệm. — Nói đoạn chậm rãi khấu đầu — Chung Do không phải đám tục sĩ, bất luận thân phận, tuổi tác, danh vọng đều cao hơn nhiều so với đám duyện thuộc hầu hạ Tào Tháo, há có thể tùy tiện khấu đầu trước người khác?
Tào Tháo trầm mặc hồi lâu, cuối cũng đành miễn cưỡng gật đầu: — Ta biết rồi... vậy thì cứ để lệnh quân tiếp tục chủ trì triều chính.
Chung Do thở phào nhẹ nhõm, không dám nán lại thêm một khắc nào nữa: — Bỉ chức đường xa quất ngựa đã mệt, nếu Thừa tướng không còn việc gì sai bảo, vậy bỉ chức...
— Ông đi đi. — Tào Tháo cười nhăn nhó, — Ra khỏi cửa hãy quên chuyện này đi, tuyệt đối không được nói ra ngoài.
— Vâng. — Chung Do run rẩy đứng dậy, — Bỉ chức xin cáo từ.
Tào Tháo phẩy tay không khách sao nữa, ông đã sớm rơi vào trầm tư: Chung Do không chịu nhậm chức, vậy còn biết dùng ai đây? Kỳ thực Hoa Hâm, Vương Lâng, Mao Giới cũng không tồi, nhưng họ không phải người Dĩnh Xuyên, nếu cải nhiệm dùng bọn họ, thì sách lược dùng nhân sĩ Dĩnh Xuyên làm nòng cốt do Tuân Úc để ra trước đây sẽ phải thay đối toàn bộ, phải điều chỉnh cả trong triều lẫn ngoài triều. Sau khi đại bại ở Xích Bích, nhân tầm bất ổn, lúc này không thể gây biến động lớn như vậy được...
Chung Do chầm chậm bước ra ngoài điện, khẽ đưa tay lau mồ hôi tủa ra trên trán, đoạn bất giác quay lại nhìn Tào Tháo, thấy ông nét mặt đám chiêu, hai mắt tư lự, ánh lên một vẻ lực bất tòng tâm — Thời gian thấm
thoắt trôi qua, dù dung mạo không mấy đối khác, nhưng ông cũng không tránh khỏi bước chân của tuổi già.
Hai con tranh ngôi.
Chung Do rời khỏi mạc phủ, trở về dịch quán nghỉ ngơi, ngoài trời đã tối, đường dài bôn ba cũng đã mệt, bèn ăn đại khái qua bữa, rồi chẳng buồn tắt đèn, cứ thế chìm vào giấc ngủ.
Lúc chưa nằm xuống ông vẫn cảm thấy toàn thân rã rời, nhưng vừa đặt đầu xuống gối, tâm sự trong lòng lại dâng lên. Địa vị của Tuân Úc bất ổn, xem ra Tào Tháo nghĩ đến chuyện thay thế Thượng thư lệnh không chỉ mới một hai ngày, chỉ là vẫn chưa tìm được người thay thế thích hợp, lại không muốn người bên cạnh nói ông bạc đãi công thần, vì vậy mới gả con gái qua để cải thiện quan hệ. Thế nhưng, chút thành ý đó có thể khiến Tuân lệnh quân Hồi tâm chuyển ý không? Hôm nay ta viện cớ Quan Trung vẫn chưa ổn định để thoái thác, nhưng nếu một ngày nào đó Quan Trung an định, há có thể tránh né được nữa? Vừa không thể kháng lại mệnh lệnh, lại không thể Hổ thẹn với bằng hữu cũ, thực là nan giải...
Suy đi tính lại không biết làm sao, Chung Do thở dài nhắm mắt buông trôi tâm tư. Đang khi nửa tỉnh nửa mê, ông đột nhiên nghe thấy bên ngoài truyển lại tiếng bẩm báo của nô bộc: — Đại nhân đã nghỉ chưa ạ? Có khách muốn yết kiến.
Gần chìm vào giấc ngủ giờ lại bị quấy rầy, Chung Do thấy vô cùng phiền phức, nhưng trong mạc phủ có không ít bằng hữu cũ như Tuân Du, Mao Giới, không gặp thì cũng áy náy. Ông bèn ngồi dậy chỉnh lại y phục: — Vẫn chưa ngủ, mau mời khách vào nói chuyện!
Chung Do vừa thắt đai lưng vừa buộc lại tóc, hạ màn xuống nhìn, khách đã vào tới nơi, nhưng không phải là bạn hữu, mà là một người trẻ ngoài hai mươi tuổi, thần thái nho nhã, dung mạo tuấn tú.
— Công tử là...
— Tiểu điệt Đinh Nghi, đến bái kiến bá phụ.
— Không dám, không dám, công tử sao lại gọi ta là bá phụ? — Chung Do cảm thấy khó hiểu.
Đinh Nghi vô cùng cung kính, liên tục vái chào: — Vãn sinh là con của Bái quốc Đinh hiệu úy, lẽ nào không nên gọi ngài một tiếng bá phụ sao?
Thì ra là con của Đinh Xung, Chung Do lúc này mới vỡ lẽ, trong lòng có chút không vui: Trời đã tối còn đến làm phiền, cha ngươi còn được, chứ một kẻ vãn bối như ngươi thì hẳn có chút thất lễ. Trong đầu nghĩ vậy, nhưng ngoài miệng ông lại vui vẻ hàn huyên: — Ổ, thì ra là con của Ấu Dương, thời gian trôi qua nhanh quá, giờ đã lớn thế này rồi. Hiền điệt không ở Hứa Đô chăm sóc lệnh tôn, sao lại đến Nghiệp Thành này vậy?
— Tiểu điệt năm ngoái được Thừa tướng cất nhắc, hiện đang làm duyện lại trong mạc phủ.
— Vậy thì tốt quá! Đây mới là đường sĩ hoạn đúng đắn. — Chung Do nói vậy nhưng không nghĩ vậy — Đinh gia vốn qua lại thân thiết với Tào gia nên tất nhiên sẽ được chiếu cố, dù có tài cán hay không cũng đều có thể làm quan, điều này hẳn không công bằng với những sĩ nhân khác.
— Bá phụ dạy dỗ rất phải. — Đinh Nghi gật gật đầu, nheo mắt nói, — Bá phụ đường xa vất vả đến đây, tiểu điệt sợ dịch quán ăn uống sơ sài nên đã chuẩn bị một chút điểm tâm, mời bá phụ thưởng thức. — Nói đoạn vỗ vỗ tay, hai bộc nhân liền mang mấy hộp đồ ăn bước vào trong phòng. Chung Do vừa nhìn liền cảm thấy kỹ lạ: Các món chay mặn, nóng nguội đủ cả, đồ ăn thức uống toàn cao lương mỹ vị, có bào ngư, măng ngọt, nấm trúc tôn, gà trạc, ngoài ra còn có một vò rượu, xem ra cũng không phải loại thường. Bữa “điểm tâm” này hẳn không hề rẻ, ngay cả ngự yến của thiên tử cũng chỉ đến vậy.
— Hiền điệt sao lại đãi ta thế này?
Đinh Nghi mặt mày tươi rói, đáp: — Hiếu kính ngài là chuyện nên làm ạ.
— Ta đã dùng bữa rồi.
— Tiểu điệt vừa nãy đã hỏi kẻ hầu, ngài mới ăn một bát cháo thôi. Đường xa ngàn dặm, ngựa xe mỏi mệt, lão ngài lại phải gánh trọng trách triều đình, nên giữ gìn quý thể. Xin hãy thưởng thức một chút!
Chung Do càng cảm thấy kỳ quái: Tên tiểu tử này cớ sao lại dò hỏi
chuyện ăn ở ngủ nghỉ của ta?
Xem ra chuyện không hề đơn giản.
Đinh Nghi cầm đũa lên, cố dúi vào tay ông: — Bá phụ mau nếm thử, nếu bá phụ không ăn, tiểu điệt há chẳng phải mất công tốn sức?
Chung Do đã lờ mờ đoán ra: Tên tiểu tử này ắt có việc gì đó đến nhờ vả! Cũng được, niệm tình cha hắn, chỉ cần không phạm quốc pháp, giúp được thì giúp. Nghĩ vậy, ông cầm bát bào ngư lên nếm thử, quả nhiên mùi vị tươi ngọt, thơm ngon vô cùng, bèn húp cạn luôn, những món khác thì chỉ gắp lấy lệ một miếng, coi như đã thưởng thức qua. Còn rượu, ông không hề động đến.
— Bá phụ sao dùng ít vậy ạ?
Chung Do lau miệng đáp: — Lão phu đã đến tuổi biết thiên mệnh, thực lượng ít dần, uống một bát canh là đủ rồi... Ăn cũng ăn rồi, uống cũng uống rồi, có việc gì có thể nói thẳng ra rồi chứ?
Vẻ khiêm cung, thành khẩn trên mặt Đinh Nghi thoáng hiện lên nét giảo hoạt: — Bá phụ hiểu lầm rồi, không phải tiểu điệt có chuyện muốn nhờ. Tiểu điệt thân chỉ là một chức quan nhỏ, há có đủ tiền làm bữa yến này? Không giấu gì, là công tử Tào Tử Kiến của Thừa tướng nhờ tiểu điệt đến chăm sóc bá phụ.
— Ổ? ! — Chung Do suýt chút nữa nôn những thứ vừa nuốt ra ngoài — Chết rồi! Đấy không phải chuyện chơi, nhận khoản đãi của Tào Thực, nếu chẳng may bị truyền sang tai người khác, tất sẽ bị dị nghị rằng giao thiệp với công tử của Thừa tướng. Đinh Ấu Dương ơi Đinh Ấu Dương, gã quỷ rượu trời đánh, con của ông hại khổ ta rồi!
Đinh Nghi và đệ đệ là Đinh Dực từ bé đã giao hảo với Tào Thực, đều có tài văn chương thơ phú, nay đến Nghiệp Thành càng được Tào Thực tin tưởng, hình bóng không rời. Các quan viên mạc phủ đều biết chuyện này, duy chỉ mình kẻ ngoại lai là Chung Do không hay biết.
— Hiền điệt thực sự không nên như vậy. — Chung Do bắt đầu sa sầm, — Ta và công tử ưước nay chưa từng qua lại, lại đến đây vì có công vụ, há lại dám tự tiện giao thiệp?
Đinh Nghi híp mắt cười nói: — Qua lại bình thường cũng không thể coi là chuyên lớn. Ba vị công tử tôn trọng các lão thần trong triều, hay tin bá phụ đến Nghiệp Thành, bèn lệnh cho tiểu điệt đến bái kiến, chỉ là muốn tỏ lòng hiếu khách, quan tâm đến bá phụ thôi.
Ai quan tâm đến ai chứ? Làm quan cả một đời, Chung Do há lại không hiểu họ đang muốn điều gì? Năm ngoái Tào Tháo vừa mất đứa con yêu quý Tào Xung, sau này vẫn chưa thể đoán ai sẽ được thừa tự, nếu có một ngày Tào Tháo triệu tập quần thần hỏi rằng “Trong số các con của ta, đứa nào giỏi nhất” , đến lúc đó biết trả lời sao đây? Ăn lộc của người ta rồi, tất phải báo đáp chứ!
Đinh Nghi vẫn không ngớt lời tán tụng Tào Thực: — Bá phụ có lẽ không biết, tam công tử phẩm mạo xuất chúng, tài đức lưỡng toàn, văn chương thơ phú lại rất được Thừa Tướng yêu thích, văn sĩ Nghiệp Thành ai ai cũng tán thưởng, quan lại trong phủ đều nói ngài ấỵ là một vị Hiền công tử... — Hắn vừa nói vừa hấp háy mắt, biểu cảm này lại càng khiến Chung Do phản cảm — Kỳ thực Chung Do chưa biết, có lẽ do Đinh Xung tham rượu nên để xảy ra chuyện, Đinh Nghi từ nhỏ mắt đã có vấn đề, đặc biệt là mắt phải rất nghiêm trọng, không hấp háy mắt thì chẳng thể nhìn rõ, tật ách này không chỉ vô phương cứu chữa mà còn vì nó mà chịu rất nhiều thiệt thòi. Ban đầu Tào Tháo niệm tình cũ muốn đem con gái gả cho Đinh Nghi, khi nói đến chuyện này Tào Phi tình cờ đang ở ngay cạnh, Tào Phi không muốn tâm phúc của Tào Thực trở thành con rể Tào gia, bèn thêm mắm dặm muồi kể lại việc Đinh Nghi có tật mắt, Tào Tháo thở dài tiếc nối, việc thành thân cũng bị dẹp bỏ. Sau chuyện này mối thù ghét giữa Đinh Nghi và Tào Phi lại càng sâu đậm.
Chung Do đưa mắt nhìn vị “hiền điệt” đang nháy mắt chau mày, trong lòng cảm thấy đáng ghét vô cùng, chỉ vì thể diện của cha con Tào Tháo nên không buông lời trách mắng, thầm tự nhủ rằng đến Hứa Đô ắt sẽ đến chỗ cha hắn mắng vốn! Nhưng trước mắt nên xử sự thế nào với vị tam công tử kia đây? Xét cho cùng, Chung Do cũng là người từng trải, trong nháy mắt đã nảy ra một ý, cười khà khà ngắt lời hắn: —Hiền điệt đã nói khẩn thiết như thế, vậy ý tốt của tam công tử lão phu xin lĩnh nhận, tuy nhiên cũng nên có qua có lại cho hợp lẽ thường tình. Hiền điệt nói tam công tử ưa thích phong nhã, vậy thì thế này, lão phu viết một bức chữ tặng cho công tử, hiền điệt thấy vậy được không?
Nét chữ khải của Chung Do được coi là nhất tuyệt, nổi danh không kém chữ triện của Lương Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất sắc — Đây rõ ràng là không muốn nợ ơn người khác! Viết chữ xong thì bữa cơm này coi như hòa vốn, nhưng cũng không thể ngăn ông ta viết, bèn cười vẻ khó xử: — Không còn sớm nữa, bá phụ nên giữ gìn quý thể...
— Viết chữ có gì mệt chứ? — Chung Do nói vẻ bề trên, — Lẽ nào công tử coi thường chữ của ta?
— Không không không, chữ của lão ngài ai dám coi thường ạ?
Chung Do gật gù bước đến bên án, rút ra một tờ giấy Sái hầu5lớn, bút mực của dịch quán đều đã có sẵn, nhưng nên viết gì đây? Viết lời hay ý đẹp thì khác gì nịnh bợ, lại lọt vào bẫy của họ, truyền ra ngoài càng không hay. Nghĩ đi nghĩ lại, ông nảy ra một ý: Nửa đêm còn đến quấy nhiễu, vậy ta cũng không khách khí nữa, dứt khoát để vị công tử này hổ thẹn chút xem sao! Viết một đoạn Hiếu Kinh, để hắn bỏ công suy xét:
Này đây, hiếu là căn bản của đức, do giáo dưỡng mà thành. Thân thể, hình hài, tóc tai, da thịt là do phụ mẫu ban cho, không được gây tổn hại là nết đầu của hiếu. Sau lo lập thân, hành đạo để lại tiếng thơm cho đời là nết cùng của hiếu. Này đây, hiếu lấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu, kế đến thờ vua, sau rốt là lập thân.
Viết mấy câu này chỉ để đối phó, điều này cũng khiến Chung Do cảm thấy phiền hà, nên đành viểt đại khái ra vậy! Khua tay múa bút một Hồi bèn đưa cho Đinh Nghi: —Phiền hiền điệt tặng vật này cho công tử, coi như là thành ý của lão phu.
— Tạ ơn bá phụ đã tặng chữ, tiểu điệt nhất định sẽ xin công tử treo trên chính đường. — Đinh Nghi vẫn phải cảm tạ.
Chung Do vờ ngẩng đầu nhìn ra bên ngoài: — Trời đã muộn rồi, trên đường về nhớ cẩn thận, tuổi còn trẻ cũng không nên thức đêm, không tốt cho sức khỏe. — Đinh Nghi vẫn chưa cáo từ, ông đã tuôn một tràng tiễn khách.
— Vâng. — Đinh Nghi không còn cớ nán lại, đành gọi người hầu vào dọn dẹp rồi đứng dậy cáo từ, nhưng vẫn không cam tâm, — Tiểu điệt về nhất định sẽ đưa bức chữ này cho công tử. Nhưng bá phụ lâu rồi mới có dịp đến Hà bắc, nếu muốn dạo quanh ngắm cảnh, tam công tử có thể đi cùng.
— Được, xin đa tạ công tử trước, đến lúc đó phải làm phiền rồi. — Nói là vậy nhưng Chung Do đã có chủ ỷ, từ ngày mai sẽ chẳng đi đâu cả.
Đinh Nghi không biết làm sao, đành cẩn thận giữ lấy bức chữ nét mực còn chưa khô, đến gần cửa mới chợt nhớ vẫn chưa xem bức chữ viết gì, vừa đọc liền cảm thấy vô cùng ngần ngại: Công tử sắp hai mươi tuổi rồi, vậy mà ông còn giảng Hiếu Kinh, đây chẳng phải là châm chọc hay sao? Vị bá phụ này thật thâm sâu khó lường! Nhưng Đinh Nghi vẫn chưa liệu được rằng, hắn và vị bá phụ thâm sâu khó lường này hết sức hữu duyên, sau này những tháng ngày đấu trí đấu pháp hẵng còn rất dài.
Tiễn Đinh Nghi đi rồi, Chung Do bất giác lo lắng, làm như vậy liệu có được không? Nếu Tào Thực thẹn quá hóa nộ, dâng lời xàm tấu, liệu Tào Tháo có tin theo? Ông nghĩ đi nghĩ lại chợt thấy buồn ngủ, ngáp ngắn ngáp dài, cơm đã ăn rồi, chữ cũng cho rồi, chỉ nghĩ thôi cũng chẳng giải quyết được gì, ngả lưng đi ngủ vậy. Nhưng gối chưa kịp ấm đã lại nghe thấy người bên ngoài bẩm báo: — Đại nhân, có khách đến thám.
— Ai thế? — Chung Do hơi thấy bực dọc.
Có tiếng ai đó vừa cười vừa đáp: — Làm phiền Chung công rồi, bỉ chức là trung quân giả tư mã Chu Thước, phụng lệnh đại công tử Tào Tử Hoàn đến bái kiến lão ngài ạ. — Người của Tào Thực vừa đi khỏi, người của Tào Phi đã tới.
Đoán chắc rằng người này cũng đến nịnh nọt để cầu mỹ ngôn trước Tào Tháo, Chung Do không muốn tốn lời nữa: — Tạ ơn ý tốt của công tử, cũng làm phiền đại nhân vất vả. Nhưng lão phu vạn dặm đường xa, bôn ba đã mệt, xin phép được nghỉ ngơi.
— Chung công không cần khách sáo. Nếu ngài thấy bất tiện, tại hạ xin quay về. Ngày mai sẽ mời công tử tự đến bái vọng.
— Không dám! — Chung Do lập tức nguôi giận, vội vã nhỏm dậy, —
Đại nhân xin mời vào. — Nếu hắn mời Tào Phi đến thật thì lại càng phiền phức, chẳng thà gặp hắn còn hơn.
Cửa phòng đã mở, Chu Thước mặt cười nhăn nhở bước vào. Chung Do nhìn thấy trong lòng thắc mắc — Kẻ này thấp bé, khô gầy, đầu dơi mắt chuột, nào có giống tướng quân? Nhưng tướng lĩnh trung quân nếu không phải thân tín của Tào thị ắt không dám vượt quá phép tắc, Chung Do cũng miễn cưỡng mở lời: — Đa tạ đại nhân quan tâm, dám hỏi công tử lệnh cho đại nhân đêm hôm đến thăm là có việc gì?
Chu Thước không hề đáp lời, chỉ ngoảnh ra sau vẫy vẫy tay: — Các ngươi đâu, mau bê vào! Mau bê vào! — ngay sau đó có hai tên lính khệ nệ bê vào một cái hòm, Chu Thước tự mình mở ra. Bên trong chất đầy hàng xấp Thục gấm, vừa nhìn là biết sản vật do Ích Châu tiến cống.
Chung Do giật mình, hỏi: — Ngài, ngài đây là có ý gì?
— Chung công đường xa đến đây, công tử mấy ngày nay đang bận chuẩn bị hôn sự với Tuân gia nên không ghé thăm, lệnh cho tại hạ mang đến để bày tỏ thành ý.
— Không dám, không dám. — Đây khác gì hối lộ? Chung Do uống một bát canh của kẻ khác đã cảm thấy bất an, tặng quà lại càng không dám nhận.
Chu Thước sớm đã chuẩn bị sẵn lời lẽ: — Đại nhân không cần phải nghĩ nhiều, đây là món đồ thừa lại khi chuẩn bị giá trang. Thừa tướng đã dặn trước công tử, nếu thừa thì phải chia ra tặng cho các đại thần nguyên lão. Ngài chỉ việc lĩnh nhận, Thừa tướng sẽ không trách tội.
Nói thì như vậy, nhưng rốt cuộc vẫn là bị người ta nắm đằng chuôi, Chung Do cau mày đáp: — Bản quan gia tài sung túc, không thiếu những thứ này...
— Chung công chê ít sao?
— Không không không! Chung Do liên tục xua tay, —Ta bảo rằng gia tài đầy đủ, Thừa tướng cũng thỉnh thoảng quan tâm đến. Chắc hẳn trong phủ công tử vẫn có không ít nhân sĩ hàn vi, xin hãy tặng lại cho họ.
— Ây dà, Chung công tất nhiên không thiếu những món đồ này, nhưng
cái quan trọng là tấm lòng, công tử thực dạ ngưỡng mộ tài năng của ngài mới tặng chút quà biểu lộ lòng thành. Hơn nữa Chung công và Thừa tướng tuổi tác ngang nhau, thân phận đại công tử có cao đến mấy cũng là vãn bối, hiếu kính ngài vốn là việc nên làm. Nếu ngài không nhận há chẳng phải gạt bỏ ý tốt của công tử ư?
— Ây dà... — Chung Do thực sự khó xử, nhận thì không được, nhưng không nhận thì quan hệ với Tào Phi lại lâm vào thế khó xử, nửa đêm rồi mà vị tư mã này còn mang một đống đồ đến đây khoa trương ầm ĩ, truyền ra bên ngoài càng khiến người ta nghị luận, làm sao bây giờ? Đột nhiên nảy ra một ý — Chung Do trấn giữ Quan Trung thu được một mảnh ngọc Lam Điển vô cùng đẹp đẽ, ông rất yêu thích, còn mời thợ giỏi đến để chạm khắc thành ngọc bội đeo ở bên thân. Hôm nay để ứng phó với cục diện này, ông bèn cắn rãng lấy ra: — Gấm Thục ta sẽ nhận, tuy nhiên xin tặng lại miếng ngọc này cho công tử để bày tỏ lòng cảm ơn. — Nói đoạn liền nhét vào tay Chu Thước.
Chu Thước có con mắt tinh tường, trông thấy miếng ngọc trắng tinh khôi ẩn hiện ánh vàng, chạm trổ điêu luyện, sờ vào mịn mượt, trơn mát như mỡ dê — Đáng giá hơn nhiều so với gấm Thục! Rốt cuộc là ai hối lộ ai đây? Lắn này đến lượt hắn khó xử: — Thế này, thế này sao được...
Chung Do vuốt râu cười nói: — Công tử ngưỡng mộ lão phu như vậy, lão phu cũng rất quý trọng công tử. Ta thân làm trưởng bối há có thể kém cạnh vãn bối chứ? Công tử không nhận, há chẳng phải không nể mặt già của ta? — Đây gọi là gậy ông đập lưng ông.
Chu Thước vốn thông minh lanh lợi, nhưng lần này cũng lắp ba lắp bắp: — Tại hạ vốn đến tặng đồ, há có thể...
Chung Do sa sầm sắc mặt: — Lẽ nào công tử không chê ghét lão phu, đại nhân ngài lại coi thường lão phu chăng?
— Không dám! Đã như vậy thì... tại hạ mang về đưa cho công tử. — Chu Thước vẫn không nản lòng, tiếp tục nói, — Hay tin Chung công vài ngày nữa nhập triều, vừa hay công tử cũng đến Hứa Đô thành thân, chi bằng cùng đi với nhau, trên đường còn có thể tiện bề chăm sóc lẫn nhau. Ngài và Thừa tướng, lệnh quân hai nhà đều có mối giao hảo thân tình, giúp đi đón dâu
mọi người hẳn sẽ mát mặt.
Chung Do ậm ừ cho qua: — Ta phải thương lượng với Thừa tướng đã. — Nói xong, ông cố ý ngáp dài một cái.
Chu Thước hiểu ông muốn đuổi khách, bèn giả lả nói: — Trời không sớm nữa, tại hạ xin cáo từ. Nếu Chung công muốn đi quanh Nghiệp Thành quan lãm tiêu khiển, có thể nói với công tử, công tử tất sẽ đáp ứng. — Lại là chiêu này!
— Được được được, — Chung Do cũng chán không buồn nói thêm nữa, — Đại nhân đường về cẩn trọng, lão phu y phục bất tiện, xin đành thất lễ.
— Ngài hãy nghỉ ngơi... — Chu Thước gật đầu khom lưng vái chào.
Đuổi được Chu Thước, Chung Do không lên giường nằm mà ngồi luôn ở bên án — Nếu như nhị công tử Tào Chương phái người đến, vậy sẽ đỡ phải lật đật ngồi dậy.
Ông đợi quá một canh giờ, đã đến canh ba mà vẫn chưa có động tĩnh gì, lúc này mới yên tâm nằm xuống. Binh đến tướng chặn, nước lên đất ngăn, phiền hà cả đêm Chung Do sớm đã mất giấc, đành cố nhắm mắt nghỉ ngơi. Trong lòng lại càng cảm thấy bất an: Tào Phi và Tào Thực thay nhau phái người đến, hết dâng đồ ăn lại biếu gấm lụa, là có dụng ý gì không cần nói cũng hiểu. Ngay cả một kẻ ngẫu nhiên ghé đến như ta mà cũng quan tâm rào đón như vậy, không biết quan viên Nghiệp Thành họ còn lôi kéo đến mức nào đây! Với thân phận là một ngoại thần, liệu có nên quá thân thiết với bọn họ? Nếu như Tào Tháo thực sự không buồn để tâm đến những việc làm của họ, vậy cớ sao họ lại không tự mình làm? Đã nhờ kẻ khác làm thay thì chắc chắn là có dã tâm! Không được, tuyệt đối không thể cùng Tào Phi đồng hành về kinh.
Trằn trọc băn khoăn, thần thức bất an, Chung Do không chịu được nữa, ngồi dậy kêu lớn: — Người đâu, người đâu!
Ông gọi liền vài tiếng mới có một tên nô bộc ngáp ngắn ngáp dài, vào phòng cung kính hỏi: — Đại nhân sai bảo gì ạ? — Trằn trọc cả đêm đến kẻ hầu người hạ cũng đã ngủ rồi, nghe thấy chủ gọi mới vội vã chạy vào, y phục
vẫn còn xộc xệch.
— Thu dọn hành lý. Trời hửng sáng ta sẽ đến gặp Thừa tướng cáo từ, lập tức khởi hành đến Hứa Đô.
— Dạ? Gấp vậy sao. Đại nhân tuổi tác đã cao, xin hãy giữ gìn quý thể. — Kêu ngươi dọn thì mau đi dọn. Không cần nhiều lời.
— Xin vâng. — Tên nô bộc không dám cãi lại, ngáp ngắn ngáp dài đi thu dọn hành lý, sắp xếp xe ngựa, đêm nay vậy là không được ngủ rồi, trong lòng thầm oán trách: Ngài không ngủ được cũng chẳng cho chúng tôi ngủ, hẳn là ban tối ăn nhiều không tiêu hóa được, bụng dạ khó chịu đây mà!
CHƯƠNG 2: HỐI LỘ QUYỀN THẦN, TÀO PHI THẤT SÁCH.
Cờ kém nửa chiêu.
Tào Tháo tạm gác việc quân, tập trung tâm trí vào việc xây dựng Nghiệp Thành. Chỉ trong vòng vỏn vẹn nửa năm, không những phố xá được tu tạo hoành tráng mà ngay cả việc mở rộng mạc phủ cũng cơ bản hoàn tất. Phủ đệ rộng lớn chiếm gần hết một phần năm Nghiệp Thành, to hơn cả hoàng cung Hứa Đô, cả một quần thể kiến trúc được cấu thành từ hai sân viện đông tây, bố cục hai bên không khác nhau là mấy, nhưng tây viện chỉ mở khi có đại hội quần liêu, còn Tào gia ăn ở sinh hoạt đều ở đông viện, những việc chính cũng đều xử lý tại đây.
Để phô trương sự tôn quý của Tào Tháo, từ cửa chính đến Thính Chính đường nơi ông xử lý các công việc thường nhật tổng cộng được dựng bốn cửa nghi môn, mỗi cửa đều có vệ binh canh phòng nghiêm ngặt, quy cách như vậy còn cao hơn cả thiên tử. Cửa phủ phía ngoài cùng của đông viện có tên là “Tư Mã môn” , chỉ mình Tào Tháo thường ra vào, nếu không có lệnh thì tuyệt đối không được mở, nhân vật dù cấp phẩm cao đến mấy cũng phải đi cửa ngách bên cạnh. Đãi ngộ khác biệt như vậy, chỉ e cũng không khác gì so với thiên tử!
Một trưa nọ, cánh cửa Tư Mã thường ngày đóng chặt nay đột nhiên mở ra, nhưng người đi ra không phải là Tào Tháo mà là một viên duyện lại mới ngoài ba mươi tuổi.
Người này chức quan không cao, nhưng thân hình bệ vệ, tướng mạo xuất chúng, cử chỉ toát lên vẻ hào quý, ắt phải là một nhân vật rất được Tào Tháo sủng ái mới có đặc quyền ra vào cửa Tư Mã như vậy. Sau lưng người đó còn có mấy tên bộc dịch khệ nệ khiêng một chiếc hòm lớn, cũng không biết chứa thứ gì. Nhưng vào lúc này, viên duyện lại kia vẻ mặt dường như chẳng có gì là dương dương đắc ý, trái lại còn có vẻ buồn bã, chắp tay sau lưng đứng trước cửa rất lâu sau mới chầm chậm qua đường.
Trên con đường lớn đối diện với mạc phủ, hai góc đông tây đều dựng vài căn viện lạc, vừa giống quan nha lại giống phủ đệ, trong đó có hai tòa Tào Tháo đã ban cho Tào Phi và Tào Chương. Hai vị công tử này đều đã thành hôn, thê tử Tào Phi là Chân thị, thê tử Tào Chương là Tôn thị, nếu như vẫn ở cùng một chỗ với phụ thân, nữ quyến thường ngày ra vào sẽ không thoải mái. Hơn nữa, mạc phủ xây dựng trước đó không lâu cư trú bất tiện,
Tào Tháo bèn cho họ dọn ra ngoài ở, mỗi sáng vào thỉnh an là được.
Lộ tây là phủ đệ của Tào Phi, lộ đông là của Tào Chương. Duyện lại kia không hề do dự đi đến bên mé tây, gật gật đầu với tên lính gác, sau đó liền bước chân lên thềm đá — Người này thường ngày qua lại đến mức ngay cả đám lính gác cổng cũng đã quen mặt. Nhưng đương lúc người này bước chân vào trong, bỗng nhiên nghe thấy một tiếng gọi lanh lảnh cất lên từ phía sau: — Đậu Phụ! Ngươi lại mang món đồ quý giá gì cho Tử Hoàn vậy?
Duyện lại này nghe thấy có người gọi tên mình, vội vã quay đầu lại, trông thấy một vị công tử thân thể tráng kiện, đầu đội mũ võ biền, người mặc nhung trang, râu vàng rậm rạp, đang đĩnh đạc bước ra từ trong phủ đối diện — chính là Tào Chương.
Đậu Phụ vội chạy xuống dưới thềm, cúi đầu thi lễ: — Thì ra là nhị công tử. — Ngẩng đầu nhìn lại, phía sau Tào Chương là mười mấy tên bộc đồng, kẻ thì dắt ngựa, kẻ thì vác cung, kẻ thì cầm bẫy chim, còn có kẻ dắt theo cả chó, trông trận thế này là biết chuẩn bị đi săn.
Tào Chương cười ha hả bước đến gần, bước quanh chiếc hòm kia, rồi cất lời hỏi: — Các ngươi thật là, có đồ hay ho không mang đến cho đại huynh thì cũng mang đến cho tam đệ, không coi ta ra gì phải không?
Đậu Phụ biết đó là lời trách đùa, cười đáp: — Công tử chớ nghĩ vậy, đây là đồ Thừa tướng sai tiểu nhân mang qua, không phải tại hạ tự tặng. Mấy hôm trước có vị bằng hữu từ Kinh Chấu gửi đến hai miếng ngọc đẹp, vẫn chưa chạm trổ, nếu công tử không chê, hôm khác tiểu nhân xin tặng công tử một miếng.
— Được rồi. — Tào Chương phẩy tay, — Ai thèm để ý đến mấy món đồ dởm của ngươi? Hôm khác sang phủ của ta uống một trận đã đời là được! Ngươi và đại huynh ta đang trù tính gì, chớ tưởng ta không biết, tam đệ và đám Đinh Nghi cũng không phải có mắt không tròng. Tưởng rằng ngôi vị của phụ thân hay ho thế sao? Ai phải chịu khổ người đó tự biết, ta cũng không thèm tranh với họ!
Chỉ cần có rượu để uống, có thú để săn là sống vui rồi. Nếu có cơ hội thì xông pha chiến trường vài trận, vậy là sung sướng!
— Hì hì hì, nhị công tử thật phóng khoáng.
— Ngươi chớ cười, ta biết các ngươi chê ta dung tục, nhưng lại không biết rằng kẻ dung tục chính là các ngươi, muốn sống được như ta há lại dễ sao! — Tào Chương nói xong nhảy phắt lên ngựa, quất mạnh một roi, con ngựa lập tức tung vó phi thẳng, đám nô bộc cũng lập tức đuổi theo — Vị công tử này cũng thật ngông cuồng, không nghe lời phụ thân quản giáo, dám phi ngựa khoa trương ngay trong thành!
Đậu Phụ lắc đầu rồi lại gật đầu: Người ta nói cũng có lý, rốt cuộc là ai không thể thoát khỏi những điều dung tục tầm thường? Hắn nghĩ mãi không biết phải làm sao, đành bước vào cửa bên tiếp tục việc làm “dung tục”.
Sở dĩ vị Đậu tiên sinh này nhận được sự sủng ái của cha con Tào Tháo có nguyên do đến từ thân thế của hắn. Tổ phụ của Đậu Phụ chính là Đậu Vũ, đại tướng quân ngoại thích dưới triều Linh Đế năm xưa, và là một trong “ba người thuộc nhóm đảng nhân” (Lưu Thục, Đậu Vũ, Trần Phồn). Năm xưa Đậu Vũ và Thái phó Trần Phồn giúp Linh Đế đăng cơ, ý muốn tru diệt gian tặc phục chấn triều cương, nhưng lại bị đám hoạn quan Tào Tiết, Vương Phủ phá hoại, giật dây thiên tử phát động chính biến, khiến cho đảng nhân và thái học sinh gặp họa diệt môn. Gia tộc Đậu thị bị sát hại, chỉ còn lại một mình Đậu Phụ sống sót. Lúc đó hắn mới chỉ hai tuổi, cũng may đệ đệ của thái úy tiên triều Trương Ôn là Trương Sưởng mua chuộc quân sĩ đem Đậu Phụ ra ngoài phủ, giao cho viên cố lại của Đậu thị là Hổ Đằng mang đến Kinh Châu ẩn náu. Để che mắt người ngoài, Hổ Đằng giả vờ đó là con của mình, đối sang họ Hổ, một lòng một dạ dạy dỗ nên người. Mãi đến khi thiên hạ chiến loạn, nhân sĩ đồng đảng là Lưu Biểu đến Kinh Châu nhậm chức Thứ sử, Đậu Phụ mới phục hồi họ cũ, xét hiếu liêu, trở thành mạc liêu trong phủ Trấn Nam Tướng quân.
Hai năm trước Lưu Tông hàng Tào, Đậu Phụ chuyển về dưới trướng Tào Tháo. Tào Tháo niệm tình hắn là hậu duệ của trung thần nên rất mực trọng thị, hắn cũng cúc cung tận tụy. Đặc biệt là trong những ngày đau buồn, ủ dột sau khi đại bại ở Xích Bích, hắn và Tào Phi cùng dốc lòng hầu hạ Tào Tháo, không chỉ giành được thiện cảm của Tào Tháo mà còn kết nên mối giao tế hoạn nạn cùng Tào Phi. Bề ngoài hắn với Tào Phi một kẻ là duyện thuộc, một người là công tử, nhưng những lúc riêng tư lại là bằng hữu,
không chuyện gì không chia sẻ cùng nhau. Vì mối quan hệ đó, trong cuộc giành ngôi kế vị giữa hai công tử, hắn đương nhiên toàn tâm toàn lực ủng hộ Tào Phi.
Đậu Phụ không phải là kẻ hạnh tiến, thường ngày xử lý công việc cũng rất công chính vô tư, nhưng trước mặt Tào Tháo lúc nào cũng nói lời hay ý đẹp về Tào Phi, Tào Tháo cũng vui vẻ nghe hắn nói. Nhất là sau khi Tào Phi chuyển ra khỏi mạc phủ, không thể thường xuyên ở bên phụ thân như Tào Thực, tầm quan trọng của Đậu Phụ lại càng hiện rõ. Bất cứ động tĩnh gì ở mạc phủ, hắn đều chạy đến nói với Tào Phi.
Lúc này hắn đến cánh cửa thứ hai, đám người hầu của Tào Phi nhất loạt ùa ra, vừa thi lễ vừa cười góp: — Đậu đại nhân, lúc nãy công tử vừa nhắc tới ngài đó.
Thứ Đậu Phụ mang tới hôm nay không phải tin tức gì tốt lành, hắn sầm mặt hỏi: — Công tử có ở đây không?
— Công tử đang ở trên sảnh đường tiếp khách, không cho chúng tại hạ qua.
— Ta lên đó không sao chứ?
— Ngài nói gì vậy, người khác không vào được chứ ngài thì vô tư lự! Dám cản bước lão ngài, chẳng may công tử biết được, lại chẳng đánh gãy chân chúng tại hạ?
Đậu Phụ không có tâm trí nghe chúng nịnh bợ, cùng đám bộc dịch đi thẳng vào trong, vừa đi vài bước đã loáng thoáng nghe thấy tiếng trách móc vọng ra từ trên sảnh đường, hẳn là Tào Phi đang nổi trận lôi đình. Hắn lập tức dừng bước, quay đầu nói với đám bộc dịch: — Cứ để tạm đây, lát nữa ta gọi người của công tử đến nhận, các ngươi về đi. — Hai tên bộc dịch là người của mạc phủ, không thể để chúng nghe được quá nhiều.
Đuổi xong hai tên bộc dịch, Đậu Phụ bước nhanh lên sảnh đường, vừa vào liền trông thấy Tào Phi đang mặc tiện phục, không ngại lớn tiếng mắng nhiếc. Trước mặt Tào Phi là Chu Thước đang quỳ dưới đất, dường như vừa làm hỏng việc đang phải thỉnh tội, dãy ghế phía đông có ba người ngồi — Một vị trạc tuổi Tào Phi, thân mặc gấm lụa, dung mạo đoan quý, chính là
cháu của Chinh Lỗ Tướng quân Lưu Huân, tên Lưu Uy; một người đã qua tuổi nhi lập, dáng vóc thấp lùn, dung mạo tầm thường, nhưng trên thực tế đó lại là mưu sĩ mà Tào Phi tin tưởng nhất, tên Ngô Trí; cuối cùng là một người trẻ tuổi, diện mạo thanh tú, cử chỉ nho nhã, khóe miệng hơi cười. Đậu Phụ thấy người này lạ mặt, nghĩ mãi mới nhớ ra, thì ra là viên Lệnh sử mới vào mạc phủ cách đây không lâu, là con của lão thần Tư Mã Phòng, nhị đệ của Huyện lệnh huyện Thành Cao Tư Mã Lăng, tên Tư Mã Ý. Đậu Phụ bất giác cảm thấy kỳ lạ: Ta cùng Lưu Uy, Ngô Chất đều là bằng hữu thân cận của công tử, những việc cần bàn luận thường không để lọt ra ngoài, tên tiểu tử này cũng được tham dự từ khi nào mà ta không biết?
— Đậu huynh cuối cùng cũng đến rồi! Có tin tức gì không? — Lưu Uy tính hay sốt ruột, mắt bé ti hí, giọng thì sang sảng.
— Nhỏ giọng một chút. — Đậu Phụ trừng mắt nhìn hắn, — Cách tám dặm còn nghe thấy ngươi nói, chẳng giấu được gì cả! — Câu này rõ ràng là nói với Lưu Uy, nhưng thực ra là nói với Tào Phi.
Tào Phi hơi nguôi cơn giận, quay ra chỉ thẳng vào mặt Chu Thước, giọng chì chiết: — Ngươi hiến kế gì cho ta? Chọn đồ đem đi tặng người ta, khoa trương đến nỗi ai ai cũng biết ta muốn mưu làm thái tử, có khác gì hối lộ? Ta biết giấu mặt mũi đi đâu chứ!
Chu Thước cúi đầu, trong lòng thầm nghĩ: Kế của ta không cao minh, nếu ngài cao minh thì đừng có nghe theo, nghe theo rồi lại quay ra oán trách ta! Nghĩ là vậy nhưng ngoài miệng lại nói: — Tại hạ cũng vì nghĩ cho công tử, thành tâm nhưng lại hỏng chuyện thôi ạ.
Ngô Chất cười nói: — Những kẻ lang y tầm thường lỡ hại chết người, nào có ai là không có ý tốt? Ngươi không có tài bày mưu tính kế, sau này đừng đổ thêm dầu vào lửa. Công tử xin chớ để tâm, chuyện như thế này cũng chưa là gì. Hơn nữa chẳng phải tam công tử cũng phái Đinh Nghi đi nhờ cậy khắp nơi sao? Ai trong đầu cũng đều có chiêu số cả, cùng lắm chúng ta chỉ thua nửa chiêu thôi. — Ngô Chất mấy ngày trước ra ngoài công cán, Chu Thước mới có dịp gây ra họa này, nếu như có hắn ở đây, tuyệt đối sẽ không để Tào Phi làm chuyên ngốc nghếch.
Tào Phi vẫn không ngớt nhiếc móc: — Chuyện này giờ trong thành
ngoài thành ai cũng biết, nếu để phụ thân biết được thì phải làm sao?
— Thừa tướng đã biết rồi. — Đậu Phụ chỉ vào chiếc hòm đang để ngoài cửa, — Hòm gấm Thục này chính là Thừa tướng sai tại hạ mang về.
— Sao cơ? — Tào Phi thất kinh, — Sao lại lọt đến tay phụ thân ta?
— Tây tào duyện Thôi Diễm giao nộp, nói rằng có người ở phủ ngài đến tặng quà, ông ta không dám nhận, người mang tặng cứ đặt đó rồi đi mất. Ông ta không biết phải làm sao, đành trực tiếp giao cho Thừa tướng.
Tào Phi mặt mày trắng bệch, quay đầu gằn giọng mắng Chu Thước: — Ngươi sai ai đến tặng Thôi Diễm quà, sao lại bất cẩn đến thế!
Chu Thước bạo miệng đáp: — Không sai ai đến cả, chính tại hạ tự đem đến tặng.
—Tốt! Tốt lắm! — Tào Phi tức nổ đom đóm mắt, — Rốt cuộc là ngươi giúp ta hay hại ta?
Chu Thước ấm ức nói: — Tại hạ chẳng làm gì quá đáng cả, là do tên Thôi Diễm tính tình kỳ quái, tại hạ nói vã bọt mép ông ta cũng không chịu nhận, đành cứ đặt đó rồi đi. Hơn nữa đâu chỉ có mình ông ta không nhận, nhưng nào có ai không biết cư xử như ông ta chứ, còn tự đem đồ đến chỗ Thừa tướng, đây chẳng phải là cố ý mách tội của công tử sao!
Đậu Phụ lại nói: — Ngươi còn dám nói rằng kẻ khác không tốt, Thôi Quý Khuê biết rõ là ngươi làm nhưng lại không nhắc đến tên ngươi, rõ ràng có ý che chở. Thừa tướng muốn chính thức ban hòm đồ này cho nhưng ông ta vẫn không chịu nhận, lúc đó mới lệnh cho ta mang trở về. Thôi đại nhân có chỗ nào không công đạo chứ?
Ngô Chất cũng không kìm nổi, nói: — Quân tử hoài đức, tiểu nhân hoài huệ6. Giống như Chung Nguyên Thường, Thôi Quý Khuê cũng là một bậc trí sĩ đạo đức, ngươi tặng đồ cho ông ta có khác gì vả vào mặt ông ta? Chỉ có những kẻ vô lại tép riu mới nhận thôi.
Chu Thước không dám cãi lại Tào Phi, nhưng nghe đám người kia nói thì vô cùng không phục: — Chớ nói việc này, ngay cả tiên triều cũng có lúc mua quan bán tước, hối lộ công khai đấy thôi.
Ngô Chất thấy hắn vẫn còn ngoan cố, bèn tiếp tục trách móc: — Ngươi đúng là đã dốt còn bảo thủ, điều hay ho thì không học, toàn học những thứ tai bay vạ gió. Công khai hối lộ, bán tước mua quan, triều đình như vậy từ trên xuống dưới đều là vô lại!
Tào Phi nhíu mày nhăn mặt: — Nói những thứ này làm gì, thái độ của phụ thân ta thế nào?
Đậu Phụ thở dài đáp: — Thừa tướng chẳng nói chẳng rằng, chỉ bảo tại hạ mang đồ về cho ngài.
— Phụ thân không nổi giận?
— Thưa, không.
Dù như vậy nhưng Tào Phi vẫn thấp thỏm không yên, chiêu này của phụ thân còn lợi hại hơn cả việc nghiêm khắc giáo huấn, để cho y phải tự mình suy xét đây! Nếu như Tào Thực ở bên nói thêm đôi lời, vậy thì ắt hỏng chuyện.
— Còn nữa... — Đậu Phụ lại nói, — Khi tại hạ chuẩn bị rời phủ, phu nhân có nhờ kẻ hầu chuyển lời, dặn tại hạ nhân tiện mời ngài qua đó một chuyến, phu nhân có việc cần nói với ngài.
Phụ thân biết chuyện đã đành, sao ngay cả mẫu thân cũng bị kinh động như vậy? Tào Phi lại càng đau đầu: — Cho gọi ta sao? Không phải phụ thân ta đã nhắc đến chuyện này với mẫu thân chứ?
— Điều này tại hạ không biết. — Đậu Phụ lắc đầu, — Nhưng Tào Thuần tướng quân bị bệnh xin nghỉ, Thừa tướng vốn định sau buổi trưa sẽ tự đi tuần tra quân doanh, chắc hẳn giờ này không ở trong phủ.
Chu Thước nghe chửi nãy giờ, nghe thấy câu này bèn nhổm dậy nói: — Chết rồi, chúa công đi tuần, tại hại phải quay về ngay!
— Mau đi đi! — Tào Phi vội phẩy tay, — Không có chuyện gì đừng đến tìm ta, tạm tránh đi một thời gian đã.
— Ngài cũng đừng chần chừ nữa, phu nhân triệu kiến, mau đi mới phải. — Nói đoạn, Chu Thước ba chân bốn cẳng chạy mất.
Tào Phi nhìn cái hòm, đi đi lại lại, chép miệng than thở: — Ây dà! Ta cũng thật hồ đồ, sao lại đi một bước sai lầm như vậy? Tổn hại đến danh tiếng đã đành, còn kéo theo biết bao hệ lụy. — Xét cho cùng, y cũng chỉ là công tử, không có quan tước chính thức, trong tay cũng không giàu có gì. Mặc dù lấy danh nghĩa là của Hồi môn còn thừa để đem tặng, nhưng lấy đâu ra nhiều gấm lụa thế? Đều là mượn tiền của chú cháu Lưu Huân, Lưu Uy để mua, món nợ này còn chưa biết trả thế nào. Đặc biệt mấy ngày trước, Tào Tháo đột nhiên nảy ra ý định kỳ lạ, muốn đón Sái Chiêu Cơ, con gái của Sái Ưng từ Hung Nô về gả cho Đồn điền đô úy Đồng Tự, còn định tặng một phần của Hồi môn, Tào Phi không dám không làm, vì thế khoản nợ ngày càng nhiều.
Lưu Uy cười ha hả nói: — Chỉ là chuyện nhỏ thôi, đưa tiền cho công tử dùng há lại bắt ngài trả lại? Ta sẽ quay về nói với thúc phụ một tiếng, món nợ này coi như hết.
— Đa tạ hiền đệ! — Tào Phi vội vàng chắp tay cảm tạ.
— Không dám, không dám, — Lưu Uy đứng dậy, — Sau này cần dùng tiền hãy cứ tìm ta, đều là những vật ngoài thân, có đáng gì chứ?
Tào Phi lại nói: — Tiền tài tuy là vật ngoài thân, nhưng tình bằng hữu này thực sự hiếm có. — Câu này Tào Phi nói thực sự xuất phát tự đáy lòng. Trong đám nhân sĩ văn võ của Tào doanh, những kẻ biết vơ vét nhất chính là Tào Hồng và Lưu Huân, trong tay không chỉ nắm một lượng lớn điền sản mà còn thường xuyên kiếm chác vụ lợi. Tào Phi cần mượn tiền đương nhiên phải nghĩ đến Tào Hồng đầu tiên, nhưng vị thúc thúc này không chỉ hám tiên, còn bủn xỉn, một cắc cũng không rời, Tào Phi không biết làm sao mới phải tìm đến Lưu gia. Nào ngờ Lưu Uy vung tay hào phóng như vậy, đúng là họ hàng còn chẳng bằng bạn bè!
— Công tử quá khen, mau đi đi, phu nhân triệu kiến gấp đấy.
— Đúng đúng đúng, hãy đợi một lát, trở về chúng ta sẽ hàn huyên tiếp. — Tào Phi gọi hai tên bộc đồng, rồi tất tả đi ra.
Nhìn theo bóng Tào Phi dần đi xa, Tư Mã Ý nãy giờ chưa mở lời, bỗng phá tan sự im lặng: — Lưu huynh, chuyện công tử mượn tiền thì không sao. Nhưng cần hiểu được đạo lý cực thịnh tất suy, lệnh thúc cật lực kiếm chác
như vậy, e rằng không phải chuyện tốt.
- ---- ---- ---- --
1
Thôi ân lệnh là một chính sách của Quang Vũ Đế cho phép các vua chư hầu chia đất phong cho tử đệ, nhằm làm suy yếu thế lực cửa họ.
2
Lối giữa dành cho quan đi, đắp đường cao hơn hai bên.
3
Hổ ngốc.
4
Chỉ giáo phái “Ngũ Đấu Mễ đạo” thuộc Đạo giáo, cuối thời Hán. Do thủ lĩnh của phái này là Trương Lỗ cát cứ Hán Trung, lấy giáo lý cai trị dần chúng, phàm người muốn theo đạo đều phải nộp năm đấu gạo, cho nên triều đình nhà Hán gọi là “giặc gạo”.
5
Giấy Sái hầu: Loại giấy được làm ra bằng phương pháp của Sái Luần đời Đống Hán. Nghê' làm giấy của Trung Quốc tuy được phát minh sớm nhưng không được sử dụng rộng rãi, thời Đông Hán người ta vẫn chủ yếu ghi chép bằng thẻ tre, vải lụa, da dê... Vì loại giấy này được làm một cách kỹ lưỡng nên vô cùng quý giá.
6
Người quân tử luôn giữ đức trong lòng, còn kẻ tiểu nhân chỉ biết đến lợi ích trước mắt.
Có câu “Phú quý kiêu nhân1” , Lưu Uy nhếch mép cười khẩy, không hề để tâm: — Sợ gì chứ? Thúc thúc ta và Tào gia là chỗ giao tình thân thiết, ai dám không nể vài phần? Hơn nữa bây giờ đã không còn giống như thời xây
dựng Hứa Đô nữa rồi, những kẻ chấp pháp nghiêm khắc đều đã bị điều chuyển. Mãn Sủng nếu không phải chấp pháp quá nghiêm ở Nhữ Nam, sao đến nỗi bị phái đến đồn trú Tương Phàn? Đám Vương Tư, Tiết Đễ bị bãi miễn chức Trưởng sử, điều về trông quân, còn cả tên Huyện lệnh Trường Xã Dương Bái, nghe nói cũng bị quan viên Hứa Đô đàn hặc, tự tiện dùng hình giết người, giờ đang ở trong đại lao chịu tội đấy thôi! Còn kẻ nào quản nổi chúng ta?
- ---- ---- --
1 Chỉ người ta khi giàu có, phú quý thì coi khinh kẻ khác.
Khuôn mặt ôn tồn của Tư Mã Ý khẽ lộ ý cười, không buồn tranh biện với hắn, trong lòng thầm nghĩ: Lời hay khó khuyên được kẻ đáng chết, Thừa tướng bãi miễn những tên khốc lại kia chẳng qua là kế sách nhằm hòa hoãn mâu thuẫn sau chiến bại, vậy mà ngươi cũng tưởng thật!
Kỳ thực, Tư Mã Ý vốn không coi Lưu Huân là đồng đảng, chỉ vì chính thất phu nhân của Lưu Huân tên là Vương thị không có con, ông ta lại ái mộ một người con gái bên nhà Tư Mã, đang định nạp về làm thiếp. Nếu xét một cách kỹ càng, người con gái đó là họ hàng xa của Tư Mã Ý, hai nhà qua lại cũng vì mối quan hệ này, Tư Mã Ý cũng nhờ Lưu Uy mà trở nên cùng hội cùng thuyền với Tào Phi. Lúc đầu hắn không muốn nhập sĩ, nhưng đã làm quan thì phải nhập gia tùy tục. Người mà Tào Tháo lập làm người kế tục chính là Thừa tướng tương lai, không những vậy ngày sau còn có thể là hoàng đế, chọn đúng chủ để phò giúp ắt có thể trở thành công thần một đời, món lợi lớn như vậy ai chẳng muốn lấy?
Ngô Chất vẫn cúi đầu, lặng im không nói, thấy hai người họ không nói gì nữa, đột nhiên cất lời: — Ta hơi lo cho công tử.
— Lo ngài ấy bị phu nhân trách mắng sao? — Đậu Phụ hỏi. Ngô Chất lắc đầu.
— Lo tam công tử dâng lời sàm ngôn? — Lưu Uy hỏi.
— Nếu vậy thì có gì đáng sợ. — Ngô Chất mông lung nhìn ra ngoài sân vườn trống trải, — Con người nếu đường đường chính chính, những kẻ bên cạnh sao có thể làm hại?
Tư Mã Ý tiếp lời: —Ta hiểu rồi, ngài đang lo sau chuyện này công tử lại hấp tấp, coi những nhân sĩ chính trực như Thôi Diễm thành đối thủ, vô duyên vô cớ tạo thêm kẻ địch cho mình. Những bậc công thần của xã tắc, thực sự có lòng trung với quốc sự, tuyệt đối không thể để mất.
Ngô Chất giật mình quay sang nhìn hắn — Đúng là như vậy!
— Ngài cứ yên tâm. — Tư Mã Ý vân vê tay áo, giọng lãnh đạm, — Những bậc công thần của xã tắc nếu như không hiểu sự tình, không biết phải theo ai, phò ai, thực sự muốn đối địch với công tử, vậy thì không thể coi họ thực sự là công thần của xã tắc rồi. Nếu không phải thực sự là công thần, vậy Thừa tướng còn để ý đến lập trường của họ không?
Ngô Chất ngẫm nghĩ, lời này quả thật cũng có lý, bất giác gật gù. Tào Thực kết thân.
Mẫu thân triệu kiến không thể không đến, Tào Phi bồn chồn thấp thỏm bước vào trong phủ, hỏi thăm duyện lại, được biết phụ thân quả thực đã đến doanh trại, lúc này y mới thở phào nhẹ nhõm, đi qua Thính Chính đường ra hậu viện.
Mạc phủ trong Nghiệp Thành trước kia là nơi ở của Viên thị, kiến trúc vốn dĩ đã rất cầu kỳ, lần này tu tạo lại mở rộng, xây cao hơn, nên ngay cả hậu viện cũng hoành tráng hơn lúc trước rất nhiều. Trong vườn được lát bằng đá xanh vuông bản lớn, hàng hiên hai bên trồng đủ loại tang liễu du hòe, tiết trời vào độ xuân dương, hương hoa sắc lá vô cùng thu hút. Bên trái là phòng xá của các vị phu nhân, tên thường gọi là “phường Mộc Lan” ; bên phải là nơi ở của các vị thiếu niên công tử, gọi là “phường Thu Tử” ; đi qua ôn thất tiểu các, trong đó có một tòa chính đường mới xây vô cùng nguy nga, vòm hiên uốn lượn, phía trên treo một tấm bảng gỗ viết ba chữ — Hạc Minh đường.
Tào Phi đến trước tấm rèm bích sa, không nhìn thấy đám nha hoàn hầu hạ, chỉ thoảng thấy bên trong có tiếng đàn bà nói chuyện, vội lùi lại hai bước, khẽ hắng giọng bẩm báo; — Nhi tử đã đến ạ.
Biện thị lập tức đáp lời: — Con ta không cần đa lễ, mau vào đi. Tào Phi lúc này mới khẽ vén tấm rèm, cúi đầu bước vào, bỗng nhìn
thấy bên trong không chỉ có mẫu thân của mình mà các phu nhân khác cũng đều có mặt. Chính giữa phòng kê ba chiếc ghế, Biện thị mặc thường phục, không hề phục sức ngồi ở giữa, trong lòng đang bế con nhỏ Tào Hùng mới bốn tuổi. Hoàn thị ngồi bên trái, đầu khẽ cúi, sắc mặt lộ vẻ mệt mỏi, sau cái chết của Tào Xung, bà lúc nào cũng buồn bã. Ngồi bên trái là Vương thị phu nhân — Kể cũng lạ, vị Vương thị này là quả phụ tái giá, năm xưa ở Uyển Thành, vì bà ta mà Tào Tháo mất đi đứa con yêu quý Tào Ngang, nhưng Vương thị không vì thế mà bị thất sủng. Luận về tư lịch, bà ta và Tào Tháo không phải quen biết từ sớm, luận về dung mạo thì không bằng Đỗ thị, Triệu thị, đã hơn ba mươi tuổi vẫn chưa có con, nhưng vì tri thư đạt lý, xử sự công đạo nên được tất cả các cơ thiếp rất mực tôn trọng, ngay cả Tào Tháo cũng nhìn bà bằng con mắt khác, vì vậy cũng được ngồi chung với Biện thị, Hoàn thị.
Đỗ thị, Tần thị, Doãn thị đều ngồi một bên, trông thấy công tử đến bèn vội đứng dậy. Còn đám cơ thiếp như Tống thị, Chu thị, Lý thị, Triệu thị thì không được ngồi, vừa trông thấy Tào Phi liền vội vàng chúc vạn phúc — Người ta là con của chính kinh phu nhân, lại là trưởng tử, tuyệt đối không thể coi thường.
Tào Phi há lại dám nhận, cúi thấp người khấu tạ: —Nhi tử xin vấn an mẫu thân và chư vị phu nhân.
Hoàn thị và Biện thị tình như chị em đã đành, Vương thị thì không dám nhận lễ, bèn nghiêng người đáp lễ: — Đại công tử mau mau đứng dậy, đều là người nhà cả, hãy ngồi xuống nói chuyện.
Biện thị cười nói: — Trước mặt chị em chúng ta làm gì có chỗ cho nó ngồi? Ta chỉ dặn dò vài câu, nói xong liền đuổi đi, để nó khỏi chê đám đàn bà chúng ta nhiều lời. — Câu này khiến chư vị phu nhân che miệng cười.
Tào Phi thấy mẫu thân mặt mày tươi cười, đoán chắc rằng không phải là họa, thấy vững dạ hơn nhiều, cũng cười nói theo: — Hôm qua con dâu của mẫu thân còn nói muốn mang Duệ nhi qua để mẫu thân khuây khỏa. Lần này dọn ra ngoài quả thực không quen. Các phu nhân ở cùng một chỗ nói nói cười cười, thường ngày hẳn rất náo nhiệt.
— Nói nói cười cười... Ây dà! — Biện thị nụ cười chợt tắt, bất giác than
thở, vuốt ve mái đầu nhỏ của Tào Hùng, — Đời ta thật khổ, sinh được ba anh em các con đã đành, lại còn phải nuôi thêm đứa tiểu oan gia này nữa. Không biết lúc nào mới hết lo lắng, hết vất vả, đâu có được mấy ngày nói nói cười cười? — Tào Tháo và Biện thị sinh Tào Hùng khi đã bốn năm mươi tuổi, vì lẽ đó nên câu bé thân thể ốm yếu, từ lúc sinh ra đến giờ bệnh tật không thôi. Tuy Tào Hùng đã bốn tuổi, nhưng vóc dáng cũng không bằng đứa trẻ ba tuổi bình thường, cả ngày cứ mơ mơ màng màng, thường xuyên phải uống thuốc do Lý Đang Chi bốc để sống qua ngày, liệu có khôn lớn được hay không còn chưa biết!
— Hùng nhi vẫn còn nhỏ, thân thể khó tránh khỏi yếu nhược đôi chút, ngày sau chăm sóc tốt hơn ắt sẽ khỏe mạnh. Hơn nữa vú em, vú già trong phủ nhiều như vậy, mẫu thân có thể giao cho họ, không cần lúc nào cũng phải nhọc tâm lo lắng. — Tào Phi nói mấy lời quan tâm chân thành, khiến các phu nhân thi nhau gật đầu.
Biện thị lại nói: — Ta dứt ruột đẻ nó ra, sao nỡ rời xa? Nay các con đều đã thành gia lập nghiệp, cả ngày không biết bận bịu những gì. Tên tiểu oan gia này tuy có bệnh, nhưng lúc nào cũng biết nghe lời mẹ, bế theo bên mình cũng coi như được an ủi.
Tào Phi nghe câu “cả ngày không biết bận bịu những gì” , cảm thấy mẫu thân đang bắt đầu chuyển chủ đề sang mình, không dám tiếp lời, đứng ngây ra hồi lâu mới nói: — Mẫu thân cho gọi con là có chuyện gì dặn dò?
— Hôn sự của em gái con chuẩn bị thế nào rồi?
— Thưa mẫu thân, đã sắp xếp ổn thỏa. — Tào Phi vừa nói vừa đưa mắt nhìn Tần thị đang đứng một bên, — Tuân thị là danh gia vọng tộc, nên con đã bố trí của Hồi môn tốt một chút.
Nhi nữ xuất giá lần này là con của Tần thị, nhưng vị phu nhân này thân là trắc thất, tính cách lại hiền dịu, tất thảy đều nghe theo sự sắp xếp của Biện thị, nghe Tào Phi nói vậy cũng chỉ gật gật đầu, thầm than thở — Xét cho cùng là con do bà dưỡng dục, xuất giá tòng phu há lại không cảm thấy muộn phiền?
Triệu thị đứng hầu bên cạnh Tần thị, nữ nhân xuất thân ca nương trông Viên phủ này khéo ăn nói, mỉm cười góp vui: — Vậy thật là tốt, Tần tỷ
tỷ lấy chổng, tam công tử thành thân, quả đúng là song hỷ lâm môn.
— Tam đệ sắp thành thân? — Tào Phi vừa vui mừng vừa kinh ngạc, kinh ngạc là vì huynh đệ trong nhà mà không hề hay biết, còn vui mừng là vì một khi đã thành thân, rất có thể Tào Thực cũng sẽ dọn ra ngoài ở giống như y và Tào Chương, như vậy sẽ không còn kè kè ở bên phụ thân nữa.
— Ta mãi tối hôm qua mới nghe phụ thân con nói chuyện, hai cha con họ đã thương lượng từ lâu, quyết định rồi mới nói cho ta biết. — Biện thị khẽ nở nụ cười, dường như vô cùng hài lòng với hôn sự của Tào Thực, — Tất cả của Hồi môn của em gái con đều do một tay con sắp xếp, hẳn cũng có kinh nghiệm? Vậy thì chuyện thành thân của Thực nhi cũng phải phiền con rồi. Tuy không cần phải xa hoa, nhưng cũng giữ chút thể diện mới được.
— Con há có thể để huynh đệ thiệt thòi? Mẫu thân yên tâm, việc trù bị cứ giao cho con. Nhưng không biết là cô nương nhà ai ạ?
Triệu thị lại chen lời, đáp: — Cũng không phải là xa, chính là cháu gái của Tây tào duyện Thôi Quý Khuê trong mạc phủ chúng ta, tài mạo song toàn, hiền thục nhu mỳ. Cô nương ấy với tam công tử thực là một đôi trời sinh!
— Ổ? — Tào Phi giật mình, — Cháu gái của Thôi Diễm?
— Đúng là như vậy! Điều quan trọng chính là nhà người ta. — Biện thị lẩm bẩm, — Thôi thị ở Thanh Hà là vọng tộc Ký Châu, Thôi Diễm lại là người chính trực, xử sự nghiêm minh, rất được nhân sĩ Hà Bắc nể trọng. Nếu là con nhà tầm thường thì thôi, nhưng đã kết thân với Thôi thị thì không thể thất lễ, đây cũng là cơ hội để nhà chúng ta mát mày mát mặt, con cũng cần dụng tâm hơn.
Nụ cười trên mặt Tào Phi dần dần đông cứng lại. Y biết rõ lời mẫu thân nói không sai, Thôi thị ở Thanh Hà là danh môn Hà Bắc, quan trọng hơn là Thôi Diễm đảm nhận chức Tây tào duyện, trong tay nắm quyền giám sát thuộc viên của mạc phủ, tất thảy những việc như nhậm mệnh duyện thuộc, điều chỉnh chức vị đều do một mình Thôi Diễm quyết định. Tào Thực kết mối hôn sự này, ngày sau há lại chẳng mượn tay Thôi Diễm kéo bè kết đảng trong phủ? Tào Phi thầm cảm thấy bất an...
Biện thị đâu phải một vị phu nhân tầm thường? Thấy con trai mặt mày thất sắc, trong lòng dã hiểu rõ tám chín phần. Hai đứa con trai cả năm nay âm thầm ganh đua, thân làm mẹ sao không hay biết, con nào chẳng là con, há có thể thiên vị cho đứa nào? Bà cúi đầu vuốt ve Tào Hùng, nói một cách ngụ ý: — Đôi khi ta nghĩ, nếu như các con không lớn khôn, lúc nào cũng ở bên ta giống như tên tiểu oan gia này, sống một đời thanh tịnh, không bon chen đấu đá thì tốt biết bao? Nhưng thời gian nào có tha ai, các con giờ đều đã lớn, mẫu thân cũng đã già, không thể ngăn các con xông pha kiến thân lập nghiệp. Làm quan lớn đến mấy mẹ cũng không quan tâm, chỉ mong huynh đệ các con khỏe mạnh bình an, thuận hòa như một là được. Thực nhi hành sự không cầu nệ tiểu tiết... Còn cả Chương nhi, hiếu dũng tranh cường, thiếu điềm đạm. — Bà không muốn nói quá rõ ràng, nên cố ý lôi cả Tào Chương vào, — Còn lão đại là con thì sao? Hễ gặp chuyện là hay suy nghĩ lung tung. Các con ai cũng đều có chút tật xấu! Kinh thi có câu “Nhị tử thặng châu, phiếm phiếm kỹ thệ, nguyện ngôn tư tử, bất hà hữu hại1” , đã là huynh đệ thì phải bao dung lẫn nhau, đặc biệt là con, thân làm anh cả thì tấm lòng càng phải rộng mở hơn.
Biện thị xuất thân ca kỹ, mặc dù chưa từng đọc sách, nhưng ca dao Kinh thi thì thuộc như lòng bàn tay. Tào Phi nghe xong không mấy động lòng, nhưng Hoàn thị ở bên cạnh lại bắt đầu nghẹn ngào — Bà tức cảnh sinh tình, nhớ về đứa con Xung nhi yểu mệnh của mình, nếu như Tào Xung vẫn còn, há lại đến lượt nhi tử của kẻ khác tranh ngôi đoạt vị!
- ---- ---- ----
1 Hai con lên thuyển đi về nơi xa, trong lòng khôn nguôi nỗi nhớ nhung, mong các con tai qua nạn khỏi, bình an trở về.
Biện thị chỉ mải cảnh tỉnh con mình, lúc này mới thấy lỡ miệng, không muốn nói tiếp nữa. Vương thị cầm lấy tay Hoàn thị, nửa cười nửa trách Biện thị: — Tỷ tỷ hà tất phải nói với công tử nhiều như vậy. Công tử từ bé đã ham đọc sách, hiểu lễ nghĩa, việc hành sự ở bên ngoài lại còn cần đám nữ nhi chúng ta giáo huấn sao? Ai chẳng biết đại công tư thông minh tài giỏi, đối nhân hậu đạo, há có thể bạc đãi huynh đệ trong nhà? Sau khi sắp xếp xong chuyện hôn sự lần này, cả Nghiệp Thành ắt sẽ khen đại công tử hiếu đễ tri lễ,
nói rằng đại công tử là người hiền đức. Trong lòng công tử đã tính toán đâu ra đó rồi, tỷ tỷ nói có đúng không? — Câu này vẻ ngoài là nói với Biện thị, nhưng đạo lý rõ ràng là nói cho Tào Phi nghe.
Tào Phi bất giác đưa mắt liếc nhìn người đàn bà này — Quả là một nữ nhân thông minh, chẳng trách không con không cái vẫn được sủng ái không thôi.
Biện thị cũng nương theo ý tốt của bà ta: — Muội muội nói cũng đúng... Con nghe thấy chưa? Trở về hãy nhớ kỹ trong lòng. Vài ngày nữa đưa dâu đến Hứa Đô, đừng để lỡ việc, mau sớm quay về giúp Thực nhi nữa.
— Con đã nhớ rồi. — Tào Phi lại cung kính quay ra thi lễ với các vị phu nhân, chầm chậm lui ra khỏi Hạc Minh đường.
Thế nhưng, Tào Phi không thực sự để tâm đến những lời mẫu thân nói, điều y đang trăn trở trông đáu chính là hòm Thục gấm mà Thôi Diễm đã trả lại — Chẳng trách sự tình phức tạp như vậy, lại còn giao nộp cả quà, thì ra là cố ý dằn mặt ta! Cái gì mà danh sĩ Hà Bắc, trung thần chính trực kia chứ, bọn Ngô Chất nức lời khen ngợi, hóa ra cũng chỉ là kẻ dập dòm sau lưng thôi. Tam dệ kết mối nhân duyên này, sau này lại càng phải cẩn thận.
Tình người ấm lạnh.
Tào Phi mang một bụng bực dọc, lại không dám nhắc đến chuyện này trước mặt phụ thân, đúng lúc hôn lễ với Tuân thị đã đến, bèn mượn cớ đón dâu để đến Hứa Đô, tạm thời tìm nơi thanh tịnh, tránh né sự đời. Vốn dĩ y muốn mời Chung Do đồng hành, nào ngờ người ta đã sớm lên đường mà chẳng một lời cáo từ, người Tào Tháo sai đồng hành cùng y lại là Trình Dục và Đổng Chiêu.
Trình Dục là kẻ lĩnh binh còn tạm được, nhưng đồng hành cùng Đổng Chiêu thực sự hơi khó xử. Nếu luận về công lao, Đổng Chiêu không có gì phải nói, nhưng ông ta lại quá tích cực trong việc giúp Tào thị tiếm quyền. Từ việc Tào Tháo nhậm chức Thừa tướng, bãi bỏ phong quốc của Lưu thị, cho đến việc mở rộng Nghiệp Thành, chuyện nào cũng đều do ông ta thực hiện. Ở Nghiệp Thành ông ta rõ ràng là công thần, nhưng trong mắt các cựu thần Hứa Đô thì ông ta là một kẻ tiểu nhân hạnh tiến, vô sỉ. Nay là lúc Tào Phi cần phải tích lũy danh tiếng của mình, mà lại đi cùng một nhân vật như vậy, há
có thể lấy làm đẹp mặt?
Năm xưa Tào Tháo xây thêm mạc phủ ở Nghiệp Thành, tướng phủ ở Hứa Đô không ai coi sóc, thành ra lạnh lẽo, bèn lệnh cho Trưởng sử Vương Tất lãnh binh lưu thủ, vừa bảo vệ kinh sư, vừa giám sát bách quan. Vương Tất hay tin công tử đến đưa dâu, bèn vội vã lĩnh binh đến Mạnh Tân nghênh tiếp, sau đó hộ tống đến Hứa Đô. Tào Phi, Trình Dục và cả tân nương cũng đều tạm dừng chân ở tướng phủ cũ, duy có Đổng Chiêu không biết có phải là do tự cảm thấy vướng chân hay là do nguyên cớ khác mà không ở lại tướng phủ, tìm một dịch quán khác để nghỉ ngơi. Tào Phi cũng chỉ mong như vậy nên không níu kéo.
Ba ngày sau chính là ngày lành tháng tốt, mới tờ mờ sáng tân lang Tuân Uẩn đã dẫn theo huynh đệ Tuân Vũ, Tôn Sân đến nghênh thân. Chính đường trong tướng phủ bày bài vị tổ tông của Tào thị, tân lang tân nương khấn bái tổn tiên, rồi lại khấu đầu về phía Nghiệp Thành tỏ lòng hiếu đạo, và khấu đầu với Tào Phi tỏ sự đễ đạt. Tuân Vũ dâng nhạn1, Tuân Sân tung tiền xu làm lễ nạp thái, mọi người hàn huyên khách sáo một hồi mới lên xe cùng đi. Bên phía Tuân phủ còn náo nhiệt hơn, không chỉ giăng đèn kết hoa, bày đặt hương án, mà người đến xem và chúc mừng cũng kéo đến từng đoàn. Tuân Úc thân là lệnh quân đương triều, danh sĩ Trung nguyên, lại kết thân với đệ nhất gia tộc trong thiên hạ hiện nay, trên là cửu khanh đương triều, dưới là đám trí sĩ thanh lưu, nào có ai không đến chúc mừng? Ngay cả bách tính dân đen cũng đổ ra đường xem cảnh náo nhiệt, trong ngoài Tuân phủ người đông như kiến. Tân lang tân nương về đến nhà, tiền đường bái phụ thân, hậu đường bái mẫu thân, tân lang đội mũ, tân nương cài trâm, nâng chén kim bôi cùng nhau hành lễ, nam tây nữ đông ngồi đối diện nhau, làm lễ hợp cẩn, kết phát kính tửu; hoàn lễ đáp tạ với thân hữu rồi cùng chuyển vào hậu đường.
- ---- ---- ----
1 Dâng nhạn là một tập tục thời Hán, tân lang khi đón dâu phải tặng nhạn cho nhà gái.
Gian ngoài bày tiệc rượu thết đãi khách mời, Tuân Úc thân phận tôn quý nên không tiện chúc tụng, chỉ ngồi hàn huyên cùng các lão thần như Dương Bưu, Vinh Hợp, thiếu tử Tuân Vũ, Tuân Sân chưa đến tuổi nhược
quán, chỉ e sơ suất nên tất cả những việc liên quan đều do con rể Trần Quần lo liệu. Vị Thị ngự sử đại nhân hôm nay lại nghiễm nhiên trở thành một nhân vật lớn, việc trong việc ngoài bận thở không ra hơi. Tào Phi là khách quý trong khách quý, có con cháu nhà Tuân thị vây quanh hầu hạ, mãi mới có cơ hội đến trước mặt Tuân Úc, cười nói: — Tuân thúc phụ, từ nay chúng ta đã là người một nhà, ngày sau mong ngài quan tâm hơn đến tiểu điệt.
Tuân Úc thần thái đoan nghiêm, mỉm cười đáp: — Công tử hà tất phải đa lễ? Quốc trượng Phục Hoàn mới qua đời chưa lâu, theo lý mà nói chưa nên vui vầy thế này, cũng nhờ mỹ ý của lệnh tôn, lễ ngộ của quần thần, nên mới không muốn để mọi người mất mặt. Lễ ký có câu: ‘Hôn lễ giả, tương hợp nhị tính chi hảo, thượng dĩ sự tông miếu, nhi hạ dĩ tục hậu thế dã.l’ Chỉ mong phu thê chúng tương kính như tân, chung sức đồng lòng, phụng sự thiên tử.
Tào Phi có thể cảm nhận được sự xa cách trông câu nói khách sáo này, ngày trước khi cùng ở Hứa Đô, Tuân Úc còn gọi y là “hiền điệt” , vẫn coi y là vãn bối thân thiết, như nay lại trở thành “công tử” , còn nói “chung sức đồng lòng, phụng sự thiên tử” Tào Tháo há có thể hài lòng. Xem ra cuộc hôn nhân này vẫn không thể thay đổi mâu thuẫn giữa hai nhà Tuân, Tào, có lẽ Tuân Úc đồng ý kết thông gia chỉ là để lưu lại lối thoát cho tử tôn trong họ, chứ không phải do tấm lòng phò trợ Hán thất đã có sự thay đổi!
- ---- ---- ---- ---- --
1. Hôn lễ là nghi thức hợp lại cái tốt đẹp của hai họ với nhau; đối với trên là thờ phụng tông miếu, đối với dưới là truyền nối cho đời sau.
Tào Phi cười khó xử, đang không biết trả lời ra sao, Tuân Úc bỗng trông thấy Trình Dục, bất giác đứng lên: — Trọng Đức, ngài cũng đến rồi...
Trình Dục xúc động, nói giọng run run: — Bao năm không gặp, thực sự rất nhớ lệnh quân, nay không phải xông pha trận mạc nữa, tôi đã thỉnh mệnh Thừa tướng, đưa dâu chỉ là việc sau, chủ yếu là đến để thăm ngài. — Quan hệ giữa Trình Dục và Tuân Úc thân thiết hơn những người khác, họ đều là những người trợ giúp Tào Tháo sớm nhất, đặc biệt là trong sự biến Duyện Châu phản loạn, họ đã cùng trải qua không ít hoạn nạn.
Tuân Úc cất giọng cảm khái: — Từ khi định đô đến nay ít có dịp trùng
phùng, lần trước nam hạ cũng bận rộn không gặp được ngài. Tính sơ qua, có lẽ chúng ta cũng đã bảy tám năm không gặp?
— Đúng vậy, đều già cả rồi... — Trình Dục vuốt chòm râu bạc, — Tôi đang định từ quan, trở về làm một lão bách tính đây. Năm xưa ở đâu có chiến trận thì phi ngựa đến đó, chỉ sợ tụt lại sau lưng kẻ khác. Như nay thân thể không ổn rồi, chẳng đánh đấm gì được nữa!
Tuân Úc lắc đầu không thôi: Năm xưa Trình Trọng Đức cương nghị biết mấy! Trận Quan Độ ông ta chỉ mang theo bảy tám trăm người mà dám cứ thủ Quyên Thành, Duyện Châu phản loạn quân lương không đủ, ông ta lại dám nhẫn tâm dùng thịt người phơi khô làm lương thực! Tranh cường hiếu thắng cả đời là thế, vậy mà giờ đến tuổi xế chiều nhọc sức, há không cảm thấy chua xót?
Trình Dục nắm chặt tay Tuân Úc, thở vắn than dài: — Có câu trăng tròn lại khuyết, nước đầy thì tràn, chúng ta đều là những kẻ kinh qua phong ba, nếm đủ vị đời, nay tử tôn đã có tiền đồ phía trước, cũng nên lui lại dưỡng già rồi.
Tuân Úc nghe được ẩn ý trông câu nói của ông ta, nhưng vẫn cười khổ, lắc đầu nói: — Ngài nói đúng, nhưng người với người khác nhau, chuyện với chuyện bất đồng.
Có những chuyện liên quan đến thiên mệnh xã tắc, không thể lui lại... Không nói những chuyện này nữa, ngài chớ vội vã trở về, ở lại chỗ tôi vài ngày, chúng ta cùng ôn lại chuyện cũ. — Câu ấy chưa dứt đã trông thấy Nghị lang Vạn Tiềm bước vào trong sảnh đường, đây cũng là một bậc lão nhân xuất thân từ Duyện Châu, tuổi lớn hơn Trình Dục, tay chống mộc trượng, còn có một hậu sinh trẻ tuổi đỡ phía sau, ba người gặp mặt lại một phen cảm khái.
Tào Phi đợi mãi mà không chen được lời, bỗng trông thấy vị hậu sinh đang đỡ Vạn Tiềm tướng mạo đôn hậu, cử chỉ giữ lễ, bèn mở lời rào đón: — Hiền đệ là con cháu nhà ai?
Người trẻ tuổi chắp tay cúi đầu, đáp: — Bẩm công tử, tại hạ là Bào Huân ở Bình Dương.
— Ngươi chính là Bào Thúc Nghiệp, con của Bào quận tướng? — Năm xưa Bào Tín cùng Tào Tháo cử sự, nhưng đã chết trong tay giặc Khăn Vàng trong trận Thọ Trương, ngay cả thi thể cũng không còn. Tào Tháo thương nhớ vị bằng hữu cũ, bèn hậu đãi vợ con ông ta, như nay trưởng tử của Bào Tín là Bào Thiệu đã làm lang quan trong triều, còn vị nhị công tử Bào Huân này lại càng nổi tiếng, mặc dù vẫn chưa nhập sĩ, nhưng dân chúng Duyện Châu ai nấy đều hay anh ta cung kính thủ lễ, niên thiếu hữu đức, Tào Phi cũng từng nghe nói.
— Chính là tại hạ.
Tào Phi đang có ý lôi kéo thêm tâm phúc, khiêm nhường đáp: — Lệnh tôn và phụ thân ta là bạn chí giao, chẳng may vong thân vì nước, hiền đệ khiêm nhường, hiểu lẽ, đó là phúc của Bào thị! Phúc của quốc gia!
— Công tử quá lời rồi.
— Ha ha ha, hiền đệ quả là khiêm nhường. — Tào Phi mặt mày đắc ý, — Nay tướng phủ đang cần dùng người, Nghiệp Thành đã ban Cầu hiền lệnh, nếu hiền đệ muốn, ta có thể nói đôi lời trước mặt phụ thân, cho đệ vào làm duyện lại trong phủ. Khi đó với tài năng của hiền đệ, há lại không thể lập thân báo quốc?
Tào Phi tưởng rằng anh ta nghe thấy những lời này ắt sẽ rối rít cảm ơn, nào ngờ Bào Huân chỉ mỉm cười khiêm nhường đáp: — Chức thì ít người thì đông, kẻ sĩ đua nhau tranh tiến. Tại hạ lập thân hành đạo chỉ mong cẩn trọng, không dám mưu cầu con đường hạnh tiến. Xin thất lễ...
Câu nói này khiến cho vị đại công tử hai mắt trợn tròn, hồi lâu sau mới định thần lại, trong lòng thầm chửi: Đúng là một tên tiểu tử ngông cuồng, dám không coi ta ra gì! Y đang không biết trút giận vào đâu, bỗng cảm thấy có người khẽ kéo tay áo: — Công tử...
— Trần đại nhân. — Tào Phi ngoảnh đầu nhìn lại, thấy Trần Quần tươi cười đứng ngay sau lưng.
Năm xưa Trần Quần cùng cha vào kinh cũng từng ở dưới trướng Tào Tháo, sau nhậm chức Huyện lệnh ở ngoài, rồi chuyển sang nhậm chức Thị ngự sử. Năm xưa khi ông ta làm duyện thuộc trong mạc phủ, các con của
Tào Tháo đều còn nhỏ tuổi, duy chỉ có Tào Phi lớn nhất, vì thế tiếp xúc cũng nhiều. Trần Quần giờ đang bận trong bận ngoài, nhưng kỳ thực từ lúc Tào Phi bước vào cửa ông ta đã chú ý, âm thầm quan sát nhất cử nhất động của vị đại công tử này, sớm đã nhìn thấy cảnh tượng không mấy vui vẻ ban nãy: —Bào Thúc Nghiệp tuổi còn niên thiếu, lại là một thư sinh không màng thế sự, công tử chớ để tâm. Nào nào nào, xin mời sang bên này. — Đoạn kéo vội Tào Phi vào chỗ ngồi, giơ tay vẫy một cái, bỗng đâu một đoàn người ùa đến, đếu là con cháu quan viên.
— Đã nghe danh công tử từ lâu, ngưỡng mộ ngưỡng mộ!
— Mong công tử thay tại hạ bái yết Thừa tướng.
— Tại hạ từ lâu đã nghe công tử hạ bút như thần, thơ văn mỹ ý, xứng danh tuyệt tác, quả là tài cao.
— Nếu công tử không chê, tiểu đệ nguyện đi theo công tử.
Xét cho cùng, loại người cố chấp như Bào Huân vẫn là thiểu số, trông thấy công tử của Thừa tướng ai chẳng muốn kết thân? Nghe thấy những lời tán tụng, nịnh bợ của đám người trẻ tuổi này, Tào Phi cuối cùng đã lấy lại được chút thể diện, dần dần nở nụ cười đắc ý. Không lâu sau yến tiệc bắt đầu được dọn ra, Trần Quần cũng không đi ra chỗ khác mà ngồi luôn bên cạnh Tào Phi.
Tuân gia uy vọng lớn nên giao thiệp cũng nhiều, các lão thần trong triều hầu như đều đến cả. Thái úy trước kia là Dương Bưu ngồi bàn đầu mé tây, Thái thường Từ Cầu, Tông chính Lưu Nghệ, Đại tư nông Vương Ấp, Thiếu phủ Cảnh Kỷ, Trung úy Hình Trinh, Tư lệ hiệu úy Chung Do, Việt kỵ hiệu úy Đinh Xung, Kỵ đô úy Tư Mã Phòng, Gián nghị đại phu Vương Lâng, Thị trung Hoa Hâm, Thượng thư tả bộc xạ Vinh Hợp, Thượng thư hữu thừa Phan Húc lần lượt ngồi phía sau, kẻ cười người nói — Đến dự tiệc của Tuân Úc hẳn là tự tại hơn nhiều so với đến dự yến của Tào Tháo. Duy chỉ có vị Quang lộc huân mới nhậm chức là Khoái Việt và Đại Hồng lư Hàn Tung ngồi uống rượu một mình, không nói gì, hai người họ vừa mới từ Kinh Châu vào triều nhậm chức nên chưa quen biết nhiều. Mọi người cùng nâng chén cạn một ly, đã trông thấy Tuân Uẩn mặc hỷ phục màu đỏ bước ra, trên tay cầm chén đến kính rượu từng bàn. Tào Phi thấy anh ta thì vội vàng đứng dậy, chưa kịp nói
câu chúc tụng, Tuân Uẩn đã tranh nói trước: — Đa tạ đa tạ, tam công tử sao lại không đến?
Tào Phi thấy anh ta vừa mở miệng liền nhắc tới Tào Thực, thầm cảm thấy cụt hứng, chỉ nói: — Tiểu đệ cũng sắp thành thân rồi, đang bận lắm.
Tuân Uẩn cười nói: — Vậy thì tốt quá, phiền đại công tư thay tại hạ chuyển lời hỏi thăm. — Nói đoạn liền đi sang bàn bên cạnh.
Tào Phi thấy hắn chỉ hỏi han mỗi Tào Thực mà không buồn hàn huyên với mình nửa câu, lửa giận trong lòng đã bốc lên, nhưng lại không tiện tỏ ra ngoài mặt, đành thầm nuốt cục tức vào bụng. Thế nhưng nghĩ kỹ cũng cảm thấy kỳ lạ, theo lý mà nói thì hôn sự quan trọng như vậy, các huynh đệ đều đến cả, tại sao Tào Tháo chỉ sai một nhi tử đi? Y đang nghĩ đi nghĩ lại mà không thể hiểu nổi, bỗng trông thấy có một bộc đồng bước vào sảnh đường, quỳ xuống thi lễ: — Khởi bẩm đại nhân, có Kỵ đô úy Mã Thiết, con trai của Vệ úy khanh Mã Đằng mang đến hai hòm quà chúc mừng.
Tuân Úc nói: — Mau mời Mã đô úy vào.
Bộc đồng trả lời: — Mã đô úy nói phụ thân ngài ấy có bệnh nên không thể vào trong được, ngài ấy cũng phải trở về hầu hạ thuốc thang, chỉ để lại quà chúc mừng rồi định đi ngay.
Tuân Úc điềm đạm trả lời: — Khách quý quá nhiều không tiện ra ngoài hàn huyên, thay ta tạ ơn Mã đô úy, hôm khác cha con ta sẽ đến cảm tạ, cho ngài ấy đi đi.
Những người có mặt đều hiểu, từ khi Chung Do vào kinh nhắc đến việc mượn đường Quan Trung, Mã Đằng liền “lâm bệnh” , rõ ràng là tâm bệnh. Ông ta vào triều làm liệt khanh, không cam tâm bảo con trai giao nộp binh quyền, nhưng cũng sợ Mã Siêu và Hàn Toại thông đồng cử binh, làm liên lụy đến mình, thực là tiến thoái lưỡng nan. Đặc biệt là Đoàn Ổi, Vi Đoan nối nhau qua đời, ông ta ở trong triều ngay cả một bằng hữu thân cận cũng chẳng còn, không biết nên tìm ai thương lượng, bèn dứt khoát viện cớ để đóng cửa không ra ngoài.
Tên bộc đồng đó lĩnh mệnh đi ngay, lại một tên khác chạy vào: — Ngự sử đại phu Si công đến. — Lời còn chưa dứt, Si Lự đã run run bước vào.
Tào Phi vô cùng kinh ngạc — Vị danh sĩ kinh học là cao đồ của Trịnh Huyển này mới nhậm chức Ngự sử đại phu được vỏn vẹn hai năm mà đã như già thêm cả chục tuổi, tâu tóc đều đã đốm bạc, tay phải chống trượng, khom lưng mỏi gối bước đi chậm chạp, cứ như không thể ngẩng nổi đầu lên.
— Lệnh quân, xin chúc mừng ngài.
Tuân Úc trông thấy ông ta vừa giận vừa thương, giận vì ông ta dâng thư đàn hặc, hại chết cả nhà Khổng Dung, thương vì ông ta cũng do bị Tào Tháo cưỡng bách, nhậm chức Ngự sử đại phu nhưng ngoài việc giơ đầu chịu báng ra thì chẳng có chút thực quyền nào. Xét cho cùng trên danh nghĩa, ông ta cũng là đại quan cao thứ nhì thiên hạ, cũng phải nể mặt một chút, Tuân Úc rời chỗ, dẫn theo tử tôn cùng đến đáp lễ: — Si công khách sáo rồi, xin mời nhập tiệc.
Si Lự nhìn trái nhìn phải, chư thần trên sảnh đường vẫn cười cười nói nói, chẳng ai buồn chào hỏi ông, những kẻ quay ra nhìn ông cũng ít, bất giác thở dài nói: — Trong nhà vẫn còn nhiều việc, tôi không làm phiền nữa, mong lệnh quân thứ lỗi. — Nói đoạn chắp tay chào rồi run rẩy đi ra, khi xuống bậc còn suýt chút nữa trượt chân. Tuần Úc cũng không níu giữ, chỉ lắc đầu không thôi.
— Si Hồng Dự sao lại thành ra như vậy? — Tào Phi không thể hiểu nổi.
Trần Quần nhỏ giọng nói: — Từ khi hại chết Khổng Dung thì thành ra như vậy, run run rẩy rẩy như người mất hồn, văn võ trong triều đều coi khinh ông ta,.. Ây dà! Cao đồ danh nho, một bụng kinh luân, năm xưa uy phong nhường nào!
Tào Phi trong lòng thầm nghĩ: Nơi này khác biệt một trời một vực với Nghiệp Thành, phụ thân ta ở Nghiệp Thành nhất hô bách ứng, tất cả các duyện thuộc quan lại đều chỉ mong dẫm lên đầu kẻ khác để tiến thân. Nhưng bách quan ở Hứa Đô thì hết mực coi trọng Tuân Úc, miệng lúc nào cũng xứng tụng nghĩa quân thần, ôm giấc mộng phụ thân ta trả lại triều chính cho thiên tử, để hoàng đế độc đoán triều cương. Chia rẽ rõ ràng đến vậy, phụ thân ta còn có thể nhẫn nhịn bao lâu...
Trong lúc mải suy nghĩ, y đột nhiên cảm thấy hỷ đường huyên náo bỗng trở nên tĩnh lặng, tất cả mọi người đều đồng loạt nhìn ra bên ngoài —
Đổng Chiêu đến rồi. Tào Phi lúc này mới nhớ ra, Đổng Chiêu vốn đi cùng y, nhưng mãi vẫn chưa lộ diện, không biết đã đi đâu?
Đổng Chiêu cung kính bước lên sảnh đường, chắp tay khom lưng nói lời chúc tụng: — Hạ quan chúc mừng lệnh công.
Tuân Úc đứng lên, bước đến đỡ dậy: — Công Nhân không cần đa lễ...
Hai người họ có quá nhiều ân oán — Đổng Chiêu đề nghị khôi phục “cửu châu chi chế1” , Tuân Úc cực lực phản đối; Đổng Chiêu chủ trương phế bỏ tông quốc của Lưu thị, Tuân Úc lại một lần nữa can dự; Đổng Chiêu bãi truất tam công, tấn vị Thừa tướng, Tuân Úc kháng nghị nhưng vô ích. Tuân Úc đâu phải chỉ có một mình, ông đại diện cho các cựu thần Hứa Đô, đại diện cho rất nhiều sĩ nhân Dĩnh Xuyên, thế mà Đổng Chiêu lại dám đơn thương độc mã khiêu chiến bọn họ. Nhưng vấn đề là sau lưng Đổng Chiêu là Tào Tháo, vậy còn chưa đủ hay sao?
Những người có mặt đa phần đều coi Đổng Chiêu là kẻ khác phái, đều nhìn vị khách không mời này với ánh mắt oán phẫn, hỷ đường tĩnh lặng tới mức ngay cả một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy. Trần Quần thấy không khí khác lạ, bèn vội mời; — Đổng đại nhân, xin mời ngồi.
- ---- ---- ---- ---- --
1 Tức chế độ chín châu, chỉ cách phân chia địa lý có ghi lại trong thiên Vũ cống, sách Thượng Thư. Theo đó chín châu là: Ung Châu, Ký Châu, Lương Châu, Duyện Châu, Dự Châu, Thanh Châu, Từ Châu, Kinh Châu, Dương Châu. Từ thời Hán Vũ Đế, nhà Hán thi hành chế độ mười ba châu (có lúc chia thành mười hai châu) , và chưa dùng chế độ chín châu, duy có Tân triều do Vương Mãng lập ra từng có thời gian ngắn thực hành theo.
Đổng Chiêu vẫn giữ được thần thái, lạnh nhạt nói: — Ta phụng mệnh Thừa tướng đến đây, còn có việc phải diện kiến thiên tử, không tiện ở lại lâu. Hãy để tại hạ được kính lệnh quân một chén.
— Được. — Tuân Úc gọi nhi tử bưng hai chén rượu qua, hai người cầm lấy rồi từ từ uống cạn, giơ chén rỗng lên.
— Không sót một giọt, lệnh quân tửu lượng thật tốt.
— Công Nhân cũng không kém mà.
— Hạ quan còn phải diện kiến thánh thượng, xin được cáo lui. — Xin hãy bảo trọng!
Đổng Chiêu chắp tay vái chào xung quanh, đoạn chầm chậm đi ra. Trên sảnh đường không khí vẫn tĩnh lặng như tờ. Trần Quần nhìn theo bóng dáng Đổng Chiêu như chợt nhận ra điều gì đó, đột nhiên cầm chén rượu nhỏ giọng mời: — Bản quan chúc mừng công tử!
Tào Phi cười đáp: — Ta đâu phải là tân lang, đại nhân chúc ta làm gì. — Nếu như ta đoán không nhầm, công tử sắp sửa gặp vận may rồi. — Ồ?
Trần Quần tự nhấp chén rượu, lẩm bẩm nói: — Những năm nay Thừa tướng phái Đổng Chiêu đến Hứa Đô, đâu có lần nào tay trắng ra về? Hiện các vị công tử đều đã gia quán thành hôn, ta nghĩ Đổng Chiêu cùng đi đưa dâu chỉ là giả, chỉ e là lĩnh mệnh Thừa tướng đến xin quan tước cho chư vị công tử mới là thật!
Tào Phi bán tín bán nghi, nhìn Trần Quần với ánh mắt kỳ lạ, thầm suy xét xem lời ông ta nói liệu có đáng tin; Trần Quần cũng lặng lẽ quan sát Tào Phi, âm thầm đong đếm xem vị công tử này rốt cuộc giá trị bao nhiêu. Khách không mời đã đi xa, hỷ yến lại trở về với không khí huyên náo, ai nấy đều nâng chén chúc tụng, duy chỉ có bàn của hai người họ vẫn trầm lặng, ai nấy trong lòng đều có tâm sự. Bốn mắt nhìn nhau hồi lâu, rồi cả hai bất thần bật cười cùng lúc.
Trần Quần không để lỡ thời cơ, nói: — Công tử nhân hiếu thông tuệ, hạ quan nếu có thể cùng ngài cộng sự cho triều đường thì thực là may mắn biết bao.
Tào Phi vội đáp lời: — Ngài quá lời rồi, ngày mong Trường Văn huynh quan tâm nhiều hơn.
Trần Quần hí hửng gật đầu — cách xưng hô thay đối, “Trần đại nhân” của triều đình từ nay đã trở thành “Trường Văn huynh” của Tào Phi!
CHƯƠNG 3: HÀN TOẠI, MÃ SIÊU MƯU PHẢN TÀ0 THÁO
Trúc đài Tây viên.
Mùa hạ ngày dài, đã qua giờ Dậu mà bầu trời vẫn một màu xanh biếc. Gió nhẹ thoảng qua, cỏ cây lay động, nước hồ trong xanh, hoa sen ánh nhật, tiếng chim hót líu lo trên cành hòa với tiếng bầy nhạn thi thoảng lanh lảnh vang lên — Đây chính là Tây viên Nghiệp Thành vừa mới sửa xong, được cải tạo mở rộng trên chỗ cũ của hồ Huyền Vũ, nghiễm nhiên trở thành lâm viên tư gia của Tào Tháo, quy mô không hề thua kém so với ngự lâm viên của hoàng gia.
Năm đó Tào Tháo cho đào hồ Huyền Vũ để luyện thủy quân, nhưng đám thủy quân được tôi luyện trên mặt hồ bình lặng không sóng này chỉ là thêu hoa dệt gấm, sau khi nhận được bài học thê thảm từ trận Xích Bích, không thể tiếp tục luyện binh theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa như vậy nữa. Giữ lại hồ Huyền Vũ cũng chẳng có ý nghĩa gì, ông bèn sai người gieo trồng hoa sen, đổi thành hồ Phù Dung[1] , cho sĩ nhân Nghiệp Thành chơi đùa ngắm cảnh. Lúc này Tào Tháo đang ngồi thuyền trên hồ, vừa thưởng lãm cảnh trí, vừa mải mê suy nghĩ. Con gái xuất giá, Tào Thực thành thân, những chuyện vặt vãnh này đều đã bố trí xong. Đổng Chiêu cũng không phụ sự ủy thác, mang chiếu thư từ Hứa Đô trở về, trong đó nói thiên tử niệm tình Tào Tháo bao năm chiến loạn có công cho triều đình, quyết ý tiếp tục tăng thêm phong ấp cho ông. Đương nhiên, chiếu thư này là cố ý cho người khác xem, ông muốn người trong thiên hạ đều biết, một lần thất bại không thể làm suy chuyển vị trí của Tào mỗ, những kẻ có mưu đồ khác tốt hơn hết là nên dẹp bỏ suy nghĩ đi! Nhưng như vậy vẫn hoàn toàn chưa đủ, Tào Tháo cần gấp rút tạo nên một trận thắng lớn để lấy lại uy tín, ông vẫn đang có một dự định thâm sâu khác...
[1]. Từ “ Phù dung” thời Hán không phải chỉ hoa phù dung như ngày nay, mà chỉ hao sen. Huynh đệ Tào Phi, Tào Thực đều có thơ về hồ Phù Dung ở Tây uyển.
Tào Phi, Tào Thực, còn cả vài duyện lại được mời đến du lãm Tây viên đều đang ở bên hồ cúi đầu chờ đợi. Đã không còn sớm nữa, còn có rất nhiều việc chưa làm, ai nấy đều mong Tào Tháo mau mau lên bờ. Nào ngờ Thừa tướng
hôm nay thực là nhàn rỗi, dong thuyền đi chơi cả nửa canh giờ mới hết hứng trở về. Thuyền nhỏ vừa tấp vào bờ, Tào Phi và Tào Thực vẫn chưa kịp động thủ, Đổng Chiêu đã tranh lên trước, đỡ Tào Tháo lên bờ: — Thừa tướng thấy chỗ này thế nào?
Tào Tháo lại quay đầu nhìn ra xa: — Mặt nước ở góc tây bắc rộng rãi, sao không xây một tòa đình đài?
— Vâng. — Ký thất Lưu Trinh cười nói, — Lúc nãy đại công tử thi hứng chợt phát, ngâm rằng “Song cư tương quán khái, gia mộc nhiễu thông xuyên[1]” , nếu như có thêm một tòa đài cao, đứng trên lầu ngắm cảnh thực còn gì bằng?
1. Đôi dòng kênh chảy, cây cối tốt tươi mọc bên dòng.
— Ông ta là bậc văn nhân phong nhã, nhắc đến những chuyện này liền cao hứng.
Đổng Chiêu thuận nước đẩy thuyền: — Thực là trùng hợp, lúc cải tạo hồ Huyền Vũ tìm thấy một con chim sẻ bằng đồng, được điêu khắc rất tinh xảo, có vẻ là vật từ thời thượng cổ. Vậy sao không xây một tòa cao đài ở nơi tìm thấy vật này?
—Tuyệt, tuyệt lắm! — Lưu Trinh nức lời khen hay, — Cổ thư có nói thành Trường An “Thành tây có một đôi cửa khuyết, trên đó có một đôi chim sẻ bằng đồng, hót một tiếng ngũ cốc đơm bông, hót một tiếng nữa ngũ cốc chín vàng ươm.” Đây là điểm tượng trưng cho ngũ cốc được mùa, vạn dân an lạc, quả là điềm lành.
— Được. — Tào Tháo liếc đám nhi tử một cái, — Vậy giao cho các ngươi và Biện Bỉnh đi làm.
Tào Phi, Tào Thực mừng như mở cờ trong bụng, hai người cùng nghĩ giống nhau — Đây là một cơ hội tốt để thể hiện tài năng. Trong lòng đã nhấp nhổm muốn làm, bắt đầu trù hoạch hình dáng. Nhưng duyện thuộc Quốc Uyên đứng một bên lại có vẻ khó xử, chắp tay nói: — Tại hạ có một việc thỉnh tấu Thừa tướng.
— Được, chuyện gì vậy?
Quốc Uyên cúi đầu đáp: — Thừa tướng bình định Ký Châu đến nay đã năm năm, ban đầu đã phát giáo lệnh rõ ràng, phàm là điền địa Ký Châu mỗi mẫu tô thuế chỉ thu bốn thăng, nhằm an định lê dân, hạn chế thổ hào. Thế nhưng hai năm nay đã thêm rất nhiều khoản chi tiêu, phá thổ động công ngày tốn vạn lượng, nếu tiếp tục hoang phí như vậy chỉ e ngay cả lương thực của trung quân cũng không thể bảo đảm. Liệu có thể... tăng thêm thuế một cách vừa phải? — Ông ta ăn nói cẩn trọng, cái gọi là “thêm rất nhiều khoản chi tiêu” chính là khoản bồi thường cho gia đình các tướng lĩnh thương vong trong trận đại bại ở Xích Bích, cộng thêm cả khoản xây dựng, cải tạo thành trì mạc phủ nữa. Những chuyện này không mấy hay ho nên cũng không tiện nói rõ.
Kỳ thực Tào Tháo trong lòng đã có dự tính, hai năm nay chi tiêu quả có hơi nhiều, nhưng mấu chốt nằm ở việc thuế đồn điền của Ký Châu quá thấp. Năm xưa ông đoạt được đất đai từ tay Viên thị, cẩn phải ổn dịnh nhân tâm mới đặt tô thuế là mỗi mẫu bốn thăng, những tưởng đợi phương Bắc ổn định rổi xua binh nam chinh sẽ có thể bình định Giang Đông, đến lúc đó sẽ lại chỉnh đốn lại tô thuế một cách toàn diện, nào ngờ ăn một vố đau như vậy bên bờ Trường An! Trọng Trường Thống đã từng can gián “giảm tô thì dễ, tăng tô thì khó” , Tào Tháo nóng lòng hành sự nên không nghe theo. Lần này thì không ổn rồi, tiền không đủ chi chỉ có thể tăng thêm tô thuế — Thành trì mới tinh, lộng lẫy vừa xây xong, điều đầu tiên cần làm lại là ép bách tính tăng thuế, khó xử biết bao! Dân gian lại dị nghị thế nào đây?
Tâm trạng thoải mái của Tào Tháo thoáng chốc tiêu tan, nhưng cũng không than trách gì, chỉ nói: — Đã như vậy thì thương lượng với triều đình một chút xem sao, cần tăng thuế thì vẫn phải tăng. — Lúc giảm thuế thì ông tự mình quyết định, khi tăng thuế lại lấy danh nghĩa của triều đình, đây gọi là việc lợi thì làm cho mình, còn để triều đình bị mang tiếng!
Đổng Chiêu đã quen nhìn sắc mặt Tào Tháo, thấy thần sắc ông thay đổi, bèn nói: — Chúng ta đã đi được nửa ngày, trời không còn sớm nữa, nên về thôi ạ.
Tào Tháo gật đầu, dẫn mọi người trở về phủ, đi xuyên qua Tây viện mà không dừng bước, cứ như vậy đến thẳng Thính Chính đường ở Đông viện, bỗng trông thấy quân sư Tuân Du, Chủ bạ Ôn Khôi, Thương tào thuộc Cao
Nhu đã chờ ở bên trong. Việc công còn chưa xong mọi người cũng không tiện giải tán, đểu đứng chờ một bên, Ôn Khôi đưa qua một tờ biểu chương, nói: — Tại hạ đã thảo qua theo lời dặn dò của ngài và chư vị Ký thất đại nhân, xin Thừa tướng xem qua.
Đất Sở có cái hiểm của sông núi vùng Giang Hán, sau này quy thuộc triều đình, nhưng trước kia cường thịnh, từng tranh hùng với Tần, Kinh Châu chính là đất cũ. Lưu trấn nam dùng sức dần đất ấy dã lâu. Sau khi thân vong, các con tranh quyền đoạt vị, mặc dù cuối cùng khó bảo toàn, nhưng cũng có thể kéo dài thời gian. Thanh Châu Thứ sử Tông, đức cao vọng trọng, trí sâu mưu rộng, xem thường vinh hoa, xem trọng nhân nghĩa, lợi mỏng đức dày, coi nhẹ cơ nghiệp vạn dặm, không bận tâm binh sĩ ba quân, mà một lòng trung chính, gìn giữ tiếng tốt, trên làm sáng công nghiệp của tiên công, dưới giữ vững phúc lộc không mục. Bào Vĩnh bỏ Tịnh Chầu, Đậu Dung dời năm quận cũng đều chẳng sánh bằng. Dẫu phong làm liệt hầu một châu cũng tiếc chưa xứng với người này. Vậy mà Tông còn gửi sớ xin về Kinh Châu, chức Giám sử tuy tôn quý, nhưng bổng lộc không nhiều. Nay chiếu theo lời sớ, bái Tông làm Gián nghị đại phu, Tham đồng quân sư.
Tờ biểu chương này là để tấn phong cho Lưu Tông, con trai của Lưu Biểu. Năm xưa Kinh Châu quy hàng, Kinh Châu mục Lưu Tông bị điều làm Thứ sử Thanh Châu, vốn là một chức quan hữu danh vô thực, mặc dù không thiếu thốn gì, nhưng chẳng khác nào giam lỏng. Nay đại bộ phận Kinh Châu đã thất thủ, Lưu Bị “biểu tấu” huynh trưởng của Lưu Tông là Lưu Kỳ làm Banh Châu mục, vị đại công tử đó nhậm chức chưa đầy một năm đã chết, sự việc vô cùng kỳ lạ, nhưng có tin đồn rằng hắn ta chìm đắm trong tửu sắc, hại vào thân thể. Nhưng bất luận thế nào, kẻ thực sự đang khống chế Kinh Châu là Lưu Bị, ông ta thành hôn với em gái của Tôn Quyền, lại chiếm cứ bốn quận Trường Sa, Quế Dương, Vũ Lăng, Linh Lăng ở Giang Nam, dưới trướng có Gia Cát Lượng, Y Tịch thay ông ta chiêu hiền nạp sĩ, hiện đã có không ít sĩ nhân
Tương Dương chạy đến phụng sự. Tào Tháo không biết làm sao, chợt nhớ đến Lưu Tông đang bị ghẻ lạnh, mặc dù ít tuổi bất tài, nhưng xét cho cùng cũng là con trai của Lưu Biểu, mới biểu tấu cho hắn làm Gián nghị đại phu, Tham thừa tướng quân sự, mong rằng có thể dùng hắn để giành lại lòng
người Kinh Châu.
— Cứ như vậy đi, mau phái người gửi cho triều đình. Ngoài ra triệu tộc đệ
của Sái Mạo là Sái Toản vào kinh, cho hắn một chức quan. — Tào Tháo vẫn không quên chiếu cố nhà họ Sái, lại hỏi Cao Nhu, — Ngươi có việc gì? — Thương tào thuộc chính là chức phó của Thương tào duyên, thông thường không được trực tiếp bẩm tấu với Thừa tướng; ông ta đến đây ắt hẳn là có việc hệ trọng.
Cao Nhu bỗng nhiên quỳ sụp xuống đất: — Tại hạ xin khẩn cầu thay cho Trường Xã Huyện lệnh Dương Bái! Người này tuy hành hình ép cung hại chết mạng người, nhưng mục đích là trừng trị đám hào cường điêu nô. Nếu ban tội chết cho ông ta, ngày sau liệu ai còn dám đòi lại công bằng cho bách tính? — Cao Nhu ban đầu là Thích gian lệnh sử, nay được điều nhiệm làm Thương tào thuộc, vốn không được quyền quản các vụ án nữa, nhưng vẫn không nhịn được phải bày tỏ lòng mình.
— Ngươi đứng dậy, nghe ta nói. — Tào Tháo khẽ thở dài, — Dương Khổng Cừ là một vị quan tốt, thanh liêm, trong lòng ta hiểu rõ. Năm xưa ta đến Lạc Dương phụng nghênh thiên tử, chiến loạn đói kém, quân đội thiếu lương, khi đó ông ta làm huyện trưởng huyện Nam Trịnh, đã hiến
cho ta không ít lương thực, nhờ vậy mới gặp được thánh giá. Chưa cần bàn đến công lao, chỉ luận về tình riêng ta cũng đâu nỡ giết ông ta. Ngươi không nói thì ta cũng muốn giữ lại ông ta, nhưng có thể tránh tội chết, nhưng khó thoát nổi tội sống, giáng ông ta làm Tả hiệu[1] , chịu vất vả một chút cũng được.
[1]. Giáng làm Tả hiệu tức là phải chịu lao động khổ sai để chuộc tội. Cao Nhu vẫn cảm thấy bất mãn: — Nhưng mà...
— Ta biết ngươi đang nghĩ gì, phải nhẫn nhịn một chút, Dương Bái phải nhẫn nhịn, ngươi cũng phải nhẫn nhịn, lão phu cũng phải nhẫn nhịn thôi! Hiểu chưa? — Tào Tháo hiểu rất rõ, nếu trị một vị quan như Dương Bái, ắt sẽ giúp cho những kẻ vơ vét xa hoa thừa dịp nổi lên, nhưng ông vừa mới thất trận thảm hại, ngưng tụ nhân tâm mới là quan trọng nhất. Quận Dĩnh Xuyên lại là quê hương của rất nhiều trọng thần, không trừng trị Dương Bái thì cũng khó ăn nói với họ. Xét cho cùng trăm ngàn cái sai cũng là tại ông, ai bảo ông bại một trận lớn như vậy?
Cao Như như đã hiểu ra, chầm chậm đứng dậy, không nói gì thêm nữa.
Quân sư Tuân Du lại bẩm tấu: — Có một bức thư do Yết giả bộc xạ Vệ Ký gửi từ Hoằng Nông đến Hứa Đô, lệnh quân lại sai người gửi đến, xin ngài xem qua.
Tào Tháo cũng không muốn xem, tựa vào bến án, chậm rãi gác tay. Ôn Khôi hiểu ý, vội vàng nhận lại bức thư, đọc to:
Chư tướng tây phương đều là đám thất phu quật khởi, không có hùng tâm tráng trí tranh thiên hạ, vị chỉ mong an lạc trước mắt mà thôi. Nay triều đình đã ban tước hiệu, hợp với chí nguyện của họ, nếu như không có biến cố gì lớn, tất họ sẽ không thay đổi. Ngày sau sẽ dễ dàng định liệu. Nếu như xua binh vào Quan Trung, thảo phạt Trương Lô, Lỗ ở nơi thâm sơn cùng cốc, đạo lộ không thông, chư tướng tất sẽ nghỉ ngờ thủ thế; nếu chẳng may kinh động, địa thế hiểm trở lại gặp địch mạnh, chỉ e hậu quả khôn lường!
Việc mượn đường chinh phạt Hán Trung, Tào Tháo đã giao phó cho Chung Do, ngay cả rất nhiều người trong mạc phủ cũng không hề hay biết, nghe xong nội dung bức thư này ai nấy đểu trợn tròn mắt. Cao Nhu đứng không vững, quỳ sụp xuống đất: — Lời của Vệ Ký rất đúng, mong Thừa tướng suy xét! Muốn chinh thảo Trương Lỗ ắt phải định xong Quan Trung. Hiện giờ nếu cử binh, phía tây có Hàn Toại, Mã Siêu, chúng sẽ tưởng rằng Thừa tướng phát binh đánh chúng, khó tránh khỏi cơn phiến động tác loạn. Thừa tướng sao không thu lấy binh quyền của chư tướng Quan Trung trước? Nếu như bọn họ bất phục thì có thể thanh trừ, sau đó mới thảo phạt Trương Lỗ; còn như bọn họ quy phục, vậy ta có thể hợp binh nam hạ vây đánh Trương Lỗ, chỉ cần truyền hịch là có thể bình định Hán Trung.
Tào Tháo nhìn bộ dạng thành khẩn, hoảng hốt của ông ta, vừa tức vừa buồn cười: Đúng là một kẻ rất mực trung thành, tiếc là đầu óc không được thông minh.
Hòa Hiệp đứng ngay cạnh Cao Nhu, chứng kiến cảnh này bèn bước lên phía trước nói: — Tại hạ có một chuyện không rõ, muốn thỉnh giáo Thừa tướng.
Tào Tháo đã hiểu rõ tính cách của Hòa Hiệp, chỉ cần tên quỷ xấu này hỏi thì ắt sẽ hỏi đến cùng, nghĩ đoạn bèn cười khà khà: — Ngươi lại có câu hỏi gì định làm khó cho lão phu đây?
Hòa Hiệp rướn cái đầu như trái bí đao lên, dõng dạc hỏi: — Tại hạ xin hỏi Thừa tướng, ngài định thảo phạt Trương Lỗ thật hay là có ý đồ gì khác?
Đúng là đi thẳng vào vấn đề: Tào Tháo cử binh tiến vào Quan Trung chỉ là mượn đường diệt kẻ khác, mục đích thực sự chính là ép Hàn Toại, Mã Siêu tạo phản, chỉ khi bọn chúng tạo phản ông mới có thể danh chính ngôn thuận hạ thủ, tiễu trừ đám thế lực phản phúc vô thường này. Ban đầu ông vẫn cân nhắc việc cố gắng thu lại binh quyền một cách nhẹ nhàng, nhưng trước đó không lâu lại nhận được mật báo từ phía nam, Chu Du sau khi đánh bại Tào Tháo ở trận Xích Bích cũng đang trù tính thảo phạt đất Thục. Dù cho Chu Du
từ Trường Giang ngược dòng đánh lên không dễ dụng binh, nhưng nếu như hợp lực với Lưu Bị, rồi ngầm câu kết với chư tướng Lương Châu, vậy thì hơn một nửa thiên hạ trong nháy mắt sẽ trở thành kẻ thù. Để đề phòng hậu họa, Tào Tháo bắt buộc phải ra tay vị trước, đầu tiên phải giải quyết Hàn Toại, Mã
Siêu mới có thể quay sang tiêu diệt Giang Đông. Tây chinh chẳng qua là để quét sạch hậu họa cho lần nam chinh tiếp theo, kỳ thực từ ngày trở về Nghiệp Thành, ông đã bắt đầu trù tính, sớm đã bí mật lệnh cho các tướng Chu Diệu, Quản Dung, Trương Thiệp, Lý Thứ ở Thanh Châu ngày đêm thao luyện thủy quân trên biển Bột Hải để làm quen với thực chiến trong điều kiện sóng gió. Cho đến giờ có thể thấy Chung Do đã làm rất tốt, không chỉ Hứa Đô đã nhận được tin mà ngay cả Vệ Ký ở Hoằng Nông cũng đã biết, chẳng bao lâu nữa, tin tức này ắt sẽ truyền khắp Quan Trung, xem ra ngày xuất binh không còn xa nữa.
Hòa Hiệp thấy ông chỉ cười mà không đáp, lập tức hiểu ra chân tướng, không tiếp tục truy vấn nữa, quay sang cúi người đỡ Cao Nhu dậy: — Hiền đệ, việc này Thừa tướng đã sớm trù tính, ngài không cần phải nhiều lời nữa.
Tào Tháo chậm rãi đứng dậy, vẻ mệt mỏi: — Chuyện này hôm khác bàn tiếp, cứ như vậy đi. Thứ sử Dương Châu Lưu Phục lâm bệnh qua đời, Thứ sử Lương Châu Hàm Đan Thương bị giết, hiện giờ chức quan vẫn khuyết. Ôn Khôi, lão phu định để ngươi làm Thứ sử Dương Châu.
Ôn Khôi giật nảy mình: — Thừa tướng, tại hạ phạm phải lỗi gì, ngài không muốn tại hạ ở bên cạnh ngài nữa sao?
— Chớ có suy nghĩ lung tung. — Tào Tháo mặt mày tươi tỉnh đáp, — Ngươi thông minh nhanh trí, xử sự ổn thỏa, ta rất muốn giữ ngươi bên mình,
nhưng chuyện ở Dương Châu quan trọng hơn những tạp vụ trong phủ, lão phu muốn dùng hết tài của ngươi đó thôi! Sách Thượng thư có câu: “Cổ quăng lương tai, thứ sự khang tai! [1] ” Ngươi không cần lo lắng, Tưởng Tế sẽ đảm nhậm chức biệt giá cùng ngươi. Người này túc trí đa mưu, các ngươi đổng tâm hiệp lực ắt có thể trong thì an định lê dân, ngoài thì chống được Tôn Quyền. — Kỳ thực, Tương Tế, Lưu Diệp là những lựa chọn không tồi cho vị trí tả quan của Dương Châu, nhưng họ đều là những cựu bộ ở Hoài Nam, quan hệ với Tào Tháo không đủ thân thiết. Từ sau khi nếm trải cuộc phản loạn của Trần Lan, Lôi Bạc, Tào Tháo lại càng đa nghi hơn, Thứ sử của cả một châu chẳng khác nào cánh tay phải nên tất phải dùng đến người trong phủ, còn đám Tưởng Tế, Lưu Diệp còn cần phải quan sát thêm vài năm.
[1]. Được kẻ chân tay đắc lực giúp đỡ, mọi việc sẽ rất tốt đẹp.
Ôn Khôi xuất thân từ Huyện lệnh, vào tướng phủ làm việc cũng đã nhiều năm, nay được phó thác trọng trách, nghĩ mình sắp phải rời xa Tào Tháo, bất giác nước mắt rơi lã chã: — Tại hạ sắp đi, Thừa tướng hãy nhớ bảo trọng, không biết ai sẽ thay tại hạ nhậm chức chủ bạ?
Tào Tháo bỗng đưa tay dứt khoát, chỉ vào giữa quần liêu: — Ông ta!
Mọi người nhìn theo hướng tay chỉ của ông, đều cảm thấy bất ngờ, thì ra là Dương Tu, con của thái úy Dương Bưu. Năm đó Tào Tháo đưa anh ta vào phủ chỉ thuần túy để kiềm chế Dương Bưu, nào ngờ tên tiểu tử này nhanh nhẹn hoạt bát, biết nhiều hiểu rộng, lại được ông rất mực tin tưởng. Chức chủ bạ tuy không cao nhưng cũng được coi là cận thần, tiền đồ ngày sau vô cùng rộng mở. Đám duyện thuộc lần lượt nhìn với ánh mắt ngưỡng mộ, khiến cho Dương Tu cũng cảm thấy hơi xấu hổ. Nhưng ở một góc trong đại đường, hai vị công tử thì người sầu kẻ vui, Tào Thực mặt mày hớn hở, gật gù không ngớt, còn Tào Phi mặt mày u ám.
Bất luận người khác nghĩ thế nào, Tào Tháo luôn đắc ý với quyết định của mình: — Cứ như vậy đi, Ôn Khôi ra ngoài làm Thứ sử Dương Châu, Dương Tu được bổ nhiệm làm chủ bạ. Còn Thứ sử Lương Châu thì...
Lời còn chưa dứt, Tuân Du đã nói xen ngang: — Mấy ngày trước lệnh quân có thư gửi đến, để nghị cho Vi Khang, con của Vi Đoan kế nhiệm chức Thứ sử. Trương Mãnh và Hàm Đan Thương tranh chấp sinh họa, đều do họ là
người ngoài châu không am tường việc quân ở Quan Trung. Vi thị là vọng tộc đất Kinh Triệu, lệnh quân cho rằng vẫn nên dùng sĩ nhân Quan Trung thì ổn thỏa hơn...
— Ông ta vừa nói vừa quan sát sắc mặt Tào Tháo, nói đến câu cuối giọng càng nhỏ lại.
Dùng nhầm Hàm Đan Thương là thất sách của Tào Tháo, Tuân Úc tiến cử Vi Khang rõ ràng là đối lập với ý kiến của ông. Nay điều Tào Tháo cần làm chính là diệt trừ chư tướng Quan Trung, vậy mà Tuân Úc lại muốn dùng người của Vi thị, đất Kinh Triệu làm Thứ sử. Ông lại liên tưởng đến thư can gián của Vệ Ký cũng do Tuân Úc chuyển đến, hẳn là ông ta có thái độ phản đối việc cử binh vào Quan Trung... Phản đối! Phản đối! Tất thảy đều phản đối! Con gái cũng đã gả, lẽ nào Tuân Văn Nhược vẫn một lòng một dạ nghĩ cho vị thiên tử bù nhìn kia ư?
Suy nghĩ của Tào Tháo càng lúc càng đi xa, bất giác nắm chặt tay lại, nhưng chỉ trong giây lát lại chầm chậm thả lỏng — Phải nhẫn nhịn! Chí ít bây giờ vẫn phải nhịn! Ông khẽ thở dài, đưa mắt nhìn Tuân Du: — Lệnh quân muốn tiến cử Vi Khang, vậy quân sư có ý kiến gì không?
Tuân Du vội vàng cúi thấp đầu: — Tại hạ chỉ nghe theo lệnh của Thừa tướng. — Hai nhà Tuân, Tào bất hòa, ông ta kẹp ở giữa đã đủ khó xử rồi, đâu dám tự tiện bày tỏ thái độ. Địa vị của vị đại quân sư này đã không còn như xưa nữa.
Tào Tháo từ từ ngồi xuống, nói giọng mập mờ: — Đã như vậy thì cứ làm theo ý lệnh quân. Lui ra cả đi... Hãy khoan! Vương Xán, Trần Lâm, Lưu Trinh, Nguyễn Vũ, Từ Cán, Ứng Sướng, Phồn Khâm, Lộ Túy, các ngươi ở lại.
— Vâng. — Ngoại trừ những người vừa được gọi tên, tất cả những người khác đều lui xuống cả. Tào Tháo lại nhìn hai đứa con trai, xua xua tay: — Các con cũng ra đi.
— Con xin cáo lui. — Tào Phi, Tào Thực cùng nhau thi lễ, lui ra khỏi Thính Chính đường. Hai anh em nhìn nhau giây lát, dù không nói gì nhưng cả hai đều cảm thấy nghi hoặc: Trời đã tối rồi, phụ thân bảo đám người này ở lại mật bàn điểu gì? Đó đều là những kẻ trứ danh nhờ tài văn chương thơ phú, lẽ nào phụ thân muốn cân nhắc, chỉnh sửa hịch văn? Lẽ nào có liên quan đến
việc thiên tử tặng thêm phong ấp?
Tướng tinh đã rụng[1]
[1]. Tướng tinh chỉ một thần sát trong Tứ trụ, chủ yếu đại diện cho chức quyền, ở đây ám chỉ nhân vật kiệt xuất, có nhiều cống hiến. Câu nói này ý Chu Du đã chết.
Tào Tháo dự định phát binh đánh Quan Trung, không chỉ để diệt trừ mầm họa, mà còn để phòng Chu Du tiến quân phạm vào đất Thục, sau đó câu kết với Mã, Hàn. Nhưng ông không biết cách đó ngàn dặm, sự tình đã có thay đổi — vị Chu Lang Giang Đông một đời mang hùng tâm tráng trí, ý chí ngút trời kia, tính mệnh đang như ngọn đèn treo trước gió.
Sau trận Xích Bích, Chu Du và Tào Nhân kịch chiến tại Giang Lăng, hai bên đọ sức hơn nửa năm, cuối cùng kết thúc với việc Tào Nhân bỏ thành trì lui về Tương Phàn. Liên quân Tôn, Lưu thắng một trận lớn, nhưng điều này không có nghĩa là thiên hạ đã hoàn toàn vô sự, xét cho cùng Tào Tháo vẫn hùng cứ phương Bắc, một lần chiến bại có thể khiến cho nội bộ bất an, nhưng sớm muộn cũng sẽ khôi phục lại thực lực. Quân Tào lui về giữ Tương Phàn, nhìn bề ngoài thì lui một bước lớn, nhưng trên thực tế là chặn yết hầu lên phía bắc. Tương Dương, Phàn Thành cách nhau qua một con sông, tạo thành thế ỷ dốc, chỉ nửa bước thôi cũng rất khó vượt qua, ở mặt Hợp Phì cũng có Trương Liêu, Lý Điển tinh binh mãnh tướng phòng thủ, Giang Đông vẫn chưa đủ thực lực khiếu chiến với Tào Tháo, Tôn thị nếu muốn phát triển thì bắt buộc phải tìm đường khác.
Tồi tệ hơn, kẻ từng cúi đầu cầu cứu là Lưu Bị căn bản không cam chịu khuất phục dưới trướng kẻ khác, cũng đang mở rộng thực lực. Sau trận chiến, Tôn Quyền cũng từng thủ kết mối hữu hảo với ông ta, gặp đúng lúc vợ của Lưu Bị là Cam thị bệnh chết, Tôn Quyền bèn gả em gái cho Lưu Bị làm chính thất phu nhân, sau đó dưới sự hòa giải của Lỗ Túc, ngầm chấp thuận để ông ta công chiếm bốn quận Giang Nam. Nhưng cuộc hôn nhân chính trị giữa hai nhà Tôn, Lưu cuối cùng lại thất bại, Tôn thị mới hơn hai mươi tuổi, còn Lưu Bị đã ngũ tuần, tuổi tác không tương hợp. Cộng thêm vị Tôn phu nhân này từ ngày xuất giá đã mang theo hơn trăm thân binh, tì nữ, đám người đó lúc nào cũng coi Lưu Bị là kẻ chịu ơn, kiêu căng ngạo mạn, coi thường phép tắc. Tôn phu nhân thì tính tình tiểu thư, phàm chuyện gì cũng mưu lợi cho nhà
mình, nghiễm nhiên trở thành tai mắt do Giang Đông phái đến, khiến cho Lưu Bị lúc nào cũng phải đề phòng.
Nhưng đây không phải là căn nguyên chính dẫn đến mâu thuẫn, vấn đề nằm ở việc Lưu Bị ngay từ đầu đã muốn duy trì thế lực độc lập, Tôn, Lưu bắt tay với nhau chỉ là kế sách tạm thời, kẻ địch chung vừa mới lui bước, mâu thuẫn giữa hai bên bắt đầu hiện rõ. Lưu Bị chiếm cứ Nam Quận ở Giang Bắc, nhưng Tôn thị trước sau vẫn không nỡ từ bỏ đất Giang Lăng hiểm yếu, Lưu Bị liền xây dựng thành Công An ở Dầu Giang Khẩu làm đại bản doanh. Rõ ràng, hai nhà Tôn, Lưu đều đang nghĩ cách mở rộng địa bàn, Tôn Quyền bắc phạt gặp nhiều khó khăn, con đường tây tiến lại bị Lưu Bị chặn mất, xét về mặt vị trí địa lý thì vô cùng bất lợi. Còn Lưu Bị lại phát triển rất nhanh chóng, đặc biệt là sau cái chết của Lưu Kỳ, ông ta vừa dung hợp các bộ thuộc cũ và mới, vừa chiêu hiền nạp sĩ, những nhân sĩ Kinh Châu như Mã Lương, Phan Tuấn, Trần Chấn, Liêu Lập, Tông Dự, Trương Tồn, Tập Trinh đều đến dưới trướng của ông ta. Thậm chí Lưu Bị còn “dâng tấu triều đình” , biểu tấu Tôn Quyền làm Xa kỵ tướng quân, lĩnh Từ Châu mục, dụng ý rất rõ ràng: Bắc phạt Tào Tháo là việc của ngươi, còn về phía tây đừng có mưu đồ gì!
Chu Du, Lỗ Túc và cả Cam Ninh từ lâu đã có ý muốn men theo bờ sông tiến lên chiếm lấy đất Thục, há lại chấp nhận sự phân công như vậy? Để thay đổi cục diện bị động, Giang Đông liên tiếp điều sứ giả đi giao thiệp việc mượn đường chinh phạt đất Thục, bất đắc dĩ từ vị thế là bề trên khi cho Lưu Bị địa bàn, giờ lại trở thành chiếu dưới khi phải nhờ cậy ông ta. Lưu Bị năm lần bảy lượt khất lần không chịu, cuối cùng Tôn Quyền lại phải tự mình viết một phong thư, lời lẽ vô cùng khéo léo: “Giặc gạo Trương Lỗ chiếm cứ Ba Thục, Hán Trung, làm tai mắt của Tào Tháo, mưu đồ Ích Châu, Lưu Chương không thể tự thủ, nếu Tào Tháo công đoạt được đất Thục thì Kinh Châu tất sẽ không một ngày an yên. Nay ta muốn công chiếm Lưu Chương trước, tiếp theo thảo phạt Trương Lỗ, nhất thống Ngô Sở, khi đó có mười Tào Tháo đến cũng không phải lo nữa.” Lại hứa hẹn rằng hai nhà cùng dốc sức chinh phục Hán Trung, ngày sau thành công sẽ chia chác thỏa đáng, Lưu Bị mới miễn cưỡng bằng lòng.
Trong thời gian đó, Chu Du vẫn đồn binh ở Giang Lăng, tận mắt chứng kiến sự phản phúc của Lưu Bị, trong lòng nhẫn nhịn quá đủ. Sau khi hay tin giao thiệp đã ổn thỏa, ông ta lập tức trở về diện kiến Tôn Quyền, kể lể chi tiết kế
hoạch dụng binh, sau đó gấp rút quay về Giang Lăng chuẩn bị điều binh. Nhưng vừa đến Ba Khâu, lại có tin tức từ tiền phương truyền về, Lưu Bị một lần nữa đổi ý, nhất mực nói rằng mình và Lưu Chương đều là tông thân nhà Hán, không cho phép kẻ khác chinh phạt, đoạn phái thêm binh mã đến bên bờ Trường Giang, ra vẻ nhất quyết chặn đường, không cho ai qua.
Trong trận Xích Bích, chư tướng Giang Đông anh dũng chiến đấu, nhưng cuối cùng lại chỉ nhận được nửa quận Giang Hạ và một tòa thành Giang Lăng ở Nam Quận, còn phần lớn Kinh Châu đều bị Lưu Bị cưỡng chiếm, lại còn chặn đứng đường tây tiến, đúng là com cóp cho cọp nó xơi! Chu Du muốn đánh Lưu Bị, nhưng lại sợ Tào Tháo ngư ông đắc lợi, vì vậy đành phải lui binh, quá phẫn uất thành ra sinh tấm bệnh. Vốn tưởng rằng tĩnh dưỡng ở Ba Khâu vài ngày là ổn, nào ngờ bệnh ngày càng trầm trọng, chỉ sau nửa tháng, vị Mỹ Chu Lang vang danh thiên hạ đã không thể cứu vãn.
Kỳ thực Chu Du ủ bệnh đã lâu, từ khi ông ta nhận lệnh cứu nguy đến nay chưa được một ngày nào an nhàn, kịch chiến Xích Bích, truy kích Tào Tháo, công chiếm Giang Lăng, lao lực liên miên. Lại cộng với việc Kinh Châu đang xảy ra ôn dịch, ông ta sức lực mệt mỏi nên đã cảm nhiễm, chỉ gắng gượng qua ngày nhờ ngọn lửa nhiệt huyết khai cương lập nghiệp mà thôi. Nay sự nhiệt tình đã cháy cạn, ngọn lửa sinh mệnh cũng vì thế mà tắt theo...
Một ngày đầu đông, bên bến sông vắng vẻ tiêu điều, bầu trời mờ mịt âm u, đám lau cỏ hai bờ đểu đã héo úa, từng hồi gió đông lạnh buốt lùa qua xào xạc. Chu Du giờ chỉ còn da bọc xương, lay lắt nằm trên giường, âm thầm nhin ra bờ sông cảnh tượng thê lương — Sự quấy nhiễu của con ma bệnh khiến thân thể ông ngày một gầy mòn, lại thêm nước da trắng tuyết, quả thực trông như thiên nhân. Những kẻ bệnh dã đến hồi tận thường không chịu nổi thời tiết này, nhưng Chu Du vẫn cố gắng gượng, ông muốn trong thời khắc cuối cùng được nhìn ngắm lại dòng Trường Giang, nơi mà ông đã lập bao công tích và luôn lấy làm tự hào.
Các tiểu tướng Tống Khiêm, Công Tôn Dương đều đứng hầu bên cạnh, mặt mũi ai nấy đau buồn, sầu thảm; ngay cả tiểu đồng của Chu Du mắt cũng ngấn nước, không biết đã khóc thầm bao nhiêu lần. Còn Chu Du vẫn nằm im không động đậy, âm thầm nhẫn chịu nỗi đau trong thời khắc cuối cùng này.
Trên mặt sông mênh mông bỗng xuất hiện một chiếc thuyền nhỏ, mặc dù
bơi ngược dòng nhưng vẫn vút đi nhanh như tên bắn, không lâu sau tấp vào bờ ưước mặt mọi người. Võ liệt đô úy Lăng Thống từ trong mui thuyền nhảy phốc lên, quỳ sụp trước mặt Chu Du, giọng hớt hải: — Đô đốc cố đợi thêm mấy ngày, chủ công đã triệu Đan Dương thái thú Tôn Du, không lâu nữa ngài ấy sẽ đến Ba Khâu thay ngài lãnh binh. — Tôn Du là con của Tôn Tĩnh, thúc phụ của Tôn Quyền, hiểu rõ thời cuộc, tính tình cẩn trọng.
Chu Du khẽ thở dài: — chỉ sợ rằng ta không chờ được nữa... Đồng nhi, hãy chuẩn bị đi...
Tiểu đồng biết ông muốn viết di thư, lúc này nghe Chu Du dặn dò như vậy, cũng không dám buồn bã nữa, vội vàng lấy bút mực giấy lụa ra. Chu Du cố định thần lại, đọc rõ ràng từng chữ:
Du tài trí tầm thường, năm xưa được ơn tri ngộ của Thảo Nghịch Tướng quân, nên đêm ngày đau đáu, mong hoàn thành trọng trách, thống lĩnh binh mã, chí chấp cung thương, dốc sức tham chiến. Trước định Ba Thục, sau lấy Tương Dương, việc này đã định, ắt giành thắng lợi. Nhưng không may bất cẩn, mắc phải bạo bệnh, đã chữa trị đến nay, vẫn không thể cứu vãn. Nhân
sinh hữu tử, phần số ngắn dài, thần không tiếc nuối, chỉ hận chí lớn chưa thành, phụ lại sự ủy thác của chúa công. Như nay Tào công hùng cứ đất bắc, bờ cõi chưa một ngày yên ổn, Lưu Bị ở trong đất ta, tựa như nuôi hùm dưỡng cọp, việc trong thiên hạ chưa biết bao giờ mới kết thúc. Lỗ Túc trung liệt, hành sự cẩn trong, có thể thay Du. Kẻ sắp chết thường nói lời trung, mong chúa công tiếp nạp, Du thác cũng cam long!
Tiểu đổng cố dằn sầu thảm viết xong, đưa cho Chu Du xem qua. Nhưng Chu Du chẳng còn tâm tư nào để xem nữa, chỉ cố lắc lắc đầu rồi nằm gục xuống giường. Chu Công Cẩn năm xưa tranh cường hiếu thắng là thế, dám dùng ba vạn quân Giang Đông kháng cự hơn mười vạn đại quân, như nay mệnh đã sắp hết mà chí lớn chưa thành, các tướng Lăng Thống, Tống Khiêm đều bất giác đưa tay lên che mặt — Họ không tiện khóc thành tiếng trước mặt ông, chỉ đành thầm chảy nước mắt.
Chu Du ánh mắt thẫn thờ nhìn lên bầu ười, khi nãy dặn dò di thư dường như ông đã ý thức được một số chuyện. Chu Du và Lỗ Túc là bạn chí giao, cũng đều là tâm phúc của Tôn Quyền. Nhưng sau khi đắc thắng Xích Bích, một số việc làm của Lỗ Tử Kính thực sự khiến ông cảm thấy không vui. Đầu tiên ông
ta ngầm cho phép Lưu Bị cưỡng chiếm bốn quận Giang Nam, kết quả chẳng khác gì ném bánh bao thịt cho chó, không lấy lại được địa bàn nữa. Sau đó, việc kết thân với Lưu Bị, cũng do Lỗ Túc âm thầm trợ giúp, khi Lưu Bị qua sông đón Tôn phu nhân, Chu Du và Lã Phạm đều chủ trương cưỡng ép ông ta lưu lại Giang Đông, cuối cùng vẫn là Lỗ Túc kiên quyết thả người. Tiếp đến là chuyện của Bàng Thống gần đây. Bàng Thống, tự Sĩ Nguyên, là một nhân sĩ Tương Dương, túc trí đa mưu, lại thông hiểu quân tình, được ẩn sĩ Kinh Châu Bàng Đức khen là “Phượng Sồ” , tề danh với “Phục Long” Gia Cát Lượng, khi Tào Tháo nam hạ ông ta đã đến Giang Đông lánh nạn, vốn dĩ muốn xuất sĩ dưới trướng Tôn thị. Thế nhưng người này cậy tài ngạo mạn, đặc biệt tỏ thái độ khinh mạn đối với Chu Du, khiến Tôn Quyền rất không hài lòng, kiên quyết không dùng. Nhân vật bậc ấy Tôn Quyền không dùng thì thôi, cho ông ta chết già ở Giang Đông cũng được, vậy mà Lỗ Túc lại chủ động tiến cử ông ta cho Lưu Bị. Bàng Thống đi một chuyến liền được Lưu Bị trọng dụng, chỉ trong một năm đã liên tiếp thăng chức, từ một Huyện lệnh lên thành Quân sư trung lang tướng, ngồi ngang hàng với Gia Cát Lượng, trở thành cánh tay đắc lực của Lưu Bị — Lỗ Túc rốt cuộc đang giúp ai?
Đối với chuyện đó, Chu Du quả thực không hiểu, thậm chí từng oán trách Lỗ Túc, những ngày qua ông lại đang lo lắng việc cử binh phạt Thục. Giờ ông ốm nặng, có lẽ không thể chỉ huy quân đội tung hoành thiên hạ được nữa, vào thời khắc sắp kết thúc của cuộc đời, cuối cùng ông cũng có thể tĩnh tâm, hiểu được suy nghĩ của Lỗ Túc.
Những việc trong thế gian không thể dự liệu, phàm là con người cũng chỉ có thể tính hết chuyện của người, chứ không thể biết thiên mệnh, kế sách toàn vẹn đến mấy kỳ thực cũng chỉ là tạm thời, việc đến chân vẫn cần phải tùy cơ hành động. Cố nhiên Chu Du sớm đã có chiến lược lấy Kinh Châu, mưu đoạt đất Thục, tiếp theo đó phân chia thiên hạ, nam bắc đối đầu với Tào Tháo, nhưng hiện giờ xem ra đã không thể nữa rồi. Kỳ thực bắt đầu từ ngày Tào Tháo nam hạ, Tôn, Lưu liên minh, Lưu Bị đã dự tính trở thành một thế lực tồn tại độc lập. Bình tâm nghĩ lại, mặc dù trận Xích Bích đại thắng, nhưng những trận chiến sau đó cũng không dễ, Chu Du và Tào Nhân giằng co gần một năm tại Giang Lăng, còn Tôn Quyền công chiếm Hợp Phì cũng bất thành, cuộc phản loạn của Lôi Bạc, Trần Lan cũng nhanh chóng bị dập tắt. Lưu Bị mặc dù chiếm được bốn quận Giang Nam dưới sự ngầm cho phép của Tôn
thị, nhưng trong tình thế binh lực Tôn thị đang cần gấp, nếu không phải ông ta hạ thủ cưỡng chiếm bốn quận thì Lưu Ba do Tào Tháo phái đến cũng được dịp nghỉ ngơi, chỉnh đốn binh mã bốn quận để tác oai tác quái, chỉ e Chu Du sẽ lâm vào tình cảnh nam bắc thọ địch. Lúc đó còn có thể lấy Giang Lăng sao? Còn có thể ép Tào Nhân lui về Tương Dương không?
Tuy Chu Du ép được Tào Nhân lui binh, nhưng ngoài Giang Lăng mà ông ta đích thân lấy được ra, đại đa số các thành trì ở Nam Quận đều rơi về tay Lưu Bị, sĩ nhân Kinh Châu cũng muốn tận sức vì Lưu Bị hơn, tại sao lại như vậy? Lý do rất đơn giản, trước đại chiến Xích Bích, Lưu Bị đã góp sức không nhỏ dưới trướng Lưu Biểu, còn Tôn thị lại là kẻ thù của Kinh Châu hơn mười năm nay. Ngay trước khi đối địch với Tào Tháo, Giang Đông còn giết chết Thái thú Giang Hạ là Hoàng Tổ, bên thân bên thù tự nhìn khắc biết, cần gì phải tranh đoạt lòng người Kinh Châu với Lưu Bị? Cục thế thiên hạ ngày nay bắc mạnh nam yếu, nếu không thể gấp rút an định Kinh Châu, vậy thì địa bàn này sớm muộn cũng bị Tào Tháo gặm nhấm, chớ quên các gia tộc lớn như Sái, Khoái đều đã ngả về phía Tào Tháo. Trong tình thế này, Lưu Bị chiếm Kinh Châu cố nhiên đụng chạm đến lợi ích của Tôn thị, nhưng chí ít còn tốt hơn để rơi vào tay Tào Tháo. Lưu Bị giống như ngọa hổ bàn cứ Kinh Châu, dẫu biết rõ rằng ông ta sẽ hạn chế sự phát triển của Giang Đông, nhưng lại không thể hạ thủ. Liên minh Tôn, Lưu tan rã đều không đem lại điều gì tốt đẹp với cả hai nhà, ngược lại sẽ khiến Tào Tháo ngư ông đắc lợi, kể cả Giang Đông tiêu diệt được Lưu Bị, thứ thu về cũng chỉ là cục thế hỗn loạn của Kinh Châu, cùng với đó là việc một mình đối mặt với sự uy hiếp của Tào Tháo.
Kinh Châu nêu đã không thể định được, Tôn, Lưu lại không thể trở mặt, vậy thì việc mưu đoạt Ích Châu liệu nắm chắc được bao nhiêu phần đây? Tạm chưa bàn đến địa thế hiểm trở ở Tam Hiệp, lộ đạo gập ghềnh của đất Thục, kể cả quân Giang Đông có thể thuận lợi đánh vào đất Thục, chỉ cần Lưu Bị muốn thì bất cứ lúc nào cũng có thể cắt đứt con đường tiếp viện từ Giang Đông đến Ích Châu. Khi đó tướng sĩ tiền tuyến liều mạng chém giết cũng để làm gì? Huống hồ Lưu Bị hiện giờ đang trong thế kháng cự, quân Ngô càng không thể tiến binh. Không còn nghi ngờ gì nữa, Lưu Bị cũng đang mưu phạt Ích Châu, mặc dù chưa chắc ông ta đã có thực lực cưỡng chiếm đất Thục, nhưng sớm muộn cũng có thể chờ cơ hội, nên sẽ không đời nào cho Tôn thị cơ hội...
Chu Du dần dần ngộ rạ, Lỗ Túc không hề hồ đồ, thậm chí ông ta còn thực tế hơn mình. Ông ta hiểu rõ mối quan hệ dựa vào nhau để sinh tồn giữa hai nhà Tôn, Lưu, muốn cố gắng duy trì sự hòa hảo dù chỉ là vẻ ngoài hiện nay, không cho Tào Tháo có cơ hội hạ thủ, sau đó định dùng thủ đoạn mềm mỏng ép Lưu Bị giao trả Kinh Châu. Lỗ Túc có sách lược riêng, ông ta cũng đang chờ đợi thời cơ.
Đây đúng là ỷ trời, đúng là tạo hóa. Chẳng ai có thể dự liệu được, nhưng cục thế thiên hạ đã đi đến bước này, không còn cách nào khác. Khi Chu Du chửi Tào Tháo là “Hán tặc” trước mặt quần thần, có bao nhiêu kẻ trong phe chủ hàng nói rằng ông ta hành xử ngược lẽ trời, không biết thiên mệnh. Nhưng đến ngày hôm nay, Chu Du đã dần dần tin vào thiên mệnh, thế cục Kinh Châu đã đến nước này, còn cả hùng tâm tráng chí chưa kịp thi triển của ông ta, tất cả lẽ nào không phải là ý trời sao... Nghĩ đoạn, khóe mắt Chu Du bỗng tuôn trào hai dòng lệ nóng.
Láng Thống thấy ông đau lòng, bất giác phủ phục xuống đất, giọng run rẩy: — Đô đốc xin đừng đau lòng, mạt tướng thề sẽ đoạt lại Kinh Châu, báo thù cho Đô đốc!
— Không... — Chu Du run rẩy đôi môi, — Hiện giờ vẫn chưa phải lúc, bây giờ các ngươi phải chú ý nhất cử nhất động của Lưu Bị. Nếu chúa công không thể lấy được đất Thục, vậy để Lưu Bị lấy cũng được, kể cả Lưu Bị có không lấy được thì cũng phải để Lưu Chương tự thủ, tuyệt đối không được để rơi vào tay Tào Tháo. Lưu Bị đoạt được thì còn có thể hiệp lực chống Tào, nhưng nếu Tào Tháo đoạt được, thì Giang Đông của ta nguy rồi...
Lăng Thống vừa khóc vừa nói: — Lẽ nào chúng ta chỉ biết nhìn tên giặc tai to mở rộng thanh thế sao?
— Đương nhiên không thể... Nếu như hắn ta lấy được đất Thục, vậy phải ép hắn giao nộp Kinh Châu...
— Dư hổ mưu bì[1] há lại dễ dàng? — Lăng Thống lau nước mắt nói, — Nên giao thiệp đòi lấy hay là phát binh thu phục?
[1]. Lấy da của hổ: bắt đối phương tự rút bớt thực lực của mình — Số trời mênh mang, khó có thể đoán được... Ta không theo nổi nữa, đó là
"""