"Sống Vốn Đơn Thuần PDF EPUB 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Sống Vốn Đơn Thuần PDF EPUB Ebooks Nhóm Zalo THÔNG TIN EBOOK TBooks – Ứng Dụng Miễn Phí Giúp Bạn Download, Lưu Trữ Ebook và tạo thư viện Ebook riêng mình. List Sách Tbooks: http://h.nhuttruong.com/tbookslist Website: http://sach.nhuttruong.com Facebook: https://www.facebook.com/TbooksApp/ Group: https://www.facebook.com/groups/tbooksgroup/ Zalo Group: http://h.nhuttruong.com/groupzalo Telegram: https://t.me/tbooksNTC Đây Là Ứng Dụng Miễn Phí Giúp Bạn Lưu Trữ Ebook và tạo thư viện riêng mình, Tbooks Cloud giúp các bạn dùng kindle, Android, Iphone, Windows có thể tải ebook từ internet dẽ dàng, ngoài ra bạn còn có thể tạo một thư viện riêng cho mình trên ứng dụng từ nay cần gì bạn có thể tải về nhanh chóng không cần chép vào máy nặng máy, không còn nổi lo mất ebook vì tất cả ebook lưu trên cloud với 3 bản backup. Ưu điểm TBooks so với App ebook, sách khác thị trường: – Upload file ebook tới 100mb ( lưu ý up file 50mb trở lên hơi lâu vui lòng chờ) – Tạo thư viện ebook cá nhân, có thể chia sẽ bạn bè. – Kho data lớn 50.000 ebook nhiều thể loại, có thể nói kho ebook lớn nhất Việt Nam cập nhật thêm mỗi ngày – Tải trực tiếp click là download ngay không cần chờ đợi, xem PDF trực tiếp trình duyệt – Giao diện đơn giản chỉ có hiển thị bìa sách và tìm kiếm. – Nhiều định dạng file Azw3/Epub/Pdf/Mobi phù hợp cho tất cả thiết bị – Giao diện nhiều thiết bị điện thoại, ipad, ngay cả máy đọc sách như kindle luôn nhé, này đảm bảo chỉ Tbooks Cloud mình là thân thiện nhất theo mình biết. -Sử dụng cloud server riêng, tự mình setup chứa ebook -Tự động backup dữ liệu mỗi ngày tránh sự cố mất data -Có ứng dụng cho điện thoại Android. Phiên bản web app cho Ios, máy đọc sách kindle -Tham gia group cộng đồng chia sẽ ebook hay (1898-1975) Nhà tản văn, họa sĩ. Ông từng tôn Pháp sư Hoằng Nhất (Lý Thúc Đồng) làm thầy, thông hiểu văn hóa Trung Quốc lẫn phương Tây. Tản văn của ông có phong cách bình dị mộc mạc, ý nghĩa khoan hậu nhân từ mà sâu sắc, và cả sự thú vị hồn nhiên như trẻ thơ, là những giai phẩm được tôn sùng trong văn học hiện đại Trung Quốc, nhiều lần được chọn đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn bậc tiểu học và trung học. Tranh của ông hài hước dí dỏm, lưu truyền rộng rãi, được nhiều người yêu thích, sưu tầm. “Văn và tranh của anh như những bài thơ ngắn, chúng tôi nhấm nháp mãi mùi vị ấy như ăn quả ô liu vậy”- CHU TỰ THANH(Nhà tản văn, nhà thơ, học giả Trung Quốc) “Dưới ngòi bút của ông, từng cánh hoa rơi đều chứa chan tình ý chốn nhân gian “- DU BÌNH BÁ(Nhà tản văn, nhà thơ, nhà Hồng học Trung Quốc) “(Phong Tử Khải) chỉ dùng vài nét bút đã vẽ ra cá tính của nhân vật. Trên mặt không có mắt, nhưng chúng ta có thể nhận ra ông đang nhìn gì; không có tai, song có thể nhận ra ông đang nghe gì, cảnh giới thể hiện nghệ thuật bậc cao chính là như vậy”- RABINDRANATH TAGORE(Nhà thơ, nhà văn, triết gia Ấn Độ) “Đề tài ông chọn vốn không phải thứ gì thực dụng hoặc sâu xa, bất kỳ sự vật nhỏ bé vụn vặt nào tới ngòi bút của ông đều thấm đượm một nét phong vận kỳ diệu.”- TANIZAKI JUNICHIRO(Nhà văn Nhật Bản) SỐNG VỐN ĐƠN THUẦN tập hợp 41 bài tản văn và 43 bức tranh tiêu biểu của Phong Tử Khải, miêu tả cuộc sống thường ngày một cách tinh tế đầy tình cảm, thể hiện cái nhìn và tấm lòng thơ trẻ trong thế giới của người trưởng thành. Vượt qua khoảng cách thời gian gần một thế kỷ, tác phẩm đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị thưởng thức: vu vơ lật lúc tâm trạng sa sút, ấy là ngọn lửa ấm áp; thảnh thơi đọc khi cuộc đời suôn sẻ, lại như làn gió mát lành… Sống vốn là chuyện đơn thuần như thế. Đơn thuần là tu tâm, tấm lòng chất phác, đôn hâu, thuần khiết chuyên chú, sống thật với chính mình; đơn thuần là trí tuệ, hóa phức tạp thành đơn giản, nhìn thấu sự đời, coi nhẹ mọi được mất. Phóng khoáng dạo chơi cõi trần thế, bình thản trải qua cả kiếp người. Thông thống nước liền song, phe phẩy quạt nồng Nhớ bóc sen tay nhỏ, năm ấy ngồi chung(∗) CHƯƠNG 1: SÁNG TỎ THÔNG SUỐT Mọi sự vật sự việc mà tôi từng thấy, từng nghe, từng làm trong ba mươi năm cuộc đời đều được ghi chép và khảo chứng kỹ càng, mà cũng chỉ chiếm một góc trong trang sách, một phần nhỏ vô cùng trong cả quyển. Tin chắc rằng trong vũ trụ có một quyển sổ lớn như thế, để hóa giải hết thảy băn khoăn và day dứt trong tôi. Cuốc kêu ra rả bốn canh ròng Dậy thấy tằm nhiều sợ ít dâu Nào biết trăng treo đầu ngọn liễu Giai nhân ca múa đã về đâu(∗) DẦN T rong những điều kỳ diệu khiến cuộc sống ngày càng suôn sẻ, chẳng gì bằng “dần dà”; mà các biện pháp tạo hóa hay dùng để lừa gạt con người, cũng chẳng gì bằng “dần dà”. Bất giác đứa bé hồn nhiên ngây thơ đã “dần dà” trở thành gã trai bừng bừng dã tâm; cậu trai hào sảng khẳng khái “dần dà” trở nên người lớn lạnh lùng tàn nhẫn; người lớn nhiệt tình hăng hái “dần dà” thành ra lão già gàn dở. Vì sự thay đổi diễn ra dần dần, từng năm từng năm, từng tháng từng tháng, từng ngày từng ngày, từng giờ từng giờ, từng phút từng phút, từng giây từng giây, như đi từ triền dốc dài thoai thoải xuống, không thấy được độ dốc, cũng không cảm giác được từng chặng đường, cứ ngỡ như mình vẫn đang ở một vị trí, không hề thay đổi, lại liên tục nảy sinh những hứng thú và giá trị, từ đó cuộc sống được khẳng định và ngày càng suôn sẻ. Nếu giả sử cuộc sống thay đổi không giống triền núi mà như nhịp phách cung đàn, đang từ Do thình lình chuyển sang Re, cũng như đứa bé đêm qua thoắt chốc đã thành cậu trai sớm nay; hoặc như nhịp điệu “nhảy cóc” từ Do sang Mi, tựa hồ sớm còn trẻ trung mà chiều đà tóc bạc, con người ta ắt sẽ kinh ngạc, bùi ngùi, buồn bã hoặc đau xót trước cái vô thường của cuộc đời mà không muốn làm người nữa. Thế mới biết cuộc đời vốn duy trì ở cái “dần dà” vậy. Điều này có lẽ càng dễ thấy hơn ở phụ nữ: Trong ca kịch, thiếu nữ như hoa trên sân khấu chính là bà lão bên bếp lửa ngày sau. Câu này thoạt nghe thì khó tin, thiếu nữ cũng không chịu thừa nhận, nhưng thực sự những bà cụ hiện giờ đều do các thiếu nữ như hoa “dần dà” trở thành. Sở dĩ con người chống chịu được qua vật dời sao đổi, cũng đều nhờ “dần dà” trợ giúp. Con cháu nhà giàu sang vì phá sản liên tiếp mà “dần dà” sạch bách của nả, thành ra người nghèo; người nghèo chỉ có thể đi làm thuê, làm thuê thường lại thành nô lệ, nô lệ dễ hóa ra vô lại, vô lại rất gần với ăn mày, ăn mày chẳng nề trộm cắp… Những ví dụ như thế nhan nhản cả trong tiểu thuyết lẫn ngoài đời. Vì thay đổi trong cuộc sống thường kéo dài mười, hai mươi năm, “dần dà” từng bước một, khiến người trong cuộc không cảm nhận được biến chuyển gì lớn. Bởi thế tuy đã đến nước đói nghèo bệnh tật khổ sở đọa đày, vẫn nắm níu luyến lưu niềm vui sống trước mắt. Ví như một kẻ tiền rừng bạc bể đột nhiên trở thành ăn mày hay kẻ trộm, hẳn đã căm uất không muốn sống nữa. Đây là quy luật bí ẩn của tự nhiên, cũng là năng lực diệu kỳ của Thượng Đế! Âm dương biến chuyển, xuân đến thu đi cùng những tươi héo sinh diệt của vạn vật, đều tuân theo quy tắc này. Từ mùa xuân đâm chồi “dần dà” thành mùa hạ bóng mát, từ mùa thu tiêu điều “dần dà” thành mùa đông quạnh quẽ. Tuy chúng ta đã trải mấy chục phen nóng lạnh, nhưng đêm đông ôm chăn ấm bên lò sưởi vẫn khó mà tưởng tượng được tâm tình ngày hè uống nước đá phe phẩy quạt; trái lại cũng thế. Song mùa đông từng ngày từng ngày, từng giờ từng giờ, từng phút từng phút, từng giây từng giây chuyển mình sang hạ, mà hạ cũng từng ngày từng ngày, từng giờ từng giờ, từng phút từng phút, từng giây từng giây trở thành đông, âm thầm kín đáo, chẳng có dấu hiệu nào rõ rệt. Sáng tối cũng vậy: Chập tối ngồi bên song cửa đọc sách, trang sách “dần dà” tối đi, nếu vẫn đọc tiếp (thị lực sẽ dần tăng lên khi ánh sáng yếu dần) thì gần như sẽ mãi mãi nhận được mặt chữ trên giấy, nghĩa là không nhận thấy ngày đã thành đêm. Bình minh rọi song, chăm chú ngắm phương đông không chớp mắt, thì cũng không nhận ra dấu vết đêm chuyển sang ngày. Con cái dần lớn khôn, cha mẹ kề cận bên cạnh có lẽ không thấy khác biệt, song họ hàng lâu lâu gặp mặt lại không nhận ra. Giao thừa năm trước chúng ta từng ngồi bên nến hồng đợi thủy tiên nở, đúng là ngốc nghếch! Nếu thủy tiên thực sự nở ngay trước mặt cho chúng ta xem thì quy luật tự nhiên đã bị phá hỏng, cội nguồn vũ trụ lung lay, ngày tàn của nhân loại sắp đến. Tác dụng của “dần dà” là che giấu những vết tích biến thiên của sự vật và chảy trôi của thời gian bằng cách thay đổi từng chút một, thật chậm, thật nhỏ, khiến người ta cứ ngỡ là chưa hề đổi thay. Thực là một âm mưu xảo quyệt của con tạo nhằm bỡn cợt con người! Ví dụ một chuyện thế này: có anh nông dân nọ mỗi sáng ôm con nghé nhảy qua lạch, ra ruộng làm việc, chiều lại ôm nó nhảy qua lạch về nhà. Ngày qua ngày, chưa từng gián đoạn. Một năm sau, nghé lớn lên, nặng dần, sắp thành trâu đến nơi, song anh nông dân không nhận ra, vẫn ôm nó nhảy qua lạch. Một hôm, anh bận việc nên nghỉ ra đồng, từ hôm sau thì không cách nào ôm con trâu ấy nhảy qua lạch nữa. Tạo hóa trêu đùa khiến con người ta đắm chìm trong niềm vui sống từng giờ từng ngày mà không thấy những biến đổi và khổ cực của nó như thế đấy. Con người ngày ngày đều ôm con trâu mỗi lúc một nặng nhảy qua lạch, không chịu dừng lại, lầm tưởng thế là bất biến, thực ra mỗi ngày một vất vả thêm! Tôi cho rằng đồng hồ là vật tượng trưng giống với cuộc đời nhất. Kim đồng hồ thoạt nhìn tưởng như “bất động”, thực ra trong số các vật nhân tạo, nó lại là thứ chạy nhiều nhất. Cuộc sống đời thường cũng vậy. Lúc nào cũng thấy ta là ta, tựa hồ cái “ta” này mãi mãi không thay đổi, hay đâu vẫn vô thường như kim đồng hồ mà thôi! Đến hơi thở cuối cùng còn ngỡ ta vẫn là ta, ta không hề thay đổi, vẫn lưu luyến cuộc sống của ta, tiếc rằng lại bị “dần dà” dối gạt. Bản chất của “dần dà” là thời gian. Tôi cảm thấy thời gian còn kỳ diệu hơn không gian, giống như âm nhạc - nghệ thuật của thời gian còn bí ẩn hơn hội họa - nghệ thuật của không gian vậy. Vì dẫu không gian rộng lớn đến đâu, thậm chí là vô hạn, thì chúng ta luôn có thể nắm được một đầu của nó, nhận thức được một điểm của nó. Còn thời gian thì hoàn toàn không cách nào nắm giữ, cũng chẳng thể níu kéo, chỉ có quá khứ và tương lai liên tục đuổi bắt nhau giữa hư vô mù mịt. Đã hư vô mù mịt, không thể nghĩ bàn, vậy mà vẫn chiếm vai trò khá lớn trong cuộc sống. Khái niệm về thời gian của con người dường như chỉ đủ để sắp đặt những khoảng thời gian ngắn như đáp thuyền ngồi tàu; còn đứng trước quãng thời gian dài đằng đẵng cả trăm năm như một đời người, họ không cách nào đương nổi, thông thường chỉ chú trọng tiểu tiết mà không nhìn được toàn thể. Cứ nhìn trong số hành khách đi tàu mà xem, thường hay có những người thấu đáo, kẻ thà hy sinh bản thân, nhận lấy cái vất vả tạm thời để nhường chỗ ngồi cho người già yếu, hòng đổi lấy tâm trạng thư thái (hoặc tiếng khen nhất thời); nguời thấy hành khách chen nhau xuống tàu thì lùi lại nhường đường hoặc lớn tiếng nhắc nhở: “Đừng chen lấn, rồi ai cũng xuống được mà!”, “Mọi người đều sẽ xuống được thôi!” Nhưng khi ngồi trên con tàu lớn mang tên “xã hội” hay “thế giới”, những hành khách đi tuyến đường dài “suốt cuộc đời” lại rất hiếm ai thấu suốt được lẽ ấy. Thế nên tôi cảm thấy tuổi thọ trăm năm thực quá dài. Giống như con người trong thế giới ngày nay vậy, nếu cuộc đời họ chỉ ngắn ngủi như một lần đáp thuyền ngồi tàu, có lẽ xã hội loài người đã bớt được rất nhiều tranh đấu thảm khốc nguy hiểm, chưa biết chừng lại đầy chan hòa nhường nhịn như trên tàu hỏa cũng nên. Song trong số nhân loại cũng có vài người đương được cuộc đời trăm năm hoặc ngàn năm đằng đẵng. Đó là “nhân cách lớn”, “cuộc đời lớn”. Không bị “dần dà” qua mặt, không bị tạo hóa bỡn cợt, họ thu được cả thời gian và không gian vô hạn vào trái tim nhỏ bé của mình. Bởi vậy Phật mới thu cả núi Tu Di vào hạt cải. Như Bạch Cư Dị, nhà thơ Trung Quốc thời xưa từng viết, “Vỏ sên xó ấy sao tranh mãi, đá lửa vòng kia đã gửi thân.” Hoặc nhà thơ Blake của Anh cũng nói, “Thấy cả thế gian trong hạt cát, trông khắp thiên đàng giữa đóa hoa; trong tay chứa đựng vô vàn, chỉ trong nháy mắt mà thành thiên thu.” Viết năm 1925 Muốn thẳng lên trời ôm trăng sáng(∗) SỔ LỚN T huở nhỏ có lần tôi đi thuyền về quê thăm mộ. Đang dựa cửa sổ mê mẩn ngắm nhìn sóng gợn lăn tăn dưới mạn thuyền, chợt tôi tuột tay đánh rơi con lật đật xuống sông. Tôi tận mắt thấy nó trôi theo sóng, bập bềnh dạt đến cuối thuyền rồi nháy mắt đã biến mất, phó thác tất cả cho sông nước mịt mờ không sao lường trước được. Tôi nhìn xuống bàn tay trống trơn, rồi nhìn ra sóng biếc miên man bên ngoài ô cửa, nơi vừa trượt tay làm rơi con lật đật, đoạn lại rầu rầu trông vời cuối thuyền trắng xóa một màu sông nước, ủ ê thắc mắc và day dứt. Tôi thắc mắc không hiểu lật đật sẽ trôi đi đâu, cuối cùng nó sẽ thế nào, rồi day dứt cho số phận của món đồ mà tôi mãi mãi chẳng thể nào biết được. Có lẽ nó sẽ trôi theo sóng nước, dạt vào bờ, rơi vào tay một đứa trẻ nhà quê nào đó; cũng có thể mắc vào lưới, trở thành con lật đật trên thuyền đánh cá; hoặc mãi mãi chìm dưới đáy sông tăm tối, dần dà mục nát thành bùn đất, biến mất khỏi thế gian. Tôi hiểu con lật đật ấy nhất định đã có một chốn dừng chân, ngày sau cũng nhất định có một kết cục, nhưng ai đi tìm hiểu được đây? Ai biết được số phận không thể biết ấy. Những thắc mắc và đau đáu ấy cứ lẩn quẩn mãi trong lòng. Cuối cùng tôi nghĩ, có lẽ cha mình biết được kết cục, cũng có thể xóa tan những băn khoăn và đau đáu trong tôi. Bằng không sau này tôi lớn lên, thế nào cũng có một ngày biết được kết cục của nó, xóa tan hết băn khoăn đau đáu. Về sau đúng là tôi lớn lên thật. Nhưng những băn khoăn và day dứt ấy chẳng những không xua tan được, mà ngày càng sâu đậm hơn theo tuổi tác. Dắt các học sinh tiểu học ra ngoại ô chơi, ngẫu nhiên bẻ một cành cây làm gậy chống, đến lúc bỏ lại ngoài đồng, tôi cứ ngoái đầu nhìn mãi, tự hỏi tự đáp, “Chẳng biết bao giờ mình mới thấy lại nó nhỉ? Sau này nó sẽ thế nào? Mình sẽ chẳng bao giờ thấy nó được nữa!” Mãi mãi chẳng thể biết được những chuyện về sau của nó nữa!” Nếu đi thơ thẩn một mình, gặp phải chuyện thế này, tôi càng hay bịn rịn không rời. Có lúc đã đi được mấy bước còn vòng về, nhặt những thứ mình vứt bỏ lên, trịnh trọng chào từ biệt rồi mới cắn răng bỏ lại đi tiếp. Sau này tôi cũng thường cười sự si ngốc của mình, cũng hiểu rõ đó là những chuyện vụn vặt không tiếc xuể trong cuộc sống; song nỗi băn khoăn và day dứt ấy vẫn ứ đầy trong tim, khiến tôi không thể phớt lờ. Ở chốn đông vui hoặc khi tất bật, những băn khoăn day dứt sẽ bị tôi chôn sâu xuống đáy lòng, để thản nhiên sắp xếp chọn lựa các sự vật sự việc, không si ngốc như trước đây nữa. Thảng hoặc gợn lên một chút; nhưng ảnh hưởng của đại chúng và sức ép hiện thực quá mạnh, lập tức át ngay đi nên chúng chỉ kịp lóe lên trong tâm trí tôi mà thôi. Mỗi khi tới nơi yên tĩnh hoặc lúc một mình, nhất là ban đêm, chúng mới tràn lên choán hết hồn tôi. Dưới ánh đèn, tôi mở vở bài tập Toán ra, tiện tay viết lại đôi câu thơ vẫn nhẩm đọc ban ngày vào giấy nháp: “Tằm xuân đến chết tơ còn vương, nến đỏ thành tro…” Chưa viết xong đã cầm giơ lên ngọn lửa, để lửa bén vào mép giấy. Nhìn ngọn lửa lem lém liếm lên, tôi âm thầm từ biệt từng con chữ một. Sau khi mảnh giấy đã cháy hết, trước mắt tôi chợt hiện ra hình ảnh cả trang giấy nguyên vẹn; nhìn xuống nắm tro tàn dưới đất, tôi lại thấy buồn man mác. Nếu giờ tôi muốn thấy lại mảnh giấy một phút trước vẫn còn tồn tại sờ sờ thì dù viện đến hào lí, quan huyện, tỉnh trưởng, tổng thống, huy động thế lực của tất cả vua chúa trên thế giới, hay dựng hết thảy thánh nhân hiền triết thời xưa như Nghiêu Thuấn, Khổng Tử, Socrates, Jesus dậy cùng góp sức, cũng không thể làm được! Nhưng tôi chắc chắn không mơ mộng viển vông như thế. Tôi chỉ chăm chú nhìn nắm tro tàn, hòng nhận ra thi hài từng con chữ giữa những hạt tro giống hệt nhau, tìm ra đâu là tro của chữ “tằm”, đâu là xác của chữ “xuân”… Rồi lại tưởng tượng sớm mai thôi chúng sẽ bị người quét dọn ở đây quét đi, chẳng rõ kết cục thế nào: Nếu tan tác theo gió, thì bay đến những đâu? Tro của chữ “tằm” bay vào nhà ai, tàn của chữ “xuân” lại lạc nhà ai đấy?… Nếu lẫn vào bùn đất, chẳng rõ nó sẽ nuôi dưỡng được mấy cây nào?… Đều là những câu hỏi lớn từ thiên cổ mông lung không lời đáp. Lúc ăn cơm, một hột cơm từ bát rơi xuống vạt áo tôi. Tôi nhìn nó, không nghĩ thì thôi, vừa nghĩ lại thấy dấy lên vô vàn băn khoăn và cảm khái: Chẳng biết hạt thóc này được kết thành từ một bông trong nắm lúa bác nông dân nào trồng xuống đồng nào vào hôm nao? Cũng chẳng rõ nó đã qua tay ai gặt, ai xát, ai giã, ai bán mà đến được nhà tôi, được nấu thành cơm rồi rơi xuống vạt áo tôi. Những câu hỏi này đều có thể tìm được đáp án chính xác, nhưng ngoài hạt cơm ấy ra, trên đời chẳng ai truy tra hay trả lời được. Nắm tiền xu lần được trong túi rõ ràng đồng nào cũng có lịch sử phức tạp và dài dằng dặc. Tiền giấy và đồng bạc sang tay có lúc còn được đóng dấu, nhưng tiền xu hoàn toàn không thể lần lại được tung tích. Trong số những đồng tiền ấy, có đồng từng là mục tiêu nài xin của người ăn mày đầu phố; có đồng từng là mồ hôi nước mắt của người lao động; có đồng từng được đem đổi lấy bát cháo lót lòng kẻ đói khó; có đồng từng dùng mua kẹo dỗ bé em khóc nhè; có đồng từng góp mặt trong số tang vật của kẻ cướp; có đồng từng ngủ yên bên bụng phệ phú ông; có đồng từng nhởn nhơ ẩn cư dưới đáy hố xí; có đồng lại đã kinh qua tất cả những trải nghiệm trên đây. Hơn nữa biết đâu trong đó cũng có đồng tới tay tôi không phải lần đầu. Nếu những đồng xu ấy biết nói, tôi nhất định sẽ tôn chúng làm khách quý, cung kính lắng nghe chúng thuật lại đủ chuyện ngao du. Nếu chúng biết viết, nhất định mỗi đồng sẽ viết được một cuốn sách còn ly kỳ hơn cả Robinson Crusoe. Tiếc rằng chúng đều im thin thít chẳng khác phạm nhân có chết cũng không khai, rõ ràng trong lòng ẩn giấu những sự tình ngay gian trong vụ án, nhưng thà chết không chịu tiết lộ. Giờ tôi đã ba mươi, sống được nửa đời người rồi. Nỗi băn khoăn và đau đáu trong lòng ngày càng tăng thêm, song cảm xúc lại mỗi lúc một nhạt đi, không sao nồng nhiệt mới mẻ như thời niên thiếu nữa. Đây là kết quả tôi rèn luyện được. Bởi qua thái độ của quần chúng, tôi nhận ra họ gần như không bao giờ nghĩ tới những việc như vậy, có cơm vào bụng, tiền nhét túi là thiên hạ thái bình, chẳng mơ mộng gì nữa. Sống như thế quả là thực tế lắm lắm, nên tôi ra sức noi theo họ, học lấy hạnh phúc của họ. Học mãi đến ba mươi tuổi đầu vẫn chưa tốt nghiệp. Kết quả thu được chỉ là cảm xúc băn khoăn và đau đáu nhạt đi, song sức nặng của chúng vẫn ngày càng tăng theo những trải nghiệm của tôi. Mỗi khi rời một quán trọ, bất luận phòng ốc tệ đến đâu, rận rệp nhiều chừng nào, thì trước khi đi, tôi đều vơ vẩn nghĩ, “Liệu mình có ngày nào quay lại gian phòng này không nhỉ?” đoạn lại cảm thán, “Lần này là chia tay vĩnh viễn rồi!” Mỗi khi xuống tàu, bất luận chuyến đi vất vả tới đâu, người ngồi bên cạnh đáng ghét nhường nào, thì lúc sắp đi, tôi đều nảy sinh cảm tưởng, “Có bao giờ mình lại ngồi cùng người này nữa không nhỉ? E rằng cũng phải chia tay vĩnh viễn rồi!” Song cảm xúc này chỉ thoáng qua trong nháy mắt, hết sức mơ hồ, như bóng chim lướt qua mặt hồ vậy, chỉ đọng lại trong tâm trí tôi vài giây, sau đó hoàn toàn tan biến. Rốt cuộc tôi cũng đạt được chút thành tựu. Nhưng đó chỉ là ở trước mặt thầy, tức những người khác mà thôi. Một khi không có thầy, ở một mình, bệnh cũ của tôi lại tái phát. Giờ chính là lúc đó đây: gió xuân hây hẩy lùa một cánh hoa đào trắng qua song cửa, rơi trên trang viết của tôi. Hẳn là cánh hoa từ cây đào trắng trong sân nhà tôi, nhưng ai biết được nó vốn ở trên bông hoa nào nằm trên cành nào chứ? Hoa rụng trắng xóa trước song, rõ ràng mỗi cánh đều có cành cũ đài xưa, nhưng ai truy tra được gốc tích từng cánh để trả chúng về đài hoa khi trước chứ? Nỗi băn khoăn và day dứt lại xâm chiếm hồn tôi. Tóm lại, từ nhỏ tới giờ, nỗi băn khoăn và day dứt ấy vẫn luôn rình rập phủ kín hồn tôi, chưa bao giờ xua tan được. Tôi càng lớn lên, hiểu biết nhiều hơn, thì chúng càng mãnh liệt. Càng cố đè nén noi theo số đông, chúng lại càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn. Nếu ghi lại tất cả những ví dụ về nỗi băn khoăn và day dứt tôi từng nếm trải suốt ba mươi năm nay, chắc chắn sẽ dài ngang Tứ khố toàn thư hay Đại tạng kinh. Nhưng nó chỉ gói gọn trong những trải nghiệm của một người mới sống được vỏn vẹn ba mươi năm là tôi; so với vũ trụ vĩ đại, thế giới bao la, vạn vật phồn thịnh, biến đổi đa dạng thì trải nghiệm của tôi còn chẳng bằng một hạt cát sông Hằng. Tôi như trông thấy một cuốn sổ cực lớn ghi lại tỉ mỉ tất cả nhân quả xuyên suốt quá khứ, hiện tại, tương lai của mọi sự vật sự việc trên thế giới trong vũ trụ. Từ nhỏ như nguyên tử đến lớn như thiên thể, từ hoạt động của vi sinh trùng đến kiếp nạn hỗn độn, thứ gì cũng được chép lại tường tận cả nguyên nhân, quá trình và kết quả, không bỏ sót mảy may. Có thế nỗi băn khoăn và day dứt của tôi mới nguôi ngoai được. Chốn dừng chân của con lật đật, kết cục của cây gậy chống, nơi đến của tàn tro, nhất nhất đều được ghi lại; lai lịch của hạt cơm và đồng xu, nhất nhất đều tra cứu được; duyên phận của quán trọ và tàu hỏa với tôi từ lâu đã được chép rành rành; đài cũ của muôn cánh đào trắng cũng rõ ràng minh bạch. Ngay những điều tôi vẫn thở than rằng mãi mãi không thể nào biết được như số hạt cát trong đống cát giữa sân, cũng được chép rõ, bên dưới còn ghi chú những hạt nào từng được tôi vốc lên xem hôm qua. Nếu muốn nhặt ra những hạt cát tôi từng chạm đến ấy, cũng có thể dựa vào đó mà tìm. Mọi sự vật sự việc tôi từng thấy, từng nghe, từng làm trong ba mươi năm cuộc đời đều được ghi chép và khảo chứng kỹ càng, mà cũng chỉ chiếm một góc trong trang sách, một phần nhỏ vô cùng trong cả quyển. Tin chắc rằng trong vũ trụ có một quyển sổ lớn như thế, để hóa giải hết thảy băn khoăn và day dứt trong tôi. Viết ở vịnh Thạch, sau tiết Thanh Minh năm 1929 Trẻ thơ tan học về nhà sớm Nhân gió đem diều ra thả chơi(∗) CÁI RẦU HIỆN THỰC HÓA N ghỉ đông, trẻ con trong nhà tụ họp lại ở Duyên Duyên đường[1], mặc sức cười đùa nô nghịch ồn ào. Trong nhà ngày nào cũng rộn ràng như có việc vui mừng vậy. Có đứa chơi mãi mệt lử bèn nằm ngả xuống chõng tre nghỉ, tiện tay lật cuốn lịch treo trên cột cạnh giường rồi tiu nghỉu thốt lên, “Còn một tuần nữa hết kỳ nghỉ đông rồi! Bài tập về nhà vẫn chưa làm chữ nào cả!” Không khí đang tưng bừng chợt chùng xuống. Một đứa khác nói, “Chính ra lúc chưa nghỉ mới háo hức khấp khởi, đến khi nghỉ rồi thì thấy cũng thường thôi, giờ lại thấy chẳng vui bằng lúc chưa nghỉ.” Câu này được rất nhiều người tán đồng. Tuy tôi không phải học trò, cũng không dự vào cuộc vui trong kỳ nghỉ của đám trẻ, nhưng vẫn là một trong số những kẻ đồng tình. Tôi cho rằng trong lòng người, tưởng tượng bao giờ cũng hạnh phúc hơn thực hiện. Người Tây có khái niệm “cái rầu chiến thắng”. Tôi cũng muốn phỏng theo họ, nói về “cái rầu hiện thực hóa”. Từ tưởng tượng tiến đến hiện thực hóa, từ hy vọng đi đến thành công vốn là con đường phát triển đúng đắn của cuộc đời. Nhưng kỳ diệu thay, sâu trong lòng người vẫn tồn tại một nỗi buồn rầu như thế đấy. Trước tiên lấy ví dụ là ngày Chúa nhật với học trò nhé. Phàm những ai từng là học sinh đều nhất trí rằng thứ Bảy vui hơn Chúa nhật. Nguyên nhân là bởi sau thứ Bảy còn có Chúa nhật; còn niềm vui của ngày Chúa nhật lại không nằm ở bản thân nó, mà đã tập trung vào ngày thứ Bảy. Sau bữa trưa thứ Bảy, chưa đến giờ tan học mà toàn trường đã có phần trễ nải. Người rục rịch chuẩn bị về nhà; kẻ khấp khởi định tranh thủ còn sớm thì đi chơi. Có người nôn nóng đã sắp sẵn sách vở ô dù lại một chỗ, để vừa tan học là cầm đi ngay! Tiết cuối vừa xong, đám học trò ùa ra khỏi cửa lớp lại càng thêm náo nức. Có người vừa đi vừa hát hò, có kẻ vừa bước vừa cười nói, đám trò nhỏ còn nhảy chân sáo. Thấy cảnh ấy, thầy cô cũng tạm nới lỏng kỷ luật, lờ đi những sự vô phép tắc. Thực ra, từ tận đáy lòng họ cũng thích không khí trễ nải ấy. Tối thứ Bảy, cả trường đạt đến mức trễ nải cực độ. Tối hôm ấy không cần học bài, cũng không bị đốc thúc nghiêm ngặt. Học trò tha hồ túm năm tụm ba chơi gì tùy thích. Ra khỏi trường đi loanh quanh một lúc cũng được, mua ít quà vặt về phòng ăn cũng chẳng sao, ngủ muộn một tí càng không hề gì. Tối hôm có thể nói là khúc cuối của niềm vui ngày Chúa nhật. Qua khúc cuối ấy rồi, không khí bê trễ bắt đầu căng dần lên. Vì đến sáng Chúa nhật, ngày nghỉ mong mỏi hôm qua đã đến, con người ta cũng bắt đầu nảy sinh “cái rầu hiện thực hóa”. Ngày hôm ấy hoặc là thời tiết xấu, hoặc là có trục trặc gì đó nên cuộc hẹn lên kế hoạch từ hôm qua chẳng được vui vẻ như ý, khó tránh một phen thất vọng. Dù trời đẹp, mọi sự suôn sẻ, thì tới khi cuộc vui tàn, quay về trường, cũng khó tránh cảm giác “vui quá hóa buồn”. Bài vở ngày mai dần dần len vào óc, gương mặt thầy cô bắt đầu thấp thoáng hiện ra trong tâm trí, một đám mây đen vô hình bắt đầu sà xuống đầu mọi người. Mà đi chơi xong bắt đầu ngồi vào bàn học cũng như nhấc lại cái gánh từng đặt xuống lên vai đi tiếp, thoạt đầu sẽ thấy hơi nặng. Thế là lại đâm ra oán trách, cho rằng thà không có Chúa nhật cho rồi, thế đấy, niềm vui ngày Chúa nhật đâu có nằm ở ngày Chúa nhật. Kế đó, tốt nghiệp cũng là một ví dụ cho “cái rầu hiện thực hóa”. Học trò vào trường, dĩ nhiên là mong tốt nghiệp. Theo lý mà nói, lẽ ra tốt nghiệp là lúc vui sướng nhất trong đời học sinh, song tâm trạng đám học trò lại không như vậy: niềm vui tốt nghiệp thường rơi vào lúc chưa tốt nghiệp; vừa tốt nghiệp xong niềm vui đã tan biến, có lúc còn đâm ra buồn bã; chỉ lúc sắp tốt nghiệp, đám học trò mới có thể thực sự cảm nhận sâu sắc niềm vui tốt nghiệp. Còn vẻn vẹn mấy tháng nữa là ra trường, đã là lớp lớn nhất, được các thầy cô giáo coi như khách đi đò sắp cập bến, học trò khóa dưới coi như đàn anh đàn chị. Quả là giai đoạn vẻ vang nhất trong đời học sinh. Lại thêm vô vàn hy vọng của thế giới mới mở ra sau khi tốt nghiệp, hạnh phúc thấp thoáng ẩn sau những từ như “đường mây”, “cánh chim bằng” cứ quanh quẩn trong tâm trí, không ngừng vẽ ra vô vàn dự định. Lúc này cô cậu học trò nào cũng trẻ trung phơi phới tiền đồ rộng mở, ai ai cũng là công dân tốt đầy triển vọng. E rằng không chỉ trong đời học sinh mà đây còn là giai đoạn vẻ vang nhất trong cả cuộc đời. Nhưng tốt nghiệp xong thì sao? Từ biệt thầy cô, chia tay bè bạn, rời mái trường xưa, niềm thương cảm ấy kể sao cho vừa. Sau khi rời trường, có người không thi được lên cao, lại có kẻ chẳng kiếm được việc; dù có thi được lên cao, tìm được việc làm thì trong thế giới mới ấy vẫn có muôn vàn vất vả và đau khổ, mà khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường ta chẳng làm sao lường hết nổi. Bấy giờ người ta lại thường nhớ nhung quá khứ, hồi tưởng thời đi học tự do hạnh phúc biết bao, ước gì được đi học mãi. Thế đấy, niềm vui tốt nghiệp đâu có nằm ở chỗ tốt nghiệp. Tiến thêm một bước thì hạnh phúc khi yêu đương cũng chẳng khác gì. Niềm vui lúc trai muốn lấy mà chưa lấy, gái muốn gả mà chưa gả mới là thuần túy và đủ đầy nhất. Tới chừng cưới gả xong xuôi, niềm vui lúc trước thường chóng tan biến, có lúc còn nảy sinh bất hạnh. Người phương Tây hay nói “Hôn nhân là nấm mồ của tình yêu”, e rằng là do “cái rầu hiện thực hóa” gây ra chăng? Niềm vui giàu sang cũng như thế. Khi ki cóp dành dụm để mong giàu hay cố công luồn cúi để trèo cao mới là giai đoạn hào hứng nhất trong đời. Tới lúc đã giàu sang rồi, nếu tính người vẫn chưa táng tận, có lúc sẽ sinh ra buồn chán, cảm thấy giàu sang chẳng được vui bằng nghèo khó. Trong Hồng lâu mộng, khi Giả Chính ra làm quan và Nguyên Xuân làm quý phi, cũng coi như đã đạt đến tột đỉnh hạnh phúc vinh hoa phú quý nhân gian, nhưng đọc đoạn đối thoại giữa Nguyên phi và Giả Chính cách bức rèm khi về thăm nhà, tôi lại thấy niềm đau xót trên đời chẳng có gì hơn thế. Muôn người muôn việc, chẳng thể nào kể cặn kẽ từng điều. Chợt nhớ lại một chuyện nhỏ lúc chơi Tây hồ trước đây, may chăng làm chứng cho mọi thứ. Đầu thu năm kia, vào một chiều trời trong gió mát, tôi và hai người bạn thả thuyền từ Bờ Hồ[2] về phía Bạch đê. Cúi ngửa nhìn quanh, trời nước như gương, cảnh thu như vẽ, khiến người ta thơ thới tâm hồn. Gần đến Bạch đê, xa xa thấy Bình Hồ Thu Nguyệt[3] nhô ra giữa hồ, chừng ngang bằng mặt nước. Xung quanh là hành lang quanh co, bên trên rợp bóng dương liễu thướt tha. Ánh nắng nhuộm dương liễu ngả sang sắc vàng, gió mát lùa qua cành rủ, thỉnh thoảng lại phớt nhẹ vào đầu du khách dưới bóng cây. Du khách tốp năm tốp ba tản ra ngồi bên bàn trà dưới gốc cây, kẻ nhìn nhau cười nói, người tựa lan can cùng ngắm, kẻ dõi mắt trông vời, vô cùng khoan khoái. Chúng tôi từ dưới thuyền trông lên, thấy thảy như người trong tranh vẽ, mà nơi này chính là cõi tiên. Vốn định dạo hồ một vòng, song trông cảnh ấy ai cũng mê mẩn, chỉ muốn vào cõi tiên làm người trong tranh. Bèn nói nhà thuyền cập vào Bình Hồ Thu Nguyệt, lên bờ tìm chỗ ngồi. Kẻ dõi mắt trông vời khi nãy đi đến, thõng tay đứng một bên cúi đầu hỏi, “Tiên sinh, đen hay xanh?” Chúng tôi bảo y pha cho ba chén trà xanh. Kẻ ấy vâng lời mà đi. Không lâu sau trà đến, một con ruồi bập bềnh trong chén, khiến chúng tôi nhìn mà mất cả vui. Người ngồi cạnh nói cười oang oang với nhau, làm chúng tôi nhức óc. Đôi nam nữ dựa lan can cùng ngắm cứ õng a õng ẹo, làm chúng tôi khó chịu. Cuối cùng trên cành liễu rủ vàng óng có mấy con sâu róm rơi xuống, chúng tôi đành đứng dậy bỏ đi. Vội vã xuống thuyền quay lại Bờ Hồ, cũng chẳng còn hứng thú dạo một vòng hồ nữa. Trong lúc trở về, trò chuyện với nhau, mọi người đều nhất trí rằng phong cảnh chỉ nên ngắm từ xa, không nên dự vào. Giờ nghĩ lại, việc đời cũng như phong cảnh mà thôi. Cái vui trong đời không phải nằm ở lúc thực hiện, mà ở chỗ hy vọng, cũng như cái đẹp của cảnh vật vốn không nằm ở chính nó, mà ở bên ngoài. Một khi nhúng vào, chẳng những cái đẹp tiêu tan, mà còn phải chịu ruồi muỗi, sâu róm, nhức óc, khó chịu. Nỗi khổ trên đời vốn từ đó mà ra đấy. Viết vào tết Nguyên Đán năm 1936 tại vịnh Thạch Môn, từng đăng trên Vũ trụ phong Sức sống SỨC SỐNG Đ êm trừ tịch năm ngoái mua một củ thủy tiên, chăm hơn hai tháng, tới hôm nay mới bung hoa. Năm nay xuân rét đậm, hoa cỏ chậm nảy mầm, thủy tiên của tôi càng chậm. Vì khi về nhà tôi, nó gặp phải mấy phen vận hạn trắc trở nên nhựa sống bị tắc nghẽn. Hạn thứ nhất là khô, thực ra câu chuyện thế này: Đêm giao thừa vừa rồi nó về nhà tôi, bấy giờ trong nhà không có chậu thủy tiên nên tôi phải chạy đến hàng đồ gốm mua một cái đĩa sứ trắng tinh về để. Đĩa sứ vừa to vừa nặng, vốn không phải chậu thủy tiên. Theo lời ông cụ bán gốm thì nó là đồ từ thời Quang Tự, chuyên đựng những thức thịnh soạn để mời khách ở cửa quan. Tiếc rằng người thời nay chẳng ai dùng đến nên tới giờ vẫn chưa bán được. Tôi cho rằng chậu thủy tiên hình chữ nhật hay rẻ quạt đã nhan nhản trong tranh xưa rồi, lại chẳng đẹp bằng cái đĩa này, bèn coi như nó là chậu thủy tiên làm riêng cho mình, mua về đặt thủy tiên vào, hình dạng màu sắc đều hài hòa khôn xiết. Thấy chúng ở dưới song lạnh xanh trắng tương phản, đẹp đẽ mát mắt, ai mà tin được đây từng là đĩa đựng rượu thịt ở cửa quan? Nhưng chúng kết hợp chưa đầy một tháng đã phải tách ra. Bởi tôi định về vịnh Thạch Môn đón tết, ở lại Duyên Duyên đường hơn một tháng, muốn mang cả củ thủy tiên về để xem nó trổ hoa. Làm sao mang đây? Nghĩ đi nghĩ lại, nhờ anh Mao giúp việc mang theo chậu thủy tiên đáp tàu hỏa về lại sợ có người nói Mao giở thói phong nhã; nhét nó vào va li thì không được. Cuối cùng Mao đề nghị, “Bỏ đĩa lại, nhổ củ thủy tiên bỏ vào hộp bánh quy, đem lên tàu hỏa, ba bốn tiếng là tới nhà rồi, không chết khô được.” Tôi đồng ý. Thế là thủy tiên phải chia lìa đĩa sứ, lên đường du lịch trong hộp bánh. Về tới nhà, mọi người tíu tít, tôi quên khuấy đi mất. Ba ngày sau, Mao tình cờ nhắc tới, tôi mới sực nhớ ra, vội đi tìm thì nó đã bị coi như bánh khô, ném lăn lóc trên nóc thùng vôi. Vội lấy ra xem, thấy lá xanh héo úa, bộ rễ khô vàng. Mao an ủi “Đừng lo”, rồi nhanh nhẹn bỏ nó vào chậu thủy tiên cũ trong nhà, cho thêm ít đường kính vào nước. May mà không sao thật, mấy hôm sau lại tươi tốt như thường. Đây là hạn thứ nhất, khô héo. Hạn thứ hai là úng, chuyện thế này: trong chậu thủy tiên ở nhà vốn có rất nhiều đá cuội đủ màu đẹp đẽ. Một sớm, đám trẻ con phát hiện ra, thế là củ thủy tiên lại gặp nạn: Bọn chúng chê sỏi lắm bụi, trách Mao không rửa sạch trước, rồi làm thay anh luôn. Chúng nhổ củ thủy tiên ra, bỏ tạm vào bồn rửa mặt, đổ đống sỏi vào một cái chậu khác, bưng đến chỗ nắng trong góc tường rửa từng viên một. Đá cuội ngấm nước lại ở dưới ánh mặt trời, độ sáng, màu sắc, hoa văn đều cực đẹp. Có mấy viên còn khiến người ta nghĩ tới “ngọc quý thông linh”. Càng lúc càng đông người quây vào xem, trẻ con xúm đông xúm đỏ, trong đó các bé gái là hăng hái nhất. Chúng phân loại sỏi theo hình dạng, màu sắc, vân đá rồi bình luận viên nào đẹp viên nào xấu, chấm điểm từng viên, cuối cùng còn đem xếp thành hình. Xếp xong, chúng bỏ đi ăn bánh tổ! Ăn xong chúng lại đi đá cầu, đá chán thì đi chơi rong. Mãi tới tối, Mao phát hiện ra hình xếp bằng sỏi ở góc tường mới kêu lên, “Ôi, củ thủy tiên đâu rồi?” Tìm khắp nơi mới thấy nó nằm trong chậu rửa mặt cạnh bồn hoa, ngâm ngập trong nước. Ngâm nước từ sáng tới tối mười mấy tiếng đồng hồ, lá đã mọng lên, đen sì! Mao nói “Đừng lo”, rồi lại lấy đá cuội lót đáy, đặt nó vào chậu thủy tiên. Đây là hạn thứ hai, úng nước. Hạn thứ ba là cóng, chuyện là thế này: củ thủy tiên ở Duyên Duyên đường được hơn một tháng. Bấy giờ trời rét như cắt, tai nạn liên miên. Nhựa sống của nó bị những thiên tai nhân họa ấy ức chế nên mãi không ra hoa được. Mãi tới một ngày trước khi tôi rời Duyên Duyên đường, nó vẫn ngậm nụ không nở. Tôi đi chuyến này định cuối xuân mới về, không thấy nó nở thì không cam lòng, bèn hỏi Mao. Mao nói, “Lấy dây xâu qua mà xách đi! Lần này chắc không quên nữa đâu.” Tôi tán thành. Thế là Mao xách củ thủy tiên lủng lẳng lộn ngược, theo tôi đi. Đến chỗ ở của tôi, nó vẫn được đặt trong chiếc chậu ban đầu. Qua Vũ Thủy, không nở hoa. Qua Kinh Trập, vẫn không nở. Mao giải thích, “Tại không được phơi nắng.” Bèn bưng ra ban công để nó phơi nắng. Xuân năm nay rét cắt da, ban công tuy có nắng, song có cả gió lạnh, khiến người ta không đứng nổi. Nên ai nấy đều đóng cửa rúc trong nhà, chẳng bén mảng ra ban công ngó ngàng gì đến thủy tiên. Trong phòng thiếu mất một chậu thủy tiên cũng chẳng ai nhắc nhỏm. Mãi đến sáng hôm sau, Mao mới sực nhớ, “Ôi chết! Tối qua quên không bưng thủy tiên vào, nó chết cóng mất!” Ra xem mới thấy nước trong chậu đã đông cứng, gắn chặt vào đáy, không đập ra được; nước bên trong củ thủy tiên cũng đông lại, thân củ cứng đanh như một hòn đá trắng, cành lá thì như những nhánh ngọc bích. Tức tốc bê vào, đặt bên lò lửa. Mãi một lúc lâu, nước trong chậu tan ra, nước trong hoa cũng tan ra, nhưng cành lá đã mềm oặt, rũ rượi, chóp lá nhúng cả vào nước. Mao than “Đen quá”, tôi cũng thấy đen thật, nhưng nhìn nụ hoa vẫn thẳng tắp, chắc hẳn nhựa sống chưa mất hết, vẫn còn hy vọng. Hỏi thì Mao lắc đầu rồi nói, “Thôi mang luôn xuống bếp đi cho ấm, tôi cũng tiện trông nom.” Tôi đồng ý. Thế là thủy tiên sắp chết lại được đưa từ trong phòng xuống bếp. Đây là hạn thứ ba, đông cứng. Ai bảo thủy tiên thanh cao? Nó cũng như người bình thường, phải có ít hơi thở cõi trần mới được. Từ lúc được đưa xuống bếp, cành lá dần vươn lên, nụ hoa cũng dần bung ra. Hôm nay hoa đã nở rộ! Mao đem nó về, tôi thấy mà vui sướng. Niềm vui này không chỉ bởi thủy tiên. Việc trên đời, chỉ cần vẫn còn cơ hội sống thì dù liên tiếp gặp thiên tai nhân họa, tạm thời bị ức chế, sớm muộn cũng sẽ có ngày ngẩng cao đầu. Việc cá nhân là vậy, việc gia đình là vậy, việc quốc gia, dân tộc cũng là như thế. Viết tháng Ba năm 1936, từng đăng trên Việt phong Mây lẻ PHẬT KHÔNG THIÊNG D uyên Duyên đường nhà tôi đã trúng bom cháy rụi lúc quê tôi thất thủ vào mùa đông năm ngoái. Tôi dẫn cả nhà chạy nạn đến Bình Hương, một hai tháng sau mới hay tin. Bấy giờ một người bạn[1] đồng hương chạy nạn đến Thượng Hải làm bài thơ viếng, có câu rằng “Nghe nói Duyên Duyên đường cũng hủy, chúng sinh nạn lớn Phật không thiêng.” Bên dưới câu thứ hai còn ghi chú rằng đây là lời của bác gái tôi. Bác gái tôi năm nay ngoài bảy mươi, lúc chạy nạn tôi đã nài nỉ bác đi cùng, song bác không chịu, giờ vẫn đang ở vùng tạm chiếm. Năm năm trước lúc xây Duyên Duyên đường, bác gái ngày chống ba toong đi lại ở chỗ đào móng thay tôi trù tính, ở công trường thay tôi giám sát, mỗi khi quay về nhà cũ ăn cơm, đôi chân bó ba tấc thường lấm lem bùn đất. Nay thấy nó bị thiêu rụi, thảo nào bác chẳng xót xa oán trách “Phật không thiêng”. Gần đây bác có biên thư tới (nhờ người đem đến cho người bạn của tôi ở Thượng Hải để gửi tới Quế Lâm), cuối thư viết: “Duyên Duyên đường tuy cháy trụi nhưng ống khói vẫn nguyên vẹn, đứng sừng sững giữa đống gạch đá. Ấy là điềm khói lửa lâu dài, mai sau vẫn làm nhà ở được.” Duyên Duyên đường cháy là bởi “Phật không thiêng”. Câu này từ miệng bác gái tôi thốt ra, lại được bạn tôi ghi nhận, cũng là bình thường. Nhưng tôi lại thấy hơi phản cảm: không phải chỉ trích tư tưởng bạn tôi lệch lạc, cũng không phải phê bình bác gái nói sai, chẳng qua chỉ than thở cho những hiểu lầm của con người ta về Phật. Bởi bạn tôi và bác gái đều không tin Phật, họ chỉ nói câu này dựa trên tâm lý những người theo Phật mà thôi. Mười năm trước tôi từng theo pháp sư Hoằng Nhất[2] học Phật, lại còn ăn chay. Thế nên những người “theo Phật” thông thường đều gọi tôi là cư sĩ, coi tôi là đồng đạo. Nhờ đó tôi được giao tiếp với khá nhiều người “theo Phật”. Nhưng mười năm nay, tôi đã chán họ tận cổ rồi. Có lúc tôi thực lấy làm hối hận vì mình lại ăn chay, tôi không muốn đứng chung hàng với họ. (Tôi bị di truyền từ cha, thường ngày không ăn thịt thà. Nên tôi ăn chay phân nửa là vì sinh lý. Trong số con cái tôi cũng có hai đứa ăn chay vì sinh lý như vậy, hễ ăn cá thịt là nôn. Nhưng những kẻ kia lại ngỡ rằng tôi cũng ăn chay để cầu lợi như họ. Giải thích, họ còn cho rằng tôi khách sáo, quả là oan quá. Thế nên có lúc tôi cũng hối hận vì mình ăn chay, được họ coi là đồng đạo.) Bởi những kẻ đó phần lớn là ích kỷ, đáng ghét khôn tả. Chẳng những không hiểu được tinh thần từ bi quảng đại của Phật, mà còn ích kỷ tư lợi hơn người không theo Phật nhiều! Họ ăn chay niệm Phật chỉ để cầu xin cho hạnh phúc cá nhân, giống như con buôn bỏ vốn ra để kiếm lời hay tù binh địch phản bội đồng đội, quỳ xuống xin quân ta tha mạng vậy. Tôi không phản đối việc theo Phật để xin được hạnh phúc. Tôi chỉ ghét những kẻ chăm chăm xin cho mình và gia đình mình hạnh phúc mà chẳng quan tâm gì đến người khác. Được cái lợi bằng móng tay đã vui như tết, cho là Phật phù hộ; (thời kháng Nhật, thường nghe nói có rất nhiều kẻ mượn tiếng theo Phật để bình yên thoát nạn), bị thiệt chút xíu đã oán trời trách người, than rằng “Phật không thiêng”, đúng là “A di đà Phật, tội lỗi, tội lỗi!” Bọn họ ngày ngày đều ăn chay, niệm Phật, tụng kinh, phóng sinh. Nhưng họ ăn chay một ngày để cầu thành quả còn lớn hơn cả người ăn thịt cá phải làm mười ngày mới đạt được. Họ phóng sinh một con rắn thì mong sống được đến trăm tuổi. Họ tụng kinh niệm Phật, hy vọng chữ nào chữ nấy đều hóa thành tiền. Những kẻ này hễ ra khỏi Phật đường là luôn mồm kể chuyện quả báo: Ai đó ăn chay nhiều năm, đến khi có hỏa hoạn, nhà hàng xóm đã cháy trụi nhưng nhà y vẫn không tổn thất gì; ai đó đọc kinh Kim Cương, gặp khi kẻ cướp kéo đến thì không cướp của y; ai đó không con, từ sau khi theo Phật đã có ngay con trai; ai đó bị trĩ, niệm “Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát”, búi trĩ đứt ngay… Ngoài ra họ chẳng nói được câu nào về Phật pháp cả. Đây rõ ràng là giao kèo buôn bán với Phật, dựa vào Phật để kiếm lợi, ăn cơm của Phật. Đúng là “Ngồi trò chuyện cả đám suốt ngày mà không bàn việc đạo nghĩa, chỉ nói chuyện khôn vặt. Kẻ ấy thực khó thành đạo![3]” Tôi ăn chay, nhưng tôi cho rằng ăn chay hay ăn mặn chỉ là việc nhỏ, chẳng liên quan gì đến đại thể. Tôi từng vẽ Tập tranh hộ sinh[4] khuyên người ta bớt giết chóc, nhưng trân trọng sinh mạng theo ý tôi là giữ lấy tâm hồn mình (lớp nghĩa này có thể thấy ở lời tựa sách), không giết kiến không phải là quý trọng sinh mạng con kiến mà là giữ gìn tâm hồn mình đừng để nó thành ra tàn nhẫn. Trẻ con bướng bỉnh vô duyên vô cớ giẫm chết đàn kiến, nếu phóng đại tâm tính ấy lên thì có thể lái máy bay thả bom xuống cả thành phố. Bởi vậy tâm tính tàn nhẫn không thể không ngăn ngừa. Vì cái ta trân quý không phải bản thân con vật, nên lấy tiếng “nhân ái” ra bịt tai trộm chuông thì cũng chẳng hề gì. Ý tôi nói ăn chay ăn mặn không liên quan đến đại thể là ở đó. Kẻ nông cạn, chấp nệ tiểu tiết sẽ liên tục so đo: Nến Tây dương làm bằng mỡ động vật nên không dùng; mèo ăn thịt chuột nên không nuôi; trứng không có trống thì ăn được… Cứ đắn đo tính toán như thế, thật nực cười hết sức. Nếu không tham cái nhỏ bỏ cái lớn, có thể lấy lòng yêu con vật ấy mà yêu cả con người thì cũng chẳng sao, cứ để họ đắn đo tính toán. Nhưng những kẻ đó thường chỉ biết bo bo lấy mình, chẳng nghĩ cho ai cả, lại hay lấy những việc ăn chay và không sát sinh ra để đổi chác, kiếm lời, kiếm miếng ăn, khinh nhờn Phật pháp, đáng ghét vô chừng. Quả thực là những kẻ điên, khiến người ta căm ghét. Bởi vậy tôi mới không ưa họ, đâm ra hối hận vì ăn chay, không muốn đứng cùng hàng với họ. Thực lòng theo Phật thì phải hiểu được lời Phật dạy tứ đại giai không mà gạt bỏ tư lợi; phải hiểu được giáo lý vật cũng là ta, ban phát cái tâm từ bi mà trân quý chúng sinh. Ít ra cũng phải hiểu được đạo lý từ thương người nhà rồi thành ra thương cả mọi người, từ thương cả mọi người mà yêu thương vạn vật[5]. Yêu vật không phải là trân quý bản thân vật đó, mà là một cách tập luyện cơ bản để yêu người. Bằng không sẽ thành Tề Tuyên Vương “nay ơn đã đủ ban đến cầm thú mà công không tới được muôn dân”. Những kẻ trên đây chỉ biết lo lắng cho con vật mà khoanh tay bỏ mặc con người, quả là uống nước quên nguồn, tham bát bỏ mâm, đảo lộn gốc ngọn. Nếu lại còn chỉ chăm chăm vun vén cho mình, những kẻ ấy đúng là ngu si nhất hạng, không nên gọi là “tín đồ nhà Phật” mà phải gọi là “phản đồ nhà Phật”. Hạng người này nhan nhản nên khi bác gái thấy nhà tôi bị cháy mới nói là “Phật không thiêng”, nên bạn tôi mới đưa câu này vào thơ. Có lẽ bọn họ nghĩ tôi từng ăn chay, từng vẽ Tập tranh hộ sinh cũng có nghĩa là đã bỏ ra một số vốn lớn, đem ra trao đổi với Phật sẽ có lợi, ít ra phải là nhà người khác cháy trụi hết còn nhà tôi không tổn thất mảy may. Hời hơn thì tôi không cần đi lánh nạn mà bom đạn kẻ địch cũng vẫn tránh tôi; hoặc là tôi làm Hán gian giàu sụ, cất thêm được mấy gian nhà để cả nhà cùng ở, mà quân cách mạng không động gì tới tôi. Giờ tôi chẳng được như thế, lại rơi vào cảnh nhà mất người tan (chạy nạn tan tác), cả nhà mười người trôi dạt đi xa cả năm ngàn dặm, họ hẳn sẽ thấy là tôi lỗ to! Phật gì mà làm ăn chẳng sòng phẳng chút nào, đáng bị mắng “không thiêng” lắm. Tôi có trao đổi với Phật đó chứ! Nhưng con đường làm ăn của tôi không giống họ: Tôi không cho rằng phen này mình lỗ vốn, mà còn được lợi to, dẫu sao Phật cũng linh thiêng lắm. Con người ta cầu lợi ích, cầu hạnh phúc, chẳng qua cũng vì muốn “sống”. Nhưng chúng ta còn phải cầu xin thứ đáng quý hơn cả “sống” nữa, chính là thứ mà người xưa nói “muốn những điều còn hơn cả sống”. Đó là gì? Thường ngày rất khó nói chắc, song giờ thì rất dễ khẳng định, chính là “không phải làm dân mất nước”, là “đánh giặc cứu nước”. Nếu sống mà không đạt được điều này thì chẳng thà đạt được mà chết còn hơn. Bởi điều này còn quý trọng hơn cả “sống” nữa. Giờ Phật đã trao cho tôi thứ quý giá nhất ấy rồi. Chẳng phải vụ mua bán này của tôi hời to sao? Nhà cửa chẳng qua là một thứ trang sức cho cuộc sống mà thôi, tôi đã có thứ còn quý giá hơn cuộc sống rồi, mất một món trang sức nhỏ của cuộc sống có gì đáng tiếc cơ chứ? Tôi được hời rồi! Dẫu sao Phật cũng linh thiêng lắm. Tiên sinh Diệp Thánh Đào[6] từng viết trong Tùy bút tròn năm kháng chiến rằng: “Căn nhà của tôi ở Tô Châu đến nay vẫn còn nguyên. Song tôi không hề lấy làm mừng vì nó còn nguyên vẹn. Trái lại tôi hy vọng nó bị đạn du kích bắn thủng lỗ chỗ, bị pháo của bộ đội bắn tan tành, thậm chí còn mong rằng nó bị quân giặc cùng đường tháo chạy đốt trụi.” Nhà ông ấy nghe nói mới xây được hai năm, còn khang trang hơn nhà tôi. Ông ấy không tiếc như vậy, nhất định cũng đã thu được thứ còn quý giá hơn cả căn nhà. Nhưng ông ấy không ăn chay, cũng không vẽ Tập tranh hộ sinh. Cũng có nghĩa là ông ấy không bỏ ra khoản tiền vốn ấy. Vậy mà Phật vẫn ban tặng cho ông ấy thứ quý giá làm vậy. Xem ra bỏ khoản tiền vốn ấy để đổi chác với Phật cũng chẳng ích gì. Suy cho cùng, chẳng thể đổi chác với Phật được. Viết ở Quế Lâm, ngày 24 tháng Bảy năm 1938 Chẳng biết đêm nay người có đến Để ta đợi rạc bóng ngô đồng(∗) CẮN HẠT DƯA T rước đây từng nghe nói: Người Trung Quốc nào cũng có thể lấy ba bằng tiến sĩ: tiến sĩ cầm đũa, tiến sĩ thổi đóm, tiến sĩ cắn hạt dưa. Cầm đũa, thổi đóm và cắn hạt dưa đúng là kỹ thuật riêng của người Trung Quốc. Họ thuần thục thông thạo đến mức khiến người ta kinh ngạc. Người giỏi cầm đũa chỉ cần một đôi đũa có thể thay thế cho tất cả dao, cưa, dĩa, gáo, tước rây lóc lọc, không gì không tinh. Hai thanh tre ấy cứ như một bộ phận trên thân thể, như ngón tay nối dài hoặc đôi xúc tu để lấy thức ăn. Khi dùng đũa trông như đang làm ảo thuật vậy, thành thục sinh ra khéo léo, thật khéo thì sẽ thành thần sầu. Chẳng cứ người Tây mà ngay người Trung Quốc thấy cũng phải trầm trồ. Về phần người tinh thông ngón thổi đóm trước hết phải đề cử mấy ông già bà lão từ sáng đến tối ôm khư khư điếu hút thuốc lào. Họ “làm ra lửa” còn dễ hơn Thượng Đế, chỉ cần thổi nhẹ vào đóm là lửa bùng lên. Họ chẳng cần bỏ ra mấy đồng hay mấy chục đồng mua bật lửa, chỉ cần một mảnh giấy đặt lên đầu gối là quấn ngay được đóm, cắm vào cái lỗ nhỏ trên nắp lò lửa bằng đồng rồi rút ra thổi phù là bắt lửa. Hồi nhỏ thấy bác kế toán ở xưởng nhuộm nhà tôi có rất nhiều tuyệt kỹ thổi đóm. Tôi giơ đóm lên tận trán bác, bác trề môi dưới ra thổi hất lên; tôi giơ đóm trước ngực bác, bác dẩu môi trên ra thổi xuống dưới; tôi kề đóm bên tai bác, bác nhếch mồm ra để thổi sang phải hoặc trái; tôi bịt miệng thì bác thổi bằng mũi, lần nào cũng chỉ thổi một, hai lượt là bắt lửa. Từ đó có thể thấy ngón nghề thổi đóm của người Trung Quốc rất thâm ảo. Tiếc nỗi từ khi thuốc cuốn và diêm quẹt vào Trung Quốc rồi thịnh hành, thuốc lào “quốc hồn quốc túy” bị ghẻ lạnh, kỹ thuật thổi đóm cũng mai một. Những đứa bé sinh ra lớn lên ở chốn đô thị có đứa không biết thổi, thậm chí còn chưa trông thấy cái đóm bao giờ. Với những người cố gắng giữ gìn quốc hồn quốc túy thì hiện tượng này khá đáng lo. Gần đây trong nước có rất nhiều người nỗ lực bảo tồn tinh hoa đất nước. Y học cổ truyền, thuốc Đông y, kỹ thuật thời xưa, âm nhạc truyền thống, đều có người đề xướng bảo tồn. Có lẽ những thứ quốc hồn quốc túy như thuốc lào và đóm lửa sau này cũng sẽ có người khởi xướng khôi phục lại. Nhưng tôi cho rằng trong ba ngón nghề này, tiến bộ nhất phát đạt nhất phải kể đến cắn hạt dưa. Ví dụ tiêu biểu nhất là dạo này “Vua hạt dưa” bán đắt như tôm tươi. Theo những người quan tâm thuật lại thì “Vua hạt dưa” là một loại hạt dưa đựng trong túi giấy, gần đây có rất nhiều nhãn hiệu trên thị trường. Thoạt tiên là một nhà thuốc lớn nào đó “tạo ra bằng phương pháp khoa học”, sau đó là hàng loạt công ty Ngon, công ty Ngon Hết Ý v.v… ùn ùn sản xuất ra đủ loại sản phẩm. Đến giờ gần như bất cứ hàng quà vặt hang cùng ngõ hẻm nào cũng bán đổ bán tháo la liệt hạt dưa đựng trong túi giấy. Người Trung Quốc thạo ngón cắn hạt dưa, nhờ thế mà nhan nhản, về mặt này tôi xưa nay vốn vụng, nói ra thực mất mặt người Trung Quốc, nhưng kể với người nhà thì không ngại gì. Trước giờ tôi chưa bao giờ chủ động đòi hoặc đi mua hạt dưa về cắn. Nhưng khi đến nhà người ta làm khách, được họ mời mọc hoặc ở trên chiếu rượu, trong quán trà ở Hàng Châu, thấy trên bàn bày sẵn đĩa hạt dưa, cũng tiện tay nhón lên cắn. Tôi phải chọn hạt nào vừa to vừa dày, trông nhẵn nhụi phẳng phiu đưa lên miệng, khẽ nghiến răng hàm cắn “tách” một tiếng rồi nhả ra, dùng ngón tay bóc. May mà cắn vừa đúng độ, hai mảnh vỏ tách ra hai bên mà cái nhân bên trong không vỡ, bóc cũng nhanh. Nếu cắn hơi mạnh, vỏ hạt dưa và nhân dính vào nhau đứt đôi, khiến tôi phát phiền lúc nhổ ra. Hạt dưa đã bị cắn làm đôi, hai mảnh hạt dưa nằm gọn trong hai mảnh vỏ, như sách đóng kiểu Tây xuất bản tại Nhật vậy, được bọc trong hộp giấy dày cộp vừa khít, rất khó lấy ra. Muốn lấy được, phải làm theo cách của người Nhật, chớ nhét ngón tay vào hộp giấy rồi mắm môi mắm lợi rút ra, chỉ cần dốc miệng hộp giấy xuống, hai tay giữ hộp rũ mạnh mấy cái, cuốn sách sẽ tự long ra. Nhưng nửa mảnh hạt dưa quá nhỏ, không thể áp dụng cách này, tôi đành dùng móng nhẹ nhàng khảy vỏ moi nhân. Có lúc vì tập đàn nên cắt cụt hết móng, ngón tay trụi lủi như đầu sư cọ, không sao bóc được. Đành nhân lúc không ai để ý ném đi. Mỗi lúc như vậy, tôi lại nghĩ từ rày không ăn hạt dưa nữa. Nhưng ném đi rồi, thấy trong miệng có vị thơm thơm, ngọt không ra ngọt, mặn không ra mặn, tôi lại buồn mồm, vô thức với tay ra nhón một hạt khác, đưa lên ghé răng cắn. Xui một nỗi hạt này quá lép, tôi lại cắn quá mạnh, tách một tiếng, ngọc đá đều vỡ nát thành vô số mảnh vụn, còn tệ hơn cả lần trước. Tôi đành nhổ hết những mảnh vụn lẫn cả nước miếng vào lòng bàn tay, cố lọc lựa, bỏ đi những mảnh vỏ vụn rồi thè lưỡi liếm chỗ nhân vụn. Nhưng lọc lựa cũng khó lắm, bởi một mặt của vỏ cũng màu trắng, chẳng khác gì nhân, tôi lầm tưởng là nhân liếm hết vào mồm nhai mới thấy, tuy không đến nỗi như nhai sáp, nhưng cũng ngang nhai cát. Vụn vỏ dính chặt vào kẽ răng, không có tăm thì không cách nào xỉa ra được. Mỗi lúc như thế, tôi lại quyết tâm cạch hẳn hạt dưa. Cách cạch đại khái là nhấp một hớp trà súc miệng, châm điếu thuốc hoặc đẩy đĩa hạt dưa ra xa, đổi hướng ngồi để chứng tỏ không dính vào nó nữa. Nhưng chỉ được mấy phút, nói mấy câu cà kê với người khác, trong lúc chẳng hay chẳng biết, tay tôi đã lại theo người khác vươn về phía đĩa hạt dưa nhón lấy một hạt. Tới khi nhận ra mình nuốt lời thì thường đã cắn được cả mấy hạt rồi. Cứ thế, đã ăn rồi thì không thể không cạch, cạch rồi lại không thể không ăn; ăn rồi lại cạch, cạch rồi lại ăn, tôi thực khổ ơi là khổ. Giờ hễ cứ nghĩ đến hạt dưa là tôi phát sợ. Song tôi thấy có rất nhiều người thành thục ngón này. Trong ba cái tài xứng làm tiến sĩ của người Trung Quốc, tài cắn hạt dưa có thể xem như đứng đầu. Thường thấy các cậu ấm nhàn nhã tay kẹp điếu thuốc tay cầm một nắm hạt dưa, vừa hút vừa cắn, vừa cắn vừa ăn, vừa ăn vừa chuyện, vừa chuyện vừa cười. Ung dung tự tại, đúng là “khoan khoái hết sức!” Họ còn chẳng buồn chọn hạt, cũng chẳng cần dùng ngón bóc. Cứ nhét một hạt vào miệng, cắn “tách” một cái, nhổ “phì” là cả hai mảnh vỏ văng ra, rồi nhai nhân bỏm bẻm. Miệng họ cứ như một cái máy khéo léo nhanh nhạy, không ngừng nhét hạt dưa vào, không ngừng “tách”, “phì”, “tách”, “phì”… nhẩn nha nhàn tản, cứ liên tục không ngừng nghỉ. Các bà các cô cắn hạt dưa nom còn đẹp hơn nhiều: Ngón tay muôn muốt như hoa lan nhón lấy đầu tù của hạt dưa đặt thẳng đứng ngay giữa răng cửa, rồi cắn đúng vào đầu nhọn. “Tách, tách” hai tiếng, đầu nhọn của hai mảnh vỏ tách ra. Rồi bàn tay ấy lại nhanh nhẹn chuyển hướng, đầu cũng khẽ nghiêng sang một bên, đưa phần giữa của hạt dưa vào răng cửa, cắn cho hai mảnh vỏ tách hẳn, cắn đầu nhân hạt kéo ra ăn. Ăn theo cách này không chỉ có tiếng “tí tách” vui tai, mà tư thế xoay tay và nghiêng đầu còn vô cùng yểu điệu, yêu kiều động lòng người, ngay vỏ hạt dưa cắn ra cũng đẹp như những đóa lan. Từ đó đủ thấy cắn hạt dưa là sở trường của các cậu ấm, cũng là chuyên môn của các bà các cô. Trên chiếu rượu, giữa quán trà, tôi từng gặp vô số nghệ nhân cắn hạt dưa. Gần đây “Vua hạt dưa” bán chạy, trẻ con cũng học được ngón này. Tay nghề của tôi còn kém xa bọn trẻ, chỉ dám phô phang trước người nước ngoài mà thôi. Còn nhớ lúc trước trên tàu thủy đến Yokohama, tôi ở cùng khoang với một người Nhật. Tình cờ kiểm lại hành lý, tìm thấy một hộp hạt dưa bạn tặng. Đi đường nhàm chán, tôi bèn mở ra ăn cùng anh ta. Đây là lần đầu anh ta được nếm thứ này, cảm thấy hết sức quý hiếm. Tôi cũng chẳng ngại gì không làm bộ tinh thông, dạy anh ta cách cắn, rồi làm mẫu cho xem. Nhờ ơn Tổ quốc nên làm mẫu không thất bại. Nhưng nhìn anh chàng người Nhật nọ tập luyện thực đến khổ! Anh ta đưa hạt dưa lên miệng cắn tách một tiếng, nhưng làm không đúng mẫu, để vỏ hạt dưa dính đầy nước miếng, lúc cầm tay bóc cứ trượt đi, không sao bóc được, cuối cùng rơi luôn xuống đất chẳng thấy đâu nữa. Anh ta nuốt nước miếng, chọn hạt khác. Lần này anh ta bóc rất cẩn thận, đặt hạt dưa đã tách vỏ lên bàn, cúi đầu tỉ mẩn bóc, chăm chú như sửa đồng hồ vậy. Chừng một, hai phút sau, khó khăn lắm mới bóc được ít nhân hạt vụn, anh ta trịnh trọng bỏ vào miệng nhai. Tôi hỏi mùi vị ra sao, anh chàng gật lấy gật để, luôn miệng khen umai, umai! (ngon, ngon!) làm tôi phì cười. Mấy mảnh nhân vụn ấy bỏ vào miệng anh ta có khác nào muối bỏ biển, làm sao nhận ra được ngon hay không. Nhưng tôi cười không chỉ vì chuyện hoạt kê này, mà còn bởi tâm lý kiêu căng tự mãn. Tôi nghĩ đây nhất định là kỹ thuật riêng của người Trung Quốc, ngay một kẻ vụng thối vụng nát ngón này như tôi mà cũng ra vành ra vẻ được trước mặt người nước ngoài, huống hồ vô số cậu ấm cô chiêu thành thạo trong nước? Kẻ phát minh ra ngón cắn hạt dưa này đúng là thiên tài tuyệt đỉnh! Đây quả là cách giết thời gian hiệu quả nhất. Muốn “tiêu ma năm tháng”, ngoài hút thuốc phiện ra, chẳng còn cách nào hay hơn cắn hạt dưa cả. Ấy là bởi nó hội tụ đủ ba điều kiện: một, ăn không chán; hai, ăn không no; ba, phải bóc vỏ. Để hình dung việc ăn không chán, có thể dùng câu “không ngơi không nghỉ”. Vị thơm thơm không ngọt không mặn của nó có thể dụ người ta ăn mãi không ngừng. Định ăn nốt hạt này rồi thôi, nhưng nhai xong nuốt xuống miệng vẫn chưa hết mùi thơm, ta không khỏi lại đưa tay về phía đĩa hạt dưa hoặc mò tìm trong túi giấy. Đồ ăn hễ chỉ ngọt hoặc chỉ mặn thường dễ ngán. Chỉ có không ngọt không mặn mới ăn được lâu. Hạt dưa ăn mãi không chán là vì lẽ đó. Một người bạn thường hay đi thù tạc kể cho tôi một chuyện thú vị: anh này đã thành thói hễ thấy hạt dưa là cắn. Có lần theo bạn tới rạp hát xem kịch, vừa ngồi xuống, thấy cạnh ấm trà đặt một gói hạt dưa đã mở sẵn, bèn tiện tay thò vào nhón mấy hạt vừa xem hát vừa cắn. Cắn hết lại lấy, lấy rồi lại cắn. Cứ thế mấy lần, phát hiện khán giả ngồi bên cũng thò tay vào lấy, mới nghĩ tới quyền sở hữu của gói hạt dưa. Bèn hạ giọng hỏi nhỏ bạn, “Gói hạt dưa kia anh mua đấy à?” Người bạn đáp “Không”, bấy giờ anh mới biết mình ăn không của người ta, bèn quay ra xin lỗi. Người nọ cũng rộng rãi, mỉm cười đáp lại rồi lấy luôn gói hạt dưa ra mời. Từ đó đủ thấy hạt dưa rất có sức hút với người Trung Quốc, bất chấp tất cả, hễ thấy phải ăn ngay. Để hình dung việc ăn không no, có thể dùng câu “Ăn ba ngày ba đêm, may ra được mẩu phân”. Bởi thứ này quá ít, ăn bao nhiêu cũng chẳng bõ dính răng, dẫu ăn ba ngày ba đêm, cũng chỉ thêm được một mảy phân. Đây là điều kiện hết sức quan trọng để giết thời gian. Nếu nhiều thì ăn sẽ no, không giết thời gian được. Món này có mục đích hoàn toàn tương phản với lương thực cứu đói. Lương thực cứu đói cần ăn cho no, còn đồ ăn vặt thì cần ăn không no. Tốt nhất là chỉ nếm mùi vị chứ không nuốt vào. Tốt nhất là càng ăn càng đói, giống như “thuốc nôn” thịnh hành trước khi Roma sụp đổ vậy, vừa mở tiệc ăn uống linh đình xong, cắn ít hạt dưa lại có thể mở tiệc linh đình tiếp, cứ thế mà vung phí thời gian. Phải bóc vỏ cũng là một yêu cầu thiết yếu với quà vặt. Nếu không có vỏ thì tiện quá, dễ ăn no, không tiêu phí được nhiều thời gian. Nhất định phải bóc vỏ, hơn nữa kỹ thuật bóc còn phải có tiếng có hình, trông không vất vả mà cứ thong dong như chơi, có vậy mới hợp với cuộc sống những người nhàn nhã, để họ thích thú mà tiêu phí thời gian. Nghĩ đi nghĩ lại, trong hết thảy đồ ăn trên đời, chỉ hạt dưa mới hội tụ đủ ba cái lợi cho việc tiêu phí thời gian mà thôi. Thế nên tôi mới nói kẻ nào phát minh ra ngón cắn hạt dưa quả là thiên tài tuyệt đỉnh. Còn những người Trung Quốc thỏa sức nhẩn nha cắn hạt dưa, thực là những người thực hành vô cùng tích cực trên con đường giết thời gian vậy! Thử nhìn hạt dưa bán vèo vèo ở tiệm quà vặt, hay hàng thực phẩm miền Nam, thử nhìn đống vỏ hạt dưa nơi quán trà, quán rượu và rải đầy trong nhà là đủ thấy lượng thời gian người Trung Quốc vung phí giữa những tiếng “tách”, “phì”, “tách”, “tách” ấy hằng năm nếu thống kê lại đủ khiến người ta khiếp hãi. Ngày sau ngón này phát triển thêm nữa, e rằng cả Trung Quốc cũng bị tiêu diệt trong những tiếng “tách”, “phì”, “tách”, “tách” ấy thôi. Tôi vốn đã thấy hạt dưa là phát sợ, viết đến đây lại càng sợ hơn. Ngày 20 tháng Tư năm 1934 Núi xanh đâu biết họ tớ nhỉ Tớ cũng nào hay núi tên chi Chim trắng bay qua như quen biết Kêu cho tớ với núi cùng nghe(∗) MƠ SỚM L úc mơ, tôi vẫn thường biết là mình nằm mơ. Sáng tinh mơ, giữa lúc nửa mê nửa tỉnh là dễ gặp hiện tượng này nhất, không phải chỉ mình tôi, mà kể ra thường có rất nhiều người đồng cảm. Gần đây tôi có rất nhiều kinh nghiệm về mặt này: vợ tôi về quê dài ngày, để hai đứa con lại nhà cho tôi trông nom. Hằng tối tôi đều phải ngủ với chúng. Chúng thường ngủ trước, chín giờ là nhà đã yên tĩnh, tôi bắt đầu đọc sách, viết lách, phải quá nửa đêm mới chui vào chăn ngủ cùng. Trời vừa sáng con đã tỉnh, líu lo bên tai tôi như chim non, cũng luôn miệng giục tôi dậy như hò đò. Song chính lúc này tôi lại đang mơ màng, vừa láng máng nghe tiếng con gọi, vừa lang thang trong mơ. Gọi mãi tôi không dậy, chúng ghé vào tai tôi hét toáng lên: “Cha ơi! Dậy đi!” Tức thì tôi choàng tỉnh mộng. Có lúc đang mơ đến chỗ hứng trí, hoặc còn chưa dứt mộng, bèn ngái ngủ trả lời, bảo bọn chúng hát thêm một bài nữa, để tôi nghỉ thêm chốc lát rồi vội vàng trùm chăn kín đầu mơ tiếp. Giấc mơ sớm quả thực sẽ tiếp tục, thậm chí ngắt quãng hai ba lượt cũng chẳng sao. Có điều tình hình lúc ấy rất lạ: tôi vừa mải miết lần theo dấu mộng để tiếp tục mơ, lại vừa láng máng nghe thấy tiếng bọn trẻ hát líu lo. Dù đang mải mê trong mơ, song vẫn biết đây chỉ là mộng cảnh. Cả cái tôi giả mê man trong mộng lẫn cái tôi thật vừa ngủ vừa chơi với con đều song song tồn tại. Nhưng tới khi hai đứa con khóc váng lên hoặc cơn mơ khép lại, tôi sẽ bật dậy. Khoác áo xuống giường, những suy nghĩ nghiêm túc của cái tôi thật ví như “hôm nay có việc gì quan trọng” ập vào tâm trí, những vọng tưởng trong mơ lập tức bị đẩy ra, ai còn lưu luyến hay canh cánh nữa? Cái lẽ “đời người như mộng” người xưa đã vạch trần từ lâu, nhưng ai ai cũng phải thấm thía mà thừa nhận. Cuộc đời ta cũng như giấc mơ sớm vậy, trong mơ luôn hiểu rõ mình đang nằm mộng. Ý nghĩ này vừa nảy ra, cảm giác nghi hoặc và bi thương đã chi phối tất cả, khiến tôi không thể tự tháo gỡ, tự vỗ yên được. Thường thì tôi chẳng dám nghiên cứu đến cùng, đành tạm gác nó sang một bên được ngày nào hay ngày nấy, để ít hôm nữa tính. Chắc hẳn đây không chỉ là ý kiến của mình tôi, mà kể ra sẽ có rất nhiều người đồng cảm! Bởi ai ai cũng thấy một điều: tấm thân bảy thước ở giữa cả vũ trụ bao la to lớn, chỉ trong mấy chục năm ngắn ngủi giữa cả hạo kiếp dài đằng đẵng mà trên có thể khám phá hết những bí mật của các vì sao, dưới có thể dò hết kho báu trong lòng đất, xây dựng nên cả một lãnh thổ đẹp đẽ cho thơ ca, khai thác cả cảnh giới thần bí của triết học. Song một khi cơ thể yếu ớt này hư hoại thối nát, linh hồn vĩ đại ấy cũng tan biến, mãi mãi không còn nữa. Những niềm vui thời thơ trẻ, hoài bão thuở thanh niên, vui buồn, danh dự, tài sản, tình yêu tuổi trung niên của “tôi”… tại thời điểm đó hết sức chân thực, trang trọng, nhưng tới ngày về với đất thì đã không còn “tôi” nữa! Than ôi, “đời người như mộng”! Nhưng nhìn lại cuộc đời, sẽ thấy vô cùng kinh ngạc: trước khi chúng ta ra đời, “đời người” đã lặp đi lặp lại hàng triệu lần, như hoa quỳnh, như bọt nước, thoắt hiện ra rồi tan biến. Mọi người hiểu rõ mình cũng sẽ như vậy, nhưng lại lờ đi như không biết, nhiệt tình làm người chẳng chút nghi ngại: kẻ làm quan hăng hái lo việc công, người đi lính dốc lòng thao luyện, kẻ đi buôn mê mải gảy bàn tính, người làm thầy cần mẫn lên lớp, phu xe chăm chỉ kéo xe, đầu bếp cặm cụi nấu nướng… Còn những học trò thì cần cù theo đuổi tri thức để chuẩn bị cho ngày mai ra đời - đây rõ ràng là tự sát, tự sát từ từ! Đó là bởi nỗi vui sướng tràn đầy của cuộc sống, cảm giác ngọt ngào của tình yêu, niềm hạnh phúc khi kết hôn, niềm vinh dự khi giàu có quyền thế đã lừa gạt chúng ta, khiến chúng ta không có thời gian ngẫm lại, lưu luyến quên về, được chăng hay chớ, không dám đi sâu tìm hiểu về cuộc đời, cuối cùng hồ đồ đến chết. “Đời người như mộng!” Chớ tưởng đây chỉ là một câu sáo hay dùng trong văn thơ! Rõ ràng là chiêm nghiệm phủ đầu đấy! Người xưa đã chỉ ra, chúng ta cũng đã thấm thía mà thừa nhận. Giấc chiêm bao đằng đẵng suốt cả đời người quả thực là như cơn mơ ban sớm - trong mơ vẫn biết mình nằm mơ. Chúng ta vừa mê mải mơ, vừa biết rõ đây chỉ là mộng ảo. Chúng ta có cái tôi giả trong mơ, lại có cái tôi thực ngoài đời. Chúng ta trở dậy, khoác áo xuống giường, những suy nghĩ nghiêm túc của cái tôi thật ập vào tâm trí, những vọng tưởng trong mơ lập tức bị cười xòa bỏ qua, ai còn lưu luyến hay canh cánh nữa? Hỡi những người chung mộng! Chúng ta đều có “cái tôi thật”, đừng quên “cái tôi thật” mà chìm đắm trong mộng ảo! Dù trong mơ cũng phải biết mình đang nằm mộng, mà tìm đến “cái tôi thật” của mình. Mây ráng CHÂN S áu giờ sáng, vạch thủy ngân của hàn thử biểu đã vọt lên ba mươi ba[1] độ. Tay vắt chiếc áo dài vải mùa hè năm nay chưa từng mặc, tôi xách tay nải bước xuống thuyền trên bến sông lênh loang nắng sớm, thuyền đi dọc kênh đào về phía nhà ga. Thuyền này tôi tự thuê. Trên thuyền đã sắp sẵn ấm chén trà, dưa hấu, bánh bạc hà, quạt hương bồ và gối mát, đều đem từ nhà đến, như trước đây có lần đi vẽ phong cảnh vậy. Nhưng lần này tôi xuống thuyền, tâm trạng vô cùng bực bội: Một là vì trời nóng bức, mấy hôm trước sáng sớm đã ba mươi hai độ, đến giữa trưa thì lên tới ba mươi bảy độ. Sáng sớm nay đã ba mươi ba độ, đến trưa chắc chắn sẽ ba mươi tám độ, huống hồ còn ngồi dưới mui thuyền trong cái nắng chang chang. Lại thêm vừa mở tay nải ra đã thấy một cuốn Luận ngữ, ngoài bìa có chữ của Lý Lạp Ông[2], viết rằng con người chỉ nên làm việc vào ba mùa thu, đông, xuân còn chừa mùa hạ nghỉ ngơi, cứ như giễu cợt tôi vậy. Hai là hôm nay tôi có việc buộc phải ra ngoài, không được nhàn nhã như bữa trước “dong thuyền vẽ tranh”. Bấy giờ đúng lúc cuối xuân, tôi thuê riêng một chiếc thuyền, đem hết sách vở, đồ đạc, quần áo, chăn gối cần dùng lên khoang thuyền rồi nửa ngồi nửa nằm ở giữa. Nhà thuyền ghé vào thị trấn nào nghỉ đêm thì tôi lên bờ tha thẩn vẽ tranh ở chỗ nấy, rất có phong thái “mong đến chỗ dừng mà nghỉ ngơi[3]“. Còn lần này tuy vẫn là con thuyền như thế, song ý nghĩa đã khác hoàn toàn. Lần này tôi không thể tùy tiện tới đâu vẽ đó được nữa, mà phải đáp thuyền đi bắt tàu lúc mười một giờ. Lần trước ngồi thuyền là chủ động, lần này là bị động. Tâm lý này cứ nhộn nhạo trong lòng tôi, như cảm thấy thứ gì trong khoang thuyền cũng ngứa mắt. Song phong cảnh đặc sắc bên ngoài lại thu hút sự chú ý của tôi. Từ vịnh Thạch Môn đến Sùng Đức, hai bên bờ sông đào mười tám dặm san sát vô số cọn nước. Vô vàn nông dân chỉ mặc độc chiếc quần cộc đang bì bõm đạp. Thuyền tôi đi giữa hai bên bờ, chẳng khác nào tướng quân trong lễ duyệt binh. Nhà thuyền kể, trước đây có người đếm được hai bên bờ tổng cộng đến bảy trăm hai mươi sáu cọn. Nắng gắt liên miên thế này, e rằng hôm nay số cọn nước còn nhiều hơn. Trên trời nhìn xuống, có khi con sông đào này lại giống một con rết ngo ngoe mấy trăm cái chân. Lúc lên thuyền, tôi vốn hơi bực bội, tới giờ lại đổi sáng kinh ngạc. Cảnh vật nơi đây sừng sững nguy nga giữa đất trời, song cũng là trận kịch chiến giữa con người và thiên nhiên. Vầng dương cháy rực như lửa bừng bừng rọi xuống, hút cạn nước trên mặt đất; con sông nông choèn biếng lười nằm đó, càng phơi nắng càng khô queo. Hai bên bờ là hàng trăm hàng ngàn nười đạp cọn, vận hết sức đôi chân để tranh mấy giọt nước với trời. Mặt trời càng lên cao, họ càng guồng nhanh, “lộc cộc, lộc cộc…” liên hồi. Mãi về sau mới ngừng, ai nấy đều mệt lử; song mặt trời dường như không mệt, chẳng cần nghỉ ngơi; trong lúc họ nghỉ chân, hơi nóng lại càng nồng nực. Nghe người trên thuyền kể, cọn nước không chỉ có chừng ấy, mà bên dưới kênh còn rất nhiều. Liên tục hai ba tháng nắng hạn thế này, ruộng, kênh, mương đều khô cạn, chỉ có con sông đào này còn ít nước. Nhưng nước cũng rất nông, đá chèn chân cầu đã lộ ra hai ba thước; cọc gỗ bên dưới lớp đá ở bến sông cũng lộ ra một hai thước, người giặt giũ hay lấy nước dẫu có tụt xuống tảng đá thấp nhất dưới bến cũng không nhúng được nước, phải lội ra tận mép sông. Thuyền tôi một mình xuôi dòng, chẳng mảy may trở ngại, hễ phải tránh thuyền ngược chiều, đáy thuyền sẽ bị cấn vào lòng sông thành tiếng lạch cạch. Song người nông dân cần nước tưới ruộng cũng chẳng có nguồn nước nào khác. Họ dựng cọn nước bên bờ sông đào, dẫn nước từ sông đào vào kênh rồi lại bắc cọn nước bên bờ kênh để dẫn nước vào mương, sau đó lại làm cọn nước bên bờ mương để dẫn nước sang ruộng. Thế nên phía trong đôi bờ sông còn rất nhiều cọn nước. Tiếng “lộc cộc, lộc cộc…” chia ra to nhỏ mấy tầng theo khoảng cách gần xa, hòa nhịp với nhau. Ít nước dưới sông cứ như một khoản công quỹ, qua tay nhiều người, tới lúc vào quốc khố thì chẳng còn bao nhiêu. Lại cũng giống một bản công văn, truyền từ cấp trên xuống cấp dưới, mất rất nhiều thời gian và sức lực. Vì mực nước rất nông nên cọn nước phải thẳng đứng lên mới múc được. Tôi ngồi trên thuyền nhìn góc nghiêng hợp thành từ guồng quay và mặt nước, thấy đều phải hơn bốn mươi lăm độ, những chỗ bờ cao còn phải tới năm, sáu mươi độ. Các vị độc giả chưa từng đạp hay thấy cọn nước, cũng có thể tưởng tượng được: Góc nghiêng càng lớn thì mặt nghiêng khi nước chảy vào càng dốc, tức là lượng nước càng nhiều, đạp càng vất vả. Nước này giống như được kéo từ dưới giếng lên vậy. Thế nên mỗi cọn nước ít nhất cũng phải ba người đạp, hơn nữa một chỗ không chỉ có một cọn nước. Bởi vậy tất cả mọi người trong làng, trừ già yếu ra, còn lại đều phải đi đạp. Những kẻ không có ruộng để mà hạn hán hoặc lúa đã chết khô queo, cũng buộc phải ra đạp, không ra sẽ bị chửi rủa, có khi còn nguy đến tính mạng. Việc này không phải vì lợi riêng, bởi có rất nhiều người đã chẳng còn ruộng nương gì nữa; cũng chẳng thể nói là làm lợi cho người khác, vì nước múc lên được còn chẳng đủ bốc hơi, chẳng có đâu mà tưới tắm những gốc mạ đã ngắc ngoải. Đây rõ ràng là một cuộc đối đầu kịch liệt giữa con người và thiên nhiên. Không phản kháng mà sống là nhục nhã, không phản kháng mà chết là hèn nhát; phản kháng mà sống là vinh quang, phản kháng mà chết cũng cam lòng. Tuy người nông dân không nói ra, nhưng trong lòng họ đều hiểu rõ. Cảnh tượng bi tráng trước mắt chính là bằng chứng. Có cọn nước, cả phụ nữ, bà già và trẻ con mười một, mười hai tuổi đều ra phụ. Tới khi nghe tiếng thanh la phèng phèng mới nhất loạt ngừng lại. Người vào bóng râm ngồi nghỉ; người gỡ làn cơm trên đọt dâu xuống ăn. Trong làn là đậu tằm. Sáng tinh mơ họ chỉ kịp ăn bát cháo rồi xách giỏ đậu tằm đi đạp cọn nước. Khi nào đói thì ăn đậu tằm lót dạ, đạp đến nửa đêm mới quay về ngủ. Chỉ có vài nhà “khá giả” trong giỏ mới có ít cơm nguội. “Phèng phèng!”, nghe tiếng thanh la, mọi người lại trèo lên cọn nước, đạp lộc cộc. Vô số bắp chân trần sắp thành hàng, nhịp nhàng phối hợp với nhau, đều tăm tắp. Tâm trạng tôi từ bực bội chuyển thành ngạc nhiên, rồi lại từ ngạc nhiên chuyển sang bực bội. Lúc trước là bởi chuyến đi quá gò bó, nay lại vì chuyến đi quá dễ chịu. Hơi nóng dưới mui thuyền tôi bỗng dịu bớt, đồ ăn trên bàn tự nhiên tinh tế hẳn lên, nhiệm vụ chuyến này của tôi hình như cũng nhẹ nhõm đi. Mãi tới lúc tôi rời thuyền lên bờ, băng qua toa hạng hai xa hoa đi vào toa hạng ba của mình, cảm giác khó chịu ấy mới từ từ tan biến. Đầu tôi chỉ còn nhớ về những đôi chân dài nhịp nhàng đạp đều tăm tắp. Ấn tượng thế nào ấy à? Người sống trong thế giới phồn hoa đô hội rất dễ tưởng tượng thôi, đêm đêm chẳng phải họ vẫn la cà, ngắm chân các vũ nữ nhún nhảy ở vũ trường hay trên màn bạc đó sao? Chân những người nông dân đạp cọn nước cũng vậy, chẳng qua thô hơn, đen hơn. Gần đây ngày ngày họ đều phải đạp nước tối đêm khuya mới nghỉ. Khi những đôi chân trên màn bạc, trong vũ trường nhún nhảy, thì cũng là lúc những đôi chân bên bờ sông đào đạp mải miết. Ngày 15 tháng Tám năm 1934 tại chùa Chiêu Hiền, Hàng Châu CHƯƠNG 2: KHÔNG NUÔNG CHẲNG SỢ MÀ QUA MỘT ĐỜI Đời người cũng có đông hè, ấu thơ như hạ, trưởng thành như đông; hoặc tuổi trẻ như hạ, già như đông. Tự nhiên cũng thường khiến cảm giác của con người ta thay đổi khi chuyển từ hè sang đông trong cuộc đời, mệnh lệnh của nó hết sức hà khắc, nhưng cũng hết sức hoạt kê. Chàng cưỡi ngựa tre đến(∗) NHỚ TUỔI THƠ Một Ôn lại ấu thơ, có ba chuyện tôi vẫn nhớ như in. Một là nuôi tằm. Bấy giờ tôi mới năm, sáu tuổi, bà nội vẫn còn tại thế. Bà là người hào sảng lại giỏi tận hưởng an vui, chẳng bỏ qua ngày lễ tết nào. Nuôi tằm hằng năm đều làm linh đình. Thực ra sau này lớn lên tôi mới hiểu, bà nuôi tằm không phải chỉ để kiếm tiền, bởi những năm lá dâu đắt đỏ toàn bị lỗ vốn, chẳng qua bày vẽ ra để có cái tô điểm cho dịp cuối xuân thôi. Tôi thích trước hết là lúc tằm xuống đất. Lúc ấy căn nhà ba gian của chúng tôi rặt những tằm dưới sàn, phải bắc ván gỗ ngang dọc để tiện đi lại và cho ăn lá dâu. Bác Năm Tưởng quẩy gánh đi hái lá, tôi và các chị[1] đi theo ăn quả dâu. Lúc tằm xuống đất, quả dâu cũng đã tím sẫm lại, ngọt lịm, ngon hơn thanh mai nhiều. Ăn căng bụng, chúng tôi lại lấy một phiến lá to làm bát, hái cả bát dâu tằm rồi theo bác Năm Tưởng ra về. Bác cho tằm ăn, còn tôi chơi trò đi trên ván gỗ, thỉnh thoảng lại sẩy chân ngã xuống, đè chết bao nhiêu tằm, làm bà phải giục bác Năm Tưởng bế tôi lên ngay, không cho nghịch nữa. Nhưng ván gỗ giăng khắp nhà, như phố bàn cờ vây, lại thấp tè, đi không sợ chút nào, rất thích thú. Thực là niềm vui mỗi năm có một lần! Bởi vậy dù bị bà nội cấm chỉ, ngày nào tôi cũng lăm le đi. Sau khi tằm lên né, cả nhà nín thở trông coi, không cho trẻ con nô đùa nữa, không khí nhất thời rất ngột ngạt. Nhưng qua vài hôm, thu kén, kéo tơ, không khí lại rộn rã hẳn lên. Theo lệ, hằng năm chúng tôi đều mời thím Bảy ở Ngưu Kiều Đầu tới ươm tơ. Bác Năm Tưởng còn mua sơn trà và bánh dẻo cho người thu kén, ươm tơ, trở lửa. Mọi người cho rằng đây là lúc vất vả nhưng đầy hy vọng, phải ăn điểm tâm, nên chẳng ai làm khách, tôi cũng được ăn chực hàng đống sơn trà và bánh dẻo mỗi ngày, lại là một cái vui nữa. Lúc nghỉ tay ươm tơ, thím Bảy thường bê điếu thuốc lào, chìa ngón út tay trái cụt mất một nửa ra cho tôi xem rồi dặn, “Khi ươm tơ phải nhớ đừng đứng sau xa nhé.” Ngón út của thím hồi nhỏ sơ ý bị trục xa nghiền nát. Rồi thím lại nói, “Trẻ con đừng đi ra sau xa, chỉ cần ngồi cạnh thím, ăn sơn trà bánh dẻo. Cả nhộng tằm nữa, bảo mẹ cho vào chảo dầu đảo qua mà ăn, ngon lắm!” Nhưng tôi xưa nay không được ăn nhộng, có lẽ vì cha tôi và các chị đều không ăn được. Tôi chỉ thích không khí rộn ràng ở nhà khi đó mà thôi. Những cánh cửa chạm rỗng, bàn dài, ghế bát tiên thường ngày vẫn đặt cố định đều được cất đi, thay vào đó là xa quay, nong, ang hiếm khi được thấy. Còn được ăn quà vặt thỏa thuê. Tơ ươm xong, bác Năm Tưởng véo von “Muốn ăn sơn trà, đợi tằm lứa sau ra” rồi thu dọn xa quay, bày biện lại đồ đạc như cũ. Khiến tôi chợt có cảm giác trống vắng sau khi tàn cuộc. Song tôi lại thấy hết sức mới mẻ thích thú với sự thay đổi này. Giờ mỗi khi nhớ lại chuyện thuở ấu thơ, tôi lại mê mẩn! Bà nội, bác Năm Tưởng, thím Bảy và các chị đều như nhân vật trong truyện cổ tích hay kịch. Nhưng trong mắt tôi, nhân vật chính của vở kịch ngày ấy chính là tôi. Hồi ức đẹp đẽ ngọt ngào làm sao! Có điều giờ ngẫm lại đề tài của vở kịch này, tôi mới thấy không ổn: nuôi tằm ươm tơ, kiếm sống thì hạnh phúc đấy, nhưng thực ra lại phải giết hại mấy vạn sinh linh! Trong Tây Thanh Tán ký có hai câu thơ của người tiên, viết rằng, “Xót tằm rút ruột bao năm tháng, tự dệt tơ sen lấy áo mang”. Giá con người cũng phát minh ra được xa kéo tơ sen, tha cho tằm xuân khắp thiên hạ! Năm tôi lên bảy thì bà nội qua đời, nhà tôi chẳng nuôi tằm nữa. Không lâu sau cha và các chị em nối nhau lìa trần, cảnh nhà sa sút, ấu thơ hạnh phúc của tôi cũng trôi qua. Thế nên mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm này, tôi vừa lưu luyến, lại vừa ân hận. Hai Chuyện thứ hai mà tôi nhớ mãi là cha tôi mỗi độ Trung Thu lại trông trăng, mà cái vui cốt yếu của việc trông trăng, là ăn cua. Sau khi cha đỗ cử nhân thì khoa cử bị bãi bỏ, ông ở nhà nhàn rỗi, ngày ngày chỉ uống rượu đọc sách. Ông không ăn thịt dê, bò, lợn song lại thích ăn cá, tôm. Nhất là cua thì càng khoái. Từ tháng Bảy, tháng Tám tới tận mùa đông, tối nào ông cũng ăn một con cua và một bát đậu phụ khô nóng hổi mới ra lò mua ở quán đậu cách vách. Ông luôn dùng bữa tối vào lúc hoàng hôn. Trên bàn bát tiên bày một cây đèn dầu, một bình rượu trắng, một bát sứ men rạn có nắp đựng đậu phụ khô nóng hổi, một ống điếu thuốc lào, một cuốn sách, góc bàn còn một con mèo già ngồi chễm chệ, cảnh tượng ấy đã khắc sâu vào tâm trí tôi, đến giờ vẫn như sờ sờ trước mắt. Tôi ngồi chầu chẫu một bên, thỉnh thoảng lại được cha cho một cái chân cua hoặc nửa miếng đậu. Nhưng tôi thích chân cua hơn. Cua tuyệt ngon, năm anh chị em tôi đều mê, cũng đều do cha cả. Chỉ có mẹ tôi là ngược lại, bà thích ăn thịt chứ không thích và cũng không biết ăn cua, khi ăn hay bị gai trên càng cua đâm vào ngón tay chảy máu, bóc cũng không sạch, thường bị cha chê là tay mơ. Cha nói, “Ăn cua là việc tao nhã, người rành mới bóc khéo được. Trước tiên phải bẻ chân cua, sau đó tách mai… Làm sao ăn được hết thịt ở các khớp chân, làm sao bóc hết thịt ở yếm… Có thể lấy vuốt nó làm kim mà khều thịt… phần càng còn xếp được thành một con bướm rất đẹp…” Cha đúng là thạo ngón ăn cua, ăn sạch như lau. Bởi vậy u Trần mới nói, “Vỏ cua ông bỏ đi đúng là vỏ cua.” Cua được thả trong ang nước nằm một góc giếng trời, thường nuôi chừng mười con. Tới Thất Tịch, rằm tháng Bảy, Trung Thu, Trùng Dương, trong ang đầy ắp những cua, bấy giờ chúng tôi ai cũng được ăn, hơn nữa mỗi người phải ăn một con to hoặc con rưỡi. Nhất là Trung Thu lại càng thích thú. Chạng vạng tối, bê bàn ra khoảnh sân trống cách vách ăn cơm dưới trăng. Canh khuya thanh vắng, dưới vầng trăng sáng chỉ có gia đình tôi, ngồi vừa một bàn, ngoài ra chỉ có cô hầu Hồng Anh ngồi cạnh để sai vặt. Cả nhà cười nói, trông trăng, cha và các chị ngồi mãi tới khi trăng lặn, còn tôi thường ngủ gục giữa chừng, không từ mà biệt. Đây vốn là vì cha thích cua, chủ yếu bày ra để ăn cua. Thế nên những bữa tiệc tối này không chỉ vào Trung Thu, mà thỉnh thoảng gặp đêm trăng giữa mùa cua lại bày ra. Song không phải ngày lành tháng tốt nên chúng tôi không ăn nhiều, có lúc hai người chia nhau một con. Chúng tôi đều học theo cha, bóc thật tỉ mẩn, thịt bóc ra cũng chẳng vội ăn ngay mà bỏ vào mai, bóc xong cho ít giấm gừng, trộn lên, coi như món ăn kèm với cơm, ngoài ra không còn món gì khác. Cha dùng thức ăn rất dè sẻn, ông nói cua là ngon nhất, ăn lẫn với những món khác thực chẳng ra sao. Chúng tôi cũng học theo, nửa mai thịt cua ăn hai bát cơm vẫn còn dư, vừa được cha khen, vừa tha hồ ăn vã phần còn lại, nên ai nấy đều bảo nhau ăn dè. Giờ nghĩ lại lúc đó, nửa cái chân cua cũng ăn được hai miếng cơm to, ngon ơi là ngon! Từ sau khi cha mất, tôi chẳng được nếm món ngon này nữa. Giờ tôi cũng đã làm cha, lại ăn chay, dĩ nhiên không bao giờ nếm món này nữa. Ôi! Cái vui thuở bé thực khiến người ta nhung nhớ! Nhưng chủ đề của vở kịch này vẫn là tàn hại sinh linh! Bởi vậy kỷ niệm này vừa khiến tôi nhung nhớ, lại vừa làm tôi ăn năn. Ba Chuyện thứ ba tôi vẫn hằng nhung nhớ là tình bạn với cu Vương nhà bán đậu phụ sát vách, mà trọng tâm nằm ở chỗ câu cá. Bấy giờ tôi mười hai, mười ba tuổi, cu Vương nhà bán đậu phụ là đại ca trong đám bạn tôi. Nó là con một, được cả bà, mẹ và bác Cả nuông chiều, cho rất nhiều tiền và đồ chơi, hằng ngày thả cho đi chơi thỏa thích. Nhà nó sát vách nhà tôi. Người nhà tôi ngày ngày đi chợ đều phải ngang qua hàng đậu phụ nhà nó, sáng tối giáp mặt nên thường qua lại. Trẻ con cũng sớm tối giáp mặt, qua lại chơi chung. Ngoài ra dường như giữa hai nhà còn thân thiết hơn cả tình hàng xóm, nên người nhà nó hết sức tử tế với tôi, bà nó thường gửi đậu phụ khô, váng đậu v.v… nhà làm cho cha tôi nhắm rượu. Trong đám bạn bè, cu Vương cũng rất tốt với tôi. Nó lớn hơn tôi, khỏe hơn tôi, cuộc sống nhiều màu sắc hơn tôi, mỗi khi đi chơi, nó thường dẫn đường và trông nom tôi như anh với em. Chúng tôi khi thì nô đùa trên sập ở phường nhuộm nhà tôi, lúc lại rủ nhau ra ngoài. Mỗi khi trông thấy hai đứa chơi đùa, bà nó lại dặn nó phải trông nom tôi cẩn thận, đừng cự cãi nhau. Tôi nghe đồn nhà họ từng có lúc hoạn nạn, được cha tôi giúp đỡ nên người lớn trong nhà luôn dặn cu Vương phải săn sóc tôi. Tôi vốn không biết câu cá, nhờ cu Vương dạy cả. Nó nhờ bác Cả mua cho hai chiếc cần, cho tôi một chiếc, còn một chiếc nó dùng. Rồi nó lục thùng gạo bắt thật nhiều bọ gạo, đem ngâm trong lọ nước, dẫn tôi đến cầu Mộc Trường câu cá. Nó dạy tôi bắt một con bọ gạo, móc lưỡi câu xuyên suốt từ đuôi đến đầu, rồi thả xuống nước. Đoạn dặn, “Hễ thấy phao máy phải giật lên ngay, có vậy lưỡi câu mới móc vào hàm, làm cá không giãy ra được.” Tôi thử làm theo, quả nhiên ngày đầu tiên đã câu được mười mấy con cá bạch điều, nhưng đều là nó giật hộ. Hôm sau, nó nhặt lấy nửa lon ruồi đập được, lại rủ tôi đi câu cá. Dọc đường nó bảo, “Không cứ gì phải dùng bọ gạo, lấy ruồi làm mồi còn hơn. Cá thích ăn ruồi lắm!” Hôm ấy chúng tôi câu được cả thùng cá đủ loại. Trở về nó lại đưa cả thùng sang nhà tôi, bảo là nó không cần. Mẹ tôi bèn bảo Hồng Anh đem rán cho tôi ăn cơm tối. Từ ấy, tôi đâm ra mê câu cá. Chẳng cứ phải có cu Vương, một mình tôi cũng xách cần đi câu, còn học được cách đào giun câu cá. Cá câu được không chỉ đủ ăn tối, mà còn chia cho mọi người trong phường nhuộm, hoặc cho mèo. Tôi nhớ thuở ấy mê câu cá không chỉ vì ham chơi, mà một phần cũng thích kiếm lợi. Phải đến ba, bốn mùa hè tôi mải miết câu cá, tiết kiệm được bao nhiêu tiền chợ cho mẹ. Sau này tôi lớn lên, đi đến nơi khác học, không rảnh câu cá nữa. Nhưng vẫn thường gặp những câu ca ngợi việc câu cá trong sách vở, ví như “Lẻ loi câu tuyết bên sông[2]”” hay “Thả câu đốn củi qua ngày[3]“, mới hay câu cá là việc vô cùng phong nhã. Về sau lại được biết có mỹ từ là “chốn buông cần” để chỉ quê nhà. Tôi nhân đó bèn than thở: câu cá cố nhiên là phong nhã, quê nhà đúng là chốn buông cần của tôi, là quê hương tôi hằng nhung nhớ. Nhưng giờ nghĩ lại, thực không may, chủ đề này cũng là giết hại sinh linh! Giai đoạn hoàng kim trong đời tôi rất ngắn, những điều đáng nhớ lại chỉ vỏn vẹn có ba chuyện này. Không may đều là lấy sát sinh làm vui, khiến tôi ăn năn không dứt. Mùa mưa năm 1927 Tối thứ bảy DẤU MỘNG G óc trái trán tôi có một vết sẹo dài bằng lông mày vì thuở bé chơi đùa không cẩn thận ngã đập vào ngưỡng cửa. Thầy tướng số gọi đó là phá tướng, là khuyết điểm. Nhưng tôi lại đặt cho nó một cái tên rất kêu, gọi là “dấu mộng”. Bởi đó là dấu vết duy nhất mà ấu thơ như mộng của tôi để lại. Lần theo nó, có thể tìm về giấc mơ đẹp của tôi thời thơ bé. Năm tôi bốn, năm tuổi, một hôm để “tặng tiễn” một vị khách bé nào đó (theo phong tục quê tôi, khi con cháu nhà thân thích tới chơi lần đầu, lúc ra về, chủ nhà phải làm mấy xửng bánh bao tặng cho, gọi là “tặng tiễn”), cả nhà tôi từ mẹ đến cô, thím và các chị đều tất bật làm bánh bao. Giữa bếp đặt một cái nia to, trên nia lại đặt một mâm tướng đầy bột gạo đã nhào dẻo quánh như đất sét và một bát tô đậu giã nhuyễn ngọt lịm để làm nhân. Mọi người ngồi quây tròn quanh nong. Ai nấy xắn cao tay áo, véo một miếng bột nặn thành hình chiếc bát, cho nhân đậu vào rồi gói lại thành một viên tròn. Sau đó lại vê thành hình tam giác, nắn ra ba gờ xoắn vặn thừng rồi đóng một dấu chữ “thọ” đỏ thắm lên chỗ ba gờ xoắn giao nhau, thế là xong một cái. Bánh được xếp thành từng vòng vào nia, trông rất xinh xắn. Mọi người vừa làm vừa ríu ran cười nói. Có lúc nhắc người này nặn bé quá, người kia nặn to quá; có lúc trầm trồ khen cô làm khéo quá, lúc lại trêu bánh mẹ tôi nặn trông cứ như bánh nướng. Tiếng cười nói rộn rã khắp trong bếp. Ấy là hôm hiếm hoi cả nhà tôi vui vẻ cười nói trong năm. Còn với đứa trẻ con như tôi, những ngày ấy càng vui không gì bì nổi; lúc chuẩn bị gói bánh, tôi sẽ được ăn trước một bát nhân đậu ngọt lịm người. Lúc mọi người làm, hễ tôi hơi quậy, các mẹ sẽ làm riêng một chiếc bánh bao nhỏ cho tôi ăn luôn. Vị bột gạo và nhân đậu mới còn nóng hổi quyện vào nhau, ngon hết biết. Ăn một chiếc chưa bõ thèm, tôi chỉ cần nghịch ngợm thêm một tí là được cái thứ hai. Nếu vẫn chưa bõ, tôi sẽ kèo nhèo đòi họ cho đóng dấu chữ thọ. Con dấu này cũng không dễ đóng: nhúng quá nhiều nước thì chữ nhòe nhoẹt hết, không nhìn ra gì cả, nhưng nếu ít quá thì chữ lại mờ mờ không rõ, huống hồ còn phải đóng đúng chính giữa, lỡ lệch thì xấu, đóng hỏng cũng không thể chùi đi đóng lại được. Thế nên họ sợ nhất là tôi nằng nặc đòi đóng dấu, bèn dỗ dành tôi, dúi cho mẩu bột gạo véo ra lúc gói bánh, bảo “tự làm mà ăn”. Đây mới là mục đích chủ yếu mà tôi mong mỏi! Rồi cứ theo lệ ấy, mọi người hễ gói bánh, véo mẩu bột thừa ra là lại dồn cho tôi. Nếu không đủ, tôi còn đòi véo một mẩu bột trong mâm, tha hồ nặn đủ thứ: nặn một người rồi vo tròn, nặn thành một con chó; lại vo tròn, nặn một điếu thuốc lào, cứ vân vê mãi, cáu bẩn trên tay lẫn cả vào làm miếng bột gạo trắng phau ngả sang màu cháo lòng, bấy giờ tôi lại đòi ít nhân đậu, gói thành mấy miếng bánh méo mó chẳng ra hình dạng gì rồi ăn. Hôm ấy tôi quấy quả quá nên cô đã làm hẳn hai chiếc bánh bao nhỏ cho tôi ăn, mẹ còn cho thêm một cục bột để chơi. Song tôi muốn được thoải mái nên không ăn hay chơi ở đó mà đem ra ngoài tiệm cùng chơi với anh Năm. Về sau tôi mới biết anh Năm là người học việc ở tiệm nhà tôi, còn hồi ấy tôi chỉ biết anh là bạn thân nhất của mình. Anh lớn hơn tôi, khôn hơn tôi, gan hơn tôi, thường làm những món đồ chơi mà tôi không sao tưởng tượng ra nổi, khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Hôm ấy tôi mang bánh bao và bột gạo ra chơi cùng, anh liền moi ra mấy con dấu nhỏ bằng đất đỏ để in hình Bồ Tát bùn, dạy tôi in Bồ Tát bột gạo. Nhưng chẳng bao lâu sau, chúng tôi cự cãi nhau, rồi anh cầm Bồ Tát bột gạo của mình chạy vụt đi. Tôi cũng cầm Bồ Tát bột gạo đuổi theo. Đuổi tới trước cổng chào, tôi trượt chân ngã sấp, trán đập vào ngưỡng cửa, rách một vết bằng con mắt, ngất lịm đi. Tới khi tỉnh lại mới thấy mình đang được mẹ ôm, cụ Thái Đức Bản, bác sĩ khoa ngoại đang quấn mấy lớp băng quanh đầu tôi. Sau khi tôi ngã bị thương, hôm nào anh Năm cũng nhân lúc tiệm vắng vẻ lên gác gặng hỏi tôi. Mỗi lúc như thế anh đều lén lút lấy trong ống tay áo ra mấy thứ linh tinh tôi thích chơi: ví như mấy con bổ củi bị nhốt trong hộp diêm, đầu người bằng giấy giả da, chân làm bằng vỏ ấu, con dao nhỏ mài bằng tiền Thuận Trị… để tặng tôi, cho tới khi trán tôi kết sẹo. Kể lại nguyên nhân dẫn tới vết sẹo trên trán, tôi nhớ nhất là anh Năm. Những hành động bất ngờ đáng yêu của anh cùng niềm vui thuở nhỏ của tôi cũng theo dòng hồi tưởng mà hiện lên rành rành trước mắt. Giờ nghĩ lại tôi vẫn còn kinh ngạc trước những trò bướng bỉnh của anh. Nhưng bấy giờ tôi chỉ thấy mê mải. Tôi cứ lẽo đẽo theo anh suốt cả ngày, làm cái đuôi của anh. Anh dùng tay bắt một con rết to tướng, vặt kìm độc đi rồi giấu trong tay áo, lượn lờ khắp nơi, lăm le lôi ra hù người ta. Tôi hí hửng theo đuôi đi xem. Thỉnh thoảng anh còn lén thả nó lên mũ quả dưa của ai đó, để nó bò xuống gáy làm người ta hoảng hồn nhảy dựng lên. Có lúc anh lại mang nó vào nhà xí, đợi khi người khác vào nhà xí đi ị thì ném nó vào quần người ta, làm người ta phải xách quần nhảy tưng tưng, phân bắn đầy người. Có lúc anh ngang nhiên bỏ ngay nó lên trán mình trước mặt bao nhiêu người rồi gào toáng lên vờ là bị cắn khiến mọi người ngồi đó phát hoảng, luống cuống cứu chữa. Rồi giữa lúc tất cả rối lên, anh giơ tay nhặt con rết, cười phá lên, bỏ chạy thẳng, về sau trò ấy dần mất tác dụng, có người còn đe nếu anh lôi con rết ra sẽ đánh cho. Anh bèn đổi trò khác: trốn sau cửa, đợi kẻ cảnh cáo mình sắp ra ngoài thì hét toáng lên, nằm bò ra cạnh cửa lăn lộn, kêu khóc rằng mình vừa giẫm phải con rắn to bằng cánh tay, nhưng nó chui vào gầm sập mất rồi. Kẻ nọ bị anh hù hồn phi phách tán, song thấy anh còn thê thảm hơn mình nên cũng chẳng nỡ mắng mỏ, đành tự trách mình xui xẻo. Thấy cả đám người ngồi chồm hỗm bên bờ sông câu cá, anh bèn chen vào chuyện gẫu. Đồng thời lén buộc bím tóc hai người ngồi gần vào nhau rồi lỉnh đi, trốn ra xa rình. Nếu một trong hai kẻ bị buộc vào nhau kia đứng lên định đi, anh lại được xem trò vui. Những trò quái ác như thế của anh nhiều không kể xiết. Giờ nghĩ lại mới thấy hồi ấy anh đùa thật ác. Nhưng bấy giờ anh mê mải bày trò, mà không chỉ có mình tôi mê mải thường thức. Hỡi những nhà giáo dục nghiêm túc trên đời! Xin hãy bỏ quá cho tính nghịch ngợm của anh! Lúc chúng tôi còn nhỏ, nếu lén chơi xếp giấy ở trường tư thục, sẽ bị thầy dùng ống bút bằng đồng cốc cho mấy cái thật mạnh, còn phải quỳ cả tuần hương trước bài vị thánh Khổng nữa ấy chứ! Huống hồ nhờ vào trí tuệ và tài khéo, anh Năm còn phát minh ra đủ thứ đồ chơi hay ho, giờ nhớ lại tôi vẫn mê tít. Cuối xuân, anh dắt tôi ra đồng trộm đậu tằm non. Hạt nào non thì ăn luôn, hạt nào già thì đem làm “vòi phun đậu tằm”. Lấy giấy mồi lửa nướng quả đậu già cho chín tới rồi cắt đầu dưới, dùng tay bóp, hai hạt đậu trong quả sẽ rơi ra, sau đó lại cắt đầu trên đi một mẩu, làm thành một lỗ nhỏ. Đoạn cho quả đậu vào nước, để nó căng đầy, dùng một tay bóp chặt đầu dưới mà lấy ra, rồi tay kia miết mạnh vào quả đậu, một dòng nước li ti tức thì bắn ra từ lỗ thủng trên đầu quả. Nếu làm khéo, nước có thể bắn xa đến một, hai trượng. Anh còn dạy tôi làm “sáo cuống đậu”: Bẻ một nhánh đậu Hà Lan non dài chừng một tấc, cho một đầu vào miệng khẽ cắn, lúc thổi sẽ thành tiếng o o, rồi lại bẻ đầu dưới một nhánh đậu tằm dài chừng bốn, năm tấc, dùng móng tay khoét mấy lỗ thủng đều nhau, làm thành hình quả đậu, cắm nhánh đậu Hà Lan vào một đầu chiếc sáo này, ngón tay tùy ý bịt hoặc mở các lỗ mà thổi, sẽ ra tiếng như sáo ngắn không có làn điệu. Anh dạy tôi cả cách dùng sáp nến nặn hoặc nấu chảy tạo thành vô số thứ. Dùng khoai sọ hoặc khoai lang khắc thành đủ loại con dấu… Những món đồ chơi như thế nhiều không kể xiết. Giờ những trò vui thời thơ ấu ấy đã cách tôi xa tắp. Nhưng khi nhắc tới duyên do vết sẹo trên trán, tôi vẫn bồi hồi nhớ anh Năm nghịch ngợm và những thứ đồ chơi đầy thú vị ấy. Ai bảo vết sẹo trên trán tôi là khuyết điểm? Đó là chứng cứ cho niềm vui thơ ấu, là dấu tích thời hoàng kim của tôi. Chuyện xưa đều đã tan đi như mộng, chẳng còn dấu vết. Chỉ có vết sẹo này, cứ như hàng chữ vàng “đánh hai mươi trượng, thích chữ sung quân” đóng lên mặt, mãi mãi ghi lại sự thực trong quá khứ, hễ nhắc tới sẽ khiến tôi nhớ lại đủ chuyện trước đây. Tựa hồ trong thế giới trẻ thơ ấy tôi đã phạm tội, bị thích chữ đày đến xã hội người lớn này, như “thích chữ sung quân” vậy. Hình phạt lưu đày vô thời hạn tuy khiến tôi không còn hy vọng trở về nguyên quán, nhưng nhờ có vết xăm vàng trên mặt, tôi vẫn có thể hồi tưởng chuyện xưa, lần tìm giấc mộng quê đẹp đẽ! Xanh rủ xuống người qua(∗) MẸ TÔI N hà văn hóa Trung Quốc nhờ tôi viết một bài về mẹ, gửi kèm một bức ảnh mẹ tôi. Ảnh thì tôi có một bức chân dung chừng 4 inch, vẫn treo đối diện với bàn làm việc. Đã có tấm phóng to treo trong phòng, thì gửi tấm nhỏ đi cũng được. Nhưng bài viết về mẹ phải kể từ đâu đây? Ngắm chân dung mẹ, tôi lại nhớ tới dáng mẹ ngồi. Thuở bà còn tại thế, không có bức ảnh ngồi nào cả, nhưng tư thế ngồi của bà đã in sâu vào tấm phim trong đầu tôi, chỉ chưa rửa ra mà thôi. Nay đành dùng bút mực thay thuốc hiện hình và thuốc hãm hình, rửa ra dáng ngồi của mẹ tôi: Mẹ ngồi trên ghế bát tiên ở góc Tây Bắc nhà cũ của chúng tôi, ánh mắt nghiêm nghị, miệng cười hiền hòa. Ghế bát tiên trong góc Tây Bắc nhà cũ là chỗ ngồi quen thuộc của mẹ. Từ khi tôi còn nhỏ tới mấy tháng trước lúc mẹ qua đời, hễ rảnh mẹ lại ngồi đó, dù đó là một chỗ ngồi rất không thoải mái: nhà cũ của chúng tôi là một căn nhà lầu ba gian, bên phải là nhà anh họ tôi, bên trái là nhà chú tôi, ở giữa chẳng có liếp ván gì ngăn cách, chỉ đặt hai hàng ghế bát tiên làm thành ranh giới chia ba nhà. Thế nên phía sau ghế mẹ tôi ngồi chẳng có gì tựa cả. Nếu là xô pha, ba mặt đệm êm thì phía sau trống không cũng chẳng sao. Hiềm nỗi ghế bát tiên nhà tôi lại bằng gỗ, lưng ghế thẳng đứng, ghép bằng mấy thanh gỗ sơ sài, chỉ cao đến ngang vai người ngồi. Mẹ ngồi không có chỗ tựa đầu, không vững vàng. Sợ chân ghế đặt trên đất sẽ mọt ruỗng, bà còn chèn thêm miếng gỗ cao đến hai, ba tấc bên dưới, khiến ghế cao hẳn lên, mỗi khi ngồi chân không chạm đất, rất bất tiện. Ghế ở góc Tây Bắc là chiếc trong cùng bên trái, phía trong là cửa dẫn sang nhà sau. Bên trong nhà sau là bếp. Mẹ ngồi trên ghế nhìn vào là thấy được bếp lò. Nếu có gió từ bên trong thốc ra, tro bếp và mùi dầu mỡ sẽ ám cả lên người mẹ, rất mất vệ sinh. Trước nhà, cách một khoảng giếng trời rộng chừng ba, bốn thước là cổng. Bên ngoài là phường nhuộm nhà tôi. Ngồi trên ghế nhìn ra, mẹ sẽ trông thấy khách khứa tấp nập qua lại, nghe thấy tiếng huyên náo rầm trời ngoài phố, ồn ào hết sức. Nhưng ngồi trên ghế bát tiên ở góc Tây Bắc nhà cũ không vững vàng, không tiện lợi, mất vệ sinh lại ồn ào như thế, bà vẫn cười hiền hòa với ánh mắt nghiêm trang. Sao bà cứ phải ngồi ở chỗ không thoải mái làm vậy? Vì trong nhà tôi, chỗ này là quan trọng nhất. Ngồi đó bà có thể vừa trông bếp, lại vừa trông cửa hàng. Vì phải quản lý cả trong lẫn ngoài, nên mẹ cũng chẳng để tâm xem chỗ ngồi có vững vàng không, tiện lợi không, mất vệ sinh không, yên tĩnh không nữa. Năm tôi lên bốn, cha đỗ cử nhân, cùng năm ấy bà nội mất, cha chịu tang tại nhà, thường rầu rĩ không vui, lấy thơ rượu giải sầu, bỏ mặc việc nhà, hết đại tang thì khoa cử cũng bỏ, từ bấy cha tôi ở ẩn. Suốt thời gian ấy việc nhà việc cửa hàng, việc trong việc ngoài đều dồn cả lên mẹ tôi. Từ phòng học đi ra, bao giờ tôi cũng chạy đến bên mẹ đang ngồi trên chiếc ghế ở góc Tây Bắc, xin mẹ đồng quà tấm bánh. Bà cười âu yếm, gỡ chiếc làn “đói chết mèo” treo trên đầu ghế lấy bánh cho tôi ăn, ánh mắt nghiêm trang, khen tôi vài câu. Tôi lên chín thì cha bỏ lại mẹ và sáu chị em tôi, mấy mẫu ruộng cằn và xưởng nhuộm mà qua đời. Trách nhiệm lo liệu trong ngoài oằn lên vai mẹ. Từ ấy bà càng phải ngồi lâu trên chiếc ghế kia. Giúp việc thường đến ngồi ở băng ghế phía trong, nói chuyện nhà với mẹ; người làm ở cửa hàng hay ra ngồi ở dãy ghế bên ngoài, nói chuyện cửa hàng với mẹ; bạn bè của cha hay thân thích láng giềng hay ngồi ở ghế đối diện, chuyện vãn hoặc bàn bạc với mẹ. Tôi từ trường về nhà, cũng đi thẳng tới ghế góc Tây Bắc, xin mẹ một xu. Có lúc cả bốn thành phần ấy đồng thời kéo đến, khiến mẹ phải tất bật tiếp đón, đưa ánh mắt nghiêm trang ra lệnh, cảnh cáo hoặc điều đình, đồng thời tủm tỉm cười hiền hậu để khuyến khích, vỗ về hoặc xã giao. Nhìn mãi quen mắt, tôi cứ ngỡ như mẹ bẩm sinh đã ngồi trên chiếc ghế ấy rồi, lúc nào cũng có bốn nhóm người như thế quanh quẩn bên bà. Mười bảy tuổi tôi rời mẹ, đi học ở xa. Lúc lên đường, mẹ nghiêm trang nhìn tôi, dặn dò đủ điều về đối nhân xử thế học hành lập thân, miệng vẫn cười hiền hòa, lo cho tôi đủ chuyện vụn vặt trong ăn uống sinh hoạt. Mẹ chuẩn bị học phí, sắp xếp hành lý cho tôi, làm cho một hộp bún xào mỡ heo, cất vào làn lưới; còn mắc cho hẳn một bảng điện nhỏ, bên trên cắm hai sợi dây dẫn, nhét vào vali, rồi tiễn tôi ra cổng. Nghỉ hè về thăm nhà, vừa bước vào cửa, tôi đã thấy mẹ ngồi trên ghế bát tiên ở góc Tây Bắc. Bà cười hiền hậu đón tôi về nhà, nghiêm nghị hỏi han tình hình học hành. Tối hôm ấy mẹ đích thân xuống bếp, làm vài món tôi thích, ngồi dưới ánh đèn, bà lại gặng hỏi cặn kẽ cuộc sống của tôi ở trường, đồng thời khuyến khích, răn dạy hoặc trách móc. Hai mươi hai tuổi tốt nghiệp, tôi không chịu về bám váy mẹ mà khăng khăng đi xa làm, chỉ lúc nghỉ mới về nhà. Mỗi lần trở về, vẫn thấy mẹ ngồi trên chiếc ghế góc Tây Bắc, ánh mắt nghiêm trang mà """