"
Những Đại Lộ Vành Đai - Patrick Modiano & Trương Xuân Huy (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Kinh Điển]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Những Đại Lộ Vành Đai - Patrick Modiano & Trương Xuân Huy (dịch) full mobi pdf epub azw3 [Kinh Điển]
Ebooks
Nhóm Zalo
Những đại lộ vành đai —★—
Tác giả: Patrick Modiano Người dịch: Trương Xuân Huy Phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản Hà Nội 2020ebook©vctvegroup
Người kể chuyện bắt đầu hành trình tìm lại người cha. Cuộc tìm kiếm này đưa anh ta ngược dòng năm tháng và sống lại trong hư ảo một thời kỳ có thể là thời kỳ quân Đức chiếm đóng. Đây, anh ta đang có mặt trong một ngôi làng ở Seine-et-Marne, ven rừng Fontainebleau, giữa những con người lạ lùng về đó nghỉ cuối tuần. Trong số đó, có một tay “bá tước” tên Marcheret, cựu lính lê dương, đang bị căn bệnh sốt rét hành hạ, Jean Murraille, chủ nhiệm báo và cô cháu gái của ông ta, một nữ diễn viên trẻ tóc vàng, luôn quấn chặt trong một cái áo choàng lông… Sau hết, cha của người kể chuyện, tự xưng danh là “nam tước” Deyckecaire.
Người kể chuyện xâm nhập vào môi trường ám muội ấy với hy vọng với được tới cha mình. Đúng ra thì ông là ai? Tay buôn lậu chợ đen? Người Do Thái bị truy đuổi? Tại sao ông lại có mặt giữa đám người đó? Người kể chuyện sẽ theo đuổi đến cùng người cha lẩn khuất như bóng ma ấy.
Với tấm lòng trìu mến. Như thể anh ta muốn hòa lẫn vào người cha và biến thành của mình cái quá khứ mù mờ kia, cái quá khứ mà ở đó anh ta thấy nguồn cội của mình.
Ghi chú: Các nhân vật và tình huống trong cuốn sách này không có liên quan gì đến thực tế.
Tặng Rudy
Tặng Dominique
Ước gì tôi có những tiền đề vào một thời điểm nào đó trong lịch sử nước Pháp!
Nhưng không, không có gì cả.
RIMBAUD
Người to béo nhất trong cả ba là bố tôi, tuy rằng vào thời kỳ ấy, ông vốn đã mảnh khảnh. Murraille cúi xuống ông như để thì thào điều gì đó. Marcheret đứng phía sau, phác một nụ cười, ngực hơi ưỡn, hai tay giữ ve áo vest. Khó có thể xác định được màu áo cũng như màu tóc của họ. Có vẻ như Marcheret mặc một bộ đồ bằng vải kẻ ô Prince of Wales, thửa rộng và tóc hắn màu vàng hoe. Hãy để ý đến ánh mắt sắc sảo của Murraille, và ánh mắt lo âu của bố tôi. Murraille trông cao lớn và mảnh mai nhưng phần dưới khuôn mặt hắn phị ra. Mọi thứ ở bố tôi đều biểu hiện sự suy sụp. Trừ đôi mắt ông, gần như lồi ra.
Gỗ ốp tường và lò sưởi bằng gạch: đó là quầy bar của quán Le Clos Foucré. Tay Murraille cầm một chiếc cốc. Bố tôi cũng thế. Đừng bỏ sót điếu thuốc treo trên môi Murraille. Bố tôi kẹp điếu thuốc của ông giữa ngón đeo nhẫn và ngón út. Vẻ kiểu cách chán chường. Cuối căn phòng, nhìn nghiêng nghiêng, một vóc dáng phụ nữ: Maud Gallas, bà chủ của Le Clos-Foucré. Những chiếc ghế bành nơi Murraille và bố tôi ngồi đều bằng da, chắc hẳn là thế. Có một vệt phản chiếu mờ mờ trên lưng tựa, ngay dưới chỗ bàn tay trái của Murraille tì xuống. Hắn quàng tay qua gáy bố tôi, như một cử chỉ bảo bọc. Cổ tay hắn đeo một chiếc đồng hồ mặt vuông, trông đầy ngạo mạn. Marcheret, do vị trí đứng, cộng thêm với khổ người lực sĩ, che khuất hết nửa người Maud Gallas và kệ rượu khai vị. Trên tường, sau quầy bar, dễ dàng nhận thấy một tập lịch kiểu xé từng ngày. Trông rõ mồn một con số 14. Không thể đọc được tháng và năm. Nhưng, khi quan sát kỹ ba người đàn ông ấy và vóc dáng mờ mờ của Maud Gallas, người ta sẽ thấy rằng cảnh tượng này đã diễn ra từ rất lâu rồi trong quá khứ.
Một tấm ảnh cũ, tình cờ tìm được dưới đáy một ngăn kéo, và phải khẽ khàng phủi hết bụi. Chiều tối buông xuống. Như thường lệ, những bóng ma bước vào quầy bar của Le Clos-Foucré. Marcheret ngồi lên một chiếc ghế đẩu. Hai người kia chọn những chiếc ghế bành đặt gần bên lò sưởi. Họ gọi những ly cocktail mà Maud Gallas pha phách rườm rà đến muốn ói, với sự trợ giúp của Marcheret luôn miệng bông đùa một cách ỡm ờ. Hắn gọi mụ ta là “cô Maud béo của tôi” hoặc “cô em Bắc Kỳ của tôi”. Mụ ta chẳng hề tỏ ra bực tức về chuyện đó và khi Marcheret luồn tay vào áo ngực mân mê cái vú - mỗi lần làm thế hắn đều rên lên như ngựa hí -, mụ ta vẫn
thản nhiên như không, miệng mỉm cười, không biết đấy là lòng khinh miệt hay sự đồng lõa. Đó là một phụ nữ chừng bốn mươi tuổi, tóc vàng hoe, nặng nề, giọng trầm. Ánh sáng từ đôi mắt mụ ta - xanh đậm hay tím hoa cà? - làm người ta phải ngạc nhiên. Trước khi nắm quyền điều hành lữ quán này, Maud Gallas làm ngành nghề gì? Có lẽ cũng ngành nghề ấy, nhưng ở Paris. Mụ ta và Marcheret thường bóng gió nói đến Beaulieu, hộp đêm ở khu Ternes, đóng cửa cách đây hai mươi năm. Họ vẫn thường thì thào với nhau về chuyện ấy. Gái mời rượu? Cựu nghệ sĩ tạp kỹ? Marcheret, hẳn vậy, quen biết mụ ta đã lâu. Mụ ta gọi hắn là Guy. Trong lúc hai người vừa pha chế rượu khai vị vừa cười khùng khục, Grève, trưởng khâu phục vụ, bước vào và hỏi Marcheret: “Lát nữa đây, ông bá tước muốn ăn món gì?” Một cách bất di bất dịch, Marcheret đáp: “Ông bá tước sẽ ăn cứt” và hất cái cằm ra trước, nheo mắt, nhăn mặt lại, vẻ khó chịu và hợm hĩnh. Những lúc như vậy, bố tôi luôn khẽ bật cười để tỏ cho Marcheret thấy là ông rất thích câu đối đáp ấy và xem Marcheret, chính hắn, như kẻ hóm nhất trên đời. Khoái chí trước ấn tượng gây được với bố tôi, hắn hỏi: “Tôi nói thế không đúng sao, Chalva?” Và bố tôi vội đáp: “Ồ đúng chứ, Guy!” Murraille dửng dưng với kiểu hài hước ấy. Trong một tối cao hứng hơn thường lệ, Marcheret vén váy Maud Gallas lên và tuyên bố: “Đấy mới là đùi chứ!”, Murraille cao giọng nói chuyện theo kiểu thượng lưu: “Bà bạn thân mến, xin hãy thứ lỗi cho hắn, hắn tưởng như mình vẫn đang ở binh đoàn lê dương.” (Câu nhận xét ấy giúp người ta hiểu thêm về con người Marcheret.) Murraille, về phần mình, lại làm bộ kiểu cách quý phái. Hắn diễn đạt bằng những từ ngữ chọn lọc, ngân nga âm giọng sao cho êm mượt như nhung và ra vẻ hùng biện như ở nghị trường. Hắn phụ họa lời nói của mình bằng những động tác cường điệu, không bỏ qua bất cứ cử chỉ hất cằm hay nhíu mày nào, và thường cử động ngón tay như xòe quạt. Hắn ăn mặc kiểu cách: vải Anh, áo lót và cà vạt phối màu tinh tế. Vậy tại sao lại có mùi nước hoa Chypre đậm đặc đến vậy bao quanh hắn? Và cả cái nhẫn lớn bằng bạch kim ấy? Ta sẽ quan sát hắn lần nữa: vầng trán rộng và đôi mắt sáng là biểu hiện tích cực của tính thẳng thắn. Nhưng nhìn xuống một chút, điếu thuốc buông thõng làm đôi môi như mềm nhão hơn. Cấu trúc cương nghị của khuôn mặt chảy ra ở quai hàm. Cái cằm lẹm vào. Hãy lắng nghe: giọng nói của hắn đôi lúc trở nên khàn khàn và vỡ ra. Rốt cuộc, ta sẽ lo lắng tự hỏi phải chăng hắn cũng cùng một cốt cách thô lỗ như Marcheret.
Ấn tượng ấy càng rõ ràng hơn khi ta quan sát kỹ cả hai lúc cuối bữa ăn. Họ ngồi cạnh nhau, đối diện bố tôi, người mà ta chỉ nhìn thấy cái gáy. Marcheret nói lớn, giọng oang oang. Máu dồn lên má hắn. Murraille cũng vậy, hắn lớn tiếng và tiếng cười the thé của hắn át hẳn tiếng cười của Marcheret vốn trầm đục hơn. Họ nháy mắt với nhau và vỗ mạnh vào vai nhau. Có một sự đồng lõa giữa họ mà người ta không nắm bắt được nguyên do. Có lẽ cần phải ngồi chung bàn với họ và không bỏ sót bất cứ câu từ nào họ nói. Ở xa, bạn chỉ nghe được vài mẩu câu rời rạc, thiếu trước hụt sau và lộn xộn. Lúc này, họ đang to nhỏ thủ thỉ và tiếng họ thì thào loãng ra trong gian phòng ăn rộng lớn và vắng vẻ. Từ bộ đèn treo bằng đồng, một thứ ánh sáng gắt tỏa xuống những mặt bàn, các tấm gỗ ốp tường, cái tủ kiểu Normandie, đống đầu hươu và đầu hoẵng gắn trên tường. Ánh sáng ấy đè lên họ như một khối bông gòn và bóp nghẹt tiếng nói của họ. Không một vệt tối. Trừ tấm lưng của bố tôi. Không hiểu được vì sao ánh sáng chừa phần đó ra. Nhưng gáy ông lại nổi bật lên, rõ mồn một dưới ánh đèn treo sáng chói, ta thậm chí còn trông thấy rõ một vết sẹo bé màu hồng ở giữa gáy. Nó, cái gáy ấy, cúi gập xuống tới nỗi trông như sẵn sàng đón nhận một lưỡi dao máy chém. Bố tôi uống từng lời hai người kia nói ra. Mặt ông chồm đến cách mặt họ chừng vài centimét. Thiếu chút nữa ông cụng trán mình vào trán Murraille hay Marcheret. Khi bố tôi áp khuôn mặt ông hơi quá gần khuôn mặt hắn, Marcheret lấy ngón tay cái và ngón trỏ kẹp má bố tôi và chậm rãi xoắn lại. Bố tôi lập tức né ra xa nhưng Marcheret không buông tay. Hắn giữ bố tôi như thế, trong vài phút, và càng lúc, các ngón tay hắn càng siết chặt hơn.
Chắc chắn là bố tôi đau lắm. Một bợt đỏ hiện ra trên má ông. Ông thoáng đặt tay lên đó. Marcheret nói với ông: “Như thế để ông biết cái tội quá tò mò, Chalva ạ…” Còn bố tôi thì: “Ồ vâng, Guy ạ… Thế là đúng đấy, Guy…” Ông mỉm cười.
Grève mang rượu mùi ra. Dáng đi và những cử chỉ trịnh trọng của ông ta tương phản với vẻ bất cần của ba gã đàn ông và mụ đàn bà. Murraille, cằm tì lên lòng bàn tay, mắt lờ đờ, tạo cảm giác hoàn toàn thả lỏng. Marcheret nới lỏng nút cà vạt và ngả toàn bộ sức nặng lên lưng ghế, khiến chiếc ghế chỉ còn thăng bằng trên hai chân. Lúc nào người ta cũng sợ nó đổ kềnh ra. Về phần bố tôi, ông cố nghiêng mình về phía hai gã kia đến mức ngực ông hầu như chạm vào mặt bàn và có lẽ chỉ cần một cái búng tay
là ông sụp xuống mớ dao nĩa. Những câu thưa thớt còn có thể nghe được là lời của Marcheret, giọng nhão nhoẹt. Sau một lát, chỉ còn nghe tiếng bụng hắn sôi ùng ục. Do bữa tối quá thịnh soạn (họ luôn gọi nhiều món ăn kèm xốt và đủ thứ thịt rừng) hay do uống quá nhiều (Marcheret đòi cho được loại vang Bourgogne ngon thời trước Thế chiến) mà họ lại lâm vào tình trạng ngây dại như thế? Sau lưng họ, Grève đứng thẳng. Ông ta buông câu hỏi nhằm vào Marcheret: “Ông bá tước có muốn dùng thêm rượu khác không?”, nhấn mạnh từng âm tiết trong cụm từ “Ông bá tước”. Và sau đó còn gằn mạnh hơn: “Vâng, thưa ông bá-tước.” Phải chăng ông ta muốn cảnh cáo thái độ của Marcheret và báo cho hắn biết rằng một quý ông không nên buông thả như thế?
Bên trên bóng dáng nghiêm nghị của Grève là một cái đầu hoẵng, trồi ra khỏi mặt tường như một cái đầu tượng gắn mũi thuyền và con vật nhìn Marcheret, Murraille và bố tôi qua đôi mắt bi ve dửng dưng của nó. Bóng đổ của đôi sừng vẽ lên trần nhà một họa tiết uốn lượn lớn. Ánh sáng yếu dần đi. Điện yếu chăng? Họ ngồi lả đi và lặng ngắt như thế trong cái bóng tối mờ mờ đang dần lấn lướt họ. Người ta lại có cảm tưởng như đang nhìn một tấm ảnh cũ, cho đến khi Marcheret đứng dậy, nhưng theo cách đột ngột đến mức mấy lần va vào bàn. Chính khi ấy, mọi thứ khởi động trở lại. Đèn chùm và những đèn ốp tường lại sáng rực. Không còn bóng tối. Không còn nét nào mờ. Vật bé nhỏ nhất cũng hiện rõ mồn một, với đường nét chính xác đến khó hiểu. Những cử chỉ uể oải trở nên gọn ghẽ và dứt khoát. Chính bố tôi cũng đứng bật dậy như vừa có lệnh hô “nghiêm”.
Tất nhiên là họ đi về phía quầy bar. Còn đi đâu được nữa? Murraille thân mật đặt một tay lên vai bố tôi, và, vẫn ngậm điếu thuốc trên môi, hắn nói gì đó với bố tôi để thuyết phục ông về một điều mà họ đã từng tranh cãi. Họ dừng lại một lát, cách quầy bar chừng vài mét. Marcheret đã yên vị ở đó. Murraille nghiêng người về phía bố tôi, lấy giọng tâm tình của kẻ muốn nói lời đảm bảo khôn cưỡng. Bố tôi gật đầu. Murraille vỗ nhẹ lên vai ông như thể cuối cùng họ cũng đồng ý với nhau.
Cả ba người ngồi trước quầy bar. Maud Gallas đã hạ âm lượng máy truyền thanh, nhưng mỗi khi gặp một bài hát khoái chí, mụ ta lại xoay chiếc núm và vặn lớn lên. Còn Murraille thì chú ý đặc biệt đến bản tin lúc hai mươi ba giờ mà xướng ngôn viên dằn từng tiếng bằng một giọng sắc nét.
Theo sau sẽ là nhạc hiệu báo kết thúc chương trình. Khúc nhạc ngắn, buồn và âm ỉ.
Một khoảng lặng dài trước khi họ cởi lòng về những kỷ niệm và những điều thầm kín. Marcheret nói rằng ở tuổi ba mươi sáu này, hắn đã là một thằng đàn ông bỏ đi và than thở về bệnh sốt rét của mình. Maud Gallas nhắc lại buổi tối mà hắn vận quân phục bước vào quán Beaulieu, lúc ban nhạc người di gan, để chào đón hắn, rin rít chơi bản Ngợi ca binh đoàn lê dương. Quả là một trong những đêm đẹp thời tiền chiến của chúng ta, mụ vừa dụi một điếu thuốc vừa mỉa mai. Marcheret nhướng mắt nhìn mụ ta tò mò và nói rằng hắn ấy hả, hắn không đếm xỉa đến chiến tranh. Kể cả mọi chuyện có trở nên tồi tệ hơn thì cũng chẳng liên quan gì đến hắn. Và hắn, bá tước Guy, François, Arnaud de Marcheret ở vùng Eu, không cần ai dạy dỗ. Điều duy nhất hắn quan tâm là “ly sâm banh đang sủi tăm” bị hắn hắt một vệt giận dữ lên áo ngực của Maud Gallas. Murraille can: “Thôi nào, thôi nào…” Không, làm sao mà thế được, bạn của hắn không phải là một người bỏ đi. Nhưng trước hết, thế nào là “bỏ đi”? Hử? Chẳng thế nào cả! Hắn khẳng định rằng người bạn rất thân của hắn vẫn còn những năm tháng tuyệt đẹp phía trước. Vả lại, người bạn ấy có thể trông cậy vào tình cảm và sự hỗ trợ của “Jean Murraille”. Hơn nữa, liệu hắn, “Jean Murraille”, có đắn đo dù chỉ một giây hay không khi gả đứa cháu gái cho bá tước Guy de Marcheret? Hử? Liệu hắn có gả đứa cháu gái cho một kẻ bỏ đi không? Hử? Hắn quay sang nhìn những người kia như thể thách họ dám nói điều ngược lại. Hắn còn có thể đưa chứng cứ nào tốt hơn nữa về sự tin tưởng và tình bạn? Bỏ đi? “Bỏ đi” nghĩa là gì? “Bỏ đi”, tức là… Nhưng hắn cứng họng. Hắn không tìm được định nghĩa và nhún vai. Marcheret chăm chú quan sát hắn. Nếu Guy không cảm thấy phiền - Murraille lớn tiếng, như vừa nảy ra một ý tưởng - thì người làm chứng sẽ là Chalva Deyckecaire. Và Murraille chỉ vào bố tôi, làm mặt ông lập tức rạng lên vẻ biết ơn sâu sắc. Hôn lễ sẽ cử hành trong vòng mười lăm ngày nữa ở Le Clos-Foucré. Bạn bè sẽ từ Paris kéo về. Một buổi tiệc gia đình nho nhỏ kết nghĩa keo sơn giữa bọn họ. Murraille-Marcheret-Deyckecaire! Ba chàng Ngự lâm Pháo thủ! Vả lại, như vậy cũng tốt! Marcheret không có lý do gì để ưu tư. “Thời buổi khó khăn”, nhưng “tiền chảy như nước”. Hiện giờ mọi kiểu kết hợp “càng lúc càng hấp dẫn” đều đang diễn ra. Guy sẽ nhận phần lợi tức của mình. “Không thiếu một xu.” Keng! Tay bá tước nâng cốc chúc mừng sức khỏe
Murraille (thật tình, điều đáng ngạc nhiên ở đây là hắn và Murraille chỉ hơn kém nhau không quá mười tuổi…) rồi vừa nâng cốc vừa tuyên bố rằng hắn rất hạnh phúc và hãnh diện được cưới Annie Murraille bởi cô có “cặp mông vàng rực và nóng bỏng nhất Paris”.
Maud Gallas tỉnh giấc và hỏi hắn sẽ tặng người vợ tương lai món gì để làm quà cưới. Một áo lông chồn ánh bạc, hai vòng đeo tay bằng vàng khối có những mắt xích lớn mà hắn đã trả bằng “sáu triệu tiền mặt”.
Hắn vừa mang từ Paris về một chiếc rương nhỏ đầy ắp tiền nước ngoài. Và thuốc kí ninh. Cái bệnh sốt rét khốn nạn.
“Đúng, có thể nói rằng đó là một thứ khốn nạn”, Maud nói. Hắn đã quen Annie Murraille ở đâu? Sao cơ? Annie Murraille? A! Nơi hắn đã quen cô ấy! Ở tiệm Langer, vậy đó, một tiệm ăn trên đại lộ Champs Élysées. Nói tóm lại, chẳng phải vậy sao, hắn đã quen Murraille qua cô cháu gái! (Hắn cười phá lên.) Đấy quả thực là cú sét ái tình và họ đã trải qua phần còn lại của buổi tối kề cận bên nhau, ở tiệm Poisson d’Or. Hắn kể ra rất nhiều chi tiết, lúc lộn xộn, lúc tìm lại được mạch truyện. Thoạt tiên, Murraille chăm chú theo dõi một cách thích thú, nhưng bây giờ hắn đang cùng bố tôi tiếp tục câu chuyện mà họ đã bắt đầu sau bữa ăn. Maud kiên nhẫn nghe Marcheret, những mẩu chuyện nát vụn của kẻ say rượu. Bố tôi gật gù. Những cái bọng dưới mi mắt phồng lên, làm ông trông có vẻ rất mệt mỏi. Vai trò chính xác của ông bên cạnh Murraille và Marcheret là gì?
Đêm đã khuya. Maud Gallas đi tắt ngọn đèn lớn gần lò sưởi. Dấu hiệu hẳn để mọi người hiểu rằng đã đến lúc ra về. Gian phòng chỉ còn được chiếu sáng bởi hai ngọn đèn ốp tường có chao màu đỏ gắn trên bức tường cuối phòng và bố tôi, Murraille cùng Marcheret lại chìm vào bóng tối lờ mờ.
Sau quầy bar, vẫn còn một khoảng sáng nhỏ với Maud Gallas đứng im lìm chính giữa. Ta nghe thấy tiếng thì thầm từ Murraille. Rồi giọng Marcheret, càng lúc càng ngập ngừng. Hắn thả cho người rơi một đống từ trên chiếc ghế cao của quầy bar, vừa kịp lấy thăng bằng và tựa vào vai Murraille để khỏi ngã. Cả hai lảo đảo đi về phía cửa. Maud Gallas tiễn họ đến tận ngưỡng cửa. Không khí bên ngoài làm Marcheret tỉnh táo trở lại. Hắn nói với Maud Gallas rằng nếu mụ ta cảm thấy cô đơn, cô em Maud
béo mập của tôi, thì mụ ta chỉ việc điện thoại cho hắn, và nếu cô cháu gái của Murraille có cặp mông vàng rực nhất Paris, thì mụ ta, Maud Gallas, lại có cặp đùi “bí ẩn nhất vùng Seine-et-Marne”. Hắn vòng tay quanh eo mụ và bắt đầu vuốt ve, nhưng Murraille đã can thiệp và kêu “xùy xùy”. Mụ quay vào và đóng cửa.
Ba người đàn ông đã ra đến con phố chính của làng. Hai bên phố, những ngôi nhà nặng nề chìm trong giấc ngủ. Murraille và bố tôi đi trước. Người còn lại cất giọng khàn khàn hát bài Chiếc xà lan đi qua. Vài cánh cửa sổ mở ra, một người thò đầu cúi xuống. Thế là Marcheret hùng hổ tấn công kẻ tò mò, trong lúc Murraille cố trấn an “thằng cháu rể” tương lai.
“Biệt thự Mektoub” là ngôi nhà cuối cùng bên trái, ngay ở bìa rừng. Nhìn bên ngoài, nó nằm lưng chừng giữa kiểu nhà bungalow và lâu đài săn bắn. Chạy dọc mặt tiền là một hàng hiên. Chính Marcheret đặt tên cho ngôi nhà là “Biệt thự Mektoub” để nhớ đến binh đoàn lê dương. Cổng được quét vôi. Gắn chặt trên một trong hai cánh cổng là một tấm bảng bằng đồng với dòng “Biệt thự Mektoub” khắc theo kiểu chữ gothic. Chung quanh khuôn viên, Marcheret cho dựng một hàng giậu bằng gỗ tếch.
Đến trước cổng, họ chia tay nhau. Murraille vỗ vào lưng bố tôi và nói: “Hẹn mai nhé, Deyckecaire.” Marcheret cũng vừa nói với theo: “Hẹn mai nhé, Chalva!” vừa hích vai mở hé cánh cổng. Họ bước vào lối đi trong vườn. Còn bố tôi đứng im, bất động. Ông vẫn thường kính cẩn dùng tay vuốt ve tấm bảng và lấy ngón trỏ lần theo mép các con chữ gothic, sỏi kêu lạo xạo dưới bước chân hai gã đàn ông kia. Bóng Marcheret thoáng hiện giữa hàng hiên. Hắn gào to: “Mơ đẹp nhé, Chalva!” và cười phá lên. Có tiếng một cánh cửa lửng sát đất đóng lại. Im lặng.
Bố tôi đi ngược lên con phố chính và rẽ sang trái. Một con đường quê, thoai thoải dốc. “Đường Bornage”. Suốt dọc con đường là những cơ ngơi giàu có với những khu vườn lớn. Thỉnh thoảng, ông bước chậm lại, ngửa mặt nhìn trời, như để ngắm trăng sao; hoặc tì trán vào hàng song sắt, quan sát cái khối đen đồ sộ của một ngôi nhà nào đó. Sau đó, ông lại tiếp tục bước đi, nhưng với vẻ uể oải, như thể ông không có đích đến rõ rệt. Chính vào lúc này ta nên tiếp cận ông.
Ông dừng lại, đẩy cánh cổng của “Le Prieuré”, một biệt thự kỳ lạ xây theo kiểu Tân La Mã. Trước khi đi vào, ông mất một lúc do dự. Biệt thự
này có thuộc quyền sở hữu của ông không? Từ khi nào? Ông khép cánh cổng lại, chậm rãi băng qua thảm cỏ đi về phía bậc thềm. Lưng ông khòm xuống. Trong bóng đêm, trông người đàn ông to lớn ấy mới buồn bã làm sao…
Rõ ràng đây là một trong những ngôi làng xinh xắn và có vị trí đắc địa nhất ở vùng Seine-et-Marne. Ngay bên bìa rừng Fontainebleau. Một vài người dân Paris mua nhà nghỉ dưỡng ở đó, nhưng ta không còn gặp họ nữa, hẳn là “do diễn biến đáng lo ngại của các sự kiện gần đây”.
Ông bà Beausire, chủ lữ quán Le Clos-Foucré, đã bỏ đi từ năm ngoái. Họ nói họ đến nhà những người anh em họ ở vùng Loire-Atlantique để nghỉ ngơi nhưng mọi người đều hiểu rõ rằng sở dĩ họ đi nghỉ là vì khách hàng quen thuộc đã trở nên ngày càng thưa thớt. Người ta chưa giải thích được vì sao, sau đó, lại có một phụ nữ từ Paris xuống quán xuyến công việc ở Le Clos-Foucré. Hai người đàn ông, cũng là dân Paris, đã mua ngôi nhà của bà Lamiroux ở bìa rừng. (Đã gần mười năm nay, bà ấy không cư ngụ ở đó nữa.) Người trẻ nhất - có vẻ vậy - đã phục vụ trong binh đoàn lê dương. Người kia có lẽ là chủ nhiệm một tờ báo ở Paris. Còn một trong những người bạn của họ thì đến cư ngụ ở “Le Prieuré”, trang viên của gia đình Guyot. Ông thuê? Hay ông lợi dụng sự vắng mặt của gia đình này? (Gia đình Guyot đã đến Thụy Sĩ định cư vô thời hạn.) Đó là một người đàn ông vạm vỡ, kiểu người phương Đông. Ông cùng hai người bạn kia có những khoản thu nhập lớn, nhưng gia sản của họ có vẻ mới được tạo dựng. Họ đến đây những ngày cuối tuần, giống như các gia đình tư sản thời buổi thanh bình trước đó. Cứ tối thứ Sáu, họ lại từ Paris kéo về. Người đã từng là lính lê dương ngồi sau tay lái một chiếc Talbot màu be phóng vun vút trên con phố chính và hãm phanh đột ngột ngay trước cửa lữ quán Le Clos Foucré. Một lát sau, chiếc xe mui kín của gã kia cũng đến đỗ trước quán. Họ có khách mời. Người phụ nữ tóc đỏ hung, chẳng hạn, mà người ta luôn thấy mặc quần cưỡi ngựa. Các sáng thứ Bảy, ả cưỡi ngựa đi dạo trong rừng và khi ả quay về, đám nhân viên coi ngựa liền chạy xúm lại quanh ả và tận tình chăm sóc con ngựa. Buổi chiều, ả đi xuôi xuống con phố lớn, dắt theo một chú cún setter giống Alien mà sắc lông đỏ rực khá hài hòa (hẳn là một sự tinh tế?) với đôi ủng màu vàng da báo và mái tóc đỏ hung của ả. Thường thường, một phụ nữ trẻ tóc vàng tháp tùng ả - có vẻ như đó là cháu gái họ của tay chủ nhiệm báo. Cô này luôn khoác áo choàng lông thú. Hai
người thường ghé một lúc qua gian hàng đồ cổ của bà Blairiaux và chọn mua vài món nữ trang. Người phụ nữ tóc hung mua một cái tủ lớn kiểu Louis XV pha phong cách Trung Hoa, một món hàng khó bán vì giá quá cao. Khi nhìn thấy người khách chìa ra hai triệu tiền mặt, bà Blairiaux có vẻ hoảng sợ. Người phụ nữ tóc hung đặt các xấp tiền lên kệ. Lúc sau, một chiếc xe tải nhỏ chở cái tủ đến biệt thự của bà Lamiroux (từ khi đến đây ở, tay chủ nhiệm báo và cựu binh lê dương đã đặt cho nơi này cái tên “Biệt thự Mektoub”). Người ta để ý thấy chiếc xe tải nhỏ này đều đặn chở về “Biệt thự Mektoub” những món đồ mỹ nghệ và những bức tranh mà người phụ nữ tóc hung vơ vét được tại các cuộc bán đấu giá trong vùng; cứ tối thứ Bảy, người phụ nữ ấy lại cùng tay chủ nhiệm báo đi ô tô quay về làng, hoặc từ Melun hoặc từ Fontainebleau. Chiếc xe tải nhỏ theo sau, chất đầy những món đồ cũ linh tinh: đồ gỗ thô mộc, chén bát, đèn chùm, đồ bạc, mà họ cho lưu kho trong ngôi biệt thự. Điều đó khiến dân làng tò mò. Họ muốn tìm hiểu kỹ hơn về người phụ nũ tóc hung. Ả không ngụ tại “Biệt thự Mektoub”, mà ở Le Clos-Foucré. Tuy nhiên, người ta phỏng đoán giữa ả và tay chủ nhiệm báo có mối quan hệ rất thân thiết. Nhân tình? Bạn bè? Người ta đồn đoán rằng cựu binh lê dương kia vốn là một bá tước. Còn cái ông vạm vỡ ở “Le Prieuré” là “nam tước” Deyckecaire. Tước vị của họ có thực hay không? Cả hai người đều không tương xứng với hình ảnh người ta thường có về các nhà quý tộc đích thực. Trong thái độ của họ có điều gì đó khả nghi. Hay họ thuộc giới quý tộc nước ngoài? Chẳng phải người ta đã từng nghe “nam tước” Deyckecaire cao giọng tuyên bố với tay chủ nhiệm báo: “Không quan trọng gì đâu, tôi là công dân Thổ Nhĩ Kỳ!” Chính tay “bá tước” cũng nói tiếng Pháp với giọng pha chút ngoại ô Paris. Một thói quen nhiễm phải trong khi còn ở binh đoàn lê dương? Người phụ nữ tóc hung có vẻ như rất thích khoa trương, nếu không, tại sao ả luôn đeo đầy người những món nữ trang vốn chỏi với trang phục kỵ sĩ của mình? Còn thiếu phụ tóc vàng, mọi người đều ngạc nhiên khi thấy cô quấn mình trong áo khoác lông thú vào tháng Sáu. Có lẽ cô không chịu được không khí ở nông thôn. Người ta từng thấy ảnh cô trên tờ Ciné-Miroir. Liệu cô có còn là diễn viên? Cô thường đi dạo cùng tay cựu binh lê dương, khoác tay và tựa đầu vào vai hắn. Có lẽ họ đã đính hôn.
Nhiều người khác cũng đến đây vào các ngày thứ Bảy và Chủ nhật. Thông thường, tay chủ nhiệm báo tiếp đến khoảng hai mươi người khách.
Riết rồi người ta cũng nhận ra phần lớn trong số họ, nhưng không dễ gọi tên từng bóng hình. Trong làng, những lời đồn đại đáng kinh ngạc nhất nhanh chóng lan truyền. Tay chủ nhiệm báo thết những bữa tiệc phong cách đặc biệt ở “Biệt thự Mektoub”. Đó là lý do vì sao “đám người mờ ám” ấy từ Paris kéo về đây. Người phụ nữ quản lý Le Clos-Foucré, trong lúc gia đình Beausire vắng mặt, chắc chắn từng là bà trùm một nhà thổ. Hơn nữa, Le Clos-Foucré cũng mang dáng dấp một nhà chứa với kiểu khách hàng như vậy. Người ta tự hỏi không biết nhờ trò ảo thuật nào mà “nam tước” Deyckecaire sở hữu được “Le Prieuré”. Người ta thấy ông có dáng dấp của một gián điệp. Tay “bá tước” có lẽ đã đăng ký vào binh đoàn lê dương để trốn các vụ truy tố pháp luật. Tay chủ nhiệm báo, cùng với người phụ nữ tóc hung, từng tham gia những vụ buôn lậu bẩn thỉu. Cả hai thường tổ chức những cuộc truy hoan ở “Biệt thự Mektoub” và tay chủ nhiệm báo thường lôi kéo cô cháu gái đến đây. Hắn không ngần ngại đẩy cô vào vòng tay của gã “bá tước” và những kẻ khác mà hắn muốn đảm bảo sẽ đồng lõa với mình. Nói tóm lại, cuối cùng người ta tin rằng ngôi làng đã “bị dâng cho một băng cướp”. Một nhân chứng lão luyện, cụm từ hay được sử dụng trong tiểu thuyết và các biên bản xét xử, khi quan sát tay chủ nhiệm báo và những người thân cận, hẳn sẽ nghĩ ngay đến kiểu “băng đảng” thường lui tới một số quán bar ở đại lộ Champs-Élysées. Ở đây, sự hiện diện của họ thật lạc lõng. Những buổi tối tụ họp đông đúc, họ dùng bữa ở Le Clos Foucré, rồi đi theo nhóm nhỏ về “Biệt thự Mektoub” thành một đoàn thưa thớt. Tất cả phụ nữ trong bọn họ đều có tóc hung đỏ hoặc bạch kim, tất cả đàn ông đều mặc những bộ đồ lòe loẹt. Tay “bá tước” dẫn đầu đoàn diễu hành, cánh tay cuốn một chiếc khăn lụa trắng, như thể vừa bị thương trong một cuộc đụng độ. Phải chăng hắn muốn gợi lại quá khứ từng là lính lê dương của mình? Họ thường để nhạc rất to, bởi bạn có thể nghe thấy từng đợt rumba, jazz-hot và từng đoạn bài hát vẳng ra nếu bạn đang ở trên phố chính. Nếu ở gần ngôi biệt thự, bạn sẽ thấy họ khiêu vũ đằng sau những ô cửa lửng.
Một đêm, vào khoảng hai giờ sáng, người ta nghe thấy tiếng la the thé: “Đồ khốn nạn!” Người phụ nữ tóc hung đang chạy, ngực ló ra ngoài chiếc áo hở cổ. Có kẻ đuổi theo ả. Ả lại hét: “Đồ khốn nạn!” Sau đó ả cười phá lên.
Dạo đầu, dân làng thường mở cửa sổ. Sau đó, họ quen dần với tiếng ồn ào của đám người mới đến kia. Chúng ta đang sống trong thời buổi mà rốt cuộc chẳng còn gì khiến ta ngạc nhiên nữa.
Tờ tạp chí, chính là nó đây, vừa mới được in, vì nó mang số 57. Nhan đề: Đời là thế, nổi bật với những con chữ in đen trắng. Trên trang bìa là một tấm thân phụ nữ trong tư thế gợi cảm. Người ta hẳn có thể sẽ ngỡ đó là một tờ tạp chí tươi mát, nếu không thấy cụm từ: “Tuần báo tin tức chính trị và thời thượng” cho thấy những tham vọng cao xa hơn.
Ngay ở trang đầu tiên, tên của chủ nhiệm: Jean Murraille. Sau đó, dưới tiêu đề: Ban biên tập, danh sách các cộng tác viên, chừng mươi người, tất cả đều xa lạ. Có cố công lục lọi trong ký ức, người ta cũng chẳng nhớ đã thấy dấu ấn của họ ở đâu. Hai cái tên may ra gợi nhớ đôi điều. Jean Drault và Mouly de Melun: người thứ nhất là tay viết tiểu thuyết dài kỳ thời tiền chiến, tác giả của Người lính Chapuzot; người thứ hai là một phóng viên thời luận đầy khát khao của tờ L’Illustration. Nhưng còn những người kia? Jo-Germam bí ẩn chẳng hạn, người ký tên trên trang nhất dưới bài xã luận về đổi mới và mùa xuân? Được viết bằng một thứ tiếng Pháp màu mè, bài viết chấm dứt bằng mệnh lệnh: “Hãy vui lên!” Nhiều ảnh chụp những người trẻ tuổi trong trang phục rất ít vải minh họa cho bài báo.
Ở trang hai là mục “Những tin đồn khiếm nhã”. Mục này bao gồm những đoạn ngắn, mỗi đoạn có một nhan đề câu khách. Người tên Robert Lestandi viết những bình luận sỗ sàng về các nhân vật chính trị, nghệ thuật, kịch trường và thậm chí còn không ngần ngại đưa ra những nhận xét mang tính hăm dọa. Một vài bức tranh “biếm họa” với nét vẽ cay độc mang chữ ký của một tay Le Houleux nào đó. Phần tiếp theo còn nhiều điều đáng ngạc nhiên nữa. Từ “xã luận” chính trị đến các “phóng sự”, sau khi lướt qua “Thư bạn đọc”. “Xã luận” của số báo 57 là một mớ những lời chửi rủa và hăm dọa soạn bởi “François Gerbère”. Trong bài có những câu như: “Những tên tay sai thường dễ dàng trở thành kẻ cắp.” Hoặc: “Những kẻ chịu trách nhiệm còn lại phải trả giá. Và họ sẽ trả giá!” Chịu trách nhiệm về chuyện gì? “François Gerbère” không nói rõ. Về phần các “phóng viên”, họ đi thẳng vào các chủ đề đáng ngờ nhất. Số báo 57, chẳng hạn, có bài: “Cuốn tiểu thuyết trải nghiệm từ cuộc đời của một cô gái da màu trong thế giới nhảy múa và khoái lạc. Paris, Marseille, Berlin.” Cùng một tinh thần đáng thương hại như thế ở mục “Thư bạn đọc”, trong đó, tác giả một bức
thư hỏi “liệu một lượng nước sắc thu được từ loài sâu ban miêu khi trộn vào thức ăn hoặc nước uống có gây ra sự buông thả ngay lập tức ở những người thuộc phái yếu hay không”. Jo-Germain trả lời những câu hỏi như thế bằng một văn phong tỏa mùi dễ chịu.
Hai trang cuối được dành cho chuyên mục “Có gì mới?” Một người ẩn danh ký tên “Ngài Thượng Lưu” kể lại chi tiết các sự kiện trong tuần của giới thượng lưu. Thượng lưu ư? Nhưng đó là những ai? Nhân dịp tiệm hát Jane Stick ở phố Ponthieu mở cửa lại (sự kiện đúng kiểu Paris nhất trong tháng, theo tác giả chuyên mục), “người ta nhận thấy sự có mặt của Osvaldo Valenti và Monique Joyce”. Trong số những nhân vật đình đám khác mà “Ngài Thượng Lưu” kể ra, có: nữ bá tước Tchernicheff, Mag Fontanges, Violette Morriss; “nhà văn Boissel, tác giả cuốn Những Thập tự máu, phi công tài ba Costantini, Darquier de Pellepoix, luật sư bào chữa nổi tiếng; giáo sư nhân chủng học Montandon; Malou Guérin; Delvale và Lionel de Wiet, các giám đốc nhà hát; các nhà báo Suaraize, Maulaz và Alin-Laubreaux”. Nhưng, theo tác giả, “bàn sôi động nhất là bàn của ông Jean Murraille”. Câu nói được minh họa bằng một tấm hình, trong đó người ta nhận ra Murraille, Marcheret, người phụ nữ tóc hung luôn mặc trang phục cưỡi ngựa (ả tên là Sylviane Quimphe), sau hết là bố tôi, được nêu danh là “nam tước Deyckecaire”. “Tất cả bọn họ - theo nhà bình luận - bao trùm lên tiệm hát Jane Stick một bầu không khí nhiệt huyết và trí tuệ của những đêm Paris.” Hai tấm hình khác cho thấy toàn cảnh dạ hội. Bóng tối mờ ảo, những chiếc bàn ken chặt cả trăm người mặc vest và đầm trễ cổ. Dưới mỗi tấm hình là một câu ghi chú: “Sân khấu bừng sáng, màn kéo dạt ra, sàn sân khấu biến mất, một cầu thang xuất hiện với đầy vũ nữ… Vở tạp kỹ Trong tấm gương soi của chúng ta bắt đầu” và: “Duyên dáng, nhịp điệu, ánh sáng. Đó là Paris!” Không. Có chút gì đó ám muội trong cái hội này. Những người ấy là ai? Họ từ đâu đến? “Nam tước” Deyckecaire, chẳng hạn, ở đằng kia, cuối phòng, gương mặt phì nhiêu, nửa thân trên hơi sụp xuống sau một xô sâm banh?
•••
- Cậu thích à?
Trên tấm hình đã mờ, một người đứng tuổi đối diện một thanh niên mà nét mặt không còn thấy rõ. Tôi ngẩng đầu lên. Hắn đứng trước mặt tôi: tôi đã không nghe thấy hắn bước đến từ thẳm sâu những năm tháng “rối ren”. Hắn liếc mắt nhìn mục “Có gì mới?” để biết tôi đang chăm chú đọc cái gì. Rõ ràng hắn đã bắt gặp cảnh tôi chúi mũi vào tờ báo như thể đang nghiên cứu một bức tranh in tay hiếm.
- Cậu thích cuộc sống của giới thượng lưu ư?
- Không hẳn vậy, thưa ông, tôi ấp úng.
Hắn chìa tay ra.
- Jean Murraille!
Tôi đứng dậy, làm ra vẻ rất ngạc nhiên:
- Ông là chủ nhiệm tờ…
- Chính tôi…
Tôi nói, được chăng hay chớ:
- Rất hân hạnh! - Đoạn, với nhiều cố gắng: - Tôi rất thích tờ báo của ông.
- Thật chứ?
Hắn mỉm cười. Tôi nói:
- Viết rất đỉnh.
Hắn tỏ ra ngạc nhiên khi nghe từ lóng mà tôi chủ tâm dùng, nhằm tạo sự thông đồng giữa hai chúng tôi.
- Tờ báo của ông ấy, rất đỉnh, tôi nhắc lại, đồng thời làm vẻ suy tư. - Cậu cũng trong nghề chăng?
- Không.
Hắn chờ tôi nói rõ hơn, nhưng tôi im lặng.
- Làm một điếu chứ?
Hắn móc từ trong túi ra một cái bật lửa bằng bạch kim và bật đánh xoẹt một cái. Hắn cứ để điếu thuốc treo thõng ở góc môi như thể nó đã ở đó từ muôn thuở.
Ngập ngừng:
- Cậu đã đọc bài xã luận của Gerbère chưa? Có lẽ cậu không đồng ý với định hướng… chính trị của tờ báo?
- Tôi không làm chính trị, tôi đáp.
- Tôi hỏi cậu như thế - hắn mỉm cười - vì tôi muốn biết ý kiến của một người trẻ tuổi…
- Cảm ơn ông.
- Tôi không mất nhiều thời gian để tìm được các cộng sự… chúng tôi tạo thành một ê kíp đồng nhất. Có các nhà báo đến từ khắp các phương trời. Lestandi, Jo-Germain, Gerbère, Georges-Anquetil… Tôi cũng vậy, tôi không thích chính trị lắm. Chán lắm, cái khoản chính trị ấy! - Cười một tiếng ngắn. - Điều công chúng quan tâm, là các chuyện ngồi lê đôi mách và các phóng sự. Và nhất là các tấm ảnh! Các tấm ảnh! Tôi chọn một công thức… vui vẻ!
- Mọi người có nhu cầu thư giãn “trong một thời đại như thời đại chúng ta”, tôi đưa ra nhận xét…
- Hoàn toàn đồng ý!
Tôi hít một hơi. Bằng một giọng ngắt quãng:
- Điều tôi thích nhất trong tờ báo của ông là “những chuyện ngồi lê đôi mách khiếm nhã” của Lestandi. Rất tốt! Rất sinh động!
- Lestandi là một tay đáng gờm. Không phải khi nào tôi cũng đồng ý với các quan điểm chính trị của hắn. Còn cậu thì sao?
Câu hỏi này làm tôi bất ngờ. Hắn chiếu đôi mắt màu xanh nhạt vào tôi và tôi hiểu rằng phải trả lời thật nhanh trước khi một cảm giác bất ổn khó chịu kịp nảy sinh giữa hai chúng tôi.
- Tôi ư? Cứ cho rằng tôi là tiểu thuyết gia trong những lúc rỗi việc. Sự tự tin khi thốt ra câu ấy làm chính tôi cũng ngạc nhiên. - Rất, rất, rất thú vị đó chứ! Và cậu đã có sách xuất bản? - Hai truyện ngắn trên một tạp chí ở Bỉ, năm ngoái.
- Cậu đến đây nghỉ dưỡng à?
Hắn đường đột hỏi, như thể vừa chợt cảm nhận một mối nghi ngờ đối với tôi.
- Vâng.
Tôi toan nói thêm rằng chúng ta đã gặp nhau ở quầy bar và trong phòng ăn.
- Nơi đây yên tĩnh, nhỉ? - Hắn bồn chồn rít một hơi thuốc. - Tôi có mua một biệt thự ở bìa rừng. Cậu sống ở Paris?
- Vâng.
- Ngoài sinh hoạt văn chương - hắn nhấn mạnh từ “văn chương”, và tôi cảm thấy một chút mỉa mai trong giọng nói của hắn -, cậu có một công việc thường xuyên chứ?
- Không. Thời buổi này khó tìm lắm.
- Chúng ta đang sống trong một giai đoạn kỳ quặc. Tôi tự hỏi không biết mọi chuyện sẽ chấm dứt kiểu nào đây. Còn cậu thì sao? - Trong lúc chờ đợi, phải tận hưởng cuộc sống đã.
Ý nghĩ này làm hắn khoái. Hắn cười phá lên.
- Mặc kệ đời sau thôi! - Và hắn vỗ vai tôi - Nào, tối nay tôi mời cậu dùng bữa!
Chúng tôi dạo vài bước trong vườn. Để có chuyện nói, tôi bảo hắn rằng khí trời những buổi xế chiều như thế này thật mát mẻ, và tôi có được một trong số những phòng tốt nhất ở lữ quán, những phòng mở trực tiếp ra hàng hiên.
Tôi cũng nói thêm rằng Le Clos-Foucré khiến tôi nhớ lại thời thơ ấu, vì ngày xưa tôi thường đến đây với bố tôi. Tôi hỏi xem hắn có hài lòng với biệt thự của mình không. Hắn những muốn về đây thường xuyên hơn, nhưng tờ báo giữ riệt lấy hắn. Vả lại, hắn thích như thế. Và Paris cũng không thiếu những nét quyến rũ. Chúng tôi ngồi vào một bàn. Nhìn từ vườn, lữ quán có vẻ thôn dã và giàu có và tôi không quên nói ra nhận xét ấy. Người quản lý (hắn gọi là Maud) được hắn giới thiệu là một bà bạn lâu năm. Chính mụ khuyên hắn mua ngôi biệt thự. Tôi những muốn hắn nói rõ hơn về người phụ nữ này, nhưng tôi sợ sự tò mò của tôi làm hắn nghi ngờ.
Đã từ rất lâu, tôi lên đủ loại kế hoạch để tiếp cận họ. Thoạt tiên, tôi nghĩ đến người phụ nữ tóc hung đỏ. Ánh mắt chúng tôi đã nhiều lần chạm nhau. Cũng dễ để nói chuyện với Marcheret khi đến ngồi cạnh hắn ở quầy bar. Không thể nào tiếp cận trực tiếp bố tôi, do tính đa nghi của ông. Về
phần Murraille, hắn làm tôi e ngại. Tiếp cận hắn theo hướng nào? Và sau cùng, chính hắn lại là người giải quyết được vấn đề. Một ý tưởng thoáng qua trong trí tôi. Nếu hắn mới là người chủ động nắm rõ mọi chuyện về tôi? Và liệu hắn có để ý thấy mối quan tâm sát sao tôi dành cho họ từ ba tuần nay, cách tôi rình rập từng cử chỉ, từng lời nói của họ ở quầy bar hoặc trong phòng ăn? Tôi nhớ lại lời chê trách tôi nhận được khi muốn vào ngành cảnh sát: “Cậu bé, cậu không bao giờ trở thành một tay cớm giỏi được. Khi cậu theo dõi người nào đó, hoặc khi cậu nghe ngóng một cuộc trao đổi, người ta sẽ thấy ngay. Cậu là một đứa trẻ.”
Grève đẩy về phía chúng tôi một cái bàn chất đầy rượu khai vị. Chúng tôi uống rượu vermouth. Murraille báo với tôi rằng tuần tới, trong tờ báo của hắn, tôi sẽ có thể được đọc một bài “rất cừ” của Jo-Germain. Giọng hắn thân mật như đã quen biết tôi từ lâu. Ngày tàn dần. Chúng tôi đồng ý với nhau rằng giờ này là lúc dễ chịu nhất trong ngày.
•••
Cái lưng đồ sộ của Marcheret. Maud Gallas đứng sau quầy bar và đưa tay ra dấu chào Murraille khi chúng tôi bước vào. Marcheret quay lại. - Khỏe không, Jean-Jean?
- Khỏe, Murraille trả lời. Tôi có một khách mời. Thật tình - hắn cau mày nhìn tôi - tôi không biết ngay cả tên cậu…
- Serge Alexandre.
Tôi đã dùng cái tên này để đăng ký ở lữ quán.
- Nào, anh… Alexandre, Marcheret nói, giọng rề rà, tôi mời anh một cốc porto-flip nhé!
- Tôi không uống rượu. - Cốc vermouth ban nãy vẫn còn làm tôi buồn nôn.
- Anh sai rồi, Marcheret đáp.
- Đây là một người bạn, Murraille nói. - Guy de Marcheret. - Bá tước Guy de Marcheret d’Eu, người kia chỉnh lại. - Và phân trần với tôi: - Ngài đây không thích các danh xưng! Ngài là người Cộng hòa!
- Còn anh? Nhà báo à?
- Không, Murraille nói, cậu ấy là tiểu thuyết gia.
- Chà! Lẽ ra tôi phải nhận thấy trước chứ! Một cái tên như thế! Alexandre… Alexandre Dumas! Nhưng anh có vẻ buồn, tôi tin chắc rằng một chút rượu sẽ làm anh lên tinh thần đấy!
Hắn đưa cốc của mình cho tôi, gí gần như sát mũi tôi và cười một cách vô duyên.
- Đừng sợ, Murraille nói. Guy là một hoạt náo viên đích thực. - Anh Alexandre đây sẽ ăn tối cùng chúng ta? Tôi sẽ kể anh ấy nghe khối chuyện có thể đưa vào tiểu thuyết. Maud, hãy kể cho người bạn của chúng ta việc tôi đã gây ấn tượng thế nào khi mặc quân phục bước vào quán Beaulieu. Một màn ra mắt như trong tiểu thuyết, phải không, Maud? Maud không trả lời. Guy căm tức nhìn mụ, nhưng Maud nhìn lại, không nao núng. Hắn ta khịt mũi:
- À, toàn là chuyện quá khứ! Này, Jean-Jean, chúng ta ăn tối ở biệt thự phải không nhỉ?
- Phải, Murraille trả lời cộc lốc.
- Cùng với gã mập?
- Cùng với gã mập.
Đấy là cách họ gọi bố tôi?
Marcheret đứng dậy. Và nói với Maud Gallas:
- Và nếu chút nữa cô muốn đến làm một ly ở biệt thự thì đừng ngại nhé, cô bạn thân mến!
Mụ mỉm cười và hướng ánh nhìn vào tôi. Quan hệ giữa chúng tôi vẫn chưa vượt qua mức xã giao tối thiểu. Khi thấy chỉ còn mình mụ, tôi những muốn hỏi mụ về Murraille, về Marcheret, về bố tôi. Trước hết sẽ nói chuyện mưa nắng, thời tiết. Sau đó sẽ đi từng bước đến điểm mấu chốt. Nhưng tôi sợ không có đủ khôn khéo. Liệu mụ có nhận thấy tôi lảng vảng quanh họ? Trong phòng ăn, tôi luôn chọn bàn gần bàn họ nhất. Trong lúc họ uống rượu ở quầy bar, tôi ngồi xuống một trong những chiếc ghế bành bằng da và giả vờ ngủ. Tôi luôn quay lưng về phía họ để tránh sự chú ý, nhưng chỉ được một lát, tôi lại e rằng họ đang chỉ trỏ mình.
- Chào Maud, Murraille nói.
Đến phiên mình, tôi bày tỏ lòng kính trọng mụ một cách sâu sắc và nói: - Chào bà.
Tim tôi bắt đầu đập nhanh khi ra đến phố chính. Con phố vắng tanh. - Tôi hy vọng cậu sẽ thích “Biệt thự Mektoub”, Murraille nói với tôi. - Đó là công trình đẹp nhất vùng, Marcheret tuyên bố. Chúng tôi mua được với giá rẻ như cho không.
Họ bước chậm rãi. Bỗng dưng, tôi có cảm tưởng như đang tự dẫn mình vào bẫy. Vẫn còn kịp để tháo chạy và thoát khỏi tay họ. Tôi nhìn chăm chú hàng cây rừng gần nhất, cách tôi chừng trăm mét trước mặt. Chỉ cần một lần lấy đà, tôi có thể chạy đến đó.
- Mời cậu đi trước, Murraille nói với tôi, giọng nửa châm biếm, nửa kiểu cách.
Tôi nhận ra một bóng dáng thân thuộc, đứng giữa hiên nhà. - Kìa, gã mập đã ở đây rồi, Marcheret nói.
•••
Người đàn ông khẽ dựa vào lan can. Ả phụ nữ ngồi trong một chiếc ghế bành bằng gỗ trắng, mặc quần cưỡi ngựa.
Murraille giới thiệu tôi.
- Cô Sylviane Quimphe… Serge Alexandre… Nam tước Deyckecaire. Ông chìa cho tôi một bàn tay mềm nhũn và tôi nhìn thẳng vào mặt ông. Không, ông không nhận ra tôi.
Ả phụ nữ giải thích rằng ả vừa dạo một vòng lớn trong rừng và vẫn chưa lấy lại sức để đi thay trang phục.
- Không sao, bạn thân mến, Marcheret lên tiếng. Phụ nữ mặc đồ cưỡi ngựa lại càng đẹp hơn.
Câu chuyện chuyển ngay qua môn cưỡi ngựa. Ả hết lời ca ngợi người quản lý trại ngựa, một tay dô kề giải nghệ tên là Dédé Wildmer.
Tôi đã gặp người này ở Le Clos-Foucré: gương mặt chó ngao, sắc da đỏ sẫm, ưa thích đặc biệt rượu Dubonnet, mũ cát két ca rô và áo vest da hoẵng.
- Chúng ta phải mời ông ấy ăn tối, cô nhớ nhắc tôi nhé, Sylviane, Murraille nói.
Rồi quay qua phía tôi:
- Cậu sẽ thấy, một nhân vật ra trò đấy!
- Phải, một nhân vật ra trò, bố tôi rụt rè lặp lại.
Người phụ nữ nói với chúng tôi về con ngựa của mình. Ả vừa cho nó nhảy qua vài chướng ngại vật và kết quả “rất thuyết phục”. - Không nên rón rén với nó quá, Marcheret nói, vẻ sành sỏi. Loài ngựa, phải rèn chúng bằng đinh thúc và roi vọt!
Hắn kể lại một kỷ niệm thời thơ ấu: ông chú người xứ Basque bắt hắn cưỡi ngựa bảy tiếng đồng hồ liền dưới mưa. “Nếu ngã, ông ta nói, mày sẽ nhịn ăn ba ngày liền!”
- Vậy đó, và tôi chưa bao giờ ngã. Chính theo cách này - giọng hắn trở nên long trọng - “mà người ta đào tạo ra những kỵ sĩ”!
Bố tôi huýt một tiếng nhỏ thán phục. Họ còn nói thêm về Dédé Wildmer.
- Tôi không hiểu làm sao gã lùn ấy lại thành công với phụ nữ đến thế, Marcheret nói.
- Còn tôi, Sylviane Quimphe nhận xét, tôi thấy ông ấy rất quyến rũ! - Tôi nghe được một số chuyện hay ho, Marcheret xẵng giọng trả lời. Có vẻ như Wildmer “chơi cocain”…
Chuyện trò vớ vẩn. Lời lẽ rỗng tuếch. Nhân vật tẻ nhạt. Nhưng tôi đã ở đó, với những bóng ma của tôi, và cứ hễ nhắm mắt là tôi lại nhớ rằng có một bà lão mặc tạp dề trắng thông báo với chúng tôi bữa tối đã dọn lên.
- Chúng ta có thể ngồi ngoài hiên nhà, Sylviane Quimphe đề nghị. Tối nay tiết trời thật tuyệt…
Marcheret muốn ăn tối dưới ánh nến, nhưng cuối cùng đành thừa nhận rằng “ánh sáng mờ mờ xanh nhạt phủ lên mọi người cũng có nét quyến rũ
riêng của nó”. Murraille rót đồ uống. Tôi đoán rằng đó là một loại rượu danh tiếng.
- Không hổ danh! Marcheret kêu lên. Hắn tặc lưỡi và bố tôi lặp lại như một tiếng vọng.
Tôi được bố trí ngồi giữa Murraille và Sylviane Quimphe. Ả hỏi phải chăng tôi đến đây nghỉ dưỡng.
- Tôi có trông thấy anh ở Le Clos-Foucré.
- Tôi cũng thế, tôi nói.
- Tôi còn tin chắc rằng phòng chúng ta kế cận bên nhau.
Và ả nhìn tôi một cách kỳ lạ.
- Cậu Alexandre rất thích tờ báo của tôi, Murraille nói.
- Không đùa đấy chứ? Marcheret ngạc nhiên. Anh là người duy nhất đấy! Nếu anh đọc tất cả những bức thư nặc danh mà Jean-Jean nhận được… Trong bức thư cuối cùng, người ta chửi ông ấy là đồ nhà văn khiêu dâm và hạng xã hội đen!
- Tôi cóc quan tâm, Murraille nói. Mọi người thấy đấy, hắn hạ giọng nói tiếp, trong giới báo chí người ta gán tiếng xấu cho tôi. Người ta còn cáo buộc tôi nhận phong bì thời tiền chiến! Tôi luôn khiến bọn hạ cấp phải ganh tị!
Hắn dằn mạnh các từ cuối và đỏ bừng mặt lên. Món tráng miệng được dọn ra.
- Anh làm nghề gì? Sylviane Quimphe hỏi tôi.
- Tiểu thuyết gia, tôi vội vã đáp.
Tôi tiếc là đã giới thiệu bản thân với Murraille dưới cái nhãn kỳ quặc ấy.
- Anh viết tiểu thuyết ư?
- Anh viết tiểu thuyết ư? bố tôi lặp lại.
Từ đầu bữa ăn, đó là lần đầu tiên ông nói với tôi.
- Vâng. Còn ông thì sao?
Ông mở to đôi mắt.
- Tôi ư?
- Ông đến đây… nghỉ mát? tôi hỏi lễ phép.
Ông nhìn tôi chăm chăm bằng ánh mắt của con thú bị săn đuổi. - Ông Deyckecaire, Murraille nói - ngón tay chỉ vào bố tôi -, cư ngụ trong một cơ ngơi rất đẹp cách đây chừng một trăm mét, tên là “Le Prieuré”.
- Phải… “Le Prieuré”, bố tôi nói.
- Ấn tượng hơn nhiều so với “Biệt thự Mektoub”. Hãy tưởng tượng rằng đó là một nhà nguyện nằm giữa một vườn cây.
- Chalva rất mộ đạo! Marcheret nói.
Bố tôi phì cười.
- Không phải sao, Chalva? Marcheret nằn nì. Khi nào mọi người được thấy ông mặc áo choàng linh mục đây? Nói đi, Chalva?
- Khốn thay, Murraille bảo tôi, ông bạn Deyckecaire của chúng ta đây cũng giống như chúng ta. Công việc giữ riệt ông ấy ở Paris. - Công việc gì thế? tôi đánh liều hỏi.
- Chẳng có gì thú vị, bố tôi nói.
- Có đấy! Marcheret nói, tôi tin chắc rằng anh Alexandre hẳn sẽ rất thích được nghe ông giải thích về những mưu mẹo tài chính của ông. Anh có biết rằng Chalva - giọng hắn trở nên giễu cợt - là bậc thầy lừa đảo? Ngay đến Sir Basil Zaharoff[1] có khi cũng phải học ông ấy.
- Đừng tin lời anh ta, bố tôi thì thào.
- Chalva, tôi thấy ông có vẻ bí hiểm lắm, Sylviane Quimphe nói, hai tay chắp lại với nhau.
Bố tôi rút ra một chiếc khăn tay lớn lau trán và tôi bỗng nhớ lại rằng đó là một cử chỉ quen thuộc của ông. Ông im lặng. Tôi cũng vậy. Ánh sáng mờ dần. Đằng kia, ba người còn lại thủ thỉ trò chuyện. Tôi tưởng như Marcheret nói với Murraille:
- Cô cháu gái của ông có gọi cho tôi. Cô ta làm cái mẹ gì ở Paris thế? Murraille ngạc nhiên trước cách ăn nói thô lỗ ấy. Một người như Marcheret, một người dòng họ Eu mà nói năng như vậy!
- Nếu cô ta cứ tiếp tục như thế, Marcheret tiếp, tôi sẽ hủy hôn ước!
- Xùy xùy… đó sẽ là một sai lầm đấy, Murraille nói.
Sylviane lợi dụng lúc mọi người im tiếng để kể câu chuyện một tay Eddy Pagnon nào đó, trong lúc cùng đi với ả đến một tiệm hát, đã huơ một khẩu súng lục đồ chơi trước mặt những khách hàng khiếp đảm. Eddy Pagnon… lại thêm một cái tên sống lại trong ký ức của tôi. Một nhân vật quan trọng? Tôi không biết, nhưng tôi thích con người ấy, rút súng ra đe dọa những chiếc bóng.
Bố tôi đến tựa cùi chỏ vào lan can hiên nhà và tôi lại gần bên ông. Ông đốt một điếu xì gà và mơ màng hút. Vài phút sau, ông chăm chú thổi những vòng khói tròn. Sau lưng chúng tôi, những người khác rì rầm nói chuyện và có vẻ như đã quên bẵng chúng tôi. Chính bố tôi không biết có tôi bên cạnh, dầu tôi đã nhiều lần húng hắng ho, và chúng tôi đứng đó một lúc lâu, bố tôi thổi những vòng khói tròn còn tôi ngắm nhìn sự hoàn hảo của những vòng khói ấy.
Chúng tôi bước vào phòng khách. Từ hiên nhà vào đó phải đi qua một cửa lửng. Đó là một gian phòng lớn bày biện theo kiểu thuộc địa. Bức tường cuối phòng phủ một lớp giấy dán tường có màu dịu mắt, trên đó vẽ một cảnh trong truyện Paul và Virginie[2] (sau đó Murraille giải thích cho tôi như thế). Một cái ghế bập bênh, những chiếc bàn nhỏ và ghế bành đan mây. Vài chiếc ghế không chân, bọc đệm, đặt rải rác đây đó. (Tôi được biết rằng Marcheret đã mang những chiếc ghế ấy từ Bouss-Bir về khi rời khỏi binh đoàn lê dương.) Ba chiếc đèn lồng Trung Hoa treo trên trần nhà tỏa ra một thứ ánh sáng chập chờn. Trên một cái giá, tôi nhận ra vài ống tẩu thuốc phiện… Cái mớ hỗn tạp và tàn tạ ấy gợi nhớ xứ Bắc Kỳ ở Việt Nam, các đồn điền trồng trọt ở Nam Carolina, nhượng địa Pháp ở Thượng Hải, xứ Maroc của tướng Lyautey và hẳn tôi che giấu sự ngạc nhiên của mình không được khéo léo cho lắm vì Murraille nói với tôi, giọng ngượng nghịu: “Chính Guy là người chọn đồ đạc.” Tôi ngồi xuống, hơi lui về phía sau. Họ tiếp tục nói chuyện rầm rì quanh một khay rượu mùi. Sự khó ở mà tôi cảm nhận ngay từ lúc ban tối càng nặng nề hơn và tôi tự hỏi có nên cáo từ không. Nhưng tôi không thể nhúc nhích, như trong những cơn ác mộng, khi ta muốn bỏ chạy trước mối hiểm nguy đang dấn tới mà đôi chân cứ đờ ra. Những lời nói, cử chỉ, gương mặt vốn mang vẻ mờ ảo và phi thực bởi ánh sáng tù mù trong suốt bữa ăn, thì giờ đây, dưới ánh sáng hà tiện nhỏ giọt từ mấy ngọn đèn trong phòng khách, tất cả còn mơ hồ hơn. Tôi nghĩ cảm
giác khó ở của tôi là cảm giác của một người đang lần mò trong bóng tối đặc quánh và tuyệt vọng tìm một công tắc điện. Thế là tức thì người tôi rung lên vì một tràng cười đầy kích động, nhưng may mắn thay không ai để ý. Họ tiếp tục nói chuyện mà tôi chẳng hóng nổi một từ. Họ ăn mặc giống như những người Paris khá giả khi đi nghỉ vài ngày ở miền quê. Murraille mặc vest vải tuýt; Marcheret áo săng đay - chắc là hàng cashmere, màu nâu rất đẹp; bố tôi com lê vải flanen xám. Họ để hở cổ áo, lộ ra những chiếc phu la chàm bằng lụa khéo thắt. Chiếc quần cưỡi ngựa của Sylviane Quimphe thêm vào tổng thể một nét thanh lịch thể thao. Nhưng tất cả những thứ ấy đều lạc điệu trong gian phòng khách này, nơi hẳn người ta hình dung sẽ được thấy mọi người mặc com lê trắng và đội mũ cát thuộc địa.
- Cậu ngồi tách riêng thế này à? Murraille hỏi tôi. Lỗi tại tôi đấy. Tôi là một chủ nhà rất tồi.
- Anh Alexandre thân mến, anh còn chưa nếm thứ rượu hảo hạng này. - Và Marcheret chìa cho tôi một ly rượu bằng động tác như ra lệnh. - Uống đi!
Tôi nén cơn buồn nôn, cố gắng uống.
- Anh thích gian phòng này chứ? hắn hỏi tôi. Phong cách rất lạ, phải không? Tôi sẽ chỉ anh xem phòng ngủ của tôi. Tôi đã cho lắp một cái màn muỗi ở đó!
- Guy nhớ các xứ thuộc địa, Murraille nói.
- Những nơi chốn thối tha, Marcheret nói. - Và mơ màng: - Nhưng nếu họ đề nghị tôi quay lại đó, tôi sẽ ghi danh lần nữa.
Hắn im tiếng, như thể những gì hắn có thể nói về chủ đề này sẽ không có ai hiểu được. Bố tôi gục gặc cái đầu. Im lặng kéo dài. Sylviane Quimphe lơ đãng lấy tay vuốt ve đôi ủng. Murraille dõi theo đường bay của một con bướm, khi nó đậu vào một trong những chiếc đèn lồng Trung Hoa. Bố tôi rơi vào trạng thái như mệt lả, làm tôi lo ngại. Cằm ông hầu như chạm đến ngực, mồ hôi đọng từng giọt trên trán. Tôi cầu mong một tay bồi bàn lê bước đến dọn cái bàn và tắt hết đèn đi.
Marcheret đặt một cái đĩa vào máy hát. Một giai điệu dịu dàng. Khúc nhạc có nhan đề Chiều tối tháng Chín, tôi nghĩ thế.
- Anh khiêu vũ chứ? Sylviane Quimphe hỏi tôi.
Ả không đợi câu trả lời của tôi, và chúng tôi đã nhảy tự bao giờ. Đầu tôi quay cuồng. Bố tôi hiện ra trước mặt tôi mỗi lần tôi xoay người. - Anh nên cưỡi ngựa, ả nói với tôi. Nếu anh muốn, ngày mai tôi sẽ đưa anh đến trường tập.
Có phải bố tôi đã ngủ thiếp đi không? Tôi nhớ là ông thường nhắm mắt, nhưng chỉ giả vờ thôi.
- Anh sẽ thấy, những buổi đi dạo xa trong rừng thú vị vô cùng! Bố tôi đã mập lên rất nhiều sau mười năm. Tôi chưa hề thấy ông có nước da sạm đen như thế.
- Anh là bạn của Jean? ả hỏi tôi.
- Chưa, nhưng tôi hy vọng rằng cũng sắp thôi.
Ả có vẻ ngạc nhiên trước câu trả lời này.
- Và tôi hy vọng rằng bà và tôi, chúng ta cũng sẽ là bạn bè, tôi nói thêm. - Tất nhiên. Tôi thấy anh thật thú vị.
- Bà có biết… nam tước Deyckecaire này không?
- Không biết rõ lắm.
- Thật tình, ông ấy làm gì?
- Tôi không biết; phải hỏi Jean ấy.
- Ông nam tước này, tôi thấy ông ta kỳ kỳ.
- Ồ, ông ta hẳn là tay buôn bán bịp bợm…
Lúc nửa đêm, Murraille muốn nghe bản tin cuối. Giọng xướng ngôn viên nghe cao hơn thường lệ. Sau khi tóm tắt mẩu tin, anh ta chuyển sang bình luận với tông giọng phấn khích cùng cực. Tôi hình dung anh ta ngồi sau micro: ốm yếu, thắt cà vạt đen, chỉ mặc sơ mi mà không mặc vest. Anh ta kết lại: “Chúc tất cả quý vị ngủ ngon”.
- Cảm ơn, Marcheret nói.
Murraille kéo tôi tách riêng ra. Hắn day day cánh mũi, đặt một tay lên vai tôi.
- Thật tình… này… Tôi vừa mới nghĩ đến một chuyện. Hẳn cậu sẽ thích cộng tác với tờ báo?
- Ông tin vậy ư?
Tôi hơi ấp úng và kết quả thật nực cười: Ông ti-tin vậy ư? - Tôi rất muốn, phải, một thanh niên như cậu viết cho mục Đời là thế. Trừ trường hợp cậu ghét nghề báo.
- Không hề!
Hắn ngập ngừng, sau đó, lấy giọng thân ái hơn:
- Tôi không muốn làm hại thanh danh của cậu, xét đến tính cách hơi… đặc biệt của tờ báo…
- Tôi không ngại nhúng tay vào đâu, tôi nói với hắn.
- Cậu can đảm đấy.
- Nhưng ông muốn tôi viết gì nào?
- Ồ, tùy cậu lựa chọn: một truyện ngắn, một thời luận, một bài theo dạng “tai nghe mắt thấy”. Cậu không có gì phải vội vàng. Hắn vừa nói rõ từng từ cuối bằng giọng nhấn mạnh khó hiểu vừa nhìn thẳng vào mắt tôi.
- Đồng ý chứ? - Hắn mỉm cười. - Cậu sẽ nhúng tay vào?
- Sao lại không?
Chúng tôi quay lại với những người kia. Marcheret và Sylviane Quimphe nói về một hộp đêm mới mở trên phố Jean-Mermoz. Bố tôi cũng tham gia câu chuyện: ông thích một quán bar Mỹ ở đại lộ Wagram mà chủ nhân là một cựu tay đua xe đạp.
- Ông định nói đến quán Rayon d’Or? Marcheret hỏi ông. - Không, quán đó tên là Fairy-land, bố tôi nói.
- Ông nhầm rồi, mập à! Quán Fairy-land nằm ở phố Fontaine! - Không phải thế, bố tôi nói.
- 47 phố Fontaine. Đi xem nhé!
- Anh nói đúng, Guy ạ, bố tôi thở dài. Anh nói đúng…
- Các anh có biết quán Château-Bagatelle không? Sylviane Quimphe hỏi. Hình như ở đó vui lắm.
- Phố Clichy ấy hả? bố tôi hỏi.
- Không không, Marcheret la lớn, phố Magellan! Ông nhầm với quán Marcel Dieudonné! Ông lẫn lộn mọi thứ! Lần vừa rồi, chúng ta hẹn nhau ở L’ecrin phố Joubert, và ngài đây đợi chúng ta đến khuya ở Cesare Leone, phố Hanovre! Phải không, Jean?
- Việc đó có gì quan trọng đâu, Murraille càu nhàu.
Trong khoảng chừng mười lăm phút, tên các quán rượu và hộp đêm lần lượt được liệt kê như thể cả Paris, nước Pháp và vũ trụ chỉ là một khu phố ăn chơi, một nhà thổ mênh mông lộ thiên.
- Còn anh, anh Alexandre, anh có hay đi chơi không?
- Không.
- Vậy thì, anh bạn thân mến, chúng tôi sẽ cho anh trải nghiệm “những êm dịu của đêm tối Paris”.
Họ uống và tiếp tục gọi ra nhiều địa điểm khác với những cái tên làm tôi choáng ngợp: Armorial, Czardas, Honolulu, Schubert, Gipsys, Montco, L’Athenien, Melody’s, Badinage. Tất cả cùng thao thao bất tuyệt tưởng chừng không dứt nổi. Sylviane Quimphe cởi cúc áo sơ mi, gương mặt của bố tôi, Marcheret và Murraille méo mó, đỏ bầm đến đáng ngại. Tôi vẫn còn nghe thêm vài cái tên: Triolet, Monte-Cristo, Capurro’s, Valencia. Đầu tôi quay cuồng. Ở các xứ thuộc địa - tôi nghĩ - những buổi tối hẳn cũng kéo dài bất tận thế này. Các chủ đồn điền suy nhược thần kinh nghiền ngẫm ký ức và cố xua đi nỗi sợ hãi tóm chặt lấy họ, nỗi sợ hãi rằng họ sẽ chết vào đợt gió mùa tới.
Bố tôi đứng dậy. Ông nói với những người kia rằng ông mệt và có việc phải làm cho xong trong đêm nay.
- Ông lại in bạc giả, phải không, Chalva? Marcheret hỏi, giọng nhão nhoẹt. Anh Alexandre, anh không thấy ông ấy giống một tay làm bạc giả sao?
- Đừng nghe lời anh ta, bố tôi nói với tôi. Ông bắt tay Murraille. - Được rồi, bố tôi thì thào với hắn. Tôi sẽ lo liệu mọi chuyện. - Tôi trông chờ vào ông đấy, Chalva.
Khi ông đến chào tôi, tôi nói:
- Tôi cũng về. Chúng ta có thể đi chung một đoạn đường.
- Rất hân hạnh, thưa anh.
- Anh về bây giờ sao? Sylviane Quimphe hỏi tôi.
- Nếu tôi là anh, Marcheret lên tiếng, tôi sẽ dè chừng ông ấy! Hắn trỏ ngón tay về phía bố tôi.
Murraille tiễn chúng tôi đến tận ngưỡng hiên nhà.
- Tôi trông đợi bài báo của cậu, ông ta nói với tôi. Can đảm lên! Chúng tôi bước đi trong im lặng. Bố tôi có vẻ ngạc nhiên về chuyện tôi cùng ông đi đường Bornage thay vì tiếp tục đi thẳng về lữ quán. Ông lén nhìn tôi. Ông nhận ra tôi chăng? Tôi muốn hỏi ông chuyện đó, nhưng tôi nhớ ra ông rất giỏi lẩn tránh những câu hỏi khó chịu. Chẳng phải đã có lần ông tuyên bố: “Tôi dư sức khiến mười ông thẩm phán phải nản lòng”? Chúng tôi đi qua một trụ đèn. Vài mét sau đó, lại là bóng tối mờ mờ. Những ngôi nhà tôi còn trông thấy rõ dường như đều bỏ hoang. Gió rì rào trong các chòm lá. Có lẽ mười năm qua ông đã quên thậm chí cả sự tồn tại của tôi. Bao nhiêu chuẩn bị và mánh khóe để được đi bên cạnh người đàn ông này… Tôi như thấy lại gian phòng khách ở “Biệt thự Mektoub”, gương mặt Murraille, Marcheret, Sylviane Quimphe và Maud Gallas sau quầy bar, và Grève bước ngang qua khu vườn… Những cử chỉ, những câu nói, những lần cảnh giác, những rình mò, những lo sợ của tôi trong suốt những ngày dài đằng đẵng ấy. Một cảm giác buồn nôn… Tôi phải dừng lại để thở. Bố tôi quay qua nhìn tôi. Lại một trụ đèn nữa mọc lên bên trái, phủ một làn ánh sáng trắng như tuyết lên người ông. Ông đứng im, trơ như hóa đá, và bỗng nhiên tôi suýt chạm vào người ông để chắc rằng đây không phải một ảo ảnh. Khi chúng tôi đi tiếp, tôi hồi tưởng lại những buổi đi dạo ngày xưa của chúng tôi ở Paris. Chúng tôi vẫn sánh vai tản bộ, như đêm nay. Thật ra đó là tất cả những gì chúng tôi cùng làm kể từ khi biết nhau. Bước đi, mà không ai phá vỡ khoảng lặng. Và giờ đây cũng vậy. Sau một khúc quanh, chúng tôi đến trước cánh cổng song sắt của “Le Prieuré”. Tôi nói nhỏ: “Đêm nay thật đẹp, nhỉ?” Ông trả lời hờ hững: “Vâng, quả là một đêm đẹp.” Chúng tôi chỉ cách hàng song sắt chừng vài mét và tôi chờ giây phút ông bắt tay tôi để cáo từ. Sau đó, tôi sẽ thấy ông mất hút trong bóng đêm và tôi sẽ đứng tại chỗ, giữa đường, trong trạng thái ngẩn ngơ, trạng thái của người vừa để vuột mất cơ hội, có lẽ của cả đời mình. - Đấy, ông nói với tôi. Tôi ở chỗ này.
Ông rụt rè chỉ ngôi nhà mà ta nhận ra thấp thoáng ở cuối lối đi. Mái nhà sáng dịu dưới ánh trăng.
- Thế à? Đằng kia ư?
- Đúng thế.
Một thoáng ngượng nghịu giữa chúng tôi. Có lẽ ông muốn tôi hiểu rằng đã đến lúc chia tay nhưng lại thấy tôi còn do dự.
- Có vẻ là một ngôi nhà rất đẹp, tôi nói, làm ra vẻ thực tin như thế. - Quả thế, một ngôi nhà rất đẹp.
Tôi cảm thấy giọng ông thoáng chút bực dọc.
- Ông mới mua ngôi nhà này à?
- Vâng. À mà không! - Ông ấp úng. Ông tựa vào hàng song sắt, không nhúc nhích.
- Ông thuê ngôi nhà này?
Đôi mắt ông ngó sững đôi mắt tôi, làm tôi thấy ngạc nhiên. Ông chưa bao giờ nhìn thẳng mặt ai.
- Vâng, tôi thuê nó.
Ông nói những từ này chỉ vừa đủ để nghe thấy.
- Hẳn ông cho tôi là tọc mạch quá?
- Không hề có chuyện đó, thưa anh!
Ông phác một nụ cười, mà đúng hơn là sự run rẩy của đôi môi, như thể sợ bị đánh, và tôi thấy thương hại ông. Tình cảm mà tôi dành cho ông từ bao lâu nay làm tôi cảm thấy quặn thắt dạ dày.
- Các bạn ông thật dễ mến, tôi nói. Tôi đã có một buổi tối thật tuyệt. - Vậy thì tốt rồi.
Lần này, ông chìa tay cho tôi.
- Tôi phải vào nhà làm việc.
- Việc gì thế?
- Chả có gì thú vị. Công việc kế toán.
- Chúc ông làm việc tốt, tôi thì thào. Hy vọng gặp ông trong những ngày tới đây.
- Rất hân hạnh, thưa anh.
Lúc ông đẩy cánh cổng song sắt, tôi bỗng cảm thấy choáng váng: hay tôi vỗ vai ông và giải thích ngọn ngành nỗi nhọc nhằn mà tôi chuốc lấy để tìm lại được ông. Làm vậy thì ích gì? Ông chậm rãi bước theo lối vào nhà, dáng đi của một người kiệt sức. Ông đứng lại lúc lâu nơi bậc thềm. Nhìn từ xa, bóng dáng ông không còn rõ hình thù. Bóng hình đó là của con người hay của những tạo vật quái gở hiện ra trong những đêm ốm sốt?
Liệu ông có tự hỏi tôi đang làm gì, đang chờ đợi gì, phía sau cánh cổng song sắt?
•••
Cuối cùng, nhờ nhẫn nại bền bỉ, tôi đã biết họ rõ hơn. Vào tháng Bảy này, công việc không níu giữ họ lại Paris và họ có thể “tận hưởng” nông thôn (theo cách nói của Murraille). Tôi trải qua toàn bộ quãng thời gian ấy cùng họ, tôi nghe họ nói chuyện với vẻ ngoan ngoãn cùng sự chăm chú hết mực. Tôi ghi vào những tấm phiếu nhỏ các thông tin thu thập được. Tôi biết rằng lý lịch những cái bóng đó không có gì đặc biệt thú vị, nhưng nếu hôm nay tôi không dựng lên lý lịch ấy thì sau này cũng chẳng có ai khác dụng tâm làm. Đó là bổn phận của tôi, bởi tôi là người đã biết về họ, để đưa họ - dầu chỉ trong giây lát - ra khỏi bóng đêm. Đó là bổn phận của tôi, và đối với tôi, đó cũng là một nhu cầu đích thực.
•••
Murraille. Từ hồi còn rất trẻ, hắn đã giao du, ở quán cà phê Brébant, với một nhóm phóng viên của tờ Buổi sáng. Những người này dìu dắt hắn vào nghề. Năm hai mươi tuổi, làm quản gia, rồi sau đó làm thư ký cho người phụ trách một trang tống tiền. Châm ngôn của người này là: “Không dọa. Chỉ đơn giản là sức ép.” Murraille đi đến nhà các đương sự gom phong bì. Hắn vẫn nhớ những cuộc đón tiếp ít thân thiện của họ. Tuy nhiên, cũng có người tỏ ra thân thiện dịu dàng với hắn và nhờ hắn về nói khéo với ông chủ để lão bớt đòi hỏi. Những người đó có “rất nhiều điều để tự trách
mình”. Sau một thời gian, hắn được đề bạt lên làm biên tập viên, nhưng những bài hắn phải viết đều đơn điệu đến đáng sợ và luôn bắt đầu bằng: “Từ một nguồn đáng tin cậy, chúng tôi biết được Ông X…” hoặc: “Làm sao mà Ông Y…” hoặc: “Có đúng là Ông Z…” Tiếp theo là những “tiết lộ” mà Murraille lấy làm xấu hổ khi là người loan báo. Ông chủ khuyên hắn luôn kết luận bằng một đoạn ngắn có tính luân lý, kiểu như: “Người ác phải trả giá” hoặc bằng cái mà lão gọi là một “tia hy vọng”: “Chúng tôi thành tâm mong rằng Ông X… (hoặc Ông Y…) tìm lại được con đường ngay thẳng. Chúng tôi cũng tin chắc vào điều đó, vì theo Phúc Âm, những người ở trong bóng đêm đều tiến về phía ánh sáng”, v.v. Murraille cảm thấy thoáng buồn mỗi khi nhận lương vào cuối tháng. Vả lại, những văn phòng ở số 30 bis phố Grammont cũng khơi gợi không khí u sầu man mác: giấy dán tường lạt màu, bàn ghế cũ kỹ, ánh sáng dè sẻn. Những thứ đó không có gì gây hứng khởi đối với một chàng trai ở tuổi hắn bấy giờ. Sở dĩ hắn ở lại cái ổ ấy trong ba năm là vì những khoản lợi lộc ra trò. Ông chủ biết cách tỏ ra hào phóng và chia cho Murraille một phần tư lợi nhuận. Con người ấy (trông giống Raymond Poincaré như đúc) vốn giàu xúc cảm. Lão thường chìm đắm trong buồn bã và tâm sự với Murraille rằng lão trở thành kẻ tống tiền vì đồng loại đã làm lão thất vọng. Lão cứ ngỡ rằng họ tốt - nhưng sớm nhận ra sự nhầm lẫn của mình; vậy là lão quyết định liên tục tố cáo những điều ô nhục của họ. Và bắt họ phải TRẢ GIÁ. Một buổi tối, trong một tiệm ăn, lão chết vì chứng nhồi máu. Những lời cuối cùng của lão là “Giá mà bạn biết được!…” Lúc ấy, Murraille hai mươi lăm tuổi. Đối với hắn, đó là giai đoạn khó khăn. Hắn giữ mục điện ảnh và ca vũ nhạc cho vài tờ báo.
Hắn sớm mang tiếng xấu trong giới báo chí: người ta thường gọi hắn là “tấm ván mục”. Hắn đau khổ về điều đó, nhưng tính lười nhác và lối sống dễ dãi khiến hắn không thể nào tu sửa được. Hắn luôn sợ thiếu tiền và cảm giác bất trắc đó thường đẩy hắn vào tình trạng lo âu. Hồi đó, hắn có thể làm bất cứ điều gì, như một kẻ nghiện cần kiếm liều ma túy.
Vào lúc tôi gặp hắn, hắn đang thành công. Cuối cùng hắn cũng điều hành tờ báo của chính mình. “Thời kỳ rối ren mà chúng ta đang trải qua” cho phép hắn thực hiện giấc mơ ấy. Hắn lợi dụng sự hỗn loạn và bóng đêm. Trong cái thế giới mất phương hướng này, hắn cảm thấy hoàn toàn thoải mái. Tôi thường tự hỏi làm sao một người có lối cư xử tao nhã (tất cả những ai từng tiếp cận hắn đều có thể nói với bạn về vẻ thanh lịch tự nhiên
và cái nhìn trong sáng của hắn) và đôi khi hào phóng đến thế, lại có thể không có lấy một chút ngại ngùng nào. Có một điều tôi rất thích nơi hắn: hắn không bao giờ ảo tưởng về bản thân. Một đồng đội ở trung đoàn đã bắn vào hắn, do sơ ý, trong lúc lau chùi súng trường, và viên đạn chỉ nằm cách tim hắn chừng vài centimét. Hắn đã lặp lại với tôi không biết bao nhiêu lần: “Nếu tôi bị kết án tử hình mà không có tình tiết giảm nhẹ, những tay được giao quất cho tôi mười hai viên đạn có thể tiết kiệm được một viên.”
•••
Marcheret xuất thân từ khu phố Temes. Mẹ hắn, vợ góa một viên đại tá, đã cố gắng nuôi nấng hắn theo cách tốt nhất có thể. Người phụ nữ già trước tuổi ấy cảm thấy bị đe dọa bởi thế giới bên ngoài. Bà những mong cậu con trai thành tu sĩ. Làm vậy, ít ra cậu ta cũng sẽ không gặp rủi ro gì. Marcheret, ngay từ năm mười lăm tuổi, chỉ có một ý tưởng: rời bỏ càng sớm càng tốt căn hộ nhỏ xíu của họ ở phố Saussier-Leroy, nơi thống chế Lyautey, từ khung tranh, như đang dò xét hắn với ánh mắt rất đỗi dịu dàng. (Có cả một lời đề tặng trên tấm ảnh: “Tặng đại tá de Marcheret. Thân mến, Lyautey.”) Bà mẹ sớm có nhiều lý do chính đáng để lo ngại: học hành bừa bãi, lười biếng. Bị trường Chaptal đuổi học vì đánh vỡ sọ một bạn cùng lớp. Chăm ghé quán cà phê và những nơi vui chơi. Những ván bi a và poker kéo dài đến tận sáng. Nhu cầu tiền bạc càng lúc càng cấp thiết. Bà mẹ chẳng trách con một lời nào. Kẻ có lỗi không phải con trai bà mà là những người khác, bọn ác ôn, bọn Do Thái. Bà ước sao đứa con cứ ở trong phòng, được che chở… Một chiều tối, Marcheret lảng vảng dọc đại lộ Wagram. Hắn cảm thấy cơn phẫn nộ ấy, cơn phẫn nộ vốn thường xâm chiếm ta thành từng đợt bất chợt khi ta đôi mươi, bởi ta không biết làm gì với đời mình. Xen lẫn nỗi ân hận đã làm buồn lòng mẹ là sự tức giận vì chỉ còn năm mươi francs trong túi… Không thể kéo dài mãi như thế này được. Hắn bước vào rạp chiếu phim. Người ta đang chiếu Trò Chơi Lớn do Pierre Richard Willm thủ vai. Phim kể về một thanh niên lên đường gia nhập binh đoàn lê dương. Marcheret tưởng như thấy hình ảnh của chính mình trên màn ảnh. Hắn ở lại xem hai suất liên tiếp, bị cuốn hút bởi sa mạc, thành phố kiểu Ả Rập và những bộ quân phục. Vào lúc 18 giờ, chàng lính lê dương Guy de
Marcheret đi vào quán cà phê gần nhất và gọi một ly blanc-cassis. Thêm một ly nữa. Ngày hôm sau, hắn sẽ nhập ngũ.
Hai năm sau, đang lúc đóng quân ở Maroc, hắn hay tin mẹ mất. Bà không làm sao quen được với sự vắng mặt của con trai. Ngay khi Marcheret thổ lộ nỗi đau với người bạn cùng lán trại, một người Gruzia tên là Odicharvi, gã này bèn kéo hắn đến một địa điểm ở Bouss-Bir, nửa nhà chứa, nửa quán cà phê của người Maure. Cuối buổi tối, gã nảy ra ý tưởng tuyệt vời khi nâng cốc rồi chỉ về phía Marcheret mà la khống lên: “Hãy uống vì đứa trẻ mồ côi kia!” Gã không sai. Mồ côi, Marcheret bao lâu nay vẫn thế. Và nếu hắn có nhập ngũ thì có lẽ cũng chỉ để tìm lại dấu vết người cha. Nhưng hắn chỉ gặp được nỗi cô đơn, cát và những ảo ảnh trên sa mạc.
Hắn trở về Pháp với một con vẹt và bệnh sốt rét. “Trong những trường hợp như thế, điều tồi tệ là - hắn giải thích với tôi - không ai đón bạn khi tàu đến.” Hắn cảm thấy mình là người thừa. Hắn đã mất cảm giác quen thuộc với toàn bộ ánh sáng và không khí náo nhiệt kia. Hắn sợ băng qua đường, và ở quảng trường Opéra, trong một phút hoảng loạn, hắn phải nhờ một viên cảnh sát nắm tay dắt sang vỉa hè đối diện. Cuối cùng, hắn may mắn gặp được một cựu binh lê dương, giống như hắn, quản lý một quán bar ở phố d’Armaille. Họ cùng nhau ôn lại những kỷ niệm cũ. Người này cho Marcheret ăn, ở và nuôi luôn con vẹt, khiến hắn phần nào lấy lại hứng thú với cuộc sống. Phụ nữ ưa thích hắn. Đó là thời kỳ - xa xưa lắm rồi - mà lính lê dương còn làm trái tim phụ nữ loạn nhịp. Một nữ bá tước Hungary, vợ góa một nhà công nghiệp lớn, một nữ vũ công quán Tabarin - nói tóm lại là “những cô tóc vàng” theo lời Marcheret - chết mê chết mệt chàng quân nhân am tường Bắc Phi và mang trong mình đầy hoài niệm, chàng quân nhân bòn rút bao lợi lộc vật chất từ những thổn thức của họ. Thường thường, do ý thức nghề nghiệp, hắn xuất hiện tại các hộp đêm trong bộ quân phục cũ. Một hoạt náo viên, có thể nói như thế.
•••
Maud Gallas. Tôi không có nhiều thông tin về mụ. Mụ từng bắt đầu sự nghiệp làm ca sĩ - một trải nghiệm không có ngày mai. Marcheret quả quyết với tôi rằng mụ từng là quản lý của một hộp đêm ở khu Plaine Monceau
ẳ
với đám khách hàng toàn là phụ nữ. Còn Murraille thì thậm chí khẳng định, sau một vụ chứa chấp đồ ăn cắp, mụ bị cấm lưu trú trong tỉnh Seine. Một trong những người bạn của mụ đã mua lại Le Clos-Foucré từ nhà Beausire và mụ điều hành lữ quán ấy, nhờ người bảo trợ giàu có kia.
•••
Annie Murraille hai mươi hai tuổi. Một cô gái tóc vàng hoe, da trắng muốt. Có phải cô thực sự là cháu gái của Murraille không? Tôi chưa bao giờ xác minh được chuyện đó. Cô muốn tạo một sự nghiệp lớn trong ngành điện ảnh và mơ được thấy tên mình “ghi bằng các con chữ chiếu sáng”. Sau vài vai nhỏ, cô thủ vai chính trong Đêm bố ráp, một phim ngày nay đã rơi vào quên lãng. Tôi cho rằng cô đính hôn với Marcheret vì hắn là bạn thân nhất của Murraille. Với người chú ấy (có đúng thật không?) cô dành cho tình cảm trìu mến vô hạn. Nếu có ai đó còn nhớ đến Annie Murraille, có lẽ họ vẫn giữ lại được hình ảnh một nữ diễn viên kém may mắn nhưng làm người ta xúc động… Cô muốn tận hưởng cuộc sống…
Tôi đã biết rõ hơn về Sylviane Quimphe. Xuất thân khiêm tốn. Bố ả làm chân gác đêm trong những nhà máy Samson cũ. Tuổi niên thiếu của ả trôi qua trong một hình tứ giác được giới hạn ở phía Bắc bởi đại lộ Daumesnil, ở phía Nam bởi các bờ kè Râpée và Bercy. Quang cảnh nơi ấy chẳng lôi cuốn được mấy người đến dạo bộ. Ở vài chỗ, bạn tưởng như đi lạc tận một tỉnh nhỏ hẻo lánh, và nếu đi dọc sông Seine, bạn sẽ có cảm giác phát hiện được một bến cảng bỏ phế. Đoạn tàu điện trên cao qua cầu Bercy và những dãy nhà xác làm tăng thêm vẻ u buồn cố hữu nơi ấy. Trong bối cảnh khó coi đó, vẫn có một khu vực đặc biệt thu hút những giấc mơ: Ga Lyon. Sylviane Quimphe thường hay mắc cạn trước nhà ga ấy. Năm mười sáu tuổi, ả mò mẫm từng ngóc ngách nhỏ nhất ở đây. Đặc biệt là sân ga khởi hành của các tuyến đường chính. Các từ “Công ty quốc tế toa giường nằm” từng làm đôi má ả ửng hồng. Sau đó, trên đường về nhà, phố Corbeau, ả lặp đi lặp lại tên các thành phố mà có lẽ ả sẽ không bao giờ được biết. Bordighera-Rimini-Vienne-Stamboul. Trước tòa nhà, có một công viên nhỏ nơi mà cứ mỗi lần đêm buông lại đọng lại tất cả nỗi buồn phiền và vẻ đẹp sầu não của quận 12. Ả ngồi xuống một băng ghế. Tại sao
Ả
không bước hú họa lên một toa tàu? Ả đã quyết định không trở về nhà. Vả lại, bố ả thường vắng mặt suốt đêm. Ả tha hồ hành động. Từ đại lộ Daumesnil, ả lướt đến một mê cung các con hẻm nhỏ mà người ta gọi là “Khu phố Tàu” (liệu giờ đây nó còn tồn tại? Ở đó, những nhóm di dân châu Á đã mở những quán bar nhớp nhúa, những tiệm ăn nhỏ và - có vẻ như - nhiều tiệm hút thuốc phiện). Đám nhân loại tạp nham mà người ta bắt gặp quanh các nhà ga lặn ngụp trong cái biệt khu độc hại ấy như trong một bãi lầy. Ả tìm được điều mình đến đây để tìm: một cựu nhân viên hãng Cook - dẻo mồm, vóc dáng khá, sống lay lắt bằng vài trò buôn bán bất chính -, hắn có ngay những dự án cụ thể liên quan đến tương lai cô gái trẻ măng kia. Ả muốn đi du lịch chăng? Sẽ sắp xếp được thôi. Người anh em họ của hắn, vừa hay, là kiểm soát viên trên các toa giường nằm. Hai gã đàn ông đưa Sylviane một cặp vé khứ hồi Paris-Milan. Nhưng lúc khởi hành, hai gã giới thiệu với ả một nhạc công béo mập hồng hào mà trong lượt đi ả phải thỏa mãn những ý thích thất thường rắc rối. Và ả thực hiện hành trình quay về với một nhà công nghiệp Bỉ. Công việc mại dâm lưu động ấy đem lại rất nhiều tiền vì hai gã anh em họ kia đóng vai kẻ mách mối một cách tuyệt diệu. Việc một trong hai gã là nhân viên toa giường nằm làm mọi thứ trở nên đơn giản: hắn tìm được khách hàng trong chuyến đi và Sylviane Quimphe còn nhớ, trong một chuyến Paris-Zurich, ả đã tiếp liền một mạch tám gã đàn ông trong khoang tàu đơn của mình. Lúc đó, ả chưa đến hai mươi tuổi. Nhưng cũng phải tin vào phép mầu. Ngoài hành lang của một chuyến tàu, giữa Bâle và La Chaux-de-Fonds, ả làm quen với Jean-Roger Hatmer. Chàng thanh niên với cái nhìn u buồn ấy xuất thân từ một gia đình nổi tiếng trong ngành kinh doanh đường và vải. Chàng ta vừa thừa kế một di sản lớn và không biết dùng nó làm gì. Kể cả cuộc đời chàng ta cũng vậy. Chàng ta tìm được nơi Sylviane Quimphe một lẽ sống và ân cần sùng kính ả. Trong bốn tháng chung sống, chàng ta chưa bao giờ cho phép mình suồng sã với ả. Mỗi Chủ nhật, chàng ta biếu ả một chiếc hòm nhỏ đầy ắp nữ trang và tiền giấy, và nói bằng giọng trầm đục: “Để phòng xa.” Chàng ta muốn rằng sau này, ả sẽ không “thiếu thốn gì”. Hatmer, thường mặc đồ màu đen và đeo kính viền thép, có tính kín đáo, khiêm nhường và lòng nhân hậu mà đôi khi ta vẫn thấy ở những người thư ký già. Chàng ta rất ưa thích các loài bướm và cố gắng chia sẻ đam mê ấy với Sylviane Quimphe nhưng nhanh chóng nhận ra điều đó nhàm chán với ả.
Một hôm, chàng ta viết cho Sylviane mấy chữ: “Tôi sắp phải ra trước hội đồng gia đình và chắc chắn họ sẽ nhốt tôi vào một dưỡng đường. Chúng ta sẽ không thể gặp nhau nữa. Hẵng còn một bức tranh nhỏ của Tintoret trên bức tường bên trái trong phòng khách. Hãy lấy nó. Hãy bán đi. Để phòng xa.” Từ đó, ả không còn nhận được tin chàng ta. Nhờ chàng thanh niên biết lo xa ấy, ả thoát khỏi mọi lo toan vật chất trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Ả còn trải qua nhiều cuộc phiêu lưu nữa, nhưng bỗng dưng tôi cảm thấy thoái chí.
Murraille, Marcheret, Maud Gallas, Sylviane Quimphe… Tôi đưa phả hệ của họ ra đây mà không lấy gì làm vui vẻ. Cũng không phải để cho ra chất tiểu thuyết, vì có chút tưởng tượng nào đâu. Tôi quan tâm đến những kẻ bị tước mất vị trí xã hội, những kẻ sống ngoài lề ấy, để qua họ, tìm lại được hình ảnh khó nắm bắt của bố tôi. Tôi hầu như không biết gì về ông. Nhưng tôi sẽ dựng ra.
•••
Tôi gặp ông lần đầu tiên vào năm mười bảy tuổi. Thầy tổng giám thị trường trung học Saint-Antoine, ở Bordeaux, đến báo tôi biết có người chờ tôi ở phòng khách. Một người lạ, nước da ngăm ngăm, mặc bộ đồ flanen sẫm màu. Ông đứng dậy khi nhìn thấy tôi.
- Tôi là cha của cậu…
Chúng tôi gặp lại nhau bên ngoài nhà trường, một chiều tháng Bảy cuối năm học.
- Có vẻ như cậu đã đỗ tú tài?
Ông mỉm cười với tôi. Tôi liếc nhìn lần cuối những bức tường vàng quạch của khu nội trú, nơi tôi chết gí suốt tám năm ròng rã. Sục sạo trong những kỷ niệm xa xưa hơn, tôi còn tìm thấy gì nữa? Một người đàn bà tóc xám, người mà ông đã tin cẩn phó thác tôi. Trước chiến tranh, người phụ nữ này phụ trách quầy gửi áo khoác của Frolic’s (một quán bar, phố Grammont), rồi lui về sống ở Libourne. Tôi lớn lên ở đó, tại nhà bà.
Và sau đó là trường trung học nội trú, ở Bordeaux.
Trời mưa. Bố tôi và tôi bước đi bên nhau, không nói một lời, cho đến bờ kè Chartrons, nơi gia đình Pessac, những người đại diện của tôi, cư ngụ. (Họ thuộc giới quý tộc kinh doanh rượu vang và cognac, mà tôi chỉ mong ước sao cho sớm suy tàn.) Những buổi chiều sống ở nhà họ là những buổi chiều buồn chán nhất đời tôi, và tôi sẽ không nói đến.
Chúng tôi leo lên cái cầu thang đồ sộ. Cô hầu gái ra mở cửa. Tôi chạy đến chỗ kho chứa đồ, nơi tôi đã xin phép họ để lại một chiếc va li đầy sách (tiểu thuyết của Bourget, Marcel Prévost, hay Duvernois, bị nghiêm cấm ở trường). Bỗng tôi nghe ông Pessac xẵng giọng: “Ông làm gì ở đây?” Ông ta nói với bố tôi. Thấy tôi xách chiếc va li, ông ta cau mày: “Cậu đi đấy à? Nhưng ông đây là ai?” Tôi ngập ngừng, rồi ấp úng: “BỐ CHÁU!” Rõ ràng ông ta không tin tôi. Ngờ vực: “Nếu tôi hiểu đúng, cậu bỏ đi như một tên trộm?” Câu nói đó khắc sâu vào ký ức của tôi, vì quả thật, chúng tôi trông như hai tên trộm bị bắt quả tang. Bố tôi, trước mặt người đàn ông nhỏ bé với hàng ria mép và chiếc vest nâu mặc trong nhà, vẫn im lặng và gặm điếu xì gà để che giấu sự bối rối. Chính tôi, tôi cũng chỉ nghĩ đến một điều: chuồn đi càng nhanh càng tốt. Ông Pessac quay lại phía bố tôi và tò mò dò xét ông. Vào lúc đó, bà vợ ông ta xuất hiện. Sau đó là cô con gái và đứa con trai lớn. Họ đứng đó, im lặng quan sát chúng tôi, và tôi có cảm giác như chúng tôi đã bẻ khóa xâm nhập vào chốn dinh thự tư sản này. Khi bố tôi để rơi tàn xì gà lên tấm thảm, tôi nhận thấy nét khinh bỉ khoái trá của họ. Cô con gái phì cười. Thằng anh, một thằng nhãi con mặt đầy mụn nhưng ra vẻ “lịch sự kiểu ăng lê” (điều phổ biến ở Bordeaux), cất cao giọng: “Có lẽ ông đây cần một cái gạt tàn?… - Nào, François-Marie, bà Pessac nói nhỏ. Đừng thô lỗ như thế.” Bà ta vừa nhấn mạnh các từ cuối vừa nhìn bố tôi chằm chằm, như để bố tôi hiểu rằng cái hình dung từ ấy là nhắm vào ông. Ông Pessac vẫn giữ vẻ phớt tỉnh kiêu ngạo. Tôi tin rằng điều làm họ khó chịu là chiếc sơ mi màu xanh lá cây nhạt bố tôi mặc. Đối diện sự thù địch của bốn con người ấy, ông trông giống như một con bướm to dính bẫy. Ông mân mê điếu xì gà và không biết dụi tắt nó ở đâu. Ông lùi về phía cửa ra. Mấy người kia đứng yên và không chút liêm sỉ tỏ ra thích thú với sự lúng túng của bố tôi. Bỗng dưng, tôi cảm thấy cảm giác gì đó như sự trìu mến đối với con người mà tôi vừa quen biết kia. Tôi bước đến gần ông và nói lớn: “Thưa ông, xin ông cho phép tôi ôm hôn ông.” Nói
xong, tôi tước điếu thuốc từ tay ông và cần mẫn gí nát nó trên chiếc bàn gỗ dát mà bà Pessac rất quý. Tôi kéo tay áo bố tôi.
- Như thế đủ rồi, tôi bảo ông. Chúng ta đi thôi.
Chúng tôi qua khách sạn Splendid để lấy hành lý của ông. Một chiếc taxi đưa chúng tôi đến ga Saint-Jean. Trên tàu, chúng tôi thử nói chuyện với nhau. Ông giải thích với tôi rằng “chuyện làm ăn” của ông đã ngăn cản ông liên lạc với tôi, nhưng kể từ bây giờ, chúng tôi sẽ cùng sống với nhau ở Paris và không bao giờ rời nhau nữa. Tôi lúng búng mấy tiếng cảm ơn. “Thật tình, ông đột ngột nói với tôi, cậu hẳn đã đau khổ nhiều…” Ông đề nghị tôi đừng gọi ông là “Ông” nữa. Một giờ trôi qua trong im lặng hoàn toàn và tôi khước từ lời mời theo ông qua toa hàng ăn. Lợi dụng lúc ông vắng mặt, tôi lục lọi trong chiếc cặp màu đen ông để trên ghế. Bên trong chỉ có một quyển hộ chiếu Nansen[3]. Ít ra thì ông mang cùng họ với tôi. Với hai cái tên: Chalva, Henri. Ông sinh ra ở Alexandrie, vào thời - tôi nghĩ thế - thành phố này vẫn còn ngời sáng một cách đặc biệt.
Khi quay lại khoang tàu, ông đưa cho tôi một cái bánh ga tô hạnh nhân - cử chỉ làm tôi xúc động - và hỏi phải chăng tôi đã là “cậu tú” (ông phát âm “cậu tú” trên đầu môi, như thể hai từ ấy khiến ông thấy kính trọng đến sợ hãi. Trước câu trả lời khẳng định của tôi, ông trịnh trọng gật đầu. Tôi đánh liều hỏi ông vài câu: tại sao ông đến tìm tôi ở Bordeaux? Làm sao ông lần ra dấu vết của tôi? Câu trả lời của ông chỉ là những cử chỉ thoái thác hoặc những mẫu câu như “Tôi sẽ giải thích cho cậu…”, “Rồi cậu sẽ hiểu…”, “Cuộc sống, cậu biết đấy…” Sau đó, ông thở dài và tỏ ra trầm tư.
Ga Paris-Austerlitz. Ông do dự một lát trước khi đưa địa chỉ cho tài xế taxi. (Sau đó, có lần taxi đưa chúng tôi về bờ kè Grenelle, trong khi chúng tôi ngụ tại đại lộ Kellermann. Chúng tôi thay đổi địa chỉ thường xuyên đến nỗi chính chúng tôi cũng nhầm lẫn, và luôn nhận ra sự nhầm lẫn đó khi đã quá muộn.) Còn hôm ấy, nơi cần đến là: công viên Villaret-de-Joyeuse. Tôi tưởng tượng ra một khu vườn với tiếng chim líu lo quyện lẫn tiếng đài phun nước róc rách. Không. Một hẻm cụt, hai bên là những tòa nhà sang trọng. Căn hộ nằm ở tầng trên cùng và nhìn ra phố qua những cửa sổ kỳ dị, hình mắt bò. Ba phòng, trần thấp tè. Một cái bàn lớn và hai ghế bành bằng da đã sờn là tất cả đồ đạc trong “phòng khách”. Tường dán giấy in những bông hồng nổi bật, phỏng theo loại vải trang trí vùng Jouy. Một đèn chùm
lớn bằng đồng (nhưng tôi không chắc chắn lắm về phần mô tả của mình: tôi không thấy rõ sự khác biệt giữa căn hộ ở công viên Villaret-de-Joyeuse với căn hộ ở đại lộ Félix-Faure, mà chúng tôi thuê lại từ một cặp đôi sống bằng lợi tức. Cả hai căn hộ cùng phảng phất mùi hoa cỏ úa). Bố tôi chỉ cho tôi căn phòng bé nhất. Một tấm nệm, trải ngay dưới sàn, “Tôi xin lỗi về sự thiếu thốn tiện nghi này, ông nói. Vả lại, chúng ta không ở đây lâu. Ngủ ngon nhé.” Tôi nghe tiếng ông bước tới bước lui trong nhiều tiếng đồng hồ. Cuộc sống chung của chúng tôi bắt đầu như thế.
Thời gian đầu, ông dành cho tôi thái độ nhã nhặn và tôn kính mà hiếm đứa con trai nào có được từ cha mình. Mỗi lần ông nói với tôi, tôi lại có cảm tưởng như ông gọt giũa ngôn từ kỹ lưỡng, nhưng kết quả thì thảm hại. Ông dùng những mẫu câu càng lúc càng rối rắm, lạc hướng trong những lời quanh co, khi nào cũng mang vẻ đang xin lỗi hoặc rào đón trước một lời trách móc. Ông mang bữa điểm tâm đến tận giường cho tôi, với những cử chỉ trịnh trọng lạc điệu trong một khung cảnh như thế này: giấy dán tường trong phòng tôi rách lỗ chỗ, bóng đèn không chao treo lủng lẳng trên trần nhà, và khi ông kéo rèm cửa, thanh treo màn thường rơi xuống. Một hôm, ông gọi thẳng tên tôi và tỏ ra cực kỳ bối rối. Do đâu tôi có được sự tôn trọng ấy? Tôi hiểu rằng ấy là nhờ danh hiệu “cậu tú” khi chính ông viết cho Bordeaux yêu cầu người ta gửi cho tôi tờ giấy chứng nhận rằng tôi đã đỗ văn bằng đó. Ngay khi nhận được, ông cho đóng khung và treo giữa hai “cửa sổ” của “phòng khách”. Tôi nhận ra ông còn giữ một bản sao trong ví. Tình cờ một lần đi dạo đêm, ông đã trình tờ giấy ấy cho hai viên cảnh sát khi họ yêu cầu chúng tôi giấy tờ tùy thân, và khi thấy hai viên cảnh sát bối rối trước quyển hộ chiếu Nansen, ông lặp đi lặp lại năm hay sáu lần với họ rằng “con trai tôi có bằng tú tài đấy…” Sau bữa tối (bố tôi thường nấu một món mà ông đặt tên là “cơm Ai Cập”), ông thường châm xì gà, thỉnh thoảng lo lắng liếc nhìn tấm bằng của tôi, rồi dần tỏ ra chán nản. “Công việc” của ông - theo như ông giải thích - gây cho ông nhiều phiền toái. Ông, vốn tính cương trường, ngay từ tấm bé đã đương đầu với những “thực tế khắc nghiệt của cuộc sống”, lại đang cảm thấy “mệt mỏi” và cách ông nói: “Tôi nản quá…” gây ấn tượng mạnh lên tôi. Kế đó, ông ngẩng đầu lên: “Nhưng cậu, cậu có cả cuộc đời trước mặt! - Tôi đồng ý, một cách lễ phép… - Nhất là với cái bằng TÚ TÀI của cậu… Giá mà tôi có may mắn đỗ được cái bằng này… - giọng ông nghẹn lại -, bằng tú tài, vẫn là một sự
chứng nhận…” Giờ đây, tôi vẫn như nghe thấy câu nói ngắn ngủi ấy. Câu nói làm tôi xúc động như một khúc nhạc thời quá khứ.
Ít nhất đã một tuần trôi qua mà tôi vẫn không biết công việc của bố tôi là gì. Tôi nghe thấy ông đi, lúc sáng sớm, và chỉ về để kịp nấu bữa tối. Từ một cái túi bằng vải tráng sáp màu đen, ông lôi ra đủ loại thực phẩm - ớt, gạo, các loại gia vị, thịt cừu, mỡ lạn, mứt trái cây, mì hạt -, ông thắt một chiếc tạp dề quanh hông, và sau khi lột hết mấy chiếc nhẫn ra, ông trộn lẫn các thứ trong túi trong một cái chảo. Sau đó, ông ngồi xuống, đối diện tấm bằng, mời tôi vào bàn và chúng tôi ăn.
Cuối cùng, một chiều thứ Năm, ông đề nghị tôi đi cùng. Ông sắp bán một con tem “rất hiếm”, và viễn cảnh này làm ông bồn chồn. Chúng tôi xuôi theo đại lộ Grande-Armée. Rồi đại lộ Champs-Élysées. Nhiều lần, ông cho tôi xem con tem ấy (mà ông đã bọc kín bằng giấy bóng). Theo ông, đó là mẫu hàng “độc bản” của Kuwait, được đặt tên là “Thủ lĩnh Hồi giáo Rachid và những góc nhìn khác nhau”. Chúng tôi đến khu Marigny. Khoảng không gian nằm giữa nhà hát và đại lộ Gabriel này là khu chợ tem. (Không biết bây giờ còn không?) Nhiều người tụ tập lại thành từng nhóm nhỏ, nói khẽ tiếng, mở những cái cặp nhỏ, cúi nhìn để xem xét bên trong, lật các quyển sổ, vung những chiếc kính lúp và những cái nhíp. Sự náo nhiệt gian giảo ấy, cùng những con người mang dáng dấp nhà phẫu thuật và kẻ mưu phản làm tôi hết sức lo ngại. Chẳng bao lâu sau, bố tôi đã nhập vào một nhóm còn ken đặc hơn các nhóm kia. Chừng mươi người sấn sổ lao vào ông. Họ tranh cãi để biết liệu con tem này là hàng thật hay không. Bố tôi, bất ngờ với các câu hỏi dồn dập từ mọi phía, không thốt lên được một lời. Làm sao con tem “Thủ lĩnh Hồi giáo Rachid” của ông lại màu xám ô liu thay vì màu nâu son? Có phải nó thực sự có khía răng cưa cỡ 13-14? Nó có “in đè” không? Có những đoạn chỉ lụa chống giả không? Nó có thuộc xê ri “cùng đợt phát hành nhưng trang trí khác nhau” không? Đã có ai xác minh “độ bào mòn” của nó chưa? Giọng điệu trở nên gay gắt. Người ta cho bố tôi là “kẻ bịp bợm” và “tay lừa đảo”. Người ta kết án ông “muốn tuồn cái đồ vứt đi, thậm chí không được liệt kê trong danh mục Champion”. Một trong những kẻ hung hăng ấy nắm lấy cổ áo bố tôi và thẳng cánh tát ông. Một tên khác đấm ông tới tấp. Chúng hẳn sẽ tự ý hành hình bố tôi chỉ vì một con tem (ôi, tâm địa con người!) và, không chịu nổi viễn cảnh ấy, cuối cùng tôi đã can thiệp. Tình cờ, tôi cầm một chiếc ô trên
tay. Tôi phang vài cú hú họa và lợi dụng hiệu quả của sự bất ngờ, dứt được bố tôi khỏi cái bầy-thú-sưu-tầm-tem ấy. Chúng tôi chạy đến tận phố Faubourg Saint-Honoré.
Những ngày sau đó, cho rằng tôi đã cứu mạng ông, bố tôi giải thích cặn kẽ cho tôi cách thức làm ăn của ông và đề nghị tôi phụ giúp. Ông có một đám khách hàng gồm chừng hai mươi người lập dị, rải rác khắp nước Pháp mà ông có được liên lạc nhờ những tạp chí chuyên ngành. Đó là những kẻ cuồng sưu tầm, tâm trí mụ mị bởi đủ loại đồ vật: danh bạ điện thoại cũ, áo nịt ngực, ống hút shisha, bưu thiếp, đai trinh tiết, máy hát, đèn axêtilen, giày moca Iowa, hài khiêu vũ… Ông vét hết Paris để tìm những của ấy và gửi bưu phẩm cho những người quan tâm. Ông ép họ trả trước những khoản lớn không tương xứng chút nào với giá trị thật của món hàng. Một trong những khách hàng trả ông 100.000 francs cho mỗi quyển chỉ dẫn chạy tàu ở Chaix trước chiến tranh. Một người khác ứng cho ông 300.000 francs, với điều kiện ƯU TIÊN cho người đó mọi tượng bán thân và hình chạm khắc của Waldeck-Rousseau mà ông tìm được… Bố tôi, với ý muốn đảm bảo một số lượng khách hàng lớn hơn nữa trong đám người điên rồ ấy, dự tính gom họ lại trong một “Liên minh các nhà sưu tầm Pháp”, tự phong cho mình chức chủ tịch kiêm thủ quỹ và đòi hỏi những khoản đóng góp lớn. Các nhà sưu tầm tem đã làm ông thất vọng não nề. Ông hiểu ra rằng không thể lạm dụng họ. Đó là những nhà sưu tầm có cái đầu lạnh, quỷ quyệt, vô liêm sỉ, tàn nhẫn (người ta khó mà hình dung ra được tính thủ đoạn và sự hung ác mà loài sinh vật quá đỗi tỉ mỉ ấy che giấu. Không biết bao nhiêu tội ác đã bị phạm phải chỉ bởi một con tem “in đè nâu-vàng” của Sierra Leone hay một con tem “có dấu cắt” của Nhật Bản). Ông không muốn lặp lại chuyến phiêu lưu buồn thảm ở khu Marigny, và vẫn còn cảm thấy lòng tự ái bị thương tổn. Thoạt tiên, ông dùng tôi như một chân chạy vặt. Tôi muốn chứng tỏ óc chủ động bằng cách nói với ông về một thị trường tiêu thụ mà cho tới lúc đó, ông vẫn chưa nghĩ đến: những tay mê sách. Ông thích ý tưởng ấy, và cho tôi tự do hành động. Tôi vẫn chưa hiểu chút gì về cuộc sống, nhưng ở Bordeaux, tôi đã tụng kỹ bộ lịch sử văn học của Lanson. Tất cả các nhà văn Pháp, từ những người tầm phào nhất đến những tác giả khó nhằn nhất đều quen thuộc với tôi. Mức độ hiểu biết sâu sắc lạ đời ấy giúp gì được cho tôi nếu không phải là đưa tôi vào việc buôn bán sách? Tôi nhanh chóng nhận ra rằng rất khó tậu được những ấn phẩm
hiếm với giá rẻ. Tôi chỉ tìm được những sản phẩm loại hai: những “bản gốc” của Vautel, Fernand Gregh hoặc Eugène Demolder… Tình cờ, trong một lần đi tìm hàng ở hẻm Jouffroy, với 3,50 francs tôi mua được một bản Matière et Mémoire[4]. Ở trang lót, người ta đọc thấy lời đề tặng lạ lùng của Bergson dành cho Jean Jaures: “Khi nào bạn thôi gọi tôi là cô?” Hai chuyên gia chính thức xác nhận nét chữ của văn hào và tôi bán lại món hàng hiếm ấy với giá 100.000 francs cho một tay chơi.
Phấn khởi với thành công đầu tiên ấy, tôi quyết định tự làm những lời đề tặng giả, mỗi cái sẽ tiết lộ một phương diện bất ngờ của tác giả này hay tác giả khác. Những tác giả mà tôi bắt chước chữ viết dễ dàng nhất là Charles Maurras và Maurice Barrès. Tôi đã bán một cuốn của Maurras với giá 500.000 francs nhờ mẩu câu ngắn ngủi này: “Dành tặng Léon Blum, để tỏ lòng ngưỡng mộ. Hay chúng ta dùng bữa trưa với nhau nhỉ? Cuộc đời ngắn ngủi làm sao… Maurras.” Một tập trong bộ Les déracinés[5] đạt mức 700.000 francs. Nó được đề tặng đại úy Dreyfus: “Hãy can đảm lên, Alfred. Trìu mến, Maurice.” Nhưng tôi hiểu rằng mối quan tâm lớn nhất của khách hàng là đời tư của các nhà văn. Vậy là các lời đề tặng của tôi bắt đầu có nét dung tục và giá cả theo đó tăng lên. Tôi chọn các nhà văn đương đại. Do một số người còn sống, tôi không nói nhiều thêm nữa để tránh bị truy tố trước pháp luật. Dẫu sao đi nữa, tôi đã kiếm bộn tiền trên lưng họ.
Chúng tôi buôn bán bất chính như thế đó. Chúng tôi ăn nên làm ra vì biết khai thác những người có đầu óc không bình thường. Hồi tưởng lại những thủ đoạn của chúng tôi, tôi cảm thấy cay đắng. Ước gì đời tôi khởi đầu với một quan điểm rõ nét hơn. Nhưng một thiếu niên bị bỏ mặc một mình giữa Paris thì có thể làm được gì? Đứa bé bất hạnh đó có thể làm gì?
Tuy dành phần lớn vốn liếng của chúng tôi để mua sơ mi và cà vạt theo một cái gu đáng bàn cãi, bố tôi cũng cố gắng làm sinh lợi đồng vốn bằng những giao dịch chứng khoán. Tôi thường thấy ông đổ sụp xuống một chiếc ghế bành, hai tay ôm đầy những tập cổ phiếu… Ông chất chúng thành đống trong hành lang các căn hộ liên tục thay đổi của chúng tôi, tham khảo, chọn lọc, lập bản kiểm kê. Cuối cùng, tôi cũng hiểu đó là những cổ phiếu được phát hành bởi những công ty phá sản hoặc đã dẹp tiệm từ lâu. Ông tin chắc như đinh đóng cột là vẫn có thể sử dụng chúng và tung chúng trở lại thị trường. “Đợi đến khi chúng ta được định giá trên thị trường chứng khoán…” ông nói với tôi, vẻ ma lanh.
Tôi nhớ chúng tôi đã mua một chiếc xe hơi cũ. Với chiếc Talbot ấy, chúng tôi dạo đêm khắp Paris. Trước mỗi lần khởi hành, chúng tôi đều cử hành lễ bốc thăm. Chừng hai mươi mẩu giấy nhỏ được rải ra trên chiếc bàn khập khiễng trong phòng khách. Chúng tôi chọn ngẫu nhiên một mẩu giấy, trên đó ghi lộ trình của chúng tôi. Batignolles-Grenelle. Auteuil Picpus. Passy-La Villette. Hoặc chúng tôi lăn bánh đến một trong những khu phố có tên kỳ bí: Les Épinettes, Maison-Blanche, Bel-Air, l’Amérique, la Glacière, Plaisance, la Petite-Pologne… Chỉ cần tôi giậm gót chân lên một vài điểm nhạy cảm nào đó của Paris, những kỷ niệm sẽ tóe ra như chùm pháo hoa. Quảng trường Italie ấy, chẳng hạn, nơi chúng tôi dừng chân trong một lần dạo chơi… Ở đó có một quán cà phê, với bảng hiệu Clair de Lune. Vào khoảng một giờ sáng, đủ loại nghệ sĩ tạp kỹ hết thời tụ về đó biểu diễn: những tay chơi phong cầm từ thời tiền chiến, những vũ công tango tóc bạc gắng tìm lại tuổi trẻ trên bục sân khấu bằng các động tác uể oải, những mụ già trát phấn hát các tác phẩm của Fréhel hoặc Suzy Solidor. Vài tay diễn trò hội chợ tuyệt vọng đảm đương các tiết mục giữa chương trình. Dàn nhạc gồm mấy ông tóc bóng mượt, mặc dạ phục. Đó là một trong những nơi ưa thích của bố tôi, ông luôn lấy làm vô cùng thích thú khi ngắm nhìn những bóng ma ấy. Tôi chưa bao giờ hiểu được tại sao.
Và cũng đừng quên nhà chứa chui số 73 đại lộ Reille, bên rìa công viên Montsouris. Ở đó, bố tôi có những cuộc chuyện trò thủ thỉ bất tận với quản lý nhà chứa, một mụ tóc vàng hoe có khuôn mặt búp bê. Mụ ta đến từ Alexandrie, giống bố tôi, và họ cùng thở dài, ôn lại những buổi tối ở Sidi Bishr, quán bar Pastroudis, và bao nhiêu thứ nay đã không còn nữa… Thường chúng tôi ở lại mảnh đất Ai Cập trong quận 14 ấy cho đến sáng. Nhưng có những chặng dừng chân khác kêu gọi những bước chân lang thang (hay trốn chạy?) của chúng tôi. Đại lộ Murat, một tiệm ăn đêm, mất hút giữa các khối nhà. Phòng ăn luôn vắng hoe và, trên một bức tường, tôi không biết với lý do nào, treo một bức ảnh lớn của Daniel-Rops. Giữa các cửa ô Maillot và Champerret, là một quán bar “giả Mỹ”, nơi tập hợp một băng nhà cái đua ngựa. Và, khi phiêu lưu đến vùng cực Bắc Paris - vùng đất của các bến bốc xếp hàng lên xuống tàu và lò giết mổ - chúng tôi thường ghé lại quán Boeuf Bleu, quảng trường Joinville, bên bờ kênh Ourcq. Bố tôi đặc biệt yêu thích chốn này, vì nó gợi lại cho ông khu phố Saint-André, ở Anvers, nơi ngày xưa ông từng ở. Chúng tôi đi về hướng
Đông Nam. Các đại lộ ở đó đều rợp bóng cây và là dấu hiệu báo trước sắp đến rừng Vincennes. Chúng tôi dừng lại ở Chez Raimo, quảng trường Daumesnil, hãy còn mở cửa lúc đêm hôm khuya khoắt. Một tiệm “bánh ngọt-kem” u buồn, như vẫn còn gặp ở các khu nghỉ dưỡng khoáng nóng và - trừ chúng tôi - có vẻ không ai biết đến. Nhiều địa danh khác hiện ra trong ký ức tôi, từng đợt như sóng dâng. Những địa chỉ khác nhau của chúng tôi: số 65 đại lộ Kellermann, nhìn ra nghĩa trang Gentilly; căn hộ phố Regard, nơi người thuê trước bỏ quên một hộp nhạc mà sau đó, tôi bán được 30.000 francs. Tòa nhà kiểu tư sản ở đại lộ Félix-Faure, với người gác cổng luôn chào đón chúng tôi bằng mấy từ này: “Những người Do Thái đây rồi!” Hay một buổi tối, trong một căn hộ ba phòng tả tơi, bờ kè Grenelle, gần Trường đua xe đạp Mùa đông. Không có điện. Tì khuỷu tay vào cửa sổ, chúng tôi dõi theo các chuyến tàu điện trên cao qua lại. Bố tôi choàng áo vest mặc trong nhà, thủng lỗ chỗ vài nơi. Ông chỉ cho tôi xem thành Passy, trên bờ bên kia. Ông nói, giọng chắc nịch: “Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có một tòa nhà cho riêng mình ở Trocadéro!” Trong lúc chờ đợi, ông hẹn tôi tại sảnh những khách sạn lớn. Ở đó, ông cảm thấy mình quan trọng hơn, thích hợp hơn để thực hiện những dự án to tiền. Ông thường nán lại đó suốt cả buổi chiều. Không biết bao nhiêu lần tôi phải đến gặp ông ở Majestic, Continental, Claridge, Astoria… Những nơi chốn vãng lai ấy phù hợp với một tâm hồn lông bông và mong manh như tâm hồn ông.
Mỗi buổi sáng, ông tiếp tôi trong “văn phòng” của ông ở phố Jardins Saint-Paul. Một gian phòng rất rộng, đồ đạc gồm một chiếc ghế tựa bằng mây và một tủ bàn giấy kiểu thời Đế chế. Những kiện hàng chúng tôi phải gửi đi trong ngày chất thành đống sát tường. Sau khi vào sổ các món hàng
xuất đi với tên và địa chỉ người nhận, chúng tôi họp bàn công việc. Tôi báo cáo với ông những vụ mua sách tôi dự định thực hiện với các chi tiết kỹ thuật về lời đề tặng giả mạo. Dùng mực, bút lông ngỗng hay bút máy khác nhau cho mỗi tác giả. Chúng tôi kiểm tra phần kế toán, đọc kỹ tờ Courrier des collectionneurs[6]. Sau đó, chúng tôi đưa những kiện hàng xuống chiếc Talbot và cố gắng nhét chúng lên hàng ghế sau. Công việc bốc vác ấy làm tôi kiệt sức.
Bố tôi đi một vòng qua hết các ga để gửi hàng. Buổi chiều, ông tạt qua kho, ở khu phố Javel, chọn từ trong mớ đồ hỗn độn khoảng chừng hai mươi món có thể là mối quan tâm của khách hàng, mang về phố Jardins-
Saint-Paul, bắt đầu đóng gói. Sau đó, ông lo trữ thêm hàng mới. Chúng tôi phải đáp ứng đòi hỏi của khách hàng càng mau chóng càng tốt. Những kẻ điên loạn ấy không biết chờ đợi.
Phần tôi, xách một chiếc va li trên tay, tôi đi thăm dò cho đến chiều tối, trong một khu vực giới hạn bởi quảng trường Bastille, quảng trường Cộng hòa, các đại lộ lớn, đại lộ Opéra và sông Seine. Những khu phố ấy có nét duyên dáng riêng của chúng. Saint-Paul, nơi tôi mơ ước lui về dưỡng già. Tôi chỉ cần một tiệm buôn bán vặt vãnh gì đó. Trừ khi đó là phố Pavée hay phố Roi-de-Sicile, khu phố Do Thái mà định mệnh khiến ta phải quay về một ngày nào đó. Ở khu Temple, bản năng mua bán đồ cũ sống dậy trong tôi. Ở khu Sentier, trong cái Công quốc phương Đông ấy, hình thành từ quảng trường Cai-rô, phố Nil, hẻm Ben-Aïad và phố Aboukir, tôi nghĩ đến ông bố khốn khổ của tôi. Bốn quận đầu tiên chia ra nhiều khu, đan xen chằng chịt, mà cuối cùng tôi cũng nhận biết được những ranh giới vô hình. Grenéta, le Mail, la Pointe Sainte-Eustache, Victoires… Chặng cuối cùng của tôi là tiệm sách Petit-Mirioux, trong hẻm mái kính Vivienne. Tôi đến đó vào lúc chập tối. Tôi khám xét các kệ gỗ, tin chắc sẽ tìm được thứ tôi cần. Bà Petit-Mirioux còn giữ được các ấn phẩm văn học trong một trăm năm qua. Bao nhiêu là tác giả, bao nhiêu là sách bị lãng quên một cách bất công. Chúng tôi lấy làm buồn khi nhận thấy điều đó. Những người này đã hao tốn bao công sức nhưng chẳng được gì… Chúng tôi an ủi nhau, bà ấy và tôi, cùng đoán chắc với nhau rằng vẫn còn những kẻ cuồng nhiệt đam mê Pierre Hamp hoặc Jean-Jose Frappa, và một ngày nào đó, chóng hay chầy, anh em nhà Fischer sẽ từ luyện ngục bước ra. Chúng tôi chia tay nhau sau những câu trấn an như thế. Những cửa tiệm khác của hẻm Vivienne dường như đã đóng cửa từ cả thế kỷ. Sau cửa kính một nhà xuất bản âm nhạc là ba bản nhạc đã vàng úa của Offenbach. Tôi ngồi lên chiếc va li. Không một tiếng động. Thời gian đã dừng lại lúc nào đó giữa Vương triều tháng Bảy và Đệ nhị Đế chế. Cuối hành lang, tiệm sách chiếu ra một quầng sáng yếu ớt và tôi chỉ còn lờ mờ thấy bóng dáng bà Petit-Mirioux. Bà còn đứng gác đến bao giờ? Người lính gác già đáng thương.
Xa hơn nữa, những dãy cuốn đìu hiu của cung điện Palais-Royal. Ngày xưa, ấy là nơi vui chơi. Hết rồi. Tôi băng qua các khu vườn. Khu vực của tĩnh lặng và bóng tối dịu êm, nơi ký ức về những năm tháng đã chết và những lời hứa không được thực hiện sống dậy, làm quặn thắt trái tim.
Quảng trường Théâtre-Français. Những trụ đèn đường làm bạn choáng váng. Bạn là người thợ lặn kia, trồi lên mặt nước một cách đột ngột. Tôi phải đến gặp “papa” tại một chỗ tập trung đủ người tứ xứ ở Champs Élysées. Chúng tôi sẽ lái chiếc Talbot chạy dọc ngang khắp Paris, như thường lệ.
Đại lộ opéra trải dài trước mặt tôi. Nó sẽ đưa đến nhiều đại lộ, nhiều con phố khác, mà lát nữa đây sẽ ném chúng tôi ra khắp bốn phương trời. Tim tôi đập mạnh hơn. Giữa chừng ấy bất an, những cột mốc duy nhất của tôi, mảnh đất duy nhất không tuột khỏi chân tôi là những ngã tư và vỉa hè thành phố, nơi sau rốt, tôi rất có thể sẽ chỉ còn lại một mình.
•••
Bây giờ, dầu khó khăn đến đâu, tôi vẫn phải nhắc lại “trường đoạn đau đớn ở trạm tàu điện ngầm George-V”. Từ nhiều tuần nay, bố tôi quan tâm đặc biệt đến La Petite Ceinture, tuyến đường sắt bỏ hoang chạy vòng quanh Paris. Phải chăng ông dự tính phục hồi nó bằng cách quyên góp? Vay mượn ngân hàng? Mỗi Chủ nhật ông lại rủ tôi theo ông đến những khu phố ngoại vi và chúng tôi thả bộ lần theo đoạn đường sắt cũ ấy. Các nhà ga đều bị bỏ hoang hoặc biến thành nhà kho. Các đường ray biến mất dưới đám cỏ dại. Thỉnh thoảng, bố tôi dừng lại để viết ngoáy một ghi chú hoặc phác một hình thù nguệch ngoạc trong cuốn sổ tay. Ông theo đuổi giấc mơ gì thế? Có lẽ ông chờ một chuyến tàu sẽ không bao giờ chạy ngang qua đây?
Ngày Chủ nhật 17 tháng Sáu ấy, chúng tôi đi theo La Petite Ceinture ngang qua quận 12. Không dễ dàng lắm. Quãng phố Montempoivre, nó nhập vào tuyến đường sắt Vincennes, và cuối cùng chúng tôi rối tung lên. Ba tiếng đồng hồ sau, xây xẩm với cái mê cung thiết lộ này, chúng tôi quyết định đáp tàu điện ngầm quay về. Bố tôi tỏ ra không hài lòng về buổi chiều ấy. Thông thường, khi trở về sau một chuyến đi như thế, tâm trạng bố tôi phơi phới và ông chìa cho tôi xem những ghi chú của ông. Ông chuẩn bị lập - ông giải thích với tôi - một hồ sơ “nghiêm túc” về La Petite Ceinture và chuyển cho chính quyền.
- Điều gì đến sẽ đến.
Điều gì? Tôi không dám hỏi ông. Nhưng chiều tối ngày Chủ nhật 17 tháng Sáu ấy, nhiệt tình cao đẹp trong ông tan chảy. Trong toa tàu điện ngầm tuyến Vincennes-Neuilly, ông dứt từng trang của cuốn sổ tay và xé nát thành những mẩu giấy nhỏ và ném dần đi như những nắm confetti. Tất cả chuyện đó diễn ra với những cử chỉ của một người mộng du và một cơn giận dữ âm ỉ tôi chưa từng thấy nơi ông. Tôi cố gắng giúp ông bình tĩnh trở lại. Tôi nói với ông rằng thật đáng tiếc khi hủy bỏ, trong một phút nóng giận, một công trình quan trọng đến thế, và tôi hoàn toàn tin tưởng vào khả năng tổ chức của ông. Ông nhìn tôi chằm chằm, bằng đôi mắt vô hồn. Chúng tôi xuống tàu ở ga George-V. Chúng tôi chờ trên sân ga. Bố tôi đứng sau lưng tôi, hờn dỗi. Ga càng lúc càng đông người, như vào những giờ cao điểm. Tất cả những người này vừa dạo chơi ở Champs-Élysées về hoặc vừa tan buổi chiếu phim ra. Chúng tôi chen chúc nhau. Tôi đứng trước, gần mép đường tàu. Không thể nào lùi lại được. Tôi quay lại nhìn bố tôi. Mặt ông ướt nhẫy mồ hôi. Tiếng tàu điện ầm ầm. Vào lúc nó hiện ra, ai đó đẩy mạnh vào lưng tôi.
Sau đó, tôi nằm sóng sượt trên một băng ghế ở ga. Một nhóm người tò mò vây quanh tôi. Họ rì rầm trao đổi. Một người cúi xuống nói với tôi rằng tôi vừa “thoát khỏi tay tử thần”. Một người khác, đội mũ kết và mặc đồng phục (có thể là nhân viên tàu điện) nói rằng ông ta sẽ “gọi cảnh sát”. Bố tôi đứng thụt lại sau. Ông húng hắng ho.
Hai viên cảnh sát giúp tôi ngồi dậy. Họ xốc nách tôi. Chúng tôi băng qua nhà ga. Mọi người ngoái lại khi chúng tôi đi qua. Bố tôi theo sau, bước chân ngập ngừng. Chúng tôi leo lên chiếc xe chở tù đỗ ở đại lộ George-V. Bên hiên quán Le Fouquet’s, khách hàng đang tận hưởng buổi hoàng hôn mùa hè tuyệt đẹp.
Chúng tôi ngồi cạnh nhau. Bố tôi cúi gằm. Hai viên cảnh sát, đối diện chúng tôi, không nói gì. Chúng tôi dừng lại ở sở cảnh sát số 5 phố Clément-Marot. Bố tôi do dự trước khi bước vào. Ông nhếch mép căng thẳng khiến đôi môi ông như hếch lên.
Đám cảnh sát trao đổi mấy câu với một người đàn ông cao lớn, gầy gò. Là cảnh sát trưởng? Ông ta hỏi giấy tờ của chúng tôi. Một cách miễn cưỡng trông thấy, bố tôi xuất trình tấm hộ chiếu Nansen. - Người tị nạn? “cảnh sát trưởng” hỏi…
ẳ
- Tôi sắp được nhập tịch, bố tôi thì thào. - Ông hẳn đã chuẩn bị trước câu trả lời này. - Nhưng con trai tôi có quốc tịch Pháp. - Và trong một hơi thở. - và có bằng tú tài…
Cảnh sát trưởng quay qua phía tôi:
- Vậy là cậu suýt lọt xuống dưới gầm tàu? - Tôi nín thinh. - May mắn thay, người ta đã giữ được cậu. Nếu không, tình cảnh cậu sẽ khôi hài lắm đấy.
Vâng, ai đó đã cứu mạng sống của tôi bằng cách kéo tôi lại vừa đúng lúc, khi tôi mất thăng bằng. Ký ức của tôi về những giây phút đó rất mơ hồ.
- Tại sao lại có chuyện, cảnh sát trưởng tiếp tục, cậu nhiều lần la lớn: “QUÂN GIẾT NGƯỜI!” khi người ta chuyển cậu lên băng ghế ở nhà ga? Đoạn, ông nói với bố tôi:
- Con trai ông có mắc chứng hoang tưởng bị hại không?
Ông không để bố tôi có thời gian trả lời. Ông lại quay qua tôi và nói, một cách đột ngột:
- Nhưng, có lẽ có người đã đẩy vào lưng cậu? Hãy suy nghĩ đi… Cậu không cần phải vội.
Ở cuối phòng, một thanh niên ngồi gõ máy. Cảnh sát trưởng ngồi sau bàn giấy nghiên cứu một tập hồ sơ. Bố tôi và tôi, chúng tôi ngồi chờ. Tôi tưởng như người ta đã quên chúng tôi, nhưng cuối cùng cảnh sát trưởng ngẩng đầu lên và nói với tôi:
- Nếu cậu muốn khai báo điều gì với tôi, đừng ngần ngại. Đó là phận sự của tôi.
Thỉnh thoảng, chàng thanh niên mang đến cho ông ta một tờ giấy đánh máy để ông ta sửa lại bằng mực đỏ. Người ta còn giữ chúng tôi đến khi nào nữa đây? Cảnh sát trưởng chỉ bố tôi:
- Tị nạn chính trị hay tị nạn đơn thuần?
- Tị nạn đơn thuần.
- Càng tốt, viên cảnh sát nói.
Đoạn, ông ta lại cắm cúi đọc hồ sơ.
Thời gian trôi qua. Bố tôi tỏ ra bồn chồn. Ông xoắn đôi tay tưởng như đến tróc da. Nói tóm lại, số phận ông nằm trong tay tôi - và ông biết điều đó - nếu không, tại sao nhiều lần ông đưa mắt nhìn tôi đầy vẻ lo âu? Có một điều tôi phải thừa nhận: ai đó đã đẩy để tôi ngã xuống đường ray, để chiếc tàu điện nghiền tôi thành nát bét. Và đó là ngài đây, dáng dấp dân Nam Mỹ, ngồi sát bên tôi. Bằng chứng: tôi đã cảm thấy chiếc nhẫn mặt to bản của ông áp vào bả vai tôi.
Như đoán ra ý nghĩ của tôi, cảnh sát trưởng hỏi, giọng lơ đãng: - Cậu có hợp với bố cậu không?
(Một số cảnh sát sở hữu năng khiếu nhìn thấu sự việc. Như trường hợp viên thanh tra tình báo nọ, vào lúc về hưu, đã chuyển đổi giới tính để đưa ra những tham vấn “cực kỳ sáng suốt” dưới cái tên “Bà Dubail”.) - Chúng tôi rất hợp nhau, tôi trả lời.
- Cậu có chắc điều đó không?
Ông mệt mỏi hỏi tôi và nhanh chóng ngáp. Tôi tin chắc ông hiểu hết nhưng không quan tâm đến trường hợp của tôi. Một thanh niên bị cha đẩy xuống dưới gầm tàu điện, những chuyện đại loại như thế hẳn ông biết hàng tá. Ông chỉ hỏi cho đúng thủ tục thôi.
- Tôi nhắc lại lần nữa, nếu cậu có điều gì cần nói với tôi, tôi sẵn sàng nghe.
Nhưng tôi biết ông bảo tôi như thế chẳng qua là vì lịch sự thuần túy. Ông bật cây đèn trên bàn giấy. Chàng thanh niên kia tiếp tục gõ máy. Rõ ràng anh ta hối hả cho xong việc. Tiếng máy chữ lạch cạch ru tôi ngủ và tôi phải cố gắng lắm để không nhắm mắt. Để chiến đấu chống lại cơn buồn ngủ, tôi xem xét mọi xó xỉnh trong sở cảnh sát này. Trên tường, một tờ lịch các bốt cảnh sát và bức ảnh chụp Tổng thống Cộng hòa. Doumer? Mac-Mahon? Albert Lebrun? Chiếc máy đánh chữ là một máy kiểu cũ. Tôi cho rằng ngày Chủ nhật 17 tháng Sáu này sẽ là một ngày quan trọng trong đời tôi và tôi kín đáo quay sang bố tôi. Những giọt mồ hôi lớn lăn dọc thái dương ông. Tuy nhiên, ông không có bản mặt của một tên giết người. Cảnh sát trưởng cúi nhìn qua vai chàng thanh niên để xem công việc của anh ta đã đến đâu. Ông hạ giọng dặn dò anh ta mấy câu. Ba viên cảnh sát đột ngột bước vào. Có lẽ họ sẽ đưa chúng tôi về nơi tạm giam. Viễn
ẳ
cảnh đó chẳng làm tôi vui lên hay buồn thêm. Nhưng không. Cảnh sát trưởng nhìn thẳng mặt tôi:
- Sao? Không có gì khai báo à?
Bố tôi rên lên một tiếng não nuột.
- Vậy thì, hai người có thể đi…
Chúng tôi bước đi không chủ đích. Tôi không dám yêu cầu bố tôi giải thích. Phải đến khi tới quảng trường Ternes, nhìn chăm chăm bảng hiệu rực sáng của quán Brasserie Lorraine, tôi mới nói bằng giọng trung tính nhất có thể:
- Rốt cuộc, bố đã muốn giết con…
Bố tôi không trả lời. Tôi sợ rằng ông sẽ hoảng sợ chạy trốn như loài chim khi người ta đến quá gần.
- Bố biết đấy, con không giận bố.
Tôi đưa tay chỉ hàng hiên quán bia:
- Mình qua đó làm một cốc đi! Phải mừng chuyện này chứ! Câu nói ấy làm bố tôi khẽ bật cười. Khi chúng tôi ngồi xuống, bố tôi cố tình tránh đối diện tôi. Ông có dáng điệu như lúc ngồi trong xe chở tù: lưng gù xuống, đầu cúi thấp. Tôi gọi cho ông một ly đúp bourbon, loại rượu mà tôi biết bố tôi rất thích, và một ly sâm banh cho tôi. Chúng tôi chạm cốc. Nhưng lòng thì ở chỗ khác. Sau sự kiện đáng tiếc ở tàu điện ngầm, tôi những mong có được một lời giải thích rõ ràng giữa hai bố con. Nhưng không thể. Sức trơ ì của ông lớn đến mức tôi thấy không nên gặng hỏi ông nữa.
Ở các bàn bên cạnh, mọi người trò chuyện rôm rả. Người ta phấn khởi với khí trời mát mẻ. Người ta thư giãn. Và vui sống. Còn tôi, tôi mười bảy tuổi, bố tôi đã muốn đẩy tôi xuống gầm tàu điện, và chuyện đó chẳng làm ai quan tâm.
Chúng tôi uống thêm một ly sau cùng, ở đại lộ Niel, trong quán bar Pétrissar’s kỳ cục. Một ông đứng tuổi lảo đảo bước vào. Ông ta ngồi vào bàn chúng tôi và nói về đạo quân Wrangel[7]. Tôi hiểu rằng ông ta đã từng tham gia đạo quân ấy. Đó là một kỷ niệm rất đau đớn, vì ông ta bật khóc.
Ông ta không muốn rời chúng tôi nữa. Ông ta bám vào cánh tay tôi. Dấp dính và cuồng nhiệt, như mấy ông người Nga, đã quá nửa đêm. Ba chúng tôi đi theo đại lộ, hướng về quảng trường Ternes. Bố tôi đi trước vài mét, như thể ông xấu hổ khi người đi chung trông tàn tạ đến vậy. Ông rảo bước và tôi thấy ông chui tọt vào đường xuống tàu điện ngầm. Tôi nghĩ sẽ không bao giờ gặp lại người đàn ông này nữa. Tôi tin chắc điều đó. Người cựu binh siết chặt cánh tay tôi, khóc nức nở trên vai tôi. Chúng tôi ngồi xuống một băng ghế ở đại lộ Wagram. Ông ta tha thiết kể tôi nghe một cách chi tiết nỗi thống khổ dai dẳng của các đội Bạch Quân, cuộc tháo chạy của họ đến Thổ Nhĩ Kỳ. Rốt cuộc, những vị anh hùng ấy mắc cạn ở Constantinople trong những bộ quân phục sặc sỡ. Khổ sở làm sao! Có vẻ như viên tướng - nam tước Wrangel cao những hơn hai mét.
•••
Bố không thay đổi nhiều. Ban nãy, khi bố bước vào quán Le Clos-Foucré, dáng đi của bố vẫn vậy, như cách đây mười năm. Bố ngồi trước mặt tôi và tôi suýt gọi cho bố một ly đúp bourbon, nhưng tôi thấy như thế là không phù hợp. Bố có nhận ra tôi không? Với bố, chẳng bao giờ có thể biết được gì. Day vai bố, hỏi bố này nọ có được gì đâu? Tôi tự hỏi không biết liệu bố có đáng để tôi quan tâm đến thế.
Một hôm, tôi đột ngột quyết định đi tìm bố. Tinh thần tôi xuống ở mức thấp nhất. Phải nói rằng các sự kiện đang chuyển biến đáng ngại và không khí phảng phất đây đó mùi tai họa. Chúng ta đang sống trong một “giai đoạn kỳ khôi”. Không có gì cho ta bám víu. Tôi còn nhớ là tôi có một người cha. Tất nhiên, tôi thường nhớ đến “trường đoạn đau đớn ở trạm tàu điện ngầm George-V”, nhưng tôi không hề cảm thấy oán hận bố. Có những người mà họ có làm gì ta cũng tha thứ hết. Mười năm đã trôi qua. Bố đã ra sao rồi? Có lẽ bố cần tôi.
Tôi đã hỏi các cô phục vụ phòng trà, những người pha rượu và gác cổng khách sạn. François, ở Silver-Ring, là người đã giúp tôi lần theo dấu vết của bố. Bố thường giao du - có vẻ như vậy - với một nhóm tay chơi về đêm mà ngôi sao là các quý ông Murraille và Marcheret. Nếu cái tên thứ hai không gợi cho tôi điều gì, thì tôi biết rõ tiếng tăm của cái tên thứ nhất:
một nhà báo lập lờ giữa trò tống tiền và các quỹ đen. Một tuần lễ sau, tôi thấy bố đi vào một tiệm ăn ở đại lộ Kléber. Bố sẽ tha thứ cho tội tò mò của tôi, nhưng tôi đã ngồi vào bàn bên cạnh bàn của bố. Tôi xúc động khi tìm lại được bố và toan vỗ vào vai bố nhưng lại thôi khi quan sát các bạn của bố. Murraille ngồi bên trái bố và, ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã thấy vẻ thanh lịch trong xiêm y của hắn có gì đó đáng nghi. Người ta thấy rõ hắn muốn tỏ ra là tay “sành ăn mặc”. Marcheret hét đổng lên rằng “món gan ngỗng nuốt không trôi”. Tôi cũng nhớ có một người phụ nữ tóc đỏ hung và một gã tóc vàng phi dê, cả hai sực nức mùi xấu xa. Ngay cả bố, con lấy làm tiếc, cũng không còn phong độ như hồi nào. (Phải chăng do mái tóc vuốt sáp, hay cái nhìn xa xăm hơn thường lệ?) Tôi cảm thấy cảm giác gì đó như sự khó chịu khi gặp cái nhóm mà bố và “những người bạn” của bố tạo nên. Gã tóc vàng phi dê khoe những tờ tiền giấy, người phụ nữ tóc đỏ hung đùa cợt một cách bất nhã với tay trưởng khâu phục vụ còn Marcheret buông ra những câu pha trò tục tĩu. (Tôi đã bắt đầu quen với việc này từ khi đó.) Murraille nói về ngôi biệt thự của hắn ở nông thôn, nơi “rất dễ chịu để sống những ngày cuối tuần”. Rốt cuộc, tôi hiểu rằng nhóm người này gặp nhau ở đấy mỗi tuần. Bố thuộc nhóm ấy. Tôi không thể cưỡng lại được mong muốn nhập bọn với bố trong chuyến nghỉ dưỡng quyến rũ đó.
Và giờ đây, khi chúng tôi ngồi mặt đối mặt, im lặng nhìn nhau gườm gườm, và tôi có thể tha hồ quan sát bố, TÔI LẠI THẤY SỢ. Bố làm gì trong cái làng ở Seine-et-Marne ấy với đám người kia? Và trước hết, làm sao bố quen biết họ? Con phải thật sự yêu bố thì mới theo được bố trên con đường hiểm trở này. Mà bố không hề hay biết! Có thể con nhầm nhưng con thấy tình trạng của bố rất bất ổn. Tôi đồ rằng bố vẫn là người không quốc tịch, điều gây cho bố những phiền hà nghiêm trọng “trong thời buổi này”. Chính tôi, tôi cũng đã đánh mất giấy tờ tùy thân, trừ mảnh bằng mà bố cho là rất quan trọng ấy, mảnh bằng mà ngày hôm nay nó chẳng tương xứng với cái gì, vì chúng ta đang trải qua một “cuộc khủng hoảng giá trị” chưa từng có. Bằng mọi giá, tôi sẽ cố gắng giữ bình tĩnh.
Marcheret. Hắn vỗ lên vai bố và gọi bố là “Lão mập Chalva của tôi”. Hắn nói với tôi: “Chào buổi tối, anh Alexandre, hẳn anh muốn dùng một ly americano?”, - và tôi buộc phải uống cái thứ chất lỏng buồn nôn ấy vì e rằng hắn sẽ mếch lòng. Tôi muốn biết vì mối lợi nào mà bố cố kết với tay cựu binh lê dương ấy. Buôn lậu ngoại tệ? Giao dịch chứng khoán như bố
từng làm ngày xưa? “Hai americano nữa!” hắn gào lên với Grève, trưởng khâu phục vụ. Rồi quay qua tôi: “Thứ này uống như uống nước sữa, nhỉ?” Tôi uống, lòng kinh hãi. Đằng sau vẻ vui tính của hắn, tôi ngờ rằng hắn đặc biệt nguy hiểm. Tôi tiếc rằng mối tương giao giữa bố và tôi không vượt quá giới hạn của phép lịch sự tối thiểu, nếu không tôi đã nhắc bố cảnh giác với gã này. Và với Murraille nữa. Bố sai rồi, “papa”, khi giao du với những người thuộc loại này. Cuối cùng họ cũng sẽ chơi bố những vố đau. Liệu tôi có đủ sức đóng vai thiên thần hộ mệnh đến tận cùng không? Bố đang không động viên tôi theo chiều hướng ấy. Tôi đã cố rình chờ một cái nhìn, một cử chỉ thân thiện (ngay cả khi không nhận ra tôi, bố hẳn vẫn có thể tỏ ra đôi chút chú ý đến tôi hơn), nhưng không gì có thể khuấy động tính vô cảm đặc trưng Ottoman của bố. Tôi tự hỏi chỗ của tôi có phải là ở đây hay không. Trước hết, tôi đang bào mòn sức khỏe bằng việc uống những thứ rượu này. Sau đó, cách bài trí giả thôn dã này làm tôi suy sụp tinh thần ở mức cao nhất. Marcheret muốn mời tôi nếm một ly “dame rose”, thứ cocktail mà hắn đã mời “tất cả những người bạn ở Bouss-Bir” khám phá mùi vị tinh tế của nó. Tôi chỉ sợ hắn lại nói về binh đoàn lê dương và bệnh sốt rét của hắn. Nhưng không. Hắn quay qua phía bố:
- Sao? Ông đã suy nghĩ chưa, Chalva?
Bố trả lời hắn, giọng hầu như không nghe được:
- Tôi đã suy nghĩ rồi, Guy ạ.
- Sẽ là năm mươi-năm mươi?
- Anh có thể tin tưởng ở tôi, Guy.
- Tôi làm ăn lớn với ngài nam tước, Marcheret bảo tôi. Phải không, Chalva? Phải ăn mừng điều đó! Grève, vui lòng cho ba cốc vermouth. Chúng tôi chạm cốc.
- Sắp tới đây, chúng ta sẽ ăn mừng một tỉ đồng đầu tiên của chúng ta! Hắn vỗ mạnh vào lưng bố. Chúng tôi phải sớm rời chỗ này thôi. Để đi đâu? Những người như bố và tôi có nguy cơ bị tóm cổ ở mỗi góc đường. Không ngày nào mà không có những cuộc bố ráp ở cửa ra của các nhà ga, rạp chiếu phim hay tiệm ăn. Nhất thiết phải tránh nơi công cộng. Paris như một khu rừng lớn tối tăm, giăng đầy cạm bẫy. Người ta phải mò mẫm mà đi. Bố sẽ thừa nhận rằng cần phải có thần kinh thép. Và sức nóng chẳng
giúp được gì. Tôi chưa bao giờ trải qua mùa hè nào nóng nực như thế này. Tối nay, nhiệt độ ở mức ngột ngạt. Đến chết. Cổ áo Marcheret ướt đẫm mồ hôi. Bố không chịu thấm mồ hôi trên mặt và những giọt mồ hôi run rẩy dưới cằm trong tích tắc trước khi đều đặn rơi xuống mặt bàn. Các cửa sổ của quán bar đóng chặt. Không một hơi gió. Áo quần tôi dính sát người như thể tôi đang đứng dưới trời mưa rào. Không thể nào nhổm dậy. Chỉ một nhúc nhích nhỏ trong cái bếp lò này là tôi sẽ tan chảy mãi mãi. Còn bố, có vẻ như chuyện này không làm bố khó chịu quá đỗi: tôi cho rằng ở Ai Cập bố phải đương đầu thường xuyên với những đợt nóng đổ lửa như thế này, phải không? Phần Marcheret, hắn khẳng định với tôi rằng “chúng ta đang chết cóng so với vùng Bắc Phi” và mời tôi thêm ly rượu nữa. Không, thật tình, tôi không thể uống thêm. Nào, anh Alexandre… một cốc americano nho nhỏ thôi… Tôi sợ sẽ lăn ra ngất. Và bây giờ, xuyên qua màn sương mờ, tôi thấy Murraille và Sylviane Quimphe tiến đến. Trừ phi đó là một ảo ảnh. (Tôi muốn hỏi Marcheret ảo ảnh có thể hiện ra qua làn hơi nước như thế hay không. Nhưng tôi không đủ sức làm chuyện đó.) Murraille chìa tay ra cho tôi.
- Serge, mạnh khỏe chứ?
Lần đầu tiên, hắn gọi thẳng “tên cúng cơm” của tôi: tôi e dè lối thân mật ấy. Như thường lệ, hắn mặc áo săng đay màu sẫm và quấn phu la chàm thắt nút ở cổ. Cặp vú của Sylviane Quimphe tràn ra khỏi phần áo cúp ngực và tôi nhận thấy ả không mặc áo ngực vì thời tiết nóng bức. Nhưng tại sao ả vẫn không bỏ chiếc quần cưỡi ngựa và đôi ủng?
- Chúng ta ngồi vào bàn thôi. - Murraille đề nghị. Tôi đói lắm rồi. Rồi tôi cũng đứng dậy được. Murraille nắm lấy cánh tay tôi: - Cậu đã nghĩ đến những dự định của chúng ta chưa? Nói thêm một lần
nữa, tôi cho cậu toàn quyền. Cậu viết những gì cậu muốn. Các cột báo trong tạp chí của tôi rộng mở với cậu!
Grève chờ chúng tôi, trong phòng ăn. Bàn của chúng tôi nằm ngay dưới chùm đèn. Tất nhiên, mọi cửa sổ đều đóng kín. Ở đây còn nóng hơn ở quầy bar. Tôi ngồi giữa Murraille và Sylviane Quimphe. Bố được xếp đối diện tôi, nhưng tôi đã biết trước rằng bố sẽ lẩn tránh ánh nhìn của tôi. Marcheret gọi đồ ăn. Những món hắn chọn dường như không mấy thích hợp với tiết trời thế này: xúp tôm hùm, thịt nấu xốt và bánh nướng phồng.
Ẩ
Không ai tranh cãi với hắn. Ẩm thực, có vẻ như thế, là lĩnh vực của riêng hắn.
- Chúng ta sẽ bắt đầu bằng Bordeaux trắng! Sau đó, là Château-Pétrus! Được chứ?
Hắn tặc lưỡi.
- Sáng nay không thấy anh đến trường ngựa, Sylviane Quimphe nói với tôi. Tôi cứ trông chờ vào anh!
Từ hai ngày nay, ả tấn công tôi càng lúc càng rõ rệt. Tôi đã làm ả chú ý và tôi tự hỏi vì sao. Vì bề ngoài của một chàng trai trẻ có học? Vì sắc da ho lao của tôi? Hay ả muốn trêu tức Murraille? (Nhưng ả có phải là tình nhân của hắn không?) Có lúc tôi đã nghĩ rằng ả đang dan díu với Dédé Wildmer, tay dô kề giải nghệ trông như xuất huyết não hiện quản lý trại ngựa.
- Lần sau, anh nhớ giữ lời. Anh phải tìm cách chuộc lỗi đấy… Giọng ả õng ẹo như bé gái và tôi chỉ sợ những người kia để ý. Không. Murraille và Marcheret tranh luận riêng với nhau. Bố, cái nhìn của bố mất hút trong cõi mơ hồ. Ánh sáng từ đèn chùm chói chang như phát ra từ đèn chiếu. Nó đè nặng lên đầu tôi như một cái mũ bằng chì. Tôi toát nhiều mồ hôi ở cổ tay đến nỗi có cảm giác như những mạch máu vỡ ra và làm tôi mất máu. Làm sao tôi nuốt nổi món xúp tôm hùm mà Grève vừa dọn đến? Marcheret bỗng dưng đứng dậy:
- Các bạn, tôi muốn thông báo một tin trọng đại: ba ngày nữa tôi sẽ kết hôn! Chalva sẽ là người làm chứng của tôi! Địa vị nào, vinh dự ấy! Không phản đối chứ, Chalva?
Bố nhăn mặt mỉm cười. Bố thì thào:
- Tôi rất hân hạnh, Guy!
- Xin uống cho sức khỏe của Jean Murraille, ông chú tương lai của tôi, Marcheret ưỡn ngực gào lớn.
Tôi nâng cốc, như mọi người, nhưng đặt xuống ngay. Nếu tôi uống thêm chỉ một giọt vang trắng này, tôi tin mình sẽ nôn ra. Tôi phải giữ sức cho món xúp tôm hùm.
- Jean, tôi rất tự hào được cưới cháu gái của ông, Marcheret tuyên bố. Cô ấy có cái đáy lưng gây bối rối nhất Paris.
Murraille cười phá lên.
- Anh biết Annie chứ? Sylviane Quimphe hỏi tôi. Giữa cô ấy và tôi, anh thích ai hơn?
Tôi do dự một nhịp. Và rồi tôi cũng thốt lên được: “Bà!” Cái màn chim chuột này còn kéo dài lâu không? Ả hau háu nhìn tôi. Nhưng tôi đâu phải là đứa bô trai để ngắm… Mồ hôi nhỏ giọt từ ống tay áo của tôi. Màn hành xác này sẽ kéo dài đến khi nào? Những người kia chứng tỏ một sức chịu đựng phi thường. Không một vết mồ hôi nào trên gương mặt của Murraille, Marcheret và Sylviane Quimphe. Vài giọt lăn dài trên thái dương bố, nhưng chẳng có gì nghiêm trọng… Và bố thưởng thức hết món xúp tôm hùm như thể chúng ta đang ở trong một ngôi nhà gỗ trên núi cao ngay giữa mùa đông.
- Anh chịu thua sao, anh Alexandre? Marcheret kêu lên. Anh lầm rồi! Món xúp này sánh và ngon vô cùng!
- Người bạn của chúng ta khốn khổ với cái nóng, Murraille nói. Serge, mong rằng điều đó không ngăn cậu viết một bài thực hay… Tôi báo trước với cậu là tôi cần bài báo cho tuần tới. Cậu đã có ý tưởng nào chưa?
Nếu không cảm thấy đang kiệt sức, tôi đã cho hắn một cái tát. Làm thế nào mà cái tên bất lương ấy có thể tin rằng tôi thanh thản chấp nhận cộng tác với tờ báo của hắn, tự hủy hoại mình với cái đám chỉ điểm, tống tiền và bồi bút sâu bọ cứ thản nhiên ký tên mà không bị ai rờ đến từ hai năm nay trên mỗi trang của Đời là thế? Ha, ha! Bọn chúng có chạy trời cũng không khỏi nắng! Lũ khốn nạn. Rác rưởi. Côn đồ. Cáo già. Lũ tử tù đang chờ lên thớt. Không phải Murraille đã cho tôi xem những bức thư hăm dọa đấy sao? Hắn sợ.
- Tôi nghĩ ra một điều, hắn nói với tôi. Hay là cậu đẻ cho tôi một truyện ngắn đi?
- Đồng ý!
Tôi cố gắng lấy tông giọng hào hứng nhất có thể.
- Một cái gì đó thật giòn giã, cậu hiểu chứ?
- Hoàn toàn rõ!
Trời quá nóng để bàn bạc.
- Không nhất thiết là loại kích dục, nhưng dễ dãi… con heo một tí… Cậu thấy thế nào, Serge?
- Rất vui lòng.
Tất cả những gì hắn muốn! Tôi sẽ ký bằng một cái tên mượn tạm. Nhưng trước hết, cho hắn thấy thiện chí của tôi. Hắn đang đợi một gợi ý từ phía tôi, bắt đầu thôi!
- Tôi đề nghị ông cho đăng nhiều kỳ…
- Ý tưởng tuyệt vời!
- Và dưới hình thức “tự thú”. Như vậy hấp dẫn hơn nhiều. Chẳng hạn: Tự thú của một tài xế trong giới ăn chơi.
Tôi vừa nhớ ra cái nhan đề ấy, mà tôi đã đọc được trong một tạp chí thời tiền chiến.
- Tuyệt vời, Serge, tuyệt vời! Tự thú của một tài xế trong giới ăn chơi. Cậu là một con át chủ bài!
Hắn tỏ ra thật sự hứng khởi.
- Khi nào có đợt giao hàng đầu tiên?
- Trong vòng ba ngày, tôi nói với hắn.
- Anh sẽ cho tôi xem trước khi đưa bất kỳ ai chứ? Sylviane Quimphe thì thầm với tôi.
- Tôi, Marcheret tuyên bố một cách trịnh trọng, tôi khoái đọc truyện khiêu dâm. Tôi đặt niềm tin vào anh, anh Alexandre!
Grève dọn món thịt nấu xốt. Phải chăng vì cái nóng, vì ánh đèn chùm chói chang xoáy vào đầu, vì hình ảnh những món ăn nặng nề bày ê hề trước mặt, mà tôi không nén được một trận cười ngặt nghẽo, và sau đó nhanh chóng rơi vào trạng thái suy sụp hoàn toàn. Tôi cố bắt lấy ánh mắt bố. Không thành công. Tôi không dám quay về phía Murraille hay Marcheret vì sợ họ bắt chuyện với tôi. Trong một cố gắng cuối cùng, tôi hướng sự tập trung vào nốt ruồi nơi mép môi Sylviane Quimphe. Sau đó tôi chờ đợi và tự nhủ rằng có thể cơn ác mộng sẽ chấm dứt.
Người kéo tôi về với thực tại là Murraille.
- Cậu đang suy nghĩ về truyện ngắn? Tôi không muốn điều đó làm cậu ăn mất ngon.
- Cảm hứng đến trong lúc ăn, Marcheret lưu ý.
Và bố khẽ bật cười. Tôi không nên chờ đợi một điều gì khác từ bố. Bố cùng hội cùng thuyền với đám du thủ du thực này, còn tôi, người duy nhất trên thế gian mong điều tốt đẹp đến với bố, thì bị bố phớt lờ một cách triệt để.
- Anh hãy nếm món bánh nướng phồng này, Marcheret nói với tôi. Nó tan ngay trong miệng! Đúng là bánh rán thực sự! Phải không, Chalva? Bố tán thưởng hắn bằng một giọng nịnh bợ khiến tôi ngán ngẩm. Chôn chân ở đây, đó là tất cả những gì bố xứng đáng được nhận. Có những lúc, “papa” à, con có ý định bỏ cuộc. Con nâng đỡ bố bằng tất cả sức lực của mình. Bố sẽ ra sao, nếu không có con? Nếu không có lòng trung thành, sự cảnh giới như chú chó cứu nạn Saint Bernard của con? Nếu con buông tay, bố sẽ âm thầm ngã xuống. Bố có muốn chúng ta thử không? Hãy coi chừng! Tôi bắt đầu cảm thấy một sự tê dại êm ái xâm chiếm cơ thể. Sylviane Quimphe đã mở hai cúc trên chiếc áo ngực, quay sang phía tôi và lén để lộ cho tôi thấy cặp vú. Tại sao lại không nhỉ? Murraille uể oải tháo phu la chàm, Marcheret tư lự tựa cằm vào lòng bàn tay, ợ thành tràng, tôi vừa nhận ra cặp má xệ xám xịt làm bố trông giống một con bulldog. Cuộc trò chuyện làm tôi chán chường. Giọng nói của Murraille và Marcheret dường như phát ra từ một cái đĩa quay chậm. Nó kéo dài, trượt đi, quánh lại trong một thứ nước màu đen. Chung quanh tôi mọi thứ mờ đi do những giọt mồ hôi đầm đìa trong mắt… Ánh sáng tối dần, tối dần… - Ô kìa, anh Alexandre, anh không định ngất đi đấy chứ!… Marcheret lấy một cái khăn ướt lau lên trán và thái dương tôi. Hết rồi. Một cơn xây xẩm thoáng qua. Con đã báo trước cho bố rồi đấy “papa”. Thế nếu lần sau con không tỉnh lại thì sao?
- Khá hơn chưa, Serge? Murraille hỏi.
- Chúng ta hãy đi dạo một vòng trước khi ngủ, Sylviane Quimphe thì thầm với tôi.
Marcheret, giọng cương quyết:
- Rượu cognac và cà phê Thổ Nhĩ Kỳ! Không có gì tốt hơn để làm anh đây khỏe trở lại! Cứ tin tôi, anh Alexandre!
Rốt cuộc, bố là người duy nhất không lo lắng cho sức khỏe của tôi và khi nhận ra điều này tôi càng thêm phiền muộn. Dẫu sao, tôi cũng cầm cự được cho đến khi bữa tối kết thúc. Marcheret gọi một ly “rượu mùi tiêu thực” và nói với chúng tôi, thêm một lần nữa, về đám cưới của hắn. Hắn đang lo một điều: ai sẽ là người làm chứng cho Annie? Hắn và Murraille kể ra vài cái tên mà tôi không biết. Sau đó, họ bắt đầu lên danh sách khách mời. Họ bình phẩm về từng người và tôi e rằng công việc của họ sẽ kéo dài tới sáng. Murraille phác một cử chỉ mệt mỏi.
- Từ bây giờ cho đến khi đó, hắn nói, chúng ta sẽ bị xử bắn hết. Hắn nhìn đồng hồ.
- Chúng ta đi ngủ thôi. Cậu nghĩ sao, Serge?
Ở quầy bar, chúng tôi bắt gặp Maud Gallas và Dédé Wildmer. Hai người đang lăn lộn trên một chiếc ghế bành. Gã ôm siết mụ, còn mụ làm ra vẻ chống cự. Hẳn là họ đã uống quá nhiều. Khi chúng tôi đi ngang qua, Wildmer quay đầu và ném cho tôi một ánh nhìn kỳ lạ. Hắn và tôi không ưa nhau. Tôi còn cảm thấy một sự ghê tởm bản năng đối với tay dô kề giải nghệ ấy.
Tôi sung sướng khi bước ra ngoài trời.
- Cậu đi cùng chúng tôi đến biệt thự chứ? Murraille hỏi tôi. Sylviane Quimphe tóm lấy cánh tay tôi trước khi tôi có thể từ chối. Bố, bố bước đi, lưng gù xuống, giữa Murraille và Marcheret. Giống như hai viên cảnh sát hộ tống bố còn bố thì đeo còng tay, do ánh trăng phản chiếu trên chiếc đồng hồ của bố. Như bố vừa bị bắt trong một cuộc vây ráp. Người ta đưa bố đến nơi tạm giam. Đó là điều con mơ thấy. Không gì tự nhiên hơn “vào thời buổi như thế này”.
- Tôi chờ Tự thú của một tài xế trong giới ăn chơi, Murraille nói với tôi. Tôi tin tưởng vào cậu, Serge!
- Anh sẽ viết cho chúng tôi một câu chuyện đẹp về những cặp mông, Marcheret nói thêm. Nếu anh muốn, tôi sẽ cho anh mấy lời khuyên. Hẹn ngày mai, anh Alexandre. Còn ông, Chalva, mơ những giấc mơ đẹp.
Sylviane Quimphe thì thào mấy lời vào tai Murraille. (Có lẽ tôi nhầm, nhưng tôi có cái cảm giác khó chịu là họ nói về tôi.) Murraille đồng ý với
một cái gật đầu gần như không thể nhận thấy. Hắn mở cổng và kéo tay áo Marcheret. Tôi nhìn họ đi vào biệt thự.
Chúng tôi đứng im lặng trong một thoáng, bố, ả và tôi, trước khi quay ngược hướng về Le Clos-Foucré. Bố đi lùi lại phía sau. Ả lại nắm cánh tay và tựa đầu vào vai tôi. Con rất tiếc phải để cảnh ấy diễn ra trước mặt bố, nhưng con không muốn làm ả phật lòng. Trong tình huống của chúng ta, “papa” ạ, tốt nhất là nên rút êm. Đến ngã tư đường, bố chúc chúng tôi “ngủ ngon” một cách rất lịch sự và rẽ vào đường Bomage, để tôi lại một mình với Sylviane.
Ả đề nghị tôi dạo bộ một lát “để tận hưởng ánh trăng”. Chúng tôi đi ngang qua “Biệt thự Mektoub” lần thứ hai. Có ánh đèn trong phòng khách, và ý nghĩ Marcheret đang nhấm nháp chầu rượu cuối cùng, một mình, trong khung cảnh bài trí theo lối thuộc địa, làm tôi lạnh sống lưng. Chúng tôi đi theo đường mòn dành cho người cưỡi ngựa ở bìa rừng. Ả đã cởi cúc áo. Tiếng cây cối rì rào và bóng tối xanh nhạt làm tôi đờ đẫn. Sau cửa ải bữa tối, tôi mệt mỏi đến mức không nói một lời nào nữa. Tôi cố gắng một cách phi thường để mở miệng mà không một âm thanh nào thoát ra. May mắn thay, Sylviane bắt đầu kể về những rối rắm trong cuộc sống tình cảm của ả. Ả đúng là nhân tình của Murraille như tôi nghĩ - nhưng cả hai đều có những “ý nghĩ khoáng đạt”. Chẳng hạn, họ rất thích trò truy hoan tập thể. Ả hỏi liệu điều đó có làm tôi sốc không. Tôi trả lời là không, tất nhiên rồi. Còn tôi, tôi đã “thử” chưa? Chưa, nhưng nếu có cơ hội, rất sẵn lòng. Ả hứa với tôi rằng tôi sẽ “cùng cạ” với họ lần tới. Murraille có một căn hộ mười hai phòng ở đại lộ Iéna, nơi thường diễn ra những buổi tối kiểu đó. Maud Gallas cũng tham gia. Và Marcheret. Và Annie, cô cháu gái của Murraille. Và Dédé Wildmer. Và những người khác nữa, rất đông. Thật điên rồ, cách người ta vui chơi ở Paris vào lúc này. Murraille từng giải thích với ả rằng mọi chuyện vẫn luôn như vậy, trước cả khi tai họa giáng xuống. Ý hắn là gì? Với ả, chính trị không hấp dẫn. Vận mệnh thế giới cũng không. Ả chỉ nghĩ đến LẠC THÚ. Nhanh và mãnh liệt. Sau tuyên bố mang tính nguyên tắc này, ả nói với tôi những điều thầm kín. Ả mới gặp một chàng thanh niên trong “buổi tiệc” vừa qua ở đại lộ Iéna. Về thể chất, đó là một sự kết hợp giữa Max Schmeling và Henri Garat. Về tinh thần, một tay khéo xoay xở. Anh ta thuộc một trong các đơn vị cảnh sát bổ sung, vốn đang nhân lên nhan nhản từ vài tháng nay. Anh ta mê trò bắn súng may rủi. Những kỳ tích
ẳ
đó không làm tôi quá ngạc nhiên. Chẳng phải chúng ta đang sống trong một giai đoạn mà mọi người phải cảm tạ trời đất, mỗi giây phút, vì chưa bị viên đạn lạc nào rơi trúng hay sao? Ả ở với hắn hai ngày hai đêm liền và kể ra những chi tiết mà tôi không còn nghe. Sau hàng giậu lớn, về phía bên phải, tôi vừa nhận ra biệt thự “của” bố, với cái tháp có hình dạng như tháp ở đền thờ Hồi giáo và những cửa sổ hình cung nhọn. Ta nhìn thấy nó rõ nét hơn từ phía này so với từ phía đường Bornage. Tôi thậm chí còn tin rằng đã nhìn ra hình dáng của bố trên một trong những ban công. Chúng tôi đứng cách nhau chừng năm mươi mét và tôi chỉ cần vượt qua khoảnh vườn bỏ hoang là có thể đến với bố. Tôi do dự một lát. Tôi những muốn gọi bố hoặc vẫy tay ra hiệu cho bố. Không. Tiếng nói của tôi sẽ không vọng đi xa và cơn tê liệt âm ỉ mà tôi cảm thấy từ lúc xẩm tối làm tay tôi nhấc không nổi. Có phải ánh trăng đó không? Biệt thự “của” bố tắm trong một làn ánh sáng đêm Bắc Cực. Nó mang dáng vẻ một cung điện làm bằng bìa các tông trôi nổi trong không trung, còn bố là một vị lãnh tụ Hồi giáo béo phì. Mắt nhìn vào hư vô, môi nhão ra, tì khuỷu tay nhìn ra rừng. Tôi nghĩ về tất cả những hy sinh tôi phải chấp nhận để chạm đến bố: thôi oán hận bố về “trường đoạn đau đớn ở trạm tàu điện ngầm George-V”; lặn ngụp trong bầu không khí xói mòn tinh thần và sức khỏe; chịu đựng việc đồng hành với những kẻ vô lại; ngày qua ngày để mắt đến bố, không ngơi nghỉ. Và tất cả những chuyện đó chỉ để có được cái ảo ảnh vô giá trị trước mặt tôi đây! Nhưng, con sẽ theo đuổi bố đến cùng. Con quan tâm đến bố, “papa” ạ. Người ta luôn tò mò được biết cội nguồn của mình.
Bây giờ trời đã tối hơn. Chúng tôi đi theo một con đường tắt dẫn về ngôi làng. Ả tiếp tục nói với tôi về căn hộ của Murraille, đại lộ Iéna. Những buổi tối mùa hè, họ ngồi chơi trên sân thượng rộng lớn… Ả kề mặt vào tôi. Tôi cảm thấy hơi thở của ả trên cổ. Chúng tôi mò mẫm đi xuyên qua quầy bar của lữ quán Le Clos-Foucré và tôi đã ở trong phòng ả, như tôi dự kiến. Một cây đèn với chụp màu đỏ đặt trên tủ nhỏ đầu giường. Hai ghế và một bàn viết nhỏ. Tường dán vải xa tanh sọc vàng và xanh lá cây. Sylviane quay núm chiếc máy truyền thanh và tôi nghe được giọng ca của André Claveau, xa xăm, chen lẫn những tiếng lạo xạo. Ả nằm vắt ngang giường.
- Anh có thể làm ơn tháo hộ tôi đôi ủng không?
Ả
Tôi làm theo với những động tác của một kẻ mộng du. Ả chìa cho tôi một bao thuốc. Chúng tôi hút. Rõ ràng, toàn bộ phòng ngủ ở Le Clos Foucré đều giống nhau: bàn ghế theo kiểu Đế chế với những nét chạm khắc cảnh săn bắn kiểu Anh. Lúc này ả đang mân mê một khẩu súng lục nhỏ, báng khảm xà cừ và tôi tự hỏi không biết tôi có đang sống chương đầu tiên trong Tự thú của một tài xế trong giới ăn chơi mà tôi đã hứa hẹn với Murraille hay không. Dưới ánh đèn sáng gắt, ả trông già hơn tôi nghĩ. Những đường nét chất chứa mệt mỏi. Một vệt son môi quét qua cằm. Ả nói với tôi:
- Lại gần đây.
Tôi ngồi xuống mép giường. Ả chống hai khuỷu tay, nhìn thẳng vào mắt tôi. Hẳn là vào lúc đó, điện bỗng yếu đi. Một tấm màn màu vàng phủ lên căn phòng, giống như màu vàng ố phủ lên những tấm ảnh cũ. Gương mặt ả mờ đi, đường nét các đồ đạc không còn rõ, Claveau tiếp tục hát khe khẽ. Vào lúc đó, tôi nêu lên câu hỏi vẫn cháy bỏng trên môi ngay từ đầu. Xẵng giọng:
- Nói xem bà biết gì về ngài nam tước Deyckecaire?
- Deyckecaire ư?
Ả thở dài và quay mặt vào vách. Nhiều phút trôi qua. Ả đã quên tôi nhưng tôi tấn công trở lại:
- Một mẫu người kỳ quặc, phải không, ông Deyckecaire ấy? Tôi chờ đợi. Không có phản ứng nào từ ả. Tôi nhắc lại, nhấn rõ từng âm tiết:
- Một mẫu-người kỳ quặc, ông Dey-cke-caire ấy!…
Ả không động đậy nữa. Có vẻ như ả đã ngủ thiếp đi và tôi sẽ không bao giờ có được câu trả lời. Tôi nghe ả làu nhàu:
- Lão khiến anh quan tâm à, lão Deyckecaire đó?
Một ánh đèn pha nháy lên trong bóng đêm. Yếu ớt. Ả nói tiếp, giọng kéo dài:
- Anh muốn gì ở con người ấy?
- Không gì cả… Bà biết ông ấy lâu chưa?
- Con người đó ấy hả? - ả nhấn nhá từ “con người đó” theo cách mấy người say rượu lúc nào cũng lặp đi lặp lại cùng một từ.
- Theo tôi hiểu - tôi tiếp tục phiêu lưu - đó là một người bạn của Murraille?
- Bạn tâm tình đấy!
Tôi toan hỏi “bạn tâm tình” với ả nghĩa là gì, nhưng tôi muốn phục kích thời điểm thích hợp hơn. Ả bắt đầu huyên thuyên những điều bất tận, ngưng lại, thì thầm những câu rối rắm. Tôi đã quen với những trò mò mẫm, những màn bịt mắt bắt dê mệt nhoài mà bạn có cố vươn tay quờ quạng cũng chỉ chạm được vào khoảng không trống rỗng. Tôi cố gắng - không phải dễ dàng gì - kéo ả trở lại với chủ đề. Sau chừng một giờ, tôi đã thành công trong việc khui ra được một vài chi tiết. Phải, bố đúng là “bạn tâm tình” của Murraille. Bố là người đứng tên thay, và là người giúp việc cho hắn để giải quyết mấy vụ làm ăn mờ ám. Chợ đen? Bán hàng tại gia? Ả kết thúc với việc vừa tuyên bố vừa ngáp: “Vả lại, Jean sẽ tống khứ lão ta sớm nhất có thể!” Như vậy là đã rõ. Từ lúc đó, chúng tôi nói đủ thứ chuyện khác. Ả đi lấy một cái hòm nhỏ bằng da để trên bàn và cho tôi xem những món nữ trang mà Murraille đã tặng ả. Hắn chọn những thứ đúc khối và khảm đá quý, vì, theo hắn “những thứ như thế giúp người ta dễ thương lượng khi gặp khó khăn”. Tôi nói với ả rằng đó là một ý tưởng hợp lý, “vào một thời buổi như bây giờ”. Ả hỏi tôi có đi chơi nhiều ở Paris không. Có khối những buổi diễn tuyệt vời: Roger Duchesne và Billy Bourbon xuất hiện ở tiệm hát Club. Sessue Hayakawa trình diễn lại Forfaiture ở L’Ambigu, và còn có thể xem, ở phòng trà-khai vị Chapiteau, Michel Parme và dàn nhạc Skarjinski. Con, con nghĩ đến bố, “papa” ạ. Như vậy, bố chỉ là một người rơm, mà người ta sẽ bỏ đi khi đến lúc. Sự biến mất của bố sẽ không gây ồn ào gì hơn sự biến mất của một con ruồi. Ai sẽ còn nhớ đến bố hai mươi năm nữa?
Sylviane kéo rèm cửa. Tôi chỉ còn thấy rõ gương mặt và mái tóc đỏ hung của ả. Tôi tóm lược lại các sự kiện của buổi tối. Bữa ăn dài đằng đẵng, cuộc đi dạo dưới ánh trăng, Murraille và Marcheret quay về “Biệt thự Mektoub”. Và hình dáng của bố trên con đường Bornage. Vâng, tất cả những điều mơ hồ ấy đã thuộc về quá khứ. Tôi đã đi ngược dòng thời gian để tìm lại và theo dấu bố. Chúng ta đang ở năm nào? Thời kỳ nào? Trong cuộc đời nào? Điều thần kỳ nào đã giúp tôi biết được bố khi bố chưa là bố
của tôi? Tại sao tôi phải cố gắng đến thế, trong lúc một ca sĩ ứng tác kể một “câu chuyện Do Thái” trong một tiệm hát có mùi bóng tối và mùi da thuộc, trước những khách hàng lạ thường? Tại sao tôi lại muốn, từ sớm như vậy, làm con của bố? Ả đã tắt ngọn đèn đầu giường. Tiếng người ồn ã sau tấm vách ngăn. Maud Gallas và Dédé Wildmer. Họ chửi rủa nhau một lúc khá lâu, sau đó là những tiếng thở dồn và tiếng rên. Cái máy truyền thanh không còn kêu lạo xạo nữa. Sau một khúc nhạc ngắn do dàn nhạc Fred Adison trình bày, người ta đọc bản tin cuối. Và thật khiếp đảm khi nghe tiếng gã xướng ngôn viên điên loạn ấy - luôn là hắn - trong bóng tối.
Lòng kiên nhẫn, tôi cần lòng kiên nhẫn! Marcheret lôi tôi riêng ra một góc và bắt đầu mô tả cho tôi, từng ngôi nhà một, khu phố dành riêng ở Casablanca nơi hắn đã sống - hắn nói với tôi - những khoảnh khắc đẹp nhất cuộc đời. Người ta sẽ không quên châu Phi! Nó để lại những dấu ấn. Lục địa giang mai. Tôi để hắn lải nhải hàng giờ về “cái châu Phi mắc dịch ấy”, đồng thời vẫn tỏ ra quan tâm một cách lịch sự. Hắn còn một chủ đề trò chuyện khác. Dòng máu hoàng tộc của hắn. Hắn tự nhận là hậu duệ của công tước xứ Maine, đứa con hoang của Louis XIV. Tước hiệu “bá tước vùng Eu” là bằng chứng cho điều đó. Cứ mỗi lần như thế, giấy bút cầm tay, hắn muốn chứng minh cho tôi thấy. Hắn bắt đầu vẽ một cây phả hệ và việc đó kéo dài đến sáng. Hắn nhầm lẫn chỗ này, gạch bỏ chỗ kia, thêm vào mấy cái tên, nét chữ của hắn dần trở nên không đọc nổi. Rốt cuộc, hắn xé vụn tờ giấy và trừng mắt nhìn tôi:
- Anh không tin, phỏng?
Vào những buổi tối khác, hắn lại lôi bệnh sốt rét và cuộc hôn nhân sắp tới với Annie Murraille ra làm chủ đề. Những cơn sốt thưa dần, nhưng không bao giờ chữa dứt được. Và Annie chỉ là chuyện bốc đồng. Hắn chỉ cưới cô vì tình bạn với Murraille. Có lẽ không kéo dài nổi một tuần lễ… Nhận thấy điều ấy làm hắn cay đắng. Mượn hơi men, hắn tỏ ra hung hăng, xem tôi như “thằng vắt mũi chưa sạch”, “thằng non tơ”. Dédé Wildmer là thằng “ma cô”, Murraille một “kẻ cuồng dâm” và bố tôi “một tên Do Thái chạy trời không khỏi nắng”. Dần dần, hắn tỉnh lại, cầu xin tôi tha lỗi. Hay chúng ta uống một cốc vermouth cuối cùng nhé! Không phương thuốc nào chữa chứng buồn chán hiệu nghiệm hơn.
Murraille, về phần hắn, nói với tôi về tờ báo. Hắn định tăng độ dày cho Đời là thế lên 36 trang, với những mục mới nơi các tài năng đủ dạng có thể
cất tiếng. Sắp tới đây, hắn sẽ ăn mừng năm mươi năm hắn làm nghề báo: vào dịp đó, một bữa trưa sẽ tập hợp phần lớn các đồng môn của hắn: Maulaz, Gerbère, Le Houleux, Lestandi… và những nhân vật quan trọng khác. Hắn sẽ giới thiệu họ với tôi. Hắn vui sướng được giúp đỡ tôi. Nếu cần tiền, tôi không được ngần ngại nói với hắn: hắn sẽ ứng trước cho những truyện ngắn tương lai của tôi. Thời gian trôi qua, sự tự tin và giọng điệu bảo trợ của hắn nhường chỗ cho một sự căng thẳng càng lúc càng lớn. Mỗi ngày - hắn tâm sự với tôi - hắn nhận được chừng trăm lá thư nặc danh. Người ta muốn lột da hắn và hắn buộc phải xin giấy phép mang súng. Nói tóm lại, người ta trách cứ việc hắn dám lựa chọn quan điểm vào lúc mà đa số ai cũng “nằm phục chờ thời”. Hắn, ít ra, cũng công bố ý kiến của mình. Đen trắng rõ ràng. Cho đến nay, hắn vẫn nắm dao đằng chuôi, nhưng tình hình có lẽ sẽ diễn tiến theo hướng bất lợi cho hắn và đám bạn bè. Và khi đó người ta sẽ không nhẹ tay với hắn nữa. Trong lúc chờ đợi, hắn chẳng cần ai dạy dỗ. Tôi nói với hắn rằng đó cũng là ý kiến của tôi. Những ý tưởng buồn cười lướt qua trong trí tôi: tên này không cảnh giác với tôi (ít ra theo tôi nghĩ) và có lẽ cũng dễ hạ hắn. Không phải khi nào người ta cũng có dịp đứng trước mặt “một kẻ phản bội” hay “một tên bất lương”, cần phải tận dụng cơ hội đó. Hắn mỉm cười. Thực ra, tôi thấy hắn dễ mến.
- Tất cả những điều đó, ông bạn thân mến, chẳng có gì là quan trọng… Hắn thích sống trong nguy hiểm. Hắn lại sắp “nhúng tay” sâu hơn với bài xã luận kỳ tới.
Sylviane Quimphe, phần ả, kéo tôi đến trường luyện ngựa mỗi buổi chiều. Chúng tôi thường chạm mặt, trong lúc đi dạo, một người đàn ông chừng sáu mươi tuổi, phong cách tinh tế. Tôi hẳn sẽ không đặc biệt chú ý đến ông ta nếu không bắt gặp cái nhìn đầy vẻ khinh thị mà ông ta ném vào chúng tôi. Chắc hẳn ông ta cho rằng thật quá đáng khi có người vẫn còn có thể lên ngựa và nghĩ đến chuyện vui chơi “vào giai đoạn bi thảm như hiện nay”. Chúng tôi chắc sẽ để lại những ấn tượng rất tồi tệ ở Seine-et Marne… Lối ứng xử của Sylviane Quimphe khiến chúng tôi khó được lòng người dân. Khi chúng tôi quay ngược lại đường chính, ả nói oang oang và hay cười phá lên.
Vào những khoảnh khắc cô đơn hiếm hoi, tôi viết các “truyện đăng từng kỳ” cho Murraille. Tự thú của một tài xế trong giới ăn chơi làm hắn rất hài lòng và hắn đặt hàng tôi thêm ba truyện nữa. Tôi đã giao cho hắn Tự
thú của một nhiếp ảnh gia kinh viện. Còn nữa: Via Lesbos[8] và Người đàn bà phòng thu, mà tôi đã cố gắng viết mau chóng nhất có thể. Đó là những thử thách tôi phải ép mình chịu đựng với hy vọng thiết lập được một mối liên hệ với bố. Viết truyện khiêu dâm, làm đĩ đực, làm bạn tâm tình của một kẻ nghiện rượu và một chuyên gia tống tiền, bố còn muốn kéo con đến đâu nữa? Hay là con phải lặn sâu hơn để kéo bố ra khỏi cái vũng nước bẩn ấy?
Vào lúc này, tôi đang nghĩ đến tính hão huyền của việc tôi làm. Đương sự là một người đàn ông, đã biến mất từ lâu. Muốn hỏi những người từng quen biết đương sự thì dấu vết của họ cũng đã bị xóa mờ theo tung tích đương sự. Hỏi về cuộc đời đương sự, người ta chỉ có được những thông tin mơ hồ thường là mâu thuẫn, và hai hoặc ba điểm mốc. Vật chứng ư? một con tem bưu chính và một tấm huân chương Bắc đẩu Bội tinh giả mạo. Như vậy chỉ còn cách tưởng tượng. Tôi nhắm mắt lại. Quầy bar ở Le Clos Foucré và gian phòng khách kiểu thuộc địa của “Biệt thự Mektoub”. Sau từng đó năm, đồ đạc phủ đầy bụi. Mùi ẩm mốc xông đến cuống họng tôi. Murraille, Marcheret, Sylviane Quimphe đứng bất động như những hình nộm bằng sáp. Còn bố, bố đang buông người xuống một chiếc ghế nệm không chân, khuôn mặt bất động và đôi mắt mở lớn.
Thật là một ý tưởng kỳ khôi, đúng vậy, khi khuấy động tất cả những thứ đã chết ấy.
•••
Hôn lễ sẽ diễn ra vào ngày hôm sau nhưng Annie vẫn biệt tích. Murraille cố gắng liên lạc với cô qua điện thoại nhưng tuyệt vọng. Sylviane Quimphe tra cứu sổ ghi chép và chỉ cho hắn số điện thoại của những hộp đêm mà “con ngốc” ấy có thể tìm đến. Chez Tonton, Trinité 87.42. Au Bosphore, Richelieu 94.03. El Garron, Vintimille, 30.54. L’étincelle… Marcheret, lầm lì, nốc cạn từng cốc cognac đầy tràn. Murraille, giữa hai cú điện thoại, khẩn cầu hắn kiên nhẫn. Có người báo cho biết Annie, tầm mười một giờ, đã ghé qua Monte-Cristo. Với một chút may mắn, ta sẽ có thể “tóm cổ” cô nàng ở Djiguite hay L’Armorial. Nhưng Marcheret không còn tin nữa.
Không, không cần phải cố công làm gì. Và bố, trên chiếc ghế nệm không chân, bố làm ra vẻ sầu não. Cuối cùng, bố cất tiếng thì thào: - Hãy thử gọi Poisson d’Or, Odéon 90.95…
Marcheret ngẩng đầu lên:
- Ông, Chalva, không ai hỏi ý kiến ông…
Bố nín thở để không gây chú ý. Hẳn bố mong có thể độn thổ đi được. Người kia, càng lúc càng nóng ruột, tiếp tục gọi điện thoại: Le Doge, Opéra 95.78. Chez Carrère, Balzac 59.60. Les Trots Vaises, Vemet 15.27. Au grand Large…
Bố nhẹ nhàng lặp lại:
- Có lẽ ở Poisson d’Or, Odéon 90.95…
Murraille gầm lên:
- Ông im đi, Chalva, rõ chưa?
Hắn vung điện thoại như một cái chùy và những khớp xương của hắn, ở ngón tay, trắng bệch ra. Marcheret chậm rãi uống cốc cognac và tiếp: - Nếu ông ta còn nói một tiếng nữa, tôi sẽ lấy dao cạo cắt đứt lưỡi ông ta!… Là ông đấy, Chalva ạ…
Tôi lợi dụng cơ hội ấy để chuồn ra hiên nhà. Tôi hít thở căng lồng ngực. Không khí đêm im ắng, mát mẻ. Rốt cuộc cũng được một mình. Tôi quan sát, chăm chú, chiếc Talbot của Marcheret, đỗ sau cánh cổng, vỏ xe sáng loáng dưới ánh trăng. Hắn ta luôn bỏ quên chìa khóa trên bảng điều khiển. Cả hắn lẫn Murraille hẳn đều sẽ không nghe thấy tiếng động cơ. Trong vòng hai mươi phút, tôi sẽ về đến Paris. Tôi sẽ tìm lại căn phòng nhỏ bé của mình ở đại lộ Gouvion-Saint-Cyr. Tôi sẽ không đi đâu nữa, nằm chờ những ngày tốt đẹp hơn. Tôi sẽ thôi dính líu vào những chuyện không liên quan đến mình và thôi chuốc lấy những rủi ro vô ích. Mặc bố xoay xở. Phần ai nấy lo. Nhưng viễn cảnh để bố lại một mình với họ gây ra cho tôi một cơn co thắt đau đớn ở ngực trái. Không, đây không phải là lúc bỏ rơi bố.
Sau lưng tôi, có người đẩy cánh cửa lửng và ngồi xuống một trong những cái ghế bành ở hiên nhà. Tôi quay lại và trong bóng tối mờ mờ, con nhận ra bóng dáng bố. Thật tình, tôi hơi bất ngờ khi bố ra đây nhập hội với tôi. Tôi thận trọng tiến đến bên bố như một người săn bướm tiếp cận một
giống bướm hiếm chỉ chực bay đi trong chớp mắt. Tôi là người phá vỡ sự yên lặng:
- Thế nào? Họ đã tìm được Annie chưa?
- Chưa.
Bố cố nén một tiếng cười. Qua ô cửa kính, tôi thấy Murraille đang đứng, kẹp ống điện thoại giữa má và vai. Sylviane Quimphe đặt một đĩa nhạc vào máy hát. Marcheret rót rượu uống như một chiếc máy. - Bạn bè của ông thật là kỳ cục, tôi nhận xét.
- Họ không phải là bạn tôi mà là… quan hệ làm ăn.
Bố loay hoay tìm cách châm một điếu thuốc và tôi cho phép mình chìa cho bố cái bật lửa bạch kim mà Sylviane Quimphe đã tặng. - Ông là người trong giới làm ăn à? tôi hỏi.
- Buộc phải thế!
Vẫn tiếng cười cố nén lại ấy.
- Ông làm việc với Murraille?
Sau một thoáng do dự:
- Đúng thế.
- Và công việc thuận lợi chứ?
- Cũng nhì nhằng.
Chúng tôi có cả một đêm dài để giãi bày mọi chuyện. “Cuộc tiếp xúc” mà tôi đã hy vọng từ bao lâu nay cuối cùng cũng sắp xảy ra. Tôi tin chắc thế. Từ phòng khách vọng ra tiếng ca trầm đục của một ca sĩ tango: A la luz del candil…[9]
- Ông có muốn chúng ta đi dạo một lát cho dãn gân cốt không? - Tại sao không? bố trả lời.
Tôi nhìn lại một lần cuối về phía cái cửa lửng. Hơi nước phủ mờ các tấm kính và tôi chỉ nhận ra ba vệt lớn chìm trong một làn sương màu vàng. Có lẽ họ đã ngủ thiếp đi…
A la luz del candil…
Bài hát mà tôi chỉ còn nghe ra từng đoạn ngắn khi xuống đến cuối lối đi ấy làm tôi bối rối. Chúng tôi thật tình đang ở Seine-et-Marne hay ở một nước nhiệt đới? San Salvador? Bahia Blanca? Tôi mở cổng, vuốt ve mui chiếc Talbot. Chúng tôi không cần đến nó. Chỉ cần một sải chân, một sải chân thật rộng, là chúng tôi có thể về lại Paris. Chúng tôi đi theo con đường lớn trong trạng thái vô trọng lực.
- Nếu họ nhận thấy ông bỏ họ lại thì sao?
- Không sao cả.
Một câu trả lời như thế từ bố làm tôi ngạc nhiên, bố vốn lúc nào cũng sợ sệt, quỵ lụy họ… Lần đầu tiên, bố tỏ ra thoải mái. Chúng tôi đi theo đường Bornage. Bố huýt sáo nho nhỏ và thậm chí còn phác một bước nhảy tango; còn tôi, tôi thả lỏng bản thân trước một cảm giác sảng khoái đáng nghi. Bố nói với tôi: “Hãy đến thăm biệt thự của tôi”, như thể đó là một điều tất yếu.
Kể từ thời khắc đó, tôi biết rằng tôi đang mơ và cố tránh những cử chỉ quá đột ngột để không bị thức giấc. Chúng tôi đi ngang qua khu vườn hoang phế, bước vào tiền sảnh và bố khóa kỹ cánh cửa. Bố chỉ những chiếc áo khoác chất thành đống ngay trên nền nhà.
- Trùm vào đi, ở đây lạnh cóng đấy.
Quả thật như thế. Răng tôi va vào nhau lập cập. Chỗ này chưa quen thuộc với bố lắm, vì bố phải vất vả mới tìm được công tắc điện. Một chiếc tràng kỷ, vài ghế bành lớn, một số ghế tựa bọc vải bảo vệ. Ngọn đèn chùm thiếu nhiều bóng điện. Trên một cái tủ com mốt, giữa hai cửa sổ, một bó hoa khô. Tôi đoán rằng thường ngày, bố tránh lui tới gian phòng này, nhưng đêm nay bố muốn đón tôi ở đây cho thêm phần trọng vọng. Chúng tôi ngồi im, cả hai cùng lúng túng. Sau cùng bố nói:
- Anh ngồi xuống đi, tôi đi pha chút trà.
Tôi ngồi xuống một trong những chiếc ghế bành lớn. Điều phiền toái, với mớ vải bọc này, là phải ngồi cho vững để không bị tuột đi. Trước mặt tôi, ba bức tranh khắc miêu tả cảnh thôn dã theo phong cách thế kỷ 18. Tôi không thấy rõ từng chi tiết vì mặt kính bị bụi phủ mờ. Tôi ngồi chờ và khung cảnh tàn tạ này gợi tôi nhớ đến phòng khách của ông nha sĩ ở phố Penthièvre, nơi tôi ẩn náu để tránh một cuộc kiểm tra căn cước. Đồ đạc cũng phủ vải bọc, như ở đây. Từ cửa sổ, tôi đã thấy đám cảnh sát chặn
đường, xe tù đỗ xa hơn một chút. Cả ông nha sĩ lẫn bà cụ già từng mở cửa cho tôi đều đã biến mất. Khoảng chừng mười một giờ đêm, tôi đã nhón chân rút lui và chuồn ra con phố vắng tanh.
Giờ đây, chúng tôi ngồi đối mặt nhau và bố rót cho tôi một tách trà. - Trà Earl Grey, bố thì thào.
Chúng tôi trông có vẻ kỳ dị trong đống áo khoác này. Chiếc của tôi là một loại áo dài Cận Đông bằng lông lạc đà, rộng thùng thình. Nơi ve áo của bố, tôi nhận thấy chiếc nơ hoa hồng trên huân chương Bắc đẩu Bội tinh. Chiếc áo này hẳn thuộc về chủ nhân ngôi nhà.
- Có lẽ anh muốn dùng ít bánh quy? Tôi tin rằng trong nhà vẫn còn. Bố mở một trong những ngăn kéo tủ.
- Đây, thưởng thức giùm tôi món này…
Những cái bánh nướng nhân kem mà người ta gọi là “Ploum-Plouvier”. Bố mê tít loại bánh ngọt chán ngấy ấy, mà chúng ta vẫn đều đặn ghé mua ở một tiệm bánh phố Vivienne. Thật tình là không có gì thay đổi cả. Bố hãy nhớ lại đi. Chúng ta đã từng trải qua những buổi tối dài dằng dặc bên nhau trong những gian phòng cũng buồn thảm như thế này. Phòng “sinh hoạt” ở số 64 đại lộ Félix-Faure với những đồ đạc bằng gỗ anh đào dại…
- Thêm chút trà nhé!
- Vâng, xin ông.
- Xin lỗi, nhưng tôi không còn chanh. Một chiếc Ploum nữa nhé? Thật đáng tiếc, rụt đầu trong đống áo khoác thùng thình, chúng ta đã chọn tông giọng trò chuyện kiểu thượng lưu. Chúng ta có biết bao nhiêu điều để nói với nhau! Bố đã làm những gì, “papa”, trong mười năm vừa qua? Phần con, bố biết đấy, cuộc sống không dễ dàng gì. Ít lâu sau con vẫn chế tác thêm những lời đề tặng giả mạo. Cho đến ngày con chào hàng một bức thư tình Abel Bonnard viết cho Henry Bordeaux, người khách hàng đoán ra được trò bịp bợm và muốn lôi con ra tòa. Tất nhiên, con thà biến mất còn hơn. Một chức giám thị trong một trường trung học ở tỉnh Sarthe. Đơn điệu. Những trò bẩn thỉu của đồng nghiệp. Những lớp học với lũ trẻ dậy thì cứng đầu và cợt nhả. Buổi tối, làm một vòng các tiệm rượu với ông giáo viên thể dục muốn tiêm nhiễm cho con triết lý thể dục ngoài trời của Hébert và kể cho con nghe về Thế vận hội Berlin...
Còn bố? Bố có còn tiếp tục gửi những kiện hàng cho các nhà sưu tầm ở Pháp và hải ngoại? Nhiều lần, con đã muốn viết thư cho bố từ cái tỉnh xa xôi ấy. Nhưng đến địa chỉ nào?
Chúng tôi giống như hai thằng kẻ trộm. Tôi tưởng tượng ra sự ngạc nhiên của gia chủ khi họ thấy chúng tôi, ngồi uống trà trong phòng khách của họ. Tôi hỏi bố:
- Ông mua ngôi nhà này à?
- Ngôi nhà… bị bỏ hoang. - Bố nhìn xéo tôi. Chủ nhân đã chọn cách bỏ đi vì… các biến cố.
Đó đúng là điều tôi nghĩ. Họ đang chờ đợi ở Thụy Sĩ hoặc Bồ Đào Nha những ngày tươi đẹp hơn và, khi họ về, hỡi ôi, chúng tôi sẽ không còn có mặt để đón tiếp họ. Mọi thứ sẽ trở lại vẻ quen thuộc của chúng. Liệu họ có nhận ra được lần ghé qua đây của chúng tôi? Không. Chúng tôi có sự kín đáo của loài chuột. Trừ phi chúng tôi để vương vãi vài mẩu vụn bánh mì, hoặc bỏ quên một cái tách… Bố mở hòm rượu mùi, rụt rè, như thể sợ bị bắt quả tang.
- Một ít rượu lê William’s nhé!
Dùng chứ. Hãy cùng tận hưởng! Tối nay, ngôi nhà này thuộc về chúng ta. Con dán mắt vào chiếc nơ hoa hồng trên huân chương của bố và con không có gì phải ganh tị: con cũng đeo ở ve áo khoác một dải ruy băng nhỏ màu hồng và vàng, có thể là một quân công bội tinh nào đó. Cùng nói về những điều yên lành, bố có muốn không? Về khu vườn phải làm sạch cỏ và về pho tượng đồng tuyệt đẹp của Barbedienne, dưới ánh sáng của những ngọn đèn này. Bố là nhà khai thác lâm sản còn con, con trai của bố, là sĩ quan tại ngũ. Con về nghỉ phép trong ngôi nhà thân yêu của chúng ta. Ở đây, con tìm lại được những mùi hương thân thuộc. Căn phòng ngủ của con không có gì thay đổi. Sâu trong tủ âm tường, máy thu thanh galen, những chú lính chì và bộ Meccano[10] ngày xưa. Mẹ và Geneviève đã lên phòng ngủ. Chúng ta nán lại phòng khách, giữa những người đàn ông. Con thích những lúc như vậy. Chúng ta nhâm nhi từng ngụm rượu lê. Sau đó, chúng ta nhồi thuốc vào tẩu với cung cách giống nhau. Chúng ta giống nhau, “papa” ạ. Hai nông dân, hai gã gốc Bretagne xấu xí, như cách bố nói. Rèm đã kéo, lửa reo tí tách êm ái. Chúng ta tán chuyện như hai tên đồng lõa lâu năm.
- Ông qua lại với Murraille và Marcheret lâu chưa?
- Từ năm ngoái.
- Và ông hợp cạ với họ chứ?
Bố vờ như không hiểu. Bố ho húng hắng. Tôi lại tấn công tiếp. - Theo ý tôi, ông nên dè chừng những hạng người ấy.
Bố vẫn không lay động, mắt nheo lại. Có lẽ bố cho tôi là một kẻ phá hoại ngầm. Tôi xích lại gần bên bố.
- Xin ông thứ lỗi vì tôi đã xen vào những chuyện không liên quan, nhưng tôi có cảm tưởng họ đang hãm hại ông.
- Tôi cũng thấy vậy, bố trả lời.
Tôi tin rằng bố đột nhiên cảm thấy an tâm hơn. Bố có nhận ra tôi không? Bố rót đầy hai cốc của chúng tôi.
- Chúng ta chạm cốc đi, tôi nói.
- Sẵn sàng!
- Chúc sức khỏe, ngài nam tước!
- Chúc sức khỏe, anh… Alexandre! Chúng ta đang sống qua những thời khắc rất khó khăn, anh Alexandre.
Bố nhắc đi nhắc lại câu đó hai hay ba lần, thay lời mào đầu, và sau đó bố giải thích cho tôi trường hợp của bố. Tôi nghe không rõ lắm, như thể bố đang nói với tôi qua điện thoại. Một giọng nói mong manh như sợi chỉ, mà khoảng cách và năm tháng càng làm thêm yếu ớt. Chốc chốc, tôi nghe thấy vài từ đứt đoạn: “Ra đi”…, “Vượt biên”…, “Vàng và ngoại hối”… Và chừng ấy là đủ để dựng lại câu chuyện của bố. Murraille, vốn biết bố giỏi trong việc môi giới, đặt bố lên đầu một cái gọi là “Công ty mua bán của Pháp”, mà vai trò là trữ những sản phẩm đủ loại và sau đó tuồn ra với giá rất cao. Hắn chiếm ba phần tư lợi nhuận. Lúc đầu, mọi việc diễn ra thuận lợi, bố lấy làm hài lòng với một văn phòng lớn ở phố Lord-Byron, nhưng dạo gần đây, Murraille không cần đến sự phục vụ của bố, và thấy bố chỉ làm vướng chân. Thời buổi đó, không gì dễ hơn việc loại bỏ một loại người như bố. Không quốc tịch, không pháp danh, không nơi cư trú cố định, bố thiệt thòi chồng chất thiệt thòi. Chỉ cần báo cho mấy viên thanh tra nhiệt tình của Đội Cảnh sát đặc biệt… Bố không còn chỗ nào bấu víu…
trừ một người gác cửa hộp đêm tên là “Titiko”. Ông ta sẵn sàng giới thiệu cho bố một trong những “mối quen biết”, sẽ giúp bố vượt qua biên giới Bỉ. Cuộc hẹn sẽ diễn ra trong ba ngày nữa. Toàn bộ của cải bố hẳn sẽ mang theo là 1500 đô la, một viên kim cương hồng và những miếng vàng nhỏ cỡ danh thiếp, dễ giấu.
Tôi có cảm tưởng như đang viết một “cuốn tiểu thuyết phiêu lưu tồi”, nhưng tôi không bịa ra điều gì. Không, không phải vậy là bịa… Chắc chắn là có những chứng cứ, một người ngày xưa từng biết bố, và có thể làm chứng cho tất cả những chuyện này. Không thành vấn đề. Tôi đang ở với bố và sẽ như vậy cho đến hết cuốn sách. Bố liếc nhìn ra cửa, vẻ lo lắng.
- Ông cứ bình tâm, tôi nói với bố. Họ sẽ không đến đâu.
Bố bớt căng thẳng dần. Tôi nhắc lại với bố rằng tôi sẽ ở lại với bố cho đến hết cuốn sách này, cuốn cuối cùng liên quan đến cuộc đời khác của tôi. Đừng tin rằng tôi viết cuốn sách này để mua vui, tôi viết vì không có lựa chọn nào khác.
- Thật kỳ lạ, anh Alexandre, việc chúng ta ngồi với nhau trong gian phòng khách này.
Đồng hồ quả lắc điểm mười hai tiếng. Một cái đồng hồ đồ sộ, đặt trên lò sưởi, mỗi cạnh bên mặt kính là một con hoẵng bằng đồng. - Gia chủ hẳn ưa thích đồng hồ quả lắc. Có một cái nữa, trên lầu, nhại lại tiếng chuông của cung điện Westminster.
Và bố phì cười. Tôi đã quen với những cơn hoan hỉ bột phát như thế. Khi chúng tôi còn cư ngụ ở công viên Villaret-de-Joyeuse và mọi chuyện đang xấu đi với chúng tôi, tôi vẫn nghe bố cười, ban đêm, đằng sau tấm vách ngăn phòng ngủ. Hoặc khi bố về nhà, tay cắp một tập cổ phiếu bụi bặm. Bố thả tập cổ phiếu xuống và tuyên bố với tôi bằng một giọng không còn sức sống: “Bố sẽ không bao giờ được định giá trên thị trường chứng khoán.” Bố lặng yên ngắm mớ giấy chiến lợi phẩm ấy, vung vãi trên sàn nhà. Và bỗng nhiên bố không nén được. Một tiếng cười càng lúc càng lớn, làm hai bờ vai bố rung lên. Bố không ngưng lại được.
- Còn anh, anh Alexandre, anh làm gì trong đời?
Trả lời bố sao đây? Đời con ư? Cũng ba chìm bảy nổi như đời bố, “papa” ạ. Mười tám tháng ở Sarthe để làm giám thị, như tôi đã nói với bố.
Tiếp tục làm giám thị ở Rennes, Limoges, và Clermont-Ferrand. Tôi chọn những cơ sở tôn giáo. Ở đó yên ổn hơn. Cái công việc quanh quẩn trong nhà đó mang lại bình yên cho tâm hồn tôi. Một trong những đồng nghiệp của tôi, đam mê hoạt động hướng đạo sinh, vừa tạo lập một trại thanh niên trong rừng Seillon. Anh ta tìm huấn luyện viên và nhận tôi vào làm việc. Đây, tôi mặc chiếc quần dài đánh golf màu xanh hải quân với ốp bảo vệ ống chân màu vàng hung. Tụi tôi dậy lúc sáu giờ sáng. Ban ngày tụi tôi huấn luyện thể thao và làm việc tay chân. Hát đồng ca buổi tối, sau bữa ăn. Cả một nền văn hóa dân gian vỗ về lòng người: Montcalm, Bayard, Lamoricière, “Giã biệt, cô em Françoise xinh đẹp”, cái bào gỗ, cây dao cắt, tinh thần thợ săn. Tôi ở lại nơi ấy được ba năm. Một nơi ẩn náu an toàn và tiện lợi để không ai còn chú ý đến ta. Hỡi ôi! Những bản năng xấu xa trong tôi lại trỗi dậy. Tôi trốn chạy khỏi ốc đảo ấy và về lại Gare de l’Est, chưa kịp lột cái mũ bê rê và các phù hiệu.
Tôi cày khắp Paris để tìm một công việc ổn định, một mục đích để tôi dồn hết tâm sức. Tìm kiếm hoài công. Sương mù vẫn chưa tan, vỉa hè trơn trượt. Càng lúc tôi càng thấy mình dễ trượt chân. Trong những cơn ác mộng, tôi bò lê bò lết cố tìm lại cái cột sống. Căn gác xép nơi tôi sống, đại lộ Magenta, trước đây từng là xưởng vẽ của họa sĩ Domergue, vào thời ông chưa chinh phục được vinh quang. Tôi cố gắng xem đó là một điềm may mắn.
Về những gì tôi làm thời đó, tôi chỉ còn giữ được một kỷ niệm mờ nhạt. Tôi tin rằng đã từng là “phụ tá” cho một tay bác sĩ S. chuyên chiêu mộ khách hàng trong đám nghiện ngập và cấp cho họ những toa thuốc với giá đắt như vàng. Tôi làm công việc săn mồi cho ông ta. Hình như tôi cũng có làm việc cho một nữ thi nhân người Anh, một người hâm mộ Dante Gabriel Rossetti cuồng nhiệt. Những chi tiết không quan trọng.
Tôi chỉ còn nhớ những chuyến bôn ba khắp Paris và cái trọng tâm, cái thỏi nam châm mà tôi luôn bị hút dính vào: sở cảnh sát. Cố đi xa chỉ uổng công vô ích, các bước chân lại đưa tôi về đấy chỉ sau vài giờ. Một đêm nọ, cảm thấy chán nản hơn mọi khi, tôi suýt xin những người đứng gác ở cổng lớn, đại lộ Palais, cho phép tôi được đi vào. Tôi không hiểu nổi sức hút của cảnh sát đối với tôi. Thoạt tiên tôi nghĩ đó là cơn chóng mặt khi mình nhìn xuống nước từ thành cầu, nhưng còn cái gì đó khác. Đối với những cậu trai mất phương hướng như tôi, cảnh sát biểu thị một điều gì đó vững chắc và
oai nghiêm. Tôi, tôi mơ được nằm trong số họ. Tôi thổ lộ tâm tình với Sieffer, một viên thanh tra tệ nạn xã hội mà tôi may mắn gặp được. Ông nghe tôi nói, khẽ nhếch mép cười nhưng với vẻ ân cần như một người cha và sẵn sàng nhận tôi vào đơn vị của ông. Trong nhiều tháng liền, tôi thực hiện những phi vụ theo dõi với tư cách tình nguyện. Tôi phải theo dõi đủ loại người và ghi lại thời gian biểu của họ. Tôi đã phát hiện biết bao bí mật cảm động trong những chuyến đi săn như thế… Ví như một ông công chứng viên ở Plaine Monceau, mà bạn bắt gặp với bộ tóc giả vàng hoe và đầm xa tanh ở khu Pigalle. Tôi đã thấy nhiều nhân vật vô vị trong phút chốc biến thành những tạo vật trong ác mộng hay những anh hùng trong bi kịch. Vào giai đoạn cuối, tôi tưởng như hóa điên. Tôi đánh đồng mình với những kẻ lạ mặt ấy. Chính tôi là người mà tôi truy đuổi không ngơi nghỉ. Tôi, lão già khoác áo mưa hay người phụ nữ mặc bộ vest màu be. Tôi nói chuyện đó với Sieffer.
- Không cần nói nhiều. Cậu là một tay mơ, nhóc ạ.
Ông tiễn tôi đến cửa văn phòng.
- Cậu cứ yên tâm. Chúng ta sẽ còn gặp lại nhau.
Ông nói thêm với giọng nghèn nghẹn:
- Không chóng thì chầy, tiếc thay, rồi chúng ta đều sẽ vào khám hết… Tôi thật lòng mến người đàn ông ấy và cảm thấy tin tưởng ông. Khi tôi giãi bày tâm trạng, ông bao bọc tôi bằng một cái nhìn buồn bã và ấm cúng. Ông ra sao rồi? Biết đâu ông có thể giúp đỡ chúng ta, vào lúc này? Quãng thời gian phục vụ trong ngành cảnh sát ấy không làm tôi lên tinh thần. Tôi không dám ra khỏi căn phòng ở đại lộ Magenta. Một mối đe dọa treo lơ lửng. Tôi nghĩ đến bố. Tôi có linh cảm rằng bố đang gặp nguy hiểm ở một nơi nào đó. Hằng đêm, bố gọi cầu cứu tôi khoảng từ ba giờ đến bốn giờ sáng. Dần dần, trong tâm trí tôi, hình thành ý tưởng đi tìm bố. Bố không để lại cho tôi một kỷ niệm tuyệt vời, nhưng mọi chuyện, sau mười năm, mất đi tầm quan trọng của nó và tôi không còn oán hận chút nào về “trường đoạn đau đớn ở trạm tàu điện George-V”. Chúng ta sẽ đề cập chủ đề ấy một lần nữa và đây sẽ là lần cuối, về hai điều: 1. Tôi nghi oan cho bố. Xin bố, trong trường hợp này, chấp nhận lời xin lỗi của tôi và quy sai lầm ấy cho những hoang tưởng trong tôi. 2. Nếu bố đã muốn đẩy tôi xuống gầm tàu điện ngầm, thì tôi vui lòng chấp thuận cho bố được
hưởng những tình tiết giảm nhẹ. Không, trường hợp của bố không có gì đặc biệt. Một người cha tìm cách giết chết hoặc loại bỏ đứa con trai của mình, đối với tôi, chỉ là triệu chứng của màn đảo lộn giá trị vĩ đại mà chúng ta đang trải qua. Cách đây không lâu, người ta nhận thấy có hiện tượng đối nghịch: con trai giết bố để chứng tỏ chúng có cơ bắp. Nhưng giờ đây, chúng ta nhắm vào ai? Chúng ta, những đứa trẻ mồ côi, chúng ta bị kết án phải truy đuổi một bóng ma để tìm kiếm tình cha con. Không thể chạm tới nó. Nó luôn trốn thoát. Thật là nhọc nhằn, ông mập của tôi ạ. Tôi có nên kể cho bố nghe tất cả những nỗ lực tưởng tượng tôi đã bỏ ra không? Tối hôm nay, bố ngồi trước mặt tôi, đôi mắt lồi ra. Bố giống một tên buôn lậu chợ đen bị dồn đến đường cùng và tước hiệu “nam tước” của bố cũng không đánh lạc hướng được bao nhiêu. Bố chọn tước hiệu ấy, tôi phỏng đoán, với hy vọng nó sẽ mang lại cho bố thế đứng và sự tôn trọng. Vở hài kịch ấy không có ích gì giữa hai chúng ta. Tôi biết bố từ quá lâu rồi. Hãy nhớ lại đi, ngài nam tước, những chuyến dạo bộ ngày Chủ nhật của chúng ta. Từ trung tâm Paris, một dòng chảy huyền bí đưa chúng ta dạt đến những đại lộ vành đai. Thành phố thải ra nơi đó rác rưởi và phù sa. Soult, Masséna, Davout, Kellermann. Tại sao người ta lấy tên những vị tướng thắng trận để đặt cho những nơi chốn bất ổn này? Nó nằm ở đó, tổ quốc của chúng ta.
Không có gì thay đổi. Sau mười năm, tôi thấy bố vẫn giống như bố ngày trước: canh chừng cánh cửa ra vào của phòng khách, như một con chuột đang hoảng sợ. Còn tôi, tôi bíu vào tay vịn tràng kỷ, vì miếng vải bọc quá trơn. Có cố công đến đâu, chúng ta cũng sẽ không bao giờ biết đến nghỉ ngơi, biết đến sự bất động êm ái của mọi thứ. Chúng ta sẽ bước đi đến cùng trên cát lún. Bố toát mồ hôi vì sợ. Bố hãy trấn tĩnh lại, ông già của tôi. Tôi đang ở bên bố, tôi nắm tay bố trong bóng tối. Dầu có điều gì xảy ra, tôi cũng sẽ chia sẻ số phận cùng bố. Trong lúc chờ đợi, chúng ta hãy đi thăm thú nơi này. Theo cánh cửa bên trái, chúng tôi đi vào một căn phòng nhỏ. Ghế bành bằng da như tôi vẫn ưa thích. Bàn giấy bằng gỗ sẫm màu. Bố đã lục các ngăn kéo chưa? Chúng ta sẽ xâm nhập vào chốn riêng tư của gia chủ và, dần dần, chúng ta sẽ có cảm giác là người trong gia đình họ; trên các tầng lầu liệu có còn những ngăn kéo, tủ com mốt hay những chiếc túi nào khác mà chúng ta có thể lục lọi? Chúng ta có được vài giờ nghỉ ngơi. Căn phòng này dễ chịu hơn phòng khách. Mùi vải tuýt và thuốc lá Hà Lan. Trên giá, những cuốn sách xếp ngay ngắn: Anatole France toàn
"""