"
Nhà Trần Thắng Giặc Nguyên Mông - Lịch Sử Việt Nam Bằng Tranh 5 PDF EPUB
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Nhà Trần Thắng Giặc Nguyên Mông - Lịch Sử Việt Nam Bằng Tranh 5 PDF EPUB
Ebooks
Nhóm Zalo
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện Họa sĩ thể hiện: Lê Phi Hùng
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhà Trần thắng giặc Nguyên Mông / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015.
316 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.5).
1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Trần, 1225-1400 -- Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam -- History -- Trần dynasty, 1225-1400 -- Pictorical works.
959.7024 -- dc 22
N577
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa, y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
3
Vào cuối triều Lý, Đại Việt bước vào suy thoái. Trong nước thì loạn lạc bởi vua Lý Huệ Tông thường xuyên đau yếu, hơn nữa tính tình lại nhu nhược nên không coi trọng việc triều chính. Bên ngoài, các nước phía nam là Chiêm Thành, Chân Lạp thường đem quân sang quấy nhiễu. Còn ở phương bắc, đế quốc Mông Cổ ngày một lớn mạnh và bành trướng từ khắp Âu sang Á, trở thành mối đe dọa cho các nước ở phương Nam trong đó có nước Tống (Trung Quốc), Đại Lý (Vân Nam, nay thuộc Trung Quốc) và Đại Việt.
5
Lúc này, họ Trần đã nắm giữ mọi chức vụ trọng yếu trong triều. Đến năm 1224, vua Lý Huệ Tông đi tu, nhường ngôi lại cho người con gái mới bảy tuổi là Lý Phật Kim tức vua Lý Chiêu Hoàng, vua cuối cùng của nhà Lý. Ngay sau đó, quan Điện tiền Chỉ huy sứ là Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lấy cháu mình là Trần Cảnh - lúc đó cũng mới bảy tuổi. Năm sau (1225), Thủ Độ dàn cảnh để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho Trần Cảnh. Như vậy, triều Lý chấm dứt sau 9 đời vua, kéo dài 126 năm (1009-1225).
6
Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Còn Trần Thủ Độ được phong làm Thái sư. Vua Trần Thái Tông (1218-1277) rất khôi ngô, tuấn tú, mũi cao, nét uy nghi, dáng đi đường bệ. Tư chất vua lại thông minh còn tính tình thì gan dạ. Dù là vua đầu tiên của triều đại mới nhưng Trần Cảnh không có miếu hiệu là Thái Tổ mà chỉ là Thái Tông vì cha của Trần Cảnh là Trần Thừa vẫn còn sống và đang giữ chức Phụ quốc Thái úy trong triều.
7
Khi Trần Cảnh lên ngôi, Trần Thừa được tôn làm thượng hoàng. Do vua còn nhỏ tuổi, chưa tự điều hành đất nước, Thượng hoàng Trần Thừa có quyền quyết định đối với những việc lớn của đất nước. Ông có cung riêng, được gọi là cung Phụng Thiên. Trong thời gian Trần Thừa còn sống, ông lo giúp đỡ vua nhỏ trong việc triều chính, còn Trần Thủ Độ lo việc dẹp các cuộc nổi loạn đang xảy ra ở nhiều nơi trong nước.
8
Trần Thừa nhiếp chính được 9 năm thì mất (1234), chỉ còn một mình Trần Thủ Độ quyết đoán mọi việc cho đến khi vua trưởng thành. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rằng: “Trần Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người”. Ông đã củng cố thế lực nhà Trần bằng những biện pháp cứng rắn, bởi ông hiểu dù nhà Trần đã lên ngôi báu nhưng vẫn nhiều người thương tiếc triều Lý, mong phục hồi triều Lý.
9
Đầu tiên, Trần Thủ Độ tìm mọi cách loại bỏ ảnh hưởng của nhà Lý trong xã hội. Vua Huệ Tông tuy đã đi tu nhưng thường ra chợ chơi, có nhiều người đón gặp, khóc thương. Trần Thủ Độ biết chuyện bèn ép Lý Huệ Tông vào tù ở chùa Chân Giáo nằm sâu trong hoàng cung, nhằm tách biệt vua cũ với dân chúng. Ít lâu sau Thủ Độ bức ông phải tự tử. Hoàng hậu vua Lý là Trần Thị Dung bị giáng làm Thiên Cực Công chúa (sau trở thành vợ Trần Thủ Độ, được phong làm Linh Từ Quốc mẫu).
10
Các tướng lĩnh trung thành với nhà Lý cũng bị Trần Thủ Độ tìm cách tiêu diệt. Ai may mắn trốn thoát thì thay tên đổi họ, sống mai danh ẩn tích. Đặc biệt có hoàng tử Lý Long Tường cùng gia quyến mang binh thuyền vượt biển để tránh sự truy bức. Sau bao nhiêu ngày, thuyền cập xứ Cao Ly (Triều Tiên ngày nay). Trần Thủ Độ còn lấy cớ rằng chữ Lý đã phạm húy vì tên ông nội vua Trần Cảnh là Trần Lý mà buộc những người mang họ Lý, dù không phải hoàng thân quốc thích cũng phải đổi thành họ Nguyễn.
11
Nhưng trên tổng thể, Trần Thủ Độ có công trong việc dẹp loạn và chấn hưng đất nước. Bấy giờ, các thế lực ở một số địa phương nổi lên cát cứ, đặc biệt có Đoàn Thượng ở Hồng châu (Hải Dương) và Nguyễn Nộn ở Bắc Giang là hùng mạnh nhất. Thủ Độ điều động quân lính đi đánh dẹp. Thấy hai lực lượng này còn mạnh, ông thay đổi chiến lược, không dùng quân sự để đàn áp mà thực hiện chính sách chiêu dụ và chia rẽ.
12
Trần Thủ Độ xin vua phong cho Nguyễn Nộn làm Hoài Đạo vương, cho cai quản một số huyện ở Bắc Giang đồng thời cũng phong tước cho Đoàn Thượng và định ngày làm lễ thề chung. Tuy thế, vào ngày định ước, Thượng không đến dự, lại còn xây thành đắp lũy, đào hào, bắt dân làm lính, tự mình làm chủ một cõi Hồng châu. Nguyễn Nộn đem quân đến đánh, giết chết Đoàn Thượng. Con của Thượng chống đỡ không nổi, phải quy hàng. Từ đấy thanh thế của Nguyễn Nộn ngày càng lớn.
13
14
Lấy cớ Nguyễn Nộn giết được Đoàn Thượng, Trần Thủ Độ cho người mang thư đến mừng, lại đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho Nộn với mục đích dùng nàng để dò la binh tình. Dường như biết được ý định ấy, Nguyễn Nộn sai lính dựng cho công chúa một cung riêng biệt để ở. Vì vậy Ngoạn Thiềm cũng không nghe ngóng được chuyện gì.
15
Đắc thắng, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng vương và mặc sức ăn chơi. Tuy thế, Nộn cũng biết là phải phục tùng nhà Trần nên xin hẹn ngày vào bái kiến vua Thái Tông. Nhưng hôm ấy Nộn lại lâm bệnh nặng, không thể vào chầu được. Trần Thủ Độ cho người đến thăm. Nguyễn Nộn giấu bệnh, cố gượng dậy ăn cơm và phi ngựa trước mặt sứ giả để tỏ ra mình vẫn khỏe mạnh nhưng mấy ngày sau thì chết.
16
Từ đấy trong nước hết loạn lạc, Trần Thủ Độ tập trung sức lực xây dựng cơ đồ, ổn định việc nội trị. Để kiểm soát số dân trong nước, ông đặt ra lệ ghi chép danh sách các hộ dân tại các thôn xã vào sổ. Sử cũ ghi rằng ông là người rất công bằng, trong một lần duyệt hộ khẩu, bà Linh Từ, vợ của Trần Thủ Độ, muốn xin cho người quen của mình làm một chức trong xã. Ông bèn ghi tên họ, quê quán của người ấy và cho gọi đến.
17
Khi người quen của bà Linh Từ hớn hở đến trình diện, Trần Thủ Độ bảo: “Ngươi vì có công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho làm Câu đương(*), thế thì không thể xem ngươi như những Câu đương khác. Do đó phải chặt một ngón chân của ngươi để phân biệt”. Người ấy hoảng hồn, van xin không nhận chức để khỏi bị chặt ngón chân. Từ đó, không ai dám nhờ ông ưu ái cho những việc riêng tư nữa.
* Một chức dịch nhỏ về trật tự an ninh ở trong xã.
18
Thái sư Trần Thủ Độ rất đề cao trật tự, pháp luật trong nước và chính ông cũng rất gương mẫu thực hiện. Có lần bà Linh Từ ngồi kiệu định đi qua chỗ cấm thì bị một người quân hiệu(*) chặn lại. Rất tức giận nhưng không làm gì được, bà đành phải về nhà than vãn với chồng: “Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu lại dám khinh nhờn như thế ư?”. Thái sư cho bắt người quân hiệu ấy xét hỏi. Nhưng khi biết sự thật, ông nói: “Ngươi ở chức thấp mà còn biết giữ phép nước như thế, ta trách sao được” rồi thưởng bạc cho người ấy.
* Người lính có nhiệm vụ gác cổng.
19
Việc làm của Trần Thủ Độ khiến nhiều người nể phục, vì thế luật lệ, phép tắc trong triều được nghiêm minh. Nhưng cũng có người thấy quyền lực của Thủ Độ quá lớn nên lo lắng tâu với vua Trần Thái Tông: - “Nay Bệ hạ đang tuổi nhỏ mà Trần Thủ Độ lại chuyên quyền thì việc xã tắc tính thế nào?”. Nghe vua kể lại, Trần Thủ Độ tâu: - “Kẻ kia nói đúng, thần quả có chuyên quyền. Nhưng các quan đều giả câm, chỉ có kẻ kia là dám nói thật. Muốn xã tắc hưng thịnh thì phải khuyến khích người ta nói thẳng, nói thật”. Rồi ông xin vua thưởng vàng bạc cho người ấy.
20
Nhưng đôi khi, vì quyền lợi của dòng họ, Trần Thủ Độ cũng có những việc làm thái quá. Đó là vào năm Đinh Dậu (1237), vua Thái Tông đã 20 tuổi mà hoàng hậu vẫn chưa có con. Việc nhà vua không có con đe dọa đến sự bền vững của ngai vàng. Bởi vậy, Trần Thủ Độ ép vua phải phế Chiêu Thánh, rước vợ của Trần Liễu là Thuận Thiên (Thuận Thiên là chị ruột của Chiêu Thánh) khi ấy đã có mang ba tháng, về lập làm Hoàng hậu để vua có người nối dõi.
21
Trần Liễu bèn tụ tập quân lính nổi loạn ở sông Cái (sông Hồng) còn vua Trần Thái Tông thì bất bình, đang đêm một mình một ngựa lẻn trốn khỏi thành, nhắm núi Yên Tử mà đến. Khi tới Phả Lại, con ngựa đuối sức, nhà vua liền bỏ ngựa, đi bộ. Mấy ngày sau mới lên được chùa Phù Vân trên núi Yên Tử. Sư trụ trì chùa vốn là bạn cũ của nhà vua, nên vua ở lại đấy.
22
Trần Thủ Độ biết tin, đem quần thần đi đón. Vua không chịu về, bảo: “Trẫm còn nhỏ dại, phụ hoàng đã vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, không dám ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Cố nài hai, ba lần, nhà vua vẫn không chịu về, Thái sư bèn bảo mọi người: “Xa giá ở đâu là triều đình ở đấy”. Rồi sai cắm mốc, chia địa hình trong núi mà cho xây dựng cung điện. Sư trụ trì thấy vậy, tâu: “Bệ hạ nên hồi cung, chớ để người ta làm hại núi rừng của đệ tử”. Vua Thái Tông nghe theo, buộc phải hồi cung.
23
Trần Liễu cũng biết sức mình thế cô, không chống chọi được với người chú họ mưu lược và quyết đoán nên một hôm nhân lúc nhà vua đi chơi thuyền ở ngoài sông, ông giả dạng làm người đánh cá, đi thuyền độc mộc đến xin hàng. Trần Thủ Độ nghe tin, vội kéo quân đến vây thuyền rồng, rút gươm quát lớn:
- Giết chết tên giặc Liễu!
24
Nhà vua vội đưa thân mình ra che chở cho anh trai và phân trần: - Phụng Càn vương (tên hiệu của Trần Liễu) đến hàng đó thôi! Trần Thủ Độ tức lắm nhưng cũng không dám làm gì đành ném gươm xuống sông, thốt lên:
- Thủ Độ này chỉ là con chó săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch của anh em nhà ngươi!
25
Sau khi thuyết phục Trần Thủ Độ bãi binh, vua Thái Tông cấp cho Trần Liễu vùng đất An Sinh (nằm ở hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay) làm thái ấp và phong ông làm An Sinh vương. Tuy vậy Trần Liễu vẫn mang nỗi oán hận trong lòng. Mâu thuẫn này khiến trong hoàng tộc có nhiều chia rẽ và phải đến đời con Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn mới được cởi bỏ.
26
Lúc này, vua Trần Thái Tông đã đảm đương được việc triều chính và có những quyết định sáng suốt. Nhà vua còn là người rất gan dạ. Vào mùa đông năm Tân Sửu (1241), vua thân chinh đi tuần ở biên giới bằng đường thủy. Đến địa giới của nhà Tống, vua bỏ thuyền lớn dùng ba thuyền nhỏ là Kim Phượng, Nhật Quang, Nguyệt Quang để đi vào đất Tống, đến tận châu Liêm, châu Khâm. Khi bị dân địa phương phát hiện và chăng dây xích ngang sông để cản đường, vua bình thản cho quân lên bờ tháo xích rồi ung dung theo đường cũ mà về.
27
Trần Thủ Độ vẫn hết mình giúp đỡ vua Thái Tông trong việc điều hành đất nước. Nhờ vua tôi một lòng mà Đại Việt đã dần ổn định và ngày một hưng thịnh. Nhà Trần vẫn giữ lệ cử hành lễ thề Đồng Cổ vào ngày mồng 4 tháng tư âm lịch hàng năm như dưới triều Lý để buộc các quan phải trung thành với triều đình. Hôm ấy, trăm quan ăn mặc chỉnh tề, chực ngoài cửa thành từ lúc gà gáy cho đến mờ sáng thì tiến vào triều. Vua thì ngự sẵn ở điện Đại Minh. Trăm quan vào lậy mừng rồi cùng nhau rầm rộ tiến ra cửa tây kinh thành để đến đền Đồng Cổ.
28
Khi tất cả đã quỳ trước đài thờ, quan Trung thư Kiểm chính đọc lời thề: “Làm tôi phải tận trung, làm quan phải thanh bạch; ai trái lời thề thì thần linh trừng phạt”. Lời thề đọc xong, quan Tể tướng sai đóng cửa lại để điểm danh. Người nào vắng mặt thì phạt 5 quan tiền(*). Ngày hôm ấy, con trai con gái từ khắp nơi kéo về kinh đô để xem lễ thề, để chiêm ngưỡng trăm quan và cũng để vui chơi hội hè. Dần dà, lễ thề Đồng Cổ cũng là ngày hội của dân chúng.
_________
* Dưới thời Lý thì phạt đánh 50 trượng.
29
Nhà Trần đặc biệt ưu đãi giới quý tộc họ Trần. Chỉ có người họ Trần mới được giữ những chức vụ quan trọng. Giới quý tộc họ Trần đóng vai trò quyết định trong bộ máy quan lại và quân đội. Họ còn được cấp đất để lập những thái ấp rộng lớn và được nuôi rất nhiều gia nô trong thái ấp của mình.
30
HỆ THỐNG QUAN LẠI NHÀ TRẦN
(1226 - 1400)
Các quan lại khác đều có lương và ruộng đất, nhưng ruộng đất của quan lại thì nhỏ hơn thái ấp hoàng tộc. Hệ thống quan lại được định chế rõ ràng. Cấp quan cao nhất là Tam công, Tam thiếu, Thái úy, Tư mã, Tư đồ, Tư không. Ở dưới là các quan văn võ chia làm hai: quan nội chức làm ở các bộ tại triều và quan ngoại chức làm việc tại các địa phương. Cứ 15 năm thì quan được lên chức một lần.
31
Từ năm 1242, nước Đại Việt được chia làm 12 lộ(*). Mỗi lộ có quan cai trị là An phủ sứ. Giúp việc cho An phủ sứ là Chánh phủ sứ và Phó phủ sứ. Dưới lộ là phủ, châu, huyện do các quan Đại tư xã hay Tiểu tư xã trông coi. Quan Đại tư xã phải từ ngũ phẩm trở lên, còn quan Tiểu tư xã thì lục phẩm trở xuống. Đơn vị dưới cùng là làng xã do Xã quan quản lý, gồm Xã chính, Xã sử và Xã giám.
* Tương đương với tỉnh này nay.
32
Tổ chức quân đội thời Trần có một bước tiến đáng kể so với trước. Đặc biệt số lượng quân thường trực khá lớn, có thể lên đến 20.000 người. Quân triều đình gồm Cấm quân và các quân địa phương (quân các lộ). Giống như các thời Đinh, Lý trước, Cấm quân (quân cấm vệ) thời Trần có nhiệm vụ bảo vệ vua và triều đình. Binh lính trong Cấm quân được tuyển chọn cẩn thận từ các hương ấp quê hương họ Trần nên hết sức trung thành.
33
Quân địa phương có nhiệm vụ bảo vệ các lộ và tham gia chiến trận khi có chiến tranh. Ngoài Cấm quân và quân các lộ, nhà Trần còn có lực lượng vũ trang của các nhà vương hầu để bảo vệ điền trang thái ấp và tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước khi cần. Đáng chú ý là một vương hầu có thể có hàng ngàn quân.
34
Như triều Lý, nhà Trần cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư nông”. Tất cả dân tráng trong nước đều phải đi lính. Số quân đi binh dịch này được phiên chế thành đô, ngũ(*) để luyện tập, hết hạn lại trở về làm ruộng, khi nào có việc thì mới điều động.
* Một ngũ gồm 5 người, 10 ngũ là một đô.
35
Quân đội nhà Trần đã bắt đầu có sự phân biệt giữa quân thủy và quân bộ. Ngoài ra còn có cả đội tượng binh và kỵ binh. Binh lính được tập luyện kỹ lưỡng, có kỷ luật và quyết tâm cao còn các tướng thì không chỉ tinh thông võ nghệ mà còn giỏi cả binh pháp. Chính vì vậy, quân đội nhà Trần không chỉ có lực lượng mạnh mà còn có kĩ thuật chiến đấu khá cao.
36
Bên cạnh việc xây dựng quân đội, nhà Trần rất chú trọng đến nông nghiệp - sức mạnh kinh tế chủ yếu thời ấy. Ruộng có hai loại là ruộng công và ruộng tư. Giống như thời Lý, ruộng công thuộc về nhà nước phần lớn là ruộng quốc khố do nông nô, binh lính và tù nhân cày cấy để thu lợi tức cho triều đình. Ngoài ra còn có một phần dành cho việc thờ cúng các vị vua khởi nghiệp và công thần (ruộng Sơn Lăng) và một số ít để vua cày tịch điền hàng năm.
37
Còn ruộng công ở các làng xã gọi là quan điền (công điền) hay quan điền bản xã do làng xã quản lý. Nông dân các làng xã chia nhau cày cấy và đóng tô cho nhà nước. Nhà vua có quyền lấy số ruộng của các làng xã phong cho quý tộc làm thái ấp hoặc ban phong cho các công thần làm bổng lộc. Khi đó, ruộng này vẫn do nông dân ở đó cày cấy nhưng tô thuế không nộp cho nhà nước mà nộp cho người được cấp ruộng.
38
Ruộng tư đã có từ thời Lý, sang thời Trần thì phát triển hơn do từ năm 1254, vua Thái Tông cho phép bán quan điền (ruộng công làng xã) cho dân. Mỗi diện(*) được bán với giá 5 quan. Do đó, tầng lớp nông dân tư hữu cũng nhiều hơn trước. Ai có ruộng thì tùy theo số lượng mà đánh thuế bằng thóc. Ngoài ra, nhà vua còn định ra những luật lệ nghiêm khắc trong việc tranh chấp ruộng đất.
* Như mẫu bây giờ.
39
Để bảo vệ nông nghiệp, vua Thái Tông cho lập cơ quan Hà đê trông coi việc đê điều, đứng đầu là Hà đê chánh sứ và Hà đê phó sứ. Hằng năm, vào tháng giêng, quan Hà đê phải thân hành đi đốc thúc dân đinh tu bổ lại hệ thống đê điều đã có từ trước. Đây được xem như một việc chung, dù giàu hay nghèo, cao sang hay thấp hèn đều phải tham gia. Công việc này được tiến hành cho đến đầu mùa hạ phải xong. Đến khi nước sông dâng cao lại phải tuần tra, canh gác để kịp thời sửa chữa những chỗ sạt lở.
40
Vào tháng 3 năm Mậu Thân (1248), nhà vua huy động tất cả các quan dân ở các lộ ven sông Cái (sông Hồng) đắp một con đê rất lớn gọi là Đỉnh Nhĩ (tức đê Quai Vạc). Đê chạy dài ven hai bên bờ sông, bắt đầu từ thượng nguồn cho đến biển. Nếu chỗ đê nào lấn vào ruộng đất của dân thì nhà nước chiếu theo giá ruộng đất mà bồi thường. Đê sông Hồng được các đời sau tu bổ, đến nay vẫn là công trình phòng chống lũ lụt rất hiệu quả.
41
Đi đôi với đắp đê là đào sông, tháng giêng năm Tân Mão (1231), vua Thái Tông cho đào kênh Trầm, kênh Hào từ phủ Thanh Hóa đến Diễn châu (Nghệ An). Năm 1248, vua lại cho đào sông Mã, sông Lễ và đào kênh xuyên qua núi Chiếu Bạch ở Thanh Hóa. Năm 1256, triều đình cho vét sâu sông Tô Lịch để đảm bảo giao thông và phòng thủ kinh thành.
42
Công thương nghiệp đời Trần có những bước phát triển mới. Các phường thủ công mở rộng hơn trước, hình thành thêm một số làng nghề chuyên môn. Đặc biệt, nghề gốm rất phát triển với các loại sản phẩm như gạch, ngói, thạp, hũ, bát,... được buôn bán rộng rãi trong cả nước. Hàng gốm cao cấp không chỉ được dùng trong cung điện, các phủ đệ mà còn làm cống phẩm bang giao và buôn bán với nước ngoài.
43
Kinh thành Thăng Long được tu bổ và mỏ rộng, có chợ búa, phố xá,... Người qua lại buôn bán đông đúc. Vùng phụ cận xung quanh kinh thành đã được khai phá và lập thành “thập tam trại” từ thời Lý, nay càng mở rộng và trở thành những vùng chuyên canh nông nghiệp ổn định.
44
45
Buôn bán trao đổi với các nước khác được mở rộng. Hải cảng chính cho tàu buôn nước ngoài đến là bến Vân Đồn bên ngoài vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Các tàu buôn từ Trung Quốc và các nước quanh vùng tấp nập ra vào thương cảng này. Ngày nay, qua khai quật, người ta còn thấy phế tích thương cảng này ở các đảo Vân Đồn, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây,...
46
Vua Trần Thái Tông còn định lại thuế lệ và pháp luật. Người trong nước được phân ra từng hạng(*). Thuế thân phải đóng bằng tiền chứ không phải đóng bằng thóc như thuế ruộng. Nếu không có ruộng thì được miễn. Các giấy tờ, đơn từ, khế ước đều dùng lệ điểm chỉ - in nửa ngón tay vào tờ giấy - để làm bằng. Nhờ thế, công việc hành chính tiến hành khá kỉ cương. Tuy nhiên, hình luật lại khá nặng, người phạm tội trộm cắp phải bị chặt chân hoặc chặt tay, thậm chí còn bị cho voi giày.
* Con trai từ 18 tuổi gọi là tiểu hoàng nam, trên 20 tuổi gọi là đại hoàng nam, trên 60 tuổi là lão, còn già lắm thì được gọi là long lão (người già mỏi mệt).
47
Đối với quý tộc và quan lại, vua Trần Thái Tông cũng định ra quy chế để phân biệt thứ bậc. Từ ngũ phẩm trở lên đều được đi kiệu, ngựa và võng. Kiệu của quý tộc có đầu đòn chạm con chim phượng và sơn son đỏ. Nếu là quan tướng quốc thì đầu đòn chạm chim phượng và sơn đen, lọng màu tía. Từ tam phẩm trở lên dùng kiệu đầu đòn chạm mây, lọng xanh. Quan tứ phẩm, ngũ phẩm dùng kiệu bằng đầu và cũng lọng xanh. Riêng các quan lục thất phẩm dùng lọng màu đen...
48
Nhà Trần cũng rất quan tâm đến việc chiêu hiền đãi sĩ. Tháng 2 năm Nhâm Thìn (1232), triều đình mở khoa thi Thái học sinh, sĩ tử mọi nơi nô nức dự thi. Một số nho sĩ thi đỗ, được bổ dụng làm quan. Việc ấy khiến lòng người háo hức. Qua tháng 7 năm Bính Ngọ (1246), nhà vua định lệ cứ 7 năm thì mở một khoa. Kỳ thi thứ nhất được tổ chức ngay năm sau (1247). Nhân khoa này, nhà vua lập ra Tam khôi để dành cho ba bậc đỗ cao nhất là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Từ đó trở đi, các khoa thi được tổ chức đều đặn, quy củ.
49
Nhà vua lại cho mở ra Quốc học viện (1253) để nho sĩ đến học tứ thư, ngũ kinh của Nho giáo. Tượng thờ Khổng Tử, Chu Tử và Mạnh Tử cùng 72 vị tiền hiền ở Văn Miếu đều được tu bổ lại. Nho giáo được đề cao. Dần dần, tầng lớp nho sĩ được đào tạo qua các kỳ thi càng đông và bắt đầu lấn át vị thế của các nhà sư. Kỳ thi năm 1247, 48 người đỗ Thái học sinh, trong đó có 3 người đỗ Tam khôi. Đó là Trạng nguyên Nguyễn Hiền (13 tuổi), Bảng nhãn Lê Văn Hưu (17 tuổi) và Thám hoa Đặng Ma La (14 tuổi). Đây cũng là Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa chính thức đầu tiên của nước ta.
50
Nguyễn Hiền người xã Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay). Ông đỗ Trạng nguyên năm mới 13 tuổi. Tương truyền, thuở nhỏ, gia đình cho ông theo học với một nhà sư. Hiền được cạo đầu, hàng ngày vào chùa quét dọn và hầu hạ thầy. Tuy nghịch ngợm nhưng Hiền học hành chăm chỉ, lúc lên 11 tuổi đã nổi tiếng là thông kinh sử và được mệnh danh là thần đồng.
51
Khi Nguyễn Hiền thi đỗ, được vào chầu vua, vua hỏi: - Trạng nguyên học với ai?
Hiền trả lời:
- Tâu bệ hạ, thần không phải là người sinh ra đã biết hết. Khi nào có một đôi chữ không biết thì thần hỏi thầy chùa. Thấy Hiền còn nhỏ mà ăn nói lại ngông nghênh, nhà vua không bằng lòng, buộc Hiền phải về quê học thêm lễ nghĩa.
52
Ít lâu sau, nước Đại Việt bị đế quốc Mông Cổ dòm ngó, tính bề xâm chiếm. Mông Cổ sai sứ đem thư qua Đại Việt thách đố triều đình giải bốn câu chữ Hán là:
Lưỡng nhật bình đầu nhật, (Hai mặt trời đầu bằng nhau) Tứ sơn điên đảo sơn. (Bốn hòn núi nghiêng ngả)
Nhị vương tranh nhất quốc, (Hai vua tranh một nước) Tứ khẩu tung hoành giang. (Bốn miệng cùng ngang dọc)
Cả triều đình không ai tìm ra được lời giải mà không giải được thì thật là nhục quốc thể, thậm chí Mông Cổ sẽ coi nước ta không có nhân tài mà sớm xua quân qua xâm chiếm.
53
Vua chợt nhớ đến Trạng nguyên Nguyễn Hiền bèn sai sứ giả tức tốc về quê Trạng. Đến nơi, sứ gặp một nhóm trẻ đang chơi đùa. Đoán biết là Trạng ở trong nhóm ấy, nhưng sứ không biết mặt, bèn ra câu đố vẻ coi thường:
- Tự là chữ, cắt giằng đầu, chữ tử là con: con ai con ấy? Hiền đối lại ngay, lời lẽ bỡn cợt:
- Vu là chưng, chặt là ngang lưng, chữ đinh là đứa: đứa nào đứa này?
Đối xong Hiền chạy về nhà. Sứ đi theo, mời thế nào Trạng cũng không về kinh. Cuối cùng, Trạng đòi vua phải cho võng, kiệu về rước đúng nghi lễ thì mới chịu lên kinh.
54
Nhà vua liền sai quân lính mang cờ quạt, võng lọng đi rước. Gặp được Trạng, nhà vua đưa bài thơ ra hỏi. Nguyễn Hiền trả lời ngay: “Đó là chữ điền ” (nghĩa là ruộng)(*). Vua bèn cho người trả lời sứ giả Mông Cổ. Sứ Mông Cổ chịu thua mà về. Để thưởng Công, vua phong Nguyễn Hiền làm Thượng thư bộ Công. Nguyễn Hiền sau này là vị quan thanh liêm, có công lớn trong việc bang giao với các nước phía bắc.
________________
* Hai mặt trời đầu bằng nhau: có nghĩa là hai chữ nhật (mặt trời) Bốn hòn núi nghiêng ngả: có bốn chữ sơn là (núi)
Hai vua tranh một nước: có hai chữ vương (vua)
Bốn miệng cùng ngang dọc: có bốn chữ khẩu (miệng)
Hai chữ nhật, bốn chữ sơn, hai chữ vương, bốn chữ khẩu gộp lại thành chữ điền.55
Bảng nhãn Lê Văn Hưu có tên hiệu là Tu Hiền, tước Nhân Uyên hầu, sinh năm Canh dần (1230). Ông là người làng Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Lê Văn Hưu là cháu đời thứ bảy của Lê Lương - một người giàu có nức tiếng, ưa làm việc thiện và rất sùng đạo Phật dưới thời nhà Đinh (thế kỷ thứ X). Trong nhà ông luôn có trên 100 lẫm thóc và hơn 3000 thực khách. Đinh Tiên Hoàng ngưỡng mộ Lê Lương, vời ông ra và phong làm Trấn quốc bộc xạ, cho cai quản cả vùng đất rộng lớn.
56
Đến thời ông nội của Lê Văn Hưu là Lê Văn Trung thì cửa nhà đã sa sút nhưng luôn giữ gìn nền nếp gia phong. Ông Trung thường căn dặn con cháu rằng: “Nhà ta trải nhiều đời lấy Phật làm trọng, đều được vua ban cho vinh hiển. Các con nên tu nhân tích đức, giảng kinh học đạo, lấy văn chương làm lòng sẽ được lưu danh ở đời”(*). Khi Lê Văn Hưu còn trong bụng mẹ thì cha ông là Lê Văn Minh không may lâm bệnh nặng qua đời. Hai mẹ con được ông ngoại Đỗ Tất Bình cưu mang. Năm lên 9 tuổi, Lê Văn Hưu được ông ngoại cho đi học với thầy đồ họ Nguyễn ở làng bên. Lê Văn Hưu được thầy giáo quý mến, vài năm sau thì gả con gái cho.
* Đặng Thị Đức, Lê Văn Hưu nhà sử học đầu tiên của nước ta, TP HCM, 1994, tr.31.57
Lúc đỗ Bảng nhãn, Lê Văn Hưu cũng chỉ mới 17 tuổi. Ông được vua Trần Thái Tông giao cho việc dạy dỗ hoàng tử thứ ba là Trần Quang Khải rồi sau đó được bổ làm chức Kiểm pháp quan (một chức quan về hình luật). Khi Quốc học viện được lập năm 1253, Lê Văn Hưu được phong chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu. Nhận thấy nước ta chưa có một bộ quốc sử chính thống nào và thấy Lê Văn Hưu là người có tri thức uyên bác, vua Thái Tông bèn giao cho ông biên soạn bộ quốc sử đầu tiên của nước ta.
58
Được giao trọng trách, Lê Văn Hưu đã nghiên cứu một số cuốn sách như Hoàng tông ngọc điệp, Việt chí(*) để rút kinh nghiệm. Đồng thời ông đi sưu tầm những chuyện kể trong dân gian, những sách vở xưa còn lưu lại ở các đền chùa và hỏi thêm những người lớn tuổi để soạn ra bộ Đại Việt sử ký(**), mở đầu cho nền sử học nước nhà.
__________________
* Hai cuốn này hiện đã thất lạc.
** Gồm 39 quyển biên soạn từ thời Triệu Đà đến đời Lý Chiêu Hoàng, kéo dài gần 15 thế kỷ, được dâng lên vua Trần Thánh Tông năm 1272. Sử gia đời sau là Ngô Sĩ Liên dựa vào sách này để viết Đại Việt sử kí toàn thư.
59
Nhờ chú trọng phát triển kinh tế, xây dựng quân đội và nhất là biết chiêu hiền, đãi sĩ chọn người tài giỏi giúp nước nên năm 1258, vua Trần Thái Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược Mông Cổ - một đội quân thiện chiến nhất lúc đó. Bản thân nhà vua là vị tướng dũng mãnh và các con của vua Thái Tông như Trần Thánh Tông, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, công chúa An Tư đều là những anh hùng tài giỏi, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông sau này.
60
Thành Cát Tư Hãn
Khi nước Đại Việt đang bước vào cuộc chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần tại thì vùng thảo nguyên thuộc nước Mông Cổ ngày nay, Thiết Mộc Chân (Temüjin) đã thâu tóm các bộ lạc riêng lẻ, thống nhất đất nước, lên làm Đại Hãn tức Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan). Đại Hãn là xưng danh của hoàng đế nước Mông Cổ. Bấy giờ người Mông Cổ còn sống du mục, đi đến đâu dựng lều đến đó. Tài sản của họ chủ yếu là bò và cừu nhưng quan trọng nhất là ngựa.
61
Quân Mông Cổ rất có tài cỡi ngựa, bắn cung. Sức mạnh của quân đội Mông Cổ chủ yếu là do đoàn kỵ binh (lính cưỡi ngựa). Có câu nói truyền tụng về sức mạnh của quân Mông Cổ như sau: “Hễ nơi nào có vó ngựa quân Mông Cổ đi qua thì nơi ấy cỏ không thể nào mọc lên được nữa”.
62
Không chỉ rất giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, chiến thuật đánh trận của họ rất cơ động và đầy sức mạnh. Khi bắt đầu giao tranh, toán kỵ binh ào ạt xông thẳng vào đối phương. Nếu đối phương không nao núng, toán kỵ binh ấy tản ra ngay, nhường chỗ cho toán khác tấn công. Và cứ thế, từng toán liên tục tấn công cho đến khi hạ gục được đối phương. Trong trường hợp không hạ được đối phương bằng cách ấy, quân Mông Cổ xua súc vật vào trận địa hoặc bao vây đối phương cho đến khi hết lương thực.
63
Với đoàn quân thiện chiến ấy, Thành Cát Tư Hãn tung hoành khắp châu Âu và châu Á. Các quốc gia phía bắc Trung Quốc như Tây Hạ, Kim, Triều Tiên... và cả miền Trung Á, đều trở thành thuộc địa của Mông Cổ. Sau khi Thành Cát Tư Hãn chết, con của ông là Oa Khoát Đài (Ogodai) lên thay, vẫn tiếp tục con đường xâm lăng. Đế quốc Mông Cổ được thành lập. Cuộc viễn chinh tiến về phía Tây, chiếm được vùng đất sông Volga và xâm nhập vào châu Âu. Năm 1251, cháu nội của Thành Cất Tư Hãn là Mông Kha (MÔngke) lên ngôi Hãn. Đế quốc Mông Cổ bấy giờ đã rất rộng lớn, trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho đến tận bờ Hắc Hải.
64
Nhưng quân Mông Cổ không dừng ở đấy. Mông Kha có kế hoạch xâm chiếm hai nước Tống và Đại Lý (thuộc Trung Quốc hiện nay). Năm 1252, em của Mông Kha là Hốt Tất Liệt (Kublai) cử Ngột Lương Hợp Thai (Uriyankhadai) đánh lấy nước Đại Lý (là vùng đất Vân Nam thuộc Trung Quốc hiện nay, xưa ở phía bắc Đại Việt). Vua nước Đại Lý thua trận, bị bắt, phải đầu hàng. Sau chiến thắng ấy, quân Mông Cổ chuẩn bị tấn công nước Tống.
65
Trước khi xuất quân đánh Tống, Mông Kha làm lễ tế cờ trên sông Karulan rồi chia quân ra làm bốn cánh. Ba cánh quân vượt sông Trường Giang, đánh từ phía bắc xuống: trong đó có một cánh do đích thân Mông Kha chỉ huy. Cánh quân thứ tư do Ngột Lương Hợp Thai cầm đầu, xuất phát từ Đại Lý, có nhiệm vụ đánh chiếm Đại Việt để làm bàn đạp đánh vào sau lưng nước Tống từ phía nam lên.
66
Để mở đường đánh chiếm Đại Việt, Ngột Lương Hợp Thai cử một đoàn sứ giả đến Đại Việt chiêu hàng. Đoàn sứ giả nghênh ngang đến Thăng Long, ra mắt vua Trần Thái Tông và uốn lưỡi dụ dỗ rằng quân Mông Cổ chỉ mượn đường đi qua xứ sở Đại Việt để tiến đánh nước Tống chứ không có ý đồ xâm lấn Đại Việt. Vua Trần Thái Tông lập tức hạ lệnh tống giam đoàn sứ giả vào ngục.
67
Là người nhìn xa trông rộng, vua Thái Tông dự đoán sẽ có ngày vó ngựa Mông Cổ xâm lấn Đại Việt, nên đã ban lệnh tăng cường thực thi chính sách về quân sự như “ngự binh ư nông”, cho các thân vương quý tộc rầm rộ tuyển quân; buộc các tướng chỉ huy quân đội phải học binh pháp tại Giảng võ đường. Ngoài ra, vua Thái Tông còn trang bị cho quân đội những vũ khí mới như Hồi hồi pháo (máy ném đá) và hỏa khí (bắn lửa bằng ống đồng).
68
Với sự chuẩn bị quân sự như thế, vua Trần Thái Tông vững lòng nghênh chiến. Vào tháng 9 âm lịch năm Đinh Tị (1257), nhà vua ra lệnh cho viên tướng trẻ Trần Quốc Tuấn đem quân thủy bộ lên bảo vệ vùng biên cương và lo sắm sửa vũ khí. Lệnh ban xuống cho toàn dân khẩn trương rèn dao, mài kiếm, vót tên.
69
Trong khi vua Trần Thái Tông chuẩn bị đánh giặc thì Ngột Lương Hợp Thai vẫn đợi tin tức của đoàn sứ giả. Đợi mãi không thấy, y đưa quân đến biên giới phía bắc của Đại Việt rồi liên tiếp sai hai đoàn sứ giả nữa đến chiêu dụ vua Trần. Nhưng hai đoàn sau cũng bặt vô âm tín, Ngột Lương Hợp Thai vô cùng tức giận, bèn ra lệnh xuất quân. Cánh quân tiên phong thì men theo sông Thao mà tiến vào đất Đại Việt. Thêm một cánh do con trai của Ngột Lương Hợp Thai là A Châu (Aju, có sách gọi A Truật) đi sau để yểm trợ. Hai cánh quân này vừa tiến vừa thăm dò tình hình để cấp báo cho đại quân đang tiến ở phía sau.
70
Ngay khi quân giặc vừa rục rịch xuất binh, ở Thăng Long vua Trần đã nhận được tin cấp báo từ biên giới. Nhà vua bàn bạc với triều đình và chọn Bình Lệ Nguyên - một cánh đồng rộng lớn nằm giữa sông Thao và sông Cà Lồ (nay thuộc Mê Linh, Hà Nội) - để dàn trận. Đây là nơi có nhiều rạch cắt ngang như những chiến hào thiên nhiên, rất thuận tiện cho việc ẩn quân để chống giặc cũng như rút quân khi cần thiết.
71
Vua Trần Thái Tông thân chinh cầm quân chống giặc và mang theo dũng tướng tài ba là Lê Tần bên mình. Sử sách ghi lại rằng Lê Tần là người gan dạ, tính tình điềm tĩnh, nhiều mưu kế. Ông cùng vua Thái Tông vừa lập trận, vừa động viên tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Nhờ thế, quân tướng trên dưới đều một lòng quyết tâm đánh giặc.
72
Trong khi gấp gáp chuẩn bị lên đường đánh giặc, quan Chưởng ấn (quan giữ các ấn của nhà vua) đem giấu ấn báu lên trên xà ngang nóc điện Đại Minh và chỉ đem theo ấn mật dùng trong nội bộ. Nhưng không may giữa đường, chiếc ấn mật dụng bị rơi mất. Để chỉ huy việc quân, vua đành phải sai thợ khắc một chiếc ấn bằng gỗ(*) dùng tạm.
________
* Ấn là tượng trưng cho quyền uy của vua, thường được đúc bằng vàng ròng hay đồng đỏ.
73
Dù ấn mất nhưng việc chuyển quân vẫn tiến hành khẩn trương. Thuyền binh của Đại Việt chở quân, voi, ngựa đến Bình Lệ Nguyên. Quân lính và voi, ngựa đổ bộ lên cánh đồng, dàn trận san sát. Thuyền được đưa xuống bến Lãnh Mỹ ở khúc sông phía dưới (nay là xóm Bến, làng Thịnh Kỷ, Mê Linh, Hà Nội) và luôn sẵn sàng đón bộ binh nếu thế trận trên bờ trở nên bất lợi.
74
A Châu cho quân đi dò thám, thấy quân nhà Trần sẵn sàng nghênh chiến thì vội báo lại cho đại quân phía sau. Được tin báo, vào ngày 12 tháng chạp âm lịch (17-1-1258), Ngột Lương Hợp Thai đem đại binh xâm nhập vào Đại Việt và hội quân với hai cánh quân đi trước ở vùng đất Việt Trì ngày nay. Hội quân xong, đại quân Mông Cổ tiến đến nơi quân Đại Việt dàn trận, để chuẩn bị tấn công.
75
Tướng tiên phong của Mông Cổ là Trê Trếch Đu (Cakakdu, có sách ghi là Triệt Triệt Đô) được giao nhiệm vụ dẫn một nghìn quân đi trước, vượt sông nhưng không đánh ngay mà phục binh chờ cánh quân tập hậu do A Châu cầm đầu đánh vào sau lưng quân Đại Việt mới xông ra cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần. Đại quân do Ngột Lương Hợp Thai đích thân chỉ huy thì tấn công vào trước mặt quân Trần.
76
TRẬN BÌNH LỆ NGUYÊN
Sơ đồ cuộc chiến Bình Lệ Nguyên năm 1258.
77
Trước sức mạnh của đoàn quân Mông Cổ thiện chiến, vua Trần Thái Tông không ngại hiểm nguy, tự mình dẫn quân đánh trả. Nhờ địa hình chiến trường phức tạp, quân Trần lúc đầu chiếm lợi thế, hạ gục nhiều tên lính Mông Cổ.
78
"""