"Người Nông Dân Châu Thổ Bắc Kỳ PDF EPUB 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Người Nông Dân Châu Thổ Bắc Kỳ PDF EPUB Ebooks Nhóm Zalo ÉTUDES DE GÉOGRAPHIE HUMAINE NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ NHÂN VĂN Pierre Gourou Thạc sĩ đại học - Tiến sĩ văn học Ủy viên thông tấn Viện Viễn đông Bác cổ Pháp Dịch theo bản tiếng Pháp Les paysans du delta tonkinois Études de géographie humaine NXB Nghệ thuật và Lịch sử Paris, 1936 Tham gia dịch thuật: Nguyễn Khắc Đạm Đào Hùng Nguyễn Hoàng Oanh Hiệu đính: Đào Thế Tuấn BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data Gourou, Pierre, 1900- Người nông dân châu thổ Bắc kỳ / Pierre Gourou ; Nguyễn Khắc Đạm ... [và nh.ng. khác] dịch ; Đào Thế Tuấn hiệu đính. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015. 707 tr. ; 24 cm. Nguyên bản : Les paysans du Delta tonkinois : étude de géographie humaine. 1. Bắc Việt Nam. I. Nguyễn Khắc Đạm. II. Đào Thế Tuấn. III. Ts: Paysans du Delta tonkinois : étude de géographie humaine. 959.703 -- ddc 23 G716 NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ NHÂN VĂN Lời giới thiệu Cuốn sách của Pierre Gourou nghiên cứu về châu thổ sông Hồng, một châu thổ vào loại đông dân nhất thế giới, cái nôi của nền văn minh Việt Nam, là một tác phẩm đặc sắc nghiên cứu về địa lý nhân văn. Mặc dù được xuất bản từ các năm 30 của thế kỷ trước, nhưng đến nay sau hơn 70 năm nó vẫn còn mang tính thời sự. Vì mặc dù đã có nhiều biến đổi về chính trị, kinh tế và xã hội ở vùng đất này, nhưng những nét cơ bản và những vấn đề vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nhưng rất tiếc rằng rất nhiều nhà nghiên cứu và độc giả Việt Nam lại không biết đến công trình này, một phần vì cuốn sách chỉ còn ở một vài thư viện, một phần vì hiện nay còn ít người đọc được chữ Pháp. Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng việc xuất bản bản dịch của cuốn sách này vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà địa lý nổi tiếng người Pháp có lẽ là một hành động có ý nghĩa nhất để nhớ đến nhà nghiên cứu xuất sắc này. Vài chục năm gần đây, việc nghiên cứu về nông thôn, về nông dân đã trở thành một lãnh vực thu hút sự chú ý của nhiều môn học kinh tế xã hội, nhất là sau khi các tác phẩm của nhà kinh tế học Nga A.Tchaianov được dịch ra tiếng Anh. Một môn học mới gọi là nông dân học (Peasant studies) với nhiều tạp chí quốc tế đã xuất hiện. Với sự xuất hiện của lý thuyết hệ thống các môn học mới, như hệ thống nông nghiệp, sinh thái học nhân văn, sinh thái học nông nghiệp, chúng đã dần dần trở thành những môn học bắt buộc ở các trường đại học. Sự ra đời 5 của các môn học đó sẽ tạo nên cơ sở lý luận cho việc phát triển nông thôn, một hoạt động rất thời sự hiện nay. Đặc biệt trong thời gian gần đây sự phát triển nông nghiệp của các nước tư bản chủ nghĩa châu Âu và của các nước đang phát triển, sau những biến đổi ở nông thôn các nước xã hội chủ nghĩa, thì mô hình nông nghiệp gia đình đã chứng tỏ là mô hình có ưu thế nhất, hơn hẳn các mô hình nông nghiệp quy mô lớn dùng lao động làm thuê hay lao động tập thể. Mô hình nông nghiệp gia đình là một thành tựu lớn nhất của thế kỷ XX. Vì vậy việc nghiên cứu về kinh tế gia đình nông dân với các quy luật riêng biệt của nó, do A.Tchaianov phát hiện, đã trở thành một đề tài hấp dẫn nhiều nhà khoa học. Cuốn sách của Pierre Gourou chính là con én báo hiệu các sự kiện trên, vì đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên về nông dân học, về nông nghiệp gia đình và về hệ thống nông nghiệp. Có lẽ tất cả các môn học nói trên phải coi Gourou là người tiên phong cho môn học của mình. Điều thú vị là trong cuốn sách của mình, Gourou có dự báo về tình hình của châu thổ sông Hồng vào cuối thế kỷ: “Nếu người ta chấp nhận một suất dư là 15 trên 1.000 thì dân số châu thổ Bắc kỳ sẽ là 13.000.000 nhân khẩu vào năm 1984. Chúng tôi tin rằng số dư thực phải giữ mức giữa 10 và 15 trên 1.000, và nếu như không gì làm biến đổi tiến độ của sự khai triển, thì dân số vùng Châu thổ sẽ lên tới 13.000.000 giữa năm 1984 và 2001. Như vậy mật độ trung bình của dân số sẽ gấp đôi mật độ hiện nay: nó sẽ ở mức 860 khẩu trên một cây số vuông. Một tình huống như thế dường như không tưởng tượng được, và dường như không thể đối với vùng Châu thổ vốn dĩ hiện nay đang không nuôi 430 người trên một cây số vuông, làm sao mà lại có thể cung cấp cho những nhu cầu của một dân số đông gấp đôi”. Trong thực tế vào các năm 30 của thế kỷ XX, lúc Gourou viết cuốn sách này, thì dân số châu thổ sông Hồng chỉ mới có 430 người/km2, vào cuối thế kỷ mật độ dân số đã tăng lên 947 người/km2, tức là đã tăng lên 2,2 lần. Dự báo về tăng dân số gần đúng nhưng mối lo của Gourou lại không xảy ra, vì châu thổ sông Hồng không những giải quyết được đủ ăn mà còn dư thừa một ít để xuất khẩu. 6 PIERRE GOUROU Sự tiến hóa của châu thổ sông Hồng trong hơn 70 năm qua. Dân số nông thôn triệu Đất canh tác và cây lâu năm triệu ha m2/ng Sản lượng lương thực 1000t Kg/ha Năng suất lương thực T/ha 1930 6,5 1,2 1846 1,8 277 1,5 1998 14,2 0,783 551 6.2 439 4.4 Tăng (%/năm) 1,1 -0,6 -1,8 1,8 0,7 16 Sở dĩ châu thổ sông Hồng đã giải quyết được vấn đề sản xuất nông nghiệp của mình là vì đã làm theo lời khuyên của Gourou: “Tóm lại, công việc bổ ích nhất đối với nông dân sẽ là đình chỉ sự phát triển của sở hữu lớn và thậm chí xóa bỏ những sở hữu lớn đang tồn tại, nếu cân bằng những đạo luật về ruộng đất nhằm tránh cho những nguồn lợi nghèo nàn của người nông dân trên mảnh đất quá nhỏ bé còn bị thu hẹp lại hơn nữa bởi việc phải nộp tô” (trang 577). Như vậy là châu thổ sông Hồng sau khi đã thử nhiều mô hình sản xuất khác nhau đã quay về với nền kinh tế gia đình nông dân và giải quyết được việc phát triển một cách xuất sắc. Tuy vậy vấn đề dư thừa lao động mà Gourou lo lắng hơn 70 năm trước ngày nay càng trở thành nghiêm trọng và là một thách thức cho sự phát triển trong tương lai của đồng bằng Bắc Bộ. Trong cuốn sách này tác giả đã mô tả giải pháp cho việc thừa lao động này bằng cách phát triển một nền công nghiệp nông thôn vốn “không hợp lý và phân phối không logic”. Tình trạng ấy hiện nay cũng chưa thay đổi mấy mặc dù về quy mô có lớn mạnh hơn nhiều. Đây là một vấn đề hiện nay đang được quan tâm ở châu thổ sông Hồng. Các tài liệu về vấn đề đó được trình bày trong cuốn sách sẽ giúp cho việc tìm cách để giải quyết vấn đề phức tạp của chúng ta hiện nay. Đào Thế Tuấn 7 PIERRE GOUROU (1900 – 1999) Pierre Gourou là người đã sống gần trọn thế kỷ XX. Tốt nghiệp Thạc sĩ sử học và địa lý học, Tiến sĩ văn chương, đã từng là giáo sư các trường Đại học Hà Nội, Bruxelles, Montpellier, Bordeaux, Sao Paulo, Montréal. Ông được cử làm giáo sư của Collège de France (Bộ môn nghiên cứu thế giới nhiệt đới) năm 1947. Pierre Gourou đã mở đầu sự nghiệp nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, tiếp đấy đã nghiên cứu thực địa ở Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Perou, Zaire, Sénégal, Bờ biển Ngà, Niger, Mali, Madagascar, Réunion, Angola, Mozambique, ông chính là con người của thực địa. Từ những thực tế được quan sát, ông đã cho ra mắt những công trình chính như sau: • Bắc kỳ, Paris, 1931, 347 trang. • Người nông dân châu thổ Bắc kỳ, Paris, 1936, 666 trang. • Nhà ở Việt Nam – miền Tây và Trung Trung kỳ, 1936, 82 trang. • Sử dụng đất ở Đông Dương thuộc Pháp, Paris, 1940, 445 trang. • Đất và người ở Viễn Đông, Paris, 1940, 224 trang. • Các nước nhiệt đới, nguyên lý về địa lý nhân văn và kinh tế, Paris, 1947, 199 trang. • Châu Á, Paris, 1953, 541 trang. • Mật độ dân số ở Ruanda-Urundi, Bruxelles, 1953, 239 trang • Mật độ dân số ở Congo thuộc Bỉ, Bruxelles, 1955, 168 trang • Châu Phi, Paris, 1970, 488 trang. • Tập hợp bài viết, Bruxelles, 1970, 450 trang. • Bài học Địa lý nhiệt đới, Paris, 1971, 323 trang. • Châu Mỹ nhiệt đới và phía nam, Paris, 1971, 432 trang. • Vì một môn địa lý nhân văn, Paris, 1973, 388 trang. • Đất hy vọng lớn: thế giới nhiệt đới, Paris, 1982, 456 trang. • Lúa và văn minh, Paris, 1984, 299 trang. Ông đã trở thành một nhà bách khoa, mà ta có thể nhìn thấy qua cuốn Các nước nhiệt đới và Bài học Địa lý nhiệt đới. Tuy là một nhà địa lý nhân 8 PIERRE GOUROU văn, ông có các phương pháp và cách suy nghĩ của nhà dân tộc học, xã hội học, nhân học, dân số học, địa lý tự nhiên, sử học, nông học. Ông đã thực hiện nhiều cuộc điều tra trên thực địa, tiếp xúc với nông dân, chú ý đến cấu trúc gia đình, tín ngưỡng tôn giáo và tập quán ăn uống dẫn đến phương thức sử dụng đất. Các công trình của ông tập trung nhiều vào các châu thổ nhiệt đới, so sánh sự phát triển của các châu thổ châu Á và châu Phi. Các công trình này có tác dụng lớn đến việc xác định chiến lược phát triển của các nước đang phát triển. Và Gourou có lẽ là một trong những người đầu tiên nghiên cứu để tìm cách giúp sự phát triển của các nước nghèo. 9 Lời nói đầu Châu thổ Bắc kỳ là một đồng bằng có diện tích hạn chế: chỉ có 15.000 km2, nhưng lại rất đông dân vì nó nuôi sống – nói đúng ra không được tốt lắm – 6.500.000 nông dân; như vậy là mật độ dân số ở đây lên tới một mức rất cao là trung bình 430 người dân trên một kilômet vuông.1 1 Châu thổ Bắc kỳ chia ra thành nhiều tỉnh, có một số tỉnh trải rộng ra ngoài châu thổ. Các tỉnh phía bắc của châu thổ là: Phú Thọ, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Thái Nguyên (chỉ có một phần rất nhỏ nằm trong vùng châu thổ), Bắc Giang, Bắc Ninh. Các tỉnh trung tâm là Hà Đông, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương. Các tỉnh ven biển là Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên. - Các tỉnh lại chia thành các khu mà người ta gọi là phủ hay huyện, những khu này lại chia thành tổng, tổng chia thành xã. - Phủ và huyện được trình bày với ranh giới và tên của chúng trên bản đồ phụ bản về mật độ dân số. Giới hạn các tổng được chỉ trên bản đồ phụ bản về mật độ dân số; mỗi tổng được đánh dấu bằng một con số, tức là số thứ tự của nó theo vần chữ cái trên danh sách của tổng trong mỗi phủ, huyện (xem sách dẫn hành chính các địa danh). - Ở cuốn sách này có bản đồ phụ bản các địa danh, có ghi tên tất cả các làng được nêu lên trong sách. - Do đó, khi muốn tìm vị trí địa lý của một làng được nêu tên trong sách, chỉ cần tra bản chỉ dẫn theo vần chữ cái hoặc bản chỉ dẫn hành chính sẽ thấy vị trí chính xác của làng đó trên bản đồ các địa phương, bằng một chữ cái và một con số. Nếu muốn tìm về một tỉnh, thì xem bản chỉ dẫn hành chính sẽ có thể thấy được tất cả những gì đã được nói về các làng của tỉnh đó. Nếu muốn tìm hiểu về một làng biệt lập mà ta không biết sự sắp xếp hành chính thì tra bản chỉ dẫn theo vẫn chữ cái. 11 Tính độc đáo của châu thổ Bắc kỳ trên bán đảo Đông Dương là rất rõ. Nói chung, Đông Dương bao gồm những dãy núi dân cư thưa thớt và những đồng bằng mật độ dân số tương đối thấp. Đồng bằng mênh mông của hạ lưu sông Mekong, trải ra trên một phần lớn đất đai Campuchia và hai phần ba Nam kỳ, những vùng phù sa rộng lớn của miền Trung nước Xiêm (Thái Lan), châu thổ sông Irraouaddi đều có một tính chất chung là chưa đến nỗi quá đông dân. Vì thế cho nên ba vùng đồng bằng đó có thể bán ra một số lượng thóc gạo rất lớn mà dân chúng ở các nơi đó dư thừa và hầu như nắm độc quyền xuất khẩu lúa gạo trên thế giới. Mặt khác, cũng vì thế mà ở những nơi có hiện tượng nhập cư mạnh mẽ; đặc biệt rất đông người Trung Hoa di cư tới các nước đó, nơi dân bản xứ hầu như không đủ sức đáp ứng được những đòi hỏi của nông nghiệp nên đã để cho người Trung Hoa lo việc buôn bán. Châu thổ Bắc kỳ không thể xuất khẩu được nhiều lúa gạo, không có người nhập cư, mà trái lại khá nhiều đoàn người làm thuê từ nơi đây di cư đi nơi khác, ở đây không có nhiều người Trung Hoa và họ phải để toàn bộ việc buôn bán nhỏ cho người bản xứ. Dân chúng Bắc kỳ có nhiều nét đặc sắc về lịch sử cũng như về mật độ dân số hiện nay. Những đồng bằng lớn của Đông Dương đều do dân cư hiện đang sống ở đó, mới đến chiếm lĩnh gần đây. Người Việt Nam chỉ mới tới Nam kỳ vào thế kỷ XVII; người Xiêm chiếm lĩnh đồng bằng sông - Tên các làng được nêu lên trong sách bao giờ cũng có kèm theo địa phận hành chính của nó. Khi có nhiều tên làng được nêu lên kế tiếp nhau, người ta không nhắc lại tên tổng, huyện hay tỉnh. Đáng lẽ viết Đình Bảng (tổng Phù Lưu, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh), Phù Lưu (tổng Phù Lưu, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh) v.v… người ta sẽ viết tắt: Đình Bảng (t. Phủ Lưu, P. Từ Sơn, Bắc Ninh), Phù Lưu (nt, nt, nt). Cũng như thế, sẽ không nhắc lại tên phủ, tỉnh khi các làng thuộc cùng một phủ (huyện) hoặc cùng một tỉnh, “nt” không bao giờ có nghĩa là tên tổng là giống như tên xã, chỉ có nghĩa là tổng đó là y như tổng của xã nêu lên trước. - Cần chú ý rằng lưu vực sông Thái Bình và tỉnh Thái Bình là không trùng hợp với nhau. sông Thái Bình do các sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam và sông Đuống hình thành, chảy qua hoặc dọc theo các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An. Nó chỉ chạm tới tỉnh Thái Bình trên vài kilomet ở cửa sông của nó. - “Mẫu” là đơn vị diện tích thường được nông dân Bắc kỳ sử dụng. Nó bằng 3.600 m2. mẫu chia thành 10 sào”. 12 PIERRE GOUROU Mênam Chao Phraya sớm hơn vào khoảng thế kỷ XIII, nhưng Bangkok thì mãi tới thế kỷ XVIII mới được thành lập; người Miến Điện chỉ đuổi người Pegou vào thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XIX châu thổ sông Irraouaddi dân cư còn thưa thớt. Trái lại, Bắc kỳ đã có dân cư đông đúc từ xa xưa, không thể xác định được thời điểm định cư của người Việt ở đây. Chính là xuất phát từ Bắc kỳ mà những người chinh phục và những người đi thực chiếm lĩnh đất Trung kỳ và Nam kỳ, lập ra một quốc gia rất thống nhất về ngôn ngữ và về đặc tính của nền văn minh, nhưng thiết lập trên một đất đai rời rạc nhất thế giới. Như vậy là châu thổ Bắc kỳ, nơi có mật độ dân số cao và có dân cư từ rất lâu, lại mang rất ít tính chất Đông Dương. Thật vậy, châu thổ Bắc kỳ khác với Đông Dương không phải vì hai tính chất đó, mà còn vì nhiều nét về nền văn minh của nó. Nền văn minh này phản ánh văn minh Trung Hoa và lẽ ra cần có một công trình nghiên cứu tỉ mỉ – chưa được tiến hành – để làm nổi bật lên tất cả những cái gì của Việt Nam không phải từ Trung Hoa đem tới. Tính độc đáo về con người của châu thổ Bắc kỳ có đông dân cư sinh sống từ lâu đời, so với phần còn lại của Đông Dương như vậy là rõ ràng; tính độc đáo đó kém phần rõ rệt hơn so với Trung Quốc, một nước có những vùng đồng bằng phù sa với mật độ dân số rất cao từ lâu đời nay và có một nền văn minh đã từng làm mô hình cho người Việt Nam. Châu thổ Bắc kỳ với 430 dân/km2 hoàn toàn không thể so sánh được với các vùng của châu Âu có dân cư đông đúc chen chúc. Những nước châu Âu có mật độ dân số cao đều là những nước công nghiệp, thành thị rất phát triển. Lancashire, Ruhr chỉ là những đường phố hai bên nhà cửa san sát, những rừng ống khói nhà máy. Bắc kỳ, ngay cả ở những khu vực đông dân nhất vượt quá 1000 dân/km2, cảnh quan vẫn mang tính chất nông thôn, dân cư vẫn là nông dân. Dân chúng cực kỳ đông đúc này hoàn toàn là dân nông thôn; thật vậy, các thành thị không bao gồm vào việc tính mật độ trung bình của dân số. Vả chăng, mật độ 430 người/km2 hoàn toàn nông thôn, cũng sẽ chẳng được nâng lên bao nhiêu nếu tính gộp cả cư dân thành thị, vì thành thị đều nhỏ bé một cách đáng ngạc nhiên. Nhưng cần hiểu thế nào là “thành thị”? Định nghĩa bằng con số ở đây hoàn toàn không có giá trị gì hết, vì ở Bắc kỳ có những làng có tới 10.000 dân ở một điểm quần cư duy nhất và có những thành thị không có tới 2.000 13 dân. Chỉ nên tính đến chức năng của những tập hợp đó thôi: một làng gồm có những người nông dân, đôi khi có thể làm một số công nghiệp tại chỗ hoặc lưu động, nhưng chủ yếu vẫn là những người làm ruộng; đó chỉ là những người dân sinh ra ngay tại địa phương; có thể có nhiều người buôn bán, nhưng họ đi làm ở ngoài và làng không bao giờ là một trung tâm thương mại; mặt khác làng thường không có đường sá thuận tiện, một làng Bắc kỳ là nơi quần cư lỏng lẻo hoặc nhiều hoặc ít, gồm có những nhà vách đất, lợp rơm, chung quanh có vườn. Cái mà chúng ta gọi là “thành thị” ở châu thổ Bắc kỳ có thể chỉ có 500 dân, nhưng tất cả đều là công chức, thợ thủ công, nhà buôn. Thành thị dựng lên quanh một cái chợ, có đường cái, đường xe lửa hoặc đường sông đi vào, rất nhiều khi kết hợp cả ba phương tiện giao thông đó. Thành thị đó hầu như chỉ gồm những cá nhân sinh ra ở những nơi khác, đến sống ở đó một thời gian lâu hay chóng: tất nhiên đó là hoàn cảnh của các công chức Pháp hoặc Việt Nam, thương nhân Trung Hoa, nhưng đó cũng còn là hoàn cảnh của nhiều người buôn bán Việt Nam nữa. Sau hết, thành thị là một tổ hợp những ngôi nhà san sát nhau, xây bằng gạch và lợp ngói. Được xác định như vậy, thành thị ở châu thổ Bắc kỳ có tối đa là 35.000 dân1, tức là về toàn bộ, ở châu thổ Bắc kỳ 95% dân số là nông dân. Nếu tính riêng từng tỉnh thì tỷ lệ phần trăm đó còn hơn thế vì các thành phố lớn bị loại trừ ra ngoài sự tính toán này, ở tỉnh Hà Nam dân số nông thôn đạt tới 98% tổng dân số. Có nhiều nguyên nhân khác nhau về tình trạng dân số kém phát triển ở thành thị. Hiển nhiên nhất là những nguyên nhân thuộc về kinh tế: dân chúng châu thổ Bắc kỳ sản xuất ít và tiêu dùng ít. Hoạt động nhỏ hẹp đó, thực tế chủ yếu của nền kinh tế khép kín, không tạo thuận lợi cho sự phát triển của thành thị. Những nơi buôn bán tất nhiên là rất nhỏ. Công nghiệp truyền thống có một tổ chức đặc biệt; nó hoàn toàn mang tính làng mạc; 1 Ba thành phố quan trọng nhất ở Bắc kỳ là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Ta không biết rõ dân số các thành phố đó vì chưa bao giờ có điều tra dân số thật tốt. Có thể Hà Nội có khoảng 125.000 dân. Hải Phòng có lẽ 80.000. Nam Định có không hơn 30.000 (một thời gian dài người ta đã khăng khăng cho rằng thành phố này có 75.000 dân). Phần còn lại của dân số thành thị bao gồm tất cả các thị trấn nhỏ có tính chất thành thị: tỉnh lỵ, những trung tâm buôn bán nhỏ, nếu gắn cho chúng 100.000 dân cũng là quá rộng rãi. 14 PIERRE GOUROU việc sản xuất hàng chế phẩm giữ họ ở xóm làng chứ không thu hút ra thành thị, ấy là thành thị ngày nay còn phát triển hơn rất nhiều so với xưa kia, khi chưa thiết lập nền bảo hộ của Pháp; ở Bắc kỳ xưa, thành thị hầu như chỉ gồm có một tòa thành, nơi ở của quan lại và nha môn, còn phố xá buôn bán thì, ngoài Hà Nội và Nam Định ra, chỉ là một khu nhà lá. Do ảnh hưởng của Pháp, hoạt động kinh tế lớn hơn, các thành thị đã phát triển hoặc những thành thị hoàn toàn mới được lập nên: Hải Phòng là thí dụ đặc sắc nhất của sự tiến triển đó. Có những trở ngại xã hội đối với sự phát triển của thành thị, một phần những trở ngại đó hiện nay vẫn còn tồn tại. Người Việt Nam hết sức gắn bó với quê hương, nơi tổ tiên họ đã sống, với làng xóm nơi họ có tất cả các kỷ niệm, gia đình, bè bạn: “ngọn rau tấc đất” (tiếng Việt trong nguyên bản – ND) (có nghĩa là ăn một ngọn rau ở đất quê hương còn ngon hơn thức ăn ngon ở nơi xa nhà). “Đối với người Việt Nam, có làng quê ở tỉnh danh giá hơn tự xưng mình là người của một phường hay khu phố nào đó của thành thị, mà đồng bào chúng tôi gọi là nơi tụ hội của người tứ xứ. Sau khi định cư ở thành thị, người ta vẫn tiếp tục đóng thuế cho làng, đăng ký con cái ở làng, cố gắng kiếm ít nhất một hai sào đất ở làng, và đặt nhà thờ tổ tiên ở đó”1 Cuối cùng, ở Bắc kỳ xưa, sự phát triển yếu ớt của thành thị còn có nguyên nhân chính trị. Tổ chức chính trị nhẹ nhàng, giải quyết ít công việc và để cho các làng quyền độc lập và chủ động rất nhiều. Hoạt động hành chính của một tỉnh lỵ nhỏ bé, một ít thuộc lại cũng đủ đảm bảo được. Quan lại thì không chuyên môn hóa mấy, công việc không được phân chia ra cho các ban ngành kỹ thuật có lực lượng mạnh. Như vậy công trình nghiên cứu này nhằm vào hai trọng tâm: châu thổ Bắc kỳ hết sức đông dân, và hầu như hoàn toàn là nông dân cư trú. Cần phải cố gắng tìm ra những điều kiện hiện nay và những nguyên nhân của dân số quá đông đúc này, và những tính chất của mật độ nông dân đông đúc ấy. 1 Điều đó không hề ngăn cản những người Bắc kỳ khá giả ùn về Hà Nội, vì hai lý do: trước hết vì họ muốn con cái họ sinh ra trên địa phận thành phố này, nhượng địa thuộc Pháp và do đó được hưởng luật pháp Pháp và các tòa án Pháp chứ không phải tòa án của các quan lại. Mặt khác, ở Hà Nội an ninh hơn cả, không còn sợ những vụ cướp thỉnh thoảng vẫn còn xảy ra ở một số nơi nông thôn. 15 Trên thế giới, không đâu có sự tách biệt rõ rệt giữa hai vùng hơn là ở Bắc kỳ, giữa châu thổ và vùng núi. Ở đây, không phải chỉ thấy sự tương phản thông thường về địa hình giữa một vùng đồng bằng phù sa và một vùng núi hiểm trở, mà còn thấy mật độ dân số hạ xuống rất đột ngột giữa đồng bằng và miền núi, mà ở châu Âu không thấy có, lại còn một sự thay đổi đột ngột về tính chất cư dân: người Việt đồng bằng mặc quần áo màu nâu, ở những ngôi nhà dựng ngay trên mặt đất; còn người miền núi thì mặc quần áo màu chàm, ở nhà sàn. Có thể định cho châu thổ những ranh giới khác nhau, nếu đứng ở bốn quan điểm khác nhau. Theo quan điểm địa chất học thì châu thổ là khu vực gồm những phù sa mới bồi; bản đồ tỉ lệ 1/500.000 của Sở Địa chất (tờ bản đồ Hà Nội) cho phép ấn định diện tích của đất phù sa đó; nó cho ta có được ranh giới gần xác thực của vùng châu thổ. Tuy nhiên, một phần những bậc thềm đá ở Bắc Giang là do dân cư châu thổ chiếm lĩnh, ngược lại vịnh sông Lục Nam, sông Chu, sông Lam, thể hiện trên bản đồ phù hợp với thực tế, là do phù sa mới bồi gần đây, lại chẳng có mấy tính chất châu thổ vì mật độ dân số của nó. Tuy vậy, ranh giới địa chất học đúng hơn và chính xác hơn là ranh giới theo độ cao: đường cao chuẩn 25 m là mức duy nhất có thể chọn được vì đó là mức đầu tiên do bản đồ tỉ lệ 1/100.000 đề ra – bản đồ tỉ lệ 1/25.000 có đo độ cao tỉ mỉ hơn không bao trùm hết toàn bộ châu thổ và đường cao chuẩn đó nói chung là quá cao, bao quát cả những gò, những vùng đá cao (vùng Thái Nguyên); những vùng phù sa cũ (đặc biệt là ở vùng Sơn Tây) không thuộc châu thổ không cao quá 15 m. Tuy nhiên, lấy đường cao chuẩn 25 m làm giới hạn cho châu thổ cũng sẽ không sai lầm nhiều lắm vì phần lớn các điểm cao giới hạn vùng châu thổ vươn lên khá cao, nên mức 25 m vẫn gần với mức 15 m. Cũng có thể ấn định ranh giới châu thổ bằng những dữ kiện của con người. Có ba loại sự việc phải xem xét: trước hết, mật độ dân số châu thổ như ta thấy trên bản đồ mật độ (phụ bản bản đồ màu tỉ lệ 1/250.000; phụ bản số 2) và mặt khác khu vực cư trú trên châu thổ, như ta thấy trên bản đồ các làng (phụ bản bản đồ màu, tỉ lệ 1/250.000; phụ bản số 3). Sau hết, cũng có thể sử dụng tiêu chí phân bố dân cư người Việt: vùng châu thổ kết thúc ở nơi người Việt nhường chỗ cho cư dân miền núi. Quan điểm cuối cùng này cũng không đưa tới những sai lầm nghiêm trọng: tuy nhiên ranh giới có 16 PIERRE GOUROU được như vậy sẽ khác nhiều so với ranh giới xác thực của ranh giới theo mật độ dân số và khu vực cư trú. Thật vậy, người Việt di dân ngược sông Hồng và sông Lô rời khỏi vùng châu thổ khá xa; trong khi đó ở phía nam, tại vùng Nho Quan, người Mường lại sống trên nhiều mảnh đất, tuy không rộng lắm, của vùng châu thổ. Tóm lại, những điều khác biệt giữa các địa vực do các ranh giới đó ấn định không lớn lắm và vấn đề này không để chúng ta xem xét nhiều. Chúng tôi đã chấp nhận ranh giới nghiên cứu của mình, về phía tây-nam và đông bắc châu thổ là ranh giới địa chất học. Đúng vậy, một bên từ sông Đà ra tới biển và bên kia từ sông Lục Nam ra tới biển, vùng châu thổ không bao giờ vượt ra ngoài diện tích của các phù sa gần đây. Không thể nêu ra được một ngoại lệ nào cho qui tắc này. Ngược lại, ở tây-bắc cần phải sửa đổi nhiều ranh giới địa chất mà dân châu thổ đã lấn chiếm. Ranh giới của chúng tôi bao gồm phần đông-nam của những đất bậc thang nằm giữa sông Hồng và sông Lô, đi theo gần đúng với ranh giới địa chất học ở phía đông sông Lô1, rồi ngược lên phía bắc đi theo dọc thung lũng sông Cầu, đem qui vào châu thổ tất cả các đất bậc thang của Yên Thế ở phía nam vĩ tuyến trung lưu sông Thương, đi vào vịnh Lục Nam ở phía đông nơi hợp lưu sông Thương và sông Lục Nam, ranh giới địa chất học, như ta đã thấy hình thành ranh giới của châu thổ một cách rõ rệt. Hình số 1 cho thấy ranh giới của chúng tôi về vùng châu thổ và vài sự khác nhau, những sự khác nhau này là do những xem xét về địa lý nhân văn quyết định, chẳng hạn dân số tương đối đông, nhà ở kiểu châu thổ canh tác phần lớn đất đai. Châu thổ được ấn định ranh giới như vậy có một diện tích là: 15.000 kilômet vuông2. Diện tích này đã được tính toán hết sức chính xác trong mức độ có thể được, chứ không phải dùng máy đo mặt bằng để đo diện tích 1 Nhưng không nên quên rằng trong vùng Vĩnh Yên và Phúc Yên bản đồ địa chất học 1/500.000 là đặc biệt thiếu sót, ở vùng này có những khu đất đá cao hoặc phù sa cổ mà bản đồ đã hoàn toàn không chỉ ra và chúng tôi đã đưa những khu đó vào bản đồ có đo độ cao của chúng tôi, phụ bản mẫu (phụ bản số 1): khu vực không tô màu nằm giữa ranh giới vùng đất phù sa tô màu nâu đỏ và độ cao chuẩn 25 m. 2 Xem dưới đây sẽ thấy diện tích đó phân bổ như thế nào và trong diện tích đó, chỗ nào không thuộc vùng châu thổ. 17 châu thổ mà chúng tôi đã xác định1. Chúng tôi đã cộng các diện tích trên các bản đồ tỉ lệ 1/25.000 với các vùng không phải châu thổ và thêm vào tổng số có được diện tích châu thổ không bao quát bởi các bản đồ tỉ lệ và tính trên các bản đồ 1/100.000. Nếu diện tích 15.000 km2 này khác với các con số do các tác giả khác đưa ra thì đó là vì các tác giả này đã tính diện tích châu thổ bằng cách cộng các diện tích nguyên thổ của các tỉnh thuộc vùng châu thổ nhưng có nhiều tỉnh vượt ra ngoài ranh giới của châu thổ. Tóm lại, châu thổ Bắc kỳ có một diện tích hơi quá lớn và một dân số hơi quá nhiều: 15.000 km2 và 6.500.000 dân – đối với một công trình nghiên cứu địa lý đi sâu và tiến hành bởi mỗi một người. Khung cảnh là quá rộng, một người nghiên cứu không thể trong vài năm2 tự mình nhìn thấy được hết thảy và đem lại câu trả lời dứt khoát cho những câu hỏi đặt ra; châu thổ Bắc kỳ có 7.000 xã, không thể nghĩ đến chuyện đi xem tất cả được. Vậy lẽ ra tốt hơn là chỉ xem xét, nghiên cứu một phần châu thổ Bắc kỳ thôi. Tiếc thay, địa lý châu thổ không biết được rõ, không thể nào lựa chọn một vùng riêng biệt nào đó một cách đúng đắn được. Muốn phát hiện những vùng tự nhiên thì trước hết phải nghiên cứu toàn bộ xứ sở đó đã. Thế nhưng công trình nghiên cứu toàn bộ này đã cho thấy rằng châu thổ không chia thành nhiều vùng. Toàn bộ châu thổ hình thành một vùng tự nhiên duy nhất, có thể chia thành những phần nhỏ tùy theo ta đứng về phương diện địa hình, trồng trọt đang có của các làng, mật độ dân số, công nghệ. Nhưng những sự biến đổi về địa lý đó không tập hợp lại thành những tổng thể và không làm xuất hiện những phân vùng tự nhiên; trong một khu vực nào đó, không có những đặc điểm độc đáo và phù hợp với 1 Tất nhiên châu thổ không hề nghi ngờ tính chính xác của các máy đo mặt bằng, nhất mà máy đo mặt bằng Coradi, nhưng ta sẽ có thể phạm những sai lầm nghiêm trọng nếu đo bằng máy đo mặt bằng những bản đồ có tỉ lệ xích nhỏ; mà các máy đó chỉ có thể dùng được, không tốn quá nhiều thì giờ cho những diện tích nhỏ. Tổng số 15.000 km2 của chúng tôi tất nhiên là một con số tròn. Nhưng chúng tôi thấy không cần thiết phải chính xác hơn. Chính xác thật hoàn mỹ sẽ chỉ là đánh lừa con mắt vì người ta có thể bàn cãi việc gán cho châu thổ một vùng đất cao khoảng vài km2 nào đó, một bãi biển nào đó bị ngập nước khi thủy triều lên. 2 Về phần chúng tôi, việc nghiên cứu châu thổ đã bắt đầu từ tháng 10 năm 1927; công việc nghiên cứu được đặc biệt đẩy mạnh từ 1930 đến mùa hè 1935. 18 PIERRE GOUROU nhau về địa lý, hình thể, nhân văn, kinh tế. Trên hết thảy, người nông dân Bắc kỳ từ Việt Trì đến các cửa sông Hồng là y như nhau, cũng mặc những quần áo ấy1, có những phong tục như nhau, ở nhà giống nhau. Tại các đất nước thấm đượm tính nhân văn này, nơi con người đã tạo ra ở mọi chỗ cái cảnh quan mà chúng ta đang thấy; tính thống nhất của dân chúng nông dân là một nhân tố nhất loạt mạnh mẽ và tính nhất luật tự nhiên của một vùng châu thổ đã đóng góp không ít vào việc tạo ra sự thống nhất đó về con người. Tính đồng dạng về tự nhiên và tính thống nhất về con người hỗ trợ cho nhau đã tạo ra một đất nước thuần nhất một cách đặc sắc và một dân tộc hoàn toàn đoàn kết chặt chẽ. Trên thế giới không có vùng tự nhiên nào được xác định rõ rệt đối với cái khuôn khổ núi non của nó, vì những tính cách vật chất và nhân văn của nó sống riêng biệt và từ lâu không có sự pha trộn chủng tộc ngoại lai nào. 1 Ở đây chúng tôi không có ý định dành một bản khảo cứu chuyên đề về áo quần người Việt Nam. Quần áo truyền thống của phụ nữ là váy, còn ở phía nam sông Gianh – phụ nữ mặc quần. Ở Bắc kỳ, phụ nữ lịch sự mặc quần; một phụ nữ thành phố sẽ tự thấy mình là lố bịch nếu vẫn còn mặc váy của tổ tiên mình. “Mốt” mặc quần đã lan ra các làng quanh các thành phố. Quần áo nông thôn đều nhuộm nâu hết nhưng chúng tôi đã thấy ở những vùng hẻo lánh của phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) nhiều phụ nữ mặc quần áo màu chàm; phải chăng đó là tàn dư của một thói quen cổ xưa? Hay là một đặc điểm địa phương? Người ta bảo chúng tôi rằng các phụ nữ này để tang, nhưng màu tang tóc ở người Việt Nam là màu trắng. Chúng tôi đã không giải được vấn đề nhỏ này. 19 Hình 1 Bậc thềm phía bắc châu thổ Bắc kỳ 1. Ven núi hoặc đồi có độ dốc cao – 2. Ranh giới bậc thềm – 3. Ranh giới châu thổ – 4. “Hệ triat, rhêtien, đất phù sa hoặc latérit không thể tách rời” (Patte); nói chung đó là bậc thềm đá tại chỗ, được phủ một lớp latérit và một lớp đất mỏng – 5. Rhêtien (diệp thạch và sa thạch) – 6. Hệ Triat (diệp thạch và sa thạch) – 7. Đá vôi uran và pecni – 8. Khoảng đất tiền uran (diệp thạch và đá vôi) – 9. Riolit – 10. Granit – 11. Phù sa mới – Tỉ lệ: 1/500.000. Hình này vẽ theo bản đồ của ô.Patte, Nghiên cứu địa chất học Đông Bắc kỳ (Tập san của Sở Địa chất Đông Dương, T. XVI, q. i. Hà Nội, 1927), bản đồ địa hình tỉ lệ 1/100.000 và những quan sát của chính chúng tôi. 20 PIERRE GOUROU Phần thứ nhất M Ô I T R Ư Ờ N G VẬT CHẤT Chương một ĐỊA HÌNH CỦA CHÂU THỔ Trên châu thổ, con người là sự kiện địa lý quan trọng nhất. Chính hoạt động của con người đã đưa vào cảnh quan đồng bằng phù sa này rất nhiều chi tiết và một tính đa dạng nào đó. Muốn nghiên cứu vùng này, nhà địa lý học phải tập trung chú ý vào những sự kiện con người. Tuy nhiên, môi trường vật chất vẫn cần được nghiên cứu trước hết vì nó tạo ra khung cảnh cho hoạt động của con người, nhưng chính nội dung của khung cảnh đó mới là đa dạng, phong phú và quan trọng. Châu thổ cho ta một ấn tượng sâu sắc về sự bằng phẳng bao la; một người đứng tựa lên cái xẻng của mình, một ngọn cây, một tòa nhà trơ trọi in hình trên biển lúa mênh mông, có một giá trị đặc biệt. Hiếm thấy những ngọn đồi phá vỡ khung cảnh bằng phẳng đó. Tuy vậy, đồng bằng này vẫn có địa hình của nó, có tầm quan trọng lớn đối với con người, chênh lệch rất nhỏ về độ cao khiến một vùng tránh được lụt lội hoặc là một vùng khác ngập nước gần quanh năm. Chỉ cần thêm vài tấc là một vùng không trồng được lúa về mùa đông, ở đó các làng mở rộng ra, nhà cửa dựng tản mạn; thiếu đi vài tấc là các làng co lại, nhà cửa chen chúc nhau và không trồng lúa được về mùa mưa. Vậy điều quan trọng hơn hết là địa hình phù sa và không nên quá coi trọng khung cảnh núi non hay vài cao điểm hiếm hoi bằng đá rải rác trên châu thổ. Môi trường vật chất 23 I. KHUNG CẢNH NÚI VÀ ĐỒI CỦA VÙNG CHÂU THỔ Kích thước châu thổ không đến nỗi khiến người ta đứng ở một điểm nào đó trong vùng, vào tiết đẹp trời, mà không nhìn thấy được những đường viền xanh lam của khung cảnh núi non chung quanh. Chính về phía tây-bắc châu thổ, trong vòng nằm giữa Việt Trì và Hà Nội, khung cảnh đó mang một dáng dấp hùng vĩ. Thật vậy, hai dãy núi như hai cái trụ ngự trị cửa ngõ châu thổ: Tam Đảo ở phía bắc (1.420 m) và Ba Vì ở phía nam (1.281 m). A. Vị trí của châu thổ so với vùng núi phía sau Hình 2 Những mối quan hệ giữa châu thổ và vùng núi Phần xám chỉ những diện tích trên 100 m. Tỉ lệ: 1/4.000.000 Như chúng tôi đã nói về ranh giới của châu thổ, khung cảnh của đồng bằng phù sa này rất rõ nét ở phía tây và Đông-bắc; còn ở phía bắc thì đường nét kém dứt khoát hơn ở vùng núi cao. Điều này có thể giải thích được dễ dàng, vì châu thổ Bắc kỳ ở vào đường kéo dài những tuyến thấp của núi non ở phía sau. Nhìn qua bản đồ màu sắc định rõ các độ cao, như bản đồ tỉ lệ 1/1.000.000 của Sở Địa lý, ta thấy rõ cái vịnh sâu mà châu thổ Bắc kỳ lọt vào, 24 PIERRE GOUROU là tiếp tục khu vực ngập nước chung của lưu vực các con sông Hồng, sông Chảy, sông Lô và hạ lưu sông Cầu, và nói cho đúng ra, nó hình thành cái mà người ta gọi là vùng “trung du” (các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ); ở vùng trung du các lưu vực đều rộng, nhiều khi bằng phẳng, giao thông dễ dàng, núi không cao lắm và thường chỉ là những đồi thấp ở đó dãy Tam Đảo là một ngoại lệ lẻ loi. Trong điều kiện đó, ta có thể hiểu được sự chuyển tiếp từ châu thổ sang vùng trung du, tuy rất rõ rệt, nhưng không đột ngột và có một số dạng quá độ là những vùng đá cao. Trái lại, ở phía đông và ở phát triển châu thổ nằm trong khung cảnh của những dãy núi vùng cao kéo dài tới đó, vùng các vòng cung ở phía đông và các dãy núi giữa sông Hồng và sông Đà ở phía tây. Tình hình địa thế này đã có từ rất xưa: châu thổ Bắc kỳ chắc chắn là đã hình thành từ lâu trên những nét đại thể của nó. Thật vậy, nếu như ngày nay, nó nằm trong các tuyến núi thấp kéo dài của vùng núi thì ngay từ cuối thời kỳ tiên tân thế, những vùng trũng bắc – đông-nam này đã có rồi như các trầm tích trung tiên tân thế lắng đọng trong các lòng chảo dọc sông Hồng, sông Chảy và sông Lô chứng tỏ1. Lưu vực sông Hồng là đột biến quan trọng nhất trong xứ Bắc kỳ núi non. Nó rất đặc sắc vì hướng thẳng băng, độ trũng sâu của nó, vì giá trị của nó về mặt ranh giới của các loại địa hình. Trên một chiều dài – đây chỉ nói về Bắc kỳ – là 210 km từ Long Po2 ngay giữa miền núi và cách biển 370 km theo đường chim bay, sông Hồng chỉ ở độ cao 73 m khi nước cao. Sau cùng, lưu vực sông Hồng phân chia rất rõ rệt hai loại địa hình: phía nam là miền núi cao, khó đi vào và ít dân, bao gồm không những khối Fansipan và miền sông Đà mà còn trải rộng, không đứt đoạn tới tận sông Mekong và tới Trấn Ninh; phía bắc trải ra những miền đất thấp hơn mở ngỏ hơn miền trung du, vùng 1 Xem M.Jacob – Nghiên cứu địa chất học ở miền Bắc Trung Kỳ và Bắc kỳ (Bản tin Sở địa chất Đông Dương) tập X, cuốn 1, tr. 194-195. Phần lớn trầm tích ở các lưu vực ngày nay ở những lưu vực không những chạy theo đường thẳng mà còn rất rộng, so với các khe hẹp ngoằn ngoèo của các lưu vực khác; đó là lưu vực sông Hồng trên toàn bộ dòng sông ở Bắc kỳ trên thượng lưu châu thổ, của hạ lưu sông Chảy và một đoạn của sông Lô trên Tuyên Quang, về loại hình, các lưu vực này đối lập với lưu vực sông Mã, sông Đà… Đó là chỉ kể ra những lưu vực chính… khởi thủy, châu thổ Bắc kỳ nguyên là nơi hợp nhất của ba lòng máng… của sông Hồng, hạ lưu sông Chảy và hạ lưu sông Lô. 2 Long Po nằm ở điểm sông Hồng đánh dấu biên giới giữa Bắc kỳ và Vân Nam. Môi trường vật chất 25 các vòng cung, miền đất trũng lớn Cao Bằng – Lạng Sơn – Tiên Yên. Điều quan trọng cần chú ý là toàn bộ châu thổ Bắc kỳ nằm ở phía bắc đường sông Hồng đó. Hình 2 cho thấy rõ vị trí của châu thổ so với khung cảnh miền núi. Hình 3 Mặt cắt của núi Ba Vì 1. Dãy núi Ba Vì, chủ yếu là diệp thạch – 2. Xem porphirit – 3. Xen ryolit – 4. Xen putđinh – 5. Xen nền thạch anh hoặc khoáng thạch anh tan – 6. Đá vôi. – 7. Phù sa cũ – 8. Bồi phù sa mới. Tỉ lệ tương đối: 1/80.000 (theo Jacob) – Những nét đậm và những đường vạch biểu diễn một đường tiếp xúc không bình thường giữa đá vôi hệ anthracolit và đá hệ triat. B. Bìa phía tây Như vậy là bìa phía tây của châu thổ tiếp tục bìa núi non phía tây của lưu vực sông Hồng; nó giới hạn châu thổ một cách hết sức rõ rệt, từ sông Đà ra tới biển. 1. Phía Bắc cho tới Xuân Mai (t. Sơn Quyết, h. Chương Mỹ, Hà Đông) và tới tận thung lũng của con đường Hà Nội – Hòa Bình1. Ở viền châu thổ là những dãy núi quan trọng hình thành núi Yên Mẫn và núi Ba Vì. Đó là những nếp lồi của những diệp thạch kỷ triasic có lẫn đá sạn, rhyôlit và porphirit. Hình cắt núi Ba Vì (hình 3) theo hình cắt của Jacob2 cho thấy rõ cơ cấu đó. Những vùng đất kỷ triasic này đều phủ một lớp đá vôi ouralo – permien bị cuốn đi, ở vùng này còn lại vài hòn núi đá trơ trọi như hòn Đức Bà và những tầng đá 1 M.Jacob gọi thung lũng này là “Đèo Kẽm”. 2 M.Jacob nghiên cứu địa chất học ở phía bắc Trung Kỳ và ở Bắc kỳ (bản tin Sở địa chất Đông Dương, tập X. cuốn 1, tr. 105). 26 PIERRE GOUROU còn lại trong các thung lũng, dải đá vôi này sẽ mở rộng và mang tính liên tục ở phía nam Xuân Mai. Vùng núi này tiếp theo sau một vùng phù sa cổ, dài 60 km và rộng tối đa là 8 km. Nó xuôi thoai thoải từ 45 m xuống khoảng 15 m. Đó là một khối phù sa đất sét – cát rất phân hóa; một lớp đá ong dày hình thành ở độ sâu trung bình 1 m, ở khắp nơi. Đôi khi, đá ong nổi lên gần mặt đất và cho một thứ đất lổn nhổn hạt và đỏ nhạt do những hạt ô-xít sắt hình thành. Vùng đất cao đó có rải rác vài ngọn đồi đá thanh diệp đã bị phân hóa nhiều và những khe kề bên trong sườn dốc đứng, dưới đáy phẳng và rộng đã được biến thành ruộng. Những khe này tất nhiên là do một chu kỳ xói mòn tạo ra, có mức cơ sở thấp hơn mức của chu kỳ tương ứng với các vùng đất cao, nhưng trắc diện ngang đột ngột của chúng có vẻ như gắn liền với sự tồn tại của đá ong. Đá này đóng vai trò của một lớp đá cứng xen kẽ vào các lớp đá nằm ngang mềm hơn và quyết định tính dựng đứng của các sườn dốc1. Vì những nguyên nhân mà chúng tôi không biết có phải tính vật chất hay chỉ là gắn liền với sự quyết định của con người, phía bắc của các vùng cao gần sông Đà là vùng không trồng trọt, bỏ mặc cho một dải thực vật thấp trong đó dương xỉ chiếm ưu thế: nhìn dưới một ánh sáng nào đó, dải đất đó có vẻ như là một cánh đồng xanh, nhưng thực ra gia súc không tìm được thức ăn ở đây; những vùng đất bằng phẳng này không có gì sống động, thực là một phong cảnh buồn tẻ. Những bậc thềm này có rừng, người ta còn thấy ở đấy vài cây to, đặc biệt những cây thông khá đẹp. Trái lại, phía nam Xuân Mai2, dải đất cao trải ra trong vùng Thượng Lâm (t. Viên Nội, p. Mỹ Đức, Hà Đông) và Tuy Lai (t. Tuy Lai, P. Mỹ Đức, Hà Đông) có nhiều đồn điền chè và sắn3. 1 Xem Khảo luận địa lý tự nhiên của De Martonne, t.II, trong.682. 2 Khu vực trung tâm các vùng đất cao ở Sơn Tây có những đồn điền cà phê nhưng đất ở đó rất xấu đối với cà phê. 3 Chính vì một sai lầm mà bản đồ 1/100.000 của Sở địa lý Đông Dương (Sơn Tây, số 48 Đông) chỉ ra rằng mặt đất cao vùng này có rừng. Vả lại, vùng đất cao Sơn Tây kéo dài quá Xuân Mai đặt ra một vấn đề nhỏ: làm sao chúng có thể hình thành được trong khi không có con sông nào lọt được vào vùng này. Thật vậy, phía vùng núi chân trời bị chắn ngang bởi một bức tường vôi, phía bắc Thượng Lâm. Trái lại các con sông bắt nguồn từ các ngọn núi diệp thạch sa thạch có thể tự do trải phù sa lấy ở các chỗ cao. Vài vùng đá cao có vẻ hòa vào các vùng phù sa cũ cao như vùng đất phiến ma nham ở Sơn Tây và Tông. Môi trường vật chất 27 Sông Con hoàn toàn thờ ơ với các vùng đất cao đó; nó tạo ra bên trong các vùng này một thung lũng hơi hẹp, có nhiều khúc cong, rồi chạy trên bề mặt của các phù sa gần đây, rồi lại vào các vùng đất cao, tựa hồ như những vùng này không hề tồn tại. Dĩ nhiên phải thấy đó là một trường hợp “đè lên trên”: trước đây, sông này trong chu kỳ xói mòn trước, chảy trên bề mặt các phù sa cổ. Chu kỳ xói mòn hiện nay đã phá hủy phần lớn các vùng cao cũ và tạo ra những khe trong những mảnh vùng cao còn sót lại, nhưng sông Con không hề thay đổi dòng của nó. 2. Phía Nam Xuân Mai xuất hiện những ngọn núi đá vôi đầu tiên tạo thành bên kia đường cái từ ngã Ba Thá tới một hàng rào liên tục bao châu thổ. Những đá vôi này ouralo-permien hoặc thuộc kỷ triasic1, bao phủ cho tới tận vịnh Nho Quan, sườn phía đông của vũng nếp lồi gồ cao của Cao Phong. Theo các nhà địa chất học, chúng thuộc về một lớp do nước đẩy tới vì hình như chúng nổi trên mặt những vùng đất mới hơn. Sự hiện diện của chúng có một hậu quả không thể tránh khỏi là các vùng phù sa cao cổ biến mất; nước trong suốt từ đá vôi rỉ ra không bao giờ có thể tạo thành những trầm tích. Tiếp xúc giữa châu thổ và cái khung của nó hết sức rõ rệt: ngay từ Đoan Nữ (t. Bột Xuyên, P. Mỹ Đức, Hà Đông) đã có những thửa ruộng ở độ cao dưới 3 m vây quanh những bức tường đá vôi, ở một số điểm những tường này cao hơn 200 m. Do hướng các đột biến địa chất hơi nghiêng so với ranh giới chung của châu thổ nên những thung lũng gần như song hành với đường ranh giới đó đã có thể xuất hiện và tạo ra những nơi có ruộng; đó là những vùng trũng Vĩnh Lãng (t. Tuy Lai, P. Mỹ Đức, Hà Đông) và Hương Tích (đi vào qua địa phận Yên Vĩ, t. Phù Lưu Thượng, p. Mỹ Đức, Hà Đông) (ảnh số 4). Hàng rào đá vôi bị cắt đứt ở phía bắc Hương Tích bởi vịnh Chợ Bến. Ở đây, sông Thanh Hà chảy lờ đờ trong những lòng chảo trũng dưới 2 m. Sức bồi đắp của con sông này rất yếu vì lòng sông nhỏ và nhất là lại được tạo 1 “Người ta ghi nhận nền triasic, trên đó phủ lớp đá vôi, nằm ở vùng phía bắc châu thổ Thanh Hóa, những lớp đá vôi khác, về diện mạo, không bao giờ tách khỏi lớp đá vôi ouralo-permien. Có thể là một bộ phận đá vôi của vùng này được đánh dấu là anthracolitic trên bản đồ, thực tế là triasic” (Ghi chú trên tờ Hà Nội của Bản đồ địa chất Đông Dương, tỉ lệ 1/500.000; Hà Nội, IDEO, 1928). 28 PIERRE GOUROU thành bằng đá vôi. Vịnh Chợ Bến vả chăng không rộng lắm, không thuộc vùng châu thổ, dân ở đó là người Mường. Bên kia vùng Hương Tích rất đẹp, các núi đá vôi mở ra và hình thành một khối lớn, điểm cao nhất là 532 m và có nhiều đường rạch thuộc nếp lõi, ở đó lại xuất hiện những đá diệp thạch nằm ngay bên dưới (ảnh số 5). Sông Đáy tiếp xúc trực tiếp với bức tường đá vôi (ảnh số 2) và về phía Tân Lan (t. Phù Lưu, h. Kim Bảng, Hà Nam) còn thâm nhập một chút vào dãy núi đó. Chính giữa Kẻ Sở (hay Ninh Phú, t. Mỹ Xá, h. Thanh Liêm, Hà Nam) và Đoan Vĩ (t. Mai Cầu, h. Thanh Liêm, Hà Nam) ta thấy phong cảnh cổ điển hoàn chỉnh nhất của khung cảnh phía tây châu thổ Bắc kỳ: những ruộng ngập nước và dòng sông nằm dưới một bức tường đá vôi bị chia xẻ ghê gớm, dựng đứng; trùng trùng điệp điệp những ngọn núi đơn độc này không hề giống những cao nguyên đá vôi châu Âu. Địa hình lồi lõm đó có vẻ rất nặng nề: các ngọn núi không thanh thoát, các khoảng trống ở phía trước đều bị lấp kín bởi những khối đặc của bình diện thứ hai, thứ ba (ảnh số 6). Bên kia dãy núi này mở ra vịnh Nho Quan. Nằm trong phần kéo dài của vùng gồ cao thuộc nếp lõi Cao Phong, nó chiếm khoảng cách giữa hai lớp đá vôi phủ trên những sườn phía đông và phía tây của nếp lõi này. Hai thung lũng, phần nào đơn nghiêng, của sông Bồi và sông Cái quy tụ vào đó1. Trung tâm thung lũng, rất trũng chắc chắn đã bị biển ngập vào một thời kỳ rất gần đây, như cái khe bị đào ở chân các núi đá vôi ngổn ngang vùng chung quanh Nho Quang chứng tỏ. Người Việt Nam sống ở đây không chiếm hết vịnh Nho Quan: phía nam, cuối dãy núi đá vôi Thanh Hóa là người Mường ở. Bên kia vịnh Nho Quan, dãy núi đá vôi này hình thành bìa của châu thổ. Như chúng tôi đã nói, nó bao trùm sườn Tây nam của gò cao Cao Phong và tiếp tục một dải đá vôi rất dài, có lẽ thuộc nếp lớn mà ta theo từ Lai Châu 1 Trong một chu kỳ xói mòn trước, tương ứng với một độ cao hơn hiện nay, vịnh Nho Quan theo Deprat (Nghiên cứu những nếp nhăn và những khu vực bị đè bẹp của trung lưu và hạ lưu sông Đà, Bút ký của Sở địa chất Đông Dương, T.III, q. IV. Hà Nội, IDEO, 1914, tr. 3), có lẽ là chỗ đổ ra của sông Đà đã tiếp tục chảy thẳng xuống Đông Nam qua Suối Rút, theo lưu vực sông Cái, rồi thung lũng nằm giữa dãy núi Thanh Hóa và khối Gia Khánh để đổ ra phía nam Phát Diệm. Chính trong chu kỳ xói mòn hiện nay mà sông Đà có lẽ đã bị kéo vào một chi lưu của sông Hồng. Chúng tôi cho rằng những quan điểm đó hoàn toàn có tính chất giả thiết. Môi trường vật chất 29 xuống. Nó tiếp nối một khối đá vôi thấp hơn và không đồ sộ bằng mà ta có thể gọi là vùng Gia Khánh, ở đó, những ngọn đá vôi dựng đứng nhất, tản mạn trong các chân ruộng rất thấp, hình thành một thứ vịnh Hạ Long trên đất liền. Và thực ra, vào một thời kỳ không xa lắm, chắc chắn nơi đây là một vùng ngập nước biển, vì tất cả các ngọn núi đá đó như các ngọn núi đá ở Nho Quan đều mang dấu vết tác động của sóng biển. Nhưng muốn giải thích sự bồi đắp của vùng này, không cần thiết phải nêu ra một vụ lục địa trồi lên hay biển rút: các ruộng vây quanh chân các ngọn núi đá ở đó vào một độ cao dưới 1 m và có thể vẫn còn bị ngập nước khi thủy triều dâng, nếu như không có những con đê ven biển che chở. Giữa khối Gia Khánh và dãy núi Thanh Hóa xen vào một vùng đá trũng có những đồi diệp thạch và vùng đất phù sa cao, cổ, ở giữa 50 m và 2 m, ở đó lại xuất hiện phong cảnh buồn tẻ của các đồng hoang Sơn Tây. Bên kia chợ Gành (hay Lý Nhân, t. Đàm Khánh, h. Yên Mô, Ninh Bình) núi đá vôi lại một mình nó hình thành ranh giới của châu thổ, dãy núi thấp dần về phía đông nam và chấm dứt bằng vài hòn đá vôi sừng sững trên vùng đất bồi bờ biển Kim Sơn. C. Bìa đông bắc Về bìa đông bắc không có nhận xét gì nhiều. Từ chỗ hợp lưu của sông Thương và sông Lục Nam cho tới biển, châu thổ nằm dưới một dãy núi đá diệp thạch và sa thạch của kỷ triasic và rhetien mà người ta quen gọi là dãy Đông Triều. Dãy núi này cao tới 995 m ở đỉnh Nam Mâu thuộc thời kỳ chuyển đổi của miền Đông Bắc kỳ. Không có những vùng đất cao phù sa cổ hay vùng đá cao dưới chân dãy Đông Triều (ảnh số 7 và số 20). Dãy núi này tiếp theo một loạt những cù lao chơ vơ trong vùng châu thổ, song hành với hướng của dãy núi và gồm có như ta thấy những ngọn núi đá vôi anthra-colithiqua, sườn dốc đứng (ảnh số 8) và những ngọn đồi sườn thoai thoải, chủ yếu là sa thạch thời kỳ devon. Khác với những gì xảy ra ở bìa Tây nam, tất cả các vùng đất này đều ở vào vị trí bình thường; đệ nhị kỷ bao phủ đều đặn đệ nhất kỷ. Các ngọn đồi đệ nhất kỷ của châu thổ tiếp nối nhau trên các hòn đảo của các vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. 30 PIERRE GOUROU D. Các bậc thềm phía bắc Phần lớn vùng đất cao phía bắc thuộc cùng một hệ thống kiến tạo với vòng cung Đông Triều và loạt đảo của nó. Vòng cung Đông Triều tiếp tục theo một đường thẳng tới tận Tam Đảo (hình 1). Nhưng ở đây diệp thạch và sa thạch của tam điệp kỷ từng hình thành những vùng cao rất rộng, tất nhiên là tương ứng với một độ cao cũ của châu thổ – nơi người Việt Nam đã có thể cư trú được. Nếu có một số đất cao vẫn có rừng, nếu một số khác như ở vùng Đức Thắng (t. Đức Thắng, h. Hiệp Hòa, Bắc Giang) chỉ có những đồng cỏ nghèo nàn, thì phần lớn đất rừng ấy đã được canh tác. Ranh giới của châu thổ, bên kia đồng bằng Lục Nam đi theo chân các điểm cao của Bao Đai, theo thung lũng sông Thương, dọc theo các đồi sa thạch của thượng Yên Thế, đi qua phụ cận Thái Nguyên và chạy xuống đại khái theo hướng bắc nam tới chỗ tiếp xúc với dãy Tam Đảo. Khó có thể xác định được thời kỳ chính xác của các đá này hình thành các vùng cao đó; trừ trong những trường hợp rõ rệt của các ngọn đồi được qui vào thời kỳ rhétien. Không do dự gì, ông Patte1 nhà địa chất học duy nhất đã nghiên cứu nghiêm túc vùng này, cho tất cả các vùng đất cao đó cùng một màu sắc trên bản đồ và tuyên bố rằng: “Phía Nam Thái Nguyên nhiều khi không thể nào nói được là ta thấy loại đá gì, diệp thạch hay sa thạch biến chất đá ong; màu sắc của đá hoàn toàn biến đổi vì quá trình đá ong hóa khiến nó khi thì đỏ hồng, khi thì trắng2. Cũng không dễ gì nhận ra được những mức xói mòn khác nhau ở một vùng đá mà cố gắng của con người khi làm các ruộng bậc thang đã có xu hướng hủy bỏ các đất cao”3. Bên kia khối đá riôlít hùng vĩ của ngọn Tam Đảo, các vùng đất cao kém quan trọng hơn. Tuy nhiên, vẫn thấy có những vùng cao trên đá xếp, vốn là diệp thạch thủy tinh thể; ở phía nam một đường chạy từ Liễn Sơn (t. Thượng Đạt, h. Lập Thạch, Vĩnh Yên) tới Bình Sơn (t. Đạo Kỷ, h. Lập Thạch, Vĩnh 1 E. Patte, Nghiên cứu địa chất học ở phía đông Bắc kỳ (Báo cáo Sở địa chất Đông Dương, tập XVI, q. 1, Hà Nội IDEO, 1927). 2 Nt, tr. 247 3 Bản đồ tỉ lệ 1/500.000 của Sở Địa chất rất thiếu, người ta đã bỏ qua không ghi vào đó tất cả các ngọn đồi của Bắc Ninh, ngoài những đồi Đáp Cầu. Môi trường vật chất 31 Yên) trên sông Lô và giữa sông Lô với sông Hồng tức là vùng Cổ Tích (hoặc Tiên Cương, t. Xuân Lũng, p. Lâm Thao, Phú Thọ). E. Đồi của châu thổ Đồi của châu thổ không quan trọng lắm1. Số lớn ở phía bắc và nói chung thuộc vòng cung Tam Đảo, Đông Triều. Chẳng hạn như ở phía bắc sông Cầu, ngọn đồi lớn diệp thạch gọi là “núi 99 ngọn”2. Phía nam sông Cầu ta thấy những dãy đồi chiếm một vị trí lớn trong cảnh quan và nhà ở. Đáng chú ý nhất là dãy “Đồi thông”. Ngọn đồi ở cực Nam của hệ thống đó là đồi Lãng Ngâm (t. Đông Cứu, h. Gia Bình, Bắc Ninh), ở phía nam sông Đuống3. Bên kia sông Thái Bình đồi lại rất nhiều; mặt khác vì ở phần này của phía bắc châu thổ, kênh rạch rất rộng và ngoằn ngoèo, có tác dụng như những rãnh nước biển thực sự cho thủy triều nên chỗ còn lại cho con người rất ít. Nhưng phong cảnh đẹp với những ngọn đồi diệp thạch và sa thạch đó có hình dáng tròn, những đồi đá vôi dựng đứng, những con sông viền những rạng đước (ảnh số 9). Bên sườn hệ thống này có một số đồi chạy từ núi con Voi tới tận bán đảo Đồ Sơn. Người ta không thấy một ngọn đồi nào trong vùng sông mênh mông nằm giữa sông Hồng, sông Đuống và lạch Văn Úc, tất nhiên là ngoài những gò nhỏ ở Lãng Ngâm mà chúng tôi đã nêu4. Đồi chỉ lại xuất hiện ở phía tây sông Hồng: trước hết là một dải nhỏ những điểm cao đồi phiến nam nham, tròn chạy từ Côi Sơn (t. Vân Côi, h. Vụ Bản, Nam Định) tới Yên Lão (t. Hoàng Đạo, h. Duy Tiên, Hà Nam) và đỉnh cao là 54 m ở đồi Đồng Lợi (t. Mỹ Dương, h. Phong Doanh, Nam Định). Xa hơn nữa về phía đông, núi 1 Nt, tr. 108 2 Bản đồ tỉ lệ 1/500.000 của Sở Địa chất rất thiếu, người ta đã bỏ qua không ghi vào đó tất cả các ngọn đồi của Bắc Ninh, ngoài những đồi Đáp Cầu. 3 Người ta nói rằng đồi này mang tên đó chỉ vì một sự nhầm lẫn. Những quan sát họa đồ đầu tiên ở châu thổ đã ghi lại ở chỗ ngọn đồi này vài ngọn đồi (chữ Pháp viết tắt là q.q), chữ vài viết tắt đó đọc nhầm thành 99 ngọn đồi (q.q.sommet s). Xem ảnh chụp từ máy bay (ảnh số 12). 4 Tuy nhiên người ta thấy có ghi trên bản đồ tỉ lệ 1/25.000 (số 43 Quỳnh Côi, nửa tờ Tây), trên tả ngạn sông Đuống, một núi đá vôi. Nhưng thực ra không có ngọn núi đó. 32 PIERRE GOUROU Khê Sơn (139 m) là một dải đá diệp thạch và sa thạch thời kỳ rhetien, rất hẹp, rất dài theo hướng bắc nam; nó kéo dài tới các đồi Đội Sơn (t. Đọi Sơn, h. Duy Tiên, Hà Nam). Cuối cùng cần nêu lên dãy đồi nhỏ ở hữu ngạn sông Đáy, do đó diệp thạch cát mềm và đá vôi hình thành; có thể gắn nó vào vùng Ba Vì và Yên Mẫn. Trái lại các đồi phiến nam nhang ở Nam Định, theo M.Jacob1, thì lại nên để vào hệ thống của đá phiến ma nham vùng Sơn Tây và Vĩnh Yên, Phú Thọ. Những đá này có lẽ thuộc về vùng đất “thềm phía trước” nằm dưới nước biển Đông và chiếm châu thổ Bắc kỳ ở giữa vùng các lớp phía nam và vùng vòng cung Đông Triều. II. ĐỊA HÌNH PHÙ SA Những phù sa mới đây tạo thành châu thổ có độ nghiêng rất ít và những lồi lõm nhỏ nằm giữa độ cao tối đa 15 m so với mực nước biển. Những chênh lệch về độ cao này là không đáng kể trên một vùng 15.000 km2, từ Việt Trì tới biển, chạy dài 160 km, ấn tượng nổi lên nói chung là một sự bằng phẳng tuyệt đối (ảnh số 1, 2, 3). Để nghiên cứu địa hình phù sa này, chúng tôi đã lập một bản đồ có ghi độ cao của vùng châu thổ, tỉ lệ 1/250.000 (phụ bản màu số 1), cho phép có được một ý niệm đúng về những biến đổi độ cao của đất phù sa, những biến đổi cần phải biết, vì chúng chi phối chế độ nước, tính chất canh tác và nơi ở của con người. Nghiên cứu bản đồ này cho thấy một số nét chung mà nét quan trọng nhất, dĩ nhiên là độ nghiêng chung của phù sa, thoai thoải từ Tây bắc xuống Đông nam. Nhưng nét đó là đương nhiên và không cần phải bình luận. Mặt khác, bản đồ đó còn làm nổi bật một điều: sông Hồng với các chi lưu (sông Đáy, sông đào Phủ Lý phía bắc, sông Đuống) là những dòng sông chủ yếu xây dựng nên châu thổ, còn các sông phía đông (Thái Bình, do các sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu tạo thành) không bồi đắp tích cực như thế những vùng chúng chảy qua. 1 Nghiên cứu địa chất học ở phía bắc Trung Kỳ và Bắc kỳ, tr. 181 Môi trường vật chất 33 Mặt cắt qua châu thổ Bắc kỳ (qua Hà Đông, Hà Nội, Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương) Hình 4. Phía tây cao hơn phía đông. Ô ngập úng Chương Mỹ và Mỹ Đức. Giồng ven sông. Các con sông chảy trong mùa lũ cao hơn rất nhiều so với độ cao của đồng bằng. Tỉ lệ theo chiều dài 1/500.000. Tỉ lệ theo chiều cao: 1/500. A. Vùng tây bắc của châu thổ Vùng tây bắc của châu thổ hiện ra trên bản đồ là cao hơn và địa hình trắc trở hơn. Các đường độ cao sít vào với nhau tới mức nhiều khi hình thành những hệ thống rối rắm. Trước hết, ta nhận ra ở đây có một nét chủ yếu, đó là kèm theo các dòng sông là những giồng cao trấn ngự đồng bằng phù sa; những giồng đó rất rộng và có độ cao không quá hai ba mét; tuy nhiên chúng tạo nên hình thế lồi lõm chủ yếu trong cảnh quan và do độ cao khiến chúng tránh được những trận lụt trung bình nên thu hút các làng. Điều đó được thấy rõ trên bản đồ các làng (phụ bản số 3), xem bản đồ đó sẽ làm sáng tỏ công trình nghiên cứu này về độ cao của châu thổ. Không đâu các giồng rõ rệt hơn dọc sông Đáy, ở đây thấy có những giồng ở độ cao 6 m trong khi ngay cạnh có những lòng chảo sâu dưới 2 m (hình 4). Những giồng cao này là kết quả của phù sa bồi nhiều hơn ở bên cạnh sông và vốn là qui tắc chung cho mọi vùng châu thổ. Nhưng một vùng châu thổ tiến hóa bình thường, không giữ lại những đường giồng như thế. Một con lũ lớn dâng lên là sông sẽ vượt qua những hàng rào thấp ấy do chính nó tạo dựng và khi hết lũ sông đã tạo ra một cái lạch thường xuyên đưa nước 34 PIERRE GOUROU sông vào phần đất trũng1, do đó hình thành một sự bồi đắp đều nhau của vùng châu thổ. Sông Hồng đã làm đúng như thế. Khi lòng sông chính được tạo lập trên một cái nền quá rõ rệt, mang theo trên bề mặt dòng chảy khi nước dâng cao, thì hình thành những chi lưu tháo nước. Nhưng như bản đồ cho thấy, chắc chắn đã có những chi lưu khác hoặc những lòng sông khác, toàn bộ vùng nằm giữa Vĩnh Yên và sông Hồng còn giữ dấu vết của những lòng sông cũ; ở góc do sông Đuống và sông Hồng hình thành còn thấy nhiều vạt sông cũ đổ vào lạch Kẻ Sặt ngày nay; lòng sông ở cực Bắc chấm dứt ở vùng Vĩnh Lại (t. Vĩnh Lại, h. Cẩm Giàng, Hải Dương). Khả năng của một chi lưu tháo nước của sông Hồng trong việc hình thành rất nhanh chóng những giồng nổi lên rõ rệt trên hình số 5, do một chi lưu rút nước sông Hồng dựng lên, tuy nó chỉ hoạt động vào mùa lũ 1860 đến 1880. Nhưng từ lâu đời, con sông không còn được tự do đổi dòng nữa, các con đê buộc nó phải nằm lại trong lòng sông khi nước cao của nó. Và trong suốt thời kỳ lịch sử do hiệu lực thất thường của chúng, các đê đã góp phần tăng cường thêm các giồng. (xem hình 5 – trang sau). Thật vậy, trong thời kỳ dài hơn một nghìn năm, hình như chấm dứt vào năm 1926, sông Hồng và các chi lưu rút nước của nó thường hay phá vỡ những con đê mỏng manh và được coi sóc tồi mà người ta tưởng có thể dùng để chặn nước các con sông đó. Do đó, chúng bồi nhiều phù sa lên các vùng gần sông; nhưng đến mùa khô tiếp theo mùa lũ, người ta lại đắp lại đê và ngăn sông không cho tạo ra được một chi lưu rút nước thường xuyên bằng chỗ nó đã phá ra. Vậy là nó không thể đưa được phù sa của nó đi xa bờ. Từ 1927, hình như con sông đã bị khuất phục và các giồng không còn tăng lên nữa. Không còn thấy hình thành những mô đất hình chóp bẹt mà đường phát sinh được làm nổi rõ vì những mặt nước kéo dài, mà ngày nay còn chỉ rõ những chỗ vỡ cũ. Hình 6 cho thấy thí dụ đặc trưng nhất của kiểu địa hình này mà có lẽ kiểu địa hình đó sẽ không bao giờ còn hình thành nữa. 1 Kinh nghiệm gần đây của Bãi Sậy, một vùng ở phía bắc Hưng Yên bị vỡ đê và lụt tàn phá giữa 1860 và 1885 lại cho thấy rằng sông Hồng tạo ra một lạch thường xuyên mới rất chậm. Khi nó phá vỡ đê Phù Liệt (t. Phụng Công, h. Văn Giang, Bắc Ninh), con sông đã đào rất nhiều lạch theo hướng đông. Nhưng khi hết lũ, nó lại trở về lòng sông của nó và mọi liên lạc với các chi lưu mới đã bị cắt đứt (hình 5). Môi trường vật chất 35 Hình 5 Giồng vùng Bãi Sậy Hình thành trong vòng một vài năm từ một chi lưu của sông Hồng chỉ hoạt động trong mùa lũ. Gần Lại Trạch (t. Hòa Bình, h. Yên Mỹ, Hưng Yên). Hình 6 Chóp nón phù sa Vạn Điểm (t. Vạn Điểm, p. Thường Tín, Hà Đông) tỉ lệ: 1/100.000. 36 PIERRE GOUROU Những giồng đó có thể tạo ra những ô ngăn tự nhiên; ô ngăn Hà Đông rất rõ trên bản đồ độ cao của chúng tôi bị bịt kín tứ phía bởi các giồng của sông Hồng, kênh đào Phủ Lý và sông Đáy. Vậy đó là một vùng không thoát được nước khi các con sông quanh nó dâng lũ. B. Phía đông châu thổ Phía Đông châu thổ đối lập hết sức rõ rệt với vùng Tây bắc: bản đồ độ cao làm nổi bật hai tính chất riêng biệt của vùng phía đông, đó là độ cao chung rất thấp và dáng vẻ mới của đường nước chảy ở thung lũng. Vùng này rất thấp, ta thấy có những độ cao dưới 2 m ở phía bắc Bắc Ninh, ở đồng bằng trải dài dưới chân núi, ở ngọn và trên hai bờ sông Cầu; đó là lòng chảo Trung Đồng (t. Hoàng Mai, h. Việt Yên, Bắc Giang) những độ cao dưới hai mét lên tới tâm Phủ Lạng Thương. Toàn thể vùng nằm giữa 99 ngọn đồi và những điểm cao đầu tiên của Đông Triều rất trũng, vùng trũng này hẹp lại ở phía nam giữa những giồng của sông Đuống và các đồi của Phả Lại. Tình hình này giải thích có những vùng ở đây bị lụt lội đe dọa nghiêm trọng (ảnh số 7 và ảnh số 11). Nếu sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu cùng dâng nước thì các lòng chảo trũng bị ngập và nước sẽ chỉ rút từ từ, nhất là nước sông Đuống cũng có thể dâng lên vì lũ và do lực lượng và tốc độ của nó, sẽ ngăn trở việc rút nước của ba con sông phía bắc. Địa thế vùng này được giải thích bởi khả năng bồi đắp yếu của những con sông có nước khá trong. Phía Nam “eo” Phả Lại, đất cũng rất thấp và phần lớn vùng châu thổ phía đông ở độ cao dưới 1 m, nhưng không có trở ngại nào chống lại nước chảy và nước trút đi theo rất nhiều những con lạch rộng và vùng này ít sợ lụt lội hơn. Tính chất nữa của vùng phía đông châu thổ là các con sông chảy trong những lưu vực hơi trũng so với độ cao chung. Trong khi ở phía tây, chúng ngoằn ngoèo trên một nền cao thì ở đây bờ sông là những khu đất thấp nhất vùng. Sự nghèo nàn về phù sa và hình dạng của bản đồ thậm chí còn cho thấy các sông đã đào địa vực của chúng trong một vùng đất mà độ cao ở giữa 1 m và 2 m. Vùng này có ít đê và không tiến hóa, nếu vùng châu thổ phía tây tê liệt trong sự tiến hóa của nó vì những con đê cản trở sông không lan tràn ra được và bồi đắp những chỗ trũng, tạo ra những giồng mới, thì châu thổ phía đông phải coi như là một vùng châu thổ chết. Môi trường vật chất 37 Cần nhận ra rằng, ngay ở chính phía tây Hải Dương, tức là giữa vùng phía đông và vùng phía tây của châu thổ có một khối đất khá cao, nằm trên hai mét và được chia ra bởi những con lạch có lưu vực tương đối thấp. Những vùng đất cao này có những phù sa khá lâu đời và hình thành một vùng đất nghèo nàn, dân cư thưa thớt hơn các vùng chung quanh. Những vùng đất cao đó chiếm một phần các phủ huyện Cẩm Giàng và Bình Giang (Hải Dương). C. Vùng đất thấp phía tây Ở phía tây châu thổ, có những vùng đất thấp, không thấp hơn độ cao của các vùng đất phía đông châu thổ nhưng do không dễ thoát nước nên có vẻ là những lòng chảo ngập nước. So sánh bản đồ độ cao và bản đồ đồng ruộng (hình 114) là rất bổ ích về mặt này: trên hữu ngạn sông Hồng, tất cả những gì là ruộng lúa chiêm, đều tương ứng với những lòng chảo ngập nước sâu vào mùa mưa nên không trồng trọt được. Tình hình đó là do ở phía tây châu thổ như ta đã thấy, các sông có những giồng chạy dọc cho tới tận vùng bờ biển, còn ở phần phía đông thì suốt dọc các dòng sông đều không có: những giồng của sông Hồng biến mất ở vùng Hành Thiện (t. Hành Thiện, p. Xuân Trường, Nam Định) và cửa sông Đáy thì chỉ chấm dứt ở vùng Phụng Công (t. Bồng Hải, p. Yên Khánh, Ninh Bình). Lòng chảo đầu tiên và quan trọng nhất là ô ngăn đã nêu của Hà Đông, tụt xuống dưới 1 m ở phần phía nam của nó. Nhưng những vùng đất nằm giữa sông Đáy và viền núi non cũng không thoát được nước một cách dễ dàng: ô ngăn Chương Mỹ bị ngập nước suốt mùa hè; cả vùng đất phù sa của Mỹ Đức và vịnh Chợ Bến cũng vậy. Phía Nam kênh đào Bắc Phủ Lý có một ô ngăn tự nhiên rất rõ rệt ở Lý Nhân (Hà Nam), được định ranh giới bằng các giồng ở sông Hồng và của hai con sông đào của Phủ Lý. Mặt khác, có một khu vực rất trũng ở phía bắc một đường chạy từ Nam Định đến Ninh Bình: các vùng Bình Lục và Thanh Liêm (Hà Nam), Mỹ Lộc, Vụ Bản và Ý Yên có tính chất lòng chảo ngập nước không những là do các giồng của các con sông viền quanh và độ cao rất thấp của chúng thường dưới 1 m, mà còn đặc biệt vì ở rìa phía nam của chúng là một khối dày và cấu kết những cồn ven biển ngăn cản nước thoát đi. Vịnh Nho Quan cũng thuộc hệ thống này. Hình như rõ ràng là các vùng thấp nằm giữa các cồn ven biển và sông đào Phủ Lý đã 38 PIERRE GOUROU hình thành một cái đầm nước mặn xưa kia, điều đó phù hợp với những vết xói mòn do nước biển, tương ứng với độ cao hiện nay mà chúng tôi đã nhận thấy trên đá vôi của dãy núi Gia Khánh (Ninh Bình). Những vùng nước lặng này được che chở sau một hàng rào bờ biển cao, thoạt tiên đã được bồi đắp bằng phù sa sông Hồng, kênh đào Phủ Lý phía nam sông Đáy. Nhưng khi các các con sông đẩy các giồng của chúng tìm được lối thoát trực tiếp ra biển thì vùng này không được bồi đắp nữa và trở thành một vùng trũng nằm dưới mức nước thủy triều dâng cao. D. Vùng bờ biển Vùng bờ biển chủ yếu là tàn dư của những cồn ven biển cũ, ít ra thì chúng cũng cho phép ta xác định ranh giới phía nội địa của cái mà ta gọi là vùng bờ biển. Hình số 7 cho phép thấy ở vùng này cái gì thuộc các cồn ven biển và cái gì thuộc đất bồi ở biển không có chỗ nào lồi lõm. Bản đồ độ cao phụ bản của chúng tôi không đủ để nghiên cứu các cồn ven biển. Thật vậy, nó chỉ ghi lại những cồn quan trọng nhất, những cồn cao dưới 1 m không xuất hiện trên bản đồ tỉ lệ 1/25.000 của Sở Địa lý và chúng tôi đã không thể xem xét được; nhưng chúng lại rất rõ trên bản đồ phụ bản về các làng (phụ bản số 3), vì chỗ đó cao và đất khô, các cồn ven biển đó là những địa điểm thuận lợi cho người ở. Như vậy cũng nên nghiên cứu các cồn ven biển đó trên bản đồ các làng, sẽ có lợi hơn. Các cồn ven biển ở phía bắc châu thổ không quan trọng lắm, càng đi về phía nam thì lại càng phát triển. Chúng phát triển nhất giữa sông Trà Lý và sông Hồng, ở đó đạt tới một độ dày 30 km. Chúng có hình dạng những dải cát hẹp, kéo dài, có độ cao tương đối khoảng 1 m. Giữa những dải đất nổi cao như thế, có những thung hẹp, có khi rộng tới vài trăm mét. Những cồn ven biển này xuất hiện trên bản đồ như là đã được hình thành từ phía bắc, do tác động của một dòng nước vận chuyển về phía nam những phù sa bắt đầu đọng lại ở một điểm cố định nằm ở phía bắc và lắng thành những dải đất kéo dài về phía nam nhưng chệch sang hướng tây nam. Điều đó hết sức rõ rệt trên bản đồ các làng, đối với các cồn ven biển các tổng Bích Du (h. Thụy Anh, Thái Bình) và Lễ Thần (p. Thái Ninh, nt). Môi trường vật chất 39 Hình 7 Duyên hải châu thổ Bắc kỳ 1. Những dải đất ven biển 2. Vùng đất bằng phẳng (những bãi bồi ven biển) 3. Ranh giới của những dải đất ven biển. Tỉ lệ 1/570.000 Quá trình hình thành những cồn ven biển đã được mô tả rất rõ1 và những quan sát của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với các quan sát đã được tiến hành ở Thanh Hóa; một đụn cát cao hình thành tự nhiên, trên các bờ biển đáy bằng phẳng đó, ở chỗ phân sóng; đụn cát đó nổi lên khi thủy triều rút, gió đem cát lại và dần dần nó chỉ ngập nước khi thủy triều dâng rất cao mà thôi; một đám lau sậy mọc lên ở đó. Những đụn cát hình thành và địa hình được tạo ra như thế, cuối cùng đã vượt lên trên mực nước thủy triều cao nhất; các đụn cát luôn luôn hoạt động nghĩa là những đụn ở ngay mép nước và nhận được cát mới, đã đạt tới độ cao tối đa là 7-8 m, ảnh số 9 cho thấy một loại cồn ven biển đang hình thành. Cồn cát không cao lắm vì nhiều lý do: một phần lớn thời gian trong năm, gió lục địa thổi liên tục (gió mùa đông) làm cạn nguồn bổ sung cát, vả lại phía trước một cồn cát đã hình thành, nhanh chóng xuất hiện một nếp mới đoạt tất cả cát lấy ra từ bãi biển. Thực vật tự nhiên (cỏ cao, bụi rậm, cây có 1 Xem Robequain, Xứ Thanh Hóa (xuất bản phẩm của EFEO, 1929, t.II, tr. 265) 40 PIERRE GOUROU rễ ngang) nhanh chóng biến cồn cát thành một cồn cát chết và con người nhanh chóng đưa nó vào trồng trọt. Nhưng không phải cồn ven biển tạo ra toàn bộ bờ biển. Có những vùng bờ biển là những miền đất bằng phẳng chỉ ngập nước khi thủy triều dâng cao nhất và gồm bùn đất, chứ không phải chỉ có cát. Đó là những vùng đất bồi của biển mà con người ra sức đưa vào canh tác bằng cách đắp đê ngăn nước mặn. Bản đồ số 7 cho thấy rõ các khu vực, ở đó các cồn ven biển không hình thành bờ biển: ở phía nam của sông Hồng và trong các vùng Mễ Lâm (giữa sông Bạch Giang và sông Đáy) và Kim Sơn. Khu vực cồn ven biển cũng có những đầm ở phía trong. Hình số 7 cho thấy phía sau cồn ven biển hình thành bờ biển hiện nay từ Mễ Lâm tới Quất Lâm (t. Quất Hình 8 Sự tiến triển của lục địa vùng Ninh Bình . 1. Bãi bồi ven biển lộ ra ngay khi thủy triều cao và chỉ lúc thủy triều cao nhất mới bị ngập. 2. Núi đá vôi. Tỉ lệ 1/250.000 Lâm, p. Xuân Trường, Nam Định) trải dài một vùng rộng đất phẳng và rất thấp (từ 0,50 m đến 0,70 m). Một phần vùng đó là ruộng, chỉ trồng được lúa chiêm tháng năm, điều đó xác nhận tính chất trũng của vùng này. Vùng này là thế nào. Có phải con người chiếm lĩnh nó, dần dần theo kỹ thuật nó đã được sử dụng trong việc khai khẩn các vùng đất bồi của biển hay là con người đã đợi cho hàng rào hùng mạnh của các cồn ven biển từ Mễ Lâm đến Quất Lâm được củng cổ rồi mới cư trú ở đó? Đó là những vấn đề tế nhị, câu trả lời chỉ có thể do lịch sử đem lại. Chúng tôi sẽ cố gắng đem lại vài ánh sáng cho các vấn đề này bằng cách nghiên cứu lịch sử di dân và khai khẩn. Môi trường vật chất 41 E. Sự tiến hóa hiện nay của bờ biển Người ta biết khá rõ về sự tiến hóa của các bờ biển ở miền cực nam của châu thổ, từ một thế kỷ nay1 Năm 1830, thị trấn Phát Diệm (t. Tự Tân, h. Kim Sơn, Ninh Bình) nằm sát bờ biển vào lúc Nguyễn Công Trứ thực hiện công cuộc khẩn điền của ông. Từ đó trở đi, đất liền nhanh chóng lấn ra biển. Ngày nay, bờ biển vững chãi đã cách Phát Diệm 11 km, theo những quan sát được tiến hành năm 1934. Các bản đồ của Sở Địa lý không còn cập nhật nữa; so với bản in tháng 6/1927 của bản đồ tỉ lệ 1/25.000, đất hoàn toàn rút hết nước đã tiến được 1.500 m. Mặt khác, phía trước bờ biển trải ra những vùng đường bồi của biển rộng mênh mông, không còn ngập nước nữa vào những con triều dâng rất cao và có thể đắp đê được. Theo những tài liệu mà đức giám mục Marcou, giám mục địa phận cho chúng tôi biết về vấn đề này, thì đất bồi ở biển đó đã tới ngang vĩ tuyến hòn Nê – một hòn đảo đá ở ngoài khơi tỉnh Thanh Hóa – và trải ra cách bờ biển tới 7 km ở phía nam châu thổ, như vậy là đất liền tiến ra rất nhanh: từ 1830, trung bình cứ 10 năm tiến được 1 km, nếu những đất bồi mới ở biển được ngăn đê thì những bước tiến đó sẽ là cứ 10 năm 1,5 km. Hình số 8 tóm tắt những chỉ dẫn đó. Bờ biển năm 1830 là bờ biển có đê của Nguyễn Công Trứ, bờ biển 1899 là do một bản đồ được giữ ở Sở lưu trữ Trung ương2 cung cấp cho chúng ta, bờ biển năm 1927 là bờ biển của các bản in năm đó của các bản đồ tỉ lệ 1/25.000 và 1/100.000 của Sở Địa lý, bờ biển 1934 và các đất bồi chưa đắp đê đã được vạch ra theo các bản đồ vẽ tại chỗ của dân vùng này cho giáo hội Phát Diệm. Việc nghiên cứu các bờ biển khác cho ta bằng chứng về những bước tiến kém rõ rệt hơn. Gần Kim Sơn, trong phủ Nghĩa Hưng thuộc Nam Định, còn nhận thấy những bước tiến đáng chú ý: một bản đồ năm 18993 Phát Diệm 1 Và cũng không nên cho rằng lịch sử này là rất rõ ràng. Lẽ ra cần xác lập một cách khá chính xác, sai lệch vài năm thôi, thời điểm thành lập tất cả các làng ở vùng duyên hải (tức là vùng mà chúng tôi đặt tên như vậy trong khi nghiên cứu về địa hình phù sa) ít ra là của Nam Định và Thái Bình. Nhưng tài liệu có thể sử dụng được về vấn đề này lại ở ngoài tầm tay chúng tôi. Thí dụ, lịch sử cư trú ở huyện Hải Hậu (Nam Định), tuy không phải đã có từ lâu lắm, vẫn chưa ai làm. 2 Sở lưu trữ Trung ương, RST, số 1.555.27 3 Sở lưu trữ Trung ương, RST, số 1.555.32 42 PIERRE GOUROU thấy rằng từ 35 năm nay biển đã lùi xa 3,5 km. Nhưng bên kia sông Lạch Giang, các bản đồ mà chúng tôi đã tham khảo không cho phép kết luận là có những bước tiến lớn của lục địa. Từ sông Lạch Giang đến Quất lâm không có một sự thay đổi nào trong 35 năm1, và thậm chí trong vùng Văn Lý (t. Tân Khai, h. Hải Hậu, Nam Định) người ta còn thấy lục địa lùi lại2. Bên kia Quất Lâm so sánh các bản đồ trắc địa năm 1895 với các bờ biển hiện nay làm lộ rõ những bước tiến nhỏ trong những đất bồi rộng mênh mông trải ra trước các địa phận nằm giữa Kiên Hành (t. Quất Lâm, p. Xuân Trường, Nam Định) và Quất Lâm. Phía Bắc Kiên Hành cho tới cửa sông Hồng (cửa Ba Lạt) lục địa đã tiến gần 1 km từ 18953. Bên kia sông Hồng, một bản đồ năm 19014 cho phép nhận thấy biển đã lùi gần hai cây số, các làng Hợp Châu (t. Đông Thành, h. Tiền Hải, Thái Bình) và Đồng Lạc (nt, nt, nt) đã được tạo lập. Cần chú ý rằng đây là một vùng những cồn ven biển chứ không phải đất bằng. Một vịnh đất bồi ở biển gần đây đã có người đến ở giữa cồn ven biển và cửa Ba Lạt. Ngoài khơi cửa Ba Lạt, một bãi bồi ở biển rộng mênh mông đã gần như hoàn toàn rút hết nước: nó được trình bày trên bản đồ độ cao của chúng tôi (phụ bản) nhưng chưa có người ở. Phía Bắc sông Lân là vùng khẩn điền của Tiền Hải đã hình thành, cũng như Kim Sơn, theo lệnh của Nguyễn Công Trứ năm 1830. Hoàn cảnh cũng y như ở Ninh Bình, những tiến bộ của đất liền kém hơn nhiều. Từ 1830 chỉ có được một dải đất hình tam giác rộng tối đa là 2 km lấn ra biển, vả lại nó còn được một dãy cồn cát tự nhiên che chở5. Qua sông Trà Lý, tiến bộ của đất liền lấn ra biển trở nên bấp bênh và bờ biển hình như đã được cố định từ lâu 1 Sở lưu trữ Trung ương, RST, số 1.555.29 2 Một làng của t. Tân Khai hình như đã bị biển phá hủy và dân làng phải trú trên địa phận Xuân Hà (cùng tổng đó) 3 Tổng Lạc Thiện (p. Xuân Trường, Nam Định) được thành lập năm 1860. Dân cư ít, làng xóm rời rạc và vẫn còn giữ liên hệ với các làng trong nội địa. 4 Sở lưu trữ Trung ương, RST, số 1.556-60 5 Một bản đồ năm 1901 (Sở lưu trữ Trung ương, RST, số 1556-61) không cho thấy có nhiều tiến bộ trong 30 năm. Làng ven biển Đồng Châu tổng Tân Phong (h. Tiền Hải, Thái Bình) không được ghi vào bản đồ 1901 và có thể là chưa tồn tại khi ấy. Môi trường vật chất 43 rồi: một ý đồ chiếm lĩnh đất bồi ở biển phía bắc sông Trà Lý (p. Thái Ninh, Thái Bình) đã thất bại, biển đã phá hủy con đê người ta đắp lên. Những cố gắng đắp đê của làng Đông Tác (t. Đại Lộc, p. Kiến Thụy, Kiến An) cũng uổng công vô ích; những ngọn triều do bão gây ra những năm 1928 và 1929 đã phá hủy những con đê của dân đắp. Bờ biển bán đảo Đồ Sơn bị biển gặm mòn và ở vùng này, lục địa không có dấu hiệu lấn ra biển. Những biệt thự xây cất giữa đường cái và biển buộc phải tự vệ chống lại sóng vỗ và một số đã bị phá hủy. Phía Bắc bán đảo Đồ Sơn, đất liền chỉ tiến một cách rất chậm chạp. Ta thấy ở đó có “đê nhà Mạc”; nếu đúng là của nhà Mạc thì nó phải có từ thế kỷ XVI1. Đại để theo hướng nam bắc, nó cắt ngang con đường ngày nay đi từ Kiến An ra Đồ Sơn ở Tiểu Tra (t. Tiểu Tra, p. Kiến Thuy, Kiến An). Vậy mà đất nằm giữa con đê này và biển (các tổng hiện nay: Tư Sinh và Tư Thủy, Kiến An) vẫn chưa rút hết nước và đất vẫn còn mặn. Việc xây dựng con đường trên đê từ Hải Phòng ra Đồ Sơn từ năm 1898 vẫn chưa đảm bảo được việc khai khẩn hoàn toàn vùng đất này vốn vẫn thưa dân như ta thấy trên bản đồ mật độ dân số2. Phía trước con đê từ Hải Phòng ra Đồ Sơn, biển không được bồi đắp và ta chỉ thấy có một dải đất viền khá hẹp đầy sú vẹt mọc. Bên kia Hải Phòng đến ranh giới tận cùng của châu thổ, bờ biển hình như đã được cố định từ lâu: những con sông rộng lớn ở đó luồng thủy triều át cả dòng chảy của nước ngọt, bãi biển phủ kín sú vẹt, lục địa không tiến mà cũng không lùi; đất bồi ở biển hình như dễ chinh phục: ta thấy trong khắp vùng Thủy Nguyên những bãi đất rộng trải ra khi thủy triều xuống và một số ngọn đồi có vị trí thuận tiện có thể cho phép xây dựng những con đê ngắn và ít tốn kém (hình 9), bảo vệ chống lại những thủy triều cao. Tuy nhiên, con 1 Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê và giành quyền bính, ông quê ở Cổ Trai (t. Cổ Trai, p. Kiến Thụy, Kiến An) điều đó giải thích tại sao ông đặc biệt quan tâm đến vùng này của châu thổ và xây dựng một con đê ở đó. 2 Những tổng này mang các số 12 và 13 trên bản đồ mật độ dân số (phụ bản số 2). Chỉ tới năm 1920 mới lập ra chia làng của các tổng có (Đồ Hải và Đồ Sơn được gắn vào Tư Thủy, tất nhiên là đã tồn tại từ trước rồi). Người ta cấp cho mỗi người có tên trong sổ 10 mẫu ruộng, và lập ra những đất công. Nhưng các chủ đất đã không khai thác được đất đai của họ nữa, lụt nước mặn đã phá hoại thu hoạch và họ đã bán rẻ (3 đồng 1 mẫu) đất cho những người Việt Nam giàu có ở Hải Phòng. 44 PIERRE GOUROU người không vội vã chiếm lĩnh những đất đó: có lẽ vì “sức ép dân số” ở đây không mạnh bằng ở Nam Định và Thái Bình. Nhưng thật ra, những đất này không có sa bồi gì cả, vẫn còn rất thấp và ở vùng này, các con lạch suốt ngày và mọi mùa, đều chỉ có nước mặn; trong hoàn cảnh đó, người ta phải ngại nước mặn thẩm lậu và mặt khác, việc tẩy mặn các đất đó bằng nước ngọt sông không thể thực hiện được; muốn loại trừ muối thấm vào các đất này, người ta chỉ trông cậy được vào nước mưa, mà nước mưa thì không đủ cho công việc đó. Trái lại, tại vùng đất bồi ở biển phía nam, dân chúng có nhiều nguồn nước ngọt có thể sử dụng được dễ dàng. Tình trạng không có nguồn nước ngọt của các sông cũng là một trong những nguyên nhân thất bại của công cuộc khẩn điền ở các tổng Tư Thủy và Tư Sinh. Tóm lại, hiện nay, châu thổ tiến rất rõ rệt ra biển ở phần phía nam của nó. Phía Bắc sông Lạch Giang, tiến không nhiều, ở phía bắc sông Trà Lý, tiến rất ít, phía bắc sông Thái Bình, hoàn toàn không có tiến bộ gì. Tình trạng đó được cắt nghĩa trước hết bởi thực tế là phần lớn phù sa sông Hồng1 - hầu như con sông duy nhất vận chuyển những khối phù sa rất lớn – đổ ra biển qua sông Trà Lý, sông Hồng, sông Lạch Giang, sông Đáy, Phù sa sông Hồng chuyển sang sông Đuống và sông Luộc một phần lớn chắc được chuyển xuống phía nam vì cột luồng nước ven biển có thể có hướng bắc nam2. Những đặc điểm chung của địa hình châu thổ bây giờ đã rõ. Trên phần lớn diện tích của nó, châu thổ ở vào độ cao dưới 2 m, tức là thủy triều cao 2 m trên độ không của bản đồ tỉ lệ 1/25.000 của Sở Địa lý, sẽ tràn ngập phần lớn châu thổ, tất cả các vùng tô màu lục nhạt và lục thẫm trên bản đồ độ cao ở phụ bản, nếu nước không bị ngăn lại nhờ có một hệ thống đê sông và đê biển3; nhưng châu thổ không có những vùng đất ở dưới mặt biển được chỉ ra bởi độ không của các bản đồ. Địa hình của châu thổ không cân xứng một cách rõ rệt: phía tây cao hơn phía đông và nếu ở phía tây có những vùng đất 1 Xem khối lượng sa sông Hồng đổ vào biển ở dưới. 2 Nói chung đúng ra, chúng tôi không biết các luồng nước biển dọc bờ biển của châu thổ theo hướng nào. Căn cứ theo hình thái các cồn ven biển và vị trí các vùng sa bồi, chúng tôi nghĩ rằng chỉ có thể là một luồng Bắc Nam. Vấn đề này không được đề cập đến trong ghi chú của Chevey và Capton (Các luồng nước của biển Đông và quan hệ của chúng với khí hậu của Đông Dương, Viện Hải dương học Nha Trang, 1934). 3 Xem ở dưới, hình 12, bản đồ về đê. Môi trường vật chất 45 ngập nước thì đó là vì các giồng ven sông và do độ lũ sông rất cao ở giữa các đê; chính cũng ở phía tây mà châu thổ tiếp tục tăng lên, còn ở phía đông thì đó là một hình thái đã chín muồi, nếu không phải là già cỗi. Địa hình châu thổ đã tê liệt trong tiến hóa của nó. Sự can thiệp của con người đã ngăn sông Hồng san bằng địa hình châu thổ; đặc biệt sự can thiệp đó đã không để cho con sông đưa về phía đông, nơi có những chỗ rất trũng hút nó, một phần nước ngày càng lớn, cộng thêm vào các sông Cà Lồ, sông Đuống, sông Luộc và nhiều chi lưu khác; những vụ vỡ đê đã sản sinh ra bãi sậy là bổ ích về mặt này: chúng cho thấy con sông đang trong quá trình tự tạo ra một chi lưu mới ở phía đông, và đã bị con người ngăn lại. Đông Bắc châu thổ Bắc kỳ. Hình 9 Kênh rạch rộng, bãi sú vẹt ngăn không bị bồi. 1. Giới hạn của núi – 2. Đồi trong châu thổ – 3. Bãi sú vẹt – 4. Đất có người sinh sống. Tỉ lệ: 1/250.000 46 PIERRE GOUROU III. SỰ TIẾN HÓA CỦA ĐỊA HÌNH CHÂU THỔ A. Những dữ liệu của lịch sử Có ít dữ liệu về lịch sử hình thành vùng châu thổ và không thể nào vạch ra được những đường bờ biển cũ1. Không có một tiến bộ nào trong sự hiểu biết về địa lý hình thể cũ của vùng này, từ thời ông Henri Maspero viết trong công trình nghiên cứu xuất sắc về An Nam đô hộ phủ dưới đời Đường2”. Tôi cố ý để sang một bên vấn đề biến đổi của bờ biển, vì không tìm được một tài liệu nào trước thế kỷ XV. Nhưng tôi thấy hình như chắc chắn là ở đây cũng vậy3, không nên phóng đại những biến đổi có thể xảy ra. Không thể lấy các con tính về sự phát triển thêm của các vùng đất huyện Kim Sơn hay Tiền Hải để làm con số trung bình được, vì ở đó, từ khoảng một thế kỷ nay, sự can thiệp thường xuyên của con người đã luôn luôn biến đổi những điều kiện thiên nhiên. Đường bờ biển như ta có thể dựng lại cho đến thế kỷ XV không khác gì bờ biển của đầu thế kỷ XIX, trước những công trình lớn của Nguyễn Công Trứ và ở một số điểm, nó hoàn toàn giống với đường bờ biển ngày nay. Không có lý do gì để giả định rằng ở thời kỳ lịch sử, phần dưới của châu thổ đã có lúc hình thành một cái vịnh, cũng như người ta thường nói rằng Hà Nội hoặc Hưng Yên cũng nằm ở ven biển”. Ý kiến của nhà bác học Trung Hoa học cần được chấp nhận như là có tính quyết định dứt khoát. Từ khi bài đó được viết ra, không hề có công trình xuất bản nào đem lại một ánh sáng mới về vấn đề này. Rõ ràng là nếu ở thời kỳ lịch sử, có những thuyền đi biển của Trung Quốc hoặc châu Âu có thể đi ngược lên Hưng Yên hoặc tới tận Hà Nội, thì đó là vì các thuyền đó nhỏ và có thể đi trên dòng nước nông của sông Hồng. Cũng chắc chắn như vậy là ta không thể đưa vào quá khứ tốc độ đất tăng thêm hiện nay ở Ninh Bình; nếu tốc độ tiến cứ mỗi thế kỷ là 10 km là quy luật, thì Hà Nội cách bờ biển 108 km theo đường chim bay, có lẽ đã nằm ở bờ vịnh Bắc kỳ cách đây 1 Xem nghiên cứu về các nguồn lịch sử di dân ở châu thổ phía dưới. 2 BEFEO, tháng 10 – tháng 12/1910, tr. 680, ghi chú 6. 3 Tác giả dùng “ở đây cũng vậy” là muốn ám chỉ đến hệ thống thủy lợi mà ông viết trong sách rằng hệ thống này không có sửa đổi gì quan trọng trong lịch sử. Môi trường vật chất 47 12 thế kỷ. Như ta thấy, ngày nay, toàn bộ sức tăng trưởng của châu thổ tập trung vào một vùng hẹp nằm giữa sông Lạch Giang và ranh giới tỉnh Thanh Hóa; nhưng nếu phù sa tích tụ ở Kim Sơn được trải ra khắp bờ biển, từ Đồ Sơn đến Thanh Hóa thì lục địa cũng sẽ chỉ lấn ra biển một cách chậm chạp1. Tuy nhiên, không nên khuếch đại phần của con người trong những tiến bộ đã diễn ra ở Kim Sơn. Con người đã củng cố những gì do thiên nhiên chuẩn bị; người ta thấy rằng ngày nay thiên nhiên đã tạo những đất bồi rất rộng ở biển, ở phía trước những đất đã được chinh phục. Thật vậy, không nên quên rằng châu thổ, ít ra là ở phía nam bán đảo Đồ Sơn, là một hình thái sống động không thể không tăng tiến một cách liên tục. Trong tình trạng hiểu biết của chúng ta hiện nay, các tư liệu không cho phép viết ra lịch sử của sự tăng tiến này trước thế kỷ XV, thậm chí kể từ thế kỷ XV trở đi cũng không được, nhưng có điều chắc chắn là sự tăng tiến đó đã diễn ra và con người đã chứng kiến những giai đoạn cuối cùng của nó; vả chăng, nó được ghi lại rõ ràng trên mặt đất bằng những cồn ven biển, giống như những vết khắc trên thước đo, do châu thổ để lại trong quá trình tăng tiến của nó2, tiếc thay, chúng ta không biết đọc những dấu hiệu mà lục địa đang phát triển đã vạch ra, vì chúng tôi không biết một cồn ven biển phải mất bao nhiêu thời gian mới hình thành. Tuy nhiên có thể rút ra được một vài chỉ dẫn lịch sử trừ những tài liệu hiếm hoi đã được công bố và phân tích. Trước hết có một nhận xét rõ ràng là bản đồ của Maspéro công bố ở cuối công trình nghiên cứu của ông về địa lý lịch sử châu thổ dưới đời Đường không có một chỉ dẫn nào về địa danh cổ cho vùng nằm giữa sông Luộc và biển. Tất nhiên, sự việc đó là bổ ích cho lịch sử di thực hơn là lịch sử các bờ biển, nhưng nó là một giả định ủng hộ cho tính lâu đời tương đối yếu của đất đai tỉnh Thái Bình hiện nay. Sử dụng ngay những chỉ dẫn của Maspéso, ta có thể xác định được vài điểm của đường bờ biển cũ. Đê biển thời Hồng Đức, nối liền Phụng Công ( t. Hồng Hải, p. Yên Khánh, Ninh Bình) trên sông Đáy, với Yên Mô (t. Yên Mô, h. Yên 1 Một sự phân bố phù sa như vậy sẽ cho ta có sự tăng tiến không 1 km một thế kỷ cho tất cả bờ biển phía nam Đồ Sơn. 2 Xem dưới đây ghi chú về toàn bộ các cồn ven biển giữa sông Trà Lý và sông Hồng, với tên các làng lập ra ở đó. 48 PIERRE GOUROU Khê, nt) đã được lấp năm 1471; đó là một thời điểm chắc chắn1. Nhưng một dải đồng bằng đã được đắp từ rất sớm dưới chân núi và một con lạch đã có ngay từ thế kỷ IX cho phép tới được Thần Phù (t. Thần Phù, nt, nt) thời ấy là một cửa biển; sau một quãng đi qua biển, người ta vào một con kênh tự nhiên khi ấy là một eo biển mở ra ở phía chót của dãy núi Thanh Hóa (hình 8). Mặt khác năm 1044, sông Đáy đổ ra biển ngay sau khi hợp lưu với con sông Nam Định; tại đó là cửa biển Đại An. Đó là những tài liệu vừa chính xác vừa chắc chắn mà chúng tôi có được sau khi đọc công trình nghiên cứu của ông H.Maspéro. Không thể nào có được những thông tin khác; các văn bản liên quan đến lịch sử cổ của châu thổ đã không được công bố và việc xác nhận các địa danh do các tài liệu đó đưa ra, đòi hỏi một công việc phân tích mà chỉ một nhà Hán học thông thạo mới làm nổi. Chúng tôi chỉ xin thông báo một sự việc đã thu thập được và không được xác lập một cách khoa học. Biên niên sử cho biết năm 547 sau công nguyên, ở địa điểm hiện nay của phía bắc tỉnh Hưng Yên (các phủ huyện Khoái Châu và Yên Mỹ) có những đầm lầy, vùng này ngày nay tương đối cao, như vậy là ở thời đó là một vùng đất trũng ngập nước. Mặt khác, theo một truyền thuyết 2, làng Hải Triều (t. Thanh Triều, 1 Ngay từ cuối thế kỷ XVII, việc trồng cói đã bắt đầu trên đất phù sa khi ấy bắt đầu hình thành phía trước đê Hồng Đức và người ta sản xuất những chiếu cói nổi tiếng (Maspero. An Nam đô hộ phủ. BEFEO, 1910, tr.675) 2 Nhưng cửa biển Đại Nhà – một tên khác của Đại An đã được nêu lên từ năm 569 trong Biên niên sử An Nam (bản dịch của Abel des Michels, trong.149. Phải chăng sông Đáy đã tiến lên trong 500 năm nay cũng cái tên đó đã được đặt cho những địa điểm khác nhau nằm trên cùng một con sông. Đại An hay Đại Nhà được ông Georges Maspéro (Vương quốc Champa, 1928, tr. 122) án định vị trí ở Quân Liêu (t. Hải Lang, p. Nghĩa Hưng, Nam Định). Châu thổ không biết những lý do gì đã quyết định ý kiến của ông Georges Maspéro; theo tình thế của vùng này là mới có và có lẽ nên đặt Đại An gần hợp lưu với sông Nam Định thì hơn (xem hình số 8). Nếu Biên niên sử An Nam mà chúng tôi đã tham khảo bản dịch rất thô sơ trong hồ sơ Dumoutier để ở Viện Viễn Đông, viết rằng Đại An nằm ở cửa sông Liêu (Quần Liêu ở đó) thì điều đó không có nghĩa là Đại Nam nằm ở địa điểm Quần Liêu, mà chỉ là nó nằm trên bờ sông Đáy (Liêu). Vả lại, làng An Lai (t. Thanh Khê, p. Nghĩa Hưng, Nam Định) ở hợp lưu sông Nam Định và sông Đáy, còn giữ lại một truyền thống theo đó thì xưa kia nó có tên là Đại An và có lẽ được thành lập đầu thế kỷ XV. Môi trường vật chất 49 h. Hưng Nhân, Thái Bình), đầu thế kỷ XI ở gần bờ biển; ở đó người ta trồng cói; vậy mà làng này nằm ở phía nam sông Luộc, nhưng không xa chỗ hợp lưu của sông này với sông Hồng. Phải chăng như vậy là toàn bộ đất đai hiện nay của Thái Bình, nằm ở phía sau sông Luộc, còn chưa nổi lên vào khoảng năm 1000. Những truyền thuyết thu thập được của dân chúng theo rằng Quần Phương (t. Quần Phương, h. Hải Hậu, Nam Định) được thành lập từ thế kỷ XV. Quần Phương có thể đã được thành lập sớm hơn nhiều làng khác vì nó nằm, như trên hình 7 cho thấy, trên một cồn ven biển cao hơn vùng đất bồi ở biển một chút, vùng đất bồi này trải ra ở phía nam Lạch Giang. Nhưng năm 1533, các làng Ninh Cường (t. Ninh Cường, h. Trực Ninh, Nam Định), Trà Lũ (t. Trà Lũ, p. Xuân Trường, Nam Định) đã có rồi1 và mồ mả tổ tiên nhà Trần trị vì từ 1225 trở đi, được thấy rõ ở Thái Dương (t. Đặng Xá, h. Hưng Nhân, Thái Bình). Phía Bắc sông Trà Lý, bờ biển hình như đã cố định từ lâu, và theo Maspéro, các con đường thủy mà các thuyền Trung Quốc đi theo có lẽ cũng giống như hệ thống đường thủy hiện nay, theo những tài liệu đầu tiên thu lượm được. Tóm lại, chúng ta biết rất ít về sự tiến triển của các bờ biển trước thế kỷ XIX. Chỉ có một việc thực sự chắc chắn: từ 1470 đến 1830, lục địa chỉ tiến từ 10 đến 12 km ở vùng Ninh Bình, như thế là trung bình mỗi thế kỷ tiến được 3 km. Ta thấy rõ là không thận trọng nếu đưa vào quá khứ tiến độ 10 km một thế kỷ mà ta nhận thấy từ 1830 trở đi. Về vùng Đông Bắc sông Đáy, tài liệu là hiếm hoi và đáng nghi ngại: nếu bờ biển đi qua Đại An năm 1044 thì lục địa sẽ lấn ra biển 25 km trong 900 năm (tức là mỗi thế kỷ 2,5 km), nếu bờ biển đi qua Quần Phương vào khoảng giữa thế kỷ XV thì lục địa có lẽ đã lấn được 12.500 km trong 300 năm, tức là khoảng 4 km một thế kỷ; nếu huyện Hưng Nhân ở gần bờ biển vào khoảng năm 1000 thì biển sẽ là đã lùi 40 km trong 9 thế kỷ, tức là mỗi thế kỷ khoảng chừng 4 km. 1 Thật vậy, năm 1533, một đạo dụ cấm truyền bá đạo của một người Tây dương tên là Gia Tô trong các làng đó. Người truyền giáo tên là I.Ni Khu, chắc là Inigo (Ignacc). Theo ghi chép của trung tá Bonifacy (BAVH, 1931, tr.219-200), nếu tin đó là hoàn toàn chắc chắn, thì đó là việc truyền bá đạo Thiên chúa đầu tiên ở Đông Dương. 50 PIERRE GOUROU B. Những giả thuyết địa chất học Như vậy là lịch sử cho chúng ta những chỉ dẫn rất lờ mờ về tiến triển của các bờ biển; một vài sự việc chắc chắn nó đưa ra gợi ý rằng vùng châu thổ đã ngưng trệ từ lâu ở phần phía bắc và chỉ tiến một cách thật chậm ở phần phía nam. Việc nghiên cứu các trầm tích cũng cung cấp được rất ít tư liệu. Sự tồn tại của những bậc thềm đá và nhất là của những thềm phù sa cổ ở rìa châu thổ cho ta bằng chứng là vùng này đã hơi bị nâng lên vào một thời kỳ khá gần đây; xói mòn đã tấn công độ cao cũ và chỉ để lại vài minh chứng hiện nay, sa bồi do các con sông lớn đã lấp những chỗ trũng do xói mòn tạo thành và đã nâng mức mặt đất lên bằng cách đẩy biển lùi dần; để giải thích sự tiến triển của lục địa không cần thiết phải tin vào một sự nâng cao mới đây của mặt đất, chỉ cân nhắc đến sức mạnh của sa bồi trên một vùng biển bằng phẳng. Sự trồi lên của lục địa đã phá hủy một vùng châu thổ cũ, có lẽ có liên quan tới những vận động nhô lên hay thụt xuống của toàn bộ Đông Nam Á, vào một thời kỳ gần đây và có lẽ cho tới tận ngày nay. Sự nâng cao lên đó đã lan ra tận cuối dãy đá vôi hình thành ranh giới giữa Bắc kỳ và Thanh Hóa, như được chứng tỏ bởi những bậc thềm phía nam tỉnh Ninh Bình, với những thung lũng nhỏ có bờ dốc ngược. Nghiên cứu những cuộc khoan thăm dò cũng không đem lại những thông tin rõ ràng. Điều đáng chú ý nhất là cuộc khoan thăm dò ở Hải Phòng, vào khoảng 1895, để tìm nước uống. Thật vậy, người ta đã khoan sâu tới 100 m và đó là độ khoan sâu nhất ở châu thổ Bắc kỳ. Tới 40 m thì thấy có cát lẫn với đá sỏi, tới 52 m là đất sét, tới 60 m là đất thó rắn trộn lẫn với đá vôi xám, ở 61 m có đá vôi xám khá rắn với những mảnh vỏ ốc, ở 65 m có sa thạch, ở 90 m có diệp thạch dễ gãy, “nâu sẩm, hình dạng sa thạch”; công việc khoan đã dừng lại ở 100 m. Đấy là mũi khoan duy nhất ở châu thổ đã tìm thấy đá gốc tại chỗ. Đó là nhờ cuộc khoan khá sâu nhưng những mũi khoan cùng độ sâu như thế lại không có kết quả như vậy ở trung tâm châu thổ: Hải Phòng nằm ở rìa châu thổ, trong một vùng có nhiều đồi đá. Đã gặp ở đây hầu như chắc chắn là đá vôi, sa thạch và diệp thạch mà người ta tìm thấy lộ thiên ở quanh Kiến An hoặc ở phía bắc Hải Phòng1. Chúng tôi không biết những 1 Kết quả công việc khoan dò này đã được công bố trong một bản báo cáo của Sở Lục lộ, năm 1897 và để ở Viện Viễn đông Bác cổ, số hiệu 40258. Môi trường vật chất 51 mảnh vỏ ốc đó là gì: vỏ ốc gằn trong đá do máy khoan đào lên, hay vỏ ốc mới trong đá đó. Những cuộc khoan dò khác đã không tới được lớp đá gốc, và kết quả đều giống nhau; bên dưới một lớp đất sét ở bề mặt, người ta thấy có những lớp dày cát mịn, và ở một độ sâu không giống nhau, nhưng thường là khá sâu, có đá sỏi. Trong công việc chuẩn bị làm đập sông Đáy (thượng lưu chiếc cầu trên đường Hà Nội – Sơn Tây), người ta đã khoan dò tới cốt – 41, bề mặt ở vào độ cao +11; tới cốt -40, tức là 51 m dưới bề mặt, đã tìm thấy một lớp đá cuội, có thể là từ núi Ba Vì mà ra. Do đó, ở vào một thời kỳ gần đây, nước chảy khá mạnh để vận chuyển tới tận Hà Nội1 những hòn cuội to bằng nắm tay. Quả thật là những đá cuội đó có thể đã tích lũy lại ở đáy một vịnh, vì mực nước biển cao hơn độ sâu –40 nhiều. Đá cuội này không mang dấu vết gì của sự biến đổi do tầng không khí dưới cùng, nhưng vẫn giữ màu sắc tự nhiên và không thấy bị oxy hóa. Người ta không thấy cùng với chúng những hóa thạch của biển cho phép khẳng định chúng được lắng lại trong biển. Hiện nay hiểu biết của chúng ta về cấu tạo tầng sâu của châu thổ chỉ cho ánh sáng lờ mờ về lịch sử hình thành vùng này2. 1 Được sự giúp đỡ của các kỹ sư Sở Lục lộ Bắc kỳ, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều bản đồ khoan dò; tất cả đều cho thấy những kết quả như nhau, khi khoan tới một độ sâu đầy đủ; một lớp đá cuội ở giữa 40 và 50 m, ở một số nơi, người ta đã thấy những lớp bùn lỏng, ở một số nơi khác, những lớp một thứ than bùn; thậm chí còn thấy có cả khí. Bản thân chúng tôi đã xem xét những hòn đá cuội lấy lẫn trong các cuộc thăm dò làm đập sông Đáy. Các cuộc khoan dò để làm cầu Doumer ở Hà Nội và của Sở Máy nước cũng cho kết quả y như thế. Cần nêu lên một vài đặc điểm độc đáo của một cuộc khoan dò ở Hà Nội để tìm nước uống (kết quả đã được trình bày trong một bản báo cáo đánh số 4o258 ở EFEO). Tới 12 m, người ta thấy một lớp đá vôi với độ dày 0,50 m, chỉ có thể là một công trình cổ đã được phủ một lớp phù sa dày 12 m, một độ dày quả thật là đáng kể cho thời gian lịch sử. Tới độ sâu 21,65 m, có một lớp đá cuội tròn dày 0,35 m, rồi đến cát và đất sét, ở 24,50 m một lớp cát lẫn với sỏi nhỏ dày 0,50 m; tới 32 m thì lại xuất hiện những đá cuội cho tới tận độ sâu 42 m vẫn còn thấy, đến đó thì ngừng khoan. Diện mạo chỗ khoan này, ngoài sự có mặt khá lạ lùng của lớp đá vôi, rất khác với các cuộc khoan khác. Phải nghĩ gì về lớp cuội được ngăn cách bởi những lớp phù sa mịn. Trước hết phải chắc chắn là các điều quan sát được phải so sánh được với các điều quan sát hiện nay. 2 Chúng tôi thấy không cần thiết phải trình bày chi tiết kết quả của các cuộc khoan dò. Chúng không có ý nghĩa gì hết; việc đặt tên cho các lớp đất khác nhau đã được tìm thấy 52 PIERRE GOUROU Ta sẽ thấy trong một công trình nghiên cứu đáng chú ý của Fromaget1 những giả thuyết địa chất học mới nhất về sự hình thành của châu thổ. Theo tác giả này, trong thời kỳ đệ tứ kỷ, quả có xảy ra những “dao động khi thì dương khi thì âm…, những hiện tượng chứng tỏ sự tồn tại những vệt xói mòn và những mảnh bậc thềm mà ta thấy có cả ở những vùng sụt xuống cũng như ở những vùng nhô lên”2, nhưng nhân tố quan trọng nhất của những biến đổi gần đây của địa hình và bờ biển có lẽ nằm trong sự tồn tại của một loạt ô ngăn “đại để song hành nhau và theo hướng chung là Đông nam-Tây bắc, chúng có những dạng khác nhau: những cái này sụt xuống cùng lúc với những cái khác trồi lên”. Những ô ngăn này có mặt bằng tiến hóa khác nhau: những vùng trồi lên bị xói mòn mạnh, bờ biển không được vạch ra rõ rệt vì nằm trên một thềm lục địa đã rút nước, sa bồi mạnh vì xói mòn mạnh cung cấp những khối lượng trầm tích rất lớn. Ngược lại, những vùng ngập nước thì có bờ biển rõ rệt, xói mòn và trầm tích không mạnh3. Vậy mà theo Fromaget, và trước đấy là Chassigneux4, châu thổ Bắc kỳ được chia ra thành hai vùng có tính chất khác nhau: phía bắc là một vùng ngập với những con sông ít hoạt động, vận chuyển ít cặn (sông Lục Nam, sông Cầu, sông Thương) và không có khả năng bồi đắp những vùng đất trũng mênh mông ngập nước biển (hình 9); vịnh Hạ Long thuộc loại hình đất đai này. Phía Nam châu thổ, trái lại, là một vùng cao; sông hoạt động tích cực, chở đầy cặn, trầm tích lắng đọng mạnh, lấp đầy thuộc sự tưởng tượng của người quan sát; những danh từ “đất cát”, “cát xen vào đất”, “cát xám vào đất sét”, “cái vàng pha đất” mà Chasigneux đề ra ở tr.40 trong công trình nghiên cứu quan trọng của ông về Thủy lợi ở châu thổ Bắc kỳ (Tập san Địa lý hàng năm, tr. VL.1912, q.I) không có giá trị gì hơn những bản liệt kê mà chúng tôi đã tham khảo. Dưới lớp đất cát cấy được, một lớp đất không thấm nước do các chất keo đã bị rửa trôi từ lớp mặt, thường người ta chỉ thấy có cát to nhỏ khác nhau rồi đến một lớp đá cuội. 1 Hiện tượng địa chất gần đây và Tiền sử Đông Dương, trong Prehistoris Asia Orientalis, Hà Nội, EFEO, 1932. 2 Nt. tr.49 3 Nt. tr.48 4 Ông Fromage viết rằng ở những vùng bị ngập nước, “các con sông bồi lòng sông của chúng” có thể là đúng vả lại như vậy là lôgic, nhưng ở bờ biển, các khu bị ngập không phải là những khu vực bồi đắp vì việc ngập nước liên tục đã ngăn trở sự bồi đắp đó; mặt khác các dòng sông chảy trong khu vực bị ngập có ít đất có trầm tích. Môi trường vật chất 53 các vịnh, các đảo biến thành đồi, thành bậc thềm cao1. Nói cách khác, có thể đã xảy ra theo trục của châu thổ và vùng núi phía trước, một biến động kiểu con lắc, kết quả là phía bắc sụt xuống, do đó làm chậm xói mòn và trầm tích, và biển tràn vào những vùng đất rộng lớn của lụa địa, và phía nam trồi lên, gây ra xói mòn dữ dội và sa bồi rất tích cực2. Giả thuyết này3, nói chung khớp với địa hình hiện nay của châu thổ4. 1 Chính ông Chassigneux là người đầu tiên đưa ra ý kiến về một biến động kiểu con lắc ở hai phía của châu thổ Bắc kỳ (Địa lý, XXXII, 1918, số 2, tr. 81-95). 2 Ở phía bắc của châu thổ, không thấy có những vùng đất phù sa cao được bảo tồn tốt và rõ rệt như ở phía nam; điều đó có phải là một bằng chứng về tình trạng ngập nước không? 3 Nhưng chúng tôi nhắc lại rằng các núi đá vôi ở Ninh Bình có một vết xói mòn của biển ở dưới chân, tương ứng rất đúng với mặt biển hiện nay; muốn giải thích sự có mặt của những hòn núi đó xưa kia là ở ngoài biển nay lại ở bên trong đất liền, không cần phải nêu ra một vận động quả lắc nhồi đất lên hay một biến động toàn bộ; chỉ cần nêu sa bồi là đủ. 4 Nhưng phải nói rõ rằng chúng ta đang còn ở trong lĩnh vực giả thuyết và dấu vết của mực nước biển xưa thấy được ở Bắc Đông Dương còn khá rời rạc: nó không phù hợp với một sự nâng lên đồng đều trên toàn thể đất đai và nó không đem lại một yếu tố nào có lợi cho giả thuyết về sự vận động quả lắc, vì theo định nghĩa đó thì các độ cao cũ của vùng này thụt xuống đều bị ngập nước. Cần phải tìm một nền đất có niên đại rõ ràng và cho thấy một sự nghiêng về bên trái rõ rệt. Các nền đất ven châu thổ, khi còn được bảo tồn tốt, đều có độ cao thay đổi tùy theo vùng (5 m ở Thượng Lâm, 15 m ở Đông-bắc Sơn Tây). Một nền đất 15 m dễ dàng quan sát trong vùng trũng nhìn lên xứ Mường phía sau tỉnh Hà Đông (vùng trũng Xuân Mai và Chợ Bến); nó chủ yếu gồm lớp nền dày bằng đá cuội; sự tồn tại của nó không thoát khỏi sự lưu ý của một trong những nhà nghiên cứu địa chất nước này (Malleret, Tạp chí Đông Dương, 1894, quí 2, tr. 138). Ông E. Patte trong Nghiên cứu địa chất miền Đông Bắc kỳ (Tạp san Sở địa chất Đông Dương, T. 16, q. 1, tr. 109) nhận xét rằng ở bờ biển phía bắc châu thổ, có những độ cao là 2 m, 4 m, 5 m, 10 m, 20 m, 45 m. Về vấn đề này, xem thêm mực nước, J.Fromaget. Nghiên cứu địa chất Bắc Đông Dương (Thông báo của Sở địa chất Đông Dương, T.16, q.2, 1927), Patte. Ghi chép về tiền sử Đông Dương, IV, Đống vỏ sò thời đá mới ở Bàu Tró và Tam Tòa gần Đồng Hới (thông báo của Sở Địa chất Đông Dương, T. 14, q.1, 1925), H. le Breton. Sự nổi lên của đồng bằng ven biển Đại Việt (Tập san Hội khuyến học Bắc kỳ, T.14, số 4, tháng 10-12/1934), và cũng về vấn đề đó. Dẫn luận nghiên cứu bờ biển kỷ đệ tứ ở Bắc Trung Kỳ (Báo cáo cuộc họp của Hội đồng nghiên cứu khoa học Đông Dương, 1934), E. Chassigneux, Vùng Hải Ninh (Địa lý, tháng 7-8/1926, tr. 33-68). 54 PIERRE GOUROU Theo Fromaget, những biến động cuối cùng xảy ra trước khi thiết lập độ cao hiện nay và những phù sa mới đây, đã có trước những dấu vết cổ xưa nhất của tiền sử Đông Dương. C. Thổ nhưỡng Nghiên cứu thổ nhưỡng, có tầm quan trọng chính yếu cho nông nghiệp, không phải là không có giá trị để hiểu biết lịch sử địa chất của châu thổ. Thật vậy, các chất đất do sa bồi của sông Hồng đem lại không giống với đất do các sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam đưa tới và sự phân bổ các loại đất khác nhau có thể đem lại một ánh sáng nào đó cho quá trình hình thành vùng châu thổ. Tiếc rằng ta biết quá ít về thổ nhưỡng của châu thổ. Những phần tách rời rạc đã được công bố trong Bản tin kinh tế Đông Dương1; sử dụng chúng là một vấn đề khó khăn vì không biết, liệu các kết quả của chúng có phải là có thể so sánh được với nhau không. Mặt khác, chỉ mãi gần đây mới hoàn chỉnh những phương pháp phân tích thật sự có tính gợi ý, phát hiện ở đất không phải toàn bộ một yếu tố màu mỡ, mà là phần của yếu tố này cây có thể hấp thụ được2; kết quả của các phân tích trước kia phần lớn đã bị xóa bỏ vì những phát hiện này. Tuy nhiên một xuất bản phẩm mới đây đã đem lại Theo G. D. Hubbard (Tập san khoa học Lĩnh Nam, 6/1929) thì châu thổ Quảng Châu có lịch sử địa chất gần đây như sau: 1. Một sự nhấn chìm rõ rệt đã làm dẹt đỉnh một số ngọn đồi (bề mặt bị nước biển bào mòn) và tạo nên lớp trầm tích ngày nay trở thành nền đất; 2. Một sự nổi lên, trong đó xói mòn đã phá hủy phần lớn các trầm tích lắng đọng trong thời kỳ chìm xuống. 3. Một thời kỳ nhấn chìm mới, tương đương với mực nước biển hiện nay, biển tràn vào đồng bằng và các thung lũng lên tận Tam Thủy (trên sông Tây Giang), phù sa các con sông đổ vào châu thổ Quảng Châu lấp dần vùng biển vừa hình thành, nhưng châu thổ Quảng Châu vẫn ít được bồi đắp hơn châu thổ Bắc kỳ; sông và các nhánh biển chiếm nhiều chỗ hơn; trên phần lớn diện tích cho đến tận Quảng Châu. “Châu thổ sông Châu Giang” giống như một vùng đất phía bắc Hải Phòng – Đấy là thêm một lý do nữa để coi phía bắc châu thổ Bắc kỳ là vùng đất còn chịu tác động của quá trình nhấn chìm. 1 Thí dụ BEI, 1904, tr. 1 ố 24; BEI, 1904 tr.360-374; BET. 1904, tr.1904, tr.1150 ố 1178; BEI, 1906, tr.815. 2 Xem Những nguyên tắc và những phương pháp của nghiên cứu thổ nhưỡng hiện đại, của F.N. Castagnol. Hà Nội, IDEO, 1934, tr.25 (trích báo cáo các chương trình của Viện Nghiên cứu Nông học năm 1932-1933). Môi trường vật chất 55 những sự kiện mới về vấn đề này: Bản đồ thổ nhưỡng châu thổ Bắc kỳ của E.M. Castagnol1 là một đóng góp quan trọng vào thổ nhưỡng học và do đó, vào nghiên cứu địa lý châu thổ. Như vậy không phải là nói rằng vấn đề thổ nhưỡng đã được hoàn toàn sáng tỏ; thật vậy, các bản đồ đó có khuyết điểm là bỏ qua một bộ phận của châu thổ (Thái Bình, Kiến An, Hải Dương, Nam Định) và đó là những bản đồ thăm dò vì chúng hoàn toàn căn cứ vào việc lấy mẫu ở mặt đất và dưới mặt đất cứ 8 km một, nghĩa là chúng chỉ dựa vào 32 nhận xét cho khoảng chừng 1.000 km2. Thế nhưng hình như thổ nhưỡng của châu thổ biến đổi về chất và về giá trị trên những khoảng cách rất nhỏ và sự hiểu biết những biến đổi đó có lẽ có ích lợi cho thổ nhưỡng học và địa chất học hơn là một cái nhìn tổng quát, có thể là khá mong manh vì các điểm quan sát khá thưa. Có lẽ sẽ là có ích hơn, nếu làm những cuộc khảo cứu chuyên đề về những vùng nhỏ, những địa phận được lựa chọn theo địa điểm đặc biệt của chúng. Nhưng phù sa mới hình thành châu thổ Bắc kỳ gồm một hỗn hợp cát (hạt từ 0,05 mm đến 2 mm) trộn với limông2 (hạt từ 0,002 mm đến 0,05 mm), sét (hạt có đường kính dưới 0,002 mm)3. Nhưng limông chiếm ưu thế tạo nên thành phần quan trọng nhất của hầu hết toàn bộ thổ nhưỡng của châu thổ. Cát, bao giờ cũng rất mịn, có nhiều chủ yếu ở phía bắc sông Hồng (các tỉnh 1 Hà Nội, IDEO, 1934, 5 trang và 10 bản đồ (trích từ cùng xuất bản phẩm đó). Các bản đồ, tỉ lệ 1/750.000, cho thấy đồ hình của sự phân tích hạt đất và đất lớp dưới, của chỉ số Hutchinson (nhu cầu về vôi), của vôi trong đất và của đất lớp dưới của manhê, kali, axit phosphoric, đạm, mùn. Cũng cần tham khảo về vấn đề này: Castagnol, Báo cáo về các công trình của phân bón hóa học. I. Chi Bắc Đông Dương của Viện nghiên cứu nông học (BEI, phần B. 1932, tr. 721, -728), Castagnol. So sánh các loại hình ruộng khác nhau (BEI, B. 1932), TR.755-759), R Jeannin, Khảo luận về Bắc kỳ và Bắc trung kỳ, Vụ tháng 10 (BEI, 1930, tr.1-48). 2 Limông ở đây được hiểu theo nghĩa chính xác, thổ nhưỡng học của nó, nó không đồng nghĩa với phù sa (alluvion) hay trầm tích, là những hạt không nhỏ bằng sét nhưng nhỏ hơn cát. 3 Đó là xếp loại của ông Castagnol ở Bắc kỳ, ở xứ ôn đới người ta dùng những con số cao hơn từ 0,2 mm đến 2 mm cho cát thô, từ 0,1 mm đến 0,2 mm cho cát mịn, từ 0,05 m đến 0,1 mm cho cát phù sa, từ 0,01 mm dưới 0,05 mm cho phù sa, đến 0,01 mm cho đất sét. Những thành phần của thổ nhưỡng nhiệt đới như vậy là nhỏ hơn so với đất vùng ôn đới. 56 PIERRE GOUROU Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang) và ở phía tây tỉnh Hải Dương1. Nhưng, như đã nói, ta thấy có những biển đổi lớn về chất đất: Sông Hồng vận chuyển cả cát lẫn phù sa hay đất sét, và tùy theo tốc độ dòng nước, để lại chủ yếu một trong ba chất đó. Chất đất như vậy là biến đổi theo những biến đổi xưa kia của các dòng sông.2 Limông là thành phần chủ yếu của thổ nhưỡng châu thổ, có những màu sắc đỏ nhạt, vàng nhạt hoặc xám nhạt; màu mỡ nhất là đỏ nhạt. Khi khô đi, chúng trở thành rắn đến mức không cày được3. Kể ra cũng khó mà nói được về tính màu mỡ của châu thổ vì khoa học thổ nhưỡng mới chỉ đề cập đến việc nghiên cứu các nước nhiệt đới và người ta chưa biết phải tìm ra bao nhiêu khối lượng những yếu tố dinh dưỡng trong đất nhiệt đới để có thể coi nó là màu mỡ; chỉ biết rằng những dữ kiện của các nước ôn đới không thể áp dụng được vào các vùng nhiệt đới và không có quyền khẳng định một thứ đất nhiệt đới nào đó là nghèo vì nó không chứa đựng tất cả số lượng những yếu tố màu mỡ xác định một thứ đất tốt ở vùng ôn đới4. Tuy vậy, về toàn bộ, có thể nói được rằng thổ nhưỡng châu thổ là kém; chỉ có một dải đất ở hai bên sông Hồng và vùng ven biển – vùng các cửa sông – là thật sự màu mỡ. Nói chung mùn không nhiều lắm: về toàn bộ, đất châu thổ chứa mùn dưới 4 phần 1.0005. Nitơ có hầu như ở khắp mọi nơi với số lượng đáng kể; 1 Nhận xét này phù hợp với các nhận xét khác sẽ đề ra về độ màu mỡ của các loại đất; vùng cuối của Hải Dương và Hưng Yên đặc biệt là kém màu mỡ. Đặc điểm này biểu lộ trong mật độ dân số – ở đây rõ ràng là thấp hơn nhiều; xem bản đồ về mật độ dân số (phụ bản 2). 2 Xem dưới đây, quá trình trầm tích diễn ra sau một vụ vỡ đê. Tất nhiên, vùng các cồn ven biển gồm có những dải đất phù sa xen kẽ với cát. 3 Lớp limông này có khả năng rắn lại rất lớn, tạo thành cái mà người ta gọi là “đất nện”. 4 Tuy nhiên sau đây chúng tôi đưa ra tỉ lệ các thành phần độ phì khác nhau được thừa nhận ở xứ ôn đới là đất phì nhiên, để có thể so sánh. Những số liệu đó rút ra trong công trình của Georg Wiegner, Anleitungzum quantitativen agrikultur – chemischen Pratikum (Berlin, 1926). 5 Những phản ứng hóa học diễn ra ở khí hậu nhiệt đới, hủy hoại mùn một cách nhanh chóng. Sự khác nhau với đất vùng ôn đới là rất lớn; người ta cho rằng ở vùng ôn đới đất có dưới 20/1000 mùn là nghèo, có từ 20 đến 50/1000 mùn là ít và từ 50 đến 100/1.000 là có mùn. Môi trường vật chất 57 phần lớn đất châu thổ có tới hơn 1/1000 đạm, các vùng đất trũng có xu hướng có nhiều đạm hơn vùng đất cao1. Đất châu thổ nói chung rất nghèo về vôi: thường là dưới 5/1.000; chỉ dọc sông Hồng là có những đất giàu chất vôi nhất: 10/10002. Phía Tây châu thổ giàu manhê hơn phía đông; một lần nữa vùng sông Hồng được ưu đãi hơn: hàm lượng manhê vượt 6/1000, trong khi ở vùng đất phía bắc và phía đông nó tụt xuống dưới 2/10003. Hàm lượng kali rất thấp, phần lớn đất châu thổ chỉ có dưới 0,1/1000; nhưng ở các cửa sông Hồng phía trên Nam Định có hàm lượng cao hơn (trên 0,150/1000): 1 Ở xứ ôn đới, người ta cho rằng 3/1000 đạm là đất rất giàu, từ 2 đến 3/1.000 là giàu từ 1 đến 2/100 là đất tốt, từ 0,6 đến 1 là đất trung bình từ 0,3 đến 0,6 là đất nghèo, từ 0,2 đến 0,3 là rất nghèo; dưới 0,2/1.000 là không thể trồng trọt được. Như vậy ta thấy về phương diện đạm, đất châu thổ Bắc kỳ không đến nỗi ít ỏi. Có lẽ là nhờ những cơn mưa rào, đem lại những khối lượng lớn axit adốt cho đất. Theo một công trình nghiên cứu của ông Auffray (BEI, 1909, tr.605-616), năm 1902, nước mưa có thể đã đem lại cho Hà Nội 70 kg axit adốt trên 1 héc ta, tương đương với 94 kg nitrat natri, năm 1903, 62 kg axit nitric, năm 1904, 39 kg, năm 1907, 23 kg, năm 1908, 15 kg. Có thể là nhờ có nhiều nước chứa axit nitric mà các chỗ trũng giàu về đạm. Nhưng không nên quá nhấn mạnh vào sự cung cấp đó của mưa rào, mà những cuộc nghiên cứu gần đây có xu hướng giảm nhẹ đi rất nhiều. Tuy bề ngoài có vẻ giàu đạm, ruộng Bắc kỳ thiếu đạm hữu cơ, chắc chắn đó là nhược điểm lớn nhất của chúng. Đây lại là một dịp để nhận thấy rằng các quy tắc của các xứ ôn đới không áp dụng được cho đất vùng nhiệt đới. 2 Vôi là cần thiết không thể thiếu được vì các vi khuẩn cố định đạm chỉ sống trong môi trường kiềm; đất giàu đạm chẳng lợi gì cho các cây nếu đạm đó không ở dạng hữu cơ. Rủi thay, đất bị nước tẩy rửa làm mất đi khá nhanh hàm lượng về vôi. Chúng tôi không đưa ra những tỉ lệ vôi ở các xứ nhiệt đới vì ở đây hoàn toàn không thể so sánh được. Trong khi ở xứ ôn đới, tất cả các đất trồng trọt đều có kiềm thì ở xứ nhiệt đới đất thường chua, lúa gạo rất dễ tính và mọc tốt cả ở đất chua. Việc nghiên cứu những nhu cầu của đất về vôi (chỉ số Hutchinson làm nổi bật tính chua đặc biệt của đất) cho những kết quả phù hợp với những kết quả về hàm lượng vôi, trừ vùng nằm ở phía tây Hải Dương vùng này tỏ ra rất nghèo cả về mặt này nữa. Cây không thể hấp thụ được manhêdi, nhưng sự có mặt của nó đảm bảo một thứ đất kiềm, thuận lợi cho các cây trồng ở châu thổ. Người ta cho rằng tỉ lệ tốt nhất cho lúa gạo, giữa vôi và manhêdi là 1/1, cho ngô là 2 vôi/ manhêdi, cho rau là 3/1, cho thuốc lá tỉ lệ tối ưu là hơn 3/1. 3 Manhê không được cây trồng hấp thụ, nhưng sự có mặt của nó bảo đảm cho đất có độ kiềm thuận lợi cho việc trồng trọt trên châu thổ. Người ta ước tính đối với cây lúa, tỉ lệ tốt nhất giữa vôi và manhê là 1/1, với ngô là 2 vôi/manhê, với rau là 3/1, với cây thuốc lá tỉ lệ tối đa là 3/1. 58 PIERRE GOUROU đấy là vì vùng cửa sông đặc biệt có nhiều yếu tố mịn tinh và lượng kali gắn liền với sự phong phú của các thành phần mịn1. Sự phong phú của lân dã khiến cho các bờ sông Hồng có giá trị ưu việt: dọc sông Hồng, ven bờ sông Đáy, vùng cửa sông có hàm lượng lân cao hơn 0,250/1000, trong khi phần còn lại của châu thổ ở dưới mức 0,150, thậm chí 0,050/1000.2 Tổng quát lại, về mọi phương diện, nổi bật lên tính phì nhiêu cao hơn của vùng sông Hồng và tính nghèo nàn của miền Đông châu thổ3. Với manhê, kali, lân ở phía tây có nhiều hơn, đặc biệt là dọc sông Hồng và vùng cửa sông. Tình trạng này là do sông Hồng vốn là con sông bồi đắp phần phía tây của châu thổ bằng phù sa mịn hơn nhiều và giàu hơn nhiều còn sông Cầu và các con sông khác của phía đông vận chuyển những phù sa cát, nghèo chất kiềm và axit phosphoric và khối lượng ít hơn nhiều. Nhưng tình hình này cũng gợi lên rằng sông Hồng đã tham gia một phần rất ít vào việc bồi đắp châu thổ phía đông: mặc dầu có sông Đuống4, phù sa sông Hồng là dành cho các bờ sông và các cửa sông của chính nó; sông Đuống và sông Cà Lồ hình như không đem tới phía đông nhiều phù sa. Vả lại người ta biết rằng đã từ lâu sông Cà Lồ là không quan trọng gì nữa và sông Đuống thường khi bị những bãi nổi ngáng trở, hạn chế rất nhiều lưu lượng của nó. Phù sa của châu thổ đang nghèo do một quá trình không thể tránh khỏi. Bị nước rửa, phù sa để mất đi kali và vôi; các hạt đất sét phân hóa thành silic 1 Ở xứ ôn đới quan hệ về hàm lượng kali với chất đất là như sau (vẫn theo G.Wiegner, sdd): hơn 5/1000 = đất rất giàu; từ 4-5/1000 = đất giàu; từ 2-4/1000 = đất tốt; từ 1,2-2/1000 = đất trung bình; từ 0,8-1,2 = đất nghèo; từ 0,5-0,8 = đất rất nghèo; dưới 0,5 = không trồng trọt được. Các dữ liệu này không thể áp dụng ở xứ nhiệt đới, nếu theo đó thì không đất đai nào trên châu thổ có thể trồng trọt được cả. 2 Ở xứ ôn đới, hơn 2,5/1.000 lân = đất rất giàu; từ 1,5 đến 2,5/1000 = đất cần lân một chút, từ 0,7 đến 1,5 = đất cần lân; từ 0,4 đến 0,7/1.000 = đất nghèo; từ 0,2 đến 0,4 = đất rất nghèo: dưới 02/1000 = không trồng trọt được. Ở đây cũng vậy, điều kiện ở xứ nhiệt đới hoàn toàn khác hẳn. 3 Sự mô tả này là theo các bản đồ thổ nhưỡng của Castagnol được công bố trong công trình đã dẫn ở trên. 4 Sông Luộc không đáng kể vì vùng cửa sông của nó không được nghiên cứu trên bản đồ của Castagnol, và cũng vì theo những điều ít ỏi biết được thì chính về nhiều mặt vùng Hải Phòng, Kiến An và Bắc Thái Bình lại giống với vùng cửa sông Hồng. Môi trường vật chất 59 và alumin; alumin có dạng hạt keo, chìm xuống sâu và hình thành một lớp không thẩm thấu; do sự phân hóa của xilicát sắt nên sắt được giải thoát và tự do và dưới dạng ôxy sắt nhuộm đỏ lớp đất ngay bên dưới; một phần alumin kết hợp với axit phốtpho hình thành photphát alumin vốn là một hợp chất ổn định, cây cối không sử dụng được; như vậy là chỗ phốtpho có được là chẳng ích lợi gì cho thực vật. Do đó, hình thành một lớp đất hoàn toàn khô cằn mà người ta thường thấy ở độ sâu 30cm ở các ruộng. Mặt khác các hạt nhỏ nhất bị cuốn đi vì một thứ xói mòn do nước lặng: “Những cơn dông to làm những hạt đất nhỏ lơ lửng trong nước ruộng, những hạt nhỏ nhất có thể ở đó rất lâu. Khi ruộng tràn nước, nước cuốn những hạt nhỏ nhất đó đi và có xu hướng chảy xuống những chỗ thấp hơn, vì vậy, những chỗ này được giàu thêm”1. Quá trình này có thể tự do tiến triển trên các vùng đất cách xa sông Hồng, là những vùng lắng đọng từ lâu hơn, nên không lạ gì mà những đất cạnh sông Hồng lại là màu mỡ nhất. Đất châu thổ ngày càng nghèo đi đặt ra cho tương lai một vấn đề tuy không phải ngay trước mắt nhưng cũng không phải không đáng lo ngại. Nông dân khai thác một mặt đất ngày càng sinh sản kém đi. Lẽ ra cần phải làm cho đất trẻ lại bằng cách làm cho nó có được những phù sa mới do các cơn lụt lội tự nhiên cung cấp rồi đến nước tràn vào vì vỡ đê. Ngoài các vùng được ưu đãi mà chúng tôi đã xác định, đất của châu thổ như vậy là kém; rủi thay, người nông dân không có phân hữu cơ đủ để bón2. Nhưng được cái là đất ở đâu cũng xốp, cày cấy được và do mức thấp và không thấm lậu nên dễ dàng biến thành đồng ruộng được tưới nước. Tính màu mỡ của đất phản ánh trong mật độ của dân số, mật độ này đạt tới những con số cao nhất trên những đất phì nhiêu nhất chứ không phải trên những vùng đất có dân cư lâu đời nhất. Địa hình và chất đất chi phối việc thiết lập các làng và số lượng dân; ở đất nước này do bàn tay họ nhào nặn nên, bảo vệ bằng một hệ thống đê bao la, con người vẫn còn là nô lệ của sự vật. 1 Xem Castagnol, BEI, 1932, B.tr. 726. 2 Người nông dân thường nghèo quá không mua được phân bón hóa học, vả lại, những kinh nghiệm sử dụng phân hóa học ở ruộng lúa Bắc kỳ đã không đem lại những kết quả tích cực lắm. Vấn đề phân bón xem ở dưới. 60 PIERRE GOUROU Chương hai KHÍ HẬU Khí hậu Bắc kỳ hết sức đáng chú ý vì tính phức tạp của nó, vì những thay đổi đột ngột trong năm và vì tính biến động rất lớn của nó từ năm này qua năm khác; ít có những khí hậu nào mà giá trị thực lại ít phù hợp với giá trị trung bình đến như vậy. Vì những tính chất đó, khí hậu Bắc kỳ gần với các khí hậu ôn đới và xa với các khí hậu gió mùa; nó có một bộ mặt độc đáo trên bán đảo Đông Dương và không thấy ở đâu có khí hậu tương đương. Nhưng nó không khác khí hậu Quảng Châu bao nhiêu, mà chỉ khác ở chỗ do vĩ tuyến khác nhau mà thôi; tóm lại, khí hậu Bắc kỳ là biến thái cực nam của khí hậu Trung Quốc; cũng như khí hậu vùng Đông Nam Trung Quốc, đây là một khí hậu gió mùa đã biến đổi rất nhiều. Dù cho khí hậu đó có nhiều điều đáng chú ý đến đâu, ở đây chúng tôi cũng không cần phải xem xét mọi mặt của nó, cũng không cần phải xem xét những nhân tố đã quyết định nó; nghiên cứu như thế sẽ kéo chúng ta đi quá xa người nông dân Bắc kỳ, vì những sắc thái và đặc điểm đáng chú ý của khí hậu này không có tác động gì đến đời sống của con người. Trong một cuốn sách trước đây1 chúng tôi đã cố gắng khảo cứu khí hậu về toàn bộ và làm nổi bật lên tính phức tạp sinh động và biến đổi của nó. 1 F. Gourou, Xứ Bắc kỳ (1931), tr.11-43 (xuất bản nhân dịp triển lãm thuộc địa ở Paris, 1931). Môi trường vật chất 61 Mặt khác, có thể tìm thấy trong các công trình của Nha Khí tượng1 rất nhiều tư liệu thống kê và những công trình nghiên cứu đặc biệt khiến cho khí hậu chắc chắn là khía cạnh được hiểu biết nhiều nhất của địa lý Bắc kỳ mà chính lại là khía cạnh mà chúng tôi ít có khả năng nhất đem lại những sự kiện mới. Ở đây chúng tôi sẽ chỉ nghiên cứu khí hậu trong những hậu quả rõ ràng nhất của nó đối với con người. I. NHIỆT ĐỘ Về nhiệt độ, không có nhiều nhận xét, Bắc kỳ có khí hậu nóng, được giảm bớt bằng một mùa mát. Mùa đông khá lạnh – ta đã thấy hàn thử biểu tụt xuống +506 ở vùng châu thổ – nên nông dân mặc áo vải mỏng, rét run trong căn nhà không kín lắm của họ. Nhưng các mùa đều có độ ẩm đầy đủ để trồng trọt. Khi có tháng nào mà lại không có một thứ cây nào đó chín quả, chín hạt. Mùa lạnh làm lúa chiêm tháng năm phát triển chậm lại một chút – nó chiếm đồng ruộng lâu hơn lúa tháng mười; mà lạnh cho phép trồng những cây vùng ôn đới như rau châu Âu và không cho phép trồng đại trà cây dừa – ở Bắc kỳ, cây dừa chỉ được trồng ở ven khuôn viên nhà ở2; những các thứ cây khác trồng đại trà ở đồng bằng phù sa xứ nóng thiếu vắng trên châu thổ lại không phải vì lý do nhiệt độ3. Tóm lại, có thể chấp nhận nhiệt độ như một cứ liệu thô; người nông dân Bắc kỳ chưa bao giờ mất một vụ mùa vì quá nóng hay quá lạnh. 1 E.Bruzon và P.Carton. khí hậu Đông Dương và các cơn bão ở biển Trung Hoa (Hà Nội, NTEC, 1930, 310tr) (xuất bản nhân dịp triển lãm thuộc địa ở Paris, 1931). E.Bruzon, Bản đồ khí tượng, 1930; E.Bruzon, Niên giám của Nha Khí tượng Đông Dương, năm 1930, Đài Khí tượng Trung ương, Phù Liễn, 1932. E.Bruzon, Bản tin đo mưa (phụ trương Niên giám của Nha khí tượng) ghi hàng ngày, năm 1930, Đài Phù Liễn, 1932. 2 Nhiều thứ cây nhiệt đới không còn trồng được ở Bắc kỳ như cây cao su, hoặc trồng không tốt mấy, như cà phê, nhưng đó là những thứ cây trồng ở vùng địa hình lồi lõm. 3 Có thể nêu lên là ở Bắc kỳ không sản xuất xoài ngon, măng cụt ngọt. Nhiều thứ quả khác của vùng xích đạo như sầu riêng, trứng gà, hồng xiêm, hình như không thể chín được ở đây trong những điều kiện tốt. Nếu bông, mía, thầu dầu không nhiều ở châu thổ thì chủ yếu là do ở vùng này, ngoài lúa ra, các thứ cây khác đều là phụ. 62 PIERRE GOUROU Ở Hà Nội, nhiệt độ trung bình hàng năm là 2308, mức tối đa đã quan sát thấy là 4208, ba tháng có nhiệt độ trung bình rất gần với 300 (tháng 6, 7, 8), ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 200 (tháng 12, 1, 2). Bắc kỳ hoàn toàn nằm phía nam của đường hạ chí1 nên tất cả những điều đó không có gì là lạ; chỉ cần nhấn mạnh một điểm mà chúng tôi đã nói nhiều2 tức là ảnh hưởng của địa hình và vị trí của Bắc kỳ so với các trung tâm tác động của khí quyển có hậu quả là làm tăng cái rét của mùa đông và, về phương diện khí hậu, đẩy Bắc kỳ lên phía bắc, đem lại cho nó một nhiệt độ trung bình hàng năm và nhất là nhiệt độ trung bình của tháng lạnh nhất dưới nhiệt độ của vĩ tuyến của nó một cách rõ rệt, vĩ tuyến 200 Bắc3 có nhiệt độ trung bình hàng năm là 2502, nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất là 2803 và nhiệt độ trung bình của tháng lạnh nhất là 2109. Giữa mùa đông, sự hình thành những áp suất thấp ở phía bắc Bắc kỳ gây ra gió Nam và có thể gây ra những nhiệt độ cao có lợi cho trồng trọt, trong khi nhiệt độ tối đa của Hà Nội là 4208, người ta đã ghi được 360 trong tháng 11, 320 tháng 12, 330 tháng 1, 340 tháng 2. Trái lại, cây trồng có thể bị tổn hại vì những thời kỳ “gió Lào” tức là gió nóng và khô từ phía nam thổi tới vào đầu mùa hè bởi sự xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc một áp suất thấp hơn áp suất ở châu thổ và vịnh Bắc kỳ. Nhưng những gió đó có hại cho cây trồng vì chúng khô chứ không phải vì nóng và chúng thuộc phạm vi nghiên cứu mưa hơn là phạm vi nghiên cứu nhiệt độ. II. MƯA Việc nghiên cứu mưa đòi hỏi sự chú ý nhiều hơn; cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ vào sự phân bố mưa và những biến đổi về độ mưa rộng hơn, và có ảnh hưởng nhiều hơn là nhiệt độ. 1 Đường vĩ tuyến 21 chạy qua châu thổ, vĩ tuyến cực Nam của nó là gần đúng với vĩ tuyến 20. 2 P.Gourou, Xứ Bắc kỳ, tr. 18-22. 3 Emm. De Matonne, Khảo về địa lý tự nhiên, T.1, tr. 146. Môi trường vật chất 63 Đại cương Châu thổ Bắc kỳ có mưa nhiều. Trên toàn diện tích, nó nhận được trung bình 1.700 mm lượng mưa hàng năm, tức là một lượng mưa cao hơn sự bốc hơi rất nhiều, mức bốc hơi là 900 mm ở Phù Liễn. Sự phân bố mưa theo thời gian thoạt nhìn là sự phân bố của một xứ gió mùa: ở Phù Liễn, từ tháng 3 đến tháng 9; lượng mưa tổng cộng là 1.355 mm trên tổng số trung bình là 1.767; từ tháng 10 đến tháng 4 chỉ có 412 mm. Độ mưa trong năm biến đổi nhiều nhưng không quá đáng: từ 1907 đến 1934, ở Phù Liễn đã nhận được những lượng mưa như sau: 1907 : 1.868 1917 : 1.371 1927 : 2.230 1908 : 1.564 1918: 1.637 1927 : 2.110 1909 : 2.149 1919: 1.554 1927 : 1.836 1910 : 1.655 1920 : 1.930 1930 : 1.747 1911 : 1.359 1921 : 2.149 1931 : 1.677 1912: 1.816 1922: 1.396 1932 : 1.941 1913 : 1.399 1923 : 1.743 1933 : 1.671 1914 : 1.936 1924 : 1.548 1934 : 2.273 1915 : 1.539 1925 : 1.632 1916 : 1.435 1926 : 2.588 Sự phân bố mưa ở châu thổ cần có một vài nhận xét. Tuy châu thổ nói chung và về trung bình có nhiều mưa, nó vẫn có những sự khác biệt giữa các địa phương mà có lẽ nếu quan sát lâu dài thì có thể những khác biệt đó sẽ giảm đi; vì đối với khá nhiều trạm, việc quan sát không kéo dài quá bốn năm. Như vậy là bản đồ của chúng tôi (hình 10) hoàn toàn có tính chất tạm thời. Nó cho thấy rằng mưa nhiều nhất là ở chân bìa phía tây của châu thổ địa hình cao lên đột ngột của các dãy núi hiểm trở hình thành bìa đó gây ra những cơn mưa to. Chính ở đó ta thấy được lượng mưa trung bình cao nhất châu thổ; Mỹ Khê (t. Mỹ Khê, h. Tùng Thiện, Sơn Tây) có lượng mưa trung bình hàng năm là 2.850 mm, năm mưa nhiều nhất (1929) nhận được 3.810 mm, còn năm khô nhất cũng không dưới 2.204 mm (1930)1. Những trạm lân 1 Những quan sát về Mỹ Khê là trong những năm 1928 – 1934. 64 PIERRE GOUROU Hình 10 Bản đồ lượng mưa của châu thổ Bắc kỳ 1. Lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm – 2. Từ 1.800 đến 2.000 mm – 3. Từ 1.700 đến 1.800 mm – 4. Từ 1.600 đến 1.700 mm – 5. Từ 1.500 đến 1.600 mm – 6. Dưới 1.500 mm – Tỉ lệ: 1/2.000.000 cận1 cũng cho những kết quả giống như vậy. Một trạm nằm trong dãy núi ở phía tây Phủ Lý2 có mức trung bình là 2.600 mm, năm mưa nhiều nhất nhận được 3.240 mm, năm khô nhất 1.995. Toàn bộ châu thổ ở vào giữa 1.700 và 1.800 mm3. Không có những trạm đo mưa để cho phép nói rằng Tam Đảo có gây ra – rất có thể như thế – những trận mưa to hay không, ở phía bắc 1 Các trạm Xuân Thủy, Mô Chen, nằm trên các đồn điền; không thể tìm thấy tên các trạm đó trên bản đồ. Trạm Phú Mẫn ở trong tổng Cẩm Xá (p. Quốc Oai, Sơn Tây). 2 Trạm Đại Đồng. 3 Đây là độ mưa trung bình của một số trạm ở châu thổ: Việt Trì 1.592; Liên Sơn: 1.659; Vĩnh Yên: 1.710; Phúc Yên: 1.700; Hải Dương; 1.760; Ninh Giang; 1.690; Bần Yên Nhân: 1.769; Hưng Yên: 1993, Hà Nội: 1.805. Môi trường vật chất 65 châu thổ, các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang ít mưa; nếu trung bình của Bắc Ninh vẫn còn là 1.690 mm1 thì ở Phủ Lạng Thương đã tụt xuống: 1.516 mm2, ở Lục Nam là 1.460 m, và ở Cao Sơn3 là 1.265 mm. Nếu quan sát không quá ngắn ngủi như thế thì có lẽ người ta có thể khẳng định được rằng Cao Sơn đúng là điểm ít mưa nhất của châu thổ, ở khu vực này, những năm khô nhất quan sát được cho đến nay nhận được dưới một mét nước mưa một chút một năm, do đó hạn hán ở đây tai hại hơn là ở phần còn lại của châu thổ. Vùng Phả Lại (1.474 mm) vẫn còn thuộc khu vực này. Bìa núi non ở Tây Bắc không gây ra nhiều mưa như bìa núi non ở Tây Nam: Uông Bí4 1.826 mm, Mạo Khê (t. Yên Lãng, h. Đông Triều, Hải Dương) 1.843 mm. Vùng ven biển về toàn bộ, nhận được một lượng mưa giống như châu thổ; Phù Liễn với 1.757; Thái Bình với 1.760 mm là những bằng chứng. Nhưng có một vài đặc điểm ở ngay bờ biển: vùng Quảng Yên ít mưa, vì Quảng Yên chỉ nhận được có một lượng mưa 1.551 mm. Trái lại, Hải Phòng5 rất nhiều mưa (1.935 mm), vùng ven biển ở gần Diêm Điền (t. Hồi Đội, h. Thụy Anh, Thái Bình) lại càng nhiều hơn (2.350 mm), còn từ Nam Định đến Văn Lý (t. Tân Khai, h. Hải Hậu, Nam Định) hình như là một vùng tương đối khô; Nam Định nhận được một lượng mưa trung bình 1.559 mm, Văn Lý 1.610 mm. Chính ở Văn Lý người ta đã quan sát được lượng mưa thấp nhất trong năm đo tại một trạm trên châu thổ Bắc kỳ: 861 mm năm 1930. Năm đó tháng 8 rất khô – chỉ mưa có 1 mm – khiến muối thu hoạch được rất nhiều, đạt tới 4.432 tấn; các bể chứa nước đều khô cạn. Bên ngoài khu vực đó, dải đất mưa nhiều phía tây, châu thổ kéo đến tận biển (Ninh Bình: 1930 mm). Tất cả những đặc điểm đó có thể sẽ giảm bớt khi ta có thời gian quan sát dài hơn. Các quan sát đó gợi lên ý nghĩ rằng mưa được một luồng gió từ phía đông đưa lại và đổ mưa lớn xuống bờ biển mà nó thường đến (Diên Điền), đổ 1 Quan sát của Bắc Ninh là trong những năm 1931 – 1934. 2 Trung bình của 1912 – 1930. 3 Đập Cao Sơn nằm trên địa phận của xã Cần Dinh (t. Cần Đinh, p. Lạng Giang, Bắc Giang). 4 Uông Bí là một Trung tâm khai thác than. Thị trấn này nằm trong tổng Bố Giang (h. Yên Hưng, Quảng Yên). 5 Các con số về Hải Phòng đặc biệt đáng lo ngại, thật vậy, mức trung bình đi từ 1.625 đến 1.935 nếu ta chuyển trạm quan sát. Có lẽ trung bình cao nhất là nghiêm chỉnh hơn. 66 PIERRE GOUROU xuống ít ở Quảng Yên vì đã bị các đỉnh núi đảo Cát Bà giữ lại một phần độ ẩm, không gây mưa lớn trên vùng cao Đông Triều, vì nó tiến theo chiều song song với Đông Triều chứ không vỗ mặt. Phía bắc châu thổ càng khô dần về hướng đông, vì nó cứ trải mãi sau các dãy núi cao của Đông Triều và An Châu. Ngược lại các núi bìa Tây Nam châu thổ, nổi lên đột ngột giữa đồng bằng và bị gió đem theo mưa vỗ mặt, gây nên những cơn mưa lớn cách dãy núi không xa. Nếu bức tranh đó đơn giản và logic, thì không có gì đảm bảo rằng nó đúng; chúng tôi không có đầy đủ nhân tố để xác định nguồn gốc mưa ở châu thổ. Nếu quả thật gió đến từ phương Đông là gió chủ yếu, thì dông, tác nhân gây nên mưa lớn ở châu thổ, lại thường đến từ hướng tây. Sự di chuyển của dông, sự vận động của không khí trên những tầng cao vẫn còn phải nghiên cứu. Phân bố mưa trong năm Về phương diện phân bố mưa trong năm, châu thổ bắc kỳ chia làm ba mùa: từ tháng 10 đến tháng 12, từ tháng 1 đến tháng 4, từ tháng 5 đến tháng 9. Ranh giới giữa các mùa đó không phải là chính xác tuyệt đối và biến đổi tùy theo từng năm. Từ tháng 10 đến tháng 12, mưa ít, và có thể là hầu như không có mưa; đặc biệt độ ẩm tương đối thấp và đó là những tháng duy nhất độ ẩm xuống dưới 80%, số ngày mưa, thời gian mưa cũng là thấp nhất; nhưng tháng 12 đã có những tính chất hơi khác tháng 11, số trung bình ở đây phản ánh một sự việc là tháng 12, trong một số năm nào đó, đã thuộc vào mùa thứ hai, theo cách phân biệt của chúng tôi. Quý này, tóm lại, là thời kỳ duy nhất đáng gọi là mùa khô; các chân ruộng cao, những chân ruộng không cấy được lúa tháng năm và một phần ruộng trung bình có thể cấy được lúa đó, đều hoàn toàn khô cạn, đất nứt nẻ. Đó là mùa dễ chịu nhất, ánh sáng trong trẻo nhất, vụ gặt tháng mười, tất cả các công việc đồng áng lớn trong năm, chắc chắn là công việc đỡ nhọc nhằn hơn cả: không khí mát mẻ và tương đối khô, người thợ gặt không phải lội bì bõm trong nước bùn và lưu vực không lo dông mưa đổ xuống, và không phải vội vàng quá đáng. Bảng dưới đây đề ra những số liệu quan trọng về khí hậu cho mỗi tháng, chúng cho phép theo dõi sự mô tả này; đây là những số liệu của đài khí tượng Phù Liễn. Môi trường vật chất 67 Tổng cộng mưa mm Độ ẩm tương đối % Tổng số ngày mưa và có vệt mưa Số ngày mưa phùn T/gian mưa trung bình (giờ) Số giờ nắng trung bình (giờ mỗi ngày) Số ngày không có ánh mặt trời Bốc hơi ngoài không khí mm Tháng 1 32 81,3 16 10 91 2,7 22 51 Tháng 2 40 87,4 20 16 157 1,7 11 46 Tháng 3 44 89,2 23 17 164 1,6 22 41 Tháng 4 74 89,3 22 11 104 2,9 11 61 Tháng 5 189 85,5 20 1 64 5,8 3 82 Tháng 6 248 85,4 19 69 5,7 3 74 Tháng 7 293 84,8 20 86 5,9 4 89 Tháng 8 327 86,2 20 92 5,2 2 84 Tháng 9 298 83,6 20 74 6 1 94 Tháng 10 118 79,3 16 55 6,2 1 133 Tháng 11 64 76,1 13 3 56 4,9 6 107 Tháng 12 30 78 14 7 74 3,7 14 53 Từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa thấp, nhưng độ ẩm tương đối lại đạt mức tối đa (89,3% vào tháng 4); đó là thời kỳ mưa phùn được đánh dấu trong các thống kê trung bình bằng số ngày mưa và mưa phùn nhiều nhất, bằng độ dài của các cơn mưa, bằng số ngày không có mặt trời nhiều nhất. Mưa phùn đã được nghiên cứu kỹ rồi và chúng tôi sẽ không trở lại vấn đề đó1. Nó biến đổi tùy theo năm; năm 1926, từ tháng 12 đến tháng 4, mưa phùn hầu như liên miên không dứt2, năm 1923, những ngày mưa phùn lại rất ít3. Cường độ tối đa của nó xê dịch tùy theo năm, từ tháng 1 đến tháng 4. Những biến đổi này có tầm quan trọng chung và của thời kỳ có cường độ tối đa là do những sự di chuyển của những áp suất ở châu Á. Khi những áp suất cao mùa đông vùng núi châu Á đi ra khỏi Bắc kỳ, được thay thế bằng một chế độ áp suất hơi thấp hơn một chút, rất yên tĩnh, với gió biển vừa phải, 1 Xem công trình nghiên cứu xuất sắc về vấn đề này của LeCadet. Chế độ mưa ở Đông Dương BEI, 1917, tr.1-50 2 90 ngày mưa phùn từ tháng 11 đến tháng 4. 3 36 ngày mưa phùn từ đầu tháng 12 đến tháng 4. 68 PIERRE GOUROU Hình 11 Lượng mưa ở Phù Liễn từ 1907 đến 1934 thì mưa phùn xuất hiện; độ ẩm trong không khí ấm từ biển Trung Hoa tới, đọng lại khi gặp nhiệt độ thấp hơn của không khí và đất của châu thổ Bắc kỳ1. Đó là mưa phùn thật sự, mưa phùn dai dẳng; trong những điều kiện khí 1 Có một bản đồ rất tốt về loại thời tiết mưa phùn trong cuốn sách của Bruzon và Carton. Khí hậu Đông Dương và các cơn bão ở biển Trung Hoa, Hà Nội, IDEO, 1931 (Triển lãm thuộc địa 1931); bên cạnh trang 74. Tình hình thời tiết ngày 3 tháng 2 năm 1930. Môi trường vật chất 69 quyển khác, ta có thể thấy có sương mù ẩm ướt trong một, hai ngày, nhưng chúng không kéo dài1. Trong nhiều tuần liền, mặt trời không ló mặt, một bức màu xám che lắp phía xa, bằng những hạt nước nhỏ li ti, sương mù làm đất ẩm ướt, khiến đường đi hết sức trơn, nước đọng ở đầu các ngọn lá. Tuy nhiên vẫn có một ánh sáng mờ mờ lọt qua sương mù, đem lại một tia phát quang cho những cây mạ mới cấy. Đó là một thời kỳ ai cũng coi là khó chịu vì ẩm ướt, nhớp nháp nhưng lại là một thời kỳ trọng yếu cho nền kinh tế nông nghiệp. Thật vậy, phải dành một tầm quan trọng lớn cho mưa phùn và cho những cơn mưa vào mùa “khô”; chính nhờ những lượng ẩm ít ỏi đó và nhờ không còn có bốc hơi nữa vì mưa phùn mà châu thổ Bắc kỳ có thể cấy lúa vào mùa khô, cho vụ gặt tháng năm (lúa chiêm) và có thể trồng được nhiều thứ cây không cần tát nước. Dĩ nhiên, phần lớn những cây trồng đó đã bắt đầu bằng việc sử dụng, vào tháng 11 và 12, cái vốn ẩm ướt đã được tích lũy trong đất và trong ao ở mùa mưa, nhưng chỉ có thể thu hoạch tốt được nhờ mưa phùn. Như vậy, có thể nói được rằng, nói chung, mưa phùn đã cho phép châu thổ làm được một vụ mùa thứ hai, và do đó, mưa phùn tỏ ra là một trong những nhân tố quyết định mật độ dân số rất cao của châu thổ Bắc kỳ. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, nhưng có thể bắt đầu khá muộn trong tháng 5 và kéo dài sang tháng 10. Sự phân bố các thời kỳ mưa trong mùa mưa biến đổi tùy theo năm. Mức tối đa trung bình ở vào tháng 8, nhưng qua 28 năm quan sát, ta thấy 11 mức tối đa trong tháng 8, 2 trong tháng 5, 3 trong tháng 6, 5 trong tháng 7, 6 trong tháng 9, 1 trong tháng 10. không có mùa khô ngắn trong mùa hè, khác với những điều ta nhận thấy ở các khí hậu gió mùa thật sự nhiệt đới, như khí hậu Sài Gòn2. 1 Người ta sẽ thấy những cơn mưa phùn rất ngắn khi các áp suất cao dẫn dắt quay trở lại và xua đi các áp suất thấp và không khí ẩm. 2 Những thời điểm mặt trời đi qua thiên đỉnh quá sít nhau ở châu thổ Bắc kỳ nên không thể thấy xuất hiện một thời kỳ khô hơn giữa những thời điểm đó. Có thể nêu lên rằng độ ẩm tương đối hạ thấp chút ít vào tháng 7, tương ứng với nhiệt độ tối đa, có lẽ gắn liền với mặt trời đi qua thiên đỉnh, khi nó đi từ hạ chí tuyến xuống đường xích đạo. Theo các chỉ dẫn của ông Bruzon, giám đốc Đài Quan trắc Trung ương và giám đốc Nha Khí tượng Đông Dương, có nhã ý chuyển cho chúng tôi, mặt trời đi qua thiên đỉnh ở Hà Nội (vĩ tuyến 21002’) là vào những ngày 25 – 26 tháng 5 và 18 – 19 tháng 7. 70 PIERRE GOUROU Những cơn mưa to trong mùa hè gắn liền với hai hiện tượng chính: dông và bão. Mưa mùa hè thường là mưa dông. Điều kiện hình thành dông không được biết rõ ở Bắc kỳ. Người ta không biết rõ rằng tại sao những thời kỳ khô hanh, trời trong, nóng nực – sẽ nguy hiểm cho nông nghiệp nếu chúng kéo dài quá 10 ngày – lại xen kẽ với những thời kỳ mưa với nhiệt độ hạ thấp. Chắc chắn rằng các cơn dông không hình thành tại chỗ; ta thấy chúng nổi lên ở chân trời và đi theo những hướng khác với các luồng gió ở mặt đất. Ở Hà Nội, thường thường là khi ở mặt đất có gió nhẹ Đông nam thì đấy nổi lên những cơn dông từ phía tây tây nam1. Dù nguồn gốc của chúng là gì đi nữa, các cơn dông bao giờ cũng xuất hiện theo cùng một kiểu: một khối những đám mây tích từng lớp (cumulus) xùi xùi hiện ra ở chân trời và tiến tới; đi trước nó là những đám mây tầng (stratus) tạo thành một bức màn tối đa ở bên rìa. Cơn dông này hoạt động như một khí áp thấp cổ điển: nó đi sau một lớp khí lạnh dồn khí nóng đi; khi cơn dông tới gần, một cơn gió to và mát đột ngột tới trước những hạt mưa đầu tiên; những biểu hiện mạnh mẽ của sấm sét đi kèm với cơn dông nổ ra. 1 Ông Bruzon đã có nhã ý cho chúng tôi biết những suy nghĩ sau đây về sự hình thành của các cơn dông. Châu thổ Bắc kỳ và vịnh Bắc kỳ bị chiếm lĩnh bởi một áp suất thấp gây ra những luồng gió đều đều Đông Nam, cho nên có thể có hai trường hợp xảy ra. 10. Nếu không có gì làm sửa đổi tình hình đó thì bất chợt sẽ xảy ra những cơn mưa dông mạnh nhưng thu hẹp vào một nơi. 20. Nếu có những lớp không khí lạnh từ phía bắc tới lọt vào những tầng thấp của khí quyển thì chúng gây ra “sự hình thành phố biển của những đám mây đen nhiều lớp rất lớn (cumulo-nimbus) và những trận mưa như trút. Tình hình mới này có thể kéo dài nhiều ngày nếu nhiệt độ tăng dần lên một cách chậm chạp. Tình hình khí áp ở mặt đất khi ấy rất đảo lộn, có những góc khí nóng xen kẽ với những góc khí lạnh, có những túi áp suất thấp xen kẽ với những xoáy nghịch”. Chúng tôi nói thêm rằng những cơn dông mùa hè này không hình thành tại chỗ; đó không phải là những sự tích tụ những hạt nước sản sinh ra từ không khí nóng và ẩm bốc lên tại chỗ. Không thể nói được rằng vào mùa hè, buổi chiều ít nắng hơn buổi sáng; các cơn dông hình thành vào bất cứ lúc nào trong ngày và nhiều khi ngay giữa ban đêm. Vậy là không thể nói được rằng đây là những cơn mưa đối lưu. Môi trường vật chất 71 Ở đây, chúng tôi không lặp lại việc nghiên cứu bão1 quan trọng nhất là đối với người nông dân Bắc kỳ bão là tai họa ghê gớm vì những cơn mưa kèm theo và gió to. Bão thường đi kèm với những cơn mưa rất lớn: một cơn bão tháng 9/1927 đã gây ra ở Phù Liễn một lượng mưa trong bốn ngày là 1.020 mm. Những trận mưa này làm ngập đồng ruộng và nếu nước không thoát kịp thì mùa màng sẽ bị hủy hoại2. Tuy nhiên, không thể nào xác lập được mối tương quan giữa các cơn bão và độ mưa toàn bộ và nói được rằng dù tác hại đến đâu, các cơn bão vẫn có cái lợi là đem lại cho vùng châu thổ một phần lớn nước cần thiết cho hồ. Bảng dưới đây cho thấy sự phân bố bão trong năm đã có ảnh hưởng tới khí hậu châu thổ từ 1910 đến 1934. Để so sánh, chúng tôi ghi độ mưa của năm, lượng mưa trong tháng xảy ra bão và lượng mưa trung bình của tháng đó. (Xin xem bảng). Năm Bão Tổng số cơn mưa trong năm Mưa trong tháng hoặc các tháng có bão (trong ngoặc đơn là lượng mưa trung bình của tháng) Th.5 Th.6 Th.7 Th.8 Th.9 Th.10 Th.11 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1910 1 1655 685 mm (trung bình 298) 1911 1 1359 116 mm (trung bình 298) 1912 1 1 1816 567 mm (trung bình 293) 88 (trung bình 298) 1913 1 1397 192 mm (trung bình 1914 1936 1915 1 1539 90 mm (trung bình 64) 1916 1 1 2 1435 165 mm (trung bình 189) 312 mm (trung bình 248) 318 mm (trung bình 298) 1 Xem công trình nghiên cứu rất hay của ông Bruzon khí hậu Đông Dương và những cơn bão ở biển Đông, tr.259-310, trong đó sẽ thấy những bản đồ khí áp rất bổ ích. Mặt khác, chúng tôi đã dành cho việc nghiên cứu vấn đề này những trang từ 33 đến 36 trong cuốn Xứ Bắc kỳ của chúng tôi (Paris, Triển lãm thuộc địa, 1931). 2 Người ta có thể hình dung được sự tàn phá của những cơn mưa như thế đối với một xứ bằng phẳng, phải thoát chậm, không thẩm thấu. Phần lớn đất đai bị ngập; nếu quá bốn ngày ngập nước thì lúa hỏng. 72 PIERRE GOUROU 1917 1 1371 436 mm (trung bình 298) 1918 1637 1919 1 1554 540 mm (trung bình 327) 1920 1 1930 377 mm (trung bình 293) 1921 1 2149 441 mm (trung bình 293) 1922 1396 1923 2 1743 341 mm (trung bình 327) 1924 1 1 1548 400 mm (trung bình 327), 68 (tb.118) 1925 1632 1926 1 1 1 2588 233 mm (trung bình 293) 982 (trung bình 327) 394 (trung bình 298) 1927 1 1 2230 162 mm (trung bình 327) 1193 (trung bình 298) 1928 1 2110 453 mm (trung bình 293) 453 mm (trung bình 327) 1929 1 1 1836 530 mm (trung bình 293) 195 (trung bình 327) 1930 1 1 2 1747 222 mm (trung bình 189), 440 (trung bình 293), 208 (trung bình 298) 208 (trung bình 298) 1931 1677 1932 1 1 3 1941 56 mm (trung bình 189) 442 (trung bình 293) 454 (trung bình 298) 1933 1 1 2 1671 149 mm (trung bình 293), 234 (trung bình 327) 310 (trung bình 298) 1934 2 1 1 1 2273 546 mm (trung bình 293), 681 (trung bình 327) 207 (trung bình 298)1 3 1 12 10 16 2 1 1767 (Thiếu lượng mưa tháng 10) Như vậy là, trong 25 năm đã có 45 cơn bão có liên quan nhiều ít tới độ mưa của Bắc kỳ. Có những năm không có bão (1914, 1918, 1922, 1925, 1931). Tuy nhiên, không thể nói được rằng lượng mưa mỗi năm có tương quan trực 1 Thiếu lượng mưa của tháng 10. Môi trường vật chất 73 tiếp với số các cơn bão; những năm không có bão đã có những lượng mưa như sau: 1.936 mm, 1.637 mm, 1.396 mm, 1.632 mm, 1.677 mm, tức là trung bình 1.655 mm, không phải là kém trung bình chung (1.677), nhiều lắm, để ta có thể rút ra lý lẽ gì về sự chênh lệch đó. Trong 36 tháng có bão, 13 tháng đã có độ mưa kém mức bình thường, và 23 tháng có độ mưa cao hơn, trong đó 4 tháng chỉ cao hơn độ thường chút ít. Ta thấy rằng, nói chung, không thể nào khẳng định được rằng các cơn bão tất yếu tăng thêm độ mưa. Mặt khác, các cơn bão gây ra rất nhiều tai hại cho vùng biển. Thật vậy, ở trung tâm bão, nhưng may mắn là trung tâm bão ít khi tới Bắc kỳ, khối nước biển bị hút lên làm mức nước dâng lên vài tấc. Nước dâng bao giờ cũng kèm theo những cơn gió rất mạnh, nên đại dương tấn công càng dữ dội những sự bảo vệ kém cỏi của vùng ven biển và tràn ngập một phần đất; tai họa này là lớn vì mùa màng bị phá hủy, nước mặn có nguy cơ làm hỏng các vụ sau, một phần đê biển phải đắp lại. Những tài liệu của Việt Nam mà chúng tôi đã tham khảo được cho biết có một số tai họa loại đó, chẳng hạn, năm 1816, các vùng ven biển ở Quảng Yên, Kiến An, Thái Bình bị tàn phá bởi nước biển dâng lên vì một cơn bão. Ngược lại, những đợt “sóng thần” có nguồn gốc do động đất gây ra là hiếm thấy ở Bắc kỳ vốn là một vùng mà vỏ quả đất ít rung động. Tuy nhiên, có thể cảm thấy những đợt “sóng thần” có nguồn gốc từ xa; hình như năm 1883, một phần huyện Tiền Hải (Thái Bình) bị sóng thần tràn ngập, có liên quan đến vụ bùng nổ của núi lửa Krakatoa1. Khô hạn Châu thổ Bắc kỳ có bị hạn hán ghê gớm, thường xuyên đe dọa không? Hình như là không, nếu ta xem xét số lượng mưa hàng năm, đã được vẽ thành biểu đồ (hình 11). Lượng tối thiểu hàng năm là 1.359 mm, lượng tối da hàng năm là 2.588 mm, lượng trung bình là 1.767, khiến ta không nghĩ rằng mưa hàng năm là thất thường, mức tối thiểu không thấp hơn mức trung bình nhiều lắm. Tuy vậy, những năm ít mưa sẽ gây tai hại cho những vùng ít nước phía đông bắc châu thổ hơn là các vùng ẩm ướt, chính đó là lý do, cùng với điều kiện thi công dễ dàng, khiến cho những hệ thống thủy lợi đầu tiên đã được xây dựng ở đó. 1 Lưu trữ trung ương, RST, số 15564. 74 PIERRE GOUROU Về mặt này, châu thổ được ưu đãi hơn nhiều vùng nhiệt đới khác, những nơi đó chế độ mưa thất thường hơn; đặc biệt là miền Bắc Trung Kỳ, ở Vinh mưa thất thường rõ rệt nhất: lượng mưa tối thiểu quan sát được ở trạm này là 987 mm (1927) và tối đa là 2.671 (1909). Nhưng nếu mưa hàng năm khá đều thì sự phân bố mưa trong năm lại rất thất thường. Nếu lượng mưa tháng này thiếu hụt được bù bằng lượng mưa nhiều trong một tháng khác, khiến cho tổng số cơn mưa hàng năm vẫn không cách xa lượng mưa trung bình, thì dẫu sao một thời kỳ hạn ngắn trong mùa mưa vẫn có hậu quả nghiêm trọng đối với nông nghiệp. Thật vậy, có rất nhiều chân ruộng cao mà chỉ cần 10 ngày không mưa, vào một thời kỳ nước bốc hơi mạnh1, là đã rất nguy hiểm rồi, quá thời hạn đó, lúa bắt đầu bị tổn hại và dự trữ nước bị cạn làm cho công việc thủy lợi hầu như không thể thực hiện được. Các vùng đất thấp và ruộng ven biển thoát ra ngoài nguy cơ này. Bảng dưới đây về số cơn mưa hàng tháng trong một thời kỳ 28 năm cho thấy rằng những thời kỳ hạn hán nặng xuất hiện ngay giữa mùa mưa một tháng 8 chỉ nhận được có 85 mm mưa là một tháng rất khô. TỔNG SỐ MƯA TRONG những THÁNG MÙA MƯA Ở PHÙ LIỄN Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 1907 262 114 133 379 170 550 1908 96 184 106 411 358 92 1909 195 318 373 452 413 105 1910 140 185 163 159 685 101 1911 243 141 346 85 116 136 1912 148 185 567 402 88 26 1913 234 115 192 271 154 107 1914 202 233 517 172 69 281 1915 202 358 154 165 123 255 1916 165 312 233 221 318 45 1917 61 213 109 175 436 143 1918 149 309 239 420 232 5 1 Xem Chassigneus, Thủy lợi ở châu thổ Bắc kỳ (Niên giám địa lý), tập VI, 1912, tr.5-20) Môi trường vật chất 75 1919 107 309 306 540 80 10 1920 210 106 377 293 537 128 1921 267 227 441 499 491 18 1922 66 200 281 321 108 112 1923 132 594 134 341 159 68 1924 428 188 151 400 60 68 1925 297 336 226 169 248 67 1926 119 298 233 982 394 277 1927 148 173 321 162 1193 56 1928 285 393 453 453 106 64 1929 172 137 530 195 317 43 1930 222 319 440 176 208 64 1931 175 150 257 420 393 31 1932 56 260 442 311 454 63 1933 417 144 149 234 310 179 1934 212 227 546 681 207 198 Nhưng mưa thất thường trong mùa mưa phùn lại còn có hậu quả nghiêm trọng hơn nữa. Vụ lúa chiêm trên các chân ruộng cao trung bình nhiều khi bị hại hơn so với vụ tháng mười. Hạn trong những tháng mùa đông kèm theo bốc hơi khác thường dưới một bầu trời không có mưa phùn, bị hủy hoại lúa đầu mùa. Bảng dưới đây cho thấy những vụ mưa trong mùa khô có thể là thất thường. BẢNG MƯA TRONG THỜI KỲ MƯA PHÙN Ở PHÙ LIỄN Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tổng số 1907 32 25 49 106 112 1908 88 56 10 47 201 1909 23 35 49 86 193 1910 16 33 29 63 141 1911 7 12 41 78 38 1912 126 37 64 74 301 1913 6 26 40 113 185 1914 33 79 15 85 202 1915 17 12 35 28 92 76 PIERRE GOUROU 1916 3 8 31 63 105 1917 22 23 87 65 197 1918 1 4 116 79 200 1919 8 22 36 61 127 1920 8 49 26 57 140 1921 76 68 9 30 183 1922 86 24 108 28 246 1923 5 15 11 109 140 1924 67 40 23 114 244 1925 20 29 48 72 169 1926 34 66 78 64 239 1927 15 56 30 36 137 1928 26 85 23 102 236 1929 42 135 56 119 252 1930 17 39 48 105 209 1931 3 45 63 137 248 1932 1 123 34 165 323 1933 13 63 86 62 224 1934 12 6 10 67 95 Tổng số mưa trong những tháng có độ ẩm khá lớn là cần thiết cho lúa chiêm sinh trưởng, lại rất biến đổi, vì nó có thể chỉ là 92 mm hoặc đạt tới 323 mm. Tuy nhiên, những vụ hạn đó nói chung không tai hại lắm; châu thổ Bắc kỳ không bị luôn luôn đe dọa thiếu nước, đó không phải là một thiên tai ụp xuống từ xứ này theo những khoảng cách sát nhau và làm cho dân chúng đói, như những tai họa thường hay tàn phá Nghệ An, một số vùng ở Ấn Độ, miền Bắc Trung Quốc. Ngoài vài năm đặc biệt như 1895 hạn hán có làm giảm thu hoạch các vụ mùa nhưng không hủy hoại chúng. Trên thế giới không có nước nào không bị hạn, và Bắc kỳ cũng chịu quy luật chung; về mặt này, nó ở trong một tình trạng trung bình và không phải bị số phận ngược đại lắm. Vả chăng chính một phần nhờ tình trạng mưa tương đối đều đặn mà châu thổ có một mật độ dân số rất cao, không bị cản trở nghiêm trọng vì những thiên tai. Môi trường vật chất 77 Theo một thống kê do Kinh lược Bắc kỳ lập ra năm 1897, có lẽ ở Bắc kỳ, từ 1808 đến 1896, chỉ có bảy vụ hạn hán nặng (1809, 1823, 1824, 1826, 1864, 1889, 1895)1 đã phá hủy một phần mùa màng. Như vậy có nghĩa chúng tôi không hoàn toàn tán thành quan điểm của ông Chassigneux trong cuốn khảo luận đặc sắc về Thủy lợi ở châu thổ Bắc kỳ2, ông đã dành cho các vụ hạn hán một ý nghĩa quan trọng nhiều hơn là chúng gây nên. Đọc Biên niên sử Việt Nam3, tác giả đã chú ý đến con số rất lớn những vụ hạn hán được nêu ra; ta sẽ tìm thấy trong công trình nghiên cứu của ông Chassigneux những trích dẫn các tài liệu Việt Nam, được vận dụng rất có nghệ thuật và phương pháp, chúng tôi không thể làm nổi được như vậy và xin phép mời độc giả đọc những trang rất sinh động mà tác giả đó đã dành cho những sự tàn phá của các vụ hạn hán và việc cầu đảo lập đàn trai giới của các vua để mong chấm dứt hạn. Tuy nhiên, chỉ nên dành cho các tài liệu Việt Nam một giá trị rất thấp. Đó là những biên soạn nhàm chán theo thứ tự thời gian vừa cứng nhắc, vừa ngây thơ, trong đó các sự kiện được trình bày không có trật tự, không có phê phán. Người ta thường nói đến hạn, nhưng với những khoảng cách rất dài, mà điều đó cũng không hề cho phép tin rằng có một tính định kỳ nào đó trong độ mưa. Không chắc rằng những vụ hạn hán đã nêu lên, có thật đã phá hủy mùa màng không. Rất nhiều khi người ta cho biết rằng, theo sự cầu đảo của nhà vua, trời đã mưa xuống như vậy là có hạn, nhưng hạn đã chấm dứt trước khi tác hại. Mặt khác có một sự việc lạ lùng, nói lên rất nhiều về giá trị các tài liệu đó, tức là trước thế kỷ XIX, những sự tàn phá của lụt rất hiếm khi được nêu lên; người ta hầu như không bao giờ nói đến lũ lụt, vỡ đê, là những việc xảy ra nhiều hơn là hạn và nguy hiểm hơn nhiều đối với an ninh và phồn thịnh của người nông dân. 1 Cứ liệu nêu lên trong một báo cáo của Sở Lục lộ lưu trữ tại viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO): số 4o258. Xem những điều chúng tôi nói về các vụ hạn hán ở Hưng Yên ở dưới. 2 Xem chú thích ở trên. 3 Ở EFEO trong các tài liệu của Dumoutier, có một bản dịch thô sơ của cuốn Biên niên sử Việt Nam mà có lẽ ông Chassigneux đã sử dụng; chúng tôi không có được công cụ làm việc nào khác. 78 PIERRE GOUROU """