"
Phù Thủy Hắc Ám Trở Lại - Chris Colfer full mobi pdf epub azw3 [Best Seller]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Phù Thủy Hắc Ám Trở Lại - Chris Colfer full mobi pdf epub azw3 [Best Seller]
Ebooks
Nhóm Zalo
CHRIS COLFER
Trương Hoàng Uyên Phương dịch
—★—
NXB TRẺ
ebook©vctvegroup | 10-11-2020
Gửi Hannah, người dũng cảm nhất, mạnh mẽ nhất, và trung thực nhất mà tôi biết, người đã chứng tỏ rằng “bị nguyền rủa” là điều không thể khi có một trái tim dũng cảm như bạn, người đã cho tôi nếm trải cảm giác bị đánh bầm mắt lần đầu trong đời – lúc bạn chỉ vừa lên bốn, còn tôi lên chín. Đến giờ vẫn còn đau. Bubba yêu bạn.
“Thế giới này sẽ không bị hủy hoại trong tay những kẻ làm điều ác, mà bởi những người đã khoanh tay đứng nhìn chuyện đó xảy ra.” - Albert Einstein
MỞ ĐẦU
Trỗi Dậy Và Trở Lại
Những ngày này, miền Đông đang mở hội linh đình. Ngày nào cũng như ngày nấy, hàng đoàn diễu hành tỏa đi khắp các đường phố, nhà nhà được trang hoàng với băng rôn và vòng hoa rực rỡ, từng nắm cánh hoa được tung chấp chới trên cao. Người dân ai ai cũng tươi cười, tự hào vì thành quả mới đây của họ.
Phải mất hơn một thập kỷ Vương quốc Say Ngủ mới hoàn toàn phục hồi, thoát khỏi lời nguyền mê ngủ đáng sợ trong quá khứ, cuối cùng, vương quốc đã hồi sinh và trở lại là đất nước phồn vinh như trước đây. Người dân miền Đông hiên ngang tiến vào tương lai mới, giành lại quê nhà của họ với cái tên Vương quốc Đông Phương.
Cả tuần lễ hội hè kết lại trong đại sảnh lâu đài của Nữ hoàng Ngủ Trong Rừng. Tòa lâu đài chật ních người, dường như cư dân cả vương quốc đã tụ tập ở đó; nhiều người phải đứng hay ngồi trên bậu cửa sổ. Nữ hoàng, Đức vua Chase phu quân của nàng, và cố
vấn hoàng gia ngồi sau một chiếc bàn cao nhìn ra bao quát cảnh tiệc tùng náo nhiệt.
Một vở kịch nho nhỏ đang diễn ra ở trung tâm đại sảnh. Các diễn viên đang tái hiện buổi lễ ban phước cho Người Đẹp Ngủ Trong Rừng, đóng vai những bà tiên đã chúc phúc cho nàng và mụ Phù thủy Hắc Ám, người đã nguyền rủa nàng phải chết sau khi ngón tay bị cây kim trên một chiếc xa quay đâm phải. May thay, một bà tiên khác đã giảm nhẹ lời nguyền, để khi công chúa bị kim đâm thật, nàng và cả vương quốc chỉ chìm vào giấc ngủ. Họ đã ngủ mê man suốt một trăm năm và các diễn viên rất hào hứng khi diễn lại khoảnh khắc Vua Chase đặt lên môi nàng một nụ hôn, đánh thức cả vương quốc.
“Tôi nghĩ đến lúc chúng ta tạm biệt món quà nhỏ của nữ hoàng rồi,” một phụ nữ kêu lên từ cuối đại sảnh. Cô đứng lên một cái bàn và vui vẻ chỉ vào cổ tay mình.
Tất cả thần dân trong vương quốc đều mang quanh cổ tay họ những sợi thun làm từ nhựa cây. Năm trước, Nữ hoàng Ngủ Trong Rừng đã ra chỉ thị cho mọi người phải bật dây thun vào cổ tay mỗi khi cảm thấy cơn mệt mỏi vô cớ ập đến. Những sợi thun đã giúp cho người dân vương quốc giữ mình tỉnh táo, chống lại chút ảnh hưởng còn vương vất của lời nguyền.
May sao, dây thun giờ đã không còn cần thiết nữa. Mọi người trong sảnh nhất loạt gỡ thun ra khỏi cổ tay và vui sướng tung chúng lên cao.
“Tâu Nữ hoàng, người sẽ kể lại cho chúng thần biết từ đâu người đã học được một mẹo hay như thế chứ ạ?” một người đàn ông khẩn
cầu.
“Các ngươi hẳn sẽ thấy lạ lùng khi nghe ta kể,” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng đáp. “Ta học được mẹo đó từ một đứa trẻ. Cậu bé ấy và chị mình đã ghé thăm lâu đài năm trước. Cậu ấy kể đã dùng dây thun để giữ mình tỉnh táo khi ở trường và đề nghị vương quốc ta thử cách đó.”
“Thật phi thường!” người đàn ông tán thưởng và bật cười với nàng.
“Thú vị quá, phải không? Ta tin rằng những ý tưởng kiệt xuất nhất đều do trẻ em nghĩ ra cả,” nữ hoàng nói. “Nếu tất cả chúng ta đều tinh ý như thế, ta sẽ thấy giải pháp đơn giản nhất cho những vấn đề to tát nhất đều đang ở ngay trước mắt ta chứ chẳng phải đâu xa.”
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng dùng một chiếc thìa gõ khe khẽ vào ly để ra hiệu. Nàng đứng lên và bắt đầu nói trước những người dân đang nóng lòng trông đợi.
“Các bạn của ta,” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng lên tiếng, nâng ly lên. “Hôm nay đánh dấu một ngày vô cùng đặc biệt trong lịch sử nước ta và mở ra những ngày tốt đẹp hơn nữa cho tương lai. Trong buổi sáng này, công việc thương mại, vụ mùa, và trạng thái tỉnh táo nói chung của vương quốc chúng ta không những đã phục hồi mà còn tiến bộ hơn trước ngày lời nguyền say ngủ giáng lên mảnh đất này!”
Tiếng hoan hô của người dân vang dội đến nỗi cả lâu đài rung lên trong niềm hân hoan vui sướng. Người Đẹp Ngủ Trong Rừng nhìn sang bên cạnh và chia sẻ với chồng một nụ cười ấm áp.
“Chúng ta không nên lãng quên lời nguyền kinh khủng trong quá khứ mà những khi nhìn lại thời kỳ đen tối đó, hãy nhớ chúng ta đã chiến thắng nó như thế nào,” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng tiếp tục. Những giọt lệ nhỏ dâng lên trong mắt nàng. “Hãy để đó là lời cảnh báo cho những kẻ muốn cản trở sự phát triển của chúng ta: Vương quốc Đông Phương đây sẽ không lùi bước và đồng lòng đứng lên chống lại mọi thế lực gian ác dám phạm đến nó!”
Tiếng hò reo tán thưởng dội vang đến nỗi thậm chí đã làm một người đàn ông bật ngã khỏi bậu cửa sổ đang ngồi.
“Tôi chưa bao giờ tự hào như khi được đứng giữa các bạn tối nay! Ly này để chúc tất cả các bạn!” nữ hoàng nói trong niềm hạnh phúc rạng ngời, và cả gian phòng cùng nâng ly với nàng.
“Nữ hoàng Ngủ Trong Rừng muôn năm!” một người đàn ông đứng giữa đại sảnh reo lên.
“Nữ hoàng muôn năm!” người người tung hô cùng ông ấy. “Nữ hoàng muôn năm! Nữ hoàng muôn năm!” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng hòa nhã vẫy tay đáp lại họ và ngồi xuống. Buổi tiệc tiếp tục đến khuya, nhưng ngay trước nửa đêm, nữ hoàng bất chợt bị một cảm giác lạ thường xâm chiếm – một cảm giác mà đã nhiều năm nàng không hề cảm thấy.
“Thật lạ làm sao?” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng tự nhủ, nàng đưa mắt nhìn xa xăm và khẽ mỉm cười.
“Có chuyện gì không ổn hở em?” Vua Chase hỏi.
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng đứng dậy và đi về hướng cầu thang phía sau họ.
“Chàng phải cho em lui thôi, chàng thân yêu,” nữ hoàng nói với phu quân. “Em hơi buồn ngủ.”
Nói ra điều đó, nàng cũng ngạc nhiên không kém đức phu quân, Người Đẹp Ngủ Trong Rừng đã nhiều năm rồi không ngủ. Nữ hoàng đã hứa với thần dân rằng nàng sẽ không ngơi nghỉ cho đến khi nào vương quốc được khôi phục hoàn toàn; giờ thì, khi nhìn vào những gương mặt rạng rỡ niềm vui trong đại sảnh, đức vua và nữ hoàng đều biết rằng họ đã thực hiện xong lời hứa đó.
“Ngủ ngon, em yêu dấu, hãy ngon giấc nhé,” Vua Chase nói và hôn lên tay nàng.
Trong phòng mình, nữ hoàng thay chiếc váy ngủ yêu thích và đặt mình lên giường lần đầu tiên sau hơn một thập kỷ. Nàng thấy như thể được hội ngộ với một người bạn cũ. Nàng đã quên mất cảm giác mát rượi từ tấm trải giường ấp lên tay chân nàng, sự mềm mại của chiếc gối, và cái thú được vùi mình vào giữa đệm êm.
Tiếng động từ bữa tiệc thoảng đến phòng nữ hoàng, nhưng nàng không lấy làm khó chịu; thực ra chúng lại còn rất êm dịu với nàng. Người Đẹp Ngủ Trong Rừng hít một hơi dài và chìm vào một giấc ngủ thật sâu – cũng gần như giấc ngủ trăm năm khi nàng còn bị nguyền vậy, chỉ khác là nàng biết có thể thức dậy bất cứ khi nào nàng muốn.
Khi Vua Chase bước vào phòng sau đó, ngài không thể ngăn mình mỉm cười trước cảnh vợ mình đang chìm trong giấc ngủ bình yên. Ngài chưa từng nhìn thấy vợ như thế này kể từ lần đầu gặp gỡ.
Trong đại sảnh, buổi tiệc cuối cùng cũng kết thúc. Những ngọn đèn và lò sưởi trong khắp lâu đài lần lượt được dập tắt. Những người hầu lau dọn gọn ghẽ và được cho đi nghỉ.
Lâu đài sau cùng cũng trở lại yên tĩnh. Nhưng vài giờ trước lúc bình minh, sự tĩnh mịch bị phá vỡ.
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng và Vua Chase bị đánh thức bởi tiếng đập cửa ầm ầm như sấm dậy. Đức vua và nữ hoàng lập tức choàng dậy.
“Thưa Đức vua và Nữ hoàng!” tiếng một người đàn ông vang lên từ phía bên kia cánh cửa. “Thứ lỗi cho thần, nhưng chúng thần phải vào trong!”
Cánh cửa bật tung ra và viên cố vấn hoàng gia chạy vào phòng, theo sau là một tá lính mũ giáp chỉnh tề. Họ liền bủa ra vây quanh giường.
“Chuyện gì đang xảy ra thế này?!” Vua Chase quát lớn. “Làm sao các ngươi dám xông vào…”
“Thần vô cùng xin lỗi, thưa Đức Vua, nhưng chúng thần phải đưa Nữ hoàng đến nơi an toàn ngay lập tức,” viên cố vấn đáp. “Nơi an toàn ư?” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng ngạc nhiên. “Chúng thần sẽ giải thích trên đường tới đó, thưa Nữ hoàng,” viên cố vấn trả lời. “Nhưng bây giờ, chúng thần phải đưa người lên xe càng nhanh càng tốt – một mình người thôi. Người đi một mình sẽ ít bị chú ý hơn là một cỗ xe chở người và Nhà Vua.”
Viên cố vấn ngước nhìn với ánh mắt khẩn khoản, van nài nàng hãy thuận theo. Nữ hoàng sững người.
“Chase?!” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng lên tiếng và nhìn sang phu quân – nàng không biết phải làm thế nào.
Đức Vua cũng không biết nói gì. “Nếu họ nói nàng cần phải đi thì nàng phải đi thôi,” là tất cả những gì ngài thốt ra được. “Em không thể rời bỏ người dân của mình,” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng đáp lại.
“Với tất cả lòng kính trọng, thưa Nữ hoàng, nếu người chết thì chẳng có lợi gì cho ai cả,” viên cố vấn nói.
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng bàng hoàng cả người.
“Chết ư, ông ta có ý gì vậy?”
Trước khi Người Đẹp Ngủ Trong Rừng kịp nhận ra, quân lính đã đỡ nàng ra khỏi giường. Họ nhanh chóng hộ tống nàng và viên cố vấn ra cửa. Nàng thậm chí không kịp thốt lên lời tạm biệt.
Họ vội vã theo cầu thang xoắn ốc xuống tầng dưới lâu đài. Các bậc đá cấn vào đôi chân trần của nữ hoàng.
“Ai đó làm ơn cho ta biết chuyện gì đang xảy ra đi!” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng kêu lên.
“Chúng thần phải đưa người ra khỏi lâu đài càng nhanh càng tốt,” viên cố vấn đáp.
“Vì sao chứ?” nàng hỏi, bắt đầu gạt những người lính đang tháp tùng mình ra. Không ai trả lời, nên nàng dừng lại giữa cầu thang, vững như bàn thạch. “Ta sẽ không đi thêm bước nào nữa cho đến khi có người chịu nói cho ta biết! Ta là Nữ hoàng! Ta có quyền được biết!”
Gương mặt viên cố vấn tái nhợt đi.
“Thần không muốn làm người lo sợ thêm nữa, thưa Nữ hoàng,” ông ta đáp, hàm răng run lập cập. “Nhưng sau nửa đêm một lúc, khi tất cả khách khứa đã ra về, hai lính gác đang đứng canh gần cổng trước lâu đài trông thấy một ánh chớp lóe lên, và một cái xa quay không biết từ đâu bỗng hiện ra.”
Đôi mắt Người Đẹp Ngủ Trong Rừng mở to và mặt nàng nhợt đi. “Họ không nghĩ đó là chuyện gì nghiêm trọng – có lẽ chỉ là một trò đùa ngớ ngẩn hòng phá hoại buổi tiệc của chúng ta tối đó thôi,” viên cố vấn nói tiếp. “Hai người lính đến gần để xem xét cái xa quay và thấy nó bốc cháy.
Ngay khi đó, một chuyện khác xảy ra.” “Chuyện gì chứ?” nàng hỏi.
“Đám dây leo và bụi gai từng bao phủ tòa lâu đài trong thời kỳ chúng ta bị ếm lời nguyền say ngủ - mớ cây cối đã được dọn sạch và vứt vào Hố Gai – đang mọc trở lại,” ông ta thuật lại. “Thần chưa bao giờ thấy cái gì mọc nhanh đến vậy; gần nửa lâu đài đã bị chúng phủ lên rồi. Đám dây leo đang nuốt chửng cả vương quốc.”
“Ý ông là lời nguyền trong Hố Gai đã lan ra khắp vương quốc sao?” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng hỏi.
“Không, thưa Nữ hoàng,” viên cố vấn vừa nói vừa nặng nhọc nuốt khan. “Đó chỉ là lời nguyền của một mụ phù thủy già. Đây là phép thuật hắc ám – thứ phép thuật hắc ám cực kỳ hùng mạnh! Thứ mà vương quốc của chúng ta đã một lần nếm trải trước đây.”
“Không.” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng thở hổn hển và che miệng lại. “Ông không có ý muốn nói đến…”
“Đúng thế, thần e là vậy,” viên cố vấn đáp. “Giờ thì xin người hãy hợp tác với chúng thần – chúng thần phải đưa người ra khỏi vương quốc càng nhanh càng tốt.”
Quân lính lại giữ lấy nữ hoàng và họ tiến vào sâu hơn trong lâu đài; lần này nàng không chống lại. Họ chạy xuống những bậc thang cho đến khi không còn bậc nào để xuống nữa. Rồi tất cả băng qua một cánh cửa gỗ đôi và Người Đẹp Ngủ Trong Rừng thấy mình đang ở trong chuồng ngựa lâu đài.
Có bốn cỗ xe ở trước mặt nàng. Mỗi cái được vây quanh bởi một tá quân lính đã lên ngựa và sẵn sàng khởi hành ngay lập tức. Ba cỗ xe có màu sáng và lấp lánh ánh vàng, thuộc về nữ hoàng, nhưng nàng lại được hộ tống tới chỗ cái thứ tư, một cỗ xe nhỏ, tầm thường và khiêm tốn. Những người lính tháp tùng cỗ xe này không vận áo giáp như những người khác mà giả trang làm thị dân và nông dân.
Lính gác đỡ Nữ hoàng lên chiếc xe đó. Trong ấy chỉ vừa đủ chỗ cho nàng ngồi.
“Phu quân ta thì sao?” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng hỏi, đưa tay ra chặn cánh cửa lại khi nó sắp bị đóng sau lưng.
“Ngài ấy sẽ ổn thôi, thưa nữ hoàng,” viên cố vấn trấn an. “Đức vua và thần sẽ đi ngay khi chúng thần cho khởi hành các cỗ xe đánh lạc hướng. Chúng thần đã dự tính chuyện này phòng trường hợp lâu đài bị tấn công. Hãy tin thần; đó là cách an toàn nhất.”
“Ta chưa bao giờ ra lệnh thực hiện những dự tính đó!” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng kêu lên.
“Không, đó là lệnh của phụ mẫu người,” viên cố vấn giải thích. “Đó là một trong những mệnh lệnh cuối cùng họ dặn thần trước khi qua đời.”
Tin này khiến trái tim nữ hoàng đập mạnh hơn. Cha mẹ nàng đã dành gần trọn cuộc đời để cố gắng bảo vệ nàng và ngay cả khi đã mất, họ vẫn tiếp tục làm việc đó.
“Ta đang đi đâu đây?” nàng hỏi.
“Trước mắt là Vương quốc Tiên,” viên cố vấn đáp. “Người sẽ được an toàn nhất khi ở bên Hội đồng Tiên. Những cỗ xe ngụy trang sẽ được đưa đi về các ngả khác để đánh lạc hướng. Giờ thì người phải nhanh thôi.”
Ông ta nhẹ nhàng đẩy nàng vào hẳn trong xe và đóng cửa lại thật chặt. Với cả tá lính vây quanh mà nàng vẫn không cảm thấy an tâm chút nào. Nàng biết tình thế vượt quá khả năng bảo vệ của họ.
Viên cố vấn gật đầu ra hiệu cho các cỗ xe ngụy trang và chúng lăn bánh. Vài giây sau, ông gật đầu với người đánh xe của nàng và, như một phát đạn đại bác, cỗ xe của nữ hoàng băng vào màn đêm, lũ ngựa phi nước đại nhanh hết mức.
Qua ô cửa nhỏ xíu của cỗ xe, Người Đẹp Ngủ Trong Rừng trông thấy cảnh tượng kinh hoàng mà viên cố vấn đã miêu tả với nàng. Rải rác khắp lâu đài, nàng thấy quân lính và người hầu cố chống lại đám bụi gai và dây leo dại đang mọc lên quanh họ. Lũ cây cối vươn thẳng lên từ dưới đất và tấn công họ, như những con mãng xà đang quấn quanh con mồi. Dây leo bò lên bên tường lâu đài, phá vỡ
các cửa sổ và túm lấy người kéo ra khỏi đó, treo họ lủng lẳng cách mặt đất hàng trăm thước.
Gai nhọn và dây leo vươn lên từ mặt đất lao tới cỗ xe của Người Đẹp Ngủ Trong Rừng, nhưng quân lính đã nhanh chóng vung gươm chém đứt chúng.
Nữ hoàng Ngủ Trong Rừng chưa bao giờ cảm thấy bất lực đến thế này trong đời. Nàng trông thấy dân làng – vài người chỉ cách cỗ xe nàng một chút – trở thành nạn nhân của lũ quái vật rậm lá. Nàng chẳng thể làm gì để giúp đỡ họ. Tất cả những gì nàng có thể làm là trơ mắt nhìn và hy vọng có thể tìm được sự trợ giúp khi tới Vương quốc Tiên. Cảm giác tội lỗi vì bỏ lại chồng và vương quốc của mình làm lòng nàng trĩu nặng, nhưng viên cố vấn nói đúng: Nàng chẳng giúp ích được cho ai khi đã chết cả.
Lâu đài nhỏ dần, nhỏ dần phía sau nàng khi cỗ xe lăn bánh xa khỏi cảnh tàn phá đó. Chẳng mấy chốc, họ đi qua một khu rừng và tất cả những gì nữ hoàng có thể nhìn thấy bên ngoài là rừng cây tăm tối trải dài hàng dặm.
Ngay cả khi đã đi được một giờ, Người Đẹp Ngủ Trong Rừng vẫn còn nguyên nỗi lo sợ. Nàng không ngừng thì thầm với chính mình, “Chúng ta sắp tới rồi… Chúng ta sắp tới rồi…” dù nàng chẳng hề biết mình đã đến gần được bao nhiêu.
Bất thình lình, một tiếng vút chói lói vang lên từ phía rừng cây. Người Đẹp Ngủ Trong Rừng trông ra đúng lúc nhìn thấy một người lính và con ngựa của anh ta bị ném tung lên không, rơi vào rừng rậm bên cạnh con đường. Một tiếng vút khác lao về phía họ, và một
người lính khác cùng con ngựa bị ném vào rừng cây bên kia con đường. Họ đã bị phát hiện rồi.
Mỗi giây tiếp theo đều bị lấp đầy bởi tiếng thét kinh hoàng của quân lính và lũ ngựa khi họ bị ném tung vào khu rừng. Dù cho cái gì đang ở ngoài kia đi nữa, nó cũng đang quật ngã từng người một.
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng co người lại, run rẩy, thụp xuống sàn xe. Nàng biết rằng chẳng mấy chốc nữa, sẽ chẳng còn người bảo vệ nào.
Một cú vút cuối cùng đã cuốn con ngựa và người lính còn lại theo với nó; tiếng gào thét của họ vang vọng giữa màn đêm. Cỗ xe đâm sầm xuống đất, lật sang bên và trượt dài trên mặt đất cho đến khi dừng lại. Bây giờ, mọi thứ trong rừng đều im bặt. Chẳng thể nghe thấy âm thanh nào từ những người lính và lũ ngựa bị thương. Nữ hoàng chỉ còn lại một mình.
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng bò qua cánh cửa cỗ xe và thận trọng lần tìm đường trên mặt đất. Nàng bước khập khiễng và nắm chặt cổ tay trái, nhưng nàng sợ hãi đến độ gần như không cảm giác được những vết thương trên mình.
Cuộc tấn công đã kết thúc chưa? Nàng có thể kêu cứu hay tìm kiếm những người sống sót không? Chắc hẳn là, nếu cái vật ngoài kia muốn nàng chết thì nàng đã bị giết rồi.
Người Đẹp Ngủ Trong Rừng sắp lên tiếng kêu cứu thì một ánh chớp chói lóa loang loáng sắc tím rọi khắp khu rừng. Nữ hoàng thét lên và ngã xuống đất, che mặt lại – nhưng ánh chớp chỉ kéo dài một giây. Nàng ngửi thấy mùi khói và đứng dậy để nhìn quanh. Cả khu rừng đang bốc cháy và cây cối thảy đều bị biến thành xa quay.
Không còn nghi ngờ gì nữa; nỗi sợ hãi lớn nhất của vương quốc đã trở thành sự thật.
“Phù thủy Hắc Ám,” Người Đẹp Ngủ Trong Rừng thì thầm một mình. “Bà ta đã trở lại.”
CHƯƠNG MỘT
Dòng Suy Nghĩ Trên Tàu Lửa
Những cú xóc nhẹ của đoàn tàu đã đánh thức Alex Bailey. Cô bé đưa mắt nhìn những ghế trống xung quanh trong khi cố nhớ mình đang ở đâu. Một tiếng thở dài vuột ra từ cô bé mười ba tuổi và em khéo léo vuốt lại lọn tóc vàng ánh đỏ đã tuột ra khỏi chiếc cài.
“Không phải lại thế nữa chứ,” cô bé tự nhủ.
Alex rất ghét ngủ gật ở những nơi công cộng. Em là một thiếu niên thông minh và đứng đắn, em không muốn làm cho người khác có ấn tượng sai lầm về mình. May cho cô bé, em là một trong số vài người ít ỏi trên chuyến tàu khởi hành lúc năm giờ về thành phố, nên không ai hay biết bí mật vừa nãy của em cả.
Alex lúc nào cũng là một học sinh cực kỳ sáng dạ. Thực ra, cô bé vượt trội đến độ được tham gia vào một chương trình rất danh giá, nó cho phép em đến học thêm tại trường đại học cộng đồng ở thành phố bên cạnh.
Alex vẫn còn quá nhỏ, chưa tự lái xe đi được, mà mẹ em lại làm việc suốt ngày ở bệnh viện nhi, do đó, cứ mỗi Thứ Năm, tan trường là Alex lại đạp xe đến nhà ga tàu và bắt tàu đi một quãng đường ngắn sang thành phố cạnh đó học thêm.
Một cô gái nhỏ mà lại tự đi một mình như thế thì có vẻ không ổn lắm, và lúc đầu bà mẹ cũng có chút ngại ngần, nhưng rồi bà biết Alex có thể tự mình xoay xở được. Chuyến tàu ngắn ngủi đó chẳng là gì so với những chuyện mà cô bé từng phải đương đầu trong quá khứ.
Alex rất sung sướng khi được tham gia vào chương trình học danh giá này. Lần đầu tiên, cô bé được học về nghệ thuật, lịch sử và các ngôn ngữ khác trong một môi trường mà ai ai cũng muốn ở đó. Khi các giáo sư đặt câu hỏi, Alex là một trong nhiều học viên giơ tay trả lời.
Một lợi ích khác đến từ chuyến đi tàu là thời gian nghỉ ngơi mà Alex có được cho riêng mình. Em sẽ dõi mắt ra ngoài ô cửa sổ và thả hồn theo những ý nghĩ vẩn vơ trong khi đoàn tàu lăn bánh. Đó là khoảng thời gian dễ chịu nhất trong ngày, nhiều lần cô bé đã phát hiện mình đang chìm dần vào cõi mộng, nhưng ít khi nào em lại vô ý ngủ thiếp đi hoàn toàn như hôm nay.
Như thường lệ thì Alex sẽ choàng tỉnh trong cảm giác hổ thẹn, nhưng lần này, sự xấu hổ của em có xen lẫn cảm giác khó chịu. Cô bé vừa có một giấc mơ làm em suy sụp: giấc mơ mà trong suốt năm qua, em đã thấy lại nhiều lần.
Cô bé mơ thấy mình đang chân không chạy trong một khu rừng đẹp đẽ cùng với cậu em trai song sinh, Conner.
“Em thách chị đua tới ngôi nhà nhỏ đấy!” Conner vừa nói vừa nở nụ cười toe toét. Cậu bé trông giống hệt chị nhưng, nhờ một sự phát triển tăng vọt mới đây, cậu giờ đã cao hơn chị mình vài phân.
“Đua thì đua!” Alex đồng ý và cất tiếng cười, rồi cuộc đua bắt đầu. Bọn trẻ vô tư rượt đuổi nhau chạy zic zắc vượt những thân cây và băng qua các đồng cỏ. Chẳng có quỷ lùn, sói hay mụ Hoàng hậu độc ác nào để chúng phải e sợ, bởi vì, dù cho Alex và Conner đang ở đâu đi nữa, chúng biết mình sẽ được an toàn.
Cuối cùng, một ngôi nhà nhỏ hiện ra trước mắt. Bọn trẻ băng băng lao về phía đó, guồng chân hết tốc lực cho cú nước rút sau cùng.
“Chị thắng rồi nhé!” Alex reo lên khi đôi lòng bàn tay mở rộng của cô bé chạm vào cửa chỉ tích tắc trước cậu em trai.
“Không công bằng!” Conner kêu lên. “Bàn chân em phẳng hơn chân chị!”
Alex khúc khích cười và thử mở cửa ra, nhưng nó đã bị khóa. Cô bé gõ cửa, nhưng không có ai trả lời cả.
“Lạ thật,” Alex nói. “Bà biết chúng ta sẽ tới thăm bà mà; chị không biết vì sao bà lại khóa cửa nữa.”
Cô bé và cậu em hé nhìn qua cửa sổ. Bọn trẻ có thể thấy bà chúng bên trong, đang ngồi trong một chiếc ghế đu gần lò sưởi. Bà có vẻ buồn bã, cứ chậm rãi đu đưa chiếc ghế tới lui.
“Bà ơi, chúng cháu ở đây này!” Alex gọi bà và vui vẻ gõ lên cửa sổ. “Mở cửa cho chúng cháu với!”
Bà chúng không nhúc nhích.
“Bà?” Alex bối rối, gõ lên cửa sổ mạnh hơn. “Bà, chúng cháu đây! Chúng cháu muốn đến thăm bà!”
Bà của cô bé hơi ngẩng lên nhìn vào bọn trẻ qua khung cửa nhưng vẫn ngồi nguyên đó.
“Cho chúng cháu vào đi bà!” Alex gọi, gõ lên cửa kính mạnh hơn nữa.
Conner lắc đầu. “Chẳng ích gì đâu, Alex. Chúng ta không được vào.” Cậu bé quay lưng và trở lại hướng mà chúng đã từ đó chạy tới.
“Conner, đừng bỏ đi chứ!” Alex bảo.
“Mất công làm gì?” cậu bé gặng hỏi, quay lại nhìn chị. “Rõ ràng bà không muốn chúng ta vào đó.”
Alex bắt đầu đập vào kính cửa mạnh hết sức có thể mà không làm vỡ nó. “Bà ơi, làm ơn cho chúng cháu vào đi! Chúng cháu muốn vào đó! Làm ơn đi bà!”
Người bà ngước nhìn cô bé với ánh mắt lạnh lùng.
“Bà, cháu không biết mình đã làm sai chuyện gì, nhưng dù đó là gì đi nữa, cháu xin lỗi bà! Làm ơn để cho cháu trở lại trong đó đi bà!” Alex khẩn nài trong khi những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài trên mặt. “Cháu muốn vào đó! Cháu muốn vào!”
Vẻ mặt không chút cảm xúc của bà biến thành cái cau mày và bà lắc đầu. Alex nhận ra mình sẽ không được phép vào, và mỗi lần nhận ra điều đó trong giấc mơ, cô bé lại choàng tỉnh.
Đó không phải là một giấc mơ dễ chịu, nhưng cảm giác thật tuyệt biết mấy khi được trở lại với khu rừng và gặp mặt bà… Alex biết quá
rõ giấc mơ phản ánh điều gì, ngay từ lần đầu mơ thấy nó, em đã luôn biết thế.
Tuy nhiên, lần này khi tỉnh dậy Alex cảm thấy cái gì đó khác lạ. Cô bé không thể ngăn được cảm giác như thể có ai đó dõi theo em khi em đang ngủ.
Thoáng nhìn đầu tiên khi vừa sực tỉnh, dù không để ý lắm, cô bé dám thề rằng mình đã trông thấy bà nội ngồi đối diện trên tàu. Có thật là cô bé đã trông thấy bà hay chỉ là trí tưởng tượng đánh lừa em thôi? Alex không thể gạt đi khả năng chuyện đó là sự thật. Bà của em có thể làm rất nhiều thứ…
Đã hơn một năm trôi qua kể từ khi Alex và Conner Bailey phát hiện ra bí mật lớn nhất của gia đình. Khi bọn trẻ được bà nội trao tặng một cuốn truyện cũ, chúng không bao giờ ngờ rằng nó sẽ đưa hai chị em vào thế giới cổ tích một cách thần kỳ, và ngay cả trong giấc mơ hoang đường nhất, bọn trẻ cũng không thể ngờ rằng bà nội và người cha đã mất của chúng xuất thân từ thế giới này.
Được du hành từ vương quốc này sang vương quốc khác và kết bạn với các nhân vật mà những câu chuyện về họ đã cùng chúng lớn lên là chuyến phiêu lưu kỳ diệu nhất đời hai chị em. Nhưng bất ngờ lớn nhất là khi bọn trẻ được biết bà chúng là Bà Tiên Đỡ Đầu của Lọ Lem.
Rốt cuộc, bà đã tìm được chúng và đưa chúng về nhà gặp lại người mẹ đang khổ sở lo âu vì chúng.
“Mẹ phải báo với nhà trường rằng cả hai con đã mắc bệnh thủy đậu,” Charlotte, mẹ của hai đứa trẻ song sinh, kể với chúng. “Mẹ phải bịa ra một lý do hợp lý để giải thích vì sao hai con biến mất suốt hai tuần và mẹ nghĩ ‘đi vào một chiều không gian khác’ chắc sẽ khiến người ta phải nhướng mày ngờ vực.”
“Thủy đậu ư?” Conner kêu lên. “Mẹ ơi, mẹ không nghĩ ra cái gì ngầu hơn một chút sao? Như bị nhện cắn hay ngộ độc thực phẩm ấy?”
“Từ đầu mẹ đã biết chúng con ở đâu sao?” Alex hỏi. “Chẳng khó khăn gì mới đoán được đầu đuôi câu chuyện đâu,” Charlotte đáp. “Khi mẹ từ chỗ làm về nhà, mẹ vào phòng con và thấy Miền Cổ Tích nằm lăn lóc trên sàn. Nó vẫn còn phát sáng.” Người mẹ đưa mắt nhìn sang cuốn truyện to dày màu ngọc bích đang nằm chễm chệ trong tay bà nội hai đứa trẻ.
“Mẹ có lo lắng không?” Conner hỏi.
“Tất nhiên là có rồi,” Charlotte trả lời. “Không hẳn là lo cho sự an toàn của hai con, mà cho thần trí của các con đấy. Mẹ sợ rằng trải nghiệm này là quá sức và sẽ làm hai con chết khiếp, vì vậy, mẹ lập tức gọi bà ngay. May là bà vẫn còn ở trong thế giới này, đang ngao du cùng các bạn của bà. Nhưng sau hai tuần mà vẫn không biết hai con ở đâu… các con cứ biết là mẹ đã cầu nguyện mình không bao giờ phải trải qua chuyện này lần nào nữa.”
“Vậy mẹ đã biết mọi chuyện ư?” Alex thắc mắc.
“Phải,” Charlotte đáp. “Dù sao cha cũng sẽ kể cho các con thôi; chỉ là ông không có cơ hội làm thế.”
“Làm sao mẹ biết được?” Conner hỏi tiếp. “Cha kể mẹ nghe từ khi nào? Lúc đầu mẹ có tin cha không?”
Charlotte mỉm cười khi nhớ lại chuyện cũ. “Từ phút đầu tiên mẹ nhìn thấy cha các con, mẹ đã biết ở ông có cái gì khang khác,” bà kể. “Mẹ vừa bắt đầu tuần làm việc đầu tiên ở bệnh viện nhi khi bà và nhóm bạn đến đọc truyện cho bọn trẻ. Mẹ chết mê chết mệt anh chàng đẹp trai đi cùng họ. Ông ấy thật là khác thường; ông cứ nhìn chằm chằm mọi thứ xung quanh với vẻ ngạc nhiên. Mẹ tưởng ông sắp ngất đến nơi khi thấy cái ti vi.”
“Đó là chuyến đầu tiên John đến thế giới này,” bà nội nói với một nụ cười.
“Ông ấy nhờ mẹ đưa đi tham quan một vòng bệnh viện, và mẹ đã làm thế,” Charlotte kể tiếp. “Ông rất hào hứng khi được tìm hiểu về nó: những cuộc phẫu thuật mà chúng ta thực hiện, các loại thuốc được sử dụng, bệnh nhân mà chúng ta cứu chữa. Ông ấy hỏi liệu ông và mẹ có thể gặp nhau sau khi mẹ xong việc để mẹ kể cho ông nghe nhiều chuyện hơn không. Sau đó, chúng ta đã hẹn hò nhau trong hai tháng và đem lòng yêu nhau. Nhưng rồi, lạ thay, ông ấy biến mất mà không báo trước và suốt ba năm ròng mẹ không gặp lại ông.”
Bọn trẻ nhìn bà nội, chúng đã biết phần nào câu chuyện rồi. “Ta đã bắt cha bọn trẻ về lại thế giới cổ tích cùng ta, và cấm nó trở lại đây,” Bà nói và người bà hơi chùng xuống. “Ta có lý do của ta, con biết đấy, nhưng ta đã quá sai lầm.”
“Và đó là khi cha phát hiện ra Bùa Ước và bắt đầu thu thập các món đồ hệt như chúng con, để cha tìm được đường về với mẹ,” Alex sôi nổi nói.
“Mà thật ra cha cũng không mất nhiều thời gian thế; nó chỉ có vẻ như vậy vì chúng con vẫn chưa được sinh ra, và giữa hai thế giới vẫn còn sự chênh lệch thời gian,” Conner tiếp luôn.
Mẹ và bà nội chúng cùng gật đầu.
“Rốt cuộc mẹ cũng gặp lại cha ở bệnh viện,” Charlotte kể. “Ông ấy trông rất gầy guộc và bẩn thỉu, như thể ông đã ra trận và từ chiến trường trở lại vậy. Ông nhìn mẹ và nói, ‘Em không biết anh đã phải trải qua những chuyện gì để trở lại với em đâu.’ Chúng ta cưới nhau một tuần sau đó và một năm sau nữa thì trở thành cha mẹ. Vậy để trả lời câu hỏi của hai con, không, không khó để chấp nhận việc cha con đến từ một thế giới khác, vì bằng cách nào đó, mẹ đã luôn biết thế.”
Alex cho tay vào cặp và lấy ra quyển nhật ký của cha khi ông đang thu thập các vật dụng làm Bùa Ước, cũng chính là quyển nhật ký bọn trẻ đã làm theo khi tự mình gom góp những món đồ đó.
“Đây, mẹ ơi,” Alex nói. “Giờ thì mẹ có thể biết chính xác cha yêu mẹ đến thế nào.”
Bà Charlotte nhìn xuống quyển nhật ký, dường như sợ phải cầm lấy nó. Bà giở ra và đôi mắt bắt đầu ngân ngấn nước khi trông thấy nét chữ của người chồng đã mất.
“Cảm ơn anh, anh yêu,” bà nói.
“Mẹ biết đấy,” Conner lên tiếng, “con và chị Alex đã làm tất tần tật mấy chuyện đó. Chúng con cũng cừ lắm đấy. Mẹ cứ nghĩ về chuyện đó nếu có lúc nào mẹ có hứng cho chúng con tiền tiêu vặt trong tương lai.”
Bà Charlotte vui vẻ nhìn cậu con trai; bọn trẻ biết bà không thể cho chúng tiền tiêu vặt. Từ khi cha mất, mẹ chúng đã phải vất vả lắm mới cáng đáng được gia đình và trả nợ sau lễ tang ông. Nhưng chuyện đó làm Alex phải suy nghĩ: Với tất cả các mối liên hệ mà gia đình chúng có với thế giới cổ tích, vì sao mà cuộc sống của chúng năm ngoái lại chật vật thế chứ?
“Mẹ,” Alex lên tiếng, “vì sao chúng ta lại khó khăn quá vậy trong khi bà chỉ cần vẫy đũa thần là mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn?” Conner ngước nhìn mẹ, cũng cùng thắc mắc với chị. Bà chúng lặng thinh; người giải thích chuyện này không phải là bà. “Bởi vì cha các con không muốn thế,” bà Charlotte đáp. “Cha các con yêu quý thế giới này vô cùng; đây là nơi mẹ cha đã gặp nhau, nơi chúng ta đã có các con, và là nơi ông muốn nuôi dạy các con trưởng thành. Ông đến từ một thế giới có những ông vua, Hoàng hậu và phép thuật, một thế giới với những quyền thế và sự xa xỉ không xứng đáng mà ông cho là đã làm hỏng tâm tính con người. Ông muốn các con lớn lên ở một nơi mà ta có thể đạt được mọi thứ như mong muốn nếu thực sự nỗ lực, và mặc dù có những lúc một chút phép thuật có thể thay đổi mọi thứ, mẹ đã cố gắng tôn trọng ý kiến của cha.”
Alex và Conner nhìn nhau; có lẽ cha chúng đã đúng. Chúng có thể thực hiện những điều đã làm trong mấy tuần qua không, nếu
không được nuôi dạy theo cách đó? Liệu chúng có thu thập được đủ những vật dụng làm Bùa Ước hay chống lại Hoàng hậu Độc Ác nếu cha không rèn cho chúng lòng tự tin?
“Vậy giờ thì sao ạ?” Conner hỏi.
“Ý cháu là gì, Conner?” Bà nội hỏi lại.
“Dạ thì, chắc chắn là giờ thì cuộc đời chúng cháu sẽ thay đổi hoàn toàn, phải không ạ?” cậu bé nói với ánh mắt lấp lánh. “Ý cháu là, sau hai tuần suýt chết từ mấy cuộc đụng độ với quỷ lùn, sói, yêu tinh, phù thủy và Hoàng hậu độc ác, lẽ nào chúng cháu lại phải đi học lại. Chúng cháu đang bị khủng hoảng tâm lý nặng nề mà, phải không Alex?”
Bà Charlotte và bà nội bọn trẻ nhìn nhau, phá lên cười. “Vậy cháu đoán là chúng cháu vẫn phải đi học lại rồi?” Conner hỏi. Ánh lấp lánh trong mắt cậu tắt đi.
“Có cố gắng đấy,” bà Charlotte nói. “Mỗi nhà mỗi cảnh, nhưng điều đó không có nghĩa là con được bỏ học vì điều đó.” “Tốt quá,” Alex nói rồi thở phào. “Con còn sợ là em lại nghĩ ra trò gì đó nữa cơ.”
Bà nội chúng ngước nhìn lên đồng hồ. “Trời sắp sáng,” bà nói. “Chúng ta đã trò chuyện suốt đêm rồi. Tốt hơn là ta đi thôi.” “Khi nào chúng cháu mới được gặp lại bà?” Alex hỏi. “Khi nào chúng cháu mới được trở lại với Miền Cổ Tích?” Alex đã muốn hỏi câu đó ngay từ khi phải rời đi. Bà chúng nhìn xuống và suy nghĩ một lúc trước khi trả lời.
“Các cháu đã có một cuộc phiêu lưu quá sức, ngay cả với người lớn,” bà giảng giải. “Bây giờ, các cháu cần phải tập trung vào việc làm hai đứa trẻ mười hai tuổi trong thế giới này. Hãy cứ là trẻ con khi còn có thể, các cháu ạ. Nhưng bà sẽ đưa các cháu trở lại một ngày nào đó, bà hứa đấy.”
Đó không phải là câu trả lời mà cô bé muốn nghe, nhưng Alex cũng gật đầu. Còn một câu hỏi nữa mà cô bé đã canh cánh suốt đêm.
“Bà sẽ dạy chúng cháu phép thuật chứ, bà ơi?” Alex hỏi với đôi mắt mở to. “Ý cháu là, vì Conner và cháu có một phần là tiên, sẽ hay biết mấy nếu học được điều này điều nọ.”
“Em đã quên béng chuyện đó rồi!” Conner kêu lên, vỗ tay vào trán. “Làm ơn chừa em ra khỏi chuyện này. Em không muốn là một chàng tiên – không thể nhấn mạnh sao cho đủ.”
Bà chúng im lặng. Bà nhìn sang mẹ hai đứa trẻ, nhưng bà Charlotte chỉ nhún vai.
“Vào đúng thời điểm của nó, các cháu yêu à, không có điều gì mà bà thích làm hơn thế,” bà đáp. “Nhưng lúc này Hội đồng Tiên và bà đang giải quyết một số chuyện, những chuyện khá mất thời gian, nhưng đó không phải là chuyện các cháu nên lo nghĩ tới. Ngay khi chúng ta vượt qua giai đoạn đó, bà sẽ rất vui lòng được dạy các cháu phép thuật.”
Bà ôm hai đứa cháu nội vào lòng và hôn lên đỉnh đầu chúng. “Bà nghĩ tốt nhất là bà giữ cuốn sách này,” bà nói, ý nhắc đến cuốn Miền Cổ Tích. “Chúng ta không muốn lịch sử lặp lại lần nữa
đâu.”
Bà tiến ra cửa trước, nhưng khi vừa chạm tay lên nắm đấm cửa, bà dừng lại và quay nhìn bọn trẻ.
“Bà quên mất, bà không lái xe đến đây,” bà nói với nụ cười tủm tỉm. “Có vẻ như bà phải đi theo cái lối xưa cũ của các bà tiên thôi. Tạm biệt, các cháu, bà yêu các cháu bằng cả trái tim.”
Rồi từ từ, bà bắt đầu biến mất, tan vào giữa làn khói bồng bềnh, lấp lánh.
“Ồ, đó mới là cái em muốn học đấy,” Conner nói. Cậu bé đưa tay khua khoắng làn khói lấp lánh trong không khí. “Đăng ký cho em học lớp đó nhé.”
Alex ngáp dài khiến cậu em ngáp lây.
“Các con chắc là kiệt sức rồi,” Charlotte lên tiếng. “Sao các con không đi ngủ nhỉ? Mẹ sẽ nghỉ làm ngày mai để ở đây với hai con, trong trường hợp các con còn gì muốn hỏi. Và cũng vì mẹ nhớ các con nữa.”
“Vậy thì, con có một câu hỏi rất quan trọng đây,” Conner nói. “Bữa sáng mình sẽ ăn gì ạ? Con đói sắp chết rồi.”
Chuyến tàu chở Alex cuối cùng cũng vào ga. Cô bé lấy xe đạp từ giá để xe và đạp về nhà, vẫn nghĩ ngợi miên man về bà nội. Alex hằng mong được sống ở cả hai thế giới sau khám phá về miền cổ tích. Cô bé đã tưởng tượng mình và em trai được dành cả
mùa hè và các kỳ nghỉ ở Vương quốc Tiên hay Cung điện của Lọ Lem với bà. Cô bé mường tượng rằng một cuộc đời hoàn toàn mới với đầy phép thuật và những chuyến phiêu lưu sẽ bắt đầu ngay sau đó. Buồn thay, hy vọng của Alex không thành hiện thực.
Hơn một năm đã trôi qua kể từ cái đêm bà biến mất. Bọn trẻ không nhận được một lá thư hay cuộc gọi nào giải thích vì sao bà lại ra đi. Bà đã vắng mặt vào tất cả các kỳ nghỉ và cả sinh nhật bọn trẻ - những ngày mà bà chưa khi nào bỏ lỡ. Tệ hơn là bọn trẻ cũng chưa hề trở lại Miền Cổ Tích bao giờ.
Bọn trẻ không thể ngăn mình đem lòng giận bà. Làm sao bà có thể biến mất và không bao giờ liên hệ lại với chúng chứ? Làm sao bà có thể đưa chúng vào một nơi chúng đã mơ đến từ khi còn bé rồi chẳng bao giờ cho chúng trở lại đó?
Bà cũng từng nói đấy thôi; bên trong bọn trẻ có một phần của Miền Cổ Tích – vậy bà là ai mà lại ngăn chúng trở lại đó chứ? “Bà của các con là một người rất bận rộn,” bà Charlotte luôn nói thế với Alex mỗi khi đề tài này được khơi dậy. “Bà yêu các con rất nhiều. Có lẽ lúc này bà đang bận quá đấy thôi. Chúng ta sẽ sớm nhận được tin từ bà mà.”
Những lời này không đủ làm Alex an lòng. Cùng với thời gian, cô bé bắt đầu lo lắng, liệu bà có bình an không – đôi khi cô bé còn tự hỏi liệu bà có còn sống không. Alex hy vọng không có chuyện gì xảy đến với bà và bà vẫn ổn. Cô bé nhớ những cái ôm của bà hơn bất kỳ cứ điều gì khác.
Cuộc sống thiếu vắng cha là giai đoạn khổ sở nhất mà bọn trẻ từng phải nếm trải. Nhưng cuộc sống mà không có cả cha và bà nội
thì gần như không thể chịu đựng nổi.
“Em nghĩ chuyện gì đang xảy ra hả?” Alex hỏi Conner vào một dịp nọ.
“Em không biết,” Conner đáp với một tiếng thở dài nặng nề. “Điều cuối cùng bà nói với chúng ta là bà và các vị tiên khác đang phải giải quyết chuyện gì đó. Có lẽ việc đó mất nhiều thời gian hơn họ tưởng?”
“Có lẽ thế,” Alex nói. “Nhưng chị có cảm giác rằng dù đó là chuyện gì đi nữa, nó cũng tệ hơn những gì bà để lộ ra. Còn cái gì khác có thể ngăn bà đến gặp chúng ta lâu thế chứ?”
Conner chỉ nhún vai. “Em không nghĩ bà lại cố ý tránh mặt chúng ta hay không cho chúng ta biết chuyện đâu,” cậu bé khẳng định. “Chị chỉ lo cho bà thôi,” Alex đáp.
“Chị Alex,” Conner nhướng mày, “bà có phép thuật và đã sống được hàng trăm năm rồi. Có gì phải lo lắng chứ?”
Alex thở dài. “Chị cho là em nói đúng. Tốt hơn là bà có một lý do vô cùng hợp lý vào lần tới chúng ta gặp bà.” Không may là cái “lần tới” đó có vẻ sẽ không sớm xảy ra.
Không lạ gì khi tình trạng này bắt đầu tác động đến những giấc mơ của cô bé, nhưng hơn thế nữa, Alex đang suy sụp tinh thần. Từ khi trở về từ Miền Cổ Tích, em cảm thấy mình mất đi một phần nào đó. Thế giới đầy phép màu kia đã lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn Alex khi cha mất, và lúc không thể trở lại chốn đó, cảm giác trống rỗng lại lớn lên từng ngày.
Chuyến đi hằng tuần đến trường đại học bao giờ cũng là nguyên nhân khiến cô bé cảm thấy thế này. Trường đại học là nơi đại diện cho tương lai, và mặc dù phải nhiều năm nữa Alex mới chính thức vào đại học, cô bé cũng không muốn lên kế hoạch cho chặng đường sắp tới không có Miền Cổ Tích. Làm sao em có thể sống một cuộc đời bình thường khi đã có bằng chứng rằng mình không hề bình thường?
Alex vẫn hằng mơ tới ngày được chuyển tới sống hẳn ở Miền Cổ Tích. Bà nội có thể truyền cho em đủ phép thuật để em chính thức được là một nàng tiên không? Alex có thể trở thành thành viên của Hội đồng Tiên hay hơn thế, của Liên minh Hạnh phúc Mãi mãi chăng?
Alex thử tự hóa phép, nhưng không thành công. Lần duy nhất cô bé tạo được một phép màu là khi vô tình khởi động cuốn truyện cổ của bà, khiến nó đưa em và Conner vào Miền Cổ Tích. Nhưng vì đó là sách của bà, cô bé không biết mình có thể tự làm gì đó không.
Thi thoảng, những khi cảm thấy tuyệt vọng kinh khủng, cô bé lại vào thư viện trường học và tìm một tập kho tàng truyện cổ. Em sẽ ôm nó lên ngực và nghĩ đến niềm mong mỏi thiết tha được thấy lại thế giới cổ tích, như đã làm vào đêm sinh nhật lần thứ mười hai. Nhưng cách đó chẳng mang lại kết quả gì ngoài việc thu hút sự chú ý không cần thiết từ các học sinh khác.
“Vì sao con nhỏ đó lại ôm quyển sách vậy?” một cô nàng nổi tiếng nói với đám bạn kiêu kỳ xung quanh vào một dịp nọ. “Chắc là nó sẽ đưa quyển sách cùng đi dự vũ hội đấy!” một đứa khác đáp, và cả bọn phá lên cười chế giễu Alex.
Alex rất muốn hét lên, “Này! Bà của tôi là bà tiên đỡ đầu của Lọ Lem, khi được bà dạy phép thuật rồi, tôi sẽ biến mấy người thành mớ son bóng mà mấy người khoái tô lên môi đấy!” Nhưng cô bé giữ những ý nghĩ đó cho riêng mình.
Trên đường đạp xe từ ga tàu hỏa về nhà, có đoạn Alex nhắm mắt lại một chốc và vờ như mình đang đạp xe dọc theo dòng Suối Thumbelina ở Vương quốc Tiên – một đàn kỳ lân đang tung vó lướt đi bên trái em và một nhóm các vị tiên đang dập dìu bay bên phải – cô bé đang đến gặp bà nội để học cách biến những miếng giẻ rách thành một bộ váy dạ hội lộng lẫy.
Thiên đường, cô bé tự nhủ.
Alex mở mắt ra khi chỉ vài giây nữa là đâm sầm vào mấy cái thùng rác. May cho cô bé, chỉ có mấy bức tượng thần lùn bên kia đường trông thấy cảnh đó, nhưng cả chúng cũng có vẻ phê phán cô bé.
Cô bé đứng dậy và phủi bụi đất bám trên người mình, em quyết định sẽ dắt bộ hết đoạn đường còn lại. Thực tế thật phũ phàng mà. Gia đình Baileys vẫn sống trong căn nhà thuê cũ, căn nhà mái bằng có rất ít cửa sổ đó, nhưng tình hình đã bắt đầu sáng sủa hơn. Mẹ bọn trẻ rốt cuộc cũng giải quyết ổn thỏa nhiều vấn đề tiền bạc của cả nhà và không còn làm việc nhiều như trước nữa. Tuy nhiên, gần đây, một việc khác đã chiếm lấy thời gian của bà Charlotte Bailey, và đó không phải là việc chăm sóc các bệnh nhân. Alex dựng xe dưới mái hiên. Cánh cửa trước bật tung ra ngay khi Alex sắp bước qua. Conner đang đứng ở phía bên kia cửa. Cậu bé
có vẻ buồn bực và vô cùng lo lắng.
“Chuyện gì thế?” Alex hỏi.
“Xin lỗi, em cứ tưởng mẹ về,” Conner đáp.
“Em cần gặp mẹ vì chuyện gì à?” Alex thắc mắc.
“Không,” Conner trả lời. “Chỉ là vì mẹ thường về lúc sáu giờ chiều mỗi ngày thôi.”
“Bây giờ mới là sáu giờ mà,” Alex nói, nhìn em như thể cậu bị điên vậy.
“Sáu giờ mười lăm rồi, Alex,” Conner chỉnh lại và nhướng mày. “Thì sao?”
“Ừ thì, mẹ ở đâu rồi mới được chứ? Chị có thấy mẹ không? Có chiếc xe nào đỗ trên lối vào không?” Conner hỏi.
“Có lẽ mẹ bị kẹt xe,” Alex đáp.
“Hoặc một chuyện gì đó khác,” cậu bé nói. “Một chuyện gì đó giữ mẹ lại chỗ làm.”
“Mà tất cả chuyện này là sao vậy?” Alex hỏi, bắt đầu bực mình. “Em cần phải cho chị thấy cái này,” rốt cuộc Conner cũng chịu thú thật. “Nhưng em báo trước, chị sẽ không thích nó đâu.” “Ừm… được thôi,” Alex đáp và theo cậu em vào nhà. Một tràng tiếng sủa và rên ư ử vang lên từ bên trong khi Alex bước qua cửa trước.
“Buster! Ngồi xuống nào, nhóc! Chỉ là Alex thôi mà!” Conner la lên. “Tại sao con chó ngốc này cứ xử sự như thể tất cả những ai
bước chân vào nhà này đều mang theo thuốc nổ vậy? Chúng ta cũng sống ở đây mà!”
“Rốt cuộc em có chịu nói cho chị biết chuyện gì đang xảy ra không, Conner?” Alex căn vặn, mất kiên nhẫn.
“Em sẽ cho chị thấy. Nó ở trong bếp ấy,” cậu bé nói. “Đã có một sự tiến triển.”
CHƯƠNG HAI
Chuyện Bắt Đầu Từ Một Chú Chó
Vài tháng trước, chú chó chăn cừu Buster được giải cứu từ trạm bảo vệ động vật địa phương và được đem tặng cho gia đình Bailey. Chú chó là món quà của bác sĩ Robert Gordon, ông làm việc ở bệnh viện cùng với bà Charlotte và đã trở thành người bạn thân của gia đình.
“Bác sĩ Bob,” bọn trẻ vẫn gọi ông như thế những khi ông ghé nhà dùng cơm tối, là một người đàn ông tốt bụng với một nụ cười thường trực trên gương mặt. Ông bị hói và không cao lắm, nhưng lại có đôi mắt to và ân cần, giúp ông nhanh chóng kết bạn với mọi người.
“Ôi, Bob! Anh không cần phải thế đâu!” Bà Charlotte kêu lên khi ông làm họ ngạc nhiên với chú chó.
“Chú chó đó là sao vậy ạ?” Conner hỏi khi đến xem có chuyện gì mà nhốn nháo thế.
“Chú chó này là của cháu đấy!” ông Bob đáp. “Mẹ cháu lúc nào cũng nhắc đến chú chó chăn cừu mà cô ấy có khi còn bé và thú nhận là luôn thầm muốn có một con như thế. Chú tình nguyện làm việc ở trạm bảo vệ động vật và ngay khi vừa trông thấy chú ta, chú biết ngay mình phải nhận nuôi nó cho các cháu.”
“Chúng ta được nuôi một chú chó sao?!” Conner reo lên. Dù những lời đó vừa vuột ra khỏi miệng, cậu bé vẫn chưa tin được chuyện này là sự thật.
“Mẹ cho là thế,” bà Charlotte đáp.
Conner lập tức phục xuống đất và bắt đầu lăn lộn với chú chó cưng mới về. “Chúng ta được nuôi chó! Chúng ta được nuôi chó rồi!” cậu bé luôn miệng reo. “Cuối cùng thì đời sống thị dân của chúng ta cũng hoàn thiện rồi! Cảm ơn chú, bác sĩ Bob!”
“Chú rất vui khi được làm thế!” ông Bob nói.
“Nhóc này, nhóc tên là gì?” Conner hỏi.
“Buster,” ông Bob bảo. “Ít ra thì đó là cái tên mà người ta gọi nó ở trạm bảo vệ.”
Chú chó lông trắng đen cực kỳ sung sướng, chú ta có đôi mắt xanh lục sáng, mắt to mắt nhỏ. Ông Bob đã đeo cho Buster một chiếc khăn đỏ quanh vòng cổ.
Conner ôm chầm lấy chú chó và gần như đã rơi nước mắt vì vui sướng. “Ta biết chúng ta vừa mới gặp nhau thôi, Buster à, nhưng ta cảm thấy như thể ta đã yêu mày suốt cả đời vậy!” cậu nói.
“Anh bạn này là ai đây?” Alex hỏi khi đến xem chuyện gì đã đem lại niềm phấn khích cao độ thế.
“Đây là chú chó của em, Buster!” Conner nói. Cậu lấy một chiếc vớ và dùng nó chơi kéo co với Buster.
“Chú chó là cho cả nhà,” ông Bob sửa lại.
“Conner, đừng lấy vớ còn tốt ra chơi chứ!” bà Charlotte nhắc con trai.
Alex không thể ngăn mình thốt ra một tiếng reo chói lói và há hốc miệng ra. “Chúng ta được nuôi một chú chó sao?!” cô bé hỏi mà cứ nhảy tưng tưng. Có cái gì đó ở Buster khiến bọn trẻ vui sướng như thể được trở lại tuổi lên mười.
“Phải, chúng ta được nuôi một chú chó,” bà Charlotte đáp, hòa tiếng cười với con gái.
“Đừng thất vọng nếu chú ta thích em hơn, Alex,” Conner nói như thể đó là sự thật hiển nhiên. “Mấy chú chó thường thích con trai hơn. Khoa học đã chứng minh rồi, em nghĩ thế.”
“Buster, tới đây nào!” Alex gọi. Buster chạy thẳng tới chỗ cô bé và vui vẻ kêu lên ư ử.
“Thôi quên đi,” Conner nói với chút thất vọng.
Bọn trẻ sung sướng vì có chú chó đến độ không bao giờ thắc mắc về món quà này. Chúng mãi chơi với thành viên mới của gia đình nên không thấy bà Charlotte trao cho bác sĩ Bob một cái ôm biết ơn thật lâu, lâu hơn mức chỉ là một nghĩa cử thân thiện bình thường.
Nhưng rồi cùng với thời gian, khi gặp ông Bob thường xuyên hơn, bọn trẻ bắt buộc phải nhận ra những dấu hiệu cho thấy mẹ chúng và vị bác sĩ không đơn thuần là bè bạn…
Conner ấn Alex ngồi vào bàn ăn ngay khi cô bé vừa bước qua cửa. Mặc dù ngày nào cũng thấy bọn trẻ, Buster vẫn không thể kiềm chế sự phấn khích khi cả hai đều có mặt ở nhà. Chú chó nhảy tưng tưng và chạy vòng vòng nhà bếp.
“Buster, yên nào!” Conner ra lệnh. “Em thề là con chó đó phải uống thuốc mới được.”
“Có chuyện gì vậy, Conner?” Alex hỏi. “Em yêu quý nó và nó cũng yêu quý em mà.”
“Đó là trước khi em phát hiện Buster là vật để mua chuộc chúng ta!” Conner hùng hồn tuyên bố. “Xem cái này đi!”
Conner cầm lấy một bó hồng đỏ thắm tuyệt đẹp đang đặt trên quầy bếp. Cậu bé đặt nó lên bàn ngay trước mặt Alex. “Chúng thật đẹp! Ở đâu ra vậy?” Alex hỏi.
“Chúng được gửi tới khi em từ trường về nhà,” Conner đáp. “Chúng là quà cho mẹ… từ chú Bob đấy!”
Mắt Alex mở to. “Ôi,” cô bé kêu lên và nuốt khan. “Ừm, chú ấy thật tử tế quá.”
“Tử tế?!” Conner kêu to. “Việc này chẳng tử tế chút nào, Alex! Rõ là nó hàm ý yêu đương mà!”
“Conner, em đâu biết ý chú ấy có phải vậy không,” Alex khuyên giải. “Mọi người vẫn gửi tặng hoa cho người khác suốt mà.” Conner lục tìm trong bó hoa. “Hoa cúc thân thiện, hoa hướng dương thân thiện, cây nắp ấm cũng thân thiện đấy – nhưng hoa
hồng đỏ thì hàm ý yêu đương!” cậu bé quả quyết. “Và chú ấy có gửi thiệp kèm theo nữa. Nó ở đâu đó trong đây thôi – em đã đọc nó hàng trăm lần trước khi ném nó trở vào bó hoa – đây rồi. Đọc đi.”
Cậu bé đưa một tấm thiệp nhỏ cho chị, và trước nỗi kinh hoàng của cô bé, nó có hình trái tim. Cô bé nhìn như thể nó là điểm một bài thi mà em biết mình đã làm sai bét.
“Chị không muốn đọc đâu,” Alex từ chối. “Chị không muốn xâm phạm sự riêng tư của mẹ.”
“Vậy thì em sẽ đọc cho chị nghe,” Conner nói và cố giằng tấm thiệp khỏi tay chị.
“Được rồi, chị sẽ đọc!” Alex chịu thua và miễn cưỡng mở tấm thiệp ra.
CHARLOTTE,
KỶ NIỆM SÁU THÁNG VUI VẺ NHÉ!
XOXO - BOB
Alex vội vàng gấp tấm thiệp lại như thể đang cố gắng ngăn sự thật thoát ra khỏi đó. Conner nghiêng người lại gần và chăm chú quan sát vẻ mặt chị, chờ đợi một biểu hiện.
“Thế naaàoo?” Conner ướm hỏi.
“Thì,” Alex nói trong khi cô bé điểm qua hàng tá giả thuyết vô lý, “chúng ta đâu biết những lời này có phải hàm ý họ đang hẹn hò hay không.”
Conner vung hai tay lên trời và bước tới bước lui khắp nhà bếp. “Alex, đừng làm thế chứ!” cậu bé kêu lên, chỉ tay vào chị. “Đừng làm cái gì?” cô bé hỏi.
“Làm cái chuyện mà chị vẫn làm khi cố gắng lờ đi một tình thế nghiêm trọng nào đó, bằng cách coi như không có gì xảy ra ấy!” “Conner, chị nghĩ em đang phản ứng thái quá rồi đấy…” “Đối diện với sự thật đi, Alex, chúng ta đang trở nên mù quáng vì một con chó chăn cừu!” Conner kêu toáng lên đủ để hàng xóm cũng nghe tiếng. “Mẹ có bạn trai rồi!”
Nghe từ Mẹ và bạn trai cùng lúc khiến Alex chột dạ. Trong tâm trí cô bé, hai từ đó còn không có trong cùng một quyển từ điển, huống hồ là cùng một câu.
“Chị sẽ không phát hoảng vì chuyện gì đó cho đến khi được nghe từ chính miệng mẹ,” Alex bảo em.
“Chị còn cần thêm chứng cứ nào nữa mới chịu?” Conner khăng khăng. “Mẹ nhận được một tá hoa hồng đỏ gửi đến tận nhà kèm theo một tấm thiệp đề rõ một khoảng thời gian cụ thể! Chị nghĩ “sáu tháng” nghĩa là gì chứ? Bộ chị tưởng là mẹ với chú Bob tham gia hội chơi bowling mà không nói chúng ta biết sao?”
Bọn trẻ đồng loạt quay đầu lại cùng một hướng khi nghe tiếng cửa nhà xe mở ra. Bà Charlotte cuối cùng đã về nhà. “Hỏi mẹ đi,” Alex máy môi bảo em.
“Chị đi mà hỏi,” Conner máy môi vặn lại.
Bà Charlotte bước vào nhà vài giây sau đó. Bà vẫn đang mặc bộ đồ phẫu thuật và cầm trên tay một túi đồ tạp hóa. Bà đi ngang qua mà không thấy bó hoa trên bàn.
“Chào các con, xin lỗi vì mẹ về trễ,” bà Charlotte nói. “Mẹ đã ghé lại cửa hàng trên đường về nhà để mua vài món làm bữa tối. Mẹ
đang đói muốn chết! Mẹ đang nghĩ sẽ làm món cơm gà hay gì đó; được chứ? Hai con có đói không?” Bà Charlotte ngẩng lên khi bọn trẻ không đáp lại.
“Có chuyện không ổn à?” bà hỏi. “Các con có sao không – chờ đã, bó hoa đó từ đâu đến thế?”
“Chúng là của bạn trai mẹ đấy,” Conner trả lời.
Trong suốt mười ba năm qua, Alex và Conner chỉ đếm được trên một bàn tay số lần mà mẹ chúng không biết phải nói gì trước chúng. Đây là một lần như thế.
“Ôi…” Vẻ mặt bà Charlotte trông hệt như một con hươu khi bị đèn pha ô tô rọi vào.
“Mẹ phải giải thích nhiều đấy!” Conner nói và khoanh tay lại. “Có lẽ mẹ nên ngồi xuống.”
“Mẹ xin lỗi, nhưng ai đã bầu con lên làm cha mẹ thế hả?” Bà Charlotte trách và trừng mắt nhìn cậu con trai.
“Con xin lỗi,” Conner ấp úng và cúi đầu xuống. “Con chỉ nghĩ là chúng ta phải nói rõ chuyện này thôi.”
“Có đúng vậy không ạ?” Alex hỏi với một vẻ mặt nửa lo lắng, nửa kinh hoàng.
“Phải,” bà Charlotte khó nhọc nói. “Chú Bob và mẹ đang quen nhau.”
Conner xuội xuống chỗ ngồi bên cạnh chị. Alex gục đầu xuống bàn.
“Mẹ cũng định nói cho các con biết,” bà Charlotte nói. “Mẹ chỉ đang chờ cho…”
“Để con đoán nhé, cho đến khi chúng con lớn hơn?” Conner hỏi. “Phải chi con được nhận năm đô mỗi lần nghe vậy nhỉ. Alex, coi chừng đó – có khi chúng ta là hai trong số ba đứa sinh ba nhưng chúng ta sẽ không biết được chuyện đó cho đến ba mươi tuổi.”
Bà Charlotte nhắm mắt lại thật chặt và thở dài. “Thực ra, mẹ đang chờ cho đến khi tìm được cách nói với các con,” bà nhẹ giọng nói. “Các con đã quá lo lắng vì từ lâu không gặp bà rồi. Mẹ không muốn làm các con bận lòng thêm nữa.”
Bà ngồi xuống và đợi cho tin này ngấm vào một lúc.
“Mẹ biết tin này rất khó chấp nhận,” bà Charlotte mở lời. “Khó chấp nhận ư? Chúng con cần được cấp cứu tâm lý đây, mẹ,” Conner đáp.
“Con nghĩ phát hiện ra bà là tiên trong một chiều không gian khác thậm chí còn dễ chấp nhận hơn chuyện này,” Alex thêm vào. Charlotte đưa ánh mắt buồn bã nhìn xuống tay bà. Bọn trẻ không muốn làm mẹ buồn, nhưng cảm xúc đang hỗn độn đến nỗi chúng quên mất ý tứ.
“Chú Bob và mẹ quen biết nhau từ lâu lắm rồi,” bà Charlotte kể. “Khi cha các con mất, chú ấy đã trở thành một người bạn rất tốt. Chú ấy là một trong số ít những người mẹ có thể kể về mọi chuyện đã trải qua. Các con có biết vợ của chú Bob mất chỉ một năm trước cha không?”
Cả hai đứa trẻ đều lắc đầu.
“Mẹ có thể nói chuyện với chúng con mà,” Conner nói.
“Không, mẹ không thể,” Charlotte đáp. “Mẹ cần một người trưởng thành khác để gửi gắm những tâm sự của mình. Có con rồi các con sẽ hiểu. Chú Bob và mẹ đều biết những gì mà người kia phải trải qua. Ngày nào mẹ và chú cũng trò chuyện với nhau ở chỗ làm và trở nên rất thân thiết, rồi gần đây, tình bạn đó đã phát triển thêm.”
Bọn trẻ không thể quyết định được rằng lời giải thích của mẹ chúng đang làm dịu bớt hay khiến tình hình tệ hại thêm. Mẹ chúng càng nói nhiều hơn thì chuyện này lại càng trở nên có thật.
“Còn cha thì sao?” Alex hỏi. “Chuyện của mẹ và cha đúng là một chuyện cổ tích có thật, mẹ ơi. Cha đã từ một thế giới khác đến đây để được ở bên mẹ đấy. Mẹ hết yêu cha rồi sao?”
Đây là một câu hỏi hết sức đau lòng đối với cả nhà, nhất là với bà Charlotte.
“Cha các con là tình yêu của đời mẹ, mãi mãi là thế,” bà Charlotte giãi bày. “Không có cha bên cạnh, những năm gần đây đã trở thành giai đoạn khó khăn nhất trong cả đời mẹ. Chúng ta đã kết hôn được mười hai năm, và trong khoảng thời gian đó, chúng ta đã chia sẻ với nhau nhiều thứ, bàn về nhiều chuyện có thể xảy ra. Mẹ biết chắc chắn rằng nếu mẹ dành thêm một năm nữa để nhung nhớ cha con, cha sẽ rất thất vọng về mẹ. Cha muốn mẹ sống tiếp cuộc đời mình cũng như mẹ sẽ muốn thế nếu mẹ là cha. Mẹ cha đã hứa với nhau như thế.”
Bà Charlotte im lặng giây lát trước khi tiếp tục. “Năm đầu tiên sau khi cha mất, mẹ tưởng mẹ không bao giờ có thể vượt qua được,” bà nói. “Mẹ nghĩ một phần trong mẹ đã chết cùng cha và mẹ sẽ không bao giờ có thể yêu ai nữa. Nhưng rồi chú Bob kể với mẹ rằng chú ấy
và vợ đã lập lời hứa giống như thế trước khi cô ấy mất, và ông ấy cũng có cảm giác tương tự. Vì lý do nào đó, khi biết có một người khác cũng có hoàn cảnh giống mình, mẹ cảm thấy đỡ hơn rất nhiều.”
Bọn trẻ ném cho nhau cái nhìn tuyệt vọng, biết rằng chúng không thể làm gì để xoa dịu nỗi đau của mẹ. “Mẹ biết chuyện này rất khó khăn với các con,” bà Charlotte tiếp. “Mẹ không bảo các con phải tán thành chuyện đó. Các con nghĩ gì cũng được, cũng hợp lẽ thôi. Chỉ cần các con biết rằng chú Bob làm cho mẹ hạnh phúc, và đã lâu rồi mẹ mới thấy như vậy.”
Conner cố gắng giữ lại một câu hỏi đột ngột hiện ra trong trí cho riêng mình, nhưng không được.
“Conner, con muốn hỏi gì?” bà Charlotte hỏi và lấy ống tay áo chấm chấm khóe mắt.
“Con không có câu hỏi nào hết,” Conner trả lời và lúc lắc đầu một cách thiếu thuyết phục.
“Có, con có đấy,” bà Charlotte nói, biết rõ con trai còn hơn cả cậu. “Con lúc nào cũng bĩu môi ra như vậy khi có điều gì muốn hỏi.” Conner lập tức chỉnh lại miệng mình.
“Không sao đâu, con yêu, con có thể hỏi bất cứ điều gì,” bà nói. “Trẻ con và ngốc nghếch lắm mẹ ơi,” Conner cảnh báo trước. “Con đoán là đó là điều mà con luôn thắc mắc về những người đã mất vợ hoặc chồng. Nhưng một ngày nào đó, nếu tất cả đều lên… ừm, thiên đường, con cho là thế, chẳng phải sẽ khó xử lắm sao khi có cả chú Bob và cha ở đó?”
Alex sắp sửa để vuột ra một tiếng thở dài phản đối nhưng cô bé đã kiềm lại được. Cả em cũng phải thừa nhận đó là một câu hỏi hợp lý. Mặc dù cô bé cảm thấy mình thật tồi tệ khi nghĩ vậy, nhưng có một phần trong em vẫn cảm thấy mẹ đang phản bội cha.
Một nụ cười nở ra trên gương mặt Charlotte và bà khe khẽ cười. “Ôi, con yêu, nếu có lúc nào đó hay ở nơi nào đó, tất cả chúng ta được gặp lại nhau, mẹ nghĩ rằng chúng ta sẽ quá sung sướng để mà khiến cho mọi chuyện trở nên khó xử.”
Alex và Conner nhìn nhau và biết người kia cũng đang nghĩ giống mình. Ý nghĩ gia đình được đoàn tụ khiến chúng phải mỉm cười. Charlotte đặt tay lên tay các con. “Chúng ta không thể làm gì để đưa cha các con trở lại,” bà nói. “Và cũng chẳng có điều gì đẩy cha rời xa chúng ta được. Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, cha sẽ vĩnh viễn ở bên chúng ta, trong tim chúng ta.”
“Con đoán là nói như thế cũng làm cho con cảm thấy nhẹ nhõm hơn,” Conner lên tiếng.
“Con cũng thế,” Alex đồng tình.
“Mẹ rất vui khi nghe các con nói vậy,” bà Charlotte đáp lại và mỉm cười với bọn trẻ. Rồi bà đứng lên và cầm lấy chùm chìa khóa xe. “Mẹ không muốn nấu nướng nữa. Thay vào đó, chúng ta đi ăn pizza nhé. Cũng tốt nếu được ăn cái gì đó nặng bụng một chút sau một cuộc trò chuyện nặng nề.”
CHƯƠNG BA
Bữa Trưa Ở Thư Viện
Ngày hôm sau, ở trường, Alex vẫn còn gặp khó khăn trong việc tiêu hóa câu chuyện (và cái pizza) đêm trước. Tin tức về mối quan hệ mới của mẹ thật khó chấp nhận và chẳng ích gì khi cô bé vốn đang sầu muộn sẵn rồi.
Cô bé cảm thấy như mọi thứ trong đời mình đang dần vuột khỏi tầm kiểm soát, và em ghét điều đó.
Alex mong mỏi được trò chuyện với ai đó, không phải là mẹ hay em trai, mà là một người khác có thể ôm lấy em và bảo rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi – Alex cần được gặp bà nội. Cô bé sẵn lòng đánh đổi mọi thứ để được gặp mặt bà. Tuy nhiên, vì lúc này điều đó là không thể, Alex đành bằng lòng với chuyện được nhìn thấy một hình thái khác của bà.
Vào bữa trưa, cô bé đến một trong những nơi mình yêu thích nhất trên thế giới: thư viện trường.
“Chào, Alex,” cô thủ thư cất lời khi Alex đi ngang qua bàn cô ấy. “Em sẽ rất vui khi biết cô vừa đặt mua một bộ bách khoa toàn thư mới đấy!”
“Thật sao?” Alex reo lên. “Tuyệt quá!”
Cô bé mỉm cười lần đầu tiên trong suốt cả ngày. Chỉ một giây sau, nụ cười đã tan biến khi cô bé nhận ra “bộ bách khoa toàn thư mới” là tin tức hay ho nhất em nhận được trong tuần.
“Cảm ơn vì sự nhiệt tình của em,” cô thủ thư nói. “Sáng sớm hôm nay cô đã kể cho một học sinh khác biết cô sắp có một bộ bách khoa toàn thư mới – cậu ta liền hỏi cô nằm viện bao lâu rồi vậy! Em có tin nổi không? Thời thế rõ là thay đổi rồi.”
“Đúng thế,” Alex thì thầm.
Alex đi tới dãy kệ sách sau cùng, nơi cất giữ tác phẩm văn học thiếu nhi. Học sinh không được mượn loại sách này ra ngoài, vì hầu hết đều là tư liệu cho môn Ngữ văn. Từ ngăn trên cùng, Alex lấy một cuốn sách dày hàng trăm trang. Cuốn sách vẫn nằm đúng nơi mà cô bé đã để nó lại vào lần cuối cùng đến thư viện.
Dòng chữ Kho tàng Truyện Cổ Kinh điển được viết trên trang bìa màu nâu của cuốn sách. Tuy chẳng mấy bắt mắt và không có được vẻ tráng lệ quyến rũ như Miền Cổ Tích của bà, nhưng nó đã trở thành cuốn sách mà Alex thích tìm đọc nhất ở trong thư viện.
Cô bé nhìn quanh để đảm bảo không có ai trông thấy. Không kể cô thủ thư, người đang bận bịu làm việc trên máy tính, em có cả thư viện cho riêng mình.
Alex mở cuốn sách ra và lần giở từng trang giấy. Cô bé lướt qua ảnh minh họa Người Đẹp Ngủ Trong Rừng và Bạch Tuyết, Rapunzel, Quàng Khăn Đỏ, Goldilocks cùng Jack và cây đậu thần. Thật lạ làm sao, chúng là minh họa chính xác những con người em đã gặp một năm trước trong thế giới cổ tích.
Cuối cùng, Alex cũng tìm được truyện “Lọ Lem” và lật đến chỗ bức tranh mà cô bé muốn thấy nhất: ảnh minh họa Bà Tiên Đỡ Đầu. Alex không thể ngăn được tiếng khúc khích khe khẽ bật ra mỗi khi thấy bức tranh. Bức vẽ của người họa sĩ không thể nào khác xa bà nội của cô bé hơn nữa. Trong cuốn sách này, bà tiên là một cô gái cao ráo và quyến rũ với bờ môi dày dặn, đôi cánh, mái tóc dài vàng óng, và một chiếc vương miện bằng vàng to tướng. Tuy nhiên, dù bức vẽ sai lạc đến mức nào, đó vẫn là bà nội của em, và đó là tất cả những gì Alex cần được thấy.
“Cháu chào bà,” Alex thì thầm với cuốn sách. “Bà trông thật tuyệt. Cháu thích vương miện và đôi cánh của bà lắm. Thật buồn cười, ở mỗi quyển sách cháu đọc bà lại một khác. Do họ diễn giải quá tay, hay phong cách của bà đã thay đổi qua năm tháng?”
Bà Tiên Đỡ Đầu chỉ là một nàng tiên trẻ tuổi sống trong thế giới cổ tích khi bà phát hiện có sự tồn tại của một thế giới khác. Bà là người đầu tiên và duy nhất trong lịch sử cả hai thế giới có khả năng đi lại từ thế giới này đến thế giới kia. Bà chưa bao giờ hiểu được vì sao bà lại được phú cho khả năng đó, nhưng phép thuật xưa nay vẫn luôn có lối đi riêng.
Lần đầu tiên bà đến với thế giới này, nó đang chìm trong đêm tối. Bấy giờ là buổi đầu Thời kỳ Trung cổ, chiến tranh và dịch bệnh đang hoành hành khắp nơi. Bà Tiên Đỡ Đầu kể những câu chuyện ở thế giới của bà cho những đứa trẻ đã gặp để động viên tinh thần chúng. Những truyện kể mang đến cho bọn trẻ niềm vui và hy vọng to lớn đến nỗi bà quyết định dành cả đời mình để truyền bá lịch sử thế giới thần tiên đến trẻ con trong thế giới này.
Bà Tiên Đỡ Đầu dần dà tuyển mộ các vị tiên khác, trong đó có Mẹ Ngỗng và các thành viên của Hội đồng Tiên, để họ cùng bà bí mật du hành và giúp bà lan tỏa các câu chuyện (và từ đó mà cái tên “truyện thần tiên” ra đời), chia sẻ chút phép màu cho một thế giới vốn thiếu thốn những điều màu nhiệm. Qua thời gian, các vị tiên chiêu mộ thêm những người khác, như Anh Em Nhà Grimm và Hans Christian Andersen, để giữ các câu chuyện của họ sống mãi.
Hai chiều không gian vận hành theo mốc thời gian khác nhau, thế giới cổ tích xoay chuyển theo tốc độ chậm hơn thế giới khác rất nhiều. Các vị tiên cố gắng đến với thế giới loài người nhiều nhất có thể, nhưng dù chỉ có vài tháng trôi qua ở thế giới cổ tích từ chuyến thăm lần trước, hàng thế kỷ đã qua nơi thế giới bên kia. Chỉ đến khi Alex và Conner, những đứa con đầu tiên của cả hai thế giới được sinh ra, thời gian ở hai chiều không gian mới trôi theo cùng nhịp độ.
Alex và Conner là mối liên kết neo giữ hai thế giới. Và trong khi Alex cầm Kho tàng Truyện cổ Kinh điển trong tay, cô bé có thể cảm nhận được năng lượng đó chảy trong huyết quản. Hèn gì bọn trẻ đã yêu truyện cổ tích suốt cả đời mình.
Alex tự hỏi phải chăng bà đã dành trọn năm qua để lan tỏa các truyện cổ tích khắp thế giới. Hay là ở thế giới cổ tích đã xảy ra chuyện gì tồi tệ ?
“Bà ơi, cháu không biết có chuyện gì đang xảy ra, nhưng lúc này cháu thật sự rất cần bà,” Alex nói với cuốn sách. “Mọi thứ đang thay đổi; mọi thứ đang đi theo chiều hướng mà cháu không thích chút nào. Cái việc trưởng thành này khó hơn cháu tưởng nhiều. Và việc không được gặp bà khiến tất cả trở nên không thể chịu nổi.”
Alex đưa mắt nhìn quanh thư viện lần nữa để đảm bảo cô bé vẫn đang ở một mình. Em ôm lấy quyển sách chặt hết mức có thể mà không làm hỏng nó và thì thầm vào phía trên gáy sách.
“Làm ơn cho cháu trở lại Miền Cổ Tích,” cô bé nói. “Hãy để cháu hợp sức cùng bà và các vị tiên khác. Nếu có chuyện gì xảy ra, hãy để cháu giúp bà. Làm ơn, chỉ cần gửi cho cháu một dấu hiệu thôi, để cháu biết bà vẫn ổn.”
Alex ôm cuốn sách thêm một lúc nữa, hy vọng rằng ngày hôm nay sẽ là ngày cô bé được phép thuật đưa trở lại vùng đất mà em yêu quý. Nhưng với sự thất vọng não nề, em vẫn đứng trơ đó trong thư viện.
Tuy nhiên, lời ước khe khẽ của cô bé không phải là không ai nghe thấy.
“Nếu ôm cuốn đó không có tác dụng, hãy thử một trong mấy cuốn này xem sao,” có tiếng ai cất lên gần đó .
Giật mình, Alex đánh rơi cuốn truyện. Ở phía cuối dãy kệ, đang ngồi trên sàn giữa vài chồng sách vây quanh, là Conner. Alex hoàn
toàn không trông thấy cậu bé trước đó.
“Em làm chị sợ hết hồn,” Alex nói, ngượng ngùng không biết cậu em đã nghe được gì trong mấy lời giãi bày với món đồ vô tri vô giác này của mình.
“May mắn là em biết rõ chị đấy; không thì chắc em đã báo cáo tình trạng của chị cho bác sĩ tâm lý của trường rồi,” Conner nói với một nụ cười châm chọc nhưng trìu mến.
“Em đang làm gì ở đây thế?” Alex hỏi. Cô bé bước dọc theo dãy kệ đến gần cậu em hơn và trông thấy hầu hết những cuốn sách xung quanh cậu là tuyển truyện và cổ tích.
“Cũng giống chị thôi, có vẻ là thế,” Conner nói và khúc khích cười một mình. “Có điều em không cố gắng đạt đến một thỏa thuận nào đó với tụi nó.”
“Vui tính quá nhỉ,” Alex đáp trả và ngồi xuống bên cạnh cậu em. “Đây là lần đầu tiên em vào thư viện à?”
Conner thở dài và nhún vai. “Hôm nay em có hơi xuống tinh thần. Em nghĩ nếu vào đây và xem qua vài cuốn truyện thì sẽ thấy đỡ hơn,” cậu bé giải thích.
“Việc đó có tác dụng không?” Alex hỏi.
“Sơ sơ, em nghĩ thế,” Conner đáp. “Vì sao chị biết không?” “Ừ thì,” Alex trả lời trong khi chỉnh lại cài tóc, “chị từng đọc được một quyển sách về động vật, nó nói rằng có một vài loài chim và côn trùng sống trên cây cứ hễ thấy nhà của chúng bị đe dọa là lại trèo xuống và ẩn nấp trong rễ.”
Conner nhìn chị như thể cô bé đang nói nhăng cuội gì đó. “Cái đó thì có liên quan gì tới việc này chứ?”
“Bởi vì,” Alex giảng giải, “mái nhà của chúng ta đang bị đe dọa; mọi thứ đang đổi thay. Vì vậy chúng ta ở đây, trong thư viện, đọc truyện cổ tích. Chúng ta đang trở về với cội rễ của mình.”
“Chắc vậy rồi,” Conner ậm ừ, chỉ hiểu phân nửa phép so sánh của chị cậu. “Làm sao chị có thể nhớ cái đó trong khi chẳng bao giờ nhớ được tên của các ca sĩ trên đài chứ?”
“Ý của chị là,” Alex tiếp tục, “đôi khi, tất cả những gì ta cần là được trông thấy vài gương mặt thân thuộc để cảm thấy an tâm trở lại.”
Conner gật đầu. “Hừm, em không thể nói là mình được thấy gương mặt thân thuộc nào đâu,” cậu nói.
Cậu bé tìm tòi trong mấy chồng sách và lôi ra vài cuốn để chỉ cho chị.
Trong cuốn này, phiên bản Ai Cập của ‘Lọ Lem,’ bà là một con chim ưng!” cậu bé hào hứng kể chị. “Và cuốn này thì thậm chí không có bà trong đó. Lọ Lem nhận được bộ váy dạ hội và giày của nàng ta từ một cái cây! Chị có tin nổi không? Làm như là một cái cây có thể cho nàng một cái váy mới thật ấy. Cho em xin đi. Một người lạ mặt với đũa thần trong tay dễ tin hơn chứ.”
“Chúng ta nên viết thư khiếu nại,” Alex nói. “Chúng ta có nên ký tên là cháu nội của Bà Tiên Đỡ Đầu không? Em nghĩ họ có coi điều đó là nghiêm túc nếu chúng ta làm thế không?” Bọn trẻ cùng phá lên cười.
“Chắc rồi!” Conner kêu lên. “Hoặc ký là người thân của vị hoàng tử mất tích lâu ngày của nhà Charming ấy! Em đoán là chưa có ai nghe nói tới chuyện đó trước đây.”
Bọn trẻ rơi vào im lặng và sự vui thích của chúng biến thành nỗi tuyệt vọng. “Em nhớ Froggy,” Conner thốt lên. “Em nhớ được gọi tên ‘Froggy.’”
“Chúng ta có làm được gì nhiều đâu cơ chứ,” Alex đáp. “Nếu bà muốn chúng ta trở lại, bà sẽ kể cho chúng ta biết chuyện gì đang diễn ra. Từ đây cho đến lúc đó, chị đoán là chúng ta phải tiếp tục ôm mấy cuốn sách thôi.”
“Tuyệt,” Conner mỉa mai. “Em không biết cha sẽ nói gì với chúng ta nếu cha còn sống nhỉ. Em nghĩ cả trong danh mục của cha cũng không có truyện gì giúp chúng ta vượt qua những gì đang phải trải qua lúc này.”
Alex phải suy nghĩ về điều này một lúc. Hầu hết các chuyện của cha đều rất hoàn hảo để giúp hai đứa trẻ đối phó với những rắc rối thời tiểu học, nhưng ông có lời khuyên nào cho chúng lúc này không?
“Chị cá là cha sẽ nói rằng ai ai cũng có thể có một cái ngày-xửa ngày-xưa hay hạnh-phúc-mãi-mãi-về-sau, nhưng chính hành trình mà họ phải vượt qua mới là cái khiến cho câu chuyện trở nên đáng kể,” Alex nói. “Và cách mà các nhân vật đối diện với những thách thức mới là cái biến họ thành những người hùng.”
“Ừ…” Conner đồng ý. “Đại loại vậy đó… Chị giỏi vụ này thật.”
Một tiếng bíp cao vút chợt vang lên - tín hiệu có thông báo từ loa phát thanh.
“Conner Bailey, mời em đến trình diện ở văn phòng hiệu trưởng. Conner Bailey, mời em đến trình diện ở văn phòng hiệu trưởng.” Bọn trẻ đều ngẩng lên nhìn chiếc loa rồi nhìn nhau.
“Em đã làm gì vậy?” Alex hỏi.
“Em không biết,” Conner vừa đáp vừa nuốt khan. Cậu bé tua lại trong trí bốn tuần vừa qua, nghĩ xem mình có làm gì để dẫn đến chuyến thăm văn phòng hiệu trưởng không, nhưng chẳng thấy gì đáng ngờ cả. “Ít nhất thì em không nghĩ mình đã làm gì sai.”
Conner thu dọn đồ đạc của cậu và xếp sách của thư viện lại trên kệ.
“Chúc em may mắn đi,” cậu bé nói với chị. “Gặp lại chị khi tan trường nhé… Em hy vọng thế.”
Alex vẫn ngồi nguyên trên sàn, những ý nghĩ u ám xâm chiếm tâm trí cô bé. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu em không bao giờ gặp lại bà nội nữa? Em sẽ trở thành một bà cô quái gở, lê la hết thư viện này đến thư viện khác để ôm mấy cuốn sách sao? Con cháu của em có tin không nếu được nghe kể về mối liên hệ giữa em và thế giới cổ tích?
Cuối cùng, tiếng chuông vang lên và Alex đứng dậy. Cô bé nhặt lấy cuốn Kho tàng Truyện cổ Kinh điển từ trên sàn, nơi em đã đánh rơi nó và quyết định xem lại lần cuối bức tranh minh họa trước khi vào lớp.
Alex lật đến đúng trang sách mà cô bé đã trò chuyện với nó trước đó, và trước sự kinh ngạc của em, hình minh họa đã thay đổi hoàn toàn. Thay vào chỗ cô gái quyến rũ với đôi cánh và vương miện khi nãy, bức tranh vẽ một bà lão nhỏ nhắn có nụ cười hiền từ và bộ váy màu xanh da trời lấp lánh. Đó là bà của cô bé.
Alex nhìn quanh thư viện trong phút ngỡ ngàng rồi một nụ cười dần nở ra trên gương mặt em. Bà nội vừa gửi cho Alex một tấm bưu thiếp.
CHƯƠNG BỐN
Văn Phòng Hiệu Trưởng
Conner ngồi bên ngoài văn phòng hiệu trưởng chỉ mới mười phút mà có cảm tưởng như đã hai giờ đồng hồ. Lý do cậu được gọi đến đây vẫn còn là một bí ẩn, và nó đang gặm nhấm tâm trí cậu như một đôi chim ó đói ngấu.
Cậu bé đã là một học sinh ngoan ngoãn đến kinh ngạc trong suốt năm nay – có lẽ không xuất sắc như chị cậu, nhưng thế là giỏi rồi. Điểm số của Conner khá tốt, dù lẽ ra cậu bé có thể làm tốt hơn nữa ở môn khoa học và toán, mà theo ý cậu thì hầu hết các bạn học khác đều làm được. Ngoại trừ việc thỉnh thoảng lại quên mất cuộc cách mạng nào xảy ra ở đâu, cậu cũng học khá tốt môn lịch sử. Và lần đầu tiên trong đời, cậu bé thực sự thích thú với các bài tập Ngữ văn.
Cậu bé tin là mình không làm gì sai cả. Vậy thì sao cậu lại ở đây chứ? Cậu phát hoảng với ý nghĩ ai đó đã đổ tội cho cậu. Cậu bé có phải chịu trách nhiệm cho dòng chữ graffiti trên tủ đồ hay con cá vàng bị cho vào nhà vệ sinh của giáo viên không? Đúng là Conner
thấy những trò chơi khăm đó thật hài hước, nhưng cậu bé không làm ra chúng. Nếu họ không nghĩ cậu là thủ phạm, phải chăng họ nghĩ cậu biết thủ phạm là ai và muốn cậu làm chứng? Cậu có thể từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào như quy định của Tu chính án thứ năm không? Cậu bé có quyền nhờ luật sư hay gọi một cuộc điện thoại không?
Cánh cửa văn phòng hiệu trưởng bật mở và một cô bé vụt ra, rơm rớm nước mắt. Conner lập tức trở nên căng thẳng. “Cậu Bailey?” cô Peters gọi với ra từ trong văn phòng của cô. Conner nuốt khan. Nghe tiếng cô gọi tên hôm nay cũng chẳng kém phần đáng sợ hơn thời gian trước, khi cô dạy Conner lớp sáu… Được thăng chức là điều cuối cùng cô Peters nghĩ tới, nhưng gần đây, cô đã thăng tiến vượt bậc.
Sau hai mươi lăm năm giảng dạy, cô Peters đã đưa ra một quyết định khó khăn là lui về nghỉ hưu. Ý nghĩ này đã đeo đẳng tâm trí vị giáo viên kỳ cựu một thời gian. Học sinh của cô Peters không hề hay biết trong nhiều năm liền, cô vẫn đặt một cuốn lịch trên bàn và đếm ngược từng ngày cho đến khi cô đủ tuổi nghỉ hưu.
Cô thường mơ màng tưởng tượng về cuộc sống của mình sau khi nghỉ dạy. Cô đã lên kế hoạch tất cả những chuyến du lịch nước ngoài mà cô muốn thực hiện. Cô lập danh sách tất cả những gì cần sửa chữa ở căn hộ mà cuối cùng cô cũng có thời gian để làm. Cô gom góp tất cả những thứ cần thiết để trồng một vườn rau trong khoảnh sân nhỏ của mình. Nói cách khác, cô đã sẵn sàng nghỉ hưu.
Nhưng vào tuần cuối cùng khép lại sự nghiệp dạy học của cô, cô Peters nhận được lời đề nghị làm hiệu trưởng. Một cuộc đời chỉ có làm vườn và thư giãn thì cũng hấp dẫn đấy, nhưng cuộc đời một hiệu trưởng lại cho cô cái đặc quyền mà cô yêu thích nhất ở công việc giáo viên: uy quyền trước những học sinh nhỏ tuổi dễ bị ảnh hưởng.
Khỏi phải nói, cô nhận công việc mới chẳng chút phân vân. Cô phát huy được bản thân mình ở vị trí đầy quyền uy khi đưa ra những quyết định kỷ luật, và thỉnh thoảng lại có một việc gì đó cho phép cô thực hiện điều cô yêu thích hơn bất cứ thứ gì khác trên đời, đó cũng là lý do cô gọi Conner Bailey đến văn phòng.
“Ngồi xuống đi,” cô Peters ra lệnh.
Conner ngồi xuống đối diện cô một cách ngoan ngoãn đến mức làm cậu phải liên tưởng đến con Buster, chỉ khác là không mong được thưởng một cái bánh quy. Ánh mắt cậu lướt một vòng quanh gian phòng; cậu bé nhận thấy cô Peters trang trí văn phòng với cùng hoa văn như bộ váy cô mặc.
“Em có biết vì sao tôi gọi em vào đây hôm nay không?” cô Peters hỏi. Cô thậm chí không nhìn tới cậu. Mắt cô đang bận xem qua một chồng giấy tờ trong tay.
“Em không biết ạ,” Conner đáp. Cậu bé gần như có thể thấy được nội dung của mớ giấy tờ đó qua hình ảnh phản chiếu trên mắt kính cô.
“Tôi muốn nói chuyện với em vì bài viết mà em thực hiện trong lớp Ngữ văn,” cô nói, cuối cùng cũng chịu nhìn vào mắt cậu.
Conner phát hiện những tờ giấy cô đang xem đều mang nét chữ của cậu. Cậu bé phát hoảng.
“Cuộc trò chuyện này có phải là vì bài luận về tác phẩm Giết con chim nhại của em không ạ?” cậu hỏi. “Em biết là em đã viết, ‘Một trong những phần đáng buồn nhất trong quyển sách này là cô bé bị mang cái tên Scout,ʼ nhưng em đã nói chuyện với cô York về cách tiếp cận của mình và hiểu được vì sao bài viết lẽ ra có thể tốt hơn nữa rồi ạ.”
Mắt cô Peters nheo lại và chân mày cô cong lên với vẻ phê phán; chuyện này thể nào cũng xảy ra ít nhất một lần khi cô ở chung phòng với Conner.
“Hay có là tại bài phân tích Trang trại động vật của em chăng?” Conner tiếp. “Em biết em đã nói, ‘Tôi ước gì George Orwell đã phản ánh chế độ chính trị bằng những hình ảnh không khiến tôi phát thèm một cái burger phô mai thịt muối,’ nhưng đó thực sự là những gì em nghĩ; em không cố tỏ ra hài hước đâu ạ.”
“Không, cậu Bailey,” cô Peters giải thích. “Tôi gọi em đến văn phòng để nói về những bài viết sáng tạo mà em đã làm ở lớp của cô York.”
“Ồ?” Conner ngạc nhiên. Viết sáng tạo thực ra là phần cậu yêu thích nhất trong lớp ngữ văn. “Em đã làm sai chỗ nào ạ?” “Em không sai gì cả,” cô Peters đáp. “Nó rất xuất sắc.” Conner ngẩng phắt lên với vẻ không tin nổi.
“Có phải cô vừa nói cái điều mà em nghĩ cô đã nói không ạ?” Conner kinh ngạc.
“Tôi tin là thế,” cô Peters đáp, cô cũng có vẻ ngạc nhiên như cậu vậy. “Cô York sợ rằng các truyện em viết là do đạo văn mà ra, nên cô ấy đã gửi chúng cho tôi kiểm tra, nhưng chúng không giống như bất cứ thứ gì tôi từng đọc. Tôi đã đảm bảo với cô ấy rằng theo tôi thấy, chúng đều là nguyên bản.”
Conner khó khăn lắm mới tin được chuyện này; không phải ai khác mà chính cô Peters đang khen ngợi và bảo vệ cậu. “Vậy em đang ở đây vì một chuyện tốt đẹp ạ?” Conner hỏi. “Một chuyện rất tốt đẹp,” cô Peters trả lời. “Truyện của em và góc nhìn khác biệt về các nhân vật cổ tích thật tuyệt vời! Tôi rất thích các truyện về việc Hoàng tộc Charming tìm kiếm cậu em đã mất tích từ lâu và chuyện người yêu đã mất của Hoàng hậu Độc Ác bị giam giữ trong Tấm Gương Thần của bà ta. Trix, nàng tiên phạm lỗi và Trollbella, cô công chúa quỷ lùn chất phác là những nhân vật tưởng tượng cực kỳ độc đáo. Rất ấn tượng!”
“Cảm ơn cô!” Conner nói.
“Tôi có thể hỏi điều gì đã truyền cảm hứng cho em viết những câu chuyện này không?” cô Peters thắc mắc.
Conner nuốt khan. Cậu bé không biết phải trả lời thế nào. Thực ra, cậu đã tận dụng giờ học để viết về trải nghiệm thật của mình, nên các câu chuyện không hẳn là “bài viết sáng tạo.” Có thể coi là cậu đang nói dối không, ngay cả khi không thể nói ra sự thật?
“Chúng chỉ đơn giản là tự đến với em thôi ạ,” Conner giải thích với cái nhún vai. “Em không giải thích được tường tận.”
Cô Peters làm một việc mà Conner chưa bao giờ thấy cô làm trước đây: Cô mỉm cười với cậu.
“Tôi đã hy vọng em sẽ nói thế,” cô Peters nói. Cô lấy ra một tập tài liệu từ trong hộc bàn. “Tôi đã tự xem qua hồ sơ học sinh mà em điền vào đầu năm học. Tôi thấy thật thú vị khi ở dưới chỗ ‘nghề nghiệp mong muốn trong tương lai,’ em chỉ viết đơn giản là ‘việc gì đó thật oai.’”
Conner gật đầu. “Em vẫn trung thành với ý đó,” cậu nói. “Trừ phi mục đích của em là trở thành một người tuyết chuyên nghiệp, có được không nếu tôi cho là em sẵn lòng tiếp nhận vài gợi ý?” cô Peters hỏi.
“Chắc chắn rồi ạ,” Conner đáp. Cậu vẫn chưa nghĩ ra công việc nào phù hợp với miêu tả đó.
“Bailey, em có bao giờ nghĩ đến chuyện trở thành một nhà văn chưa?” cô Peters gợi ý. “Nếu những câu chuyện này là một tín hiệu, tôi nghĩ, với thời gian và rèn luyện, có lẽ em sẽ có đủ các phẩm chất cần thiết để là một nhà văn.”
Mặc dù chỉ có họ trong văn phòng, Conner vẫn phải tự nhắc mình nhớ rằng cô đang nói chuyện với cậu.
“Một nhà văn?” Conner ngạc nhiên. “Em ạ?” Ý nghĩ này chưa bao giờ xuất hiện trong đầu cậu. Ngay lập tức, những nghi ngờ về khả năng này lấp đầy tâm trí cậu, như các tế bào bạch cầu tấn công virus vậy.
“Phải, em đấy,” cô Peters khẳng định và chỉ vào cậu để làm rõ hơn.
“Nhưng chẳng phải các nhà văn phải thông minh lắm sao?” Conner thắc mắc. “Không phải họ thường nói những câu như, ‘Tôi đồng tình’ và ‘Tôi không đồng tình với cái này’ sao? Những người như vậy mới là nhà văn, không phải em. Họ sẽ cười chê em nếu em cố gắng trở thành một người như họ.”
Cô Peters thở hắt ra, và Conner nhớ rằng đó là cách cô cười. “Trí thông minh không phải là một cuộc tranh giành,” cô nói. “Có dư dả trí thông minh cho tất cả mọi người, và có rất nhiều cách để thể hiện nó.”
“Nhưng ai cũng có thể viết văn, phải không ạ?” Conner hỏi. “Ý em là, các nhà văn bị phê bình rất nghiêm khắc cũng vì thế, không phải vậy sao ạ? Bởi vì thực ra ai cũng có thể sáng tác nếu họ muốn.”
“Chỉ vì ai cũng có thể làm được việc gì đó không có nghĩa là ai cũng nên làm thế,” cô Peters giảng giải. “Ngoài ra, thời buổi này, ai có kết nối Internet cũng cảm thấy họ có đủ tư cách để phê phán và hạ thấp giá trị mọi thứ mà.”
“Em cho là thế,” Conner đáp, nhưng vẻ ỉu xìu của cậu lại nói lên điều ngược lại. “Điều gì làm cô nghĩ em sẽ làm một nhà văn giỏi? Truyện của em quá đơn giản khi đem so với những truyện khác ngoài kia. Em còn không có vốn từ vựng phong phú nữa – em sẽ vô dụng hoàn toàn nếu không kiểm tra lỗi chính tả.”
Cô Peters gỡ kính ra rồi dụi mắt. Conner là một học sinh khó bảo. “Có được một câu chuyện đáng kể và nhiệt tâm để kể nó ra mới là yếu tố làm em trở thành một nhà văn giỏi,” cô Peters nói. “Tôi không thể nói được đã bao nhiêu lần tôi đọc thấy những bài báo hay
tiểu thuyết sử dụng ngôn từ phức tạp và cách chơi chữ lắt léo để che đậy sự thật rằng chúng chẳng có câu chuyện nào để kể cả. Một câu chuyện hay nên được mọi người thưởng thức; đôi khi, sự đơn giản lại đem đến thành công đấy.”
Conner vẫn chưa bị thuyết phục. “Em không nghĩ biết việc đó có phù hợp với em không.”
“Em không phải quyết định ngay bây giờ,” cô Peters bảo. “Tôi chỉ khuyên em hãy suy nghĩ về khả năng đó thôi. Tôi không muốn một người có trí tưởng tượng tốt như em tốt nghiệp mà không làm một nghề gì ‘thật oai’ với nó.”
Cô nhìn vào mắt cậu bé và một nụ cười hiếm hoi, rất khẽ nở ra trên mặt cô.
“Có hai việc mà tôi rất thích được làm trong công việc của mình: quở phạt và khích lệ,” cô Peters tiếp tục. “Cảm ơn em vì đã để tôi khích lệ em. Tôi không có nhiều dịp để làm thế đâu.”
“Không có gì ạ,” Conner đáp. “Thật tốt khi được xếp vào nhóm khác để đổi gió một chút.”
Cô Peters đeo lại mắt kính và đưa cho Conner chồng bài tập của cậu. Cậu bé nghĩ rằng buổi gặp mặt của họ đã kết thúc và bước ra cửa, nhẹ nhõm vì không rơi vào tình trạng nước mắt ngắn dài như vị khách trước đó của cô hiệu trưởng.
“Cô rất tự hào vì em, Conner,” cô Peters cất lời ngay khi cậu bé chạm tay lên nắm đấm cửa. “Em đã tiến bộ nhiều từ một cậu bé vẫn ngủ gật trong lớp của cô đấy.”
Tất cả những gì Conner có thể làm là gửi đến cô một nụ cười trìu mến. Nếu một năm rưỡi trước có ai bảo với cậu rằng một ngày kia, cô Peters sẽ trở thành một trong những người ủng hộ tuyệt vời nhất của cậu (hay gọi cậu bằng tên), cậu sẽ chẳng tin đâu.
Trên đường về nhà, Conner nghĩ ngợi về chuyện vừa qua. Ý nghĩ của cậu bay bổng lên những tầng trời của cơ hội và chìm xuống cõi mênh mông của sự mơ hồ. Cô Peters đã phát điên hay đúng là cậu, Conner Bailey, thực sự có thể trở thành một nhà văn trong tương lai? Cậu thực sự có thể lập nghiệp bằng việc viết về những trải nghiệm của cậu và chị gái trong thế giới cổ tích sao?
Liệu có ai muốn đọc những truyện cậu viết về Trollbella và Trix, hay Hoàng hậu Độc Ác và Bầy Sói To Hung Tợn, hay Jack và Goldilocks không? Liệu những người đó có phiền lòng không nếu cậu viết về họ? Nếu cậu có dịp gặp lại Goldilocks, liệu cô ấy có đánh cậu tối mặt tối mũi vì dám viết truyện về mối tình tay ba giữa cô ấy, Jack, và Quàng Khăn Đỏ?
Conner cho là người ta đã viết đi viết lại truyện về các nhân vật đó suốt hàng thế kỷ rồi; chắc họ chẳng bận tâm nếu cậu cập nhật cho thế giới biết vài tin mới đâu.
Nhưng còn Alex thì sao? Chị cũng có quyền sở hữu đối với những trải nghiệm này như cậu; chị ấy có khó chịu vì cậu chia sẻ chúng với cả thế giới không?
Alex bao giờ cũng là người có triển vọng tương lai, không phải cậu. Lên kế hoạch lúc nào cũng là nghề của cô bé; Conner luôn trông đợi chị sẽ lớn lên và trở thành một bác sĩ, luật sư, hay tổng
thống. Chẳng may là cậu bé vẫn chưa suy tính nhiều cho tương lai mình, nên bất cứ khả năng nào cũng có vẻ quá xa vời. Conner nghĩ mình muốn nghe ý kiến của Alex về tất cả chuyện này. Nhưng khi về đến nhà, cậu bé khựng lại. Có một thứ mà cậu không nghĩ sẽ bắt gặp ở đó.
“Chú Bob đang làm gì ở đây vậy?” Conner tự hỏi, nhận ra chiếc xe đậu trước nhà.
Cánh cửa trước bật mở trước khi Conner có thể tự mở nó ra. Alex đang đứng ở phía bên kia, đôi mắt mở to và gương mặt trắng bệch.
“Cuối cùng thì em cũng về!” cô bé thở phào nói.
“Có chuyện gì vậy?” Conner hỏi. “Sao chú Bob lại ở đây?” “Chú ấy muốn nói chuyện với chúng ta trước khi mẹ về nhà,” Alex đáp. “Chú ấy biết chúng ta đã biết chuyện và bảo rằng chú muốn hỏi chúng ta một chuyện. Chị chắc là mình đã biết đó là gì rồi.” “Gì chứ?” Conner hỏi, hoàn toàn chẳng biết gì.
“Cứ vào trong đi,” Alex bảo cậu. “Chị nghĩ sắp có một diễn tiến trọng đại đấy.”
CHƯƠNG NĂM
Lời Cầu Hôn
Kể từ khi lên bốn, Alex và Conner đã không còn trông giống chị em song sinh nữa. Vào khoảng thời gian đó, bà Charlotte thôi cho bọn trẻ mặc đồ giống nhau mỗi ngày và chúng bắt đầu phát triển theo đặc điểm của riêng mình. Nhưng khi chúng ngồi trên ghế, cả hai cùng dán mắt nhìn bác sĩ Bob chằm chằm với đôi tay khoanh lại, một lần nữa, thật khó để phân biệt chúng với nhau.
“Vậy là…” ông Bob mở lời và xoay trở một cách khó khăn trên chiếc ghế đối diện bọn trẻ. “Mẹ các cháu nói rốt cuộc thì cũng đã cho các cháu biết chuyện của chúng ta.”
Ông thật can đảm khi dám chủ động gợi chuyện.
“Đúng là mẹ đã làm vậy,” Conner đáp.
Ông Bob gật đầu thân thiện, như thể đó là tin tốt vậy. Bọn trẻ thậm chí không chớp mắt – chúng là một cặp thật đáng sợ.
“Chú xin lỗi vì bó hoa đó được gửi đến nhà. Lẽ ra chúng phải đến bệnh viện cơ,” ông giải thích.
“Phải, lẽ ra chúng nên thế,” Alex đáp. Bác sĩ Bob đã thực hiện hàng ngàn ca mổ khó khăn trong cả cuộc đời hành nghề y, nhưng ông thấy bị những đứa con của người phụ nữ ông đang hẹn hò nhìn chằm chằm mới là trải nghiệm căng thẳng nhất đời mình.
“Chú hiểu vì sao tin này lại khó chấp nhận,” ông Bob nói. “Nhưng vẫn là chú thôi mà, các cháu. Chú vẫn là bác sĩ Bob, người đã cùng dùng bữa tối với các cháu hàng chục lần. Chú vẫn là người đã đưa các cháu đi xem những bộ phim mà mẹ các cháu không muốn xem. Chú vẫn là người đã đưa Buster đến cho các cháu. Chỉ tình cờ mà chú lại là…”
“Người đang hẹn hò với mẹ chúng cháu?” Conner chen vào. “Có cố gắng đấy, nhưng tất cả những gì chú kể ra chỉ làm tình hình tệ hơn thôi. Chúng cháu tưởng là đã biết rõ chú chứ.”
“Chú đang thừa nhận Buster là một dạng của hồi môn đấy ư, chú Bob?” Alex hỏi.
“Alex, của hồi môn là gì?” Conner khẽ nhếch mép hỏi chị mà không rời mắt khỏi ông Bob.
“Một kiểu trao đổi hợp thức ấy mà,” Alex giải thích. “Kiểu như, vào thời cổ đại, một người đàn ông sẽ nhận được lễ vật là một tá lạc đà hay đại loại vậy để đổi lấy hôn ước với con gái ông ta.”
“Hiểu rồi,” Conner đáp, chuyển tất cả sự chú ý trở lại với ông Bob. “Chú không nghĩ mẹ chúng cháu đáng giá một tá lạc đà sao, chú
Bob? Một con chó vậy là chú tưởng chúng ta đã đi đến thỏa thuận à?”
“Chú tuyệt đối không nghĩ là chúng ta đã thỏa thuận được với nhau,” ông Bob trả lời. “Giờ thì chưa.”
Alex và Conner đồng loạt nheo mắt lại. Ông Bob cho tay vào trong túi và lấy ra một chiếc hộp bọc nhung nhỏ. Trong một giây, bọn trẻ tự hỏi đó là gì, nhưng chỉ một giây thôi. Khi chúng nhận ra cái hộp quá nhỏ, không đủ để chứa bất cứ thứ gì khác ngoài một chiếc nhẫn, chúng lập tức hiểu ra nó có ý nghĩa gì.
“Ôi Chúa ơi,” Alex thốt lên.
“Không đời nào,” Conner kêu lên.
Ông Bob nhìn xuống cái hộp với một nụ cười. “Các cháu biết không, khi vợ chú mất bốn năm trước, chú không bao giờ nghĩ mình có thể hạnh phúc trở lại,” ông nói. “Chú cứu lấy mạng sống của mọi người hằng ngày, nhưng trong một khoảng thời gian dài, chú nghĩ chẳng thể nào cứu vãn đời mình được nữa. Nhưng rồi mẹ cháu xuất hiện, và chú biết mình đã lầm.”
Alex và Conner liếc nhau qua khóe mắt. Chúng chưa bao giờ thấy ông Bob xúc động như vậy, nhưng chúng rất cảm kích trước sự chân thành của ông.
“Cháu biết hai người đã gặp gỡ nhau được ít lâu rồi, nhưng tất cả chuyện này có vẻ đột ngột quá,” Alex nói.
“Chúng cháu chỉ vừa phát hiện tối qua,” Conner nói thêm. “Trong suy nghĩ của chúng cháu, hai người chỉ mới hẹn hò được một ngày thôi. Chú có chắc là chú không quá vội vàng không?”
Cái cách ông nhìn xuống chiếc nhẫn, với ánh mắt âu yếm và nụ cười thành tâm, đã nói lên rất rõ rằng ông chưa bao giờ chắc chắn hơn thế trong đời mình.
“Chú đã sống được khá lâu, các cháu à. Và chú đã học được rằng những chuyện như thế này không đến với ta thường xuyên lắm đâu,” ông Bob nói. “Không nắm lấy cơ hội này để đề nghị mẹ các cháu ở bên chú đến hết phần còn lại của cuộc đời thì chú sẽ là kẻ ngu ngốc nhất thế giới.”
Ông Bob mở chiếc hộp ra cho bọn trẻ xem chiếc nhẫn. Alex há hốc miệng. Đó là chiếc nhẫn đẹp đẽ nhất mà bọn trẻ từng trông thấy. Chiếc nhẫn bằng bạc có đính hai viên kim cương lớn, một viên xanh biển và một viên màu hồng. Bọn trẻ có thể thề rằng chúng đã nghe tiếng nhạc vang lên khi chiếc nhẫn lấp lánh sáng, nhưng đó chỉ là tưởng tượng của chúng thôi.
“Mất một tháng chú mới tìm được chiếc nhẫn hoàn hảo,” ông Bob kể tiếp. “Chú biết phải là chiếc nhẫn này ngay khi nhìn thấy nó. Chú nghĩ hai viên kim cương sẽ nhắc cô ấy nhớ về các cháu; chúng là hai sắc thái khác nhau của cùng một loại kim cương.”
Đôi mắt Alex lập tức ngân ngấn nước sau khi nghe lời này. Conner thì khoanh tay lại chặt hơn.
“Đó là điều cảm động nhất cháu từng nghe đấy,” Alex thốt lên giữa những tiếng thút thít.
“Đừng làm cháu thích chú trở lại chứ,” Conner nói, cau mày lại. Ông Bob ngồi thẳng lưng lên, vui mừng vì cuộc họp mặt giữa họ đang đi theo hướng tốt hơn. “Chú không hề cố gắng thay thế cha
các cháu và chú cũng không yêu cầu các cháu phải coi chú như một người cha mới,” ông tiếp tục. “Điều chú đang làm là hỏi xin các cháu cho phép chú được ngỏ lời cầu hôn mẹ các cháu. Chú không muốn làm vậy mà không có sự chúc phúc của hai cháu.”
Bọn trẻ không thể tin nổi chuyện vừa xảy ra. Chúng đang có cảm giác mình chỉ là hành khách đi nhờ con tàu này, thế mà chú ấy lại để chúng lên làm thuyền trưởng?
“Chúng cháu cần một phút để suy nghĩ thông suốt ạ,” Conner nhanh chóng trả lời.
Trước khi Alex kịp nhận ra, cậu em đã kéo cô chị vào bếp. Cả hai đứng đó vài giây, hoàn toàn im lặng, chỉ đưa mắt nhìn nhau. “Em đang nghĩ gì vậy?” Alex hỏi.
“Em đang nghĩ chuyện này thật khó chịu,” Conner đáp. “Còn khó chịu hơn cái bận em đi vào phòng trong lúc chị và mẹ đang trò chuyện về áo lót nữa.”
Alex trợn mắt và hé nhìn ông Bob ở phòng bên để đảm bảo rằng ông không nghe thấy chúng. “Nói thật lòng thì Conner à, chị không nghĩ chúng ta có quyền gì trong chuyện này. Chú Bob thật tốt khi xử sự như chúng ta có quyền quyết định, nhưng em đã nghe những gì chú ấy vừa nói và những gì mẹ nói tối qua rồi đấy. Chị nghĩ không có điều gì có thể ngăn cản họ đến với nhau.”
Conner thở dài và luồn tay vào mái tóc.
“Chị nói đúng,” Conner đáp. “Nhưng sao biết được mẹ có đồng ý hay không? Có khi mẹ vẫn còn do dự thì sao?”
“Do dự về cái gì chứ?” Alex hỏi. “Mẹ yêu chú ấy và chú ấy yêu mẹ. Cái gì sẽ ngăn mẹ lại chứ?”
Conner quay đầu tránh nhìn vào chị, không muốn nói ra những gì cậu đang nghĩ, nhưng cả hai đều đang có cùng một ý nghĩ. “Cha mất rồi, Conner à,” Alex nói. “Cha sẽ không trở lại dù chúng ta mong mỏi đến mức nào đi nữa.”
Thật khó cho Alex khi phải nói thẳng điều này. Thông thường, cô bé để những người lớn trong đời mình làm cái chuyện “thương cho roi cho vọt”, nhưng vì họ cứ dần dần biến mất, cô bé phải đích thân nói ra điều này.
Conner biết chị nói với cậu cũng là đang nói với chính mình. Alex có tài nói ra những điều cậu không muốn nghĩ tới.
“Em nghĩ rằng mẹ đã cho chúng ta quá nhiều trong suốt những năm qua, ít nhất thì chúng ta cũng phải dành cho mẹ lời chúc phúc của mình,” Conner nói.
“Phải, đúng đấy,” Alex đồng tình và gật đầu. “Lại thêm một cái trọng đại nữa.”
“Lại thêm cái gì trọng đại chứ?” Conner hỏi.
“Một khoảnh khắc trọng đại,” Alex đáp và thở dài. “Chúng ta đã có nhiều khoảnh khắc như vậy lắm.”
“Phải đấy,” cậu bé đồng ý. “Em cứ nghĩ là bây giờ chúng ta miễn nhiễm với nó rồi chứ.”
“Miễn nhiễm với cuộc sống á?” Alex kêu lên. “Có ai may mắn đến thế không?”
Conner buột ra tiếng ậm ừ và chống tay lên hông. “Được rồi,” cậu bé quyết định. “Chú ấy có thể cưới mẹ, nhưng em vẫn sẽ gọi chú ấy là bác sĩ Bob.”
Bọn trẻ quay lại phòng bên. Ông Bob lo lắng đứng dậy đối diện với chúng.
“Thế nào rồi?” ông hồi hộp hỏi.
“Bồi thẩm đoàn đã ra phán quyết,” Conner trả lời. “Alex và cháu đã nhất trí rằng chú có thể cầu hôn mẹ chúng cháu.” Ông Bob vui sướng vỗ tay và mắt ngân ngấn nước. “Các cháu à, các cháu đã biến chú trở thành người đàn ông hạnh phúc nhất trên đời!” Ông kêu lên. “Cảm ơn các cháu! Chú hứa sẽ chăm sóc mẹ các cháu suốt đời!”
Buster sủa vang và nhảy tưng tưng, cùng ăn mừng với họ. “Chú sẽ cầu hôn mẹ ở đâu ạ?” Alex hỏi ông.
“Ở đây có được không, vào bữa tối nhé?” ông Bob nói. “Chú sẽ đặt món từ nhà hàng yêu thích nhất của mẹ các cháu và làm cô ấy ngạc nhiên khi đi làm về.”
“Chừng nào ạ?” Conner hỏi tiếp.
“Càng sớm càng tốt,” ông Bob đáp. “Tối thứ năm tới chú rảnh. Hôm đó được không nhỉ?”
“Cháu có tiết học vào buổi chiều nhưng cháu sẽ về lúc sáu giờ,” Alex nói.
“Tuyệt, quyết định vậy nhé!” ông Bob kết lại. “Chú sẽ cầu hôn mẹ các cháu vào sáu giờ tối thứ Năm tuần sau! Chú sẽ nhờ một vài cô y
tá giữ cho mẹ các cháu bận bịu để cô ấy không thể về nhà sớm và làm hỏng bất ngờ của chúng ta. Chuyện này sẽ tuyệt lắm đây!” Bọn trẻ cũng nóng lòng trông đợi tới thứ Năm. Cái chúng mong ngóng không phải sự kiện đó, mà là cơ hội được thấy mẹ hạnh phúc trở lại.
“Chú Bob này,” Conner thắc mắc, “chú có chuyển vào sống chung với chúng cháu không? Thường thì vợ chồng muốn sống cùng với nhau mà – ít ra là trong vài tháng đầu tiên.”
“Câu hỏi hay đấy,” Alex nói. “Chúng ta sẽ sống ở đâu?” “Nhà của chú nhé?” Ông Bob đáp và nhún vai. “Trước khi vợ chú mất, chúng ta đã mua một ngôi nhà rộng rãi không xa đây lắm, với hy vọng sẽ tạo dựng nên một gia đình lớn. Thật tốt khi cuối cùng cũng lấp đầy được những căn phòng đó.”
Bọn trẻ nhìn quanh căn nhà thuê nhỏ bé của chúng. Ý nghĩ phải rời bỏ nó làm bọn trẻ thấy buồn; bất ngờ thay, nó đã trở thành một tổ ấm thân thương.
“Thật lạ khi phải chuyển nhà lần nữa,” Alex nói. “Nhưng cũng thật dễ dàng vì lần trước chúng ta vẫn chưa dỡ đồ ra hết.” “Chú có một cái hồ bơi đấy,” ông Bob tiết lộ, cố gắng làm bọn trẻ vui lên.
Mắt Conner mở to. “Ôi chao, ôi chao,” cậu bé kêu lên. “Chú Bob, chú có thể tiết kiệm được cả một buổi chiều nếu bắt đầu câu chuyện bằng chữ ‘hồ bơi’ đấy.”
Alex trợn mắt. Ông Bob buột ra tiếng cười khúc khích khe khẽ.
“Giờ thì tốt hơn là mẹ phải đồng ý đấy, nếu không thì cháu sẽ thất vọng lắm,” Conner nói.
Thật khó để bọn trẻ tập trung vào bất cứ điều gì trong tuần tiếp theo. Cái ngày thứ Năm sừng sững trước mắt như một trang sách đánh dấu tương lai. Nó càng tới gần, bọn trẻ càng thấy bồn chồn hơn.
Alex và Conner không biết vì sao chúng lại căng thẳng đến thế; dẫu sao thì chúng có phải hỏi cưới ai đâu. Nhưng theo một cách kỳ lạ, bác sĩ Bob cũng kết hôn với cả chúng nữa. Và mặc dù rất lo âu, bọn trẻ cũng bắt đầu cảm thấy háo hức với ý nghĩ chú Bob sẽ trở thành một thành viên của gia đình chúng.
Conner hết sức mong ngóng một người đàn ông khác xuất hiện trong gia đình. Dù rất yêu mẹ và chị, cậu bé vẫn nhớ cảm giác có ai đó hiểu được khiếu hài hước của cậu.
Trong tuần đó, cậu bé đã viết một truyện ngắn ở lớp Ngữ văn, kể về một gia đình quỷ lùn mà người mẹ đính hôn với một gã yêu tinh. Đó không phải là miêu tả hay ho nhất về bất cứ ai trong gia đình cậu, nhưng nó giúp cậu khuây khỏa đôi chút. Cậu vẽ những hình phác họa bé xíu ở bên lề trang giấy; hai quỷ lùn con trông rất giống cậu bé và chị cậu. Con quỷ lùn dựa trên hình tượng Alex còn có một chiếc cài tóc phía trước sừng nữa.
Một chiều tan trường nọ, Alex bắt gặp Conner lúc cậu đang viết truyện. Cô bé chưa từng thấy cậu em say sưa với việc gì đến vậy. “Cái gì đây?” Alex hỏi.
“Ồ, không có gì,” Conner đáp, có chút ngượng ngùng. Cậu vẫn chưa kể cho chị nghe về cuộc gặp gỡ giữa cậu và cô Peters. “Chỉ là một bài viết sáng tạo cho lớp Ngữ văn thôi.”
“Hay đấy – chờ đã, cái con đó là chị đấy sao?” Alex kêu lên và chỉ vào hình vẽ của cậu bé.
“Không đâu,” Conner chối. “Điều gì làm chị nghĩ thế chứ?” “Bởi vì bên dưới nó có chữ “là Alex” kìa!” cô bé trả lời, cảm thấy khó chịu và bị xúc phạm. “Thật bất lịch sự quá đấy, Conner. Em mấy tuổi rồi?”
Conner nhìn lên chị với vẻ tội lỗi. “Có một việc em quên nói với chị,” cậu bé kể. “Đại khái là em đã viết về cả hai chúng ta rất nhiều ở lớp Ngữ văn.”
“Ý em là sao?” Alex ngạc nhiên.
“Về những chuyến phiêu lưu của chúng ta trong thế giới cổ tích,” cậu bé giải thích. “Chúng tạo thành những câu chuyện tuyệt vời – vậy là hôm kia cô Peters đã gọi em đến văn phòng cô ấy. Cô rất thích chúng và muốn em cân nhắc đến việc trở thành một nhà văn. Cô ấy nói có lẽ em có đủ phẩm chất cần thiết, dù cho đó là cái gì đi nữa.” Cậu bé ngừng lại. “Chị nghĩ gì hay có lo ngại gì không?”
Alex chớp mắt hai lần. “Chị nghĩ đó là một ý tưởng tuyệt vời!” cô bé đáp, và Conner thở phào nhẹ nhõm. “Sao em không nói chị biết sớm hơn chứ?”
“Em đã lo là chị sẽ không muốn em phổ biến chuyện của chúng ta khắp nơi,” Conner đáp “Chị cũng như là người đồng sở hữu những trải nghiệm của chúng ta mà.”
“Ngược lại thì có,” cô bé nói. “Chị nghĩ chúng nên được kể ra. Chúng ta đã thấy rất nhiều thứ và gặp gỡ rất nhiều người mà nếu chỉ giữ chúng cho riêng mình thì thật uổng phí biết bao. Cha sẽ rất tự hào về em.”
Conner mỉm cười một mình. Cậu bé chưa từng nghĩ đến điều đó. “Thật sao?” cậu hỏi. “Chị nghĩ thế à?”
“Hẳn rồi,” Alex đáp. “Cha sẽ rất vui lòng khi cái gien kể chuyện được truyền cho một trong hai chúng ta. Chị lúc nào cũng cố kể lại truyện này truyện nọ, nhưng em giỏi việc đó hơn chị. Em có khiếu hài hước; mọi người thích nghe em kể.”
Conner nhún vai. “A, chị chỉ trêu em,” cậu bé nói. “Nhưng em sẽ không cãi lại đâu.” Cậu bé lôi xấp truyện cậu viết ra khoe với chị. “Truyện này kể về phiên tòa xử Trix và truyện này kể về việc Trollbella đã cho chúng ta tự do đổi lấy một nụ hôn – ước gì em có thể quên được nó. Đây là truyện đầu tiên em viết, về Cái Cây Cong, nhưng em cứ sợ rằng người ta sẽ phát hiện nó có thật nên em đã đổi thành Chú Hươu Cổ Cong. Nó không có ý nghĩa bằng truyện gốc, nhưng thôi, em vẫn đang học mà.”
“Truyện này tuyệt lắm, Conner,” Alex tán thưởng. “Tuyệt thật đấy.” Conner cười toe toét đến tận mang tai. Cậu tin lời chị hơn lời cô Peters nhiều. Sự tán thành của chị là sự công nhận cần thiết để cậu tin vào chính mình.
Alex xem qua truyện của em. Cô bé mỉm cười rồi cười phá lên khi lướt qua chúng, nhớ lại những sự kiện mà truyện dựa vào.
“Ôi chao,” Alex chợt thốt, ngẩng mặt lên khỏi trang giấy, một ý nghĩ mới lóe lên trong mắt em. “Chú Bob. Chúng ta sẽ kể với chú ấy chứ? Chúng ta có kể cho chú ấy biết bà và cha thực sự là ai không?”
Conner không trả lời được. Ý nghĩ này chưa từng xuất hiện trong tâm trí bọn trẻ cho đến lúc này. Làm sao chúng chia sẻ được bí mật lớn nhất của gia đình với chú ấy đây? “Chúng ta có nên kể cho chú ấy không?” Conner hỏi.
“Chắc là nên, phòng khi bà xuất hiện trên ngưỡng cửa nhà chúng ta với một nàng tiên hay một chú yêu tiên,” Alex đáp. Conner dõi mắt xa xăm. “Trời ơi, chúng ta là ai chứ?” cậu bé kêu lên. “Có gia đình nào khác gặp vấn đề giống thế này không? Phần đông mấy bộ xương trong tủ* đâu có cánh.”
“Chị nghĩ thế nào rồi chú ấy cũng có nhiều điều muốn hỏi.” Alex nói. Em để vuột ra một tiếng thở dài. “Nhưng thật ra thì nó cũng chẳng còn quan trọng mấy. Kể với chú ấy chúng ta có dây mơ rễ má với một chiều không gian khác có ý nghĩa gì đâu khi chúng ta không còn liên hệ với nó nữa.”
“Chắc là chúng ta phải tùy cơ ứng biến rồi,” Conner nói. “Nó có thể là một cái cớ hay để chúng ta viện đến khi đã lớn hơn. Chúng ta có thể nói với chú Bob rằng chúng ta sẽ đi vào thế giới cổ tích rồi chuồn đi dự tiệc chẳng hạn.”
Alex nghiêng đầu nhìn cậu em với vẻ thắc mắc. “Vì sao chúng ta lại chọn một bữa tiệc thay vì thế giới cổ tích chứ?”
Conner lắc đầu. Cậu bé ước gì chị cậu suy nghĩ giống một cô bé tuổi teen bình thường dù chỉ một lần thôi. “Em cứ quên mất rằng chị chỉ là một cô bé lên tám mắc kẹt trong cái hình hài mười ba tuổi,” cậu bé nói. “Thôi chị đừng bận tâm.”
Một tuần rồi cũng trôi qua và bọn trẻ thức giấc vào một buổi sáng thứ Năm đẹp trời. Chúng trao cho mẹ những cái ôm lâu thật lâu trước khi rời khỏi nhà, khiến bà phải nhướng mày nghi ngờ dõi theo khi bọn trẻ rảo bước đến trường. Alex và Conner cảm thấy ngày trôi qua chậm chạp vô cùng. Cứ mỗi năm phút là chúng lại nhìn đồng hồ chỉ để nhận lấy nỗi thất vọng khi nó không thay đổi mấy. Vừa tan trường, Conner đã chạy vội về gặp ông Bob ở nhà để giúp chuẩn bị cho đêm đó. Cậu bé chạy tắt qua sân cỏ của nhà hàng xóm, bất cẩn đến nỗi suýt chút nữa đã vấp phải bức tượng thần lùn trên đó.
Alex sốt ruột đứng ngồi không yên nên chẳng thể tận hưởng trọn vẹn lớp học danh dự hay mơ màng trên chuyến tàu lửa về nhà. Vì mẹ, cô bé chỉ muốn đêm nay thật hoàn hảo. Và với cái cảnh mà Alex trông thấy khi về nhà thì mọi thứ cũng gần như hoàn hảo rồi.
Bàn bếp đã được phủ một tấm khăn trải bằng lụa và giữa bàn đặt vài ngọn nến. Trên bàn còn có chai sâmpanh và một chai rượu táo, chúng đang chờ được khui ra khai tiệc. Cả ngôi nhà thơm phức một mùi hương ngon lành, vì ông Bob đã đặt món ăn từ nhà hàng Ý mà bà Charlotte thích nhất.
Bác sĩ Bob diện một bộ com-lê thanh lịch, thắt cà vạt và giữ thật chặt chiếc hộp nhỏ trong tay, sợ phải buông ra. Cả Conner cũng đã đóng bộ nghiêm chỉnh, diện chiếc áo sơ mi cài khuy dưới đẹp nhất của cậu.
Alex cố gắng cài một chiếc nơ lên vòng cổ của Buster, nhưng nó không để cô bé làm thế. Chú chó đã hành xử lạ lùng từ mấy ngày nay. Chú ta cứ ngồi lì ở cửa trước và thỉnh thoảng lại gầm gừ với ai đó. Bọn trẻ đoán rằng có một con mèo lạ vừa xuất hiện trong khu phố, hoặc sự bồn chồn của chúng đã lây sang Buster.
Nhưng trừ chuyện này, mọi thứ có vẻ đều diễn ra đúng theo kế hoạch.
Alex chạy lên phòng ngủ thay một chiếc váy và cài lên tóc chiếc cài đẹp nhất. Cô bé xuống tầng dưới vào sáu giờ rưỡi và đến ngồi vào bàn cùng ông Bob và Conner.
“Mẹ sẽ về đây sớm thôi!” Conner nói. “Chú hãy cầu hôn nhanh nhanh nhé, chú Bob, cháu đói muốn chết rồi!”
“Chú sẽ cố hết sức,” ông Bob đáp. Ông cứ liên tục nhìn xuống chiếc nhẫn. Dù bọn trẻ rất hồi hộp, chúng biết thế vẫn chẳng thấm vào đâu so với những gì ông đang cảm thấy.
Bọn trẻ không thể chờ được tới lúc mẹ bước qua ngưỡng cửa và thấy mọi người đang chờ sẵn. Alex hy vọng mẹ không khóc quá nhiều, vì cô bé có thể khóc theo mất. Còn Conner hy vọng Alex không òa lên khóc vì như vậy có lẽ cậu sẽ òa lên theo và ở đây không có bụi để mà đổ thừa.
Thật không may, bà Charlotte về trễ nên ba người bọn họ phải ngồi đợi. Họ đợi… đợi… và đợi mãi. Hơn một giờ đã trôi qua sau thời điểm mà lẽ ra mẹ bọn trẻ phải về nhà.
“Chúng ta có nên gọi mẹ không?” Conner hỏi. “Có lẽ chúng ta nên gọi một cú điện thoại* cho mẹ để biết mẹ đang ở đâu? Nhé?
"""