"
Nhà Trắng - Những Chuyện Chưa Kể PDF EPUB
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Nhà Trắng - Những Chuyện Chưa Kể PDF EPUB
Ebooks
Nhóm Zalo
Table of Contents
Thông tin ebook
Giới thiệu về tác phẩm
Nhận xét về tác phẩm
Giới thiệu về tác giả
Nguồn thông tin và chú giải các chương
Dàn nhân vật chính
Mục lục
Lời nói đầu
Chương I – Sự hỗn loạn được kiểm soát
Chương II - Sự kín đáo
Chương III - Lòng tận tụy
Chương IV - Những yêu cầu kỳ lạ
Chương V - Chuỗi ngày u ám
Chương VI - Hy sinh
Chương VII - Chủng tộc và Nhà Trắng
Chương VIII - Những chuyện ngồi lê đôi mách và những trò tinh quái trong hậu trường
Chương IX - Lớn lên trong Nhà Trắng
Chương X - Đau thương và hy vọng
Lời kết
Lời cảm ơn
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách
Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể
Nguyên tác
The Residence: Inside the Private World of the White House
Tác giả
Kate Andersen Brower
Dịch giả
Nguyễn Thị Kim Anh
Nhà xuất bản
NXB Trẻ
Số trang
318
Kích thước
15,5 x 23 cm
Giá bìa
125.000 VNĐ
Năm xuất bản
Tháng 1/2018
Nguồn sách
PlanetVN
Tạo ebook
PlanetVN
Ngày hoàn thành
27/01/2021
GIỚI THIỆU VỀ TÁC PHẨM
Các đệ nhất gia đình của Mỹ nằm trong số những nhân vật có cuộc sống công tư đan xen nhau chặt chẽ nhất thế giới. Từ sự bí ẩn bao trùm cặp đôi Kennedy quyến rũ, đến vụ lùm xùm xoay quanh Bill và Hillary Clinton trong thời gian tổng thống bị buộc tội, đến sự hiện diện lịch sử mang tính đột phá của Barack và Michelle Obama trong Nhà Trắng, mỗi một chính quyền mới đưa đến Nhà Trắng những cặp vợ chồng độc nhất vô nhị – cùng hàng loạt thách thức mới cho những con người rất mực trung thành và luôn chăm chỉ phục vụ họ: các nhân viên Nhà Trắng.
Không ai hiểu tổng thống Hoa Kỳ và gia đình hơn những người giúp vận hành Nhà Trắng mỗi ngày. Và đây là lần đầu tiên những câu chuyện về quãng thời gian năm mươi năm trong Nhà Trắng dưới mười đời tổng thống cùng vô số những cuộc khủng hoảng lớn nhỏ được kể lại trong Nhà Trắng – Những chuyện chưa kể. Bỏ ra hàng trăm tiếng đồng hồ để phỏng vấn các nhân viên phục vụ, hầu phòng, bếp trưởng, thợ cắm hoa, gác cửa và các nhân viên khác, cùng các cựu đệ nhất phu nhân và các thành viên khác của gia đình tổng thống, Kate Andersen Brower – người đưa tin về nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Obama – cho ta một cái nhìn về một nhóm người chuyên sắp đặt những bữa tiệc tối thịnh soạn, luôn đứng chờ sẵn ở các cuộc họp với các quan chức cao cấp nước ngoài, chăm sóc cho các con nhỏ của tổng thống và đệ nhất phu nhân, và thỏa mãn mọi nhu cầu dù cao siêu hay lố bịch của vợ chồng tổng thống.
Qua giọng kể của chính các nhân viên làm việc trong tư dinh tổng thống, đôi lúc khôi hài châm biếm, thường xuyên chan chứa yêu thương, luôn hòa nhã và đầy tự hào, tôi xin giới thiệu cùng độc giả các câu chuyện của:
• Vợ chồng Tổng thống Kennedy – từ khoảnh khắc thân mật gần gũi
trong đời sống hôn nhân của họ đến quãng thời gian hỗn loạn sau ngày
Tổng thống Kennedy bị ám sát.
• Vợ chồng Tổng thống Johnson – nêu bật câu chuyện kỳ quái về nỗi ám ảnh của Tổng thống Johnson với hệ thống vòi sen trong Nhà Trắng. • Vợ chồng Tổng thống Nixon – kể cả sự xuất hiện bất ngờ của ông Richard Nixon trong căn bếp Nhà Trắng buổi sáng ngày ông từ chức. • Vợ chồng Tổng thống Reagan – từ đám cháy gây nguy hiểm cho ông Ronald Reagan ở cuối nhiệm kỳ hai của ông đến việc bà Nancy kiểm soát mọi chi tiết từ lớn đến bé trong Nhà Trắng.
• Vợ chồng Tổng thống Clinton – cặp vợ chồng khiến các gia nhân đứng ngồi không yên với những trận cãi vã ác liệt cùng những màn chén bay đĩa bay của họ.
• Vợ chồng Tổng thống Obama – cặp vợ chồng cùng khiêu vũ theo một bài hát của nữ ca sĩ da đen Mary J. Blige trong đêm đầu tiên dọn vào Nhà Trắng.
NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM
“Người Mỹ hiếm khi biết rõ cuộc sống bên trong Nhà Trắng thực sự ra sao. Những hình ảnh sinh động và gần gũi mà Kate Andersen Brower miêu tả về việc chăm sóc các gia đình tổng thống vì thế sẽ rất hấp dẫn các độc giả. Dù các bạn say mê chính trị hay lịch sử, hay là một fan trung thành của bộ phim truyền hình nhiều tập Downton Abbey,
quyển sách này cũng sẽ giúp các bạn hiểu thêm về các vị tổng thống ở
khía cạnh rất người của họ, điều mà cánh truyền thông chúng thường bỏ quên” – CHUCK TODD, người dẫn chương trình Meet the Press. “Bằng văn phong tuyệt mỹ, Nhà Trắng - Những chuyện chưa kể cho ta một cái nhìn lôi cuốn có một không hai về những gì thực sự diễn ra bên trong cái thế giới riêng tư của Nhà Trắng. Một cuốn sách chắc chắn phải đọc!” – NORAH O’DONNELL, đồng dẫn chương trình truyền hình CBS This morning, cựu phóng viên chính đưa tin về Nhà Trắng cho CBS News.
GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
KATE ANDERSEN BROWER có bốn năm đưa tin về chính quyền Obama cho hãng tin Bloomberg. Trước đây chị từng làm việc cho CBS News ở New York và Fox News ở Washington, D.C. Chị viết bài cho Washington Post, Bloomberg Businessweek và Washingtonian. Chị sống ở ngoại ô Washington, D.C., cùng chồng và hai con nhỏ. Chị có tài khoản Twitter tại địa chỉ: @katebrower.
NGUỒN THÔNG TIN VÀ CHÚ GIẢI CÁC CHƯƠNG
Để tìm tư liệu cho Nhà Trắng – Những chuyện chưa kể, tôi đã có những cuộc nói chuyện thẳng thắn với hơn một trăm người từng sống trong Nhà Trắng. Tôi đã phỏng vấn ba cựu đệ nhất phu nhân và con cái của bốn tổng thống, cùng với rất nhiều trợ lý của tổng thống. Nhưng những chi tiết tiết lộ nhiều điều nhất đến từ những cuộc nói chuyện của tôi với khoảng năm mươi nhân viên từng làm việc trong tư dinh và một nhân viên hiện vẫn đang làm ở đó, phần lớn bọn họ chưa từng nói với ai về những trải nghiệm làm việc của họ cho các đệ nhất gia đình nước Mỹ, đồng thời cũng chưa từng được phóng viên nào khác tiếp cận trước đây. Nhiều cuộc nói chuyện diễn ra trực diện. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, người cung cấp thông tin yêu cầu không nêu danh tính vì tính nhạy cảm của vấn đề và tôi đã tôn trọng mong muốn của họ. Bên cạnh những câu chuyện nghe trực tiếp về cuộc sống trong dinh tổng thống, tôi còn thu thập nhiều thông tin từ các tài liệu lưu trữ, bao gồm sử liệu truyền miệng ở các thư viện tổng thống, hồi ký của các nhân viên trong tư dinh và của các trợ lý chính trị, và tiểu sử của nhiều người.
DÀN NHÂN VẬT CHÍNH
• James W.F. “Skip” Allen: Quản lý 1979–2004
• Reds Arrington: Thợ ống nước, tổ trưởng Tổ Nước 1946–1979 • Preston Bruce: Nhân viên gác cửa, 1953–1977
• Traphes Bryant: Thợ điện, giữ chó, 1951–1973
• Cletus Clark: Thợ sơn, 1969–2008
• William “Bill” Cliber: Thợ điện, 1963–1990; Tổ trưởng Tổ Điện, 1990–2004
• Wendy Elsasser: Nhân viên cắm hoa, 1985–2007
• Chris Emery: Quản lý, 1987–1994
• Betty Finney: Nhân viên làm phòng, 1993–2007
• James Hall: Nhân viên phục vụ bán thời gian, 1963–2007 • William “Bill” Hamilton: Nhân viên quét dọn, Quản lý kho, 1958– 2013
• James Jeffries: Phụ bếp, Nhân viên phục vụ bán thời gian, từ 1959 đến nay
• Wilson Jerman: Nhân viên quét dọn, Nhân viên phục vụ, 1957-1993; Nhân viên gác cửa bán thời gian, 2003–2010
• Jim Ketchum: Quản lý Mỹ thuật, 1961–1963; Tổng Quản lý Mỹ thuật, 1963–1970
• Christine Limerick: Quản lý bộ phận phòng, 1979–2008 (gián đoạn từ 1986 đến 1991)
• Linsey Little: Nhân viên quét dọn, 1979–2005
• Betty Monkman: Quản lý Mỹ thuật, 1967–1997; Tổng Quản lý Mỹ thuật, 1997–2002
• Ronn Payne: Nhân viên cắm hoa, 1973–1996
• Nelson Pierce: Quản lý, 1961–1987
• Mary Prince: Bảo mẫu của Amy Carter
• James Ramsey: Nhân viên phục vụ, từ cuối chính quyền tổng thống Carter đến 2010
• Stephen Rochon: Tổng Quản lý, 2007–2011
• Frank Ruta: Bếp trưởng, 1979–1991 (gián đoạn từ 1987 đến 1988) • Tony Savoy: Nhân viên/Giám sát Điều hành, 1984–2013 • Bob Scanlan: Nhân viên cắm hoa, 1998–2010
• Walter Scheib: Quản bếp, 1994–2005
• Rex Scouten: Quản lý, 1957–1969; Tổng Quản lý, 1969–1986; Tổng Quản lý Mỹ thuật, 1986–1997
• Ivaniz Silva: Hầu phòng, 1985–2008
• Herman Thompson: Nhân viên phục vụ bán thời gian, 1960–1993 • Gary Walters: Quản lý, 1976–1986; Tổng Quản lý, 198–2007 • J.B. West: Quản lý, 1941–1957; Tổng Quản lý, 1957–1969 • Lynwood Westray: Nhân viên phục vụ bán thời gian, 1962–1994 • Worthington White: Quản lý, 1980–2012
• Zephyr Wright: Đầu bếp riêng của gia đình Johnson
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương I - Sự hỗn loạn được kiểm soát
Chương II - Sự kín đáo
Chương III - Lòng tận tụy
Chương IV - Những yêu cầu kỳ lạ
Chương V - Chuỗi ngày u ám
Chương VI - Hy sinh
Chương VII - Chủng tộc và Nhà Trắng
Chương VIII - Những chuyện ngồi lê đôi mách và những trò tinh quái trong hậu trường
Chương IX - Lớn lên trong Nhà Trắng
Chương X - Đau thương và hy vọng
Lời kết
LỜI NÓI ĐẦU
Sống trong Nhà Trắng giống như đứng trên sân khấu, nơi bi hài kịch đan xen lẫn lộn. Và chúng tôi, những người giúp việc của Nhà Trắng, là dàn nhân viên hỗ trợ – Lillian Rogers Parks, phục vụ phòng kiêm thợ may của Nhà Trắng, 1929–1961, Ba mươi năm giúp việc cho Nhà Trắng.
Sống trong Nhà Trắng giống như đứng trên sân khấu, nơi bi hài kịch đan xen lẫn lộn. Và chúng tôi, những người giúp việc của Nhà Trắng, là dàn nhân viên hỗ trợ – Lillian Rogers Parks, phục vụ phòng kiêm thợ may của Nhà Trắng, 1929 – 1961, Ba mươi năm giúp việc cho Nhà Trắng.
Preston Bruce đang ngồi nghe radio trong căn bếp ở Washington D.C trong lúc ăn trưa với vợ – bữa ăn trưa duy nhất họ cùng ăn với nhau mỗi ngày – thì đột nhiên người phát thanh viên ngắt ngang chương trình để thông báo một tin khẩn cấp: tổng thống bị bắn.
Ông lập tức chồm người khỏi ghế, đầu gối đập vào bàn ăn làm mấy cái đĩa văng xuống đất vỡ nát. Khoảng một phút sau, một thông báo khác phát ra với giọng kích động hơn: tổng thống bị bắn. Tổng thống đã được xác nhận là bị bắn. Hiện chưa ai biết tình trạng ông ấy thế nào.
Không thể thế được, Bruce nghĩ thầm, ông khoác vội chiếc áo, quên không lấy cái mũ trong tháng 11 lộng gió, và nhảy lên xe lao vút ra đường. Sau lưng ông, vợ ông, bà Virginia đứng chết lặng trong bếp giữa những mảnh đĩa vỡ tung tóe trên nền nhà.
Người đàn ông điềm tĩnh thường ngày đang luồn lách giữa dòng xe cộ trên phố với tốc độ 80 km/giờ – “Tôi không biết mình đang phóng rất nhanh,” sau này ông kể lại – thì đột nhiên nghe tiếng còi cảnh sát vang lên
sau lưng. Một sĩ quan cảnh sát đi mô tô cập sát xe ông ở góc đường Sixteenth Street và Columbia Road và nhảy xuống tiến về phía cửa xe. “Sao gấp thế?” Anh ta chẳng có vẻ như muốn nghe biện minh. “Anh sĩ quan, tôi làm việc ở Nhà Trắng,” Bruce nói không kịp thở. “Tổng thống bị bắn rồi.”
Tiếp đó là một khoảng lặng bàng hoàng. Không phải ai cũng nghe được tin chấn động này. “Đi nào,” viên sĩ quan cảnh sát nói giọng hoảng hốt và nhảy lên mô tô. “Theo tôi!” Hôm đó Bruce vinh dự được cảnh sát hộ tống đến tận cổng tây nam Nhà Trắng.
Hầu hết những người Mỹ sống năm 1963 đều nhớ chính xác họ đang ở đâu khi nghe tin Tổng thống Kennedy bị bắn. Thế nhưng tin này đặc biệt tác động đến Bruce bởi với ông, Kennedy không chỉ là tổng thống mà còn là ông chủ của ông và hơn thế nữa, một người bạn. Preston Bruce là người gác cửa ở Nhà Trắng được mọi người yêu mến. Chỉ mới sáng hôm trước, ông còn tháp tùng tổng thống cùng đệ nhất phu nhân và John John, con trai họ, đến chiếc trực thăng của thủy quân lục chiến ở Bãi cỏ phía nam (South Lawn) để từ đó bay đến chỗ chiếc Air Force One ở Căn cứ Không quân Andrews. Sau khi rời máy bay, vợ chồng Kennedy sẽ tham gia chiến dịch tranh cử định mệnh kéo dài hai ngày tại năm thành phố của bang Texas. (Bé John–John, chỉ bốn ngày nữa là 3 tuổi, rất thích đi trực thăng cùng bố mẹ. Từ trước đến giờ, nó chỉ đến căn cứ Andrews là xa nhất, vì thế khi nghe nói mình không được cùng bố mẹ đi Dallas, cu cậu òa khóc nức nở. Đó là lần cuối cùng cậu bé nhìn thấy bố.)
“Tôi giao ông phụ trách mọi việc ở đây đấy,” Tổng thống Kennedy hét to với Bruce trong tiếng động cơ trực thăng ầm ĩ ở Bãi cỏ phía nam. “Ông cứ quản lý mọi thứ theo ý ông.”
Là con cháu những người nô lệ và con trai một tá điền ở South Carolina, Bruce giờ đây đã trở thành một thành viên danh dự của gia đình Kennedy,
ông vẫn cùng xem phim với họ ở rạp chiếu phim của Nhà Trắng hay đứng nhìn tổng thống nô đùa với con. Ông nhăn mặt khi thấy Kennedy va đầu vào bàn trong lúc rượt đuổi bé John–John đang chạy lững chững quanh Phòng Bầu dục. (Bàn làm việc của JFK là một trong những chỗ ẩn nấp ưa thích nhất của John–John. Thỉnh thoảng Bruce lại phải lôi cậu bé ra khỏi gầm bàn trước khi bắt đầu một cuộc họp quan trọng.) Là một người trạc hơn năm mươi với dáng vóc cao gầy cùng mái tóc và cặp ria trắng sáng, Bruce thường mặc bộ complet đen gắn nơ trắng để đi làm mỗi ngày, ông tận tụy với công việc – bao gồm cả nhiệm vụ đưa các thực khách bỡ ngỡ ở các quốc yến [*] đến chỗ ngồi – đến mức tự tay thiết kế một chiếc bàn mang biệt danh “Bàn của Bruce” với mặt bàn hơi dốc để xếp các bảng tên lên đó dễ dàng hơn. Phát minh này của ông được sử dụng suốt mấy chục năm liền.
Ngày 22 tháng 11, Bruce chạy vội đến Nhà Trắng nhưng lòng vẫn chưa dám tin. “Cho đến hôm nay, tôi vẫn còn cảm nhận cú sốc lan truyền khắp cơ thể,” ông hồi tưởng lại.
Sau khi đến tòa hành pháp, ông chỉ nghĩ được một điều duy nhất, đó là “phải chờ phu nhân Kennedy về,” ông cùng các nhân viên khác xúm quanh chiếc tivi trong Phòng Quản lý. Tin tức trên tivi xác nhận những gì tất cả các nhân viên Nhà Trắng đang lo sợ. Nhiều năm sau ông viết: “Hầu hết chúng tôi vẫn luôn ý thức rằng bất cứ một vị tổng thống nào rời khỏi tòa nhà 18 mẫu Anh này cũng có thể quay về trong tình trạng giống Tổng thống Kennedy.”
Khi bà Jackie Kennedy trở về Nhà Trắng lúc 4 giờ sáng trong chiếc áo vest hồng đẫm máu và bám chặt vào tay cậu em chồng Robert F. Kennedy, mặt bà trắng bệch và bình tĩnh lạ thường. “Bruce, ông đợi chúng tôi về à,” giọng bà dịu dàng như đang cố trấn an ông. “Vâng, bà biết tôi sẽ ở đây đợi bà mà, thưa phu nhân,” ông trả lời.
Sau khi nhanh chóng hoàn thành một việc ở Phòng Đông (East Room), ông đưa đệ nhất phu nhân và ngài bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ lên khu nhà riêng ở tầng hai. Trong khoảnh khắc yên tĩnh bên trong thang máy cạnh hai người thân thương nhất của Tổng thống JFK, Bruce cuối cùng đã bật khóc. Jackie và Robert cũng ôm nhau khóc theo cho đến khi lên đến tầng hai. Vào đến phòng mình, Jackie nói với Providencia Paredes, cô hầu phòng riêng và cũng là người tín cẩn của bà: “Tôi nghĩ chúng có thể đã giết cả tôi.” Cuối cùng bà cũng cởi chiếc áo thấm đẫm máu chồng ra để đi tắm.
Kiệt sức, suốt thời gian còn lại của đêm hôm đó, Bruce chỉ ngồi thẳng lưng trên ghế trong căn phòng bé tí ở tầng ba. Ông cởi áo khoác và nơ ra, sau đó mở nút cổ áo chiếc sơ mi trắng hồ cứng, nhưng không để bản thân gục ngã vì mệt mỏi. “Tôi không muốn đi nằm vì sợ lỡ phu nhân Kennedy cần đến tôi.” Lòng trung thành của ông sau đó đã được đền đáp. Sau đám tang không lâu, đệ nhất phu nhân đem tặng ông chiếc cà vạt chồng bà đã đeo trên chuyến bay đi Dallas. “Tổng thống hẳn sẽ muốn ông giữ chiếc cà vạt này,” bà nói với ông (JFK đã thay cà vạt ngay trước khi bước vào chiếc xe được hộ tống, và chiếc cà vạt đó nằm trong túi áo khoác của ông khi ông bị bắn). Robert Kennedy cũng tháo đôi găng tay của ông ra đưa cho người bạn đau buồn: “Ông hãy giữ đôi găng này,” ông nói với Bruce, “và luôn nhớ rằng tôi đã đeo nó trong đám tang anh tôi.”
Mãi đến ngày 26 tháng 11, tức bốn ngày sau vụ ám sát, người gác cửa Nhà Trắng mới chịu rời nhiệm sở để quay về nhà với vợ. Sự tận tụy của Bruce đối với công việc và đối với đệ nhất gia đình có thể được xem là rất tuyệt vời, nhưng ta không thể trông chờ điều gì ít hơn từ những người làm việc trong tòa nhà này.
***
ÍT AI BIẾT về cuộc sống của các đệ nhất gia đình nước Mỹ. Sự riêng tư của họ được bảo vệ cẩn mật bởi các trợ lý khu Cánh Tây (West Wing)
cùng một đội ngũ khoảng một trăm người nằm ngoài tầm mắt mọi người: các nhân viên làm việc ở tư dinh Nhà Trắng. Những người giúp việc này dành phần lớn thời gian của họ trên tầng hai và tầng ba của tòa nhà rộng khoảng năm ngàn mốt mét vuông này. Đây là nơi mà các đệ nhất gia đình có thể thoát khỏi áp lực nặng nề của văn phòng, dù chỉ là vài giờ quý báu, để ăn tối hay xem tivi. Trong khi khách tham quan đang di chuyển dưới tầng một và những thợ ảnh nghiệp dư đang tập trung ở hàng rào vòng ngoài để quay phim bằng điện thoại di động, thì các đệ nhất gia đình tự do tận hưởng cuộc sống riêng tư của họ.
Không giống hàng tá trợ lý chính trị hăng hái trả lời phỏng vấn và phát hành hồi ký sau khi rời Nhà Trắng, phần lớn các cô hầu phòng, các nhân viên phục vụ cùng các đầu bếp, quản lý, kỹ sư, thợ điện, thợ ống nước, thợ mộc và thợ cắm hoa đang điều hành tòa nhà nổi tiếng nhất nước Mỹ này không muốn ai biết đến họ. Một nhân viên nói với tôi rằng các đồng nghiệp của ông có chung “niềm đam mê ẩn danh”. Kết quả là cái thế giới ngầm của các nhân viên Nhà Trắng vẫn luôn tràn ngập bí ẩn.
Lần đầu tiên tôi để ý đến cái thế giới này là khi, với tư cách thành viên đoàn báo chí Nhà Trắng, tôi được mời đến dự bữa tiệc trưa do bà Michelle Obama tổ chức để thết đãi nhóm phóng viên chưa đến chục người trong căn phòng ăn ấm cúng ở Tầng Khánh tiết [*] của Nhà Trắng. Trở thành Phòng ăn Gia đình cũ (Old Family Dining Room) sau khi bà Jackie Kennedy xây thêm một phòng ăn riêng trên tầng hai, nơi các đệ nhất gia đình sau này thường hay sử dụng hơn, căn phòng này nằm khuất phía bên kia Phòng Quốc yến (State Dining Room), nơi tôi từng đến đưa tin cho hàng chục sự kiện. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy khu vực riêng phía bên này và thú thực là tôi cũng không biết căn phòng này tồn tại. Lối đi vào nhiều khu vực trong tòa nhà bị giới hạn nghiêm ngặt. Các phóng viên và thợ ảnh đến đưa tin ở các sự kiện chính thức – như tiệc chiêu đãi và tiệc tối ở
Phòng Đông (East Room) – đều bị cách ly khỏi các khách mời Nhà Trắng bằng hàng rào dây (Hiện nay các sự kiện này thường được tổ chức trong một gian nhà trắng nguy nga ở Bãi cỏ phía nam). Và để chuẩn bị cho những bữa tiệc đông đúc này, Nhà Trắng thường tăng cường số nhân viên bằng cách thuê thêm nhân viên phục vụ bán thời gian và nhân viên dự bị.
Chính vì thế mà vào ngày đến dự bữa trưa do đệ nhất phu nhân chiêu đãi, tôi đã ngạc nhiên khi được đưa vào căn phòng ăn tương đối nhỏ nhưng ấm cúng này, và được một quý ông ăn mặc lịch lãm phục vụ rượu champagne trên chiếc khay bạc sáng loáng. Thực đơn hôm đó có món xà lách rau xanh thu hoạch từ vườn rau Nhà Trắng cùng món cá mú rán trình bày đẹp mắt trên đĩa sứ Truman. Mỗi món ăn đều được dọn lên bởi một nhân viên phục vụ rõ ràng là rất thân thiết với đệ nhất phu nhân. Tất cả những hình ảnh đó thực sự rất giống trong Downton Abbey, tôi nghĩ. Trải nghiệm này khiến tôi tự hỏi không biết những người đó là ai mà thân thiết với gia đình quyền lực nhất thế giới đến thế.
Là một phóng viên chuyên đưa tin về Nhà Trắng cho Bloomberg News, tôi làm việc ở một trong nhiều căn phòng bé tí xíu không cửa sổ nằm phía dưới Phòng Họp báo James S. Brady. Cái không gian chật chội dưới tầng hầm này luôn quay cuồng với những phóng viên tất bật tới lui để đưa tin sự kiện, nói chuyện với người cung cấp thông tin, rồi vội vã quay về máy tính để gọt giũa câu chuyện. Trong suốt thời gian đưa tin về Nhà Trắng, tôi đã chu du khắp thế giới trên hai chiếc Air Force I và Air Force II (chuyên cơ của phó tổng thống) để mài giũa lại các báo cáo đến từ Mông Cổ, Nhật Bản, Ba Lan, Pháp, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và Colombia, nhưng câu chuyện hấp dẫn nhất hóa ra lại nằm ngay trước mắt tôi mỗi ngày. Đó là câu chuyện về những người đàn ông và phụ nữ chăm sóc cho đệ nhất gia đình, những người rất mực trung thành với trụ sở của các tổng thống Mỹ. Mỗi
một nhân viên phục vụ trong Nhà Trắng đều là chứng nhân lịch sử và đều có những câu chuyện lạ thường để chia sẻ.
Nhà Trắng là biểu tượng mang ảnh hưởng lớn và lâu dài nhất của tổng thống. Tất cả 132 căn phòng, 147 cửa sổ, 28 lò sưởi, 8 cầu thang và 3 thang máy được trải ra trên 6 tầng lầu – cộng thêm 2 tầng lửng không nhìn thấy – của một tòa nhà mà nhìn bên ngoài trông như chỉ 3 tầng. Tòa nhà này là nơi sinh sống của mỗi lần chỉ một gia đình danh tiếng, nhưng chính các thành viên của dàn nhân viên hỗ trợ tòa nhà mới là những người sống trường kỳ ở đó.
Chính các nhân viên làm việc trong dinh đã đưa tính nhân văn và giá trị của Thế giới cũ vào cái không gian rộng mười tám mẫu Anh nổi tiếng nhất thế giới này. Thức dậy từ tờ mờ sáng, họ hy sinh đời sống riêng tư để phục vụ cho đệ nhất gia đình với thái độ trang nghiêm hòa nhã đáng nể. Với họ, làm việc trong Nhà Trắng dù ở bất kỳ vị trí nào cũng là vinh dự lớn lao. Các cuộc bầu cử có thể đem đến những gương mặt mới, nhưng họ thì vẫn tiếp tục ở lại từ chính quyền này sang chính quyền khác và luôn cẩn thận giữ kín tư tưởng chính trị của mình. Công việc của họ chỉ có một, đó là giúp cho các đệ nhất gia đình nước Mỹ thấy thoải mái trong ngôi nhà công tư lẫn lộn của đất nước này.
Trong quá trình làm việc, nhiều người trong số những người đàn ông và phụ nữ đó từng chứng kiến các tổng thống và gia đình họ trong những khoảnh khắc đau thương nhất, nhưng chỉ vỏn vẹn vài người phát hành hồi ký để kể về quãng thời gian họ làm việc trong Nhà Trắng. Cuốn sách này đánh dấu việc lần đầu tiên rất nhiều người chia sẻ chuyện họ cống hiến cuộc đời của họ ra sao cho sự nghiệp chăm sóc các đệ nhất gia đình. Hồi ức của họ đi từ những hành động tử tế nhỏ nhặt nhất đến những cơn giận dữ và tuyệt vọng đậm chất riêng tư, từ những thói quen kỳ quặc và nhược
điểm cá nhân đến những khoảnh khắc mà công việc hằng ngày của họ bị lấn át bởi những vui buồn của đất nước.
Từ chuyện nô đùa với bọn trẻ nhà Kennedy trong Phòng Bầu dục đến chuyện chứng kiến vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên bước vào Nhà Trắng, từ chuyện bị bà Nancy Reagan bắt đặt trở lại 25 chiếc hộp nữ trang Limoge của bà về đúng chỗ cũ của từng chiếc sau khi nhấc ra lau chùi đến chuyện dành cho bà Hillary Clinton chút khoảnh khắc riêng tư khi chồng bà dính vào vụ bê bối tình dục và bị tố giác, các gia nhân đã chứng kiến những thăng trầm của các đệ nhất gia đình mà không ai khác có thể nhìn thấy.
Mặc dù chấp nhận kể cho tôi nghe những chuyên họ chưa từng kể, những người đã và đang làm việc ở dinh tổng thống vẫn tuân theo một quy tắc đạo đức lâu đời là kín tiếng và đặt việc bảo vệ sự riêng tư của các đệ nhất gia đình lên trên hết. Không giống phần lớn những người sống trong một tiểu bang bị ám ảnh bởi quyền lực như Washington D.C. và vẫn thường hay khoe nhau nơi mình làm việc ngay cả trước khi cho người khác biết tên, các nhân viên Nhà Trắng luôn tránh đề cập đến nghề nghiệp đặc biệt của họ. Họ thừa hưởng đạo lý này từ những thế hệ nhân viên đi trước, những người từng giữ kín chuyện Tổng thống Franklin Delano Roosevelt bại liệt bằng cách chỉ đưa khách vào phòng tiệc sau khi đã đặt ông ngồi sẵn trong đó và đưa xe lăn của ông ra khỏi tầm mắt mọi người – và đảm bảo rằng những câu chuyện lăng nhăng của Tổng thống John Fitzgerald Kennedy không bao giờ lọt ra khỏi cổng Nhà Trắng.
Do những người giúp việc trong dinh được đặc ân tiếp cận các bí mật này nên các trợ lý đương nhiệm ở Nhà Trắng không muốn họ nói chuyện với tôi. Một cựu nhân viên Nhà Trắng nói với tôi trong email rằng: “Tôi nghĩ rồi cô cũng thấy là bất cứ ai còn đang làm việc ở đó sẽ không muốn nói chuyện với cô vì họ không muốn mất việc. Vâng, đúng thế. Chúng tôi
được huấn luyện để giữ những chuyện xảy ra trong Nhà Trắng ở lại với Nhà Trắng.”
Mặc dù lúc đầu một số người không muốn chia sẻ với tôi những gì họ từng trải qua ở nơi họ gọi là “nhà”, nhưng tất cả bọn họ đều rất tử tế lịch sự. Dù họ là người da trắng hay da đen, là nam hay nữ, là đầu bếp, thợ điện hay người hầu phòng, thì cả chục nhân viên đã hưu trí này cũng đều mời tôi ngồi xuống trò chuyện với họ ở chiếc bàn bếp hay trên chiếc ghế sofa phòng khách nhà họ (Lúc đó tôi đang mang thai bé thứ hai và không ngớt được họ ân cần hỏi han xem tôi có khỏe không, có muốn ăn gì không). Chẳng bao lâu sau, họ đã vui vẻ kể về hồi ức của họ trong suốt hàng chục năm làm việc cho nhiều đời tổng thống cùng gia đình họ. Nhiều người dường như đã quên mình từng có cuộc sống thật đặc biệt và chứng kiến những gì đi vào lịch sử. Tuy nhiên hồi ức của họ không phải lúc nào cũng nhất quán. Trong khi nhiều người nhớ về những gia đình mà họ hầu hạ bằng tất cả sự trìu mến thì những người khác lại kể những chuyện chẳng mấy hay ho về họ.
Làm họ chịu nói không phải lúc nào cũng dễ. Một số người chỉ mở lòng sau khi nghe tôi nhắc tên các đồng nghiệp đã được tôi phỏng vấn. Một số khác tỏ ra rất thận trọng cho đến khi chúng tôi trực tiếp gặp nhau. Giống như trường hợp của Tổ trưởng tổ điện William “Bill” Cliber, người đã kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện hấp dẫn về Tổng thống Richard Nixon trong những ngày cuối cùng ở nhiệm sở, và trường hợp của Quản lý bộ phận phòng Christine Limerick, người đã kể về quyết định tạm thời nghỉ việc đầy đau lòng của bà chỉ vì không chịu nổi sự lăng mạ của một đệ nhất phu nhân nào đó.
Một số người như ông James Ramsey, nhân viên phục vụ được Tổng thống George W. Bush yêu mến nhất, thì lại chỉ muốn nói về những trải nghiệm tích cực của mình, ông thậm chí còn nói rằng ông sợ chính phủ sẽ
lấy mất số tiền hưu mà ông làm việc cả đời để kiếm ra nếu như ông tiết lộ những chuyện không hay (mặc dù chẳng có dấu hiệu nào cho thấy chuyện này sẽ xảy ra). Ông thực sự rất yêu thương những gia đình ông từng phục vụ. ông mất năm 2014 nhưng tôi thấy mình rất may mắn quen biết ông cùng một số nhân viên khác, trong đó nhiều người đã qua đời trước khi có thể nhìn thấy những gì họ kể.
Tôi đã nói chuyện với những người làm việc ở Nhà Trắng trong thời kỳ được gọi là Camelot [*] – kể cả người đầu tiên nhận được tin Tổng thống Kennedy bị ám sát – cùng với các nhân viên phục vụ, nhân viên gác cửa và nhân viên cắm hoa làm việc cho gia đình Obama. Tôi đã nghe con cái các tổng thống kể chuyện họ lớn lên trong Nhà Trắng. Và tôi cũng từng chuyện trò cởi mở với các cựu đệ nhất phu nhân Rosalynn Carter, Barbara Bush và Laura Bush cùng nhiều trợ lý cấp cao của Nhà Trắng. Hầu hết mọi người đều nhiệt tình cho tôi biết về những người làm việc siêng năng và lặng lẽ phía sau hậu trường.
Dù hy sinh và làm việc chăm chỉ đến đâu thì những người giúp việc trong dinh vẫn kiên trì lẩn tránh ánh đèn sân khấu – và không chỉ ở nghĩa bóng. “Theo luật bất thành văn thì chúng tôi phải ở trong hậu trường. Nếu nhìn thấy máy quay phim hay máy chụp hình, chúng tôi phải luồn trước lách sau để tránh né cho bằng được,” Quản lý James W.F. “Skip” Allen quả quyết. Những người giúp việc mà tôi phỏng vấn đều thể hiện sự thông minh pha lẫn nét tính cách khiến tôi càng muốn biết nhiều hơn về cuộc đời họ. Nhiều người trong số họ sở hữu tính hài hước pha chút châm biếm và thậm chí là ranh mãnh. Sau buổi phỏng vấn, bác phục vụ James Hall đã về hưu nhất định dẫn tôi băng ngang hành lang đông đúc của nhà hưu trí nơi ông ở với tốc độ rất chậm để tiễn tôi ra cửa. Ông công nhận mình làm thế không chỉ vì lịch sự mà còn vì muốn mọi người thấy ông đang đi cùng một phụ nữ trẻ. “Cứ như trong phim Peyton Place vậy!” ông phá lên cười.
Công việc tìm tòi nghiên cứu của tôi đã kéo tôi ra khỏi Washington cùng các vùng phụ cận. Nơi ông Allen lui về hưu trí là một trang trại rộng 550m2 mang phong cách kiến trúc của thế kỷ 19 ở Bedford, Pennsylvania. Chúng tôi vừa nhâm nhi món sandwich kẹp xà lách gà dưới cơn mưa phùn cạnh hồ bơi nhà ông vừa nghe ông kể về mối quan hệ thân thiết giữa tổng thống với các nhân viên (“chẳng có gì lạ nếu như một tổng thống biết ngày sinh nhật của ai đó”) và nói về gánh nặng của nghề làm tổng thống (“Cô thử kể tên một tổng thống bất kỳ xem. Không ai rời Nhà Trắng mà trông trẻ hơn khi họ bước vào.”)
Mặc dù không được ai để mắt đến trong các sự kiện long trọng và những chuyến viếng thăm cấp chính phủ nhưng những người giúp việc ở Nhà Trắng rất quan trọng với đời sống công và tư của tổng thống Mỹ. “Trên phương diện nào đó, tôi và gia đình tôi luôn xem họ như những đồng chủ nhà với tổng thống và đệ nhất phu nhân,” Tricia Nixon Cox, con gái lớn của Tổng thống Nixon nói với tôi. “Họ khiến mọi thứ trở nên rất đẹp đẽ ấm cúng.”
Đôi lúc họ còn giúp các cặp vợ chồng nổi tiếng nhất thế giới vượt qua cơn giông bão để bình tâm trở lại, dù chỉ vài giờ. Ở đỉnh điểm của vụ tai tiếng Monica Lewinsky, một số nhân viên cho tôi biết bà Hillary Clinton trông rất buồn phiền mệt mỏi. Họ nói họ thấy thương bà và biết bà đang rất cần một thứ mà bà không thể có lúc đó: sự riêng tư. Quản lý Worthington White nhớ mình đã cho hết khách tham quan Nhà Trắng ra về và tách các nhân viên mật vụ của đệ nhất phu nhân ra xa để bà có được vài giờ ngắn ngủi ngồi lặng lẽ bên hồ bơi. Có thể giúp được phu nhân Clinton “có ý nghĩa rất lớn đối với tôi”, ông White nói.
Những người làm việc trong dinh cũng thỉnh thoảng chứng kiến niềm hân hoan của một tổng thống mới nhậm chức khi đạt đến đỉnh cao chính trường Mỹ. Năm 2009, sau khi dạ tiệc khiêu vũ kết thúc, gia đình Obama
bắt đầu chuyển vào sống đêm đầu tiên trong Nhà Trắng. Nhưng họ vẫn chưa sẵn sàng để ngủ lúc ông White lên lầu đưa một số giấy tờ lúc đêm khuya. Khi lên đến tầng hai, ông nghe được điều khác thường.
“Bất chợt tôi nghe tiếng Tổng thống Obama kêu lên, ‘Tôi làm được rồi, tôi làm được rồi. Tôi vào được đây rồi’, rồi tiếng nhạc đột nhiên vang lên và đó là bài hát của Mary J. Blige [*].” Các cư dân mới của tòa nhà đã cởi bỏ bộ y phục trang trọng của họ. Lúc này, tổng thống chỉ còn mặc sơ mi còn đệ nhất phu nhân mặc áo phông quần thể thao. Tổng thống tóm lấy đệ nhất phu nhân và “cả hai khiêu vũ với nhau” theo điệu hit “Real Love” của Blige, White nhớ lại. Người quản lý ngưng một lúc. “Đó là cảnh tượng đẹp đẽ đáng yêu nhất ta có thể tưởng tượng.”
“Tôi cá là ông chưa bao giờ nhìn thấy điều gì giống vậy trong ngôi nhà này, phải không?” Obama hỏi khi vẫn đang khiêu vũ cùng vợ. “Tôi thành thực thưa với ông rằng tôi chưa nghe ai chơi nhạc Mary J. Blige trên tầng này bao giờ,” White trả lời.
Ông không biết vợ chồng nhà Obama còn tiếp tục khiêu vũ ở đó bao lâu, nhưng rõ ràng là họ mong muốn tận hưởng giây phút này. ***
NHIỀU ĐỆ NHẤT gia đình nói rằng họ xem những người giúp việc ở tư dinh như những chủ nhân thực sự của Nhà Trắng. Tổng thống Carter gọi họ là “chất keo gắn kết ngôi nhà”. Một nhân viên gọi các đồng nghiệp của mình là “một nhóm người ăn uống ngủ nghỉ trong Nhà Trắng”.
Trong Nhà Trắng có khoảng 96 nhân viên làm việc toàn thời gian và 250 nhân viên bán thời gian, bao gồm các quản lý, bếp trưởng, nhân viên cắm hoa, nhân viên làm phòng, nhân viên phục vụ, nhân viên gác cửa, thợ sơn, thợ mộc, thợ điện, thợ ống nước, kỹ sư và nhân viên thư pháp. Ngoài ra còn có khoảng 24 nhân viên khác của Cục Quản lý Vườn Quốc gia (National Park Service) phụ trách chăm sóc khuôn viên Nhà Trắng. Những
người làm việc trong tư dinh đều là công chức liên bang được tuyển dụng để phục vụ tổng thống.
Trung tâm hoạt động của các nhân viên trong Nhà Trắng là Phòng Quản lý nằm ở tầng Khánh tiết, gần lối vào Cửa Bắc (North Portico). Tổng Quản lý là người phụ trách nguồn ngân quỹ do Quốc hội cấp để vận hành tòa nhà, bao gồm tiền sưởi, tiền chiếu sáng, tiền máy lạnh và lương nhân viên. Năm 1941, khi số nhân viên phục vụ tòa nhà là 62 người thì ngân sách hằng năm chỉ có 152.000 đô la. Sau gần 75 năm, cùng với sự tăng vọt của số lượng nhân viên, chi phí điều hành, lạm phát và nhiều thứ khác, ngân sách hằng năm giờ đây đã là khoảng 13 triệu đô la (Đó là chưa tính số 750.000 đô la dành cho việc sửa chữa và trùng tu Nhà Trắng hằng năm).
Công việc của người tổng quản lý cũng giống như của một tổng giám đốc khách sạn, chỉ khác ở chỗ là phục vụ duy nhất một người. Vị tổng quản lý này kết hợp chặt chẽ với đệ nhất phu nhân để điều hành toàn bộ nhân viên trong tòa nhà. Dưới tổng quản lý là một phó quản lý cùng đội ngũ quản lý chịu trách nhiệm giám sát nhiều phòng ban khác nhau như Phòng Buồng hay Phòng Hoa. Các quản lý là những người mà khách tham quan Nhà Trắng, bao gồm cả khách mời riêng của gia đình tổng thống, liên hệ. Họ cũng là người ghi chép lại mọi hoạt động của tổng thống trong Nhà Trắng và những tư liệu này sẽ được chuyển vào các Thư viện Tổng thống để các thế hệ sau tham khảo.
Công việc của người tổng quản lý Nhà Trắng hiện nay phức tạp đến mức đòi hỏi ở người đảm trách vị trí này tính nghiêm khắc và kỷ luật của quân đội. Trước khi chuẩn Đô đốc Tuần duyên Hoa Kỳ Stephen Rochon được Tổng thống George W. Bush bổ nhiệm làm Tổng Quản lý năm 2007 – và trở thành người thứ tám, cũng là người Mỹ gốc Phi đầu tiên, chính thức đảm nhiệm vai trò này – ông phải trải qua tám đợt phỏng vấn và liên tục đi đi về về giữa trạm tuần duyên ở Norfolk, Virginia, và Nhà Trắng. Đợt
phỏng vấn cuối cùng của ông là với tổng thống ở Phòng Bầu dục. Tổng thống Bush tự hỏi không biết ông Rochon có hài lòng với danh hiệu mới tưởng như khiêm tốn của ông không.
“Ông nghĩ gì về công việc tổng quản lý?” Ông Bush hỏi.
Rochon trả lời: “Thưa ngài tổng thống, có gì hay trong chức danh này?” Rõ ràng là có rất nhiều thứ: Khi Rochon được tuyển vào làm, vị trí này được đặt tên lại là Tổng Quản lý Nhà Trắng và Giám đốc Dinh Hành chính, với một bản mô tả công việc rõ ràng ấn tượng hơn hẳn trước. Từ tháng 10 năm 2011, công việc này được đảm nhiệm bởi Angella Reid, cựu tổng giám đốc hệ thống khách sạn Ritz–Carlton ở Arlington, Virginia – người phụ nữ đầu tiên và người Mỹ gốc Phi thứ hai nắm giữ vị trí này. Nhưng dù danh hiệu này có oai đến mấy thì mục đích của nó cũng chỉ đơn giản là cung cấp bất cứ thứ gì gia đình tổng thống cần. Với Tổng Quản lý J.B. West thì điều này bao gồm cả việc xới tung tòa nhà để tìm mấy con hamster thất lạc của cô bé Caroline Kennedy và huy động hàng chục chuyên gia chỉ để buộc họ đáp ứng yêu cầu cung cấp áp lực nước mạnh cho chiếc vòi sen của tổng thống. Bà Jacqueline Kennedy gọi West là “người đàn ông quyền lực nhất Washington sau tổng thống”. Từ người giữ vị trí cao nhất cho đến người mới vào, để được tuyển vào Nhà Trắng không chỉ đơn giản là viết thư trả lời thông báo tuyển dụng hay xin việc qua mạng. “Công việc trong Nhà Trắng không được thông báo rộng rãi ra ngoài,” Tony Savoy, Trưởng phòng Điều hành Nhà Trắng cho đến năm 2013 cho biết. “Hầu như tất cả những người được tôi phỏng vấn đều do người thân trong gia đình hay bạn bè giới thiệu. Những người này phải chịu trách nhiệm về người họ đưa vào.” Hầu hết các nhân viên đều tiếp tục làm việc ở đó hàng chục năm, thậm chí hàng thế hệ. Gia đình Ficklin chẳng hạn, có đến chín người làm việc trong Nhà Trắng.
Mỗi chính quyền đều bổ nhiệm một thư ký phụ trách sự kiện xã hội riêng. Vị trí này trước đây vẫn rơi vào tay một người phụ nữ cho đến khi Jeremy Bernard được gia đình Obama bổ nhiệm năm 2011 để trở thành người đàn ông đầu tiên, cũng là người đồng tính công khai đầu tiên, giữ chức vụ thư ký phụ trách sự kiện xã hội. Thư ký xã hội hoạt động như một cầu nối giữa đệ nhất gia đình với những người giúp việc, và giữa khu Cánh Tây với khu Cánh Đông. Đây là vị trí liên quan đến việc giám sát việc sắp xếp chỗ ngồi cho khách dự tiệc và khách tham dự các sự kiện chính thức ở Nhà Trắng. Người thư ký phụ trách sự kiện xã hội sẽ phát bảng công tác cho các nhân viên trong tư dinh để họ biết có bao nhiêu người tham dự sự kiện và những phòng nào sẽ được sử dụng cho sự kiện này.
Người thư ký xã hội thường bị giằng co giữa hai phe bất đồng ý kiến. Letitia Baldridge, người phụ trách vị trí này dưới thời chính quyền Kennedy, từng viết cho tổng thống nhiều thư phản đối mái tóc dài của John John mà đệ nhất phu nhân rất thích. Khi tổng thống nhất định bắt con đi cắt tóc, bà Jackie Kennedy không thèm nói chuyện với Baldrige suốt ba ngày liền.
Các nhân viên làm việc trong dinh có thể giúp cho việc lèo lái vô số các bữa tiệc và việc tuân thủ các truyền thống lâu đời của người thư ký xã hội dễ dàng hơn rất nhiều. Julianna Smoot, thư ký xã hội của gia đình Obama từ năm 2010 đến năm 2011, tin rằng nhóm thư pháp viên Nhà Trắng làm việc trong căn phòng nhỏ dưới sảnh đối diện Phòng Xã hội ở Cánh Đông đã cứu cô thoát khỏi một trường hợp sơ suất trong thời gian cô làm việc ở đó. Vào một ngày cuối hè năm 2010, một trong ba thư pháp viên phụ trách phát hành một lượng lớn thiệp mời cho khách đến dự các sự kiện ở Nhà Trắng đến gặp cô và hỏi: “Cô đã nghĩ đến Giáng Sinh chưa?”
“Giáng sinh tháng 12 cơ mà. chúng ta có thể nói chuyện này sau khi gần đến đó được không?” Smoot nói. Cô nghĩ là còn lâu mới đến Giáng Sinh và từ đây đến đó có quá nhiều sự kiện cần tổ chức trước.
“Chúng ta hiện đã trễ so với kế hoạch,” nhân viên thư pháp lo lắng nói. Smoot bàng hoàng. “Đúng là tôi không biết chuyện này,” sau này cô nhớ lại. “Lúc đó tôi rất hoảng sợ. Chúng tôi phải tìm chủ đề cho Giáng Sinh và viết thiệp Giáng Sinh. Tôi nghĩ sở dĩ chúng tôi có Giáng Sinh năm 2010 cũng là nhờ các nhân viên thư pháp.”
Người thư ký phụ trách sự kiện xã hội đôi khi còn phải đưa tin dữ đến các nhân viên thay cho đệ nhất phu nhân, vốn không muốn dính dáng đến chuyện này. Khi bà Laura Bush tuyển Lea Berman vào làm thư ký xã hội mới cho bà, Berman được giao nhiệm vụ kéo Quản bếp Walter Scheib ra riêng để nói ông ngưng phục vụ “món bình dân đó” cho gia đình tổng thống. Scheib nói ông chỉ làm đúng theo yêu cầu tổng thống, ngoài ra phần lớn những món ăn ông chuẩn bị không thể bị gọi là “món bình dân”. Mặc dù nó chẳng phải là món được tầng lớp trí thức ưa chuộng nhưng “Nếu tổng thống muốn ăn bánh mì phết bơ đậu phộng với mật ong thì chúng tôi sẽ làm món bánh mì bơ đậu phộng mật ong ngon nhất có thể,” Scheib nói. “Đó là món tổng thống muốn ăn, cô cẩn thận lời nói.” Khi Berman bắt đầu chìa cho ông xem những trang sách nấu ăn được nhiều người yêu thích của Martha Stewart, ông đã nổi điên lên.
Christine Limerick quản lý khoảng 20 nhân viên Phòng buồng từ năm 1979 đến năm 2008 (bà tạm ngưng công việc từ năm 1986 đến năm 1991), trong đó 6 người làm việc ở tầng hai và tầng ba, nơi gia đình tổng thống sinh sống (các cô hầu phòng cùng một người phụ trách hút bụi và di chuyển đồ vật nặng), 2 người chuyên việc giặt giũ, số còn lại phụ trách khu vực khách tham quan và Phòng Bầu dục (Đội ngũ này được bổ sung thêm
nhân sự khi trong dinh có khách và có các sự kiện lớn như dạ tiệc ở cấp quốc gia).
Nhà Trắng cũng tuyển dụng một đội ngũ cắm hoa, dẫn đầu là một tổ trưởng tổ hoa. Nhiệm vụ của họ là mỗi ngày cắm sẵn các bình hoa trong Phòng Hoa. Căn phòng này nằm trong một không gian nhỏ ở Tầng Trệt, phía dưới con đường lái xe ra vào ở Cửa Bắc. Đội ngũ cắm hoa có trách nhiệm thiết kế những bình hoa độc nhất vô nhị phù hợp với sở thích của đệ nhất gia đình. Vào dịp lễ lạt và mỗi khi tổ chức yến tiệc, các nhân viên cắm hoa đều phải gọi thêm tình nguyện viên đến giúp. Nhà Obama thường nhờ các công ty tổ chức sự kiện ở Chicago đến giúp chuẩn bị quốc yến và trang trí lễ Giáng Sinh. Tổ trưởng tổ hoa chú trọng những nơi công chúng qua lại và giúp kiểm tra tất cả những bình hoa đã cắm. Các nhân viên Phòng Hoa cũng chia sẻ trách nhiệm trang trí toàn bộ tòa nhà phức hợp, từ khu nhà riêng ở tầng hai và tầng ba đến khu Cánh Tây, Cánh Đông và các phòng công cộng. Không một góc nào trong Nhà Trắng bị bỏ sót.
Reid Cherlin, phát ngôn viên của Tổng thống Obama, nhớ mình đã ngưỡng mộ công việc này đến thế nào. “Điều khiến tôi luôn ấn tượng chính là hoa. Buổi sáng khi bước vào khu Cánh Tây, nếu đến đúng lúc, ta sẽ được chứng kiến cảnh các nhân viên cắm hoa đang đưa các bình mẫu đơn tươi rói ra bài trí các nơi,” ông nói. “Có gì đó thật tuyệt vời trong việc đặt hoa tươi ở một nơi không nhất thiết có người qua lại. Trang trí hoa tươi trên bàn cà phê ở Phòng Bầu dục là một chuyện, nhưng đặt chúng ở những nơi chẳng ai tụ tập lại là chuyện khác.”
Bob Scanlan, làm việc ở Phòng Hoa từ năm 1998 đến năm 2010, cho biết tất cả mọi người đều chung tay làm việc để dinh tổng thống trông hoàn mỹ nhất có thể. “Nếu có một bông hoa rơi khỏi bình, chắc chắn người quản lý bộ phận phòng sẽ đến Phòng Hoa và nói: ‘Các anh hãy vào Phòng Đỏ (Red Room) mà xem, các cánh hoa rụng đầy trên bàn. Tôi đã
nhặt nhưng có vẻ như chúng vẫn tiếp tục rơi rụng.’ Chúng tôi phải luôn xem chừng nhau bởi mỗi một chuyện xảy ra đều ảnh hưởng đến uy tín tất cả mọi người.”
Tòa nhà có 6 nhân viên phục vụ cố định, ngoài ra còn có hàng chục nhân viên phục vụ bán thời gian thường xuyên lui tới để giúp chuẩn bị quốc yến và tiệc chiêu đãi. Trong số 6 nhân viên phục vụ toàn thời gian, một người được chỉ định làm quản lý tổ phục vụ. Còn công việc chăm sóc nhu cầu riêng của tổng thống thì do những người hầu riêng của ông đảm nhiệm. Những người này lúc nào cũng túc trực cạnh tổng thống. Thường thì có hai người hầu riêng làm việc theo ca. Họ là người trong quân đội và phụ trách vấn đề y phục, chạy việc, đánh giày cho tổng thống, đồng thời cũng phải phối hợp làm việc với các cô hầu phòng. Ví dụ, nếu thấy giày của tổng thống cần đóng lại đế, người hầu riêng này phải thông báo cho một thành viên của tổ phòng buồng biết. Buổi sáng khi tổng thống đến Phòng Bầu dục, anh ta phải đứng ngay gần đó để phòng khi tổng thống cần thứ gì, cho dù đó là tách cà phê, bữa ăn sáng hay chỉ một viên kẹo ho. Khi tổng thống đi xa, anh ta phải sắp hành lý cho ông và ngồi vào đoàn xe hộ tống, trên tay cầm sẵn chiếc sơ mi hay chiếc cà vạt dự phòng để phòng khi vị tổng tư lệnh bị đổ thứ gì lên đó cần thay gấp.
Ngay ngày đầu tiên sau lễ nhậm chức, Tổng thống George W. Bush đã sốc khi gặp những người hầu riêng của ông. Bà Laura Bush cho biết: “Có hai thanh niên đến gặp George và tự giới thiệu họ là người hầu của ông ấy. Ông ấy vội vã đến gặp ba mình và nói: ‘Có hai cậu vừa đến gặp con và tự giới thiệu là người hầu riêng của con, nhưng con đâu cần người hầu. Con không muốn có người hầu.’” Tổng thống George H.W. Bush nói: ‘Rồi con sẽ quen thôi.’” Và đúng như thế thật. Sớm muộn gì, bất cứ tổng thống nào cũng sẽ biết ơn chuyện mình không phải lo lắng đến chuyện xếp dù chỉ là một chiếc sơ mi vào vali.
***
CÁC GIA NHÂN ở đó để giảm bớt gánh nặng cuộc sống hằng ngày cho gia đình tổng thống, vốn thường xuyên không có thời gian nấu nướng, mua sắm hay quét dọn. Họ cũng phục vụ trong điều kiện an ninh cao nhất có thể – có tòa nhà nào được cả một đội quân bắn tỉa liên tục canh chừng trên mái như tòa nhà này không? – và phải làm quen với một công việc rất ít sự riêng tư. Nhiều người nhận xét rằng sống trong Nhà Trắng không khác gì ở tù – mặc dù, như bà Michelle Obama ghi nhận, thì “đó là một nhà tù rất dễ chịu”.
Betty Finney (có biệt danh “Betty bé nhỏ” bởi dáng người nhỏ nhắn của bà), một người làm phòng lâu năm ở Nhà Trắng, nói rằng mức độ an ninh cao giúp những người làm việc ở đây và gia đình tổng thống thấy an toàn. “Ta biết các tay súng bắn tỉa đang ở trên đó bảo vệ cho ta, vậy cớ gì ta không thoải mái làm việc?” Bà nói. “Ta sẽ thắc mắc không biết họ ở đâu nếu không nhìn thấy bóng dáng họ.”
Tuy nhiên những sơ suất an ninh gần đây cho thấy tính dễ tổn thương của biểu tượng hùng mạnh của nền dân chủ Hoa Kỳ và của gia đình gọi nơi đó là nhà. Chúng cũng cho thấy công việc của một gia nhân đa dạng ra sao và mang tính quyết định thế nào. Là tổng thống da đen đầu tiên của Hoa Kỳ, ông Obama phải đương đầu với các mối đe dọa nhiều hơn gấp ba lần những người tiền nhiệm. Năm 2014, những người giúp việc đã hoảng kinh khi một người đàn ông mang dao trèo qua hàng rào Nhà Trắng, băng qua Bãi cỏ phía bắc (North Lawn) rồi tiến sâu vào tầng chính của dinh tổng thống, vượt qua mặt nhiều nhân viên mật vụ trước khi bị một nhân viên ngoài ca trực chặn lại. Trong một vụ đột nhập kinh hoàng khác xảy ra năm 2011, một cô hầu phòng đã vô tình trở thành một dạng thám tử tư khi là người đầu tiên nhìn thấy kính cửa sổ bị vỡ và một mảng bê tông trắng nằm trên sàn ban công Truman (Truman Balcony). Phát hiện của cô cho thấy có
người đã bắn ít nhất bảy viên đạn vào tư dinh tổng thống vài ngày trước (Cơ quan mật vụ cũng biết về vụ nổ súng này nhưng lại nghĩ rằng các băng đảng đối nghịch bắn nhau chứ không nhắm vào tòa hành pháp). Các cô hầu phòng ở Nhà Trắng đều được huấn luyện để “biết cách quan sát” và báo cáo lại khi thấy có gì bất thường, Limerick nói, nhất là khi điều đó có thể gây nguy hiểm cho gia đình tổng thống.
Cuộc sống trong dinh tổng thống hẳn nhiên là chẳng thể bình thường cho dù các nhân viên có cố gắng cách mấy để tổng thống cùng gia đình được tự nhiên thoải mái. Ngoài những mối bận tâm về mặt an ninh, Nhà Trắng cũng không hề giống một căn hộ bình thường ở Mỹ. Ron, con trai của vợ chồng Reagan, kể cho tôi nghe chuyện hai vợ chồng anh đến thăm cha mẹ ở Nhà Trắng. Họ đến quá trễ để có thể ăn tối cùng gia đình nên quyết định sục sạo trong căn bếp trên khu nhà riêng để tìm ít trứng và cái chảo. Nghe tiếng sục sạo giữa khuya, một nhân viên phục vụ chạy vào với thái độ quan tâm.
“Tôi giúp gì được cho anh? Anh có muốn tôi gọi ai đó giúp anh không?”, anh ta sốt sắng hỏi.
“Không, cảm ơn,” Ron trả lời. “Nhưng anh có thể cho tôi biết trứng để ở đâu không? Với lại anh cất chảo ở đâu?”
Người nhân viên phục vụ tỏ vẻ không vui. Không một nhân viên nào ở đây mong muốn thấy mình vô dụng. Cuối cùng, Ron đành phải nhờ anh ta mang ít trứng ở căn bếp dưới Tầng Trệt lên vì trong bếp nhà Reagan không có trứng.
“Họ thực sự, thực sự rất muốn làm công việc họ đang làm. Họ không muốn trơ mắt đứng nhìn.”
Bà Hillary Clinton là một thành viên khác trong gia đình tổng thống muốn thỉnh thoảng có thể tự lo cho bản thân. Bà thiết kế một chỗ ăn trong
căn bếp tầng hai để gia đình bà có thể cùng nhau dùng bữa một cách thoải mái.
“Tôi biết mình làm đúng khi Chelsea bị ốm tối hôm đó,” bà nói. Tối hôm đó, bà nhớ lại, người phục vụ đã như “phát cuồng” khi bà đích thân vào bếp khuấy trứng cho con.
“Ồ, chúng tôi sẽ đem trứng tráng dưới nhà lên cho bà,” người phục vụ nói.
“Không, tôi chỉ muốn làm ít trứng khuấy với sốt táo cho con tôi thôi. Đây là món mà tôi sẽ cho nó ăn nếu như chúng tôi đang sống ở bất cứ nơi nào khác trên đất Mỹ.”
Mặc dù gia đình tổng thống đôi khi cũng mong muốn quên đi sự uy nghi của tòa dinh thự, nhưng nhiều gia nhân nói họ tìm thấy sự khuây khỏa trong công việc của mình. “Nếu ta có một ngày không mấy vui với một thành viên gia đình tổng thống hay với nhân viên của họ, ta hãy bước ra khỏi đó và ngắm nhìn tòa nhà,” Limerick nói. “Nếu tôi nhìn thấy Nhà Trắng sáng đèn buổi tối, tôi sẽ nghĩ rằng Mình đang làm việc trong tòa nhà này và có phúc lắm mới được làm ở đây. Suy nghĩ này giúp tâm trí tôi thông thoáng hơn và tôi lại có thể tiếp tục đối phó với ngày hôm sau.”
***
NHÀ TRẮNG LÀ hiện thân vật chất của nền dân chủ Hoa Kỳ. Tòa nhà này tọa lạc trên một mảnh đất 18 mẫu Anh ở ngay trung tâm Washington D.C, nơi khuôn viên được Cục Quản lý vườn Quốc gia quanh năm chăm sóc. Tòa nhà chính, được biết đến dưới tên gọi chính thức là tòa hành pháp (executive mansion) được phân thành hai khu vực công và tư. Bề ngoài tòa nhà trông như chỉ ba tầng nhưng thiết kế của nó đánh lừa mọi người bởi nó thực sự có đến sáu tầng, tức thêm hai tầng lửng nhỏ nữa. Ngoài hai tầng dưới mặt đất ra thì có Tầng Trệt (Ground Floor), nơi đặt nhà bếp chính, Phòng Hoa và Phòng Mộc. Kế đến là Tầng Khánh tiết (State Floor), còn
được gọi là tầng một. Rồi đến hai tầng lửng, nơi đặt văn phòng Tổng Quản lý và Bếp bánh ngọt. Còn tầng hai và tầng ba là khu nhà riêng của gia đình tổng thống. Bếp nhân viên và nhà kho nằm ở dưới tầng hầm. Ở Cánh Đông và Cánh Tây có những tầng bí mật, trong đó căn phòng nổi tiếng nhất là Phòng Tình huống (Situation Room) nằm bên dưới khu Cánh Tây. Căn phòng này đã trở thành biểu tượng quyền lực của tổng thống, nơi vị tổng tư lệnh tập hợp các cố vấn để giải quyết những khủng hoảng lớn và thực hiện những cuộc điện đàm không bị nghe lén với các lãnh đạo nước ngoài.
Các gia nhân có quán ăn tự phục vụ, phòng ăn, phòng khách và khu cất giữ đồ dùng riêng ở tầng lửng (thật ra là trọn cả một tầng) dưới tầng hầm bên dưới lối vào Cửa Bắc. Quán ăn tự phục vụ của họ nằm cách xa khu bếp chính Tầng Trệt, nơi chuẩn bị các bữa ăn cho đệ nhất gia đình và cho các sự kiện chính thức, bao gồm các bữa tiệc cấp quốc gia (Ngoài ra còn có một căn bếp nhỏ khác ở tầng hai của tòa nhà dành riêng cho các bữa ăn thân mật trong gia đình). Trước đây, những người giúp việc ở tư dinh vẫn thường tụ tập ở quán ăn tự phục vụ dưới tầng hầm để ăn uống, nói chuyện và nghỉ ngơi thư giãn. Suốt nhiều năm trời, họ đến đây để thưởng thức các món ăn truyền thống miền Nam nấu tại nhà, gồm gà chiên, bánh mì ngô với đậu tây, do một nhóm đầu bếp Mỹ gốc Phi phụ trách. Trong nhóm đầu bếp này có Miss Sally, một cô gái hay đội những chiếc nón cầu kỳ khi không phải làm việc và rất thích trêu chọc các đồng nghiệp và nhiều lúc còn chửi thề trong lúc phục vụ ăn uống cho họ. Mặc dù mới đây quán phải ngừng hoạt động để tiết kiệm chi phí – trước sự thất vọng của nhiều nhân viên – nhưng đây vẫn là nơi mọi người tụ tập, mang đồ ăn ở nhà đến ăn và tán gẫu.
Thỉnh thoảng các trợ lý chính trị hàng đầu cũng xuống đây ăn tối cùng những người giúp việc. Reggie Love, cựu trợ lý cá nhân của ông Obama – người được gọi là “tay chân” của Obama – thân với một số nhân viên phục
vụ đến mức cuối tuần nào anh cũng vào bếp ăn chung với họ khi quán Navy Mess dành cho nhân viên khu Cánh Tây đóng cửa. Love rời Nhà Trắng năm 2011 nhưng mỗi khi lên thành phố, anh vẫn đến Nhà Trắng chơi bài với các nhân viên phục vụ.
***
CÁNH TÂY LÀ nơi đặt Phòng Bầu dục và văn phòng của các viên chức cao cấp của tổng thống. Cánh Đông là nơi đặt văn phòng của đệ nhất phu nhân và văn phòng của các nhân viên của bà. Thời gian đi bộ từ khu này sang khu kia bằng với thời gian băng ngang một sân bóng.
Mỗi sáng, các nhân viên phải trái thảm ra và đưa dây, cột đến khu vực khách tham quan ở Tầng Trệt và Tầng Khánh tiết. Mỗi chiều, sau khi hàng ngàn người ra về, họ phải quét dọn, mang các cây cột đi và cuộn thảm lại để nếu như gia đình tổng thống muốn xuống Tầng Khánh tiết thì nơi này sẽ trông không quá hào nhoáng như nơi dành cho khách tham quan.
“Cho đến khi tôi làm việc ở đó, tôi không thích việc tổng thống và đệ nhất phu nhân sống quá gần nơi du khách đến tham quan. Họ chỉ sống cách đó mỗi một tầng,” Katie Johnson, thư ký riêng của Tổng thống Obama từ năm 2009 đến 2011 nói. Trách nhiệm của cô là giúp tổng thống theo đúng lịch trình làm việc và phối hợp với đệ nhất phu nhân cùng các gia nhân. Cô cũng được chỉ định làm một công việc chẳng ai muốn làm là thông báo cho các nhân viên Cánh Đông biết hôm đó tổng thống có kịp về ăn tối với gia đình không.
Dinh thự này cho ta cảm giác “giống như một căn hộ rất rất cao cấp ở New York,” cô thẳng thắn nói. “Biết bao nhiêu chuyện xảy ra bên ngoài và xung quanh, nhưng một khi ta vào đến bên trong thì đó chính là nhà.”
Katie McCormick Lelyveld, thư ký báo chí thứ nhất của bà Michelle Obama thỉnh thoảng cũng đến làm việc trong văn phòng sát cạnh phòng chăm sóc sắc đẹp ở tầng hai. Trong trí nhớ của cô, các tầng đó yên tĩnh biết
bao so với không gian ồn ào náo nhiệt bên dưới. “Có chưa đến mười hai người qua lại trong cái không gian riêng tư đó. Họ cố xem nơi đó như nhà riêng, ở đó, các đặc vụ không được đứng trong phòng mà phải đứng bên ngoài.”
“Nhà Trắng được xây theo quy mô con người,” Tricia Nixon Cox nói. Có một ngày, sau lễ tiếp đón quan khách ở Bãi cỏ phía nam, một hoàng thân Âu châu quay sang cô và nói: “Nơi này đúng thực là một ngôi nhà.” Ông ngạc nhiên trước quy mô nhỏ bé của tòa hành pháp khi so sánh nó với những lâu đài ông từng biết. “Với ông ấy thì tòa nhà này rất nhỏ!”
Tòa nhà này có thể không đồ sộ như một số lâu đài vua chúa nhưng không hề nhỏ. Sảnh vào rộng lớn ở phía bắc mở ra một bên là Phòng Đông (East Room) dài 24 mét, còn bên kia là Phòng Quốc yến, thường được sử dụng để tổ chức yến tiệc thiết đãi các nguyên thủ nước ngoài. Giữa hai phòng này còn có thêm ba phòng nữa là Phòng Lục (Green Room), Phòng Lam (Blue Room) và Phòng Đỏ (Red Room).
Các phòng riêng của gia đình tổng thống trên tầng hai và tầng ba được nối với một hành lang chính ở mỗi tầng, gồm 16 phòng và 6 phòng tắm ở tầng hai, 20 phòng và 9 phòng tắm ở tầng ba. Các cô hầu phòng và người hầu riêng của tổng thống nhiều khi cũng sống ở trên các tầng đó như con cái tổng thống. Phòng dành cho khách đến ngủ qua đêm không được đánh số trên cửa, nhưng vẫn được các nhân viên trong dinh gọi bằng số phòng như trong khách sạn. Hằng tuần, mỗi cô hầu phòng lại được phân công vệ sinh một số phòng. Tất cả bọn họ đều ghét phòng số 328.
Theo nhân viên phòng Betty Finney thì “Đây là căn phòng khó vệ sinh nhất!” Chiếc giường trong phòng 328 là loại giường có đầu giường và đuôi giường cao. “Rất khó làm. Mỗi khi làm giường, ta đều muốn nó trông gọn gàng ngăn nắp, nhưng với loại giường này thì rất khó làm gọn gàng.
Tất cả chúng tôi đều biết mình phải làm chiếc giường đó, chỉ là chúng tôi sợ phải làm chiếc giường đó mà thôi.”
Ở mỗi tầng chính đều có một phòng hình bầu dục. Ở Tầng Trệt có Phòng Tiếp đón Phái đoàn Ngoại giao (Diplomatic Reception Room), nơi Tổng thống Roosevelt thường ngồi trò chuyện bên lò sưởi, cũng là nơi đệ nhất gia đình từ đó bước ra để đến khu nhà ở. Ở Tầng Khánh tiết có Phòng Lam nhìn xuống Bãi cỏ phía nam. Căn phòng này được đặc trưng bởi chùm đèn pha lê kiểu Pháp cùng những chiếc rèm xa-tanh xanh rực rỡ. Còn ở tầng hai thì có Phòng Bầu dục Vàng (Yellow Oval Room) dẫn ra Ban công Truman. Ban công này trước đây là một thư viện có lối đi riêng dẫn đến phòng làm việc của Tổng thống Lincoln, nay là Phòng ngủ Lincoln (Lincoln Bedroom). Phòng này được tạo ra để giúp Tổng thống Lincoln lẩn tránh đám đông đang chờ gặp ông ở phòng Hiệp ước (Treaty Room). Hiện nay, phòng này là phòng đọc sách của tổng thống. Mãi đến cả chục năm sau, khu Cánh Tây, nơi có Phòng Bầu dục, mới được xây lên. Cho tới lúc đó, dinh thự này được sử dụng làm nhà ở và văn phòng làm việc của tổng thống.
Tòa hành pháp có bốn cầu thang: cầu thang thứ nhất là cầu thang lớn (Grand Staircase) dẫn từ tầng Khánh tiết lên tầng hai. Cầu thang thứ hai nằm cạnh thang máy dành cho tổng thống và dẫn từ tầng hầm lên tầng ba. Cầu thang thứ ba là cầu thang xoắn ốc nằm cạnh thang máy nhân viên và dẫn từ tầng lửng ở tầng một, nơi có Bếp bánh ngọt, đến tầng hầm. Và cầu thang thứ tư, một “cầu thang sau” thực sự, dẫn từ tầng hai cạnh Phòng Nữ hoàng – Queen’s Bedroom (một căn phòng sang trọng màu hồng được đặt tên Nữ hoàng do đón tiếp nhiều vị khách hoàng gia) đến tận cuối tầng ba ở phía đông. Các cô hầu phòng thỉnh thoảng lại sử dụng cầu thang này khi cần lên dọn dẹp các phòng ở tầng hai nhưng không muốn xen ngang sinh
hoạt của đệ nhất gia đình. Chiếc cầu thang này cho phép họ đi thẳng lên tầng ba rồi vòng xuống phía dưới.
Nhà Trắng được thiết kế bởi kiến trúc sư gốc Ireland James Hoban, người chiến thắng cuộc thi do Tổng thống George Washington và Ngoại trưởng Thomas Jefferson đặt ra. Thiết kế của tòa nhà được lấy ý tưởng từ Leinster House, một dinh cơ lớn mang phong cách Georgean ở Dublin được sử dụng làm tòa nhà Quốc hội Ireland. Các cư dân đầu tiên của Nhà Trắng than phiền tòa nhà quá lớn, điều mà ngày nay ta ít còn nghe thấy khi thỉnh thoảng căn bếp chật chội lại phải chuẩn bị đại tiệc cho hàng trăm khách mời, và khi hầu hết các phòng dành cho khách đều chật cứng bạn bè và gia đình tổng thống vào khoảng thời gian nhậm chức.
Tổng thống George Washington từng tiên đoán rằng Washington D.C. sẽ cạnh tranh với Paris và London về vẻ đẹp và sự vĩ đại. Tuy nhiên lúc đầu thành phố này vẫn bị các thủ đô châu Âu xinh đẹp bỏ xa. Năm 1800, khi Tổng thống John Adams và phu nhân Abigail trở thành cư dân đầu tiên của Nhà Trắng, tòa nhà chỉ có sáu phòng là ở được, và gia đình Adams cũng chỉ mang theo bốn người giúp việc. Ngôi nhà mới của họ còn lâu mới hoàn thành, còn thành phố Washington lại xa xôi, lầy lội và biệt lập đến mức gia đình tổng thống bị lạc suốt nhiều giờ trên đường từ Baltimore đến thủ đô. Khi cuối cùng đến được tòa nhà, họ phải bước qua mấy tấm ván gỗ mới vào được bên trong bởi các bậc thang trước nhà vẫn chưa được xây. Nằm lác đác ở nơi bây giờ là khu Cánh Tây là một phòng giặt cùng các chuồng ngựa, và chính quyền thành phố thậm chí còn phải đóng cửa một nhà thổ hoạt động ngay giữa các ngôi nhà tạm của các công nhân xây dựng Nhà Trắng. (Do các anh thợ mộc và thợ khắc đá rất bực bội chuyện này nên sau đó nhà thổ đã được chuyển đến một nơi khác kín đáo hơn trong thành phố).
Trong thư viết cho con gái, bà Abigail nói: “Tòa nhà không có hàng rào, sân vườn hay bất cứ một tiện nghi nào khác. Cầu thang chính chưa xây xong, và cũng sẽ chưa xong trong mùa đông này.”
Khi chuyển vào sống trong Nhà Trắng, bà Abigail Adams ước tính sẽ phải cần ít nhất ba mươi người giúp việc để vận hành tòa nhà một cách đàng hoàng (Hiện nay có gần một trăm người làm việc ở đây). Các đệ nhất gia đình thời đầu thường mang theo người giúp việc, đầu bếp và người hầu riêng của họ đến, đồng thời bỏ tiền túi ra để trả lương nhân viên. Những thập niên sau này, một số đệ nhất gia đình tuy cũng đem theo một hai nhân viên trung thành đã làm việc cho họ từ trước nhưng họ vẫn tin tưởng vào tay nghề của các nhân viên ở tư dinh.
Năm 1814, khoảng gần cuối cuộc chiến năm 1812, Nhà Trắng bị quân Anh thiêu trụi. Tổng thống James Madison phải nhờ kiến trúc sư Hoban giúp xây lại tòa dinh thự, lúc này đã là biểu tượng quốc gia. Kể từ đó, mỗi đời tổng thống đều tìm cách để lại dấu ấn riêng của mình lên tòa nhà. Suốt thế kỷ 19, tòa nhà lớn này được trang trí lại nhiều lần theo phong cách Victoria, nhưng đến năm 1902 thì Tổng thống Theodore Roosevelt thuê các kiến trúc sư nổi tiếng của New York là McKim, Mead & White trùng tu lại tòa nhà nhưng vẫn giữ phong cách tân cổ điển ban đầu. Roosevelt chuyển các phòng ngủ dành cho khách lên tầng ba và dỡ bỏ hàng loạt nhà kính khổng lồ – dùng để trồng trái cây và hoa cho đệ nhất gia đình – để lấy chỗ mở rộng khu vực bây giờ là Cánh Tây. Đến cuối năm đó, Roosevelt chuyển văn phòng của ông từ tầng hai xuống Cánh Tây. Người kế nhiệm ông, Tổng thống William Howard Taft, sau đó bổ sung thêm Phòng Bầu dục cho khu Cánh Tây. Văn phòng này được hoàn thành năm 1909.
Công cuộc đại trùng tu cuối cùng diễn ra dưới thời Tổng thống Truman sau khi mái nhà bị sập và ngôi nhà được nhận thấy có nguy cơ sụp đổ nghiêm trọng. Mọi thứ trở nên nguy hiểm đến mức có một lần, khi đệ nhất
phu nhân đang tiếp các thành viên của Tổ chức Daughters of the American Revolution trong Phòng Lam thì chiếc đèn chùm to bằng cả cái tủ lạnh lắc lư dữ dội trên đầu những vị khách không hay biết, một phần vì lúc đó tổng thống đang tắm ngay trong căn phòng phía trên ở tầng hai. Đã vậy, cái sàn mục trong phòng khách của Margaret Truman [*] còn bị chân đàn piano của cô đâm thủng trong một buổi tập hát khá sôi nổi. Truman đã thay giàn khung gỗ ban đầu của tòa dinh thự bằng một kết cấu thép mới và thêm vào một không gian lộ thiên ở tầng hai nhìn xuống Bãi cỏ phía nam. Nơi này được gọi là Ban công Truman và cho đến nay vẫn là nơi nghỉ ngơi yêu thích nhất của các đệ nhất gia đình.
Không có cư dân Nhà Trắng nào thay đổi tòa nhà này chắc chắn hơn Jacqueline Kennedy khi bà huy động nguồn tài lực trong quần chúng để tu sửa nội thất (bà ghét dùng từ trang trí lại) nhằm biến nơi này thành một “ngôi nhà hoàn hảo” nhất nước. Bà nhờ một người bạn của bà, nhà hảo tâm Rachel “Bunny” Mellon, thiết kế lại Vườn Hồng (Rose Garden) và Vườn Đông (East Garden) bằng cách thay màu hồng của đệ nhất phu nhân Mamie Eisenhower bằng màu xanh nhạt và trắng dịu. Bà tăng thêm công việc cho các nhân viên Nhà Trắng khi đưa về nhà trang trí nội thất hàng đầu Sister Parish để giúp đem “các kho báu” vào nhà và vứt bỏ “những thứ tởm lợm”. “Nếu có thứ gì đó tôi không chịu nổi thì đó chính là mấy tấm gương phong cách Victoria. Trông chúng thật gớm ghiếc. Vứt chúng xuống ngục tối thôi,” Jackie đùa và nhấn mạnh rằng “tất cả mọi thứ trong Nhà Trắng đều phải có lý do để nằm ở đó.” Chỉ trong vòng một tháng sau khi chuyển vào Nhà Trắng, bà đã đưa Henry Francis du Pont, một nhà sưu tập đồ nội thất thời kỳ đầu của Mỹ và là người thừa kế tài sản gia đình ông, vào chủ trì Ủy ban Bảo tồn Nghệ thuật Nhà Trắng do bà sáng lập. Các thành viên của Ủy ban này chịu trách nhiệm săn lùng các tác phẩm nghệ thuật giá trị trên toàn quốc và thuyết phục các chủ sở hữu tặng chúng lại
cho Nhà Trắng. Bà cũng thành lập Phòng Quản lý Mỹ thuật (Curator’s Office) để đảm bảo mọi đồ đạc và tác phẩm nghệ thuật trong tòa nhà được kiểm kê và chăm sóc giữ gìn đàng hoàng. Khi bà lần đầu đưa tour tham quan Nhà Trắng lên sóng truyền hình, chương trình này thu hút tám mươi triệu người xem và giúp bà trở thành một trong những đệ nhất phu nhân được ưa thích nhất cả nước. Lúc đó bà chỉ mới 32 tuổi.
Nhà Trắng ngày nay vẫn còn mang nặng dấu ấn Jackie Kennedy. Bà đã biến cái dinh cơ tẻ nhạt suốt một thời gian dài thành một cơ ngơi sang trọng khi pha trộn ảnh hưởng lịch sử với nét thanh lịch hiện đại. Bà truyền phong cách lục địa cho các nhân viên Nhà Trắng khi tuyển một đầu bếp Pháp là René Verdon vào làm việc và đề cử Oleg Cassini làm nhà tạo mẫu thời trang chính thức. Sự quan tâm của bà cũng mở rộng ra khu nhà riêng: khi Phòng ăn Gia đình cũ ở dưới nhà được cảm thấy là quá trang trọng để làm nơi tụ tập cho gia đình trẻ của mình, bà lấy không gian ở tầng hai, nơi từng là phòng ngủ của Margaret Truman, để biến nó thành một gian bếp và phòng ăn riêng của họ.
Các nhân viên giờ đây nói về tòa nhà bằng sự tôn kính mà họ vẫn thường dành cho những đệ nhất gia đình được yêu mến nhất. Một nhân viên trong dinh nói rằng mỗi lần anh đưa bạn bè đi tham quan một vòng Nhà Trắng, anh luôn kết thúc chuyến đi bằng việc bảo họ nhìn kỹ xung quanh và đắm mình vào khung cảnh đó: “Các bạn đã đi qua những nơi tất cả các tổng thống đều đi qua kể từ khi John Adams làm tổng thống.”
Và lần nào anh cũng kết thúc bằng câu “Thật xúc động”.
***
CÁC NHÂN VIÊN Nhà Trắng rất thích thú khi được biết về từng xăng– ti–mét của tòa nhà, về những góc khuất ít người biết đến cùng những bí mật lịch sử. Các phòng thay đồ có tủ khóa dưới tầng hầm, nơi các nhân viên phục vụ cất những chiếc áo tuxedo hồ cứng và các cô hầu phòng cất
đồng phục của họ (sơ mi màu nhạt và quần trắng), nằm không xa căn hầm trú ẩn bên dưới Cánh Đông, nơi được xây lên cho Tổng thống Franklin Roosevelt trong Thế chiến thứ Hai. Căn phòng này hiện là Trung tâm Ứng phó Khẩn cấp, có sức chịu đựng một vụ nổ hạt nhân. Công sự phòng thủ hình ống này là nơi tổng thống được đưa xuống trú ẩn trong trường hợp bị tấn công. Phòng Bản đồ (Map Room) ở Tầng Trệt từng là phòng bi-da trước khi được biến thành trung tâm kế hoạch tuyệt mật của tổng thống trong Thế chiến thứ Hai. Chính tại nơi đây, giữa các tấm bản đồ lần theo sự di chuyển của quân đội Mỹ và địch quân, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã trù tính việc xâm lăng xứ Normandy. Rất ít người được phép nhìn vào bên trong nơi này. “Mỗi khi cần vệ sinh căn phòng,” Tổng Quản lý J. B. West viết, “người nhân viên an ninh lấy khăn che hết các tấm bản đồ lại và đứng ngay ở đó trong lúc người lao công lau nhà.” Nhiều thập niên sau, Bill Clinton lấy phòng này để cho lời khai (được truyền hình) trước bồi thẩm đoàn trong thời gian xảy ra vụ tai tiếng Lewinsky. Ngày nay, căn phòng này được sử dụng làm phòng chờ của khách đến ăn lễ trong lúc đợi đến phiên mình được chụp hình với tổng thống và đệ nhất phu nhân ở Phòng Tiếp đón Phái đoàn Ngoại giao bên cạnh.
Các phòng khác cũng có những câu chuyện riêng trải dài qua nhiều thế kỷ trong suốt chiều dài lịch sử nước Mỹ. Bà Abigail Adams lấy căn Phòng Đông rộng lớn nhưng lạnh lẽo – cũng là căn phòng rộng nhất Nhà Trắng với trần cao đến 6 mét – để làm chỗ phơi quần áo. Căn phòng này sau đó được dùng làm chỗ ở tạm cho binh sĩ trong thời gian Nội Chiến và hiện được sử dụng để tổ chức hầu hết các cuộc họp báo của tổng thống. Phòng Quốc yến, nơi thường được sử dụng để tổ chức các dạ tiệc cấp quốc gia liên quan đến những vụ ký kết thỏa thuận quân sự và thương mại lớn, từng là phòng làm việc của Tổng thống Thomas Jefferson. Phòng Lục, hiện là một phòng khách trang trọng trên tầng Khánh tiết, lúc đầu là phòng ngủ và
phòng ăn sáng của Jefferson. Tổng thống James Monroe sau đó lấy phòng này làm phòng đánh bài. Đây cũng là nơi thi thể Willie, cậu con trai yêu dấu 11 tuổi của Tổng thống Abraham Lincoln được quàn với những bông trà trên tay và ánh nến hắt trên gương mặt. Phòng khách nhỏ Lincoln (Lincoln Sitting Room) mang phong cách Victoria ở tầng hai từng được sử dụng làm phòng điện tín ở cuối thế kỷ 19. Trong những ngày u ám nhất của vụ bê bối Watergate, đây là nơi Tổng thống Richard Nixon lui về ẩn náu giữa những tấm rèm nặng nề cùng những đồ nội thất tăm tối. Ông ngồi hàng giờ ở đó trong tiếng nhạc ầm ĩ, bên cạnh ngọn lửa cháy bừng bừng trong lò sưởi cùng chiếc máy lạnh mở hết công suất.
Trên tầng ba có một nơi nằm khuất tầm nhìn trên mái Cửa Nam (South Portico) nhìn xuống toàn cảnh công viên National Mall và Đài Kỷ niệm Washington. Căn phòng này được đệ nhất phu nhân Grace Coolidge thiết kế và đặt tên là “Sky Parlor”. Nơi ẩn náu thoáng mát hiện được biết đến dưới cái tên Solarium này được dùng làm phòng sinh hoạt của đệ nhất gia đình. Đây là nơi bé Caroline Kennedy theo học lớp mẫu giáo, nơi Tổng thống Reagan dưỡng bệnh sau khi bị bắn trong một cuộc mưu sát, và là nơi Sasha và Malia Obama vui đùa cùng các bạn đến ở qua đêm.
***
TRONG NHỮNG GIA nhân tôi phỏng vấn, chẳng ai bận tâm chuyện mình bị gọi là “người giúp việc”. Làm việc trong Nhà Trắng, dù là công việc gì, cũng chẳng có gì là hèn hạ. “Thật tuyệt vời khi ta không có khả năng mua nhưng lại được sống mỗi ngày giữa những món đồ và những bộ sưu tập đẹp nhất nước Mỹ,” nhân viên cắm hoa Ronn Payne nói.
Với Quản bếp bánh ngọt Roland Mesnier, việc chuẩn bị những món tráng miệng công phu cho năm vị tổng thống chính là đỉnh cao sự nghiệp của ông. “Nhà Trắng là đỉnh của đỉnh. Nếu Nhà Trắng không phải là đỉnh thì khi nào mới trở thành đỉnh?”
Chính việc tận tâm phục vụ và sự tự hào về vai trò của mình đã cho phép các đệ nhất gia đình nước Mỹ tự tin và an toàn sống và làm việc trong Nhà Trắng và tận hưởng những khoảnh khắc bình yên quý báu. Những câu chuyện của các nhân viên ở dinh tổng thống cho ta một cái nhìn thoáng qua về các tổng thống Hoa Kỳ cùng gia đình họ trong phạm vi nơi làm việc, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những câu chuyện khó tin của họ – cái ấm lòng, cái vui nhộn, cái bi thương – xứng đáng chiếm một vị trí trong lịch sử nước Mỹ.
CHƯƠNG I
Sự hỗn loạn được kiểm soát
Việc thay đổi từ chính quyền này sang chính quyền khác trong tòa nhà đến đột ngột như cái chết. Ý tôi muốn nói là điều đó để lại cho ta sự trống rỗng khó hiểu. Mới buổi sáng ta còn phục vụ ăn sáng cho một gia đình ở sát cạnh ta suốt mấy năm trời, vậy mà đến trưa gia đình ấy đã ra khỏi cuộc đời ta và rồi xuất hiện những gương mặt mới, những tính khí mới, những yêu ghét mới – Alonzo Field, nhân viên phục vụ và quản lý tổ phục vụ, 1931–1953.
“21 năm của tôi trong Nhà Trắng, đây là lần duy nhất công việc bỏ tôi” – Walter Scheib, quản bếp, 1994–2005.
Cứ một hay hai lần mỗi thập niên, vào một ngày tháng Giêng lạnh buốt, người Mỹ lại bị cuốn vào sự chuyển giao quyền lực từ tổng thống này sang tổng thống khác. Hàng trăm ngàn người đổ về khu National Mall để xem vị tổng thống mới đắc cử tuyên thệ nhậm chức trong một nghi lễ thanh bình và tổ chức kỹ càng mà Phu nhân Bird Johnson gọi là “cuộc vui lớn bốn năm một lần của nước Mỹ”.
Tuy nhiên, bên trong hậu trường, cái nghi lễ yên bình này lại đi kèm một số lượng kinh hoàng những hoạt động cung ứng phức tạp. Bà Laura Bush gọi việc “chuyển giao gia đình” là “một kiệt tác nghệ thuật được thực hiện với một tốc độ khác thường”, và kiệt tác đó có thành công hay không là tùy thuộc vào kiến thức tổ chức và sự linh động của các nhân viên ở tư dinh. Vào ngày nhậm chức, Nhà Trắng bắt đầu hoạt động sớm hơn bình thường với các nhân viên đến làm việc từ tờ mờ sáng. Khi một ngày kết thúc thì cũng là lúc một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Mỹ bắt đầu.
Nhà Trắng thuộc về gia đình tổng thống sắp mãn nhiệm cho đến trưa, khi nhiệm kỳ của vị tổng thống mới bắt đầu. Buổi sáng ngày nhậm chức, tổng thống sắp mãn nhiệm mời đệ nhất gia đình mới uống cà phê. Ngay trước khi đệ nhất gia đình cũ rời Nhà Trắng, các nhân viên đến đứng chật cứng Phòng Quốc yến sang trọng, nơi họ từng phục vụ rất nhiều bữa tiệc, để nói lời từ biệt với gia đình tổng thống. Trong lòng họ trào dâng nhiều cảm xúc khác nhau khi phải thay một người chủ – với một số người thì đó là một người bạn – để đổi lấy một người khác trong quãng thời gian chỉ sáu tiếng đồng hồ. Nhiều người đã có tám năm gần gũi với cái gia đình sắp ra đi và chưa có thời gian để biết rõ về những cư dân mới. Ít ai cầm được nước mắt, mặc dù nhiều người có thể đang rất phấn khích với tương lai.
“Khi vợ chồng Tổng thống Clinton xuống dưới nhà cùng với con gái Chelsea, họ không nói lời nào,” Tổng quản lý bộ phận phòng Christine Limerick nhớ về ngày nhậm chức năm 2001. “Đến bây giờ, tôi vẫn thấy xúc động khi nhớ lại chuyện Tổng thống Clinton nhìn thẳng vào mặt từng người và nói ‘Cảm ơn’. Cả phòng vỡ òa.”
Giây phút từ biệt, các nhân viên Nhà Trắng thường tặng cho gia đình tổng thống một món quà – đôi khi đó là lá quốc kỳ tung bay trên Nhà Trắng vào ngày tổng thống nhậm chức – đặt trong một chiếc hộp chạm tay rất đẹp do cánh thợ mộc trong Nhà Trắng thiết kế. Năm 2001, bà Limerick cùng Tổ trưởng tổ trang trí hoa Nancy Clarke và Tổng Quản lý mỹ thuật Betty Monkman đã tặng cho bà Hillary Clinton một chiếc gối lớn làm từ các mẫu vải mà trước đây bà đã chọn để trang trí cho các căn phòng khác nhau trong Nhà Trắng.
Mọi người có rất ít thời gian để hồi tưởng quá khứ. Đến khoảng 11 giờ sáng thì hai đệ nhất gia đình rời Nhà Trắng để đến điện Capitol. Từ lúc đó cho đến khoảng 5 giờ chiều – khi tổng thống mới và gia đình ông trở về
nghỉ và chuẩn bị cho các buổi dạ vũ nhậm chức – các nhân viên phải kết thúc công việc đưa một gia đình ra và đưa một gia đình khác vào. Trong cái khoảnh khắc hiếm hoi ấy, khi mọi ánh mắt ở Washington và thế giới chuyển từ Nhà Trắng sang Điện Capitol, các nhân viên trong dinh cảm thấy biết ơn khi công chúng tạm thời chuyển hướng chú ý của họ ra khỏi các hoạt động náo loạn bên trong các bức tường Nhà Trắng.
Do việc thuê đội ngũ nhân viên chuyển nhà chuyên nghiệp trong một ngày đòi hỏi hàng loạt quy trình kiểm tra an ninh vô cùng bất tiện, nên các nhân viên trong dinh đành phải tự mình đảm nhiệm việc chuyển hành lý của vị tổng thống mới đắc cử vào và chuyển hành lý của vị tổng thống mãn nhiệm cùng gia đình ông ta ra. Họ không được phép nhờ người bên ngoài giúp đỡ. Suốt ngày hôm đó, trong khi vẫn phải tiếp tục duy trì vai trò truyền thống của họ, các gia nhân còn phải đảm nhiệm thêm công việc của đội ngũ chuyển nhà chuyên nghiệp và chỉ có sáu tiếng đồng hồ để hoàn thành chuyện đó. Do có quá nhiều đồ đạc cần chuyển ra và đòi hỏi rất nhiều sức lao động nên tất cả mọi người đều được huy động đến giúp một tay: trong khi các nhân viên rửa nồi niêu trong bếp phụ sắp xếp đồ đạc bàn ghế thì cánh thợ mộc xếp các khung hình lên mấy chiếc bàn trà. Công việc chuyển nhà nặng nhọc đến mức ngay cái ngày gia đình Clinton chuyển đến, một nhân viên bị chấn thương nặng ở lưng trong lúc nhấc chiếc sofa, và vì thế không thể quay lại làm việc suốt mấy tháng trời.
Với Tony Savoy, người phụ trách giám sát công việc điều hành Nhà Trắng, ngày tổng thống nhậm chức là ngày trọng đại nhất trong sự nghiệp của ông. Ban Điều hành thường phụ trách chuyện tiệc tùng, chiêu đãi, các sự kiện ngoài trời, đồng thời sắp xếp lại đồ đạc để quay các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, nhưng trong thời gian tổng thống nhậm chức, họ là đội quân “chuyển đồ ra và chuyển đồ vào”, Savoy cho biết. Khi các xe tải chở đồ đạc của gia đình mới đến, hàng chục nhân viên Nhà Trắng từ nhân
viên điều hành, kỹ sư đến nhân viên xưởng mộc và xưởng điện đều đổ xô ra khuân đồ đạc từ trên xe xuống và chuyển chúng đến đúng vị trí mà nhà trang trí nội thất của đệ nhất gia đình mong muốn. “Việc chuyển đồ được gọi là thành công khi không có món đồ nào bị mất” và tiếp tục ở lại vị trí đó bốn năm nữa, Savoy pha trò để che giấu nỗi lo lắng trước nhiệm vụ lạ lùng này.
Trong vòng sáu tiếng đồng hồ, từ lúc gia đình tổng thống cũ đi ra cho đến khi gia đình tổng thống mới đắc cử dọn vào, các nhân viên phải trải thảm sạch ra, thay mới các tấm nệm và phần đầu giường, tháo tranh xuống và chủ yếu là trang hoàng lại các nơi theo phong cách ưa thích của gia đình sắp dọn vào. Họ dỡ hành lý của gia đình tổng thống ra, xếp quần áo thật phẳng phiu và cho vào các ngăn kéo tủ. Họ thậm chí còn xếp kem và bàn chải đánh răng lên kệ phòng tắm. Không một chi tiết nào bị bỏ sót.
Nhân viên cắm hoa Bob Scanlan từng phụ chuyển nhà khi Tổng thống Clinton dọn đi và Tổng thống George W. Bush dọn tới năm 2001. Việc sắp xếp đồ đạc cho gia đình Bush khá dễ dàng bởi họ biết rõ nơi này hơn phần lớn các tổng thống khác. Tổng thống George W. Bush vẫn thường đến Nhà Trắng chơi khi bố ông còn làm tổng thống. Gia đình Bush đã quen với việc có đông người giúp việc, và chính bà Laura Bush cũng công nhận rằng họ “có những thuận lợi rất lớn” so với các gia đình tổng thống khác vì có nhiều thời gian sống ở Nhà Trắng lúc Tổng thống Bush cha (người được các nhân viên gọi thân mật là “ông Bush già”) làm việc ở đây. “Chỉ có một gia đình khác có cha con đều làm tổng thống là John Quincy và Louisa Adams.”
Biết rõ Bush rất quen thuộc với Nhà Trắng và dàn nhân viên ở đây, Bill Clinton nói đùa rằng Bush thậm chí còn biết rõ các công tắc đèn nằm ở đâu. Trong khi đó Clinton chỉ mới đến Nhà Trắng vài lần trước khi nhậm chức: một lần khi ông là thành viên của tổ chức American Legion Boys Nation và
được chụp hình bắt tay với Tổng thống Kennedy; một lần khi ông được gia đình Tổng thống Carter mời đến chơi năm 1977 (đây cũng là lần đầu bà Hillary Clinton đến thăm Nhà Trắng); và thêm vài lần khác khi ông đến dự các bữa tiệc tối chiêu đãi Hiệp hội Thống đốc Quốc gia (National Governors Association) trong thời gian ông làm thống đốc bang Arkansas. Trước khi chuyển vào Nhà Trắng, bà Hillary cho biết lần duy nhất bà lên tầng hai là khi được bà Barbara Bush dẫn đi tham quan một vòng các nơi sau khi chồng bà đắc cử. Bà thậm chí còn chưa nhìn thấy tầng ba. Khi chuyển vào đây sống, để hiểu rõ lịch sử Nhà Trắng, bà Hillary đã yêu cầu các nhân viên quản lý mỹ thuật sưu tầm hình ảnh Nhà Trắng từ thời kỳ đầu tiên để làm thành một quyển sách thể hiện rõ từng phòng trông ra sao trong suốt chiều dài lịch sử.
Tuy nhiên, Tổng thống Barack Obama mới là người thấy khó khăn nhất khi chuyển vào Nhà Trắng sinh sống, ông và gia đình đã phải chuyển từ nhà họ ở Hyde Park, Chicago vào thẳng Nhà Trắng. Gia đình Obama thậm chí còn ít quen với chuyện có người giúp việc hơn cả gia đình Clinton. Lúc ở Chicago, gia đình họ chỉ có mỗi một quản gia chứ không có bảo mẫu. Vì thế, trong suốt thời gian vận động tranh cử, họ phải giao hai cô con gái Sasha và Malia cho bà Marian, mẹ bà Michelle Obama, trông nom. Do không có lợi thế là con trai tổng thống, cũng chưa từng sống trong khung cảnh tương đối xa hoa của dinh thống đốc, nên Obama và gia đình ông phải mất một thời gian để cảm thấy thoải mái hơn với cuộc sống mới.
***
NGÀY 20 THÁNG 1 năm 2009, 1,8 triệu người tụ tập trong tiết trời – 2°C để chứng kiến ông Barack Obama trở thành vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên tuyên thệ nhậm chức. Đây không chỉ là đám đông lớn nhất tham dự lễ nhậm chức của một tổng thống, mà còn là lượng quần chúng lớn
nhất chưa từng thấy ở bất kỳ sự kiện nào trong lịch sử của Washington D.C.
Hầu hết người Mỹ đều không biết đến Barack Obama cho đến năm 2004 khi ông đọc bài diễn văn then chốt đầy cuốn hút tại Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ với tư cách thượng nghị sĩ Bang Illinois. Sự nổi lên nhanh chóng của Obama khiến gia đình ông không có nhiều thời gian chuẩn bị cho cuộc sống ở Nhà Trắng. Vì biết điều đó nên các nhân viên ở dinh muốn giúp đỡ để việc chuyển nhà của họ được dễ dàng hơn. Ông Obama hẳn phải có cảm giác rất lạ khi nghe người tổng quản lý nói “Xin chào ngài tổng thống, chào mừng ngài đến với ngôi nhà mới” khi ông lần đầu bước qua các cánh cửa đồ sộ ở Cửa Bắc trên cương vị một tổng thống. Trong khoảnh khắc yên tĩnh và ngắn ngủi từ trưa đến chiều hôm ấy, tức từ sau khi xem diễu hành trên đại lộ Pennsylvania đến trước lúc tham gia bữa tiệc khiêu vũ nhậm chức đầu tiên của họ, gia đình Obama chỉ ăn sơ trong Phòng ăn Gia đình cũ, nơi không một chi tiết nào bị bỏ sót.
Ngày hôm đó là kết quả của nhiều tháng trời lên kế hoạch cẩn thận từ trước. Với những người giúp việc trong dinh thì thời kỳ chuyển tiếp sang chính quyền mới đã bắt đầu khoảng 18 tháng trước khi tổng thống nhậm chức. Ngay từ lúc đó, người tổng quản lý đã phải bắt đầu chuẩn bị một số tài liệu để đưa cho vị tổng thống và đệ nhất phu nhân sắp dọn đến (cộng thêm với khó khăn là không biết những người sắp đến như thế nào), trong đó có sơ đồ chi tiết của Nhà Trắng, danh sách các nhân viên làm việc ở tư dinh, và tổng quan những gì được phép thay đổi trong Phòng Bầu dục.
Ngay từ trước khi một ứng cử viên được chọn ra cho cuộc tổng tuyển cử, ông Gary Walters, tổng quản lý trong giai đoạn 1986–2007 đã phải bắt đầu thu thập thông tin về các ứng cử viên trong các cuộc bầu cử sơ bộ. Điều này đặc biệt khó khăn khi Tổng thống Ford, Tổng thống Carter và Tổng thống George H. W. Bush thất bại trong nỗ lực ở lại nhiệm kỳ hai.
“Mặc dù dinh tổng thống vẫn đang thuộc quyền sở hữu của gia đình đang ở đó nhưng ta phải chú ý xem chuyện gì sẽ xảy ra,” Walters nói. Vào tháng 12, sau cuộc bầu cử và trước ngày nhậm chức, Walters phải sắp xếp để gia đình tổng thống mới được đương kim đệ nhất phu nhân dẫn đi tham quan một vòng Nhà Trắng. Đó cũng là lúc vị đệ nhất phu nhân sắp dọn đến được trao một cuốn sách, bên trong có tên và hình của tất cả các nhân viên trong tư dinh. Cuốn sách này sẽ giúp đệ nhất gia đình biết tên từng người làm việc trong tòa nhà, đồng thời cũng là một phần của biện pháp an ninh giúp gia đình mới phát hiện ra người lạ mặt và báo cho Cơ quan Mật vụ.
Đệ nhất gia đình sắp dọn đi phải thanh toán mọi chi phí chuyển đồ đạc cá nhân của họ ra khỏi Nhà Trắng. Vị tổng thống mới đắc cử cũng phải thanh toán chi phí chuyển đồ đạc cá nhân của họ vào nhà, và khoản tiền này có thể lấy từ két sắt cá nhân, từ quỹ vận động tranh cử hay chuyển giao. Công việc của gia đình sắp dọn đến là phối hợp với Cơ quan Mật vụ để đưa vật dụng cá nhân của họ vào Nhà Trắng buổi sáng ngày nhậm chức.
Một trong những thách thức lớn về hậu cần diễn ra trong ngày nhậm chức là việc chuyển đồ đạc và những vật dụng lớn của gia đình tổng thống mới đắc cử vào Nhà Trắng. Sau cuộc bầu cử năm 1960, Letitia Baldrige, thư ký phụ trách sự kiện xã hội của gia đình Kennedy đã gởi thư cho bà Jackie để cho biết là cô đã hỏi Mary Jane McCaffree, thư ký xã hội của gia đình Eisenhower, là “có thể đưa lén nhiều thứ vào nhà mà không để gia đình Eisenhower biết được không và cô ấy (McCaffree) đã đồng ý, vì thế ông tổng quản lý có thể cất mấy thùng các–tông, vali, v.v. ở một nơi khuất tầm nhìn và đợi đến 12 giờ trưa thì lôi chúng ra. Tuyệt quá phải không? Cứ hệt như truyện của Alfred Hitchcock vậy.” Baldrige nhớ cô đã lái xe đến Nhà Trắng với Providencia Paredes, người hầu gái của Jackie Kennedy, và George Thomas, người hầu riêng của Jack Kennedy, chở theo chiếc áo dạ
hội mà bà Jackie sẽ mặc trong tiệc khiêu vũ nhậm chức và tất cả hành lý của gia đình Kennedy. Họ đến nơi khi mọi người đang tụ tập ở điện Capitol để dự lễ nhậm chức. Khu đất phía nam đầy tuyết lúc này đang tắm trong ánh mặt trời chói lọi. “Chúng tôi đã tính trước quãng thời gian đi từ Georgetown đến Nhà Trắng để không đến đó trước 12 giờ trưa, bởi vì đến đúng 12 giờ trưa vị tổng thống mới sẽ chính thức trở thành người sở hữu Nhà Trắng.”
Gần nửa thế kỷ sau, chuyện này vẫn không có gì thay đổi. Không lâu sau cuộc bầu cử, các cố vấn của gia đình Obama bắt đầu gặp gỡ những người giúp việc ở tư dinh, và đến tuần trước lễ nhậm chức, phần lớn đồ đạc của gia đình Obama được vận chuyển bằng đường biển đến Nhà Trắng và đưa vào cất trong Phòng Gốm sứ (china Room) ở Tầng Trệt để sau đó có thể nhanh chóng chuyển lên trên lầu. Trước đó, vợ chồng Tổng thống Bush đã nói với Tổng Quản lý Stephen Rochon rằng họ muốn làm sao để việc chuyển nhà dễ dàng nhất cho tất cả mọi người, nhưng Rochon không muốn làm vợ chồng Tổng thống Bush thấy như họ đang bị đẩy ra ngoài, “chúng tôi muốn đặt mấy thứ này ở nơi gia đình hiện tại không nhìn thấy. Không phải là họ không biết chúng ở đó, mà vì chúng tôi không muốn họ cảm thấy như chúng tôi đang đẩy họ ra ngoài.”
Các cố vấn khác của Obama cũng liên hệ tương tự với những người giúp việc trong dinh. Hơn hai tháng trước ngày nhậm chức, Tổ trưởng Tổ Hoa Nancy Clarke đã phải gặp nhà trang trí nội thất của gia đình Obama, Michael Smith, để bàn về chuyện trang trí hoa như thế nào cho các căn phòng mà bạn bè và người nhà của tổng thống sẽ lưu lại qua đêm trong ngày nhậm chức.
“Có rất ít thời gian để chuẩn bị mọi thứ cho tòa nhà, vì thế cả nhóm chúng tôi phải đảm bảo rằng tất cả mọi thứ đều hoàn hảo nhất có thể trong thời gian quy định,” Desirée Rogers, nhân viên thân tín của vợ chồng
Obama từ khi còn ở Chicago và thư ký xã hội đầu tiên của họ, cho biết. Ngày nhậm chức, “chúng tôi phải có mặt ở Nhà Trắng từ rất sớm để sắp xếp và chuẩn bị mọi thứ, đặt quần áo vào từng phòng,” cô nhớ lại.
Ngay từ mấy tuần lễ trước ngày nhậm chức, Rogers đã phải gặp các nhân viên cắm hoa để bàn xem sẽ đặt những loại hoa nào trên các bàn tròn nhỏ, và sẽ sử dụng loại nến và chân nến nào cho những khoảnh khắc quý giá của đệ nhất gia đình để họ có thể tận hưởng môi trường mới mẻ đầy phấn khích ở xung quanh trước khi đi đến với các buổi dạ vũ.
“Tất cả những thứ nhỏ nhặt đó có thể khiến mọi người thấy thoải mái và thấy mình được chào đón,” nhân viên cắm hoa Bob Scanlan nói. Phần lớn khu Cánh Tây được vị tổng thống mới lấp đầy với những trợ lý trung thành đến từ chiến dịch tranh cử tổng thống và từ thời kỳ đầu sự nghiệp chính trị của ông, trong đó có Robert Gibbs, người phát ngôn lâu năm được ông bổ nhiệm làm thư ký báo chí đầu tiên của ông tại Nhà Trắng, cùng người bạn thân Valerie Jarret mà ông chỉ định làm cố vấn cấp cao. Bà Michelle Obama cũng đưa nhóm trợ lý của bà vào, trong đó có nhiều người quen biết lâu năm. Chỉ vài ngày sau khi vào Nhà Trắng, Michelle đã tập hợp các nhân viên của bà ở khu Cánh Đông cùng toàn thể các nhân viên tư dinh lại trong Phòng Tây. Katie McCormick Lelyveld, thư ký báo chí của đệ nhất phu nhân lúc đó, nhớ bà chủ của cô đã cho mọi người biết rõ ai là người phụ trách ở đó.
“Đây là đội ngũ cùng tôi bước qua cánh cửa này,” đệ nhất phu nhân phất tay về phía dàn trợ lý chính trị của mình và nói với các nhân viên làm việc lâu năm trong tòa nhà. “Còn các anh chị là một phần của đội ngũ mới của chúng tôi,” bà bảo họ trước khi quay sang nói với các nhân viên của mình, bao gồm cả Lelyveld: “Trách nhiệm của các bạn là phải đảm bảo biết hết mọi người ở đây. Họ có mặt ở đây trước các bạn và là những người giúp vận hành nơi này. Chúng ta hiện đang ở trong địa bàn của họ.” Sau đó,
các nhân viên của đệ nhất phu nhân đi vòng vòng quanh phòng để tự giới thiệu với mọi người.
“Việc chúng tôi cần làm lúc đó là tìm hiểu vai trò của họ là gì và vị trí của họ trong bức tranh toàn cảnh ra sao,” Lelyveld nói. “Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ mới vào.”
Từ hôm đó trở đi, Lelyveld luôn trông chờ vào các chỉ dẫn của những nhân viên trong tư dinh. Khi cô muốn nghĩ ra cách gì hay để duyệt thực đơn cho bữa quốc yến đầu tiên, cô xuống bếp hỏi Quản bếp Cristeta “Cris” Comerford xem bà nghĩ cô nên bố trí Phòng Quốc yến như thế nào để giới truyền thông có thể thấy cô đang chuẩn bị nhưng không làm cô phân tâm. Khi cô yêu cầu các nhân viên phòng kỹ thuật và phòng điều hành sắp xếp lại bàn ghế để tiến hành quay một cuộc phỏng vấn ở Tầng Khánh tiết trên truyền hình, cô được nhắc nhở rằng Nhà Trắng không phải là ngôi nhà bình thường. “Ta đang làm việc trong phòng bảo tàng,” cô nói. “Hai chiếc ghế mà ta cần dùng cho buổi phỏng vấn không phải chỉ là ghế,” mà còn là “hai món đồ cổ có tuổi đời lớn hơn ta hàng thế kỷ và phải mang từ Phòng Lam ra. Do đó ta cần phải hỏi ý kiến các nhân viên phụ trách nơi đó.” (Đồ đạc trong Nhà Trắng quý giá đến mức một nhân viên tạp vụ bị sếp của anh ta cảnh cáo rằng nếu anh ta lỡ tay làm vỡ một cái đồng hồ mạ đồng của Pháp chưng trong Nhà Trắng từ năm 1817 thì đừng có mà tính đến chuyện có thể quay trở lại làm việc. Anh ta có làm cả đời cũng sẽ chẳng đủ tiền mua một cái khác thay thế.)
Thứ Sáu đầu tiên sau ngày nhậm chức, Tổng thống Obama mặc đồ giản dị đi khắp tư dinh để tự giới thiệu với các nhân viên. Khi đến căn bếp ở tầng hai, ông thấy mấy nhân viên phục vụ đang xúm quanh chiếc tivi. Ông vui vẻ đến đấm vào vai James Jeffries.
“Các ông đang xem gì thế?” ông hỏi họ.
“Chúng tôi đang xem những gì diễn ra ở Đài tưởng niệm Lincoln trước ngày nhậm chức,” Jeffries trả lời. “Chúc mừng ngài trở thành tổng thống.” “Cảm ơn ông,” Obama nói với nụ cười ngoác tận mang tai rất đặc trưng của ông và bước ra khỏi bếp.
Vài phút sau, khi ông quay trở lại bếp, Jeffries lấy hết can đảm nói thêm: “Tôi vừa mới chúc mừng ngài. Vậy ngày mai, nếu tôi được gọi đến làm, ngài có thể chúc mừng tôi đã làm việc ở đây được 50 năm không?”
“Tôi sẽ không đợi đến ngày mai,” Obama lập tức trả lời. “Tôi có thể làm điều đó ngay bây giờ. Xin chúc mừng ông.”
Mặc dù Desirée Rogers mô tả mối quan hệ giữa các tổng thống với các nhân viên đơn giản là “rất, rất thân thiện” nhưng so với các tổng thống tiền nhiệm thì vị tổng thống mới này dè dặt hơn nhiều, cũng ít nói chuyện phiếm hơn. Một số nhân viên cho biết họ thấy nhớ tình cảm thân thiết dễ dàng của họ với các tổng thống Bush cha, Clinton và Bush con. “Gia đình Bush muốn chúng tôi thấy mình gần gũi họ,” Tổng Quản lý Rochon nói. Còn với gia đình Obama thì “chúng tôi phải giữ thái độ hoàn toàn chuyên nghiệp”. Tuy nhiên gia đình Obama cũng thân thiết với một số người làm việc trong hậu trường. Nhân viên phục vụ James Jeffries nói rằng giữa gia đình Obama với phần lớn nhân viên phục vụ Mỹ gốc Phi có sự thông hiểu và tôn trọng ngầm lẫn nhau do họ đều là người Mỹ da đen. Tổng thống Obama cũng thừa nhận điều này khi nói rằng một phần sự nhiệt tình của các nhân viên phục vụ đối với gia đình ông đến từ việc “họ nhìn Malia và Sasha và thấy rằng ‘con bé trông chẳng khác cháu tôi hay con gái tôi.’”
Suốt từ năm 1988 đến năm 2009, ông gác cửa Vincent Contee, 84 tuổi, đều đặn đến Nhà Trắng làm việc mỗi thứ Hai và thứ Ba và cùng tổng thống đi thang máy lên xuống Phòng Bầu dục. “Chúng tôi rất hợp nhau,” ông nhớ lại. “Sáng nào tôi cũng gặp ông ấy và được ông ấy hỏi han xem công việc của tôi hôm ấy thế nào.” Trong suốt 20 năm làm việc ở Nhà Trắng,
Contee không để mình bị mê hoặc bởi người nổi tiếng. Ngoài việc thường xuyên nói chuyện với các tổng thống, ông cũng hay đi cùng thang máy với những nhân vật được nhiều người thần tượng như Nelson Mandela và Elizabeth Taylor để đến gặp tổng thống tại khu nhà riêng của gia đình họ. Ông cho biết ngay cả các tổng thống cũng lắm lúc không giấu được vẻ mệt mỏi. Đến một lúc nào đó, vị tổng thống mà ông hầu hạ sẽ quay sang ông trong khoảnh khắc ngắn ngủi trong thang máy và thở dài: “Tôi chỉ ước sao có thể quay trở về giường và ngủ cả ngày.”
Trên đường đến Phòng Bầu dục, ông Obama thường tán chuyện thể thao với Contee. “Ông ấy biết tôi là một fan bóng bầu dục. Tôi là fan của đội Redskins. Cô biết không, mỗi khi họ thua, ông ấy sẽ giải thích là vì họ không chơi như thế này hoặc phải chơi như thế kia.” Thỉnh thoảng Obama còn nhờ ông Contee dắt con Bo, con chó săn nước Bồ Đào Nha (Portuguese water dog) của gia đình ông, đi ra ngoài dạo quanh khuôn viên. Sau khi đi dạo về thì Contee đưa con Bo lên phòng ông ở tầng ba.
Mặc dù vậy, vợ chồng Obama vẫn tỏ ra rất dè dặt kín đáo và Tổng Quản lý Rochon cảm nhận được khoảng cách giữa các nhân viên với vị tân tổng thống. Vợ chồng Obama có vẻ “không thoải mái”, ông nói, vì “được quá nhiều nhân viên phục vụ và nhân viên làm phòng hầu hạ từng li từng tí.” Với một cặp vợ chồng chỉ vừa mới trả xong tiền vay học đại học thì mức độ phục vụ cá nhân của các nhân viên Nhà Trắng chắc hẳn phải khiến họ rất căng thẳng. “Ta phải cho họ sự riêng tư,” Contee nói với tôi. “Ta chỉ nên nói chuyện với họ trong giây lát rồi để họ đi đường họ, ta đi đường ta.”
Vợ chồng Obama đặc biệt rất muốn nuôi dạy con cái trong môi trường bình thường nhất có thể cho dù họ đang sống trong một tòa nhà có đến hàng chục đầu bếp, phục vụ và hầu phòng. Năm 2011, bà Michelle Obama nói với người phỏng vấn bà là cô con gái lớn Malia, lúc đó 13 tuổi, sắp
phải tự giặt đồ của nó và bà Marian Robinson mẹ bà, hiện sống trong một phòng suite ở tầng ba, sẽ dạy con bé làm chuyện đó. “Mẹ tôi vẫn tự giặt đồ. Bà ấy không muốn người lạ động đến đồ lót của bà ấy.” Nhà tạo mẫu trước đây của đệ nhất phu nhân, Michael “Rahni” Flowers, xác nhận “Michelle là mẫu người mẹ rất nghiêm túc – cả mẹ bà cũng thế. Chỉ cần họ nhìn một cái là ta sẽ hóa đá và ngưng ngay công việc đang làm.”
Katie McCormick Lelyveld nhớ chuyện đệ nhất phu nhân xác định rõ các nguyên tắc cơ bản với các cô con gái như thế nào. “Mặc dù bà ấy rất cảm kích là trong nhà có các gia nhân chuyên lo những việc đó, nhưng bà cho rằng họ không phải ở đó để hầu hạ tụi nhỏ.” Michelle nhắc mấy cô con gái của mình là “Đừng quen thói để người khác dọn giường cho mình, đây là việc các con phải làm.”
Dù vậy, sau hai năm mệt mỏi theo đuổi chiến dịch tranh cử và chạy theo lịch làm việc điên cuồng, vợ chồng Obama rất cảm kích sự giúp đỡ của các nhân viên trong tư dinh. “Có một số thuận lợi khiến cho những ngày dài đằng đẵng trở nên dễ dàng hơn, chẳng hạn như có ai đó phụ trách kế hoạch ăn tối giúp ta,” Lelyveld giải thích.
Những gì thuộc về truyền thống khó có thể mất trong tòa hành pháp. Khi vợ chồng Obama nói với các nhân viên phục vụ rằng cuối tuần họ có thể thay chiếc áo vét–tông đen hồ cứng bằng sơ–mi để mở ở cổ và quần tây bình thường, không phải ai cũng chịu nghe theo. “Với một số nhân viên phục vụ lớn tuổi, tức khoảng bảy tám mươi tuổi, họ đã có sẵn nhiều bộ tuxedo mà họ đã quen mặc, vì thế bất cứ thứ gì khác sẽ đồng nghĩa với việc họ phải sắm đồ mới. Họ cảm thấy thoải mái hơn trong những bộ tux này,” Lelyveld nói. Khi nhiều nhân viên phục vụ nhất định không chịu rời bỏ bộ y phục trang trọng của họ, cô nói cô thấy mình lúng túng mỗi khi mặc quần kaki hay quần jean đứng cạnh họ mặc dù cô đã quen với cách ăn
mặc thoải mái này trong thời gian vận động tranh cử. “Tôi tôn trọng sự tôn trọng của họ đối với những gì họ làm.”
Vợ chồng ông Obama rõ ràng rất nuối tiếc cuộc sống ở Chicago, ông Obama nói rằng “mỗi tổng thống đều ý thức sâu sắc rằng chúng ta chỉ là cư dân tạm thời” của Nhà Trắng, và nói thêm rằng “chúng tôi chỉ là những người ở trọ nơi này”. Sau hai chiến dịch tranh cử mệt mỏi, tổng thống Obama giờ đây từ chối vắng mặt ở bữa ăn tối gia đình hơn hai lần một tuần. Đó là những bữa tối được chuẩn bị bởi Sam Kass, người đầu bếp riêng của họ đưa từ Chicago đến, cho đến khi Kass rời khỏi vị trí đó để chuyển sang làm việc ở New York tháng 12 năm 2014.
Theo những gì Reggie Love, cựu trợ lý cá nhân của Tổng thống Obama nhớ thì mỗi sáng, trong lúc đi bộ từ khu nhà ở đến khu Cánh Tây, ông Obama đều yêu cầu Tổng Quản lý Stephen Rochon cập nhật cho ông biết những chuyện đơn giản trong nhà mà ai cũng phải biết xử lý, dù là đang sống trong tòa hành pháp hay trong một ngõ cụt ở ngoại ô. “Anh đang sống trong một tòa nhà và có ai đó chịu trách nhiệm bảo trì tòa nhà này. Vậy nếu áp lực nước không đủ mạnh hay hệ thống Wi-fi không hoạt động thì anh phải nói chuyện này với người đó, đúng không?”
Một trong những thứ được tổng thống rất mực quan tâm trong những ngày đầu mới đến là sân bóng rổ ở Nhà Trắng. Trong thời gian diễn ra chiến dịch tranh cử năm 2008, ông Obama thường chơi bóng vào những ngày diễn ra bầu cử sơ bộ hay những ngày họp đảng ở địa phương để cử ra người đại diện cho chức ứng viên tổng thống, chỉ hai lần ông không chơi bóng rổ, đó là lúc ở New Hampshire và Nevada khi ông thất bại ở hai bang này. Không bao lâu sau ngày nhậm chức, ông nói với Rochon rằng ông muốn biến sân tennis bị rặng thông che khuất ở Bãi cỏ phía nam thành sân bóng rổ. Thế là các vòng rổ được nhanh chóng lắp đặt, các vạch sơn được
kẻ mới, và những quả bóng rổ mang ký hiệu Nhà Trắng được đặt làm. Tất cả nỗ lực này ngốn hết 4.995 đô.
Dự án này mất nhiều tháng để hoàn thành. Cuối cùng ông Obama mất kiên nhẫn và nói với Rochon trong lúc cùng đi bên nhau buổi sáng: “Sao thế Đô đốc, chuyện này có gì to tát lắm đâu.”
Một buổi sáng, không nghe Rochon nhắc đến sự tiến triển của sân bóng, tổng thống hỏi các vòng rổ của ông ấy đã đến đâu rồi. Rochon trả lời: “Thưa tổng thống, tôi rất vui mừng báo cho ngài biết là hôm nay mọi việc sẽ hoàn thành lúc 11 giờ 30.”
Mắt Obama sáng lên. Đến 10 giờ 30, một tiếng trước thời gian quy định là sẽ xong, ông chạy ra sân để chơi bóng với Love, người từng một thời là tiền đạo của đội Duke Blue Devils.
***
MICHAEL “RAHNI” FLOWERS, nhà tạo mẫu tóc của Michelle Obama, bắt đầu làm tóc cho bà từ khi bà là một cô bé tuổi teen và sau đó trở thành sự lựa chọn của đệ nhất phu nhân tổng thống mới đắc cử cho ngày nhậm chức. Mặc dù các nhà tạo mẫu tóc không thuộc đội ngũ nhân viên làm việc chính thức ở tư dinh nhưng họ cho ta một cái nhìn độc nhất vô nhị về những sự kiện xảy ra trong cái ngày khó quên đó.
Ngày làm việc của Flowers bắt đầu từ 4 giờ sáng ở Blair House, căn nhà phố sang trọng phía bên kia đường Nhà Trắng, nơi mà theo truyền thống vị tổng thống đắc cử và gia đình ông phải ở lại trước khi chính thức dọn vào tòa hành pháp. Sáng hôm đó, sau khi Flowers làm tóc cho Michelle cùng hai con gái và mẹ bà xong, ông đi cùng gia đình họ đến Đồi Capitol và ở đó suốt cả ngày. Tối đến, ông lại tiếp tục theo họ đến mười địa điểm tổ chức tiệc khiêu vũ nhậm chức.
Flowers lập tức nhận ra sự phấn khích của các nhân viên phục vụ, phần lớn là người Mỹ gốc Phi, đối với vị tổng thống mới đắc cử. “Có một nỗi
tự hào vượt lên trên cả sự tự hào, điều mà cả cuộc đời họ mơ không thấy nổi,” Flowers, cũng là một người Mỹ da đen, nói. “Tôi nhìn thấy điều đó qua cách họ nói, cách họ đi. Nhìn gương mặt tươi cười hớn hở của họ, ta có thể nói rằng chuyện này vượt ra ngoài những mơ ước ngông cuồng nhất của họ.”
Theo Flowers, sáng hôm đó tất cả mọi người đều tỏ ra trầm tĩnh trừ bà Marian Robinson, mẹ của đệ nhất phu nhân. Bà Robinson sắp phải trải qua một thay đổi lớn trong cuộc đời. Bà chỉ mới thành lập một câu lạc bộ điền kinh cho người cao tuổi ở Chicago và chiến thắng một cuộc thi điền kinh cách đây không lâu, nhưng Michelle lại nhờ bà đến sống chung với họ ở Nhà Trắng để giúp trông nom các cháu. Giờ đây bà phải rời xa quê để đến với cuộc sống mới, lại là một cuộc sống có tổ chức rất nghiêm ngặt.
“Bà ấy là một phụ nữ rất độc lập,” Flowers nói. Ông tin rằng bà không chọn thay đổi vì bản thân mà vì “bà ấy cho tôi biết là Michelle muốn thế, với lại bà ấy cũng nghĩ đến mấy cháu”. Lúc rời xa quê hương Chicago yêu dấu, bà Robinson nói, “Chúng nó kéo tôi theo và tôi không thấy thoải mái chút nào, nhưng tôi sẽ làm những gì cần phải làm.”
Tuy nhiên vị tổng thống đắc cử lại không có vẻ gì bối rối trước thay đổi lớn và đột ngột này. Sau khi đọc một bài diễn văn nhậm chức đầy tham vọng – liệt kê hàng loạt mục tiêu chính sách như cải cách chế độ chăm sóc y tế và lặp lại lời hứa thay đổi những lập luận gây chia rẽ ở Washington – ông đã hỏi “Sao, tôi làm tốt chứ?”
“Barack luôn rất trầm tĩnh, ông ấy luôn kiểm soát được tâm trạng,” Flowers nói. “Còn Michelle thì thuộc tuýp người bộc trực hơn.” Do gặp một trục trặc nhỏ trong kế hoạch làm việc (ai đó đã quên không tính thời gian ăn trưa theo truyền thống ở điện Capitol sau lễ tuyên thệ nhậm chức) nên gia đình Obama chỉ có 45 phút để chuẩn bị cho các buổi khiêu vũ tối hôm đó. Trên đường hối hả để kịp đến với các buổi dạ vũ,
tổng thống ghé qua phòng chăm sóc sắc đẹp nhỏ nằm trên tầng hai của Nhà Trắng và hỏi ý kiến vợ xem nên đeo chiếc nơ nào.
“Anh muốn mình trông đẹp nhất vì em,” ông nói với vợ.
Khi ông bước ra ngoài, Flowers để ý thấy một bên cổ tay áo của ông không được thẳng thớm.
“Barack, kiểm tra lại cổ tay áo,” Flowers lưu ý ông.
“Ồ, đẹp rồi, ai thèm quan tâm,” Obama vui vẻ nói.
Khi Ikram Goldman, chuyên viên phục trang của đệ nhất phu nhân đồng thời sở hữu cửa hàng thời trang cao cấp mà Michelle Obama thường xuyên lui tới trước khi vào Nhà Trắng, nghe Flowers gọi tổng thống là ‘Barack’, cô nạt ông ta. “Cô ấy nói tôi phải gọi ông ấy là ‘Ngài tổng thống’,” Flowers nhớ lại. “Khi tôi gọi ông ấy là ‘Barack’, ông ấy chỉ cười. Tôi đã từng dự đám cưới hai vợ chồng họ, cũng đã từng gặp ông cụ thân sinh của Michelle, ông ấy đối với tôi không hề thay đổi,” Flowers nói, vẫn còn băn khoăn vì lời quở trách. “Tôi thấy gọi thế không tự nhiên.” Việc chuyển từ gọi tên riêng sang gọi chức danh là điều mà nhiều người bạn của các tổng thống tương lai phải làm. Thư ký phụ trách sự kiện xã hội của gia đình Kennedy, Letitia Baldrige – sau này trở thành nhân viên phụ trách nghi thức – quen biết hai vợ chồng họ từ khi họ còn là “Jack và Jackie”, nhưng lập tức sau cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 1960, họ liền trở thành “Ngài Tổng thống và Phu nhân Kennedy”. “Tổng thống và Phu nhân Kennedy có thể từng là bạn bè thời trẻ của tôi, nhưng giờ đây họ được bao bọc trong ánh hào quang của người quyền tước.” Rất ít người giờ đây còn gọi Tổng thống Obama bằng tên riêng của ông.
***
NGÀY NHẬM CHỨC – một sự kiện vĩ đại đối với bất kỳ vị tổng thống mới nào – bắt đầu vài giờ trước khi tiến hành tuyên thệ lúc 12 giờ trưa ở Điện Capitol. Ngay từ sáng sớm, tổng thống đã được cố vấn an ninh quốc
gia của vị tổng thống sắp mãn nhiệm và cố vấn an ninh quốc gia của ông thông báo tường tận về tình hình an ninh trong nước. Sau phần thông báo, một sĩ quan cao cấp của văn phòng quân đội ở Nhà Trắng cho ông biết mật mã khởi động tấn công hạt nhân. Ngay sau khi tổng thống tuyên thệ nhậm chức, một người trợ lý cầm theo “quả bóng” – một chiếc cặp chứa mật mã – sẽ luôn theo sát cạnh ông (Sau khi tuyên thệ, tổng thống sẽ được trao một chiếc thẻ cho phép ông khởi động các cuộc tấn công). Tất cả những việc này sẽ diễn ra trước lễ nhà thờ buổi sáng.
Vị tổng thống mới vừa phải tự điều chỉnh cho phù hợp với gánh nặng của công việc mới, vừa phải tập thích ứng với cuộc sống trong dinh. Sau khi nhậm chức, ngày hôm sau Tổng thống Obama đến Phòng Đông để ra mắt các nhân viên. “Ánh mắt tổng thống lộ rõ vẻ kinh ngạc,” nhân viên cắm hoa Bob Scanlan nhớ lại. “Giống như là ‘Wow’, ông ấy không ngờ số nhân viên giúp việc cho Nhà Trắng lại đông đến thế.” Những nhân viên mà ông Obama chào ngày hôm đó không chỉ chịu trách nhiệm phục vụ cho khu nhà riêng mà còn phụ trách cả Tầng Khánh tiết, và dòng người tham quan Nhà Trắng không dứt.
Các nhân viên ở Cánh Tây, trong đó nhiều người đã quen với lối sống phi thể thức ở chiến dịch tranh cử, đột nhiên bị đẩy vào những vai trò mới nhưng lại không biết nhiều về các công việc này. Với Katie Johnson, thư ký riêng của ông Obama, thì ngày nhậm chức là một ngày “hoàn toàn hỗn loạn”. Khi cô đến Nhà Trắng sáng hôm đó, cô được thông báo là mình chưa được duyệt để bước vào Nhà Trắng. “Tôi phải tự học cách lo liệu mọi thứ,” cô nói (Trợ lý cấp cao của ông Obama là Denis McDonough cuối cùng cũng duyệt cho cô vào). Nhưng các rắc rối của cô chưa dừng lại ở đó. “Bây giờ nhìn lại, tôi thấy khu Cánh Tây rất nhỏ,” cô nói, “nhưng lúc đó, trông nó như một mê cung.” Sau khi đã ổn định công việc trong “Phòng Bầu dục ngoài” (Outer Oval), một văn phòng nhỏ nằm ngay bên ngoài Phòng Bầu
dục, cô dành phần lớn thời gian trong ngày để học một khóa cấp tốc về cách sử dụng hệ thống điện thoại “cực kỳ phức tạp”. Trong mấy tuần đầu làm việc cho chính quyền mới, cô nhớ mình đã không tài nào chuyển được cuộc gọi của một viên chức cấp cao cho tổng thống trên Air Force I. Cô không thể nối máy thành công và cuối cùng đích thân ông Obama phải gọi điện trực tiếp cho người đó từ trên máy bay. “Lúc đó tôi rất hoảng sợ,” cô Johnson nhớ lại.
Với các nhân viên làm việc trong dinh, tất nhiên đây không phải lần đầu họ nhìn thấy cảnh này nên họ dễ dàng giúp cô dẹp tan cơn hoảng loạn. Do các nhân viên ở khu Cánh Tây phải dựa vào sự giúp đỡ của Phòng Quản lý để có thể ổn định công việc, nên Johnson liên tục hỏi các quản lý hết câu này đến câu khác, kể cả chuyện Phòng Hoa nằm ở đâu để cô xuống dặn các nhân viên ở đó đưa thêm táo Gala vào Phòng Bầu dục. “Có chuyện gì thắc mắc, tôi cũng gọi cho Phòng Quản lý,” cô nhớ lại. “Nếu có người muốn uống một loại rượu vang nào đó trong Phòng Bầu dục, tôi sẽ gọi cho Phòng Quản lý và họ sẽ tìm ra thứ rượu ấy.”
Thỉnh thoảng cô cũng cần đến sự giúp đỡ của các nhân viên quản lý và người hầu riêng của tổng thống để tìm các tài liệu nội bộ quan trọng của tổng thống, nhất là khi đó lại là một tài liệu mà các nhân viên khu Cánh Tây cần đến nhưng không ai tìm ra. “Mỗi khi tôi hoảng sợ vì tìm mãi thứ gì đó không ra – tổng thống lúc đó lại đang đi xa nên tôi không thể hỏi ông ấy – và tờ giấy đó lại được nói là có ghi một quyết định quan trọng, và Tổng thống nói là đã đưa nó cho tôi nhưng tôi thề là mình không giữ nó, tôi sẽ nhờ họ kiểm tra lại,” cô nói không kịp thở. “Họ sẽ đi tìm tờ giấy đó và số lần họ tìm được lên đến 90%.”
Reggie Love nhớ lại chuyện các nhân viên quản lý kiên nhẫn thế nào khi giúp anh “lèo lái hậu trường Nhà Trắng”. “Sảnh nào và phòng nào cũng có nickname,” anh nói.
Một vài ngày sau, vợ chồng Obama bắt đầu “đi thăm dần dần từng nơi trong tòa nhà”, Scanlan nhớ lại, thường là sau khi khách tham quan và hầu hết các gia nhân đã ra về. “Đây cũng là một quy trình mà họ phải thực hiện để biết mặt gần một trăm nhân viên làm việc ở đây, bởi họ không thể nhìn thấy tất cả các nhân viên cùng một lúc. Có thể mỗi lần họ chỉ gặp được mỗi một cô hầu phòng hay một nhân viên cắm hoa. Còn trên lầu thì chỉ có mỗi một người đầu bếp lo chuyện nấu nướng. Họ không biết mặt tất cả những người khác đang làm việc trong các phòng ban dưới nhà. Cuối cùng họ cũng gặp được tất cả nhân viên nhưng phải mất một thời gian dài.”
Và cuối cùng thì họ cũng quen với việc được giúp đỡ, hoặc ít ra cũng là học cách sống chung với điều ấy. “Tôi nghĩ các nhân viên Nhà Trắng rất biết cách giúp các gia đình tổng thống thích nghi và cảm thấy bình thường nhất có thể với cả chục người xung quanh, kẻ thì đưa hoa đến, người thì hút bụi, kẻ sửa sang cái nọ cái kia,” bà Michelle Obama nói. “Ta bắt đầu xem họ như người nhà về nhiều mặt, và đó chính là nét đẹp của nơi này.”
***
MỖI MỘT ĐỆ nhất gia đình đều có cách hành xử khác nhau với các nhân viên xung quanh. Gia đình Tổng thống Herbert Hoover ở cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 thường không thích nhìn thấy người giúp việc xung quanh. Mỗi khi nghe thấy ba tiếng chuông của ông, tất cả các hầu phòng, phục vụ và lao công đều phải chạy biến vào các căn phòng nhỏ. Tổng thống Roosevelt và Tổng thống Truman thì thoải mái hơn khi bảo các gia nhân cứ tiếp tục làm việc khi họ bước vào phòng.
Sau này, mối quan hệ giữa các đệ nhất gia đình và nhân viên trở nên thoải mái hơn rất nhiều. Cô hầu phòng Ivaniz Silva cho biết các đệ nhất phu nhân thường thuộc hết tên mọi nhân viên trong vòng một tuần, hay ít ra cũng là tên của khoảng một chục nhân viên làm phòng và nhân viên phục vụ túc trực trên tầng hai và tầng ba.
Có một ngày, Silva kể, cô đang quét dọn thì bà Barbara Bush bước vào ngăn cô lại.
“Ồ, tôi chưa từng thấy cô trước đây,” phu nhân Bush nói. “Nhưng tôi có hình trong sách mà,” cô khăng khăng nói.
“Cô có chắc không?” đệ nhất phu nhân liền đi lấy cuốn sách liệt kê tên các gia nhân Nhà Trắng do người tổng quản lý chuẩn bị. Vài phút sau bà quay trở lại.
“À, tấm hình trông không đẹp lắm nên tôi không nhận ra cô,” bà trêu. Cùng với những đồ đạc mới và lớp sơn mới, mỗi đệ nhất gia đình còn đưa một tinh thần mới vào Nhà Trắng. Việc chuyển từ gia đình Eisenhower sang gia đình Kennedy là cả một sự thay đổi lớn lao về ngoại hình – từ cặp vợ chồng lớn tuổi hiện thân cho mẫu hình ông bà nội ngoại ở thập niên 1950 đến cặp vợ chồng trẻ đẹp với hai con nhỏ – lẫn về lối sống. Các nhân viên phải làm quen với phong cách tiếp khách thoải mái của vợ chồng Kennedy, chẳng hạn như đeo nơ đen thay vì nơ trắng, phục vụ rượu cocktail trước khi ăn tối, và cho phép khách hút thuốc ở mọi nơi. Ở các bữa tiệc tối trang trọng, gia đình Eisenhower thường chiêu đãi khách sáu món và xếp họ ngồi quanh một chiếc bàn tiệc khổng lồ hình chữ E. Nhưng gia đình Kennedy đã nhanh chóng thay chiếc bàn này bằng mười lăm chiếc bàn tròn tám hay mười chỗ, đồng thời giảm số món ăn xuống còn bốn. Vốn quen với cuộc sống giàu sang và có đông đảo người giúp việc vây quanh nên bà Jackie Kennedy rất hồ hởi với việc điều hành tòa dinh thự 132 phòng này. Buổi sáng ngay sau ngày chồng bà nhậm chức, bà đến gặp Tổng Quản lý J.B. West. “Tôi muốn gặp toàn thể các nhân viên trong hôm nay,” bà bảo ông. “Ông có thể đưa tôi đi một vòng Nhà Trắng để gặp họ ở nơi làm việc được không?”
Do không muốn đưa đệ nhất phu nhân đến các phòng ban mà không thông báo trước, West đề nghị gọi từng nhóm ba người một đến gặp bà.
Mỗi nhóm, từ quản lý và nhân viên phục vụ đến nhân viên làm phòng và đầu bếp đều vô cùng lo lắng trước kiểu kiểm tra trang trọng này. Nhưng khi bước ra khỏi thang máy, họ giật mình khi nhìn thấy đệ nhất phu nhân mặc quần tây (một cảnh tượng gây sốc vào thời đó) mang ủng nâu đứng đó với mái tóc rối bù. Trong lúc các nhân viên từng người một tự giới thiệu mình với đệ nhất phu nhân, ông West nhớ lại, Jackie tìm đủ cách để nhớ tên họ. Bà chầm chậm lặp lại từng tên một, và mặc dù không ghi xuống giấy nhưng bà vẫn nhớ tất cả các tên. Lucinda Morman, một trong những cô hầu phòng gặp bà ngày hôm ấy, là một thợ may rất khéo, đệ nhất phu nhân sau đó đã nhờ cô may cho bà những chiếc váy dạ hội độc nhất vô nhị của nhà thiết kế Oleg Cassini.
Jackie Kennedy là người thích sự hoàn hảo và can thiệp rất sâu vào hoạt động hằng ngày của Nhà Trắng. Mỗi tối bà đều tự ghi ra cho mình từng hạng mục công việc để kiểm tra, việc nào làm xong sẽ được bà xóa đi. Ngày nào bà cũng viết cho ông West vài dòng trên tập giấy nhỏ màu vàng mà đi đâu bà cũng cầm theo.
“Bà ấy lúc nào cũng có cả một danh sách công việc cho tôi,” West hồi tưởng. “Ai phụ trách việc gì, bà ấy cũng đều nắm tên và bên dưới từng cái tên ấy, bà ấy ghi chú tất cả những gì cần bàn bạc với họ.”
Phu nhân Kennedy để ý thấy một số gia nhân rất bất an khi làm việc cạnh gia đình tổng thống. Bà viết về các nhân viên làm phòng như sau: “Họ sợ làm việc trong Nhà Trắng và cạnh gia đình tổng thống đến mức cứng đờ cả người và trở nên hoảng loạn. Ngay cả Lucinda, mặc dù đã biết tôi rất rõ nhưng cô ấy vẫn cứ xin lỗi tới xin lỗi lui đến 10 phút nếu như đánh rơi một cái kẹp.” Để giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi, bà gợi ý họ lên tầng hai và tầng ba làm việc thường xuyên hơn để quen với việc ở cạnh gia đình bà. “Tôi không thể chỉ bảo họ bất cứ điều gì – cũng không có thời gian – khi họ hoảng sợ đến vậy.”
***
ÔNG GÁC CỬA Preston Bruce đã quen với lối sinh hoạt có thể đoán trước của gia đình Eisenhower, như đi ngủ lúc 10 giờ chẳng hạn. Vì thế lúc vợ chồng Kennedy đi dự tiệc khiêu vũ nhậm chức về lúc 2 giờ sáng, ông chắc mẩm họ rất mệt mỏi. Thế nhưng ngược lại, họ còn đưa thêm bạn bè về Nhà Trắng và tiếp tục tiệc tùng thâu đêm trên tầng hai, không biết rằng các gia nhân phải ở lại chờ cho đến khi vợ chồng tổng thống lên giường an toàn mới có thể ra về. Mãi đến 3 giờ 15 phút sáng, Bruce mới tiễn vị khách cuối cùng ra khỏi cửa và tắt hết đèn ở Phòng khách Tây (West Sitting Hall). Nhưng khi ông đến phòng tổng thống thì không thấy ai ở đó.
“Phải ông đó không, Bruce? Tôi đang ở trong Phòng ngủ Lincoln,” vị tổng thống gọi với ra ngoài. Bruce không thể tin được. Các gia nhân đều nghĩ căn phòng này bị nguyền rủa. Kennedy gọi một lon Coca và nhờ ông Bruce mở cửa sổ để không khí lạnh tràn vào. Jackie gọi với ra từ Phòng Nữ hoàng phía bên kia hành lang để nhờ người gác cổng sốt sắng mang cho bà cốc rượu khai vị. Mãi đến sau 4 giờ sáng, Bruce mới được về nhà.
Mặc dù phải thức suốt đêm đầu tiên nhưng Bruce bắt đầu thấy yêu mến gia đình Kennedy, và vì ông làm việc ban đêm nên nhìn thấy được những cảnh riêng tư của gia đình này. Ông cười phá lên khi chứng kiến cảnh cặp vợ chồng trẻ đẹp chạy qua chạy lại phòng nhau trong đêm khuya lúc ông mang đồ uống lên cho họ sau bữa ăn tối. “Đừng lo, Bruce, chúng tôi biết ông cũng đã có gia đình rồi,” Jackie Kennedy nói, mắt long lanh.
Suốt từ năm 1953 đến năm 1977, ngày nào Bruce cũng đến Nhà Trắng từ lúc 3 giờ trưa, đón những nhân vật quyền quý ở cửa, trấn an những người khách lo lắng trước khi gặp tổng thống, hộ tống tổng thống từ Phòng Bầu dục về khu nhà ở mỗi buổi tối và chờ cho đến khi tổng thống lên giường mới về nhà mình, ông là một nhân viên xuất sắc của Nhà Trắng. Các nhân viên khác không tiếc lời khen ngợi vẻ lịch lãm của ông
cùng khả năng giữ được sự điềm tĩnh dưới sức ép khổng lồ của công việc. Nhân viên phục vụ Lynwood Westray gọi ông là “nhà ngoại giao”. “Đó là lý do ông được mọi người yêu mến. Có người có phong thái đó, có người không, ông có điều đó.”
Một ngày sau ngày Kennedy nhậm chức, Bruce hộ tống tổng thống và đệ nhất phu nhân lên lầu sau bữa ăn tối. Ông thở phào nhẹ nhõm khi nghĩ hôm nay mình có thể về nhà khá sớm. Nhưng “Bang! Cửa thang máy ở tiền sảnh phía bên kia Phòng Quản lý đột nhiên mở toang. Tổng thống nhào ra và chạy băng qua sảnh với các nhân viên mật vụ gấp rút đuổi theo sau lưng,” Bruce viết. Kennedy muốn ra ngoài dạo tối. Ông ấy ra ngoài cổng Tây Bắc và bước vào làn không khí lạnh giá, trên người không một chiếc áo khoác, “chỉ mới có 24 giờ ở Nhà Trắng mà ông ấy đã muốn trốn khỏi đó.”
Nhân viên mật vụ phải lôi Kennedy vào và bảo ông phải giới hạn việc đi dạo trong phạm vi 18 mẫu Anh bao quanh Nhà Trắng. Kể từ hôm đó, Bruce luôn chuẩn bị sẵn hai chiếc áo khoác, một cái để tổng thống mặc nếu muốn ra ngoài đi dạo bằng lối tầng một, còn cái kia để mặc khi chỉ loanh quanh ở Tầng Trệt. Lần nào ông đưa áo khoác và ủng đi mưa cho tổng thống cũng đều bị vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ phản đối. “Ông ấy như một cậu học trò nhỏ thích chạy vào làn không khí buốt giá mà không có áo ấm hộ thân.” ***
KHÔNG PHẢI GIA đình tổng thống nào cũng thích thú với việc đặt chân vào Nhà Trắng như gia đình Kennedy. Ngày thứ Hai sau cuộc bầu cử năm 1992, gia đình Clinton điện thoại cho nhà nội thất Kaki Hockersmith để nhờ cô thực hiện một nhiệm vụ khổng lồ: trang trí lại Nhà Trắng. Mặc dù đã từng giúp họ trang trí dinh thống đốc ở Arkansas nhưng bà không hề nghĩ sẽ có cuộc gọi này. Bà nhớ mình đã “rất, rất ngạc nhiên” nhưng cũng chấp nhận lời mời. Từ lúc diễn ra cuộc bầu cử đến lúc tổng thống nhậm
chức, bà đến dinh thống đốc vài ba lần để đưa vợ chồng Clinton xem các mẫu vải khác nhau cùng những đồ đạc mà bà chọn cho dinh tổng thống. “Lần đầu tôi đến, Tổng thống Clinton đang họp với đội ngũ chuyển giao quyền lực của ông nhưng bà Hillary gọi ông ra ngoài,” bà nói. Hockersmith bày các mẫu vải và mẫu thảm ra mặt bàn bếp cho ông xem (Clinton nằm trong số rất ít tổng thống quan tâm đến việc trang trí). Các tuần kế tiếp, bà đến Nhà Trắng vài lần để làm việc với các nhân viên quản lý mỹ thuật. Họ đưa bà đến một nhà kho khổng lồ có điều hòa nhiệt độ quanh năm ở Riverdale, Maryland, cách Washington khoảng 18 km, nơi cất giữ những đồ nội thất từng được trưng bày trong Nhà Trắng. Các gia đình tổng thống sắp dọn đến có thể chọn những món đồ họ thích trong kho để đưa trở về dinh.
Đồ nội thất ở Riverdale được cẩn thận phân thành từng loại một. Cạnh các dãy bàn làm việc và bàn viết là các tủ com–mốt cùng những tấm thảm từng nằm trong Phòng Bầu dục dưới nhiều chính quyền khác nhau. Mỗi một món đồ nội thất của từng thời đại khác nhau đều được mô tả và liệt kê trong danh bạ với nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Các quản lý mỹ thuật biết rõ vị trí của từng cái chân nến và từng chiếc bàn trà trong cái không gian rộng lớn đó. Ở đó còn có cả một phòng bảo tồn, bên trong trang bị máy X– quang để chụp hình từng món đồ nội thất đưa vào sách hướng dẫn. Nhà kho này khác xa với nhà kho cũ nát ở Fort Washington dọc bờ sông Potomac ở Maryland, nơi bà Jackie Kennedy đã rất bất ngờ và sốc khi nhìn thấy những món đồ cổ quý giá nằm lây lất trên sàn đất.
Bà Hockersmith luôn mang theo một sơ đồ chi tiết của các tầng lầu để nắm rõ vị trí muốn đặt những món nội thất có sẵn trong dinh và những món lấy từ nhà kho về. “Chúng tôi có một kế hoạch rất tốn kém,” Hockersmith nói với giọng mệt mỏi khi nhớ lại chuyện này.
Gia đình Clinton bắt đầu ngày nhậm chức bằng việc đi lễ nhà thờ và sau đó dừng chân một lúc ở Blair House. Khi họ đến Nhà Trắng thì đã 10 giờ 27 phút sáng, trễ 27 phút. Gia đình Bush đã đứng chờ sẵn ở Cửa Bắc để đón họ.
“Chào mừng cháu đến nhà mới,” Tổng thống George H.W. Bush nói với cô bé Chelsea 12 tuổi đang vuốt ve chú chó Millie giống springer spaniel của ông. Vị tổng thống sắp mãn nhiệm chúc người kế nhiệm may mắn và theo truyền thống, ông để lại trong ngăn kéo bàn làm việc ở Phòng Bầu dục một một bức thư ngắn ghi các lời khuyên dành cho người kế nhiệm (Khi Clinton rời nhiệm sở 8 năm sau, ông cũng để lại cho Tổng thống George W. Bush một bức thư ngắn kèm theo bức thư mà ông Bush cha để lại cho ông), chi tiết của những bức thư này không được công bố.
Vào ngày trọng đại đó, bà Hillary Clinton nói với Hockersmith rằng bà không muốn bà ấy vắng mặt ở buổi lễ nhậm chức, tổ chức tại mặt tiền phía Tây của tòa nhà Quốc hội Mỹ, tuy nhiên bà cần bà ấy quay lại Nhà Trắng ngay sau khi buổi lễ kết thúc.
“Chúng tôi phải tìm cách đưa cô ra khỏi cái nơi lộn xộn đó để nhanh chóng quay về Nhà Trắng,” bà Hillary nói.
Sau khi buổi lễ kéo dài cả giờ đồng hồ kết thúc, Hillary nói Hockersmith đi tìm một viên đại tá đang ngồi đâu đó trên một chiếc xe van để ông ta giúp bà nhanh chóng trở về Nhà Trắng trông coi việc trang trí.
“Tôi nghĩ không biết họ làm cách nào để lo chuyện đó,” Hockersmith nói.
Giữa đám đông đang reo hò ở Điện Capitol ngày 20 tháng 1 năm 1993, Hockersmith ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc xe van đang chờ bà. Mỗi khi họ đến rào chắn an ninh nào, người cảnh sát nơi ấy lại giở thanh chắn cho họ đi qua. “Chắc họ nghĩ chúng tôi là những nhân vật nổi tiếng.”
“Chúng tôi chạy đến Bãi cỏ phía nam và trên đường đi nhìn thấy hai cái xe tải lớn, bên hông ghi dòng chữ “Little Rock, Arkansas,” bà nói. “Một chuyến đi khá là hào hứng.”
Vợ chồng nhà Clinton bỏ ra khoảng 400.000 đô để trang trí lại Nhà Trắng, toàn bộ số tiền này đều do các cá nhân tài trợ. Nhưng nỗ lực này không được một số người bên trong và bên ngoài Nhà Trắng tán thành. Ngay cả những nhân viên bình thường vẫn rất thận trọng kín đáo cũng gọi các nỗ lực của bà Hockersmith là thiếu tổ chức và cho rằng kỳ vọng của bà quá cao.
Tổ trưởng tổ điện Bill Cliber, người từng tham gia dọn nhà cho chín lần chuyển tiếp, nói rằng gia đình Clinton là gia đình đem lại nhiều khó khăn nhất khi chuyển đến Nhà Trắng. Không lâu trước lễ nhậm chức, bà Hockersmith nói với ông rằng ông và các thợ điện khác phải gắn bảy chùm đèn trần mới, và ngay lập tức.
“Sao ta phải làm việc đó ngay bây giờ? Cứ để họ chuyển vào đây trước đã, rồi chúng tôi sẽ làm sau,” Cliber nói.
“Không, họ muốn tất cả đều phải được thay trước khi họ bước qua ngưỡng cửa này,” bà trả lời.
Cliber không còn cách nào khác. Ông đến Phòng Hiệp ước ở tầng hai, nơi Tổng thống Clinton sau này sử dụng làm phòng làm việc riêng, để bắt đầu thay một trong những chùm đèn trần.
Hầu như ngay khi gia đình Clinton vừa từ buổi lễ diễu hành mừng tổng thống nhậm chức trở về, bà Hillary đã xuất hiện ở Phòng Hiệp ước “Ông còn ở đây bao nhiêu lâu nữa?” bà hỏi Cliber.
“Nói thật, tôi nghĩ tôi cần thêm bốn tiếng nữa,” ông vừa nói với bà vừa loay hoay với chùm đèn pha lê cầu kỳ, lúc này đã được tháo rời từng mảnh trên sàn.
“Được, để chúng tôi xem sao,” bà nói và chạy ào ra ngoài.
Một lúc sau, Hockersmith thò đầu vào và bảo Cliber phải ra khỏi phòng trong vòng 20 phút nữa. Ông nói ông cần thêm chút thời gian để nhặt hàng trăm mảnh pha lê quý giá vương vãi trên sàn nhà. Bà trả lời: “Ông đừng lo chuyện đó. Ta có thể thay chúng bằng những thứ khác.”
“Không được đâu, thưa bà. Đây là những mảnh pha lê không thay thế được,” ông nói với giọng phẫn nộ.
Cliber bước ra khỏi phòng theo lời Hockersmith, để lại căn phòng Hiệp ước đầy các mảnh pha lê vương vãi. Nhưng ông không muốn chịu thua đệ nhất phu nhân hay nhà trang trí nội thất của bà. Ông nhờ Tổng Quản lý Mỹ thuật Rex Scouten, người được các nhân viên rất kính trọng (ông từng làm Quản lý rồi Tổng Quản lý từ năm 1969 đến 1986 trước khi chuyển sang làm Quản lý mỹ thuật), khóa chặt cửa phòng lại để bảo vệ chùm đèn cho đến khi ông có thể quay lại với công việc. Người thợ điện sau đó đã không được phép quay trở lại căn phòng này trong ba tuần lễ.
Gary Walters là người luôn thận trọng để không chỉ trích bất kỳ một chính quyền nào. Nhưng khi nghe tôi hỏi về chuyện chuyển nhà của gia đình Clinton, ông ngập ngừng một lúc lâu rồi mới nói tiếp: “Thời điểm khó khăn nhất là thời điểm chuyển từ một chính quyền này sang một chính quyền khác không cùng đảng phái.” Theo ông thì vợ chồng Clinton “không có chút khái niệm nào về Nhà Trắng”. Ngày nào ông cũng phải lên khu nhà ở nhiều lần để trả lời các thắc mắc của họ.
Quản lý Nancy Mitchell đang trực lúc sáng sớm thì vợ chồng tổng thống quay về nhà từ các buổi dạ vũ nhậm chức. “Tổng thống Clinton muốn gọi điện thoại nên tôi đi cùng ông ấy lên lầu. Bất chợt tôi nghe ông ấy gọi to tên tôi ‘Nancy!’ Tôi đáp ‘Vâng, thưa ông’, ông ấy hỏi: ‘Tôi phải làm sao để gọi được điện thoại?’” Chả là khi tổng thống nhấc điện thoại lên, âm thanh ông nghe được không phải là tín hiệu điện thoại mà là tiếng chào của nhân viên tổng đài Nhà Trắng, ông thấy sốc vì không thể tự mình
gọi điện ra ngoài. Không bao lâu sau, toàn bộ hệ thống điện thoại đều được thay mới.
Nhưng chuyện này vẫn không ngăn được gia đình Clinton gọi bạn bè họ (còn gọi là Friends of Bill’s hay FOBs) ở Little Rock đến để giúp họ dỡ hành lý, khiến mọi chuyện trở nên phức tạp hơn.
“Chúng tôi đã làm việc này suốt 200 năm nay rồi,” Quản lý Chris Emery nói. “Thế mà họ còn nhờ đủ loại người đến giúp. Tất nhiên là chúng tôi bực bội rồi, bừa bộn không thể tả.” Emery, vốn quan hệ không tốt với gia đình Clinton và cuối cùng bị sa thải ngay dưới chính quyền này, nói rằng nhiều FOBs có tiền án tiền sự. Theo ông thì Cơ quan Mật vụ đã nhiều lần gọi điện cho Phòng Quản lý để thông báo việc một số khách mời từ Arkansas không được thông qua khâu kiểm tra lý lịch nên “không thể vào trong”. Emery phải thuyết phục các nhân viên mật vụ là “Tổng thống đang đợi họ. Mấy anh cho họ vào đi.” Cuối cùng họ phải cử các đặc vụ lên tất cả các tầng lầu để canh chừng: “Nếu ta đưa một người có ‘tì vết’ [trong lý lịch] vào trong thì ta phải theo sát họ.” Chẳng bao lâu sau, Emery buồn rầu chứng kiến một số người có “tì vết” ở trong dinh tổng thống.
Hockersmith tự tay trang trí lại một số thứ, bao gồm cả việc sắp đặt hình ảnh cá nhân của gia đình Clinton cùng mấy món đồ trang trí lặt vặt mà họ đem từ Little Rock về, trong đó có bộ sưu tập ếch rất đặc sắc. Hình như khi Hillary và Bill Clinton hẹn hò nhau, ông đã mê hoặc bà bằng một câu chuyện thời thơ ấu của ông. Điểm nút của câu chuyện này là: “Ta không thể biết con ếch nhảy xa đến đâu cho đến khi cho nó một cú hích.” Câu này có thể hiểu là: Ta không bao giờ biết mình có thể đi xa tới đâu cho đến khi thử làm điều đó – một giai thoại rất thích hợp với cặp vợ chồng trẻ đầy tham vọng này. Khi chồng bà lần đầu tiên tranh cử tổng thống, Hillary đã tặng ông một bức tranh vẽ con ếch bị đấm và đang nhảy vọt lên, bên dưới là câu nói bất hủ của ông. Năm 1993, Bill tặng sinh nhật vợ một con ếch
đội vương miện bằng thủy tinh cùng dòng chữ đính kèm: “Con ếch này hẳn đã là anh nếu như em không xuất hiện.”
Với Hockersmith, lúc đầu khi chưa biết ý nghĩa tình cảm của những con ếch, những con vật này trông giống như một sự kết hợp lộn xộn của những món quà lựa chọn sai lầm. “Hẳn ai đó khi đến nhà sẽ nghĩ rằng ‘Ồ, chắc họ thích ếch lắm’, và thế là họ sẽ được tặng một con ếch vào ngày sinh nhật.” Bà đã cố sắp xếp để mấy con ếch đó trông đẹp mắt nhất.
Khi gia đình tổng thống trở về Nhà Trắng sau lễ diễu hành mừng ngày nhậm chức, Hockersmith nhớ lại, “cũng là lúc mọi người biến mất”. Những nhân viên làm việc cả ngày để khiến tòa nhà trở nên hoàn hảo lúc này đã quay trở về nơi làm việc của họ để gia đình tổng thống được hưởng một chút riêng tư mà họ rất cần.
Hockersmith sau đó trở thành nhân viên cố định của Nhà Trắng. Trong suốt 8 năm tại vị của ông Bill Clinton, thỉnh thoảng bà lại đến sống ở Phòng Nữ hoàng để tiếp tục công việc trang trí lại Nhà Trắng. Căn phòng của bà ở trên tầng hai chỉ cách khu sinh sống của gia đình tổng thống vài cánh cửa nhỏ ngăn cách đầu tây với đầu đông của tòa nhà. Bà cố làm căn nhà sáng sủa hơn khi chủ yếu tập trung vào việc biến phòng để đồ ăn [*] buồn tẻ của các nhân viên phục vụ thành một góc ăn nhỏ mà Chelsea có thể ngồi làm bài tập. Nhưng việc trang trí lại Nhà Trắng của Hockersmith vấp phải nhiều ý kiến khen chê lẫn lộn, đặc biệt là những món đồ nội thất cầu kỳ theo phong cách Victoria mà bà đưa vào Phòng khách Lincoln đã bị chỉ trích rất nặng nề.
***
TRONG KÝ ỨC của những người nhìn lại quá khứ, không có sự chuyển tiếp nào gây sốc hơn biến cố dữ dội và bất ngờ giúp đưa Tổng thống Lyndon B. Johnson cùng gia đình ông bước vào Nhà Trắng. Các nhân viên ở tư dinh vừa phải giúp một đệ nhất phu nhân đau khổ tột cùng và hai con
dọn ra ngoài, mặc dù bản thân họ cũng rất buồn, vừa phải giúp gia đình Johnson dọn vào. Và tất cả những điều này phải được thực hiện sao để không làm phu nhân Kennedy cảm thấy như mình phải gấp gáp dọn đi, hay làm cho gia đình Jonhson cảm thấy họ bị lơ là. “Tôi phối hợp làm việc với các thư ký xã hội khác và họ cố tỏ ra phấn khích khi đến đó,” thư ký xã hội của phu nhân Bird, Bess Abell, người có ngoại hình rất giống nữ diễn viên Katherine Hepburn, nói một cách trìu mến về gia đình Johnson. “Tôi vào Nhà Trắng trong một hoàn cảnh rất khác. Thay cho sự hứng khởi rộn ràng của ngày nhậm chức, chúng tôi bước vào một tòa nhà mà tất cả các chùm đèn và các cây cột đều trùm kín khăn đen.”
Đệ nhất phu nhân mới, Lady Bird Johnson, thường xuyên than phiền về tình cảnh khó khăn mà gia đình bà đột nhiên bị đẩy vào. “Mọi người mắt nhìn người sống nhưng miệng thì cầu nguyện cho người chết,” bà nói.
Để tỏ lòng tôn trọng người vợ góa của cố tổng thống, ông Lyndon B. Johnson, người bị các nhân viên của Kennedy căm ghét, chỉ chuyển vào Nhà Trắng ngày 7 tháng 12 năm 1963. Ông bắt đầu đến Phòng Bầu dục làm việc ngày 26 tháng 11. Trước ngày đó, ông làm việc ở Phòng 274 của Tòa nhà Văn phòng Hành chính Cũ (Old Executive Office Building) ngay sát cạnh Nhà Trắng. Một số cố vấn của Tổng thống Johnson biện luận rằng dọn vào Nhà Trắng ngày 7 tháng 12, tức ngày kỷ niệm 22 năm Trân châu Cảng bị tấn công, là điều bất kính. Một số khác chỉ đơn giản muốn cho phu nhân Kennedy thêm chút thời gian trước khi rời Nhà Trắng. Mọi động thái của vợ chồng Johnson hẳn đã gây không ít đau đớn bởi không việc gì họ làm có thể khiến các trợ lý đau khổ của Tổng thống Kennedy yêu thích họ.
Luci Baines Johnson, lúc đó mới 16 tuổi, nhớ có lần nghe được “màn tranh cãi duy nhất” của bố mẹ cô, điều mà từ trước đến giờ cô nhớ chưa từng xảy ra với họ. “Chúng ta phải chuyển vào đó ngày 7 tháng 12, Bird,”
Johnson nói với vợ. “Anh Lyndon, ngày nào cũng được trừ ngày này. Bất cứ ngày nào cũng được trừ ngày này,” mẹ cô nài nỉ nhưng không tác dụng. Khi gia đình Johnson cuối cùng dọn vào Nhà Trắng, cô con gái Luci của họ chở theo hai con chó beagle, một đực một cái, trên chiếc xe hơi mui trần của cô. Còn phu nhân Bird cùng với Bess và Liz Carpenter, nữ thư ký báo chí của bà, thì chở những món đồ dễ vỡ cùng chân dung của phát ngôn viên Hạ viện Hoa Kỳ Sam Rayburn, một người bạn đến từ Texas và cũng là cố vấn dày dạn kinh nghiệm của Tổng thống Johnson.
Lúc đầu gia đình Johnson vẫn còn ngại ngùng với Nhà Trắng, giống như thể họ đang xâm phạm một nơi thiêng liêng. Nhưng các nhân viên trong dinh, không giống như các trợ lý chính trị của Kennedy, không bao giờ làm họ cảm thấy như họ đang xía mũi vào chuyện người khác. “Tôi không bao giờ cảm thấy như ‘sao cô có thể có mặt ở đây?’” Lucia nói với tôi, mà là ‘Ồ, hẳn cô đã thấy rất khó khăn khi vào đây trong hoàn cảnh này. Chúng tôi có thể giúp gì được cho cô? Chúng tôi có thể chỉ dẫn gì được cho cô?’”
Không phải ai cũng chào đón gia đình Johnson. Sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát, Traphes Bryant, người thợ điện bắt đầu chăm nom cho đàn chó của tổng thống kể từ thời Kennedy (có lúc họ có đến 9 con chó) và tiếp tục công việc này cho đến thời kỳ Nixon, luôn cảnh giác với Tổng thống Johnson. “Tôi vừa mất đi một con chó thì nay lại có thêm một vị tổng thống không hề quen biết. Không những tôi không biết ông ta mà tôi cũng không nghĩ mình muốn biết ông ta. Ông ta không trẻ trung hay tử tế hoặc nhanh trí như Kennedy, đã thế tôi còn nghe ông ta la lối người giúp việc khi công việc không hoàn thành nhanh như mong muốn.” Bryant mô tả sự thay đổi bất ngờ ở Nhà Trắng để đón vị tổng thống mới như sau: “Mấy con terrier ra đi để mấy con beagle bước vào, màu hồng của bà Jackie ra đi để màu vàng của bà Lady Bird bước vào, món súp trai ra đi để món ớt bước vào,” ông chỉ hy vọng một thứ không thay đổi, đó là Tổng thống
Johnson sẽ thích cách ông huấn luyện mấy chú chó chào mừng chủ nhân của chúng ở Bãi cỏ phía nam khi họ quay về trên chiếc trực thăng Marine One. Tổng thống Kennedy hoàn toàn thích việc này. Ông luôn toe toét chào đón mấy con chó đang chờ ông “như thể chúng là những vị chủ nhà cao quý”.
Sau sự ra đi đột ngột của gia đình Kennedy, Bryant đã viết những dòng thương cảm như sau: “Mấy đứa bé đang chập chững ra đi để mấy cô nàng tuổi teen bước vào” để nói về những đứa trẻ thay thế Caroline và John– John, tức Luci và Lynda, các cô con gái nhà Johnson. Tuy nhiên, cuối cùng, Bryant cũng dần dần yêu thương gia đình Johnson.
Trong hồi ký của mình, phu nhân Lady Bird Johnson mô tả việc thay thế Jackie là điều không thể và thán phục “tinh thần thép và sự bền bỉ” chảy trong huyết mạch của người tiền nhiệm của bà. Bà nói bà cảm thấy như mình “bất chợt phải vào một vai mà tôi chưa bao giờ tập dượt”.
Trong lúc vị tổng thống mới đang làm việc ở nơi ở tạm của ông thì các nhân viên Nhà Trắng lặng lẽ chuẩn bị cho sự chuyển tiếp, chỉ bốn ngày sau khi Kennedy bị ám sát, Tổng Quản lý J. B. West đến thăm bà Lady Bird tại dinh Washington của gia đình Johnson, được biết dưới tên gọi the Elms, để bàn xem gia đình Johnson sẽ đem những đồ đạc nào vào Nhà Trắng.
Chiều hôm đó, Phu nhân Johnson đến dùng trà với người vợ góa của ông Kennedy tại Nhà Trắng. Vị đệ nhất phu nhân sắp ra đi ân cần đưa người kế nhiệm của mình lên tham quan tầng hai để bà xem những món đồ nội thất của mình có hợp với phòng ngủ và căn phòng khách nhỏ mà Phu nhân Kennedy đã sống ở đó gần ba năm không. “Phu nhân đừng sợ ngôi nhà này. Quãng thời gian hạnh phúc nhất trong hôn nhân của tôi đã diễn ra ở đây, bà sẽ hạnh phúc khi sống ở đây,” Jackie nói. Lady Bird nói rằng Jackie đã liên tục nói câu đó trong lúc đưa bà đi tham quan ngôi nhà, đến mức bà cảm thấy như “bà ấy đang cố trấn an tôi”.
Jackie nói với bà rằng ông J. B. West và Quản lý Mỹ thuật Jim Ketchum là những người đáng tin cậy nhất trong số các nhân viên Nhà Trắng. Ketchum, từng giữ cương vị Tổng Quản lý Mỹ thuật của Nhà Trắng từ năm 1963 đến năm 1970, trìu mến nhớ lại lần đầu tiên gặp Phu nhân Lady Bird sau khi gia đình bà dọn vào Nhà Trắng. Là một trong số bốn nhân viên quản lý mỹ thuật, Ketchum chịu trách nhiệm lên danh bạ và bảo vệ từng món đồ nội thất và từng tác phẩm nghệ thuật trong bộ sưu tập riêng của Nhà Trắng, từ những kiệt tác của John Singer Sargent đến món đồ sứ thời George Washington.
Bà Lady Bird yêu cầu ông Ketchum sắp xếp thời gian để bà “vừa đi xem vừa học hỏi” sau khi chuyển vào Nhà Trắng, sao cho bà có thể cùng ông đến từng phòng để biết lịch sử của căn phòng đó và những đồ đạc bên trong. Bà nói bà cần có kiến thức về tòa nhà để có thể đưa khách khứa và bạn bè đi tham quan, một trong những nhiệm vụ của một đệ nhất phu nhân. Bà rất xem trọng vai trò mới của mình – một điều chẳng lạ khi bà bị gọi là người thế chỗ Jackie Kennedy trong chính quyền trước. Nếu có chuyện gì Jackie không cảm thấy muốn làm thì Lady Bird sẽ bước vào và thực hiện thật nghiêm túc.
Lần gặp mặt đầu tiên của Ketchum với tân đệ nhất phu nhân chẳng có gì là trang trọng. Khi bà Lady Bird điện xuống Phòng Quản lý Mỹ thuật gọi ông lên lầu, ông nhớ mình “đã nhìn thấy bà ấy trong căn phòng nhỏ chứa đồ nằm giữa phòng ngủ và phòng khách trong tư thế quỳ, hai tay chống xuống đất, trước mặt là một chiếc thùng các–tông để mở,” ông nói. Chung quanh bà là khoảng 20 con chim sứ, tất cả đều được gói ghém cẩn thận và đem từ the Elms đến. Ông ngồi xuống sàn và bắt đầu giúp bà tháo giấy gói cho từng con chim.
“Điều mà không ai trong hai chúng tôi nhận ra là đèn phòng được gắn trên khung cửa ngoài. Ngay khi chúng tôi bắt đầu tháo giấy gói và xếp các
con chim lên sàn nhà thì Booner Arrington [người trưởng kíp mộc] và một người trong xưởng mộc của anh ta khiêng một chiếc ghế sofa đi ngang qua chiếc hành lang chật hẹp và tất nhiên là họ phải đóng cửa lại. Thế là chúng tôi phải lọ mọ trong bóng tối để cố bảo vệ mấy con chim và xem có cách nào đứng lên mà không giẫm lên chúng,” ông phá lên cười. Cuối cùng thì họ cũng tìm ra công tắc đèn mà không làm vỡ con chim nào.
Không bao lâu sau ngày dọn vào Nhà Trắng, tổng thống và đệ nhất phu nhân được mời đến ăn tối tại nhà Cố vấn Walter Jenkins. Sự vắng mặt của họ cho phép “các nhân viên Nhà Trắng đang phải tiếp tục công việc với tâm trạng nặng trĩu có một khoảng thời gian nghỉ ngơi,” Phu nhân Lady Bird nói.
Beth, con gái của gia đình Jenkins, là bạn thân của Luci. Tối hôm đó cô đến Nhà Trắng chơi và qua đêm tại đó. “Tất cả những gì tôi cảm nhận được là những thách thức và gánh nặng của sự chuyển tiếp này,” Luci nói với tôi.
Trong phòng cô ở Nhà Trắng có một lò sưởi và cô đốt lửa lên. “Tôi chưa bao giờ có thứ gì tuyệt vời hơn chiếc lò sưởi này trong phòng ngủ của mình,” cô nói. Nhưng vì hai cô bé đều không biết cách nhóm lửa lò sưởi nên chẳng bao lâu sau căn phòng đã tràn ngập khói. Luci cuống cuồng lấy một cốc nước và sau đó là cái thùng rác để dập tắt lửa. Cuối cùng, cô phải trèo lên trên bàn để mở cửa sổ ra cho khói bay ra ngoài – và hoảng hốt khi thấy một cảnh sát ở Nhà Trắng đang nhìn cô trong bộ đồ ngủ. Khi các gia nhân phát hiện chuyện gì xảy ra, họ vội vàng chạy vào giúp đỡ.
“Mẹ tôi muốn tôi phải phụ mọi người cọ rửa các vết khói bám trên tường phòng tôi ngay trong tuần lễ đầu tiên đó,” cô nói, giọng vẫn còn ngượng ngùng sau mấy chục năm. “Đây chính xác là cuộc thử lửa đầu tiên.” Cô cọ rửa các vệt khói trên tường cạnh các cô giúp việc nhưng không ai khiến cô cảm thấy mình có lỗi.
"""