"
Tam Thập Lục Kế 36 Chước Chước Gì Là Hơn - Từ Dĩnh Trạch full prc pdf epub azw3 [Kỹ Năng Sống]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Tam Thập Lục Kế 36 Chước Chước Gì Là Hơn - Từ Dĩnh Trạch full prc pdf epub azw3 [Kỹ Năng Sống]
Ebooks
Nhóm Zalo
GIỚI THIỆU NỘI DUNG BA MƯƠI SÁU CHƯỚC - CHƯỚC GÌ LÀ HƠN
Cuốn sách này được dịch từ nguyên bản Trung văn gồm 36 chước: Chước thứ nhất: Giấu trời qua biển, Chước thứ hai: Một mũi tên bắn hai đích,Chước thứ ba: Mượn dao giết người, Chước thứ tư: Lấy nhàn đánh mệt, Chước thứ năm: Cháy nhà hôi của, Chước thứ sáu: Chỉ Đông đánh Tây, Chước thứ bảy: Biến không thành có v.v...Chước thứ ba mươi sáu: Chước chuồn.
Khi đọc cuốn sách chúng ta sẽ học được những nghệ thuật xử lý công việc một cách khôn khéo, linh hoạt và đạt hiệu quả cao.Tuy nhiên khi được xuất bản chắc hẳn cuốn sách còn có nhiều khiếm khuyết, hi vọng sẽ nhận được sự góp ý và ủng hộ nhiệt tình từ phía bạn đọc để những lần tái bản sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn. Xin gửi lời cảm ơn tới độc giả và trân trọng giới thiệu.
CHƯỚC THỨ NHẤT - Giấu trời qua biển
(Mãn thiên quá hải)
Giấu trời qua biển, tức là nói theo ý câu tục ngữ "qua được biển tức là thần tiên". Trong hoàn cảnh bị người khác khống chế hoặc đang ở thế không có lợi, muốn giành chủ động, chuyển bại thành thắng, rất dễ nảy sinh ý nghĩ "Giấu trời qua biển". Bởi vì kế này nằm ở chỗ lợi dụng sự mất cảnh giác nhất thời của đối phương, mà không nhất định phải trực tiếp làm nguy hại hoặc uy hiếp đối phương, mà lại dễ dàng áp dụng, dễ đạt hiệu quả cao.
"Giấu trời qua biển" khác với "tự che mắt để ăn cắp". "Tự che mắt để ăn cắp" là muốn lừa người khác, nhưng lại biến khéo léo thành vụng về, thành ra lại lừa ngay chính mình, "Giấu trời qua biển", là một kế hoàn chỉnh, có mục đích nhất định, làm người khác ngu muội ngay trong tầm tay mình.
Hậu quả của hai việc này tuy không giống nhau, nhưng đều xuất phát từ nghệ thuật lừa dối, lừa được người tức là "qua được biển là thần tiên". Không lừa được thì như "?". Sự khác nhau giữa thông minh, ngu đần, chẳng qua chỉ cách nhau một sợi tóc.
Hãy nói về Tần Cối, là người thi hành chính sách đầu hàng của Tống Cao Tông, dùng kim bài để triệu Nhạc Phi về, hòng trừ khử viên tướng chủ chiến kịch liệt nhất này đi, đó là thủ pháp, thế nhưng sự việc không kín đáo, gây nên sự công phẫn, đến khi Hàn Thế Trung hỏi thẳng trước mặt rằng Nhạc Phi có tội gì? Tần Cối lại nói: "Không cần phải có". Hàn Thế Trung mới vạch trần sự việc, hét lớn "Không cần phải có", sao phục được thiên hạ. Vì câu nói đó, Tần Cối đã không "giấu trời" nổi. Mấy từ "Không cần phải có" bỗng thành chứng cứ của tên "tự che mắt mà ăn trộm". Cho dù có dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích, thế nhưng thời bấy giờ và ngay cả sau này cũng vẫn bị người đời chửi là đồ Hán gian, ngay đến con cháu các đời sau của hắn cũng còn nói: "Trên đời từ nay vắng tên Cối, đứng trước mồ, ta vẫn xấu hổ vì mang họ Tần".
Cho nên khi áp dụng kế này, nhất định phải quan
sát rõ, cân nhắc cho chu đáo, làm cho mau lẹ, kín đáo. Nếu không sẽ biến khéo léo thành vụng về, hối không kịp.
Thời xưa, Tề Hoàn Công, đã từng dùng cũi tù để dẫn độ Quản Trọng về nước, đó chẳng qua là sợ nước đối địch mưu hại ông ta, rồi khi nước Tần muốn tin dùng Bá Lý Hề, cố ý nói là một tên trốn tù, bỏ ra năm tấn da dê làm giá chuộc, tiếp tục dẫn độ hắn về tiếp tục thi hành án, cũng chẳng qua là sợ nước Sở không chịu buông thả. Gần đây hơn là Lương Thiên Lai ở Quảng Đông muốn lên Kinh đô tố cáo ngự trạng cũng cố ý dùng xe chở tù áp tải về Quảng Châu, đó cũng là do sợ tên thủ phạm Lăng Quý nghe tin chạy trốn mất.
Những kế hoạch đó sở dĩ thành công được đều là do làm kín đáo mau lẹ.
TỀ KHƯƠNG THỪA SAY KHIỂN TRÙNG NHĨ
Thời Xuân Thu, công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ, từ khi bị mẹ kế là Lệ Cơ đuổi đi, lưu lạc ở nước ngoài, lấy nàng Tề Khương công chúa nước Tề làm vợ, cuộc sống khá ung dung.
Cùng sống lưu vong với Trùng Nhĩ còn chín vị thần tử khác trong Triều, ai ai cũng đều có tài kinh bang tế thế, luôn luôn mong mỏi ngày phục hưng đất nước. Họ sở dĩ phải xa lìa vợ con, theo đuổi triều thần tả hữu, cũng không ngoài việc gửi gắm niềm hy vọng vào chàng "con riêng" Trùng Nhĩ này.
Thế nhưng, Trùng Nhĩ đã sống trên đất Tề bảy năm rồi, ngày đêm vợ chồng hú hí, một điều ái khanh, hai điều ái khanh, căn bản chẳng còn để tâm gì đến việc lớn của nước nữa. Trong số thần tử, một đại thần tên là Triệu Thôi, có lần đã nói với mọi người.
– Mục đích của chúng ta cùng công tử lưu vong nước ngoài, là mong sự giúp đỡ của ngoại bang để chấn hưng đất nước, nhưng tình thế hiện nay của nước Tề vô cùng nhiễu loạn, họ đã chẳng lo liệu nổi cho mình lấy đâu ra lực lượng để giúp ta? Chi bằng ta sớm rời khỏi đây, sang nước khác tìm cách khác vậy.
Họ muốn hỏi ý Trùng Nhĩ, song đợi tới mười ngày cũng chưa gặp mặt.
Ngụy Thù không chịu bèn lên tiếng, nói:
– Thế này thì còn ra cái gì nữa!
Lúc đầu mọi người cho rằng công tử là một người có chí khí, nên mới lìa bỏ quê hương đất nước, không nề gian khổ cùng nhau lưu vong. Thế nhưng ông ta lại ngày ngày kè kè bên vợ mới, quên cả anh em chúng ta, việc nước cũng gác bỏ một nơi. Bảy năm trời rồi chẳng làm nên trò trống gì, muốn gặp ông ta, đợi mười ngày vẫn không thấy bóng dáng đâu, thế thì còn nói chi đến việc lớn!
Hồ Yển bèn tiếp lời:
– Đây không phải là nơi bàn công chuyện, xin mời mọi người hãy theo tôi.
Thế là mọi người kéo nhau ra một chỗ ở ngoài cửa Đông Thành gọi là "Bóng dâu", ở đó có một vườn dâu lớn, cây cao lá rậm tầng tầng lớp lớp, nhìn không thấy trời. Họ ngồi túm tụm với nhau một chỗ. Triệu Thôi lên tiếng hỏi:
– Hồ tiên sinh có ý gì muốn dạy chúng tôi vậy? Hồ Yển nói:
– Công tử có muốn rời nước Tề hay không, đó là việc của ông ta, nhưng nên hay không nên đi khỏi đây lại là việc của chúng ta. Chỉ cần mọi người cùng nghĩ cách, chuẩn bị hành lý sẵn sàng, đợi công tử ra, sẽ mời ra ngoài thành đi săn, bước ra khỏi cổng thành, chúng ta sẽ ép ông ta lên đường. Đến lúc ấy, ông ta muốn không đi cũng không được. Mọi người nghĩ xem như thế có được không?
Kế hoạch ấy được mọi người tán thành, vui vẻ ra về, và cho rằng ở một nơi vắng vẻ như nơi này sẽ chẳng còn ai biết được.
Thế nhưng lúc họ đang vui mừng sôi nổi bàn bạc với nhau, đã bị mấy cô gái hái dâu núp trên cây nghe trộm hết, bọn chúng là thịtỳ của Tề Khương vợ Trùng Nhĩ. Hôm ấy bọn họ đang hái dâu bỗng thấy một đám người hội họp dưới gốc cây dâu, bèn dừng tay nín thở nghe lõm. Đến lúc về, đã kể lại hết với Tề Khương.
Tề Khương nghe xong, dặn dò bọn chúng:
– Không được nói nhảm nhí, làm gì có chuyện đó, cũng không thể xảy ra chuyện đó được.
Nói xong đem nhốt bọn thịtỳ ấy vào một căn phòng kín, nửa đêm ngầm sai tay chân giết hết đi để bịt đầu mối.
Sau đó, bèn đem mọi chuyện nói hết lại với Trùng Nhĩ:
– Các thần tử của chàng muốn chàng rời khỏi đây sang nước khác, hôm nay họ đã họp bàn ở vườn dâu, để cho bọn thịtỳ hái dâu nghe trộm được, thiếp e chúng nó lở mồm hở chuyện ra gây điều rắc rối, nên đã giết hết cả rồi, chàng hãy sớm chuẩn bị để ra đi cùng họ.
Trùng Nhĩ nghe xong, trừng mắt lên, ngay sau đó lại chau mày, thở dài:
– Ôi! Làm người thì cũng chẳng ngoài việc mưu cầu hưởng thụ, hà tất phải bôn ba đây đó làm gì? Chuyện đã qua thì hãy cứ để cho nó qua đi có tốt hơn không? Hiện giờ ta đã rất vừa lòng với cuộc sống này rồi, ta định sẽ suốt đời ở đây, không bao giờ nghĩ đến việc đi nơi khác nữa.
Tề Khương nói hết sức nghiêm chỉnh và chính
đáng:
– Dân chúng nước Tấn của chàng đang mỏi mòn trông đợi chàng về làm chủ. Lẽ nào đến làm vua, chàng cũng không muốn làm? Mối thù của anh em cũng không muốn báo? Không quan tâm chút nào đến nỗi thống khổ của muôn dân, đến lợi ích của đất nước?
Trùng Nhĩ nổi giận nói:
– Thôi đủ rồi, đủ rồi, hãy im đi! Ta đã chán nghe những lời đó, chán cả cảnh sống lưu vong đây đó, đây chính là nhà ta, bất kỳ thế nào ta cũng không đi khỏi đây!
Sớm ngày hôm sau, bọn Triệu Thôi đến yết kiến Trùng Nhĩ, mời đi săn. Lúc đó Trùng Nhĩ còn chưa dậy, uể oải nằm trên giường, nghe thấy bọn người kia tới, bực bội trong lòng, bèn sai người ra báo với họ rằng, trong người khó chịu, không thể tiếp kiến được.
Tề Khương thấy vậy, rủa thầm một câu: "Đồ hại dân", rồi ngầm sai người tâm phúc mời riêng Hồ Yển vào một phòng kín, đuổi hết tả hữu lui ra, hỏi nhỏ Hồ
Yển đến có việc gì?
Hồ Yển nói:
– Công tử bình thường rất thích săn bắn, gần đây ít khi ra ngoài, e rằng lâu ngày không cất nhắc chân tay, mai một mất võ nghệ, cho nên bọn thần tới đây có ý muốn mời người đi săn; ngoài ra không có việc gì khác ạ!
Tề Khương mỉm cười, cố ý nói xa xôi, hỏi:
– Thế lần này đi săn, các ông định đi đến đâu? Nước Tống, nước Tần, hay nước Sở?
Hồ Yển nghe đến đấy, giật mình, ngẫm không hiểu sao mà bà ta biết chuyện, nhưng vẫn tảng lờ như không, đáp:
– Dạ, thưa đi săn thì làm gì mà phải đi xa thế ạ?
– Đúng ra, đi săn thì cũng chẳng kể gì xa hay gần, vả lại vật săn không hẳn là muông thú, có khi lại còn săn cả người, phải thế không?
Hồ Yển đã cảm nhận được trong lời nói đó có ý châm chọc, bất giác không mở miệng ra được nữa, vội cúi gằm mặt, ngước mắt nhìn trộm Tề Khương.
Tề Khương bèn thực thà hỏi lại:
– Thôi thì ta nói cho mà nghe, mục đích của các người đến đây ta đã hiểu rồi, mượn cớ là đi săn, để trước hết là săn công tử, rồi ép người lên đường cao chạy xa bay, có đúng vậy không?
– Dạ cái đó... – Hồ Yển bắt đầu run, lúng túng, không biết làm gì.
– Ta đã biết hết, nhưng xin lão tiên sinh chớ nên lo lắng. Tề Khương mạnh dạn đứng lên nói: – Ta biết rất rõ, các vị một dạ trung thành, làm như vậy hoàn toàn là vì tiền đồ của công tử, vì muôn dân của nước Tấn. Tối hôm qua, ta cũng đã khuyên nhủ mấy lần, song công tử vẫn không tỉnh ngộ, nói rằng có chết cũng không rời khỏi đây.
Lúc này Hồ Yển mới thấy yên tâm, nói:
– Thật khó mà có được người thấm sâu đại nghĩa như phu nhân đây!
– Thế nhưng có điều... Tề Khương nói tiếp – Sớm muộn gì ta cũng phải đưa công tử đi, thế này nhé, tối nay ta sẽ tìm cách cho công tử uống thật say, để các ngài đưa công tử đi suốt đêm, lão tiên sinh xem thế nào? Có được không?
– Được thì hẳn là được, thế nhưng, phu nhân...?
– Các người không phải lo cho ta. Các người đã vì công tử, xa lìa vợ con lưu lạc nước ngoài, lẽ nào ta không thể chịu khổ vì chồng một chút hay sao? Công tử là người nước Tấn, thuộc về dân chúng nước Tấn. Ta làm sao có thể ích kỷ, để cho bao nhiêu người bị thất vọng như thế...?
– Phu nhân! Người...
– Thôi hãy mau mau về chuẩn bị đi, còn cứ phu nhân, phu nhân mãi thế làm gì?
Hồ Yển cáo từ lui ra, lập tức đi thông báo cho
mọi người, chia nhau chuẩn bị mọi thứ, nhất nhất sắp xếp đâu vào đấy. Bọn Triệu Thôi bí mật ra ngoài thành đợi sẵn. Hồ, Ngụy hai người đưa xe đợi nơi cổng thành đón tin của Tề Khương.
Tối hôm ấy, Tề Khương bày tiệc linh đình, vợ chồng cùng dự, Trùng Nhĩ hỏi lý do gì vậy? Tề Khương nói:
– Thiếp biết công tử sắp đi chơi xa nên bày tiệc để tiễn chàng!
– Ta nói với ái khanh điều này bao giờ? Trùng Nhĩ tỏ ra lạ lùng, tiếp:
– Ôi dào, người sống trên đời chẳng qua cũng chỉ mấy chục năm, đây sống được thì thôi, hà tất phải tất bật khắp nơi phiêu bạt!
– Khốn thay các thần tử của chàng muốn ra đi, lẽ nào chàng không ưng thuận? Tề Khương thẽ thọt hỏi thêm.
Trùng Nhĩ bỗng thay sắc mặt, chén rượu đang
uống bỗng dừng, nét mặt bỗng sa sầm, lặng nhìn vào khoảng không chẳng thèm nói một lời. Một lát sau, Tề Khương vừa cười vừa hỏi:
– Có thực chàng không đành lòng xa thiếp, chàng không lừa dối thiếp chứ?
– Ai dối nàng làm gì? Đại trượng phu đã nói không đi là không đi, lấy dao kề cổ cũng không đi – Trùng Nhĩ ngẩng đầu, gạt tay một cái trong không, làm ra dáng khí phách của bậc đại trượng phu!
– Ái dà! Lòng dạ thiếp giờ đây mới thực yên tâm đấy! Tề Khương bỗng cười lên, ngã vào lòng chồng, rồi nũng nịu.
– Thiếp cố ý thăm dò vậy thôi, cả mấy lão kia cũng thế, họ muốn chia rẽ vợ chồng mình! Nói để chàng hay, bữa tiệc này, nếu chàng thực lòng muốn đi, thiếp có giữ cũng không được thì để tiễn chàng. Còn nếu không đi ư? Thì là để chúc mừng đôi ta từ nay mãi mãi không bao giờ chia lìa. Đã rõ chưa, sao mà ngốc thế? Nàng dùng ngón tay chỉ yêu vào trán chồng, khiến đầu Trùng Nhĩ lắc lư, rồi hai ánh mắt gặp nhau, bỗng chẳng hẹn mà nên, cùng cất tiếng
cười, cả hai người cùng đắm say trong niềm hoan lạc.
Tề Khương luôn chuốc rượu cho chồng. Trùng Nhĩ quá vui, dốc vào miệng hết chén này đến chén khác, chẳng bao lâu đã say bí tỷ, rồi ngã gục xuống.
Tề Khương vội vàng dùng khăn quấn chặt người Trùng Nhĩ rồi cho người đi báo cho với bọn Hồ, Ngụy. Được tin họ cùng vào khiêng cả người lẫn chăn ra đặt vào xe rồi dứt khoát ra roi. Tiếng giục ngựa vang lên, kèm theo là tiếng vó ngựa gõ mặt đường. Xe từ từ chuyển bánh.
Tề Khương đứng lặng người trong khung cửa, ngoái ra xe vẫy tay liên hồi, bỗng lòng nhói lên, không cầm lòng nổi, nước mắt cứ thế tuôn lã chã.
TÍN LĂNG QUÂN TRỘM PHÙ CỨU TRIỆU
Tần Chiêu Vương cử Bạch Khởi làm chủ tướng, sau khi tiêu diệt bốn mươi vạn quân nước Triệu ở Trường Bình, thừa thắng áp đảo tận Kinh thành, vây chặt thành Hàm Đan.
Em trai của vua Triệu là Bình Nguyên Quân, lại là anh rể của Tín Lăng Quân, công tử nước Ngụy, bởi vậy Triệu Vương mấy lần cầu xin với Ngụy Vương và Tín Lăng Quân cho quân nước Ngụy ra cứu viện.
Ngụy Vương bèn cử tướng quân Tấn Bỉthống soái mười vạn đại quân đi cứu nước Triệu.
Tần Vương nghe được tin này, lập tức cho người đi cảnh cáo Ngụy Vương rằng:
– Ta đem quân đánh nước Triệu, sớm muộn gì cũng đánh được họ, bất kỳ nước nào dám đem quân đi cứu viện, sau khi ta đánh xong nước Triệu, sẽ điều quân đi đánh nước đó luôn.
Ngụy Vương nghe vậy hết sức lo lắng, vội lệnh cho Tấn Bỉ dừng cuộc tiến lại, đóng quân ở Nghiệp thành, trên danh nghĩa nói là đi cứu viện nước Triệu, nhưng thực tế là quan sát nghe ngóng tình thế, rồi áp dụng thái độ hai mặt.
Bình Nguyên Quân đợi đã sốt ruột, luôn cử người sang nước Ngụy trách Tín Lăng Quân:
– Ta sở dĩ làm thân thích với nước Ngụy, chính
vì nhà ngươi có lòng hào hiệp, nghĩa khí, có thể giải cứu mối nguy nan cho kẻ khác. Giờ đây, Hàm Đan sớm muộn gì cũng mất, mắt đã trông thấy cảnh phải
đầu hàng nước Tần, thế mà cứu binh nước Ngụy trước sau vẫn cứ dò xét trên đường đi, chẳng còn thấy nghĩa khí của người đâu nữa? Chị ngươi sợ mất thành thì bị bắt, đêm ngày than khóc, cho rằng ngươi không đồng ý thì với ta cũng được, nhưng lẽ nào ngươi lại không đoái thương cả chị gái mình...?
Tín Lăng Quân rất buồn lòng, nhiều lần đi thỉnh cầu Ngụy Vương, còn nhờ cả người khác đến khuyên việc tiến binh. Nhưng Ngụy Vương lại sợ nước Tần trả thù, trước sau vẫn không bằng lòng.
Tín Lăng Quân biết Ngụy Vương không còn bụng dạ nào đi cứu Triệu nữa, bèn tự mình quả quyết đi cứu nước Triệu. Sau khi bàn bạc với các môn khách, Tín Lăng Quân đã tập hợp được một trăm bộ chiến xa, chuẩn bị xông vào đánh nước Tần, cùng sống mái với nước Triệu.
Tín Lăng Quân dẫn quân qua cửa đông thành thì gặp lão già gác cổng là Hầu Sinh, bèn nói với ông ta về việc mình muốn đi sống mái một phen với nước
Tần. Đến lúc chia tay, Hầu Sinh lạnh lùng nói:
– Người hãy cố đi làm việc ấy, lão già rồi, không thể đi cùng được.
Đi được mấy dặm, Tín Lăng Quân chợt nghĩ: Bình thường mình chẳng có điều gì làm mất lòng Hầu Sinh bao giờ, mình sắp đi sống mái một phen với kẻ khác, tại sao lại không một lời khuyên can, hay động viên? Quả là chuyện kỳ lạ, bởi thế bèn bảo mọi người dừng lại, một mình quay trở về.
Lúc ấy Hầu Sinh đang đứng ngoài cửa, thấy Tín Lăng Quân quay lại, bèn cả cười và nói:
– Ta biết ngay, thế nào ông cũng quay lại tìm ta mà!
– Tiên sinh sao lại biết? – Tín Lăng Quân hỏi lại. Hầu Sinh nói:
– Chuyện đó thật đơn giản! Xưa nay ông rất tốt với lão, bây giờ sắp đi vào chỗ chết, lão lại chẳng hề
tiễn đưa, trong lòng ông sẽ ấm ức không vui, lão đoán ông sẽ quay lại, hỏi cho ra nhẽ!
Tín Lăng Quân nói:
– Đúng thế, tiên sinh đoán không sai, tôi e rằng mình có gì thất lỗi với tiên sinh, mới khiến người lạnh nhạt với tôi như thế, cho nên muốn hỏi cho ra nhẽ!
– Ta biết xưa nay ông vốn quý trọng người tài, nuôi nấng bao nhiêu môn khách như thế, nhưng đến nay gặp phải chuyện nguy nan, lại chẳng nghĩ ra được cách gì, chỉ còn mỗi cách là đi thí mạng cho quân Tần, thế thì chẳng khác gì đưa thịt dâng vào miệng cọp, thử hỏi liệu có ích gì?
– Tôi vẫn biết chẳng ích lợi gì – Tín Lăng Quân đáp – Nhưng Bình Nguyên Quân là anh rể tôi, tình nghĩa lại rất sâu, lúc này đang gặp nạn, tính mạng lâm nguy một sớm một chiều, tôi không thể thấy chết mà không cứu. Tuy rằng cũng đã tự bảo mình, làm như vậy phỏng có ích gì, chẳng hay lão tiên sinh có cách khác không?
– Xin mời vào trong ngồi chốc lát, rồi ta cùng
bàn xem sao.
Hầu Sinh bảo mọi người hãy ra ngoài, hỏi nhỏ Tín Lăng Quân:
– Ta nghe nói hiện nay có một người đẹp được Ngụy Vương cưng chiều nhất, tên là Như Cơ, đúng vậy không?
– Dạ đúng vậy!
– Lại nghe nói cha đẻ của Như Cơ bị người giết hại, nàng ôm hận suốt ba năm, từ Quốc Vương cho chí quần thần ai cũng muốn trả thù cho nàng, nhưng không có cách gì tìm ra kẻ thù đó. Rồi có lần, vì việc này, nàng đã than khóc kể lể với ông, ông đã lập tức cử môn khách dưới quyền đi dò xét, nhanh chóng mang được đầu kẻ ấy về dâng Như Cơ, có chuyện ấy không?
– Dạ đúng, quả thực có chuyện như vậy!
– Thế thì tốt rồi – Đôi mắt của Hầu Sinh chợt sáng lên, và ông nói tiếp kế sách của mình. Ông đã
thay Như Cơ trả mối thù giết cha mình, nàng sẽ cảm kích tới mức nếu phải hy sinh cả tính mạng vì ông cũng không từ chối, ông hãy tận dụng thời cơ này, từ nàng mà tìm ra mưu sách.
– Nàng là đàn bà con gái, thử hỏi liệu có thể có mưu sách gì? Nàng đâu có phép như phù thủy rắc đậu thành binh! – Tín Lăng Quân tỏ ra thất vọng.
– Vậy ta hỏi thêm câu nữa – Hầu Sinh nói – Có phải Ngụy Vương cử Tấn Bỉ dẫn mười vạn quân đó cứu nước Triệu không?
– Đúng vậy, nhưng Ngụy Vương lại bảo hắn dừng lại nửa đường, không được tiến lên.
– Hãy tạm không cần hỏi đến lý do không tiến quân, nhưng ông có cách gì bắt Tấn Bỉtiến quân không?
– Tất nhiên là phải có mệnh lệnh của Ngụy Vương rồi!
– Vậy Ngụy Vương ra lệnh thì lấy vật gì làm
chứng cứ?
– Binh phù!
– Đúng rồi! – Hầu Sinh bỗng đứng phắt dậy, vô cùng phấn chấn nói tiếp với Tín Lăng Quân – Chỉ cần tìm cách nắm được "binh phù" trong tay, quân quyền của Tấn Bỉ sẽ về tay ông, quân Ngụy sẽ có thể lập tức tiến về Hàm Đan, và có phải như vậy nguy cơ của nước Triệu được giải thoát rồi không? Ông hãy nghe tôi nói, binh phù của Ngụy Vương vẫn giấu nơi phòng ngủ, chỗ đó chỉ có mình Như Cơ được đến gần mà thôi. Bây giờ thì ông hãy mau mau về gặp nàng, chỉ cần ông ngỏ lời xin nàng giúp, lấy trộm được binh phù ra, đời nào nàng lại không giúp. Như vậy, ông có thể giành được binh quyền từ tay Tấn Bỉ, có thể chỉ huy quân sĩ, phía Bắc cứu được nước Triệu, phía Tây đánh tan quân Tần, đó là một chiến công rất ghê gớm, là một cơ hội ngàn năm khó gặp vậy.
Tín Lăng Quân dùng mưu kế của Hầu Sinh, đi nhờ Như Cơ. Quả nhiên Như Cơ không hề thoái thác còn nói:
– Công tử trước đây đã có ơn lớn với tôi, tôi còn
đợi dịp báo đáp, huống hồ đây lại là một nghĩa cử hào hiệp của công tử, dù thế nào đi nữa tôi cũng làm trọn việc này.
Ngay tối ấy, Như Cơ đã tìm cách mời Ngụy Vương uống rượu thật say, rồi lừa dịp lấy trộm binh phù, dùng một cái hộp hoa dán kín lại, gọi một thịtỳ
gần gũi nhất ngay trong đêm đưa tận tay cho Tín Lăng Quân.
Tín Lăng Quân mừng không kể xiết, lập tức đi gặp Hầu Sinh và xin hỏi ông ta còn cao kiến gì nữa không? Hầu Sinh nói:
– Phàm là một vịthống soái ở ngoài tiền tuyến đều có quyền quyết đoán tuyệt đối, ngay như lệnh của Chúa thượng có thể từ chối không chấp hành. Bây giờ ông mang binh phù ra phía trước. Tấn Bỉ có thể không trao binh quyền cho ông. Nếu hắn có ý muốn thỉnh thị lại Đại Vương, thì việc sẽ hỏng bét. Trong những lúc nguy cấp như thế, cách duy nhất là phải xử trí quả đoán mới được. Tôi có người bạn thân là Chu Hợi, làm nghề bán thịt lợn, có sức khỏe hơn người, ông ta có thể giúp ông trong việc này. Đến lúc đó Tấn Bỉ sẽ giao binh quyền một cách suôn sẻ, đó là
điều tốt nhất, bằng không, nếu hắn ta từ chối, thì để Chu Hợi giết quách hắn ngay tại chỗ là xong.
Tín Lăng Quân nghe đến câu nói đó, bỗng thấy xót xa trong lòng, bật khóc lên.
– Làm sao thế, ông khóc ư? Ông sợ chết hay sao? – Hầu Sinh kinh ngạc hỏi.
– Không ạ! – Tín Lăng Quân đáp – Tôi đâu có sợ chết, mà tôi thương cho Tấn Bỉ phải mất mạng vì tôi.
– Đại trượng phu, làm việc gì không độc là không xong, đây là đại sự quốc gia, không thế thì không thể đạt được mục đích! Đi thôi!
Nói đoạn, cả hai cùng đi tìm Chu Hợi, nói rõ ý mình. Chu Hợi cười nói:
– Tôi chẳng qua chỉ là anh hàng thịt, may mắn được công tử nhìn tới, mấy lần tự tìm đến tôi, trước đây tôi chưa từng đáp tạ ngài, bởi thấy rằng những thứ lễ tiết vặt vãnh đó chẳng có mấy ý nghĩa, bây giờ
công tử đang gặp nạn, đúng là lúc để tôi báo đáp – Nói vậy và bằng lòng ngay.
Tín Lăng Quân sắp lên đường, đến chào Hầu Sinh, Hầu Sinh nói:
– Đáng lý ra ta phải đi cùng với ông, nhưng vì tuổi đã cao, đi cũng chẳng được việc gì. Thôi đành ở lại, để tính đến ngày ông đến được nơi Tấn Bỉ, ta chỉ còn cách lấy cái chết để báo đền lại tấm ơn tri ngộ cùng ông...
Tín Lăng Quân dẫn quân đến Nghiệp Thành, giả truyền lệnh của Ngụy Vương, muốn tước ngay binh quyền của Tấn Bỉ. Tấn Bỉ đem binh phù ra kiểm nghiệm quả thực không sai, nhưng lòng hết sức nghi hoặc, hai mắt như dán vào Tín Lăng Quân nói:
– Ta dẫn mười vạn quân trấn thủ nơi biên ải, trách nhiệm thực to lớn, nay ông một mình đến thay ta nắm binh quyền, rốt cuộc là như thế nào? Để ta thỉnh thị lại Ngụy Vương đã rồi sẽ trao binh quyền lại cho ông, có được không?
Chu Hợi đứng bên đã không nhịn được nữa, rút
ngay cái búa giấu sẵn trong tay áo nhằm đầu Tấn Bỉ giáng xuống, Tấn Bỉ bị đánh chết ngay tại chỗ.
Tín Lăng Quân tiếp nhận binh quyền của Tấn Bỉ, kiểm duyệt xong người ngựa, rồi phát ra mệnh lệnh:
– Ai có cha con cùng ở trong quân đội, thì cha được giải ngũ về nhà, anh em cùng ở, thì anh sẽ về, ai là con một cũng cho về phụng dưỡng mẹ cha.
Chỉnh đốn xong quân ngũ như thế, còn được hơn tám vạn tinh binh, bèn cử người báo với Triệu Vương hẹn ngày, hai phía trước sau cùng giáp công.
Đến ngày tiến quân, Tín Lăng Quân dẫn đầu, như một con cọp sổng chuồng, xông thẳng vào doanh trại quân Tần. Bình Nguyên Quân, cũng thừa cơ đánh ra khỏi thành, giết cho quân Tần trở tay không kịp, máu đổ thành sông, vội vàng tháo chạy về nước Tần.
Và như thế Hàm Đan được giải vây, nước Triệu cũng chuyển từ nguy kịch thành yên hàn. Đến lúc này, quân Tần cũng không còn dám huênh hoang tùy tiện nữa.
CHƯỚC THỨ HAI - MỘT MŨI TÊN BẮN HAI ĐÍCH (Nhất thỉ song điêu)
Nói đến "một mũi tên bắn hai con chim điêu", người ta thường hay nghĩ đến quan hệ yêu đương trai gái, mối quan hệ phổ biến nhất từ xưa đến nay, nổi bật nhất là phải kể đến chuyện Đường Minh Hoàng và Lý Hậu chủ. Đường Minh Hoàng sau khi lấy được Dương Quý Phi, bèn vơ luôn cả chị của nàng là Quắc Quốc phu nhân và Tần Quốc phu nhân để làm tình phụ. Lý Hậu chủ khi đã có Chu Hậu, gặp được em gái bèn tính bài nước chảy chỗ trũng, ngang nhiên hẹn gặp riêng rồi làm cho Chu Hậu tức đến chết, sau đó danh chính ngôn thuận làm cái chuyện con chị đi con dì đến, lấp chỗ trống trên giường anh rể. Đấy là kiểu một mũi tên bắn hai đích trong tình yêu, hoặc nói theo kiểu dân gian là "hoa thơm chơi cả cụm".
Nhưng cái đó không phải là kế, chẳng qua là chuyện lợi dụng quyền uy và tiền bạc để giành giật
lấy mà thôi.
Còn như áp dụng trong đấu tranh thì không thế, kế sách thường đi đôi với máu và nước mắt. Một cục diện tạo nên bởi máu và nước mắt thì tuyệt nhiên không thể nói đến hòa bình.
Một mũi tên bắn hai đích còn gọi là một hòn đá ném hai con chim. Cũng như tục ngữ thường nói là "mua một bán hai", cũng chẳng khác gì chỉ dùng một chưởng mà đánh đổ được hai kẻ địch trở lên.
Thi hành kế này, không phải đơn giản, càng không dễ dàng, bởi vì cùng một lúc phải đối đầu với mấy người, không thận trọng là mang vạ vào thân. Cho nên trước, sau khi thi hành kế, đều không được để lộ bản lĩnh của mình, càng không được quá nôn nóng, phải chịu đựng được sự thử thách của thời gian và không gian.
Tư tưởng và hành động của con người phát triển theo nhiều hướng, nhưng chung quy, cũng không ngoài danh và lợi. Bởi vì người ta mà háo danh thì phải tranh, háo lợi thì phải giành. Lớn thì tranh lớn, kết quả của tranh giành là có kẻ khóc, có người cười,
hoặc là thất bại ê chề cả đôi bên.
Khi tiến hành kế sách, thì phải dựa theo nguyên tắc này, tức là phải điều tra nắm vững tường tận về tình hình tư tưởng, điều kiện và hoàn cảnh của đối phương, so sánh những điểm giống nhau của mỗi bên, tìm hiểu thấu đáo những mâu thuẫn giữa họ với nhau. Đối phương là hạng háo "danh" thì phải chuẩn bịtâng bốc cho nhiều. Nếu là hạng háo "lợi" thì phải năng đi lại lấy lòng. Nếu gặp hạng háo cả danh cả lợi thì chỉ còn cách là vài lời tâng bốc kèm thêm một hạt kim cương mới được.
Đó tức là lấy lòng của người ta, mục đích là để đối phương không nghi ngờ gì mình, mà dù có nghi ngờ cũng không đến nỗi chĩa dao vào mặt mình. Cứ như thế "mưa lâu thấm đất", cho đến lúc điều kiện chín muồi, sau đó mới giở ngón đòn độc đáo, gây ra chuyện, để đối phương đụng đầu với nhau, mình chỉ còn việc tọa sơn quan hổ đấu, chờ cho hổ cốt rơi xuống mà đem về.
Người thông minh nhất, là sau khi giết người, làm cho cái đầu rơi xuống đất vẫn còn quay lại nói lời tạ ơn.
ÁN ANH DÙNG HAI QUẢĐÀO GIẾT BA DŨNG SĨ
Thời Xuân Thu, nước Tề có ba người dũng sĩ là Điền Khai Cương, Cổ Dã Tử và Công Tôn Tiệp rất được vua Tề Cảnh Công quí mến. Ba người kết nghĩa làm anh em, tự xưng là "tam kiệt nước Tề". Bọn họ thường huênh hoang cậy công, ngang ngược càn rỡ, không coi ai ra gì, thậm chí ngay cả trước mặt quốc vương họ cũng vẫn xưng hô mày tao chi tớ. Lúc đó bọn loạn thần Trần Vô Vũ, Lương Khâu Cứ thừa cơ mua chuộc lũ người kia, âm mưu định lật đổ nhà vua, cướp ngôi.
Tể tướng Án Anh không để việc đó qua mắt mình, thấy thế lực hiểm ác đó dần dần lớn mạnh sẽ nguy hại đến chính sự của đất nước, nên từng giờ lo lắng. Ông biết rõ chủ lực của đảng gian ấy là ở vũ lực, ba dũng sĩ ấy chính là chủ bài, nhiều phen đã định giết quách đi, nhưng họ đang được vua yêu, lại sợ Tề Vương không nghe theo sẽ làm hỏng việc.
Có Mẫu hậu, Lỗ Thiệu Công ở nước láng giềng cùng đại thần bộ Lễ Thúc Tôn Nhược sang thăm, ngỏ ý muốn gặp Tề Cảnh Công. Cảnh Công lập tức mở tiệc
chiêu đãi, và bảo Tể tướng Án Anh cùng tiếp, quần thần văn võ đều được mời dự, để cho thêm phần oai vệ. Ba dũng sĩ cũng vũ trang đầy đủ đến dự, ngồi tiếp khách ở hai bên tả hữu, oai phong lẫm liệt, làm ra bộ kiêu ngạo nhất trên đời.
Rượu quá ba tuần, Án Anh bước lên tâu trình:
– Hiện nay, cây kim đào trong ngự uyển quả đã chín, chẳng mấy lúc họp mặt đông đủ thế này, liệu có nên hái một ít về đãi khách?
Cảnh Công lập tức cử viên quan coi vườn ra hái đào. Án Anh lại nói:
– Kim đào là thứ đào tiên hiếm có, cần phải tự tay thần hái xuống, mới thật là trịnh trọng.
Một lát sau, đào đã được hái về bày lên mâm, trái nào cũng to như miệng bát, hương thơm tỏa ra ngào ngạt. Cảnh Công vừa thấy đã hỏi:
– Chỉ có mấy trái thế này thôi sao? Án Anh đáp:
– Trên cây còn mấy trái nhưng chưa chín, chỉ có thể hái về được sáu bảy trái cả thảy.
Hai vị Quốc Vương mỗi người cầm một trái ăn luôn và khen ngợi lẫn nhau. Trong lúc đang vui vẻ, Cảnh Công nói với Thúc Tôn Nhược:
– Đào tiên là thứ vô cùng hiếm có, Thúc Tôn đại phu lừng danh bốn biển, có công với mối bang giao hai nước, xin thưởng người một trái.
Thúc Tôn Nhược quỳ tâu:
– Thần đâu dám bì với Tể tướng của quý quốc đây, đào tiên nên thưởng cho Tể tướng mới phải.
Cảnh Công bèn nói:
– Hai người đã nhường nhau như vậy, thì mỗi người hãy ăn một trái.
Trên mâm chỉ còn lại hai quả đào, Án Anh lại thỉnh thị vua lần nữa, truyền dụ cho các quan văn võ hai bên, mỗi người hãy tự báo công trạng của mình,
rồi thì xem ai có công lớn thì được ăn đào tiên.
Dũng sĩ Công Tôn Tiệp ưỡn ngực bước ra, hiên ngang tự khoe mình, bọt mép bắn ra tứ tung, kể lể:
– Ngày trước tôi cùng công chúa đi săn ở Đồng Sơn, tự tay bắn chết con hổ trắng chột mắt, giải vây cho công chúa, công như thế đã lớn chưa?
Án Anh vội nói:
– Đấy là công bảo vệ công chúa, nên được thưởng.
Công Tôn Tiệp ăn một loáng hết cả quả đào, ngước cặp mắt kiêu ngạo liếc nhìn quần thần tả hữu hai bên.
Cổ Dã Tử cũng cố tranh đứng dậy nói:
– Đánh hổ thì có gì ghê gớm? Năm nào trong sóng dữ của Hoàng Hà, tôi chìm nổi chín dặm trường, chém đầu rùa tinh, cứu mạng cho Chúa thượng, xin người xem công ấy thế nào?
Cảnh Công tiếp lời:
– Thật là hiếm có, lần ấy nếu không có Tướng quân, chắc là tất cả mọi người trên thuyền đều bị chết đuối hết, lại đưa đào và rượu để thưởng.
Thế nhưng, Điền Khai Cương, dũng sĩ thứ ba, đùng đùng nổi giận, hậm hực:
– Còn tôi đây phụng mệnh đi đánh nước Từ, bắt sống hơn năm trăm tên địch, buộc nước Từ phải nộp tiền của đầu hàng, uy danh lừng lẫy các nước láng giềng, phải theo nhau dâng biểu xin triều cống, giữ yên địa vị minh chủ cho quốc gia. Thế có phải là công không? Có đáng được thưởng không?
Nói đoạn, liếc mắt nhìn bốn phía như muốn coi các bạn đồng liêu còn thấp hơn mình một cái đầu.
Án Anh lập tức tâu với Cảnh Công:
– Vốn dĩ công lao của Điền Tướng quân đây đúng là còn lớn gấp cả chục lần của Tướng quân Công Tôn Tiệp và Cổ Dã Tử. Nhưng đáng tiếc là kim đào
đã thưởng hết, hay là hãy thưởng trước một chén rượu, đợi đào kia chín tiếp, rồi sẽ thưởng bù, có được không?
Cảnh Công cũng an ủi Điền Khai Cương:
– Điền Tướng quân, đúng ra ông có công lớn nhất, nhưng rất tiếc ông đã nói ra quá chậm.
Điền Khai Cương không thể nghe thêm nữa, giận sôi sùng sục, để tay lên đốc kiếm, quát:
– Chém rùa đánh hổ, có gì là ghê gớm? Ta đây vì nước xông pha ngàn dặm, huyết chiến thành công, thế mà lại bị ghẻ lạnh, còn bị nhục nhã như thế này trước quần thần hai nước, để cho người ta chê cười, thử hỏi còn mặt mũi nào đứng ở trong triều đình này nữa! – Nói rồi rút kiếm ra, tự vẫn.
Công Tôn Tiệp thất kinh, cũng rút kiếm bước ra, nói:
– Chúng tôi công ít mà được thưởng nhiều, Điền Tướng quân có công lớn mà lại không được ăn kim
đào, tình ấy, lý ấy, tuyệt đối không nói thế nào cho được!
Nói xong rút kiếm ra, cũng kết liễu đời mình tại chỗ. Cổ Dã Tử trong vòng người nhảy ra, xúc động như phát điên gào lên:
– Ba người chúng ta từng kết nghĩa anh em, nay hai anh đã chết, chẳng lẽ ta còn sống một mình.
Nói vừa dứt lời, đầu đã rơi xuống đất, Cảnh Công muốn can ngăn cũng không kịp. Từ đó về sau Án Anh mới trừ từng tên một trong gian đảng một cách thuận lợi, triển khai ý đồ lớn lao của mình.
LÝ QUANG BẬT DÙNG MƯU HÀNG HAI TƯỚNG
Thời Đường Túc Tông, Tư không Lý Quang Bật và phản tướng Sử Tư Minh lập chiến lũy đối nhau ở Hà Dương (nay là phía Tây huyện Mạnh, tỉnh Hà Nam), cầm cự nhau rất lâu mà thắng bại chưa phân. Tư Minh định cắt đường lương thảo của Lý Quang Bật, chuyển quân tới huyện Hà Thanh, Quang Bật nghe tin cũng đem quân đến đóng ở bến Dã Thủy,
đắp lũy chống cự. Giữ ở đấy được một ngày, Quang Bật trở lại thành Hà Dương, chỉ để lại một ngàn quân sĩ, cử bộ tướng là Ung Hy Hào chỉ huy, và chỉthị:
– Sử Tư Minh có hai tướng tài là Cao Đình Huy và Lý Nhật Việt, đêm nay thế nào cũng cho một người đến cướp trại, ngươi chỉ được cố thủ, không được đánh lại, nếu viên tướng đó xin hàng, hãy dẫn họ đến gặp ta.
Mệnh lệnh kỳ quái này đã làm cho Hy Hào không hiểu, chỉ biết tuân và cố thủ.
Quả nhiên Sử Tư Minh quyết định đêm ấy đến cướp trại, và nói với Lý Nhật Việt:
– Lý Quang Bật giỏi về giữ thành, không thạo trong dã chiến, nay chuyển quân ra nơi thôn mạc, tức là đã mắc vào tròng cần phải bắt lấy, hai người nhà ngươi cướp trại, cố bắt sống bằng được hắn về đây. Nếu không bắt được Lý Quang Bật, thì ngươi
đừng có về gặp ta nữa.
Thế là Nhật Việt dẫn năm trăm quân kỵ tinh nhuệ đi cướp trại Lý Quang Bật.
Hy Hào giữ nghiêm trận, mờ sáng quả nhiên thấy một tướng giặc cùng vài trăm quân kỵ đến giàn trận, bèn nói với tướng sĩ:
– Bọn nó tới rồi đấy, để xem chúng làm gì? Nói rồi vẫn bó giáp, dãn quân mỉm cười chờ đợi, không hề có biểu hiện gì chống lại. Nhật Việt thấy lạ, bèn quát hỏi.
– Tư không nhà các ngươi đâu, bảo ra đây ta hỏi chuyện? Hy Hào đáp:
– Tư không tối qua đã về Hà Dương rồi!
– Để lại đây bao nhiêu quân, lãnh tướng là ai?
– Chỉ để lại một ngàn quân, lãnh tướng là ta đây. Nhật Việt lặng im không nói, Hy Hào lại hỏi vặn:
– Nhà ngươi họ Lý hay họ Cao?
– Họ Lý!
Ung Hy Hào nghe vậy liền cười:
– À, thì ra là Tướng quân Lý Nhật Việt! Tư không tôi có lệnh, biết Tướng quân một dạ trung thành, chẳng qua do hoàn cảnh ép buộc, nay người lệnh cho tôi ở đây, đón đợi Tướng quân. Nhật Việt bắt đầu do dự, nghĩ đến câu nói của Sử Tư Minh "Nếu không bắt được Lý Quang Bật, thì đừng về đây gặp ta!", bèn quay sang nói với bộ hạ của mình:
– Không bắt được Lý Quang Bật, nếu quay về thì mọi người sẽ khó mà thoát chết, chẳng thà xin hàng cho xong.
Cả đám quân kỵ không có lời nào khác, cùng bỏ vũ khí xuống xin hàng. Hy Hào nhìn qua hàng rào, hỏi rõ tên họ, thấy quả đúng là Lý Nhật Việt thì vui mừng ra mặt, lập tức dẫn đi gặp Lý Quang Bật.
Lý Quang Bật tiếp kiến Lý Nhật Việt, đối xử rất hào hiệp, muốn chọn làm người tâm phúc, Nhật Việt hết sức cảm động, hăng hái tự mình viết thư cho bạn đồng liêu là Cao Đình Huy. Nhưng Lý Quang Bật lại nói:
– Không cần viết! Rồi hắn sẽ tự đến đầu hàng.
Qua mấy hôm sau, Cao Đình Huy quả nhiên dẫn quân đến xin hàng, Quang Bật hết sức ưu đãi, và cũng giống như Nhật Việt, được tâu về triều đình xin phong quan cấp.
Lúc đó có người hỏi Lý Quang Bật, thu hàng hai dũng tướng của địch sao mà dễ dàng thế, Quang Bật đáp:
– Đó chẳng qua là biết mình biết người, Sử Tư Minh nói tôi chỉ biết giữ thành, không quen dã chiến. Tôi chuyển quân sang bến sông Dã Thủy, hắn tưởng tôi đã lọt vào tròng, thế nào cũng sẽ xử dụng bọn dũng tướng Nhật Việt, Đình Huy tới công kích. Nhưng tôi đã đi khỏi đó rồi, tìm không thấy tôi, Nhật Việt sẽ không dám về phục lệnh. Ngoài đầu hàng không còn con đường nào khác. Còn Đình Huy, tài, dũng đều trội hơn Nhật Việt, thấy Nhật Việt sang phía ta tất nhiên là cũng sẽ đến xin hàng, mong kiếm lấy một ghế, vả lại hai người này theo giặc cũng chẳng qua là do hoàn cảnh bắt buộc, chứ đâu phải thật lòng.
CHƯỚC THỨ BA - MƯỢN DAO GIẾT NGƯỜI
(Tá đao sát nhân)
Giết người phải lại mượn dao, gán một cái là mượn tay người khác giết người. Khi bản thân không có cách gì khác, hoặc là do hoàn cảnh hạn chế, mình không tự ra tay, bảo người khác thay mình thực hiện ý đồ giết người, đó là mượn dao giết người.
Giết người tuy tàn nhẫn, thế nhưng trên đời còn khối kẻ đáng giết, cũng có vô số người không nên giết mà cũng bị giết oan.
Giết người căn bản không cần phải nghiên cứu những gì là nhân nghĩa đạo đức, định giết người là thế nào, người đó có đáng giết hay không? Tóm lại, kẻ nào trái với mình, thì phải chết, đó là nguyên tắc hết sức phổ biến trong lịch sử từ xưa đến nay.
Thế nhưng giết người cũng có hai loại hiền, ngu.
Kẻ hung ác ngu dốt giết người trực tiếp dao trắng đâm vào, dao đỏ rút ra, ngoài mặt xem ra có vẻ anh hùng vừa hả hê nữa, nhưng làm như thế khó trốn khỏi lưới pháp luật, người đời cũng sẽ rủa là tên tàn ác vô lương. Kẻ gian tà, giảo quyệt, giết người thì không như thế, chúng không hề nhúng tay, công khai dùng pháp luật hoặc mượn tay người khác, như vậy mục đích vẫn đạt được, mà còn quét thêm lên cái mặt nạ nhân nghĩa đạo đức một lớp son hào nhoáng. Cho nên câu nói: "Giết người không thấy máu, thấy máu chưa anh hùng" là một lời biện minh không có gì trắng trợn hơn.
Trong lịch sử những kẻ giết người, Tần Cối được coi là kẻ giảo quyệt. Hắn đã không tiếc gán một cái tội "không cần phải có" tầy đình để giết Nhạc Phi, củng cố ngai vàng cho Tống Cao Tông, còn mình thì làm con cừu non chịu tội thay, bị đời sau chửi là Hán gian. Kỳ thực giết hại Nhạc Phi là do Tống Cao Tông chủ mưu. Tần Cối chẳng qua chỉ là tên đao phủ làm điều ác thay cho chúa mà thôi. Đương thời ở thành Thiệu Hưng tỉnh Triết Giang vẫn còn lưu truyền một tấm bia đá, trên đó khắc bài giáo dụ của Tống Cao Tông gửi Nhạc Phi. Nội dung tấm bia đã không tiếc lời ca ngợi chiến công của Nhạc phi, điều đó chẳng
qua chỉ là trò "mèo khóc chuột" mà thôi. Bởi vậy, người đời sau lại càng đổ riệt cho là Tần Cối hại Nhạc Phi đến chết. Nhạc Phi bị vào ngục oan, Tần Cối cũng bị chửi oan, nhưng cái trò gian giảo đó, đã bị nhà bình luận lịch sử đời Minh, Văn Hằng Sơn vạch trần. Ông cũng khắc ngay sau bia một bài từ điệu "Mãn giang hồng", viết rằng:
Phủi bụi trên bia, bài phủ dụ Phi, mờ nhạt cũng còn đọc được. Giận cho lúc bấy giờ dựa vào Phi nhiều bao nhiêu, sau này khốc hại bấy nhiêu, quả là công thành thì thân phải mất, chuyện đáng thương lời xưa khó chuộc. Chuyện vô ý đáng hận lại cũng đáng thương, phong ba trong ngục, làm sao chẳng tiếc, cô thúc ở Trung Nguyên làm sao quên được ô nhục Huy Khâm, nhưng Huy Khâm còn trở lại, thân này thuộc về đâu, ngàn thu đừng nhắc đến cái lầm Nam độ, Khang Vương tự sợ trở lại Trung Nguyên, than thở tên Cối gian ngoan chẳng có tài gì, chỉ là theo ý của vua thôi.
Nhưng điều này cũng chỉ ra rằng Tống Cao Tông không muốn cha anh lại về nước, sợ sẽ ảnh hưởng đến vương vị của mình.
Khổng Tử tuy được tôn là "thánh nhân", nhưng thủ đoạn giết người của Khổng Tử mới thô thiển làm sao? Ông ta xưa nay chưa từng làm quan, song mới trở thành quyền quý, làm tới Đại tư khấu đã lạm dụng quyền uy, giết văn nhân Thiếu Chính Mạo một cách mờ ám, thành một vụ nghi án đến ngàn đời. Hãy xem cái cớ giết người của ông ta thế nào?
Có người hỏi Khổng Tử rằng:
– Thiếu Chính Mạo là văn nhân nước Lỗ, làm trái nếu vì chính sự mới bịtru di, như thế hỏi được gì mất gì?
Khổng Tử đáp:
– Người có năm loại đại ác, trừ trộm cắp ra, thứ nhất là tâm nghịch mà hiểm, thứ hai là làm vụng mà bướng bỉnh ương ngạnh, thứ ba là nói dối mà hay biện bạch, thứ tư là nhớ tồi lại làm ra uyên bác, thứ năm là a tòng theo điều xấu. Trong năm cái đó người nào mắc phải một cũng không tránh khỏi bị quân tử tru diệt, mà Thiếu Chính Mạo có phạm các điều đó nên không thể không giết.
Xét trong năm điều này Thiếu Chính Mạo vừa không có hành vi tụ tập làm càn, cũng chẳng có sự thực là đã phao tin bịa đặt lừa mọi người, điều duy nhất phải giết đó là Thiếu Chính Mạo học rộng hơn Khổng Tử, là vật cản khi Khổng Tử làm chính sự, thực đúng là dân đen vô tội ghép vào thì nên tội. Khổng Tử khá được gọi là cực đỉnh của bá đạo.
Trong chuyện này, tương đối thông minh phải kể đến Tào Tháo, hắn muốn giết Nễ Hành nhưng mượn tay Lưu Biểu, giết Dương Tu thì mượn tội danh là làm "rối loạn lòng quân". Giết một cách mau lẹ sạch sẽ, đường đường chính chính, nếu có giả cũng giả rất hợp tình hợp lý. Thế gian này không có anh hùng không giết người, Tào Tháo còn biết diễn cái vở "mèo than khóc chuột" rất từ bi, đó chính là chỗ gian hùng của con người này.
PHÍ VÔ CỰC DÙNG MƯU GIẾT KHƯỚC UYỂN
Thời Chiến Quốc, Sở Chiêu Vương lên ngôi, Nang Ngõa làm Tể tướng cùng Bá Khước Uyển, Yên Tương Sư, Phí Vô Cực tham gia triều chính.
Có một năm Khước Uyển xuất chinh đánh nước Ngô, giành toàn thắng, thu được vô số binh khí giáp mã, Chiêu Vương mừng lắm, đem một nửa số binh giáp chiến lợi phẩm đó thưởng cho Uyển và từ đó gặp việc gì cũng bàn bạc với hắn ra điều sủng ái hết mức.
Phí Vô Cực đem lòng đố kỵ, cùng Yên Tương Sư bàn mưu ám hại, bèn nói với Tể tướng:
– Uyển có ý muốn mời khách, nên nhờ tôi chuyển lời mời, không hiểu tể tướng có lòng hạ cố hay chăng?
Nang Ngõa liền đáp:
– Người ta đã có lòng mời, mình có lý gì mà lại không đến?
Phí Vô Cực lại đi tìm Khước Uyển, nói:
– Tể tướng từ lâu muốn ghé thăm quý phủ đây uống chén rượu để mọi người chung vui với nhau, không hiểu liệu ngài có bằng lòng làm bầu chủ hay không? Nay có nhờ tôi đến hỏi thử xem sao?
Khước Uyển đâu có ngờ đây là kế hiểm, nên đã vui vẻ đáp lời:
– Tôi là bậc dưới, mấy khi được Tể tướng để ý tới thăm, thật vô cùng vinh hạnh. Vậy để ngày mai, tôi sẽ sắp tiệc hầu người, xin nhờ ông hãy về báo trước với người như vậy.
Phí Vô Cực lại hỏi:
– Nếu Tể tướng đến thì ông định chuẩn bịtặng người cái gì?
– Đấy, không nhắc thì tôi không nghĩ đến đâu. – Khước Uyển nói – Không hiểu người vốn thích thứ gì?
– Theo chỗ tôi biết... – Phí Vô Cực dừng một lát mới nói – Tể tướng ở cương vị ấy, tiền tài, gái đẹp, lụa là gấm vóc còn thiếu gì? Chỉ có đồ binh khí giáp mã là thứ ông ta ưa thích nhất, thường ngày có lần đã ngầm ngỏ ý với tôi rằng ông ta rất thích số binh khí của nước Ngô mà ngài được chia một nửa, cho nên việc ông ta muốn dự tiệc ở đây, chưa biết chừng chỉ là cớ để được xem những thứ chiến lợi phẩm đó cũng
nên.
– Tưởng gì, chứ việc đó thì dễ thôi!
Khước Uyển nói vậy và sai người mang những thứ đó ra, Phí Vô Cực cũng giúp một tay chọn ra một trăm thứ sắc bén nhất rồi nói:
– Chừng này là đủ rồi, đến lúc đó, ngài để những thứ này ở cạnh cửa, khi Tể tướng đến, tất sẽ hỏi tới những thứ này, chỉ chờ hỏi, ngài sẽ lấy cho người xem, rồi tiện dịp biếu ngài luôn. Nếu là những thứ khác, e rằng người sẽ không nhận đâu!
Khước Uyển tin là thật, bèn đem các thứ binh khí sắp bày nơi cửa, rồi lấy vải che kín.
Ngay hôm sau Khước Uyển bày tiệc, bố trí đàng hoàng, nhờ Phí Vô Cực đi mời Nang Ngõa.
Nang Ngõa đang chuẩn bị lên đường, Phí Vô Cực lại nói:
– Gần đây, thái độ của Khước Uyển rất là kiêu
ngạo, lần này mời tiệc không biết là có duyên cớ gì? Lòng người khó dò, hãy để tôi đi dò la xem tiệc tùng ông ta sắp đặt thế nào, sau đó người hãy đi, như vậy an toàn hơn, có đúng không?
– Đúng đấy, ông hãy đi trước xem sao?
Phí Vô Cực lui ra, rồi lên phố đi loanh quanh một dạo, bỗng hộc tốc chạy về, bước thấp bước cao, hổn hển, nói như đứt hơi:
– Suýt nữa thì hỏng việc, tôi đã dò la rõ ràng rồi, Khước Uyển lần này mời khách là không có ý tốt đẹp gì đâu, ông ta chỉ muốn dẫn Tể tướng vào chỗ chết. Tôi thấy trong cửa nhà ông ta giấu đầy binh khí, sát khí đằng đằng, tể tướng đến đó thì đúng là trúng vào kế độc!
Nang Ngõa nghe xong, bỗng trở nên do dự, nói:
– Tôi với hắn xưa nay chẳng có gì mất lòng nhau, chắc không có chuyện ấy được!
Phí Vô Cực thừa cơ khêu gợi thêm:
– Khước Uyển từ sau ngày đánh nước Ngô lập được công, được vua tin dùng, đã có tâm muốn thay ngôi Tể tướng của người, chuyện này ai chẳng biết, chỉ giấu có một mình Tể tướng mà thôi, tôi với Yên Tương Sư đã sớm có sự đề phòng việc này. Ngài nghĩ coi, trước đây nước Ngô nhân lúc ta yếu, ta cũng thừa lúc nước Ngô loạn, lẽ ra Khước Uyển có thể thừa thắng mà đuổi đến cùng, diệt luôn nước Ngô đi, thế nhưng lại chỉthu một số vũ khí và bắt một ít tù binh rồi dừng lại, nghe nói lúc đó ông ta được nước Ngô hối lộ rất nhiều nên mới ngầm thỏa ước với nhau rồi ép binh sĩ quay về. Như thế xem ra ông ta đang có sự tính toán ma quái gì đây, định làm một cái gì ở nước ta, chưa biết chừng người này mà được thế, nước Sở ta sẽ nguy nan mất!
Lời lẽ khảng khái vô tư đó dần dần làm mềm lòng Nang Ngõa, tuy vậy ông ta vẫn chưa tin hẳn, bèn sai người tâm phúc sang dò la lần nữa cho thật rõ ràng.
Người đó quay về báo lại rằng, quả thực có chuyện đó, phía trong cửa đúng là sắp đầy binh khí. Đến lúc này Nang Ngõa mới nổi trận lôi đình, lập tức
sai người mời Yên Tương Sư vào, nói cho biết chuyện này và hỏi xem nên xử trí ra sao?
Yên Tương Sư từ trước đã thông đồng với Phí Vô Cực, còn thêm dầu vào lửa, nói:
– Khước Uyển muốn làm phản không phải đến ngày nay, hắn cùng ba gia tộc lớn trong thành đã họp thành bè đảng, đang muốn giành chính quyền, cũng may mà hôm nay phát hiện nhanh, để muộn nữa e rằng sẽ hối không kịp.
– Đáng giận thay! – Nang Ngõa đạp bàn quát – Ta phải giết nó!
Ngay lập tức, đi tấu trình Sở Vương, lệnh Yên Tương Sư đem quân đi vây chặt nhà Khước Uyển.
Đến lúc ấy Khước Uyển mới biết đã bịPhí Vô Cực bán rẻ, nhưng không còn cửa nào để bày tỏ, hàm oan mà không cãi được, bèn thở dài than thân rồi rút gươm tự vẫn.
THIÊN VƯƠNG MƯỢN DAO GIẾT ĐÔNG VƯƠNG
Hồng Tú Toàn mượn danh nghĩa nhà vua, bày
trò ám muội, thành lập ra "Hội lễ Thượng đế" ở Quảng Tây, lợi dụng sự tín ngưỡng về tôn giáo của người đời để hoạt động chính trị, rồi biến thành đấu tranh quân sự, khởi binh ở Kim Điền, bắt đầu từ năm 1850, dưới sự chỉ huy của Đông Vương Dương Tú Thanh, trong vòng một năm, chiếm lĩnh được Nam Kinh, thành lập nên Thái Bình Thiên Quốc, lập Hồng Tú Toàn làm vua, tức là Thiên Vương. Tất thảy quyền quân chính đều ở trong tay Đông Vương Dương Tú Thanh, còn Thiên Vương chỉ biết say đắm ở cung đình.
Dương Tú Thanh vốn là một tên gian hùng, lòng đầy dã tâm, lại lắm cơ mưu, lửa lòng đầy dục vọng về chiếm hữu và chi phối. Ngay trước cuộc khởi nghĩa Kim Điền, đã từng xảy ra sự kiện âm mưu giành giật giáo quyền, đến lúc này, quyền bính trong tay, đương nhiên là càng trở nên ngang ngược ngạo mạn, kéo bè kéo cánh, đối với các chư vương ngang hàng, cũng lên mặt đàn anh, đến ngay Hồng Tú Toàn hắn cũng chẳng coi ra gì, thả sức mắng nhiếc công khai, thậm chí coi như loại con rối, có ý muốn thay quyền. Hắn luôn giở trò như một con quỷ, giả truyền chỉ dụ của Thượng Đế, trách mắng Vương huynh Hồng Nhị Phát, và công khai đòi Thiên Vương Hồng Tú Toàn
quỳ lạy, để nghe Thượng Đế trịtội. Tú Thanh hỏi: – Tú Toàn, nhà ngươi có lỗi, ngươi biết không? – Con đã biết lỗi, xin vua cha xá tội.
– Mi đã biết tội mình, thì cho phạt bốn mươi trượng! Lúc đó, Bắc Vương Vi Xương Huy và các quan khác đều xin xá tội cho Thiên Vương, nguyện sẽ chịu đòn thay. Tú Thanh vẫn chưa chịu buông tha, còn mượn cớ mắng nhiếc Hồng Tú Toàn, mắng như té nước vào mặt, cho đến lúc Thiên Vương chịu khuất phục thốt lên "con xin tuân theo chỉ dụ, phủ phục chịu đòn", lúc ấy mới thôi.
Cuộc ra oai lần ấy của Dương Tú Thanh, cũng giống như ngọn roi giết người "chỉ lừa thành ngựa" của Triệu Cao thời Tần NhịThế, văn võ triều thần đều len lét, chỉ dám căm mà không dám nói.
Lúc bây giờ, đầu sông đến cuối sông Trường Giang, quân sự thắng lợi liên tiếp, quân trung ương dưới sự đốc thúc của Dương Tú Thanh, phá vỡ vòng vây của đại doanh quân Thanh ở Nam Kinh đã ba năm liền. Khâm sai đại thần Hương Vinh chủ soái của
đạo quân, bại trận nên treo cổ tự ải. Thanh thế của Đông Vương lại càng thêm lừng lẫy, dần dần càng muốn thực hiện dã tâm giành vương vị. Trước hết hắn dùng kế điệu hổ ly sơn, điều hết chư vương không hợp cánh với mình ra khỏi Nam Kinh, Dục Vương Thạch Đạt Khai về Hồ Bắc đốc chiến, Nhạn Vương Tần Nhật Cương tới Đơn Dương để càn quét tàn quân của Trương Quốc Lương v.v... Bắc Vương Vi Xương Huy điều đi Giang Tây chủ trì quân sự. Đám người không ăn cánh đã bị đi xa, bèn tiến hành bước thứ hai của kế hoạch. Đầu tháng bảy, lại giả truyền thần chỉ, lệnh Thiên Vương cho đến toàn vương phủ, bịa ra là Thượng Đế giáng trần hỏi:
– Ngươi với Đông Dương cùng là con ta, Đông Vương lại có công lớn như thế, tại sao lại chỉ có hô là "cửu thiên tuế?"
Thiên Vương đáp:
– Đông Vương đánh Đông dẹp Bắc, cũng nên hô là "vạn tuế!".
Lại hỏi tiếp:
– Đông thế tử (con của Đông Vương) sao cũng chỉ hô thiên tuế?
– Đông Vương đã hô vạn tuế, thế tử cũng vạn tuế, mà đời sau cũng đều vạn tuế cả!
Thượng Đế cả mừng nói:
– Trẫm về trời!
Hồng Tú Toàn biết đây là trò gian giảo, nhưng dưới sức ép của bạo lực, đâu dám làm ngược lại, vẫn phải theo lời, định đến ngày 25 tháng 8 mừng thọ Đông Vương sẽ chính thức tuyên bố phong điển, như thế để tránh được bàn tay độc ác mà an toàn hồi cung (theo thể chế của Thiên triều, chỉ có Thiên Vương mới được hô vạn tuế, như năm vương Đông, Tây, Nam, Bắc, Dực Vương thì lần lượt mà giảm đi một nghìn lần. Tức Bắc Vương Vi Vương Huy là lục thiên tuế, Dực Vương Thạch Đạt Khai là ngũ thiên tuế. Đông Vương lẽ ra là cửu thiên tuế, mà lại đòi hô vạn tuế, thì còn Thiên Vương để vào đâu? Âm mưu thoán vị đã rành rành ra đó.
Hồng Tú Toàn dưới sự o ép của sức mạnh hơn
người, không còn cách nào khác, tính ra ngày phong điển còn hơn một tháng, chỉ còn cách để cho người ta chi phối, rồi tìm cách đối phó.
Tuy đã định thời gian làm lễ, nhưng Dương Tú Thanh vẫn cho là thời gian quá dài, sợ để càng lâu càng sinh lắm chuyện, bèn vội vàng khởi sự sớm hơn thực hiện thoán vị, buộc Thiên Vương nhường ngôi, nếu không sẽ giết để cướp ngôi, lấy ngày mừng thọ để làm ngày đăng quang. Khi mới khởi nghĩa Thiên Vương cũng chọn ngày sinh nhật để đăng quang. Đang lúc bí mật bàn bạc, bỗng có một người tâm phúc đồng mưu là Hồ Dĩ Khoáng, đã đi mật báo với Thiên Vương, nói hết mọi âm mưu của bọn chúng và xin thề là sẽ đi đầu trừ gian để bảo vệ Chúa. Thiên Vương bừng tỉnh, đang lúc sống chết kề nhau, không thể cúi đầu nhận lệnh, bó tay chờ chết được. Nhưng cũng tự cảm thấy thực lực không đủ để chống lại, bèn hạ mật chiếu, lần lượt sai người gọi Vi Xương Huy, Thạch Đạt Khai, Tần Nhật Cương đem quân về triều cứu vua.
Tần Nhật Cương đóng ở Đơn Dương, gần Kinh đô hơn, nhận được chiếu về Kinh trước tiên, thấy lực lượng của mình còn mỏng, không địch lại được với
Dương Tú Thanh. Đợi mãi đến ngày mùng ba tháng tám, Bắc Vương Vi Xương Huy đem hai mươi chiếc thuyền và ba nghìn tinh binh từ Giang Tây kéo về Kinh đô Nam Kinh đúng vào lúc nửa đêm. Quân sĩ từ cửa Nam bí mật vào thành, vội vàng vào cung gặp Thiên Vương, ngay sau đó bố trí quân lực, cho quân canh giữ mọi nơi hiểm yếu trong thành, chiếm cứ tất cả các ngả đường tới phủ Đông Vương. Sau đó chọn quân quyết tử, nhanh như chớp nhảy vào Vương phủ. Tần Nhật Cương tự tay đâm chết Dương Tú Thanh. Thắng lợi làm cho lú lẫn cả đầu, nổi máu giết người, biến thành cuộc đại tàn sát. Tất cả những người trong phủ, trừ người con thứ năm của Đông Vương còn thơ dại là sống sót. Quân vây thành và phục binh ở ngoài phủ, vừa nghe tín hiệu từ trong phủ, biết rằng đại thế đã xong bèn nhất tề xông lên, giết bừa bãi bọn bộ binh và vây cánh của Đông Vương, tiếng hô giết cùng một lúc vang dội trong thành, đạn pháo vang rền, cả thành phố chìm trong cuộc hỗn chiến.
Theo ý ban đầu của Thiên Vương, chỉ giết Đông Vương và ba người anh em, không được giết nhiều. Kết quả là tới cả hơn ba vạn người bị hại. Việc đó cũng là mượn dao giết người của Vi Xương Huy, mượn việc công để báo thù riêng, nhờ đó mà thanh trừ người
không ăn cánh với mình, dọn đường sạch để lên cầm quyền.
Thạch Đạt Khai, mười ngày sau khi xảy ra sự biến mới về đến Nam Kinh, lúc đó cả thành phố bị bạo lực của Vi, Tần khống chế. Thạch Đạt Khai vào cung gặp Thiên Vương, biết hết mọi chuyện, rất không bằng lòng với việc chém giết vô lối, giết cả những người vô tội, bèn gặp hai vịVi, Tần trách hỏi:
– Đông Vương có tội đáng giết, còn thuộc hạ của ông ta thì có tội gì, tay nọ chặt tay kia như thế, quân địch mà biết, thừa cơ mà nhảy vào, ta lấy gì chống đỡ?
Vi Xương Huy nghi rằng Thạch Đạt Khai cùng cánh với Đông Vương, lạnh lùng đáp:
– Ngươi đồng tình với Đông Vương, muốn giết ta để báo thù chứ gì?
Thạch Đạt Khai thấy không thể lấy lý để dụ được, bèn buồn rầu cáo biệt, tự nghĩ Vi là con người rất hung hãn, làm gì cũng không từ thủ đoạn, e rằng sẽ không lợi cho mình. Chẳng dám so bì hơn thiệt,
cũng chẳng dám ở lại lâu, không kịp ghé về nhà nửa bước, lập tức đang đêm mang theo mấy thị vệ chui ngách cửa Nam thành trốn ra ngoài. Trở lại An Huy, nơi mình đang trấn giữ, thế là ông ta chỉ ở Nam Kinh có được mấy tiếng đồng hồ.
Cũng may mà Thạch Đạt Khai đã chạy trước một bước, quả nhiên đêm khuya hôm ấy, Vi Xương Huy điều quân vây chặt phủ Dực Vương, giết sạch những người trong gia quyến nhà họ Thạch, không trừ một ai.
Thạch Đạt Khai được tin cả nhà bị giết hại, như sét đánh ngang tai, lửa giận sùng sục, thề sẽ báo mối thù không đội trời chung này. Ông gấp rút đi chỉnh đốn lại quân ngũ nòng cốt ở các nơi, tập trung ở vùng Vu Hồ, chuẩn bị quay về dẹp loạn. Yêu cầu Thiên Vương xử Vi Xương Huy, Tần Nhật Cương như một vụ điển hình. Vi Xương Huy thấy Thạch Đạt Khai đang điều động quân, có ý quay lại phản công, bèn đi trước một bước, sai Tần Nhật Cương dẫn trên một vạn quân tiến về phía Tây. Tần thấy lực lượng mình quá yếu so với Thạch Đạt Khai, không dám xông vào mũi nhọn ấy mà chỉ giữ thế thủ để xem xét.
Thiên Vương thấy Bắc Vương đã mang mầm tai họa, kiêu ngạo, bè cánh nhất là với Đông Vương, cho nên đã có sự đề phòng trước. Tiếp đó lại thấy việc thảm sát cả nhà Dực Vương, liền có ý trách móc:
– Ông không nghe Đạt Khai khuyên nhủ thì thôi, việc gì mà giết cả nhà người ta? Làm thế có tuyệt tình tuyệt nghĩa không?
Bắc Vương không phục, còn tỏ ra hết sức bất bình, cho rằng Thiên Vương che chở Dực Vương, mưu hại mình, bèn trở mặt, không cần nghĩ ngợi lôi thôi gì, làm một cuộc nhổ cỏ nhổ cả gốc, y diệt luôn cả Thiên Vương. Ngay sau đó cho quân vây chặt phủ Thiên Vương. Thiên Vương đã đề phòng từ trước, vì vậy quân Bắc Vương mấy lần tiến công cũng không vào được. Thêm nữa, trước đó Thiên Vương đã mật chiếu nghĩa quân mấy vùng phụ cận ngoài thành và dư đảng của Đông Vương, vào thành để hộ giá Thiên Vương. Quân của Vi Xương Huy thế cô lực mỏng (có một vạn quân tinh nhuệ, thì một số đã theo Tần Nhật Cương đi đối phó với quân Thạch Đạt Khai rồi). Dưới sự phản kích liên hợp, trong ngoài giáp công, chỉ cầm cự được hai ngày, đành bó tay bị bắt, cùng bị giết với họ hàng và hơn hai trăm người trong dư đảng. Tần
Nhật Cương cũng bị gọi về xử trảm, cuộc loạn ly tạm bình yên.
Bắc Vương bịtru diệt, Thạch Đạt Khai được triệu về cung nắm chính sự. Ông là một anh hùng cái thế, văn võ song toàn, đương thời ít người sánh kịp, rất được quan dân văn võ trong triều hết sức ủng hộ. Sau khi về Kinh, ông nhanh chóng ổn định tình hình, xây dựng lại một trung tâm lãnh đạo ưu việt hơn. Thiên Vương lúc đầu cũng chú tâm sắp xếp lại công việc, lòng kỳ thị sâu sắc, lại có sự đố kỵ với đám thân vương Hồng Nhân Phát, Hồng Nhân Đạt, xiểm nịnh với Thiên Vương.
Giao quyền bính cho họ, e rằng họ lại theo gót Vi, Tần, kết cục chẳng phải là cái phúc của vương triều.
Thiên Vương là con người chí lớn, nhưng tài hèn lại thiếu quả đoán, càng không phải là một vị chúa sáng nghiệp có tầm nhìn xa trông rộng, anh minh. Nghe những lời đe dọa ấy, lại nghĩ về chuyện cũ, dần dần sinh lòng trắc ẩn, cho nên ngày càng bớt tin yêu Dực Vương, ngược lại có lúc còn gây trở ngại, tạo niềm nghi kỵ. Thạch Đạt Khai mới 26 tuổi, trẻ trung
bồng bột, gặp cái cảnh "ba hôm trước thì ấm như lửa, ba hôm sau thì lạnh như băng", nghĩ trước sau thế nào rồi cũng có ngày trúng vào kế "mượn dao giết người". Cho nên tự nhiên rời Kinh đô tỵ nạn, tự lãnh một đội quân đến một vùng biên ải xa vắng.
CHƯỚC THỨ TƯ - LẤY NHÀN ĐÁNH MỆT
(Dĩ dật đãi lao)
Lấy nhàn đánh mệt là câu nói gọn, có xuất xứ từ trong "Chiến tranh thiên" của binh pháp Tôn Tử "dĩ dật đãi lao". Tức là trên chiến thuật, mình nên đứng ở thế chủ động để ứng phó với sự tấn công của kẻ
địch. Nếu trong khi vận dụng, phàm việc gì cũng chuẩn bịtrước cho thật đầy đủ, bình tĩnh điềm đạm mà ứng phó với sự quấy rối từ bên ngoài, bất kể việc gì cũng đều có thể lấy nghỉ ngơi mà đối xử với mệt mỏi.
Nguyên tắc xử sự khác với làm người. Làm việc thì hôm nay chớ để đến ngày mai, hiệu suất càng nhanh càng tốt, làm người nhất là phải xử lý một vấn đề nhân sự rắc rối, thì lần lữa mới là biện pháp tốt nhất. Lần lữa không có nghĩa là nhút nhát, yếu hèn, cũng không là tắc trách, mà nó là một thủ đoạn quyền biến, muốn cho ý chí của mình không bị lôi
cuốn bởi những sự kiện đột nhiên xảy ra, để mình vĩnh viễn đứng ở vịtrí chủ động, đó chính là cái mà người ta gọi là "chính sách kéo dài".
Nói về mặt tiêu cực, là ngồi im mà xem sự vật thay đổi, để làm quyết sách cuối cùng. Về mặt tích cực mà nói, là tìm cách làm cho đối phương mệt mỏi vì chạy đây chạy đó, làm nhụt nhuệ khí của họ đi, sau đó thừa cơ xuất kích, làm cho đối phương ngã xuống mà không dậy nổi, cũng như Tôn Tử nói là "vùi nó xuống chín tấc đất, tung nó lên chín tầng mây".
Khi dùng sách lược này, cốt yếu là phải bình tĩnh ứng biến, phải tính toán so sánh rõ ràng hoàn cảnh và ý đồ, cả về thực lực giữa mình và đối phương, từng lúc từng nơi khôn khéo chú ý sự thay đổi của sự việc, thời cơ chưa chín muồi thì im như núi đá, thời cơ đã đến thì phải gầm sông nghiêng biển.
Sách lược này áp dụng tốt, có thể lấy yếu thắng mạnh, lấy ít thắng nhiều, trong lịch sử đã từng có nhiều chiến dịch vì thế mà xoay chuyển được tình hình.
Hàn Tín bắt Triệu Vương, Lưu Tú đánh Vương
Mãng, Tư Mã Ý cắt trở ở Nhạc Sơn, Chu Du phóng lửa Xích Bích, Tào Tháo phá Viên Thiệu ở Quan Độ, Tạ Huyền đuổi Phù Kiên ở Phì Thủy đều là lấy ít thắng nhiều, là hiệu quả của sách lược lấy kẻ nhàn đánh người mệt mỏi, dùng thế bất lợi chống lại ưu thế. Nhưng có một thì dự nổi bật, đó là chuyện Tào Quệ luận chiến.
BA HỒI TRỐNG TÀO QUỆ THẮNG TỀ
Thời Xuân Thu, Tề Vương đưa Bão Thúc Nha lên làm đại tướng, dẫn quân đi xâm lăng nước Lỗ.
Lỗ Trang Công trước đây ở nơi Can Thời đã từng bại trận với nước Tề, nghe nói Tề quân lại tới, rất kinh hoàng lúng túng, bèn hỏi đại thần là Thi Bá:
– Nước Tề thực bắt nạt người ta quá đáng, có cách gì chống lại được không?
Thi Bá nghĩ một lúc lâu, vẫn chưa nghĩ ra cách gì nhưng lại nói:
– Thần có thể tiến cử một người, có thể có cách
ứng phó.
– Là ai vậy?
– Tào Quệ – Thi Bá đáp – Ông ta là một ẩn sĩ, tuy chưa từng ra làm quan, nhưng thần thấy người này có tài của một vịtướng.
– Đi mời người ấy tới đây bàn việc!
Thế là Thi Bá đi gặp Tào Quệ, sau một hồi hàn huyên, bèn nói ra ý mình đến gặp. Tào Quệ bỗng cười, hỏi:
– Lẽ nào văn võ bá quan trong triều lại không có ai gánh vác được việc này sao? Lại đến tận nơi hang sâu núi vắng này tìm tôi, thật là nực cười thật đấy.
– Nói thực với ngài, nếu có người tài, thì đã không dám phiền đến ngài. – Thi Bá vừa trả lời vừa nhìn sắc mặt của Tào Quệ. Nếu ngài có cách gì đánh lui được địch thì cũng có thể vào triều làm quan được chứ sao?
Tào Quệ cân nhắc một lúc rồi trả lời:
– Được rồi, đi thử xem sao. Đây không phải là chuyện làm quan hay không làm quan, mà là chuyện quốc gia hưng vong, trượng phu hữu trách vậy.
Thế là cùng đi gặp Lỗ Trang Công. Trang Công hỏi:
– Nhà ngươi có cách gì để chống lại sự xâm lược của nước Tề không?
Tào Quệ đáp:
– Tình hình chiến tranh biến đổi khôn lường, không thể vội vàng đưa ra kết luận, nếu tạo cho thần có dịp tham chiến với binh lính, có lẽ có thể tùy cơ ứng biến, đặt kế ra mà giành thắng lợi.
Trang Công nghe nói vậy, trong lòng rất mừng, bèn để ông làm tham mưu cùng ra quân với binh lính, đến một nơi gọi là Trường Thược, đối mặt với quân Tề.
Tướng Tề, Bão Thúc Nha thấy quân nước Lỗ nghênh chiến, lập tức triển khai chuẩn bị công kích. Trước đây hắn từng đánh bại quân Lỗ ở Can Thời, nên coi Trang Công là một tên bại tướng và có ý khinh địch, hạ lệnh công kích toàn diện, nghĩ rằng chỉ chốc lát là có thể bắt được Trang Công. Một lát sau, trống trận ầm vang, quân reo hò dậy đất, quân sĩ xông sang như đá lở đất nhào.
Trang Công lo sợ, cũng vội vàng hạ lệnh thúc trống xuất quân. Tào Quệ ngăn lại, nói:
– Xin hãy chậm lại, nhuệ khí của quân địch đang hăng, chỉ có thể cung nõ sẵn sàng, nóng vội không được! Thế là truyền lệnh thu cờ, ngừng trống, giữ vững trận địa, không được nhốn nháo ồn ào, không được hành động tùy tiện, kẻ nào trái lệnh sẽ chém.
Quân Tề xung phong một đợt sang, như khúc gỗ đập vào thùng sắt, không xông lên được phải đành lùi xuống, được một lát, lại gióng trống xung phong, quân Lỗ vẫn không nao núng, như cái thùng sắt càng thêm kiên cố, quân Tề lại một phen lui xuống. Bão Thúc Nha rất đắc ý nói với thuộc hạ của mình:
– Quân Lỗ được nếm mùi rồi, nhất định là đang lo sợ, hai lần khiêu khích cũng không dám ra, chứng tỏ rằng bụng đã run, nếu ta xung phong lần nữa. Ha ha! Ta không tin là chúng không cúp đuôi cắm cổ chạy.
Tiếp đó liền hạ lệnh xung phong lần thứ ba, trống trận lại rền vang như sấm. Lúc đó quân Tề, miệng thì hò hét, nhưng bụng nghĩ quân địch không dám ra, ý chí chiến đấu vô hình trung đã bị rệu rã.
Tào Quệ nghe thấy quân Tề nổi trống lần thứ ba, bèn nói với Trang Công:
– Đã đến lúc xuất kích rồi, hạ lệnh xông ra ngay!
Quân Lỗ vừa nghe tiếng trống, như hổ đói vồ mồi, nhanh như chớp xông ra, quân Tề không đề phòng, luống cuống chống đỡ, bị giết tan tác tơi bời, đại bại chạy về.
Trang Công thấy thắng trận vui mừng không để vào đâu cho hết, vội hạ lệnh thừa thắng truy kích. Tào Quệ ngăn lại:
– Chớ vội, hãy chờ một lát. Nói rồi nhảy xuống khỏi xe, nhìn vết xe, dấu chân ngựa trên mặt đường, rồi lại đứng trên mui xe, nhìn quân Tề một lượt, sau mới nói:
– Yên tâm truy kích đi, đánh cho bọn chúng không còn manh giáp.
Đuổi giết hơn 30 dặm quân xâm lăng về hẳn nước Tề, chiến lợi phẩm thu được chất cao như núi.
Khi mở tiệc mừng công. Trang Công lòng đầy vui sướng, hỏi Tào Quệ:
– Ta không rõ, tại sao lúc đó phải đợi địch gióng trống lần thứ ba mới chịu thúc trống cho quân ta xuất kích, có bí quyết gì vậy? hãy nói cho ta nghe có được không?
Tào Quệ thưa:
– Phàm là đánh trận, toàn trông vào dũng khí, gióng trống là tín hiệu xung phong. Lần thứ nhất gióng trống, là lúc sĩ khí hăng hái nhất, như một bầy
hổ xuống núi, chớ nên đón đánh lúc này. Lần thứ hai gióng trống, khi không gặp được đối thủ, sĩ khí đã bắt đầu uể oải, ý chí chiến đấu bắt đầu sút giảm. Đến lúc gióng trống lần thứ ba, sĩ khí đã đến bước mệt mỏi, cho dù có hô hào, sức chiến đấu cũng giảm sút đi quá nửa, cho nên thừa lúc địch gióng trống lần thứ ba xong, tôi mới xuất kỳ bất ý. Gióng trống lần đầu, thúc ngựa còn đủ yên cương đánh vào bọn lính mệt mỏi, tự nhiên là sẽ đánh gục chúng mà thôi.
– Thế nhưng khi địch thất bại thoái lui, ngươi lại ngăn ta không vội truy kích, đợi ngắm trời ngắm đất xong mới hạ lệnh đuổi cùng, đó là lẽ làm sao vậy? – Trang Công lại hỏi.
Tào Quệ giải thích:
– "Binh bất yếm trá", đó là lời danh huấn từ xưa. Tề quân rất lắm mưu kế. Chúng rút chạy, chưa biết chừng là để lừa, dụ mình vào trận. Nếu không thận trọng, rất có thể sẽ bị mai phục, quân bị đánh tan. Bởi vậy tôi phải tự xuống khỏi xe, nhìn vết xe, vết ngựa, nếu rối loạn linh tinh chứng tỏ chúng vội vàng tháo chạy, bại trận chạy lung tung. Nhưng vẫn còn chưa tin, lại phải lên mui xe đứng nhìn, thấy chúng như
ong cúp đuôi tháo chạy, đến quân kỳ cũng nghiêng bên nọ ngả bên kia, mới dám chắc là chúng nó bị bại thật, không còn có chút sinh lực gì nữa, bởi vậy mới dám mạnh dạn tiến quân.
Ngươi quả là một nhà chiến lược nổi tiếng! Trang Công nói xong, thưởng cho một cốc rượu thắng trận rồi hạ lệnh kéo quân về triều.
ỶMẠNH TIẾN NHANH
ĐÁNH PHÌ THỦY, PHÙ KIÊN BỊ THIỆT
Thời Đông Tấn, Tần Vương ở Tràng An là Phù Kiên sau khi thống nhất phương Bắc, mở một cuộc tiến công với qui mô lớn, đánh nước Tấn, để Phù Dung làm thống soái chỉ huy 90 vạn quân từ bốn phía ép thẳng vào Kiến Nghiệp (tức Nam Kinh ngày nay), thanh thế rất lớn, Phù Kiên thường huênh hoang "vứt roi ngựa cũng làm tắc sông".
Tấn Hiếu Vũ đang ở Giang Nam, phong Tạ An làm chinh thảo đại đô đốc để chống lại cuộc xâm lăng của quân Tần, phong Tạ Huyền làm tiền phong đô đốc, quân số dồn cả lại mới có tám vạn người.
Sau khi nhận lệnh, Tạ Huyền thấy binh lực của mình và địch quá ư chênh lệch, bèn thân chinh đi gặp đại đô đốc Tạ An, thỉnh thị về quân cơ. Tạ An chỉ nói mấy lời nhạt nhẽo:
– Không cần bàn nữa, Hoàng thượng sẽ có chỉ thị.
Tạ Huyền chỉ còn cách lui về, lại cử bộ tướng Trương Huyền đi thỉnh thị lần nữa. Trương Huyền vừa bước vào cửa, Tạ An mời ngay Trương lên ngôi nhà trên núi đánh cờ, đánh luôn một mạch đến tối mới tiễn khách ra về, nửa câu về quân cũng không nói đến.
Thứ sử trung lang tướng trấn thủ Giang Châu ở Tây Đô là Hoán Xung cũng lo lắng quân Tần mạnh lớn áp sát biên giới, không có cách gì kháng cự lại phải điều ba ngàn binh mã về Kinh đô phòng vệ, Tạ An lại từ chối để ba ngàn binh mã đó phòng thủ quân địch ở biên giới phía Tây.
Quân địch bắt đầu tiến công ở nhiều nơi, những nơi hiểm yếu như Thọ Dương, Vẫn Thành đều lần lượt
bị đánh chiếm, tướng quân Hồ Bưu đến chi viện tiền tuyến, nghe nói Thọ Dương bị đánh chiếm, đành phải lui xuống bố phòng ở tuyến hai vùng Hiệp Thạch.
Ngoài ra, vệ tướng quân Lương Thành của quân Tần cũng có năm vạn quân đóng ở vùng Lạc Gián, cũng đang rục rịch hành động. Tạ An, Tạ Huyền đều biết, bèn hạ doanh phòng bị ở nơi cách Lạc Gián 25 dặm. Nhưng thật chẳng may, Hồ Bưu đang ở Hiệp Thạch sai người đến chỗ Tạ An đòi lương thảo. Vị sứ giả ấy bị bộ tướng Phù Dung bắt giữ, hỏi rõ tình hình thực lực của quân Tấn, biết rõ chúng chỉ có tám vạn người thì mừng rỡ trong lòng, bèn lập tức thông báo cho Tần Vương Phù Kiên đang ở Hạng Thành, mời đến ngay Thọ Dương, nghiên cứu kế hoạch tổng tiến công.
Phó tướng đến Thọ Dương, hội nghị quân sự kết thúc, cử Thứ sử Lương Châu Chu Tự là quan nước Tấn bị bắt làm tù binh, đi làm thuyết khách.
Chu Tự gặp ngay Tạ An và các tướng lĩnh, nói rõ mục đích của mình và ý đồ tình nguyện làm nội ứng và tiết lộ tình hình quân Tần.
Tiên phong của quân Tần là Lương Thành là một người hữu dũng vô mưu, hiện đang đóng ở Lạc Gián, tấn công vào đó là cực dễ, và cũng đúng lúc, nếu đến lúc đại quân tề tựu cả đấy, e rằng khó mà chống nổi, chi bằng nhằm lúc đại quân còn chưa tụ hợp, nhanh chóng tập trung lực lượng tiêu diệt Lương Thành, làm nhụt nhuệ khí chúng đi, rồi tiếp tục tiến quân mà phá Tần tất là được.
Kế hoạch tiến quân đó được cân nhắc rất cẩn thận. Tạ An liền cử tướng quân Lương Cao đem năm ngàn quân theo đường thủy tập kích Lạc Gián, chỉ mấy hiệp đã chém được Lương Thành. Quân Tần như rắn không đầu, toàn bộ tan rã. Thắng trận, sĩ khí quân Tấn hăng hái hẳn lên, lập tức điều quân chia làm hai đường thủy, bộ đánh vào Thọ Dương và dồn quân vào vùng Phì Thủy.
Một buổi tối, Tạ An cho gọi cháu là Tạ Huyền đến gặp, nói rằng:
– Tần Vương mới bại trận, chưa dám tiến quân, rút về thì sợ người ta chê cười, đang lúc chúng hoang mang lúng túng, cháu hãy tấn công gấp, ta phải về Kinh đô để yên lòng Chúa thượng, lần tấn công này
lại có Chu Tự làm nội ứng, phần thắng càng chắc chắn.
Lúc ấy Tần Vương Phù Kiên điều quân đặt thế trận ở bờ Bắc Phì Thủy, quân Tấn cũng chẳng tiến được bước nào, hình thành một thế trận cài răng lược.
Tạ Huyền muốn nhử quân địch ra để đánh, bèn sai một tên lính ăn nói lưu loát, gọi sang bờ bên kia Phì Thủy, bảo tướng địch Phù Dung ra đáp lời:
– Ta vâng lệnh đô đốc, có lời chào tướng quân. Các ngươi xâm lấn đất ta, tiến không tiến, lui chẳng lui, không có cách gì phân thắng bại. Có giỏi thì sống mái một phen, nếu có gan thì hãy lui lại một tầm tên bắn, để quân ta qua sông ứng chiến, hà tất phải để lâu như thế, tự làm già tướng soái, phí cả lương thảo.
Phù Dung nói lại những lời ấy với Phù Kiên, cho rằng mình đông địch ít, có lui binh cũng chẳng trở ngại gì, và có thể nhân lúc chúng qua sông, đánh vào ngang lưng chúng. Nói vậy bèn hạ lệnh lui quân ra mười dặm. Tạ Huyền thấy trận địa bên kia hơi rối loạn, nhanh chóng hạ lệnh chia hai đường vượt sông
vào lúc nửa đêm, nhờ thế gió, đốt trại lính địch.
Quân Tần thấy vậy, vô cùng hoảng loạn bèn hò nhau bỏ trốn. Chu Tự ở giữa vòng quân địch, cũng thúc đẩy bọn lính vốn là hàng binh nước Tấn, quát lớn lên rằng:
– Quân Tần đánh bại rồi, mau mau chạy trốn đi! Quân sĩ phía sau chạy thục mạng, quân sĩ phía trước cũng chạy theo, cả thế trận rối như canh hẹ. Quân Tấn mãnh liệt truy giết, quân Tần tan rã toàn bộ, chín mươi vạn đại quân chỉtrong một đêm mất hết tám phần mười.
Nước Tấn yên bình, cái danh nhất thế anh hùng của Phù Kiên qua chiến dịch Phì Thủy này đã suy giảm, chỉ mấy năm sau đất nước cũng bị chia cắt.
CHƯỚC THỨ NĂM - CHÁY NHÀ HÔI CỦA
(Nhân hỏa đả khước)
Cháy nhà hôi của tức là thừa cơ mà cầu lợi. Có hai phương thức:
Một là nhân lửa cháy mà cướp của, hai là đốt cho cháy rồi vào cướp.
Cháy nhà hôi của là thừa lúc người ta lâm nguy đục nước béo cò, châm lửa cướp của là tự mình đốt cháy rồi sau đó vừa ăn cướp vừa la làng để đạt ý đồ của mình.
Bất kể là lợi dụng khi cháy nhà mà hôi của hay châm lửa cũng vậy, mục đích của nó đều là cướp lấy của người khác, no béo cho mình. Mượn lửa tuy không phải tự tay mình làm nên, song hành động thuộc dạng bị động, bị động nên không có bản sắc anh hùng. Đại trượng phu làm việc gì đều giành chủ
"""