"
Sử Ký II. Liệt Truyện (Hạ) - Tư Mã Thiên & Phạm Văn Ánh (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Kinh Điển]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Sử Ký II. Liệt Truyện (Hạ) - Tư Mã Thiên & Phạm Văn Ánh (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Kinh Điển]
Ebooks
Nhóm Zalo
QUYỂN 102
TRƯƠNG THÍCH CHI, PHÙNG ĐƯỜNG LIỆT TRUYỆN
Trương Thích Chi
Đình úy Trương Thích Chi, người Đổ Dương, tự là Quý. Sống cùng anh trai là Trọng. Nhờ có của cải nên được làm Kỵ lang*, thờ Hiếu Văn đế, mười năm không được thăng chức, không có gì để người ta biết tiếng. Thích Chi nói: “Làm quan lâu hao tài sản của anh, không được thỏa ý.” Định xin từ chức về nhà. Trung lang tướng Viên Áng biết Thích Chi là hiền năng, tiếc nếu Chi đi, bèn xin chuyển Thích Chi bổ dụng làm Yết giả*. Thích Chi triều kiến xong, nhân đó tiến lên nói những việc nên làm. Văn đế bảo: “Thấp xuống chút, chớ bàn luận cao quá, làm sao để thời nay có thể thi hành được.” Thế là Thích Chi nói những việc thời Tần, Hán, nguyên nhân khiến Tần mất Hán hưng, nói một hồi lâu. Văn đế khen ngợi, bèn phong Thích Chi làm Yết giả bộc xạ*.
Thích Chi theo xuất hành, lên vườn nuôi hổ. Hoàng thượng hỏi quan Úy vườn Thượng Lâm về sổ sách ghi chép các loài cầm thú, hỏi hơn mười việc, quan Úy nhìn trái ngó phải, đều không trả lời được. Viên Sắc phu* coi vườn hổ đứng cạnh viên Úy trả lời Hoàng thượng rất tường tận về sổ sách ghi chép các loài cầm thú, qua đấy để thấy y có tài ứng đối xuất sắc. Văn đế nói: “Quan lại mà không được thế ư? Viên Úy kia không trông cậy
được?” Bèn hạ lệnh cho Thích Chi phong viên Sắc phu làm Thượng Lâm lệnh. Thích Chi lâu sau tiến lên hỏi: “Bệ hạ thấy Giáng hầu Chu Bột là người thế nào?" Hoàng thượng đáp: “Trưởng giả* vậy.” Lại hỏi: “Đông Dương hầu Trương Tương Như là người thế nào?” Hoàng thượng lại đáp: “Trưởng giả.” Thích Chi nói: “Xét Giáng hầu, Đông Dương hầu đáng xưng tụng là trưởng giả, hai người này lúc bàn việc cứ lắp ba lắp bắp, lẽ nào học theo viên Sắc phu thao thao bất tuyệt ư? Vả nhà Tần dùng những viên thư lại, chỉ tranh làm sao cho nhanh, coi việc hà khắc, cốt so cao thấp, nhưng điều tệ của chúng là chỉ có văn suông thôi, thực chất không có lòng trắc ẩn. Vì thế chưa từng nghe đến lỗi của chúng, [thế mà] ngày càng suy bại, đến Tần Nhị thế, thiên hạ sụt như đất lở. Nay bệ hạ thấy viên Sắc phu có tài ăn nói mà phong vượt bậc, thần sợ thiên hạ hùa theo, tranh nói cho giỏi mà không trọng thực chất. Và lại dưới bắt chước trên nhanh như cái bóng và tiếng vang, dùng người không thể không xét thật kỹ.” Văn để nói: “Phải.” Bèn thôi, không phong cho viên Sắc phu ấy nữa.
Hoàng thượng lên xe, triệu Thích Chi ngồi cùng, đi chầm chậm, hỏi Thích Chi những mối tệ của nhà Tần. [Thích Chi] đều tình thực trả lời. Đến cung, Hoàng thượng phong Thích Chi làm Công xa lệnh*.
Không lâu sau, Thái tử và Lương vương cùng ngồi xe vào triều, đến cửa Tư mã không xuống xe, thấy vậy Thích Chi đuổi theo ngăn Thái tử và Lương Vương, không cho vào cổng điện. Rồi hạch tội bất kính đến cửa Tư mã không chịu xuống xe, tâu lên triều đình. Bạc thái hậu biết chuyện, Văn đế cởi mũ tạ lỗi: “Con dạy con cái không nghiêm.” Bạc Thái hậu bèn sai sứ mang chiếu đến xá tội cho Thái tử và Lương Vương, sau đó cho vào cùng. Văn đế vì thế cho Thích Chi là người kỳ lạ, phong làm Trung đại phu*.
Một thời gian sau, làm đến Trung lang tướng*. Theo hoàng thượng đến Bá Lăng, tới phía bắc lăng mộ dõi trông ra xa. Khi ấy Thận phu nhân đi theo, Hoàng thượng chỉ đường Tân Phong cho Thận phu nhân, bảo rằng: “Đường này đến Hàm Đan đó.” Sai Thận phu nhân đánh đàn sắt, Hoàng thượng nương tiếng đàn mà hát, tình ý thảm đạm bị thương, quay lại bảo quần thần rằng: “Ôi chao! Lấy đá núi phía bắc làm quách, dùng sợi gai sợi tơ để lót, dùng sơn chít các khe, há có thể động vào được?” Tả hữu đều nói: “Phải.” Thích Chi tiến lên rằng: “Nếu bên trong có thứ người ta muốn, dẫu kiên cố như núi Nam vẫn có kẽ hở; nếu bên trong không có thứ người ta muốn, dẫu không có đá có quách, sao phải lo?” Văn để khen phải. Rồi sau, phong Thích Chi làm Đình úy*
Thời gian sau, Hoàng thượng xuất hành qua cầu Trung Vị, có người từ dưới cầu chạy ra, khiến ngựa kéo xe kinh sợ. Liền sai kỵ mã bắt, giao cho Đình úy. Thích Chi thẩm vấn, hắn nói: “Tôi người huyện này, đến đây, nghe lệnh cấm đường, ẩn mình dưới cầu. Hồi lâu, cho là vua đã đi qua, liền chạy ra, thấy xe ngựa kỵ mã, vội bỏ chạy.” Đình úy tâu lên, một người phạm lệnh cấm đường, đáng phạt tiền. Văn đế giận nói: “Người này làm ngựa của ta kinh sợ, may ngựa của ta thuần tính nhu hòa, nếu ngựa khác, chẳng phải đã làm tổn thương đến ta sao? Thế mà Đình úy xử tội phạt tiền?” Thích Chi nói: “Pháp luật, thiên tử và thiên hạ đều tuân thủ như nhau. Nay pháp luật quy định như thế mà xử nặng thêm, dân sẽ không tin nữa. Vả lại lúc ấy, Hoàng thượng giết ngay thì thôi. Nay đã giao cho Đình úy, Đình úy là cán cân công bằng thiên hạ, nếu nghiêng một bên, thiên hạ dùng pháp luật đều biến nhẹ thành nặng, dân biết đặt chân tay vào đâu nữa? Xin bệ hạ xét kỹ cho.” Lâu sau, Hoàng thượng nói: “Đình úy xử thế là phải.”
Về sau, có người trộm vòng ngọc trước bệ thờ Cao miếu*, bị bắt, Văn đế tức giận, giao Đình úy trị tội. Thích Chi chiếu theo luật xử tội trộm đồ phục sức ở tông miếu, tâu tội đáng chém giữa chợ. Hoàng thượng cả giận nói: “Người này vô đạo, dám trộm đồ tông miếu tiên đế, ta giao Đình úy, là muốn xử cả họ y, vậy mà ông dựa pháp luật tấu lên, đó không phải tỏ ý sùng kính tông miếu của ta.” Thích Chi cởi mũ dập đầu tạ tội: “Theo luật xử thế là đủ. Và cũng tội chết, nhưng chia ra nghịch thuận khác nhau. Nay trộm đồ trong tông miếu mà giết cả họ, vạn nhất có ngu dân nào lấy ít đất ở Trường Lăng*, bệ hạ lấy gì xử nặng thêm được?” Hồi lâu, Văn đế và Thái hậu mới lên tiếng, cho Đình úy xử lý thỏa đáng. Bấy giờ, quan Trung úy Điều hầu Chu Á Phu và Tướng quốc nước Lương là Sơn Đô hầu Vương Điềm Khai thấy Thích Chi chấp pháp công bằng, bèn kết làm bạn thân. Trương Đình úy nhờ đó được thiên hạ khen ngợi.
Sau, Văn đế băng hà, Cảnh đế lên ngôi, Thích Chi sợ, thác bệnh. Muốn từ chức về nhà, sợ bị giết đến nơi; định yết kiến tạ tội nhưng chưa biết làm cách nào. Theo kế của Vương Sinh, rốt cục được yết kiến tạ tội, Cảnh đế không bắt lỗi.
Vương Sinh giỏi về học thuyết Hoàng-Lão, là ẩn sĩ. Sinh từng được triệu vào triều, tam công Cửu khanh đều đông đủ, Vương Sinh cao tuổi, nói: “Giày tôi tuột”, quay lại bảo Trương Đình úy: “Buộc giày giúp tôi?” Thích Chi quỳ xuống buộc dây giày cho. Sau, có người bảo Vương Sinh: “Sao ông làm nhục Trương đình úy giữa triều đình, sai quỳ buộc dây giày thế?” Vương Sinh đáp: “Tôi già cả lại hèn hạ, tự xét trọn đời cũng chẳng ích gì cho Trương Đình úy. Nay Trương Đình úy là danh thần thiên hạ, tôi cố ý làm nhục Đình úy, khiến quỳ buộc dây giày, muốn làm ông ấy được coi
trọng đó.” Các công khanh biết chuyện đó, cho Vương Sinh hiền năng, lại càng coi trọng Trương Đình úy.
Trương Đình úy thờ Cảnh đế hơn năm, làm Tướng quốc cho Hoài Nam vương, do trước có lỗi với Cảnh đế. Lâu sau, Thích Chi chết, con là Trương Chí, tự Trưởng Công, làm quan đến Đại phu, bị bãi chức. Do không thể làm vui lòng người quyền quý đương triều, nên trọn đời không làm quan nữa.
Phùng Đường
Phùng Đường, ông nội là người Triệu. Cha sang ở đất Đại. Nhà Hán nổi lên lại rời đến An Lăng. Đường nổi tiếng hiếu thuận, làm Trung lang thị trưởng, thờ Văn đế. Văn đế đi xe qua, hỏi Đường rằng: “Cụ sao còn làm quan Lang? Nhà cụ ở đâu?" Đường cứ tình thực trả lời. Văn đế nói: “Lúc ta ở đất Đại, quan coi việc ăn uống cho ta là Cao Khư nhiều lần nói về sự hiền năng của tướng quân nước Triệu là Lý Tề, từng đánh trận dưới thành Cự Lộc. Nay mỗi khi ta dùng cơm, tâm ý không lúc nào không để ở Cự Lộc. Cụ biết người đó không?" Đường đáp rằng: “Cũng chưa bằng Liêm Pha, Lý Mục làm tướng đâu.” Hoàng thượng hỏi: “Tại sao?” Đường đáp: “Ông thần lúc làm quan ở Triệu, thống lãnh các tướng, thân với Lý Mục. Cha thần vốn là Tướng quốc nước Đại, thân với tướng Triệu là Lý Tề, do đó biết ông ta là người thế nào.” Hoàng thượng từng nghe nói về Liêm Pha, Lý Mục là người thế nào, rất thích thú, liền vỗ đùi nói: “Ôi chao! Riêng ta không có được Liêm Pha, Lý Mục làm tướng, nếu có, ta há lo giặc Hung Nô ư?” Đường nói: “Bệ hạ dẫu có Liêm Pha, Lý Mục cũng không thể dùng được đâu.” Hoàng thượng nổi giận, đứng dậy đi vào trong cung. Lâu sau, triệu Đường đến trách: "Sao ông làm nhục ta trước đám
đông, không có chỗ khác để nói à?” Đường tạ lỗi rằng: “Kẻ bỉ lậu này không biết kiêng kỵ.”
Lúc bấy giờ, Hung Nô mới kéo đại quân vào Triều Na, giết Đô úy Bắc Địa là Ngang. Hoàng thượng lo lắng về việc giặc Hồ, cuối cùng hỏi Đường: “Sao ông biết ta không thể dùng được Liêm Pha, Lý Mục?” Đường đáp rằng: “Thần nghe nói vương giả thời thượng cổ khiển tướng, quỳ gối đẩy xe, nói rằng việc trong triều quả nhân xử trí, việc ngoài triều tướng quân xử trí. Việc quân công tước thưởng đều quyết định bên ngoài, về mới tâu. Đó không phải nói suông vậy. Ông nội thần nói, Lý Mục làm tướng nước Triệu ở biên giới, thuế thu được từ chợ trong quân đều nuôi quân sĩ, việc ban thưởng do tướng bên ngoài quyết định, triều đình không can thiệp. Giao trọng trách và đòi hỏi thành công, nên Lý Mục mới được dốc hết trí tuệ, chọn lấy một nghìn ba trăm cỗ xe, một vạn ba nghìn kỵ binh giỏi cung nỏ, mười vạn quân sĩ thiện chiến, để phía bắc truy kích Thiền vu, phá Đông Hồ, diệt Đạm Lâm, phía tây khống chế Tần hùng mạnh, phía nam trợ giúp Hàn, Ngụy. Lúc bấy giờ, Triệu như muốn xưng bá. Về sau, Triệu vương Thiên lên ngôi, mẹ là con hát. Triệu vương Thiên lên ngôi, liền nghe sàm tấu của Quách Khai, chém chết Lý Mục, sai Nhan Tụ thay thế. Cho nên quân tan tướng chạy, bị Tần bắt giết. Nay thần trộm nghe Ngụy Thượng làm Quận thú Vân Trung, tô thuế ở chợ trong quân lấy hết nuôi quân sĩ, xuất bổng lộc riêng, năm ngày giết một con trâu, thết đãi tân khách cùng quân lại và xá nhân, khiến Hung Nô lánh xa, không dám gần biên giới Vân Trung. Giặc từng xâm nhập một lần, Thượng thống lãnh xa kỵ tiến đánh, giết được rất nhiều. Xét sĩ tốt đều là con em dân thường, xuất thân đồng ruộng rồi tòng quân, đâu biết sổ sách ghi quân lệnh quân công là gì. Suốt ngày ra sức chiến đấu, chém đầu giặc bắt tù binh, dâng công lên
quan tướng, một lời không phù hợp, bọn văn lại dùng pháp luật chế ước. Đáng thưởng không thưởng, lại tin dùng bọn quan lại dùng phép tắc chế ước. Thần ngu muội, cho là pháp lệnh của bệ hạ quả nghiêm minh, thưởng quá ít, phạt quá nặng. Vả lại Quận thú Vân Trung là Ngụy Thượng báo công vì thiếu sáu thủ cấp địch, bệ hạ giao quan xử lý, bỏ tước phong, xử một năm lao dịch. Từ đó mà nói, bệ hạ dẫu có Liêm Pha, Lý Mục, cũng không thể dùng được. Thần thực ngu muội, phạm chỗ cấm kỵ tội chết, tội chết!” Văn đế rất vui. Ngay hôm ấy, lệnh cho Phùng Đường cầm phù tiết xá tội cho Ngụy Thượng, phục chức Quận thú Vân Trung, phong Đường làm Xa kỵ đô úy, quản các Trung úy và quân chiến xa các quận trong nước.
Bảy năm sau, Cảnh đế lên ngôi, phong Đường làm Tướng quốc nước Sở, rồi lại bãi chức. Vũ đế lên ngôi, cầu người hiền lương, cất cử Phùng Đường. Đường bấy giờ đã trên chín mươi tuổi, không thể làm quan được nữa, bèn lấy con trai Đường là Phùng Toại làm quan Lang. Toại tự là Vương Tôn, cũng là kỳ sĩ, bạn thân của ta.
Thái sử công bàn rằng: Trương Quý bàn về trưởng giả, giữ pháp độ không dua theo ý nhà vua; Phùng công luận việc khiến tướng, rất có ý vị, rất có ý vị! Ngạn ngữ nói: “Không biết người nào, hãy xem bạn họ.” Việc hai người được xưng tụng, có thể khiến triều đình rạng rỡ. Kinh Thư viết: “Không thiên tư không kết đảng, đạo của nhà vua rộng rãi, không kết đảng không thiên tư, đạo của nhà vua công bằng.”* Trương Quý, Phùng công gần được thế vậy.
QUYỂN 103
VẠN THẠCH, TRƯƠNG THÚC LIỆT TRUYỆN
Thạch Phấn, Thạch Kiến
Vạn Thạch quân tên là Phấn, cha người nước Triệu, họ Thạch. Nước Triệu mất, rời sang sống ở huyện Ôn. Cao tổ sang đông đánh Hạng Tịch, qua Hà Nội, bấy giờ Phấn mười lăm tuổi, làm tiểu lại, hầu cận Cao tổ. Cao tổ nói chuyện cùng, yêu quý vị Phấn rất cung kính, hỏi rằng: “Nhà mày còn những ai?” Đáp rằng: “Phấn chỉ còn mẹ, bất hạnh mắt mù, nhà nghèo, có chị, biết gảy đàn sắt.” Cao tổ hỏi: “Mày muốn theo ta không?" Đáp: “Xin tận sức.” Thế là Cao đế triệu chị Phấn, hóa ra là mỹ nhân, cho Phấn làm Trung quyên, phụ trách nhận thư từ danh thiếp, dời nhà Phấn đến làng Thích Lý trong thành Trường An, do chị Phấn là mỹ nhân vậy. Làm quan đến thời Hiếu Văn đế, tích lũy công lao, làm tới Thái trung đại phu*. Không có văn tài, nhưng cung kính cẩn trọng không ai sánh bằng.
Thời Văn đế, Đông Dương hầu Trương Tương Như làm Thái tử Thái phó, bị bãi chức. Chọn người có thể giữ chức Thái phó, đều tiến cử Phấn, Phấn được làm Thái tử Thái phó*. Khi Hiếu Cảnh đế lên ngôi, phong làm Cửu khanh; Phấn ở gần, Hoàng đế sợ, bèn chuyển Phấn làm Tướng quốc cho chư hầu. Con trưởng của Phấn là Kiến, thứ hai là mỗ, thứ ba là mỗ*, thứ tư là Khánh, đều đức hạnh thuần hậu, hiếu thuận cẩn trọng, làm quan đến trật hai nghìn thạch. Thế là Cảnh đế nói: “Thạch quân cùng bốn người
con đều làm quan đến hạng hai nghìn thạch, bề tôi được tôn sủng đều tập trung ở nhà ông ta.” Phấn được xưng hiệu là Vạn Thạch quân. Năm cuối thời Hiếu Cảnh đế, Vạn Thạch quân được hưởng lộc Thượng đại phu, về nhà dưỡng lão, hằng năm khi triều hội, lấy tư cách đại thần vào chầu. Qua cổng cung, Vạn Thạch quân ắt xuống xe rảo bước vào, thấy xe vua trên đường đều giữ đúng nghi thức. Con cháu làm tiểu lại, về nhà đến bái yết, Vạn Thạch quân phải mặc triều phục mới gặp, không gọi theo tên. Con cháu có lỗi lầm, không trách mắng, cho ngồi một bên, người ngồi đối diện không cho ăn uống. Rồi sau các con phê bình lẫn nhau, người có tuổi phạm lỗi phải cởi trần tạ tội, sửa đổi, mới được chấp nhận. Con cháu ai đến tuổi đội mũ* ở bên cạnh, dẫu ngày thường cũng phải đội mũ, nghiêm cẩn đến thế. Đầy tớ vui vẻ, vâng dạ cẩn trọng. Khi Hoàng thượng ban đồ ăn cho gia đình, ắt dập đầu phủ phục mà ăn, hệt như trước mặt Hoàng thượng. Khi xử lý việc tang, tỏ rõ đau đớn thương xót. Con cháu noi theo dạy bảo, cũng hệt như thế. Gia đình Vạn Thạch quân nhờ hiếu thuận cẩn trọng, nổi tiếng khắp các quận trong nước, dẫu các nhà phẩm hạnh chất phác ở Tề, Lỗ, đều tự cho mình không bằng. Năm Kiến Nguyên thứ hai, Trung lang lệnh Vương Tang vì văn học mà mắc tội. Hoàng thái hậu cho là nhà nho chuộng văn vẻ mà kém phẩm hạnh, nay nhà Vạn Thạch quân không nói nhiều mà chủ động thi hành, bèn phong con trưởng là Kiến làm Lang trung lệnh, con út là Khánh làm Nội sử. Kiến già bạc đầu, Vạn Thạch quân còn khỏe mạnh. Kiến làm Lang trung lệnh, cứ làm năm ngày được nghỉ ngơi một ngày, lại về thăm cha, vào phòng kế bên, trộm hỏi người hầu, lấy quần lót cha mặc và bô, tự tay giặt rửa rồi giao cho người hầu, không dám để Vạn Thạch quân biết, coi đó là việc thường. Kiến làm Lang trung lệnh, việc gì cần nói, đuổi hết người
bên cạnh, lời nói tận tình, khẩn thiết; đến khi triều kiến, tựa như chưa từng nói gì. Vì thế Hoàng thượng rất tôn trọng, dùng lễ đối đãi. Vạn Thạch quân chuyển ra ở Lăng Lý. Nội sử Khánh say rượu về nhà, đến cổng ngoài không xuống xe. Vạn Thạch quân hay chuyện, bỏ ăn. Khánh sợ, để trần xin nhận tội, không cho. Cả họ tộc cùng anh là Kiến đều cởi trần thỉnh tội, Vạn Thạch quân trách rằng: “Nội sử là người sang quý, vào cổng làng, trưởng lão trong làng đều chạy đi ẩn, thế mà Nội sử nghênh ngang ngồi xe, phạt thế thỏa đáng!” Bèn dạy bảo rồi tha cho. Khánh cùng các con em vào cổng làng, chạy vội về nhà.
Năm Nguyên Sóc thứ năm, Vạn Thạch quân mất. Con trưởng là Lang trung lệnh Kiến khóc lóc đau đớn, chống gậy mới đi nổi. Hơn năm sau, Kiến cũng chết. Các con cháu đều hiếu thuận, nhưng Kiến hiếu nhất, hơn cả Vạn Thạch quân.
Kiến làm Lang trung lệnh, dâng thư tâu việc, được phê chuẩn rồi chuyển xuống, Kiến đọc bản tấu, nói: “Viết nhầm rồi! Chữ 'mã' (⾺) cùng phần đuôi đáng lẽ năm nét, nay viết bốn nét, thiếu một nét, Hoàng thượng trách tội chết mất!” Vô cùng sợ sệt. Ông tính cẩn thận, với việc khác cũng như thế.
Thạch Khánh
Con út Vạn Thạch quân là Khánh làm chức Thái bộc*, khi ngự giá ra ngoài, Hoàng thượng hỏi trước xe có mấy con ngựa, Khánh cầm roi trỏ từng con xong, giơ tay đáp: “Sáu con ngựa.” Trong số các con, Khánh ít cẩn trọng nhất, mà còn như thế. [Khánh] làm Tướng quốc nước Tề, cả nước Tề đều ngưỡng mộ đức hạnh gia đình ông, không cần nói mà Tề rất yên trị, lập đền thờ gọi là Thạch tướng từ*.
Năm Nguyên Thú thứ nhất, Hoàng thượng lập Thái tử, chọn bề tôi có thể làm Thái phó, Khánh từ Quận thủ quận Bái phong lên làm Thái tử Thái phó, được bảy năm thăng làm Ngự sử đại phu.
Năm Nguyên Đỉnh thứ năm, mùa thu, Thừa tướng có tội, bị bãi chức. Hạ chiếu cho Ngự sử: “Vạn Thạch quân là người được tiên đế tôn trọng, con cháu hiếu thảo, nay lấy Ngự sử đại phu Khánh làm Thừa tướng, phong làm Mục Khâu hầu.” Lúc này nhà Hán đang xuống phía nam thảo phạt lưỡng Việt*, sang đông tấn công Triều Tiên, lên bắc truy kích Hung Nô, sang tây đánh Đại Uyển, trong nước nhiều việc. Thiên tử tuân thủ trong nước, sửa sang miếu thần thượng cổ, làm lễ tế trời, đại hưng lễ nhạc. Của cải quốc gia thiếu thốn, bọn Tang Hoằng Dương phụ trách làm lợi cho nước, bọn Vương Ôn Thư giữ luật nghiêm khắc, bọn Nghệ Khoan sùng chuộng văn học, làm quan đến Cửu khanh, thay nhau nắm việc, không cần Thừa tướng quyết định, Thừa tướng chỉ cần trung hậu cẩn trọng mà thôi. Tại vị được chín năm, không nói được gì về việc khuông phò. Thạch Khánh từng muốn xin trị tội cận thần Sở Trung và quan Cửu khanh là Hàm Tuyên, không thể khiến họ nhận tội, trái lại còn bị trách lỗi, phải chuộc tội.
Trong năm Nguyên Phong thứ tư, Quan Đông có hai trăm vạn lưu dân, người không có hộ tịch tới bốn mươi vạn, công khanh bàn nghị, muốn xin dời lưu dân đến biên giới, như bị biếm trích. Hoàng thượng cho rằng Thừa tướng cao tuổi cẩn trọng, không thể cùng bàn nghị, bèn cho Thừa tướng cáo lão hồi hương, rồi xem xét đề nghị của Ngự sử đại phu. Thừa tướng hổ thẹn vì không được bổ nhậm, bèn dâng thư: “Khánh may được làm Thừa tướng để đợi tội, như con ngựa hèn chẳng biết lấy gì giúp cuộc trị lý, thành quách kho lẫm trống không, dân phần nhiều lưu vong, đáng tội búa rìu, Hoàng thượng không nỡ lòng xử tội. Xin trả lại ấn Thừa tướng, ấn
phong hầu, đem bộ xương tàn về quê, tránh đường cho người hiền tài.” Thiên tử nói: “Kho lương đã trống, dân nghèo lưu vong, ông lại muốn dời đi, khiến họ lay động không yên, chấn động nguy cấp, mà lại từ chức, ông muốn đổ cái khó cho ai đây?” Hạ chiếu trách Khánh, Khánh rất hổ thẹn, bèn quay lại xử lý chính sự.
Khánh văn nghĩa sâu xa, thẩm xét cẩn thận, nhưng không có mưu lược lớn, không nói được gì cho trăm họ. Hơn ba năm sau, trong năm Thái Sơ thứ hai, Thừa tướng Khánh chết, thụy là Điềm hầu. Con giữa của Khánh là Đức, được Khánh tin yêu coi trọng, Hoàng thượng lấy Đức thừa tự, thay Khánh nối tiếp tước hầu. Sau làm quan Thái thường, phạm pháp bị xử chết, được chuộc tội, bị giáng làm dân thường. Khánh đương làm Thừa tướng, các con cháu có mười ba người làm quan đến hạng hai nghìn thạch. Sau khi Khánh chết, một số bị tội bãi chức, sự hiếu thuận cẩn trọng ngày một suy.
Vệ Oản
Kiến Lăng hầu Vệ Oản, người Đại Lăng đất Đại. Oản nhờ tài điều khiển xe ngựa được làm quan Lang, thờ Văn đế, xét công lao được thăng lên Trung lang tướng, thuần hậu cẩn trọng, chẳng còn gì khác. Hiếu Cảnh đế khi làm Thái tử, triệu thân cận của Hoàng thượng đến uống rượu, còn Oản thác bệnh không đi. Lúc Văn đế sắp mất, dặn Cảnh đế rằng: “Oản là bậc trưởng giả, hãy đối xử tốt với ông ta.” Đến khi Văn đế băng hà, Cảnh đế lên ngôi, hơn năm không trách mắng Oản, Oản ngày càng cẩn trọng.
Cảnh đế ra chơi vườn Thượng Lâm, hạ chiếu Trung lang tướng ngồi cùng xe, trở về hỏi rằng: “Ông biết tại sao được ngồi cùng xe không?” Oản đáp: “Thần từ kẻ đánh xe, may được xét công thẳng lên làm Trung
lang tướng, không biết nguyên nhân thế nào.” Hoàng thượng hỏi: “Lúc ta làm Thái tử có triệu ngươi, ngươi không chịu đến là cớ làm sao?” Đáp rằng: “Tội thần đáng chết, thần thực bị ốm!” Hoàng thượng ban kiếm. Oản nói: “Tiên đế ban cho thần sáu thanh kiếm, thần không dám vâng chiếu nhận thêm.” Hoàng thượng nói: “Kiếm, người ta mua đi bán lại, riêng người giữ đến nay chăng?” Oản đáp: “Còn đủ.” Hoàng thượng sai lấy sáu thanh kiếm, kiếm còn trong bao, chưa từng đeo qua. Quan Lang có lỗi, thường phải chịu tội, không được đổ thừa cho tướng quan khác; nếu có công, hay nhường tướng khác. Hoàng thượng cho là liêm chính, trung thực, không có lòng khác, bèn phong Oản làm Thái phó cho Hà Gian vương. Ngô, Sở làm phản, hạ chiếu sai Oản làm tướng, đem quân Hà Gian đi đánh Ngô, Sở có công, phong làm Trung úy. Được ba năm, nhờ quân công, trong năm Tiền Nguyên thứ sáu thời Cảnh đế, phong Oản làm Kiến Lăng hầu.
Năm sau, Hoàng thượng phế truất Thái tử, giết thuộc quan Lật Khanh. Hoàng thượng cho Oản là bậc trưởng giả, không nỡ trị tội, bèn ban cho Oản cáo lão về quê, rồi sai Chất Đô bắt họ Lật trị tội. Xong xuôi, Hoàng thượng lập Giao Đông vương làm Thái tử, triệu Oản về, phong làm Thái tử Thái phó. Lâu sau, thăng làm Ngự sử đại phu. Được năm năm, thay vào hầu Lưu Xá làm Thừa tướng, vào triều tâu việc theo đúng chức trách. Nhưng từ khi mới làm quan đến lúc làm Thừa tướng, trước sau không có gì đáng nói. Thiên tử cho là người đôn hậu, có thể giúp thiếu chúa, tôn sùng ông ta, ban thưởng rất nhiều.
Oản làm Thừa tướng được ba năm, Cảnh đế băng hà, Vũ đế lên ngôi. Trong niên hiệu Kiến Nguyên, Thừa tướng nhân lúc Cảnh đế bị bệnh, tù nhân của đám quan thư nhiều người bị tội lụy, nên bị coi không xứng với
chức vị, bị bãi quan. Sau đó Oản chết, con là Tín lên thay, dâng vàng làm tế khí sai lễ chế, bị phế tước hầu.
Trực Bất Nghi
Tái hầu Trực Bất Nghi là người Nam Dương. Làm quan Lang, thờ Văn đế. Cùng chỗ ông ở có người cáo lão về quê, cầm nhầm vàng của quan Lang cùng ở khác, thế rồi người đó phát hiện, định đổ xằng cho Bất Nghi, Bất Nghi tạ lỗi nhận cầm, mua vàng đền. Người cáo lão về quê trở lại trả vàng, viên quan Lang mất vàng trước đây rất hổ thẹn, nhân đó khen Bất Nghi là trưởng giả. Văn đế khen ngợi, từng bước thăng đến Thái trung đại phu. Hội kiến ở triều đình, có người hủy báng: “Bất Nghi tướng mạo rất đẹp, nhưng không hiểu sao khéo trộm cả chị dâu!”* Bất Nghi nghe được, nói: “Tôi không có anh trai.” Cuối cùng chẳng tự thanh minh.
Khi Ngô, Sở làm phản, Bất Nghi đang làm quan hạng hai nghìn thạch, cầm quân tiến đánh. Thời Cảnh đế năm Hậu Nguyên thứ nhất, phong làm Ngự sử đại phu. Thiên tử xét công người tham gia dẹp loạn Ngô, Sở, bèn phong Bất Nghi làm Tái hầu. Thời Vũ đế, niên hiệu Kiến Nguyên, cùng Thừa tướng Oản đều vì mắc lỗi nên bị bãi miễn.
Bất Nghi học theo Lão tử, đến chỗ nào cũng làm như các quan thời xưa, chỉ sợ người ta biết sự tích làm quan của mình. Không muốn lập danh tiếng, được khen là trưởng giả. Bất Nghi chết, con là Tương Như lên thay. Cháu nội là Vọng, dâng vàng làm tế khí sai lễ chế, bị mất tước hầu.
Chu Nhân
Lang trung lệnh Chu Văn, tên là Nhân, tổ tiên vốn người Nhậm Thành. Nhờ làm nghề thuốc nên được tấn kiến. Cảnh đế khi là Thái tử, cho làm
Xá nhân, tích công thăng dần, đến thời Hiếu Văn đế làm tới Thái trung đại phu. Cảnh đế mới lên ngôi, phong Nhân làm Lang trung lệnh. Nhân vốn thâm trầm kín đáo, thường mặc áo vá, quần ướt nước tiểu, cho nên không sạch sẽ, nhờ đó được sủng ái. Cảnh đế vào hậu cung, bí mật đùa cợt với cung tần, Nhân thường ở bên. Đến khi Cảnh đế băng hà, Nhân vẫn làm Lang trung lệnh, cũng chẳng có gì đáng nói. Có lần Hoàng thượng hỏi về người khác, Nhân đáp: “Hoàng thượng tự xét xem.” Cũng không hề hủy báng. Vì thế Cảnh đế hai lần đến nhà. Gia đình Nhân chuyển đến Dương Lăng. Hoàng thượng ban tặng rất nhiều, nhưng thường từ chối, không dám nhận. Chư hầu quần thần đưa hối lộ, trước sau không nhận của ai.
Vũ đế lên ngôi, cho là bề tôi của tiên đế, tôn trọng Nhân. Nhân cáo bệnh xin từ chức, được hưởng lộc hai nghìn thạch về quê, con cháu đều làm đại quan.
Trương Âu
Ngự sử đại phu Trương Thúc, tên là Âu, con ngành thứ của An Khâu hậu Trương Duyệt. Thời Hiếu Văn đế, dựa vào thuyết Hình danh, để phụng sự Thái tử. Nhưng Âu tuy theo Hình danh, song lại là bậc trưởng giả. Thời Cảnh đế, được tôn trọng, từng làm quan Cửu khanh. Đến thời Vũ đế, năm Nguyên Sóc thứ tư, Hàn An Quốc bị bãi chức, chiếu phong Âu làm Ngự sử đại phu. Từ khi Âu làm quan, chưa từng nói muốn tra án ai, chuyên lấy sự thành khẩn trung hậu xử lý việc quan. Thuộc quan cho ông là trưởng giả, cũng không dám khinh khi. Tâu trình việc ngục tụng, việc có thể thẩm xét lại thì thẩm xét; việc không thể thẩm xét lại bất đắc dĩ phải
chịu, nhỏ lệ rồi đích thân xem xét, niêm phong. Lòng yêu người đến thế đấy.
Tuổi già bệnh nặng, xin từ quan. Thế rồi thiên tử cũng ban chế sách cho nghỉ, cáo lão về nhà hưởng lộc bậc Thượng đại phu. Nhà ở Dương Lăng, con cháu đều làm đại quan.
Thái sử công bàn rằng: Trọng Ni có nói: “Người quân tử muốn trì độn trong lời nói mà mẫn tiếp ở việc làm, là nói về Vạn Thạch, Kiến Lăng, Trương Thúc chăng? Vì thế họ giáo hóa không nghiêm nghị mà thành công, không hà khắc mà an trị. Tái hầu làm quan khôn khéo, còn Chu Văn lại bợ đỡ, bị người quân tử chỉ trích, coi họ gần như xu nịnh. Nhưng như họ có thể gọi là quân tử biết dốc sức vào việc vậy!
QUYỂN 104
ĐIỀN THÚC LIỆT TRUYỆN
Điền Thúc, người Hình Thành nước Triệu. Tổ tiên là hậu duệ họ Điền nước Tề. Thúc thích kiếm thuật, học thuật Hoàng Lão từ Lạc Cự công. Thúc là người chuộng nghiêm chính liêm khiết, thích du ngoạn cùng tiền bối. Người Triệu tiến cử Điền Thúc cho Tướng quốc nước Triệu là Triệu Ngọ, Ngọ nói với Triệu vương Trương Ngao, Triệu vương cho làm Lang trung. Được mấy năm, hết mực chính trực công bằng, Triệu vương cho là hiền năng, chưa kịp thăng chức.
Đúng lúc Trần Hy làm phản ở đất Đại, nhà Hán năm thứ bảy, Cao tổ sang thảo phạt, qua Triệu, Triệu vương Trương Ngao tự cầm khay dâng đồ ăn, lễ rất cung kính, Cao tổ ngồi xổm mắng ông ta. Bấy giờ, bọn Tướng quốc nước Triệu là Triệu Ngọ mấy chục người đều nổi giận, nói với Trương Vương: “Đại vương thờ Hoàng thượng đã tận lễ, nay lại đối xử với đại vương thế, bọn thần xin làm loạn.” Triệu vương cắn ngón tay chảy máu, nói: “Tiền nhân để mất nước, không có bệ hạ, bọn ta chỉ như dòi bọ chui ra từ thây xác. Sao các ông lại nói thế! Không được nói ra nữa!” Thế rồi bọn Quán Cao nói: “Đại vương là bậc trưởng giả, không phản bội người có đức.” Cuối cùng bàn mưu riêng giết Hoàng thượng. Khi việc bị phát giác, nhà Hán hạ chiếu bắt Triệu vương cùng bề tôi làm phản. Vì thế bọn Triệu Ngọ đều tự sát, chỉ có Quán Cao bị trói. Lúc đó, nhà Hán hạ
chiếu thư: “Người Triệu ai dám theo Triệu vương, tội cả ba họ.” Duy có bọn Mạnh Thư, Điền Thúc hơn mười người mặc áo đỏ, gọt tóc, xưng gia nô của Triệu vương, theo Triệu vương Ngao đến Trường An. Quán Cao trình bày rõ việc, Triệu vương Ngao được thả, bị phế làm Tuyên Bình hầu, rồi tiến cử bọn Điền Thúc hơn mười người. Hoàng thượng triệu kiến tất cả, cùng trò chuyện, bề tôi trong triều nhà Hán không ai hơn được họ, Hoàng thượng quý mến, phong hết làm Quận thú hoặc Tướng quốc cho chư hầu. Thúc làm Quận thú Hán Trung hơn mười năm, đúng lúc Cao hậu băng hà, đám họ Lã làm loạn, đại thần chu diệt, lập Hiếu Văn đế.
Sau khi Hiếu Văn đế lên ngôi, triệu Điền Thúc đến hỏi: “Ông biết ai là trưởng giả trong thiên hạ không?” Đáp rằng: “Thần đâu đủ khả năng biết điều ấy?" Hoàng thượng nói: “Ông là trưởng giả, nên biết điều đó.” Thúc dập đầu nói: “Mạnh Thư, Quận thú Vân Trung trước kia là trưởng giả vậy.” Lúc ấy giặc đông kéo vào cướp bóc biên ải, Vân Trung cực kỳ nguy cấp, Mạnh Thư bị bãi chức. Hoàng thượng nói: “Tiên đế sắp đặt Mạnh Thư ra Vân Trung hơn chục năm, giặc vừa vào, Mạnh Thư đã không thể giữ vững, sĩ tốt bất ngờ phải chiến đấu chết đến mấy trăm người. Trưởng giả lại cố ý giết người ư? Sao ông nói Mạnh Thư là trưởng giả?” Thúc khấu đầu đáp: “Chính thế Mạnh Thư mới là trưởng giả vậy. Xét bọn Quán Cao mưu phản, Hoàng thượng hạ chiếu nói rõ, người Triệu ai dám theo Triệu vương, tội cả ba họ. Nhưng Mạnh Thư tự gọt tóc, theo Triệu vương Ngao đến chỗ phải đến, muốn lấy thân mình chết thay, há tự biết sẽ làm Quận thú Vân Trung ư! Hán và Sở chống nhau, sĩ tốt mỏi mệt. Mặc Đốn ở Hung Nô mới hàng phục man di phía bắc, kéo đến xâm hại biên cương, Mạnh Thư biết sĩ tốt mỏi mệt, không nỡ nói ra, quân sĩ tranh lên thành liều chết với địch, như con vì cha, em vì anh, cho nên chết mấy trăm người.
Mạnh Thư đâu cố ý xua họ ra đánh! Thế nên mới cho Mạnh Thư là trưởng giả vậy.” Rồi Hoàng thượng nói: “Hiền thay Mạnh Thư!” Lại triệu Mạnh Thư, cho làm Quận thú Vân Trung.
Mấy năm sau, Thúc phạm pháp bị mất chức. Lương Hiếu vương sai người giết Tướng quốc nước Ngô trước đây là Viên Áng, Cảnh đế triệu Điền Thúc tra xét án Lương Vương, nắm rõ sự việc, về báo. Cảnh đế hỏi: “Nước Lương có việc ấy ư?” Thúc đáp rằng: “Tội chết! Có việc đó.” Hoàng thượng hỏi: “Việc ấy thế nào?" Điền Thúc đáp: “Hoàng thượng không cần truy cứu việc nước Lương nữa.” Hoàng thượng hỏi: “Tại sao?" Đáp: “Nay Lương vương không bị giết, luật nhà Hán không thi hành được; nếu xử theo quốc pháp, sẽ khiến Thái hậu ăn không ngon, ngủ không yên, đó là điều bệ hạ lo lắng.” Cảnh đế coi là người hiền năng, cho làm Thừa tướng nước Lỗ.
Thừa tướng mới đến Lỗ, dân tự nói với Thừa tướng, hơn trăm người tố cáo Lỗ Vương chiếm của cải. Điền Thúc bắt giữ hai mươi người trong số họ, một số người bị đánh năm mươi gậy, còn lại đều bị đánh hai mươi gậy, giận nói: “Lỗ vương không phải chúa của các ngươi ư? Sao dám tự ý tố cáo chúa mình?” Lỗ vương nghe vậy rất thẹn, phát tiền trong phủ, sai Thừa tướng đem bồi thường. Thừa tướng nói: “Đại vương tự chiếm đoạt, lại sai Thừa tướng đem trả, ấy là đại vương làm ác mà Thừa tướng làm thiện đấy.” Thừa tướng không dự vào việc bồi thường. Thế rồi Lỗ vương bèn bồi thường hết bọn họ.
Lỗ vương thích săn bắn, Thừa tướng thường theo vào trong vườn, Lỗ Vương cho Thừa tướng đến quán xá nghỉ, Thừa tướng đi khỏi, thường ngồi ngoài trời phía ngoài vườn. Lỗ Vương nhiều lần sai người đề nghị Thừa tướng nghỉ, nhưng quyết không nghỉ, nói: “Vua của ta dầm mưa dãi
nắng trong vườn, sao mình ta về quán xá nghỉ được!” Lỗ vương vì thế không năng đi săn nữa.
Mấy năm sau, Thúc chết khi đang tại chức, Lỗ vương đem trăm cân vàng cúng tế, con út ông là Nhân không nhận, nói: “Không vì trăm cân vàng mà tổn hại danh tiếng tiên nhân được.”
Nhân do thân thể tráng kiện được làm Xá nhân cho Vệ tướng quân, nhiều lần theo đánh Hung Nô. Vị tướng quân tiến cử Nhân, Nhân làm Lang trung. Mấy năm sau, làm Thừa tướng trưởng sử hàng quan hai nghìn thạch, lại bị mất chức. Về sau, được sai đi kiểm tra Tam Hà. Hoàng thượng tuần du sang đông, Nhân tâu việc, có văn từ, Hoàng thượng thích, phong làm Kinh phụ đô úy. Được hơn tháng, Hoàng thượng thăng lên Tư trực. Mấy năm sau, phạm tội liên quan đến Thái tử. Bấy giờ, Tả thừa tướng tự cầm quân, sai Tư trực Điền Nhân coi việc đóng cổng thành, vì thả Thái tử đi, giao quan lại luận tội chết. Nhân phát binh, Trường Lăng lệnh Xa Thiên Thu báo về triều đình rằng Nhân làm phản, cả họ đều bị giết. Hình Thành nay ở nước Trung Sơn.
Thái sử công bàn rằng: Khổng tử được khen là: “Ở nước nào ắt nghe chính sự nước ấy”*, là nói đến Điền Thục chăng! Vì nghĩa không quên cất nhắc hiền năng, làm sáng mỹ đức bậc quân chủ để bổ khuyết lỗi lầm. Nhân và ta vốn thân thiết, vì thế ta bàn đến ông ấy.
Chử tiên sinh* bàn rằng: Lúc tôi làm quan Lang, nghe nói Điền Nhân vốn thân thiết với Nhâm An. Nhâm An, người Huỳnh Dương, thuở nhỏ mất cha, nghèo khó, đánh xe đến Trường An cho người, ở lại, mong được làm tiểu lại, chưa có cơ hội, nhân đó khai vào sổ hộ tịch. Ở tại Vũ Công, là ấp nhỏ giáp giới phía tây Phù Phong, sạn đạo vào Thục ở Cốc Khẩu kề núi.
An cho rằng Vũ Công là ấp nhỏ, không có hào môn, dễ được danh cao, An lưu lại, thay người khác làm sai dịch bắt trộm trong đình*. Sau làm Đình trưởng. Dân trong ấp đều ra ngoài săn bắn, Nhâm An thường chia hươu nai thỏ trĩ săn được cho mọi người, sắp đặt người già, trẻ nhỏ, tráng đinh vào chỗ dễ khó phù hợp, ai nấy đều vui, nói: “Không ai bị thiệt, Nhâm thiếu khanh chia thật công bằng, thật có trí lược.” Hôm sau lại tụ họp, tập hợp được mấy trăm người. Nhâm thiếu khanh nói: “Con ông nọ là người này người kia sao không đến?” Mọi người đều kinh ngạc vì thấy ông nhớ quá nhanh. Sau, giao làm Tam lão*, được khen là gần dân, ra làm quan trưởng hạng ba trăm thạch, cai trị dân. Hoàng thượng ra ngoài du ngoạn, không lo chuẩn bị màn trướng, bị bãi chức.
Bèn làm Xá nhân cho Vệ tướng quân, gặp Điền Nhân, cùng làm Xá nhân, trong phủ tướng quân, đồng lòng quý nhau. Hai người nhà nghèo, không có tiền phục dịch quản gia, bị y sai nuôi bầy ngựa dữ cắn người. Hai người ngủ cùng giường, Nhân trộm nói: “Tên quản gia này thực không biết người.” Nhâm An bảo: “Tướng quân còn chả biết người, nói gì đến quản gia!” Vệ tướng quân từ đó cho hai người sang chỗ Công chúa Bình Dương. Người nhà Công chúa bắt hai người cùng ăn với nô bộc hầu ngựa, hai người rút dao chém đứt chiếu ngồi riêng. Người nhà công chúa đều thấy lạ rồi ghét bỏ, nhưng không ai dám quát mắng.
Về sau có chiếu chọn Xá nhân của Vệ tướng quân làm quan Lang, tướng quân chọn những người giàu trong đám Xá nhân, sai họ đóng yên ngựa mặc áo vải đỏ, dùng ngọc trang sức kiếm, muốn vào tâu lên hoàng thượng. Gặp lúc đại phu hiền năng là Thiếu phủ Triệu Vũ qua chỗ Vệ tướng quân, tướng quân gọi các Xá nhân được tiến cử ra mắt Triệu Vũ. Triệu Vũ hỏi theo thứ tự, hơn chục người không ai thạo việc, có trí lược.
Triệu Vũ nói: “Tôi nghe, dưới của nhà tướng ắt có tướng tài. Sách truyện nói: 'Không biết vua thì xem sứ giả; không biết ai thì xem bạn họ.' Nay có chiếu cất nhắc Xá nhân của tướng quân, muốn xem tướng quân có hiền năng, có phải kẻ sĩ kiêm tài văn võ hay không. Nay chỉ chọn con em nhà giàu tiến cử, lại chẳng có trí lược, như tượng gỗ khoác quần áo the lụa lên thôi, thế thì được tích sự gì?” Thế rồi Triệu Vũ gọi hết hơn trăm Xá nhân của Vệ tướng quân đến, lần lượt hỏi han, chọn được Điền Nhân và Nhâm An, nói: “Chỉ hai người này được thôi, còn lại đều không dùng được.” Vệ tướng quân thấy hai người nghèo khó, có ý không hài lòng. Triệu Vũ đi rồi, bảo hai người rằng: “Ai nấy tự chuẩn bị yên ngựa, quần áo vải đỏ mới.” Hai người đáp rằng: “Nhà nghèo, không có gì chuẩn bị cả.” Tướng quân nổi giận nói: “Nay hai ông nhà nghèo, sao còn nói những lời thế? Ra chiều bất mãn như ban đức cho ta, thế là thế nào?” Tướng quân bất đắc dĩ, đưa vào sổ trình lên. Có chiếu triệu kiến Xá nhân của Vệ tướng quân, hai người yết kiến trước, triệu kiến hỏi han tài năng mưu lược, cho cùng hạng thứ. Điền Nhân đáp rằng: “Cầm dùi trống đứng cửa quân, khiến sĩ đại phu vui vẻ tử chiến, Nhân không bằng Nhâm An.” Nhâm An đáp: “Quyết đoán chỗ còn hiềm ngờ, phân định đúng sai, biện biệt trăm quan, khiến trăm họ không có lòng oán hận, An không bằng Nhân vậy.” Vũ để cả cười nói: “Tốt.” Sai Nhâm An giám hộ quân phía bắc, sai Điền Nhân giám hộ đồn điền biên giới Hà Thượng. Hai người nổi danh thiên hạ.
Về sau, cất dùng Nhâm An làm Thứ sử Ích Châu, cho Điền Nhân làm Thừa tướng trưởng sử.
Điền Nhân dâng thư nói: “Thái thú các quận trong thiên hạ phần nhiều gian dối hám lợi, Tam Hà nghiêm trọng nhất, thần xin tra xét Tam Hà trước. Thái thú Tam Hà đều dựa bậc quyền quý trong triều, thân thuộc với
quan hàng tam công, nên chẳng kiêng sợ, trước cần chấn chỉnh Tam Hà để răn quan lại gian dối khắp thiên hạ.” Bấy giờ Thái thú Hà Nam, Hà Nội đều là cha anh con em của Ngự sử đại phu Đỗ Chu, Thái thú Hà Đông là cháu nội của Thạch thừa tướng. Khi ấy họ Thạch có chín người làm quan hàng hai nghìn thạch, đang lúc quý thịnh. Điền Nhân nhiều lần dâng thư nói việc đó. Đỗ đại phu cùng họ Thạch sai người tạ lỗi, bảo Điền Thiếu khanh rằng: “Chúng tôi không dám nói gì, xin Thiếu khanh đừng vu cáo làm vẩn đục.” Nhân sau khi tra xét Tam Hà, Thái thú Tam Hà bị giao cho pháp quan xử chết. Nhân về tâu lại, Vũ đế mừng, cho Nhân có tài lại không sợ cường bạo, phong Nhân làm Thừa tướng Tư trực, uy chấn thiên hạ.
Về sau, gặp việc Thái tử dấy binh, Thừa tướng đích thân cầm quân, sai Tư trực chủ giữ cổng thành. Tư trực cho thái tử là tình thân cốt nhục, giữa cha con không muốn can thiệp quá sâu, bèn rời cổng thành ra các lăng. Lúc ấy Vũ đế ở cung Cam Tuyền, sai Ngự sử đại phu Bạo Quân xuống trách Thừa tướng: “Tại sao thả Thái tử?” Thừa tướng đáp: “Phái quan Tư trực giữ cổng thành lại mở cho Thái tử.” Dâng thư báo lên, xin bắt trói quan Tư trực. Tư trực bị giao cho pháp quan, tội chết.
Bấy giờ, Nhâm An làm Sứ giả hộ quân của bắc quân, Thái tử dừng xe ngoài cổng nam của bắc quân, triệu Nhâm An, giao phù tiết lệnh phát binh. An vái nhận phù tiết, đi vào, đóng cửa không ra. Vũ đế hay tin, cho là Nhâm An vờ nghe, không dự việc của Thái tử, tại sao vậy? Nhâm An đánh đòn làm nhục tiểu lại phụ trách tiền bạc trong bắc quân, tiểu lại dâng thư nói lên Hoàng thượng, cho rằng Nhâm An nhận phù tiết của Thái tử, nói: “Vinh hạnh thay, ngài giao phù tiết đẹp này cho tôi.” Thư dâng lên, Vũ đế rằng: “Lão lại già này, thấy việc binh dấy, muốn ngồi xem thắng bại, coi ai thắng chực hùa theo, kẻ hai lòng. An có nhiều tội đáng chết, ta từng cho
sống, nay mang lòng gian, có dạ bất trung.” Giao An cho pháp quan, xử tử.
Xét lẽ, trăng đầy thì khuyết, vật thịnh ắt suy là lẽ thường của trời đất. Biết tiến mà không biết lui, giàu sang lâu ngày, họa chất thêm cao. Cho nên Phạm Lãi bỏ nước Việt, từ chối không nhận chức quan, danh truyền đời sau, muôn năm không quên, họa há đến chăng! Người mong thăng tiến đời sau xem đó thận trọng răn dè.
QUYỂN 105
BIỂN THƯỚC, THƯƠNG CÔNG LIỆT TRUYỆN
Biển Thước Tân Việt Nhân
Biển Thước, người đất Trịnh ở quận Bột Hải, họ Tần, tên là Việt Nhân. Thiếu thời, làm phụ trách quán trọ cho người ta. Có người khách Trường Tang quân trú ở quán, riêng Biển Thước thấy ông ta kỳ lạ, tiếp đãi cẩn thận. Trường Tang quân cũng biết Biển Thước không phải người thường. Ra vào hơn chục năm, rồi gọi Biển Thước ngồi riêng, nói rằng: “Ta có phương thuốc bí truyền, tuổi đã cao, muốn truyền cho ông, ông chớ tiết lộ.” Biển Thước đáp: “Kính vâng.” Bèn lấy thuốc trong người đưa cho Biển Thước, nói: “Uống thuốc này có thể đứng trên mặt ao, ba mươi ngày sau hiểu thấu muôn vật.” Bèn đem hết phương thuốc bí truyền viết ra trao cho Biển Thước. Bỗng không thấy nữa, dường không phải người thường. Biển Thước theo lời uống thuốc được ba mươi ngày, liền nhìn thấu tường nhà bên. Dùng để xem bệnh, thấy hết chứng bệnh trong ngũ tạng, nhưng chỉ nói bắt mạch chẩn đoán.
Biển Thước chữa bệnh khi ở Tề, lúc ở Triệu. Ở Triệu, lấy tên là Biển Thước.
Thời Tấn Chiêu công, các đại phu mạnh còn tông tộc vua yếu, Triệu Giản tử làm đại phu, chuyên quyền quốc sự. Giản tử mắc bệnh, bất tỉnh năm ngày, đại phu đều sợ, thế rồi triệu Biển Thước. Biển Thước vào xem
bệnh, đi ra, Đổng An Vu hỏi, Biển Thước đáp: “Huyết mạch bình thường, kinh ngạc làm gì! Xưa, Tần Mục công từng như thế, bảy ngày mới tỉnh. Hôm tỉnh lại, bảo Công Tôn Chi và Tử Dư rằng: 'Ta đến chỗ thiên đế rất vui. Ta sở dĩ ở lâu, vì có điều cần học. Thượng đế bảo ta: 'Nước Tấn sẽ có đại loạn, năm đời không yên. Sau làm bá chủ, chưa già đã chết. Con của bá chủ sẽ khiến nam nữ trong nước không phân biệt.' Công Tôn Chi viết ra rồi cất đi, sử sách nhà Tần xuất phát từ đó. Xét lẽ, loạn thời Hiến công, xưng bá thời Văn công, còn Tương công đánh bại quân Tần ở Hào Sơn trở về buông thả dâm dục, là điều ngài đã biết. Nay bệnh của chúa ngài giống Tần Mục công, không quá ba ngày ắt khỏi, khỏi rồi ắt có điều muốn nói.”
Được hai ngày rưỡi, Giản tử tỉnh dậy, nói với các đại phu: “Ta đến chỗ thiên đế rất vui, cùng bách thần ngao du giữa trời, nhạc tiến tấu chín khúc, múa muôn điệu, không giống nhạc thời Tam đại, âm thanh lay động lòng người. Có con gấu chực kéo ta, thượng đế lệnh ta bắn nó, trúng gấu, gấu chết. Có con bi* xông đến, ta lại bắn nó, trúng bi, bi chết. Thượng đế rất vui, ban cho ta hai rương tre, đều có hạng nhì. Ta thấy con ta cạnh thượng đế, thượng đế trao ta một con chó Địch*, nói: 'Đến khi con trai ông lớn hãy ban cho nó.' Thượng đế bảo ta: 'Nước Tấn mỗi đời mỗi suy, bảy đời thì mất.' Họ Doanh sẽ đánh bại người Chu ở phía tây Phạm Khôi, rồi cũng không có được đâu." Đồng An Vu nghe lời đó, viết lại rồi cất. Đem lời Biển Thước kể cho Giản tử, Giản tử tặng Biển Thước bốn vạn mẫu ruộng.
Về sau Biển Thước sang nước Quốc. Thái tử nước Quốc chết, Biển Thước đến dưới của cung nước Quắc, hỏi Trung thứ tử thích phương thuật rằng: “Thái tử bệnh gì, sao người trong nước cầu đảo hơn các việc khác?” Trung thứ tử đáp: “Thái tử bị bệnh khí huyết không đều, rối loạn
mà không thể bài tiết, bộc phát ra ngoài, hẳn có thương hại bên trong. Tinh thần không ngăn nổi tà khí, tà khí chất chứa không phát tiết được, do đó mạch dương chậm mạch âm gấp, cho nên đột quỵ mà chết.” Biển Thước hỏi: “Thái tử chết lúc nào?" Đáp: “Gà gáy đến giờ.” Hỏi: “Liệm chưa?” Đáp: “Chưa, Thái tử chết chưa được nửa ngày.” Biển Thước nói: “Nói tôi là Tần Việt Nhân ở Bột Hải nước Tề, nhà ở đất Thịnh, chưa từng hầu trước mặt, thấy thần thái rạng rỡ nhà vua. Nghe nói Thái tử chẳng may qua đời, tôi có thể khiến Thái tử sống lại.” Trung thứ tử nói: “Tiên sinh không lừa tôi chứ? Sao lại bảo Thái tử có thể sống lại! Tôi nghe thời thượng cổ, có lang y Du Phụ, trị bệnh không cần sắc thuốc, rượu thuốc, châm cứu, xoa bóp, chườm thuốc, vừa chạm vào biết bệnh ngay, dựa vào sự di chuyển [kinh mạch] trong ngũ tạng, bèn rạch da mổ thịt, dẫn mạch nối gân, chữa trị tủy não, giữ phần dưới tim, cơ hoành, rửa ruột và dạ dày, làm sạch ngũ tạng, luyện tinh khí đổi hình dạng. Phương pháp của tiên sinh nếu được thế, Thái tử có thể sống lại, không làm được thế mà muốn cứu sống Thái tử, làm trò cười cho trẻ con cũng không xong.” Cả ngày, Biển Thước ngẩng mặt lên trời than rằng: “Xét cách ngài nói, như lấy ống trúc nhìn trời, từ mảnh vá xem hoa văn. Cách trị của Việt Nhân không đợi bắt mạch, chỉ xem vẻ mặt, nghe tiếng nói, trông dáng hình cũng biết được bệnh đâu. Coi vẻ bên ngoài biết bệnh bên trong, nghe bệnh bên trong biết biểu hiện bên ngoài. Bệnh sẽ lộ ra bên ngoài, không cần đi xa ngàn dặm, có nhiều cách đoán, không nói tường tận được. Nếu ngài cho lời tôi không đáng tin, xin thử chẩn đoán cho Thái tử, tai đương nghe được tiếng động, mũi vẫn đang thở, từ hai bên đùi đến hạ bộ, vẫn còn ấm đấy.”
Trung thứ tử nghe Biển Thước nói vậy, mắt mở trừng, miệng há hốc, bèn đem lời Biển Thước vào tâu Quắc quân. Quắc quân nghe vậy vô cùng kinh ngạc, ra tận cửa cung đón tiếp Biển Thước, nói: “Trộm nghe nghĩa khí cao vời từ lâu, chưa được bái kiến trước mặt. Tiên sinh qua tiểu quốc, may được cứu giúp, thực vinh hạnh cho quả nhân ở nước xa xôi. Có tiên sinh thì sống, không có tiên sinh thì đem vứt ra ngòi rãnh, sẽ chết vĩnh viễn, không còn sống lại được nữa.” Nói chưa dứt lời, đã nghẹn ngào sa nước mắt, tinh thần hoảng hốt, dòng lệ tuôn dài, không sao kìm nổi, mặt mày biến sắc. Biển Thước nói: “Như bệnh Thái tử, gọi là đột quỵ*. Xét dương vào trong âm, khiến dạ dày xung động, kinh mạch tổn thương, lạc mạch trở ngại, chia ra tam tiêu* và bàng quang, do đó mạch dương hạ xuống, mạch âm tranh lên, chỗ hội khí bị tắc không thông, khí âm ngược lên còn khí dương vận hành bên trong và hạ bộ xung động không lên được, khí dương bên ngoài và bên trên đứt đoạn, không hòa được với khí âm, khiến khí dương ở trên không lên được, khí âm phía hạ bộ bị xung phá, âm khí xung phá, dương khí đứt đoạn, vẻ mặt thay đổi, kinh mạch bị loạn, cho nên thân thể bất động như người chết. Thái tử chưa chết đâu. Xét lẽ, khí dương xâm nhập vào chỗ âm trong kinh mạch phủ tạng nên còn sống, nếu khí âm xâm nhập vào chỗ dương trong kinh mạch phủ tạng thì chết. Phàm những tình trạng này, đều do ngũ tạng bị bức phát ra thôi. Thầy giỏi thì trị được, thầy vụng thì nghi sợ.”
Biển Thước bèn sai đệ tử Tử Dương mài kim, để châm vào huyệt tam dương ngũ hội. Lát sau, Thái tử sống lại. Lại sai Tử Báo chuẩn bị toa ngũ nhân để chườm, dùng phương thuốc bát giảm nấu lên, chườm phía dưới hai bên sườn. Thái tử ngồi dậy được. Lại điều hòa âm dương, chỉ uống thuốc trong hai mươi ngày là bình phục như cũ. Vì thế thiên hạ thảy đều
cho Biển Thước có thể làm người chết sống lại. Biển Thước nói: “Việt Nhân không thể lành người chết sống lại, là người đó tự sống lại thôi, Việt Nhân này có thể giúp người đó khôi phục thôi.”
Biển Thước sang Tề, Tề Hoàn hầu coi như khách. Biển Thước vào triều kiến, nói: “Ngài có bệnh ở da, không chữa bệnh sẽ thêm nặng.” Hoàn hầu nói: “Quả nhân không có bệnh.” Biển Thước đi khỏi, Hoàn hầu bảo tả hữu rằng: “Thầy thuốc hám lợi, định lấy người không bệnh ra chữa để kể công.” Năm ngày sau, Biển Thước lại vào yết kiến, nói: “Ngài có bệnh ở mạch máu, không chữa e càng thêm nặng.” Hoàn hầu nói: “Quả nhân không có bệnh.” Biển Thước ra về, Hoàn hầu không vui. Năm ngày sau, Biển Thước lại vào, nói: “Ngài có bệnh ở ruột và dạ dày, không trị bệnh sẽ nặng thêm.” Hoàn hầu không đáp. Biển Thước ra về, Hoàn hầu không vui. Năm ngày sau, Biển Thước lại vào gặp, vừa thấy Hoàn hầu liền bỏ chạy. Hoàn hầu sai người hỏi nguyên do, Biển Thước nói: “Bệnh ở da, dùng thuốc chườm còn kịp; vào đến mạch máu, dùng kim châm còn kịp; vào đến ruột, dạ dày, dùng rượu thuốc còn kịp; vào đến xương tủy, dẫu quan Tư mệnh* cũng không làm gì nổi. Nay bệnh đã vào đến xương tủy, thần không xin được chữa nữa.” Năm ngày sau, Hoàn hầu đổ bệnh, sai người triệu Biển Thước, Biển Thước đã trốn đi. Thế rồi Hoàn hầu liền chết.
Giả sử thánh nhân đoán trước được bệnh, có thể sai thầy giỏi chữa trị sớm, bệnh sẽ qua khỏi, giữ được mạng sống. Người ta có điều tức tối, nên bệnh tật nhiều; Còn thầy thuốc có điều tức tối, cách chữa bệnh ít. Đo đó bệnh có sáu dạng không chữa được: kiêu ngạo phóng túng không bàn đạo lý, là bệnh thứ nhất không chữa được; coi nhẹ thân mình xem trọng của cải, là bệnh thứ hai không chữa được; ăn uống vô độ không có chừng mực, là bệnh thứ ba không chữa được; âm dương hỗn loạn khí tạng bất ổn, là
bệnh thứ tư không chữa được; thân mình gầy yếu không dùng nổi thuốc, là bệnh thứ năm không chữa được; tin vào đồng cốt, không tin thầy thuốc, là bệnh thứ sáu không chữa được. Có một trong các chứng đó, thì vô cùng khó chữa.
Biển Thước nổi danh thiên hạ. Biển Thước qua Hàm Đan, nghe nói nơi đây coi trọng phụ nữ, bèn làm thầy chữa phụ khoa; qua Lạc Đương, nghe nói người Chu kính bậc già cả, liền làm thầy chữa tai, mắt và chứng tê liệt; vào Hàm Dương, nghe nói người Tần yêu quý trẻ nhỏ, liền làm thầy chữa cho trẻ con; tùy tập tục mà thay đổi. Thái y lệnh nước Tần là Lý Ê tự biết y thuật không bằng Biển Thước, liền sai người đâm chết Biển Thước. Đến nay thiên hạ nói về xem mạch, đều từ Biển Thước vậy.
Thái Thương công Thuần Vu Ý
Thái Thương công là trưởng quan nắm giữ kho lương nước Tề, người Lâm Truy, họ Thuần Vu, tên là Ý. Thuở nhỏ, thích y thuật. Cao hậu năm thứ tám, theo học thầy Công thừa* Dương Khánh người cùng quận Nguyên Lý. Khánh hơn bảy mươi tuổi, không con, sai Ý bỏ hết cách chữa bệnh vốn có, rồi đem toàn bộ phương thuốc bí truyền chỉ dạy cho, truyền cả sách xem mạch của Hoàng Đế, Biển Thước, dựa vào năm kiểu khí sắc* chẩn bệnh, biết được sống chết, quyết đoán hiềm nghi, xác định cách chữa, cho tới việc luận bàn về thuốc, rất đỗi tinh thâm. Theo học ba năm, chữa bệnh cho người, xác định sống chết, phần nhiều linh nghiệm. Thế nhưng ông thường du ngoạn, chữa bệnh khắp chư hầu, không coi như là nhà, có khi không trị bệnh cho người, gia đình bệnh nhân nhiều người oán ông.
Văn đế năm thứ tư, có người dâng thư vu khống Ý, theo hình luật bị tội phải ngồi xe tù ra phía tây Trường An. Ý có năm con gái, đi theo khóc lóc.
Ý giận, mắng rằng: “Không đẻ được con trai, lúc nguy cấp không được tích sự gì?” Do đó con gái út Đề Oanh cảm thương lời cha nói, bèn theo cha sang tây. Dâng thư nói: “Cha thiếp làm lại, nước Tề khen là liêm chính công bằng, nay phạm pháp bị hình phạt. Thiếp đau đớn vì lẽ người chết không thể sống lại, người chịu hình không thể trở lại như trước, dẫu muốn sửa lỗi lầm, cũng không còn cơ hội, cuối cùng chẳng thể làm gì. Thiếp xin đem thân này làm nô tỳ trong phủ, để chuộc tội cho cha, khiến cho được sửa đổi lỗi lầm vậy.” Thư trình lên, Hoàng thượng thương cảm tấm lòng của Đề Oanh, trong năm ấy cũng bỏ phép dùng nhục hình.
Ý về ở nhà, [Hoàng thượng] hạ chiếu hỏi Ý trong khi trị bệnh, đoán định sống chết chuẩn xác được bao nhiêu người, tên là gì. Chiếu hỏi trưởng kho thóc trước đây là Thuần Vu ý rằng: “Y thuật sở trường ngón gì, giỏi trị bệnh gì? Có sách hay không? Đều học từ ai? Học trong bao nhiêu năm? Từng có kinh nghiệm gì, chữa cho người làng huyện nào? Bệnh gì? Sau khi uống thuốc, bệnh trạng người đó thế nào? Hãy trả lời đầy đủ.” Thuần Vu Ý trả lời rằng:
“Ý thuở thiếu thời đã thích y dược, thử các phương thuốc y chữa bệnh, phần nhiều không công hiệu. Đến năm Cao hậu thứ tám, được gặp thầy là Công thừa Dương Khánh người Nguyên Lý đất Lâm Truy. Thầy Khánh tuổi trên bảy mươi, Ý được gặp và phụng thờ. Thầy bảo Ý rằng: 'Hãy bỏ hết sách của ngươi, không đúng đâu. Ta có sách xem mạch của tiền bối thời xưa là Hoàng Đế và Biển Thước, dựa vào năm kiểu khí sắc chẩn bệnh, biết người sống hay chết, quyết đoán hiềm nghi, xác định cách chữa, cùng sách bàn về thuốc, rất tinh thâm. Nhà ta sung túc, trong lòng thích ngươi, muốn đem sách về phương thuật bí truyền để dạy hết cho ngươi.' Ý liền nói: 'May mắn thay, đó chẳng phải điều Ý dám trông mong
vậy.' Ý vội rời khỏi chiếu quỳ vái hai lần, được nhận các sách bí truyền gồm thượng kinh và hạ kinh để xem mạch, cách chẩn đoán theo năm khí sắc, thuật kỳ khái, xem sự biến đổi ra bên ngoài của khí âm dương, luận về thuốc, thần hiệu của đá, tiếp dẫn âm dương, nhận sách rồi đọc, luận giải, chứng nghiệm, mất độ một năm. Sang năm sau thì kiểm chứng, thấy có linh nghiệm, nhưng còn chưa tinh tường. Thờ thầy ba năm, từng trị cho người, chẩn bệnh, đoán định chết sống, có hiệu nghiệm, y thuật đã giỏi. Nay thầy Khánh đã chết được mười năm, Ý theo học xong ba năm, hiện ba mươi chín tuổi.
Thị ngự sử nước Tề tên là Thành tự nói mình có bệnh đau đầu, Ý chẩn mạch, rồi bảo rằng: 'Bệnh của ông rất nặng, không thể nói hết được.' Liền ra, nói riêng với em của Thành tên là Xương rằng: Đây là bệnh u nhọt, bên trong đã phát ra ở ruột và dạ dày, năm ngày sau thì phù nề, tám ngày sau thì nôn ra mủ mà chết.” Thành bị bệnh là do uống rượu. Thế rồi Thành chết đúng như kỳ hạn. Sở dĩ biết được bệnh của Thành, là do Ý bắt mạch của ông ta, biết được mạch khí của gan. Mạch khí của gan đục mà tĩnh, là bệnh bên trong. Phép chẩn mạch có dạy: 'Mạch dài mà như dây cung, không thể theo sự đắp đổi của bốn mùa, bệnh đó chính là ở gan. Điều hòa đều đặn là kinh lạc có bệnh, loạn nhịp là mạch lạc có bệnh.' Kinh mạch của gan có bệnh mà tượng mạch điều hòa, thì bệnh từ trong gân cốt. Mạch loạn chừng như đứt đoạn rồi lại trỗi lên, đó là bệnh do rượu. Cho nên biết sau năm ngày thì ông ta bị phù nề, tám ngày thì nôn ra mủ mà chết, lúc bắt mạch, mạch ở thiếu dương bắt đầu loạn. Loạn tức là kinh mạch có bệnh, bệnh lan toàn thân thì người chết. Mạch lạc có bệnh, lúc ấy thiếu dương mới mở một phần, cho nên trong nóng mà mủ chưa vỡ, khi mở được năm phần, thì đến giới hạn của thiếu dương, đến ngày thứ tám thì nôn ra mủ
mà chết, cho nên lên đến hai phân thì mủ vỡ, đến giới hạn thì phù nề, tiết hết ra thì chết. Khí nóng xông lên thì thiêu đốt mạch dương minh, nướng chín mạch lạc, mạch lạc động thì chỗ liên kết các mạch lạc phát bệnh, chỗ liên kết các mạch lạc phát bệnh thì dẫn đến rữa nát, cho nên mạch lạc giao nhau. Khí nóng đã bốc lên trên, đến đầu rồi xung động, cho nên đau ở đầu.
Con trai của người con thứ hai của Tề vương [cháu nội Tề vương] bị bệnh, triệu Ý đến xem mạch, nói rằng: 'Bệnh do khí bị ngăn trở. Bệnh này khiến người bệnh phiền muộn, ăn không được, thường nhỏ dãi. Bệnh do trong lòng lo buồn, hay chán ăn uống.’ Ý bèn cho uống thang thuốc hạ khí, một ngày thì khí hạ, hai ngày thì ăn được, ba ngày liền khỏi bệnh. Sở dĩ biết bệnh của đứa trẻ ấy là do khi bắt mạch, thấy mạch khí của tâm bệnh, mạch đục, vội mà nổi, ấy là bệnh của mạch lạc dương. Phép chẩn mạch dạy: Mạch đến nhảy gấp mà đi khó khăn, không đều nhau, đó là bệnh trong tâm.” Toàn thân nóng, mạch thịnh là trùng dương. Trùng dương thì nhiều động tâm thần. Cho nên buồn chán, ăn không được thì mạch lạc tổn hại, mạch lạc tổn hại thì máu xông lên, máu xông lên thì chết. Đó là do tâm đau buồn mà sinh bệnh, bệnh là do lo nghĩ.
Lang trung lệnh nước Tề là Tuần bị bệnh, các thầy thuốc đều cho là bí bách bên trong, rồi dùng kim châm. Ý chẩn bệnh cho ông ta, nói rằng: 'Chứng sán khí bốc lên, khiến người bệnh không tiểu tiện đại tiện được.' Tuần nói: 'Tôi không tiểu tiện đại tiện được ba ngày rồi.' Ý cho uống thang hỏa tễ, uống một lần tiểu tiện được ngay, lần thứ hai đại tiện thông suốt, uống lần thứ ba bệnh liền khỏi. Bệnh này từ bên trong. Sở dĩ biết bệnh của Tuần là vì khi xem mạch, mạch thốn khẩu bên tay phải gấp gáp, không thấy bệnh khí của ngũ tạng, mạch thốn khẩu bên tay phải lớn và nhiều. Mạch nhiều là phần giữa và dưới bị nóng rồi bốc lên, bên trái hạ xuống, bên
phải bốc lên, đều không có phản ứng của ngũ tạng. Cho nên nói là chứng sán khí bốc lên. Trong nóng, cho nên nước tiểu có màu đỏ. Trung ngự phủ trưởng nước Tề là Tín bị bệnh, Ý vào chẩn mạch, nói rằng: 'Mạch khí bị nóng vậy. Nhưng do trời nóng khiến toát mồ hôi, mạch hơi suy, không chết.' Lại nói: 'Bệnh này bị lúc tắm gội trong dòng nước chảy quá lạnh, rồi phát sốt.' Tín nói: 'Đúng, đúng thế! Mùa đông mới đây, làm sứ giả nhà vua đến Sở, tới sông Dương Chu ở huyện Cử, cây cầu ở đây đã hư hỏng nặng, Tín kìm xe lại chưa muốn sang sông, ngựa sợ lồng lên, Tín liền bị rơi xuống sông, suýt chết, tiểu lại vội đến cứu Tín, kéo lên khỏi mặt nước, quần áo ướt sũng, một lát thì thấy lạnh, rồi nóng như lửa đốt, đến nay không biết lạnh nữa.' Ý liền cắt cho thang hỏa tễ để giảm nhiệt, uống xong mồ hôi tiết ra hết, lại uống để giải nóng, uống lần thứ ba bệnh liền thuyên giảm. Dặn uống thuốc trong vòng hai mươi ngày, hoàn toàn hết bệnh. Sở dĩ biết được bệnh của Tín là vì khi xem mạch, mạch đều là âm. Phép chẩn mạch nói: 'Bệnh nóng mà mạch âm mạch dương giao nhau thì chết.' Xem mạch thấy mạch là âm. Đều là mạch âm, âm mạch dương không giao nhau, đều mạch thuận dùng lối thanh lọc thì khỏi, nội nhiệt vẫn chưa hết hẳn, cho nên còn sống. Khí của thận có lúc xen đục, mạch ở thái âm có thể thấy nhưng rời rạc, là khí mạch của thủy. Thận vốn chủ về thủy, cho nên qua đó biết được bệnh. Nhất thời trị không đúng, liền chuyển thành bệnh hàn nhiệt.
Thái hậu của Tề vương bị bệnh, triệu Ý vào xem mạch, nói: 'Phong nhiệt xâm nhập vào bàng quang, đại tiểu tiện khó, nước tiểu màu đỏ.' Ý cho uống thang hỏa tễ, vừa uống đã đại tiểu tiện được, uống lần nữa thì bệnh bớt, nước tiểu trở lại bình thường. Bệnh này do đổ mồ hôi. Mồ hôi tiết ra, thay quần áo đi, mồ hôi trên da khô lại. Sở dĩ biết được bệnh của Thái hậu
của Tề vương là vì khi Ý chẩn mạch, thấy mạch thái âm, cảm thấy rất ẩm ướt, chứng tỏ bị phong nhiệt. Phép chẩn mạch cho rằng: 'Mạch chìm mà lớn và chắc, mạch nổi mà lớn và gấp, bệnh ở thận.’ Xem mạch thận thì trái ngược lại, mạch lớn và nẩy. Mạch lớn là khí mạch của bàng quang, mạch nẩy là do nhiệt mà nước tiểu màu đỏ.
Tao Sơn Phù ở làng Chương Vũ nước Tề bị bệnh, Ý chẩn mạch cho ông ta, nói: 'Bị chứng lao phổi, lại thêm bị hàn nhiệt.' Rồi nói với ông ta: 'Chết, không chữa được. Dù cung dưỡng ta bao nhiêu, bệnh này cũng không ai chữa được.' Phép chẩn mạch nói: 'Bệnh ba ngày thì phát cuồng, dậy đi vô cớ, chực chạy, năm ngày sau thì chết.' Rồi chết đúng như kỳ hạn. Bệnh của Sơn Phù là do tức giận quá mức rồi gần gũi thê thiếp. Sở dĩ biết bệnh của Sơn Phù là vì khi Ý chẩn mạch, thấy mạch khí của phổi nóng. Phép chẩn mạch nói: 'Mạch không bình không nẩy, hình thể suy bại.' Đó là ngũ tạng từ trên xuống dưới đều bị bệnh, cho nên lúc xem mạch thấy không bình mà loạn nhịp. Không bình là do máu không về gan; loạn nhịp là có lúc cùng đến công phá, chợt xao động chợt to lớn vậy. Đó là hai mạch lạc đã đứt, cho nên chết, không chữa được. Lại bị thêm hàn nhiệt, ý chỉ bệnh nhân bị cướp mất xác. Cướp mất xác là hình thể suy bại, hình thể suy bại thì không cần châm đốt hay uống thuốc mạnh để trị. Lúc này Ý chưa đến chẩn bệnh, Thái у nước Tề chẩn bệnh cho Sơn Phù trước, cho châm đốt vào mạch thiếu dương ở chân, rồi cho uống viên bán hạ, người bệnh thải những thứ bên trong ra, bụng trống rỗng; lại châm đốt vào mạch thiếu âm, thế là làm tổn hại sâu đến gan, làm vậy lại hại đến nguyên khí của bệnh nhân, nên bị thêm chứng hàn nhiệt. Sở dĩ ba ngày sau thì phát cuồng, là vì đường lạc mạch của gan đi xuống liên kết với kinh mạch dương minh ở dưới vú, cho nên mạch lạc bị đứt, mạch dương minh mở, mạch dương
minh tổn thương, nên phát cuồng mà chạy. Sau năm ngày chết, gan và tim cách nhau năm phân, cho nên nói năm ngày thì hết, hết tức là chết vậy. Quan Trung úy nước Tề là Phan Mãn Như bị hơi đau ở bụng dưới, Ý chẩn bệnh, nói: 'Do tích tụ những cục bón vậy.' Ý liền bảo quan Thái bộc nước Tề là Nhiêu, Nội sử là Diêu rằng: 'Trung úy nếu không dừng việc gần gũi phụ nữ, thì ba mươi ngày nữa sẽ chết.' Hơn hai mươi ngày sau, đi tiểu ra máu mà chết. Bị bệnh do tửu sắc. Sở dĩ biết bệnh của Phan Mãn Như là vì Ý bắt mạch thấy mạch sâu, nhỏ, yếu, thốt nhiên kết hợp, đó là khí của lá lách. Khí bên mạch tay phải đến gấp mà nhỏ, thấy là khí mạch của bệnh bón. Theo thứ tự, cho nên ba mươi ngày thì chết. Ba âm mạch đều xuất hiện, như phép chẩn mạch đã nói, nếu không đồng thời xuất hiện, đoán được vào lúc cấp bách, lại xem thêm một mạch loạn, tức là gần chết. Cho nên ba âm mạch cùng xuất hiện, tiểu tiện ra máu như đã nói ở trên, chết. Thừa tướng Dương Hư hầu là Triệu Chương bị bệnh, triệu Ý đến. Các thầy thuốc đều cho là bị khí lạnh xâm nhập, Ý chẩn mạch của ông ta, nói: 'Bị trúng gió tà.' Người bị trúng gió tà, ăn uống vào liền nôn ra ngay, không hấp thụ được. Phép chẩn mạch có nói: 'Năm ngày thì chết.' Rồi sau, người bệnh mười ngày thì chết. Bệnh này là do rượu. Sở dĩ biết bệnh của Triệu Chương là vì khi Ý bắt mạch, mạch đến trơn tru, là khí mạch của chứng trúng gió. Ăn uống vào liền nôn ra, không hấp thụ được, theo phép chẩn mạch năm ngày thì chết, đều là cách đã nói ở trước. Mười ngày sau mới chết, nguyên nhân quá kỳ hạn, vì người này thích ăn cháo, cho nên đầy bụng, đầy trong bụng nên quá hạn. Thầy của Ý có nói: 'Chứa được ngũ cốc sẽ quá kỳ hạn, không chứa được ngũ cốc thì không đến kỳ hạn.' Tế Bắc vương bị bệnh, triệu Ý đến chẩn mạch, nói: 'Ngã gió, đầy bụng.' Cho uống rượu thuốc, uống hết ba thạch, bệnh khỏi. Bệnh này do khi ra mồ
hôi lại nằm dưới đất. Sở dĩ biết được bệnh của Tế Bắc vương vì lúc thần bắt mạch, thấy mạch khí của gió, tâm mạch đục. Phép đoán bệnh nói: 'Nhập vào mạch dương, khí dương hết thì khí âm xâm nhập.' Khí âm xâm nhập khiến bụng căng, rồi khí lạnh xông lên còn khí nóng đi xuống, cho nên đầy bụng. Đổ mồ hôi mà nằm trên mặt đất, khi xem mạch, thấy khí âm. Khí âm, bệnh ắt xâm nhập vào người, phải đổ được mồ hôi ra.
Phu nhân của Tư không bắc cung nước Tề là Xuất Ư bị bệnh, các thầy thuốc đều cho là gió độc xâm nhập, bệnh chủ ở phổi, châm vào mạch thiếu dương ở chân. Ý chẩn mạch của bệnh nhân, nói: 'Mắc chứng sán khí, ảnh hưởng đến bàng quang, khó đại tiểu tiện, nước tiểu có màu đỏ. Bệnh gặp hàn khí thì vãi tiểu, khiến bụng người bệnh bị trướng.’ Xuất Ư bị bệnh muốn tiểu mà không tiểu được, nhân đó lại quan hệ giường chiếu. Sở dĩ biết được bệnh của Xuất Ư là vì khi bắt mạch thấy mạch lớn mà thực, mạch đến thì khó, là do xung động của mạch quyết âm. Mạch đến khó khăn, do khí bị trở ngại ảnh hưởng đến bàng quang vậy. Nguyên nhân khiến bụng bị trướng, là do mạch quyết âm kết lại ở bụng dưới. Mạch quyết âm bị tổn thương thì chỗ mạch kết lại xung động, xung động thì bụng trướng lên. Ý liền dùng ngải châm đốt vào mạch quyết âm ở chân bệnh nhân, bên trái và bên phải mỗi bên một lần, liền không vãi tiểu, rồi nước tiểu trong, bụng dưới hết đau. Lại dùng thang hỏa tễ cho uống, ba ngày thì chứng sán khí tan, liền khỏi bệnh.
Trước đây, nhũ mẫu của Tế Bắc vương từng tự nói rằng chân nóng và thấy buồn, Ý bảo: 'Chứng nhiệt quyết đấy.' Rồi châm vào ba chỗ trong lòng bàn chân, ấn vào chỗ châm kim không chảy máu, bệnh mau chóng hồi phục. Bệnh này do uống rượu quá say.
Tế Bắc vương triệu Ý đến chẩn mạch cho các thị nữ, chẩn đoán đến thị nữ tên là Thụ, Thụ không có bệnh. Ý nói trưởng quan phụ trách hậu cung rằng: 'Thụ bị tổn thương lá lách, không thể làm được việc nặng, theo lẽ thường, mùa xuân sẽ nôn ra máu mà chết.' Ý hỏi Tế Bắc vương rằng: 'Tài nhân là Thụ có tài năng gì?' Vương đáp: 'Cô ta thích phương kỹ, giỏi nhiều thứ, thường xét theo cách thức cũ để làm ra trò mới, năm trước được cô ta ở trong dân gian, mất bốn trăm bảy mươi vạn tiền, mua được bốn người.' Vương hỏi: 'Có thể chữa khỏi được không?' Ý đáp: 'Thụ bệnh nặng, là chứng bệnh chết.' Vương triệu Thụ đến coi, vẻ mặt không hề thay đổi, cho là không bị bệnh, không bán cô ta cho chư hầu. Đến mùa xuân, Thụ cầm kiếm theo Tế Bắc vương đi nhà xí, vương đi rồi, Thụ theo sau, vương sai người gọi, thấy ngã trong nhà xí, nôn ra máu mà chết. Bệnh này do đổ mồ hôi. Đổ mồ hôi, theo quy luật là bệnh nặng bên trong, lông tóc, vẻ mặt ướt át, mạch không suy, đây cũng là bệnh ở trong người vậy.
Trung đại phu nước Tề bị sâu răng, Ý châm đốt tại mạch dương minh ở tay trái người bệnh nhân, liền cho dùng thang thuốc khổ sâm*, ngày ngậm ba thăng, trước sau khoảng năm sáu ngày, bệnh khỏi. Bệnh này do bị gió, khi nằm ngủ mở miệng, ăn mà không súc miệng.
Mỹ nhân của Truy Xuyên vương mang thai nhưng khó đẻ, đến triệu Ý. Ý tới, cho uống một nhúm thuốc lang đãng*, lấy rượu cho uống, chẳng bao lâu thì đẻ được. Ý lại chẩn mạch, thấy mạch nẩy mạnh. Mạch nẩy tức bệnh chưa khỏi hẳn, liền cho uống một toa tiêu thạch, máu chảy ra, máu vón như hạt đậu chừng năm sáu сục.
Nô bộc của xá nhân Thừa tướng nước Tề theo chủ vào chầu trong cung, Ý thấy y ăn đồ ăn bên ngoài cửa nách hoàng cung, trông sắc mặt có bệnh khí. Ý liền nói với hoạn quan tên là Bình. Bình thích xem mạch, theo
học Ý, Ý liền cho xem bệnh tên nô bộc của xá nhân ấy, nói với Ý rằng: 'Đó là khí sắc lá lách tổn thương, đến mùa xuân bị ách tắc không thông, không ăn uống được, theo quy luật tới mùa hè sẽ rỉ máu mà chết.' Hoạn quan là Bình liền đến nói với Thừa tướng rằng: 'Nô bộc của xá nhân ngài có bệnh, bệnh nặng, cách ngày chết không còn xa.' Thừa tướng hỏi: 'Sao ông biết?' Đáp: 'Lúc ngài từ buổi chầu vào cung, nô bộc của xá nhân ngài ăn đồ ăn ngoài cửa nách hoàng cung, Bình và Thương công đứng đấy, Thương công trỏ vào Bình và nói: 'Bệnh như thế này thì chết.' Thừa tướng liền triệu viên xá nhân vào hỏi rằng: 'Nô bộc của ông có bệnh không?' Xá nhân đáp: 'Hắn không có bệnh, trên người không chỗ nào bị đau.' Đến mùa xuân quả nhiên đổ bệnh, đến tháng Tư, rỉ máu mà chết. Sở dĩ biết được bệnh ấy là vì, khí từ lá lách đã chạy khắp ngũ tạng, từ chỗ tổn thương lan tới chỗ khác, cho nên hiện ra khí sắc lá lách tổn thương, trông xa thấy màu vàng, xem kỹ như có thêm màu xanh sẫm chết chóc. Các thầy thuốc không biết, cho là bị nhiều giun, không biết lá lách tổn thương. Sở dĩ đến mùa xuân người bệnh chết, vì khí sắc của dạ dày màu vàng, vàng là khí sắc của hành thổ vậy, thổ không thắng mộc, cho nên đến mùa xuân thì chết. Sở dĩ đến mùa hè chết, theo phép chẩn mạch nói: 'Bệnh nặng mà mạch thuận và trong là bệnh trong nội quan.' Bệnh trong nội quan, người bệnh không biết đau ở đâu, trong lòng buồn bã nhưng không đau đớn. Nếu thêm một bệnh khác, sẽ chết vào giữa mùa xuân; nếu thấy mạch rất thuận thì kéo dài thêm một quý. Nguyên nhân người đó tháng Tư mới chết, khi chẩn mạch thấy mạch rất thuận. Mạch rất thuận, người còn béo tốt. Bệnh của tên nô bộc ấy là vì nhiều lần đổ mồ hôi, bị hỏa thiêu đốt rồi bị phong hàn nặng vậy.
Truy Xuyên vương bị bệnh, triệu Ý đến chẩn mạch, Ý nói: 'Khí chạy ngược lên trên, bệnh nặng, đầu đau mình nóng, làm cho người bệnh buồn
phiền.' Ý liền lấy nước lạnh vã lên đầu bệnh nhân, châm vào mạch dương minh ở chân, trái phải mỗi chân châm ba chỗ, bệnh mau chóng hồi phục. Bệnh này do gội đầu tóc chưa khô đã đi nằm. Chẩn bệnh như trên, nguyên nhân của hiện tượng này là do nhiệt từ đầu lan xuống vai.
Nhà anh trai nàng Hoàng Cơ của Tề vương là Hoàng trưởng khanh chuẩn bị rượu, mời khách đến, triệu cả thần là Ý. Mời khách ngồi, chưa kịp mang đồ ăn lên, Ý thấy em trai vương hậu là Tống Kiến, bèn nói rằng: 'Ngài có bệnh, qua bốn năm ngày nữa, hai bên sườn của ngài đau không thể ngẩng lên cúi xuống, cũng không thể tiểu tiện được. Không trị ngay, bệnh sẽ xâm nhập vào thận. Nhân khi bệnh chưa lan đến ngũ tạng, phải trị ngay đi. Nay bệnh đang xâm nhập vào thận, đó là chứng 'liệt thận’ vậy.' Tống Kiến nói: 'Phải, Kiến vốn có chứng đau ở mạng sườn. Bốn năm hôm trước, trời mưa, các con rể nhà họ Hoàng thấy dưới nhà Kiến có tảng đá, liền nhấc thử, Kiến cũng muốn bắt chước, nhưng bắt chước không nổi, liền đặt lại chỗ cũ. Chiều tối, hai bên thắt lưng đau, không đi tiểu được, đến nay chưa khỏi.' Bệnh của Kiến là vì nhấc vật nặng. Sở dĩ biết được bệnh của Kiến, vì Ý trông khí sắc, khí sắc thái dương khô ráo, từ thận trở lên, từ eo trở xuống có bốn chỗ khô, cho nên biết bệnh đã phát tác từ bốn năm ngày trước. Ý liền cho uống thang thuốc nhu, mười tám ngày thì bệnh khỏi.
Người hầu của Tế Bắc vương là Hàn Nữ bị đau ở thắt lưng, lúc lạnh lúc nóng, các thầy thuốc đều cho là bị hàn nhiệt. Ý chẩn mạch, nói: 'Lạnh trong, kinh nguyệt không thoát ra được.' Liền dùng thuốc xông, không lâu sau kinh nguyệt thoát ra được, bệnh khỏi. Bệnh này do muốn đàn ông mà không được. Sở dĩ biết bệnh của Hàn Nữ là vì khi chẩn mạch, thấy mạch khí của thận, mạch kém mà không liên tục. Mạch kém mà không liên tục,
mạch tới khó khăn, vững, cho nên mới nói kinh nguyệt không thoát được. Mạch gan như dây cung, thể hiện ở tay trái, cho nên nói muốn đàn ở ông mà không được vậy.
Người con gái ở huyện Phàm Lý, Lâm Truy là Bạc Ngô bị bệnh nặng, các thầy thuốc đều cho là bị hàn nhiệt, rất nguy kịch, nhất định chết, không chữa được. Ý đến chẩn mạch, nói: 'Bệnh táo bón do giun sán.' Giun sán gây táo bón thành bệnh, bụng to, trên da thô vàng, ấn vào rất khó chịu. Ý cho uống một nhúm thuốc chế từ cây nguyên hoa*, liền thải ra mấy thăng giun sán, bệnh bớt, ba mươi ngày thì bình phục như trước. Bệnh giun sán là do bị lạnh và ẩm, khí lạnh và ẩm tích chứa không thoát ra được, hóa thành giun. Ý sở dĩ biết bệnh của Bạc Ngô là vì khi bắt mạch, xem tuần tự từng thước, từng thước da khô kháo, còn lông thì đẹp, cho đến tận tóc, đó là biểu hiện của giun sán. Sắc mặt người bệnh trơn ướt, trong tạng phủ không có tà khí và bệnh nặng.
Thuần Vu tư mã nước Tề bị bệnh, Ý bắt mạch, nói: 'Đây là chứng động phong. Triệu chứng là ăn uống vào liền bị đi ngoài.' Bệnh do ăn no rồi chạy nhanh. Thuần Vu tư mã nói: 'Tôi đến nhà vương gia ăn gan ngựa, ăn no quá, thấy rượu đến, liền chạy về, phóng ngựa thật nhanh về nhà, liền đi tả mấy chục lần.' Ý nói với ông ta: 'Dùng toa hỏa tễ với nước gạo để uống, bảy tám ngày thì khỏi.' Lúc ấy thầy thuốc là Tần Tín ở bên, Ý đi ra, Tín hỏi tả hữu là các Đô úy rằng: 'Ý cho bệnh của Thuần Vu tư mã ra sao?' Đáp: 'Cho là chứng động phong, có thể chữa được.' Tín liền cười nói: 'Là ông ta không biết đấy thôi, bệnh của Thuần Vu tư mã, theo quy luật chín ngày sau sẽ chết.' Chín ngày sau không chết, người nhà lại triệu Ý đến. Ý đến hỏi han, thảy đúng như Ý đã chẩn. Thần liền cho uống một thang hỏa tễ và nước gạo, bảy tám hôm sau bệnh khỏi. Sở dĩ biết bệnh đó, là khi chẩn
mạch, bắt mạch thấy đúng như quy luật. Bệnh của ông ta mạch thuận, cho nên không chết được.
Trung lang nước Tề là Phá Thạch bị bệnh, Ý chẩn mạch cho ông ta, nói: 'Gan bị tổn thương, không chữa được, sau mười ngày nữa là ngày Đinh Hợi, tiểu ra máu mà chết.' Mười một ngày sau, tiểu ra máu mà chết. Bệnh của Phá Thạch là do ngã từ trên ngựa vào tảng đá. Sở dĩ biết bệnh của Phá Thạch vì khi bắt mạch, thấy có khí âm của gan, mạch đến tản mác, nhiều lần mạch đến không giống nhau. Sắc mặt cũng thể hiện triệu chứng đó. Sở dĩ biết ông ta ngã ngựa là vì khi bắt mạch thấy mạch âm đi ngược. Mạch âm đi ngược vào chỗ hư, công phá mạch của gan. Mạch của gan loạn, cho nên sắc mặt cũng thể hiện điều đó. Nguyên nhân không chết đúng thời gian, vì như thầy của Ý nói: 'Người bệnh ăn được ngũ cốc thì quá hạn, không ăn được ngũ cốc thì chưa đến hạn.' Người này thích ăn cơm nếp, cơm nếp chủ về gan, cho nên quá hạn. Nguyên nhân tiểu ra máu, theo phép chẩn mạch nói: 'Bệnh nhân thích yên tĩnh thì khí thuận rồi chết, thích hoạt động thì khí ngược rồi chết.' Bệnh nhân này thích yên tĩnh, không nóng nảy, lại ngồi yên lâu, nằm phục xuống ghế mà ngủ, cho nên máu tiết ra từ hạ bộ.
Thầy thuốc của Tề vương là Toại bị bệnh, tự chế ngũ thạch* để uống. Ý qua thăm, Toại bảo Ý rằng: 'Kẻ hèn này có bệnh, mong ông chẩn cho Toại.' Ý liền chẩn bệnh cho, bảo: 'Ông bị nóng trong. Luận về bệnh: 'Nóng trong không tiểu được, không thể uống ngũ thạch.' Đá dùng làm thuốc thì tinh mà bạo, ông uống thứ đó càng không tiểu tiện được, chớ uống nữa. Trông sắc mặt ông, thì chỗ bị nóng sắp sưng lên rồi.' Toại nói: 'Biển Thước bảo: 'Âm thạch để chữa âm bệnh, dương thạch để chữa dương bệnh.’ Xét lẽ, thuốc chữa bệnh có phân các toa âm, dương, thủy, hỏa, cho nên nóng trong
liền lấy toa âm thạch nhu tễ để chữa; lạnh trong liền dùng toa dương thạch cường tễ để chữa.' Ý nói: 'Điều ông bàn quá sai rồi. Biển Thước tuy nói thế, nhưng nhất định phải chẩn đoán tỉ mỉ, rồi tính liều lượng, lập chừng mức để trị liệu, kết hợp giữa sắc mặt và khí mạch, giữa trong và ngoài, có thừa hay không đủ, thuận hay ngược, xem thêm bệnh nhân hoạt động hay tĩnh dưỡng và ngơi nghỉ có triệu chứng tương ứng hay không, mới có thể luận bàn được. Luận về cách trị bệnh có nói: 'Bệnh dương ở trong, biểu hiện ra ngoài là âm thì không được thêm thuốc bạo liệt và châm cứu.’ Xét lẽ, thuốc bạo liệt uống vào bên trong, sẽ khiến tà khí hoành hành và tà khí càng vào sâu. Phép chẩn bệnh có nói: 'Hai khí âm biểu hiện ra ngoài, một khí dương tiếp ứng bên trong, không thể dùng thuốc cương để chữa.' Thuốc cương uống vào thì động dương, âm bệnh càng suy, dương bệnh càng mạnh, tà khí lưu hành, càng thêm nguy khốn cho các huyệt mạch, rồi bộc phát thành ung nhọt.' Sau khi Ý nói với ông ta hơn trăm ngày, quả nhiên ung nhọt phát ở trên vú, xâm nhập lên trên xương quai xanh, rồi chết. Đó là bàn một cách đại thể, ắt có nguyên tắc. Thầy thuốc vụng hay giỏi đều có chỗ chưa học, khiến trật tự, âm dương không được chính đáng nữa.
Tề vương khi còn là Dương Hư hầu mắc bệnh rất nặng, các thầy thuốc đều cho là bị tà khí xông ngược lên. Ý vào chẩn mạch, cho là bị tê liệt, gốc bệnh ở dưới sườn phải, to như cái chén úp, khiến người bị hen suyễn, khí ngược lên nên không ăn được. Ý liền cho dùng toa hỏa tễ, húp cháo, được sáu hôm thì khí hạ; liền cho uống thêm thuốc viên, độ sáu ngày thì bệnh khỏi. Bệnh này do việc phòng the. Lúc chẩn bệnh không thể biết được kinh mạch thế nào, chỉ biết đại khái bệnh ở đâu mà thôi.
Ý từng chẩn bệnh cho Thành Khai Phương ở Vũ Đô Lý thuộc đất An Dương, Khai Phương tự cho là mình không có bệnh, Ý bảo ông ta bị bệnh trúng gió làm cho khổ sở, ba năm sau thì tứ chi không thể tự cử động được, khiến người bị câm, câm là chết. Nay nghe nói tứ chi đã không cử động được, câm nhưng chưa chết. Bệnh này do nhiều lần uống rượu rồi gặp gió lớn. Sở dĩ biết bệnh của Thành Khai Phương là vì khi chẩn mạch, mạch tượng theo thuật kỳ khái nói là 'Khí mạch của ngũ tạng trái nhau là chết.' Xem mạch ông ta, thấy khí của thận trái ngược khí của gan, theo quy luật thì 'ba năm sau sẽ chết.'
Quan Công thừa Hạng Xử ở Phản Lý đất An Lăng bị bệnh, Ý đến chẩn mạch, nói: 'Chứng mẫu sán.'* Chứng mẫu sán xuất hiện dưới cơ hoành cách, liền lên đến phổi. Bệnh này do quan hệ phòng the. Ý nói với bệnh nhân: 'Cẩn thận, chớ làm việc gì lao lực, làm việc lao lực thì nhất định nôn ra máu mà chết.' Sau đó Xử chơi đá bóng, eo bị khí lạnh xâm nhập, đổ nhiều mồ hôi, liền nôn ra máu. Ý lại đến chẩn bệnh, nói: 'Chiều tối mai thì chết.' Rồi chết. Bệnh này do phòng the vô độ. Sở dĩ biết bệnh của Hạng Xử vì khi bắt mạch, thấy mạch dương bị ngược. Dương ngược vào chỗ hư, Xử hai hôm là chết. Một là ngược, hai là ngang, đó là chứng mẫu sán.
Ý nói: “Rất nhiều trường hợp khác được Ý chẩn bệnh, đoán định thời gian, quyết đoán sống chết cùng cách trị khỏi, nhưng lâu rồi nên quên, không thể nhớ hết được, cho nên không dám trả lời.
Hỏi Ý rằng: “Việc chẩn trị bệnh, tên bệnh phần nhiều giống nhau nhưng chẩn đoán lại khác, có người chết, có người không chết, tại sao vậy?"
Xin trả lời: “Bệnh có nhiều tên nhưng cùng loại, không thể biết hết, cho nên thánh nhân xưa chế định phép chẩn mạch, để xác định liều lượng, xác
lập chuẩn tắc, cân nhắc lợi hại, xét theo chuẩn mực, điều hòa âm dương, biện biệt kiểu mạch, mỗi kiểu một cách định danh, tương ứng với trời đất, tham chiếu ở con người, cho nên phân biệt ra trăm thứ bệnh khác nhau, người xem nhiều có thể phân biệt được, người xem ít thì đánh đồng làm một. Nhưng phép chẩn mạch không thể đúng cả, chẩn cho người bệnh cần dựa pháp độ để phân biệt, có thể biện biệt các bệnh cùng tên, chỉ ra gốc bệnh ở đâu. Nay thần là Ý chẩn bệnh, đều dựa vào sách chẩn đoán. Sở dĩ có thể biện biệt được bệnh, là do Ý học được từ thầy, thầy mất, đem những cách chẩn bệnh thầy đã ghi lại trong sách để đoán định sống chết, xem chỗ đúng chỗ sai có hợp với phép chẩn mạch không, cho nên đến nay mới biết rõ được.”
Hỏi ý rằng: "Đoán định thời gian phát bệnh, kỳ hạn chết sống, có lúc không đúng như dự đoán, là cớ tại sao?"
Trả lời rằng: "Đều do ăn uống, vui giận không có tiết chế, có khi do không uống thuốc, có khi do không châm cứu, do đó chết không đúng như thời gian dự liệu.”
Hỏi ý rằng: “Ý có thể biết bệnh chứng là chết hay sống, luận việc dùng thuốc sao cho thích hợp, các vua chư hầu và bề tôi có từng hỏi ý không? Đến khi Tề Văn vương bị bệnh, không tìm Ý chẩn trị, tại sao vậy?"
Xin trả lời rằng: “Triệu vương, Giao Tây vương, Tế Nam vương, Ngô vương đều sai người đến triệu Ý, Ý không dám đi. Lúc Tề Văn vương bị bệnh, Ý nhà nghèo, muốn chữa bệnh cho người để kiếm sống, thực sự sợ làm quan sẽ bó buộc Ý, cho nên chuyển đến nhà người quen, không lo việc gây dựng gia sản, đi du học các nơi trong nước, tìm người giỏi y thuật để học tập trong thời gian dài, từng theo học mấy thầy, thảy học được sở trường, hiểu hết nghĩa trong sách y thuật, cho đến luận giải về bệnh của
họ. Thân ở nước của Dương Hư hầu, nhân đó phụng sự Dương Hư hầu. Hầu vào triều, Ý theo đến Trường An, vì thế được chẩn bệnh cho những người như Hạng Xử ở An Lăng.”
Hỏi Ý rằng: "Có biết nguyên nhân bệnh Tề Văn vương không khỏi chăng?"
Ý xin đáp: "Không thăm bệnh cho Tề Văn vương, nhưng trộm nghe Văn vương bị suyễn, đầu đau, mắt mờ. Ý trong lòng suy đoán, cho đó không phải bệnh. Cho là do béo phì mà tích chứa nhiều tinh lực, thân thể không được vận động, thịt nhiều nên xương không đỡ nổi, vì thế bị suyễn, không cần chữa trị. Phép chẩn mạch có nói: 'Hai mươi tuổi mạch khi đang vượng, ba mươi tuổi đi lại nhanh nhẹn, bốn mươi tuổi phải ngồi cho yên, năm mươi tuổi phải nằm cho yên, sáu mươi tuổi trở lên phải khiến nguyên khí ẩn tàng bên trong.’ Văn vương tuổi chưa đầy hai mươi, đương khi mạch khí vượng mà lại ít vận động, không thuận ứng theo bốn mùa của đạo trời. Sau nghe nói ngự y châm đốt các huyệt, bệnh liền thêm nặng, đó là luận đoán sai bệnh vậy. Ý luận bệnh của Tề Văn vương, cho là do thần khí trong người xông lên rồi tà khí xâm nhập, đó là bệnh ở tuổi trẻ không thể khôi phục được, cho nên chết. Cái gọi là khí mạch, cần điều chỉnh cách ăn uống, chọn ngày trong tạnh, đi xe hoặc tản bộ ra ngoài để rộng mở tâm trí, khiến gân cốt, thớ thịt, huyết mạch được thích ứng, để tiết khí ra. Cho nên hai mươi tuổi, được gọi là thời kỳ khí huyết đầy đủ, theo quy luật không nên dùng cách châm cứu, châm cứu sẽ khiến khí chạy không yên.”
Hỏi Ý rằng: “Thầy Khánh học y thuật ở đâu? Nghe nói là ở у chư hầu nước Tề có phải không?"
Đáp rằng: "Không biết thầy Khánh học từ thầy nào. Thầy Khánh nhà giàu có, giỏi làm nghề y, không chịu trị bệnh cho người, vì thế không ai
biết tiếng. Thầy Khánh lại nói với Ý rằng: 'Cẩn thận, chớ để con cháu ta biết ngươi học nghề y từ ta.'”
Hỏi ý rằng: “Thầy Khánh sao lại gặp Ý rồi quý Ý, muốn truyền Ý dạy toàn bộ phương thuật cho Ý?"
Đáp rằng: "Ý không nghe nói thầy Khánh giỏi trị bệnh. Sở dĩ Ý biết thầy Khánh là do Ý lúc trẻ thích cách trị bệnh của các nhà, Ý thử phương thuật của các nhà, phần nhiều điều kinh nghiệm, tinh diệu. Ý nghe nói Công Tôn Quang ở Đường Lý đất Truy Xuyên giỏi phương thức chữa bệnh từ thời cổ truyền lại, Ý liền đến yết kiến. Được gặp và phụng thờ ông, rồi được truyền cho cách điều hòa âm dương và khẩu truyền cho phương pháp trị bệnh, Ý tiếp thu hết thảy, ghi chép lại. Ý muốn học hết các phương thức trị bệnh tinh diệu của ông. Công Tôn Quang nói: 'Các phương thức chữa bệnh của ta đã truyền cả rồi, không tiếc gì mà không truyền cho ông. Ta đã già yếu, không cần phụng sự ta nữa. Đó là các phương thuật thần diệu ta học được hồi còn trẻ, thảy đã truyền cho ông, chớ đem truyền cho người khác.' Ý thưa: 'Được gặp và phụng sự thầy, được học hết các phương thuốc bí truyền, thực là may mắn. Ý dẫu chết cũng không dám khinh suất truyền cho người khác.' Được một thời gian, Công Tôn Quang nhân khi rảnh rỗi, Ý bàn sâu về các cách chữa bệnh, nói chỗ tinh yếu trong cách trị bệnh của trăm đời, thầy Quang mừng nói: 'Ông ắt sẽ thành thầy thuốc giỏi trong nước. Ta có chỗ sở trường thì đều bỏ bê cả, ta có người anh em ruột ở Lâm Truy, giỏi về y thuật, ta không bằng, cách chẩn trị của ông ấy rất kỳ lạ, không phải điều người đời từng biết. Ta lúc đến tuổi trung niên, từng muốn học phương thuật của ông ấy, Dương Trung Thiến* không chịu, nói ông không phải người để truyền thụ. Ta sẽ đi cùng ông đến gặp ông ấy, để biết là ông thích học cách chữa bệnh. Ông ấy cũng già rồi, gia đình lại
giàu có.' Lúc ấy chưa đi, đúng khi con trai thầy Khánh là Ân đến dâng ngựa, thông qua thầy Quang để dâng ngựa đó cho Tề vương, Ý vì thế được thân thiết với Ân. Thầy Quang lại dặn Ân về việc của Ý rằng: 'Ý thích у thuật, người phải đối đãi ông ta cẩn thận, người này là bậc thánh nho đó.' Liền viết thư giới thiệu Ý cho thầy Dương Khánh, vì thế Ý mới biết thầy Khánh. Ý thờ thầy Khánh rất cẩn thận, cho nên thầy yêu quý Ý vậy.”
Hỏi Ý rằng: "Quan lại, thường dân từng có ai theo học nghề y của Ý, đồng thời đã học hết các phương thuật trị bệnh của Ý chưa? Là người ở làng nào, huyện nào?"
Đáp rằng: “Là Tống Ấp người ở Lâm Truy. Ấp theo học, Ý dạy cho năm cách chẩn đoán, mất hơn một năm. Tế Bắc vương sai Thái y là Cao Kỳ, Vương Vũ đến học, Ý dạy sự cao hay thấp của kinh mạch cùng sự giao kết của kỳ kinh, lạc mạch, đang luận về vị trí các huyệt đạo cùng khí lên xuống, ra vào, tà chính, nghịch thuận, để dùng kim đá cho phù hợp, xác định vị trí cần châm đốt, mất hơn một năm. Bấy giờ Truy Xuyên vương sai viên trưởng quan coi ngựa kho Thái thương đến xin học y thuật, Ý dạy cách xoa bóp thuận nghịch, bàn cách dùng thuốc, xác định năm vị cùng cách điều hòa các thang, toa thuốc. Chủ quản việc nhà của Cao Vĩnh hầu là Đỗ Tín thích xem mạch, đến xin học, Ý dạy kinh mạch trên dưới và năm cách chẩn, mất hơn hai năm. Đường An ở Triệu Lý đất Lâm Truy đến học, Ý dạy năm cách chẩn đoán và kinh mạch trên dưới, thuật kỳ khái, điểm quan trọng trong sự ứng thuận giữa âm dương với bốn mùa, chưa học xong, đã được làm ngự y cho Tề vương.”
Hỏi ý rằng: "Chẩn trị bệnh, đoán định chết hay sống, có thể Ý hoàn toàn không sai lầm chăng?"
Ý trả lời: “Ý chữa bệnh cho người, trước hết phải bắt mạch, rồi mới trị bệnh. Người nào mạch tượng suy bại, nghịch chuyển thì không thể chữa được; người nào mạch thuận thì chữa cho. Trong lòng không tinh tường cách xem mạch, dự đoán thời gian sống chết, mà cho là trị được, luôn luôn sai lầm, Ý không thể hoàn toàn đảm bảo được.”
Thái sử công bàn rằng: Phụ nữ bất luận đẹp xấu, hễ vào cung thì bị đố kỵ; kẻ sĩ không cứ hiện năng hay kém cỏi, hễ vào triều là bị nghi kỵ. Cho nên Biển Thước vì tài y thuật của mình mà gặp tai ương, Thương công bèn tự giấu tung tích mà vẫn bị tội hình. Đề Oanh dâng thư lên, cha nàng sau mới được bình yên. Cho nên Lão tử nói: “Vật gì đẹp là thứ đồ vật không may mắn," há để nói những người như Biển Thước chăng? Người như Thương công, có thể nói là gần giống vậy.
QUYỂN 106
NGÔ VƯƠNG TỴ LIỆT TRUYỆN
Ngô vương Tỵ là con trai của Lưu Trọng, anh trai Cao đế. Sau khi Cao đế bình định thiên hạ được bảy năm, lập Lưu Trọng làm Đại vương. Rồi Hung Nô tấn công đất Đại, Lưu Trọng không thể giữ vững, bỏ nước phong chạy trốn, lén theo đường nhỏ chạy đến Lạc Dương, tự về trình diện thiên tử. Thiên tử vì tình cốt nhục nên không nỡ dùng pháp luật xử tội, phế làm Cáp Dương hầu. Mùa thu năm Cao đế thứ mười một, Hoài Nam vương là Anh Bố làm phản, phía đông chiếm đất Kinh, đoạt lấy quân nước đó, phía tây vượt sông Hoài, đánh vào Sở, Cao đế đích thân cầm quân thảo phạt Anh Bố. Con của Lưu Trọng là Bái hầu Tỵ hai mươi tuổi, có khí lực, lấy thân phận kỵ tướng, phá được quân của Bố ở Cối Chuy, phía tây đất Kỳ, Bố bỏ chạy. Kinh vương Lưu Giả bị Bố giết chết, không người thừa kế. Hoàng thượng lo người Ngô và Cối Kê nóng nảy hung tợn, không vương hầu nào mạnh để sung vào, các con còn nhỏ, bèn lập Tỵ ở đất Bái làm Ngô vương, làm vua ba quận năm mươi ba thành. Sau khi phong tước nhận ấn, Cao đế triệu Tỵ đến xem tướng mạo, bảo rằng: “Mặt ngươi có tướng làm phản.” Trong lòng hối hận, nhưng đã trót phong, nhân đó vỗ vào lưng Tỵ, nói: “Nhà Hán năm mươi năm nữa có kẻ làm loạn ở phía đông nam, có lẽ là ngươi chăng? Nhưng người chung họ trong thiên hạ đều cùng một nhà, thận trọng, chớ có làm phản?” Tỵ dập đầu đáp: “Không dám.”
Đến thời Hiếu Huệ đế, Cao hậu, thiên hạ mới yên định, chư hầu các quận trong nước ai nấy chuộng việc tự vỗ về dân chúng. Nước Ngô có núi đồng ở quận Dự Chương, Tỵ liền chiêu mộ những kẻ vong mạng trong thiên hạ để đúc [trộm] tiền, nấu nước biển làm muối, vì thế không thu thuế, mà của cải chi dùng trong nước đầy đủ.
Thời Hiếu Văn đế, Thái tử nước Ngô vào triều kiến, được hầu Hoàng thái tử uống rượu, đánh bạc. Thầy dạy Thái tử nước Ngô đều là người Sở, nóng nảy hung hăng, lại vốn kiêu ngạo, đánh bạc, tranh giành, không cung kính, Hoàng thái tử cầm bàn chơi bạc ném Thái tử nước Ngô, giết chết. Thế rồi sai đưa ma về táng. Đến nước Ngô, Ngô vương tức giận nói: “Cùng một họ trong thiên hạ, chết ở Trường An thì chôn ở Trường An, sao phải nhất quyết mang về đây chôn!” Lại sai đưa ma về táng ở Trường An. Ngô vương vì thế dần dần bỏ lễ phiên thần, thác bệnh không vào chầu. Triều đình biết ông ta vì việc của con nên thác bệnh không vào chầu, xét hỏi biết thực sự không có bệnh, các sử thần nước Ngô đến, bị bắt trói, trách tội rồi trừng trị. Ngô vương sợ hãi, nghĩ mưu kế chu toàn. Về sau, sai người đi triều kiến vào mùa thu, Hoàng thượng lại trách hỏi sứ nước Ngô, sứ giả thưa rằng: “Ngô vương thực sự không có bệnh, nhà Hán nhiều lần bắt trói trị tội sứ giả, cho nên thác bệnh. Vả lại xét thấy con cá dưới vực, không tốt lành*. Nay Ngô vương mới và có bệnh, khi chuyện phát giác, thấy bị trách tội gắt gao, càng phải giữ kín, sợ Hoàng thượng xử tử, nhưng không biết tính thế nào. Chỉ có Hoàng thượng mới bỏ qua cho để bắt đầu lại từ đầu.” Thế là thiên tử bèn xá tội cho sứ giả nước Ngô về, còn ban cho Ngô vương ghế ngồi và gậy chống, cho là tuổi già, không cần vào chầu. Ngô vương được xá tội, mưu kế cũng dần bỏ. Do nước phong của Ngô vương có đồng và muối, trăm họ không phải đóng thuế. Sĩ tốt đến
phiên lao dịch, có thể đóng tiền thay thế. Hằng năm còn hỏi han đến người tài năng, ban thưởng cho trăm họ. Quan lại các quận khác muốn đến bắt người bỏ trốn, đều cấm không cho. Cứ thế hơn bốn mươi năm, có thể sai khiến được dân chúng.
Triều Thố làm Thái tử gia lệnh, được Thái tử tin yêu, nhiều lần lựa lúc thong dong nói lỗi lầm của Ngô vương đáng bị tước đất phong. Lại nhiều bận dâng thư nói với Hiếu Văn đế, Văn đế khoan dung, không nỡ trừng phạt, do đó Ngô vương ngày càng ngang ngược. Đến khi Hiếu Cảnh đế lên ngôi, Thố làm Ngự sử đại phu, nói với Hoàng thượng rằng: “Xưa kia Cao đế mới yên định thiên hạ, anh em ít, các con còn non yếu, nên phong nhiều người cùng họ, vì thế con thứ Điệu Huệ vương làm vua hơn bảy mươi thành cấp nước Tề, em thứ Nguyên vương làm vua hơn bốn mươi thành nước Sở, con của anh là Tỵ làm vua hơn năm mươi thành nước Ngô: phong ba người con thuộc ngành thứ, chia nửa thiên hạ. Nay Ngô vương trước có hiềm với Thái tử, vờ có bệnh không vào chầu, theo phép xưa đáng chém, Văn đế không nỡ, nhân đó ban cho ghế ngồi và gậy chống. Đức rất hậu, đáng lẽ nên sửa lỗi tự thay đổi. Thế nhưng lại càng kiêu căng quá đáng, lấy đồng núi để đúc tiền, nấu nước biển làm muối, dụ dỗ kẻ bỏ trốn trong thiên hạ, âm mưu làm loạn. Nay tước đất phong cũng phản, không tước cũng làm phản. Tước bỏ thì nhanh làm phản; không tước bỏ thì phản chậm hơn, mối họa lớn.” Mùa đông năm Cảnh đế thứ ba, Sở vương vào chầu, Triều Thố nhân đó nói việc Sở vương là Mậu năm trước chịu tang Bạc Thái hậu, gian dâm ở nhà chịu tang, xin xử chém. Chiếu xá tội, phạt tước bỏ quận Đông Hải. Nhân đó tước bỏ quận Dự Chương và quận Cối Kê của Ngô vương. Hai năm trước, Triệu vương có tội, bị tước
mất quận Hà Gian. Giao Tây vương là Ngang phạm tội bán tước vị, bị tước mất sáu huyện.
Đình thần nhà Hán đang bàn việc tước đất của nước Ngô. Ngô vương Tỵ sợ bị tước bỏ nhiều đất phong, nhân đó âm mưu, muốn khởi sự. Cho rằng chư hầu không nước nào đủ để cùng bàn mưu kế, nghe nói Giao Tây vương dùng lực, thích tranh đua, ưa dụng binh, các nước nhỏ trong đất Tề đều sợ, do đó sai Trung đại phu Ứng Cao lôi kéo Giao Tây vương. Không gửi thư, truyền khẩu báo rằng: “Ngô vương kém cỏi, có nỗi lo sớm tối, không dám tự tiết lộ, phái tôi đến để nói rõ hảo ý.” Giao Tây vương hỏi: “Có điều gì chỉ dạy ta vậy?" Cao nói: “Nay chúa thượng cất nhắc gian thần, tán dương bề tôi tà vạy, thích điều thiện nhỏ, nghe lời sàm tấu của bọn tiện nhân, tự tiện thay đổi luật lệnh, xâm đoạt đất đai chư hầu, chỉ mong ngày càng nhiều thêm, giết và xử tội người thiện lương, ngày càng quá quắt. Trong làng xóm có người nói, 'liếm vỏ trấu rồi ăn đến hạt gạo.'* Ngô với Giao Tây, đều là chư hầu có tiếng, nhất thời bị xét đến, sợ không được yên ổn. Ngô vương có bệnh trong người, không thể vào chầu hơn hai mươi năm, từng lo bị nghi ngờ, không biết tự thanh minh, nay rụt cổ so vai, còn sợ không được tha. Trộm nghe đại vương bị trách tội bán chức tước, bị tước đất phong, mà tôi chưa đến mức ấy, vì thế sợ không chỉ bị tước đất mà thôi.” Giao Tây vương nói: “Phải, có việc đó, ngài nghĩ xem có cách nào không?” Cao nói: “Cùng chung oán ghét thì tương trợ lẫn nhau, cùng chung yêu thích thì phụ họa cho nhau, cùng chung tình ý thì thành toàn cho nhau, cùng chung ham muốn thì truy cầu cho nhau, cùng chung lợi ích thì sống chết có nhau. Nay Ngô vương tự cho mình chung nỗi lo với đại vương, mong thuận thời thế, quên thân trừ họa trong thiên hạ, liệu có được chăng?” Giao Tây vương kinh ngạc nói: “Quả nhân sao dám
thế? Nay chúa thượng tuy nóng vội, ta vốn có tội chết, sao dám bất kính?" Cao nói: “Ngự sử đại phu Triều Thố, mê hoặc thiên tử, xâm đoạt chư hầu, che lấp trung lương, cản trở hiền tài, triều đình oán ghét, chư hầu đều có ý bội phản, nhân tình sự lý đã đến cực điểm. Sao chổi và châu chấu nhiều lần xuất hiện, đó là cơ hội muôn đời có một, còn lo sầu lao khổ là nguyên do khiến thành nhân trỗi dậy. Cho nên Ngô vương muốn trong thì lấy danh nghĩa hỏi tội Triều Thố, ngoài thì theo sau xe của đại vương, ruổi rong thiên hạ, hướng về đâu, đó phải hàng, trỏ vào đâu, liền bị hạ, thiên hạ không ai dám không phục. Nếu may mắn được đại vương đồng ý một tiếng, Ngô vương sẽ thống lãnh Sở vương đoạt cửa Hàm Cốc, giữ kho lương Ngao Thương ở Huỳnh Dương, chống nhau với quân Hán. Việc sắp đặt quân doanh, còn chờ đại vương. Nếu may mắn đại vương đến đó thì có thể thôn tính thiên hạ, hai vị chúa chia đôi, chẳng cũng khả dĩ ư?” Giao Tây vương nói: “Phải.” Cao về báo lại Ngô vương, Ngô vương còn sợ Giao Tây vương không theo, bèn đích thân làm sứ giả, đến chỗ Giao Tây vương, gặp mặt kết minh.
Bề tôi của Giao Tây vương có người biết âm mưu, liền can rằng: “Thờ một hoàng đế, rất vui vậy. Nay đại vương cùng Ngô vương hướng sang tây, giả sử việc thành, hai chúa phân tranh, họa dấy từ đấy. Đất đai của chư hầu không bằng hai phần mười các quận nhà Hán, còn làm việc loạn nghịch sẽ khiến Thái hậu lo lắng, không phải kế sách lâu dài vậy.” Giao Tây vương không nghe. Bèn phái sứ giả ước định với Tề, Truy Xuyên, Giao Động, Tế Nam, Tế Bắc, đều đồng ý, rồi nói: “Thành Dương Cảnh vương có nghĩa khí, tấn công người họ Lã, chớ ước định với ông ta, việc xong sẽ chia phần cho.”
Các chư hầu mới bị tước đất phong, xử tội, hết sức kinh sợ, nhiều người oán Triều Thố. Khi văn thư tước bỏ quận Cối Kê và Dự Chương của nước Ngô gửi tới, thì Ngô vương đã khởi binh trước, ngày Bính Ngọ tháng Giêng, Giao Tây vương giết những quan lại nhà Hán trật hai nghìn thạch trở xuống, Giao Đông vương, Truy Xuyên vương, Tế Nam vương, Sở vương, Triệu vương cũng làm tương tự, rồi phát binh kéo sang tây. Tề vương sau đó hối hận, uống thuốc độc tự sát, phản lại minh ước. Tế Bắc vương thành trì hư hại chưa sửa xong, Lang trung lệnh của Tế Bắc vương bắt giữ vua mình, nên không phát binh được. Giao Tây vương làm thủ lĩnh, Giao Đông vương, Truy Xuyên vương, Tế Nam vương cùng tấn công, bao vây Lâm Truy. Triệu vương Toại cũng làm phản, ngầm sai sứ đến Hung Nô liên quân.
Bảy nước chư hầu phát động phản loạn, Ngô vương huy động toàn bộ sĩ tốt, hạ lệnh cho người trong nước: “Quả nhân sáu mươi hai tuổi, đích thân làm tướng. Con út mười bốn tuổi, cũng đi đầu sĩ tốt. Những người, trên từ tuổi quả nhân, dưới xuống đến con trẻ, thảy đều xuất phát.” Phát động hơn hai mươi vạn người. Phía nam phái sứ đến Mân Việt, Đông Việt; Đông Việt cũng phát binh theo.
Hiếu Cảnh đế năm thứ ba, ngày Giáp Tý tháng Giêng, bắt đầu dấy binh ở Quảng Lăng. Phía tây vượt sông Hoài, nhân đó thôn tính quân Sở. Phái sứ đưa thư đến chư hầu rằng: “Ngô vương Lưu Tỵ kính hỏi Giao Tây vương, Giao Đông vương, Truy Xuyên vương, Tế Nam vương, Triệu vương, Sở vương, Hoài Nam vương, Hành Sơn vương, Lô Giang vương cùng con của cố Trường Sa vương: xin chỉ giáo cho quả nhân! Vì nhà Hán có gian thần, không có công với thiên hạ, xâm đoạt đất đai chư hầu, sai quan lại đàn hặc, bắt trói, tra hỏi, trị tội, coi việc khinh nhục chư hầu là
giỏi, không dùng lễ dành cho vua chư hầu đối đãi với cốt nhục họ Lưu, tuyệt giao với công thần của tiên đế, tiến cử giao chức cho kẻ gian tà, lừa bịp làm loạn thiên hạ, muốn khiến xã tắc lâm nguy. Bệ hạ nhiều bệnh, thần chí thất thường, không thể xét rõ. Muốn cất quân để giết chúng, xin kính cẩn nghe chỉ giáo. Tệ quốc tuy nhỏ, đất vuông ba nghìn dặm; người tuy ít, tinh binh chỉ có năm mươi vạn. Quả nhân vốn thờ Nam Việt hơn ba mươi năm, quốc vương và quân trưởng nơi đó đều không từ chối, chia quân cho theo quả nhân, cũng được hơn ba mươi vạn. Quả nhân dẫu bất tài, nguyện đem quân này theo chư vương. Đất Việt thẳng tới Trường Sa, do con của Trường Sa vương bình định từ phía bắc Trường Sa sang phía tây đến đất Thục và Hán Trung. Báo cho ba vương là Việt vương, Sở vương, Hoài Nam vương, cùng quả nhân tiến sang tây; các vương ở Tề cùng Triệu vương bình định Hà Gian, Hà Nội, một vào cửa Tấn Dương, một cùng quả nhân hội quân ở Lạc Dương; Yên vương, Triệu vương vốn có ước định với quân Hồ, Yên vương lên phía bắc bình định đất Đại và Vân Trung, thống lãnh quân Hồ kéo vào Tiêu Quan, xông thẳng đến Trường An, khuông phò và chỉ chính cho thiên tử, đặng yên Cao miếu. Xin các vương hãy gắng sức. Con trai Sở Nguyên vương, ba quốc vương ở Hoài Nam có người không tắm gội hơn mười năm, oán tận xương tủy, từ lâu đã muốn có cơ hội phát tiết ra, quả nhân chưa biết ý của chư vương, chưa dám nghe theo. Nay chư vương nếu có thể bảo tồn nước diệt vong, nối lại dòng đã dứt, chấn hưng cho kẻ yếu, thảo phạt kẻ hung bạo, đặng khiến họ Lưu được yên, đó là điều ước muốn của xã tắc vậy. Tệ quốc dẫu nghèo, quả nhân bớt ăn bớt mặc, tích tiền vàng, sửa khí giới, trữ lương thảo, hết đêm lại ngày, hơn ba mươi năm rồi. Phàm các việc ấy đều vì chuyện này, xin chư vương hãy gắng dùng. Ai chém bắt được đại tướng, sẽ ban thưởng năm nghìn cân vàng, phong cho vạn hộ; chém bắt được hàng tướng, được
thưởng ba nghìn cân, phong năm nghìn hộ; hàng tỳ tướng được hai nghìn cân, phong hai nghìn hộ; hàng hai nghìn thạch được nghìn cân, phong nghìn hộ; hàng nghìn thạch được năm trăm cân, phong năm trăm hộ: đều được phong liệt hầu. Ai đem quân hay thành ấp đến hàng, nếu đem đến quân lính vạn người hay thành ấp vạn hộ, ban thưởng như chém bắt được đại tướng; quân lính năm nghìn, thành ấp năm nghìn hộ thì như chém bắt được tướng; quân ba nghìn, thành ấp ba nghìn hộ thì như chém bắt được tỳ tướng; quân một nghìn, thành ấp nghìn hộ thì như chém bắt được hạng hai nghìn thạch; dẫu tiểu lại đến hàng cũng xét thứ bậc trao tước hay vàng. Các mức phong tặng khác đều theo quan công mà tăng. Ai có tước hay ấp phong từ trước, càng thưởng thêm, không giữ mức cũ. Xin chư vương nhớ rõ để lệnh sĩ đại phu, không dám dối gạt. Vàng tiền của quả nhân trong thiên hạ đâu đâu cũng có, không nhất nhất phải lấy từ nước Ngô, chư vương ngày đêm sử dụng cũng không hết. Ai đáng được thưởng thì báo với quả nhân, quả nhân sẽ đến thưởng cho. Vậy kính báo.”
Thư làm phản của bảy nước đến tai thiên tử, thiên tử liền sai Thái úy Điều hầu Chu Á Phu đem ba mươi sáu tướng đi đánh Ngô, Sở; sai Khúc Chu hầu Lịch Kỳ đánh Triệu; tướng quân Loan Bố đánh Tề; đại tướng quân Đậu Anh đóng quân ở Huỳnh Dương, giám sát quân Tề và Triệu.
Thư phản của Ngô, Sở đã báo lên, quân chưa xuất phát, Đậu Anh chưa lên đường, nói về nguyên Thừa tướng nước Ngô là Viên Áng. Bấy giờ Áng đang ở nhà, Hoàng thượng hạ chiếu triệu vào tấn kiến. Hoàng thượng đang cùng Triều Thố điều binh và tính toán quân lương, Hoàng thượng hỏi Viên Áng: “Ngài từng làm Thừa tướng nước Ngô, có biết bề tôi nước Ngô là Điền Lộc Bá là người thế nào không? Nay Ngô, Sở làm phản, ngài thấy thế nào?” Áng đáp: “Không đáng lo, sẽ phá được thôi.” Hoàng thượng
nói: “Ngô vương nhờ núi có đồng đúc tiền, nấu nước biển làm muối, lôi kéo hào kiệt thiên hạ, bạc đầu rồi mới khởi sự. Do vậy, kế của ông ta không phải vẹn toàn, há có thể phát động ư? Sao lại nói ông ta không làm được gì?” Viên Áng đáp rằng: “Nước Ngô có nguồn đồng và muối, lợi thì có đấy, nhưng sao lôi kéo được hào kiệt! Nếu Ngô có được hào kiệt, cũng sẽ phụ giúp nhà vua thi hành việc nghĩa, không làm phản đâu. Ngô lôi kéo đều là bọn con em vô lại, đám gian tà vong mạng đúc vàng trộm, cho nên kéo nhau làm phản.” Triều Thố nói: “Viên Áng tính rất phải.” Hoàng thượng hỏi: “Vậy phải thi hành kế sách gì?” Áng đáp: “Xin đuổi hết tả hữu ra ngoài.” Hoàng thượng đuổi người bên cạnh ra, chỉ cho Thố ở lại. Áng nói: “Điều thần nói, kẻ làm bề tôi không được biết vậy.” Hoàng thượng bèn đuổi Thố ra. Thố chạy ra lánh ở phòng phía đông, rất giận. Hoàng thượng liền hỏi Áng, Áng đáp: “Ngô, Sở cùng truyền thư, nói: 'Cao đế phong vương cho con em, ai nấy đều có đất phong, nay tặc thần là Triều Thố chuyên vạch lỗi chư hầu, tước mất đất phong.' Cho nên lấy danh nghĩa đó để làm phản, kéo sang tây cùng giết Triều Thố, khôi phục đất cũ mà thôi. Nay chỉ có cách chém Thố, sai sứ đến xá tội bảy nước Ngô, Sở, khôi phục đất cũ bị tước, thì vũ khí không dính máu mà đều bãi binh.” Nghe vậy Hoàng thượng trầm ngâm hồi lâu, nói: “Xét thấy thực không biết phải làm sao, ta không thể tiếc một người để tạ lỗi với thiên hạ.” Áng nói: “Thần ngu muội không nghĩ được kế khác, xin bệ hạ xét cho kỹ.” Bèn phong Áng làm Thái thường, phong con người em của Ngô vương là Đức hầu giữ chức Tông chính. Áng chuẩn bị hành trang lên đường. Hơn chục ngày sau, Hoàng thượng sai quan Trung úy triệu Thố, lừa ngồi xe đi ra chợ phía đông. Thố mặc triều phục, bị chém ở chợ đông. Rồi sai Viên Áng phụng ý chỉ của tông miếu, Tông chính vì có quan hệ thân thích, sai đi báo với Ngô vương như kế sách của Áng. Đến Ngô, quân Ngô, Sở đã tấn công
doanh lũy đất Lương. Tông chính vì là thân thích, được vào gặp trước, khuyên dụ Ngô vương với nhận chiếu chỉ. Ngô vương nghe nói Viên Áng tới, cũng biết là muốn thuyết phục, cười đáp: “Ta đã là Hoàng đế phía đông, còn phải bái lạy ai nữa?” Không chịu gặp Áng rồi giữ lại trong quân, định ép Áng làm tướng. Áng không chịu, Ngô vương sai người canh giữ, sắp giết Áng, ban đêm Áng lẻn được ra, đi bộ bỏ trốn, chạy đến quân Lương, rồi về triều báo tin.
Điều hầu đem sáu cỗ xe dịch trạm đến hội quân ở Huỳnh Dương. Tới Lạc Dương, gặp Kịch Mạnh, mừng nói: “Bảy nước làm phản, tôi đi xe dịch trạm đến đây, không nghĩ là được an toàn. Lại cho là chư hầu đã lôi kéo được Kịch Mạnh, nay Kịch Mạnh không có động tĩnh gì, tôi chiếm Huỳnh Dương, từ đây về đông không có gì đáng lo nữa.” Tới Hoài Dương, Điều hầu hỏi Đặng Đô úy, môn khách cũ của cha mình là Giáng hầu, rằng: “Phải đưa ra đối sách gì?” Đặng Đô úy đáp: “Quân Ngô cực tinh nhuệ, khó đấu với họ được. Lính Sở nóng vội, không thể giữ lâu. Nay kế sách cho tướng quân, không gì bằng dẫn quân lên đông bắc, lập doanh ở Xương Ấp, bỏ đất Lương cho Ngô, quân Ngô ắt dốc hết quân tinh nhuệ tấn công. Tướng quân dựa vào lũy cao hào sâu, sai khinh binh cắt đứt cửa vào sông Hoài sông Tử, chặn đường tiếp lương của Ngô. Quân Ngô và quân Lương đánh nhau, cùng suy yếu mà lương thực lại hết, ta bèn dốc sức đối phó quân đã suy yếu cực độ, ắt phá được quân Ngô thôi.” Điều hầu nói: “Phải.” Rồi theo kế đó, giữ vững mặt nam của Xương Ấp, khinh binh đi cắt đường tiếp lương của quân Ngô.
Lúc Ngô vương mới phát binh, bề tôi nước Ngô là Điền Lộc Bá làm đại tướng quân. Điền Lộc Bá nói: “Quân binh tập hợp rồi tiến sang tây, không có con đường xuất kỳ chế thắng, khó mà thành công được. Thần xin
đem năm vạn người, men đường khác ven sông Trường Giang và sông Hoài rồi đi lên, thu lấy Hoài Nam, Trường Sa, vào Vũ Quan, cùng hội quân với đại vương, đó cũng là một kế lạ vậy.” Thái tử của Ngô vương can rằng: “Vua cha mang danh làm phản, quân đó khó lòng nhờ người khác, nhờ người rồi cũng phản thì làm sao? Vả lại toàn quyền cầm quân mà lại chia cho người khác, nhiều điều lợi hại, không thể biết trước, đó là tự làm mình hao tổn vậy.” Theo đó Ngô vương không chấp nhận đề nghị của Điền Lộc Bá.
Viên tướng trẻ nước Ngô là Hoàn tướng quân nói với Ngô vương: “Nước Ngô có nhiều bộ binh, bộ binh lợi khi đánh vào chỗ hiểm; nhà Hán nhiều quân xa kỵ, xa kỵ lợi khi bình định đất bằng. Xin đại vương qua thành ấp nào đánh không hạ được, bỏ mà đi thẳng, tiến nhanh sang tây chiếm kho vũ khí ở Lạc Dương, thu giữ lương thảo ở kho Ngao Thương, dựa vào sự hiểm trở của núi non và sông Hoàng Hà để lệnh cho chư hầu, dẫu không vào được Quan Trung cũng bình định được thiên hạ rồi. Nếu đại vương tiến chậm, lưu quân đánh hạ thành ấp, quân xa kỵ nhà Hán đến, phóng vào ngoại thành Lương, Sở, việc sẽ thất bại.” Ngô vương nói với các lão tướng, các lão tướng nói: “Lấy đó làm kế tiến công của thanh niên thì được, há đã biết nghĩ tới mưu lớn ư?” Thế là Ngô vương không theo kế của Hoàn tướng quân.
Ngô vương nắm hết quân đội, chưa vượt sông Hoài, tân khách đều được làm tướng quân, Hiệu úy, hầu, Tư mã, riêng có Chu Khâu không được dùng. Chu Khâu, người ở Hạ Phì, trốn chạy đến Ngô, là kẻ bán rượu, không có đức hạnh, Ngô vương Tỵ bạc đãi, không dùng. Chu Khâu yết kiến, khuyên Ngô vương rằng: “Thần vốn bất tài, không được chờ tội trong hàng ngũ. Thần không dám cầu được cầm quân, chỉ xin một phù tiết
nhà Hán, ắt có thể báo đáp được đại vương.” Ngô vương bèn cho. Chu Khâu được phù tiết, ban đêm cưỡi ngựa chạy vào Hạ Phì. Bấy giờ Hạ Phì nghe nói Ngô phản, đều giữ chặt thành trì. Chu Khâu đến trạm dịch, triệu Huyện lệnh. Huyện lệnh vào cửa, Chu Khâu sai tùy tòng khép tội rồi chém. Bèn triệu nhà quyền thế cùng quan lại có quan hệ tốt với anh em mình đến, nói: “Quân làm phản của Ngô sắp đến, đến nơi, sẽ làm cỏ Hạ Phì chỉ trong thời gian bữa cơm. Nay đầu hàng trước, nhà cửa ắt được an toàn, ai tài năng sẽ được phong hầu.” Rồi thông báo cho nhau, Hạ Phì đều hàng. Một đêm Chu Khâu có được ba vạn người, sai người báo với Ngô vương, rồi đem quân lên phía bắc đánh chiếm thành ấp. Tiến đến Thành Dương, quân lên tới hơn mười vạn, đánh phá quân của Trung úy ở Thành Dương. Nghe tin Ngô vương thua chạy, Chu Khâu tự xét không có ai cùng mình tạo dựng thành công, liền dẫn quân về Hạ Phì, chưa đến nơi, mọc u trên lưng rồi chết.
Giữa tháng Hai, quân của Ngô vương bị đánh tan, thua chạy, thiên tử ban chế chiếu cho các tướng quân rằng: “Từng nghe: người làm điều lành, trời ban điều phúc; làm điều sai trái, trời giáng tai ương. Cao hoàng đế đích thân biểu dương công đức, dựng lập chư hầu, U vương và Điệu Huệ vương không có người kế tục, Hiếu Văn hoàng đế thương xót gia thêm ân huệ, phong vương cho con của U vương là Toại và con của Điệu Huệ vương là Ngang, sai phụng thờ tông miếu tiên vương, làm nước phên giậu của nhà Hán, đức sánh trời đất, rạng cùng nhật nguyệt. Ngô vương Tỵ bội đức phản nghĩa, dẫn dụ thu nhận tội nhân trốn chạy trong thiên hạ, làm loạn tiền tệ, thác bệnh không vào chầu hơn hai mươi năm, quan hữu ty nhiều lần xin trị tội Tỵ, Hiếu Văn hoàng đế khoan dung, mong ông ta sửa đổi lỗi lầm thành người lương thiện. Nay lại cùng Sở vương là Mậu, Triệu
vương là Toại, Giao Tây vương là Ngang, Tế Nam vương là Tích Quang, Truy Xuyên vương là Hiền, Giao Đông vương là Hùng Cừ hẹn nhau làm phản, đại nghịch vô đạo, dấy binh khiến tông miếu nguy hại, tàn sát đại thần cùng sứ giả nhà Hán, cưỡng chế hà hiếp muôn dân, giết người vô tội, đốt rụi nhà dân, quật mộ đào mả, bạo ngược hết mức. Nay bọn Ngang lại càng đại nghịch vô đạo, đốt phá tông miếu, cướp đồ ngự dụng, trẫm rất đau lòng. Trẫm mặc đồ trắng lánh khỏi chính điện, tướng quân hãy khuyến khích sĩ đại phu đánh quân phản tặc. Ai đánh quân phản tặc, thâm nhập vào địch, giết nhiều giặc thì có công, chém đầu giặc, bắt được giặc từ hàng ba trăm thạch trở lên đều giết hết, không được tha. Dám có nghị luận hay không tuân chiếu chỉ đều chém ngang lưng.”
Lúc trước, Ngô vương vượt sông Hoài, cùng Sở vương sang tây đánh bại Cức Bích, thừa thắng tiến lên, đầy nhuệ khí. Lương Hiếu vương sợ, sai sáu tướng đem quân đánh Ngô, quân Ngô lại đánh bại hai tướng của Lương, sĩ tốt đều chạy về Lương. Nước Lương nhiều lần sai sứ cầu cứu Điều hầu, Điều hầu không chịu. Lại sai sứ nói xấu Điều hầu với Hoàng thượng, Hoàng thượng sai người bảo Điều hầu cứu viện Lương, nhưng Điều hầu cậy mình được tùy ý hành động, không chịu đi. Nước Lương sai Hàn An Quốc cùng em của Thừa tướng đã chết vì việc nước Sở là Trương Vũ làm tướng quân, nhiều lần đánh bại quân Ngô. Quân Ngô muốn sang tây, Lương phòng thủ thành trì vững chắc, quân Ngô không dám sang tây, liền xông vào quân của Điều hầu, gặp nhau ở Hạ Ấp. Quân Ngô muốn đánh, Điều hầu giữ thành, không chịu giao chiến. Quân Ngô hết lương, lính đói, nhiều lần khiêu chiến, rồi nhân đêm tối đột kích vào thành của Điều hầu, làm kinh động phía đông nam. Điều hầu sai người phòng bị tây bắc, quân Ngô quả nhiên đánh vào hướng tây bắc. Quân Ngô đại bại, sĩ tốt
phần nhiều chết đói, bèn tạo phản rồi bỏ trốn. Thế rồi Ngô vương bèn cùng mấy nghìn tráng sĩ dưới cờ ban đêm trốn đi, vượt sông Trường Giang chạy đến Đan Đồ, giữ Đông Việt. Quân Đông Việt lên đến trên vạn người, bèn sai người thu tập các quân bỏ trốn. Nhà Hán sai người dùng lợi để nhử Đông Việt, Đông Việt liền lừa Ngô vương, Ngô vương ra ngoài úy lạo quân sĩ, liền sai người dùng giáo đâm chết Ngô vương, gói đầu lại, chạy ngựa trạm đến báo tin cho nhà Hán. Con trai Ngô vương là Tử Hoa và Tử Câu chạy trốn đến Mân Việt. Con trai Ngô vương bỏ quân binh mà trốn, quân liền tan vỡ, phần lớn đầu hàng Thái thú và quân Lương. Quân của Sở vương là Mậu thua trận, Sở vương tự sát.
Ba vương bao vây Lâm Truy nước Tề, ba tháng không hạ được. Quân Hán đến, Giao Tây vương, Giao Đông vương và Truy Xuyên vương đều dẫn quân về. Giao Tây vương bèn cởi áo đi chân đất, ngồi chiếu cỏ, uống nước lã, tạ tội với Thái hậu. Thái tử của Giao Tây vương là Lưu Đức nói: “Quân Hán từ xa đến, thần thấy họ đã mệt, có thể tập kích, xin thu tàn quân của đại vương để đánh họ, nếu không thắng, trốn ra biển cũng chưa muộn.” Giao Tây vương nói: “Sĩ tốt của ta đều đã tan nát, không thể dùng được.” Không nghe. Tướng Hán là Cung Cao hầu Đồi Đương gửi thư cho Giao Tây vương nói rằng: “Vâng chiếu giết kẻ bất nghĩa, ai hàng được tha tội, khôi phục như cũ, ai không hàng thì giết. Vương tính thế nào, theo đó mà hành sự.” Giao Tây vương cởi trần dập đầu tại quân doanh nhà Hán, bái yết rồi nói: “Thần là Ngang không tuân nghiêm pháp luật, làm trăm họ kinh sợ, khiến tướng quân vất vả đường xa đến nước khốn cùng này, dám xin chịu tội róc thịt làm tương.” Cung Cao hầu cầm trống vàng tiếp kiến Giao Tây vương, nói: “Vương khổ vì việc quân, xin được nghe nguyên do phát binh.” Giao Tây vương dập đầu lết gối đáp rằng: “Nay, Triều Thố là
bề tôi được thiên tử trọng dụng, thay đổi pháp lệnh của Cao hoàng đế, xâm đoạt đất đai chư hầu. Bọn Ngang cho là bất nghĩa, sợ ông ta gây bại hoại, làm loạn thiên hạ, bảy nước dấy binh, định để giết Thố. Nay nghe Thố đã bị giết, bọn Ngang kính cẩn bãi binh trở về.” Tướng quân nói: “Nếu vương cho là Thố bất thiện, sao không báo lên? Chưa có chiếu lệnh và hổ phù, tự ý phát binh đánh nước có nghĩa. Theo đó mà xét, không chỉ có ý giết Thố vậy.” Bèn đem chiếu thư cho Giao Tây vương đọc. Đọc xong, nói: “Vương hãy tự liệu.” Giao Tây vương nói: “Như bọn Ngang chết không hết tội.” Bèn tự sát. Thái hậu, Thái tử đều chết. Giao Đông vương, Truy Xuyên vương, Tế Nam vương đều chết, nước phong bị bãi, nạp về nhà Hán. Lịch tướng quân bao vây Triệu mười tháng thì hạ được, Triệu vương tự sát. Tế Bắc vương do bị ép làm phản nên không bị giết, dời đến làm Truy Xuyên vương.
Ban đầu, Ngô vương làm phản trước, thống lĩnh cả quân Sở, liên kết với Tề, Triệu. Tháng Giêng dấy binh, tháng Ba cùng bị đánh tan, riêng Triệu bị hạ sau cùng. Lại lập con út của Nguyên vương là Bình Lục hầu Lễ làm Sở vương, kế tục Nguyên vương. Dời Nhữ Nam vương là Phi đến làm quốc vương ở đất cũ nước Ngô, xưng là Giang Đô vương.
Thái sử công bàn rằng: Ngô vương xưng vương, do cha bị cắt đất phong. Biết giảm thuế khóa, sai khiến dân chúng, khai thác nguồn lợi từ núi và biển. Mang tâm nghịch loạn là từ con trai. [Con trai ông ta] vì tranh đua trong trò cờ bạc mà mất mạng; thân nước Việt mà mưu hại tông tộc, rốt cuộc bị diệt. Triều Thố vì nước suy nghĩ sâu xa, lại rước họa vào thân. Viên Áng lộng quyền giỏi biện luận, ban đầu được sủng mà sau chịu nhục. Cho nên, thời xưa, đất của chư hầu không quá trăm dặm, núi cao biển lớn
không được phân phong. “Không thân với di địch, để xa lánh thân thuộc" đại để nói về Ngô vương chăng? “Không làm kẻ chủ mưu, ngược lại phải chịu họa” có lẽ nói về Áng và Thố chăng?
QUYỂN 107
NGỤY KỲ, VŨ AN HẦU LIỆT TRUYỆN
Ngụy Kỳ hầu Đậu Anh là con trai anh họ bên ngoại của Hiếu Văn đế. Đời cha là người Quan Tân, thích tân khách. Thời Hiếu Văn đế, Đậu Anh làm Thừa tướng nước Ngô, bị bệnh nên thôi chức. Hiếu Cảnh đế mới lên ngôi, cho làm Chiêm sự*.
Lương Hiếu vương là em của Hiếu Cảnh đế, được mẹ là Đậu thái hậu yêu quý. Lương Hiếu vương vào chầu, nhân đó anh em cùng yến ẩm. Bấy giờ, Hoàng thượng chưa lập Thái tử, rượu ngà ngà, thản nhiên nói: “Sau khi yên giấc ngàn thu sẽ truyền cho Lương vương.” Thái hậu mừng. Đậu Anh cầm chén dâng lên Hoàng thượng, nói: “Thiên hạ là thiên hạ của Cao tổ, cha con truyền nhau, đó là quy định của nhà Hán vậy, cớ sao Hoàng thượng lại tự ý truyền cho Lương vương!” Từ đấy Thái hậu ghét Đậu Anh. Đậu Anh cũng xem nhẹ chức quan của mình, rồi nhân ốm nên từ chức. Thái hậu loại Đậu Anh khỏi danh sách được ra vào cung, không được hội triều các tiết xuân thu.
Hiếu Cảnh đế năm thứ ba, Ngô, Sở làm phản, Hoàng thượng xét trong tông thất và người họ Đậu không ai hiền năng như Đậu Anh, bèn triệu kiến Anh. Anh vào triều kiến, cố từ chối có bệnh không đủ khả năng nhận chức. Thái hậu cũng thấy hổ thẹn. Thế rồi Hoàng thượng nói: “Thiên hạ đang nguy cấp, vương tôn sao có thể thoái thác được?" Bèn phong Anh làm đại
tướng quân, ban cho nghìn cân vàng. Anh bèn tiến cử các danh tướng, hiền sĩ hiện đang sống an nhàn ở nhà như Viện Áng, Loan Bố. Số vàng được ban, Anh để phía dưới hiên, quan lại trong quân đi qua, sai lấy của cải ấy chi dùng, không đem chút vàng nào vào nhà. Đậu Anh giữ Huỳnh Dương, giám sát quân Tề và Triệu. Bảy nước làm phản đều bị đánh tan, phong Anh làm Ngụy Kỳ hầu. Các du sĩ, tân khách đều tranh về với Ngụy Kỳ hầu. Thời Hiếu Cảnh đế, mỗi khi vào triều bàn nghị việc lớn, các chư hầu khác không ai dám tranh hơn với Điều hầu và Ngụy Kỳ hầu.
Hiếu Cảnh đế năm thứ tư, lập Thái tử Lật, sai Ngụy Kỳ hầu làm Thái tử Thái phó. Hiếu Cảnh đế năm thứ bảy, Lật thái tử bị phế truất, Ngụy Kỳ hầu nhiều lần khuyên can nhưng không được. Ngụy Kỳ hầu thác bệnh, ẩn cư mấy tháng dưới núi phía nam Lam Điền, các tân khách, biện sĩ thuyết phục, không ai thuyết phục được. Cao Toại người Lương bèn khuyên Ngụy Kỳ hầu rằng: “Người có thể khiến tướng quân giàu sang là Hoàng thượng, người có thể khiến tướng quân thành thân tín là Thái hậu. Nay tướng quân làm thầy Thái tử, Thái tử bị phế mà không thể can ngăn; can không được lại không thể chết. Tự thác bệnh rồi lui gót, mang theo mỹ nữ nước Triệu, ẩn cư không vào triều. Đem các việc ấy mà bàn, là tự vạch rõ lỗi lầm của chúa thượng. Nếu Hoàng thượng và Thái hậu giận tướng quân, thì vợ con tướng quân cũng chẳng còn.” Ngụy Kỳ hầu cho là phải, bèn ra, lại vào chầu như trước.
Đào hầu bị bãi chức Thừa tướng, Đậu Thái hậu nhiều lần tiến cử Ngụy Kỳ hầu. Hiếu Cảnh đế nói: “Thái hậu há nghĩ thần tiếc không cho Ngụy Kỳ làm Thừa tướng ư? Ngụy Kỳ là người hay hí hửng tự mừng, nhiều việc tỏ ra xem nhẹ, khó làm Thừa tướng, nắm chức trọng yếu được.” Bèn không dùng, mà dùng Kiến Lăng hầu Vệ Oản làm Thừa tướng.
Vũ An hầu Điền Phần là em cùng mẹ với Hiếu Cảnh đế, sinh ở Trường Lăng. Sau khi Ngụy Kỳ hầu đã làm đại tướng quân, đang lúc thịnh, Phần làm quan Lang, chưa hiển quý, thường đến hầu rượu Ngụy Kỳ, quỳ xuống đứng lên như con cháu. Đến khi Hiếu Cảnh đế tuổi cao, Phần ngày càng được hiển quý và sủng ái, làm Thái trung đại phu. Phần giỏi biện luận, học các sách Bàn vu*, Vương thái hậu cho là hiền năng. Hiếu Cảnh để băng hà, ngay hôm ấy Thái tử lên ngôi, Thái hậu nhiếp chính, kế sách dùng để trấn áp hay vỗ về thiên hạ phần lớn đều từ tân khách của Điền Phần. Em trai Phần là Điền Thắng, đều là em của Vương thái hậu, năm Hậu Nguyên thứ ba đời Hiếu Cảnh đế, phong Phần làm Vũ An hầu, Thắng làm Chu Dương hầu.
Vũ An hầu mới nắm quyền đã mong được làm Thừa tướng, tỏ ra nhún nhường khiêm hạ với tân khách, tiến cử danh sĩ sống ở nhà chưa ra làm quan, khiến họ được hiển quý, muốn nhân đó lấn lướt các tướng võ tướng văn như Ngụy Kỳ hầu. Năm Kiến Nguyên thứ nhất, Thừa tướng là Oản bị bệnh thôi giữ chức, Hoàng thượng nghị bàn việc lập Thừa tướng và Thái úy. Tịch Phúc khuyên Vũ An hầu rằng: “Ngụy Kỳ hiển quý đã lâu, kẻ sĩ trong thiên hạ vốn quy phục ông ta. Nay tướng quân mới hưng khởi, chưa được như Ngụy Kỳ, dù Hoàng thượng muốn phong tướng quân làm Thừa tướng, ngài nhất định phải nhường cho Ngụy Kỳ. Ngụy Kỳ làm Thừa tướng, tướng quân ắt làm Thái úy. Thái úy cũng tôn quý như Thừa tướng, lại có tiếng nhường cho người hiền.” Vũ An hầu bèn khéo léo nói với Thái hậu để đánh tiếng lên Hoàng thượng, thế là Hoàng thượng bên phong Ngụy Kỳ hầu làm Thừa tướng, Vũ An hầu làm Thái úy. Tịch Phúc chúc mừng Ngụy Kỳ hầu, nhân đó nhắc nhở: “Quân hầu tính thích thiện ghét ác; nay người tốt khen ngợi quân hầu, cho nên làm đến Thừa tướng;
nhưng quân hầu lại ghét ác, kẻ ác lại đông, cũng sẽ hủy báng quân hầu. Quân hầu có thể khiêm tốn bao dung thì may mắn lâu dài; nếu không sẽ vì lời hủy báng mà thất thế.” Ngụy Kỳ không nghe.
Ngụy Kỳ, Vũ An đều thích Nho thuật, tiến cử Triệu Oản làm Ngự sử đại phu, Vương Tang làm Lang trung lệnh. Đón Thân công nước Lỗ, muốn dựng nhà Minh đường*, lệnh cho chư hầu ai về nước ấy, bỏ việc thu thuế ở quan ải, dùng lễ chế định pháp độ, hưng khởi lối cai trị của thời thái bình. Kiểm tra, khiển trách người trong tông thất và người họ Đậu không có phẩm đức, khai trừ khỏi dòng họ. Bấy giờ ngoại thích đều làm liệt hầu, liệt hầu nhiều người lấy Công chúa, đều không muốn đến nước phong, vì vậy lời hủy báng đến tai Đậu thái hậu. Thái hậu thích đạo Hoàng Lão, còn bọn Ngụy Kỳ, Vũ An, Triệu Oản, Vương Tang tôn sùng Nho thuật, chỉ trích học thuyết Đạo gia, vì thế Đậu Thái hậu càng không thích bọn Ngụy Kỳ. Đến năm Kiến Nguyên thứ hai, Ngự sử đại phu Triệu Oản đề nghị không tâu việc chính sự với Đông cung. Đậu Thái hậu cả giận, bèn bãi chức và đuổi bọn Triệu Oản, Vương Tang, rồi bãi chức Thừa tướng, Thái úy, lấy Bách Chi hầu Hứa Xương làm Thừa tướng Vũ Cường hầu Trang Thanh Địch làm Ngự sử đại phu. Ngụy Kỳ, Vũ An do đó là liệt hầu nhưng ở nhà.
Vũ An hầu tuy không giữ chức, nhưng nhờ Vương Thái hậu nên được Hoàng thượng tin yêu, nhiều lần kiến nghị chính sự, có hiệu quả, các quan lại cùng kẻ sĩ trong thiên hạ chạy theo thế và lợi, đều bỏ Ngụy Kỳ để theo Vũ An. Vũ An ngày càng kiêu lộng. Năm Kiến Nguyên thứ sáu, Đậu Thái hậu băng hà, Thừa tướng là Xương, Ngự sử đại phu Thanh Địch do không chu đáo trong tang lễ, bị bãi chức. Lấy Vũ An hầu là Phần làm Thừa tướng, lấy Đại tư nông Hàn An Quốc làm Ngự sử đại phu. Kẻ sĩ trong thiên hạ, các Quận thú cùng chư hầu ngày càng theo về Vũ An.
Vũ An mặt nhỏ xấu xí, nhưng xuất thân cực kỳ tôn quý. Lại thêm các vua chư hầu phần nhiều cao tuổi, Hoàng thượng mới lên ngôi, tuổi còn rất trẻ, Phần là tâm phúc nên được làm Thừa tướng ở kinh, cho là không mạnh tay áp chế, dùng lễ để chế phục, thiên hạ không nể sợ. Bấy giờ, Thừa tướng vào tâu việc, ngồi nói hồi lâu, những điều nói ra đều được nghe theo. Người mà Vũ An tiến cử hoặc là bình dân đến hạng hai nghìn thạch, chia bớt quyền lực của chúa thượng. Hoàng thượng bèn nói: “Ông phong cho quan lại đã hết chưa? Ta cũng muốn phong cho quan lại.” Vũ An từng xin chọn đất quan sở để mở rộng dinh thự, Hoàng thượng giận nói: “Sao ông không lấy kho quân giới luôn đi!” Từ đấy về sau mới thôi. Từng triệu tân khách đến uống rượu, để anh trai là Cái hầu ngồi quay về nam, còn mình ngồi quay về đông, cho là Thừa tướng nhà Hán là tôn quý, không thể vì anh mà phải nhún nhường. Vũ An từ đấy càng thêm kiêu căng, sửa nhà to đẹp nhất các phủ đệ. Ruộng vườn cực màu mỡ, xe đi mua bán vật dụng ở các quận huyện cũng nối nhau trên đường. Trước nhà bày chuông trống, dựng cờ cán cong dài, có hàng trăm phòng phía sau dành cho hầu thiếp. Chư hầu dâng vàng, ngọc, chó, ngựa, cùng các thứ thưởng ngoạn, nhiều không kể xiết.
Sau khi Đậu Thái hậu qua đời, Ngụy Kỳ ngày càng bị lạnh nhạt, không được trọng dụng, các tân khách dần rời đi, thậm chí tỏ ra ngạo mạn, chỉ có Quán tướng quân vẫn không khác trước. Ngày ngày Ngụy Kỳ lặng lẽ bất đắc chí, mà cũng chỉ hậu đãi một mình Quán tướng quân.
Quán tướng quân tên là Phu, người Dĩnh Âm. Cha Phu là Trương Mạnh, từng làm Xá nhân cho Dĩnh Âm hầu Quán Anh, được sủng ái, nhân đó làm quan trật hai nghìn thạch, cho nên lấy theo họ Quán, đổi thành Quán Mạnh. Khi Ngô, Sở làm phản, Dĩnh Âm hầu Quán Hà làm tướng quân,
thuộc quyền quan Thái úy, tiến cử Quản Mạnh làm Hiệu úy. Phu đem nghìn người cùng cha lên đường. Quán Mạnh tuổi cao, Dĩnh Âm hầu miễn cưỡng dùng, nên ông ta trầm uất bất đắc ý, vì thế khi giao chiến thường đánh vào trận địa kiên cố của địch, rồi chết trong quân Ngô. Theo quân pháp, cha con đều tòng quân, có người chết thì người kia được đưa xe tang về nhà. Quán Phu không chịu theo xe tang về, khảng khái nói: “Xin lấy đầu Ngô vương hoặc đầu tướng địch để báo thù cho cha.” Thế rồi Quán Phu mặc giáp cầm kích, mộ được mấy chục tráng sĩ trong quân vui lòng đi theo. Đến khi ra khỏi phòng lũy, không ai dám tiến, chỉ có hai người cùng mười mấy nô bộc tùy tòng phóng ngựa vào quân Ngô, đến dưới cờ tướng Ngô, giết và làm bị thương mấy chục người. Không tiến được, lại phi ngựa về, chạy vào phòng lũy quân Hán, nô bộc chết hết, chỉ còn một kỵ binh cùng về. Phu thân trúng mười vết thương lớn, may có thuốc tốt vạn lượng, cho nên không chết. Vết thương của Phu dần lành miệng, lại thỉnh cầu với tướng quân rằng: “Tôi rất thông thạo các chỗ quanh co trong phòng lũy quân Ngô, xin cho đi lần nữa.” Tướng quân cho là có đảm lược và nghĩa khí, sợ mất Phu, bèn nói với Thái úy, Thái úy cố ngăn lại. Sau khi quân Ngô bị phá, Quán Phu vì thế nổi danh thiên hạ.
Dĩnh Âm hầu tâu việc của Quán Phu lên Hoàng thượng, Hoàng thượng cho Phu làm Trung lang tướng. Mấy tháng sau, vì phạm pháp bị bãi chức. Về sau, gia đình sống ở Trường An, các nhà công hầu ở Trường An không ai không xưng tụng Quán Phu. Thời Hiếu Cảnh đế, Quán Phu đến nước Đại làm Tướng quốc. Hiểu Cảnh đế băng hà, đương kim Hoàng thượng mới lên ngôi, cho Hoài Dương là đầu mối giao lưu của thiên hạ, chỗ có quân binh hùng mạnh, cho nên dời Phu làm Thái thú Hoài Dương. Năm Kiến Nguyên thứ nhất, vào triều làm Thái bộc. Năm thứ hai, Phu cùng Vệ
úy Trường Lạc là Đậu Phủ uống rượu, kẻ uống nhiều người uống ít, Phu say, đánh Phủ. Phủ là anh em của Đậu Thái hậu. Hoàng thượng sợ Thái hậu giết Phu, chuyển Phu làm Tướng quốc nước Yên. Được mấy năm, vi phạm pháp nên bị bãi quan, chuyển nhà về Trường An.
Quán Phu là người cương trực, uống rượu vào thì đổi cả tính nết, không thích ra mặt bợ đỡ. Với các hoàng thân quý thích, các nhà có thế lực từ tầm mình trở lên, nếu không muốn tỏ ra lễ độ, nhất định sẽ lăng nhục; các kẻ sĩ thấp hơn mình, nhất là người nghèo hèn, lại rất cung kính, đối đãi bình đẳng. Đối với chúng dân, tiến cử và yêu quý những kẻ thấp hèn. Kẻ sĩ cũng vì thế càng kính trọng ông ta.
Phu không ưa văn chương học vấn, thích hành hiệp, điều gì đã hứa thì thực hiện bằng được. Những người qua lại với Phu, không ai không phải hào kiệt hoặc cực gian ngoan giảo hoạt. Trong nhà có mấy ngàn vạn, thực khách hằng ngày có mười thậm chí hàng trăm người. Nào xây bờ ao, nào ruộng đất trang viên, tông tộc và tân khách vì tranh quyền đoạt lợi, hoành hành ở Dĩnh Xuyên. Trẻ con ở Dĩnh Xuyên hát rằng: “Dĩnh Thủy trong xanh, họ Quán yên lành; Dĩnh Thủy vẩn đục, họ Quán diệt tộc.”
Quán Phu ở nhà, tuy giàu có nhưng thất thế, các khanh tướng, Thị trung, tân khách ngày càng thưa dần. Đến khi Ngụy Kỳ hầu thất thế, cũng muốn dựa vào Quán Phu, coi đó như khuôn phép để phê phán, khiển trách những người trước ngưỡng mộ mà sau quay lưng với mình. Quán Phu cũng dựa vào Ngụy Kỳ để kết giao với liệt hầu, tông thất nhằm nâng cao thanh danh. Hai người cùng dựa vào nhau, qua lại như cha con, rất hòa hợp vui vẻ, không biết chán, chỉ hận biết nhau quá muộn.
Quán Phu có tang, qua thăm hỏi Thừa tướng, Thừa tướng thong thả nói: “Tôi định cùng Trọng Nhụ qua nhà Ngụy Kỳ hầu, lại gặp lúc Trọng
Nhụ đang có tang.” Quán Phu nói: “Tướng quân còn chịu quang lâm nhà Ngụy Kỳ hầu, Phu đâu dám vì có tang mà từ chối! Xin nói Ngụy Kỳ hầu chuẩn bị yến tiệc, sáng mai tướng quân sẽ đến sớm.” Vũ An đồng ý. Quán Phu nói lại mọi chuyện với Ngụy Kỳ hầu như đã nói với Vũ An hầu. Ngụy Kỳ hầu cùng phu nhân mua nhiều thịt bò và rượu, ban đêm vẩy nước quét dọn, chuẩn bị yến tiệc từ tờ mờ đến tận sáng. Mới sáng, lệnh cho môn hạ nghe ngóng để tiếp đón. Đến trưa, Thừa tướng vẫn chưa đến. Ngụy Kỳ hỏi Quán Phu: “Chẳng lẽ Thừa tướng quên sao?" Quán Phu không vui, nói: “Phu có tang mà vẫn nhận lời hẹn, chắc sẽ đến thôi.” Bèn đánh xe, đích thân đến đón Thừa tướng. Thừa tướng bữa trước chỉ đùa Quán Phu, kỳ thực không có ý đi. Khi Phu tới cổng, Thừa tướng hãy còn nằm trên giường. Thế rồi Phu vào gặp, nói: “Hôm qua tướng quân có hứa qua nhà Ngụy Kỳ, vợ chồng Ngụy Kỳ chuẩn bị yến tiệc, từ sáng đến giờ, vẫn chưa dám ăn.” Vũ An kinh ngạc tạ lỗi rằng: “Hôm qua ta say, chợt quên lời đã nói với Trọng Nhụ.” Bèn lên xe đến, nhưng lại đi thong thả, Quán Phu càng thêm giận. Tới khi uống đã ngà ngà, Phu dậy múa mời Thừa tướng, Thừa tướng vẫn ngồi yên, Quán Phu từ chỗ ngồi hướng lên Thừa tướng nói lời mạo phạm. Ngụy Kỳ bèn dìu Quán Phu về, tạ lỗi với Thừa tướng. Thừa tướng vẫn uống rượu đến khuya, vui vẻ hết mức rồi về.
Thừa tướng từng sai Tịch Phúc đòi đất phía nam thành của Ngụy Kỳ. Ngụy Kỳ rất oán, nói: “Kẻ tôi tớ già này dẫu là đồ bỏ đi, tướng quân tuy sang quý, há có thể dùng quyền thế mà cướp được ư!" Không cho. Quán Phu nghe chuyện, giận, mắng Tịch Phúc. Tịch Phúc không thích hai người có hiềm khích, bèn tự bịa những lời tốt đẹp nói với Thừa tướng: “Ngụy Kỳ già sắp chết, tạm nhẫn nhịn, hãy chờ vậy.” Thế rồi Vũ An biết sự thực Ngụy Kỳ và Quán Phu giận không chịu trả ruộng, cũng giận nói: “Con trai
Ngụy Kỳ từng giết người, Phần này để cho sống. Phần thờ Ngụy Kỳ, không gì không nghe, sao lại tiếc mấy khoảnh ruộng? Vả lại Quán Phu thì quan hệ gì? Ta không dám đòi hỏi ruộng ấy nữa.” Vũ An từ đấy rất giận Quán Phu và Ngụy Kỳ.
Mùa xuân năm Nguyên Quang thứ tư, Thừa tướng nói Quán Phu, nhà ở Dĩnh Xuyên, hoành hành bạo ngược, làm khổ dân chúng, xin triều đình tra xét. Hoàng thượng nói: “Đó là phận sự của Thừa tướng, còn đề nghị làm gì?” Quán Phu cũng nắm được một số việc ngầm của Thừa tướng, như việc gian dối trục lợi, nhận vàng của Hoài Nam vương và chuyện hai người nói riêng. Tân khách khuyên giải rồi thôi, cùng dàn hòa nhau.
Mùa hè, Thừa tướng lấy con gái của Yên vương làm phu nhân, có chiếu của Thái hậu, triệu liệt hầu và tông thất đều phải đến chúc mừng. Ngụy Kỳ hầu qua nhà Quán Phu, định cùng đi. Phu từ chối, nói: “Phu nhiều lần dựa vào rượu mà thất lễ, đắc tội với Thừa tướng, nay Thừa tướng và Phu còn có hiềm khích.” Ngụy Kỳ nói: “Việc hòa giải rồi.” Ép cùng đi. Uống rượu ngà ngà, Vũ An dậy chúc thọ, mọi người ngồi đó đều rời chiếu lạy. Sau Ngụy Kỳ chúc rượu, chỉ có bạn cũ rời chiếu lạy, quá nửa quỳ ở chiếu. Quán Phu không vui, đứng dậy mời rượu, đến Vũ An, Vũ An quỳ ở chiếu nói: “Không thể uống chén đầy được.” Phu giận, nhân đó cười gượng nói: “Tướng quân là người tôn quý, xin hãy uống hết đi!” Lúc ấy Vũ An không chịu. Mời rượu theo thứ tự, đến Lâm Nhữ hầu, Lâm Nhữ hầu đang ghé tai nói chuyện với Trình Bất Thức, lại không rời khỏi chiếu. Phu không có chỗ trút giận, bèn mắng Lâm Nhữ hầu rằng: “Ngày thường chê Trình Bất Thức không đáng một xu, nay trưởng giả chúc rượu, lại bắt chước đàn bà con gái thầm thì vào tai nhau thế à?” Vũ An nói với Quán Phu: “Trình tướng quân, Lý tướng quân đều là Vệ úy ở đông cung và tây
cung, nay sỉ nhục Trình tướng quân trước mặt mọi người, lẽ nào Trọng Nhụ không giữ thể diện cho Lý tướng quân ư?” Quán Phu nói: “Nay chém đầu mổ bụng còn không quan tâm, đâu cần biết Trình với Lý nào!" Mọi người bèn vờ đi tiểu tiện rồi dần ra về hết. Ngụy Kỳ hầu về, gọi Quán Phu cùng về. Vũ An liền nổi giận nói: “Đây là tội ta để Quán Phu kiêu căng.” Bèn sai kỵ sĩ giữ Quán Phu lại. Quán Phu muốn đi cũng không được. Tịch Phúc dậy tạ tội, ấn gáy Quán Phu bảo tạ lỗi. Phu càng giận, không chịu tạ lỗi. Vũ An bèn gọi kỵ sĩ trói Phu lại đưa ra dịch trạm, triệu quan Trưởng sử đến: “Nay triệu người trong tổng thất đến là có chiếu chỉ.” Hạch tội Quán Phu mắng chửi, bất kính với tân khách, sai trói lại giam vào phòng. Rồi tra xét những việc trước đây, sai tiểu lại chia nhau truy bắt thân thuộc họ Quán, đều kết tội chém đầu thị chúng. Ngụy Kỳ hầu cả thẹn, bỏ tiền nhờ tân khách cầu xin, nhưng không ai khuyên giải được. Thuộc lại của Vũ An đều là tai mắt của ông ta, người họ Quán đều phải trốn tránh, Phu bị trói, không sao tố cáo những bí mật của Vũ An được.
Ngụy Kỳ đích thân ra mặt cứu Quán Phu. Vợ Ngụy Kỳ can rằng: “Quán tướng quân đắc tội với Thừa tướng, làm trái chiếu chỉ của Thái hậu, làm sao cứu được?” Ngụy Kỳ hầu nói: “Tước hầu do ta mà được, sẽ do ta mà mất, có gì đáng tiếc. Vả lại cũng không thể để Trọng Nhụ chết, còn Anh này sống một mình được.” Bèn giấu người nhà, lén dâng thư lên Hoàng thượng. Hoàng thượng lập tức triệu vào, Ngụy Kỳ nói ngọn ngành việc Quán Phu làm lúc say rượu, thực không đáng giết. Hoàng thượng cho là phải, ban đồ ăn cho Ngụy Kỳ, nói: “Hãy đến đông cung* biện giải việc đó.”
Ngụy Kỳ đến đông cung, ra sức khen chỗ tốt của Quán Phu, nói ông ta say rượu phạm lỗi, rồi bị Thừa tướng đem việc khác đổ tội cho. Vũ An lại
ra sức bới móc việc Quán Phu hoành hành ngang ngược, đại nghịch bất đạo. Ngụy Kỳ đoán chừng không biết làm sao, nhân đó kể chỗ kém của Thừa tướng. Vũ An nói: “Thiên hạ may được an lạc vô sự, Phần được làm tâm phúc của Hoàng thượng, chỉ thích âm nhạc, chó ngựa, điền trạch. Thứ mà Phần này thích chỉ là loại phường hát, thợ giỏi, không như Ngụy Kỳ và Quán Phu ngày đêm chiêu tập anh kiệt, tráng sĩ trong thiên hạ đến cùng bàn luận, trong bụng chê bai, trong lòng hủy báng, không ngẩng nhìn lên trời chỉ cúi xuống vẽ dưới đất*, ngó nghiêng hai cung*, nếu thiên hạ có biến, thì định lập đại công. Thần thực không biết những việc làm của bọn Ngụy Kỳ.” Thế là Hoàng thượng hỏi các triều thần: “Hai người họ ai phải?" Ngự sử đại phu Hàn An Quốc nói: “Ngụy Kỳ nói việc cha Quán Phu chết, Quán Phu đích thân vác kích phi ngựa vào quân Ngô đầy bất trắc, thân bị hơn chục vết thương, tên tuổi đứng đầu ba quân, đó là tráng sĩ trong thiên hạ, không phải kẻ đại ác, tranh đua lúc chén rượu, không đủ lấy lỗi đó mà giết được. Ngụy Kỳ nói phải. Thừa tướng cũng nói Quán Phu giao du với phương gian tà giảo hoạt, xâm hại dân chúng, trong nhà có đến cự vạn, hoành hành ngông bạo ở Dĩnh Xuyên, khinh khi tông thất, mạo phạm thân thích của Hoàng thượng, đó gọi là cành lớn hơn gốc, bắp to hơn đùi, không bẻ cũng gãy, Thừa tướng nói cũng phải. Xin minh chúa hãy quyết định.” Chủ tước đô úy Cấp Ảm cho là Ngụy Kỳ nói phải. Nội sử Trịnh Đường Thời cho Ngụy Kỳ nói phải, sau không dám nói chắc. Còn lại đều không ai dám nói. Hoàng thượng giận Nội sử, nói: “Ông thường ngày nhiều lần nói chỗ hay chỗ dở của Ngụy Kỳ và Vũ An, nay bàn luận giữa triều đình, lại như con ngựa non ở càng xe*, ta sẽ chém luôn các ngươi.” Liền bãi triều, vào cung dâng đồ ăn cho Thái hậu. Thái hậu cũng đã sai người nghe ngóng, về nói lại mọi chuyện. Thái hậu giận, không ăn, nói: “Nay ta còn sống mà người ta cùng chà đạp anh em ta, sau khi ta trăm
tuổi, ắt đều coi ông ta như cá như thịt*. Hơn nữa lẽ nào Hoàng đế lại là phỗng đá! Nay Hoàng đế còn đây mà họ a dua phụ họa nhau, giả sử sau khi Hoàng đế trăm tuổi, những người ấy còn có ai đáng tin cậy không?” Hoàng thượng đáp: “Họ đều là họ ngoại của hoàng tộc, nên triều đình mới bàn nghị, nếu không, việc này chỉ cần viên ngục lại cũng đủ phán quyết rồi.” Bấy giờ tang trung lệnh là Thạch Kiến nói riêng về từng người với Hoàng thượng.
Vũ An đã dự chầu xong, ra ngoài, dừng xe ngoài cổng cung, gọi Hàn ngự sử đại phu lên ngồi cùng xe, giận nói: “Cùng Trường Nhụ đối phó một lão trọc già, sao phải do dự nước đôi thế?” Hồi lâu Hàn ngự sử nói với Thừa tướng: “Sao ngài không cảm thấy vui? Bởi lẽ Ngụy Kỳ hủy báng ngài, ngài nên bỏ mũ, treo ấn mà về, nói: 'Thần là tâm phúc, may được đợi tội, vốn không xứng với chức vị, Ngụy Kỳ nói đều đúng cả.' Như thế, Hoàng thượng ắt khen là biết nhường nhịn, không phế truất ngài. Ngụy Kỳ hẳn trong lòng tự thấy hổ thẹn, đóng cửa cắn lưỡi tự sát. Nay người ta hủy báng, ngài cũng hủy báng lại, ví như đám đàn bà con trẻ buôn bán tranh cãi nhau, sao mà không biết đại thể đến thế?” Vũ An tạ lỗi, nói: “Lúc tranh luận gấp quá, không nghĩ ra cách ấy.”
Thế rồi Hoàng thượng sai Ngự sử dựa vào sổ sách xét những lời Ngụy Kỳ nói về Quán Phu, nhiều chỗ khác nhau, nên bị cho là lừa dối nhà vua, bị đàn hặc rồi trói giam trong ngục Đô tư không. Thời Hiếu Cảnh đế, Ngụy Kỳ từng nhận di chiếu, nói: “Có việc gì bất tiện, tùy nghi tâu lên Hoàng thượng.” Đến khi bị giam, Quán Phu phạm tội đến mức bị giết cả họ, việc ngày càng cấp bách, các quan không ai dám nói lại cho rõ với Hoàng thượng. Ngụy Kỳ bèn sai con em dâng thư nói về việc nhận di chiếu, mong được triệu kiến lần nữa. Thư tâu lên Hoàng thượng, nhưng xem kỹ trong
thư không có di chiếu. Chiếu thư được cất ở nhà Ngụy Kỳ, gia thần đóng ấn niêm phong. Bèn khép Ngụy Kỳ vào tội giả di chiếu tiên đế, tội đáng chém đầu ngoài chợ. Tháng Mười năm [Nguyên Quang] thứ năm, luận tội Quán Phu và gia thuộc. Mãi sau Ngụy Kỳ mới biết chuyện, nghe xong cả giận, bị bệnh phong, không ăn định chết. Có người nghe nói Hoàng thượng không có ý giết Ngụy Kỳ, Ngụy Kỳ ăn trở lại, khỏi bệnh, quyết định không xử Ngụy Kỳ tội chết. Lại có lời đồn xấu đến tai vua, nên đến cuối tháng Mười hai, Ngụy Kỳ bị luận tội chém ở chợ tại Vị Thành.
Mùa xuân, Vũ An hầu ốm, chỉ gào lớn xin tạ tội. Bèn sai đồng cốt đến xem quỷ thế nào, thầy đồng thấy Ngụy Kỳ và Quán Phu đang giằng giữ nhau, muốn giết Vũ An hầu. Rồi Vũ An hầu chết, con là Điềm thừa kế. Năm Nguyên Sóc thứ ba, Vũ An hầu mặc quần áo ngắn vào cung, mắc tội bất kính.
Hoài Nam vương là An mưu phản, bị phát giác, trị tội. Hoài Nam vương lần trước vào triều kiến, Vũ An hầu làm Thái úy, khi đến Bá Thượng nghinh đón Hoài Nam vương có nói với Hoài Nam vương rằng: “Hoàng thượng chưa có Thái tử, đại vương là hiền năng nhất, là cháu nội của Cao tổ, nếu Hoàng thượng bằng hà, không phải đại vương lên ngôi thì còn ai nữa!” Hoài Nam vương cả mừng, tặng Vũ An hầu rất nhiều vàng và lễ vật. Hoàng thượng từ việc của Ngụy Kỳ không cho Vũ An là phải, chỉ vì Thái hậu mà thôi. Đến khi nghe việc Hoài Nam vương đút lót vàng, Hoàng thượng nói: “Giả sử Vũ An hầu còn sống, sẽ giết cả họ.”
Thái sử công bàn rằng: Ngụy Kỳ, Vũ An đều dựa vào thân phận ngoại thích, được quyền cao chức trọng, Quán Phu dùng quyết sách nhất thời mà nổi danh. Ngụy Kỳ được cất nhắc từ loạn Ngô, Sở, Vũ An hiển quý nhờ
"""