"Sự Lừa Dối Hào Nhoáng - Neil Sheehan PDF EPUB 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Sự Lừa Dối Hào Nhoáng - Neil Sheehan PDF EPUB Ebooks Nhóm Zalo SỰ LỪA DỐI HÀO NHOÁNG Neil Sheehan Người dịch : ĐOÀN DOÃN Làm Ebook : Quantam Nhà xuất bản Công An Nhân Dân 2003 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU I DẤN THÂN VÀO CUỘC CHIẾN II DI SẢN CAY ĐẮNG III TRẬN ẤP BẮC IV SỰ CHỐNG ĐỐI V LỊCH SỬ MỘT CON NGƯỜI VI TRỞ LẠI CUỘC CHIẾN VII GIAI ĐOẠN CUỐI CÙNG LỜI NÓI ĐẦU Cuốn sách này buộc tôi đối mặt với sự thật bi đát của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và nhận thấy chúng ta không bao giờ thắng được. Trong quá khứ chiến tranh luôn là một thực nghiệm “tích cực” của nền văn hóa Hoa Kỳ, một cuộc vận động tinh thần nhằm tăng cường sự thống nhất của những người tham gia. Nhưng cuộc chiến tranh này người ta cho là sai lầm hoặc bị lên án về đạo đức, bằng mọi cách đã tiến hành vô bổ. Đây là cuộc chiến tranh “tiêu cực” đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ và đất nước phải chịu đựng nhiều khó khăn. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà lãnh đạo của chúng ta sát thực tế hơn, sau đó chúng ta trở nên giàu có và mạnh đến nỗi mất khả năng suy nghĩ sáng suốt. Kiêu căng thay thế thực tiễn, các chỉ huy quân sự và dân sự của chúng ta không thể dễ dàng chấp nhận thua cuộc ở Việt Nam. Các chính quyền nối tiếp nhau tự dối mình, hài lòng về ảo tưởng chúng ta có thể có mặt vĩnh viễn ở đất nước này. Người Mỹ trở thành nạn nhân của chính mình hơn là của kẻ địch. Bài học cay đắng thật khó chấp nhận ! Nếu ở lại Việt Nam chúng ta phải trả giá gánh nặng thường xuyên về tài chính. Nhất là chúng ta nhức nhối dai dẳng bởi vết thương tinh thần khi cố thống trị một dân tộc không bao giờ chấp nhận chúng ta. Người Việt Nam chẳng bao giờ chấp nhận một sự thống trị nào hết của nước ngoài. Lịch sử chứng tỏ họ không ngừng chiến thắng, đẩy lùi quân xâm lược dù là người Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Pháp và dĩ nhiên cả người Mỹ. NEIL SHEEHAN BUỔI TIỄN BIỆT Họ đến đưa tang anh, trong ngôi nhà nguyện lợp ngói đỏ cạnh cổng nghĩa trang. Sáu con ngựa xám buộc vào chiếc xe hòm đưa quan tài ra đến mộ. Đội quân nhạc chờ đợi Đoàn quân danh dự của trung đoàn có lịch se từ thời Cách mạng, xếp thành hàng trước hành lang trắng của nhà nguyện. Binh lính bận đồng phục màu xanh nước biển viền vàng, những máu sắc truyền thống của Hợp chủng quốc. Bộ quần áo quá nóng do thời tiết và độ ẩm trong buổi sáng ngày thứ sáu mùa hè ở Washington nhưng lễ tang chính thức xóa đi sự bức bối đó. John Vann, lính chiến ở Việt Nam được an táng ở Arlington ngày 16 tháng 6 năm 1972. Cuộc chiến tranh này kéo dài hơn bất cứ cuộc chiến nào khác trong lịch sử Hoa Kỳ và chia rẽ người Mỹ hơn bất cứ tranh chấp nào khác kể từ cuộc chiến tranh Nam – Bắc. Từ những trận chiến không có anh hùng ấy, người ta đang chôn cất một trong những nhân vật quyến rũ nhất. Sức mạnh và nét độc đáo trong tính cách của anh, lòng can đảm anh thể hiện trong những thời khắc nguy ngập, hình như hội tụ những đức tính mà người Mỹ tôn sùng. Hết lòng vì cuộc chiến, kiên lòng đến mức ám ảnh là hình tượng cố kết của Mỹ ở Việt Nam. Anh trở thành hình mẫu, với những ảo tưởng, ý đồ, sự kiêu căng và lòng ham muốn chiến thắng. Trong lúc những người khác bị đánh bại, thất vọng bởi thời gian hoặc mất đi sự đánh giá mơ hồ, chống đối chiến tranh thì anh đã kiên trì trong cuộc viễn chinh để cứu vớt cái không cứu vãn được, tranh thủ chiến thắng trong sự nghiệp bị lên án này. Sau mười năm chiến đấu, trước đấy một tuần lễ anh chết vào một đêm chiếc trực thăng của anh phát nổ trong mưa và sương mù gần trên cao nguyên Nam Việt Nam. Anh vừa ngăn chặn gần thị xã Kontum một cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt Nam đáng lẽ kết thúc tai hại cho quân lính Hoa Kỳ. Tất cả những người đến đây đưa tang anh tượng trưng cho những chia rẽ và những vết thương cuộc chiến mang tới cho xã hội Mỹ. Đồng thời hầu hết họ cũng bị anh lôi kéo. Một số đến vì họ đã ca ngợi và vẫn luôn chia sẻ lý tưởng của anh; những người khác đã xa rời nhưng vẫn coi anh là một người bạn; những người khác nữa, anh đã gây ảnh hưởng xấu đối với họ nhưng họ vẫn thương cảm cho số phận của anh. Tuy cuộc chiến tranh còn kéo dài ba năm nữa và tiếp tục làm chết nhiều người nhưng những người có mặt ở Arlington buổi sáng tháng Sáu năm 1972 ấy có cảm giác họ cùng với John Vann đã chôn vùi cuộc chiến và mười năm ở Việt Nam. Vann chết, những gì còn lại chỉ là phần viết thêm. Anh đến Sài Gòn tháng Ba năm 1962, mang hàm trung tá, 37 tuổi, tình nguyện làm cố vấn quân sự cho một Sư đoàn bộ binh Nam Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long. Khi ấy chiến tranh còn là một cuộc phiêu lưu. Tháng Chạp trước đấy tổng thống John F. Kennedy giao cho quân đội Hoa Kỳ nhiệm vụ tiêu diệt một cuộc nổi dậy của Cộng sản và bảo vệ miền Nam Việt Nam, quốc gia độc lập có một chính phủ do người Mỹ dựng lên cầm đầu ở Sài Gòn. Vann có những đức tính của một người chỉ huy. Anh đã là một đứa trẻ khốn khổ ở miền Nam, sinh ra trong cuộc khủng hoảng kính tế tiếp theo cuộc khủng hoảng năm 1924 ở một khu người da trắng nghèo Norfolk bang Virgina. Thời gian đầu đến Việt Nam, bạn bè và cấp dưới chế giễu vì do anh không bao giờ đổi màu. Thường hành quân cùng bộ binh Nam Việt Nam nhưng dù đi dưới nắng gắt, làn da hung của anh chỉ đỏ hồng lên một ít. Thể trạng anh có vẻ ốm yếu, cao một mét bảy mươi và nặng 67 kilô. Nhưng sinh khí và uy quyền đặc biệt bù đắp thừa thãi cho vẻ ngoài gầy gò. Anh có một sinh lực cho phép làm trong một ngày công việc đòi hỏi cường độ gấp đôi đối với người khác. Mỗi đêm anh chỉ cần ngủ bốn tiếng đồng hồ, cũng có thể bớt xuống hai tiếng khi công việc kéo dài nhưng vẫn minh mẫn. Nếu cần anh có thể dễ dàng làm việc 16 trong 24 tiếng mà vẫn đủ thì giờ nghỉ ngơi, giải trí. Ảnh hưởng bao trùm của anh đối với những người khác do nét cứng rắn giọng mũi và sự dứt khoát, sắc sảo. Anh luôn biết mình muốn gì và phải làm như thế nào, có tài giải quyết những vấn đề hàng ngày đặt ra trong những hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt của thời chiến. Tính tình và sự giáo dục của quân đội ở trường trung, đại học hình thành nên một tinh thần vừa hoàn toàn tận tụy với nhiệm vụ vừa đủ tỉnh táo để suy xét những lý lẽ sâu xa của vấn để. Anh biểu lộ lòng tin và tinh thần của nước Mỹ sau chiến tranh, muốn rằng mọi thách thức đều có thể giải quyết bằng nghị lực và trí thông minh, kỹ thuật, tiền bạc sử dụng có phương pháp và tùy trường hợp, cả sức mạnh quân sự. Vann không sợ gì hết. Ban đêm anh thường có mặt ở các đồn tiền tiêu do quân Nam Việt Nam đóng giữ; những công sự nhỏ ấy biệt lập, xây bằng gạch, bằng túi cát và rơm, luôn bị tấn công và bản thân anh cũng cầm súng giúp binh lính đẩy lùi những người đi đánh chiếm. Anh lái xe trên những đường mòn không ai dám đi vì sợ phục kích, đơn giản chỉ nhằm chứng tỏ có thể làm được việc đó. Anh đậu trực thăng ngay giữa một thị trấn bị bao vây để giúp đỡ quân đồn trú, không quan tâm đến đạn phòng không như thách thức với cái chết. Trong 10 năm ấy anh nổi tiếng. Không bao giờ anh ngừng giáp mặt với những hiểm nguy. Anh nói, vận may luôn luôn ở bên anh. Vann không ngần ngại trước những nguy cơ làm hại sự nghiệp của mình. Đó là năm đầu tiên anh đến Việt Nam, từ tháng 3 năm 1962 đến tháng 4 năm 1963. Trong lúc là cố vấn quân sự một sư đoàn bộ binh Nam Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long anh nhanh chóng hiểu ra cuộc chiến tranh sẽ đi đến chỗ thất bại. Đại sứ Mỹ và Tổng tư lệnh quân đội báo cáo với chính quyền Kennedy là mọi việc trôi chảy và họ sẽ thắng. Lúc ấy Vann đánh giá, và sau này không bao giờ thay đổi, họ chỉ có thể thắng bằng áp dụng một chiến lược và một chiến thuật thật chính xác. Khi anh biết Tổng tư lệnh và ban tham mưu của Sài Gòn không nghe và tờ trình của anh làm mếch lòng họ, anh chuyển đánh giá của mình bằng tài liệu chứng minh gủi lên những nhà phân tích chiến tranh. Được điều về Lầu Năm Góc sau năm đầu ở Việt Nam, anh mở một chiến dịch cố gắng thuyết phục các nhà lãnh đạo quân sự phải thay đổi chiến lược để tránh sự thất bại của Hoa Kỳ. Anh thất bại hoàn toàn. Do đã 20 năm phục vụ tích cự, anh quyết định giải ngũ ngày 31 tháng 7 năm 1963, một cử chỉ mà phần lớn bạn bè cho là phản khách cho phép anh bày tỏ rõ ràng quan điểm về cuộc chiến tranh. Đúng là điều Vann đã viết trên các báo, tạp chí, đã phát biểu trên truyền hình và trong các buổi diễn thuyết công cộng. Anh trở lại Việt Nam vào tháng 3 năm 1965, làm trong Cơ quan phát triển quốc tế (AID) phụ trách một chương trình vì hòa bình, không trở về Hoa Kỳ nữa trừ những kỳ nghỉ ngắn hạn. Anh bắt đầu làm việc ở một trong những tỉnh nguy hiểm nhất miền Tây Nam Bộ và cuối năm 1966 chịu trách nhiệm điều phối chương trình cho 11 tỉnh bao quanh thủ đô. Trong những năm đó Vann không ngừng tố cáo những cuộc ném bom hàng loạt và mù quáng tiêu diệt dã man những làng xóm hòng ngăn cản Việt Công dựa vào dân chúng. Nông dân bị chuyển hàng loạt , tập trung vào những trại tị nạn ngoại vị. Vann không ngần ngại đem hết sức lực để đạt mục đích của mình và xem việc sử dụng sức mạnh đối với những người dân vô tội không những bị lên án về đạo đức mà còn là một hành động quân sự ngu ngốc. Năm 1967 những phát ngôn thẳng thắn đã gây cho anh những rắc rối với chính quyền. Anh cảnh báo họ, cuộc chiến tranh toàn diện do tướng William Westmoreland mong muốn với đội quân 475.000 lính Mỹ sẽ thất bại, an ninh ngày càng bị đe dọa ở nông thôn vì những người cộng sản Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Sự chỉ trích này được chứng minh đúng vào ngày 31 tháng Giêng năm 1968 khi những người cộng sản chọn dịp Tết để mở cuộc tấn công bất ngờ vào tất cả các thành phố, thậm chí vào đến khuôn viên Đại sứ quán Hoa kỳ ngay trung tâm Sài Gòn. Cuộc chiến hao tổn đúng là một thất bại và Westmoreland bị rút về nước. Dù Vann đã làm gia đình mình và người thân đau khổ nhưng anh là người trung thực với bạn bè, với cộng sự và cấp dưới. Sau cuộc tấn công dịp Tết, người bạn Việt Nam anh rất gần gũi, nguyên trung tá và là tỉnh trưởng rời quân đội để làm chính trị, tổ chức một cuộc vận động bàn bạc về chiến tranh và đề xướng phong trào chống chế độ Sài Gòn. Giới quân sự Mỹ nghi ngờ người bạn của Vann tìm cách cùng những người cộng sản hình thành một chính phủ liên hợp mà ông ta giữ vị trí hàng đầu. Vann không đồng ý với ý đồ của bạn nhưng lại mạo hiểm để cố tránh cho bạn bị ngồi tù. Anh suýt bị cách chức và gủi trả về Hoa Kỳ. Vann cũng bất đồng về cuộc chiến tranh như người bạn Mỹ tốt nhất của anh, Daniel Ellsberg, thời gian đầu đã cùng anh đấu tranh chống cuộc chiến Việt Nam. Ellsberg tham gia một tổ chức chống chiến tranh ở Hoa Kỳ, trong lúc Vann tiếp tục có mặt trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng tình bạn của họ vẫn luôn nguyên vẹn. Khi Vann chết, Ellsberg sắp bị tòa án liên bang xét xử vì đã sao chép và phổ biến những tài liệu mật của Lầu Năm Góc. Vann báo tin sẽ đến làm chứng cho anh. Ellsberg khóc vì mất đi người bạn gần gũi nhất. Mặc dù không xu thời, Vann dần dần được thăng tiến trong hệ thống cố vấn Mỹ. Những phẩm chất lãnh đạo và nhiệt tình chiến đấu làm anh dễ dàng được đề bạt, hơn nữa những người cầm quyền ở Sài Gòn và Washington bấy giờ bất đồng ý kiến với anh về đường hướng chiến tranh chứ không phải là chấm dứt nó. Tháng Năm năm 1971 anh được chỉ định làm cố vấn cho toàn vùng cao nguyên và những tỉnh duyên hải, có quyền hành đối với mọi lực lượng quân đội Mỹ trong vùng và với tất cả nhân viên dân sự, quân sự trong chương trình bình định. Vị trí của anh thực tế tương đương một trung tướng, một trường hợp không có trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ trước đây vì Vann chỉ là một viên chức của Cơ quan phát triển quốc tế. Ngoài ra anh có quan hệ thân tình với viên tướng Việt Nam chỉ huy vùng này nên được phép cùng ông ta chỉ huy không chính thức 158.000 binh lính. Ảnh hưởng của anh trong lòng chính quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn làm anh trở thành một người Mỹ quan trọng nhất ở đất nước này sau đại sứ và tổng tư lệnh. Với những hiểu biết và đức tính can trường , anh trở thành một người Mỹ không thay thế được ở Việt Nam. Quan điểm chính trị của Vann là tổng hợp hệ thống lòng tin độc đáo của Hoa Kỳ, sau chiến tranh được nâng lên vị trí mạnh nhất thế giới. Chính tầm đố đối với thế giới còn lại đã đưa nước Mỹ gây chiến với Việt Nam trong độ sung sức của mình. Vann cho rằng những dân tộc khác nhỏ yếu sẽ tự nhiên chấp nhận quyền lãnh đạo của Mỹ. Anh tin chắc Hoa Kỳ luôn giữ được vị trí lỗi lạc của mình. Anh không nghĩ nước Mỹ hành động vì kiêu ngạo mà ngược lại với quyền lực vững vàng, nhân ái, sức mạnh giữ gìn hòa bình đưa lại thịnh vượng cho những dân tộc không cộng sản, độ lượng san sẻ những thành quả công nghiệp, kỹ thuật với những người đang sống khó khăn vì nghèo nàn, bất công và luật pháp yếu kém. Nguyên tắc của anh : nước Mỹ luôn luôn đúng, thậm chí có những sai lầm thì ý đồ vẫn tốt đẹp. Lập trường chống cộng của anh rất đơn giản : tất cả những người cộng sản đều là kẻ thù của Mỹ và do đó là kể thù của trật tự và tiến bộ. Anh đã thấy rõ những sai lầm trong cuộc chiến ở Việt Nam nhưng không vì thế mà kết luận bản thân chiến tranh là một điều xấu và không thể chiến thắng được. Anh không thể chấp nhận sự thất bại hoặc thay đổi cách nhìn của mình đối với nước Mỹ. Mùa xuân trước đó, trong lúc nhiều người thất vọng trước qui mô tấn công của bộ đội Bắc Việt, anh đã nói : Không, chúng ta không rút lui, chúng ta trụ vững và chiến đấu. Anh đã chiến đấu, đã thắng lợi và chết. Vì vật một số người ở nghĩa trang Arlington ngày 16 tháng 6 năm 1972 ấy tự hỏi với cái chết, họ có chôn vùi điều gì đó hơn chiến tranh và mười năm ở Việt Nam không. Có lẽ cũng là kết thúc. Người đã tham gia tích cực vào sự khai sinh chính quyền Nam Việt Nam, tướng Edward Lansdale, đứng ở bậc thềm hành lang chào bạn bè và những người quen biết bước vào nhà nguyện. Ông về hưu đã bốn năm và sống một mình sau cái chết của bà vợ trước đó mấy tháng. Một người xiết chặt tay ông nói : “Xin thành thật chia buồn vì chuyện vợ ông, Ed”. Với nụ cười quen thuộc, Lansdale đáp “Cám ơn”, giọng nói bây giờ đã mệt mỏi nhiều vì tuổi tác. Khó hình dung được con người 64 tuổi, với vẻ bề ngoài ấy là tác giả huyền thoại về hoạt động bí mất của CIA ở Philippines. Ở đấy ông đã đạo diễn cho Ramon Magsaysay, tổng thống tương lai của nước Cộng hòa thân Mỹ, trong suốt chiến dịch tiêu diệt sự nổi dậy của những người Huks vào năm 1954. Ai nghĩ rằng con người bình thường ấy trong bộ quần áo màu nâu sáng trước đây là sứ giả nổi tiếng của nền dân chủ Mỹ trong những năm chiến tranh lạnh, “đại tá Hillandale” tài ba trong cuốn tiểu thuyết bán chạy thời kỳ ấy : Người Mỹ thầm lặng kể về những người Mỹ thấm nhuần lý tưởng cách mạng của chính họ, đã làm thế nào để những người châu Á thất bại với hệ tư tưởng cộng sản ở phương Đông. Lansdale đến Sài Gòn trước Vann 8 năm, vào năm 1954 ngay sau những thành công của ông ở Philippines. Thời kỳ ấy Hoa Kỳ cố gắng mở rộng quyền lực ở Việt Nam để thay thế người Pháp, tan vỡ vì thất bại ở Điện Biên Phủ. Hy vọng mới của người Mỹ ở Sài Gòn đặt vào viên quan lại Thiên chúa giáo Ngô Đình DIệm, đối đầu với bao nhiêu kẻ thù, hình như không thể đạt được mục đích. Chống lại ông ta là những nhà chính trị kình địch, hai giáo phái và một tổ chức tội phạm. Hai giáo phái và tổ chức tội phạm có quân đội riêng. Lansdale đã chiến thắng tất cả những lực lượng ấy, tránh được sự lộn xộn cho phép những người Việt Nam cộng sản miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 chiếm miền Nam. Ông đã thuyết phục chính quyền Eisenhower, rằng Diệm có thể thống trị và miền Nam Việt Nam trở thành một quốc gia liên minh với Mỹ. Dưới hành lang nhà nguyện, ngay sau lưng Lansdale là trung tá Lucien Conein, người đã hợp tác với ông trong việc tạo dựng chính quyền Nam Việt Nam. Conien vừa cứng rắn vừa tình cảm là một kẻ phiêu lưu sinh ở Paris và được nuôi dưỡng tại Kansas. Ông sung vào quân đội Pháp ngay từ đầu Thế chiến thứ hai. Sau thất bại của nước Pháp và Hoa Kỳ tham chiến, ông vào Cơ quan phục vụ chiến lược, tiền thân của CIA, nhảy dù xuống Đông Dương năm 1945 dưới biệt danh “trung úy Laurent” để chỉ huy những trận đánh chống quân đội Nhật. Mười năm sau ông giúp Lansdale đáng kể trong phối hợp những công việc bí mật. Năm 1954 Lansdale trở về Hoa Kỳ, Conein ở lại Sài Gòn. Năm 1963 ông thành công trong thiên hướng nghề nghiệp cao nhất : tổ chức một cuộc đảo chính thắng lợi. Ông là nhân vật quan hệ với các tướng lĩnh Nam Việt Nam, thúc đẩy việc lật đổ người mà Lansdale đã bao vất vả để củng cố vị trí. Ngô Đình Diệm đã không còn cần cho Hoa kỳ trong những năm trước đó. Với chế độ gia đình trị ông ta làm trở ngại cho hành động của chính quyền Kennedy đối với phong trào nổi dậy của cộng sản. Diệm và em trai là Ngô Đình Nhhu bị giết trong cuộc đảo chính. Joseph Alsop, nhà báo nổi tiếng , đã vào trong nhà nguyện. Ông ngồi trên một trong những chiếc ghế dài bên trái, bận bộ quần áo khiêm tốn màu xanh do người anh của ông cắt may với chiếc nơ xanh có chấm trắng trên áo sơ mi trắng. John Kennedy coi trọng những lời khuyên và tình bạn của ông bằng cách dừng lại nhà ông ở Washington lúc nửa đêm, vào đêm được đề cử tranh cử năm 1961, cùng ăn với ông một bát xúp thịt rùa. Alsop có mặt ở đám tang của Vann hoàn toàn hợp lẽ. Ông là cháu của Théodore Roosevelt, người vào đầu thế kỷ là người khởi xướng và là chiến binh của chiến tranh châu Mỹ La tinh. “Cuộc chiến tranh nhỏ tuyệt đẹp” này, như một người bạn và cộng sự của Roosevelt đánh giá thời kỳ ấy, đã đưa lại Philippines cho Hoa Kỳ, làm nước Mỹ trở thành một cường quốc ở Thái Bình Dương và khởi đầu bước đi tới Việt Nam. Alsop là người thừa kế điển hình của tinh hoa Ăng-glô Xác xông, bờ biển phía đông ấy đã ấn định cho cả nước những nguyên tắc về cái đẹp, đạo đức và sự tôn trọng trí tuệ. Ông dành cuộc đời để công khai bảo vệ chủ nghĩa bành trướng mà tổ tiên ông đã theo đuổi. Ông xem Việt Nam như một thử nghiệm ý chí và khả năng của Hoa Kỳ theo đuổi đường lối ấy và không ngừng biện hộ cho cuộc chiến tranh này. Sáu mươi mốt tuổi ông vẫn là con người của những tương phản như trước đây. Chiếc đầu to đối lập với thân hình mảnh dẻ và khuôn mặt nhiều nếp nhăn càng tô đậm, thái quá vì đôi kính tròn rộng lớn bằng đồi mồi màu tối. Nhà duy mỹ này thu thập những đồ gỗ Pháp, đồ sứ cổ Trung Hoa và tranh sơn dầu Nhật Bản; sưu tầm đầy đủ về nghệ thuật và khảo cổ học, ông biết rất rõ những nền văn minh cổ Hy Lạp và Trung Đông; tốt và trung thực với bạn bè, giao tiếp giỏi; ông là cha đỡ đầu của khoảng ba chục đứa trẻ. Ngược lại trong nghề nghiệp ông cũng đấu tranh hung dữ như ông chú của mình. Ông không xem những người bất đồng với ông lầm lẫn hoặc thiếu suy xét mà mô tả họ như những người ngu xuẩn hành động vì những động cơ ti tiện hoặc ích kỷ. Trong những năm cuối đời của Vann, Alsop liên tục bảo vệ quan điểm của anh trên báo chí. Ông đến để tỏ một sự thương mến đặc biệt đối với anh, người khác hẳn ông về nguồn gốc và tính cách. Ngồi bên cạnh Alsop là một đại tướng ba sao (Trong quân đội Mỹ, chỉ huy binh đoàn là đại tướng một sao; chỉ huy sư đoàn, hai sao; chỉ huy Quân đoàn : ba sao; chỉ huy binh chủng : bốn sao. Riêng đại tướng tổng tư lệnh mang hàm năm sao), một chiến binh khác mà ông cũng rất hâm mộ : William DePuy. Thanh mảnh, năm mươi hai tuổi, da đồng, người vững chắc, là hình ảnh người lính tự tin, tranh phục chỉnh tề, nguyên mẫu của thế hệ chỉ huy đã dẫn dắt người của mình chiến đấu trong Thế chiến thứ hai và sau đó sang Việt Nam như những viên tướng có thói quen chiến thắng. Trí thông minh kèm theo năng khiếu đặc biệt toát lên tầm nhìn gan dạ và vững vàng. Ông xác nhận những phương pháp chiến đấu của quân đội Mỹ áp dụng trong Thế chiến thứ hai là toàn diện và không ai thắng nổi : vận hành một cỗ máy chết người, tiêu diệt kẻ địch bằng sức mạnh thần kỳ của lưới lửa mà nền kỹ thuật công nghiệp Mỹ có khả năng tạo ra. DePuy đã xây dựng cỗ máy ấy ở Việt Nam. Chỉ huy hành quân của Westmoreland năm 1965 khi Lyndon Johnson với sự cam kết của Kennedy mở rộng chiến tranh toàn diện, ông đã hoạch định chiến lược hủy diệt tiến tới đè bẹp những người Việt Nam cộng sản. Chiến lược đó nhằm đào tận gốc những người trận chiến du kích Việt cộng và tiêu diệt những toán quân Bắc Việt nhanh hơn số lượng chính phủ Hà Nội có thể đưa vào bằng đường mòn Hồ Chí Minh. Như vậy binh lính Việt Nam cộng sản sẽ bị tàn sát đến mức bẻ gãy ý chí của những người sống sót và chỉ huy của họ. Westmoreland ban thưởng DePuy về tài năng chiến lược bằng giao cho ông này chỉ huy Sư đoàn bộ binh số một. Sư đoàn “Anh cả đỏ”. DePuy khác với những tướng lĩnh khác là dội hỏa lực vượt quá khả năng và đuổi những sĩ quan thuộc quyền phản ứng về mức độ tấn công dữ dội ông đưa ra. Ông tranh chấp với Vann vốn khinh thường những chiến lược ấy, Vann cho rằng chiến tranh hủy diệt gây ra chết chóc tàn phá vô ích cũng như hao tổn binh lính Mỹ và lãng phí đạn dược. Tuy vậy năm 1972 DePuy tác động qua Washington buộc Vann sử dụng sức mạnh của trọng pháo, máy bay lên thẳng, máy bay tiêm kích ném bom và pháo đài bay B-52 chống lại quân đội Bắc Việt ở Kontum. Khi Vann chết DePuy tôn vinh anh theo cách của mình : “Anh ấy chết như một người lính”. Vì thế ông ngồi trong nhà nguyện bên cạnh người bảo vệ mình tốt nhất, Joseph Alsop. Thượng nghị sĩ Edward Kennedy đến chậm, đúng trước lúc buổi lễ bắt đầu vào 11 giờ. Ông vào nhà nguyện ý tứ như một người dòng họ Kennedy vẫn thế và đến ngồi ở một chiếc ghế dài phía cuối. Người em út nhà Kennedy chống đối cuộc chiến tranh mà anh cả ông đã lôi kéo đất nước vào. Khác với Vann, ông không còn tin vào lời cam kết của ông anh trong diễn văn tranh cử và được khắc trên bia mộ :” Mong mỗi dân tộc, dù họ muốn điều tốt hoặc điều xấu cho chúng ta, đều biết rằng, chúng ta sẽ trả bằng bất cứ giá nào, chịu đựng bất cứ gánh nặng nào, trải qua bất cứ thử thách nào, ủng hộ bất cứ bạn bè nào, chống đối bất cứ kẻ thù nào để đảm bảo và gìn giữ thắng lợi của tự do”. Nền tự do John Kennedy và cộng sự theo đuổi là vượt qua biển cả áp đặt trật tự Mỹ vào “biên giới mới”. Giá phải trả để cố gắng tổ chức trật tự thế giới là cuộc chiến tranh ở Việt Nam và giá ấy đối với Edward trở thành quá cao. Anh của ông, Robert cũng đã bắt đầu chống đối cuộc chiến tranh này trước khi bị ám sát và ngủ yên dưới ngôi mộ khiêm tốn bên cạnh ngôi mộ lớn của ông anh. Edward Kennedy và John Vann trở thành bạn thân vì Edward chia sẻ với Vann mối quan tâm đến sự khốn khổ của những người nông dân Việt Nam. Cũng như Vann, ông đã cố gắng thuyết phục chính phủ tiến hành cuộc chiến tranh này một cách hợp lý và ôn hòa. Ông tự nhận nhiệm vụ làm giảm nhẹ đau đớn của những người dân bị thương trong chiến tranh và những nông dân bị đuổi ra khỏi nhà cửa. Ông sang Việt Nam để nhận thấy nỗi khốn khổ của họ, chứng minh trước lưỡng viện, tác động một sức ép chính trị để nhận được những điều kiện sống nhân đạo hơn trong các trại tị nạn, bệnh viện và để chấm dứt những cuộc dội bom mù quáng xuống các vùng nông thôn. Ông quan hệ thư từ với Vann trao đổi những thông tin cần thiết để tác động có ảnh hưởng hơn với chính quyền Washington. Daniel Ellsberg, người kỵ sĩ đào tẩu khỏi cuộc viễn chinh ngồi trên chiếc ghế dài thứ hai bên phải, ngay phía sau gia đình Vann. Ông vừa xuống máy bay từ Los Angeles, nơi các luật sư của ông đang chạy cho phần cuối cùng trước ngày xét xử ông. Ông trở thành một người bị đào thải của xã hội khép kín những sĩ quan bí mật, trước kia đã xem ông là một người trong bọn, bây giờ họ cho ông là một kẻ phản bội vì chỗ ngồi công khai của ông trong nhà nguyện. Ông không có vẻ là một người bị đào thải, vẫn ăn mặc như họ, như người ta dạy ông ở Havard, bộ quần áo hoàn toàn cổ điển với sợi nhỏ màu xanh, áo sơ mi phù hợp và một chiếc khăn quàng buộc chặt. Bốn mươi mốt tuổi, ông để tóc dài hơn thời kỳ cắt lối bàn chải, ông gặp Vann lần đầu ở Việt Nam cách đây bảy năm. Những lọn tóc xám đậm bao quanh vầng trán cao làm dịu đi những nét góc cạnh của khuôn mặt gầy rám nắng. Ellsberg là một nhân vật rất phức tạp. Bố mẹ là người Do Thái trung lưu cải đạo Thiên Chúa giáo, ông vừa trí thức vừa là người hành động, có thiên bẩm phân tích đặc biệt. Cá tính của ông mạnh đến nỗi nhiều khi thoát ra khỏi mọi kiểm soát, tình cảm luôn luôn tranh chấp nhau, có thể vừa là một nhà lãng mạn xuất sắc vừa là một tu sĩ khổ hạnh phức tạp. Khi đã tin điều gì ông sẽ tin đến cùng và là người cổ động cuồng nhiệt cho điều đó. Ông đã tranh thủ những lợi thế nhà nước tạo cho để học hành lâu dài, tạo được một vị trí nổi bật giữa tập thể những viên chức dân sự, quân sự phục vụ chính phủ thời kỳ Thế chiến thứ hai. Ông chứng minh khả năng chiến đấu của mình qua ba năm là đại úy Hải quân. Trường đại học Havard chọn ông lúc còn ở quân đội làm thành viên của hội những sinh viên trẻ xuất chúng, cho phép ông bảo vệ học vị tiến sĩ. Rồi ông được tập đoàn máy bay quân sự tuyển mộ cho kế hoạch chiến tranh hạt nhân chống lại Liên Xô, Trung Hoa và những nước cộng sản khác. Do vậy ông biết rõ những bí mật nối tiếp nhau của đất nước. Sự thành công của ông ở tập đoàn cho ông ông những tiếp xúc với Lầu Năm Góc, được bổ nhiệm làm trợ lý đặc biệt của thứ trưởng Quốc phòng về những vấn đề an ninh quốc tế, thực chất là phụ trách đối ngoại của quân đội. Năm 1965 mong muốn hoạt động vì quyền lợi Mỹ, ông tình nguyện sang Việt Nam chỉ huy một đại đội Hải quân. Người ta bài bác vì vị trí trong chính quyền của ông quá cao không nên làm một việc tầm thường như thế. Ông bèn xoay sở sung vào kíp mới của Lansdale khi ông này trở lại Việt Nam năm 1965 nhằm cố gắng cải tổ lại chính quyền Sài Gòn và thực thi một chương trình bình định có hiệu quả. Hai năm sau Ellsberg trở lại tập đoàn nghiên cứu chiến tranh hạt nhân, suy sụp về một chuyện tình duyên và yếu sức vì bệnh gan. Nhưng nhất là ông chán nản về sự bạo tàn ngày càng tăng của cuộc chiến tranh hủy diệt Westmoreland sử dụng và về sự từ chối của chínhq uyền Mỹ áp dụng một chiến lược khác, cách duy nhất để bào chữa cho những cuộc giết người, tàn phá làng mạc. Cuộc tấn công dịp Tết năm 1968 kéo ông khỏi sự chán nản. Ông đã kết luận vũ lực tàn bạo ở Việt Nam là điên rồ vô đạo đức. Trong lương tâm ông thấy cần ngăn chặn cuộc chiến tranh này. Mùa thu năm 1969 ông bí mật sao in 7.000 trang tối mật trong tài liệu lưu trữ của Lầu Năm Góc về Việt Nam, bắt đầu chiến dịch phản đối chiến tranh bằng một bức thư ngỏ trên báo chí đòi rút quân Mỹ khỏi Việt Nam trong vòng một năm. Báo NEW YORK TIMES đăng câu chuyện “Tài liệu của Lầu Năm Góc” trong một loạt bài vào tháng Sáu và Bảy năm 1971. Ellsberg bị buộc tội theo lệnh của tồng thống Richard Nixon với ý định cho ông vào tù càng lâu càng tốt. Suốt cuộc đời phục vụ một cường quốc, lúc bắt đầu nghỉ Ellsberg đến để chôn người bạn mà chiến tranh đã cướp đi của ông. Ông ngồi cùng với gia đình người chết theo đề nghị của Mary Janes, vợ của Vann trong hai mươi năm cho đến lúc họ ly dị nhau tám tháng trước đây. Chị thấy cần có sức mạnh của tình bạn trong lúc này và chị tán đồng ảnh hưởng của ông đối với Jesse, cậu con trai 21 tuổi của chị đang ngồi bên cạnh Ellsberg trên chiếc ghế hàng thứ hai. Chị cũng muốn ông sát cánh với gia đình chị như một thách thức, muốn những người đang trong nhà nguyện bực bội vì hiểu rằng chị ngưỡng mộ hành động chống chiến tranh của ông và chia sẻ những ý tưởng của ông. Năm trước chị cũng đã nói thế với hai nhân viên FBI đến nhà chị hỏi về quan hệ giữa Vann và Ellsberg. Mary Janes tự cho mình là vợ góa của Vann dù họ đã ly dị. Nhưng đó vốn chỉ là một trạng thái ức chế do thất vọng, một sự tự hủy hoại trả đũa cuộc hôn nhân chỉ còn là hình thức sau khi Vann trở lại Việt Nam năm 1965 và ở lại hẳn. Anh là mối tình của chị thời trẻ; người đàn ông đầu tiên chị biết rõ, bố của năm đứa con của chị - bốn con trai ngồi gần chị trong nhà nguyện và một con gái đã lấy chồng, không đến được vì đang sinh đứa cháu gái đầu tiên của Vann. Mary Janes cố bám lấy cuộc hôn nhân ấy càng lâu càng tốt. Chị không thể yêu một người đàn ông khác như đã yêu anh. Nuôi dạy con và gìn giữ tình nghĩa vợ chồng, theo nền giáo dục và bản tính của chị, một thiên hướng cũng khẩn thiết như anh đối với chiến tranh. Khi lấy John lúc 18 tuổi, vừa học xong trung học chi hơi tròn trĩnh nhưng rất quyến rũ với mái tóc nâu lượn sóng, đôi mắt màu hạt dẻ và khóe miệng rõ nét. Gia đình, Nhà thờ, Tổ quốc là những giá trị mà bố mẹ và những thành viên khác của tầng lớp trung lưu là những gì đã khắc sâu vào tâm trí chị. Vì vậy, thời con gái chị mơ ước một cuộc hôn nhân thanh thản và một gia đình nồng ấm. Tuổi trẻ trải qua một môi trường bình lặng, chị hy vọng cũng được như thế trong hôn nhân và gia đình. Tuy cố gắng nhiều chị đã không thành công. Chiến tranh và sự cần thiết có mặt người bố đã gây rối loạn cho đứa con trai thứ hai của chị, Jesse. Chủ nghĩa yêu nước và xã hội thủ cựu mà chị không bao giờ nhắc đến đã được Jesse cảm nhận theo cách khác. Bốn mươi bốn tuổi Mary Jane Vann vẫn giữ được vẻ ngoài dễ mến khi chị ăn mặc tử tế, trang điểm và chải tóc gọn gàng như chị đã làm sáng nay vì lễ tang. Chị nghĩ thật mỉa mai khi Vann về nhà lần cuối cùng đúng vào dịp lễ Giáng sinh, lúc mà chị mong có anh bên cạnh chị vì họ đã quen biết nhau trong ngày lễ và cũng chính con trai đầu của chị, John Allen sinh vào hôm đó. Chị nhớ lại tất cả những ngày lễ Giáng sinh anh không có mặt. Ngày được tin anh chết, chị tìm trong tủ bộ quân phục diễu hành màu xanh đậm viền vàng mà hôm nay đội quân danh dự đang mặc. Có lần anh đã nói với chị anh muốn được chôn cất trong trang phục ấy. Chị tìm không thấy, có lẽ anh đã mang sang Việt Nam. Đến Washington, người ta nói với chị quan tài đã đóng kín, dù sao cũng không mặc cho anh được. Chị đã nhớ ra đi trong dịp Giáng sinh cuối cùng, tuy đã ly hôn, anh vẫn ôm hôn chị lên má thay vì bắt tay chào từ biệt như anh thường làm những năm trước. Nhạc tang đã ngừng và nhà nguyện trở nên im lặng. Buổi lễ sắp bắt đầu. Mary Jane nghe bên ngoài hô hiệu lệnh và tiếng bồng súng chào của đội danh dự. Tuy lần đầu tham dự loại lễ nghi quân đội này nhưng đã là vợ lính, chị biết người ta sắp đưa quan tài John ra khỏi nhà nguyện. Giữ tiếng khóc thầm chị nghĩ bây giờ anh thực sự chết rồi. Chiếc quan tài phủ lá cờ, đặt trên xe do hai người trong đội quân danh dự đẩy lăn từ từ trên con đường chính. Những dây phủ quan tài do tám quan chức cầm đi theo hai hàng bốn người. Ellsberg biết năm người trong bọn họ. Ba người khác là hai đại diện Cơ quan phát triển quốc tế và một đại tá Nam Việt Nam, tùy viên quân sự ở Đại sứ quán, thay mặt Chính phủ. Mệt mỏi và cay đắng, Ellsberg nhận thấy năm người kia đúng là những người phù hợp để đi theo chiếc quan tài của Việt Nam. Tiếp theo là những tướng lĩnh trong đồng phục trắng mùa hè. Trước hết là Westmoreland bây giờ là tham mưu trưởng quân đội, vị trí do tổng thống Johnson bổ nhiệm sau khi cách chức chỉ huy của ông ở Việt Nam. Ông đi đầu hàng bên phải, vị trí danh dự theo quy định. Khi Hoa Kỳ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam năm 1965, với phong thái lịch sự và tự hào ông có vẻ là hiện thân của niềm kiêu hãnh và sự thành công của quân đội. Giờ đây, bảy năm sau, bề ngoài vẫn là hình mẫu của một viên tướng 58 tuổi, là tham mưu trưởng, ông đại diện cho chính thể chế của quân đội ấy công nhận Vann là một người của họ tuy anh đã chết. Một quân đội cảm nhận thất bại mà không biết lý do. Westmoreland dù sao cũng không bao giờ hiểu. Quân đội dám tự hào ở Việt Nam không thể không hy vọng một biện minh cuối cùng cho những mục tiêu của mình. Đó là điều mà Vann ngấm ngầm cố gắng làm. Trong trận đánh cuối cùng ở rừng núi, với binh lính Nam Việt Nam được quân đội Hoa Kỳ yểm trợ, anh cố gắng làm điều mà người Mỹ đã không thực hiện được. Quân đội cũng biế không bao giờ Vann rời hàng ngũ. Cuối cùng anh trở thành viên tướng chiến đấu như anh vẫn mong tuy anh là viên chức dân sự và từ chối chấp nhận thất bại, anh là hiện thân của hình mẫu lãnh đạo. Tướng Bruce Palmer, tham mưu phó và là người cùng thời với Westmoreland, bạn đồng môn ở trường quân sự West Point năm 1936, đi đầu hàng bên trái. Ông đã phục vụ ở Việt Nam trong cương vị phó của Westmoreland sau khi chỉ huy đoàn quân viễn chính tổng thống Johnson gửi sang cộng hòa Dominique năm 1965 để ngăn chặn đất nước Caribes nhỏ bé này theo gương Cuba của Fidel Castro. Binh lính nhảy dù và hải quân do Palmer chỉ huy đã tạo điều kiện cho Ellsworth Bunker, nay là đại sứ ở Sài Gòn, áp đặt một chính phủ thân Mỹ ở Cộng hòa Donique. Palmer nguyên là cấp trên của Vann những năm 50 khi ông là đại tá chỉ huy trung đoàn bộ binh thứ 16 ở Đức và Vann là đại úy ở đại đội súng cối. Palmer còn nhớ Vann là đại đội trưởng giỏi nhất dù anh là người khó điều khiển nhất. Bốn ngày trước khi Vann chết, Palmer đã gửi cho anh một thư khen ngợi về cuộc hành quân ở Kontum và anh đã nhận nó trước khi chết. Người sĩ quan thứ ba mặc đồng phục trắng là đại tướng Richard Stilwell, chỉ huy hành quân ở Ban tham mưu. Ông là một trong những người không nuối tiếc việc Vann từ chức năm 1963. Ông đến Sài Gòn tháng Tư, đúng lúc Vann đi Washington và Lầu Năm Góc, cố gắng thuyết phục giới tinh hoa của quân đội rằng Hoa Kỳ đã đi sai đường và phải thay đổi chiến lược. Năm 1963 Stilwell là thiếu tướng, chỉ huy những cuộc hành quân của tướng Paul Harkins người tiền nhiệm Westmoreland. Stilwell vận dụng trí thông minh nổi bật của mình để bác bỏ những luận chứng của Vann và những quân nhân chiến đấu khác cũng nghĩa cuộc chiến tranh sẽ thất bại. Thái độ của Stilwell không có gì ngạc nhiên đối với những người biết rõ ông. Niềm tin không lay chuyển vào chính quyền khiến ông trung thành với cấp trên. Ông mong ước đạt tới vinh quang trong sự nghiệp, nhưng ông không bao giờ với được vị trí tổng tư lệnh. Tốt nghiệp West Point, là một trong những người đứng đầu, sau Westmoreland và Palmer hai năm, với tham vọng và khả năng , ông sung vào bộ binh trong Thế chiến thứ hai, phục vụ ở Châu Âu cùng sư đoàn với DePuy. Sau đó, năm 1964, Stilwell được cử sang Sài Gòn trở thành tham mưu trưởng cùng Westmoreland, tổng tư lệnh mới. DePuy đến lượt cũng sang Việt Nam nắm vị trí cũ của Stilwell, chỉ huy hành quân. Như vậy là Stilwell giám sát DePuy thực hiện chiến lược hủy diệt sẽ mang lại cho họ chiến thắng. Stilwell tiến tới thấy mình nhầm lẫn về Vann và đi đến chỗ khâm phục anh. Do đó vì tình cảm ông đề nghị được ở trong hàng ngũ danh dự đưa Vann ra mộ. Phía sau Westmoreland là một viên chức dân sự thanh mảnh, thẳng thắn trong bộ quần áo màu xanh biển. Đôi kính gọng nhựa làm nổi rõ khuôn mặt gầy và bình thường. Phải nhận kỹ sau đôi kính cái nhìn cương quyết của đôi mắt cận thị mới hiểu được sự cứng rắn trong tính tình của ông. Đấy là William Colby, một sếp CIA, người chiến đấu bí mật, sẽ được bổ nhiệm phó trưởng ban kế hoạch, chức danh chỉ những hoạt động bí mật, để cuối cùng trở thành trưởng tình báo, giám đốc CIA. Nếu William Colby sinh vào thế kỷ thứ XVI, tính tình và tư tưởng ông chắc đã đưa ông gia nhập Hội thánh Jesus sống cuộc đời một người lính bảo hoàng. Ở thế kỷ XX, ông vào CIA để trở thành một người lính của chiến tranh lạnh. Tính cách nổi bật của ông là sự cần thiết phục vụ và lòng ham thích bí mật. Nhảy dù xuống nước Pháp bị chiếm năm 1944 là một chỉ huy 24 tuổi sau khi bắt đầu tìm hiểu ở Anh về công việc phá hoại và khủng bố, cùng với Lucien Conein, ông dẫn dắt một toán kháng chiến Pháp chống quân phát xít. Nhưng đối với ông chiến tranh không kết thúc bằng việc Đức đầu hàng chín tháng sau đó. Chủ nghĩa cộng sản vô thần, đối với Colby là một phong trào phát xít mới. Lòng tin vào Thiên chúa giáo La mã thừa hưởng của bố, một đại tá cải giáo và bà mẹ người Ireland làm cho ông nhiệt tâm chống cộng cũng như đã hăng hái chống phát xít. Vấn đề là biết được bên nào bị đánh bại trước tiên. Khác với Lansdale, Colby không phải là một nhân vật nổi danh về hoạt động bí mật. Ông xử sự kín đáo và kiên trì, thực thi những chỉ thị của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong phần lớn 12 năm trước. Đầu năm 1959, phó rồi trưởng bộ phận CIA ở Sài Gòn, sau đó trở thành phó rồi trưởng chỉ huy tất cả những hoạt động bí mật ở Viễn Đông. Ông đã chỉ đạo những kế hoạch đầu tiên chống du kích ở miền Nam. Theo lệnh của tổng thống Kennedy, ông tiến hành lại cuộc chiến tranh bí mật chống cộng sản miền Bắc bị bỏ rơi sau thời kỳ Lansdale. Ông tung các toán nhảy dù , đưa vào bờ biển những toán khủng bố và phá hoại người Việt Nam được CIA huấn luyện để bắt đầu đánh du kích chống chính quyền Hà Nội như Việt cộng đã tiến hành ở miền Nam. Năm 1967 ông giúp Robert Komer, cựu thành viên CIA mà Ellsberg nhận ra trong số những người đi theo quan tài, mở chiến dịch PHƯỢNG HOÀNG nhằm mục đích giết, cầm tù hoặc buộc đầu hàng những thành viên của Chính phủ cộng sản bí mật mà du kích Việt cộng bố trí trong những vùng nông thôn miền Nam. Hàng chục nghìn người Việt Nam bị giết hoặc tù đày. Phong trào hòa bình đã kết tội Clby giết người và là tội phạm chiến tranh. Tranh áp phích có ảnh của ông với hàng chữ “giết người” dán khắp những tòa nhà của các trường đại học Washington. Nhưng không sự lên án nào làm lung lay lòng tin của Colby về việc làm chính đáng của mình và ông vững tin hành động của mình là cần thiết và đúng đắn. Thái độ hiền lành nhã nhặn và không phải không tính toán, vẫn làm nao núng lòng người như trước. Năm 1968 Komer rời Việt Nam, Colby lãnh đạo mọi chương trình bình định và như vậy là cấp trên của Vann, đánh giá cáo tài năng của anh. Vann xông xáo, bộc lộ mình và Colby thích hoạt động trong bóng tối, tiến tới kính trọng lẫn nhau. Hai người lính đặt chiếc quan tài phủ cờ ở đầu lối đi chính trước bàn thờ. Những nhân vật đi theo đến ngồi trên ghế đầu bên trái, có bộ trưởng Ngoại giao William Rogers và bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird. Sau khi cha tuyên úy cầu nguyện xong bài thuyết giáo, Robert Komer đứng dậy, tới trước đọc điếu văn. Komer nguyên là tướng chỉ huy công cuộc bình định mà báo chí mệnh danh là “cuộc chiến tranh khác ở Việt Nam”. Hơi tầm thước và hói bẩm sinh, trong đoàn hộ tống quan tái, ông khác những người mặc thường phục màu tối vì bận bộ quần áo xám sáng may theo kiểu LonDon những năm 50. Ông phải mặc thế vì để đọc điếu văn cần có áo gi-lê và chỉ có bộ quần áo màu hè độc nhất có gi-lê. Tổng thống Johnson tin rằng Komer có biệt tài giải quyết những vấn đề, gửi ông sang Việt Nam năm 1967 để sáp nhập thành một tổ chức duy nhất và gắn bó những chương trình bình định của nhiều cơ quan dân sự. Komer thực hiện nhiệm vụ này thật tốt và cố gắng hết sức để bình định Việt Nam. Ông như một con chó săn, lao vào công việc một cách hung hăng, tin tưởng, thậm chí có phần gian ác. Ông láu lỉnh bỏ qua những thủ tục bàn giấy và thích biệt hiệu “đèn hàn” bạn bè và kẻ thù đặt cho. Vann giúp Komer xây dựng tổ chức rất hiệu quả và là thuộc hạ trung thành nhất của ông để thực hiện kế hoạch bình định. Những người cộng sản Việt Nam đã hủy hoại nghiêm trọng sự nghiệp của Komer bằng cuộc tấn công Tết năm 1968. Trước cuộc tấn công ông ta mắc sai lầm nghĩ rằng Hoa Kỳ đang thắng trong cuộc chiến, ông báo cáo với tổng thống và công khai tuyên bố thắng lợi là chắc chắn và hiển nhiên. Sau cuộc tấn công, sự có mặt của ông trở nên phiền phức đối với chính quyền Johnson và ông rời Sài Gòn cuối năm 1968. Từ đó ông tiếp tục làm việc ở Washington, định kỳ sang Việt Nam và viết báo cáo. Ông giải thích, Vann và các bạn xông vào chiến đấu để còn có thể chiến thắng; miền Nam Việt Nam trụ vững đủ lâu dài để những người cộng sản kiệt sức và bỏ cuộc. Sáng hôm ấy ba trăm con người tập trung trong nhà nguyện lắng nghe giọng nhỏ nhẹ của Komer, ông già cứng rắn đứng bên cạnh quan tài ca ngợi Vann. Ông tán dương “lòng dũng cảm, tính cách, nghị lực, sức mạnh, lòng dũng cảm của John Vann mà chúng ta đã biết rõ”. Những lời ấy phấn khích như cách ông già Komer đã lao vào chiến tranh. Với những người đã làm việc cùng anh, nhận ở anh lời khuyên và gợi ý; anh là con người tóc hung gầy nhỏ, nói giọng mũi của nông dân Virginia, làm việc như một máy phát điện, chỉ ngủ mỗi đêm bốn tiếng, ít nhất mỗi ngày hai lần làm nổ bom mìn. Anh biết thực tế những gì xảy ra hơn bất cứ ai trong chúng ta và luôn luôn thông báo với chúng ta. Và tất cả những ai trong chúng ta còn sống vẫn đang lắng nghe anh. Đấy là John Vann mà chúng ta nhớ mãi. Anh tự hào là một nhân vật được nói đến nhiều và đảm nhận đến tận cùng vai trò đó. Tôi chưa từng biết người nào có tư duy phê phán không mệt mỏi và tính trung thực tuyệt đối như thế. Bao giờ anh cũng nói điều anh nghĩ về thất bại cũng như chiến thắng. Vì điều đó và vì kinh nghiệm lâu dài của anh, anh là người được báo chí kính trọng hơn bất cứ nhân vật có chức quyền nào. Anh nói thẳng không chỉ với các nhà báo và cộng sự mà cả với những tổng thống, bộ trưởng, đại sứ, các tướng lĩnh, không quan tâm đến hậu quả. Một hôm tôi được lệnh, không đùa, phải phạt Vann thật nặng. Tôi đã trả lời tôi không muốn và không thể vì nếu có ba người khác như Vann, chúng ta sẽ rút ngắn thời hạn chiến tranh đi một nửa”. Mary Jane đã không nghe cha tuyên úy nói gì, bây giờ lắng nghe Komer. Giọng nói và lời của ông làm chị bình tĩnh lại. Ý nghĩa của nó không quan trọng bằng sự thích thú được nghe những lời ca tụng của một người nói năng hăng hái. Nếu John ít ảo tưởng, Komer tiếp tục, anh sẽ không bị dằn vặt về hành động của mình ở Việt Nam : anh phải bảo vệ quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam mà anh mong tự do cho họ. Anh biết rõ người Việt Nam hơn, hợp tác chặt chẽ hơn với họ, chia sẻ những thử thách cũng như niềm vui hơn bất cứ một người Mỹ nào khác. Anh cảm thấy trong các làng của họ như ở nhà mình, qua đêm ở đấy thường xuyên hơn tại các bàn giấy ở Sài Gòn. Trong vai trò nào anh cũng là một người có khả năng tiên phong, không lùi bước trước mối nguy hiểm nào và không bao giờ đòi hỏi người khác làm điều mình không làm. Theo anh người chỉ huy phải đi đầu, dù nguy hiểm đến mấy. Thậm chí anh là hiện thân của mẫu người không có gì không thể được. và tôi không hề gặp trong số nhiều nghìn người cùng phục vụ hoặc dưới sự chỉ huy của anh một người nào không ca ngợi anh. Anh đã bồi dương, gợi ý cho cả một thế hệ chiến sĩ Việt Nam và Mỹ, đã là người thầy, bạn chiến đấu, nỗi nhớ, niềm khích lệ và người bạn của chúng ta”. Komer bị cuốn theo vấn đề và lời nói của mình. Giọng của ông rõ ràng và sắc sảo hơn như mỗi lần ông cảm động. Ông giải thích vì sao Vann được chôn cất ở Arlington : Vì anh là mẫy mực hoàn hảo nhất của người lính mà thời gian cuối cùng ở Việt Nam đã thỏa mãn, ý muốn kín đáo đi đầu những toán quân Mỹ. Nhưng John hơn một người lính : anh hoàn toàn hiểu rõ sức mạnh của súng đạn không phải là giải pháp duy nhất. Chúng ta mong, Komer nói tiếp, sự cố gắng chủ động của anh, lâu đài anh xây dựng sẽ là nước Việt Nam, trong tự do và hòa bình mà anh vì nó đã chiến đấu tích cực. Và dù sự tranh chấp bi thảm sẽ kết thúc như anh mong muốn hoặc khác đi, tất cả những người đã cùng phục vụ với Vann sẽ nhớ mãi anh. Đấy không phải một người người ta có thể dễ dàng quên. Vì vậy hôm nay chúng ta chào một trong những người anh hùng đích thực nhất của cuộc chiến tranh thảm khốc và không được lòng dân mà anh đã hy sinh tất cả để phục vụ. Không, John, chúng tôi sẽ không quên anh. Anh là người tốt nhất mà chúng tôi đã mất”. Ellsberg trước đây làm việc cùng Komer, đã có những quan hệ tốt, không còn một cảm tình nào nữa dù ông ta đã hào phóng ca ngợi người bạn chung của họ. Ông còn gì chúng với Komer và tất cả những người trong nhà nguyện này tiếp tục bảo vệ cuộc chiến tranh. “Phải, ông tự nhủ và bực tức thay đổi lại lời nói cuối cùng của Komer : anh là người bạn tốt nhất mà chúng tôi đã phản bội”. Cha tuyên úy đọc những câu kinh cuối cùng rồi ban phước, trưởng ban tổ chức buổi lễ đề nghị mọi người đứng dậy. Ban nhạc bắt đầu chơi một bài trong lúc quan tài được đẩy ra cửa lớn. Những người hộ tống đi trước thành hàng đôi hai bên vòm vải xanh kéo dài ra hành lang. Các viên tướng và đại tá người Việt chào theo kiểu quân sự và những người mặc thường phục đặt bàn tay phải lên ngực còn quan tài được đưa lên chiếc xe hòm phủ vải đen có sáu con ngựa kéo. Người chỉ huy dàn trống đưa chiếc gậy bạc lên cao rồi hạ ngay xuống. Quân nhạc nổi lên theo đoàn người đi suốt 900 mét từ nhà nguyện đến nghĩa trang. Đoàn quân nhạc đi trước, chơi khúc hành quân theo đề nghị của Mary Jane vì là điệu nhạc yêu thích của Vann : CUỘC HÀNH QUÂN CỦA ĐẠI TÁ BOGIE anh được nghe trong phim CẦU QUA SÔNG KWAI. Sau khi xem phim ấy, anh mua ngay chiếc đĩa và hình như nghe không chán. Sau đoàn quân nhạc là đội danh dự rồi những người không mang cờ, những người cầm dây phủ quan tài đi hàng đôi. Cha tuyên úy đi trước chiếc xe hòm. Phía sau là gia đình người chết trong những chiếc xe Cadillac đen do hãng quân khí Vann làm việc một thời gian ngắn sau khi giải ngũ cho mượn. Mặc dầu trời nắng và đường xa phần lớn những người tham dự do kính trọng Vann đã đi bộ sau những chiếc xe thay vì đi xe của họ. Cứ như thế, đoàn người đi qua không để ý đến những đài chiến thắng “cuộc chiến tranh đẹp đẽ” chống Tây Ban Nha năm 1898, đẩy biên giới phía tây của Hoa Kỳ qua Thái Bình Dương, từ San Francisco đến tận Manilla, kết thúc thời đại đế quốc Mỹ mà niềm tin đã bị chôn vùi trong ngày đó. Đài thứ nhất xây dựng để tưởng niệm 385 người lính tử trận suốt cuộc chiến tranh năm 1898 ấy, ít hơn người chết ở Việt Nam trong một tuần. Xa hơn một chút về bên trái sừng sững một đài khác, cột buồm của chiến hạm Maine, vớt được từ những mảnh tàu bị nổ tung và bị đắm ở hải cảng La Havana làm chết 266 sĩ quan và thủy thủ tạo điều kiện cho nước Mỹ nóng lòng chiếm đóng nước Tây Ban Nha đang hủy hoại không tự bảo vệ được. Đi xuống con đường nghĩa trang đoàn người qua một đài khác hình nhọn, tạc sơ sài bằng đá xám, tưởng niệm những người chết của trung đoàn kỵ binh thứ nhất , những người tình nguyện mà ông chú của Alsop tuyển mộ và dẫn đến vinh quang trong khúc dạo đầu của chiến công dễ dàng ấy. Xung quanh ngôi mộ của Vann không có vạt đất nào mới đào có thể làm nhớ lại những chiến trường ở Việt Nam. Mộ được đặt trong một bụi cây lớn theo bờ dốc hướng về bậc thềm Đài tưởng niệm và mồ Chiến sĩ vô danh tập trung những người tử trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai và chiến tranh Triều Tiên. Những cuộc đánh nhau liên tiếp ấy làm cho các thế hệ quân sự Mỹ thành thạo về lễ tiết đối với người sống và người chết. Khi những buổi lễ tiến hành vào mùa đông trên các thềm cỏ của Lầu Năm Góc, cỏ bị sương giá làm cháy sém được nhuộm màu xanh. Các nhà chức trách cũng chú ý giữ gìn như vậy ở Arlington để mọi vật dễ trông hơn. Những người đào huyệt phủ lên đất mới đào một tấm thảm cỏ tổng hợp người ta thường dùng trên sân thể thao. Hai hàng ghế xếp bằng kim loại phủ vải xanh được đặt bên phải ngôi mộ dành cho gia đình và những người thân. Mary Jane ngồi ghế sau chiếc limuzin đen đầu tiên. Khi Edward Kennedy trong nhà nguyện đi ra lại gần để chào, chị hạ kính xe xuống đáp lễ. Chị không nâng tấm kính lên lại và nghe được bản nhạc mình đã đề nghị. Chị nghĩ các nhà chức trách cho bài hát không đúng chỗ trong đám tang chính thức của một người anh hùng chiến tranh và sẽ cấm chơi. Thế nhưng nhạc trưởng xướng nhịp ngay lúc tám trung sĩ đồng phục xanh, mỗi bên bốn người nắm lấy đầu dây đòn quan tài nhấc ra khỏi xe hòm. Mary Jane xúc động nghe bản nhạc. Đấy là bản NHỮNG BÔNG HOA SẼ RA SAO do các chiến binh hòa bình sáng tác, lan sang những người lính Mỹ ở Việt Nam, trở thành phổ biến thời kỳ ấy, có lẽ nổi tiếng nhất vì nó gợi lên cho từng người về cuộc chiến tranh họ đang tham gia. Đoàn quân nhạc không ngừng chơi bản nhạc đơn giản, lặp đi lặp lại trong lúc các trung sĩ đưa quan tài tới mộ. Đấy là bản nhạc của Mary Jane cũng như bản CUỘC HÀNH QUÂN CỦA ĐẠI TÁ BOGIE là của John. Một bản nhạc gửi gắm nhiều điều : nỗi buồn của một bà mẹ có những trẻ trai chết ở Việt Nam, những hủy hoại trách nhiệm của chế độ cầm quyền về cuộc chiến làm con trai Jesse của chị chống đối chính quyền và chiến tranh, những hy vọng mỏi mòn về cuộc hôn nhân chị mơ ước, cái chết của người đàn ông chị muốn giữ lại vì chị đã yêu bất kể những gì xảy ra. Bây giờ cha tuyên úy bước đến ngôi mộ, theo sau chiếc quan tài bốn trung sĩ khiêng đi. Trung úy chỉ huy đội danh dự đứng nghiêm, lưỡi gươm tuốt trần, mũi gươm hướng về ngôi mộ. Phía sau ông những người lính bồng súng thẳng đứng trước mặt. Người mang cờ nghiêng lá quân kỳ chào chiếc quan tài. Quân nhạc tiếp tục chơi. Lá cờ phủ quan tài được đưa lại cho Peter Vann, xếp hình tam giác những ngôi sao lên mặt trên. Peter đã hỏi xin mẹ và chị đã đồng ý vì, 16 tuổi, cậu là đứa con nhỏ nhất. Cậu đứng dậy, cha tuyên úy đưa cho cậu vào cuối buổi lễ, sau khi đội danh dự bắn ba loạt súng rồi tiếng kèn tiễn biệt người chết, cha tuyên úy đọc lời kinh cuối cùng và chúc phúc. Peter vừa 6 tuổi lúc bố cậu sang Việt Nam lần đầu. Thực sự cậu không thấy buồn cho đến lúc nhận lá cờ vì cậu ít biết về bố, càng vì không được dạy dỗ thành một trí thức. Cậu bao giờ cũng thích sửa chữa lặt vặt xe cộ. Chiến tranh kéo dài đến nỗi cậu quên kẻ thù ở phía nào. Hôm trước khi gia đình đến Đại sứ quán Việt Nam để được chính quyền Sài Gòn truy tặng ân hiệu cao nhất cậu hỏi đây là Đại sứ quán miền Nam hay miền Bắc. Nhận lá cờ cậu bắt đầu khóc, hy vọng khi chết bố không ghét cậu vì những cuộc tranh cãi của bố con khi Vann về nghỉ phép. Cậu cũng hy vọng bố không hổ thẹn vì cậu đã khóc. Bố cậu vẫn luôn chế giễu những giọt nước mắt của các con trai mình, coi đó là biểu hiện yếu đuối. Con trai cả của Vann, John Allen, 24 tuổi không đứng dậy, như tục lệ, để nhận những lời chia buồn của bộ trưởng Ngoại giao Rogers thay mặt tổng thống Nixon, của bộ trưởng Quốc phòng Laird, của Westmoreland và những quan chức khác đi ra sau buổi lễ trước hàng ghế gia đình đang ngồi. John Allen biết rằng nếu anh không đứng dậy những người khác trong gia đình cũng không đứng dậy. Anh chỉ biết những người kia qua truyền hình và báo chí, chấp nhận tang lễ chính thức ở Arlington vì nghĩ đây là dịp ca tụng người bố vốn sung sướng về cảnh huy hoàng này. Anh nghĩ một số trong những người này hoặc người khác như họ chịu một phần trách nhiệm khi bố anh buộc phải giải ngũ năm 1963. Anh cho rằng phải lấy lại một ít công bằng khi bắt tất cả phải cúi xuống bắt tay mẹ, anh và các em và làm họ tôn vinh bố mình. Ellsberg đứng bên phải ngôi mộ, gần với gia đình người chết. Ông có mặt ở đây cũng khiếm nhã như trong nhà nguyện. Các quan chức không khỏi đi qua sát bên ông sau khi chào gia đình. Rogers chỉ nhìn tò mò, Laird không biết có ông khi nhìn thẳng về phía trước. Ellsberg không trông thấy họ, mắt nhìn đăm đăm vào quan tài, nghĩ đến đêm đầu tháng Ba năm 1971. Vann nghỉ phép ở Washington và Ellsberg chờ anh đến quá nửa đêm để về nhà nói chuyện. Cuối cùng anh đến và ở qua đêm. Thời kỳ ấy Ellsberf cộng tác với NEW YORK TIMES. Cho đến gần sáng lần đầu tiên hai người nói đến những tài liệu của Lầu Năm Góc mà Ellsberg đã sao chép bí mật, chấp nhận gửi lại một bản để đăng báo (Tác giả Neil Sheehan đoạt giải báo chí Pulitzer với tác phẩm HỒ SƠ LẦU NĂM GÓC khi còn là phóng viên của New York Times ). Và như vậy Ellsberg bị kết tội, đứng trước một cơn sóng gió. Jesse lại nghĩ về chiến tranh. Cái chết của bố hiện rõ hơn bao giờ hết làm cậu và những người khác bắt đầu chấp nhận thực tế. Jesse thấy thái độ tích cực về cuộc chiến tranh này là tội lỗi, không thể tiếp tục dung thứ lâu hơn. Cậu là đứa con trai của người bố không chịu đựng được cậu tự do sống như ý muốn. Cậu quyết định tặng bố một món quà vĩnh biệt, trung thực với thái độ cậu cho là đúng : bỏ trên quan tài một nửa tấm thẻ quân dịch. Rồi cậu hoàn thiện món quà ấy bằng đưa nửa tấm thẻ còn lại cho tổng thống Nixon khi gia đình đến Nhà Trắng nhận truy tặng sau lễ an táng. Jesse vẫn luôn từ chối lệnh gọi nhập ngũ hàng năm nhưng việc đó bây giờ không làm cậu bị kết tội nữa, nó chỉ chứng tỏ lòng trung thực và thái độ cương quyết của cậu. Cậu không còn bị đe dọa gọi ra dưới cờ. Mấy năm trước đây cậu suýt vào tù vì chống đối. Cơ quan tuyển mộ Colorado đã xếp cậu vào đám người phạm pháp vì không phục tùng. Anh cả cậu, John Allen bèn mặc đồng phục sĩ quan dự bị, đến nói với bà thư ký là bố họ có một vị trí quan trọng ở Việt Nam. Anh thuyết phục bà tạm thời thay đổi thể chế cho Jesse, không đủ điều kiện phục vụ vì bị thần kinh. John Allen tự làm theo sáng kiến của mình không tham khảo bố và em, đảm nhận vai trò chủ gia đình trong lúc bố đi vắng. Anh biết Jesse vẫn tiếp tục từ chối lệnh gọi nhập ngũ và bố anh không chấp nhận lập luận của Jesse. Mấy tháng trước khi bố chết Jesse nhận được một chỉ thị mới : cậu hoàn toàn không phù hợp để phục vụ trong quân đội, Jesse không hiểu vì sao cơ quan tuyển mộ miễn trừ cho anh như thế. Đã từ lâu anh không còn thấy mình bị thần kinh, không một khuyết tật gì về tinh thần và thể xác. Có ai đó đưa cho Jesse một bông hồng để cậu đặt lên quan tài. Cậu lấy thẻ quân nhân ra, xé đôi, bỏ một nửa dành cho Nixon vào túi áo, một nửa cho bố vào giữa cành hoa, để tất cả lên chiếc khay xám, bên cạnh hoa của mẹ, các anh và bà con cảu bố. Cậu nói với bố : “Đấy là tất cả những gì bây giờ con có thể tặng bố, những gì con có thể làm”. Rồi cậu quay lại, đến nói chuyện với Ellsberg đang chờ tới Nhà Trắng. Jesse nghĩ đến việc sẽ làm khi đứng trong phòng bầu dục dự lễ và, Nixon sẽ đưa tay bắt tay cậu. Thay vì bắt tay cậu sẽ đưa cho ông nửa tấm thẻ. Sự việc sẽ khá rõ. Tội đầu tiên đối với luật pháp là từ chối thẻ quân dịch và tội thứ hai là xé rách nó. Jesse tự hỏi đưa nửa còn lại cho tổng thống Hoa Kỳ có phải là tội thứ ba không. Cậu không muốn vào nhà tù nhưng cậu nghĩ cử chỉ phản đối ấy cũng đáng làm. Một trong những người bạn cậu đã vào nhà tù liên bang vì từ chối gia nhập quân đội. Một cậu em của Jesse, Tommy, 18 tuổi thấy cậu xé thẻ quân dịch làm đôi, hỏi cậu làm gì. Ngập ngừng cậu giải thịch điều định làm với Nixon, Tommy không thể giữ bí mật, nói lại với Peter lúc họ đi đến Nhà Trắng. Hai chiếc môtô rú còi vượt đèn đỏ vì buổi lễ dự kiến vào đúng trưa và không được để tổng thống phải đợi. Tommy tán thành hành động của Jesse. Anh cho rằng bản thân Nixon chằng thương xót gì những người chết, những thương binh và những nạn nhân khác, cuộc chiến tranh này không trực tiếp đụng chạm đến ông ta và những người thân của ông. Anh hình dung nét mặt của Nixon khi Jesse đưa cho ông tấm thẻ bị xé. Anh nghĩ có lẽ lần này chiến tranh sẽ động chạm đến cuộc sống của ông. Peter vốn phấn khởi được gặp tổng thống, bảo ý định của Jesse thật ngu ngốc. Ở Nhà Trắng, gia đình họ được đưa vào phòng Roosevelt, cách phòng bầu dục mấy bước chân là phòng của tổng thống, để chờ mấy phút. Nixon đã dự xong cuộc họp về cải cách xã hội được bắt đầu trong lúc tiến hành đám tang ở Arlington. Người chị cùng mẹ của Vann, Dorothy Lee từ Virginia tới, những người anh em khác, Frank, đốc công ở một xí nghiệp xây dựng và Eugène., trung sĩ không quân đều có mặt để dự lễ truy tặng. Jesse cố bình tĩnh quan sát tấm thảm sàn trong phòng. Cậu đang nghĩ tấm thảm trong phòng Roosevelt làm không tốt và cậu có thể làm tốt hơn thì John Allen lại gần. Người anh cả cũng nhận thấy thái độ lạ lùng của em ở nghĩa địa và câu chuyện giữa Peter và Tommy trên xe làm anh quan tâm. - Đừng làm thế Jesse, anh bảo em. - Sao lại không ? Jesse hỏi. - Vì ngày hôm nay không thuộc về em, người anh nhỏ giọng trả lời vì sợ người khác nghe. Đây là ngày của bố. Vì thế mà ông đã sống và chết. Đừng hạ thấp ông bằng việc làm đó. Ngày John Allen xem như vinh quang của bố sẽ biến thành số không. Báo chí ở Nhà Trắng sẽ phủ kín hiện tượng này. Quang cảnh một chàng trai tóc dài, con trai của người chiến binh huyền thoại ở Việt Nam, đưa cho tổng thống tấm thẻ quân dịch xé đôi sau khi để nửa kia trên mộ cha thật là câu chuyện đẹp đẽ đối với họ ! Tommy đoán được việc gì xảy ra, lại gần để bảo vệ Jesse. - Nhưng đây là lòng tin chắc chắn của anh ấy ! Cả ba tranh luận để biết Jesse tỏ thái độ chống đối chiến tranh có quan trọng hơn vinh quang chính thức về sự nghiệp của cha họ không. Những ông chú bác của Jesse cũng tới cố thuyết phục cậu. - Nếu cậu định làm thế, chú sẽ không dự buổi lễ nữa, Frank, ông chú thấp và hói nói - Thì chú cứ làm như chú muốn, Jesse trả lời. Cháu tự biết phải làm gì. Chú Engène, với những chiếc lon tay trên áo, đỏ bừng mặt như bố Jesse mỗi khi nổi giận : - Jesse, bố cháu là anh của chú và chú biết ông lâu hơn cháu. Ông tin tưởng mãnh liệt vào việc của ông làm và nếu cháu làm thế là tát vào mặt ông ấy đấy. - Hãy để cháy yên, Jesse trả lời. Cháu biết cháu phải làm gì. John Allen đi lại chỗ mẹ. Sau khi trang điểm trong phòng rửa mặt chị nói chuyện với Dorothy Lee trong một góc phòng. Chị có vẻ bình tĩnh trong chiếc áo dài bình dị màu xanh râu nhưng mang kính để che đôi mắt đỏ. - Mẹ ơi, John Allen nói với chị, Jesse muốn đưa lại cho Nixon tấm thẻ quân dịch. Không thể để em nó làm thế. Mary Jane dằn tiếng nấc như khi trong nhà nguyện người ta đưa quan tài đi. Bà đến với Jesse : - Mẹ xin con, Jesse, vì bố mẹ xin con đừng làm như thế. Ngày hôm nay là của bố chứ không phải của con, của mẹ hay của ai khác. Con sẽ làm nhục bố. Lời mẹ làm Jesse nao núng nhưng cậu không dễ xiêu lòng. Người đại diện mặc thường phục của Bộ Quốc phòng giám sát buổi lễ cùng một đại úy, chạy ra ngoài tìm quan chức Nhà Trắng. Họ gặp tướng Brent Scowcroft, tùy viên quân sự của tổng thống ở tiền sảnh. Ông đi vào phòng Roosevelt để xem gia đình đã sẵn sàng chưa. Ông có biết Vann một ít và yêu mến anh. Hai người báo cáo với ông những gì đã xảy ra và cho người đi tìm John Allen; anh con trai cả, người đã báo với họ những ý định của Jesse. - Không thể được ! Scowcroft nói. - Chúng tôi không biết làm thế nào để ngăn cản, John Allen nói. Nó đã quyết định làm. Scowcroft vào phòng bầu dục báo cáo ngắn gọn việc xảy ra với tổng thống và đề nghị cho chậm lại một ít để ông giải quyết vấn đề này. Scowcroft, sĩ quan tham mưu vững vàng, nổi tiếng về cách giải quyết với những khủng hoảng. Ông vào phòng Roosevelt, kéo Jesse ra một góc, bình tĩnh nói chuyện với cậu : - Anh nghe này, mặc cho anh nghĩ thế nào, buổi lễ này là dành tôn vinh bố anh. Anh không thể làm hỏng nó. Nếu anh không hứa sẽ thôi chuyện đó, chúng tôi buộc phải hủy bỏ buổi lễ. Jesse đã bị lay chuyển vì lời phàn nàn của mẹ và lời khuyên của chú Frank khác với những người khác đã cố bình tĩnh phân tích với cậu. Giọng nói dứt khoát của viên tướng còn tác động mạnh hơn. Cậu hiểu khai thác trường hợp của bố vì lợi ích riêng của mình chắc chắn về đạo đức là không thể chấp nhận được. Và vì không thể hành động với lương tâm thanh thản nên cậu nén lại. Dù sao cũng không có sự lựa chọn nào khác. - Được rồi, được rồi, cậu trả lời tướng Scowcrot, tôi xin hứa không làm thế. Scowcroft nắm cánh tay cậu rồi ngoảnh lại hỏi John Allen : - Cậu ấy làm hay không ? - Nếu đã nói, em nó sẽ giữ lời, John Allen trả lời. Viên tướng trở lại phòng bầu dục để báo với tổng thống buổi lễ có thể bắt đầu. John Alen đưa mẹ đến chỗ tổng thống, theo sau là các em trai, bà cô và hai ông chú. Tổng thống ngồi sau bàn trống đang xem tập hồ sơ. Ông gấp hồ sơ, đứng dậy, quay người đón họ ở giữa gian phòng. Bàn giấy không có gì, tập hồ sơ nghiên cứu tới phút chót, bước lại trước những người được mời đến, tất cả những cái đó là thủ tục Richard Nixon tiếp khách. Ông bày tỏ tình cảm ới Mary Jane và John Allen rồi bắt tay những người khác. Đến lượt Jesse, Tommy nghe Nixon thì thầm “Cảm ơn”. Nhưng Jesse quá cảm động khi nắm tay Richard Nixon, không chú ý biểu hiện ấy của tổng thống. Cậu chỉ nhận thấy Nixon có một bàn tay to. Roges và Laird cũng theo họ vào phòng. Mary Jane ngạc nhiên thấy cả Alsopo vì chị không rõ vị trí của ông trong hệ thống Washington và tự hỏi vì sao một nhà báo được đối xử như một thành viên gia đình. Biết rõ tình bạn của ông đối với Vann, Nixon đã mời Alsop dự buổi lễ trước các nhà báo khác để nghe ông nói riêng với gia đình. Thợ ảnh của Nhà Trắng dàn mọi người theo hàng trừ Alsop để chụp ảnh chính thức. Ông bố trí cho họ thành nửa vòng tròn phía sau bàn, trước mành che những cửa sổ lớn trang trí hai lá cờ, băng sao và biểu tượng phủ tổng thống, phía trên là hai con chim ưng vàng. Tổng thống đứng giữa Mary Jane và John Allen. Khi người thợ ảnh bấm máy, Richard Nixon có một nụ cười nhẹ. Ở bức ảnh tiếp theo ông rõ ràng có vẻ khó chịu hơn. Chụp ảnh xong, Richard Nixon nói ngắn gọn với gia đình. Ông nói cái chết của Vann như một mất mát cho riêng ông cũng như của đất nước và nhân danh dân chúng Hoa Kỳ ông tỏ lời chia buồn. Ông thể hiện tình bạn với Vann và kính trọng sâu sắc việc làm của anh ở Việt Nam mà ông đặc biệt tán thành. Vann gặp ông lần cuối ngay tại phòng này trong một đợt phép ngắn. Nixon nói qua buổi họp ông nhận thấy họ chia sẻ với nhau sự đồng cảm về chiến tranh, Vann đã đưa lại cho ông những ý nghĩa mới trong cách nhìn chiến tranh và những mong muốn của nhân dân Nam Việt Nam. Richard Nixon cố gắng dịu dàng với gia đình Vann những nỗi bực tức bề ngoài về trường hợp Jesse và kiểu cách tự nhiên của ông đã chống lại ông. Ông mỉm cười quá nhiều trong trường hợp kém vui như thế, ông chuyển ánh mắt luôn, không bao giờ đặc biệt vào một ai. John Alen giống bố, có thói quen hướng nhìn thẳng vào mắt người đối thoại. Tổng thống luôn tránh cái nhìn của anh và quay đi khi mắt họ giao nhau. Việc thiếu thành thật của ông càng trầm trọng thêm vì hóa chang che bộ râu rậm để phòng ống kính truyền hình. Gia đình Vann chưa bao giờ thấy đàn ông hóa trang trừ trên sân khấu, ngạc nhiên được tiếp ở Nhà Trắng với một tổng thống mặt đầy phấn. Họ có cảm giác dự một buổi diễn. Cái chết của Vann tạo lý do cho Richard Nixon có một hoạt kịch với quần chúng mà ông đóng vai chính khi trao huân chương cho một anh hùng dân tộc. Tổng thống càng làm họ bực mình hơn khi trong bài phát biểu đã nhấn mạnh hai lần ý muốn truy tặng Huân chương Danh dự cho Vann nhưng bị luật pháp cản trở vì về mặt pháp lý Vann là một viên chức dân sự. Do vậy, Nixon giải thích, ông buộc lòng phải quyết định truy tặng Vann Huân chương Nhà nước loại hai, Huân chương Tự do của phủ tổng thống. Không ai trong gia đình cho Vann không xứng đáng được tặng thưởng cao nhất. Peter tự nhủ đang lẽ tổng thống hoặc tìm mọi cách truy tặng cha anh Huan chương Danh dự hoặc biết điều im đi cho. Những trợ lý tổng thống cho những phóng viên và máy quay truyền hình vào. John Allen nhận huân chương cho cha vì Mary Jane không còn là vợ hợp pháp của Vann. Anh đứng trước mặt tổng thống, bên phải chiếc bàn trước những lá cờ lớn và cờ nhỏ của những binh chủng khác nhau, cán dài cắm bên nhau trên có con chim ưng vàng. Scowcroft dán mắt nhìn vào Jesse. Trước khi trao huân chương cho John Allen, tổng thống đọc : “Chiến sĩ vì hòa bình và là người yêu nước của hai dân tộc, tên họ của John Paul Vann sẽ được tôn vinh lâu dài, đồng thời những người tự do sẽ nhớ đến cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ nền độc lập cho miền Nam Việt Nam..Anh đã phục vụ với tư cách là chiến sĩ trong quân đội và trong các cơ quan dân sự trong 10 năm, để lại dấu ấn về con người, về nghề nghiệp và lòng quả cảm không ai bằng; với sự tận tụy cao cả và hy sinh lớn lao. Là một người Mỹ vĩ đại, người chỉ huy số một , tổng thống tiếp tục đọc , anh có mặt bên cạnh La Fayette trong hàng ngũ những anh hùng đã vì quyền lợi một dân tộc dũng cảm khác”. Mary Jane nhìn tất cả những cái đó từ bên ngoài. Nhưng chị không bằng lòng với vẻ giả dối của buổi lễ, càng không chấp nhận huân chương loại hai Nixon truy tặng Vann. “Thật nhục nhã, John, chị âm thầm nói với anh như đã nói chị yêu anh khi đặt bông hồng trên chiếc quan tài. Đây là một đám tang loại hai. Cả lũ chó má ấy tiếp tục hạ nhục anh”. I DẤN THÂN VÀO CUỘC CHIẾN Mười năm trước, gần trưa ngày 23 tháng Ba năm 1962, khi bước những bước dài qua cánh cửa tự động của văn phòng đại tá Daniel Boone Porter ở Sài Gòn, anh không có vẻ một người dễ bị đánh bại. Thấy viên trung tá trẻ bước vào với bộ quần áo ka-ki hồ bột và chiếc mũ cát-két xanh, Porter có cảm giác nếu đại tướng tổng tư lệnh giao cho anh này chỉ huy cuộc chiến tranh, John Vann sẽ trả lời :” Vâng, thưa đại tướng” và nắm lấy quyền chỉ huy. Nhìn vào khuôn mặt sẽ trở thành biểu tượng trong tương lai của Vann, không ai nghĩ số phận mỉa mai muốn anh suýt không bao giờ đến Việt Nam. Chuyến bay đáng lẽ anh phải đến Sài Gòn tháng Ba năm 1962 cùng 93 binh lính khác biến mất dưới Thái Bình Dương. Anh đã lỡ chuyến bay vì nóng lòng muốn ra trận quên cả gia hạn lại hộ chiếu. Trong lần kiểm tra cuối cùng một nhân viên bàn giấy nhận thấy giấy tờ quá hạn đã buộc anh ở lại. Ít lâu sau chiếc máy bay mất tích, Hội Chữ thập đỏ điện cho Mary Jane báo tin chồng chị đã biến mất trong Thái Bình Dương. Mary Jane trả lời họ mọi việc an toàn, anh đã điện thoại cho chị và sẽ đi một chuyến bay khác. Đại diện Hội Chữ thập đỏ gặng bảo chắc chắn chị nhầm, chồng chị không có mặt và danh sách hành khách bao giờ cũng đáng tin. Thời kỳ ấy, tất cả xáo động và lẫn lộn. Tổng thống Kennedy vừa thành lập ở Sài Gòn, vào tháng Hai năm 1962, ban chỉ huy mới của bộ phận viện trợ quân đội Mỹ ở Việt Nam (MACV), đứng đầu là tướng Paul Harkins, tham mưu trưởng của George Patton, thiên tài quân sự trong Thế chiến thứ hai. Tổng thống chuẩn bị tăng gấp bốn lần số lượng binh lính Mỹ ở Việt Nam, đưa từ 3.200 người đầu năm lên 11.300 vào dịp Giáng sinh. Đại tá Porter phải miễn cưỡng mất nhiều thì giờ hỏi han những người mới đến và úy lạo họ. Văn phòng ông đặt trong một trại lính kỵ binh Pháp cũ ẩn sau những cây to của đại lộ ồn ào nối trung tâm Sài Gòn và khu người Hoa của Chợ Lớn. Trại lính là tổng hành dinh một trong những Quân đoàn của chính quyền Sài Gòn, chính thức mang tên Quân lực Cộng hòa Việt Nam (ARVN), được người Mỹ có thói quen biến tên viết tắt thành biệt hiệu gọi là “Arvin”. Porter vừa là cố vấn của thiếu tướng Việt Nam chỉ huy Quân đoàn và các sĩ quan khác dưới sự đảm bảo liên lạc với các đơn vị khác nhau trong Ban tham mưu. Năm 1962 ở Việt Nam máy điều hòa nhiệt độ không phổ biến như máy chữ trong các phòng làm việc của quân đội Mỹ. Porter và những người phó làm việc như những người Pháp trước họ, trong những gian phòng cao trần mở ra các nhà cầu bên ngoài dọc theo hai tầng nhà bằng gạch xây. Những nhà cầu nhìn ra một khu diễn tập cũ để cỏ choán và rác bụi, đi qua không nhìn thấy bên trong. Chúng dùng làm hành lang và đón luồng gió mát hiếm có, sau khi qua những cánh cửa tự động như trong phim cao bồi, bị trộn lẫn vào gió những quạt điện đồ sộ treo ở trần nhà. Anh trung tá đứng trước Porter có tài lay chuyển tư tưởng người khác. Dù nắng nóng, anh cẩn thận giữ quần áo không mất ly và chào nhanh nhảu hơn phần lớn các sĩ quan khác trước khi được mời ngồi. Ngoài ra anh không có gì đáng chú ý. Porter nghĩ trước mặt mình là một trong những con gà trống gây gổ xông vào giữa đàn gà mái trong trang trại vùng Boston, nơi bố ông, có một cửa hàng ngũ cố và cỏ khô. Khi anh cất chiếc mũ cát két ngồi xuống, người ta càng thấy phong thái bình tĩnh. Chiếc mũi thẳng quá lớn so với khuôn mặt gầy; lỗ mũi mở rộng trên miệng rộng và ngang bằng. Những nét ấy càng lộ rõ do vầng trán cao, mái tóc hung cắt ngắn theo tập quán lính Mỹ những năm năm mươi, sáu mươi. Nhưng đôi mắt xám xanh làm người ta chú ý và bộc lộ tính tình của anh. Đấy là đôi mắt diều hâu nhỏ, sâu dưới hàng lông mày rậm. Thân hình mềm dẻo, toàn xương và bắp thịt, nhanh nhẹn lạ lùng, là một trong những vận động viên thể thao giỏi nhất ở trường và trong quân đôi. Anh rất chú trọng về hình thể : không hút thuốc, ít uống rượu và giữ gìn sức khỏe bằng chơi bóng rổ, có khả năng nhảy lộn vòng mạo hiểm. Vann trả lời rất tự tin những câu hỏi của Porter về kinh nghiệm quân sự. Khi tình nguyện sang Việt Nam anh đề nghị được sử dụng vào việc khó nhất, làm cố vấn một sư đoàn bộ binh Nam Việt Nam. Trong chín sư đoàn Việt Nam cộng hòa, ba thuộc Quân đoàn Porter làm cố vấn. Vann mới thăng trung tá được 10 tháng, việc bổ nhiệm theo ý của Porter vì nhiều sĩ quan khác có thâm niên nhiều hơn anh. Anh tỏ ra tin tưởng khi bàn với Porter khả năng đảm nhiệm chức vụ. Lời đoan chắc của con gà trống này không phải để khoa trương với viên đại tá 52 tuổi, mái tóc bạc, thân hình đồ sộ với thái độ thận trọng tiềm ẩn những hiểu biết nghiệp vụ và tính tình cứng rắn. Ngay từ bước đầu sự nghiệp, 30 năm về trước, thiếu úy trong đội bảo vệ quốc gia Texas, ông đã học tính gan lỳ cần thiết miễn là viên sĩ quan biết mình phải làm gì. Ông đang tìm một người gan dạ không theo công giáo để thay trung tá Frank Clay, con trái tướng Lucius Clay hiện là cố vấn Sư đoàn 7 bộ binh, sư đoàn quan trọng nhất vùng bắc đồng bằng sông Cửu Long. Mùa hè này Clay phải thuyên chuyển. Porter đã nghiên cứu rất kỹ lý lịch của Vann, nhận thấy anh đã chỉ huy một trung đội thâm nhập vào sau lưng địch ở Triều Tiên và cũng chứng tỏ có tài tổ chức ở vị trí tham mưu. Anh là một chuyên gia về hậu cần, hiện tượng khan hiếm, đối với sĩ quan bộ binh, nổi tiếng chỉ huy quân chiến đấu, lại có bằng đại học quản trị. Porter chính đang tìm một sĩ quan vừa là người tổ chức và chiến đầu vì hai đặc tình này cần thiết để phối hợp nỗ lực chiến tranh ở bắc đồng bằng sông Cửu Long. Càng trao đổi quan điểm Porter càng tin chắc Vann thực hiện được nhiệm vụ ấy do táo bạo và có một thái độ xây dựng. Tuy Porter mới ở Việt Nam ba tháng, ông đã lùng sục khắp vùng và tham dự nhiều cuộc hành quân chống du kích cộng sản. Kinh nghiệm cho ông thấy để đánh thắng phải có những người Mỹ chỉ cho các chỉ huy quân đội Sài Gòn phải tiến hành cuộc chiến ra sao và cũng đẩy được họ ra trận. Porter thông báo với Vann ông xem anh như người kế nhiệm tạm thời Clay và chỉ quyết định vào phút chót. Trong lúc chờ đợi, Vann được thử thách một thời gian về những nhiệm vụ khác nhau. Ngay sau bữa ăn trưa, Vann được chỉ định vào công việc đầu tiên. Porter giải thích có một tay trước ông, với thói quen suy nghĩ của một cán bộ bàn giấy ở Lầu Năm Góc và hình như đã trở về đó, bố trí một mạng lưới tin học làm công tác hậu cần cho các sư đoàn Nam Việt Nam và các lực lượng tại chỗ. Trung tá Việt Nam phụ trách hậu cần của Quân đoàn và các sĩ quan của ông không hề biết cách đưa yêu cầu cung cấp vào máy tính. Trung tá Mỹ cố vấn cho họ về hậu cần cũng không. Thay vì nhận được những bộ phận rời hoặc trang bị đang cần, họ bị ngập bởi một đống giấy tờ không hiểu nổi mà Porter đưa cho Vann. Anh thử có thể rút ra được điều gì không ? Ông dẫn Vann vào văn phòng hậu cần, giới thiệu anh với những sĩ quan Mỹ làm việc ở đấy và bố trí chỗ cho anh. Cuối buổi chiều Vann trở lại gặp Porter với một cuốn sổ nhiều trang tự anh đánh máy. Anh ghi lại câu chữ lí nhí của máy điện toán khó hiểu, mô tả đơn giản nguyên tắc của hệ thống và trình bày một phương pháp thực hành cho phép các sĩ quan hậu cần Việt Nam và các cố vấn Mỹ dốt đặc tin học, có thể dùng phương pháp ấy để nhận được những bộ phận rời và vật liệu yêu cầu. Porter hoàn toàn kinh ngạc. Ông chỉ biết sơ qua về điện toán nhưng chắc chắn công việc Vann làm nếu giao cho một sĩ quan khác dù là chuyên gia hậu cần cũng mất ít nhất hai ngày. Thế mà con người này chỉ trở lại sau vài giờ với một giải pháp tốt hơn ông mong đợi ! Và trong buổi chiều hôm ấy tuy chưa nói với anh, Porter quyết định con gà trống hung này sẽ được bổ nhiệm vào Sư đoàn 7. Hai tháng tiếp đó, Porter cố sử dụng những tài năng khác của Vann để chuẩn bị cho anh nhận nhiệm vụ. Trong ba Quân đoàn Việt Nam, Quân đoàn thứ ba thuộc quyền Porter quan trọng nhất và xảy ra nhiều trận đánh nhất. Vùng hoạt động của ông trải rộng từ đầu bán đảo Cà Mau, cực nam lên đến những tỉnh bao quanh Sài Gòn về phía bắc. Để Vann làm quen với cuộc chiến tranh, Porter cử anh cùng sư đoàn đồn trú làm nhiệm vụ tấn công bằng máy bay lên thẳng những đồn điền cao su phía bắc Sài Gòn trong những rừng gỗ tếch, gỗ gụ dưới chân cao nguyên. Ông cũng giao cho anh tuần tra ở phía nam trong những đồng lúa đồng bằng sông Cửu Long. Vann hành quân với hai sư đoàn ở đó, đến những tỉnh trong vùng và những trung tâm nông thôn mà các quận trưởng sống cùng gia đình, bố trí trụ sở trong những ấp chiến lược có lôt cốt và dây thép gai phòng vệ. Để Vann quen thuộc với thiếu thốn của ban tham mưu Nam Việt Nam, Porter cử anh đến thực tập ở các trung đội hành quân và thông tin của sư đoàn. Sáng 21 tháng Năm năm 1962, Vann bắt tay Porter rồi lên một chiếc xe Jeep. Anh ra khỏi trại kỵ binh cũ của lính Pháp với lòng hăng say thường ngay lao vào hệ thống giao thông đủ loại phương tiện của Sài Gòn. Đến Phú Lâm anh ra khỏi vùng ven tây nam thành phố. Một toán quân đang dựng những ăng ten đồ sộ trên đồng lúa cũ đã bị xe ủi đất Mỹ san bằng. Trạm radio tần số cao Phú Lâm nối liên lạc với tổng hành dinh của tướng Harkins ở Sài Gòn trong hệ thống liên lạc mở rộng với mạng lưới điện thoại, điện tín của Lầu Năm Góc. Những ăng-ten mới, tiếng nói cuối cùng của kỹ thuật công nghiệp truyền đi những tín hiệu điện tử ra ngoài tầng đối lưu, mở rộng bán kính hoạt động của quyền lực tổng tư lệnh ra toàn vùng Đông Nam Á, ra miền Bắc đỉnh núi Trường Sơn, những ruộng nước trung tâm đồng bằng, hải cảng, các sân bay Nam Việt Nam và vượt núi rừng đến tận căn cứ không quân Urbon ở Thái Lan, đồng minh thứ hai mà nước Mỹ cam kết bảo vệ ở phần thế giới này. Vann tăng tốc độ chiếc Jeep về hướng nam đi trên con đường trải nhựa hai làn về phía đồng bằng sông Cửu Long. Gió thổi mạnh vào mặt càng làm anh phấn khích. Anh đi nhận nhiệm vụ ở tổng hành dinh Sư đoàn 7 bộ binh tại Mỹ Tho cách đấy 56 cây số. Porter bổ nhiệm anh vào vị trí tốt nhất trong vùng, giao cho anh chỉ huy lực lượng Mỹ giữa trung tâm cuộc chiến. Vùng sư đoàn 7 chiếm phần lớn nửa bắc đồng bằng, quyết định số phận cuộc tranh chấp : 9.600 cây số vuông trải rộng trên năm tỉnh từ Đồng Tháp Mười đến biên giới Campuchia ở phía tây và bờ biển ở phía đông. Hai triệu dân sống ở đấy, một phần bảy tổng dân số 14 triệu người Việt Nam năm 1962, sản xuất hơn một phần bảy lương thực thực phẩm trong nước. Chính quyền Sài Gòn đã bỏ phần lớn phía nam đồng bằng cho cộng sản. Ngược lại ở phía bắc 38.000 quân lính Sài Gòn đối mặt gần 15.000 chiến sĩ Việt cộng, luôn luôn là địa bàn tranh chấp giữa hai đối thủ. Chính phủ mà người Mỹ bảo trợ ở miền Nam Việt Nam không thể tồn tại nếu mất đi vùng giàu nhân lực và tài nguyên như thế ngay đầu thủ đô. Thách thức và trách nhiệm phải gánh chịu không làm Vann sợ hãi; anh tiếp nhận với niềm vui lẫn với kiêu hãnh. Với tâm tính những người Mỹ năm 1962, anh cho là không có gì khó hiểu hoặc không thực hiện được, điều gì không biết anh sẽ khám phá ra. Anh không có kinh nghiệm về chiến tranh du kích ngoài những cuộc hành quân lật đổ tiến hành cùng trung đội ở Triều Tiên nhưng 37 tuổi, anh đã trải qua 19 năm chuẩn bị chiến đấu. Chống du kích chỉ là một dạng khác của chiến tranh và anh sẽ học tập để có thắng lợi. Năm trước theo chỉ thị của tổng thống Kennedy , quân đội bắt đầu phổ biến cho sĩ quan những phương pháp đấu tranh có hiệu quả với chiến tranh du kích. Theo nhận xét thực địa, Porter đã phát triển một số ý kiến cụ thể về vận dụng học thuyết trừu tượng ấy trong hoàn cảnh Việt Nam. Vann cũng đã có thể xác nhận đúng qua những quan sát của mình từ hai tháng nay. Vann không biết gì về người Việt Nam, về văn hóa lịch sử của họ. Nhưng anh không cho sự thiếu hụt ấy là một trở ngại trong hoạt động chống du kích. Kinh nghiệm hạ sĩ quan của anh ở Triều Tiên, Nhật Bản khẳng định những người châu Á không phải là những người không xâm nhập được. Vì vậy Lansdale là một trong những người hùng của anh. Lansdale biết thực hiện ở châu Á như thế nào. Ông ta cảm thấy người châu Á là những người mà người ta có thể hiểu rõ khát vọng để khai thác có lợi cho mình. Vann tin chắc anh có thể biết điều gì kích thích những sĩ quan Việt Nam, sẽ hợp tác và động viên họ hoạt động cho chính lợi ích của họ và của Hoa Kỳ. Việc người Pháp bị đánh bại ở Đông Dương đối với anh không liên quan đến vấn đề này. Người Mỹ không phải thực dân như người Pháp trước đây. Quân đội của họ không nhục nhã bị người Đức chiến thắng trong Thế chiến thứ Hai. Vann đã thấy quân đội Mỹ thua trận ở Triều Tiên nhưng không bao giờ thua một cuộc chiến tranh. Trong lịch sử người ta không thấy người Mỹ có sai lầm như những dân tộc khác. Người Mỹ khác những người khác. Lịch sử không theo cách thông thường đối với họ. Vann không hề ngần ngại giết những người cộng sản hoặc những ai chiến đấu vì họ, cũng không băn khoăn gì khi thấy những người Việt Nam đánh nhau bên cạnh những người Hoa Kỳ đã chết, để thực hiện những mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam. Anh đã được tập giết những người Đức, Nhật Bản trong Thế chiến thứ Hai, thậm chí đình chiến đến trước khi anh làm việc đó. Trong chiến tranh Triều Tiên anh đã giết những người Triều Tiên cộng sản và đưa những người chiến đấu bên cạnh anh vào chỗ chết không chút ân hận. Anh cho rằng anh và những người đồng hương có quyền, với điều kiên có tính toán, không ngoan tác động về cái sống và cái chết của những người khác khi cần đánh nhau. Định đề ấy được chống đỡ bằng niềm tự hào là một trong những sĩ quan giỏi nhất của quân đội Hoa Kỳ, quân đội mạnh nhất thế giới nhưng anh cũng ý thức rằng anh và quân đội ấy là một thực thể lớn nhất mở rộng của tính kiêu ngạo : anh là một trong những người bảo vệ nước Mỹ. Khi Vann sang Việt Nam năm 1962, nước Mỹ đã có được uy lực lớn nhất trong lịch sử. Hoa Kỳ bố trí 850.000 quân lính và cong chức dân sự ra ngoài biên giới trong 106 nước. Từ tổng hành dinh Thái Bình Dương trong núi rừng trên Trân Châu Cảng đến hạm đội Subic Bay ở Philippines và những lô cốt bê tông đến đường ranh giới Triều Tiên, 410.000 người được rải ra trong bộ binh, hải quân và lực lượng không quân ở Thái Bình Dương. Ở Châu Âu và Trung Đông từ những cơ sở tên lửa hạt nhân dấu kín ở đồng bằng yên tĩnh nước Anh đên những bãi thao diễn chiến xa ở biên giới Tiệp Khắc, những tàu sân bay của Hạm đội 6 trên Địa Trung Hải, những trạm sóng điện tử dọc biên giới Xô viết ở Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, 410.000 bộ binh, thủy quân, không quân khác túc trực. Nếu thêm vào đó những nhà ngoại giao, nhân viên CIA và các đại diện chính thức của cơ quan dân sự khác nhau cùng vợ con họ, khoảng 1.400.000 người Mỹ phục vụ đất nước họ ở nước ngoài trong những năm 1962. John Vann tự cho mình là một trong những chỉ huy của đoàn quân viễn chinh gồm cố vấn, phi công lái máy bay lên thẳng và máy bay ném bom, như một thành viên của những lực lượng đặc biệt mà tổng thống Kennedy vào tháng Mười một năm 1961 đưa sang miền Nam Việt Nam, tiền đồn bị đe dọa của đất nước ông ở Đông Nam Á. Trong lúc gió quất mạnh vào mặt trên con đường Mỹ Tho, anh quyết tâm hơn bao giờ hết không để những người cộng sản thắng trận ở phía bắc đồng bằng sông Cửu Long. Vào cuối tháng Năm năm 1962 này đồng bằng sông Cửu Long có khung cảnh của một thiên đường sung túc. Ngọn gío mùa khăc nghiệ đấu tháng thúc đẩy nhanh hạt lúa nảy mầm, những ngọn mạ xanh sẵn sàng vào giai đoạn hai trong cuộc sống người nông dân Việt Nam : đợt cấy lúa trong ruộng nước trải dài mênh mông hai bên đường. Chiếc xe của Vann thường bị lính giữ lại đầu một cây cầu để nhường đường cho đoàn xe đi ngược chiều. Những cây cầu một chiều do người Pháp xây dựng dựa trên những cột chống bằng sắt hình cánh cung choán hết bề ngang. Các lô cốt bê tông sừng sững gần cầu mâu thuẫn với hình ảnh tình tứ ấy. Vann quan sát loại đồn lũy kiên cố chằng chịt dây thép gai bao quanh và những người lính tuần tra trên cầu. Năm phút trước đó vượt qua một con kênh anh đã nghĩ những cây dừa lớn ven bờ có thể đột ngột phun ra một ngọn lửa từ họng một khẩu súng tự động nhằm vào chiếc Jeep. Anh nhận ra trời mưa thúc đẩy những cây mía phát triển nhanh, khá cao và rậm đủ cho một tiểu đoàn bộ binh ẩn nấp. Anh tự hỏi không biết trên đường bên kia sông có chăng một Việt cộng đang chờ một chiếc xe như xe anh. Những chiếc xe Jeep là đích bắn ưu tiên vì thường là xe của sĩ quan. Nếu có Việt cộng chờ anh hắn anh ta phải ngồi sau một ngôi mộ trong những nghĩa trang nhỏ giữa ruộng đồng. Đấy sẽ là một người rất kiên trì, không để phí dịp may, luôn ở tình trạng báo động, ngón tay trên ngòi nổ nối dây vào quả bom chôn ở đường đêm trước cẩn thận phủ lớp nhựa đường che chăn. Anh ta chờ đợi để làm nổ tung chiếc Jeep và những người trên xe. Vậy là đã 17 năm đất nước này biết đến chiến tranh. Những đứa trẻ lớn nhất trong số bán dừa và dứa ở các điểm kiểm soát chắc cũng nhớ được những năm cuối của cuộc tranh chấp đầu tiên. Nó bắt đầy từ năm 1945 khi người Pháp cố áp đặt nền đô hộ trở lại Việt Nam, Campuchia và Lào. Cuộc chiến tranh thứ nhất này kết thúc bằng sự nhục nhã của Pháp ở khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ năm 1954. Ba năm hòa bình ngắt quãng tiếp theo. Chiến tranh lại nổ ra năm 1957 giữa những người Việt cộng và chế độ Sài Gòn của Ngô Đình DIệm, một quan lại Lansdale đưa lên nắm quyền. Năm 1961 sức chống đối mạnh đến nỗi tổng thống Kennedy buộc phải đưa quân đội Hoa Kỳ sang giữ chính quyền Diệm khỏi bị lật đổ. Những người Mỹ và chính quyền Sài Gòn gọi đối thủ của họ là Việt cộng, tên gọi tắt những người cộng sản Việt Nam, các cố vấn đơn giản hóa đi thành V.C, tiếng lóng trong thông tin điện đài là “Victor Charly”. Nhưng bản thân họ xác định là Quân đội giải phóng và gọi cuộc chiến tranh thứ hai này là cuộc Chiến tranh giải phóng. Họ cho rằng hai cuộc tranh chấp là hai giai đoạn của công cuộc giải phóng Việt Nam : giai đoạn thứ hai chỉ là tiếp nối giai đoạn đầu để đạt được những mục đích cơ bản của cuộc chiến tranh chống Pháp. Trong ngày 21 tháng Năm năm 1962 này không có một Việt cộng, một quả mìn nào trên đường Mỹ Tho. Vann không gặp sự cố gì trên đường đến tổng hành dinh của phái đoàn cố vấn quân sự Sư đoàn 7 bộ binh trên con đường chính về phía bắc cách thành phố 500 mét. Người lính Việt Nam đứng gác mở cổng sắt để chiếc Jeep vào. Những ngôi nhà trước đây là một trường dòng rồi nhà trẻ mồ côi trước khi chuyển sang làm một vị trí phỉ báng của chiến tranh. Các cố vấn Mỹ vẫn gọi là “chủng viện” ghi nhớ xuất xứ đầu tiên và hai chữ thập trắng trang trí ngôi nhà nguyện đầu sân nhắc nhở khách ra vào về nguồn gốc tôn giáo của cơ sở. Thế lực quân sự Mỹ trở thành những người có cổ phần chính về bất động sản ở Việt Nam, thuê cơ sở này ở một giáo khu Thiên chúa giáo di cư từ Bắc Việt Nam đang thiếu nguồn tài chính. Khi Frank Clay mà Vann kế nhiệm đến Mỹ Tho năm trước, bộ phận biệt phái Mỹ chỉ có một trung sĩ và bảy sĩ quan mà ba sinh hoạt với các trung đoàn ở những nhà khác. Lúc đó một ngôi nhà rộng ở Mỹ Tho cũng hoàn toàn đủ. Nhưng khi Clay được biết quân số sẽ tăng lên hai mươi vào mùa xuân 1962 và tiếp tục tăng mạnh (cuối năm 1962 vượt quá 200 sĩ quan và binh lính), anh đã thuê và tân trang chủng viện phù hợp hơn với nhiệm vụ. Ngôi nhà một tầng kiến trúc theo kiểu Pháp dễ trông nhưng đơn điệu, xây bằng gách trát vữa xi măng, lợp ngói đỏ. Nhà hình chữ L mà chiều dài nhất dọc theo một con kênh. Tầng trệt được bố trí làm văn phòng. Phần còn lại cải tạo thành phòng ngủ các sĩ quan, nhà tắm, nhà vệ sinh, sàn nhảy, câu lạc bộ và một phòng ăn chúng khá rộng để chiếu phim hai ngày một lần. Những cuốn phim, thịt nướng trên than củi ngày chủ nhật và rượu hạ giá mỗi buổi tối là những đặc ân của cuộc sống lính Mỹ ở nước ngoài. Vann và một số sĩ quan cao cấp có lợi hơn là được bố trí ở những phòng nhỏ trên tầng phía trên văn phòng. Ngoài ra là những chỗ ngủ của lính. Sân dùng làm chỗ đậu xe Jeep, xe tải nhưng đồng thời là sân bóng chuyền mà ngay lúc đến Vann cho dăng một tấm lưới trên nền sân bóng rổ của học sinh chủng viện. Mấy đêm sau khi các cố vấn được bố trí ăn ở, vào đầu tháng Năm, những người Việt công đến thăm làm họ hiểu mình không ngoài tầm tấn công. Một toán nhỏ luồn giữa bãi chuối phía bên kia đường bắn vào phòng ăn lúc đang chiếu phim. Các trung sĩ, một số có tuổi qua Chiến tranh thế giới thứ Hai hoặc chiến tranh Triều Tiên, cười thoải mái khi nhìn thấy các đại úy chưa bao giờ gặp súng đạn, mặc quần đùi áo lót, đội mũ, chạy tất tưởi vung súng ngắn cỡ 45, loại khó bắn trúng một người giữa ban ngày. Những người Việt thường kỳ lặp lại việc tập dượt này, dấu mình trong rặng dừa bên kia dòng kênh sau ngôi nhà. Một số chơi bắn một loạt đạn vào máy lọc nước rồi biến mất trong đêm, không gây được những thiệt hại nghiêm trọng ngoài vài vết sụt lở ở tường. Sáng hôm sau các cố vấn phát hiện thấy một lá cờ Việt cộng, sao vàng trên hai băng xanh và đỏ, phất phới trên ngọn cây. Một đơn vị Việt cộng nhất định sẽ chiếm được chủng viện trong mấy phút. Vài chục lính quốc gia trong đội phòng vệ dân sự chịu trách nhiệm về chỗ trú quân, tỏ ra thân mật nhưng quá tự do trong việc bảo vệ các cố vấn nước ngoài. Những người Mỹ cũng không đủ sức tự bảo vệ vì họ không đủ quân số bố trí phục vụ các cố vấn Sư đoàn 7 ban ngày và chống chọi với những đợt tấn công ban đêm trong lúc những người khác vội vàng mang vũ khí chạy ra vị trí chiến đấu. Hơn thế, phần nửa quân số không thường trực ở chủng viện : họ phân tán khắp vùng về các tiểu đoàn, trung đoàn trong các thành phố chính bên cạnh các tỉnh trưởng hay làm việc ở các trung tâm thao diễn các lực lượng bộ binh. Vann hết sức đề phòng cố không chồng chéo với nhiệm vụ cố vấn nhưng ở đây anh chấp nhận nguy cơ bị tấn công để có thể làm tròn nhiệm vụ của bộ phận biệt phái. Vả lại thái độ của Việt cộng chứng tỏ họ không có ý định tiêu diệt các cố vấn trên giường ngủ. Đầu những năm sáu mươi, người Mỹ còn là những người được ưu đãi ở miền Nam Việt Nam. Thời kỳ này những người cộng sản hạn chế những cuộc tấn công đối với họ vì không muốn gây ra sự can thiệp ồ ạt của Mỹ. Họ hy vọng sự nhẫn nại bao dung cuối cùng lôi kéo được cảm tình của dân chúng Mỹ. Tổng hành dinh Sư đoàn 7 Quân lực cộng hòa bố trí trong một trại lính cũ của Pháp, ở trung tâm Mỹ Tho. Thành phố với 40.000 dân năm 1962, quan trọng nhất miền Bắc vùng đồng bằng, là tỉnh lỵ, một thành phố lớn đối với người Mỹ. Như phần lớn các thành phố lớn vùng đồng bằng, tỉnh lỵ ở gần sông, thuận tiện cho thuyền bè qua lại. Dưới thời Pháp chiếm đóng, Mỹ Tho trở thành một pháo đài và trung tâm hành chính đồng thời là một nút xuất cảng gạo. Khi Vann đến, thành phố ít thay đổi, vẫn thể hiện là một vùng hoạt động sôi nổi nhiều công ăn việc làm cho nông dân quanh vùng. Phần lớn lúa gạo sản xuất ra ở vùng đồng bằng này cung cấp cho miền Nam Việt Nam. Các kho tàng không ngớt tích trữ rồi chuyển gạo đi Sài Gòn và những tỉnh khác. Thành phố là nơi giải trí buổi tối hoặc chiều chủ nhật đối với những người Mỹ. Các cố vấn thường đi ăn trong các nhà hàng Trung Hoa hoặc ngồi uống bia, nước giải khát quanh những bàn quán ngoài trời. Họ thưởng thức ở đây làn gió nhẹ mát mẻ của vùng đồng bằng lúc hoàng hôn, ngắm nhìn những cô gái trên đường và xem tàu bè chất hàng ở bến sông. Những người Trung Hoa táo bạo bán mọi thứ trong quán hàng từ những mảnh vải để nông dân may áo quần bà ba cho đến những chất kích dục. Chợ trung tâm đượm mùi các loại hương liệu. Bên cạnh những quầy cá và quả cây, có những người châm cứu dùng kim làm dịu đau, những phù thủy buôn bán cỏ cây làm thuốc và chữa theo phép thần thánh cho những người cả tin khờ dại. Thương nhân Trung Hoa và Việt Nam sống trong nhà xây chắc chắn. Người nghèo đành ở nhà gỗ tồi tàn. Một trong những ngôi nhà có ấn tượng nhất là biệt thự người Pháp xây dựng cho công sứ. Nằm trên đại lộ chính, biệt thự có những khu vườn đẹp bao quanh tuy không được chăm nom cẩn thận, có một sân tennis mà người Mỹ có quyền sử dụng. Ngôi nhà dành cho một thiếu tá quân đội Nam Việt Nam mà tổng thống Diệm bổ nhiệm làm tỉnh trưởng. Người đồng chức với Vann, đại tá Huỳnh Văn Cao, chỉ huy Sư đoàn 7, do không được đặc quyền, đành ở một ngôi nhà khiêm tốn hơn, được canh gác chặt chẽ trên một con đường ở khu bên cạnh. Ông sống ở đấy một mình, để bà vợ và baỷ đứa con ở Sài Gòn. Vann đánh giá phải cấp thiết chuyển hướng cuộc chiến ở phía bắc vùng đồng bằng. Tháng Ba năm 1962 Việt cộng có sáng kiến về chiến lược và chiến thuật : chính họ quyết định nhịp độ chiến tranh vào lúc nào và đánh như thế nào. Quân lính Sài Gòn ở thế phòng ngự và đành hành động theo diễn biến của chiến tranh du kích thay vì chủ động đối với kẻ thù. Riêng con đường lớn từ nam Sài Gòn đến Mỹ Tho, chia làm hai ngả tây và nam đi sâu vào vùng đồng bằng, ban ngày có thể đi một chiếc Jeep nhưng ban đêm đi hai chiếc thì khôn ngoan hơn. Trong năm tỉnh những người việt cộng đã vô hiệu hóa đường loại hai bằng đào hầm hố giữa đường và phá hỏng cầu. Chưa đến lúc nông dân quanh vùng phá sập hoàn toàn như họ đã làm ở phía nam đồng bằng và sẽ làm nếu chiến tranh không ngừng đúng lúc. Để di chuyển trên những con đường còn dùng được, sĩ quan quân đội Sài Gòn cho rằng phải có ít nhất một trung đội tháp tùng để đảm bảo xe cộ không rơi vào trận địa phục kích. Dù toàn thể dân chúng phía bắc đồng bằng không đi theo Việt cộng, đại bộ phận hoặc tán thành mục đích kháng chiến hoặc ngấm ngầm giúp đỡ trong im lặng làm hao mòn những cố gắng của chính quyền Sài Gòn. Chính phủ miền Nam Việt Nam, không dựa được vào sự hợp tác của các tầng lớp nông dân trong lúc họ lại cần thiết cho cuộc nổi dậy của phong trào cộng sản thắng lợi. Năm 1962 ở miền Nam Việt Nam, 85 % dân số sống ở nông thôn. Được đào tạo về thống kê, Vann thấy rõ những tiềm lực may mắn của một xã hội như vậy tạo đà cho sự phát triển sức mạnh chiến tranh du kích cộng sản. Hai triệu dân trong vùng Sư đoàn 7, thực tế hoặc có khả năng nằm trong tay Việt cộng. Trừ số 15% sống ở Mỹ Tho hoặc các thành phố khác. Vấn đề không đặt ra là trong hai đối thủ bên nào có lực lượng quân sự mạnh. Vann đánh giá hai đại đội gồm 180 người của đội quân thường trực Nam Việt Nam với trang bị vũ khí Mỹ, được máy bay ném bom hỗ trợ, có thể di chuyển đến bất cứ đâu trong vùng. Tuy vậy, theo lối ẩn dụ anh nói trước các sĩ quan trong mùa hè, việc hành quân của binh lính Sài Gòn qua các nơi có hiệu quả như một chiếc tàu biển : khi các đội quân của Quân lực Cộng hòa đến chỗ nào đấy họ làm cho Việt cộng chạy như làn tàu rạch nước trên biển. Nhưng khi họ đi qua, những người V.C quay trở lại ngay. Trước khi rời Sài Gòn, Vann đề ra với Porter những mục tiêu làm nền cho một chiến lược mới nhằm lật nhào xu hướng thất bại và đưa lại thắng lợi cho cuộc chiến tranh. Là những người lính họ phải tấn công để dồn ép và tiêu diệt lực lượng chiến đấu của du kích. Chiến thuật thường dùng của Quân lực Cộng hòa được gọi đúng nghĩa là “càn quét” và thúc tiến lên phía trước nhiều tiểu đoàn phân tán. Nhưng Porter nhận thấy cách hành quân ấy, có hiệu quả trong triển khai một sư đoàn bọc thép trên lãnh thổ Đức, không phù hợp để chống lại những nông dân riêng lẻ trên đồng ruộng. Ông mong muốn Vann sử dụng lối cơ động của máy bay lên thẳng để nhanh chóng di chuyển, đưa các đơn vị tấn công đến vị trí, gây hoang mang cho Việt cộng buộc họ phải bắn lẫn nhau và tan rã. Để đưa ra cách hành quân ít bài bản này, Vann phải thuyết phục đại tá Cao chấp nhận một công thức, không làm ông ta mất mát nhưng thực tế đưa lại cho người Mỹ toàn quyền đối với đơn vị của ông. Với lối nói “cùng xây dựng kế hoạch”, Vann và Cao xem như cùng chuẩn bị chung những cuộc hành quân nhưng trên thực tế Cao chỉ thực hiện những gì Vann và các phó của anh quyết định. Về nguyên tắc Vann thực hiện chức năng phó trong một tháng để làm quen với nhiệm vụ trước khi Clay ra đi, dự kiến vào tháng Sáu. Nhưng anh không phải chờ lâu để thay thế. Clay hành quân ở Đồng Tháp Mười nhày 23 tháng Năm, hai ngày sau khi Vann đến. Từ máy bay lên thẳng anh cố đuổi theo bắn khoảng hai chục Việt cộng về hướng bộ binh Quân lực Cộng hòa. Nhưng những người đảng viên cộng sản bắn vào máy bay Clay đang ngồi cùng một trung tá ban tham mưu. Phi công lái trúng đạn vào chân còn những người trên máy bay bị thương vì mảnh vỡ do làn đạn xuyên qua. Clay được đưa về Sài Gòn chữa trị rồi đi phép tám ngày ở Hong Kong. Vậy là Vann nắm quyền chỉ huy và tiếp tục trong tháng Sáu trong lúc Clay đi kiểm tra vùng cao nguyên và đồng bằng miền biển phía bắc Sài Gòn. Anh được chỉ định là chuyên gia về chiến tranh du kích ở trường Chiến tranh Quốc gia của Washington và muốn nắm được những điều kiện chiến đấu trong vùng này. Việc Vann nắm quyền chính thức chỉ huy vào cuối tháng Sáu tiến hành ở sân chủng viện không lễ tiết, không chào cờ hoặc diễu binh như tục lệ chuyển giao quyền trong quân đội Mỹ. Clay đã không cho phép làm lễ vì rất dễ xúc động, anh sẽ bối rối rơi nước mắt trước người của mình. Dù sao anh cũng không được lựa chọn vì năm 1962, các cố vấn không có quyền treo cờ sao ở nơi trú quân. Họ cũng không được nhận một loại huân, huy chương nào. Clay và những người sống sót trong máy bay lên thẳng không được nhận huy hiệu mặc nhiên thưởng cho những quân nhân bị thương trong chiến tranh và gia đình họ cũng không được nhận truy tặng. Tổng thống Kennedy hy vọng ít để lộ sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam sẽ hạn chế những hậu quả chính trị trong nước bởi ý thức Hoa Kỳ đang trong tình trạng chiến tranh. Cuối tháng Năm, Clay đã đưa bộ phận cố vấn biệt phái lên mức độ hành quân. Vann nỗ lực thể hiện những bước đầu hứa hẹn ấy. Trận đánh Clay bị thương ngày 23 tháng Năm tạo co Vann một bước đấu thuận lợi “cùng nhay xây dựng kế hoạch” với Cao. Kết quả dựa vào tính ngoan cường và vận may của Clay cũng như tài năng chiến thuật của đại úy Richard Ziegler, 30 tuổi, cựu trung phong đội bóng đá của trường quân sự West Point năm 1954. Clay rất giận vì thấy Cao, bao giờ cũng lịch sự từ chối không để người Mỹ đóng một vai trò trong kế hoạch hành quân; càng cáu kỉnh hơn về những thất bại liên tiếp của Cao. Giữa tháng Năm anh từ chối cung cấp máy bay lên thẳng cho ông ta nếu không chấp nhận hợp tác với người Mỹ. Porter cũng theo đuổi mục đích ấy, tán thành với Clay và được tướng Harkins đồng ý. Cao nhường bước và chấp nhận làm thử. Bây giờ Clay cần một sĩ quan có khả năng lên kế hoạch chi tiết tấn công. Sĩ quan duy nhất có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực này là Ziegler đến chủng viện từ đầu tháng Tư. Kinh nghiệm của anh hạn chế trong ba tháng làm phó chỉ huy hành quân một tiểu đoàn bộ binh ở Nhật. Để xây dựng kế hoạch hành quân anh nhận những bản đồ của ban tham mưu Pháp từ 1954 và một bản báo cáo của phòng thông tin từ nhiều tuần, chắc chắn đã lỗi thời. Báo cáo này thông báo một tiểu đoàn Việt cộng diễn tập đâu đấy trong một vùng 10 cây số vuông ở Đồng Tháp Mười. Ziegler có năng khiếu kết hợp kế hoạch hành quân chung với một vấn đề quân sự riêng. Nhất là anh biết thể hiện những ý kiến của mình, vẽ chi tiết hành quân lên bản đồ với những mũi tên lớn chỉ giờ, vị trí các đơn vị, hướng và mục tiêu tiến đánh. Với tài liệu ấy, các chỉ huy trên thực địa biết chính xác phải hành quân như thế nào. Trong trường hợp cụ thể này, Ziegler thiếu thông tin để có câu trả lời hợp lý. Để có nhiều cơ may tìm được Việt cộng trong mười cây số vuông ấy, phải cho quân tiến hành một loạt thăm dò ở nhiều hướng. Khi một đơn vị thám báo gặp Việt cộng, máy bay lên thẳng đưa ngay những đội dự bị đến hiện trường còn những đơn vị bộ binh sẽ tiến lên đẩy kẻ thù đến nơi gọi là “vùng tiêu diệt”. Báo cáo của văn phòng 2 đã quá hạn. Trong báo cáo tiểu đoàn Việt cộng rời vùng này, sẽ trở lại vào hai giờ sáng ngày 23. Nhưng một tiểu đoàn khác không nêu trong báo cáo chậm lại trong vùng. Vậy là một đơn vị thám báo của Ziegler rơi vào trận địa có số lượng đáng kể Việt cộng bị lộ và máy bay tiêm kích ném bom đến tàn sát ngay . 95 Việt cộng bị chết, 24 bị bắt làm tù binh trong đó có chính trị viên tiểu đoàn, tiểu đoàn trưởng bị chết. Ba mươi ba vũ khí, quan trọng nhất trong du kích chiến, bị tịch thu trong đó có một súng đại liên Mỹ, một súng cối và nhiều tiểu liên. Đơn vị du kích kia trở lại lúc hai giờ sáng cũng bị tổn thất nặng nề. Cao vô cùng sung sướng về chiến thắng thực sự đầu tiên của sư đoàn. Vai trò nửa bí mật của các cố vấn cho phép ông ta công khai nhận thắng lợi một mình. Vann cũng rất xúc động. Anh nghiên cứu những sĩ quan phó của Clay để quyết định bố trí, gọi riêng Ziegler vào tổng hành dinh tạm thời bố trí bên cạnh một đường bay. Anh bảo :” Anh sẽ là người xây dựng kế hoạch hành quân của tôi”. Anh giải thích nhân thắng lợi này và dựa vào tính tự hào của Cao để thể chế hóa sự việc “cùng xây dựng kế hoạch” và nắm lấy quyền kiểm soát sư đoàn. “Chúng ta sẽ xếp đặt trật tự trong mọi việc và điều hành sư đoàn như một đơn vị lính Mỹ. Sẽ có một người Mỹ trong mỗi đơn vị. Tôi trực tiếp làm việc với Cao và anh với chỉ huy hành quân của ông ta. Như vậy chúng ta sẽ tác động họ làm theo ý muốn chúng ta”. Khi Vann gợi ý Ziegler và đại úy Việt Nam phụ trách hành quân cùng nhau xây dựng kế hoạch cho những hoạt động tương lai, Cao trả lời đấy là một ý kiến rất hay. Ông ta cũng đồng ý với những giai đoạn Vann nêu lên để đưa những cố vấn Mỹ đầy đủ vào cơ cấu sư đoàn đến mức không biết ai nói gì với ai nữa. Cao cũng tán thành việc cố vấn phụ trách thông tin của Vann, đại úy James Drummond, một người kín đáo ba mươi tư tuổi, cũng như Ziegler hình như sinh ra để giữ vị trí ấy – hợp tác làm việc với sĩ quan Việt Nam phụ trách văn phòng 2. Thế mà cho đến nay, Cao đã cấm anh ta không trao đổi một thông tin gì cho người Mỹ. Cao cũng chấp nhận những cố vấn Mỹ được phiên chế vào những bộ phận khác nhau, hành chính và tin học. Ông ta đồng ý với đề nghị của Vann tổ chức một trung tâm hành quân chiến thuật đóng vai trò theo dõi hoạt động quân sự trong năm tỉnh, thông báo với Cao và Vann mọi trường hợp khẩn cấp, giữ vững liên lạc với ban tham mưu từng tỉnh và tổng hợp những đề nghị can thiệp máy bay để hỗ trợ các tiền đồn bị bao vây. Trung tâm này phải hoạt động 24/24 giờ. Bản đồ và máy điện thoại bày trên một chiếc bàn rộng ở tầng trệt nhà Cao. Do gia đình ở lại Sài Gòn Cao chỉ cần cho mình một căn phong, một bếp ăn còn thì bố trí một ban tham mưu nhỏ làm việc ở đấy. Ziegler và đồng nghiệp Việt Nam của anh xây dựng kế hoạch tác chiến tại đây, mở cho người Mỹ một nguồn thông tin mới. Cuộc hội ý ngắn hàng ngày với tổng chỉ huy là một tập quán của quân đội Hoa Kỳ, Vann gợi ý hàng ngày tiến hành vào lúc 16 giờ, lúc sư đoàn không hành quân. Cao đề nghị làm ở gian phòng chiến tranh trên tầng, trang bị đầy đủ hơn Trung tâm hành quân ở tầng trên, có một bục diến giải dưới chân bản đồ. Ziegler và đồng nghiệp báo cáo về tất cả những cuộc hành quân trong vùng. Drummond và đại úy văn phòng 2 nói về khả năng thông tin, những người khác phụ trách nhân sự, thông tin, phát biểu khi cần. Cao ngồi ở hàng đầu trước bục với Vann bên cạnh và Faust, Dam ngồi phía sau. Trước khi Ziegler và sĩ quan tác chiến xác định một cuộc tấn công Việt cộng bằng máy bay lên thẳng, Vann trình bày trước ở cuộc hội ý để Cao có thể chỉ thị từng người nên làm thế nào cho hoàn chỉnh theo ý ông ta. Lúc đầu Ziegler nghi ngờ hiệu quả của những hội ý hàng ngày đó, có vẻ công thức như ở trường bộ binh. Nhưng anh mau chóng nhận thấy Vann dùng nó để kích thích tính kiêu ngạo của Cao, chỉ là một đại tá nhưng thích tỏ ra như một vị tướng. Trong những cuộc hội ý ngắn ấy ông ta tha hồ phát biểu ý thức của mình theo kiểu chiến lược lớn. Trong lúc Cao trổ tài hùng biện trong buổi đầu, Vann thì thầm với Ziegler : “Anh đừng bận tâm về những gì ông ta nói. Về chủng viện tôi sẽ giải thích cho anh phải làm như thế nào.” Và sự việc cứ như thế, Vann trình bày kế hoạch tấn công bằng máy bay lên thẳng trên tấm bản đồ choán hết bức tường ở văn phòng tác chiến ở chủng viện. Ziegler tổng hợp những ý kiến của Vann và của anh ta trong kế hoạch cuối cùng được Vann xác nhận và Cao chấp nhận. Họ giết được nhiều Việt cộng và Cao rất phấn khởi. Cao cũng hoạt động theo đề nghị của Vann muốn lôi kéo những đơn vị Sài Gòn về chiến thuật tác chiến từng trung đội, bước đầu cần thiết để khống chế Việt cộng trong việc đánh nhau giữa những đơn vị nhỏ, đặc điểm cuả cuộc chiến tranh này. Mười nghìn lính Nam Việt Nam trong vùng tập dượt đầy đủ trong thời bình. Họ có thể thao diễn gần như đúng đắn, không như trường hợp 28.000 quân địa phương. Vann nhanh chóng phát hiện ra mặc dù 1,65 tỷ đô-la người Mỹ rót vào với danh nghĩa hỗ trợ quân sự từ năm 1955, giữa năm 1961 và sự đào tạo cho là của 650 cố vấn đem lại, rất ít binh lính thường trực hoặc địa phương biết sử dụng chính xác tầm ngắm để bắn trúng mục tiêu, càng không thể bắn trúng một Việt cộng. Quân đội Nam Việt Nam và lính địa phương được người Pháp xây dựng và người Mỹ cố gắng vá víu lấy tổ chức này. Quân đội là một hỗn hợp sĩ quan và binh lính Việt Nam từ đội quân thuộc địa Pháp và đội quân cũ của nước Pháp tạo ra năm 1948 cho Bảo Đại, vị hoàng đế đã hợp tác với lực lượng thuộc địa. Quân đội được tổ chức theo hình mẫu tam tam chế của những sư đoàn cũ bộ binh Mỹ : ba trung đoàn trong một sư đoàn, ba tiểu đoàn thành một trung đoàn và ba đại đội một tiểu đoàn. Song song có hai lực lượng địa phương mà tốt nhất là lính Bảo an xuất xứ từ lính Khố xanh, một tổ chức lính thuộc địa trước chiến tranh và lính Cảnh sát, tạo dựng dưới chế độ Nhật thời kỳ cuối chiến tranh. Ở các tỉnh, quân đội được tổ chức thành đại đội và tiểu đoàn đặt trực tiếp dưới quyền tỉnh trưởng. Vùng của sư đoàn có khoảng 10.000 lính Bảo an. Lực lượng địa phương lính cảnh sát quần áo lôi thôi, được người Pháp tuyển dụng chiếm giữ những tháp canh bằng gạch và những tiền đồn trát đất họ xây dựng trong chiến tranh để áp đặt cai trị thuộc địa và bây giờ chính quyền Sài Gòn cố giữ lại, tổ chức thành trung đội ở cấp huyện đội quân được gọi là Đội tự vệ bố trí số lượng tối đa (18.000 người) và trang bị vũ khí tổi thiểu trong năm tỉnh. Cảnh sát đành dùng những súng cũ của người Pháp; người được tuyển mộ là dân địa phương, không mặc đồng phục, thậm chí bận blouse và quần pyjama đen nông dân mặc đi làm. Đội tự vệ cũng như quân bảo an chỉ chiến đấu vì đồng tiền. Để bù đắp sự thiếu tập dượt ấy, Vann tổ chức một “lớp bồi dưỡng” ba tuần lễ cho đội quân thường trực trong một trại lính cũ Clay đã cải tạo ở làng Tân Hiệp cách con đường đi Sài Gòn 9 cây số gần đường bay Mỹ Tho. Cao đồng ý để chín tiểu đoàn trong sư đoàn lần lượt theo học. Khi không hành quân binh lính phải tiếp tục tập bắn và thao tác từng đơn vị nhỏ ở nơi đóng quân. Những khóa bồi dưỡng lính địa phương mà Clay đã bắt đầu được Vann triển khai rộng. Nhưng Cao không thuận tình với những lý lẽ của Vann đã thống nhất với Porter muốn kìm hãm sự nổi dậy của cộng sản, phải phát huy việc đánh nhau với Việt cộng trong đêm tối. Cao xanh mặt, cau lại khi Vann trình bày phải dạy cho binh lính tuần tra và phục kích ban đêm. “Ra ngoài ban đêm nguy hiểm lắm !” Cao trả lời. Không phải riêng ông ta sợ hoạt động ban đêm mà cả năm tỉnh trưởng đều lo ngại. Những báo cáo họ làm về tuần tra, phục kích ban đêm chỉ để nhằm đánh lừa người Mỹ. Không một người lính nào rời đồn sau lúc mặt trời lặn và kẻ nào mạo hiểm cũng không ra quá xa con kênh gần nhất làm một giấc ngủ ngắn trên đê. Không thuyết phục được, Vann bất chấp : anh ra nghiêm lệnh cho mọi sĩ quan hoặc trung sĩ Mỹ chịu trách n hiệm tập dượt phải đi tuần tra đêm mỗi tuần ít nhất một lần. Cao và các tỉnh trưởng có thể coi như không biết có lệnh ấy và diễu cợt Vann : thực ra các cố vấn không thể đi phiêu lưu riêng một mình. Nhưng Cao biết Porter ủng hộ Vann ở điểm này và Harkins cũng thuyết phục tổng thống Diệm về sự cần thiết phải hoạt động ban đêm. Tháng Mười một, sự tranh chấp xảy ra khi chính quyền Kennedy cố thúc ông tiến hành những cải cách chính trị và hành chính thay thế sự can thiệp quân sự của Mỹ. Nhưng từ đó quan hệ giữa Diệm và bộ chỉ huy cao cấp Mỹ đã được cải thiện. Những chỉ thị của phủ tổng thống tán dương thái độ hòa giải với người Mỹ khi không có nguy cơ gì. Cao và các tỉnh trưởng tỏ ra đồng ý và những cuộc tuần tra ban đêm bắt đầu với nhịp độ hạn chế nhưng đều đặn. Vann nêu gương bằng cách xuống các đơn vị tham gia hành quân chớp nhoáng ban đêm ít nhất mỗi tuần một lần, đôi lúc hai lần. Do chỉ cần hai tiếng đồng hồ ngủ, anh dễ dàng thức đêm. Để giải đáp những phản bác của Cao sợ anh chết hoặc bị bắt làm tù binh, Vann chấp nhận nguyên tắc chỉ ra ngoài với những đơn vị mười hai người. Anh biết nếu khéo tổ chức có nhiều cơ may phục kích có kết quả và ít bị tấn công. Rất đáng tiếc là anh không bao giờ bắt gặp Việt cộng . Thế mà anh cảm thấy họ ở đấy và di chuyển trong bóng đêm. Anh báo với Porter rất khó khăn với đội quân Nam Việt Nam ấy. Binh lính thường trực hoặc địa phương kém xa Việt cộng về các mặt. Họ sợ giáp mặt kẻ thù. Anh nhận thấy mỗi lần nghe tiếng động trong đêm có thể là của Việt cộng đi về hướng anh giăng bẫy, một trong những lính Việt Nam ho hoặc lên quy lát súng trường hay gây tiếng động gì đấy làm hỏng tất cả. Việc đó rất thường xảy ra chứ không tình cờ. Porter đã khám phá ra cảm giác thấp kém ấy của binh lính Nam Việt Nam, sung sướng thấy lần đầu trong cuộc chiến tranh này Hoa Kỳ có một sĩ quan bộ binh đue kinh nghiệm và sáng suốt làm việc trên lưỡi dao. Để giải quyết tất cả những vấn đề ấy phải có thông tin và giải thích. Vann cung cấp cho ông cả hai với quyền hạn và khả năng của mình. Những kết luận của anh được các tướng tá ban tham mưu xem như là những nghiền ngẫm vô lý của một đại úy trẻ. Vann thực hiện lời hứa với Ziegler mỗi đơn vị tham gia hành quân sẽ có một cố vấn Mỹ đi theo. Mục đích của anh không chỉ để kiểm soát chặt chẽ. Anh đánh giá những đội quân Sài Gòn sẽ tấn công quyết liệt hơn nếu viên chỉ huy Việt Nam luôn có bên cạnh một sĩ quan hoặc trung sĩ Mỹ khuyến khích và hỗ trợ. Anh cũng hy vọng đà hăng hái của Mỹ sẽ lây truyền. Dù sao tinh thần mãnh liệt của Vann cũng tác động đến đoàn cố vấn quân sự. Không khí nhiệt tình dưới sự chỉ huy của Clay, sĩ quan can đảm, biết suy tính và chăm chỉ đã được ca tụng và yêu mến trong các đoàn quân. Anh đã hai lần nhận Ngôi sao bạc, phần thưởng cao thứ ba trong nước khi dẫn đầu xe tăng chống quân Đức ở Bắc Phi và Italia. Với Vann, không khí càng sôi nổi hơn. Khi các cố vấn trở về chủng viện, kiệt sức vì đi hai ngày dưới trời nắng và trong bùn ruộng, họ nghe tiếng nói lanh lảnh và thân thuộc : “Nào ! Các đội bóng chuyền ra sân!” Anh nghỉ ngơi ít hơn họ và trong mấy phút tất cả đã đứng trước lưới trên sân. Nếu đội của anh bắt đầu thua anh hét lên, đấm vào cột để kích thích đồng bọn hăng hái hơn. Anh không ngừng phản công lối chơi của một đại úy người Hawaii cao một mét tám mươi hai, nặng chín mươi hai kilô, Peter Kama, mười năm sau phục vụ dưới quyền anh ỏ vùng cao nguyên. Chiến tranh ở Việt Nam năm 1962 còn là một cuộc phiêu lưu “những cuộc hành quân đứt đoạn nhất mà chúng tôi được biết” như một sĩ quan nói – biết bao nhiêu vấn đề Vann và bộ phận biệt phái phải đương đầu để cải thiện tinh thần chiến đấu của những đội quân Sài Gòn. Mối nguy hiểm thường xuyên và những đợt bắn tỉa ngẫu nhiên gây tình trạng căng thẳng và gay go của cuộc chiến tranh. Khi Vann đến Mỹ Tho vào cuối tháng Năm 1962, gần 20 người Mỹ đã chết ở Việt Nam và không một cố vấn nào ở Sư đoàn 7 gặp chuyện không may ấy. Những người ở lâu nhất trong bọn họ mong tìm lại được niềm kích thích về tranh chấp họ có trước đây còn những người trẻ sốt ruột muốn thử thách. Sư đoàn trưởng Charles Timmes đã là trưởng Phái đoàn hỗ trợ quân sự (MAAG) đầu tiên, từ đó trở thành một cơ quan gắn liền với những chương trình huấn luyện và trang bị. Timmes đã được giải thưởng đặc biệt khi cầm đầu một tiểu đoàn lính dù nhảy xuống Normandie vào ngày đổ bộ của quân Mỹ lên châu Âu. Một hôm ông nói ở chủng viện : “Đây không thực sự là một cuộc chiến tranh nhưng là cuộc chiến tranh chúng ta có. Vậy chúng ta cứ làm!”. Nhận xét này đặt ra nhiều điều hơn một lời kích động phiêu lưu. Những người này là lính chuyên nghiệp, một đội quân trên bộ trong 8 năm sử dụng chiến lược “càn quét” của tổng thống Eisenhower. Nhiệm vụ được giao lúc đó hình như chỉ chiếm đóng những cơ sở phóng xạ hoang tàn của Đông Âu, Nga, Trung Quốc sau khi không quân, hải quân chiến thắng trong Chiến tranh thế giới lần hai và triển khai máy bay, tên lửa trong một cuộc tàn sát nhiệt hạch. Ngân sách quân sự phân tán, bộ binh trở thành một kẻ đi xin. Bây giờ bộ binh có một tổng thống, John Kennedy, muốn nó là “Lưỡi gươm … dụng cụ có hiệu quả của chính sách đối ngoại”, theo công thức của cố vấn tổng thống là đại tướng nổi tiếng Maxwell Taylor, Kennedy muốn lực lượng quân sự cho phép ông sử dụng sức ép ở mức độ cần thiết để thi hành đường lối của mình bất cứ ở nơi nào. Ông hình dung một lực lượng bộ binh phát triển hơn, được tăng cường sức mạnh bằng kỹ thuật mới nhất về cơ động và vũ khí, để trở thành lưỡi gươm cần thiết cho chiến lược “phản ứng linh hoạt”, Taylor sáng tạo ra từ ngữ này để chống lại sự liên kết bề ngoài của đường lối không hợp lý tàn sát hàng loạt của Eisenhower. Quan điểm chiến lược ấy là sự vận dụng hợp lý lý thuyết “chiến tranh hạn chế” ông trình bày trong một cuốn sách hay sau khi ở Bộ tổng tham mưu về nghỉ hưu năm 1959. Kennedy vui thích áp dụng những luận thuyết này của ông, đã sử dụng trong đợt tuyên truyền tranh cử tổng thống năm 1960. Sau khi được bầu ông lấy lý thuyết này làm chiến lược quốc gia và chọn Taylor làm cố vấn quân sự của Nhà Trắng. Tổng thống mới và người xung quanh ông cho cuộc chiến tranh du kích mà Vann quyết định đè bẹp ở phía bắc vùng đồng bằng, là hình thức thách đố ầm ĩ nhất những người cộng sản cho đến lúc này. Fidel Castro nắm quyền ở Cuba sau một cuộc cách mạng và những cuộc nổi dậy tương tự thật đáng sợ ở thế giới thứ ba, những nước nghèo của Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh. Vì thế Kennedy đã chỉ thị cho quân đội trên bộ sử dụng Việt Nam như một cơ sở thí nghiệm phát triển những kỹ thuật chống nổi dậy. Nikita Khrusev đã trình bày chiến lược chiến tranh du kích ở Hội nghị các đảng cộng sản ở Moscow tháng Giêng năm 1961. Ông tuyên bố Liên bang Xô viết muốn tránh một cuộc chiến tranh hạt nhân với Hoa Kỳ nhưng ủng hộ “những cuộc chiến tranh giải phóng và những cuộc nổi dậy” ở những nước nghèo của thế giới thứ ba. Trung Quốc chung sức vào việc đó. Kennedy lên án những cuộc cách mạng ấy, gọi là “chiến tranh lật đổ và tấn công bí mật”. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam như vậy vượt quá một thử nghiệm lý thuyết của Taylor về chiến tranh hạn chế. Năm 1962 vấn đề là ai thắng ai, “Thế giới tự do” hay là “Thế giới cộng sản”. Đầu những năm 60 người Mỹ ít chú ý đến sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc cũng như rạn nứt khác trong khối họ gọi là “chủ nghĩa cộng sản quốc tế”. Sự thù địch giữa Moscow và Bắc Kinh đã lộ rõ trong một thời gian. Khrusev đã cắt mọi viện trợ cho Trung Quốc và gọi về nhiều nghìn kỹ thuật viên Xô viết đang thực hiện những chương trình phát triển lớn. Những người Mỹ cũng không hiểu hậu quả việc cắt đứt quan hệ giữa Tiệp Khắc và Liên Xô năm 1948 do một phong trào quốc gia có thể được những người cộng sản trong nước lãnh đạo. Vann và người Mỹ thời kỳ ấy đã quen xem thế giới chia làm hai : trắng và đen. Lý tưởng của họ chi phối nếp suy nghĩ và sự nhìn nhận ấy càng củng cố thói quen vốn có. Khuôn mẫu quân đội phản ánh cách nhìn thế giới gộp tất cả những nước cộng sản vào công thức “khối Trung Xô”. Dù không ai trong phân đội có lòng tin như Vann về cuộc phiêu lưu anh dẫn dắt với tinh thần năng nổ của một thập tự chinh, họ đều là những người được tin cậy. Các đại úy đều từ một nơi đào tạo. Phần lớn bọn họ mang trên áo những đôi cánh quân dù với phù hiệu của lực lượng lục quân ưu tú. Ziegler là một ví dụ điển hình. Anh hai năm là giáo viên trường lục quân ưu tú; một buổi sáng được biết phòng nhân sự của Lầu Năm Góc đã chọn 150 đại úy xuất sắc sang Việt Nam làm cố vấn quân sự mà anh là một người trong bọn họ. Con trai một thương gia, anh trở thành ngôi sao bóng đá ở trường trung học, vào trường quân sự West Point vì muốn “là một con cá lớn trong một hồ lớn” như anh nói với đội bóng và nhất là tiếp tục học không mất tiền. Uy tín lớn của Vann càng phát triển sự liều lĩnh trong phân đội và tạo một hương vị đặc biệt cho cuộc phiêu lưu này. Sự kính trọng tài năng cấp trên trở thành đáng ca tụng khi chỉ huy trưởng thêm vào đó sự gan dạ. Nhưng nếu ngoài hiểu biết và can đảm anh dấn thân vào cuộc chơi, anh trở thành huyền thoại. Các sĩ quan nhát gan đề phòng lòng ham thích nguy hiểm ở những người thường họ xem đúng chỉ là những cái đầu nóng. Nhưng họ thầm thán phục, mong mình cũng tin tưởng vào vận may như thế và có thể dẫn dắt đồng đội với sức mạnh như thế. Vann là một nhân vật huyền thoại nhiều may mắn. Vann biết những con đường nào bị Việt cộng cắt đứt, những đường nào còn dùng được vì anh không ngừng đi xe Jeep ngang dọc qua những đợt thường xuyên về trung tâm thị trấn, ra các tiền đồn hoặc về các thôn xóm làng hẻo lánh. Để kiểm soát đường sá, người Mỹ có thói quen bay trực thăng hoặc máy bay thám thính. Như vậy ít nguy hiểm hơn. Trên bầu trời không có mìn, không bị phục kích. Vann cho rằng phương pháp ấy không đáng giá gì. Để biết bao nhiêu đất đai bị Việt cộng kiểm soát, những chỗ nào còn vào được phải đến xem tại chỗ. Anh nói theo xu hướng thống kê : “Lạy Chúa, chỉ cần suy tính một ít, người ta có thể chạy trên những con đường ấy với 95% may mắn thoát được”. Anh tránh những vòng tròn cố hữu và cố gắng không trở lại nơi xuất phát, không chần chừ lâu một chỗ, không để Việt công có thì giờ xác định vị trí của anh và tổ chức phục kích. Anh từ chối không đem theo đội bảo vệ xem như đoàn tháp tùng tối thiểu, sợ làm chậm bước tiến của mình, anh tự lái xe và đi thật nhanh. Anh lính Việt Nam Cao cử làm lái xe cho anh ngồi phía sau với khẩu liên thanh. Thực tế nếu có trường hợp bám theo và lái xe bị thương hoặc chết có lẽ sẽ phải dừng lại. Anh muốn chắc chắn không bao giờ có chuyện ấy vì xác định việc thoát thân tùy thuộc vào tính cơ động và mình sẽ không bao giờ bị bắt làm tù binh. Porter không cố kìm hãm anh. Ông biết nếu ra lệnh cho Vann đừng lao vào nguy hiểm anh vẫn làm mà không nói với ông. Những cuộc tuần tra đêm của Vann cung cấp cho ông những thông tin từ một người có kinh nghiệm mà ông hoàn toàn tin tưởng. Các cố vấn ở chủng viện vui vẻ chờ các sĩ quan ban tham mưu từ Sài Gòn đến thị sát và Vann dành cho họ một dịp theo cách của anh. Cánh bàn giấy nói chung tới với trang bị hoàn hảo của một người chiến đấu, mũ rộng vành và dao săn dắt trong ủng. Họ thông báo không chỉ tham dự những cuộc hội ý ở chủng viện mà muốn “xuống tận chỗ có đánh nhau”. Một lần Vann mỉm cười trả lời với một sĩ quan tham mưu anh đã chuẩn bị, đề nghị sẵn sàng từ bốn giờ rưỡi sáng tiến hành “một cuộc thám thính nhỏ”. Đến 4 giờ 20 phút trong lúc người khách còn buộc dây giày trong phòng ngủ sĩ quan ở tầng trên chủng viên, Vann đã uống xong cà phê và đứng dưới thang gác gọi : “Nhanh lên ông, sẵn sàng đi rồi đây!”. Đèn pin chiếu trong bóng tối, Vann đưa ông ta lên xe Jeep giải thích hai người cùng đi “kiểm tra an ninh” trên đường Bến Tre, 15 cây số về phía nam, từ đó họ tiếp tục đến cuộc hành quân đang tiến hành. Vann ngồi sau tay lái, để một khẩu súng bắn nhanh và một số lựu đạn lên ghế bên cạnh. Cùng lúc đó anh trình bày cho người đi cùng phải giả chết như thế nào nếu rơi vào ổ phục kích để khỏi bị giết. Sau đó anh nổ máy, hô người gác Việt Nam mở cổng và lao nhanh trên con đường Bến Tre. Viên sĩ quan tham mưu nghĩ họ được một trung đội lính Việt Nam tháp tùng hoặc ít nhất có một xe cố vấn khác. Nhưng ông thấy đơn độc trên một chiếc xe Jeep lao qua bóng tối của cây cối, xa xa thỉnh thoảng có ánh lửa ngọn nến hay đèn dầu trong một ngôi nhà nông dân cùng với kẻ điên kia cầm tay lái. Trong luồng gió Vann kêu lên với ông ta sẵn sàng nhả đạn nếu gặp rào chắn của Việt cộng vì anh sẽ lao vào, không muốn bị bắt sống rồi nhốt vào cũi như một con khỉ. Con đường có sông chắn ngang phải qua phà càng làm vị khách căng thẳng thần kinh. Chiếc phà được quân lính gác và người Việt Nam qua lại chỉ là những nông dân bình thường đi chợ. Ông khách ngây thơ không chú ý thấy người gác và chưa bao giờ ở giữa một đám đông nông dân. Nói chung việc thử nghiệm ấy đủ cho sĩ quan tham mưu muốn ở lại Bến Tre chờ máy bay lên thẳng đưa trở về Sài Gòn. Nhưng nếu khách thuộc loại người như Vann, thích thú sáng kiến kiểu ấy thì lần sau đến chủng viện ông ta sẽ được hoan nghênh. Thực tế cuộc đi trước bình minh ấy không phải không nguy hiểm. Vann đã bị du kích rình bắn tỉa nhiều lần. Nhưng anh nhận thấy nói chung Việt cộng giữ rào chắn trên đường thường về ngủ từ bốn giờ rưỡi sáng. Thiếu tá Herbert Prevost là người duy nhất trong phân đội hình như cũng thích mạo hiểm như Vann. Phi công 38 tuổi, vẻ tinh ranh, lái máy bay liên lạc của Sư đoàn 7. Thể chế không lực rất có thể đã quyết định việc ném bom chiến lược là phương pháp tốt nhất để thắng trong chiến tranh. Provost là một người tác chiến đơn độc. Anh lái những chiếc máy bay nhỏ, thích chiến đấu một mình, được thưởng huân chương trong Thế chiến thứ Hai, ngày anh phát hiện một đoàn xe tăng Đức ẩn náu trong rừng chờ đánh xe tăng Mỹ, tưới lên một loại vũ khí cháy mới, bom napalm; lái phụ bị liên thanh xe tăng bắn chết, máy bay của Prevost bị hỏng đến mức độ thợ máy phải cho vào đống sắt cũ nhưng anh đã hạ cánh như có phép lạ. Việc phục kích của quân Đức bị bại lộ, năm chiếc xe tăng và trang bị cháy thiêu. Ở Việt Nam hình như Prevost khôn ngoan hơn. Anh được Không lực giao cho chiếc máy bay nhỏ nhất họ có, chiếc Cessna quan sát. Một động cơ, hai chỗ ngồi, chỗ phía trước cho người lái và chỗ kai cho người quan sát, chiếc Cessna không trang bị vũ khí. Nhiệm vụ của Prevost là điều phối những yêu cầu hỗ trợ máy bay tiêm kích – ném bom và phương tiện vận chuyển cho Sư đoàn 7 và lực lượng bộ binh của năm tỉnh theo sự chỉ huy của Sư đoàn 2 Không quân Sài Gòn dưới mệnh lệnh tướng Harkins. Anh được giao chiếc Cessna để liên lạc với ba đại úy không quân làm việc cho anh ở các tỉnh. Prevost là một diễn viên xiếc trên trời có đầu óc sáng tạo. Anh thuyết phục Vann cho anh hai khẩu súng mới loại nhẹ, Armalite, sẽ trở thành khẩu M-16 khi sử dụng như vũ khí chuẩn của bộ binh. Quân đội đang thử nghiệm và giao cho Sư đoàn 7 một đại đội để xem quân lính đánh giá thế nào và xác định hiệu lực chống chiến tranh du kích. Armalite có một nút chọn bắn bán hoặc hoàn toàn tự động, dùng đạn nhỏ hơn nhưng nhanh hơn khẩu M-1 cũ nhiều. Tính năng rất nhanh gây những vết thương nặng nhưng không chết. Prevost gắn hai khẩu súng giữa những thanh ngang đôi cánh máy bay Cessna sáng tạo một hệ thống dây cho phép anh từ buồng lái kéo cò súng bắn vào Việt cộng. Anh cũng có thể ném lựu đạn vào họ, đôi khi anh dùng bom 10 kilô kiếm được trong quan hệ với một phi đội nhỏ đóng quân tại sân bay cũ của Pháp ở Biên Hòa. Tiểu phi đội gồm máy bay có chong chóng trong Thế chiến thứ hai và chiến tranh Triều Tiên, máy bay hai động cơ A-26 Invaders dùng ném bom tầm thấp và băn liên thanh trước mũi súng. Cũng có những máy bay – tập lái T-28 Trojan chuyển thành những máy bay ném bom bằng cách xếp dưới những liên thanh 50, bom, rốc két, những bình chứa napalm. Tuy những khí cụ ấy thuộc Không lực Hoa Kỳ, người ta đã sơn lại chuyển sang màu Không lực Việt Nam. Phi công Sài Gòn dùng ngôi sao trắng trong vòng tròn xanh của đồng minh mới. Nhưng ở người Mỹ huy hiệu ấy nổi lên trên những gạch đỏ, trắng , xanh, người Việt Nam dùng những màu của chính phủ Sài Gòn đỏ và vàng. Chỉ cần vài hộp sơn để máy bay Mỹ trở thành máy bay Việt Nam. Phi công Hoa Kỳ không bao giờ bay không có một sĩ quan trẻ hay hạ sĩ Không lực Sài Gòn ngồi ghế sau. Như vậy nếu một máy bay bị bắn hạ, chính quyền Kennedy có thể tự bào chữa như trong nhiều trường hợp phi công Mỹ chỉ thực hiện “một buổi tập dượt” cho học trò của mình. Những phi công Mỹ khác được bố trí hẳn ở Không lực Việt Nam để huấn luyện và cố vấn cho phi công Sài Gòn sử dụng máy bay tiêm kích – ném bom T-28 và Skyraiders từ thời chiến tranh Triều Tiên. Những giáo viên ấy trở thành phi công trong những không tập chống Việt cộng, luôn luôn với một người Việt ngồi ghế sau. Số phóng viên báo chí ở Sài Gòn không bao giờ đựoc phép vào sân bay Biên Hòa để xem hệ thống ấy hoạt động như thế nào. Trừ những thời kỳ cao điểm hành quân phải ở lại sở chỉ huy để chi viện máy bay cho sư đoàn, Prevost thích đưa Vann, Ziegler hoặc cố vấn văn phòng 2 Jim Drummond đi thám sát trên chiếc máy bay nhỏ của mình. Vann muốn bay thấp để nghiên cứu mặt đất tốt hơn; Prevost càng muốn xuống thấp hơn nữa sát hẳn ngọn lúa và chỉ bay lên để vượt hàng cây to. Mấy tháng sau Prevost thay đổi nhiệm vụ và người thay thế không biết rõ vùng này. Anh hỏi Vann có bay ở độ cao 500 mét xem như hợp lý để tránh làn đạn vũ khí nhẹ. Vann trả lời : “Cộng tất cả các chuyến bay, thiếu tá Prevost chưa bao giờ tổng hợp đủ 500 mét độ cao trong suốt thời gian anh ở đây”. Xu hướng phiêu lưu trong cuộc chiến tranh này được mở rộng vì sự gắn bó tình cảm mà nhiều cố vấn cảm thấy đối với người Việt Nam : chính vì họ và đất nước họ mà người Mỹ sang chiến đấu ở đây. Các đại úy cố vấn cho những thiếu tá tiểu đoàn ở lại với họ trong trại hoặc khi di chuyển, ăn thực phẩm Việt Nam và chấp nhận những điều kiện sống của các sĩ quan họ đến giúp đỡ. Các trung sĩ đến dạy bắn súng cho lính cũng thế. Các cố vấn của lính bảo an và cảnh sát cùng sống ở trại huấn luyện và đi theo những đội quân địa phương trong hoạt động hằng ngày chống Việt cộng. Những tiếp xúc qua lại ấy đã phát triển tình cảm mến ở người Mỹ. Những người lính Việt Nam tò mò nhổ lông tay người Mỹ mà đối với họ không bình thường vì thân thể họ nhẵn hoàn toàn. Họ xin thuốc lá, cười sằng sặc khi một người Mỹ nhăn mặt lùi lại trước mùi nước mắm ở đâu cũng dùng và thêm đạm tổng hợp vào thức ăn. Họ phá lên cười khi một trong những gã cao lớn người nước ngoài lảo đảo và ngã xuống trong một chiếc thuyền thúng nông dân dùng để qua sông ngòi. Vann đặc biệt mến những người lính ấy trong quân thường trực hoặc địa phương, là những người nông dân như đối thủ Việt cộng của họ. Có lẽ cũng vì thân hình anh tương đối nhỏ, không vượt quá chiều cao trung bình của họ là một mét năm mươi càng làm anh gần họ hơn. Tranh bị Mỹ bao giờ cũng quá rộng, quá nặng đối với họ. Mũ đội trùm mặt; súng bán tự động năm kilô cũng như khoảng năm mươi kilô phải mang suốt ngày. Nhưng điều thán phục nhất ở họ là tính tình vui vẻ và sự dẻo dai. Người ta dễ lầm về vẻ ngoài của họ cũng như của đất nước họ. Tuy mảnh khảnh nhưng họ mạnh mẽ hơn những người dân châu Á khác. Điều ấy không thấy rõ vì quần áo Mỹ che khuất thân hình gân guốc của họ. Nguồn gốc nông dân làm tâm lý họ chai sạn với những cố gắng về thể chất và không bao giờ phàn nàn bởi việc đi bộ lâu dưới nắng nóng. Họ đùa vui với nhau và khi bị thương cũng không kêu van. Khả năng chịu đựng đau đớn hình như do một phần của nền văn hóa. Họ nằm dài, bất động, khẽ rên hoặc cắn răng chịu đau. Vann kết luận họ có tiềm lực trở thành quân lính tốt, xứng đáng chiến thắng trong cuộc chiến tranh này và không thấy đời mình bị hủy hoại. Năm đầu ở Việt Nam John Vann thấy cần thiết có giải pháp tranh chấp bằng quân sự. Vì vậy anh tập trung hoạt động theo ưu tiên đề ra với Porter : tiêu diệt lực lượng xung kích của Việt cộng bằng những đòn tấn công bất ngờ của máy bay lên thẳng. Những toán quân đối phương trước hết là những tiểu đoàn tinh nhuệ cộng sản gọi là “quân chủ lực” mà người Mỹ gọi là “thường trực” và những tiểu đoàn, đại đội tuyển chọn ở địa phương gọi là “quân địa phương”. Những tiểu đoàn chủ lực có khoảng 250 đến 300 người vào cuối tháng Năm năm 1962, phụ trách một vùng hai, ba tỉnh còn quân địa phương nói chung ở tỉnh sở tại. Các cố vấn có xu hướng gộp lại, gọi là “mũ cứng” vì họ đội mũ hình lưng rùa, theo hình ảnh những chiếc mũ thuộc điạ người Pháp dùng ở Đông Dương. Họ làm mũ bằng một chiếc khung tre bọc vải hoặc ni lông xanh. Bộ đội chủ lực và địa phương đều là lính trong thời gian liên tục. Đồng phục của họ do gia đình hoặc phụ nữ có cảm tình trong xóm làng may cho, có thay đổi trong những năm đầu. Họ chiến đấu trong trang phục áo bà ba đen hoặc sơ-mi và quần kaki nhưng những người thường trực cũng được trang bị quân phục chiến đấu màu xanh. Đồng phục thao diễn của Việt cộng mang theo trong những túi trên lưng đề phòng những buổi lễ tiết, nói chung thống nhất : sơ-mi và quần màu xanh đậm thường bán ở chợ. Quân chủ lực phân biệt bởi hiệu quả chiến đấu rất cao và động cơ chính trị, được trang bị những vũ khí tốt nhất lấy của kẻ địch. Tất cả sĩ quan và phần lớn hạ sĩ quan gọi là “khung” đều là đảng viên Đảng cộng sản. Một số tiểu đoàn địa phương chiến đấu ngang với quân thường trực. Trong năm tỉnh thuộc Sư đoàn 7, Jim Drummond ước tính vào cuối năm qua những thông tin thu thập được, có khoảng 2.000 Việt cộng thường trực và 3.000 quân địa phương. Rõ ràng chiến lược cộng sản đã thành công. Việt công ngày càng chiếm được nhiều vũ khí, cho phép họ tấn công nhiều hơn và mạnh hơn. Kết quả là quân bảo an và cảnh sát của chính quyền Sài Gòn trở nên nhút nhát hơn, co cụm lại trong các đồn bốt và trung tâm, ngày càng bỏ nông thôn cho Việt cộng. Vann xác định để ngăn chặn lòng hăng hái cách mạng ấy, phương pháp nhanh nhất là bẻ gãy thanh sắt xung kích. Nếu quân thường trực và địa phương bị giết hoặc tan rã, những người cộng sản không còn sức tập hợp được những lực lượng cần thiết để phục kích những đoàn xe và toán quân Sài Gòn ban ngày tỏa ra trong vùng để cố giữ quyền lực của chế độ. Việt cộng không thể bất thần đột nhập dễ dàng vào các tiền đồn. Trật tự được thiết lập lại từng ít một và có thể tiến lên yên ổn lâu dài. Vann nói “Sự yên ổn có lẽ chiếm 10% của vấn đề hoặc là 90%; dù sao chính 10% của 90% đầu tiên là đáng kể. Không yên ổn, không có gì chúng ta làm tồn tại được lâu dài”. Anh nghĩ càng phát triển quá trình nhấn chìm lực lượng chủ lực và địa phương quân vòng quay chiến tranh càng bất lợi cho Việt cộng. Kết luận này như hầu hết người Mỹ ở Việt Nam thời kỳ ấy dựa vào sự tin chắc rằng nông dân Việt Nam đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị. Việc phần lớn họ trong vùng có vẻ cảm tình với Việt cộng hoặc dửng dưng thể hiện họ không đánh giá cao vấn đề chính trị : nông dân không được bồi dưỡng về lý tưởng, những người Mỹ cho là như vậy. Trừ một số ít đặc biệt than phiền chính quyền địa phương của Sài Gòn, nông dân nghiêng về phía mạnh hơn. Vann càng tin chắc thế vì anh quan sát ở Triều Tiên nông dân hình như không có ý thức chính trị gì. Họ hành động theo quyền lợi của các nhà cầm quyền lúc đó. Anh xác định tất cả những người nông dân châu Á mong muốn trước hết là hòa bình và yên ổn để có thể cày bừa ruộng đất. Họ ít quan tâm những người xây dựng luật lệ và thiết lập trật tự là cộng sản hay tư bản. Khi nông dân thấy những đại đội, tiểu đoàn chiến đấu Việt cộng ngày càng bị tiêu diệt , họ sẽ hiểu những người cộng sản không thắng được. Và nếu Sài Gòn cũng không lừa phỉnh họ, họ sẽ bắt đầu nghiêng về chế độ này. Những thông tin nắm được nhiều hơn vì nông dân sẵn lòng nói. Như vậy sẽ dễ dàng bắt được mục tiêu và tiêu diệt lực lượng Việt cộng còn lại. Những người cộng sản cũng mất cơ sở của sức mạnh chiến đấu : nông dân phân tán trong xóm làng. Việt cộng gọi họ là Đội quân du kích nhân dân. Ban ngày họ là nông dân và ban đêm là chiến sĩ, chiến đấu theo mệnh lệnh của cấp trên hoặc do bột phát. Drummond ước tính trong vùng có khoảng 10.000 người, đại diện một lực lượng đáng kể của đội quân thường trực, địa phương, và chính quyền Việt cộng. Đội quân du kích địa phương ấy là một dự trữ nhân lực, một mạng lưới thông tin khắp nơi, nguồn trinh sát, dẫn đường biết rõ địa dư, thái độ của xóm làng, một lực lượng vận chuyển khí giới, thương binh, người chết trong trận chiến và là những đại diện có mặt mọi chỗ để thực hiện ý đồ của chính quyền cộng sản bí mật. Những người nổi dậy từng lúc ấy trở lại là những nông dân hiền lành trong cuộc sống, Vann đánh giá như vậy. Chính quyền Sài Gòn, được người Mỹ giúp đỡ, có thể tiến hành có hiệu quả giai đoạn sau đây : xác định và bắt giữ những người cộng sản bí mật xúi giục cuộc nổi dậy, lãnh đạo chính quyền bí mật thu hút nông dân phục vụ các đơn vị du kích. Viện trợ kinh tế, xã hội của Hoa Kỳ nhằm giúp dễ dàng tập hợp nông dân. Việc tài trợ khoan giếng lấy nước sạch và xây dựng nhà tiêu góp phần loại trừ ký sinh trùng và các bệnh đường ruột. Những phòng khám chữa bệnh được hình thành, các trường tiểu học chống nạn mù chữ cho trẻ con; lợn Yorkshire thay thế lợn đen, hạt giống tốt và phân bón sẽ tăng sản lượng lúa. Vann cho rằng phải 10 năm để tạo nên một xã hội nông dân với những người nông dân thịnh vượng và một chính quyền địa phương chống lại mọi cố gắng nổi dậy của cộng sản. Và anh nghĩ không cần quá sáu tháng để đè bẹp lực lượng du kích cộng sản phía bắc vùng đồng bằng và bắt đầu chu trình bình định mới trong vùng sống còn này của đất nước. Vann may mắn có Jim Drummond làm sĩ quan thông tin và Ziegler làm sĩ quan tác chiến. Anh lại tỏ rõ đức tính lãnh đạo của mình khi biết giá trị của Drummond và thả lỏng cho anh này hoạt động. Đồng thời anh làm cho công việc của anh ta phối hợp với công việc của Ziegler, như vậy hai người thành nhóm cần thiết để thực hiện chương trình sáu tháng của anh. Sự bí mật bảo vệ những chiến sĩ Việt cộng và hoạt động của chính quyền cộng sản. Chừng nào vị trí địa dư và sự di chuyển của họ còn bí mật, họ có thể tập dượt và chuẩn bị rất an toàn để bất ngờ tấn công. Nhưng, lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh , sự bảo vệ này không còn nữa. Drummond đã cất đi tấm khiên ấy nhờ vào kinh nghiệm thông tin Hoa Kỳ có được qua hai cuộc thế chiến và chiến tranh Triều Tiên. Drummond say mê tìm hiểu về con mồi của mình. Những gì dính líu đến chiến tranh du kích làm anh quan tâm. Anh thu thập những khẩu súng săn Việt công sản xuất thủ công trong các xưởng nhà tranh cung cấp cho những người khởi nghĩa địa phương đến mẫu phỏng sơ đẳng nhưng có hiệu quả như những vũ khí tinh vi như súng tiểu liên Thompson. Thậm chí anh quan sát cách cắt, may đồng phục để xem có khác nhau giữa tỉnh này tỉnh khác, vùng này vùng khác không. Vann ngạc nhiên về sự say mê ấy. Anh hiểu không cần nhắc nhở Drummond như những sĩ quan thông tin khác rằng gạn hỏi tù binh, đọc tài liệu tìm được của địch không đủ mà phải đi thực địa để hiểu kẻ địch và thu thập vô số chi tiết không bao giờ có được ở bàn giấy. Drummond đã hai lần nhận Ngôi sao đồng khi là lính bộ binh ở Triều Tiên, ngay lúc đến vào cuối tháng Tư đã đi hành quân và Vann thường gặp anh ở thực địa. Tuy khôn khéo, những người Việt cộng cũng có điểm yếu : họ trở thành bảo thủ. Chủ nghĩa cộng sản đã dạy họ đừng bao giờ mắc sai lầm về những hành động có thể dự đoán được nhưng là con người, họ là nạn nhân của những thói quen. Những người này tiến hành cũng cuộc chiến tranh ấy, kẻ địch ấy, trên đồng ruộng ấy đã quá lâu nên không khỏi ngã quỵ trước điểm yếu của loài người là thói quen. Drummon đã nhận thấy điều đó từ đầu và nói với Vann. Vann cố nài Cao cho sĩ quan thông tin của ông ta hợp tác với Drummond chính là để khai thác tối đa điểm yếu này của Việt cộng cũng như để kiểm soát sư đoàn tốt hơn. Từ đó Drummond tạo dựng một tổ chức thông tin cho phép Vann đạt thắng lợi trong sáu tháng. Với người phó của mình, một trung sĩ chuyên về thông tin, Drummond giải thích ở Văn phòng 2 của Cao làm thế nào để nắm được một tiểu đoàn và đại đội địch. Rất kiên trì trung sĩ hướng dẫn cho người Việt Nam sắp xếp từng loại báo cáo, tin, báo, thư , bản đồ và những tài liệu khác để khai thác những gì có thể có ích. Tất cả những thông tin đều tập hợp, chọn lọc theo loại cùng hồ sơ, bản đồ và phiếu tham khảo. Nhờ việc tổ chức như vậy, mọi thông tin mới được bổ sung ngay để biết rõ hơn một đơn vị và tiến tới dự đoán hành động của đơn vị ấy. Những đặc điểm đặc biệt được ghi cẩn thận sử dụng như loại vân tay cho phép Drummond theo dõi một phân đội với từng mảng thông tin xem như vô nghĩa. Thời kỳ ấy hỏa lực những tiểu đoàn Việt cộng kém hẳn quân đội Sài Gòn; họ chỉ thu thập lẫn lộn súng đạn của Pháp, của Mỹ lấy được từ binh lính Sài Gòn. Một số tiểu đoàn có một súng cối, những tiểu đoàn khác không có; chỉ hai tiểu đoàn có hai tiểu liên cỡ 30; những đơn vị khác may mắn thì có một. Biểu thống kê vũ khó của họ cho phép đo mức độ đe dọa của họ và dùng làm phiếu chỉ dẫn. Drummond và trung sĩ của anh xây dựng một bảng quân số từng tiểu đoàn và lý lịch các sĩ quan, hạ sĩ trong tiểu đoàn. Cán bộ Việt cộng dùng tên giả để tự bảo vệ nhưng vì họ là người địa phương nên lâu dần cũng biết được lý lịch, tính cách và thái độ của họ. Biệt hiệu cũng giúp cho việc xác định đơn vị. Drummond đôi khi chụp cả ảnh những người chết hoặc thu nhặt ảnh lúc tập kích vào chỗ trú quân của họ. Những người Việt Nam đa cảm dù nguy hiểm họ cũng thích giữ kỷ niệm của bè bạn. Có những trung đội đứng tất cả thành hàng để chụp ảnh như một lớp học sinh trung học. Một hồ sơ đặc biệt được xây dựng để xác định phạm vi hành quân quen thuộc của từng tiểu đoàn hoặc đại đội. Việc họ di chuyển được ghi lại để biết nơi họ thường xuất phát và những xóm họ dừng lại trong những buổi tuần tra. Drummond cũng quan tâm đến con đường họ dễ rút lui nếu bị tấn công. Drummond phát hiện thấy người Việt Nam cùng làm nhiệm vụ, đại úy Lê Nguyên Bình, một giáo dân miền Bắc di cư vào Nam sau thất bại của Pháp năm 1954, là một sĩ quan quá đắn đo bị Cao và người Mỹ đánh giá thấp. Anh thân mật và chỉ đề nghị trao đổi thông tin. Trước đây người ta ít chú ý đến anh ta, thậm chí Cao không phản đối sự hợp tác vì không có sĩ quan Mỹ chuyên trách thông tin bên cạnh. Không có người nào Cao có thể tin tưởng về nghiệp vụ báo cáo với ông ta những đức tính của Bình. Những thông tin Drummond và trung sĩ trao đổi với Bình quá sơ sài và có những lỗ hổng lớn. Drummond ngạc nhiên về sự xác đáng trong hồ sơ của Bình. Anh cũng ngạc nhiên được biết anh bạn Việt Nam bố trí một hệ thống có hiệu quả về những người đưa tin bí mật. Bình xây dựng đã một năm và tự điều hành, sợ thành viên trong nhóm có cán bộ cộng sản thâm nhập. Anh trả lương những người do thám của mình do một quỹ đen theo chế độ thực hiện trong quân đội Pháp. Người đưa tin có hiệu lực nhất của anh là một lái trâu, có lý do đi khắp miền Bắc vùng đồng bằng để mua bán trâu cho nông dân Việt Nam. Ông ta ra vào vùng Việt cộng kiểm soát không bị nghi ngờ gì. Ông cũng có thể được cử đi xác định nguồn tin của những người khác hoặc thu thập một tin tức cụ thể. Vann sử dụng một nguồn thông tin khác: nhà truyền giáo đạo Tin lành tại Mỹ Tho. Cũng như các đồng sự, ông ta nghĩ phải tuyên truyền chống cộng sản đồng thời với truyền đạo. Ông phấn khởi trao đổi với Vann thường kỳ đến tiếp xúc những gì ông biết được qua giáo dân các thành phố ngoại vi. Do lo ngại về an toàn, những người Việt cộng thường tự để lộ mình. Khi họ tập trung trong một xóm làng để nghỉ họ giáo dục dân chúng hoặc khi chuẩn bị tấn công, họ có thói quen hạn chế hoạt động của dân. Nếu chính quyền Sài Gòn cảnh giác, việc giảm số lượng nông dân đi chợ là một chỉ dẫn có Việt cộng trong vùng. Như mọi tổ chức quân đội tốt, Việt cộng chú trọng vào hiệu quả. Qua năm tháng họ thu xếp thuyền bè để có chỗ rộng rãi hơn. Những hộp, xoong chảo, bì gạo, củi dự trữ hoặc lọ nước mắm được thu gọn về phía trước để phía sau có chỗ ngồi hay nằm. Như vậy không khó khăn gì thấy rõ những chiếc thuyền ấy không phải của nông dân. Những trại huấn luyện và bệnh viện thường trực được ngụy trang cẩn thận trong rừng Đồng Tháp Mười gần biên giới Campuchia ở phía tây. Những cơ sở khác ở phía đông trong lau lách đầm lầy, rừng cọ, rừng dừa rất khó vào. Họ cũng có thể ẩn nấp trong rừng hoặc đầm lầy khi dừng lại ngủ trong quá trình hành quân vì mỗi Việt cộng mang theo một chiếc võng mắc vào hai cây. Nhưng sức khỏe không đảm bảo nếu ngủ mãi ngoài trời trong một đất nước gió mùa dễ nhiễm bệnh sốt rét và nhiều loại côn trùng và muỗi. Hơn nữa theo lý thuyết cộng sản họ chỉ có thể sống khi cùng ở với nông dân. Vì vậy những lúc có thể họ ngủ trong xóm làng. Để không là gánh nặng cho nhân dân những vùng đông người, họ xây dựng các trạm, các chỗ ở chắc chắn. Những đường có hầm hố là những nới nhân dân tập trung do họ kiểm soát và như vậy dễ dàng thấy họ dừng lại chỗ nào. Lúc đầu những ngôi nhà họ làm giống như nhà nông dân nhưng nếu chú ý người ta phát hiện ra không có vật nuôi xung quanh, không trồng trọt gì trừ đôi khi có một mảnh vườn nhỏ. Việt cộng không biết, dấu hiệu vô hình những hoạt động của họ bị do thám trên bầu trời nắm bắt. Việc do thám điện tử của quân đội Hoa Kỳ bắt đầu hoạt động khắp nước Việt Nam vào năm 1962 dưới tên mật mã vô tư là “đơn vị nghiên cứu sóng điện thứ ba”. Tháng Sáu quân số trong đơn vị lên đến 400 kỹ thuật viên mà đa số hoạt động ngoài vùng quân sự của sân bay Tân Sơn Nhất gần Sài Gòn. Họ dùng những máy bay De Havilland để di chuyển trong rừng thưa. Tên cốt “Rái cá biển” cũng vô tư như thân hình một động cơ dài và nặng của nó. Nhưng nó chở cả một toán chuyên gia trang bị dụng cụ rất tinh vi về truyền tin và định vị trực tiếp. Những máy bay này quay vòng nhiều giờ trên trời cao ở những vùng nghi có Việt cộng để bắt và ghi làn sóng địch. Việt cộng dùng những máy phát Mỹ cũ thời Thế chiến thứ hai lấy được của lực lượng Sài Gòn hoặc Pháp. Họ phát ra tiếng nếu liên lạc trong địa phương nhưng dùng tín hiệu mooc với những chấm, gạch nếu phải truyền đi xa. Những truyền tin của họ đều theo mật mã, hạn chế đến mức tối thiểu nên họ nghĩ là an toàn. Nhờ “Rái cá biển” người Mỹ không chỉ giải mã được cốt của họ mà những buổi truyền tin cũng tự phản lại họ. Mỗi người đánh mooc theo một nhịp điệu khác nhau. Giọng nói cũng thế, mỗi khi ghi được, có thể so sánh và xác định được. Mặt khác những buổi truyền tin điện tử thay đổi theo từng trạm. Những phương pháp tinh vi của người Mỹ cho phép bắt làn song, phân tích và chọn lọc những loại thông tin dó. Kết quả truyền về cho Drummond theo một bản đặc biệt. So sánh dữ liệu của việc do thám điện tử này với những thông tin khác thường biết được một trạm phát sóng thuộc về một đại đội hay tiểu đoàn cụ thể. Do những do thám trên trời phần lớn định vị được những tin tức phát đi, dễ dàng theo dõi hoạt động của một đơn vị và vạch rõ lên bản đồ. Với tất cả những thông tin từ những nguồn khác nhay, Drummond bắt đầu làm rõ tình hình và cung cấp cho Vann những tin tức chiến thuật mới về vị trí và ý đồ của một số đơn vị thường trực hoặc quân địa phương. Dù những điều đó nhiều khi bị hạn chế, Vann biết khá đủ để từ tháng Sáu bắt đầu một cuộc tấn công có hệ thống. Những do thám từ bầu trời cũng cho phép Vann có kế hoạch tấn công có hiệu quả hơn. Những người cộng sản Việt Nam không còn lợi dụng được lợi thế của thời gian và địa hình như thời kỳ chiến tranh chống Pháp và chống Diệm trước khi có sự can thiệp từ Mỹ. Trước kia họ có thể ẩn nấp trong những pháo đài tự nhiên không đột nhập được. Đặc biệt vùng Đồng Tháp Mười, vùng sư đoàn Vann, có những vùng kín đáo nhất và nổi tiếng nhất. Vùng đầm lầy rộng lớn, lau sậy cao bằng đầu người, cây bụi và rừng bao trùm phần lớn hai tỉnh tây bắc đồng bằng sông Cửu Long gần Campuchia. Vùng này không có đường vào, rất ít dân cư vì đất sét đen chua phèn không thích hợp trồng lúa tuy hàng năm nước sông tràn ngập. Để tới được một chỗ nương náu của Việt cộng phải hai, ba ngày đi bộ mệt nhọc. Những địa điểm Việt cộng bố trí trong vùng dân cư đông cũng tránh được bị phát hiện bất chợt. Nhờ hệ thống báo động của những người nông dân có cảm tình, họ được biết trước nhiều ngày, ít nhất cũng nhiều giờ trước khi các toán quân Sài Gòn đến. Máy bay lên thẳng cho phép vượt qua rào cản địa hình, giảm thiểu thời gian và cố gắng trong những ngày kiệt sức. Hầu hết những chỗ ẩn náu của Việt cộng cách tỉnh lỵ hoặc thị trấn do chính quyền Sài Gòn kiểm soát ít nhât 30 cây số. Những máy bay lên thẳng H-21 Shawnee quân đội Mỹ gửi sang Việt Nam là những máy móc lỗi thời, thừa hưởng của chiến tranh Triều Tiên giống như một đoạn ống to có hai rô-to lớn trước và sau mà phi đoàn gọi là “quả chuối bay”. Dù sao cũng là một máy bay lên thẳng có thể chở một tá lính, mỗi giờ bay 120 cây số với bán kính 30 cây số trong 15 phút. Loại mới hơn , H-34 Choctaw Hải quân được mệnh danh “cá ngựa”, giống như một con nòng nọc, chở số lượng lính với bán kính như vậy trong 13 phút, bay 140 cây số mỗi giờ. Mười bốn máy bay lên thẳng đủ để vận chuyển đơn vị tấn công, thông thường một nửa tiểu đoàn 165 người cùng vũ khí, trang bị, tiếp tế trong vài ngày. Nửa giờ sau, máy bay trở về với một lực lượng can thiệp thứ hai, đổ quân dọc đường Việt cộng rút lui hoặc lẩn tránh. Họ chỉ được báo động vào phút chót nếu phi công bay sát ngọn cây vào những cây số sau cùng vì tiếng động máy bay hướng về mặt đất. Công nghệ Mỹ còn cung cấp cho Vann một loại máy khác làm Việt cộng kinh hoàng khi gặp phải. Đấy là một hộp hình chữ nhật cơ động, bọc hợp chất nhôm với những cánh mở và cửa, trang bị một động cơ mạnh tác động vào các vòng sắt bọc bánh xe mỗi bên. Phương tiện chuyên chở quân bọc hợp chất M.113 này gắn liên thanh hạng nặng cỡ 50 ở phía trước. Một tá chiến cụ này chuyển về sư đoàn trong tháng Sáu có thể vận chuyển một đại đội 140 người. Con quái vật di chuyển trên cạn hoặc lội nước 10 tấn này qua những ruộng ngập nước với 15 thậm chí 30 cây số mỗi giờ, vòng sắt nghiến nát bờ ruộng và chồm lên khi gặp trở ngại. Không có vũ khí chống tăng , không loại đạn nào của súng máy Việt cộng có thể xuyên thủng lớp vỏ bọc. Đại đội bộ binh theo hiệu lệnh nhảy ra từ cánh cửa sau và tấn công dưới sự yểm trợ ghê gớm của 12 súng máy hạng nặng. Đại tá Cao ngày càng hài lòng và hợp tác dần dần theo số lượng Việt cộng bị giết và vũ khí bắt được tăng đều đặn. Vann chắc chắn có thể thực thi những yếu tố cuối cùng của kế hoạch đưa Sư đoàn bộ binh thứ 7 “đúng như một sư đoàn Mỹ”, mở một trận hủy diệt không thương tiếc tất cả những tiểu đoàn thường trực và địa phương ở mạn bắc vùng đồng bằng. Chỉ còn biến Cao thành một chỉ huy hiếu chiến. Để đạt một trận tầm cỡ ấy, Vann phải tạo Cao, theo ngôn từ của chính anh, thành một “con hùm của Việt Nam”. Nhưng vấn đề là Cao không có gì ra vẻ một con hùm. Ông ta chỉ giống một con mèo rừng ở hình dáng béo nhờn và tính cách ranh mãnh. Ông ta thiếu móng vuốt. Vann nghĩ có một cách khắc phục thiếu hụt ấy. Anh sẽ là đối thủ với người hùng của anh, Lansdale. NGƯỜI MỸ TRẦM LẶNG, một cuốn tiểu thuyết đã tô điểm cho huyền thoại Lansdale và tác động đến Vann, thực tế là một tài liệu tuyên truyền chính trị “viết như viễn tưởng nhưng dựa vào những sự việc” để cảnh báo người Mỹ rằng Hoa Kỳ đang thất bại trước chủ nghĩa cộng sản trong cuộc chiến lý tưởng của những người Á Châu. Xuất bản năm 1958, cuốn sách được bán chạy nhất rồi lên phim, được xem như một mẫu mực chính trị nghiêm túc trong những năm 60. Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết nhận thấy những nhà chiêm tinh học cũng được kính trọng như những nhà bác học ở Mỹ và không người lãnh đạo nào có một quyết định quan trọng mà không hỏi nhà chiêm tinh học của mình. Do vậy ông ta có thể thao túng những sự kiện chính trị bằng cách thuyết phục thủ tướng là nhà chiêm tinh học giỏi nhất thế giới. Cũng như nhân vật chính trong sách sử dụng chiêm tinh học, Vann dùng tính kiêu ngạo để biến Cao thành hùm và để những người cộng sản Việt Nam hứng chịu hậu quả. Huỳnh Văn Cao, 34 tuổi vào mùa hè năm 1962, được bổ nhiệm cầm đầu một sư đoàn lúc 29 tuổi. Một kẻ được thăng chức rất nhanh ở bất cứ một quân đội nào. Được một nhà báo Mỹ hỏi về việc được thăng chức nhanh chóng đáng ngạc nhiên, ông ta đưa gậy chỉ vào mình và nói “Trực giác chỉ huy!”. Gian “phòng chiến tranh” của ông trên tầng một ngôi nhà ở là bản sao phòng tác chiến của Napoléon. Để sự bắt chước được hoàn hảo, cửa chính phải mở giữa tấm bản đồ phủ kín tường, vào đúng tỉnh quan trọng nhất trong vùng. Ông ta có viết tự truyện dưới dạng một cuốn tiểu thuyết nhan đề LỚN LÊN TRONG LỬA ĐẠN. Ông thích huyênh hoang và không bao giờ rời chiếc gậy nhỏ bằng gỗ ngoại màu sẫm đánh bóng kỹ. Nhan đề cuốn tự truyện của Cao có phần lừa phỉnh. Ông không tham gia nhiều trận đánh và không bao giờ chọn binh nghiệp vì không có thiên hướng gì. Ông thiếu can đảm và bình tĩnh. Trong một cuộc hành quân, đầu óc quá căng thẳng ông ra khỏi lều chỉ huy để nôn và ra lệnh pháo thôi bắn chặn yểm trợ một đơn vị bộ binh tấn công Việt cộng. Ông bảo tiếng ồn làm ông bệnh. Qua đào tạo hời hợt trong quân đội Pháp và Mỹ, ông có vẻ thông thạo về quân sự, nhưng không có tính chiến đấu. Trí thông minh và sự pha trò lừa gạt gây ấn tượng cho những tướng Mỹ đi thanh tra vì họ không bao giờ gặp ông lúc căng thẳng. Bằng cách nào thì sự thông thạo không dính líu gì đến việc thăng tiến như chớp và việc ủy nhiệm ông ta chỉ huy Sư đoàn 7 hai bên con đường chính cách thủ đô Sài Gòn 50 cây số. Ông được chỉ định vì quê quán miền Trung, là giáo dân, sinh ra và được nuôi dạy ở cố đô Huế, thành phố gắn với Diệm. Ở đó bố mẹ anh ta quan hệ thân mật với họ Ngô Đình. Như phần lớn con cái nhà quan hợp tác với Pháp trong Thế chiến thứ hai, ông chọn nghiệp binh vì đây là nghề duy nhất có vị trí trong một đất nước không dùng đủ nhân lực chứ không phải vì ông muốn chiến đấu. Ông nhanh chóng được thăng cấp trong quân đội Nam Việt Nam dưới thời Pháp, trở thành một chỉ huy đại đội rồi sĩ quan tham mưu một tiểu đoàn. Những chức vụ ấy chỉ là hình thức, thực tế không dựa vào năng lực chỉ huy và kinh nghiệm chiến đấu vì người Pháp bị người Mỹ thúc ép xây dựng nhanh một quân đội bản xứ, không có thì giờ làm cho dạn dày hoặc thử thách các sĩ quan trẻ. Cao được Diệm chú ý năm 1954 khi được bổ nhiệm vào văn phòng một tiểu đoàn bảo vệ quyền lợi tổng thống đấu tranh với những đối thủ không cộng sản, có Lansdale hướng dẫn. Diệm lấy Cao về phủ tổng thống đưa vào ban tham mưu của mình, mấy tháng sau cho làm chỉ huy trưởng. Diệm cho rằng hai năm giúp việc ở phủ tổng thống và thái độ trước đây của gia đình Cao là sự chuẩn bị tốt nhất cho việc nhận trách nhiệm phụ trách một Sư đoàn. Trước hết, vào năm 1957 Cao được giao những đơn vị nhỏ hơn, sau đó ông theo một lớp thực tập đào tạo ba tháng ở Hoa Kỳ rồi được bổ nhiệm chỉ huy Sư đoàn 7 bộ binh. Cao có trách nhiệm chủ yếu là lúc nào cũng sẵn sàng nhảy về Sài Gòn để cứu tổng thống và gia đình nếu có những toán quân đội không phục tùng làm đảo chính như các sĩ quan dù tháng Mười một năm 1960 đã làm không thành. Diệm bố trí một hệ thống liên lạc đặc biệt bằng điện đài trực tiếp với Cao và những chỉ huy sư đoàn khác cùng các tỉnh trưởng. Không phải chỉ vì để gia đình ở lại Sài Gòn mà cao biến nhà ở của mình thành một tổng hành dinh thực sự, có hệ thống liên lạc thứ hai giống như một hệ thống của sư đoàn trong trại lính Pháp cũ; nhà ông ta có thể dùng làm cơ sở chỉ huy trong trường hợp cấp dưới phản bội, chiếm lấy ban tham mưu chính thức. Về lý thuyết Cao nhận mệnh lệnh của thiếu tướng lữ đoàn trưởng đồng cấp với Porter ở Ban tham mưu Sài Gòn. Trên thực tế Cao trực tiếp với Diệm và không quan tâm đến những chỉ thị không phù hợp với tổng thống. Giải thích sự sùng báo tổng thống, ông ta nói “Cụ là hoàng đế của tôi!”. Hoàng đế của Cao là một người quỷ quyệt, bố trí một loạt thiết bị an ninh. Dù Cao là một sĩ quan tin cậy, khác với thiếu tướng lữ đoàn trưởng không kiểm soát được những đội quân của ba sư đoàn trong Quân đoàn mình, ông ta không vì thế mà không bị những sĩ quan cấp dưới dị nghị. Thiếu tướng tỉnh trưởng Mỹ Tho cũng cầm đầu một liên đội xe bọc thép của sư đoàn. Diệm chỉ định ông ta để bảo vệ mình trong trường hợp Cao có những ý nghĩ đáng lo ngại hoặc sẽ tuột khỏi tay mình vì một lý do nào đó. Xe tăng có thể bảo vệ hoặc giết chết tổng thống. Thiếu tướng thuộc một gia đình địa chủ ở đồng bằng sông Cửu Long liên kết với họ Ngô Đình. Ông là một người anh em họ nhưng rất thân với một sư đoàn trưởng khác đã đưa quân đến cứu Diệm năm 1960. Như những tỉnh trưởng khác, thiếu tướng tỉnh trưởng Mỹ Tho báo cáo trực tiếp với tổng thống, về nguyên tắc “lãnh đạo dân sự”. Mùa hè năm 1962, Vann xác định rõ những điểm yếu của Cao cũng như tình trạng lộn xộn theo ý muốn của chính quyền không ngăn cản anh biến Cao thành một chỉ huy quân sự ngổ ngáo. Anh nghĩ nếu làm cho Cao có vẻ một con hùm, tính kiêu ngạo buộc ông ta chơi vai trò đó cho dù ông ta chỉ là một con mèo đực lớn. Trong những tháng Sáu và Bảy mỗi lần sư đoàn giết được vài chục Việt cộng, Vann tâng bốc Cao và những đức tỉnh chỉ huy trưởng của ông ta. Anh ca ngợi Cao ngay trước mặt các nhà báo đến lấy tin còn Cao mỉm cười lắng nghe. Từ cuối năm 1962 chính quyền Kennedy bãi bỏ lệnh cấm các nhà báo đi theo những cuộc tấn công của máy bay lên thẳng và những cố vấn khi đi hành quân. Không bao giờ Vann nói công khai bất cứ điều gì làm lộ cách chơi của anh. Ngược lại trong bữa ăn tối sau buổi lễ ở chủng viện đêm trước cuộc hành quân anh khuyên báo chí “nhấn mạnh mặt tích cự” để khuyến khích đồng minh. Faust, Ziegler và những sĩ quan khác thích thú thấy Vann tác động Cao trong một cuộc hành quân. Để Cao chỉ huy như anh muốn, Vann dùng chiến lược “Tôi biết điều ông sẽ làm sau đó vì ông là người chỉ huy như vậy”. Trước khi Cao kịp hỏi anh muốn nói thế nghĩa là gì, Vann nói là đã nghe Cao nói về kế hoạch tấn công tiếp theo. Phần nhiều Cao mỉm cười và xác nhận : đúng, tôi đã nghĩ vậy và ra lệnh như Vann mong đợi. Nếu Cao không đồng tình gợi ý của Vann, ông ta vẫn mỉm cười thân mật và nói có ý kiến hay hơn. Vann không chấp nhận tất cả nhưng anh giữ ý không phản bác trước mặt quan chức Mỹ hoặc Việt Nam. Anh dành lại sau đó nói riêng với Cao, Vann giật dây con rối không uổng công. Thái độ của Cao chứng tỏ điều đó. Ông ta trở nên kiêu căng, tự mãn hơn nhưng cũng biết có thể thăng tiến trong nghề nghiệp nhờ vào hình ảnh của người anh hùng Vann đưa ông ta lên và nhờ thực tế sư đoàn ông giết nhiều Việt cộng hơn những sư đoàn khác. Vann tâm sự với Ziegler chắc chắn kế hoạch sẽ đưa lại kết quả khi anh đánh một cú mạnh để tiêu diệt quân du kích. Theo nhịp độ Việt cộng bị đánh mãi, mỏi mệt, có ngày họ vi phạm một sai lầm nghiêm trọng, khi cố gắng thoát khỏi một cuộc tấn công bằng máy bay lên thẳng. Ngày hôm ấy Vann dự kiến giết hoặc bắt sống một tiểu đoàn khi tiêu diệt các đại đội tập trung ở cuộc chiến. Anh hình dung khả năng một cuộc thắng lợi nhờ xác định trong tháng Sáu một cuộc tấn công đặc biệt và thuyết phục Cao ra quân vào tháng Bảy. Anh chuẩn bị chỉ cho Việt cộng thấy bóng tối không phải chỉ dành riêng cho họ. Lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh này anh tung ra một cuộc tấn công bằng máy bay lên thẳng ban đêm gây bất ngờ cho địch trong giấc ngủ trước khi trời sáng. Vann càng tin cuộc hành quân thành công vì bây giờ Cao đã đủ tin anh để mạo hiểm, điều mà không bao giờ ông ta chấp nhận. Khi Vann đưa ra dự kiến đầu tháng Bảy, với lời khuyến cáo quen thuộc “Phải khôn ngoan!”, Cao chấp nhận nhưng cố gắng có một sự lựa chọn về mục tiêu Vann nêu lên. Với Prevost lái máy bay, Vann đi quan sát theo lời đề nghị của Cao. Anh chỉ thấy một số lều có thể thỉnh thoảng hơn một chục chiến binh Việt cộng tập hợp tại đó. Anh phỉnh Cao để làm ông ta đổi ý và trấn an rằng những đơn vị tấn công sẽ không bị tổn thấy. Cao càng lo ngại rõ rệt vì những chỗ Vann chọn để đổ bộ ban đêm và ngày tiếp đó xa tầm pháo bắn. Các toán quân đành dựa vào máy bay tiêm kích – ném bom yểm trợ. Hy vọng của Vann càng tăng vì cuối cùng thuyết phục được Cao chấp nhận mức độ mạo hiểm hơn bình thường. Vann hy vọng tấn công và lần này xóa sổ Tiểu đoàn 504 quân đội thường trực Việt cộng, một trong hai đơn vị bị thiệt hại nặng trong cuộc hành quân ngày 23 tháng Năm do Ziegler lên kế hoạch. Một toán quân Tiểu đoàn 504 sống sót sau trận đánh cuối tháng Năm xin hàng và xin ân xá. Diệm không cho phép một ân xá nào đó đối với Việt cộng cùng đồng minh của họ và việc xin hàng không có trả lời. Drummond theo dõi dấu vết tiểu đoàn đến đầu Đồng Tháp Mười. Theo một số thông tin, những bộ phận của tiểu đoàn kia bị đánh tan tác ngày 23 tháng Năm có thể sát nhập vào 504. Drummond biết tất cả các đơn vị ấy đang được tổ chức lại và đang trong thời kỳ huấn luyện nhưng một trong các đại đội của 504 được nông dân cảm tình nuôi dưỡng ở nhiều làng trong vùng hợp lưu hai con sông nhỏ cách biên giới Campuchia 15 cây số. Họ chuẩn bị vào đêm tới sẽ rời nơi ẩn nấp, tấn công tiền đồn bảo vệ một trang trại nông nghiệp lớn của giáo dân miền Bắc di cư. Drummond đánh giá có một đại đội thường trực và quân địa phương tập trung gần các làng trên tiếp sức cho cuộc tấn công và có khả năng phát hiện ra những đơn vị khác trong những cuộc đổ bộ ban ngày tiếp theo. Vann chọn nơi hợp lưu làm điểm đổ bộ ban đêm vì những tin tức về đại đội ở đó còn mới và đầy đủ được Drummond thu thập mà cũng vì vùng chữ Y hai con sông tạo thành phi công dễ xác định hơn trong bóng tối. Để kiểm tra lại, Vann đi thám thính lần cuối bằng máy bay lên thẳng cùng Drummond và ra lệnh cho những phi công khác bay qua hai lần ở độ cao 500 mét, cách nhau 10 phút để Việt cộng nghĩ là chuyến bay thường lệ chứ không nhằm theo dõi họ. Drummond ngồi xổm ở cửa mở, cầm chắc chiếc máy chống gió chụp nhiều bức ảnh còn Vann hỏi phi công có phân biệt rõ đoạn nối hai con sông trong ánh sáng mờ không. Họ đều xác nhận được. Đại úy Bình, đồng nghiệp với Drummond ở sư đoàn biết một thợ ảnh Mỹ Tho. Anh đưa phim in ra cỡ 25 x 20 và phân phát cho phi công, những người có trách nhiệm về trận đánh và các đại đội trưởng để họ nhận rõ mục tiêu. Cuộc đổ quân ban đêm đầu tiên này sẽ tiếp theo năm cuộc khác nữa với mục đích bắt gọn mọi Việt cộng tìm cách chạy về hướng Bắc và sau đó do thám những điểm đáng nghi ngờ dọc một con kênh chảy về phía tây tới Campuchia. Trạm chỉ huy của Cao sẽ cách Mỹ Tho 60 cây số về tây bắc trong lán trại một đường bay đổ quân ở Mộc Hóa, gần mấy nhà tranh, trại gỗ, xung quanh một nhà thờ,một ngôi chùa và nhà ở của tỉnh trưởng . Ở đây Vann giữ ba đại đội dự phòng. Vann và Cao thống nhất để khi con mồi đứng lên, quân dự phòng sẽ tung ra phía trước Việt cộng để tiêu diệt họ. Với khoảng ba chục máy bay lên thẳng họ sẽ nhanh chóng di chuyển quân lính trên khu vực không có lau sậy đầm lầy này. Dĩ nhiên một số đổ quân không hiệu quả gì. Quân lính sẽ là dự phòng và máy bay lên thẳng lai bốc lên đưa tới những vùng săn lùng Việt cộng trốn chạy. Cuộc đổ bộ đầu tiên tiến hành với loại máy bay mới H-34 Choctaw có trang bị bay đêm. Vào lúc năm giờ sáng ngày 20 tháng Bảy năm 1962, mười sáu chiếc H-34 lượn trong đêm trước khi lần lượt đổ xuống cánh đồng Mộc Hóa được giới hạn bằng những điểm sáng. Vann và các cố vấn đã bố trí đốt lửa những xô đựng cát tẩm dầu xung quanh khu đất. Máy bay đến từ cơ sở Hải quân trên sân cũ của máy bay tiêm kích Nhật trong Thế chiến thứ hai ở Sóc Trăng mạn đồng bằng phía dưới. Hai đại đội lính Việt Nam mà một được trang bị súng bắn nhanh Armalite, được tâp hợp tại đây một ngày trước. Tổ chức lại thành ba trung đội tấn công, binh lính xếp theo hàng cách nhau đều đặn từng nhóm 12 người mỗi máy bay. Sau một cuộc hội ý nhanh của cố vấn với phi công, động cơ khởi động và những ngọn lửa xanh, vàng từ ống xả lại chọc thủng màn đêm. Cánh tay gập lại trước mặt chống cát bụi cánh quạt tung lên, những người lính bộ binh Nam Việt Nam nhỏ thó trèo lên khối máy bay. Bên trong ánh sáng yếu ớt từ tấm bảng điều khiển và những chiếc đèn vàng của buồng lái. Họ ngồi bệt xuống, đưa một tay vịn vào nhau hoặc nắm lấy dâi đai ni-lông dọc theo thành máy bay. Mặt khác họ cố giữ súng khỏi rơi hoặc tránh cụng đầu vào nhau trong lúc phi công mở hết tốc lực. Tiếng ồn dội lại từ buồng lái rung lên. Sau va chạm và đung đưa, máu bay lên thẳng nghiêng về phía trước để bốc lên tiếp nối nhau thành hàng với ánh đèn nhấp nháy trong đêm. Lính Việt Nam sợ hãi. Có thể thấy nỗi sợ trên mặt họ. Ngược lại các đại úy Mỹ phấn khích vì sắp sửa hành động. Cũng như Vann và đồng nghiệp trong năm đầu này, họ nghĩ bây giờ đi chiến đấu để đến ngày thắng lợi vì lợi ích của đất nước. Bốn mươi lăm phút sau họ xác định được ánh sáng xanh hình chữ Y nổi lên qua mảng sẫm cây cối bao quanh những ngôi nhà dọc theo bờ sông. Máy bay hạ xuống ba điểm lựa chọn ở chỗ nối hai con sông, tắt đèn báo để không làm bia cho một Việt cộng tình cờ gặp báo động. Sĩ quan Sài Gòn và các đại úy Mỹ hét lên để át tiếng động cơ và binh lính đứng dậy ra trước cửa. Bánh xe bắn tung nước ruộng vào sáu giờ ba phút, 15 phút trước bình mình; 200 người nhảy xuống nước đến đầu gối, bắt đầu lội đến các ngôi nhà. Phi công bốc lên, lại bay về phía đông và khu Mộc Hóa cách 25 cây số, đến gặp lại 13 “quả chuối bay” từ Tân Sơn Nhất tới để lấy quân vận chuyển tiếp. Trong lúc đó một chiếc hai động cơ C-47 bay trên đầu những người tập kích, thả pháo sáng như mặt trời nhân tạo xua tan bóng đêm cuối cùng. Vann hình như chơi không may. Xóm làng chỉ còn đàn bà, trẻ em và người già. Ngồi ở ghế sau chiếc máy bay quan sát Cessna để dò tìm Việt cộng suốt đầu buổi sáng và điện thoại liên lạc với các cố vấn của mình, Vann rủa thầm nghĩ rằng cuộc tấn công ban đêm đầu tiên này được lính thủy đánh bộ thực hiện với biết bao công phu đã không đưa lại kết quả gì cả. Đại đội của Tiểu đoàn 504 mà Drummond tưởng ở chỗ hai con sông giao nhau đã đi từ hôm trước. Một trung đội lính địa phương ở trong một xóm đã thoát theo dọc sông; thực ra máy bay lên thẳng của quân đội từ Sài Gòn đến chậm nửa tiếng làm lỡ cuộc đổ quân biệt kích có nhiệm vụ chặn đường. Vann trở về Mộc Hóa cố gắng giải quyết tình huống bất ngờ này và cho tiếp tục chuyển quân. Anh không tìm được giải pháp và cuộc tập kích tiếp theo chậm mất hai tiếng rưỡi. Giận sôi lên, anh thấy người ta vạch một con số không trên bản đồ. Cuộc đổ quân thứ tư nhằm mục tiêu hai xóm cách 11 cây số phía trên, dọc con kênh từ con sông đi về hướng tây và Campuchia. Vann chọn địa điểm này vì anh cho rằng Việt cộng có thể xây dựng cơ sở ở đây, thuận lợi vận chuyển đường thủy. Sử dụng hai mươi chín máy bay lên thẳng hiện có, anh lần lượt đưa đi hai lực lượng tấn công vào phía bắc các xóm lúc chín giờ năm mươi phút sáng. Họ gặp 150 quân nổi dậy. Lần này Vann ở lại trạm chỉ huy. Liên lạc điện thoại cho anh biết một số Việt cộng bắn súng tự động và phần lớn mặc đồng phục ka-ki, điều gần như chắc chắn đây là đội quân thường trực. Kết quả, thông tin của Drummond là chính xác. Vann bù lại cho sự thiếu hụt cụ thể bằng dùng địa hình phát hiện Việt cộng có thể ở chỗ nào và dựa vào kỹ thuật thăm dò của Ziegler để thẩm tra linh cảm của mình. Những người Việt cộng thấy pháo sáng trong những buổi tập kích ban đêm và quan sát máy bay lên thẳng trong những cuộc đổ quân ban ngày. Phản ứng đầu tiên họ nghĩ là mạng lưới dăng ra không đủ xa để với tới họ và nếu ở nguyên tại chỗ sẽ an toàn hơn phân tán ngay từng toán nhỏ về phía biên giới Campuchia cách đấy bảy cây số về phía bắc và chỉ ba bốn cây số về phía tây dọc theo con kênh. Lầm lỗi đầu tiên ấy nghiêm trọng hơn khi họ phạm một sai lầm không tha thứ được trong chiến tranh; chạy đến chỗ tàn sát quân địch đã chuẩn bị. Tấn công gần biên giới, Vann biết xu hướng Việt cộng sẽ chạy sang Campuchia. Họ đã đào những hầm trú ẩn cá nhân ngụy trang kín dưới những rặng cây, bờ bụi trên đường. Đáng lẽ sử dụng những hầm đó chống cự chờ đến đêm có cơ hội thoát ra, họ sợ hãi sau loạt đạn đầu như Vann dự kiến, bỏ chỗ ẩn được che phủ chạy lộn xộn hy vọng tìm nơi an toàn. Năm phút sau cuộc đổ quân thứ tư, một người quan sát Việt nam trên máy bay nhận ra một đoàn khoảng 100 Việt cộng chạy lộ liễu qua cánh đồng lau lách cao 60 phân đến hai mét, ngập nước gần một mét. Có những người lội giữa lau sậy, những người khác chống những con thuyền nhỏ chở hơn một chục đồng đội. Người quan sát đề nghị cho gọi máy bay tiêm kích – ném bom. Đây là lúc Vann đã chờ đợi từ tháng Năm. Anh gợi ý với Cao để máy bay quần cho đến lúc máy bay lên thẳng chuẩn bị đủ nhiên liệu và đưa đơn vị dự phòng thứ nhất đến để bắt đầu bao vây tiêu diệt. Cao không bao giờ chống đối một cuộc tập kích không quân. Ông ta ra lệnh. Đạn súng máy cỡ 50 và ca-nông 20 ly trên máy bay xả xuống làm bắn tung nước. Đạn rốc-két nổ trên những chiếc thuyền bay từng mảnh. Những thùng nhôm chứa bom napalm lần lượt rơi xuống vỡ ra trong lau sậy trùm lên Việt cộng một chùm hoa vàng. Nhìn từ bầu trời quang cảnh đẹp lạ lùng. Trong ánh sáng xanh buổi sáng người ta không hề ý thức đến nỗi kinh hoàng bên dưới trong lò lửa. Trên những chiếc máy bay theo đúng lệnh chỉ huy, với vũ khí không thể chiến bại, người ta có cảm giác vui thích đầy sức mạnh. Phi công hiếm khi biết một cuộc săn lùng nào đẹp hơn. Điện đài thường xuyên vang lên những tiếng nói phấn khích bằng ngôn ngữ Việt Nam, Pháp, Anh hoặc trao đổi với người quan sát điều khiển tầm bắn. Máy bay cánh quạt của họ, Skyraider và Trojan phù hợp với lối bắn trong hành quân vì phi công có thể bổ nhào thong thả hơn và nhắm vào mục tiêu dễ dàng hơn. Lúc máy bay chúi xuống, gió rít bên thân, đạn súng cối và rốc-két tóe lửa dưới cánh. Người ta có thể nghĩ là một cuốn phim Thế chiến thứ hai khi những anh hùng lực lượng Không quân cho quân Đức, quân Nhật một bài học xứng đáng. Những bóng người nhảy ra khỏi thuyền tránh loạt đạn. Trên khoảng đất trống trải rất ít người thoát khỏi. Rồi máy bay bồng bềnh trên lau sậy. Các cố vấn của Vann đếm được khoảng bốn chục xác chết . Lính bộ binh, súng máy và súng bán tự động cũng bắn vào Việt cộng đang hoảng loạn nhưng máy bay làm chết nhiều người nhất. Trong lúc máy bay tiếp tục tấn công và máy bay lên thẳng vẫn đổ quân, Vann kích thích Cao tổ chức thu hoạch cuối cùng vụ mùa đã chuẩn bị biết bao công phu này. Hai lực lượng dự phòng được thành lập thêm vào đơn vị đã có. Với ba đơn vị này họ có thể chặn đứng cuộc rút lui của Việt cộng bất cứ về hướng nào. Khi máy bay lên thẳng lấy đủ nhiên liệu, đơn vị dự phòng thứ nhất gồm hai đại đội xuất phát từ đường bay Mộc Hóa đổ quân xuống mạn bắc giữa Việt cộng và biên giới Campuchia. Những toán biệt kích ra quân từ chín giờ năm mươi phút sáng được lệnh dừng lại ở “tư thế rào chắn”. Hai đại đội mạn bắc tiến về phía họ theo chiến thuật thông thường “búa và đe”. Những Việt cộng thoát được làn đạn máy bay ẩn nấp trong lau sậy sẽ bị giết hoặc bắt sống bởi “lưỡi búa” từ mạn bắc xuống hoặc bị đè bẹp trên “đe” nếu họ tìm cách chạy về mạn nam. Vann lên một chiếc máy bay lên thẳng khuyến khích các chỉ huy Sài Gòn và nắm được những gì xảy ra để hướng dẫn Cao có hiệu quả trong lúc hoạt động đã đi vào giai đoạn cao độ. Các phi công máy bay lên thẳng chuyên chở quân dự phòng nhận thấy Việt cộng đi về biên giới phía tây. Điều này không làm Vann bận tâm vì đã dự kiến hoạt động này và đã nói với Cao trước khi ra quân. Để chắc chắn mọi việc tiến hành tốt anh gọi điện cho Faust thay thế anh trong lúc vắng mặt ở cơ sở chỉ huy, bảo nhắc Cao gửi đơn vị dự phòng thứ hai về mạn tây bắc chặn toán Việt cộng này với chỉ thị đánh bạt họ về “chiếc đe”. Faust làm anh an tâm : đã có sự nhắc nhở này và Cao đã đồng ý. Chiến thắng Vann dự kiến chuyển biến thành cơn ác mộng bất ngờ bắt đầu một cách thật bối rối. Anh săp bay đến chỗ máy bay tấn công và có thể chứng kiến hiệu quả trên cánh đồng lau sậy, dừng lại để xem việc chỉ huy tiểu đoàn biệt kích bây giờ đang dàn trận làm nhiệm vụ “chiếc đe”. Mọi người vui vẻ. Họ phát hiện ra một súng cối 81 thêm vào nhiều vũ khí hạng nhẹ thu được của Việt cộng. Anh khen ngợi họ và bay lên để kiểm tra bước tiến về mạn nam của lực lượng dự phòng đổ quân ở mạn bắc. Lên đến độ cao anh ngạc nhiên nhận thấy binh lính ở nguyên nơi đổ quân. Hạ máy bay xuống để hỏi xem vì sao, anh được đại úy chỉ huy trả lời nhận lệnh của chỉ huy trung đoàn phải ở tại chỗ bố trí “tư thế hàng rào chắn”. Vann bảo như thế thật vô lý. Những toán biệt kích đàu đã làm rào chắn và đại tá Cao ngay từ lúc ra quân có lệnh cho tiến về mạn nam càng nhanh càng tốt. Đại úy trả lời “Vâng, nhưng chỉ huy trung đoàn vừa có lệnh qua điện đài phải đóng quân lại không tiến lên”. “Nhưng lạy Chúa ! Vann kêu lên, một chỉ huy trung đoàn có thể vượt qua mệnh lệnh của đại tá Cao từ khi nào vậy ?”. Viên đại úy ngơ ngác không nói gì. Vann hét lên : “Ông ta có biết những Việt cộng ông định giết hoặc bắt sống đang thoát ra trong lúc ông chần chừ như thế không ?”. Đại úy nhún vai. Vann đề nghị anh gọi cho tổng hành dinh trung đoàn giải thích tình hình và xin phép tiến lên. Vann trở lại những toán biệt kích đầu tiên để xem chỉ huy trung đoàn có ra lệnh họ tiến về mạn bắc không. Không, họ được lệnh là giữ vững vị trí. Vann quay về đội quân dự phòng. Đại úy nói đã liên lạc với trung đoàn, hỏi kỹ và lại nhận được lệnh ở nguyên tại chỗ. Vann gọi cố vấn của mình ở tổng hành dinh trung đoàn và Faust để Cao giải quyết ngay sự lẫn lộn này. Không có kết quả. Anh cố gắng thuyết phục viên đại úy tiến lên và Vann chịu trách nhiệm. Đại úy từ chối. Vann quay lại toán thứ nhất cố thuyết phục đại úy tấn công lên mạn bắc. Không kết quả. Bốn mươi phút trôi qua trong bàn cãi vô vọng như thế trong lúc Việt công tiến gần đến biên giới Campuchia. Còn những máy bay lên thẳng phải đổ lực lượng dự phòng thứ hai không thấy đến. Khi Vann gọi về tổng hành dinh đòi giải thích. Faust trả lời hình như Cao chối bỏ lời hứa. Anh bèn trở về Mộc Hóa cố vực dậy tình hình. Đến nơi, anh nhảy ra máy bay chạy lại lán tổng hành dinh nói với Cao phải ra lệnh đơn vị dự phòng thứ nhất tiến lên và cử ngay đơn vị thứ hai về phía tây bằng những máy bay đang có tại chỗ, nếu không Việt cộng thoát ra hết. Cao trả lời ông không thể làm như thế. - Tại sao vậy ? Vann hỏi. - Vì chỉ huy trưởng Trung đoàn 10 không muốn san sẻ thắng lợi của mình cho một trung đoàn khác. Chỉ huy trưởng Trung đoàn 10 ấy là người đã ra lệnh cho lực lượng dự phòng ở lại tại chỗ. Đấy là một trong các tiểu đoàn của ông ta được thả từ đợt bay đầu tiên xuống còn những đơn vị dự phòng thuộc về những trung đoàn khác. Vann kinh ngạc đến nỗi không tìm ra lời, hiện tượng hiếm có ở anh. “Sao ?” Anh nói, nhìn thẳng vào mắt Cao. Cao bình tĩnh mỉm cười, nhắc lại điều vừa nói. Vann phải đấu tranh để kìm mình lại. Anh kéo Cao riêng ra tránh làm ông ta lúng túng trước cấp dưới. Anh bảo không thể để một ai đó ganh tị làm cản trở thắng lợi của cuộc chiến. Chính ông ta chỉ huy sư đoàn, phải vượt qua người dưới quyền để ra lệnh. Không có nguy cơ nào cả. Quân số của họ vượt xa Việt cộng. Cao chỉ có hai người chết và một chục bị thương và hiện có thể 200 Việt cộng đang sống đi về phía Campuchia. Cao không thể để thoát những người cộng sản để sau này trở lại chiến đấu. Ông phải bảo vệ danh tiếng một chỉ huy năng nổ. Hôm nay ông có dịp thực hiện một chiến công chưa từng có, có thể nắm bắt cả một tiểu đoàn Việt cộng, không hành động thì có vẻ như một người hèn. Cao vẫn vô cảm và nói không muốn làm phật lòng chỉ huy trung đoàn. Nhưng rồi Vann cũng thuyết phục được Cao cho triển khai đội quân dự phòng về mạn nam; họ không lên đường trước hai giờ chiều, nghĩa là ba tiếng sau cuộc đổ quân trước. Việc Vann cố nài ép đưa lại cho Cao chút ít cố gắng. Binh lính tìm lại được một khẩu súng máy hạng nặng cỡ 50 Việt cộng bỏ lại. Họ cũng phát hiện ra bảy kẻ nổi dậy ẩn mình dưới nước thở bằng thân lau sậy, bị bắn hạ khi bỏ chạy; thu được một số vũ khí hạng nhẹ khác. Cao cho tập hợp ngay chiến lợi phẩm. Ông ta cho máy bay lên thẳng mang khẩu súng cối và vũ khí bắt được trong đợt tập kích lần đầu về và báo cáo với tổng hành dinh Sài Gòn để khoe khoang về những vật đã tịch thu. Vann hầu như tiếc về khẩu súng máy Cao lấy được nhờ anh khi thấy tổng tham mưu trưởng Sài Gòn và một đại tá những ô và a! trước khẩu cối, súng máy và hai mươi bảy vũ khí hạng nhẹ mà phần lớn là súng Pháp có quy lát Cao cho trình bày trước lán trên dãy bàn phủ vải trắng như những chiến tích. Tổng hành dinh sư đoàn cũng mê mải vì trong niềm phấn khởi Cao bỏ cả việc chỉ huy hành quân, được phần lớn các phó của ông ta bắt chước. Sau này Vann phải tuyên bố trong một báo cáo theo quy định :”Tập trung được sự chú tâm của chỉ huy và ban tham mưu theo dõi được những cuộc hành quân tiếp tục là một khó khăn lớn nhất”. Anh sững sờ thấy viên tướng Sài Gòn cho là không có gì đáng chê trách trong thái độ của Cao và cũng tỏ ra chẳng hơn gì ông này. Cao cũng để sổng mất 80 đến 100 Việt cộng ở phía đông khu vực trong lúc Vann mệt nhoài cố đẩy lực lượng dự phòng lên một cách vô ích. Những Việt cộng ấy của Tiểu đoàn 504 chậm lại một ngày ở chỗ tiếp giáp hai con sông. Không một trong hai tiểu đoàn Sài Gòn nào phát hiện và đuổi theo họ mặc dù cố vấn Mỹ thúc giục. Cao cũng không động đậy khi Vann đề nghị. Một chiếc A-26 bay phía trên và Cao với sở thích bình thường về tấn công máy bay, cử đi những máy bay ném bom. Phi công cho rằng giết được 25 Việt cộng. Vann đi máy bay lên thẳng kiểm tra cẩn thận tại chỗ. Lần này máy bay nhấn chìm lau sậy và bụi cây. Không có một xác người nào. Hôm sau Vann lại phải nhận những tin tức xấu hơn. Cao để lỡ một dịp phá hỏng điều gì đó đối với chủ nghĩa cộng sản quan trọng hơn một tiểu đoàn. Trong rừng phía trên xóm có trại huấn luyện quan trọng nhất miền bắc đồng bằng. Thẩm vấn mười một tù nhân biết một trong hai đơn vị đó là đại đội huấn luyện mà Drummond không phát hiện ra. Đơn vị kia là một đại đội của Tiểu đoàn 504 phụ trách bảo vệ trại. Phần còn lại gồm những thanh niên ở các đội cảnh sát địa phương được tuyển chọn để bổ sung vào các tiểu đoàn thường trực. Đã bốn tháng nay trong trại, họ được đào tạo sử dụng vũ khí, chiến thuật, phương pháp ngụy trang và những kỹ thuật khác về chiến tranh lật đổ. Drummond phát hiện dưới tán cây có bốn lớp học trang bị bảng đen và trong hai nhà khác là nơi đào tạo về y tế. Phi công rùng mình lo sợ thấy khẩu súng máy hạng nặng Mỹ cỡ 50 có thể trở thành vũ khí chống máy bay trong những bàn tay có kinh nghiệm. Rõ ràng Việt cộng bắt đầu huấn luyện đánh máy bay lên thẳng. Cảm giác ấy được nhanh chóng khẳng định. Hăng hái thu thập chiến lợi phẩm ngày hôm sau, Cao cử đi hai toán cùng những kíp mìn. Họ phát hiện dưới nước có một chân súng loại tương tự nhưng không có ống, không có máy. Tù binh khai đại đội huấn luyện có ba súng máy cỡ 50 và họ tập cho thanh niên bắn máy bay. Drummond và đồng sự Việt Nam Bình tìm thấy trong trại những tài liệu giảng dạy giải thích phải bắn phía trước máy bay như thế nào để đón đường bay. Một tài liệu khác chỉ rõ số hiệu ba khẩu súng máy, chắc lấy được của Pháp hoặc của đơn vị Nam Việt Nam vùng khác vì Bình biết ở Sư đoàn 7 không mất khẩu nào. Tù binh kể lại có những Việt cộng dũng cảm cố dùng súng máy bắn hạ máy bay tiêm kích – ném bom trước khi bị giết hoặc chạy trốn. Sự thất bại hoàn toàn khiến Vann khổ tâm hơn là bất ngờ. Anh không tưởng tượng được trước đây hai mươi bốn giờ đã chuẩn bị tỉ mỉ đến thế, phối hợp tài năng của Ziegler và Drummond và dùng mọi biên pháp mà Cao đã biến tất cả thành số 0. Theo Vann và luật lệ sĩ quan, không thể hy sinh người của mình để quân địch thoát khỏi như Cao đã làm. Việt cộng bị thiệt hại nhiều nhưng còn khoảng 300 thoát được, sẽ có nhiều người sống sót để khôi phục lại các đơn vị. Khung cán bộ sẽ được tăng cường và Tiểu đoàn 504 có thể lại tấn công những tiền đồn và tổ chức những đợt phục kích khác. Một bê bối chung đáng lẽ đã kết thúc cuộc chơi cùng với Cao nhưng anh muốn theo đuổi mặc dù thất bại. Hơn thế anh sẽ bị tướng Harkins cách chức vì đường lối quan hệ thân mật giữa cố vấn Mỹ và các đồng cấp Việt Nam. Khi một nhà báo của Hiệp hội báo chí xin đi máy bay lên thẳng từ Sài Gòn đến Mộc Hóa, Vann cho biết cảm giác từ đầu đến cuối những việc diễn ra theo kế hoạch đã xây dựng. Anh nói việc đổ bộ ban đêm của lính thủy đánh bộ là một “công việc xuất sắc”. “Họ đổ quân đúng theo giờ quy định và lần đầu hình như chúng ta làm cho Việt cộng hoàn toàn bất ngờ”. Khi Cao thông báo các toán quân của ông và máy bay đã giết đến con số kỷ lục 131 Việt cộng trong một cuộc hành quân thành công nhất trong chiến tranh và một trong số mười một tù binh là đại diện ban chấp hành huyện ủy cộng sản. Vann ý từ không cải chính trước các nhà báo. Anh phải xác định lại sự thật trong báo cáo mật gửi cho Porter và Harkins, nói cụ thể số Việt cộng bị giết “không quá 90”. Anh đành nén giận nhìn Cao nhận vinh quang của người anh hùng vì không muốn sự thật làm mờ sự nghiệp của ông ta. Diệm hài lòng đến mực cho Cao tổ chức diễu hành chiến thắng gây ấn tượng nhất ở Sài Gòn kể từ cuộc thao diễn chào mừng thắng lợi năm 1955 của lính dù sau khi diệt đội quân riêng của Bình Xuyên kình địch với Diệm. Đài phát thanh Sài Gòn và báo chí của chính phủ ca ngợi “chiến thắng lớn nhất trong chiến tranh”. Cuộc diễu hành tổ chức vào ngày thứ bảy để thu hút được số lượng lớn nhất viên chức và gia đình đi trong hàng ngũ. Những cô gái đẹp mặc quần áo cổ truyền Việt Nam, áo dài tha thướt xẻ hai bên thân đón tiếp Cao và các sĩ quan của ông ở ngoại vi thành phố để trao tặng dây hoa. Cao vào Sài Gòn đứng trên chiếc xe Jeep chào dân chúng hai bên đường cho đến địa điểm tập trung. Đi đầu các sĩ quan ông ta theo con đường chính đến Nhà hát nhạc vũ kịch Pháp cũ bây giờ là nhà Quốc hội của Diệm. Quân lính đều mặc quần áo chiến đấu, đi ủng, đội mũ sắt cứng trừ Cao với đặc quyền một vị tướng và để được chú ý nổi bật, đội cát-két kiểu bóng chày đang trở thành mốt trong quân đội Mỹ. Ông ta cầm chiếc gậy nhỏ trong tay và một khẩu Colt 45 trong bao da đeo bên hông. Một bệ rộng đặt trước thềm nhà hát trưng bày cho công chúng xem những vũ khí thu được. Huân, huy chương được trao cho nhiều sĩ quan binh lính và bộ trưởng Bộ Quốc phòng gắn một chiếc huân chương trên lá cờ cảu Sư đoàn 7. Cao được đưa vào phủ tổng thống để Diệm tuyên dương công trạng. Tương phản giữa sự lập lờ đối với công chúng và sự trung thực trong báo cáo mật của Vann chỉ dội thêm tiếng vang về dấu hiệu cảnh báo anh đã thầm lưu ý với thượng cấp. Bây giờ anh biết rõ những bất cập của việc chỉ huy quân đội Sài Gòn mà anh đã nêu ra dần dần trong những báo cáo trước để bắt đầu hiểu tầm cõ những vấn đề đặt ra cho phái đoàn cố vấn. Các bạn đồng nghiệp và anh được giao dẫn dắt một cuộc chiến bộ binh với một quân đội về cơ bản không hề muốn chiến đấu. Vann đã linh cảm điều ấy khi mới đến chủng viện. Clay bị đánh bại, bị thương trên máy bay lên thẳng vì viên chỉ huy quân đội Việt Nam từ chối đuổi theo thậm chí không bắn vào một trung đội Việt cộng chạy trốn lộ liễu trên đồng ruộng. Và Clay đích thân đuổi theo với hai máy bay lên thẳng. Lần này chỉ huy sư đoàn để sổng quân nổi dậy nhiều hơn mười năm lần. Sự nhát gan ấy đưa đến hốt hoảng thực sự về những nguy cơ và thấy bại tự chuốc lấy. Vann viết “Một tình trạng tệ hại được dựng lên, vì những người chỉ huy dù ở cấp bậc nào cũng không làm gì cả vẫn chỉ huy thậm chí được thăng cấp còn những người xông vào nguy hiểm có thể bị giáng chức nếu không thành công hoặc thất bại nặng”. Mặt khác các sĩ quan Nam Việt Nam không hiểu trách nhiệm của họ. “Những ganh tị ti tiện giữa chỉ huy sư đoàn và đại đội đặt trên nhiệm vụ chủ yếu là tiếp cận tiêu diệt địch và quay lưng lại nhiệm vụ. Các chỉ huy tuân theo mệnh lệnh phù hợp với h ọ và không biết hoặc điều chỉnh những mệnh lệnh khác”. Nếu những cố vấn Mỹ phải thực hiện nhiệm vụ với quân đội Nam Việt Nam, họ phải ý thức được tầm quan trọng của những thiếu sót đó và có những biện pháp thích đáng để cứu chữa. Vann cảnh báo với Porter và Harkins “Trừ phi đào tạo lại toàn bộ quân đội Việt Nam để chỉ huy theo thứ bậc mà nền tảng là tuân thủ mệnh lệnh, người ta không bao giờ đạt đến hiệu lực chiến đấu ở mức độ chấp nhận được”. Một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ được đào tạo chiến đấu hết sức mình với những gì người ta cung cấp. Thừa nhận khả năng thất bại không có nghĩa chấp nhận nó mà ngược lại là một kích thích phải kiên trì, hình dung thất bại sẽ không xảy ra. Thái độ ấy ở Vann rõ rệt hơn ở đại bộ phận các sĩ quan vì anh kiêu hãnh không bao giờ để một thách thức thắng mình. Anh công nhận một phần lời thanh minh của Cao giải thích viên chỉ huy Trung đoàn 10 đã cản trở ông đuổi theo Việt cộng. Anh không đồng tình với Cao nhưng biết ông ta có những vấn đề với các tỉnh trưởng và nghĩ rằng việc chỉ huy có lẽ do một người thân tín khác của Diệm đảm nhiệm. Thực ra Cap có quan niệm lành mạnh về cuộc chiến tranh này. Ông ta không dấu diếm ý muốn ngăn cản chủ nghĩa cộng sản áp đặt nền chuyên chế nghiêm khắc ở miền Nam. Ông nói, khi nắm quyền họ sẽ từ bỏ lời hứa chia ruộng đất cà những quyền lợi khác của nông dân. Họ sẽ tàn sát những người thực sự hoặc có khả năng đối lập, thiết lập hợp tác xã nông nghiệp, xóa bỏ tôn giáo, phá hủy những tập tục Việt Nam và một số tự do cá nhân mà nhân dân miền Nam được hưởng dưới chế độ Diệm để xây dựng xã hội độc tài mác-xít. Vann cũng nghĩ những người cộng sản sẽ phạm tất cả những tội ác ấy nếu họ thắng trong chiến tranh. Anh kết luận tuy Cao có lỗi ông ta nhưng là người yêu nước Việt Nam, một người dân tộc trung thực muốn đưa lại cho đất nước giải pháp thích hợp của một chính phủ chống cộng sản ở Sài Gòn, hiện đại hóa dần dần với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Anh đồ chừng miền Nam Việt Nam đối với Cao cũng như đất nước Hoa Kỳ đối với anh và với thời gian anh có thể khuyến khích lòng tự trọng, khiến ông ta xử sự như một nhà chỉ huy quân sự mà nước ông đang cần. Sự kiện ngày 20 tháng Bảy đối với Vann như vậy trở thành mặt trái chứ không phải một thất bại. Tháng Tám,, anh gửi về cho Mary Jane một bức ảnh Cao và anh đứng bên nhau trước lều vải trong một cuộc hành quân. Anh cho tô màu tấm phim đen trắng ở một cửa hàng Mỹ Tho để có vẻ hiện thực hơn. Vann nhìn ống kính và Cao nhìn vào Vann. Ở lưng tấm ảnh, Vann viết bằng bút bi : Vann và Cao Tháng Tám năm 1962 Kíp US Việt Nam tốt nhất để đánh thắng những người cộng sản Dù Vann muốn bỏ Cao, anh cũng không có khả năng nào để làm được. Đầu mùa thu 1962 anh đã trở thành tù nhân của chò trơi của anh “Cao, con hùm” nhờ số lượng Việt cộng bị giết theo chất lượng kế hoạch bố trí và thông tin cũng như tác động của kỹ thuật công nghiệp Mỹ : máy bay lên thẳng, xe bọc thép và máy bay tiêm kích – ném bom. Vann bị mắc vào bẫy của thành công bề ngoài. Trong bốn tháng sau khi anh đến, số lượng Việt cộng bị giết ở Sư đoàn 7 do tập kích trên bộ và bằng máy bay lên thẳng là 4.056 người kể cả những người hỗ trợ ở làng xóm, bằng cả trong nước cộng lại. Con số này được sĩ quan Sài Gòn cung cấp gồm cả tổng kết những cuộc tấn công của quân bảo an và cảnh sát địa phương mà người Mỹ không bao giờ có mặt để xác định. Dù số liệu nói quá lên 50% - tỷ lệ mà cố vấn Mỹ cho là hợp lý ở miền Nam Việt Nam – 2.000 người chết trong 4 tháng là một tổn thất nghiêm trọng cho Việt cộng ở mạn bắc vùng đồng bằng. Đúng là không một tiểu đoàn thường trực hoặc địa phương nào bị tiêu diệt, nghĩa là không có một số lượng chết như thế để đủ người sống củng cố lại đơn vị. Nhưng con số đã khá cao để chẳng bao lâu họ sẽ bị loại khỏi vòng chiến đấy. Vann bắt đầu tin tưởng nếu anh có thể giữ nhịp điệu hành quân như hiện nay, tác động dồn dập sẽ đập tan được lực lượng của Việt cộng dù cao từ chối trả lương tình nguyện cho bộ binh. Sáu cuộc hành quân trong tháng Tám và tháng Chín được trả bằng hàng trăm thiệt hại của Việt cộng. Ngày 18 tháng Chín một cuộc tập kích khác ở Đồng Tháp Mười vào Tiểu đoàn 502 quân thường trực còn có kết quả lớn hơn nhiều “chiến thắng lớn” trên giấy của ngày 20 tháng Bảy. Một đại đội Việt cộng và hàng trăm quân địa phương phối hợp bị xe bọc thép hủy diệt hoàn toàn. Việt cộng cố gắng tổ chức một hàng phòng ngự phía sau bờ ruộng ngập nước nhưng những con quái vật bánh vòng sắt nghiền nát hết và bắn vào họ trong lúc đạn của họ nảy lên một cách vô ích trên vỏ thép. Phía trong xe tăng lính đứng trước cửa xe bắn xối xả. Khẩu súng máy lớn 50 bố trí phía trước cắt ngang những người chạy trong bùn bết vào chân, nước cao đến thắt lưng. Những người sống sót cố ẩn mình trong nước thở bằng cọng lau rỗng hoặc để hở mũi trên mặt nước. Nhưng những lái xe bọc thép phá vỡ mưu mẹo ấy bằng chuyển động mười tấn sắt của họ từ trước ra sau làm dồn sóng. Lựu đạn của quân lính Sài Gòn cũng làm họ lộ mặt. Khi một trong bọn họ bị lộ, lái xe tiến về phía ấy, chồm lên nghiến nát họ nếu họ chưa bị đạn giết chết. Ngày hôm ấy 158 Việt cộng bị giết và 60 bị bắt sống. Vann gửi cho Mary Jane mẩu cắt ở bài báo trang nhất bằng tiếng Anh ở Sài Gòn, Times of Viet Nam. Anh viết trên đề mục bằng chữ lớn “Cuộc tàn sát lớn nhất trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam”. Diệm khen thưởng Sư đoàn 7 phần thưởng quân công của quân đội Nam Việt Nam, một dải tết sợi nhiều màu tất cả quân lính mang ở vai trái, theo tập tục Pháp được Hoa Kỳ và các quân đội phương Tây sau đó bắt chước. Đây là lần đầu tiên phần thưởng này được tặng cho cả một sư đoàn AVRN. Diệm thông báo với Cao có ý đinh thăng chức cho ông ta cấp tướng và ủy nhiệm ông ta chỉ huy một Quân đoàn. Về phần mình Vann trở thành cố vấn tin cậy của tướng Harkins. Không phải vì những báo cáo của anh trở nên lạc quan hơn. Chúng vẫn được viết với sự thật tàn ác, đặc điểm của báo cáo ngày 20 tháng Bảy. Một trung tá nào đó có lẽ đã trình bày các sự kiện tích cực hơn, phù hợp với ý muốn thắng lợi của quân đội, nhưng Vann không nương nhẹ các khía cạnh. Chủ đề luôn trở lại là anh và các cố vấn là không thể tiến lên với mục tiêu lâu dài : biến quân đội Việt Nam ARVN thành một quân đội có thể chiến đấu và đánh bại chiến tranh du kích. Harkins có vẻ không bối rối trước những tiêu cực trong các báo cáo của Vann. Viên tướng và ban tham mưu của ông đánh giá, trong cuộc chiến tranh không có mặt trận này, cách đo tốt nhất những tiến bộ đạt được là số lượng Việt cộng bị giết, theo lối nói của bàn giấy là “việc tính toán xác chết”. Sĩ quan tham mưu Sài Gòn phụ trách trình bày một cách quen thuộc với những người mới đến và khách đến thăm theo lối nói ít rùng rợn hơn “Trong một cuộc chiến tranh không có một chiến tuyến nào, chỉ số tốt nhất về những tiến bộ đạt được là chỉ số thiệt hại”. Các sĩ quan báo chí của Harkins khuyến khích các phóng viên mặt trận đến các phân đội của Vann và đi theo những cuộc hành quân của sư đoàn 7. Các đại biểu Quốc hội, những tướng tá và nhân vật dân sự của Lầu Năm Góc luôn được cử đến để nghe một bản trình bày của kíp Vann – Cao, những quán quân về số lượng người bị giết. Theo chiến lược của mình, Vann dạy cho Cao thành chuyên gia về thông tin tỏa sáng tinh thần tấn công trên bục phòng chiến tranh trong nhà ở của ông ta. Vann cũng bố trí cho Cao những bản đồ và đồ thị maù cũng như những cuốn phim dương bản không làm mất vẻ đẹp của dụng cụ dùng ở Lầu Năm Góc. Nếu Cao luôn là nhân vật trung tâm của những cảnh ấy, thì Vann chỉ giới thiệu một cách ngắn gọn. Anh đã học nghệ thuật trình bày cô đọng khi còn là thiếu tá trẻ ở tổng hành dinh quân đội Mỹ ở châu Âu. Anh tập dượt ở đó đến mức làm chủ sự hài hòa của những thống kê và những chuyện kể truyền cảm có tác dụng mạnh và gây được lòng tin ở người nghe. Sau khi anh đi khỏi đó đã lâu người ta vẫn nhớ đến anh như một sĩ quan báo chí tốt nhất. Ở Việt Nam anh cũng tác động mạnh đến thính giả. Nếu có thì giờ, thường hiếm trường hợp ấy, Vann đưa viên tướng hoặc quan chức Lầu Năm Góc lên phòng khách tầng một của chủng viện để trao đổi riêng nhưng với giọng khác hẳn. Nếu không anh để cho ban tham mưu của Harkins tỉ mỉ truyền đạt lại những gì anh trình bày trong các báo cáo. Nhưng những chính trị gia và các nhà báo không bao giờ được hưởng ân huệ đặc biệt đó. Cao khoái trá về những lời khen và triển vọng được gắn những ngôi sao cấp tướng. Ông ta thông báo với các phóng viên đến tổng hành dinh của ông :” Hôm nay tôi giết được 50 Việt cộng”. Ông bắt đầu biết rõ nghề quảng cáo. Mỗi lần “việc tính toán xác chết” lên đến con số tương đối cao, ban tham mưu của Harkins hoặc phủ tổng thống, chắc chắn báo chí – gồm cả phóng viên Pháp và Việt Nam – đưa người thắng trong cuộc chiến này lên hàng đầu. Horst Faas, nhà nhiếp ảnh của Hiệp hội báo chí, người hai lần được giải thưởng Pulitzer trong 10 năm ở Việt Nam, một hôm đến trước các nhà báo khác. Ông thấy Cao đang dựng lại trận đánh. Lính Nam Việt Nam kéo thân thể những Việt cộng đặt vào vị trí chiến đấu với vũ khí bị tịch thu trước mặt. Cao bước đĩnh đạc, chiếc gậy nhỏ trong tay, hướng dẫn việc dàn cảnh. Nhiều người phó của Vann khó chịu về chiếc mũ dắt lá rừng Cao đội khi ra khỏi lều. Họ bắt đầu nghĩ Cao làm hơi quá đáng; ông ta xoa tay khi máy bay tiêm kích – ném bom hoặc xe bọc thép thực hiện được một chiến công và tự hào đã giăng bẫy Việt cộng. Theo lời Ziegler, bây giờ ông ta chơi lối lám tướng. Ông lắng nghe Vann nói cần phải khôn ngoan, để anh giải thích một ít nữa rồi bĩu môi chán nản, tuyên bố không muốn tranh cãi nhiều. Nếu Vann cố gặng, ông đứng dậy nói “Ông là một cố vấn. Tôi là chỉ huy trưởng và chính tôi quyết định”. Vann cố tự chủ nhưng những người phó của anh biết anh tự kìm mình khó khăn đến mức nào. Anh đỏ mặt và giọng mũi của anh càng khàn. Trở về chủng viện anh để cảm giác thất vọng của mình bùng lên, chửi Cao với những lời rủa thừa kế từ thời thơ ấu nghèo khổ ở ngoại ô Norfolk. Trong một cuộc tranh cãi, anh ra hiệu cho Faust và những cố vấn khác đi ra rồi nắm cánh tay kéo Cao lại trước tấm bản đồ. Từ xa những phó của anh thấy anh chỉ nhiều lần vào chỗ hổng Việt cộng thoát ra. Họ nghe anh nói với Cao giọng nhỏ cố nén giận. Cao phải cáng đáng trách nhiệm tinh thần của sĩ quan và binh lính. Ông ta phải bịt lối ra và tiêu diệt tiểu đoàn ấy không để Việt cộng sống sót. Các cố vấn chờ đợi Cao ra lệnh cho bộ binh lên máy bay lên thẳng. Vann nổi nóng và ý kiến của anh chắc chắn sẽ có giá trị. Lần này Cao không ra vẻ tướng nữa. Ông ta đành ra khỏi lều không nói một tiếng. Faust bắt đầu tự hỏi Cao có phải là một cộng sản bí mật không. Nhờ những thiệt hại Vann gây ra cho Việt cộng, anh được tướng Harkins coi trọng đến mức khi Maxwell Taylor trở lại Nam Việt Nam trong đợt kiểm tra ngắn vào tháng Chín, anh là một trong những sĩ quan được mời đến ăn trưa cùng ông ta ở chỗ Harkins tại Sài Gòn. Đã gần một năm trôi qua kể từ đợt Taylor sang đây vào mùa thu năm 1961 thúc đẩy nhanh quyết định của Kennedy đưa lực lượng quân sự Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh. Lần này Taylor sang xem có những tiến bộ gì sau một năm. Vann được chọn đại diện cho các cố vấn cấp sư đoàn cùng ba người khác cấp thấp hơn, một thiếu tá và hai đại úy. Họ sẽ trình bày với Taylor ý kiến thẳng thắn của mình về tình hình khu vực đang đánh nhau. Vann rất phấn khởi vì dịp may được nói hết những suy nghĩ của mình với một người có khả năng tác động đường lối đến cấp cao nhất và vực dậy tình hình. Kennedy đưa Taylor đã về hưu năm 1961 ra làm cố vấn quân sự. Tháng Bảy, tổng thống xác định lòng tin của mình khi cử ông này làm tham mưu trưởng quân đội. Khi được phát biểu, Vann có ý định trình bày với Taylor quan điểm trung thực và tàn nhẫn như đã nói trong những báo cáo mật gửi Harkins. Anh thất vọng nhận thấy những lo ngại của anh không làm nảy sinh tinh thần khẩn cấp như anh hy vọng ở Harkins. Porter thông cảm với điều đó nhưng không tác động được với cấp trên. Chính anh John Vann ấy, tháng Năm trên đường đi Mỹ Tho, tin tưởng sẽ thắng trong cuộc chiến tranh, đến tháng Chín chẳng còn tin chắc có thể hoàn thành nhiệm vụ đựoc giao trong khuôn khổ áp đặt và lo ngại cho tương lai. Thành công ngoài mặt làm giảm nhẹ sự lo toan của anh nhưng không làm mất hẳn hoặc bớt đi. Anh vẫn hy vọng tiêu diệt các tiểu đoàn Việt cộng qua mặt Cao vốn không có trách nhiệm, anh không biết dự tính có thể làm được không. Có nhiều cơ may những quân nổi dậy cộng sản sớm muộn sẽ không sợ nữa và chiến đấu thông minh hơn và như vậy sẽ kết thúc việc tàn sát dễ dàng. Trong lúc chờ đợi, thậm chí anh không đạt được những mục tiêu tối thiểu đã xác định với Porter. Sau bước đầu sốt sắng, Cao không hợp tác nữa trong những vấn đề sơ đẳng như việc huấn luyện quân lính tập bắn và chiến thuật bộ binh. Ông ta không bao giờ cho phép tiểu đoàn nào tham gia hết ba tuần lớp họcVann tổ chức ở trung tâm Tân Hiệp và không một quân lính nào khi về trại thực hiện một động tác giống như đã được huấn luyện. Những báo cáo hàng tháng của các cố vấn đều đặn nêu lên phần lớn thời gian các đơn vị “nghỉ ngơi”. Khi một tiểu đoàn đến Tân Hiệp, mấy ngày sau Cao gọi trở về phần nhiều là để đuổi theo một toán Việt cộng đánh chiếm một vị trí tiền tiêu hoặc phục kích. Vann chắc chắn Cao cũng biết như anh trong trường hợp ấy không thể có kết quả vì Việ cộng đã chuẩn bị cẩn thận việc rút lui. Nhưng Cao không bao giờ muốn nhận ra điều đó. Vann nghi ngờ ông ta đi săn lùng một con mồi không tìm thấy duy nhất chỉ để tạo cho phủ tổng thống có cẳm giác ông ta luôn ở tình trạng báo động. Sau đó ông ra lệnh cho tiểu đoàn về trại “nghỉ ngơi” thay vì trở lại trung tâm huấn luyện. Việc đào tạo quân lính chiến đấu không phải một trong những ưu tiên của Cao. Ông ta cho rằng họ đã được tập dượt kỹ. Cao cũng cản trở những cố gắng của Vann muốn mở rộng việc tuần tra và phục kích ban đêm nhằm hạn chế Việt cộng tự do nổi dậy ban đêm. Cao chỉ tỏ ra đồng ý lúc ban đầu vì Diệm chỉ thị phải thỏa thuận với người Mỹ khi không thiệt hại gì và ông cũng muốn dễ mến với cố vấn mới. Một khi bước ấy đã qua, ông ta trở lại với thái độ ông cho là hợp lý. Một buổi sớm vừa ăn sáng xong, ông được tin Vann đi tuần tra cả đêm chỉ với năm người. Cao giận dữ mời Vann đến và hét lên dữ dội nếu anh không thôi những ngu ngốc ấy, ông sẽ xin một cố vấn khác. Vann có muốn một sĩ quan Mỹ cấp bậc cao đến trung tá bị bắt hoặc giết để tổng thống Diệm quở mắng ông,Cao, về trách nhiệm và sẽ không bao giờ tha thứ cho ông việc ông đẩy chính phủ vào chỗ lúng túng ? Sự nghiệp của ông sẽ tan vỡ thậm chí Diệm sẽ cho ông vào tù ! Vann trả lời anh chấp hành lệnh của Porter phải hành động ban đêm và tất nhiên phải có người chỉ huy các toán. Anh nhắc lại với Cao anh không phải một người không chuyên và đã học được ở Triều Tiên cách hành quân ban đêm với một toán nhỏ ít nguy hiểm hơn với một phân đội lớn. Cao trong tình trạng giận dữ và sợ hãi đến mức Vann thấy nên có sự thỏa hiệp nếu anh muốn tiếp tục cử sĩ quan, hạ sĩ quan đi tuần tra ban đêm. Anh thống nhất với Cao những sĩ quan cấp cao của sư đoàn chỉ hành quân ban đêm với quân số ít nhất là một đại đội. Còn những sĩ quan cấp thấp và hạ sĩ quan, họ vẫn tiếp tục đi cùng đơn vị nhỏ. Cao cầm chân những người Mỹ như thế rồi ông dùng sức ép một cách khác. Những sĩ quan trẻ và hạ sĩ quan của Vann rất khó tập hợp được những người nhận đi với họ. Cao đã có những chỉ thị cho quân lính mình. Nhưng Vann còn những lo toan khác ngoài việc tập luyện và tuần tra ban đêm. Anh bị tác động bởi sức bật của Việt cộng. Drummond cho biết một số tiểu đoàn bị anh đánh tan đã có đủ quân số thay thế. Drummond cũng phát hiện thấy mặc dù số lượng bị giết chết trong vùng của sư đoàn từ đầu chiến tranh đến nay rất nhiều, tổng quân số lực lượng thường trực và địa phương của Việt cộng trong năm tỉnh vẫn không thay đổi. Những đơn vị thoát khỏi Vann đã phát triển quân số và bù vào số lượng mất mát của những đơn vị khác. Nghiêm trọng hơn, Drummond được biết trong các làng xóm thuộc vùng này những người nổi dậy nhiều hơn rất nhiều con số 10.000 ước tính lúc đầu. Không biết chính xác con số, anh thấy sự chênh lệch ấy thật lớn. Như vậy có nghĩa những người cộng sản có một lực lượng dự trữ để bổ sung thiệt hại lớn hơn Vann nghĩ. Trên chiếc xe Jeep đưa anh tới Mỹ Tho sáng hôm 11 tháng Chín năm 1962 ấy, anh nhắc lại cùng một cường độ điều anh đã nói năm 1956 những gì anh sẽ nói với Taylor trong bữa ăn trưa để lưu ý ông ta trong khi anh trình bày quan điểm của mình.Anh phải rất cẩn thận để không tỉ ra là người báo động. Vả lại Vann không tự cảm thấy mình là người chủ trương thất bại. Anh vừa được kích thích vừa lo ngại và anh muốn chia sẻ với Taylor hy vọng lẫn sự e ngại ấy. Khi tổng tham mưu trưởng quân đội biết được sự thật, ông sẽ nói với Kennedy và khi tổng thống đã hiểu điều gì xảy ra ở Việt Nam, tổng thống có sức ép với Diệm còn Taylor cũng làm thế với Harkins và Vann không còn phải lo lắng nữa. Khi anh bước qua những bậc thềm ngôi nhà Harkins, mấy phút trước mười hai giờ rưỡi, anh cũng có dáng điệu vững chắc trong bộ quân phục kaki với chiếc mũ lưỡi trai như lúc anh đến trình diện Porter hồi đầu tháng Ba. Giấy mời của anh được viết tay trên một tấm thiếp trang trí cờ hiệu đại tướng bốn sao trên nền đỏ. Ngôi nhà là một khối trắng ở khu sang trọng của Sài Gòn, trước đây do những nhân vật cao cấp Pháp ở. Một con đường vòng bao quanh bãi cỏ được chăm sóc chu đáo. Quản lý ngôi nhà là một trung sĩ Mỹ, còn lại là công nhân Việt Nam. Bức tường cao bảm đảo cuộc sống riêng tư và an ninh nhưng cách đấy không xa là bể bơi và sân tennis Câu lạc bộ thể thao của cộng đồng người nước ngoài và xã hội thượng lưu Việt Nam. Maxwell Taylor trở về Hoa Kỳ sau bữa ăn trưa ấy hai ngày. Buổi sáng trước khi đi ông họp báo trong phòng khách danh dự sân bay Tân Sơn Nhất. Ông gạt bỏ những câu hỏi của một số nhà báo về khả năng căng thẳng giữa những cố vấn Mỹ và các đồng sự Sài Gòn. Ông nói : “Phải có mặt tại chỗ để cảm nhận được sức mạnh của tinh thần quốc gia, sự chống trả của nhân dân Việt Nam đối với hoạt động nổi dậy lật đổ đang đe dọa. Cảm giác tôi thu nhận được là một phong trào dân tộc rộng lớn, tất nhiên được người Mỹ giúp đõ chừng mực nào đó nhưng chủ yếu là một phong trào của những người Việt Nam bảo vệ đất nước họ chống một kẻ thù nguy hiểm và độc ác”. Vann trở lại Mỹ Tho với những nỗi lo sợ vẫn nguyên vẹn. Anh giải thích điều đó trong một bản tóm tắt về bữa ăn trưa ghi phía sau lưng giấy mời trước khi xếp vào hồ sơ : “Một dịp trình bày quan điểm với tướng Taylor với tư cách một trong bốn cố vấn (2 đại úy, 1 thiếu tá và tôi). Bữa ăn trưa kéo dài một giờ mười lăm phút. Nội dung chung của cuộc nói chuyện : Harkins trình bày sự nhìn nhận của mình và gạt bỏ những điểm quan trọng tôi muốn nêu lên”. Trước mắt, Vann rất bận rộn vì mặc dù số lượng thiệt hại của Việt cộng tăng lên, Hoa Kỳ không đánh vào vấn đề cơ bản, việc cung cấp vũ khí cho quân đội do bị quân nổi dậy lấy được. Phái đoàn viện trợ Mỹ cung cấp cho Việt cộng vũ khí Mỹ một cách không chấp nhận được. Từ mùa xuân 1962, 28.000 quân thường trực vùng đất Sài Gòn trong phạm vi sư đoàn đã thay đổi loại súng Pháp cũ có quy-lát bằng súng tự động Mỹ. 10.000 quân bảo an được trang bị một số lượng lớn vũ khí bộ binh US, từ súng M-1 đến liên thanh và súng cối. 18.000 cảnh sát khiêm tốn hơn nhận các-bin nửa tự động cỡ 30, liên thanh nhẹ Thompson và BAR. Nhưng Harkins và ban tham mưu của ông, trước khi đẩy nhanh chương trìng hiện đại hóa vũ khí, không thấy trước việc không nên phân phối một khẩu súng nào cho những tiền đồn do địa phương quân chốt giữ mà không được xóa bỏ hoặc tăng cường. Nếu không đây là những chỗ quân nổi dậy trực tiếp lợi dụng món quà hậu hĩnh của Mỹ. Việc đã xẩy ra đúng như thế. Bảo an quân và cảnh sát giữ 776 tiền đồn của mạn bắc vùng đồng bằng là mục tiêu chính của Việt cộng. Phần lớn những tiền đồn ấy tiếp thu của quân Pháp (có 2.500 tiền đồn trên địa phận Quân đoàn 3) rất dễ nhận thấy : những tháp xây bằng gạch mà Vann gọi là “những chiếc quan tài gạch” chỉ nửa tá cảnh sát và những lô cốt tam giác tường đất có đường hào bao quanh được bố trí không quá một tiểu đội. Xóa bỏ những “trung tâm cung cấp cho người Việt” như Vann và các cố vấn đặt """