"Sang Chấn Tâm Lý - Hiểu Để Chữa Lành - M.D Bessel Van Der Kolk full mobi pdf epub azw3 [Best Seller] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Sang Chấn Tâm Lý - Hiểu Để Chữa Lành - M.D Bessel Van Der Kolk full mobi pdf epub azw3 [Best Seller] Ebooks Nhóm Zalo THÔNG TIN EBOOK Tên sách Sang Chấn Tâm Lý - Hiểu Để Chữa Lành Nguyên tác The Body Keeps the Score: Brain, Mind, and Body in the Healing of Trauma Tác giả Bessel Van Der Kolk, M.D Dịch giả Lê Phan Như Quỳnh Thể loại Y Học, Điều Trị, Tâm Lý Học Phát hành SAIGONBOOKS Nhà Xuất Bản NXB Thế Giới NXB Thế Giới Ebook 2022 kindlekobovn —★— LỜI GIỚI THIỆU Xin chào các bạn độc giả đang cầm cuốn sách này trên tay. Dù bạn là một nhà chuyên môn trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần con người (bác sĩ chuyên khoa tâm thần, bác sĩ đa khoa, điều dưỡng, nhân viên y tế, chuyên gia tâm lý, người làm công tác xã hội, người tu hành,...) hay bạn là người đang chịu đựng những tổn thương mỗi ngày do những sang chấn trong quá khứ hay khổ đau trong hiện tại, thì cuốn sách này đều hữu ích cho bạn trong việc thấu hiểu tâm trí của con người và của chính mình. Cuốn sách không chỉ đề cập đến vấn đề của người trưởng thành mà còn đề cập đến những tổn thương và sang chấn mà trẻ em phải chịu đựng nên sách cũng rất hữu ích cho các bậc phụ huynh muốn đồng hành cùng con trên bước đường phát triển. Tác giả của cuốn sách sang chấn tâm lý – hiểu để chữa lành là Tiến sĩ Y khoa Bessel Van Der Kolk, Bác sĩ chuyên khoa tâm thần, Giáo sư Tâm thần học của Trường Y Đại Học Boston đồng thời là Nhà sáng lập Trung tâm Điều trị Sang chấn (Trauma Center) tại Brookline, Massachusetts. Ông có nhiều năm làm việc và nghiên cứu trong lĩnh vực điều trị bệnh tâm thần, đặc biệt là điều trị stress do sang chấn ở người lớn và trẻ em. Sang chấn tâm lý – hiểu để chữa lành là một công trình khoa học công phu và nghiêm túc, trải rộng trên nhiều lĩnh vực – tâm lý học thần kinh, tâm lý học phát triển, tâm bệnh học, tâm lý trị liệu - \được đúc kết sau nhiều năm kinh nghiệm làm việc của chính tác giả, và dựa trên những câu chuyện có thật của các bệnh nhân mà tác giả có dịp tiếp xúc hoặc chữa trị. Cuốn sách được cấu trúc thành năm phần: Phần I – Tái khám phá sang chấn: Quá trình tìm hiểu và hình thành những hiểu biết khoa học về Stress do sang chấn nói riêng và Sức khỏe tâm thần nói chung, bắt nguồn từ những khám phá ban đầu về stress do sang chấn ở các cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Phần II - Khám phá bộ não bị sang chấn: Bao gồm những kết quả nghiên cứu của khoa học thần kinh và hình ảnh học thần kinh, giúp chúng ta hiểu được mối liên hệ giữa não bộ với tâm lý – tâm thần ở con người. Phần III - Tâm trí trẻ thơ và Phần IV - Dấu ấn của sang chấn: Mô tả những ảnh hưởng của sang chấn lên trẻ em và người trưởng thành. Phần V - Con đường hồi phục: Mô tả con đường hồi phục của những người bị stress do sang chấn, thông qua các phương pháp trị liệu và tự chữa lành. Ngoài ra, trong phần phụ lục tác giả còn cung cấp nhiều thông tin hữu ích về những tiêu chí được cập nhật để chẩn đoán Rối loạn phát triển do sang chấn, và các tổ chức cung cấp nguồn thông tin hữu ích cũng như hỗ trợ việc điều trị stress do sang chấn. Qua mười tám năm hành nghề bác sĩ chuyên khoa tâm thần trẻ em và người lớn, tôi học hỏi được rất nhiều từ thân chủ cũng như bệnh nhân của mình. Tôi may mắn khi có thể đồng hành cùng họ trong quá trình tự chữa lành, vượt qua tổn thương, tháo bỏ rào cản để có thể bộc lộ và phát triển những tiềm năng của bản thân. Khi đọc quyển sách này, tôi đã tìm được rất nhiều điểm tương đồng giữa mình với tác giả. Tôi trân trọng cách nhìn của ông về những người có nỗi đau tinh thần như là người cần được hỗ trợ chứ không phải con bệnh, bởi lẽ, ai trong chúng ta cũng có thể phải đối diện với những khổ đau đó trong kiếp nhân sinh. Đây là cuốn sách rất đáng đọc dành cho các bác sĩ tâm thần trẻ em và nhà trị liệu tâm lý trẻ em vì xuyên suốt quyển sách là những minh chứng khoa học cụ thể và chi tiết về Rối loạn phát triển do sang chấn, giúp cho nhà chuyên môn có thể có một tài liệu quý giá để tránh chẩn đoán sai sót. Những ai thường xuyên làm việc với trẻ em cũng có thể tìm thấy thông tin hữu ích từ quyển sách này để hiểu thêm về tâm hồn trẻ thơ, và từ đó chúng ta có thể chung tay ngăn chặn Rối loạn phát triển do sang chấn ở trẻ em tại Việt Nam. Các kiến thức được cập nhật trong sách cũng là tiền đề cho những tiêu chuẩn chẩn đoán mới cho stress sau sang chấn. Trong một lần có duyên may gặp gỡ quyển sách này, tôi đã rất muốn giới thiệu với độc giả trong nước, và Saigon Books đã trở thành cầu nối tuyệt vời để cuốn sách về tâm lý học bán chạy nhất trên Amazon được xuất bản tại Việt Nam. Tôi rất trân trọng và cám ơn tâm huyết của tập thể Saigon Books đã dành cho quyển sách. Tôi xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả cuốn sang chấn tâm lý – hiểu để chữa lành. Một quyển sách tuyệt vời để có thể thấu hiểu tâm hồn con người, hiểu được bản chất của sang chấn tâm lý và cách thức chữa lành. - Lâm Hiếu Minh Bác sĩ chuyên khoa II LỜI MỞ ĐẦU Đối mặt với sang chấn tâm lý Ai cũng có thể bị sang chấn tâm lý, kể cả tôi, bạn, người thân, bạn bè, đồng nghiệp của bạn,... Sang chấn không chỉ để lại những dấu vết trong tâm hồn, cảm xúc của chúng ta mà còn ảnh hưởng đến cả cơ thể, hệ thống miễn dịch. Ngoài ra, sang chấn không chỉ ảnh hưởng đến những người trực tiếp chịu đựng nó mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh. Những người lính trở về từ chiến trường thường làm gia đình họ khiếp sợ vì sự nổi giận vô cớ, lạnh lùng, khép kín. Vợ của những người đàn ông bị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) thường có xu hướng bị trầm cảm. Con của những người mẹ trầm cảm có nguy cơ cảm thấy bấp bênh và sợ hãi nhiều điều khi lớn lên. Một đứa trẻ thường xuyên chứng kiến cảnh bạo lực trong gia đình hoặc bị cha mẹ bạo hành thì khi lớn lên trẻ sẽ khó tạo dựng những mối quan hệ bền vững, tin cậy. Theo định nghĩa, sang chấn tâm lý thường rất khó chịu đựng và vượt qua. Phần lớn các nạn nhân bị cưỡng hiếp, những người lính, trẻ em từng bị lạm dụng tình dục thường rất đau khổ khi nhớ lại những ký ức kinh hoàng và luôn cố đẩy chúng ra khỏi tâm trí, cố tỏ vẻ như chuyện kinh khủng ấy chưa hề xảy ra và ráng tiếp tục sống. Phải gắng lắm họ mới có thể sống tiếp vì phải đeo mang ký ức hãi hùng cùng nỗi nhục nhã khi thấy mình thật yếu đuối và dễ bị tổn thương. Dù tất cả chúng ta đều muốn vượt qua những nỗi đau nhưng phần não bộ dành cho việc duy trì sự sống của chúng ta (nằm sâu phía dưới phần não bộ lý trí) lại không giỏi phủ nhận cho lắm. Dù trải nghiệm thương đau đã xảy ra rất lâu thì bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nhỏ nào cũng có thể kích động những mạch não bộ bị tổn thương, khiến chúng tiết ra một lượng hormone của stress vô cùng lớn gây ra cảm giác vô cùng khó chịu, thúc đẩy những hành vi mất kiểm soát. Các phản ứng sau sang chấn này rất dữ dội và khó hiểu. Những người bị sang chấn thường mất kiểm soát bản thân và lo sợ rằng bệnh của mình vô phương cứu chữa. Năm 14 tuổi, tôi bắt đầu ấp ủ mơ ước học ngành y. Người nhen nhóm ước mơ này trong tôi chính là người anh họ Michael. Tôi đã say sưa thức thâu đêm nghe anh giải thích về quá trình vận hành phức tạp của gan, cách gan thải những chất bã của cơ thể người và hấp thụ những chất hóa học để giúp cơ thể cân bằng. Cơ thể con người thật kỳ diệu! Khi trở thành sinh viên y, dù nghiên cứu về giải phẫu, tim mạch hay nhi khoa, tôi đều khắc cốt ghi tâm rằng chìa khóa để chữa lành là hiểu được cách thức hoạt động của cơ thể con người. Khi bắt đầu kỳ thực tập tâm lý học, tôi đã sững sờ nhận ra các nhà tâm lý học vẫn còn hiểu biết quá ít về căn nguyên những vấn đề tâm lý của con người mà họ đang tìm cách chữa trị. Liệu một ngày nào đó chúng ta có thể am tường não bộ, tinh thần và tình yêu thương cũng như những cơ chế khác đã cấu thành nên cơ thể chúng ta hay không? Sự ra đời của ba phân ngành khoa học mới gồm thần kinh học (neuroscience), tầm bệnh học phát triển (developmental psychopathology) và sinh học thần kinh học liên cá nhân (interpersonal neurobiology) - đã tạo nên sự bùng nổ kiến thức về những ảnh hưởng của sang chấn, lạm dụng và sự bỏ rơi đối với con người. Hiện nay, chúng ta đã biết rằng sang chấn gây ra những thay đổi về sinh lý học trong cơ thể, những thứ giúp ta cảm nhận được mình đang sống. Những thay đổi này giải thích tại sao các cá nhân bị sang chấn trở nên nhạy cảm hơn đối với những hiểm họa ngay cả khi họ đang tham gia cuộc sống thường ngày. Chúng cũng giúp chúng ta hiểu được vì sao những người bị sang chấn thường liên tục lặp đi lặp lại những hành động nào đó. Chúng ta cũng đã biết những hành vi của người bị sang chấn không phải là hệ quả của việc sa sút về đạo đức, là dấu hiệu của việc mất lý trí hay nhân cách kém mà là do những thay đổi trong não bộ của họ. Những kiến thức ngày càng sâu rộng về sang chấn giúp chúng ta tìm thấy những phương pháp làm dịu bớt hoặc thậm chí điều trị được sang chấn. Chúng ta đã phát triển những phương pháp tận dụng tính khả biến tự nhiên của não bộ để giúp những người bị sang chấn cảm thấy mình đang sống thật sự trong hiện tại và tiếp tục cuộc sống của mình. Có ba lộ trình điều trị cơ bản: 1) giải quyết từ ngọn, tức trò chuyện, kết nối lại với những người khác, cho phép bản thân nhận biết và hiểu điều gì đang xảy ra với mình trong lúc đang xử lý những ký ức đau thương, 2) dùng thuốc ngăn chặn những phản ứng không phù hợp hoặc dùng những công nghệ khác giúp thay đổi cách não bộ sắp xếp thông tin, 3) giải quyết từ gốc, nghĩa là cho phép cơ thể có những trải nghiệm sâu sắc và tự nhiên trái ngược với cảm giác bất lực buông xuôi, giận dữ hoặc suy sụp tinh thần do sang chấn. Cách điều trị nào là tốt nhất cho từng bệnh nhân là câu hỏi mang tính thực nghiệm. Phần lớn bệnh nhân của tôi được điều trị bằng việc kết hợp nhiều phương pháp. Tôi đã xác định sự nghiệp suốt đời của mình là điều trị cho những bệnh nhân bị sang chấn. Tôi đã thành lập Trung tâm Điều trị Sang chấn (Trauma Center) 30 năm trước. Các đồng nghiệp, tôi và các học trò của tôi đã cùng nhau chữa trị cho hàng ngàn bệnh nhân trẻ em và người lớn bị sang chấn. Họ là nạn nhân của bạo hành khi còn bé, thiên tai, chiến tranh, tai nạn, nạn buôn người, bị người thân hoặc người lạ hãm hiếp. Ngoài nhiệm vụ chính là điều trị, chăm sóc những người bị sang chấn ở nhiều lứa tuổi, chúng tôi còn không ngừng nghiên cứu ảnh hưởng của stress do sang chấn đối với những đối tượng khác nhau, tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả cho từng đối tượng. Những thử thách chúng tôi cần vượt qua chính là trả lời được những câu hỏi như làm sao con người có thể kiểm soát được dư âm của sang chấn trong quá khứ và làm chủ được chính mình? Việc trò chuyện, thấu hiểu và kết nối giữa con người với nhau giúp ích rất nhiều, và các loại thuốc có thể xoa dịu hệ thống báo động. Nhưng chúng ta cũng sẽ thấy rằng, ta có thể biến đổi những ảnh hưởng sâu sắc của quá khứ bằng cách có những trải nghiệm thể chất đối lập trực tiếp với cảm giác bất lực, giận dữ và gục ngã có liên quan đến nỗi đau. Những trải nghiệm này có thể giúp bệnh nhân trở lại làm chủ được bản thân. Tôi không đặc biệt yêu thích phương thức điều trị nào vì không có phương pháp nào có thể áp dụng cho tất cả bệnh nhân. Những phương pháp chữa trị được giới thiệu trong cuốn sách này đều đã được áp dụng thực tế trên bệnh nhân. Hiệu quả của mỗi phương pháp còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất của sang chấn, đặc điểm riêng của bệnh nhân. Cuốn sách này vừa là tài liệu hướng dẫn vừa là lời động viên những ai đang bị sang chấn hãy dám đối mặt với vết thương của mình, tìm cách chữa trị hiệu quả và cam kết với bản thân sẽ chung tay cùng xã hội ngăn chặn những sang chấn. - Tiến sĩ Y khoa Bessel Van Der Kolk PHẦN I TÁI KHÁM PHÁ SANG CHẤN Chương 1 NHỮNG BÀI HỌC TỪ CỰU CHIẾN BINH MỸ THAM CHIẾN TẠI VIỆT NAM Tôi đã trở thành tôi như ngày hôm nay từ tuổi mười hai, vào một ngày lạnh lẽo, ảm đạm mùa đông năm 1975... Thời đó lâu lắm rồi, nhưng tôi biết những gì người ta nói về quá khứ đều là sai lầm. Bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra tôi vẫn đang nhòm vào cái lối nhỏ hoang vắng đó suốt hai mươi sáu năm qua. Khaled Hosseini, The Kite Runner (Người đua diều) Một số mảnh đời trôi qua như đã được định trước; còn đường đời của tôi lắm lúc dừng rồi lại chạy. Đó là hệ quả của nỗi đau. Nó làm gián đoạn câu chuyện... Nó chỉ đơn thuần xảy đến mà thôi, và rồi cuộc sống lại tiếp diễn. Không ai có thể chuẩn bị cho bạn để đối mặt với nó cả. - Jessica Stern, Denial: A Memoir of Terror (Sự phủ nhận: Một ký sự hãi hùng) Năm 1989, vào ngày đầu tiên tôi làm việc với vai trò bác sĩ tâm thần tại Bộ Cựu chiến binh (Veteran Administration – VA) tại Boston (Mỹ), khi tôi đang treo bức tranh chép yêu thích của danh họa Breughe “The Blind Leading the Blind” (Người mù dắt người mù) lên tường trong phòng làm việc thì nghe có tiếng ồn ào ở phía cuối hành lang. Lát sau, một người đàn ông to lớn mặc bộ quần áo xộc xệch, hoen ố, tay cắp tờ tạp chí Soldier of Fortune (Chiến binh may mắn), mặt mày cau có, người đầy mùi rượu xuất hiện. Tôi mời ông ngồi xuống và hỏi ông cần giúp gì. Ông kể rằng mình tên Tom, hiện là luật sư, 10 năm trước từng là lính thủy quân lục chiến tham chiến tại Việt Nam. Cha của Tom từng phục vụ trong quân đội trong Thế chiến thứ hai và luôn kỳ vọng Tom sẽ tiếp nối con đường binh nghiệp của gia đình. Sau khi tốt nghiệp trung học vào năm 1965, Tom gia nhập lực lượng thủy quân lục chiến. Ông rất tự tin tòng quân vì thấy mình khỏe mạnh, thông minh và có tố chất lãnh đạo. Sau đợt huấn luyện cơ bản, ông trở thành thành viên của một đội ngũ sẵn sàng được điều động. Tại chiến trường Việt Nam, ông nhanh chóng lên chức trung đội trưởng, chỉ huy tám lính thủy quân lục chiến khác. Tháng 2/1969, khi kết thúc nhiệm vụ của mình, Tom được giải ngũ danh dự. Ông bay từ Đà Nẵng về Boston, được bố mẹ chào đón tại sân bay. Quay lại Mỹ, ông chỉ muốn bỏ những năm tháng tại Việt Nam lại sau lưng và bắt đầu viết trang đời mới. Ông theo học và tốt nghiệp trường luật, trở thành luật sư, kết hôn với cô người yêu thời trung học và có hai con trai. Chính những bức thư thấm đẫm yêu thương mà cố gửi cho ông trong thời gian ông tham chiến tại Việt Nam đã giúp ông trụ vững nơi chiến trường ác liệt. Công việc luật sư của ông rất thuận lợi. Gia đình ông êm ấm. Tóm lại, dường như ông có cuộc sống bình thường, ổn định mà nhiều người mơ ước, nhưng tất cả thực ra chỉ là lớp vỏ bề ngoài che giấu sự bất ổn thường trực bên trong Tom. Tom nói rằng ông cảm thấy tâm hồn mình đã chết từ lâu, mình không hề bình thường và chỉ đang cố tỏ ra bình thường với hy vọng rằng điều này sẽ giúp ông được trở lại là chính mình như trước khi đến chiến trường Việt Nam. Ông thường xuyên gặp ác mộng với những ký ức rõ mồn một về những ngày tháng dữ dội tại Việt Nam. Khi đã làm chồng, Tom cảm thấy thật khó yêu thương vợ một cách chân thành. Khi đã làm cha, Tom luôn sợ hãi mình sẽ trở nên giống bố mình, tức là thường nổi giận, ít trò chuyện cùng con cái; đôi khi ông còn chê bai chúng không bằng một góc những đồng đội đã khuất của mình. Cuối buổi nói chuyện, tôi hỏi kỹ Tom về những cơn ác mộng ông thường gặp. Ông bảo hay mơ thấy hình ảnh trận phục kích năm nào khi ông mới ở Việt Nam được ba tháng. Giấc mơ ấy tái hiện một buổi chiều xa xưa, khi mặt trời sắp lặn, Tom dẫn đầu đội của mình hành quân ngang qua một cánh đồng lúa, đột nhiên một làn đạn bay ra tới tấp khiến cả đội của Tom ngã gục trong tích tắc, người chết, người trọng thương. Tom đứng như trời trồng, khiếp sợ, tuyệt vọng. Hình ảnh ám ảnh ông nhất chính là chiếc gáy máu me của Alex - người đồng đội, người bạn vô cùng thân thiết. Tom vừa khóc vừa kể về Alex: “Anh ấy là người bạn thực sự duy nhất tôi có”. Alex vốn ở Massachusetts (Mỹ). Tom gặp Alex ngay trong ngày đầu ông đến Việt Nam và hai người lập tức thành bạn. Họ đã có nhiều cuộc trò chuyện tâm đầu ý hợp, từng cùng đọc cho nhau nghe những bức thư nhận được từ quê nhà. Thế nên, trực tiếp chứng kiến Alex chết là điều rất khủng khiếp với Tom. Sau đó, trực thăng đến đưa Tom đi khỏi cánh đồng lúa. Những đêm sau trận phục kích đó, Tom liên tục mơ thấy hình ảnh các đồng đội ngã xuống nước, nghe rõ mồn một tiếng họ gào thét đau đớn. Trước trận phục kích này, Tom là một người bạn trung thành và nhiệt tình, một người tha thiết yếu sự sống, có nhiều ước mơ, mối quan tâm và sở thích. Vậy mà chỉ một khoảnh khắc dữ dội, bị thương trên đồng lúa, Tom gần như hoàn toàn biến thành người khác. Bất kỳ tiếng động, mùi hương, hay hình ảnh nào, ví dụ như pháo hoa, cũng có thể khiến Tom xúc động mạnh, hãi hùng nhớ đến trận phục kích năm nào, rồi nổi điên với những người xung quanh, thậm chí có thể đánh ai đó. Hay có lần đang vui chơi cùng gia đình tại khu vườn của chị gái, đột nhiên ông phát điên vì tiếng ồn ào, cây cối rậm rạp trong vườn, cái nóng mùa hè... khiến ông nhớ đến những ngày tháng ở Việt Nam. Hay khi ở nhà, lúc hai đứa con trai nhỏ nô đùa ồn ào, ông thường cảm thấy khó chịu vô cùng phải lập tức bỏ ra khỏi nhà ngay để không tức điên đến mức đánh đập vợ con. Ông chỉ lấy lại được chút bình tĩnh khi uống say mèm hay phóng bạt mạng trên chiếc mô-tô Harley-Davidson. Đêm xuống, ông không thể ngủ tròn giấc bởi những cơn ác mộng về trận phục kích năm xưa hay khi hình ảnh những đứa trẻ gục chết lũ lượt ùa về. Những Cơn ác mộng này khủng khiếp đến mức khiến ông sợ đi ngủ nên ông thường thức đêm uống rượu, đến lúc mệt quá thì thiếp đi trên ghế sofa. Hai ngày cuối tuần, Tom thường tự nhốt mình suốt trong văn phòng làm việc để uống rượu và ngắm những tấm hình xưa. Tôi có vốn kiến thức kha khá về ác mộng vì từng làm việc trong phòng nghiên cứu giấc ngủ, quan sát chu kỳ ngủ và mơ của con người và từng tham gia viết những đề tài nghiên cứu khoa học về ác mộng. Tôi kê đơn cho Tom một loại thuốc có tác dụng giảm các cơn ác mộng và nếu có thì chúng cũng sẽ bớt phần dữ dội. Tôi hẹn Tom hai tuần sau tái khám. Hai tuần sau, Tom quay lại, tôi vội hỏi ngay rằng thuốc có hiệu nghiệm không. Tom nói ông không uống thuốc. Tôi nén giận, hỏi lý do, Tom nói: “Tôi nhận ra rằng nếu uống thuốc và những cơn ác mộng biến mất, tức là tôi đã bỏ rơi các đồng đội đã khuất của mình. Tôi phải là một đài tưởng niệm sống cho họ”. Tôi sững sờ. Chính sự trung thành của Tom đối với những đồng đội đã mất đang ngăn ông không thể sống cuộc sống của chính mình, cũng như bố của Tom vậy. Những trải nghiệm của hai bố con Tom trên chiến trường đã khiến họ thấy phần đời còn lại của mình không còn quan trọng nữa. Chuyện đó đã xảy ra như thế nào và chúng ta có thể làm gì để cải thiện? Câu chuyện của Tom khiến tôi nhận thấy mình muốn dành cả phần đời còn lại để khám phá những bí ẩn của nỗi đau. Vì sao những trải nghiệm đau thương, đáng sợ lại khiến người ta dính chặt với quá khứ đến vậy? Điều gì đã xảy ra trong tâm trí và não bộ khiến họ mãi bị mắc kẹt ở nơi nào đó mà họ luôn tuyệt vọng cầu mong được thoát khỏi? Việc Tom thấy mình cần phải sống như một minh chứng sống cho những người đồng đội của mình cho tôi thấy rằng ông ấy đang hứng chịu một căn bệnh phức tạp hơn rất nhiều so với việc mang trong mình những kỷ niệm đau thương hay bị rối loạn hóa học trong não bộ – hay những mạch thần kinh kiểm soát nỗi sợ hãi trong não bộ bị thay đổi. Dù Tom là cựu chiến binh đầu tiên tôi gặp trong nghề trị liệu tâm lý, nhưng nhiều chi tiết trong chuyện đời của ông rất quen thuộc với tôi. Tôi lớn lên tại Hà Lan sau chiến tranh, hay chơi đùa trong những tòa nhà từng bị bom dột nát. Bố tôi công khai chống phát xít Đức nên bị đày vào trại tập trung. Bố chưa bao giờ kể tôi nghe những ký ức chiến tranh của ông. Từ bé, tôi đã nhiều lần sững sờ chứng kiến bố bất thình lình nổi trận lôi đình. Những lúc ấy, tôi thường tự hỏi vì sao một người bố từng nhẹ nhàng bước xuống nhà mỗi sáng để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh lại có thể nóng tính đến đáng sợ như vậy? Vì sao một người đã dành cả đời đấu tranh cho công lý xã hội lại cuồng nộ đến thế? Tôi cũng đã chứng kiến những trận lôi đình khó hiểu ở chú mình – người từng bị quân Nhật bắt tại Đông Ấn Hà Lan (nay là Indonesia) và bị đày làm nô lệ khổ sai ở Myanmar. Chú cũng rất ít khi nói về những ký ức này. Mẹ tôi thì lại có những tổn thương từ thời thơ ấu mà tôi không hiểu rõ. Mỗi khi tôi hỏi bà rằng ngày bé của bà như thế nào, bà thường ngất xỉu, rồi sau đó, khi tỉnh lại, bà đổ lỗi cho tôi vì đã làm bà đau khổ. Trong lúc nghe Tom kể chuyện đời ông, tôi tự hỏi liệu chú và cha tôi cũng có những cơn ác mộng và hồi tưởng quá khứ như vậy không? Liệu họ cũng có cảm thấy bị chia rẽ với những người thân yêu và không thể tìm được niềm vui nào trong cuộc sống không? Và vết thương nào thời thơ ấu đang ám ảnh dai dẳng mẹ tôi? Tại Bộ Cựu chiến binh, tôi gặp nhiều cựu chiến binh sẵn sàng nổi cáu đấm tay đùng đùng đến nứt tường hay hung hăng đòi đánh người chỉ vì không hài lòng chuyện nhỏ nhặt nào đó. Tôi vừa sợ hãi vừa tò mò về những cơn thịnh nộ này. Hai đứa con trai nhỏ của tôi cũng hay nổi cơn tam bành khi bị bố mẹ ép ăn rau hay bảo chúng mang tất vào cho ấm chân. Những lúc đó, tôi thấy rất bình thường vì tin rằng khi được giáo dục tốt, lũ trẻ sẽ học được cách làm chủ những nỗi bực bội. Nhưng với những người cựu chiến binh mang nỗi ám ảnh sau chiến tranh kia thì tôi không chắc mình có thể giúp họ lấy lại được kỹ năng tự kiềm chế cảm xúc và hành vi hay không. Tôi đến thư viện y học, cố tìm các sách về chứng loạn thần kinh hậu chiến tranh, choáng váng, căng thẳng thần kinh do chiến đấu... Thật ngạc nhiên là thư viện ở Bộ Cựu chiến binh không hề có cuốn sách nào liên quan chủ đề này! Vậy là hai năm kể từ khi người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, vẫn chưa có ai nghiên cứu về thương tổn thần kinh hậu chiến tranh. Thật may là cuối cùng tôi tìm được cuốn The Traumatic Neuroses of War (Chấn thương thần kinh do chiến tranh) tại thư viện Countway Trường Y Harvard của bác sĩ tâm thần Abram Kardiner được xuất bản năm 1941. Cuốn sách ghi lại những gì tác giả quan sát được từ những cựu chiến binh sau Thế chiến thứ nhất và được xuất bản trong sự mong chờ của rất nhiều binh lính bị cú sốc do đạn trái phá, những người dự đoán mình sẽ tử nạn trong Thế chiến thứ hai. Tác giả Kardiner tường thuật lại những hiện tượng tương tự như tôi đang gặp phải: Sau chiến tranh, những bệnh nhân của ông chìm trong cảm giác vô vọng, họ trở nên xa cách, lãnh đạm dù trước kia họ giao tiếp rất tốt với mọi người. Căn bệnh mà Kardiner từng gọi là “loạn thần kinh sang chấn” (traumatic neuroses) ngày nay được biết đến dưới cái tên “rối loạn stress sau sang chấn” (PostTraumatic Stress Disorder PTSD). Kardiner ghi nhận rằng những người mắc triệu chứng này trở nên luôn cảnh giác và nhạy cảm với những mối đe dọa. Tôi đặc biệt chú ý phần kết luận của ông: “Hạch nhân (hạt nhân của những người có các triệu chứng tâm lý thần kinh là sự rối loạn về mặt cơ thể và chức năng thần kinh”. Nói cách khác, stress sau sang chấn không phải “do bệnh nhân tưởng tượng ra” như ta từng nghĩ mà có một nền tảng sinh lý. Ngay vào thời ấy, Kardiner đã hiểu rằng nguồn gốc của những triệu chứng này là phản ứng của toàn bộ cơ thể bệnh nhân khi trải qua sang chấn ban đầu. Tôi cảm thấy an tâm khi mô tả của Kardiner minh chứng cho những quan sát của tôi, nhưng ông ấy không hướng dẫn tới cách giúp đỡ các cựu chiến binh mắc hội chứng sang chấn. Việc thiếu thốn tài liệu trong lĩnh vực này quả thật gây nhiều khó khăn cho công việc của tôi. Nhưng rồi tôi nhớ lại lời người thầy Elvin Semrad của mình: “Chúng ta chỉ có duy nhất một cuốn sách giáo khoa thực sự, đó là những bệnh nhân! Chúng ta chỉ nên tin vào những gì mình khám phá được từ họ, và từ kinh nghiệm của chính bản thân”. Thầy cũng cảnh báo rằng điều này nghe thật đơn giản nhưng vô cùng khó thực hiện vì con người là bậc thầy mơ mộng và che đậy sự thật. Thầy từng nói rằng: “Nguồn gốc lớn nhất của những nỗi đau của chúng ta đó là những lời nói dối chúng ta tự rỉ tai mình”. Làm việc tại Bộ Cựu chiến binh, tôi sớm nhận ra rằng đối mặt với sự thật khiến người ta đau đớn đến đường nào. Điều này đúng với các bệnh nhân và với cả tôi. Chúng ta không thực sự muốn biết những người lính đã phải trải qua những gì khi đang chiến đấu. Chúng ta không thực sự muốn biết trong xã hội của ta có bao nhiêu trẻ em đã bị lạm dụng và quấy rối tình dục. Chúng ta không thực sự muốn biết trong xã hội của ta có bao nhiêu người đã bạo hành vợ hoặc chồng mình. Chúng ta chỉ muốn tin rằng xã hội ta đang sống vô cùng tốt đẹp, ai cũng cư xử văn minh, gia đình là nơi nương tựa an toàn nhất. Chúng ta muốn tin rằng tội ác chỉ xảy ra ở những nơi hẻo lánh, xa xôi nào đó chứ không phải ngay tại đất nước của chúng ta. Khó khăn lắm chúng ta mới có thể chứng kiến những nỗi đau thương hoặc thừa nhận những bi kịch nào đó. Người bình thường đã như vậy thì có gì khó hiểu khi những người bị tổn thương tâm lý không thể chịu đựng được những ký ức xa xưa, thường dùng thuốc gây nghiện, rượu bia, hay tự làm tổn thương bản thân để tìm quên? Tom và những người bạn cựu chiến binh của ông chính là những người thầy đầu tiên của tôi trong công cuộc tìm hiểu vì sao có nhiều mảnh đời tan vỡ sau những trải nghiệm khốc liệt, và tìm cách giúp họ được “tái sinh”. SANG CHẤN VÀ ĐÁNH MẤT CHÍNH MÌNH Tôi bắt đầu nghiên cứu đầu tiên của mình về sang chấn tại Bộ Cựu chiến binh bằng việc hỏi những người cựu chiến binh các câu hỏi mang tính hệ thống về những gì đã xảy ra với họ ở Việt Nam. Tôi muốn biết điều gì đã đẩy họ đến bước đường cùng, vì sao một số người bị suy nhược trong khi một số khác vẫn có thể tiếp tục sống bình thường sau trải nghiệm ấy. Phần lớn những người đàn ông tôi phỏng vấn cho biết họ đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng khi đầu quân, họ ngày càng gần gũi nhau hơn qua những khóa huấn luyện khắc nghiệt, họ cho nhau xem hình chụp gia đình và bạn gái, họ chịu đựng những thói xấu của nhau, chia sẻ quần áo với nhau, thậm chí có thể kể nhau nghe những bí mật đen tối nhất hoặc xả thân vì những bằng hữu tốt nhất. Với Tom, những ký ức sau trận phục kích trên cánh đồng còn tồi tệ hơn cả chính trận phục kích đó. Phải tận vài tháng sau khi gặp tôi lần đầu, Tom mới đủ dũng khí vượt qua mặc cảm và nhục nhã để kể cho tôi nghe điều này: Chỉ một ngày sau trận mai phục ấy, Tom đã phát điên nên tìm đến một ngôi làng gần đó, giết chết trẻ em, bắn chết một người nông dân vô tội, và hãm hiếp một phụ nữ Việt Nam. Trả thù xong, Tom nghĩ việc quay trở về Mỹ đã không còn ý nghĩa gì nữa. Giờ đây, khi đã làm chồng, làm sao ông có thể đối diện với vợ và nói với cô ấy rằng mình đã hãm hiếp dã man một phụ nữ vô tội năm nào? Khi trông theo con trai chập chững những bước đi đầu đời, làm sao Tom không khỏi nghĩ về đứa trẻ mình đã sát hại năm ấy? Tom đã phải rất dũng cảm và rất tin tưởng tôi mới có thể tiết lộ đoạn quá khứ đen tối này. Có lẽ, Tom đã tìm thấy ở tối hình ảnh người bạn thân Alex. Cái chết của Alex đã khiến phần lương thiện, đáng kính và đáng tin cậy trong Tom cũng chết theo. Những người bị sang chấn từ sự việc nào đó do chính họ hay người khác gây ra thường khó có thể xây dựng những mối quan hệ thân mật. Sau khi trải nghiệm điều kinh khủng nào đó, làm sao bạn có thể tin tưởng chính bản thân hay người khác một lần nữa? Làm sao bạn có thể ân ái với ai đó khi từng bị hãm hiếp tàn bạo? Một trong những điều khó khăn nhất của những người bị sang chấn đó là đối mặt với nỗi hổ thẹn về cách hành xử của mình khi bị sang chấn, dù đó là hành động họ bị sai khiến (ví dụ một người lính được giao nhiệm vụ giết ai đó) hay chủ động làm (ví dụ một đứa bé bị xâm hại tình dục cố gắng làm nguôi giận kẻ đã xâm hại mình). Sarah Haley là một trong những người đầu tiên ghi chép lại hiện tượng này. Trong một bài báo mang tính thúc đẩy to lớn trong việc hình thành chẩn đoán PTSD có tên When the Patient Reports Atrocities" (Khi bệnh nhân tường thuật lại những hành động hung tợn), cô đề cập đến việc nhiều người lính cảm thấy rất khó khăn, thậm chí gần như là không thể kể lại hay lắng nghe về những hành động dã man mà họ và những người lính khác từng làm trong chiến tranh. Trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó, những người bị sang chấn vừa cảm thấy rất khó khăn khi phải chứng kiến hành động dã man của ai đó, vừa phải chịu đựng nỗi mặc cảm vì mình đã làm hoặc đã không làm gì đó trong những hoàn cảnh ấy vì đã quá sợ hãi, phụ thuộc, kích động hay giận dữ. Vài năm sau, tôi bắt gặp hiện tượng tương tự ở những nạn nhân bị lạm dụng tình dục khi còn bé: Hầu hết họ cảm thấy nhục nhã vì đã cố gắng sống và giữ mối quan hệ với kẻ đã lạm dụng tình dục mình. Điều này đặc biệt đúng nếu hung thủ là người mà đứa trẻ rất gần gũi và phụ thuộc vào như cha, chú, ông. Nạn nhân thường bối rối, không rõ mình có thực sự là nạn nhân hay đã tự nguyện tham gia vào cuộc tiếp xúc thể xác nọ. Họ hoang mang giữa tình yêu và nỗi sợ, giữa đau đớn và khoái cảm. Chúng ta sẽ quay lại tình huống khó xử này trong những trang tiếp theo. VÔ CẢM Có lẽ triệu chứng tệ nhất của Tom là bị vô cảm. Ông thật lòng muốn yêu thương gia đình nhưng trái tim ông như thể đã hóa đá, khiến ông cứ muốn xa cách họ. Sự vô cảm này khiến ông thường chỉ cảm thấy tức giận hoặc xấu hổ về bản thân. Nhiều lần soi gương cạo râu, ông không thể nhận ra chính mình. Khi tranh luận trước tòa, ông lắng nghe và quan sát chính bản thân mình, rồi tự hỏi sao mình lại có thể đưa ra những lập luận vững chắc như vậy. Khi thắng kiện, ông giả vờ hài lòng. Khi thua kiện, ông tỏ ra như thể mình đã đoán trước được điều này và tự bỏ cuộc trước khi nó xảy ra. Dù là một luật sư tài năng nhưng ông vẫn luôn cảm thấy như đang trôi nổi lơ lửng giữa không gian vô định. Ông kể rằng thứ duy nhất kéo ông ra khỏi cảm giác vô định này là sự tập trung toàn tâm toàn ý vào một vụ kiện cụ thể nào đó. Tom phải biện hộ cho một tên cướp khỏi án giết người. Trong suốt thời gian theo đuổi vụ kiện, ông hoàn toàn bị hút vào việc phải tìm ra một chiến thuật để thắng kiện. Nhiều đêm ông thức trắng, vắt óc nghĩ suy trăm mưu nghìn kế, như thể đang chuẩn bị cho một trận đánh lớn. Ông cảm thấy tràn trề sức sống, chẳng bận tâm điều gì ngoài vụ kiện, đầu óc không còn chỗ cho những cơn ác mộng. Ấy vậy mà ngay sau khi thắng kiện, ông như thể mất đi toàn bộ năng lượng và động lực. Những cơn ác mộng trở về. Ông lại bất thần nổi những cơn cuồng nộ, dữ dội đến mức phải rồ mô-tô đi thuê nhà nghỉ vì nếu tiếp tục ở nhà thì ông có thể sẽ hành hung vợ con. Nhưng khi ở một mình, Tom vẫn bị bóng ma quá khứ đeo bám, hành hạ, thế nên ông lao vào uống rượu, dùng ma túy, làm việc điên cuồng... Khi lật tờ tạp chí Soldier of Fortune (Chiến binh may mắn), Tom mơ mộng việc trở thành một tay đánh thuê, tham gia vào các cuộc chiến tranh chấp lãnh thổ ở châu Phi. Khi tinh thần phần nào ổn định trở lại, ông rời nhà nghỉ, leo lên mô-tô, phóng bạt mạng về nhà. TẢI SẮP XẾP NHẬN THỨC Tôi bắt đầu một nghiên cứu tại Bộ Cựu chiến binh bằng việc tìm hiểu những cơn ác mộng, nhưng cuối cùng, tôi lại khám phá ra cách sang chấn đã làm thay đổi nhận thức và trí tưởng tượng của con người như thế nào. Người đầu tiên đăng ký tham gia nghiên cứu về ác mộng của tôi là Bill – một cựu lính cứu thương từng chứng kiến nhiều sự kiện khốc liệt tại Việt Nam mười năm về trước. Sau khi giải ngũ, ông theo học ở một trường dòng đào tạo thần học, và đã được chỉ định giáo xứ đầu tiên của mình trong một nhà thờ thuộc Giáo đoàn ở ngoại ô thành phố Boston. Ông kết hôn với một y tá. Cuộc sống và công việc của Bill đều bình thường cho đến khi vợ chồng ông có con đầu lòng. Vào ngày đầu tiên vợ đi làm lại sau sinh, ông phải ở nhà chăm sóc con thơ một mình, khi đứa bé gào khóc dữ dội, những ký ức khủng khiếp về những đứa trẻ đang thoi thóp ở Việt Nam năm nào ùa về tâm trí ông, khiến ông sốc nặng. Bill phải gọi điện thoại bảo vợ về nhà gấp để thay ông chăm sóc con, còn ông hoảng loạn lao đến Bộ Cựu chiến binh. Ông nói với các bác sĩ rằng ông liên tục nghe thấy tiếng trẻ con gào khóc và trông thấy những khuôn mặt trẻ thơ cháy xém hay đầy máu me. Những đồng nghiệp của tôi nghĩ rằng Bill “bị tâm thần”, vì sách vở thời ấy nói rằng ảo giác âm thanh và hình ảnh là những triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt thể paranoid. Bill có triệu chứng này có thể vì cảm giác vợ đã không còn dành toàn bộ tình yêu cho mình từ khi có con. Hôm ấy, khi tôi đến thì thấy các bác sĩ lo lắng vây quanh Bill, chuẩn bị tiêm cho ông một liều thuốc chống loạn thần cường độ mạnh rồi đưa ông vào khu cách ly. Họ miêu tả những triệu chứng của Bill cho tôi nghe và hỏi ý kiến của tôi. Tôi thấy chẩn đoán “bị tâm thần” dường như có gì đó không ổn. Tôi hỏi Bill xem tôi có thể nói chuyện với ông không, ông đồng ý. Sau khi lắng nghe câu chuyện của ông, tôi bất giác diễn giải lời của vị bác sĩ thần kinh và tâm lý người Áo Sigmund Freud, người sáng lập trường phái Phân tâm học, từng nói về sang chấn vào năm 1895, tôi nói với Bill: “Tôi nghĩ anh đang bị những ký ức dày vò”. Tôi nói với Bill rằng tôi sẽ cố gắng giúp ông. Sau khi kể cho ông ít thuốc giúp ổn định cảm xúc, tôi hỏi ông có muốn quay lại sau vài ngày nữa để tham gia nghiên cứu về những cơn ác mộng của tôi không. Ông đồng ý. Một phần của nghiên cứu này là bài trắc nghiệm Rorschach rất độc đáo mà người tham gia hầu như không thể nói dối: nhìn vào bức hình một vết mực và cho biết họ liên tưởng điều gì. Bài kiểm tra này giúp ta biết được cách tâm trí của ai đó vận hành, tức là cách họ xây dựng hình ảnh trong tâm trí từ một kích thích vô nghĩa là một vết mực. Con người là sinh vật tự tạo ra ý nghĩa, nghĩa là khi nhìn thấy vết mực, ta sẽ có xu hướng liên tưởng đến một hình ảnh hay một câu chuyện nào đó, tương tự như ta nằm trên bãi cỏ, ngắm mây trời và tưởng tượng đủ thứ hình thù. Bài trắc nghiệm gồm hai bức hình vết mực, một bức trắng đen và một bức có màu vốn sẽ gây ra cảm giác sốc màu. Khi Bill trông thấy tấm hình có màu, ông kinh hãi thốt lên: “Đây là đứa trẻ bị nổ tung mà tôi từng thấy khi ở Việt Nam. Ở giữa hình chính là máu, là da thịt bị cháy xém”. Bill thở gấp gáp, trán lấm tấm mồ hôi, càng lúc càng hoảng loạn. Rõ ràng Bill đang nhìn thấy hình ảnh ông bất lực ôm trên tay một em bé đang thoi thóp cách đây mười năm, đang ngửi thấy những mùi vị chiến tranh, đang có những cảm xúc mãnh liệt giống y như ngày ấy. Bill đang sống lại cơn đau tâm lý năm xưa chỉ vì trông thấy một vết mực. Những biểu hiện của Bill giúp tôi nhận ra rõ hơn những nỗi đau đớn thường xuyên ám ảnh các cựu chiến binh như thế nào và hiểu rằng nhất định phải tìm ra cách giúp họ quay lại cuộc sống bình thường. Họ không biết khi nào những ký ức khủng khiếp lại sống dậy và khi nào chúng mới vĩnh viễn ngủ yên. Tôi đã dành nhiều năm tìm hiểu về cách hiệu quả nhất để đối phó với những hồi tưởng. Bill chính là một trong những người thầy quan trọng nhất của tôi trong hành trình nghiên cứu cam go ấy. Khi cho thêm 21 cựu chiến binh xem bức hình vết mực có màu, 16 người có cùng phản ứng như nhau, họ hoảng loạn mô tả lại những hình ảnh đau thương trong chiến tranh: “Đây là lục phủ ngũ tạng của Jim bạn tôi khi bị vỏ bom xé toạc bụng”, “Đây là cái cổ bị bắn nát của Danny bạn tôi khi chúng tôi đang cùng ăn trưa”. Không ai trong số 16 người này liên tưởng đến hình người nhảy múa, con bướm, người ngồi xe mô-tô, những thứ vốn là liên tưởng của người bình thường. Đáng lo hơn, 5 người còn lại không biểu lộ cảm xúc gì trên mặt, họ nói: “Đây chẳng là gì cả”, “Chỉ là một vết mực thôi”. Tất nhiên họ đúng, nhưng phản ứng bình thường của con người đối với những kích thích mơ hồ là dùng trí tưởng tượng của mình để “khoác” ý nghĩa cho những đối tượng kích thích ấy. Nghĩa là, nếu nhìn vết mực, một người bình thường sẽ lập tức tưởng tượng về hình thù gì đó, một con bướm chẳng hạn. Vì thế, 5 người thấy vết mực chỉ là vết mực là những người rất không bình thường. Kết quả bài trắc nghiệm Rorschach giúp ta biết những người chịu sang chấn có xu hướng áp đặt nỗi đau của họ lên mọi thứ xung quanh và rất khó giải nghĩa được những sự vật hiện tượng xảy ra quanh họ. Chúng ta cũng biết được rằng sang chấn có ảnh hưởng đến trí tưởng tượng, khiến nó trở nên nghèo nàn, mất tính linh hoạt. Não bộ của 5 người nhìn vết mực chỉ thấy vết mực tức là họ đã mất khả năng tưởng tượng, vui đùa. Nhưng 16 người nhìn vết mực ra những hình ảnh trong quá khứ thì chứng tỏ rằng tâm lý họ không còn tính linh hoạt, họ đơn giản chỉ đang tua đi tua lại một cuộn phim cũ. Trí tưởng tượng vô cùng quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của chúng ta vì nó cho phép chúng ta tạm rời khỏi công việc hằng ngày để mơ mộng đến những điều khiến cuộc sống ta thú vị, phong phú và nhiều màu sắc hơn, đi du lịch đến những nơi tuyệt đẹp, thưởng thức các món ăn ngon, có được tình yêu lãng mạn. Trí tưởng tượng giúp ta mường tượng ra những khả năng mới, vốn là động lực thiết yếu để ta biến những ước mơ thành sự thật. Nó khơi nguồn sáng tạo, làm khuây khỏa cơn buồn chán, xoa dịu nỗi đau, nâng cao khoái lạc và thắt chặt những mối quan hệ thân mật nhất của chúng ta. Khi con người liên tục và miễn cưỡng bị lôi trở về quá khứ, trở về thời điểm cuối cùng họ cảm thấy mình có đóng góp tích cực cùng những xúc cảm sâu sắc, họ không còn trí tưởng tượng, tâm trí không còn linh hoạt nữa. Không có trí tưởng tượng đồng nghĩa với không có ước mơ, không có cơ hội để hình dung ra một tương lai tươi sáng hơn, không còn nơi để về hay ao ước đến. Bài trắc nghiệm Rorschach cũng cho chúng ta thấy những người bị sang chấn nhìn cuộc đời qua các lăng kính khác với những người khác. Với nhiều người, một người đàn ông đang đi trên đường có thể chỉ là ông ta đang tản bộ hóng mát, nhưng một cô gái từng bị hãm hiếp thì có thể nghĩ rằng ông ta sắp sấn đến sàm sỡ mình, thế nên cô bắt đầu hoảng loạn. Một giáo viên nghiêm khắc có thể chỉ là đáng sợ đối với những đứa trẻ bình thường, nhưng với một đứa trẻ hay bị bố dượng đánh đập thì người giáo viên đó có thể là hiện thân của người tra tấn, từ đó trẻ có thể hoảng loạn, nổi cáu, hoặc sợ hãi đến mức co rúm vào một góc. MẮC KẸT TRONG NỖI ĐAU Phòng khám của chúng tôi lúc nào cũng đông nghẹt các cựu chiến binh ở chiến trường Việt Nam đang muốn được trợ giúp về mặt sức khỏe tâm thần. Song, vì đội ngũ bác sĩ có trình độ quá ít ỏi nên các bệnh nhân thường phải nằm trong danh sách chờ, dù ngày ngày họ vẫn đang tự làm khổ mình và người thân. Khi thấy ngày càng nhiều cựu chiến binh tự tử, bị bắt giữ vì ẩu đả lúc say xỉn, tôi đã xin phép tổ chức các nhóm sinh hoạt ngay tại phòng khám dành cho các cựu chiến binh trẻ để trợ giúp họ tạm thời trong khi chờ đợi được chữa trị “thật sự”. Tại buổi gặp mặt đầu tiên của nhóm các cựu thủy quân lục chiến, một người thẳng thừng tuyên bố: “Tôi không muốn nói về cuộc chiến”. Tôi trả lời rằng các thành viên có thể thảo luận bất cứ điều gì họ muốn. Mọi người im lặng suốt ba mươi phút, cuối cùng, một cựu chiến binh bắt đầu kể về tai nạn máy bay trực thăng của mình. Thật ngạc nhiên, nghe xong chuyện, những người còn lại liền sôi nổi kể về những trải nghiệm đau thương của họ. Vào những tuần sau đó, các thành viên đều đến sinh hoạt đều đặn vì tìm thấy sự cộng hưởng và vơi bớt cảm giác sợ hãi, trống rỗng. Tại nhóm, họ cảm nhận được tình bằng hữu như thể khi còn chinh chiến. Với họ, nhóm này như một đơn vị chiến đấu và khẳng khẳng muốn tôi trở thành một phần của đơn vị này, vì thế, vào sinh nhật tôi, họ tặng tôi một bộ đồng phục của thuyền trưởng hải quân. Hành động này của họ gửi đến tối tín hiệu: hoặc là tham gia đơn vị hoặc đi chỗ khác chơi và chúng ta chẳng có quan hệ gì với nhau. Sau những trải nghiệm chiến tranh đau thương, họ đã phân con người thành hai nhóm rạch ròi: quen biết và không quen biết. Họ không tin tưởng những người chưa từng cùng họ trải nghiệm giai đoạn đau thương vì cho rằng những người này không tài nào hiểu được những gì họ đã gặp, đã cảm thấy. Điều đáng buồn là trong số những người họ không tin tưởng có cả vợ chồng, con cái, đồng nghiệp. Sau đó, tôi tổ chức nhóm những cựu chiến binh trên 70 tuổi, tức đáng tuổi bố tôi, thuộc đội quân dưới quyền chỉ huy của đại tướng George S. Patton. Chúng tôi thường gặp vào 8 giờ sáng thứ Hai. Ở Boston, mùa đông thường có bão tuyết, giao thông công cộng tê liệt, vậy mà không cựu chiến binh nào vắng mặt, có người còn đi bộ cả quãng đường xa. Vào Giáng sinh, họ tặng tôi một chiếc đồng hồ đeo tay hiệu GI đời 1940 như một “dấu hiệu” tôi là người thuộc nhóm của họ. Khi sinh hoạt nhóm, tôi kêu gọi họ nói về những khó khăn họ đang gặp hằng ngày nếu có, như quan hệ vợ chồng, con cái, ứng phó với sếp, chán nản trong công việc, uống nhiều rượu... Phản ứng thường thấy là họ phản đối gay gắt chủ đề này và chỉ thích kể chuyện đã giết một kẻ địch thế nào hay trực thăng của họ bị bắn rơi ra sao. Dù những sự kiện đó đã xảy ra cách đây 10 năm hay hơn 40 năm thì với họ, chúng vẫn mới nguyên như ngày nào, là toàn bộ ý nghĩa cuộc sống của họ, là thứ duy nhất có thể khiến họ “sống lại”, hào hứng, sôi nổi, tươi tỉnh, xúc động mạnh khi nhớ về. CHẨN ĐOÁN STRESS SAU SANG CHẤN Trong những ngày đầu làm việc ở Bộ Cựu chiến binh, tối và các đồng nghiệp đã liệt các cựu chiến binh vào tất cả các loại chẩn đoán: nghiện rượu, lạm dụng chất gây nghiện, trầm cảm, rối loạn khí sắc, tâm thần phân liệt – và thử mọi phương pháp điều trị đã được học trường lớp, nhưng chẳng mấy hiệu nghiệm. Các loại thuốc mạnh mà chúng tôi kể cho họ thường khiến họ mụ mị đến mức gần như chẳng làm được gì. Khi chúng tôi khuyến khích họ kể chi tiết ký ức đau thương đã trải qua, họ chỉ càng đau đớn thêm chứ chẳng thấy khá hơn. Nhiều bệnh nhân bỏ chúng tôi vì nghĩ chúng tôi đã chẳng giúp được gì mà còn làm cho mọi thứ tồi tệ hơn. Năm 1980 đánh dấu một bước ngoặt trong việc điều trị cho các cựu chiến binh: Một nhóm các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, với sự trợ giúp của các nhà phân tâm học ở New York, Chaim Shatan và Robert J. Lifton, đã vận động thành công Hiệp hội Tâm thần Mỹ (American Psychiatric Association) đưa ra một chẩn đoán mới: rối loạn stress sau sang chấn (PTSD - Post-Traumatic Stress Disorder), mô tả một nhóm các triệu chứng phổ biến, ở mức độ cao hơn hoặc thấp hơn, cho tất cả cựu chiến binh. Với một khung khái niệm vững chắc, PTSD đã khiến chúng tôi thay đổi rõ rệt hiểu biết về các bệnh nhân. PTSD cũng đã mở lối cho nhiều nghiên cứu và nỗ lực tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả. Lấy cảm hứng từ những tiềm năng của chẩn đoán mới này, tôi đề xuất với Bộ Cựu chiến binh một nghiên cứu sinh học về những ký ức sang chấn. Liệu ký ức của những người bị PTSD có khác với những người khác? Với hầu hết mọi người, ký ức của một sự kiện khó chịu nào đó cuối cùng sẽ biến mất hoặc biến thành một điều lành mạnh hơn. Nhưng hầu hết bệnh nhân của chúng tôi không thể xem những gì họ đã trải qua thật sự đã xảy ra cách đây rất lâu. Dòng đầu tiên của thư từ chối như sau: “PTSD chưa bao giờ được ghi nhận là có liên quan đến sứ mệnh của Bộ Cựu chiến binh”. Kể từ đó, tất nhiên nhiệm vụ của Bộ Cựu chiến binh chủ yếu là chẩn đoán PTSD và tổn thương não bộ. Các nguồn lực chính đều đổ vào tìm “phương pháp điều trị dựa trên bằng chứng” cho các cựu chiến binh bị tổn thương. Vì không muốn tiếp tục làm việc trong một tổ chức có quan điểm thực tế quá khác biệt so với chính mình nên tôi đã nộp đơn từ chức. Năm 1982, tôi đảm nhiệm một vị trí tại Trung tâm Sức khỏe Tâm thần Massachusetts (MMHC - Massachusetts Mental Health Center). Trách nhiệm mới của tôi là giảng dạy một lĩnh vực nghiên cứu còn non trẻ: tâm thần dược học, cách sử dụng thuốc nhằm làm thuyên giảm bệnh lý tâm thần. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đối mặt với những vấn đề mà tôi nghĩ mình đã để lại phía sau khi rời khỏi Bộ Cựu chiến binh. Kinh nghiệm làm việc với những cựu chiến binh khiến tôi nhạy cảm với ảnh hưởng của sang chấn đến mức giờ đây tôi có cái nhìn rất khác mỗi khi lắng nghe những bệnh nhân bị trầm cảm hoặc sợ hãi kể chuyện bị xâm hại tình dục hoặc phải hứng chịu bạo lực gia đình. Tôi rất ngỡ ngàng khi gặp rất nhiều nữ bệnh nhân kể rằng mình từng bị xâm hại tình dục khi còn nhỏ bởi chính người ruột thịt. Điều này thật khó hiểu vì những sách giáo khoa về tâm thần học lúc bấy giờ đều ghi nhận rằng loạn luân rất hiếm xảy ra ở Hoa Kỳ, chỉ 1 trường hợp trên 1 triệu phụ nữ°. Lúc bấy giờ ở Hoa Kỳ chỉ có khoảng 100 triệu phụ nữ, tôi tự hỏi làm sao mà có đến gần một nửa trong số 47 nữ bệnh nhân của tôi lại gặp đúng vấn đề này? Hơn nữa, sách giáo khoa nói rằng: “Rất ít người cho rằng loạn luân giữa bố và con gái là nguồn gốc của những bệnh lý tâm thần nghiêm trọng trong tương lai”. Trong khi đó, những bệnh nhân của tôi từng bị xâm hại tình dục khi còn bé khó tránh khỏi “bệnh lý tâm thần trong tương lai” vì hiện giờ, họ vô cùng trầm cảm, hoang mang và thường có những hành vi kỳ lạ tự xâm hại bản thân như tự lấy dao lam của người. Sách giáo khoa thậm chí còn tán đồng nạn loạn luân khi giải thích rằng “Những hành vi như thế làm giảm khả năng mắc chứng rối loạn tâm thần của bệnh nhân và cho phép bệnh nhân điều chỉnh bản thân hòa hợp với thế giới bên ngoài tốt hơn”. Trong khi trên thực tế, loạn luân có ảnh hưởng tồi tệ đến sức khỏe và tâm lý của phụ nữ. Trên nhiều phương diện, các bệnh nhân này không khác những cựu chiến binh trước kia của tôi ở Bộ Cựu chiến binh. Họ cũng có những cơn ác mộng và hồi tưởng. Họ thi thoảng nổi cơn thịnh nộ hay chẳng có cảm xúc gì. Hầu hết họ cảm thấy khó gặp gỡ những người khác và gặp rắc rối khi duy trì những mối quan hệ có ý nghĩa. Giờ thì chúng ta đã biết rằng chiến tranh không phải là tai họa duy nhất tàn phá cuộc đời của con người mà còn có bạo lực, hiếp dâm. Ước tính khoảng 1 số binh lính chinh chiến trên chiến trường sẽ gặp phải những vấn đề hậu sang chấn nghiêm trọng, phần lớn cư dân Mỹ đều trải qua bạo lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời, và những báo cáo chính xác hơn cho thấy hàng triệu phụ nữ ở Mỹ là nạn nhân của hiếp dâm, hơn một nửa trong số đó là bé gái dưới 15 tuổi. Đối với nhiều người, chiến tranh bắt đầu từ trong chính tổ ấm: Hằng năm có khoảng 3 triệu trẻ em Mỹ là nạn nhân của lạm dụng trẻ em và bị bỏ rơi. Một triệu trong số đó là những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và đủ bằng chứng buộc các dịch vụ bảo vệ trẻ em hay tòa án phải can thiệp". Nói cách khác, cứ 1 người lính xả thân trên mặt trận thì có đến 10 trẻ em bị đe dọa trong chính ngôi nhà của mình. Điều này vô cùng bị thương vì trẻ em sẽ rất khó lớn lên và phục hồi nếu nguồn gốc nỗi sợ hãi và nỗi đau của các em không phải do quân thù trên chiến trường gây ra mà do chính những người chăm sóc, nuôi dưỡng các em mang lại. MỘT HIỂU BIẾT MỚI Trong ba năm tiếp xúc và điều trị cho Tom, tôi đã học được rất nhiều kiến thức về tác động và biểu hiện của sang chấn, những cách giúp người bị sang chấn tìm đường quay lại với cuộc sống đời thường. Từ những năm 1990, các công cụ chụp não đã giúp chúng ta thấy những gì thực sự xảy ra bên trong bộ não của những người bị sang chấn, từ đó, ta hiểu những tổn hại do sang chấn gây ra và xây dựng được những phương thức chữa trị mới. Chúng ta cũng đã bắt đầu hiểu những trải nghiệm, đè nén, dằn vặt ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào, về những cảm giác sâu thẳm nhất của chúng ta và mối quan hệ của chúng ta với thực tế vật chất – và rằng chúng ta là ai. Chúng ta biết sang chấn không chỉ là một sự kiện xảy ra trong quá khứ mà còn là dấu ấn của trải nghiệm để lại trong tâm trí, não và cả cơ thể ta. Dấu ấn này gây những hệ quả lâu dài lên cách cơ thể ta cố tìm cách sống sót trong hiện tại. Sang chấn tâm lý dẫn đến việc thay đổi kết cấu nền tảng của cách thức mà tinh thần và não bộ xử lý nhận thức. Nó thay đổi việc chúng ta suy nghĩ như thế nào và về cái gì, thay đổi cả khả năng suy nghĩ của chúng ta. Chúng tôi nhận thấy cần giúp đỡ những nạn nhân của sang chấn tâm lý để họ diễn tả được bằng lời những gì đã xảy ra với họ. Nhưng bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ để chữa lành cho họ. Việc kể lại câu chuyện không phải luôn luôn giúp thay đổi những phản ứng của cơ thể và hormone đang trong tình trạng gia tăng cảnh giác, chuẩn bị tinh thần cho việc sắp sửa bị xâm hại hay tấn công bất cứ lúc nào. Để có được những thay đổi thực sự, cơ thể của người bị sang chấn cần hiểu rõ rằng nguy hiểm đã qua đi và họ phải học cách sống trong hiện tại. Khi cố gắng thấu hiểu về sang chấn tâm lý, tôi đã có một cái nhìn khác về trí óc con người và quá trình chữa lành của nó. Chương 2 CUỘC CÁCH MẠNG TRONG VẤN ĐỀ THẤU HIỂU TÂM TRÍ VÀ NÃO BỘ Hoài nghi càng lớn, thức tỉnh càng to lớn; hoài nghi càng nhỏ, thức tỉnh càng bé nhỏ. Không hoài nghi thì sẽ không bao giờ thức tỉnh. C.-C. Chang, The Practice of Zen (Thực hành Thiền định) Cuộc đời của bạn vô cùng ngắn ngủi, nhưng đó không chỉ là cuộc sống riêng của bạn mà là sự kết hợp của những mảnh đời khác đang sống cùng thời với bạn. Bạn chính là một biểu hiện của lịch sử. Robert Penn Warren, World Enough and Time (Trần gian đủ và Thời gian) Vào cuối thập niên 1960, tôi đã chứng kiến những tiến bộ vượt bậc trong tiếp cận y khoa đối với những tổn thương về mặt tâm thần. Khi chuẩn bị vào năm hai đại học y, tôi tranh thủ làm phụ tá tại một phòng nghiên cứu ở MMHC. Nhiệm vụ của tôi là tổ chức những hoạt động giải trí cho bệnh nhân. MMHC từ lâu được coi là một trong những bệnh viện tâm thần tốt nhất nước Mỹ, một viên ngọc quý trên chiếc vương miện của \đế chế giảng dạy Y khoa Harvard. Mục tiêu của phòng nghiên cứu là xác định liệu pháp tâm lý hay thuốc là cách tốt nhất để điều trị những người trẻ tuổi được chẩn đoán bị tâm thần phân liệt lên cơn suy nhược thần kinh lần đầu tiên. Phương pháp chữa bệnh bằng cách trò chuyện – một nhánh của phân tâm học Freud – vẫn là phương pháp điều trị chính cho các bệnh tâm thần ở MMHC. Tuy nhiên, vào đầu những năm 1950, một nhóm các nhà khoa học Pháp đã phát hiện ra một hợp chất mới: chlorpromazine (tên thương phẩm là Thorazine), có thể “an thần” bệnh nhân, khiến họ bớt kích động, hoang tưởng. Điều này đã thúc đẩy hy vọng rằng ta có thể phát triển các dược phẩm nhằm điều trị các vấn đề nghiêm trọng về tinh thần như trầm cảm, rối loạn hoảng loạn, rối loạn lo âu và hàng cảm, cũng như để kiểm soát một số triệu chứng đáng lo ngại nhất của bệnh tâm thần phân liệt. Vì là phụ tá nên tôi không liên quan gì đến công việc của phòng nghiên cứu và chưa bao giờ được nêu lên ý kiến của mình về phương pháp điều trị cho bệnh nhân. Những bệnh nhân của tôi tuổi chẳng kém tôi bao nhiêu, họ là sinh viên tại các trường đại học như Harvard, MIT và Boston. Có người cố tự sát, có người tự lấy dao lam cắt cơ thể, có người tấn công bạn cùng phòng, có người khiến người thân sửng sốt tột độ vì những hành động khó lường... Công việc của tôi là giữ cho họ tham gia vào các hoạt động bình thường của sinh viên như ăn tại cửa hàng pizza, cắm trại trong rừng, xem bóng chày, du thuyền trên sông. Tôi thường tập trung cao độ trong các buổi trao đổi của các nhân viên phòng nghiên cứu, tôi cố gắng lý giải và hiểu những lời nói của các bệnh nhân. Tôi cũng phải học cách xử lý khi bệnh nhân bột phát cảm xúc, hoặc những lúc họ rụt rè, sợ hãi. Một sáng nọ, tôi bắt gặp một nữ bệnh nhân đứng yên như tượng trong phòng ngủ, mặt mày đông cứng vì sợ hãi, một tay giơ lên như phòng thủ. Cô ấy cứ đứng bất động như thế suốt 12 tiếng. Các bác sĩ cho tôi biết cô ta bị thể căng trương lực. Những sách tôi đã học qua không đề cập cách chữa trị loại bệnh này, thế nên chúng tôi chỉ có thể để mặc bệnh nhân như thế đến khi cô ấy tự ngừng lại. NHỮNG CUỘC TÂM SỰ TRƯỚC BÌNH MINH Tôi ở lại văn phòng làm việc nhiều đêm và cả nhiều ngày nghỉ cuối tuần, nhờ thế mà quan sát và biết được nhiều điều hơn so với các bác sĩ thường chỉ thăm các bệnh nhân chớp nhoáng. Khi bệnh nhân không ngủ được, họ thường mặc áo choàng tắm đi lang thang vào trạm điều dưỡng tối tăm để tìm tôi nói chuyện. Màn đêm im ắng dường như giúp họ cởi mở hơn. Họ kể tôi nghe chuyện họ bị đánh đập, tấn công, hay lạm dụng tình dục bởi bố mẹ, bạn cùng lớp hay hàng xóm. Có người kể tôi nghe về những buổi tối xa xưa, họ sợ hãi nằm trên giường nghe tiếng bố đánh đập mẹ, tiếng chửi bới đe dọa, tiếng đồ đạc trong nhà bị đập vỡ. Có người kể tôi nghe những hôm họ nghe tiếng chân ông bố nát rượu bước vào nhà, rồi lôi họ ra khỏi giường, đánh đập tơi bời vì những lỗi lầm họ không hề mắc phải. Một vài bệnh nhân nữ kể về những đêm tuổi thơ, họ nằm bất động trên giường, mắt thao láo, chờ đợi điều không thể tránh khỏi là bố hay anh trai sẽ bước vào phòng và lạm dụng tình dục họ. Trong những cuộc họp mỗi sáng, các bác sĩ trẻ sẽ trình bày ca bệnh của mình cho vị giám sát nghe, và những nhân viên phụ tá trong khoa nghiên cứu được phép im lặng theo dõi. Các bác sĩ hiếm khi nhắc đến những câu chuyện tôi từng nghe bệnh nhân kể. Tuy nhiên, về sau, có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng một nửa số người tìm kiếm sự chăm sóc về tâm thần là những người từng bị tấn công, bỏ rơi, bỏ mặc, bị hãm hiếp khi còn nhỏ hoặc đã từng chứng kiến hành vi bạo lực trong gia đình'. Nhưng những trải nghiệm đau thương này dường như không được nhắc đến trong những buổi họp ấy. Tôi thường ngạc nhiên khi thấy các đồng nghiệp thản nhiên nhắc đến những triệu chứng của bệnh nhân, thấy họ dành nhiều thời gian để kiểm soát suy nghĩ tự sát và hành vi tự hủy hoại bản thân của bệnh nhân hơn là tìm hiểu nguyên nhân khiến các bệnh nhân tuyệt vọng và buông xuôi. Tôi cũng rất ngỡ ngàng khi thấy người ta quan tâm quá ít đến những thành tựu và khát vọng của họ; những người họ quan tâm, yêu mến, hay thù ghét; điều gì động viên và thúc đẩy họ, điều gì khiến họ bế tắc, điều gì khiến họ cảm thấy bình yên – tức hệ sinh thái đời sống của họ. Sau đó vài năm, khi làm việc tại một bệnh viện Công giáo, tôi kiểm tra thể chất cho những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm sắp được điều trị bằng liệu pháp sốc điện. Vốn tò mò nên tôi hỏi thăm cuộc sống của họ. Nhiều người liền mau mắn kể tôi nghe chuyện đời họ: cuộc hôn nhân đầy đau khổ, những đứa con ngỗ nghịch, cảm giác tội lỗi vì đã phá thai. Trong lúc chia sẻ, gương mặt họ bừng sáng rõ rệt. Họ thường cảm ơn tôi rối rít vì đã lắng nghe họ tâm sự. Một vài người trong số họ phân vân không biết mình có cần dùng liệu pháp sốc điện hay không vì sau khi trò chuyện với tôi họ đã trút được phần lớn gánh nặng tâm lý. Tôi thường thấy rất buồn sau mỗi cuộc gặp mặt bệnh nhân như thế, vì tôi biết rằng vào ngày mai, khi họ được sốc điện, họ sẽ quên luôn buổi nói chuyện này. Làm công việc này được một thời gian ngắn, tôi quyết định nghỉ. Vào những ngày không phải đi làm, tôi thường đến Thư viện Y học Countway (Countway Library of Medicine) để tìm đọc các đầu sách có ích cho công việc. Một chiều thứ Bảy nọ, tôi tìm thấy cuốn sách có tựa Dementia Praecox của tác giả Eugen Bleuler xuất bản năm 1911, viết về bệnh tâm thần phân liệt. Bleuler đã có những quan sát thật tuyệt vời: Trong số các ảo giác tâm thần phân liệt về cơ thể, những ảo giác về tình dục là thường xuyên nhất và quan trọng nhất. Những bệnh nhân này đều trải nghiệm tất cả những điều kỳ diệu và niềm vui từ thỏa mãn tình dục bình thường và dị thường, nhưng họ còn phải trải nghiệm những cách thức tục tĩu và kinh tởm, xuất phát từ những tưởng tượng ngông cuồng nhất. Bệnh nhân nam bị xuất tinh, trải qua những kích thích dương vật đau đớn. Những bệnh nhân nữ cảm giác như bị hãm hiếp và gây tổn thương bằng những cách thức tàn ác nhất. Mặc dù rất nhiều ảo giác có ý nghĩa mang tính biểu tượng, nhưng phần lớn ảo giác đều tương ứng với những cảm giác thực sự. @@ Điều này khiến tôi tự hỏi: Nếu những câu chuyện mà các bệnh nhân bị “ảo giác”, nghĩa là bị bất ổn tâm thần, kể tôi nghe trước bình minh là những câu chuyện có thật, thì liệu những “ảo giác” này có phải là những mẩu ký ức về các trải nghiệm hoàn toàn có thật không? Liệu ảo giác có phải chỉ do những bộ óc bị bệnh tạo dựng nên? Lẽ nào người ta có thể tạo ra những xúc cảm thể chất mà họ chưa bao giờ trải nghiệm sao? Có ranh giới rõ ràng nào giữa tính sáng tạo và trí tưởng tượng bệnh hoạn, giữa ký ức và tưởng tượng không? Không có lời giải đáp cho những câu hỏi này cho đến tận ngày nay, nhưng có những nghiên cứu cho thấy những người bị lạm dụng tình dục khi còn bé thường có những cảm giác không có nguyên nhân thể chất rõ ràng nào, ví dụ như thấy đau vùng bụng, nghe thấy những giọng nói đang cảnh báo rằng họ đang gặp nguy hiểm hay đang cáo buộc họ những tội lỗi kinh khủng. Rõ ràng, nhiều bệnh nhân có những hành vi bạo lực, kỳ quặc và tự hủy hoại mình, nhất là khi họ cảm thấy thất vọng, bế tắc hoặc cảm thấy bị người khác hiểu lầm. Họ nổi cơn tam bành, ném chén dĩa, đập bể cửa kính rồi nhặt mảnh kính vỡ cắt tay mình. Lúc đó, tôi không hiểu tại sao một bệnh nhân lại nổi giận hay sợ hãi khi có người đề nghị làm cho họ những điều đơn giản như lau tóc cho họ. Tôi thường làm theo hướng dẫn của những y tá có kinh nghiệm: lùi lại hoặc tìm cách khống chế bệnh nhân. Tôi rất ngạc nhiên và lo sợ vì tôi cảm thấy thỏa mãn khi vật một bệnh nhân xuống sàn cho y tá tiêm thuốc. Và tôi dần nhận ra chúng tôi được đào tạo chuyên môn để làm chủ được những hiện thực đáng sợ và khó hiểu khi chăm sóc bệnh nhân. Sylvia là một sinh viên Đại học Boston, 19 tuổi, xinh đẹp. Cô thường im lặng ngồi một mình trong góc phòng khám, mặt lộ vẻ sợ hãi tột độ. Những lời đồn thổi về việc cô là bạn gái của một tay mafia cộm cán ở Boston khiến không khí vây quanh cô đầy bí ẩn. Khi cô không chịu ăn suốt hơn một tuần và bắt đầu sụt ký nhanh chóng, các bác sĩ quyết định ép cô ăn: ba người đè cô nằm xuống, một người đẩy ống dẫn thức ăn xuống họng cô, một y tá đổ chất lỏng dinh dưỡng vào. Sau đó, trong một lần tâm sự với tôi lúc nửa đêm, Sylvia đã rất nhỏ nhẹ, rụt rè kể về tuổi thơ bị anh trai và người cậu xâm hại tình dục. Tôi liền nhận ra cô hẳn đã cảm thấy những biểu lộ mang tính “quan tâm” của chúng tôi không khác gì hãm hiếp tập thể cô ấy. Trải nghiệm này, và những lần khác, đã giúp tôi hình thành một quy tắc cho những học trò của mình: Nếu bạn làm một điều gì đó với bệnh nhân mà bạn sẽ không làm điều đó với bạn bè hay con cái, tức là bạn đã vô tình tái dựng nỗi đau trong quá khứ của bệnh nhân đấy. Khi tổ chức các hoạt động giải trí nhóm cho bệnh nhân, tôi nhận thấy họ vô cùng vụng về, không biết làm chủ cơ thể. Khi đi cắm trại, nhiều người đứng sững ra nhìn tôi dựng lều. Có lần, khi chúng tôi đang đi thuyền trên sông thì bão ập đến, hầu hết bệnh nhân nép sát người bất động vào mạn thuyền mà không hiểu rằng cần di chuyển ra sao cho thuyền thăng bằng. Khi chơi bóng chuyền, các nhân viên luôn phối hợp với nhau tốt hơn so với các bệnh nhân. Một đặc điểm chung nữa của các bệnh nhân là ngay trong những cuộc tán gẫu giữa bạn bè với nhau thì họ cũng rất khó có những cử chỉ và biểu cảm tự nhiên trên khuôn mặt. Tôi hiểu rõ hơn về điều này sau khi gặp các nhà trị liệu cơ thể Peter Levine và Pat Ogden. Trong những chương sau, tôi sẽ nói nhiều về việc sang chấn tâm lý được lưu giữ trong cơ thể con người như thế nào. THẤU HIỂU NỖI ĐAU Tại MMHC, chúng tôi dành 6 tiếng mỗi ngày với các bệnh nhân, và sau đó gặp gỡ trao đổi với những bác sĩ tâm thần có nhiều kinh nghiệm để chia sẻ những gì chúng tôi quan sát được, đặt câu hỏi và thi nhau đưa ra những bình luận hay ho nhất. Thấy Elvin Semrad rất uyên bác và nổi tiếng thường khuyên chúng tôi không nên đọc sách giáo khoa tâm thần trong năm đầu tiên học y. Thầy Semrad không muốn những nhận thức của chúng tôi về thực tế sẽ bị những chẩn đoán tâm thần giả hiệu khuất lấp. Có lần, tôi hỏi thầy: “Thầy thấy nên gọi bệnh nhân này là bị tâm thần phân liệt hay là rối loạn phân liệt cảm xúc?”. Ông ngừng lại một lúc, vuốt cằm, đăm chiêu rồi nói: “Thầy nghĩ mình sẽ gọi anh ta là Michael McIntyre”. Thầy Semrad dạy chúng tôi rằng hầu hết những khổ đau của con người liên quan đến tình yêu và mất mát; công việc của các nhà trị liệu là giúp mọi người “thừa nhận, trải nghiệm và thích nghi” thực tại của cuộc sống với tất cả những niềm vui và đau khổ. Thầy thường nói: “Những nguyên nhân chính của nỗi đau khổ của chúng ta là những lời nói dối ta tự nói với bản thân”. Thây mong mỏi chúng tôi sẽ trung thực với bản thân trong mọi khía cạnh của trải nghiệm. Ông thường nói rằng người ta không bao giờ khá hơn nếu không biết được mình đang nghĩ gì và không cảm được mình đang cảm nhận gì. Tôi đã rất ngạc nhiên khi nghe thầy Semrad kể rằng ông thường thấy rất dễ chịu khi cảm nhận mông của vợ áp vào mình trước khi đi ngủ mỗi tối. Bằng cách tiết lộ những nhu cầu đơn giản của chính mình, thầy đã giúp chúng tôi nhận ra những nhu cầu này cơ bản và thiết thân trong cuộc sống của chúng ta đến thế nào. Khi những nhu cầu này không được đáp ứng những ức chế sẽ hình thành và tồn tại trong ta, bất kể ta suy nghĩ cao cả và đạt những thành tựu to lớn đến mức nào. Thầy nói với chúng tôi rằng việc chữa lành những ức chế này phụ thuộc vào việc hiểu biết những trải nghiệm của bản thân: Bạn chỉ có thể hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc sống của bạn khi nào bạn thừa nhận tất cả hiện trạng về cơ thể của mình. Tuy nhiên, nghề nghiệp của chúng tôi lại đi theo một hướng khác. Năm 1968, tạp chí American Journal of Psychiatry (Tâm thần học Hoa Kỳ) công bố kết quả nghiên cứu từ phòng nghiên cứu nơi tôi từng làm phụ tá cho thấy rõ ràng rằng các bệnh nhân tâm thần phân liệt chỉ uống thuốc lại đạt kết quả tốt hơn so với những người được trò chuyện 3 lần/tuần với các nhà trị liệu tốt nhất ở Boston. Nghiên cứu này là một trong những cột mốc quan trọng trên con đường thay đổi dần dần cách thức y khoa và tâm thần học tiếp cận các vấn đề tâm lý: từ những biểu lộ không ngừng thay đổi về những xúc cảm và những mối quan hệ không thể chấp nhận đến mô hình “rối loạn” tâm thần thực sự. Cách y học tiếp cận những người đang gánh chịu nỗi đau luôn dựa trên công nghệ hiện có lúc bấy giờ. Trước thời kỳ Khai sáng, những lệch lạc trong hành vi sai trái đều bị gán cho Chúa, tội ác, ma thuật, phù thủy, và những linh hồn tà ác. Chỉ từ thế kỷ 19, các nhà khoa học Pháp và Đức mới bắt đầu xem xét hành vi như là một cách thức để thích ứng với sự phức tạp của thế giới. Bây giờ một mô hình mới đang nổi lên: giận dữ, tự phụ, tham lam, hám lợi, và lười nhác – cũng như tất cả những vấn đề khác mà con người chúng ta luôn phải vật lộn để kiểm soát – bị tái định nghĩa thành “những rối loạn” có thể được chữa trị bằng cách sử dụng những chất hóa học phù hợp. Nhiều nhà tâm thần học cảm thấy rất nhẹ nhõm và vui vẻ khi trở thành “những nhà khoa học thực thụ”, giống như những người bạn cùng trường y của họ có phòng thí nghiệm, thí nghiệm trên động vật, trang thiết bị đắt tiền, các xét nghiệm chẩn đoán phức tạp và gạt qua một bên những giả thuyết bóng bẩy của những triết gia như Freud và Jung. Một giáo trình chính của tâm thần học thậm chí còn tuyên bố rằng: “Nguyên nhân của bệnh lý tinh thần hiện nay được coi là một sự sai lệch của bộ não, một sự mất cân bằng hóa học”. Như các đồng nghiệp, tôi háo hức đón nhận cuộc cách mạng dược lý này. Năm 1973, tôi trở thành bác sĩ nội trú đầu tiên trong lĩnh vực tâm thần dược học tại MMHC. Có thể tôi cũng là bác sĩ tâm thần đầu tiên ở Boston áp dụng phương pháp điều trị lithium cho một bệnh nhân mắc chứng hưng - trầm cảm (hay còn gọi là rối loạn lưỡng cực). Khi được điều trị bởi phương pháp này, chu kỳ buồn vui thất thường vào tháng 5 hằng năm trong suốt 35 năm, và hiện tượng trầm cảm đến mức muốn tự sát vào mỗi tháng 11 của một phụ nữ đã ngừng lại và ổn định trong vòng 3 năm mà tôi điều trị. Tôi cũng là thành viên nhóm nghiên cứu đầu tiên của Hoa Kỳ thử nghiệm thuốc chống loạn thần Clozaril trên bệnh nhân tâm thần mạn tính lớn tuổi ở các trại tâm thần. Chúng tôi thu được những kết quả tuyệt vời: Một số bệnh nhân bấy lâu nay trốn trong bóng tối đáng sợ của riêng mình đã có thể quay lại với gia đình và cộng đồng, một số người vốn sống trong tuyệt vọng bắt đầu thích tiếp xúc với người khác và tìm thấy niềm vui trong công việc và giải trí. Những kết quả tuyệt vời này khiến chúng ta lạc quan hơn vì cuối cùng ta có thể giúp con người vượt qua đau khổ. Thuốc chống rối loạn tâm thần đã giúp giảm số người sống trong các bệnh viện tâm thần ở Mỹ từ hơn 500.000 bệnh nhân vào năm 1955 xuống còn dưới 100.000 vào năm 1996. Thay đổi tích cực này gần như không thể tin được! Trong thời gian ở Boston, tôi tiếp tục làm việc trong phòng thí nghiệm về tâm thần dược học tại MMHC, nơi giờ đây đã chuyển hướng nghiên cứu sang một con đường khác. Trong những năm 1960, các nhà khoa học tại Viện Y tế quốc gia (National Institutes of Health) đã bắt đầu phát triển các kỹ thuật để cô lập và đo lượng hormone cũng như chất dẫn truyền thần kinh trong máu và não. Các chất dẫn truyền thần kinh là những chất hóa học mang thông tin từ neuron (tế bào thần kinh) đến neuron, cho phép chúng ta có thể hòa nhập với thế giới một cách hiệu quả. Giờ đây, các nhà khoa học đã tìm ra bằng chứng cho thấy lượng norepinephrine bất thường có liên quan đến chứng trầm cảm, và dopamine liên quan đến tâm thần phân liệt, chúng ta có hy vọng rằng có thể phát triển các loại thuốc dành cho những rối loạn tâm thần cụ thể. Niềm hy vọng đó chưa bao giờ được thực thi đến cùng, nhưng những nỗ lực đo lường mức độ ảnh hưởng của thuốc có thể ảnh hưởng đến các triệu chứng tâm thần của chúng tôi đã dẫn đến một sự thay đổi sâu sắc khác trong nghề. Tôi đã góp phần nghiên cứu xây dựng Tiêu chuẩn chẩn đoán (Research Diagnostic Criteria). Về sau, nó trở thành cơ sở cho những tiêu chí có tính hệ thống đầu tiên để chẩn đoán các rối loạn tâm thần - Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM – Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần) – thuộc Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association). Tài liệu này được xem là “Kinh Thánh của tâm thần học”. Lời mở đầu của bản DSM-III năm 1980 khá khiêm tốn và thừa nhận rằng hệ thống chẩn đoán này không chính xác – đến mức nó không bao giờ được sử dụng cho mục đích pháp y hoặc bảo hiểm. CÚ SỐC KHÔNG THỂ TRỐN THOÁT Để làm giàu hiểu biết về stress sau sang chấn, tôi bắt đầu tham dự các cuộc họp của Hiệp hội Chuyên gia Tâm thần Dược học Hoa Kỳ (American College of Neuropsychopharmacology – ACNP). Năm 1984, ACNP đưa ra nhiều bài thuyết giảng hấp dẫn về phát triển các loại thuốc. Khi gần sát giờ bay về Boston, tôi nghe được bài thuyết trình của Steve Maier thuộc Đại học Colorado – người đã hợp tác với Martin Seligman của Đại học Pennsylvania. Chủ đề của ông là cảm giác bất lực trong giới động vật. Maier và Seligman đã liên tục sốc điện gây đau những chú chó bị nhốt trong lồng có khóa. Họ gọi tình trạng này là “cú sốc không thể trốn thoát”. Sau khi thực hiện một số đợt điện giật, các nhà nghiên cứu mở cửa lồng, rồi sốc điện những chú chó một lần nữa. Những chú chó chưa từng bị sốc điện liền lập tức chui ra khỏi lồng chạy trốn, nhưng những chú chó từng bị sốc điện thì chỉ nằm đó rên ư ử, không có biểu hiện gì định chui ra khỏi lồng. Có một con đường giải thoát không có nghĩa là đối tượng bị sang chấn - dù là động vật hay con người – sẽ sẵn sàng dấn bước để chạm đến tự do. Như những chú chó trong thí nghiệm này, rất nhiều người bị sang chấn tâm lý đã chọn bỏ cuộc. Họ thà mắc kẹt trong nỗi sợ họ từng trải qua hơn là chấp nhận rủi ro khi thử nghiệm những điều mới mẻ. Những gì các nhà khoa học đã làm với những chú chó đáng thương trong thí nghiệm này cũng chính là những gì đã xảy ra với các bệnh nhân sang chấn tâm lý của tôi. Họ cũng từng bị ai đó (hay cái gì đó) làm tổn thương khủng khiếp và họ không có cách nào để thoát ra nỗi đau ấy. Tôi nhanh chóng điểm lại trong đầu những bệnh nhân tôi từng chữa trị. Hầu như tất cả đều từng bị mắc kẹt hay bị làm cho bất động, không thể hành động để phòng ngừa điều sắp sửa xảy ra, cũng không thể chống trả hay bỏ chạy vì lý do nào đó, và hậu quả thường là họ căng thẳng tột độ hoặc gục ngã hoàn toàn. Maier và Seligman cũng phát hiện ra rằng những chú chó bị tổn thương tâm lý tiết ra một lượng hormone của stress lớn hơn bình thường. Điều này đã hỗ trợ cho những gì chúng tôi bắt đầu tìm hiểu về cƠ SỞ sinh học của stress do sang chấn. Một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ tuổi, trong đó có Steve Southwick và John Krystal từ Đại học Yale, Arieh Shalev tại Trường Y Hadassah ở Jerusalem, Frank Putnam thuộc Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia (National Institute of Mental Health - NIMH) và Roger Pitman, sau này chuyển đến Harvard, đều thấy rằng những người bị sang chấn tâm lý liên tục tiết một lượng lớn các hormone của stress sau khi mối nguy hiểm đã trôi qua. Rachel Yehuda thuộc Đại học Mount Sinai ở New York đã trao đổi với chúng tôi về những phát hiện đầy nghịch lý của cô rằng bệnh nhân mắc PTSD có lượng cortisol, một loại hormone của stress, khá thấp. Phát hiện của cô chi bắt đầu có ý nghĩa khi nghiên cứu của cô được làm sáng tỏ, rằng cortisol chấm dứt đáp ứng stress bằng cách gửi đi một tín hiệu an toàn, và trong cơ thể người bị PTSD thì những hormone gây nên đáp ứng stress lại không quay trở về mức bình thường sau khi nguy hiểm đã qua. Hệ thống hormone của stress trong chúng ta cung cấp một phản hồi nhanh như chớp khi bị đe dọa, và nhanh chóng đưa chúng ta về trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân bị PTSD. hệ thống hormone của stress không thể thực hiện chức năng cân bằng này. Những tín hiệu chiến đấu, bỏ chạy, bất động vẫn tiếp diễn sau khi nguy hiểm đã qua và không thể quay trở lại trạng thái bình thường, như trong trường hợp của những chú chó kia. Việc liên tục tiết ra những hormone của stress khiến bệnh nhân bị kích động hoảng loạn và sẽ tàn phá sức khỏe của họ về lâu về dài. Tôi đã trễ chuyến bay ngày hôm ấy vì phải trao đổi với Steve Maier. Hội thảo của ông đã cung cấp những đầu mối không chỉ về những vấn đề tiềm ẩn của bệnh nhân mà còn là những giải pháp hứa hẹn có thể giải quyết những vấn đề đó. Ví dụ, ông ấy và Seligman đã khám phá ra cách duy nhất để dạy những chú chó bị tổn thương tâm lý chạy thoát thân khi cửa lồng mở là ta phải liên tục lặp đi lặp lại hành động kéo chúng ra khỏi chuồng để chúng có thể trải nghiệm được cách thoát thân. Tôi tự hỏi, liệu chúng tôi cũng có thể giúp các bệnh nhân thay đổi cái suy nghĩ rằng họ không thể làm gì để tự bảo vệ mình? Liệu các bệnh nhân của tôi có cần những trải nghiệm thể chất để khôi phục lại cảm giác có thể làm chủ bản thân? Điều gì sẽ xảy ra nếu họ học được cách chuyển động cơ thể để thoát khỏi một tình huống có khả năng đe dọa tương tự như sang chấn mà họ đã bị mắc kẹt và bị làm cho bất động? Tôi sẽ thảo luận về vấn đề này trong phần V. Các nghiên cứu động vật liên quan đến chuột, mèo, khỉ và voi đã mang lại nhiều dữ liệu thú vị hơn. Khi các nhà nghiên cứu bất ngờ bật âm thanh lớn, những con chuột được nuôi nấng trong tổ với nhiều thức ăn sẽ vội vã chạy về nhà. Nhưng một nhóm chuột khác, lớn lên trong một cái ổ ồn ào, lương thực khan hiếm, cũng chạy về nhà, dù chúng vừa ở nơi dễ chịu hơn nhà mình". Động vật chạy trở về nhà khi chúng sợ hãi, bất kể nhà là nơi an toàn hay đáng sợ. Tôi nghĩ về các bệnh nhân của tôi: Họ có những gia đình bạo lực nhưng họ vẫn quay về nhà và lại tiếp tục bị làm cho tổn thương. Phải chăng những người bị sang chấn tâm lý luôn cảm thấy họ phải nương tựa vào những gì quen thuộc? Nếu đúng thế thì tại sao? Và làm sao ta có thể giúp họ gắn bó với những nơi chốn và những hoạt động an toàn, vui vẻ?12 NGHIỆN KHỔ ĐAU: NỖI ĐAU CỦA KHOÁI LẠC VÀ KHOÁI LẠC CỦA NỖI ĐAU Khi quan sát các cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam, một trong những điều khiến tôi và đồng nghiệp Mark Greenberg rất ngạc nhiên là vì sao mỗi khi nói về những ký ức chiến tranh kinh hoàng như tai nạn máy bay trực thăng, đồng nghiệp hấp hối thì người nào trông cũng tươi tắn, sôi nổi khác thường, cứ như “hồi sinh” vậy. (Chris Hedges, cựu phóng viên tờ New York Times, đã đề cập đến một số xung đột tàn bạo trong cuốn sách có tên War Is a Force That Gives Us Meaning? - Chiến tranh là một sức mạnh mang lại cho chúng ta ý nghĩa 3.) Nhiều người bị sang chấn dường như luôn tìm kiếm những trải nghiệm đáng sợ 4, và bệnh nhân thường xuyên phàn nàn họ dường như cảm thấy trống rỗng, buồn chán những khi họ không tức giận, không phải chịu áp lực nào đó hoặc không làm việc gì đó nguy hiểm. Julia là một bệnh nhân của tôi. Năm 16 tuổi, cô bị đe dọa và hãm hiếp tàn bạo trong một phòng khách sạn. Ít lâu sau, cô quan hệ với một tên ma cô từng mua dâm cô. Hắn thường xuyên đánh đập Cổ. Cô đã bị bắt giam nhiều lần vì tội mại dâm, nhưng cứ ra tù là cô lại quay về với gã ma cô ấy. Cuối cùng, ông bà cô đã can thiệp và trả tiền cho Julia tham gia một chương trình phục hồi. Sau khi hoàn thành khóa điều trị nội trú, cô đi làm nhân viên tiếp tân và tham gia vài khóa học ở một trường cao đẳng. Trong lớp xã hội học, có cần viết bài luận về khả năng giải phóng tình dục, thế nên cô tìm đọc các cuốn hồi ký của những cô gái mại dâm nổi tiếng. Dần dần Julia bỏ hết các khóa học khác. Cô có mối quan hệ ngắn ngủi với một cậu bạn cùng lớp. Sau đó, cô cứu một tên nghiện trên tàu điện ngầm về nhà. Gã này ban đầu đánh đập cổ, rồi sau đó bám riết lấy cô. Cuối cùng cô quay lại gặp tôi để được điều trị vì bị gã này đánh đập liên tục. Freud có một thuật ngữ cho những lần tái hiện đau đớn như vậy: “the compulsion to repeat: cưỡng bức lặp lại”. Ông và nhiều người theo ông tin rằng việc tái hiện là một nỗ lực vô thức để kiểm soát và cuối cùng, có thể làm chủ và giải quyết một tình huống đau đớn. Không có bất kỳ bằng chứng nào cho giả thuyết đó cả – sự lặp đi lặp lại chỉ càng khiến nạn nhân đau khổ và càng căm ghét chính mình hơn. Trên thực tế, việc liên tục làm sống lại sang chấn trong điều trị có thể làm bệnh nhân thêm lo âu và sang chấn càng khắc sâu trong họ. Mark Greenberg và tôi quyết định tìm hiểu thêm về những yếu tố thúc đẩy, tức những thứ thu hút chúng ta, động viên chúng ta và làm cho chúng ta cảm thấy mình còn sống. Thông thường, những điều này thường khiến chúng ta cảm thấy khá hơn. Vậy tại sao rất nhiều người bị thu hút bởi những tình huống nguy hiểm hoặc đau đớn? Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra một nghiên cứu giải thích vì sao những hoạt động gây ra nỗi sợ hãi và đau đớn trở thành những trải nghiệm ly kỳ'. Trong thập niên 70, Richard Solomon ở Đại học Pennsylvania đã chỉ ra rằng cơ thể chúng ta học cách thích nghi với tất cả các kích thích. Những thứ thuốc kích thích thường khiến ta cảm thấy để mở ngay lập tức, còn những hoạt động như tắm suối nước nóng hay nhảy dù, lúc đầu có thể khiến chúng ta khó chịu và sợ hãi, nhưng dần dần có thể trở nên vô cùng lý thú. Sự điều chỉnh dần dần này cho thấy sự cân bằng hóa học mới đã được thiết lập trong cơ thể, để các vận động viên chạy marathon, chẳng hạn, có thể thấy thoải mái và vui sướng khi đẩy cơ thể của họ đến mức giới hạn. Chuyện này cũng giống như chơi ma túy, ban đầu ta dùng ma túy, sau đó đâm nghiện, khi thiếu ma túy thì ta vật vã, thèm khát. Về lâu dài, con người dân quan tâm đến cái cảm giác đau đớn khi thiếu hoạt động nào đó hơn là chính cái hoạt động đó. Lý thuyết này có thể giải thích tại sao một số người lại thuê ai đó đánh đập mình, tự dùng thuốc lá đốt mình hoặc chỉ thích ở gần những người làm mình tổn thương. Thật ngang trái khi sợ hãi và ác cảm lại có thể biến thành khoái cảm. Solomon đưa ra giả thuyết rằng endorphins – các chất hóa học giống như morphin mà não tiết ra khi gặp stress – có ảnh hưởng đến những loại nghiện nghịch lý mà ông mô tả. Tôi nghĩ về lý thuyết của mình một lần nữa khi thói quen hay đến thư viện của tôi dẫn tôi đến một bài báo có tựa đề Pain in Men Wounded in Battle (Nỗi đau đớn của những người bị thương trong chiến tranh) xuất bản năm 1946. Sau khi quan sát thấy 75% những người lính bị thương nặng mặt trận Ý không yêu cầu morphine, bác sĩ phẫu thuật Henry K. Beecher cho rằng “những cảm xúc mãnh liệt có thể ngăn chặn được đau đớn”16. Các quan sát của Beecher liệu có liên quan đến những người bị PTSD không? Mark Greenberg, Roger Pitman, Scott Orr và tôi quyết định hỏi 8 cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu tại Việt Nam xem họ có thể tình nguyện tham gia vào một bài kiểm tra nỗi đau không. Những người này sẽ vừa xem lại trích đoạn từ một số một bộ phim vừa giữ tay phải của mình trong một xô nước đá. Trích đoạn phim đầu tiên họ được xem thuộc bộ phim Platoon (Trung đội) (1986), gồm nhiều cảnh bạo lực đẫm máu. Chúng tôi tiến hành đo xem họ có thể giữ tay phải của họ trong xô nước đá được bao lâu. Tương tự, chúng tôi cho họ xem một đoạn phim ngắn yên bình, cũ kỹ. Kết quả khi xem đoạn phim Trung đội: 7 trong số 8 người này giữ được tay mình trong số nước đá lâu hơn 30% thời gian so với khi xem đoạn phim bình yên. Sau đó chúng tôi tính được hàm lượng hoạt chất giảm đau sản sinh ra sau khi xem một đoạn phim chiến tranh dài 15 phút bằng với 8 miligram morphine, tức gần bằng một liều thuốc dùng cho một người được cấp cứu do đau thắt lồng ngực. Chúng tôi kết luận rằng suy đoán của Beecher về việc “những cảm xúc mãnh liệt có thể ngăn chặn được đau đớn” là kết quả của sự sản sinh ra những chất như morphine trong não. Điều này gợi ý rằng nhiều người bị sang chấn sẽ bớt lo lắng khi tiếp xúc lại với sự căng thẳng 7. Đây là một thử nghiệm thú vị nhưng không giải thích được đầy đủ tại sao Julia lại tiếp tục quan hệ với tên ma cô bạo lực. LÀM DỊU NÃO BỘ Tại một cuộc họp ở Hiệp hội Chuyên gia Tâm thần Dược học Hoa Kỳ (American College of Neuropsychopharmacology - ACNP) vào năm 1985, giáo sư Jeffrey Gray của Đại học Kings có một bài phát biểu về hạch hạnh nhân (amygdala), một cụm tế bào não quyết \định liệu một âm thanh, hình ảnh hay một cảm giác về cơ thể có thể được coi là mối đe dọa hay không. Dữ liệu của Gray cho thấy độ nhạy của hạch hạnh nhân phụ thuộc, ít nhất là một phần, vào lượng chất dẫn truyền thần kinh serotonin trong nó. Động vật có mức serotonin thấp phản ứng quá mức với kích thích gây stress (như âm thanh lớn), trong khi mức serotonin cao làm giảm phản ứng sợ hãi, khiến chúng ít có khả năng trở nên hung hăng hoặc cứng đờ khi đối mặt với các mối đe dọa tiềm ẩn 18. Tôi thấy đây là một phát hiện rất quan trọng: Những bệnh nhân của tôi luôn nóng giận trước những khiêu khích nhỏ nhặt, cảm thấy đau khổ tột cùng khi bị từ chối điều lặt vặt nào đó. Tôi rất quan tâm đến vai trò có thể có của serotonin trong PTSD. Các nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng những con khỉ đực chiếm ưu thế đầu đàn có lượng serotonin não cao hơn nhiều so với những con ở cấp thấp hơn, nhưng serotonin của chúng giảm mạnh khi không được tiếp xúc bằng mắt với những con khỉ mà chúng thống trị. Ngược lại, những con khỉ cấp thấp được tiêm bổ sung serotonin sẽ vươn lên trong bầy đàn và nhận trách nhiệm dẫn đầu. Môi trường xã hội tương tác với hóa học não. Cho một con khỉ vào một vị trí thấp hơn trong hệ thống cấp bậc thống trị làm giảm lượng serotonin của nó, trong khi những con khỉ cấp bậc thấp được tiêm thêm serotonin lại nâng bậc vị trí của nó trong đàn. Ứng dụng của serotonin trong việc điều trị cho những người bị sang chấn tâm lý là quá rõ ràng. Giống những con vật có lượng serotonin thấp trong báo cáo của giáo sư Gray, họ phản ứng quá mạnh, khả năng ứng phó xã hội thường bị tổn thương. Nếu có thể tìm cách tăng mức serotonin trong não, chúng ta có thể giải quyết cả hai vấn đề cùng một lúc. Tại cuộc họp năm 1985, tôi được biết các công ty dược phẩm đang phát triển hai sản phẩm mới để phục vụ chính điều này, nhưng vì chưa sản phẩm nào sẵn sàng nên tôi đã thử nghiệm nhanh với thực phẩm chức năng có bổ sung L tryptophan, tiền chất của serotonin trong cơ thể (Kết quả thu được thật đáng thất vọng). Một trong những loại thuốc được xem xét thì chưa bao giờ được đưa ra thị trường. Còn loại khác là fluoxetine, dưới nhãn hiệu Prozac, đã trở thành một trong những loại thuốc thần kinh thành công nhất từ trước đến nay. Vào thứ Hai ngày 8 tháng 2 năm 1988, công ty dược phẩm Eli Lilly phát hành thuốc Prozac. Bệnh nhân đầu tiên tôi gặp ngày hôm đó là một cô gái từng bị lạm dụng tình dục khi còn bé và hiện tại đang phải vật lộn với chứng cuồng ăn. Mỗi ngày của cô thường có hai hoạt động chính là ăn vào và ói ra. Tôi kể cho cô toa thuốc mới này. Khi quay lại gặp tôi vào thứ Năm, cô ấy nói: “Những ngày gần đây tôi rất khác, tôi ăn khi đói và dành thời gian học hành”. Tôi nghe mà vui và xúc động vô cùng. Hôm thứ Sáu, tôi gặp một bệnh nhân tôi từng kê thuốc Prozac vào thứ Hai. Cô là một bà mẹ trầm cảm kinh niên có hai con ở độ tuổi đi học, cảm thấy mình thất bại trong vai trò làm mẹ, làm vợ, cảm thấy quá căng thẳng vì không đáp ứng những đòi hỏi của bố mẹ - những người đã ngược đãi cô khi cô còn bé. Sau bốn ngày uống Prozac, cô ấy hỏi tôi có thể hủy cuộc hẹn vào sáng thứ Hai không vì đó là Ngày Tổng thống Mỹ. Cô giải thích: “Tôi định đi trượt tuyết với các con vì trước giờ chỉ có chồng tôi làm chuyện này thôi. Tôi nghĩ đây sẽ là kỷ niệm rất vui với các con”. Sau đó, tôi gọi điện cho một người quen ở Eli Lilly và nói: “Anh đã làm ra một loại thuốc giúp con người sống trong hiện tại mà không bị mắc kẹt trong quá khứ”. Công ty Eli Lilly sau đó đã cho tôi một khoản tài trợ nhỏ để thực hiện nghiên cứu đầu tiên về tác động của Prozac lên PTSD ở 64 người gồm 22 phụ nữ và 42 đàn ông, trong đó có 33 bệnh nhân không phải cựu chiến binh đến từ Phòng chữa trị sang chấn và 31 người là cựu chiến binh đến từ Bộ Cựu chiến binh. Trong tám tuần lễ, một nửa số bệnh nhân của mỗi nhóm được nhận Prozac và nửa còn lại được nhận giả dược. Điều này không hề được tiết lộ: Cả chúng tôi lẫn bệnh nhân đều không biết họ đang dùng chất gì, như thế thì các định kiến sẽ không xuyên tạc đánh giá của chúng tôi. - Mọi người trong nghiên cứu thậm chí cả những người đã nhận được giả dược đều có cải thiện, ít nhất ở mức độ nào đó. Hầu hết các nghiên cứu điều trị về PTSD đều cho thấy hiệu quả giả dược đáng kể. Những người dũng cảm tham gia vào một nghiên cứu mà không được trả tiền, thường bị ống tiêm găm vào người trong quá trình nghiên cứu, mà chỉ có cơ hội 50- 50 được sử dụng thuốc có hiệu lực, đều có động cơ tiềm ẩn để giải quyết vấn đề của họ. Có lẽ phần thưởng của họ chỉ là sự quan tâm, cơ hội được trả lời những câu hỏi về cảm giác và suy nghĩ của họ. Giống như nụ hôn của người mẹ làm dịu vết xước của đứa trẻ cũng là một loại giả dược vậy. Đối với nhóm bệnh nhân không phải cựu chiến binh, thuốc Prozac có hiệu quả đáng kể hơn so với giả dược. Họ ngủ ngon hơn; họ kiểm soát cảm xúc tốt hơn và ít bận tâm về quá khứ hơn so với những người được uống giả dược”. Điều đáng ngạc nhiên là Prozac lại không có tác dụng gì đối với nhóm cựu chiến binh – các triệu chứng PTSD của họ không thay đổi. Những kết quả này cũng đúng đối với hầu hết các nghiên cứu dược học tiếp theo được thực hiện trên cựu chiến binh: Trong khi một số ít cho thấy sự cải thiện ít ỏi, phần lớn các đối tượng lại không có cải thiện gì. Tôi chưa bao giờ có thể giải thích được điều này và tôi không thể chấp nhận lời giải thích phổ biến nhất: Việc nhận trợ cấp hưu trí hoặc trợ cấp tàn tật đã ngăn cản quá trình cải thiện của họ. Xét cho cùng, hạch hạnh nhân không biết gì về lương hưu – nó chỉ phát hiện các mối đe dọa. Tuy nhiên, các loại thuốc như Prozac và thuốc có liên quan như Zoloft, Celexa, Cymbalta và Paxil đã có những đóng góp đáng kể cho việc điều trị rối loạn liên quan đến sang chấn tâm lý. Trong nghiên cứu Prozac của chúng tôi, chúng tôi đã sử dụng trắc nghiệm Rorschach để đo lường mức độ nhận thức môi trường xung quanh của những người bị sang chấn. Những dữ liệu này đã cho chúng tôi một đầu mối quan trọng để hiểu cách thức hoạt động của loại thuốc này được biết đến như là các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc - selective serotonin reuptake inhibitors hay SSRIs). Trước khi dùng Prozac, các bệnh nhân thường hành động theo cảm xúc. Prozac giúp các bệnh nhân PTSD kiểm soát đáng kể những cảm xúc, những cơn bốc đồng của mình”. Jeffrey Gray hẳn đã đúng khi nói rằng nhiều bệnh nhân của mình đã ít “manh động” hơn khi mức serotonin tăng lên (serotonin là chất có khả năng giúp cải thiện tâm trạng). NHỮNG THÀNH TỰU CỦA DƯỢC HỌC Cuộc cách mạng dược phẩm mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng đồng thời gây ra nhiều tổn hại. Lý thuyết cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh tâm thần là do sự mất cân bằng hóa học trong não, các loại thuốc đặc trị đã được các phương tiện truyền thông, công chúng và cả những người làm nghề y chấp nhận rộng rãi có thể điều chỉnh sự mất cân bằng này”. Tại nhiều nơi, thuốc được dùng để thay thế cho các liệu pháp điều trị, có thể giúp các bệnh nhân dần ổn định hơn nhưng không thể giải quyết tận gốc các vấn đề sâu xa. Thuốc chống trầm cảm có thể thích hợp để giải quyết tạm thời một số vấn đề trước mắt, như giúp bệnh nhân ngủ được vài tiếng mà không cần thuốc ngủ hay uống rượu. Với những bệnh nhân đang chật vật, mệt mỏi khi phải tự lực cánh sinh chiến đấu với những cảm xúc của mình bằng cách tập yoga, tập thể dục hằng ngày thì các loại thuốc có thể là “phao cứu sinh”. Các SSRIs có thể rất hiệu quả khi giúp những người bị sang chấn ít phụ thuộc vào cảm xúc hơn, nhưng thuốc chỉ nên được xem là yếu tố phụ trợ trong việc điều trị tổng thể cho bệnh nhân. Sau khi tiến hành nhiều nghiên cứu về thuốc chữa trị PTSD, tôi nhận ra các loại thuốc tâm thần có một nhược điểm nghiêm trọng: Chúng có thể khiến chúng ta không tập trung giải quyết các vấn đề Cơ bản. Nếu thuốc chống trầm cảm thực sự có hiệu quả kỳ diệu như ta tưởng thì bây giờ bệnh trầm cảm đã trở thành chuyện nhỏ rồi! Trên thực tế, dù số người dùng thuốc chống trầm cảm tiếp tục tăng thì số bệnh nhân trầm cảm chẳng giảm xuống là bao. Số người điều trị chứng trầm cảm đã tăng gấp ba lần trong hai thập kỷ qua, và 1/10 người Mỹ hiện đang dùng thuốc chống trầm cảm. Các loại thuốc chống loạn thần thế hệ mới như Ability, Risperdal, Zypreva, Seroquel đang bán rất chạy ở Mỹ. Vào năm 2012, dân chúng đã chi hơn 1,5 tỷ đô-la Mỹ cho Abilify, nhiều hơn bất kỳ loại thuốc nào khác. Đứng hàng thứ ba là Cymbalta, một loại thuốc chống trầm cảm có doanh thu hơn một tỷ đô-la 25, mặc dù Cymbalta chưa bao giờ được chứng tỏ là có hiệu quả cao hơn những thuốc chống trầm cảm thế hệ cũ như Prozac. Medicaid, chương trình chăm sóc sức khỏe của chính phủ Hoa Kỳ dành cho người nghèo, chi nhiều tiền cho thuốc chống loạn thần hơn bất kỳ loại thuốc nào khác 26. Vào ngày 4 tháng 11 năm 2013, Johnson & Johnson đã đồng ý nộp phạt hơn 2,2 tỷ đô-la để giải quyết các cáo buộc họ đã quảng cáo không đúng thuốc Risperdal cho người cao tuổi, trẻ em và người khuyết tật”. Nhưng chẳng ai bắt các bác sĩ kê toa chịu trách nhiệm cả. Gần nửa triệu trẻ em ở Mỹ hiện đang dùng thuốc chống loạn thần. Trẻ em từ các gia đình có thu nhập thấp có khả năng nhận được các loại thuốc chống loạn thần nhiều hơn gấp 4 lần. Những loại thuốc này thường được sử dụng để làm cho trẻ em bị lạm dụng và bị bỏ rơi trở nên dễ bảo hơn. Trong năm 2008, có 19.045 trẻ em từ năm tuổi trở lên đã được Medicaid kê đơn thuốc chống loạn thần 28. Một nghiên cứu, dựa trên dữ liệu Medicaid ở 13 tiểu bang, phát hiện rằng 12,4% trẻ em được nhận nuôi được cho thuốc chống loạn thần so với 1,4% trẻ em đủ điều kiện được Medicaid điều trị nói chung”. Các loại thuốc chống loạn thần làm cho trẻ em dễ quản lý hơn và ít gây hấn hơn, nhưng chúng cũng ảnh hưởng đến động lực, khả năng vui chơi, tò mò, vốn là những điều trẻ cần có để trở thành người có ích, đóng góp cho xã hội. Trẻ em dùng những loại thuốc này cũng có nguy cơ bị béo phì và tiểu đường. Thêm nữa, ngày càng có nhiều ca dùng quá liều cùng lúc thuốc tâm thần và thuốc giảm đau. Vì lợi nhuận của các loại thuốc quá lớn nên các tạp chí y khoa lớn hiếm khi đăng các nghiên cứu về cách điều trị không dùng thuốc cho những vấn đề về sức khỏe tâm thần. Các nghiên cứu về cách điều trị tâm thần không dùng thuốc cũng hiếm khi được tài trợ. SỰ THÍCH NGHI HAY LÀ BỆNH TẬT? Các chẩn đoán về bệnh lý ở não bỏ qua bốn chân lý cơ bản: (1) Khả năng như nhau ở con người trong việc tiêu diệt lẫn nhau và chữa lành cho nhau. Cốt lõi của việc phục hồi chính là phục hồi các mối quan hệ với cộng đồng. (2) Chúng ta có thể thay đổi bản thân và thay đổi những người khác bằng cách dùng ngôn ngữ để truyền đạt những kinh nghiệm, giúp xác định điều chúng ta biết và tìm ra ý nghĩa chung: (3) Chúng ta có khả năng điều hòa sinh lý của chính mình, bao gồm cả những chức năng tự nhiên của cơ thể và não, thông qua các hoạt động cơ bản như thở, vận động và xúc giác; (4) Chúng ta có thể thay đổi các điều kiện xã hội để tạo ra những môi trường an toàn và thuận lợi cho trẻ em và người lớn phát triển. Khi bỏ qua những khía cạnh tinh túy này của con người tức là ta đã tước đoạt khả năng chữa lành và khôi phục lại tính tự chủ của các bệnh nhân. Khi xem bệnh nhân chỉ là bệnh nhân chứ không phải là người tham gia vào quá trình chữa lành của chính mình, thì ta sẽ tách biệt những con người đang đau khổ ấy ra khỏi cộng đồng của chính họ và cách ly họ khỏi sự tự ý thức từ bên trong. Khi nhận ra những hạn chế của các loại thuốc chữa trầm cảm, tôi bắt đầu tự hỏi liệu chúng ta có thể tìm ra những cách nào khác, tự nhiên hơn, để giúp mọi người giải quyết các phản ứng hậu sang chấn của họ không? Chương 3 NHÌN SÂU VÀO BỘ NÃO: CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC THẦN KINH Giá như chúng ta có thể nhìn xuyên hộp sọ vào trong não của một người đang suy nghĩ CÓ ý thức, và nếu vùng não bị kích thích tối ưu đang phát sáng, chúng ta sẽ thấy trên bề mặt não có một điểm sáng với những dải sáng uốn lượn tuyệt vời, liên tục thay đổi về kích thước và hình dạng, và phần còn lại của bán cầu não thì tối đen, đậm hoặc nhạt. Ivan Pavlov Khi quan sát, bạn sẽ thấy được nhiều điều. – Yogi Berra Những kỹ thuật chụp não đầu thập niên 1990 đã giúp chúng ta hiểu hơn về cách não bộ xử lý thông tin. Chụp hình cắt lớp Positron (Positron emission tomography - PET), chụp cộng hưởng từ chức năng (functional magnetic resonance imaging fMRI) đã giúp các nhà khoa học nhận ra những phần khác nhau của não hoạt động như thế nào khi con người làm các công việc nhất định hoặc khi họ nhớ lại những chuyện trong quá khứ. Lần đầu tiên chúng ta có thể quan sát bộ não khi xử lý những ký ức, cảm giác và cảm xúc, để bắt đầu vẽ nên bản đồ nhận thức và tâm trí của con người. Các công nghệ đo hóa chất trong não trước đó như serotonin hoặc norepinephrine đã cho phép các nhà khoa học xem xét những gì thúc đẩy hoạt động thần kinh, khá giống với việc cố gắng để hiểu được động cơ của một chiếc xe bằng cách nghiên cứu xăng. Chụp ảnh thần kinh giúp quan sát được động cơ bên trong. Điều này cũng đã thay đổi những hiểu biết trước kia của chúng ta về sang chấn tâm lý. Trường Y Harvard đã và đang đi đầu trong cuộc cách mạng khoa học thần kinh. Năm 1994, Scott Rauch – một bác sĩ tâm thần – được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Khoa chẩn đoán hình ảnh thần kinh của Bệnh viện Đa khoa Massachusetts. Sau khi đọc một số bài viết của tôi, Scott hỏi liệu chúng tôi có thể nghiên cứu những gì xảy ra trong bộ não của những người đang hồi tưởng lại hay không. Tôi đã làm một nghiên cứu về việc con người ghi nhớ những sang chấn như thế nào (xem chương 12). Nhiều bệnh nhân liên tục nói họ rất đau khổ khi trí óc đột ngột tràn ngập những hình ảnh, cảm xúc và âm thanh từ quá khứ. Khi một vài người nói rằng họ muốn biết bộ não của họ đang giở trò gì trong những lần hồi tưởng quá khứ ấy, tôi đã hỏi 8 người trong số đó rằng họ có sẵn sàng trở lại phòng khám và nằm trong máy quét trong khi tôi tái tạo một cảnh từ những sự kiện đau đớn ám ảnh họ hay không. Thật ngạc nhiên, cả 8 người đều đồng ý, nhiều người trong số này còn bày tỏ hy vọng những gì chúng tôi nghiên cứu được từ nỗi đau của họ có thể giúp đỡ những người khác. Trợ lý nghiên cứu của tôi, Rita Fisler, đã làm việc với từng người tham gia và tỉ mỉ xây dựng một kịch bản để tái tạo những sang chấn của họ từng khoảnh khắc một. Chúng tôi cố gắng thu thập những “mảnh” riêng biệt của từng trải nghiệm chứ không phải toàn bộ câu chuyện: những hình ảnh, âm thanh và cảm xúc cụ thể. Rita cũng yêu cầu những người tham gia mô tả một cảnh mà họ cảm thấy mình an toàn và tự chủ. Có người mô tả những thói quen của mình vào buổi sáng, có người tả cảnh mình ngồi ở hiên nhà nhìn ra những ngọn đồi. Chúng tôi sử dụng những mô tả này cho lần quét thứ hai để có cơ sở đối chiếu. Sau khi những người tham gia học thẩm để kiểm tra tính chính xác của kịch bản (đọc thầm giúp họ bớt xúc động hơn so với phải nghe người khác đọc hay tự đọc to lên), Rita thu âm nội dung kịch bản để phát cho họ nghe khi nằm trong máy quét. Một kịch bản điển hình như sau: Bạn sáu tuổi, một tối nọ, bạn chuẩn bị đi ngủ thì nghe thấy tiếng bố mẹ cãi nhau ầm ĩ. Bạn sợ hãi, bụng quặn thắt lại. Bạn và đứa em trai, em gái nhỏ nép người ở đầu cầu thang quan sát bố mẹ. Bạn nhìn qua lan can, thấy bố túm tay mẹ, còn mẹ thì cố gắng vùng ra. Mẹ khóc lóc, nhổ nước bọt, rít lên như quái vật. Mặt bạn đỏ bừng, thấy toàn thân nóng ran lên. Khi mẹ thoát khỏi tay bố, mẹ lao vào phòng ăn, đập vỡ một cái bình hoa bằng sứ rất đắt tiền. Bạn thét lên, cầu xin bố mẹ hãy ngừng lại nhưng họ phớt lờ. Mẹ bạn chạy lên cầu thang rồi đập bể cái tivi. Hai đứa em của bạn cố kéo mẹ trốn vào tủ quần áo. Tim bạn đập nhanh, toàn thân run cầm cập. Trong buổi đầu tiên, chúng tôi giải thích mục đích của khí oxy phóng xạ mà người tham gia sẽ thở: Khi bất kỳ bộ phận nào của não có hoạt động trao đổi chất mạnh lên hoặc yếu đi thì tỷ lệ tiêu hao oxy sẽ thay đổi ngay lập tức, máy quét sẽ ghi nhận những số liệu này. Chúng tôi cũng theo dõi huyết áp và nhịp tim của người đó trong suốt quá trình để so sánh các dấu hiệu sinh lý này với hoạt động của não. Vài ngày sau, những người tham gia đến phòng thí nghiệm để tiến hành quét não. Tình nguyện viên đầu tiên là Marsha, một giáo viên 40 tuổi. Đoạn băng ghi âm được bật lên, đưa cô trở lại ngày kinh hoàng của 13 năm về trước. Hôm ấy, cô đến đón con gái 5 tuổi Melissa đi cắm trại về. Trong lúc lái xe, Marsha nghe tiếng bíp bíp liên tục, báo hiệu rằng dây an toàn của bé Melissa chưa cài đúng. Khi nghiêng người về sau để chỉnh lại dây an toàn cho con gái, cô vượt đèn đỏ. Một chiếc xe khác húc mạnh vào mạn phải xe của cô, khiến bé Melissa chết ngay lập tức. Thai nhi 7 tháng tuổi trong bụng cô cũng qua đời. Chỉ sau một đêm, Marsha từ một phụ nữ vui vẻ, luôn là hoạt náo viên trong tất cả các bữa tiệc đã trở thành một người bị trầm cảm, ám ảnh, luôn tự trách móc bản thân. Vì không thể tiếp tục đối diện với trẻ em nên cổ ngừng đứng lớp, chuyển sang làm việc trong ban quản trị của trường. Như nhiều bậc cha mẹ đã mất con, Cô bị kích động mạnh khi nghe tiếng cười hạnh phúc của trẻ thơ. Vì muốn quên đi vết thương lòng, cô làm việc điên cuồng ngày đêm, nhưng nỗi đau vẫn thỉnh thoảng giày vò Cô. Tôi đứng bên ngoài máy quét, có thể theo dõi các phản ứng sinh lý của Marsha trên màn hình máy tính. Ngay khi chúng tôi vừa mở đoạn băng ghi âm kể lại câu chuyện tai nạn giao thông đau thương năm xưa, tim cô bắt đầu đập nhanh, huyết áp tăng vọt. Chỉ cần nghe đoạn ghi âm cũng đã kích hoạt những phản ứng sinh lý tương tự như khi cô gặp tai nạn 13 năm trước đó. Sau khi kịch bản thu âm kết thúc, nhịp tim và huyết áp của Marsha trở lại bình thường. Chúng tôi phát đoạn băng ghi âm thứ hai với nội dung ra khỏi giường và đánh răng, lần này nhịp tim và huyết áp của cô không thay đổi. Khi rời khỏi máy quét, cô Marsha trông rất thảm hại, tiều tụy và đông cứng người. Nhịp thở nông, hai mắt mở to và đôi vai co lại – đây chính là những biểu hiện của sự dễ tổn thương, không thể tự vệ. Chúng tôi cố gắng an ủi cô. Tôi tự hỏi bất kể điều gì chúng tôi khám phá được liệu có đáng với nỗi khổ tâm cô đang chịu đựng hay không? Sau khi tất cả 8 người tham gia đã hoàn thành quá trình quét não, Scott Rauch đã làm việc với các nhà toán học và thống kê để lập nên những hình ảnh tổng hợp, so sánh sự kích động do hồi ức gây ra với bộ não khi ở trạng thái trung lập. Sau vài tuần, anh gửi cho tôi kết quả mà bạn thấy trong hình bên dưới. Tôi nghiền ngẫm nó mỗ tối trong suốt vài tháng, chẳng khác nào một nhà thiên văn học say sưa ngắm nhìn một chòm sao mới phát hiện qua kính viễn vọng. Có một số điểm và màu sắc khó hiểu trên bức hình, nhưng vùng não bị kích hoạt mạnh nhất – một điểm màu đỏ lớn ở hạ trung tâm não phải, là vùng limbic, hay còn gọi là não cảm xúc – không có gì đáng ngạc nhiên. Chúng ta biết rõ những cảm xúc mãnh liệt kích hoạt hệ viền, đặc biệt là hạch hạnh nhân (amygdala), một phần của hệ viền (limbic system). Chúng ta phụ thuộc vào hạch hạnh nhân đe cảnh báo chúng ta về mối nguy hiểm sắp xảy ra và kích hoạt phản ứng stress của cơ thể. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng khi những người bị sang chấn tâm lý được tiếp xúc với hình ảnh, âm thanh hoặc những ý nghĩ liên quan đến kinh nghiệm đặc biệt của họ, hạch hạnh nhân phản ứng lại với báo động, thậm chí, như trong trường hợp của Marsha, là tận 13 năm sau sự kiện. Sự kích hoạt của trung tâm sợ hãi này sẽ phóng thích ồ ạt các hormone của stress và xung thần kinh làm tăng huyết áp, nhịp tim và lượng oxy hấp thụ của cơ thể nhằm chiến đấu hoặc chạy trốn. Các máy đo gắn ở cánh tay Marsha ghi lại trạng thái sinh lý của sự kích thích dữ dội này, mặc dù cô vẫn nhận thức được mình đang nằm lặng lẽ trong máy quét. NỖI KINH HOÀNG THẦM LẶNG Phát hiện đáng kinh ngạc nhất của chúng tôi là một đốm trắng thùy trán trái của vỏ não, trong một vùng gọi là Broca. Trong trường hợp có sự thay đổi màu sắc nghĩa là đã có sự suy giảm hoạt động đáng kể trong phần não đó. Vùng Broca là một trong những trung tâm thành lập từ và phát âm của não, thường bị ảnh hưởng ở những bệnh nhân bị đột quỵ khi nguồn cung cấp máu lên phần não này bị chặn lại. Khi vùng Broca không hoạt động, bạn không thể diễn giải những suy nghĩ và cảm xúc thành lời. Những hình quét của chúng tôi cho thấy vùng Broca hoàn toàn bị tắt mỗi khi có một hồi ức nào đó bị kích hoạt. Nói cách khác, chúng ta đã có bằng chứng trực quan cho thấy những ảnh hưởng của sang chấn không nhất thiết phải khác biệt – và có thể chồng chéo – với ảnh hưởng từ các tổn thương thể chất như đột quỵ. Mọi sang chấn tâm lý đều câm lặng. Trong những điều kiện khắc nghiệt, người ta có thể hét lên những lời tục tĩu, cầu cứu mẹ, gào thét, hoặc đơn giản là câm lặng. Nạn nhân của các vụ tấn công và tai nạn ngồi câm lặng trong phòng cấp cứu, trẻ em bị tổn thương thường “mất ngôn ngữ”, không muốn nói chuyện. Các bức ảnh chụp những người lính thường có hình ảnh những người đàn ông nhìn chằm chằm vào hư không với đôi mắt vô hồn. Ngay cả nhiều năm về sau, những người bị sang chấn thường rất khó có thể kể cho người khác nghe về những điều khủng khiếp \đã xảy ra với họ. Cơ thể của họ tái trải nghiệm những cơn khủng hoảng, thịnh nộ và buông xuôi, cũng như cảm giác bị thúc đẩy phải chiến đấu hoặc bỏ chạy, nhưng những cảm giác này hầu như không thể nói thành lời. Bản chất của sang chấn là khiến chúng ta không thật hiểu chuyện gì đã xảy ra, khiến chúng ta “đánh mất ngôn ngữ”. Song, điều này không có nghĩa tất cả những người bị sang chấn đều không thể nói về bi kịch đã xảy ra với họ. Sớm muộn gì thì họ cũng sẽ kể câu chuyện của mình để lý giải cho những triệu chứng và hành vi của họ. Tuy nhiên, những câu chuyện này hiếm khi lột tả hết trải nghiệm thực sự của người trong cuộc. Rất khó sắp xếp mạch lạc những trải nghiệm đau thương của một con người, nghĩa là rất khó có thể tạo dựng một câu chuyện có đầy đủ ba phần mở đầu, diễn biến và kết thúc. Ngay cả Ed Murrow - phóng viên dày dạn và nổi tiếng của đài CBS - cũng phải rất nỗ lực mới truyền đạt những hành động tàn bạo mà ông chứng kiến trong trại tập trung Buchenwald của Đức Quốc xã được giải phóng vào năm 1945: “Tôi mong rằng các bạn sẽ tin những gì tôi nói. Tôi đưa tin lại những gì tôi đã thấy và nghe được, nhưng chỉ một phần thôi. Vì phần lớn những điều còn lại tôi không có lời nào để diễn tả”. Khi lời nói trở nên vô dụng thì những hình ảnh đáng sợ của trải nghiệm sẽ lên ngôi, biến thành những cơn ác mộng và hồi tưởng. Trái với sự bất hoạt của vùng Broca, một khu vực khác của những người tham gia, vùng 19 của Brodmann, lại sáng lên. Đây là một vùng trong vỏ não thị giác ghi nhận hình ảnh lần đầu tiên lưu vào não. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy khu vực này của não còn hoạt động rất lâu sau lần trải nghiệm sang chấn ban đầu. Dưới điều kiện bình thường, các hình ảnh nguyên bản được ghi nhận trong khu vực 19 được phân tán nhanh chóng tới các vùng não khác nhằm giải thích ý nghĩa của những gì đã được nhìn thấy. Một lần nữa, chúng ta lại chứng kiến một vùng não lại sáng lên như thể tình huống gây sang chấn đang thật sự diễn ra. Khi đọc chương 12, thảo luận về trí nhớ, bạn đọc sẽ thấy các mảnh cảm giác chưa được xử lý khác như âm thanh, mùi và cảm giác vật lý - cũng được ghi nhận riêng biệt với chính câu chuyện. Những cảm giác tương tự thường khiến bệnh nhân hồi tưởng lại sống động chuyện ngày xưa, cứ như thể đang sống ngay trong câu chuyện đó. CHUYỂN HƯỚNG SANG MỘT BÊN CỦA BÁN CẦU NÃO Những hình chụp não bộ cũng tiết lộ rằng, trong quá trình hội tưởng, não của các đối tượng trong thí nghiệm của chúng tôi chỉ sáng lên ở bên phải. Ngày nay, có rất nhiều tài liệu khoa học phổ biến về sự khác biệt giữa não phải và trái. Đầu những năm 1990, tôi nghe nói một số người bắt đầu phân chia thế giới thành những người não trái (người có lý trí, hợp lý) và những người não phải (người theo trực giác, nghệ thuật), nhưng tôi không chú ý nhiều đến ý tưởng này. Tuy nhiên, những hình chụp của chúng tôi cho thấy rõ rằng những hình ảnh của sang chấn trong quá khứ kích hoạt bán cầu não phải trong khi lại vô hiệu hóa bán cầu não trái. Giờ đây, chúng ta đã biết rằng hai bán cầu não của con người không giống nhau. Bên phải là trực quan, cảm xúc, thị giác, không gian, xúc giác; và bên trái là ngôn ngữ, trình tự và phân tích. Trong khi nửa bán cầu não trái đảm nhiệm chức năng trò chuyện thì nửa bán cầu não phải mang âm hưởng của trải nghiệm, nó giao tiếp thông qua các biểu hiện trên khuôn mặt, ngôn ngữ cơ thể, và bằng âm thanh của tình yêu và nỗi buồn: khóc, khiêu vũ hoặc bắt chước. Não phải là bán cầu não đầu tiên phát triển trong bào thai, và nó mang theo giao tiếp phi ngôn ngữ giữa mẹ với trẻ sơ sinh. Bán cầu não trái hoạt động khi trẻ bắt đầu hiểu ngôn ngữ và học cách nói chuyện. Điều này cho phép trẻ đặt tên mọi thứ, so sánh chúng, hiểu mối tương quan giữa chúng và bắt đầu truyền đạt những trải nghiệm độc đáo, chủ quan của trẻ cho người khác nghe. Hai bán cầu não cũng xử lý những dấu ấn của quá khứ theo những cách hoàn toàn khác biệt nhau”. Bán cầu não trái nhớ lại các sự kiện, số liệu thống kê và từ vựng chỉ các sự kiện. Chúng ta cần nó để giải thích và sắp xếp những trải nghiệm. Bán cầu não phải lưu trữ những kỷ niệm về âm thanh, va chạm, mùi hương và cảm xúc mà chúng gợi lên. Nó phản ứng tự động với tiếng nói, nét mặt, cử chỉ và nơi chốn từng trải nghiệm trong quá khứ. Những gì nó gợi nhớ lại cảm giác như đó là sự thật trực quan – là bản chất của mọi thứ. Ngay cả khi chúng ta liệt kê những đức tính của một người thân với một người bạn, cảm xúc của chúng ta có thể được khuấy động sâu sắc hơn bởi vì gương mặt cô ấy gọi cho chúng ta nhớ về người dì thân thương của chúng ta hồi năm 4 tuổi. Trong những tình huống thông thường, hai bên bán cầu não hoạt động liên kết nhuần nhuyễn với nhau không ít thì nhiều, ngay cả đối với những người nói rằng họ thường thiên về một bên não hơn bên kia. Tuy nhiên, nếu có một bên ngưng hoạt động, thậm chí chỉ là tạm thời, hoặc có một bên não bị cắt đứt hoàn toàn (điều này thông thường xảy ra trong giai đoạn đầu của những ca mổ não) sẽ khiến não bộ bị vô hiệu hóa. Não trái ngưng hoạt động khiến các trải nghiệm không thể sắp xếp theo trật tự, các cảm xúc và nhận thức không thể diễn giải được thành lời. Không có sự sắp xếp đó, chúng ta không tài nào nhận diện được nguyên nhân và kết quả, không nắm bắt được những hệ quả lâu dài do hành động của chúng ta mang lại, cũng không lập được những kế hoạch chặt chẽ cho tương lai. Những người đau khổ cùng cực thường nói rằng họ như đang “phát điên”. Theo nghĩa chuyên môn là họ đang gặp phải tình trạng mất chức năng điều hành. Khi cái gì đó gợi nhớ cho người bị tổn thương về chuyện quá khứ, não phải của họ phản ứng như thể sự kiện gây sang chấn đang diễn ra trong hiện tại. Nhưng vì não trái của họ không hoạt động tốt, họ có thể không nhận thức được rằng họ đang tải trải nghiệm và tái hiện lại quá khứ – họ chỉ nổi nóng, sợ hãi, tức giận, xấu hổ hoặc cứng đờ người lại. Khi cơn bão cảm xúc qua đi, họ sẽ tìm kiếm cái gì đó hoặc ai đó để đổ lỗi. Họ hành xử như vậy chỉ vì bạn trễ hẹn 10 phút, vì bạn làm cháy khoai tây hoặc vì bạn “chẳng bao giờ nghe lời tôi”. Tất nhiên, hầu hết chúng ta đều từng hành xử như vậy, nhưng khi bớt nóng giận, chúng ta hy vọng có thể thừa nhận lỗi lầm của mình. Những người bị sang chấn thường không nhận thức được như vậy. Các nghiên cứu đã lý giải được hiện tượng này. MẮC KẸT GIỮA CHIẾN ĐẤU HAY CHẠY TRỐN Chúng tôi dần dần hiểu những gì xảy ra với Marsha trong máy quét. Dù bi kịch của cô đã xảy ra cách đây 13 năm nhưng ký ức của cô vẫn còn lưu trữ nó. Khi có lại những cảm giác về âm thanh, hình ảnh kinh hoàng năm xưa, hệ thống báo động của cô bị kích hoạt, khiến cô phản ứng như thể lúc cô nhận được hung tin con gái mình đã chết. Khoảng thời gian 13 năm không có ý nghĩa gì cả. Nhịp tim, huyết áp của cô tăng vọt cho thấy cơ thể cô đang báo động điên cuồng. Adrenaline là một trong những hormone quan trọng giúp chúng ta chiến đấu hoặc chạy trốn khi gặp nguy hiểm. Adrenaline tăng lên làm nhịp tim và huyết áp của những người tham gia tăng vọt khi họ nghe câu chuyện gây sang chấn của mình. Trong điều kiện bình thường, con người phản ứng với mối đe dọa bằng sự gia tăng tạm thời các hormone của stress. Ngay khi mối đe dọa kết thúc, các hormone tiêu tan và cơ thể trở lại bình thường. Ngược lại, các hormone của stress ở người bị sang chấn mất nhiều thời gian hơn để quay trở về mức bình thường cũng như chúng bị tăng đột ngột và không cân xứng khi đáp ứng với các kích thích căng thẳng nhẹ. Tác động xấu từ sự gia tăng liên tục các hormone của stress bao gồm các vấn đề về bộ nhớ và sự chú ý, dễ cáu gắt và rối loạn giấc ngủ. Chúng cũng gây ra các vấn đề sức khỏe lâu dài, tùy thuộc vào hệ thống cơ thể dễ bị tổn thương nhất của từng người. Bây giờ, chúng ta biết có thể còn một phản ứng nữa khi đối mặt với mối đe dọa, mà phương pháp quét não vẫn chưa thể đo được. Một số người đơn giản rơi vào trạng thái phủ nhận: Cơ thể họ ghi nhận mối đe dọa, nhưng tâm trí vẫn tiếp tục hoạt động như thế chẳng có gì xảy ra. Tuy nhiên, mặc dù tâm trí có thể học cách phát là những thông điệp từ bộ não đầy cảm xúc, nhưng các tín hiệu báo động không dừng lại. Phần não đa cảm tiếp tục hoạt động, và những hormone của stress vẫn tiếp tục gửi tín hiệu đến các cơ bắp khiến chúng căng lên để chuẩn bị hành động, hoặc bất động rồi sụp đổ hoàn toàn. Các ảnh hưởng thể chất trên các cơ quan không suy giảm cho đến khi chúng nhận được thông báo là chúng đang biểu hiện như bệnh lý. Các loại thuốc, ma túy và rượu cũng có thể tạm thời làm dịu đi hoặc xóa bỏ những cảm giác và cảm xúc mà người bị sang chấn không thể chịu đựng được, nhưng bộ não họ vẫn tiếp tục lưu giữ các thông tin về tình huống sang chấn ấy. Chúng ta có thể diễn giải những gì xảy ra với Marsha trong máy quét từ nhiều góc nhìn khác nhau, mỗi góc nhìn đều ẩn chứa phương pháp điều trị. Chúng ta có thể tập trung vào những gián đoạn rõ rệt về hóa học thần kinh cũng như sinh lý, và chứng minh rằng cô ấy đang chịu ảnh hưởng từ sự tái kích hoạt tình trạng mất cân bằng sinh hóa mỗi khi cô ấy bị gợi nhớ về cái chết của con gái mình. Từ đó, chúng ta có thể tìm ra một loại thuốc hay kết hợp nhiều loại thuốc để làm giảm những phản ứng hoặc, khả quan nhất, giúp khôi phục sự cân bằng hóa học trong cơ thể của cô. Dựa trên kết quả thu được từ máy quét, một vài đồng nghiệp của tôi ở Bệnh viện Đa khoa Massachusetts tiến hành nghiên cứu những loại thuốc có thể giúp bệnh nhân ít phản ứng hơn khi lượng adrenaline tăng lên. Chúng ta cũng có thể suy luận rằng Marsha nhạy cảm quá mức với ký ức. Cách điều trị tốt nhất cho cô là áp dụng một số hình thức giải mẫn cảm (desensitization)*. Sau nhiều lần lặp lại chi tiết của tình huống gây sang chấn với một nhà trị liệu, những phản ứng sinh học của cô có thể trở nên câm lặng, từ đó, cô có thể nhận ra và nhớ rằng “đó là quá khứ, còn đây là hiện tại” hơn là tái hiện đi tái hiện lại trải nghiệm đó. Hơn 100 năm qua, các sách giáo khoa về tâm lý học và trị liệu tâm lý đều khuyên rằng một số phương pháp trò chuyện về những cảm nhận buồn phiền có thể hiệu quả. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, chính trải nghiệm sang chấn đã ngăn chặn điều này. Cho dù chúng ta có biết hay thấu hiểu nhiều đến nhường nào, phần não duy lý, về cơ bản, hoàn toàn mất khả năng kéo phần não đa cảm ra khỏi thực tại của nó. Tôi liên tục ngạc nhiên khi thấy các bệnh nhân rất khó khăn khi cố gắng diễn đạt bản chất trải nghiệm của họ. Họ dễ dàng kể về những gì đã xảy đến với họ, kể một câu chuyện về nạn nhân và thù hận hơn là nhận thấy, cảm nhận và nói lên sự thật về trải nghiệm sâu thẳm trong họ. Những hình chụp bộ não bị sang chấn đã cho thấy nỗi sợ hãi của họ đã tồn tại và có thể bị kích hoạt bằng nhiều khía cạnh trong những trải nghiệm cuộc sống hằng ngày. Họ không thể tích hợp những trải nghiệm này vào dòng chảy cuộc đời họ. Họ cứ tiếp tục “ở đó” và không biết làm thế nào để “ở đây”, tức thực sự sống trong thực tại. Ba năm sau khi tham gia nghiên cứu của chúng tôi, Marsha trở thành bệnh nhân của tôi. Tôi đã chữa trị cho cô ấy thành công bằng EMDR (xem chương 15). PHẦN II KHÁM PHÁ BỘ NÃO BỊ SANG CHẤN Chương 4 TẨU THOÁT: GIẢI PHẪU BẢN NĂNG SINH TỒN Trước khi bộ não xuất hiện, vũ trụ này là nơi Vô sắc, vô thanh, vô vị, vô hương và có lẽ, mang một chút cảm giác nhưng vô cảm. Và hơn hết, vũ trụ này cũng vô lo và vô ưu. Roger Sperry Ngày 11/9/2001, bé Noam Saul 5 tuổi, học lớp 1, chứng kiến chiếc máy bay đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới (World Trade Center, New York) từ cửa sổ phòng học của bé, cách Trung tâm Thương mại Thế giới chưa đầy một cây số. Bé và bạn bè, cô giáo cùng chạy xuống cầu thang đến sảnh, nơi hầu hết các em được đoàn tụ với bố mẹ, những người vừa mới đưa các bé đến trường vài phút trước. Noam, anh trai của em, và ba của các bé là ba trong số hàng chục ngàn người sáng hôm đó đã phải chạy qua đống đổ nát, tro tàn và khói bụi để thoát thân. 10 ngày sau sự kiện kinh hoàng ấy, tôi đến thăm gia đình của Noam vì bố mẹ của bé là bạn tôi. Tôi và bố mẹ bé đi dạo trong màn đêm rợn người, ngang qua cái hố còn tỏa khói, nơi từng là tòa tháp cao sừng sững, thấy những đội cứu hộ vẫn đang cật lực làm việc. Khi chúng tôi trở về nhà, bé Noam vẫn còn thức. Bé cho tôi xem bức tranh đã vẽ vào lúc 9 giờ sáng ngày 12/9. Bản vẽ mô tả những gì bé đã nhìn thấy ngày hôm trước: một chiếc máy bay đâm vào tháp, một quả cầu lửa, lính cứu hỏa và những người nhảy từ cửa sổ tòa tháp. Nhưng ở dưới cùng của bức tranh bé đã vẽ một thứ khác: một vòng tròn màu đen ở chân các tòa nhà. Tôi không biết đó là gì, thế nên tôi hỏi bé: - Đây là gì vậy cháu? - Đó là đệm lò xo ạ! - Tại sao lại có đệm lò xo ở đây? - Để lần sau, khi mọi người phải nhảy xuống từ tòa tháp thì họ sẽ được an toàn! Tôi sững sờ! Cậu bé 5 tuổi này, nhân chứng của một thảm họa, đã dùng trí tưởng tượng để xử lý những gì em đã chứng kiến và cũng là để tiếp tục sống cuộc đời bình thường của mình. Bé Noam thật may mắn vì cả gia đình bé đều an toàn trong thảm họa ấy. Bé lớn lên trong tình yêu thương và dần hiểu rằng mọi chuyện đang dần trôi qua. Khi thảm họa xảy ra, những phản ứng và biểu hiện của bố mẹ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến trẻ em. Nếu bố mẹ bình tĩnh và vẫn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của bé thì bé sẽ không bị vết sẹo tâm lý nghiêm trọng nào. Câu chuyện của bé Noam giúp ta nhìn thấy hai khía cạnh cơ bản của phản ứng thích nghi với những mối đe dọa. Khi máy bay đâm vào tòa tháp, bé đã chạy khỏi lớp học, nghĩa là đã chủ động cứu mình. Khi quay về ngôi nhà an toàn, êm ấm của mình, chuông báo động trong não và cơ thể bé liền tắt, giúp bé bình tĩnh lại và kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra, thậm chí bé còn tưởng tượng ra một cách rất sáng tạo để giúp mọi người sống sót là kế một cái đệm lò xo. Trái ngược với bé Noam, nhiều người bị sang chấn hoàn toàn bị mắc kẹt trong quá khứ, họ không thể phát triển cuộc sống cá nhân vì không thể đón nhận những trải nghiệm sống mới. Họ sống như thể sang chấn vẫn còn đó và sẽ vĩnh viễn ở đó. Bóng ma quá khứ bao phủ toàn bộ cuộc đời họ. Sau sang chấn, nạn nhân sẽ trải nghiệm thế giới với một hệ thần kinh khác. Họ dồn năng lượng để đàn áp những cảm xúc hỗn loạn bên trong, kiểm soát các phản ứng sinh lý không thể chịu nổi. Hậu quả là cơ thể họ gặp hàng loạt vấn đề như đau cơ xơ hóa, mệt mỏi mạn tính và mắc các bệnh tự miễn khác. Điều này giải thích tại sao khi trị liệu sang chấn, ta rất cần nhìn nó trong mối liên quan với các cơ quan nội tạng, cơ thể, tinh thần và não bộ. TỔ CHỨC ĐỂ SINH TỒN Bức hình minh họa ngay trên cho thấy phản ứng toàn thân đối với mối đe dọa. Khi hệ thống báo động của não được bật lên, nó sẽ tự động kích hoạt các kế hoạch thoát hiểm được lập trình trước trong những phần nguyên thủy nhất của não bộ. Giống như các loài động vật khác, các dây thần kinh và hóa chất tạo nên cấu trúc cơ bản của não có mối liên hệ trực tiếp với cơ thể chúng ta. Khi bộ não nguyên thủy nắm quyền kiểm soát, nó ức chế phần não cao cấp hơn, ức chế tâm trí của chúng ta và thúc đẩy cơ thể chạy trốn, chiến đấu, hoặc đôi khi đóng băng. Đến lúc chúng ta hoàn toàn ý thức được vấn đề thì cơ thể chúng ta đã hành động mất rồi. Nếu phản ứng chống trả, trốn chạy, đóng băng thành công và chúng ta thoát ra được khỏi nguy hiểm, chúng ta sẽ lấy lại cân bằng bên trong và dần dần “lấy lại được giác quan của chúng ta”. Nếu vì một lý do nào đó, phản ứng bình thường bị chặn lại, ví dụ như khi người ta bị kẹt hoặc bị ngăn cản thực hiện hành động có hiệu quả, có thể là trong vùng chiến tranh, tai nạn xe hơi, bạo lực gia đình, hoặc hãm hiếp, não bộ sẽ liên tục giải phóng các chất gây stress, và các mạch điện não tiếp tục hoạt động một cách vô ích. Sau khi sự kiện thực tế trôi qua rất lâu rồi, não vẫn có thể tiếp tục gửi tín hiệu đến cơ thể để thoát khỏi một mối đe dọa không còn tồn tại nữa. Từ năm 1889, khi nhà tâm lý học người Pháp Pierre Janet xuất bản tài liệu khoa học đầu tiên về sang chấn, người ta nhận thấy những người sống sót sau sang chấn có xu hướng tiếp tục hành động hoặc đúng hơn là nỗ lực (vô ích) hành động vốn bắt đầu khi xảy ra sự kiện”. Khi gặp nguy hiểm, việc bạn có thể di chuyển và làm điều gì đó để tự vệ hay không sẽ quyết định trải nghiệm kinh hoàng ấy có để lại vết sẹo lâu dài trong lòng bạn hay không. Trong chương này, tôi sẽ đi sâu phân tích các phản ứng của não đối với sang chấn. Khoa học thần kinh càng phát hiện nhiều điều về bộ não, chúng ta càng nhận ra não là một mạng lưới rộng khắp các bộ phận kết nối được tổ chức để giúp chúng ta tồn tại và phát triển. Hiểu được cách thức các phần này làm việc cùng nhau sẽ giúp ta hiểu được sự ảnh hưởng của sang chấn đến từng bộ phận cơ thể và tìm được cách giải quyết stress do sang chấn. NÃO BỘ TỪ DƯỚI LÊN TRÊN Nhiệm vụ quan trọng nhất của bộ não là đảm bảo sự sống còn của con người, ngay cả trong điều kiện khó khăn nhất. Để làm được điều đó, não bộ cần phải: (1) tạo ra các tín hiệu nội bộ ghi nhận những gì cơ thể chúng ta cần, chẳng hạn như thức ăn, nghỉ ngơi, bảo vệ, tình dục, và nơi trú ẩn; (2) tạo ra một bản đồ, chỉ đường cho chúng ta tới nơi cần đến để được thỏa mãn những nhu cầu đó; (3) tạo ra năng lượng và hành động cần thiết đưa chúng ta đến được nơi đó; (4) cảnh báo chúng ta về những nguy hiểm và cơ hội trên đường đi; và (5) điều chỉnh hành động của chúng ta dựa trên yêu cầu của từng thời điểm. Vì con người là động vật hữu nhũ, loài sinh vật chỉ có thể tồn tại và phát triển theo nhóm, tất cả các yêu cầu này đòi hỏi sự phối hợp và hợp tác. Các vấn đề tâm lý xảy ra khi các tín hiệu nội tại của chúng ta không hoạt động, khi các bản đồ không dẫn chúng ta tới nơi cần phải tới, khi chúng ta quá tê liệt để di chuyển, khi hành động của chúng ta không tương ứng với nhu cầu, hoặc khi những mối quan hệ của chúng ta sụp đổ. Mỗi cấu trúc não tôi đề cập đến có một vai trò trong các chức năng thiết yếu này, và như chúng ta sẽ thấy, sang chấn có thể gây trở ngại cho từng loại cấu trúc một. Phần não lý trí của chúng ta thực sự là bộ phận trẻ nhất của não bộ và chỉ chiếm khoảng 30% trong hộp sọ. Bộ não lý trí chủ yếu quan tâm đến thế giới bên ngoài: hiểu biết về cách thức mà mọi thứ và mọi người làm việc và tìm cách đạt được các mục tiêu, quản lý thời gian và sắp xếp hành động. Bên dưới phần não bộ này là hai phần não già hơn về mặt tiến hóa, và ở một mức độ nào đó, hai phần não này khác biệt hoàn toàn và đảm nhiệm tất cả những chức năng khác: ghi nhận từng thời khắc trôi qua và quản lý quá trình sinh lý của cơ thể cũng như xác định sự thoải mái, an toàn, đe dọa, đói khát, mệt mỏi, khao khát, phấn khởi, niềm vui, và đau đớn. Bộ não được cấu thành từ dưới lên trên. Nó phát triển theo từng cấp từ khi đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ, không khác gì quy trình tiến hóa. Phần nguyên thủy nhất, phần hoạt động sẵn ngay khi chúng ta sinh ra, là não động vật cổ đại, thường gọi là phần não bò sát. Nó nằm ở thân não (brainstem), ngay phía trên vị trí tủy sống đi vào hộp sọ. Phần não bò sát đảm nhiệm tất cả những thứ mà trẻ sơ sinh có thể làm: ăn, ngủ, thức dậy, khóc, hít thở, cảm giác nhiệt độ, đói, ẩm ướt và đau, loại bỏ các chất độc bằng cách đi tiêu tiểu. Thân não và vùng dưới đồi (hypothalamus) (nằm ngay bên trên) cùng nhau kiểm soát mức năng lượng của cơ thể. Chúng phối hợp hoạt động của tim và phổi, cũng như hệ thống nội tiết và miễn dịch, đảm bảo các hệ thống cơ bản giúp duy trì sự sống này được duy trì trong sự cân bằng nội tại tương đối ổn định, còn gọi là sự cân bằng nội môi. Thở, ăn, ngủ, và tiêu tiểu là những chuyện cơ bản đến nỗi ý nghĩa của chúng dễ bị lãng quên khi chúng ta xem xét tính phức tạp của trí tuệ và hành vi. Tuy nhiên, nếu giấc ngủ của bạn bị xáo trộn hoặc ruột của bạn không hoạt động, hoặc nếu bạn luôn cảm thấy đói, hoặc nếu bị ai đó chạm vào là bạn chỉ muốn hét lên (đây là điều thường thấy ở những người bị sang chấn), thì toàn bộ cơ thể của bạn đã bị mất cân bằng. Ngạc nhiên thay, có biết bao nhiêu là vấn đề về tâm lý liên quan đến giấc ngủ, sự ngon miệng, xúc chạm, tiêu hóa, và hưng phấn. Bất kỳ phương pháp điều trị sang chấn có hiệu quả nào cũng phải giải quyết được những rối loạn chức năng cơ bản như thế của cơ thể. Ngay trên phần não bò sát là hệ viền (limbic system). Nó còn được gọi là phần não động vật hữu nhũ, bởi vì tất cả các động vật sống thành nhóm và nuôi dưỡng con non của chúng đều có phần não này. Phần não động vật hữu nhũ chỉ thực sự phát triển sau khi đứa trẻ chào đời. Đó là vị trí của cảm xúc, giám sát nguy hiểm, nhận định cái gì là đáng vui hoặc đáng sợ, phán xét cái gì là quan trọng hoặc không quan trọng cho mục đích tồn tại. Đây cũng là một vị trí chỉ huy trung tâm để đương đầu với những thách thức của cuộc sống trong mạng lưới xã hội phức tạp của chúng ta. Hệ viền được hình thành để đáp ứng với kinh nghiệm, cùng với bản chất di truyền và tính khí bẩm sinh của trẻ sơ sinh. (Như tất cả các bậc cha mẹ đều nhanh chóng nhận ra, rằng với cùng một sự kiện giống nhau thì mỗi trẻ sơ sinh có phản ứng khác nhau về mặt cường độ và tính chất.) Bất kể điều gì xảy ra với một đứa trẻ thì đều đóng góp vào quá trình hình thành tấm bản đồ cảm xúc và nhận thức về thế giới do bộ não đang phát triển của trẻ tạo ra. Theo cách giải thích của Bruce Perry, đồng nghiệp của tôi, các tế bào thần kinh được hình thành theo cách “sử dụng lẫn nhau - phụ thuộc vào nhau”. Đây là một cách khác để mô tả tính khả biến thần kinh (neuroplasticity), một khám phá tương đối gần đây phát hiện ra rằng các tế bào thần kinh “sáng lên cùng nhau, kết nối với nhau”. Khi một mạch thần """