"
Người Lạ Trên Tàu - Patricia Highsmith PDF EPUB
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Người Lạ Trên Tàu - Patricia Highsmith PDF EPUB
Ebooks
Nhóm Zalo
NGƯỜI LẠ TRÊN TÀU ---❊ ❖ ❊---
Tác giả: Patricia Highsmith Dịch thuật: Mai Trang Phát hành: Bách Việt Nhà xuất bản Lao Động
ebook©vctvegroup
TOC
CHƯƠNG 1 CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 3 CHƯƠNG 4 CHƯƠNG 5 CHƯƠNG 6 CHƯƠNG 7 CHƯƠNG 8 CHƯƠNG 9 CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11 CHƯƠNG 12 CHƯƠNG 13 CHƯƠNG 14 CHƯƠNG 15 CHƯƠNG 16 CHƯƠNG 17 CHƯƠNG 18 CHƯƠNG 19 CHƯƠNG 20 CHƯƠNG 21 CHƯƠNG 22 CHƯƠNG 23 CHƯƠNG 24 CHƯƠNG 25 CHƯƠNG 26 CHƯƠNG 27 CHƯƠNG 28 CHƯƠNG 29 CHƯƠNG 30 CHƯƠNG 31 CHƯƠNG 32 CHƯƠNG 33
CHƯƠNG 34 CHƯƠNG 35 CHƯƠNG 36 CHƯƠNG 37 CHƯƠNG 38 CHƯƠNG 39 CHƯƠNG 40 CHƯƠNG 41 CHƯƠNG 42 CHƯƠNG 43 CHƯƠNG 44 CHƯƠNG 45 CHƯƠNG 46 CHƯƠNG 47
CHƯƠNG 1
C
on tàu lao đi vùn vụt với guồng quay bất ổn đầy giận dữ. Nó phải dừng chân ở các trạm thường xuyên hơn, nơi nó sẽ nôn nóng đứng chờ trong giây lát rồi lại tiếp tục tấn công thảo nguyên. Nhưng biến động mà nó gây ra lại quá đỗi nhỏ bé. Thảo nguyên chỉ khẽ dập dờn, như một chiếc chăn hồng mênh mông bị rũ nhẹ một cách thờ ơ. Tàu chạy càng nhanh thì những chuyển động dập dờn ấy lại càng trôi nổi trong gió với vẻ nhạo báng.
Guy rời mắt khỏi khung cửa sổ, tiếp tục ngồi dính chặt vào ghế. Miriam sẽ cố gắng trì hoãn vụ ly dị lâu nhất có thể, anh nghĩ thầm. Vì tiền, có khi cô ta còn chẳng muốn ly dị cũng nên. Cứ thế này thì liệu anh có thể thật sự cắt đứt với cô ta không? Anh bắt đầu nhận ra sự căm ghét đang dần làm tê liệt suy nghĩ của mình, tạo ra những lối rẽ nhỏ tối tăm trên con đường mà logic đã chỉ ra khi anh còn ở New York. Anh có thế cảm nhận Miriam đang ở trước mặt, không còn xa xôi, làn da hồng hào và rám nắng, đầy tàn nhang, phát ra hơi nóng bệnh tật, như thảo nguyên bên ngoài khung cửa sổ kia. Sưng sỉa và thô lỗ.
Anh tìm thuốc lá trong vô thức, lần thứ 10 nhớ tới quy định không được phép hút thuốc trong toa cao cấp, nhưng cuối cùng vẫn rút ra một điếu. Anh gõ điếu thuốc lên mặt đồng hồ rồi xem giờ, như thể điều đó vẫn còn có ý nghĩa trong ngày hôm nay, 5 giờ 12 phút. Anh đút điếu thuốc vào khóe miệng trước khi đưa que diêm lên. Thế rồi que diêm trên tay được thay thế bằng điếu thuốc, anh hít vào từng hơi thật đều và chậm rãi. Hết lần này tới lần khác, đôi mắt
nâu của anh rơi xuống vùng đất bướng bỉnh và hấp dẫn bên ngoài cửa sổ kia. Một bên cổ áo mềm mại hơi vểnh lên. Trên hình ảnh phản chiếu được ráng chiều in lên cửa kính, viền cổ áo trắng dọc quai hàm gợi lại phong cách ăn mặc của thế kỷ trước, cũng giống như mái tóc đen được vuốt cao, rũ xuống trên đỉnh đầu rồi thu gọn lại sau gáy. Mái tóc vuốt lên và đường dốc của chiếc mũi dài khiến vẻ ngoài của anh mang theo nét mạnh mẽ và bạo dạn, dù hàng lông mày ngang rậm rạp và khuôn miệng lại cho thấy sự trì trệ và bảo thủ. Anh mặc một chiếc quần vải flannel phẳng phiu, áo khoác sẫm màu rũ xuống trên cơ thể dong dỏng và có màu tím nhạt ở những nơi được ánh sáng chiếu vào, cà vạt len màu cà chua được thắt cẩn thận.
Anh không nghĩ Miriam sẽ có bầu trừ phi cô ta muốn. Điều đó cũng có nghĩa là người tình của cô ta có ý định cưới xin. Nhưng vì sao cô ta lại gọi cho anh? Cô ta không cần sự có mặt của anh thì mới có thể nộp được đơn ly dị. Và vì sao anh cứ lặp lại những luận điệu ngu ngốc mà anh đã nghĩ tới cách đây 4 ngày khi nhận được thư của cô ta? 5 hay 6 dòng gì đó bằng nét chữ viết tay tròn trịa của Miriam chỉ nói rằng cô ta sắp có con và muốn gặp anh. Anh lập luận rằng việc cô ta có bầu sẽ đảm bảo cho vụ ly dị được tiến hành, nhưng vì sao lúc này anh lại thấy lo lắng cơ chứ? Điều khiến anh bị tra tấn nhất là ở một vùng đất sâu thẳm trong tâm hồn, anh thấy ghen tị vì cô ta đang mang thai con của một người đàn ông khác, nhưng lại từng bỏ đi đứa con của anh. Không, anh tự nhủ rằng chẳng có gì ngoài cảm giác xấu hổ khiến anh bực bội, xấu hổ vì anh đã từng yêu một người như Miriam. Anh dập tắt điếu thuốc lên mặt lò sưởi. Đầu thuốc lăn xuống chân và anh đá nó vào phía dưới lò sưởi.
Hiện giờ, có rất nhiều thứ để hướng tới. Ly dị, công việc ở Florida - gần như chắc chắn Ban giám đốc sẽ duyệt các bản vẽ của anh và trong tuần này thôi, kết quả sẽ ngã ngũ - rồi cả Anne nữa. Bây giờ, anh và Anne đã có thể bắt đầu lên kế hoạch được rồi. Hơn 1 năm
qua, anh đã chờ đợi, cáu bẳn, mong đợi chuyện này xảy ra để anh được tự do. Cảm nhận được sự hạnh phúc đang bùng nổ một cách dễ chịu, anh thả lỏng người trên chiếc ghế xa hoa. Thật sự, suốt 3 năm qua, anh vẫn mong chờ chuyện này xảy ra. Anh có thể trả tiền để ly dị, tất nhiên, nhưng anh chưa bao giờ gom góp được nhiều tiền tiết kiệm như lúc này. Không có nhiều phúc lợi vì anh không làm việc ổn định ở một công ty nào, khởi nghiệp là một kiến trúc sư chưa bao giờ là một điều dễ dàng và ngay cả bây giờ cũng vậy. Miriam chưa bao giờ đòi lấy thu nhập của anh, nhưng cô ta yêu sách anh theo cách khác, nói chuyện về việc anh ở Metcalf như thể họ vẫn còn tốt đẹp lắm, như thể anh tới New York chỉ để thể hiện bản thân và cuối cùng sẽ đưa cô ta tới cùng. Thỉnh thoảng, cô ta lại viết thư vòi tiền anh, những khoản tiền nhỏ thôi nhưng rất phiền nhiễu, anh vẫn gửi bởi vì cô ta có thể thản nhiên khởi động một chiến dịch chống lại anh ở Metcalf, mà mẹ anh thì vẫn đang ở đó.
Một chàng trai trẻ tóc vàng, cao ráo, mặc bộ vest màu nâu đồng vừa ngồi phịch xuống chiếc ghế trống đối diện Guy và nở một nụ cười có phần thân thiện, sau đó dịch người vào trong góc. Guy liếc nhìn khuôn mặt nhỏ thó, xanh xao của cậu ta. Có một cái mụn lớn ở giữa trán cậu. Guy lại đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.
Chàng trai ngồi đối diện có vẻ đang đấu tranh xem nên bắt chuyện hay đánh một giấc. Khuỷu tay của cậu ta liên tục trượt dọc bục cửa số và mỗi khi hàng lông mi rậm rạp mở ra, đôi mắt xám đỏ quạch lại nhìn anh cùng với một nụ cười mỉm trên môi. Có lẽ cậu ta đang ngà ngà say.
Guy mở sách ra đọc, nhưng đầu óc anh lại đi lang thang ngay sau một nửa trang giấy. Anh ngẩng lên khi hàng bóng đèn huỳnh quang trắng lập lòe chiếu xuống từ nóc toa tàu, ánh mắt vẩn vơ chạm vào một điếu xì gà chưa được châm đang xoay tròn lơ đãng bởi một bàn tay xương xẩu sau lưng ghế, sau đó anh nhìn vào hàng chữ viết hoa
được lồng vào nhau đang lắc lư trên một sợi dây vàng mỏng vắt qua cà vạt của chàng trai ngồi đối diện. Hàng chữ ấy là CAB, chiếc cà vạt bằng lụa xanh lục, bên trên là những cây cọ chướng mắt màu da cam được vẽ bằng tay. Cơ thể thon dài mặc bộ đồ màu nâu đồng ấy đang nằm duỗi ra một cách ẻo lả, đầu ngả ra phía sau khiến cho cái nhọt lớn hoặc vết sưng trên trán kia trông như một ngọn núi lửa sắp phun trào. Đó là một khuôn mặt thú vị, dù Guy không biết vì sao. Trông nó chẳng già cũng chẳng trẻ, không thông tuệ cũng chẳng hoàn toàn ngu đần. Giữa vầng trán dô hẹp và quai hàm nhô ra, mọi thứ hõm xuống một cách nguyên thủy, hõm sâu nơi miệng hằn thành một đường thẳng, nhưng sâu nhất thì phải nói đến cái hõm xanh chứa hai mi mắt nhỏ hình vỏ sò. Da dẻ mịn như con gái, thậm chí là trơn nhẵn, như thể mọi bụi bẩn đã được rút sạch đế nuôi dưỡng cái mụn.
Trong giây lát, Guy lại đọc sách. Các con chữ dần có ý nghĩa và bắt đầu xua tan sự lo lắng trong anh. Nhưng Plato* có thể giúp gì cho anh trong chuyện Miriam cơ chứ, một giọng nói trong lòng anh cất tiếng hỏi. Nó đã hỏi anh câu đó ở New York, nhưng anh vẫn mang cuốn sách theo, một cuốn sách cũ từ lớp triết hồi trung học, có lẽ là một sự tùy hứng để bù đắp cho việc anh phải tới gặp Miriam.
*Plato (427 - 347 trước Công nguyên), là nhà đại hiền triết và nhà giáo dục của Hy Lạp cổ, đồng thời cũng là một trong các nhà tư tưởng quan trọng nhất, đã viết ra nhiều tác phẩm giá trị, tạo nên ảnh hưởng rộng lớn trong nền Triết học phương Tây.
Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, mắt chạm vào hình ảnh của chính mình đang vuốt phẳng cổ áo cong tớn. Anne luôn giúp anh làm việc đó. Đột nhiên, anh cảm thấy bất lực khi không có cô. Anh chuyển tư thế, vô tình va vào bàn chân duỗi ra của chàng trai đang ngủ, thích thú quan sát khi hàng lông mi của cậu ta nhíu lại rồi mở ra. Đôi mắt đỏ quạch hẳn đã tập trung nhìn anh từ nãy đến giờ qua hàng lông mi.
“Xin lỗi,” Guy lầm bầm.
“Không sao,” cậu ta nói, ngồi thẳng dậy và lắc đầu thật mạnh. “Chúng ta đang ở đâu?”
“Đang vào Texas.”
Chàng trai trẻ lấy một bình rượu bẹt bằng vàng ra khỏi túi áo trong, mở bình, rồi chìa ra mời anh một cách lịch sự. “Không, cảm ơn,” Guy nói. Guy nhận thấy người phụ nữ ngồi bên kia lối đi, người đã mải mê đan len đến nỗi không hề ngẩng đầu lên từ St. Louis, đang liếc sang nhìn khi cái bình được dựng thẳng dậy và nắp chai bằng kim loại bật ra.
“Anh đi đâu thế?” Nụ cười của cậu như một vầng trăng mảnh bị ướt.
“Metcalf,” Guy nói.
“À. Một thị trấn xinh xắn, Metcalf. Đi công tác à?” Cậu ta chớp đôi mắt mệt mỏi một cách lịch sự.
“Phải.”
“Anh làm nghề gì vậy?”
Guy miễn cưỡng ngẩng lên khỏi sách. “Kiến trúc sư.” “Ồ,” với vẻ hứng thú trầm ngâm. “Xây nhà, kiểu thế á?” ”Phải.”
“Tôi không nghĩ là mình đã giới thiệu bản thân.” Cậu ta hơi nhỏm người dậy. “Bruno. Charles Anthony Bruno.”
Guy khẽ bắt tay cậu ta. “Guy Haines.”
“Rất vui được gặp anh. Anh sống ở New York à?” Giọng nam trung khàn khàn nghe có vẻ giả tạo, như thể cậu ta đang nói chuyện để tự đánh thức bản thân vậy.
“Phải.”
“Tôi sông ở Long Island. Tới Santa Fe để nghỉ ngơi vài ngày. Anh đã bao giờ tới Santa Fe chưa?”
Guy lắc đầu.
“Một thị trấn tuyệt vời để thư giãn.” Cậu ta mỉm cười, để lộ ra
hàm răng xấu xí. “Tôi đoán ở đó chủ yếu là các kiến trúc sư người Anh-điêng nhỉ?”
Một người soát vé dừng lại trong lối đi, lật vé. “Ghế của anh đấy à?” Ông ta hỏi Bruno.
Bruno dựa vào góc ghế của mình một cách sở hữu.“Phòng khách ở toa bên cạnh.”
“Số 3?”
“Tôi đoán thế. Phải.”
Người soát vé đi tiếp.
“Mấy gã này!” Bruno lầm bầm. Cậu ta cúi người xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ một cách thích thú.
Guy tiếp tục đọc sách, nhưng vẻ chán chường phiền phức của người kia và cảm giác cậu ta sắp sửa nói gì đó khiến anh không sao tập trung nổi. Guy cân nhắc xem có nên đi ăn tối không, nhưng vì lý do nào đó mà anh vẫn quyết định ngồi yên tại chỗ. Con tàu lại đang đi chậm lại. Khi Bruno trông như sắp mở miệng, Guy lập tức đứng dậy, lẩn vào toa bên cạnh, rồi trước khi tàu dừng hẳn, anh đã nhảy qua các bậc thang để chạm mũi giày xuống nền đất lạo xạo.
Không khí vùng thôn quê thấm đẫm mùi chiều tà, phả từng đợt vào người anh giống như một chiếc gối ngột ngạt. Có mùi của gió bụi, của những viên sỏi bị nung dưới ánh nắng, mùi của dầu và kim loại nóng hầm hập. Anh đã đói ngấu và đang nấn ná gần quán ăn, đi qua đi lại với từng sải chân chậm rãi, hai tay đút vào trong túi quần, hít thở thật sâu, dù chẳng hề thích làm thế chút nào. Những dải ánh sáng xanh, đỏ và trắng rì rì chiếu về bầu trời phía nam. Anh thầm nghĩ ngày hôm qua, Anne có thể đã đi qua tuyến đường này trên hành trình tới Mexico của cô. Anh đáng ra có thể đi cùng cô. Cô đã muốn anh đi cùng tới tận Metcalf. Anh đã có thể rủ cô nghỉ lại qua đêm và thăm mẹ anh, nếu không phải vì Miriam. Mà cho dù có Miriam đi nữa, giá mà anh là kiểu người khác, giá mà, anh có thể
mặc kệ hết thảy. Anh đã kể cho Anne về Miriam, gần như tất cả mọi chuyện, nhưng anh không thể chịu nổi suy nghĩ gặp mặt cô ta. Anh đã muốn đi tàu một mình để ngẫm nghĩ. Cho tới giờ anh đã nghĩ gì nào? Mà thật ra thì từ bao giờ mà suy nghĩ và lập luận trở nên có tác dụng trong những vấn đề liên quan tới Miriam vậy?
Người soát vé cất giọng cảnh báo, nhưng Guy vẫn đi qua đi lại cho tới giây cuối cùng, rồi lao lên toa tàu sau nhà ăn. Người phục vụ chỉ vừa mới ghi xong những món anh gọi thì một chàng trai tóc vàng xuất hiện ở cửa toa, lảo đảo, trông có phần ngỗ ngược với một điếu thuốc lá ngắn ngủn ngậm trong miệng. Guy gần như đã gạt cậu ta ra khỏi tâm trí, giờ bóng dáng lều khều rỉ sét ấy chỉ như một ký ức mơ hồ không mấy dễ chịu. Cậu ta đã mỉm cười khi liếc thấy anh.
“Tưởng anh nhỡ tàu rồi chứ,” Bruno nói một cách hớn hở trong khi kéo một chiếc ghế ra.
“Nếu cậu không phiền, Bruno, tôi muốn được riêng tư trong chốc lát. Tôi có vài chuyện cần nghĩ thông suốt.”
Bruno dụi điếu thuốc lá đang cháy trên tay và ngây người ra nhìn anh. Cậu ta say hơn lúc trước. Gương mặt dường như đang nhòe đi ở các góc cạnh. “Chúng ta có thể được riêng tư trong chỗ của tôi. Chúng ta có thể ăn tối ở đó. Như thế thì sao?”
“Cảm ơn, tôi thích ở lại đây hơn.”
“Ồ, nhưng tôi đã quyết rồi. Phục vụ!” Bruno vỗ tay. “Anh có thể đưa món ăn của quý ông này tới phòng khách số 3 và mang cho tôi một miếng bít tết chín tái cùng với khoai tây chiên và bánh táo không? Cả 2 cốc rượu Scotch pha soda nhanh hết mức có thế nữa, thế nào?” Cậu ta nhìn Guy và mỉm cười, nụ cười đăm chiêu nhẹ nhàng. “Được chứ?”
Guy đấu tranh nội tâm, rồi đứng dậy và đi cùng cậu ta. Thực ra thì làm như vậy cũng có vấn đề gì đâu? Không phải anh đã chán
ngấy bản thân rồi sao?
Không cần đến rượu Scotch mà chỉ cần cốc và đá. 4 chai Scotch dán nhãn vàng nằm xếp hàng trên một chiếc vali bằng da cá sấu là chốn gọn gàng duy nhất trong căn phòng nhỏ. Những chiếc vali cùng rương quần áo đã chặn mọi lối đi, chỉ trừ một mê cung nhỏ ở giữa phòng, trên sàn nhà vương vãi đầy quần áo thể thao cùng các dụng cụ, vợt tennis, một túi gậy golf, vài cái máy ảnh, một giỏ mây có giấy lót màu tím đựng hoa quả cùng rượu vang bên trong. Những tờ báo mới ra, truyện tranh và tiểu thuyết chất trên chiếc ghế cạnh cửa sổ. Còn có cả một hộp kẹo thắt ruy băng đỏ trên nắp nữa.
“Tôi đoán trông đúng kiểu vận động viên nhỉ,” Bruno nói, đột nhiên có vẻ hối lỗi.
“Không sao.” Guy từ tôn mỉm cười. Căn phòng làm anh thích thú và cảm thấy riêng tư một cách dễ chịu. Với nụ cười ấy, hàng lông mày sậm màu của anh giãn ra làm biến đổi toàn bộ nét mặt. Ánh mắt anh giờ đã cởi mở hơn. Anh duyên dáng bước đi trên các ngách nhỏ giữa những chiếc vali, nghiên cứu mọi thứ như một chú mèo tò mò.
“Mới tinh. Chưa từng chạm bóng,” Bruno khoe, chìa một chiếc vợt tennis cho anh sờ. “Mẹ tôi đã bắt tôi mang hết đống này đi, với hy vọng có thể ngăn tôi vào quán bar. Dẫu sao thì cũng đáng tiền để cầm đồ nếu túng quá. Tôi thích uống rượu khi đi du lịch. Nó tô điểm mọi thứ, anh có nghĩ thế không?” Rượu pha được mang tới. Bruno đố thêm rượu mạnh từ một chai rượu của mình vào đó. “Ngồi xuống đi. Cởi áo khoác của anh ra.”
Nhưng cả hai đều không ngồi xuồng hay cởi áo. Vài phút ngượng nghịu trôi qua khi họ chẳng còn gì để nói với nhau. Guy uống một ngụm rượu pha dường như đặc quánh Scotch và nhìn xuống sàn nhà bề bộn. Guy nhận thấy Bruno có hai bàn chân không đều, có thể là do đôi giày cậu ta đang mang. Đôi giày nhỏ, màu nâu sáng với
mũi dài và trơn, trông giống hệt cái quai hàm vuông đang dô ra của cậu ta. Không hiểu sao đôi giày này nhìn có vẻ lỗi thời. Và Bruno không mảnh khảnh như anh đã nghĩ. Đôi chân dài của cậu ta khá nặng nề và cơ thể cậu ta cũng tròn trịa.
“Tôi hy vọng anh không bực,” Bruno nói một cách cẩn trọng, “khi tôi đi vào nhà ăn lúc trước.”
“À, không.”
“Tôi cảm thấy cô đơn. Anh biết đấy.”
Guy nói gì đó về việc cảm thấy cô đơn khi du lịch trong toa giường nằm một mình, rồi sau đó gần như vấp vào một thứ: quai máy ảnh Rolleiflex. Có một vết xước trắng mới rất sâu dọc cạnh hộp đựng bằng da của nó. Anh nhận thức rõ về ánh mắt chăm chú e dè của Bruno. Guy đang quá buồn chán, tất nhiên rồi. Vì sao anh lại vào đây cơ chứ? Cảm giác cắn rứt lương tâm khiến anh muốn trở lại phòng ăn. Rồi người phục vụ mang một cái khay đậy nắp thiếc tới, sau đó kéo bàn ra. Mùi thịt được nướng bằng than đá khiến tâm trạng anh trở nên vui hơn. Bruno tuyệt vọng khăng khăng đòi trả tiền bữa ăn đến mức Guy phải đầu hàng. Bruno có một suất thịt bò nướng phủ nấm cỡ lớn. Guy thì ăn hamburger.
“Anh đang xây gì ở Metcalf?”
“Không gì cả,” Guy nói. “Mẹ tôi sống ở đó.”
“Ồ,” Bruno nói một cách hào hứng. “Đến thăm bà à? Đó có phải quê hương của anh không?”
“Phải. Tôi được sinh ở đó.”
“Trông anh không giống dân Texas lắm.” Bruno rưới sốt cà lên khắp miếng thịt cùng khoai tây chiên, rồi tao nhã chọc vào nhánh ngò tây và giờ nó lên. “Bao lâu rồi anh mới về nhà?” “Khoảng 2 năm.”
“Cha anh cũng ở đó à?”
“Cha tôi mất rồi.”
“Ồ. Có thân với mẹ không?”
Guy bảo có. Vị rượu Scotch, dù Guy không thích nó lắm, khá dễ chịu vì nó làm anh nhớ tới Anne. Cô luôn uống Scotch. Nó cũng giống cô, vàng sóng sánh, đầy ánh sáng, được tỉ mẩn tạo ra một cách nghệ thuật. “Cậu ở chỗ nào của Long Island?”
“Great Neck.”
Ở Long Island, Anne sông xa hơn nhiều.
“Tôi sống trong một ngôi nhà mà tôi gọi là Ổ chó,” Bruno tiếp tục. “Cây thù du bao quanh cả căn nhà và tất cả mọi người sống ở đó đều như sống trong ổ chó vậy, kể cả người lái xe riêng.” Đột nhiên, cậu ta phá lên cười với vẻ khoái trá, sau đó lại cúi xuống ăn tiếp.
Nhìn cậu ta lúc này, Guy chỉ thấy đỉnh đầu thưa tóc và cái mụn nổi cộm lên. Anh đã không để ý đến cái mụn đó từ khi nhìn cậu ta ngủ, nhưng giờ anh lại chú ý tới nó. Cái mụn ấy giống như là một thứ kinh tởm, quái dị và ngoài nó ra, anh chẳng nhìn thấy gì khác. “Vì sao?” Guy hỏi.
“Vì cha tôi. Một kẻ khốn nạn. Nhưng tôi cũng hòa thuận với mẹ mình. Mẹ tôi sắp tới Santa Fe trong 2 ngày tới.”
“Thích thật.”
“Đúng vậy,” Bruno nói như để phủ nhận. “Tôi và mẹ rất vui khi ở cạnh nhau - ngồi ườn ra và chơi golf. Chúng tôi thậm chí còn cùng đi dự tiệc.” Cậu ta bật cười, nửa xấu hổ, nửa kiêu hãnh và đột nhiên có vẻ bất an non nớt. “Anh có nghĩ điều đó buồn cười lắm không?”
“Không,” Guy nói.
“Tôi chỉ ước mình có thật nhiều tiền. Hiểu không, đáng nhẽ ra tôi đã bắt đầu được nhận tiền thừa kế từ năm nay, chỉ có điều cha tôi sẽ không để tôi giữ nó. Ông ta đang chuyển chỗ tiền ấy vào tài khoản riêng của ông ta. Anh có thể không tin, nhưng hiện tại tôi thậm chí còn chẳng có nhiều tiền hơn khi còn đi học - ít ra hồi đó mọi thứ đều được người khác thanh toán hết. Còn bây giờ, tôi toàn phải hỏi xin
từng tờ 100 đô la từ mẹ.” Cậu ta mỉm cười, ra vẻ can trường. “Tôi ước cậu để tôi trả tiền cho bữa ăn.”
“À, không!” Bruno phản đối. “Tôi chỉ muốn nói điều đó thật là kinh khủng, không phải sao, khi chính cha ruột lại đi cướp tiền của anh. Đó thậm chí còn không phải là tiền của ông ta mà là tiền của nhà mẹ tôi.” Cậu ta chờ Guy bình luận.
“Mẹ cậu không nói gì về việc đó sao?”
“Cha tôi đã đặt tên ông ta vào đó từ khi tôi còn bé!” Bruno hét lên khản đặc.
“À.” Guy tự hỏi Bruno đã gặp bao nhiêu người, mời bữa tối và kể câu chuyện về cha mình. “Vì sao ông ấy lại làm vậy?” Bruno giơ tay lên, nhún vai vô vọng, rồi nhanh chóng đút tay vào túi áo. “Tôi đã bảo ông ta là một thằng khốn, không phải sao? Ông ta cướp của tất cả những ai mà ông ta có thể. Giờ ông ta bảo sẽ không đưa tiền cho tôi vì tôi không chịu làm việc, nhưng đó là lời nói dối. Ông ta nghĩ mẹ và tôi luôn quá vui vẻ bên nhau. Ông ta muôn lập âm mưu để chen ngang vào mối quan hệ của chúng tôi.” Guy có thể tưởng tượng ra cậu ta và mẹ mình, một người phụ nữ trẻ tuổi, thuộc giới thượng lưu ở Long Island, luôn dùng quá nhiều mascara và thỉnh thoảng, cũng giống người con, thích có những người bạn mạnh mẽ. “Cậu học đại học ở đâu?”
“Harvard. Bị đuổi vào năm thứ hai. Uống rượu và cờ bạc.” Cậu ta rụt lại làm bộ nhún vai. “Không giống anh phải không? Được thôi, tôi là thằng vô công rồi nghề đấy, thế thì sao?” Cậu ta rót thêm Scotch cho cả 2 người họ.
“Ai đã nói cậu là người như vậy?”
“Cha tôi bảo thế. Ông ta nên có một đứa con trai yên tĩnh tử tế như anh, rồi mọi người sẽ đều hạnh phúc.”
“Điều gì khiến cậu nghĩ tôi là người yên tĩnh và tử tế?” “Ý tôi là anh sống nghiêm túc và có một nghề nghiệp đàng hoàng.
Như kiến trúc sư. Tôi à, tôi không thích làm việc. Và tôi cũng không cần phải làm việc, thấy không? Tôi không phải là nhà văn, họa sĩ hay nhạc sĩ. Có lý do gì khiến một người phải làm việc nếu họ không bị bắt buộc không? Tôi sẽ có thể trị khỏi những vết loét của mình một cách dễ dàng. Cha tôi cũng có vài vết như thế. Ha! Ông ấy vẫn hy vọng tôi sẽ gia nhập công ty kinh doanh phần cứng của ông. Tôi bảo ông ấy rằng kinh doanh, mọi công việc kinh doanh, đều là việc giết người được hợp pháp hóa, như hôn nhân là sự thông dâm được hợp pháp hóa vậy. Tôi nói đúng chứ?”
Guy nhìn cậu ta trầm ngâm, tay rắc muối lên miếng khoai rán trên dĩa của mình. Anh đang thưởng thức một cách từ tốn, tận hưởng bữa ăn, thậm chí là còn hơi hơi thích nghe Bruno nói chuyện, như thể đang xem một vở kịch trên sân khấu xa xôi. Thật ra thì, anh đang nghĩ tới Anne. Thỉnh thoảng, những giấc mơ mơ hồ bất tận của anh về cô dường như còn thật hơn cả thế giới thực - cái thế giới đang xâm nhập bằng những mảnh vụn sắc nhọn, những hình ảnh rải rác, như vết xước trên túi đựng máy ảnh Rolleiflex, điếu thuốc lá dài mà Bruno đã dụi vào mẩu bơ của mình, những mảnh kính vỡ vụn từ khung ảnh của người cha mà Bruno đã quăng ra ngoài hành lang trong câu chuyện mà cậu ta đang kể. Guy chợt nhận ra rằng mình có thể tới gặp Anne ở Mexico, giữa khoảng thời gian gặp Miriam và tới Florida. Nếu anh giải quyết xong chuyện với Miriam thật nhanh thì anh có thể bay tới Mexico và rồi bay tới bãi biển Palm. Lúc trước, anh không nghĩ tới vì không đủ tiền chi trả. Nhưng nếu hợp đồng ở bãi biển Palm được thông qua thì anh có thể.
“Anh có thể nghĩ ra chuyện gì đáng sỉ nhục hơn nữa không? Khóa cửa gara xe của chính tôi?” Giọng Bruno vỡ òa, nghẹn lại ở một tiếng rít.
“Vì sao?” Guy hỏi.
“Chỉ vì ông ta biết tôi rất cần nó tối hôm đó! Cuối cùng thì bạn tôi
đã tới đón tôi, vậy thì việc ông ta làm có ích gì cơ chứ?” Guy không biết phải nói gì. “Ông ta giữ chìa khóa à?” “Ông ta đã lấy chìa khóa của tôi! Vào phòng tôi và lấy chúng đi!
Đó là lý do ông ta sợ tôi. Ông ta đã rời khỏi nhà tối hôm đó vì quá sợ hãi.”
Bruno xoay người trên ghế, thở nặng nhọc, cắn móng tay. Một vài lọn tóc màu nâu sẫm ướt sũng mồ hôi, đung đưa như ăng-ten trên trán cậu ta. “Tất nhiên, mẹ tôi không ở nhà, không thì chuyện đó đã chẳng bao giờ có thể xảy ra.”
“Tất nhiên,” Guy nhắc lại một cách không tình nguyện. Anh đoán là toàn bộ cuộc trò chuyện của họ nãy giờ là để dẫn tới câu chuyện này, mà thực ra là anh chỉ nghe có một nửa. Ẩn sau đôi mắt đỏ quạch đã mở ra nhìn anh ở toa khách, đằng sau nụ cười trầm ngâm, chỉ là một câu chuyện về lòng căm ghét và bất công khác. “Vậy là cậu đã quẳng bức hình của ông ta ra ngoài hành lang à?” Guy hỏi một cách thờ ơ.
“Tôi đã quẳng nó ra khỏi phòng của mẹ tôi,” Bruno nói, nhấn mạnh 3 từ cuối cùng. “Cha tôi đã đặt nó vào trong phòng của mẹ. Nhưng sự yêu thích của bà ấy với Thuyền trưởng cũng chẳng hơn tôi là mấy đâu. À, Thuyền trưởng ! - tôi chưa từng gọi ông ta bằng cái tên nào khác, người anh em ạ!”
“Nhưng ông ta chê trách cậu ở điểm gì?”
“Chê trách cả tôi lẫn mẹ tôi! Ông ta khác xa chúng tôi hay bất kỳ một người nào khác. Ông ta không thích ai hết. Chẳng thích gì ngoài tiền. Ông ta có thế cắt cổ người khác để kiếm được nhiều tiền hơn. Và chắc chắn rồi, ông ta thông minh! Đúng thế! Nhưng chắc chắn lương tâm đang gặm nhấm ông ta! Đó là lý do ông ta muốn tôi gia nhập công ty của mình, để tôi cũng giết người và cảm thấy đê tiện như ông ta!” Bàn tay cứng ngắc của Bruno nắm lại, rồi đến miệng và mắt cậu ta.
Guy nghĩ cậu ta sắp khóc, thế nhưng rồi hàng lông mi sưng phù ấy lại mở ra và nụ cười do dự quay lại.
“Chán lắm đúng không? Tôi chỉ vừa giải thích vì sao tôi rời khỏi thị trấn sớm như vậy, trước cả mẹ tôi. Anh không biết tôi thật ra là người vui vẻ thế nào đâu! Nói thật đấy!”
“Trước đó, cậu không thể rời khỏi nhà nếu muốn à?” Đầu tiên, Bruno có vẻ không hiểu câu hỏi của anh, rồi bình tĩnh trả lời, “À, tôi có thể chứ, chỉ là tôi thích ở cùng mẹ tôi hơn.” Và mẹ cậu ta ở lại vì tiền, Guy đoán thế. “Thuốc lá không?” Bruno lấy một điếu, mỉm cười. “Anh biết không, buổi tối ông ta rời khỏi nhà đó là lần đầu tiên ông ta ra ngoài chắc trong khoảng 10 năm. Tôi tự hỏi ông ta có thể đến chỗ quái nào được cơ chứ. Buổi tối hôm ấy, tôi đã tức giận đến mức có thể giết chết ông ta và ông ta biết điều đó. Anh đã bao giờ cảm thấy muốn giết ai đó chưa?” “Chưa.”
“Tôi thì có. Tôi chắc chắn rằng đôi khi bản thân có thể giết chết cha mình.” Cậu ta nhìn xuống cái đĩa với nụ cười hoang mang. “Anh có biết cha tôi có sở thích gì không? Đoán đi.”
Guy không muốn đoán. Đột nhiên, anh cảm thấy chán ngán và muốn ở một mình.
“Ông ta sưu tập khuôn cắt bánh quy!” Bruno bật ra với tràng cười khúc khích. “Là khuôn cắt bánh quy, thật đấy! Ông ta có đủ loại - bang Pennsylvania, Bavaria, Anh, Pháp, rất nhiều Hungarry, nằm rải rác khắp phòng. Khuôn cắt bánh quy hình động vật được treo khung trên bàn của ông ta - anh biết đấy, loại mà trẻ con ăn trong hộp ý? Ông ta viết thư cho chủ tịch công ty đó và họ đã gửi cho ông ta trọn bộ. Kỷ nguyên máy móc mà!” Bruno bật cười và cúi đầu xuống.
Guy trừng mắt nhìn cậu ta. Bruno thú vị hơn câu chuyện mà cậu ta kể nhiều. “Ông ta có bao giờ dùng chúng không?”
“Hử?”
“Ông ta có bao giờ làm bánh quy không?”
Bruno hú lên. Vặn người, cởi áo khoác ra, rồi quăng nó vào trong vali. Trong khoảnh khắc, cậu ta có vẻ hết sức hăm hở muốn nói gì đó, rồi đột nhiên bình luận với vẻ bình thản, ”Mẹ tôi luôn bảo ông ta hãy quay lại với mấy cái khuôn cắt bánh quy của mình đi.” Mổ hôi phủ lên khuôn mặt mịn màng của cậu ta như một lớp dầu mỏng. Cậu ta nở nụ cười lo lắng. ”Bữa tối ngon miệng chứ?”
“Rất ngon,” Guy nói một cách thật tâm.
“Đã bao giờ nghe đến công ty Bruno Transforming của Long Island chưa? Làm các đồ điện tử chạy bằng pin và điện?” “Tôi không nghĩ là mình đã từng nghe qua.”
“Ừ nhỉ, vì sao anh lại nghe nói đến nó cơ chứ? Nhưng kiếm ra nhiều tiền lắm. Anh có thích kiếm tiền không?”
“Không quá ham mê.”
“Có phiền không nếu tôi hỏi anh bao nhiêu tuổi?”
“29 “
“Thế à? Tôi cứ tưởng già hơn. Anh nghĩ tôi trông bao nhiêu tuổi?” Guy đánh giá cậu ta một cách lịch sự. “Có thể tầm 24, 25,” anh trả lời, muốn nịnh nọt cậu ta là chính, vì cậu ta trông trẻ hơn thế. “Đúng thế. 25. Ý anh là trông tôi giống 25 tuổi với cái thứ - cái thứ này ngay chính giữa trán à?” Bruno cắn môi. Một tia thận trọng xuất hiện trong mắt cậu ta, rồi đột nhiên cậu ta lấy tay che trán với vẻ xấu hố mãnh liệt và cay đắng. Cậu ta bật dậy và đi ra gương. “Tôi đã định lấy thứ gì đó che nó đi.”
Guy nói vài câu trấn an, nhưng Bruno vẫn cứ nhìn mình thế này thế khác trong gương, với vẻ tự tra tấn đau khổ. “Nó không thế là mụn được,” cậu ta nói the thé. “Nó chỉ là một vết sưng thôi. Tất cả những gì tôi căm ghét đang sục sôi bên trong tôi. Đó là bệnh dịch của Job*
“Thôi nào!” Guy cười.
*Một người đàn ông trong Kinh Thánh, được xem là một người giàu có và tốt bụng nhưng mắc phải một căn bệnh khiến ông mất đi tất cả những gì mình quý trọng.
“Nó bắt đầu xuất hiện vào tối thứ Hai, sau vụ cãi cọ. Và ngày một to hơn. Tôi cá nó sẽ để lại sẹo.”
“Không đâu.”
“Có đấy. Một thứ thật hay ho để mang tới Santa Fe!” Cậu ta ngồi trên ghế với hai bàn tay nắm chặt, một cẳng chân nặng trĩu lết xuống sàn, bộ dạng ủ dột đầy bi thảm.
Guy đi tới mở một trong những quyển sách trên ghế cạnh cửa sổ. Đó là một cuốn truyện trinh thám. Tất cả đều là truyện trinh thám. Khi anh đọc thử vài dòng, các con chữ như đang bơi lội tung tăng trong trang giấy. Anh gập sách lại. Hẳn anh đã uống rất nhiều. Nhưng vào tối nay anh cũng chẳng bận tâm lắm.
“Ở Santa Fe,” Bruno nói, “Tôi muốn mọi thứ có ở đó. Rượu, phụ nữ và nhạc nhẽo. Ha!”
“Cậu muốn gì?”
“Một thứ gì đó.” Miệng Bruno trĩu xuống với vẻ thờ ơ, nhăn nhó và xấu xí. “Mà thực ra là mọi thứ. Tôi tin rằng một người nên làm tất cả những việc có thể trước khi anh ta chết, và nên chết khi đang cố gắng làm việc gì đó bất khả thi.”
Một thứ gì đó trong Guy bật dậy phản ứng, rồi cẩn trọng lùi lại. Anh nhỏ nhẹ hỏi, “Như thứ gì?”
“Như một chuyến du hành lên mặt trăng trong tên lửa. Lập tốc độ kỷ lục khi bịt mắt lái xe. Tôi đã từng làm vậy một lần. Không lập kỷ lục, nhưng tốc độ đã lên tới 160.”
“Bịt mắt á?”
“Tôi còn ăn trộm rồi cơ.” Bruno trừng mắt nhìn Guy một cách tàn nhẫn. “Từ một căn hộ. Vụ này hay ho lắm.”
Một nụ cười hoài nghi nở ra trên môi Guy, dù thật ra thì anh tin Bruno. Bruno có thể trở nên bạo lực. Cậu ta cũng có thể trở nên điên rổ. Thực ra là tuyệt vọng, Guy nghĩ, chứ không phải là điên rồ. Sự chán chường tuyệt vọng của người giàu mà anh thường nói với Anne. Nó có xu hướng hủy hoại hơn là kiến tạo. Và nó có thể dễ dàng dẫn tới tội ác hệt như đói nghèo.
“Không phải để lấy thứ gì hết,” Bruno tiếp tục. “Tôi không muốn thứ mà tôi đã lấy. Tôi đã đặc biệt lấy thứ mà mình không muốn.” “Cậu đã lấy thứ gì?”
Bruno nhún vai. “Một chiếc bật lửa. Mô hình một chiếc bàn. Và một bức tượng trên bệ lò sưởi. Kính màu. Và vài thứ khác nữa.” Lại nhún vai. “Anh là người duy nhất biết về chuyện này. Tôi không phải người ba hoa. Dù tôi đoán anh nghĩ tôi như thế.” Cậu ta mỉm cười.
Guy rút thuốc lá ra. “Cậu đã làm như thế nào?”
“Quan sát một căn hộ ở Astoria cho tới khi chọn đúng thời điểm, rồi đi thẳng vào qua cửa sổ. Xuống lối thoát hiểm. Khá dễ. Có một thứ mà tôi đã gạch khỏi danh sách của mình, tạ ơn Chúa.” “Vì sao lại ‘tạ ơn Chúa’?”
Bruno cười toe toét một cách xấu hổ. “Tôi cũng chẳng biết vì sao mình lại nói thế nữa.” Cậu ta lại đổ đầy cốc rượu cho mình rồi rót thêm cho Guy.
Guy nhìn vào đôi bàn tay cứng ngắc, run rẩy đã trộm cắp, nhìn các móng tay bị cắn đến tận phần thịt. Bàn tay giống như trẻ con ấy vụng về nghịch nắp hộp diêm rồi thả xuống miếng thịt nướng cháy xém. Guy nghĩ thầm, tội ác à? Quá nhàm chán. Thường xuyên thiếu hụt động cơ. Một số kẻ nhất định sẽ trở thành tội phạm. Và qua bàn tay, căn phòng, hoặc khuôn mặt thông minh, xấu xí của Bruno, ai mà biết được rằng cậu ta từng trộm cắp chứ? Guy lại ngồi dựa vào ghế.
“Kể cho tôi về anh đi,” Bruno mời hỏi một cách thoải mái.
“Chẳng có gì để nói.” Guy lấy một chiếc tẩu thuốc ra khỏi túi áo, đập nó vào gót chân, nhìn xuống đám tro trên thảm, rồi quên chúng đi. Cảm giác râm ran của rượu ngấm sâu hơn vào da thịt anh. Anh nghĩ thầm, nếu hợp đồng ở bãi biển Palm được ký kết, thì 2 tuần trước khi công việc bắt đầu có thể sẽ trôi qua nhanh chóng. Một cuộc ly dị thường không tốn quá nhiều thời gian. Đường nét thân thuộc của những tòa nhà nhỏ màu trắng trên bãi cỏ xanh mượt trong bản vẽ đang lững lờ trôi trong đầu anh một cách chi tiết, mà không cần cố gắng gợi ra. Anh cảm thấy có phần tự mãn, đột nhiên thấy hết sức an tâm và hạnh phúc.
“Anh xây những ngôi nhà kiểu gì?” Bruno hỏi.
“À, kiểu hiện đại. Tôi đã thiết kế vài cửa hàng và một văn phòng nhỏ.” Guy mỉm cười, không có sự trầm lặng hay phật ý mơ hồ nào xuất hiện trong anh như khi những người khác hỏi về chuyên công việc.
“Anh đã kết hôn chưa?”
“Chưa. À, ý tôi là rồi. Đã ly thân.”
“Ồ. Vì sao?”
“Không hợp,” Guy đáp lại.
“Anh đã ly thân bao lâu rồi?”
“3 năm.”
“Anh không muốn ly dị sao?”
Guy do dự, nhăn mặt.
“Cô ta cũng ở Texas à?”
“Phải.”
“Định đi gặp cô ta sao?”
“Tôi sẽ gặp cô ta. Chúng tôi đang sắp xếp để ly dị ngay.” Răng anh nghiến lại. Vì sao anh lại nói chuyện này ra nhỉ? Bruno cười khinh bỉ. “Các anh tìm loại con gái nào để kết hôn?” “Rất xinh đẹp,” Guy đáp lại. “Vài người trong số họ.”
“Nhưng phần lớn là ngu ngốc, đúng không?”
“Họ có thể như vậy.” Anh mỉm cười với chính mình. Miriam hẳn là mẫu con gái miền Nam mà Bruno ám chỉ.
“Vợ của anh là loại phụ nữ thế nào?”
“Khá đẹp,” Guy nói một cách cẩn trọng. “Tóc đỏ. Hơi đầy đặn.” “Tên cô ta là gì?”
“Miriam. Miriam Joyce.”
“Hừm. Thông minh hay ngốc nghếch?”
“Cô ấy không phải dân tri thức. Tôi không thích cưới một cô nàng tri thức.”
“Và anh cũng từng yêu cô ta đến phát cuồng đúng không?” Vì sao ? Anh đã thể hiện điều đó ra ngoài à? Mắt Bruno dán chặt vào anh, không bỏ lỡ điều gì, không chớp mắt, như thể sự mệt mỏi của chúng đã vượt qua ngưỡng cần phải đi ngủ. Guy có cảm giác đôi mắt xám ấy đã dò xét anh suốt hàng giờ liền. “Vì sao cậu lại nói thế?”
“Anh là một anh chàng tử tế và nghiêm túc với mọi việc. Anh luôn đánh giá phụ nữ một cách khắc nghiệt, phải không?” “Một cách khắc nghiệt là sao?” anh hỏi lại. Nhưng anh cảm thấy đột ngột quý Bruno hơn hẳn vì cậu ta đã nói ra những gì bản thân nghĩ về anh. Phần lớn mọi người, như Guy biết, thường không nói ra những gì họ nghĩ về anh.
Bruno dùng tay vẽ ra những con sò nhỏ trong không khí, rồi bất giác thở dài.
“Khắc nghiệt là có ý gì?” Guy hỏi lại.
“Dành trọn tất cả, với quá nhiều kỳ vọng. Và rồi anh đã bị phản bội đúng không?”
“Không hẳn.” Tuy vậy, cảm giác tự thương hại lại nhói lên trong anh. Guy đứng dậy, mang cốc rượu theo. Không có nhiều chỗ để di chuyển trong căn phòng này. Những đợt lắc lư của con tàu khiến cả
việc đứng thẳng thôi cũng khó khăn.
Bruno cứ trừng mắt nhìn anh, đôi giày lỗi mốt đu đưa ở dưới cẳng chân vắt chéo, tay liên tục búng điếu thuốc lá lên cái đĩa trước mặt. Miếng thịt bò màu hồng và đen đang ăn dở dần dần bị phủ kín tàn tro. Guy đoán từ khi anh kể cho cậu ta là mình đã kết hôn, Bruno trông kém thân thiện hơn. Và cũng tò mò hơn.
“Chuyện gì đã xảy ra với vợ anh? Cô ta bắt đầu ngủ lang à?” Phán đoán chính xác của Bruno cũng chọc giận anh. “Không. Đằng nào thì cũng là quá khứ cả rồi.”
“Nhưng anh vẫn đang kết hôn với cô ta. Anh không thể xin ly dị từ trước à?”
Guy cảm thấy xấu hổ ngay lập tức. “Tôi đã không quan tâm đến việc ly dị cho lắm.”
“Thế bây giờ thì sao?”
“Cô ta vừa quyết định rằng mình muốn ly dị. Tôi nghĩ cô ta sắp có con.”
“Ồ. Một thời điểm thật hay ho để quyết định nhỉ? Cô ta đã ngủ lang 3 năm và cuối cùng cũng bẫy được ai đó hả?”
Tất nhiên đó đúng là những gì đã xảy ra và có lẽ đứa bé ấy là lý do thật. Nhưng làm sao Bruno biết? Guy cảm thấy Bruno đang áp đặt hiểu biết và sự căm ghét dành cho một người khác mà cậu ta quen lên Miriam. Guy quay ra nhìn cửa sổ. Cửa sổ chẳng mang tới điều gì ngoại trừ hình ảnh của chính anh. Guy có thể cảm nhận được nhịp tim đang làm cơ thể anh run lên, sâu hơn cả sự tác động của con tàu. Anh nghĩ rằng tim mình đang đập mạnh như vậy có lẽ là vì anh chưa bao giờ kể cho ai nghe nhiều đến thế về Miriam. Anh chưa bao giờ kể cho Anne nghe nhiều như những gì Bruno đã biết. Chỉ có điều Miriam hồi xưa rất khác - ngọt ngào, chung thủy, cô đơn, cần anh và cần thoát khỏi gia đình cô một cách khủng khiếp. Ngày mai anh sẽ gặp Miriam, chỉ cần đưa tay ra là có thể chạm vào cô ta. Anh
không tài nào chịu nổi ý nghĩ chạm vào làn da quá đỗi mềm mại mà anh từng yêu ấy. Đột nhiên, cảm giác thất bại như đang nhấn chìm anh.
“Chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân của anh?” Giọng của Bruno vang lên nhẹ nhàng sau lưng. “Tôi thật sự rất có hứng thú, với tư cách một người bạn thôi. Hồi đó, cô ta bao nhiêu tuổi?” “18.”
“Cô ta đã bắt đầu ngủ lang ngay lúc đó à?”
Guy quay lại theo phản xạ, như để gạt bỏ tội lỗi của Miriam. “Đó không phải là việc duy nhất mà phụ nữ làm, cậu biết đấy.” “Nhưng cô ta đã làm vậy đúng không?”
Guy quay mặt đi, cảm thấy bực mình và bị mê hoặc cùng lúc. “Phải.” Cái từ bé nhỏ đó nghe thật xấu xí, nó rít lên bên tai anh! “Tôi biết loại con gái tóc đỏ miền Nam ấy mà,” Bruno nói, chọc chọc vào miếng bánh táo của mình.
Guy lại một lần nữa cảm thấy vô dụng và nhục nhã. Vô dụng, bởi vì chẳng có gì mà Miriam đã làm hay đã nói khiến cho Bruno xấu hổ hay ngạc nhiên hết. Bruno dường như không có khả năng cảm thấy ngạc nhiên mà chỉ thấy hứng thú.
Bruno nhìn xuống đĩa thức ăn của mình với vẻ thích thú rụt rè. Đôi mắt cậu ta mở to, rực rỡ hết mức có thể với tròng mắt đỏ quạch và quầng thâm xanh lét. “Hôn nhân,” cậu ta thở dài.
Từ “hôn nhân” nấn ná lại trong tai Guy. Nó là một từ trang trọng đối với anh. Nó mang sự trang trọng nguyên thủy của thần thánh, tình yêu, tội lỗi. Đó là khuôn miệng màu gốm đỏ tròn trịa của Miriam khi nói rằng, “Vì sao tôi phải hy sinh vì anh?” và đôi mắt của Anne khi cô vuốt tóc ra sau và ngẩng lên nhìn anh trên bãi cỏ trước nhà nơi cô trồng nghệ tây. Là cảnh Miriam quay người rời khỏi ô cửa số cao và hẹp trong căn phòng ở Chicago, ngẩng khuôn mặt chữ V đầy tàn nhang nhìn thẳng vào anh như vẫn luôn làm
trước khi nói dối, cuối cùng là mái tóc đen dài của Steve, đang mỉm cười một cách xấc xược. Các ký ức bắt đầu ùa về và anh muốn giơ tay lên để đẩy lùi chúng. Căn phòng ở Chicago - nơi tất cả đã diễn ra... Anh có thể ngửi thấy mùi căn phòng đó, mùi nước hoa của Miriam, hơi nóng từ lò sưởi sơn màu. Anh đứng yên một cách thụ động, lần đầu tiên trong nhiều năm trời không đẩy lùi khuôn mặt của Miriam lại thành một ánh hồng mờ nhạt. Anh sẽ ra sao nếu lại để tất cả nhấn chìm mình? Giúp anh chống lại cô ta hay sẽ làm anh suy yếu?
“Ý tôi là,” giọng của Bruno vang lại từ nơi xa xôi. “Chuyện gì đã xảy ra? Anh không ngại kể cho tôi chứ? Tôi rất hứng thú muốn nghe.”
Vụ Steve xảy ra như thế nào à? Guy cầm cốc rượu của mình lên. Anh như nhìn thấy buổi chiều ở Chicago hôm đó, được đóng khung bởi cửa phòng, hình ảnh bên trong xám đen như một bức tranh. Buổi chiều hôm ấy, anh đã phát hiện ra họ trong phòng, nó không giống như những buổi chiều khác, với màu sắc, hương vị, âm thanh của riêng nó, thế giới của riêng nó. Một tác phẩm nghệ thuật nhỏ bé ghê tởm. Như một ngày được cố định lại trong lịch sử. Hay là ngược lại, nó vẫn luôn du hành cùng anh? Vì bây giờ nó vẫn ở đây, rõ ràng đến thế. Và tệ hơn hết thảy, anh nhận thức rõ được sự thôi thúc muốn kể cho Bruno mọi thứ. Người lạ trên tàu này sẽ lắng nghe, thương xót và rồi quên hết tất cả. Ý nghĩ kể chuyện cho Bruno bắt đầu xoa dịu anh. Bruno hoàn toàn không phải là một người lạ mặt thường thấy trên tàu. Tự cậu ta cũng đã đủ tàn nhẫn và thối nát để thấu hiểu một câu chuyện như thế về mối tình đầu của anh. Và Steve chỉ là một kết cục bất ngờ khiến cả câu chuyện trở về đúng vị trí. Steve không phải lần phản bội đầu tiên. Chỉ là niềm kiêu hãnh suốt 26 năm đã nổ tung vào mặt anh trong buổi chiều hôm đó. Anh đã tự kể lại cho mình câu chuyện ấy cả nghìn lần, một câu chuyện kinh
điển, kịch tính chỉ vì sự ngu ngốc của anh. Mà thật ra thì sự ngu ngốc ấy chỉ khiến nó thêm phần hài hước.
“Tôi đã mong đợi quá nhiều ở cô ta,” Guy nói một cách dửng dưng, “khi mà còn chẳng có quyền để làm như thế. Tình cờ thay, cô ta thích sự chú ý. Hẳn là cô ta sẽ dành cả đời để tán tỉnh, bất kể là với ai đi chăng nữa.”
“Tôi biết, loại con gái đỏng đảnh luôn có xuất hiện ở trường trung học.” Bruno vẫy tay. “Thậm chí còn không thể giả vờ mình sẽ thuộc về một người đàn ông mãi mãi.”
Guy nhìn cậu ta. Tất nhiên, Miriam đã từng giả vờ. Đột ngột, anh bỏ hẳn ý định kể cho Bruno, xấu hổ vì mình suýt nữa đã định kể. Thực ra thì, bây giờ Bruno có vẻ không quan tâm xem liệu anh có kể hay không. Rũ người xuống, Bruno đang dùng một que diêm để vẽ trong món nước xốt của mình. Khi nhìn nghiêng, nửa khuôn miệng trĩu xuống của cậu ta hóp lại giữa mũi và cằm, giống như miệng của một ông già. Khuôn miệng ấy dường như muốn nói rằng bất kể câu chuyện là gì thì cậu ta cũng khinh miệt chẳng thèm nghe. “Phụ nữ như thế rất thu hút đàn ông,” Bruno lầm bầm, “như rác hút ruồi.”
CHƯƠNG 2
C
ảm giác sốc sau khi nghe câu nói của Bruno đã làm Guy thả lỏng hơn. “Cậu hẳn cũng có vài trải nghiệm không mấy dễ chịu,” anh nhận xét. Nhưng khó mà tưởng tượng được cảnh Bruno gặp rắc rối bởi phụ nữ.
“À, cha tôi từng có một cô nàng như thế. Cũng tóc đỏ. Tên là Carloa.” Cậu ta ngẩng đầu lên, sự căm ghét dành cho ông bố xuyên qua vẻ ủ ê như một mũi tên. “Nghe hay mà? Chính những người đàn ông như cha tôi đã giúp họ có việc làm.”
Carloa. Guy cảm thấy giờ thì mình đã hiểu vì sao Bruno căm ghét Miriam. Có vẻ nó là chìa khóa cho toàn bộ tính cách Bruno, cho sự căm ghét dành cho cha và vẻ trưởng thành chậm phát triển của cậu ta.
“Có 2 loại đàn ông!” Bruno tuyên bố bằng cách gào lên, nhưng rồi đột ngột dừng lại.
Guy thoáng nhìn thấy mình trong một tấm gương hẹp trên tường. Mắt anh có vẻ hoảng sợ, miệng mím chặt và anh đang cố gắng thả lỏng người. Một chiếc gậy golf huých vào lưng anh. Anh rê các đầu ngón tay trên bề mặt được đánh vec-ni mát lạnh của nó. Kim loại khảm trong miếng gỗ đen gợi nhớ lại hộp đựng la bàn trên thuyền buồm của Anne.
“Nhưng về bản chất thì chỉ có duy nhất một loại phụ nữ!” Bruno tiếp tục. “Bội bạc. Một mặt là người vợ lăng loàn, mặt khác là một con điếm! Anh chọn đi!”
“Thế còn những người phụ nữ như mẹ cậu thì sao?”
“Tôi chưa từng nhìn thấy một người phụ nữ nào như mẹ tôi,” Bruno tuyên bố. “Tôi chưa từng thấy một người phụ nữ nào tuyệt vời như thế. Bà cũng xinh đẹp, có rất nhiều bạn là nam giới, nhưng bà không ngủ với họ.”
Im lặng.
Guy gõ một điếu thuốc lá khác vào đồng hồ và thấy đã là 10 giờ 30 phút. Anh sắp phải đi rồi.
“Làm sao anh phát hiện ra chuyện vợ mình?” Bruno ngẩng lên nhìn anh.
Guy chậm rãi nghịch thuốc lá.
“Cô ta đã có bao nhiêu người?”
“Tương đối. Trước khi tôi phát hiện ra.” Và đúng lúc anh tự trấn an mình rằng việc thừa nhận điều đó vào lúc này hoàn toàn chẳng có gì khác biệt, thì cảm giác đang có một vũng xoáy nhỏ hình thành bên trong khiến anh xao động. Nhỏ thôi, nhưng không hiểu sao còn thật hơn mọi ký ức, vì anh đã nói ra thành lời. Kiêu hãnh? Căm ghét? Hay chỉ đơn giản là sự mất kiên nhẫn với chính mình, vì tất cả những gì anh cảm thấy lúc này thật ra đều vô dụng? Anh chuyển hướng cuộc đối thoại ra khỏi bản thân mình. “Nói cho tôi nghe xem, cậu còn muốn làm gì nữa trước khi chết đi.”
“Chết à? Ai nói gì về việc chết thế? Tôi đã nghĩ ra vài mẫu vợt chống gãy. Tôi có thể kinh doanh vào một ngày nào đó ở Chicago hoặc New York, hoặc tôi cũng có thể bán ý tưởng của mình. Và tôi còn có rất nhiều ý tưởng cho một vụ ám sát hoàn hảo nữa kìa.” Bruno lại ngẩng lên nhìn với vẻ chăm chú đầy thách thức.
“Tôi hy vọng việc hỏi han tôi ở đây không phải là một phần trong kế hoạch của cậu.” Guy ngồi xuống.
“Chúa ơi, tôi thích anh, Guy! Thật sự rất thích đấy!”
Khuôn mặt của Bruno như đang khao khát cầu xin Guy hãy nói rằng anh cũng thích cậu ta đi. Sự cô đơn ẩn hiện trong đôi mắt nhỏ
xíu và đau đớn đó! Guy nhìn xuống bàn tay mình một cách xấu hổ. “Mọi ý tưởng của cậu đều liên quan tới tội ác à?”
“Hiển nhiên là không rồi! Chỉ là những việc tôi muốn làm thôi, giống như là - tôi muốn mình có một ngày sẽ đưa cho một người nào đó 1.000 đô la. Một kẻ ăn xin chẳng hạn. Khi tôi lấy được khoản tiền của riêng mình thì đó sẽ là việc đầu tiên tôi làm. Nhưng anh chưa bao giờ cảm thấy muốn trộm một thứ gì đó à? Hoặc giết một ai đó? Nhất định là rồi chứ. Ai chả từng cảm thấy như vậy. Anh không nghĩ có vài người khá hưng phấn khi giết người trong chiến tranh à?”
“Không,” Guy nói.
Bruno do dự. “Ồ, họ chẳng bao giờ thừa nhận điều đó, tất nhiên rồi, họ sợ hãi! Nhưng phải có những người mà anh muốn họ biến mất trong cuộc đời chứ?”
“Không.” Steve, đột ngột anh nhớ lại. Anh thậm chí còn chưa từng một lần nghĩ tới việc giết hắn ta.
Bruno nghiêng đầu. “Chắc chắn là anh có. Tôi thấy mà. Vì sao anh không thừa nhận điều đó?”
“Tôi có thể có những ý tưởng thoáng qua, nhưng chưa bao giờ biến chúng thành hành động cả. Tôi là kiểu người như thế.” “Đó chính xác là điểm sai lầm của anh đấy! Kiểu người nào cũng có thể giết người. Chỉ hoàn toàn là do hoàn cảnh chứ không hề liên quan tới tính khí! Khi trở nên kích động, thì chỉ cần một chuyện nhỏ nhặt nhất thôi cũng có thể đẩy con người ta xuống vực thẳm. Ai cũng vậy. Kể cả bà anh. Tôi biết!”
“Không cố tình đâu, nhưng tôi không đồng ý,” Guy nói gọn lỏn. “Tôi đã nói với anh rằng tôi gần như đã giết chết cha mình cả nghìn lần rồi mà! Anh đã từng cảm thấy muốn giết chết ai đó chưa? Mấy gã ở cùng vợ anh chẳng hạn?”
“Một trong số họ,” Guy lầm bầm.
“Anh đã gần làm việc đó tới mức nào?”
“Không có ‘gần’ gì hết. Tôi đơn thuần chỉ nghĩ tới việc đó mà thôi.” Anh nhớ lại những đêm mất ngủ, hàng trăm đêm như thế, cùng cảm giác nếu không trả thù, anh sẽ mất hết hy vọng về sự bình yên. Liệu chuyện gì có thể đẩy anh qua ranh giới vào lúc ấy? Anh nghe thấy giọng Bruno lầm bầm, “Anh ở gần hơn nhiều so với anh nghĩ, đó là tất cả những gì tôi có thể nói.” Guy nhìn Bruno một cách bối rối. Đường nét của cậu ta mang vẻ bệnh tật giống như những kẻ thường xuyên ngồi lì ở sòng bạc về đêm, cái đầu gầy gò gục xuống đôi bắp tay đang đặt trên bàn. “Cậu đọc quá nhiều truyện trinh thám rồi,” Guy lên tiếng, nhưng sau đó anh cũng không hiểu câu nói kia phát ra từ đâu.
“Truyện trinh thám rất hay. Chúng chứng minh kiểu người nào cũng có thể trở thành một tên sát nhân.”
“Tôi thì lại luôn nghĩ chính vì thế mà những cuốn sách đó chẳng có gì hay ho.”
“Lại sai lầm!” Bruno nói một cách căm phẫn. “Anh có biết số vụ giết người được đưa lên mặt báo chiêm bao nhiêu phần trăm không?”
“Tôi không biết và cũng chẳng quan tâm.”
“1/12. 1/12! Thử tưởng tượng xem! Anh nghĩ 11/12 còn lại là những ai? Rất nhiều những con người bé nhỏ không đáng kể. Là tất cả những kẻ mà cảnh sát biết họ sẽ không bao giờ tóm được.” Bruno lại định rót thêm rượu. Nhưng vì chai rượu đã trống không, cậu ta đành lê xác đứng dậy. Một con dao nhíp bằng vàng treo lủng lẳng trên một sợi xích cũng bằng vàng lóe lên trong túi quần của cậu ta. Guy tán thưởng nó như tán thưởng một vật phẩm trang sức xinh đẹp. Và khi quan sát Bruno cắt nắp chai Scotch một cách gọn gàng, anh phát hiện ra mình đang nghĩ rằng một ngày nào đó, Bruno có thể giết người bằng con dao nhíp nhỏ xíu kia và cậu ta vẫn sẽ thảnh
thơi tự tại, chỉ đơn giản vì cậu ta không mấy quan tâm xem liệu mình có bị bắt hay không.
Bruno quay lại, cười toe toét, cầm theo chai Scotch mới. “Đi tới Santa Fe với tôi nhé? Thư giãn vài ba ngày.”
“Cảm ơn, tôi không thể.”
“Tôi có cả đống tiền. Hãy để tôi mời khách nhé?” Cậu ta làm tràn cả Scotch ra bàn.
“Cảm ơn,” Guy nói. Anh đoán là Bruno nghĩ anh không có nhiều tiền vì quần áo anh đang mặc trên người. Chiếc quần bằng vải flannel màu xám này là chiếc quần yêu thích của anh. Anh sẽ mặc nó ở Metcalf và ở cả bãi biển Palm nữa, nếu trời không quá nóng. Ngả lưng ra sau, anh đút tay vào túi quần, rồi sờ thấy một cái lỗ ở đáy túi quần bên phải.
“Vì sao lại không?” Bruno đưa cốc cho anh. “Tôi quý anh lắm, Guy.”
“Vì sao?”
“Vì anh là một người tốt. Đứng đắn, ý tôi là thế. Tôi gặp rất nhiều đàn ông - không chơi chữ nhé - nhưng không có mấy ai giống như anh. Tôi ngưỡng mộ anh,” cậu ta thốt ra, sau đó nhấp môi vào cốc rượu.
“Tôi cũng quý cậu,” Guy nói.
“Đi với tôi nhé? Tôi chẳng có gì để làm trong 2, 3 ngày tới trước khi mẹ tôi đến. Chúng ta có thể có một quãng thời gian hết sảy.” “Chọn người khác đi.”
“Trời ạ, Guy, anh nghĩ tôi đang làm gì chứ, cứ đi lung tung rủ rê người này người kia đi du lịch cùng à? Tôi quý anh, nên tôi mới mời anh đi cùng. Thậm chí chỉ 1 ngày thôi. Tôi sẽ rẽ thẳng từ Metcalf và thậm chí không tới El Paso nữa. Tôi định đi xem Canyon*đấy."
“Cảm ơn, tôi có việc phải làm ngay khi xong việc ở Metcalf.” “Ồ.” Nụ cười đăm chiêu, ngưỡng mộ lại xuất hiện. “Xây thứ gì đó
à?”
*Một khe núi dốc ở tiểu bang Arizona của Hoa Kỳ, gần như nằm trọn trong Vườn Quốc gia Grand Canyon, là một trong những thắng cảnh được nhiều du khách viếng thăm nhất trên thế giới.
“Phải, một câu lạc bộ đồng quê.” Nó vẫn có vẻ lạ lẫm và không giống anh, cách đây 2 tháng nó còn là thứ cuối cùng mà anh nghĩ mình sẽ xây. “Một Palmyra khác ở bãi biển Palm.”
“Thế à?”
Tất nhiên, Bruno đã nghe về Palmyra. Câu lạc bộ lớn nhất ở bãi biển Palm. Cậu ta thậm chí cũng đã nghe nói họ sắp xây cái mới. Cậu ta đã tới câu lạc bộ cũ vài lần.
“Anh đã thiết kế ra nó à?” Cậu ta nhìn xuống Guy như một cậu bé nhỏ tôn sùng thần tượng. “Anh có thể vẽ cho tôi một bức tranh của nó không?”
Anh vẽ nhanh một bức phác họa của các tòa nhà ở cuối cuốn sổ ghi địa chỉ của Bruno và ký tên của mình, như Bruno muốn. Anh giải thích rằng bức tường sẽ hạ xuống để kiến tạo tầng trệt thành một phòng vũ hội rộng tới tận ban công, các ô cửa sổ bằng mái hắt, mà anh hy vọng sẽ xin được giấy phép, sẽ giúp lược bỏ đi những chiếc điều hòa. Guy trở nên hạnh phúc khi nói chuyện và những giọt nước mắt phấn khích xuất hiện trên mắt anh, dù anh vẫn nói giọng trầm. Anh tự hỏi làm sao mình có thể trò chuyện thân mật và để lộ ra tất thảy những gì đẹp đẽ nhất của mình với Bruno. Ai có thể ít thấu hiểu hơn Bruno được nữa?
“Nghe quá phê,” Bruno nói. “Ý anh là, anh vừa mới nói cho họ biết là trông nó sẽ ra sao thôi à?”
“Không. Một người phải làm hài lòng tương đối nhiều người.” Đột nhiên, Guy ngả đầu ra sau và bật cười.
“Anh sẽ nổi tiếng hử? Có lẽ bây giờ anh đã nổi tiếng rồi.” Sẽ có các bức hình trên tạp chí, có lẽ có cả trên thời sự nữa. Anh tự
nhắc nhở bản thân là họ chưa duyệt các bức vẽ của mình, nhưng anh chắc chắn là họ sẽ duyệt thôi. Myers, kiến trúc sư mà anh ngồi cùng văn phòng ở New York, đã chắc chắn về điều đó. Anne cũng hết sức vững tin. Cả ông Brillhart nữa. Đó sẽ là khoản tiền công lớn nhất đời anh. “Tôi có thể nổi tiếng sau dự án này. Vì đây là loại dự án sẽ được công bố rộng rãi.”
Bruno bắt đầu kể cho anh một câu chuyện dài về cuộc sống của cậu ta ở trường đại học, về chuyện cậu ta đáng ra đã trở thành một nhiếp ảnh gia như thế nào nếu không có một vụ việc đã xảy ra với cha cậu ta ở một thời điểm nào đó. Guy không nghe. Anh lơ đãng nhấp rượu, nghĩ tới khoản tiền sẽ được nhận sau vụ bãi biển Palm. Có lẽ, sớm thôi, anh sẽ có một tòa nhà văn phòng ở New York. Anh đã có ý tưởng cho việc ấy và luôn ao ước được thấy nó trở thành hiện thực. Guy Daniel Haines. Một cái tên. Cái nhận thức khó chịu và dai dẳng rằng anh có ít tiền hơn Anne sẽ tan biến hoàn toàn.
“Không phải sao, Guy?” Bruno hỏi lại.
“Gì cơ?”
Bruno hít sâu. “Nếu vợ anh làm loạn lên về vụ ly dị, như kiểu cô ta tranh cãi về nó trong lúc anh ở bãi biển Palm và điều đó làm họ sa thải anh chẳng hạn, không phải đó sẽ là động cơ thích đáng để giết người hay sao?”
“Giết Miriam á?”
“Chắc chắn rồi.”
“Không,” Guy nói. Nhưng câu hỏi đó làm anh bận tâm. Anh đã sợ Miriam nghe được tin về công việc ở Palmyra qua mẹ anh. Và rồi cô ta sẽ cố xía vào chỉ với niềm sung sướng đơn thuần là làm anh tổn thương.
“Khi cô ta cắm sừng anh, anh không cảm thấy muốn giết cô ta sao?”
“Không. Cậu không thể rời khỏi chủ đề này à?” Trong khoảnh
khắc, Guy nhìn thấy cả hai nửa cuộc đời của mình, hôn nhân và sự nghiệp, nằm sánh vai bên nhau theo cách anh chưa từng nhìn thấy trước đây. Não anh vùng vẫy một cách kinh tởm, cố hiểu thâu xem làm sao mình có thể ngớ ngẩn và bất lực ở bên này nhưng lại giỏi giang ở bên kia đến thế. Anh liếc Bruno, người vẫn đang nhìn anh chăm chú, cảm thấy hơi mụ mị, đặt cốc rượu xuống bàn và đẩy nó cách xa một ngón tay.
“Anh hẳn đã từng muốn làm thế ít nhất một lần,” Bruno đã ngà ngà say, lên tiếng với vẻ dai dẳng nhẹ nhàng.
“Không.” Guy muốn ra ngoài và đi dạo, nhưng con tàu vẫn tiếp tục di chuyển trên một đường thẳng, như một thứ gì đó sẽ không bao giờ dừng lại. Giả sử Miriam làm anh mất khoản tiền kia. Anh sẽ phải sống ở đó vài tháng để giữ mối quan hệ xã hội với các giám đốc. Bruno hiểu rất rõ những chuyện như thế. Guy đặt tay ngang vầng trán ẩm ướt. Khó khăn là ở chỗ anh không thể biết có thứ gì trong đầu Miriam cho tới khi gặp cô ta. Anh mệt mỏi, mà mỗi khi mệt mỏi thì Miriam có thể xâm chiếm anh như một đội quân. Nó đã diễn ra thường xuyên trong suốt 2 năm anh cần để xóa nhòa tình yêu mà anh dành cho cô ta. Và giờ đây nó lại đang xuất hiện. Anh cảm thấy chán ghét Bruno. Cậu ta đang mỉm cười.
“Tôi có nên kể cho anh một trong các ý tưởng của tôi để giết cha mình không?”
“Không,” Guy nói. Anh che tay lên cái cốc mà Bruno chuẩn bị đổ đầy.
“Anh muốn làm gì nào, đui đèn bị nổ trong phòng tắm hay nhà xe đầy khí carbon monoxide?”
“Làm đi và đừng có nói về nó nữa!”
“Tôi sẽ làm, đừng nghĩ tôi sẽ không làm! Muốn biết tôi còn có thể làm gì nữa không? Tự tử, nếu tôi tình cờ cảm thấy thích tự tử, và sẽ làm như thể kẻ thù ghê gớm nhất của tôi đã giết chết tôi vậy.”
Guy nhìn cậu ta với vẻ chán ghét. Các đường nét của Bruno dường như ngày một nhòa đi, như thể đang tan chảy. Bây giờ, cậu ta dường như chỉ còn là một giọng nói và linh hồn, linh hồn của quỷ dữ. Guy thầm nghĩ, Bruno là đại diện cho tất cả những gì mà anh khinh miệt. Tất cả những gì anh không muốn trở thành thì đều đúng là Bruno, hoặc cậu ta sẽ trở nên như vậy.
“Muốn tôi đề ra một kế hoạch giết vợ hoàn hảo cho anh không? Có thể một lúc nào đó anh sẽ muốn dùng đến nó đấy.” Bruno rúm người lại tự ti dưới con mắt xét nét của Guy.
Guy đứng dậy. “Tôi muốn đi dạo một chút.”
Bruno đập hai lòng bàn tay vào nhau. “Này! Trời ạ, đúng là một ý tưởng hay! Chúng ta sẽ giết người hộ nhau, thấy không? Tôi giết vợ anh còn anh giết cha tôi! Chúng ta gặp nhau trên tàu, đúng không? Vậy nên sẽ không một ai biết chúng ta quen nhau! Chứng cứ ngoại phạm hoàn hảo! Anh hiểu không?”
Bức tường trước mắt anh xô đẩy một cách có nhịp điệu, như thể nó sắp bung ra. Giết người. Từ đó làm anh ghê tởm, sợ hãi. Anh muốn tránh xa Bruno, ra khỏi phòng này, nhưng cảm giác nặng nề như một cơn ác mộng giữ anh lại. Guy cố đứng vững bằng cách dựa vào tường, cố hiểu ra những gì Bruno đang nói, vì anh có thể cảm thấy nó có logic ở đâu đó, như một vấn đề hoặc một câu đố cần lời giải.
Đôi bàn tay ám mùi thuốc lá của Bruno run bần bật trên đầu gối. “Chứng cớ ngoại phạm chặt chẽ!” Cậu ta rít lên. “Đó là ý tưởng sáng suốt nhất đời tôi! Anh không hiểu sao? Tôi có thể làm việc đó vào lúc anh rời khỏi thị trân và anh cũng có thể làm việc đó khi tôi ra khỏi thị trấn.”
Guy hiểu. Không một ai có thể phát hiện ra.
“Tôi sẽ thấy vô cùng sung sướng khi được kết liễu cuộc đời của một người như Miriam và thúc đẩy cuộc đời của một người như
anh.” Bruno cười khúc khích. “Anh cũng đồng ý rằng cần phải ngăn chặn trước khi cô ta hủy hoại thêm cuộc đời của rất nhiều người khác đúng không? Ngồi xuống đi, Guy!”
Cô ta không hề hủy hoại tôi, Guy muốn nhắc nhở cậu ta như thế nhưng Bruno không cho anh thời gian.
“Ý tôi là, giả sử chúng ta quyết định sẽ hành động như vậy, thì liệu anh có thể làm được không? Anh có thể kể cho tôi nghe tất tần tật về nơi cô ta sống, anh biết đấy. Và tôi cũng có thể cung cấp thông tin tương tự cho anh, như thể anh từng sống ở đó vậy. Chúng ta có thể để lại dấu vân tay ở khắp mọi nơi và điều đó sẽ khiến bọn khốn kia phát khùng!” Cậu ta cười khúc khích. “Tất nhiên là cách nhau vài tháng, và tuyệt đối không được có chút liên hệ nào. Chúa ơi, cầm chắc thắng lợi rồi!” Cậu ta đứng dậy và gần như bổ nhào xuống, say túy lúy. Rồi cậu ta nói thẳng vào mặt Guy, với vẻ tràn đầy tự tin: ”Anh có thể làm được chứ, Guy? Sẽ chẳng có khó khăn gì đâu, tôi thề đấy. Tôi sẽ sắp xếp tất cả, tôi thề đấy, Guy.”
Guy đẩy cậu ta ra, mạnh hơn anh dự tính. Bruno dai dẳng đứng dậy từ chiếc ghế bên cạnh cửa sổ. Guy liếc nhìn xung quanh để tìm một chút không khí, nhưng các bức tường là những bề mặt kiên cố. Căn phòng đã trở thành một địa ngục nhỏ. Anh đang làm gì ở đây? Khi nào và bằng cách nào mà anh lại uống nhiều đến thế?
“Tôi tin chắc là anh có thể,” Bruno cau mày.
Im mồm với đống lý thuyết chết dẫm của cậu lại, Guy muốn hét trả, nhưng thay vào đó giọng anh phát ra như tiếng thì thầm: “Tôi phát ốm vì chuyện này rồi.”
Anh nhìn thấy khuôn mặt mỏng dính của Bruno đang xoắn lại một cách quái gở - với một nụ cười tự mãn mang đầy vẻ ngạc nhiên - kiểu mặt trí thức gớm ghiếc một cách kỳ quái. Bruno nhún vai một cách niềm nở.
“Được rồi. Tôi vẫn nói đó là một ý tưởng hay và chúng ta đã có sự
dàn dựng tuyệt đối hoàn hảo ngay tại đây. Đó là ý tưởng mà tôi sẽ thực hiện. Với người khác, tất nhiên rồi. Anh đi đâu thế?” Cuối cùng, Guy cũng nghĩ tới cánh cửa. Anh bước ra và mở một cánh cửa khác ra ngoài thềm, nơi không khí mát lạnh phả vào anh như một lời quở trách và tiếng con tàu cất cao như một tiếng la rầy. Chèn thêm tiếng chửi rủa của mình vào tiếng rít của gió và âm thanh của con tàu, anh cảm thấy buồn nôn.
“Guy?”
Quay lại, anh thấy Bruno đang lách qua cánh cửa nặng nề. “Guy, tôi xin lỗi.”
“Không sao hết,” Guy nói ngay lập tức, vì khuôn mặt của Bruno làm anh sốc. Nó như một con cún đang tự cảm thấy nhục nhã. “Cảm ơn, Guy.” Bruno cúi đầu. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng nện xình xịch của con tàu bắt đầu lặng dần. Guy phải cố lấy lại thăng bằng.
Anh cảm thấy cực kỳ biết ơn vì con tàu đã dừng lại. Anh vỗ vai Bruno. “Đi ra ngoài và hít thở chút không khí thôi!”
Họ bước ra một thế giới tối tăm và hoàn toàn tĩnh lặng. “Ý tưởng điên rồ gì vậy?” Bruno hét váng lên. “ Chẳng có chút ánh sáng nào!”
Guy ngẩng đầu lên. Cũng chẳng có mặt trăng. Gió lạnh làm cả cơ thế anh cứng ngắc và trở nên cảnh giác. Anh nghe thấy ở đâu đó âm thanh ấm cúng của một cánh cửa gỗ được đóng sập lại. Trước mặt họ, một tia sáng lớn dần lên thành một ngọn đèn. Và rồi người đàn ông cầm ngọn đèn đó chạy về phía cuối tàu - nơi một cánh cửa của toa xe chở hàng đang mở hé ra để lộ một vùng ánh sáng. Guy chậm rãi đi về phía ấy, Bruno cũng đi theo anh.
Xa xa trên thảo nguyên bằng phẳng tối om, một đầu máy xe lửa khác đang than khóc, chạy không ngừng, rồi xa dần. Đó là một âm thanh mà anh vẫn nhớ từ thuở ấu thơ, đẹp đẽ, tinh khôi và cô đơn.
Như một con ngựa hoang đang rũ cái bờm màu trắng. Trong cảm xúc thân tình vừa trào dâng, Guy lồng tay vào cánh tay Bruno. “Tôi không muốn đi bộ!” Bruno hét lên, giật tay ra và ngừng lại. Không khí trong lành làm cậu ta héo rũ như một con cá. Tàu bắt đầu khởi động. Guy đẩy cơ thể to cao mềm oặt của Bruno lên tàu.
“Uống chén rượu cho ấm bụng không?” Bruno nói một cách yếu ớt ở cửa phòng, trông mệt mỏi đến mức sắp ngã phịch xuống. “Cảm ơn, tôi không thể.”
Tấm rèm xanh chặn tiếng thì thầm của họ lại.
“Đừng quên gọi tôi vào buổi sáng nhé. Tôi sẽ để cửa không khóa. Nếu tôi không trả lời thì cứ đi vào nhé?”
Guy lảo đảo đi qua các bức tường bằng rèm xanh trên đường về giường ngủ của mình.
Thói quen làm anh nghĩ tới cuốn sách của mình khi nằm xuống. Anh đã bỏ nó lại trong phòng của Bruno. Cuốn Plato của anh. Anh không thích ý nghĩ để nó qua đêm trong phòng của Bruno, hay việc Bruno chạm vào và mở nó ra.
CHƯƠNG 3
A
nh gọi ngay cho Miriam, và cô ta đã sắp xếp để gặp anh trong một ngôi trường trung học nằm giữa nhà họ.
Giờ anh đứng ở góc sân chơi đã được trải nhựa đường, và chờ đợi. Cô ta sẽ đến muộn, tất nhiên rồi. Anh tự hỏi vì sao cô ta lại chọn trường trung học. Vì đó là sân nhà của cô ta à?
Bầu trời mang một màu xanh trong vắt. Mặt trời rót xuống từng đợt hơi nóng không phải màu vàng, mà là không màu, giống như một thứ gì đó đã biến trắng bởi vì nhiệt độ của chính nó. Sau những tán cây, anh nhìn thấy nóc của một tòa nhà màu đỏ xa lạ với dáng hình thuôn thuôn, có lẽ đã mọc lên sau khi anh rời Metcalf vào 2 năm trước. Guy quay người đi. Không có ai trong tầm mắt, như thể hơi nóng đã khiến cho tất cả mọi người bỏ rơi phòng học và những ngôi nhà xung quanh. Anh nhìn các bậc thềm màu xám đang tràn xuống từ khung vòm màu đen của những ô cửa trong trường. Anh vẫn nhớ mùi mồ hôi thoang thoảng, mùi mực phảng phất trên mép quyển sách đại số nhàu nhĩ của Miriam. Anh vẫn nhìn thấy chữ MIRIAM được viết bằng bút chì trên mép các trang giấy, cùng với hình vẽ một cô gái với mái tóc lượn sóng bay bổng trên trang trắng đầu sách, khi anh mở sách để giải đề hộ cô. Vì sao anh lại nghĩ Miriam khác biệt với tất cả mọi người cơ chứ?
Anh đi qua cánh cổng lớn giữa hàng rào bằng dây kẽm gai chằng chịt để tìm hướng ra đại lộ College. Và rồi anh nhìn thấy cô ta, dưới những tán cây xanh úa dọc lề đường. Tim anh bắt đầu đập mạnh hơn, nhưng anh chớp mắt với vẻ dửng dưng cố ý. Miriam vẫn bước
đi với nhịp độ chậm rãi và thong thả như mọi khi. Giờ thì cô ta đã ở trước mắt anh, gương mặt bị che khuất bởi một chiếc mũ vành sáng màu. Bóng tối và ánh sáng rải rác trên người cô ta một cách hỗn loạn. Cô ta thư thái vẫy tay với anh. Guy rút một tay ra khỏi túi quần, đến lưng chừng lại rụt trở vào. Anh quay lại sân chơi, đột nhiên lại căng thẳng và e thẹn như một cậu nhóc. Anh tự nhủ có lẽ cô gái kỳ lạ dưới tán cây kia đã biết về công việc của anh ở bãi biển Palm rồi. Mẹ anh đã báo cho anh, cách đây nửa tiếng, rằng bà đã đề cập tới chuyện đó với Miriam vào lần cuối Miriam gọi điện tới.
“Chào, Guy.” Miriam mỉm cười, rồi nhanh chóng khép đôi môi màu hồng cam lại. Guy vẫn nhớ cô ta làm vậy để che đi khoảng trống giữa hai chiếc răng cửa.
“Dạo này thế nào, Miriam?” Anh miễn cưỡng liếc nhìn thân hình của cô ta, đầy đặn nhưng trông có vẻ không giống như đang mang thai. Anh thoáng nghĩ tới khả năng cô ta đã nói dối. Miriam mặc một chiếc váy hoa rực rỡ, kết hợp cùng với áo ngắn tay màu trắng. Chiếc ví to bản cùng màu của cô ta được làm bằng da và có họa tiết đan.
Miriam nghiêm trang ngồi xuống một chiếc ghế đá dưới bóng râm, rồi hỏi những câu hỏi vô vị về chuyến đi của anh. Mặt cô ta đã đầy đặn hơn ở những nơi vốn vẫn luôn đầy đặn, chính là hai bầu má. Chúng khiến cằm cô ta bị nhọn ra. Guy nhận ra bây giờ dưới mắt cô ta đã có các nếp nhăn nhỏ. Cô ta đã sống một cuộc đời quá dài, đối với một người 22 tuổi.
“Tháng 1,” cô ta trả lời anh bằng giọng đều đều. “Đứa trẻ sẽ chào đời vào tháng 1.”
Vậy là mới được 2 tháng. “Tôi đoán là cô muốn cưới anh ta.” Miriam khẽ nghiêng đầu và nhìn xuống. Trên bờ má ngắn ngủn của cô ta, ánh mặt trời chiếu lên đốm tàn nhang lớn nhất - một họa tiết đặc biệt mà anh vẫn nhớ, nhưng lại không mấy khi để ý đến kế từ ngày anh kết hôn với cô ta. Thế mà đã có thời anh từng chắc chắn
rằng mình sở hữu cô ta, sở hữu mọi suy nghĩ yếu đuối nhất của cô ta cơ đấy! Bỗng nhiên anh nhận ra tình yêu dường như chỉ là thứ yếu, mê hoặc nhưng khủng khiếp. Anh chẳng biết gì, dù chỉ là một điều nhỏ nhất trong đầu Miriam lúc này. Liệu điều này có đang xảy ra với cả Anne không?
“Không à, Miriam?” anh gặng hỏi.
“Không phải ngay bây giờ. Xem này, có vài chuyện phức tạp.” “Như là?”
“À thì có lẽ chúng tôi không thể cưới ngay khi chúng tôi muốn.” “Ồ.” Chúng tôi. Anh biết gã ta sẽ trông như thế nào, cao và rám nắng, với khuôn mặt dài, như Steve. Kiểu đàn ông mà Miriam luôn bị thu hút. Kiểu duy nhất mà cô ta chịu có con cùng. Và cô ta cũng muốn đứa con này, anh có thế thấy rõ. Rất có thể có chuyện gì đó đã xảy ra, không hề liên quan tới gã đàn ông kia, khiến cô ta muốn có một đứa con. Anh có thấy điều đó qua cái cách nghiêm trang, ngay ngắn mà cô ta ngồi trên ghế, trong vẻ xuất thần buông xuôi mà anh luôn thấy hoặc hình dung thấy trên khuôn mặt của những người phụ nữ có bầu. “Dù sao thì tôi vẫn nghĩ rằng điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến việc trì hoãn chuyện ly dị.”
“À, tôi cũng không nghĩ thế - cho tới vài ngày trước. Tôi tưởng tháng này Owen đã có thể tự do để kết hôn rồi.”
“Ồ. Anh ta đã kết hôn rồi à?”
“Phải, anh ấy đã kết hôn,” cô ta nói kèm theo tiếng thở dài nhỏ, gần như là mỉm cười.
Guy nhìn xuống với vẻ hơi xấu hổ. Anh chậm rãi bước vài bước trên mặt sân trải nhựa đường. Anh đã biết là gã đàn ông đó đang có vợ mà. Anh đã đoán ra việc hắn ta không hề có ý định cưới cô ta đâu trừ phi bị buộc phải làm thế. “Anh ta ở đâu? Ở đây à?”
“Anh ấy ở Houston,” cô ta đáp. “Anh không muốn ngồi xuống à?” “Không.”
“Anh chưa bao giờ thích ngồi hết.”
Anh im lặng.
“Anh vẫn đeo chiếc nhẫn đó chứ?”
“Có.” Nhẫn sinh viên của anh ở Chicago, thứ mà Miriam luôn ngưỡng mộ vì nó chứng tỏ anh là sinh viên đại học. Cô ta đang nhìn chằm chằm vào chiếc nhẫn với nụ cười vô thức. Anh đút hai tay vào túi. “Tôi muốn giải quyết cho xong việc này khi còn ở đây. Chúng ta có thể giải quyết ngay tuần này không?”
“Tôi muốn đi đến một nơi khác, Guy.”
“Để ly dị á?”
Bàn tay mũm mĩm của cô ta mở ra trong một cử chỉ mơ hồ vô lực, làm anh đột nhiên nhớ tới bàn tay của Bruno. Anh đã quên hẳn về Bruno sau khi xuống tàu sáng nay. Quên cả quyển sách của anh nữa. “Tôi có phần mệt mỏi vì ở đây,” cô ta nói.
“Chúng ta có thể tiến hành ly dị ở Dallas nếu cô thích.” Tất cả chỉ vì bạn bè của cô ta ở đây sẽ biết chuyện, anh nghĩ thầm. “Tôi muốn đợi, Guy. Anh có bận tâm không? Chỉ một thời gian thôi?”
“Tôi thì nghĩ cô mới bận tâm đấy. Anh ta có định cưới cô hay không?”
“Anh ấy đã có thể cưới tôi vào tháng 9. Đáng nhẽ ra lúc đó anh ấy đã được tự do, nhưng...”
“Nhưng sao?” Trong sự im lặng của cô, trong cái dáng vẻ dùng lưỡi liếm môi trên trẻ con kia, anh có thể thấy cái bẫy mà cô ta đang mắc kẹt bên trong. Cô ta vô cùng muốn đứa trẻ này, cô ta sẽ hy sinh bản thân ở Metcalf bằng cách chờ đợi đến khi chỉ còn 4 tháng nữa là nó được sinh ra mới cưới cha đứa trẻ. Bất giác, anh cảm thấy có phần thương hại cô ta.
“Tôi muốn đi thật xa, Guy. Với anh.”
Gương mặt của cô ta nỗ lực thể hiện sự chân thành, chân thật đến
mức anh suýt nữa đã quên cô ta đang đòi hỏi điều gì, vì lý do gì. “Cô muốn gì, Miriam? Có tiền để đi chỗ khác à?”
Vẻ mơ màng trong đôi mắt màu xám xanh của cô ta tan biến như sương mù. “Mẹ anh bảo anh sắp tới bãi biển Palm.”
“Tôi có thể sẽ đi tới đó. Để làm việc.” Anh nghĩ tới Palmyra với cảm giác về nguy cơ đang nhói lên. Nhưng rồi nó lại trôi đi ngay lập tức.
“Đưa tôi đi cùng nhé, Guy? Đó là điều cuối cùng tôi nhờ anh. Nếu tôi có thể ở cùng anh tới tháng 12 rồi ly dị...”
“Ồ,” anh nói nhẹ nhàng, nhưng có một thứ gì đó đang đập mạnh trong lồng ngực mình, như thể trái tim của anh đang vỡ ra vậy. Đột nhiên, cô ta khiến anh ghê tởm, cô ta và tất cả những người xung quanh mà cô ta quen biết và mê hoặc. Con của một người đàn ông khác. Đi cùng cô ta, làm chồng cô ta cho tới khi cô ta sinh ra đứa con của một người đàn ông khác. Ở bãi biển Palm!
“Nếu anh không đưa thì tôi vẫn cứ đi.”
“Miriam, tôi có thế xin ly dị ngay bây giờ. Tôi không buộc phải đợi tới khi đứa trẻ chào đời. Luật pháp không bắt buộc.” Giọng anh run lên.
“Anh sẽ không làm thế với tôi,” Miriam đáp lại, với sự kết hợp của đe dọa và nài nỉ đã từng thao túng cả sự giận dữ lẫn tình yêu của anh và rồi khiến anh bối rối hồi anh và cô ta còn yêu nhau.
Anh cảm thấy giờ nó cũng đang làm mình bối rối. Và cô ta nói đúng. Anh sẽ không ly dị với cô ta ngay bây giờ. Nhưng không phải là vì anh còn yêu cô ta, hay vì cô ta vẫn còn là vợ anh và vì thế cần anh bảo vệ, mà là vì anh thương hại cô ta và vì anh vẫn nhớ là mình đã từng thật lòng yêu cô ta. Anh giờ mới nhận ra mình đã thương hại cô ta từ hồi ở New York, kể cả khi cô ta viết thư xin tiền anh. “Tôi sẽ không nhận công việc đó nếu cô đến Palm. Dù sao thì nhận hay không nhận cũng chẳng khác gì nhau,” anh nói đều đều, nhưng nếu
cơ hội nhận công việc đó đã biến mất rồi, anh tự nhủ, thì tại sao còn phải thảo luận về nó?
“Tôi không nghĩ anh sẽ từ bỏ một công việc như thế đâu,” cô ta thách thức.
Anh xoay người để tránh xa nụ cười chiến thắng vặn vẹo của cô ta. Đó là chỗ sai lầm của Miriam, anh nghĩ thầm, nhưng anh vẫn im lặng. Anh bước 2 bước trên nền nhựa đường gồ ghề rồi quay lại, đầu ngẩng cao. Bình tĩnh nào, anh tự nhủ. Giận dữ thì làm được gì? Miriam từng rất ghét anh khi anh phản ứng lại như thế này, vì cô ta thích những trận cãi nhau to tiếng. Thậm chí vừa mới sáng ra cô ta đã thích cãi nhau rồi, anh nghĩ thầm. Cô ta từng ghét anh khi anh phản ứng như thế này, cho tới khi cô ta hiểu ra rằng về lâu về dài, phản ứng như thế chỉ khiến anh đau đớn hơn. Anh biết giờ mình đang bị chơi đùa trong lòng bàn tay của cô ta, nhưng anh chẳng thể phản ứng theo cách nào khác được nữa.
“Tôi thậm chí còn chưa chính thức nhận công việc đó, cô biết đấy. Tôi sẽ chỉ cần gửi một bức điện tín cho họ và nói rằng tôi không muốn nó nữa.” Trên đầu các ngọn cây, anh lại chú ý tới tòa nhà mới đỏ quạch mà anh đã thấy trước khi Miriam tới.
“Và rồi sao?”
“Rất nhiều việc. Nhưng cô sẽ không biết được đâu.” “Bỏ chạy à?” cô ta khiêu khích. “Cách rẻ tiền nhất để thoát thân.” Anh tiếp tục đi qua đi lại, rồi quay sang. Nếu đó là Anne thì sao.
Với Anne, anh có thể chịu đựng điều này, chịu đựng hết thảy. Và trên thực tế anh cảm thấy cam chịu một cách kỳ lạ. Có phải vì hiện tại anh đang ở với Miriam, biểu tượng thất bại tuổi trẻ của anh không? Guy cắn đầu lưỡi. Như khiếm khuyết của một viên đá quý không hề lộ ra ngoài, bên trong anh mang một nỗi sợ hãi và chờ đợi những thất bại mà anh chẳng bao giờ có khả năng cứu chữa. Có thời, thất bại là một khả năng làm anh hứng thú, và có thời, ở trung học
và đại học, khi anh cho phép mình trượt những bài thi mà đáng ra anh đã có thể vượt qua. giống như việc anh cưới Miriam vậy, anh nghĩ thầm, khi đó anh đã chống lại ý muốn của cà hai bên gia đình và tất cả những người xung quanh. Không phải anh đã biết trước là nó không thể thành công sao? Và giờ anh sẽ từ bỏ khoản tiền thù lao lớn nhất của mình, không than vãn một câu. Anh sẽ tới Mexico và dành vài ngày với Anne. Việc đó sẽ ngốn sạch số tiền của anh, nhưng sao lại không? Anh có thể quay lại New York làm việc mà không cần gặp Anne trước mà?
“Còn gì nữa không?” anh hỏi.
“Tôi đã nói hết rồi,” cô ta nói với anh qua hai chiếc răng cửa xa nhau.
CHƯƠNG 4
G
uy chậm rãi đi bộ về nhà, để đến được đường Ambrose nơi anh sống, anh thường đi qua con đường Travis râm mát và yên ả. Giờ có một tiệm hoa quả nhỏ ở góc đường Travis và Delancey, nằm ngay trên bãi cỏ trước hiên nhà ai đó như một cửa hàng đồ chơi trẻ con. Từ phía Washatorium - tòa nhà quá cao đã phá hoại kiến trúc đầu tây của phố Ambrose - những người phụ nữ mặc đồng phục trắng đang tràn ra, tán gẫu trên đường đi ăn trưa sớm. Guy mừng vì không gặp ai trên đường khiến anh phải dừng lại nói chuyện. Anh cảm thấy trì trệ, lặng lẽ, nhẫn nhục và thậm chí còn khá hạnh phúc. Kỳ lạ thay chỉ sau 5 phút nói chuyện với Miriam, cô ta đã trở nên thật xa cách - và có phần lạ lẫm. Mọi chuyện trở nên không còn quan trọng nữa. Giờ anh cảm thấy xấu hổ về sự lo lắng của mình lúc còn ở trên tàu.
“Không tệ lắm mẹ ạ,” anh vừa nói vừa mỉm cười khi về tới nhà. Mẹ chào đón anh với hàng lông mày khẽ nhướn lên đầy lo âu. “Mẹ mừng khi nghe điều đó.” Bà kéo một chiếc ghế bập bênh lại và ngồi xuống lắng nghe. Bà là một phụ nữ nhỏ người với mái tóc màu nâu sáng, đường nét xinh xắn, chiếc mũi dọc dừa khá đẹp và năng lượng dường như luôn tỏa sáng lấp lánh trên mái tóc điểm bạc của bà. Gần như lúc nào bà cũng vui vẻ. Điều này làm cho Guy cảm thấy anh và mẹ tương đối khác biệt, cũng chính nó đã khiến anh phần nào trở nên xa lạ với bà từ hồi anh còn phải chịu đựng đau khổ vì Miriam. Guy thích chăm bẵm sự đau khổ của mình, khám phá tất cả những gì có thể về chúng, trong khi mẹ anh thì khuyên anh nên
quên đi. “Miriam đã nói gì? Con đã không đi lâu lắm. Mẹ tưởng con sẽ ăn trưa cùng con bé cơ.”
“Không đâu mẹ.” Anh thớ dài và ngồi sụp xuống chiếc ghế sô pha thêu kim tuyến. “Mọi chuyện đều ổn, nhưng chắc con sẽ không nhận việc xây Palmyra nữa.”
“Ôi, Guy. Sao lại không? Có phải...? Có đúng là con bé đang có bầu không?”
Mẹ anh thất vọng, Guy nghĩ thầm, nhưng thất vọng một cách quá nhẹ nhàng đối với ý nghĩa thật sự của công việc này. Nhưng anh cũng mừng vì bà không biết công việc này thật sự có ý nghĩa như thế nào. “Đúng vậy,” anh nói, rồi ngả đầu ra sau cho tới khi cảm nhận được khung gỗ mát lạnh của ghế sô pha sau gáy mình. Anh nghĩ tới vùng vịnh đã chia cách cuộc sống của anh và mẹ. Anh chỉ kể rất ít cho bà về cuộc sống của anh với Miriam. Và mẹ anh, người đã được nuôi dạy một cách thoải mái và hạnh phúc ở Mississippi, thì luôn bận rộn với ngôi nhà rộng rãi, vườn tược và những người bạn trung thành, dễ mến ở Metcalf - bà thì có thể hiểu được gì về một kẻ hiểm ác như Miriam cơ chứ? Hoặc bà có thể hiểu gì về cuộc sống bấp bênh mà anh sẵn lòng trải qua ở New York chỉ vì một hai ý tưởng đơn giản trong công việc của mình?
“Giờ thì bãi biển Palm có gì liên quan với Miriam nào?” cuối cùng bà cũng hỏi.
“Miriam muốn cùng con đi tới Palm. Muốn được bảo vệ một thời gian. Và con không tài nào chịu đựng nổi điều đó.” Guy nắm chặt tay. Anh đột ngột tưởng tượng ra cảnh Miriam ở bãi biển Palm hay Miriam gặp Clarence Brillhart, quản lý của câu lạc bộ Palmyra. Nhưng Guy biết không phải vì anh đang tưởng tượng ra cú sốc của Brillhart dưới vẻ ngoài lịch sự bình thản và điềm tĩnh thường thấy, mà chỉ đơn giản là cảm giác ghê tởm của anh khiến điều đó bất khả thi. Anh chỉ không thể chịu nổi việc có Miriam ở bên cạnh khi tiến
hành một dự án như thế này. “Con không thể chịu được điều đó,” anh nhắc lại.
“Ồ,” là tất cả những gì bà nói, nhưng sự im lặng hiện giờ của bà mang vẻ thấu hiểu. Guy nghĩ nếu bà đưa ra bình luận gì đó thì nó chỉ nhắc anh nhớ lại sự phản đối ngày trước của bà với cuộc hôn nhân của họ. Và bà sẽ không khiến anh nhớ lại vào thời điểm này. “Con sẽ không thể chịu đựng được điều đó đâu,” bà nói thêm, “bất kể là bao lâu đi nữa.”
“Con không thể chịu được.” Anh đứng dậy và ôm khuôn mặt mềm mại của bà trong tay. “Mẹ à, con không thèm quan tâm đâu,” anh nói rồi hôn trán bà. “Con thật sự chẳng quan tâm chút nào.” “Mẹ không tin là con quan tâm. Nhưng vì sao?”
Anh băng qua phòng để tới chỗ cây đàn piano. “Vì con sẽ tới Mexico để gặp Anne.”
“Ồ, vậy sao?” bà mỉm cười, niềm hoan hỉ vì buổi sáng đầu tiên được ở cùng con trai đã chiến thắng. “Con thật thích đi lang thang!” “Mẹ muốn tới Mexico không?” Anh mỉm cười nói qua vai và rồi bắt đầu chơi một bàn saraband đã được học hồi nhỏ. “Mexico!” Mẹ anh giả vờ sợ hãi. “Lũ ngựa hoang cũng không lôi mẹ tới Mexico được đâu. Có lẽ con có thể đưa Anne về gặp mẹ trên đường quay về.”
“Có thể.”
Bà đi tới và ngập ngừng đặt tay lên vai anh. “Guy, thỉnh thoảng mẹ cảm thấy con đã vui trở lại. Ở những thời điểm buồn cười nhất.”
CHƯƠNG 5
M
ọi chuyện với anh thế nào? Viết thư ngay cho em đi. Hay tốt nhất là gọi điện. Bọn em sẽ ở Ri này thêm 2 tuần nữa. Rất nhớ anh trong chuyến đi, cảm thấy thật tiếc vì chúng ta không thể đi đến đó cùng nhau, nhưng em hiểu. Em ước mọi phút giây trong ngày của anh đều hạnh phúc, anh yêu. Chuyện này sẽ sớm kết thúc thôi và chúng ta sẽ giải quyết ổn thỏa. Bất kể có chuyện gì xảy ra thì cứ kể cho em và cùng nhau đối mặt với nó. Em thường cảm thấy anh không hay làm vậy. Ý em là đối mặt với mọi chuyện ý.
Anh ở rất gần, thật vớ vẩn nếu anh không thể xuống đây một hai ngày gì đó. Em hy vọng anh sẽ muốn xuống đây. Em hy vọng chúng ta sẽ có thời gian. Rất muốn có anh ở đây và anh biết là gia đình em cũng vậy. Anh yêu, em thích mê các bản vẽ và em tự hào về anh đến mức có thể chịu đựng được ý nghĩ anh sẽ đi xa trong vài tháng để xây chúng. Cha cũng thấy hết sức ấn tượng. Bọn em chỉ toàn nói về anh thôi.
Toàn bộ tình yêu của em, và tất cả những gì đi kèm với nó. Hạnh phúc nhé, anh yêu. A.
Guy viết điện tín cho Clarence Brillhart, quản lý câu lạc bộ Palmyra. “Do hoàn cảnh mà tôi không thể nhận vụ này. Tôi hối tiếc sâu sắc và xin cảm ơn sự bảo vệ và khuyến khích không ngừng nghỉ của anh. Sẽ gửi thư cho anh.”
Đột nhiên, anh nghĩ tới những bức phác họa mà họ sẽ sử dụng thay các bức vẽ của anh - thiết kế mô phỏng Frank Lloyd Wright của hiệp hội William Harkness. Chưa đủ tệ, anh nghĩ thầm khi đọc bức
điện tín qua điện thoại, Ban giám đốc hẳn sẽ bảo Harkness sao chép vài ý tưởng của anh. Và Harkness sẽ làm theo, tất nhiên rồi. Anh đánh điện cho Anne báo rằng anh sẽ bay tới vào thứ Hai và anh sẽ rảnh rỗi trong vài ngày tới. Và vì có Anne, anh cũng chẳng buồn lo lắng xem phải bao nhiêu tháng nữa, có thể là bao nhiêu năm nữa, mới có một công việc tầm cỡ như dự án Palmyra xuất hiện trong tẩm tay mình.
CHƯƠNG 6
T
ối hôm đó, Charles Anthony Bruno nằm dài trong phòng khách sạn ở El Paso, cố giữ chiếc bút mực vàng thăng bằng trên mũi hơi gãy. Hắn bồn chồn không ngủ được, nhưng lại không đủ năng lượng để xuống các quán rượu xung quanh và suy xét lại mọi việc. Hắn đã suy xét suốt cả buổi chiều và không nghĩ nhiều về chúng nữa khi đến El Paso. Hắn cũng không nghĩ nhiều về Grand Canyon. Hắn nghĩ thêm về ý tưởng đã đến với mình vào buổi tối trước đêm cuối cùng trên tàu. Thật đáng tiếc vì Guy đã không gọi hắn dậy vào sáng hôm đó. Không phải Guy là kiểu đồng bọn để cùng lên kế hoạch giết người, nhưng hắn thích anh ta, với tư cách là một con người. Guy là một người đáng để quen biết. Bên cạnh đó, Guy đã để quên cuốn sách của mình và hắn có thể trả nó lại.
Quạt trần kêu ro ro vì một trong bốn cánh quạt đã bị mất. Nếu cánh thứ tư còn ở đó thì cũng chỉ mát hơn một chút thôi, hắn nghĩ thầm. Một trong những ống nước ở phòng vệ sinh bị rò rỉ, cái kẹp trên đèn đọc sách ở đầu giường bị gãy nên rũ xuống, còn các dấu tay thì rải rác khắp trên cửa tủ. Vậy mà người ta bảo hắn đây là khách sạn tốt nhất trong thị trấn! Vì sao lúc nào cũng có chuyện gì đó không ổn, dù có thể chỉ là một chuyện nhỏ, với mọi phòng khách sạn mà hắn từng vào ở? Một ngày nào đó, hắn sẽ tìm ra một căn phòng khách sạn hoàn hảo và mua đứt, dù nó có nằm ở Nam Phi đi nữa.
Hắn ngồi dậy ở mép giường và với lấy điện thoại. “Cho tôi gọi đường dài.” Hắn đờ đẫn nhìn vào vết đất đỏ mà đôi giày của mình
đã để lại trên chiếc khăn phủ giường trắng tinh. “Great Neck 166...Great Neck, phải.” Hắn đợi. “Long Island, ở New York, hừ, đã bao giờ nghe đến nó chưa?”
Chưa đầy 1 phút, hắn đã được gặp mẹ.
“Vâng, con đây ạ. Mẹ vẫn khởi hành vào Chủ nhật à? Tốt nhất là mẹ...À, con đã trải qua hành trình trên lưng lừa đó. Suýt thì làm con kiệt sức… Vâng, con đã ngắm hẻm núi... Được, nhưng màu sắc khá lỗi thời... Dẫu sao đi nữa, mọi chuyện với mẹ thế nào?”
Bruno bắt đầu bật cười. Hắn hẩy giày ra khỏi chân và lăn xuống giường cùng điện thoại, phá lên cười từng tràng dài. Bà đang kể cho hắn chuyện bà về nhà thì thấy Thuyền trưởng đang tiếp 2 người bạn của bà - 2 người đàn ông mà bà đã gặp tôi hôm qua. Những người ghé qua chơi ấy đã tưởng Thuyền trưởng là cha của bà và nói chuyện lung tung hết cả lên.
CHƯƠNG 7
C
hống khuỷu tay nằm trên giường, Guy nhìn chằm chằm vào bức thư được viết bằng bút chì gửi cho anh.
“Mẹ đoán rằng mình chỉ còn một lần để đánh thức con dậy trong suốt cả khoảng thời gian dài sắp tới,” mẹ anh nói.
Guy nhặt bức thư từ bãi biển Palm lên, “Có lẽ cũng không lâu lắm đâu mẹ.”
“Ngày mai máy bay của con sẽ cất cánh vào lúc mấy giờ?” “1 giờ 20 phút ạ .”
Bà cúi xuống và chỉnh lại tấm ga trải giường của anh một cách không cần thiết.
“Mẹ không nghĩ là con có thời gian ghé qua thăm Ethel đâu nhỉ?” “Ồ, chắc chắn là con có chứ, mẹ.” Ethel Peter là một trong những người bạn thân thiết nhất của mẹ anh. Bà đã dạy những bài học piano đầu tiên cho Guy.
Bức thư từ biển Palm đến từ ông Brillhart. Anh đã được trao quyền thiết kế. Ông Brillhart cũng đã thuyết phục Ban giám đốc về các ô cửa sổ có mái hắt.
“Sáng nay, mẹ có một ít cà phê mạnh ngon lắm,” mẹ anh nói từ thềm cửa. “Có muốn ăn sáng trên giường không?”
Guy mỉm cười với bà. “Có chứ!”
Anh cẩn thận đọc lại bức thư của ông Brillhart, nhét nó trở vào trong phong bì và chậm rãi xé nó đi. Rồi anh mờ bức thư còn lại. Nó chỉ dài một trang, viết bút chì nguệch ngoạc. Chữ ký hoa mỹ cuối thư khiến anh mỉm cười trở lại: Charles A. Bruno.
Guy thân mến,
Anh bạn trên tàu của anh đây, nhớ chứ? Tối hôm đó, anh đã bỏ quên sách trong phòng tôi và tôi tìm thấy một địa chỉ ở Texas mà tôi tin là vẫn đúng. Tôi đang gửi trả lại cuốn sách cho anh. Tôi đã đọc một ít trong đó, trước giờ tôi không hề biết rằng lại có nhiều cuộc trò chuyện đến thế trong Plato.
Rất vinh hạnh khi được ăn tối cùng anh ngày hôm đó và hy vọng tôi có thể đưa anh vào danh sách bạn bè của mình. Sẽ rất tuyệt nếu được gặp anh ở Santa Fe và nếu anh có khả năng đổi ý thì địa chỉ là: Khách sạn La Fonda, Santa Fe, New Mexico. Ít nhất là trong 2 tuần tới.
Tôi vẫn nghĩ mãi về ý tưởng một vụ giết người kép. Tôi chắc chắn nó khả thi. Tôi không thể biểu lộ với anh niềm tin nào mãnh liệt hơn về ý tưởng đó! Dù tôi biết chủ đề ấy không hấp dẫn anh.
Liệu những điều có thể xảy đến với vợ anh có hấp dẫn hơn không? Hãy viết thư lại cho tôi sớm nhé. Ngoài việc bị mất ví ở El Paso (bị trộm ngay trước mặt tại quầy bar) thì không có chuyện gì đáng để viết cả. Không hề thích El Paso, xin lỗi anh.
Hy vọng sớm được nghe tin từ anh,
Bạn anh,
Charles A. Bruno
Tái bút: Rất xin lỗi vì ngủ dậy muộn và không gặp được anh vào buổi sáng hôm đó.
C.A.B.
Bằng cách nào đó, bức thư ấy đã làm anh hài lòng. Nghĩ về thái độ không gò bó của Bruno thật thoải mái.
“Yến mạch!” anh hồ hởi nói với mẹ. “Đừng bao giờ cho yên mạch vào trứng rán của con ở phía bắc này.”
Anh mặc chiếc áo ngủ cũ mèm ưa thích dù nó quá nóng với thời tiết hiện giờ, ngồi dựa lưng vào giường với tờ Metcalf Star và bữa sáng được đặt lên một chiếc bàn ăn đã lung chân.
Sau đó, anh tắm táp và ăn vận như thể có việc cần làm vào ngày hôm đó, nhưng thực ra là chẳng có gì để làm. Hôm qua, anh đã tới thăm nhà Cartwrights. Anh có thể đi gặp Peter Wnggs, người bạn thuở nhỏ, nhưng bây giờ Peter làm việc ở New Orleans. Anh tự hỏi Miriam đang làm gì. Có lẽ là làm móng ở hiên sau, hoặc chơi cờ đam với một cô bé hàng xóm thần tượng và muốn trở thành người giống hệt như cô ta. Miriam không phải là kiểu người hay lo nghĩ khi bị chệch kế hoạch. Guy châm một điếu thuốc lá.
Những tiếng loảng xoảng nhẹ và ngắt quãng vang lên từ dưới gác, nơi mẹ anh hoặc bà đầu bếp Ursline đang lau rửa đồ bạc và chất từng chiếc từng chiếc một đến khi thành một đống.
Vì sao hôm nay anh chưa bay tới Mexico? 24 tiếng nhàn rỗi sắp tới sẽ thật thống khổ, anh biết. Tối nay, chú anh và có thể là cả vài người bạn của mẹ anh, sẽ lại ghé qua. Tất cả đều muốn gặp anh. Kể từ chuyến thăm cuối cùng của anh, tờ Metcalf Star đã in cả một cột báo về anh và các thiết kế của anh, nhắc tới cả các suất học bổng của anh, học bổng Prix de Rome mà anh chưa được nhận vì chiến tranh, cửa hàng mà anh thiết kế ở Pisburgh và một bệnh xá nho nhỏ của bệnh viện ở Chicago. Nó vang lên thật ấn tượng trên tờ báo. Nó gần như đã khiến anh cảm thấy mình quan trọng. Anh nhớ lại cái ngày cô độc ở New York khi đoạn báo được gửi đến trong thư của mẹ anh.
Ý muốn bốc đồng muốn viết thư cho Bruno ập đến khiến anh ngồi xuống bàn làm việc, nhưng với bút trong tay, anh nhận ra mình chẳng có gì để nói. Anh có thể mường tượng ra Bruno trong bộ cánh màu đồng rỉ, túi đựng máy ảnh khoác trên vai, lê bước lên một con đồi cằn cỗi ở Santa Fe, toét miệng cười về một thứ gì đó, khoe hàm răng xấu xí, run rẩy nhấc máy ảnh lên và bấm. Bruno với 1.000 đô la luôn có sẵn trong túi, ngồi ở quầy rượu, chờ mẹ đến. Anh có gì để nói với Bruno chứ? Anh đóng nắp bút mực lại và quẳng nó lên bàn.
“Mẹ ơi?” anh gọi. Anh chạy xuống cầu thang. “Chiều nay đi xem phim nhé?”
Mẹ anh bảo tuần này bà đã đi xem phim 2 lần rồi. “Con biết là con không thích xem phim mà!” bà quở trách anh.
“Mẹ, con thật sự rất muốn xem phim!” anh mỉm cười khăng khăng đòi đi.
CHƯƠNG 8
T
ối hôm đó, điện thoại vang lên lúc tầm 11 giờ. Mẹ anh đã nghe điện rồi vào gọi anh, lúc đó đang ngồi ở phòng khách với cô, chú và 2 người em họ, Ritchie và Ty.
“Đường dài,” mẹ anh nói.
Guy gật đầu. Tất nhiên, nhất định là Brillhart đòi anh giải thích thêm. Hôm đó, anh đã trả lời thư của ông ta. “Chào, Guy,” giọng nói vang lên. “Charley đây.”
“Charley nào thế?
“Charley Bruno.”
“Ồ!... Cậu thế nào? Cảm ơn vì cuốn sách.”
“Tôi chưa gửi nó đâu nhưng sẽ gửi,” Bruno nói với vẻ hân hoan ngà ngà say mà Guy vẫn còn nhớ hôm ở tàu. “Sẽ tới Santa Fe chứ?” “Tôi e là mình không thể.”
“Thế còn bãi biển Palm thì sao? Tôi có thể tới thăm anh ở đó trong vài tuần nữa chứ? Tôi muốn xem công trình của anh trông ra sao.” “Xin lỗi, chuyện đó ngừng hẳn rồi.”
“Ngừng à? Vì sao?”
“Phức tạp lắm. Tôi đã đổi ý.”
“Vì vợ anh à?”
“Kh-không.” Guy cảm thấy hơi bực bội.
“Cô ta muốn anh ở cùng à?”
“Phải. Gần như thế.”
“Miriam muốn tới bãi biển Palm á?”
Guy ngạc nhiên vì Bruno vẫn còn nhớ tên cô ta.
“Anh chưa ly dị được đúng không?”
“Sắp,” Guy nói cộc lốc.
“Phải, tôi sẽ trả tiền cho cuộc gọi này!” Bruno hét lên với ai đó. “Trời ạ!” giọng nói mang đầy vẻ chê bai. “Nghe này, Guy, anh quyết định từ bỏ công việc đó vì cô ta ư?”
“Không hẳn. Nó không quan trọng đâu. Tất cả đã chấm dứt rồi.” “Anh phải đợi tới lúc đứa trẻ chào đời mới ly dị được à?” Guy không nói gì.
“Gã kia sẽ không cưới cô ta chứ gì?”
“Ồ, có, anh ta...”
“Sao?” Bruno ngắt lời một cách mỉa mai.
“Tôi không nói chuyện thêm được nữa. Tối nay, chúng tôi có khách đến chơi. Chúc cậu có một chuyến đi thoải mái, Charley.” “Khi nào thì chúng ta có thể nói chuyện? Ngày mai nhé?” “Ngày mai tôi sẽ không ở đây nữa.”
“Ồ.” Bây giờ, giọng Bruno nghe có vẻ lạc lõng và Guy hy vọng là cậu ta sẽ như thế. Rồi giọng nói đó lại vang lên với vẻ thân mật ảm đạm, “Nghe này, Guy, nếu anh muốn giải quyết bất kỳ chuyện gì, anh biết đấy, tất cả những gì anh phải làm là ra dấu hiệu.”
Guy cau mày. Một câu hỏi đang hình thành trong đầu anh và ngay lập tức anh đã biết được câu trả lời. Anh vẫn nhớ ý tưởng giết người của Bruno.
“Anh muốn gì, Guy?”
“Không gì cả. Tôi đang hết sức mãn nguyện. Hiểu không?” Bruno chỉ đang tỏ ra liều lĩnh do uống rượu mà thôi, anh nghĩ thầm. Vì sao anh lại phản ứng nghiêm trọng như thế chứ?
“Guy, tôi nghiêm túc đấy,” giọng nói nhè nhè, say xỉn hơn cả lúc trước.
“Tạm biệt, Charley,” Guy nói. Nhưng anh muốn đợi Bruno gác máy.
“Không có vẻ như mọi chuyện đều ổn đâu,” Bruno thách thức. “Tôi không thấy nó liên quan gì tới cậu.”
“Guy!” giọng nói than thở rền rĩ.
Guy định nói gì đó, nhưng đường dây kêu tách và tịt ngóm. Anh đã có ý định bốc đồng là muốn báo tổng đài để lần lại cuộc gọi. Nhưng rồi anh nghĩ, chỉ là do say xỉn thôi mà. Và cả buồn chán nữa. Anh cáu vì Bruno có địa chỉ của mình. Guy cào tay trên tóc và quay lại phòng khách.
CHƯƠNG 9
T
ất cả những gì anh vừa kể cho cô nghe về Miriam, Guy nghĩ thầm, đều không quan trọng bằng sự thật là anh và Anne đang đi cùng nhau trên con đường trải sỏi này. Anh nắm lấy tay cô khi họ tản bộ. Hai người nhìn ngắm quang cảnh xung quanh, nơi mà mọi thứ đều lạ lẫm - một đại lộ rộng lớn được trồng 2 hàng cây khổng lồ hệt như Champs-Elysees*, các bức tượng quân lính trên bệ và xa xa là các tòa nhà mà anh không biết tên. Paseo de la Reforma*. Anne bước đi bên cạnh anh, đầu vẫn cúi gằm xuống, gần như cùng tốc độ với bước chân chậm rãi của anh. Vai họ chạm vào nhau. Anh liếc nhìn để xem cô có định nói gì không, nói anh đã quyết định đúng, nhưng môi cô vẫn có vẻ tư lự. Mái tóc vàng nhạt được buộc gọn gàng bằng một chiếc dây bạc đằng sau gáy, đung đưa lười biếng theo từng cơn gió.
* Một đại lộ lớn và nổi tiếng của thành phố Paris,một trong những địa điểm thu hút du khách nhất của thành phố này với nhiều cửa hàng, quán cà phê, rạp chiếu phim...
* Một đại lộ rộng lớn bắt chéo qua trung tâm của thành phố Mexico. Đây là mùa hè thứ hai mà anh gặp cô, khi mặt trời mới chỉ bắt đầu làm cô cháy nắng, khiến làn da cô bị nhuộm thành màu giống như màu tóc. Không lâu nữa gương mặt cô sẽ tối màu cả hơn màu tóc, nhưng Guy thích nhất cô như bây giờ, như một thứ gì đó được làm từ bạch kim.
Cô quay lại nhìn anh với nụ cười ngượng ngập yếu ớt trên môi vì anh cứ nhìn cô chằm chằm. “Anh không thể chịu đựng được điều đó
sao, Guy?”
“Không. Đừng hỏi anh lý do. Anh không thể.” Anh nhìn thấy nụ cười của cô vẫn ở đó, pha chút bối rối, có lẽ là cả bực bội nữa. “Đó là một thứ quá lớn để từ bỏ.”
Giờ thì anh bực mình rồi. Anh cảm thấy chịu hết nổi. “Chỉ là anh căm ghét cô ta,” anh nói nhẹ nhàng.
“Nhưng anh không nên căm ghét một điều gì trên đời hết.” Anh hành động một cách bồn chồn. “Anh còn căm ghét cô ta hơn vì phải kể cho em những chuyện này trong khi chúng ta đang dạo chơi ở đây!”
“Guy, thật đấy à!”
“Cô ta là tất cả những gì nên bị căm ghét,” anh tiếp tục, nhìn chằm chằm phía trước mặt. “Thỉnh thoảng, anh cảm thấy căm ghét tất cả mọi thứ trên thế giới này. Không lễ nghi, không lương tâm. Cô ta đúng như những gì người ta muốn nói khi bảo nước Mỹ chẳng bao giờ phát triển, nước Mỹ chỉ thưởng cho những kẻ thối nát. Cô ta là loại người trong những bộ phim dở tệ, đóng một vai trong đó, đọc những tạp chí tình yêu, sống trong nhà gỗ, quất roi bắt chồng mình kiếm thêm tiền trong năm nay để năm sau họ bắt đầu kế hoạch trả góp mua nhà, phá hỏng cuộc hôn nhân của hàng xóm...”
“Dừng lại đi, Guy! Anh nói chuyện như trẻ con vậy!” Cô tránh xa anh.
“Và thực tế là anh đã từng yêu cô ta,” Guy nói thêm, “yêu tất cả những tính cách ấy. Điều đó khiến anh buồn nôn.”
Họ dừng lại, nhìn nhau. Anh phải nói ra tất cả, ngay tại đây, ngay lúc này, mọi điều xấu xí nhất mà anh có thể nói. Anh muốn chịu sự chê trách của Anne, có lẽ là muốn thấy cô quay người đi và bỏ mặc anh một mình đi nốt quãng đường còn lại. Cô đã từng bỏ anh lại một, hai lẩn như thế, khi anh tỏ ra vô lý.
Anne nói, bằng giọng vô cảm, xa lạ khiến anh hãi hùng, bởi vì anh
cảm thấy cô có thể bỏ mặc anh và chẳng bao giờ trở lại, “Thỉnh thoảng, em nghĩ rằng anh vẫn còn yêu cô ta.”
Anh mỉm cười và cô dịu xuống. “Anh xin lỗi,” anh nói. “Ôi, Guy!” Cô lại chìa tay ra, như một động tác cầu khẩn và anh đón lấy nó. “Giá mà anh chịu trưởng thành!”
“Anh có đọc được ở đâu đó rằng con người không bao giờ trưởng thành về mặt cảm xúc.”
“Em không quan tâm xem anh đọc cái gì. Những người khác vẫn trưởng thành bình thường mà. Em sẽ chứng minh điều đó cho anh nếu đó là việc cuối cùng em phải làm đi nữa.”
Đột nhiên, anh cảm thấy thật an tâm. “Bây giờ, anh còn có thể nghĩ về cái gì nữa chứ?” anh hạ giọng xuống hỏi một cách ngang bướng.
“Việc anh sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi tay cô ta, Guy. Anh nghĩ mình nên suy nghĩ về cái gì chứ?”
Anh ngẩng đầu cao hơn. Có một bảng hiệu lớn màu hồng trên nóc một tòa nhà: TOME xx, ngay lập tức anh hiếu kỳ về ý nghĩa của nó và muốn hỏi Anne. Anh muốn hỏi cô vì sao mọi thứ đều dễ dàng và đơn giản hơn nhiều khi anh ở bên cô, nhưng sự kiêu hãnh ngăn anh không hỏi ngay. Mà thực ra thì câu hỏi đó sẽ chỉ trở nên sáo rỗng, vì Anne không thể giải đáp, vì câu trả lời đơn giản chính là Anne. Anh đã cảm thấy như thế ngay từ lần đầu gặp cô, trong căn hầm xám xịt của Viện Nghệ Thuật ở New York. Một ngày mưa tầm tã mà anh lê bước vào trong căn hầm ấy và đặt câu hỏi với sinh vật sống duy nhất mà anh nhìn thấy, một cô gái mặc áo mưa màu đỏ với mũ kiểu Trung Hoa. Áo mưa đỏ có mũ quay lại và nói: “Anh đến chỗ 9A tính từ tầng 1. Anh không cần phải đi xuống tận đây đâu.” Và rồi nụ cười hào hứng của cô xua tan cơn giận dữ của anh ngay lập tức, một cách thần bí. Anh đã học được cách mỉm cười nhẹ nhàng, sợ cô, hơi khinh thị con xe mui trần màu xanh lá sậm mới
mua của cô. “Một cái xe rất hợp lý,” Anne nói, “khi anh sống ở Long Island.” Trong những ngày anh khinh bỉ tất cả mọi thứ, khi mà anh tới chỗ này chỗ kia ngồi học chỉ để kiểm tra và bảo đảm mình đã biết tất cả những gì giảng viên có thể dạy, hoặc xem xem anh có thể học nó nhanh đến mức nào và ra về. “Thế anh nghĩ làm sao mọi người vào được nếu không nhờ quan hệ? Họ vẫn có thể tống anh ra nếu không thích anh.” Cuối cùng, anh cũng nhìn cuộc sống theo cách của cô, một cách đúng đắn, sau đó chịu vào Học Viện Kiến Trúc Deems ở Brooklyn trong 1 năm, nhờ cha cô quen biết một người trong Ban giám đốc.
“Em biết anh có khả năng, Guy,” Anne đột ngột nói sau một thời gian im lặng, “khả năng để được hạnh phúc.”
Guy nhanh chóng gật đầu, dù Anne không nhìn anh. Anh cảm thấy có phần xấu hổ. Anne có khả năng hạnh phúc. Giờ cô cũng đang hạnh phúc, đã hạnh phúc từ trước khi gặp anh. Và anh cùng các vấn đề của anh dường như chỉ làm mờ đi hạnh phúc của cô trong khoảnh khắc. Anh cũng sẽ hạnh phúc khi sống với Anne. Anh đã bảo cô như vậy, nhưng giờ anh không tài nào chịu nổi việc nói với cô điều đó một lần nữa.
“Cái gì kia?” anh hỏi.
Dưới các tán cây của công viên Chapultpec, một ngôi nhà tròn bằng kính khổng lồ hiện ra trước tầm mắt.
“Vườn bách thảo,” Anne nói.
Không có ai ở bên trong, kể cả người chăm vườn. Không khí thơm mùi đất ấm áp và nồng nàn. Họ đi dạo xung quanh, đọc những cái tên không thể đánh vần nổi của các loại cây dường như đến từ một hành tinh khác. Anne có một cái cây yêu quý. Cô nói mình đã quan sát cái cây đó lớn lên trong 3 năm và liên tục đến thăm nó suốt các mùa hè cùng cha mình.
“Chỉ là em không bao giờ có thể nhớ nổi mấy cái tên này,” cô nói.
“Vì sao em phải nhớ?”
Họ đã ăn trưa ở quán Sanbom cùng bà Faulkner - mẹ của Anne - rồi đi dạo quanh cửa hàng cho tới khi đến giờ ngủ chiều của bà. Bà Faulkner là một người phụ nữ gầy gò, tràn đầy năng lượng, cũng cao như Anne, và vẫn được coi là hấp dẫn ở độ tuổi của bà. Guy đối xử rất tốt với bà, vì bà đối xử rất tốt với anh. Mới đầu, trong lòng anh đã nghĩ chướng ngại lớn nhất của mình sẽ đến từ 2 vị phụ huynh giàu có của Anne, nhưng hóa ra lại không phải, rồi sau này anh đã dần dần từ bỏ suy nghĩ ấy. Buổi tối hôm đó, 4 người họ tới dự một buổi hòa nhạc ở Bellas Artes, rồi ăn tối muộn ở nhà hàng Lady Baltimore đối diện Ri.
Cả hai ông bà Faulkner đều thấy tiếc vì anh không thể trải qua mùa hè cùng họ ở Acapulco. Cha của Anne, một nhà nhập khẩu, định xây một kho hàng trên bến cảng ở đó.
“Chúng ta không thể hy vọng làm cậu ta có hứng thú với một cái nhà kho nếu cậu ta đang xây dựng cả một câu lạc bộ đồng quê,” ông Faulkner nói.
Guy im lặng. Anh không thể nhìn Anne. Anh đã bảo cô đừng kể cho cha mẹ cô nghe về chuyện ở bãi biển Palm cho tới sau khi anh đi. Tuần tới anh sẽ đi đâu đây? Anh có thể tới Chicago và học thêm vài tháng nữa. Anh đã đóng gói đồ đạc của mình ở New York, và bà chủ nhà của anh đang đợi tin để xem có cần cho thuê căn hộ của anh hay không. Nếu tới Chicago thì anh có thể gặp Saarinet vĩ đại ở Evanston và Tim O’Flaherty, một kiến trúc sư trẻ vẫn chưa có tiếng tăm gì, nhưng Guy rất kỳ vọng ở anh ta. Anh có thể tìm được một vài cơ hội việc làm ở Chicago. Nhưng New York trở thành một viễn cảnh quá ảm đạm khi thiếu Anne.
Bà Faulkner đặt tay lên bắp tay anh và cười nói. “Cậu ta sẽ không cười cho dù có được xây lại cả New York đi nữa, đúng không, Guy?” Anh không để tâm. Anh muốn Anne đi dạo cùng mình, nhưng cô
khăng khăng đòi anh lên căn hộ của gia đình cô ở Ri để xem bộ váy lụa mà cô đã mua cho em họ Teddy trước khi gửi đi. Và tất nhiên rồi, bây giờ đã là quá muộn để tản bộ.
Anh đang ở khách sạn Montecarlo, cách khách sạn Ri khoảng 10 dãy nhà, một tòa nhà tồi tàn giống như từng là nơi cư ngụ của một đại tướng quân đội. Người ta đi vào qua một đường lái xe rộng, lát gạch đen trắng như sàn nhà tắm. Nó dẫn vào một đại sảnh lớn tối om, cũng được lát gạch. Có một quán rượu như cái hang và một nhà hàng lúc nào cũng vắng khách. Các bậc thang bằng đá cẩm thạch ố vàng uốn quanh hiên trước. Khi đi lên cầu thang phía sau lưng người trực tầng ngày hôm qua, Guy đã nhìn thấy, qua các ô cửa để ngỏ, một cặp đôi người Nhật đang chơi bài, một người phụ nữ đang quỳ xuống cầu nguyện, những người khác đang ngồi viết thư ở bàn hoặc chỉ đứng đờ ra đó trong không gian kỳ quái như thể bị giam cầm. Vì bầu không khí u ám và cảm giác có một thế lực siêu nhiên vô hình nào đó đang đè nặng lên toàn bộ nơi này, nên Guy đã thích nó ngay lập tức, dù nhà Faulkners, bao gồm cả Anne, đã giễu cợt lựa chọn của anh.
Căn phòng nhỏ rẻ tiền của anh ở cuối hành lang chất đầy những đồ đạc sơn màu nâu và hồng, có một chiếc giường bị lún ở giữa* và một phòng tắm ở cuối hành lang. Đâu đó dưới mái hiên, nước rỉ xuống không ngừng nghỉ, tiếng dội toilet ngắt quãng xối xả như nước lũ.
Khi quay lại từ Ri, Guy đặt đồng hồ đeo tay, một món quà của Anne, lên chiếc bàn đầu giường màu hồng, sau đó bỏ ví tiền và chìa khóa lên chiếc bàn nâu xước xát, hệt những việc anh sẽ làm ở nhà. Anh cảm thấy hết sức mãn nguyện khi nằm trên giường với tờ báo Mexico và một quyển sách về kiến trúc Anh mà anh tìm thấy ở hiệu sách Alameda chiều hôm đó. Sau lần thứ hai thử đọc tiếng Tây Ban Nha, anh tựa đầu vào gối và nhìn căn phòng tồi tàn, nghe âm thanh
đến từ các hoạt động của loài người như tiếng chuột chít vang vọng khắp tòa nhà. Anh tự hỏi mình thích gì. Ngâm mình trong hoàn cảnh sống xấu xí, khó chịu, nghèo nàn, để cảm nhận được nguồn sức mạnh mới nhằm chống lại nó trong các thiết kế của mình sao? Hay là cảm giác trốn tránh được Miriam? Tìm anh ở đây sẽ khó hơn ở Ri
* Nguyên văn: a fallen cake: loại bánh ngọt sau khi nướng xong bị xẹp xuống ở giữa. Ý ở đây muốn nói chiếc giường bị lún giống hình dạng loại bánh này.
Sáng hôm sau, Anne gọi điện để báo có một bức điện tín gửi cho anh. “Em tình cờ nghe thấy họ đang nhắn tin cho anh,” cô nói. “Họ đã gần như bỏ cuộc.”
“Em đọc nó cho anh nghe được không, Anne?”
Anne đọc: “‘Ngày hôm qua, Miriam đã bị sảy thai. Buồn bực và đòi gặp con. Con có thể về nhà không? Mẹ.’... Ôi, Guy!” Anh cảm thấy buồn nôn vì nó, vì tất cả. “Cô ta đã tự gây ra,” anh lầm bầm.
“Anh chưa biết mà, Guy.”
“Anh biết.”
“Anh không nghĩ là mình nên đi gặp cô ta sao?”
Các ngón tay của anh siết chặt điện thoại. “Đằng nào anh cũng sẽ nhận lại công việc Palmyra,” anh nói. “Bức điện tín được gửi hôm nào?”
“Mùng 9. Thứ Ba, lúc 4 giờ chiều.”
Anh gửi một bức điện tín cho ông Brillhart, hỏi xem liệu anh có thế được cân nhắc lại công việc này không. Tất nhiên là được rồi, anh nghĩ thầm, nhưng nó khiến anh mới ngu xuẩn làm sao. Chỉ vì Miriam. Anh viết cho Miriam:
Điều này thay đổi kế hoạch của cả hai ta, tất nhiên. Bất kể kế hoạch của cô ra sao, tôi có ý định tiến hành ly dị ngay lập tức. Tôi sẽ
về Texas trong vài ngày nữa. Tôi hy vọng lúc đó cô đã khỏe, nhưng nếu không, tôi có thể tự mình xoay xở làm mọi việc cần thiết. Một lần nữa chúc cô sớm hồi phục.
Guy.
Sẽ ở địa chỉ này cho tới Chủ nhật.
Anh gửi thư đi bằng dịch vụ chuyển phát máy bay đặc biệt. Rồi anh gọi Anne. Tối nay, anh muốn đưa cô tới nhà hàng tuyệt vời nhất trong thành phố. Anh muốn bắt đầu với những ly cocktail mới lạ nhất ở quán bar Ri, toàn bộ.
“Anh thật sự thấy vui vẻ à?” Anne hỏi, bật cười, như thể không tài nào tin nổi.
“Vui vẻ và... kỳ lạ. Muy extranjero*!”
“Tại sao?”
“Vì anh đã không nghĩ nó là số mệnh. Anh đã không nghĩ nó là một phần mà định mệnh dành cho anh. Ý anh là dự án Palmyra ấy.” “Em thì có.”
“Ồ, em nghĩ vậy sao!”
“Chứ anh nghĩ vì sao hôm qua em lại điên lên với anh như thế?” * Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là: Rất ngoại quốc!
Anh đã không mong nhận được hồi âm từ Miriam, nhưng sáng thứ Sáu khi anh và Anne ở Xochimilco, anh thấy thôi thúc phải gọi về khách sạn để xem có thư tới không. Có một bức điện tín đang chờ. Và sau khi nói rằng mình sẽ đến lấy bức điện sau vài phút nữa, anh gần như ở trạng thái không thể đợi thêm. Khi đã quay lại thành phố Mexico, anh gọi ngay cho khách sạn từ một tiệm thuốc ở Socalo. Nhân viên ở Montecarlo đọc thư cho anh: “Phải nói chuyện với anh trước. Xin hãy đến sớm. Yêu anh, Miriam.”
“Cô ta sẽ làm ầm lên,” Guy nói sau khi kể lại cho Anne. “Anh chắc chắn rằng người đàn ông kia không muốn cưới cô ta. Giờ anh ta đang có vợ.”
“Ồ.”
Anh liếc nhìn cô khi họ tản bộ, muốn nói gì đó với cô về sự kiên nhẫn mà cô dành cho anh, cho Miriam, cho toàn bộ chuyện này. “Quên nó đi,” anh mỉm cười và bắt đầu rảo bước nhanh hơn. “Anh có muốn quay lại ngay không?”
“Chắc chắn là không! Để đến thứ Hai hoặc thứ Ba đi. Anh muốn ở với em thêm mấy ngày. Còn 1 tuần nữa anh mới phải về Florida. Đó là nếu họ giữ nguyên lịch trình ban đầu.”
“Miriam sẽ không đi theo anh chứ?”
“Giờ này tuần sau,” Guy nói, “cô ta sẽ không có quyền gì đối với anh nữa.”
CHƯƠNG 10
N
gồi ở bàn trang điểm trong khách sạn La Fonda, Santa Fe, bà Elsie Bruno lau kem dưỡng da khô ban đêm khỏi mặt bằng giấy tẩy trang. Thi thoảng, với đôi mắt to màu xanh, mang nét mơ màng, bà cúi sát gần gương hơn để kiểm tra mạng nếp nhăn nhỏ dưới mi mắt và các nếp nhăn do cười hình thành từ cuối cánh mũi. Dù cằm hơi lùi vào, phần mặt dưới của bà lại nhô ra, đẩy đôi môi đầy đặn về phía trước với góc cạnh tương đối khác với mặt của Bruno. Santa Fe là nơi duy nhất mà bà có thế nhìn thấy các nếp nhăn nơi khóe miệng trong gương, bà nghĩ thầm khi ngồi lùi hẳn lại trước gương trang điểm.
“Ánh sáng ở quanh đây như tia X vậy,” bà nhận xét với con trai. Bruno, ngồi sụp xuống chiếc ghế da trong bộ đồ ngủ, liếc một con mắt sưng húp ra ngoài cửa sổ. Hắn quá mệt mỏi để ra kéo rèm xuống. “Trông mẹ tuyệt vời lắm,” hắn khàn giọng nói. Hắn hạ đôi môi trề xuống cốc nước đang đặt trên lồng ngực nhẵn thín, rồi cau mày trầm ngâm.
Như một quả óc chó trong bàn tay yếu ớt và run rẩy của một con sóc, ý tưởng bạo gan và thực tế hơn bất kỳ ý tưởng nào khác mà hắn từng biết đang xoáy vào tâm trí hắn trong suốt vài ngày nay. Khi mẹ hắn rời thị trấn, hắn dự tính sẽ khai phá ý tưởng ấy và bắt đầu ngẫm nghĩ kỹ càng. Ý tưởng của hắn là đi bắt Miriam. Thời cơ đã chín muồi, chính là lúc này đây. Guy cần nó ngay lập tức. Trong vài tuần nữa, thậm chí chỉ 1 tuần nữa thôi, mọi chuyện có thể quá muộn đối với vụ ở biển Palm và hắn sẽ không thể để chuyện đó xảy ra.
Mặt bà đã béo ra trong mấy ngày ở Santa Fe, bà Elsie nghĩ thầm. Bà có thể nhận ra nhờ 2 cái má đang phình ra so với cái mũi hình tam giác nhỏ nhắn. Bà giấu nếp nhăn nơi khóe miệng bằng cách cười với mình trong gương, nghiêng mái tóc xoăn vàng và chớp mắt.
“Charley, mẹ có nên lấy chiếc thắt lưng bạc sáng nay không?” bà hỏi một cách thoải mái như đang tự nhủ. Chiếc thắt lưng có giá tầm 250 đô, nhưng ông Sam sẽ chuyển 1.000 nữa tới California. Chiếc thắt lưng đó thật đẹp, chưa hề thấy thứ gì như thế xuất hiện ở New York. Santa Fe còn gì tuyệt hơn đồ bạc nữa chứ?
“Ông ta còn có cái gì tuyệt hơn nữa chứ?” Bruno lầm bầm. Bà Elsie với tay lấy chiếc mũ tắm rồi quay sang con trai mỉm cười rạng rỡ: “Con yêu”, bà gọi đầy ngọt ngào.
“Ummm?”
“Con sẽ không làm gì không phải khi ta rời khỏi đây, đúng không?”
“Không đâu mẹ.”
Bà Elsie để cái mũ trùm hờ hững trên đầu, nhìn vào bộ móng tay dài màu đỏ của mình, rồi cầm lấy que dũa móng. Tất nhiên, Fred Wiley sẽ quá đỗi vui mừng nếu được mua chiếc thắt lưng bạc ấy cho bà - có lẽ ông ta còn đến ga với một thứ ghê tởm và đắt đỏ gấp đôi - nhưng bà không muốn bị Fred dính lấy ở California này. Chẳng cần khuyến khích nhiều, ông sẽ đến California với bà. Tốt nhất là ông ta chỉ nên thút thít thề thốt tình yêu vĩnh cửu ở ga tàu, sau đó đi thẳng về nhà với vợ mình.
“Mẹ phải nói là tối qua cũng hài đấy,” bà Elsie tiếp tục. “Fred đã thấy nó đầu tiên.” Bà bật cười, que dũa móng di chuyển nhanh thành một vệt mờ. Bruno lạnh lùng nói, “Con chẳng liên quan gì tới chuyện đó hết.”
“Được rồi, con yêu, con chẳng liên quan gì tới chuyện đó hết!” Miệng Bruno xoắn lại. Mẹ đã gọi hắn dậy lúc 4 giờ sáng, kích động
nói với hắn rằng có một con bò chết ở Plaza. Một con bò ngồi trên ghế băng, mặc áo đội mũ, đang đọc báo. Một trò chơi khăm điển hình của Wilson từ thời còn học đại học. Thể nào hôm nay Wilson cũng sẽ kể lể mãi về chuyện đó, Bruno hiểu rõ, ba hoa cho tới khi nghĩ ra chuyện gì khác ngớ ngẩn hơn để làm. Tối qua ở La Placita, quán rượu của khách sạn, trong khi hắn đang lên kế hoạch giết người... thì Wilson mặc đồ cho một con bò chết. kể cả trong những câu chuyện khoác lác về việc đi lính của Wilson, anh ta cũng chưa bao giờ nhận đã giết người, Kể cả một người Nhật. Bruno nhắm mắt lại, mãn nguyện nghĩ về chuyện tối qua. Tầm 10 giờ, Fred Wiley và rất nhiều gã hói đầu khác đã ngà ngà say kéo đàn kéo lũ vào La Placita, như một dàn nghệ sĩ hài, đưa mẹ hắn đi dự tiệc. Hắn cũng được mời, nhưng hắn đã bảo mẹ là hắn có hẹn với Wilson, vì hắn cần thời gian suy nghĩ. Và tối qua hắn đã quyết định tiến hành. Hắn đã nghiêm túc suy nghĩ từ hôm thứ Bảy khi nói chuyện với Guy, và hôm nay lại là thứ Bảy, hoặc ngày mai hoặc không bao giờ, khi mẹ hắn đi California. Hắn phát ngấy câu hỏi liệu hắn có thể làm được không rồi. Câu hỏi đó đã đi theo hắn bao lâu nhì? Lâu hơn hắn có thể nhớ. Hắn cảm thấy mình có thể làm được. Có điều gì đó liên tục bảo hắn rằng thời gian, hoàn cảnh, lý do sẽ chẳng bao giờ phù hợp hơn được nữa. Một vụ giết người thuần túy, không hề có động cơ cá nhân! Hắn không tính đến khả năng coi việc Guy giết cha hắn là động cơ, vì hắn không dám chắc. Guy có thể bị thuyết phục, hoặc không, vấn đề là, lúc này chính là thời điểm để hành động, vì bối cảnh quá hoàn hảo. Tối qua, hắn đã gọi lại tới nhà Guy để bảo đảm rằng anh ta chưa từ Mexico về. Guy đã đến Mexico từ Chủ nhật, mẹ anh ta bảo vậy.
Cảm giác như đang có ngón tay cái ấn vào cổ họng làm hắn giật cổ áo ra, nhưng áo ngủ của hắn đã mở toang trước ngực, Bruno bắt đầu cài nút lại một cách mơ màng.
“Con sẽ không đổi ý và đi cùng mẹ à?” Mẹ hắn hỏi, đứng dậy. “Nếu con đi thì mẹ sẽ tới chỗ Reno. Helen đang ở đấy và cả George Kennedy nữa.”
“Chỉ có 1 lý do để con muốn gặp mẹ ở Reno, mẹ à.”
“Charley…” Bà nghiêng đầu sang một bên rồi lại thẳng cổ lại. “Kiên nhẫn đi chứ? Nếu không phải vì Sam thì chúng ta đã chẳng đến đây, không phải sao?”
“Chắc chắn là chúng ta vẫn đến đây chứ.”
Bà thở dài. “Con sẽ không đổi ý sao?”
“Ở đây con đang chơi vui mà,” hắn rên rỉ nói.
Bà lại nhìn bộ móng tay của mình. “Tất cả những gì mẹ nghe được chỉ là việc con đang buồn chán đến mức nào.”
“Đó là khi con ở cạnh Wilson. Con sẽ không gặp lại anh ta đâu.” “Con sẽ không chạy về New York đấy chứ?”
“Con sẽ làm gì ở New York đây?”
“Bà ngoại sẽ thất vọng lắm nếu năm nay con lại thất bại.” “Con đã bao giờ thất bại đâu?” Bruno chế nhạo một cách yếu ớt, rồi đột nhiên cảm thấy khó chịu đến mức muốn chết, đến mức buồn nôn. Hắn biết cảm giác này, nó chỉ kéo dài 1 phút, nhưng Chúa ơi, hắn nghĩ thầm, mong là sẽ không có thời gian ăn sáng trước khi tàu chạy, đừng để mẹ hắn bật ra từ chỗ ăn sáng. Hắn cứng người lại, không nhúc nhích một múi cơ nào, hầu như không thở giữa đôi môi hé ra. Một mắt nhắm lại, hắn quan sát mẹ di chuyển về phía hắn trong cái khăn choàng bằng lụa màu xanh da trời nhạt, một tay chống lên hông, cố làm ra vẻ giảo hoạt nhưng không thể, vì mắt bà quá tròn. Bên cạnh đó bà còn đang mỉm cười.
“Con và Wilson đang âm mưu làm gì thế?”
“Gã khốn đó à?”
Bà ngồi xuống tay vịn ghế của hắn. “Chỉ vì cậu ta cướp mất ánh hào quang của con,” bà nói, khẽ lắc nhẹ vai hắn. “Đừng làm việc gì
quá khủng khiếp nhé con yêu, vì bây giờ mẹ không có tiền vung vãi để dọn dẹp hậu quả cho con đâu.”
“Nhõng nhẽo đòi thêm ông ta đi. Lấy cho con 1.000 nữa.” “Con yêu.” Bà đặt mu bàn tay mát lạnh lên trán hắn. “Mẹ sẽ nhớ con lắm.”
“Có lẽ ngày kia con sẽ đến đó.”
“Cùng vui chơi ở California đi.”
“Chắc chắn rồi.”
“Sao mà sáng nay con nghiêm túc thế!”
“Không hề, thưa mẹ.”
Bà xoắn sợi tóc mỏng lủng lẳng trên trán hắn, rồi đi vào phòng tắm.
Bruno nhảy dựng và hét ầm lên dưới tiếng nước chảy ào ào, “Mẹ, con có tiền để trả hóa đơn của con ở đây rồi!”
“Sao cơ, thiên thần?”
Hắn tiến lại gần và nhắc lại, rồi ngồi phịch xuống ghế, mệt mỏi với nỗ lực đó. Hắn không muốn mẹ hắn biết về những cuộc gọi đường dài tới Metcalf. Thế thì mọi chuyện mới diễn ra ổn thỏa được. Mẹ hắn không mấy để tâm đến việc hắn ở lại đây, không để tâm lắm. Bà sẽ gặp lão Fred khốn nạn trên tàu sao? Bruno lê người, dần dần cảm thấy sự thù địch dâng lên dành cho Fred Wiley. Hắn muốn kể cho mẹ biết hắn sẽ ở lại Santa Fe vì một trải nghiệm lớn lao nhất trong đời hắn. Rồi bà sẽ không còn xả nước trong kia và chẳng để tâm đến hắn như bây giờ, nếu bà hiểu một phần nghìn ý nghĩa của nó. Hắn muốn nói, mẹ à, sớm thôi, cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn cho cả đôi ta, vì đây là khởi đầu của việc thoát khỏi Thuyền trưởng. Dù Guy có thực hiện thỏa thuận phần anh ta hay không, thì nếu hắn thành công với Miriam thì hắn cũng đã chứng minh được 1 điểm. Một vụ giết người hoàn hảo. Một ngày nào đó, một người nào đó mà hắn chưa quen biết sẽ lại xuất hiện và lập thỏa thuận với hắn. Bruno
thu cằm vào ngực, chợt thấy khổ sở. Làm sao hắn có thể kể cho mẹ hắn đây? Giết người, nhưng hai mẹ con hắn không thể song hành cùng nhau. “Thật ghê tởm!” bà sẽ nói vậy. Hắn nhìn cửa phòng tắm với biểu cảm đau đớn, xa xăm. Hắn chợt nhận ra rằng mình không thể kể cho bất kỳ ai. Trừ Guy. Hắn lại ngồi xuống.
“Nhóc mơ màng!”
Hắn chớp mắt khi bà vỗ tay. Rồi hắn mỉm cười. Đờ đẫn, trầm ngâm nhận ra rằng những chuyện đó đều sẽ xảy ra trước khi hắn gặp lại bà, hắn nhìn chân bà duỗi ra khi bà buộc chặt tất lại. Đường cong ở đôi chân mảnh khảnh của bà luôn khiến hắn vui sướng và tự hào. Mẹ hắn có đôi chân đẹp nhất mà hắn từng thấy ở bất kỳ ai, bất kỳ độ tuổi nào. Ziegfeld đã chọn bà, đó không phải là vì Ziegfeld rất sành sỏi sao? Nhưng bà đã kết hôn và quay lại chính cuộc sống mà mình từng chạy trốn. Hắn sẽ giải phóng cho bà, nhưng bà không biết điều đó.
“Đừng quên gửi thứ đó đi,” mẹ hắn bảo.
Bruno nhăn mặt khi 2 cái đầu rắn đuôi chuông chúi về phía hắn. Đó là một cái giá treo cà vạt mà họ mua tặng Thuyền trưởng, làm từ sừng bò xoắn lại và trên đỉnh có 2 con rắn chuông nhỏ nhồi bông thè lưỡi vào nhau. Thuyền Trưởng ghét giá treo cà vạt, ghét rắn, chó, mèo, chim... Có gì mà ông ta không ghét nhỉ? Ông ta sẽ ghét cái giá treo cà vạt cổ lỗ này lắm, và chính vì thế mà hắn mới khuyên mẹ mua nó tặng ông ta. Bruno mỉm cười âu yếm với cái giá. Khuyên mẹ hắn mua nó cũng chẳng khó khăn gì.
CHƯƠNG 11
H
ắn vấp chân vào một hòn sỏi chết tiệt, kiêu hãnh tự đứng dậy rồi cố vuốt thẳng áo sơ mi trong quần. Mừng là hắn đã ngất đi trong một con hẻm chứ không phải phố lớn, không thì cảnh sát đã bắt giữ hắn và hắn sẽ bị nhỡ tàu. Hắn dừng lại và lục tìm ví, cuống cuồng hơn lúc trước khi tìm xem cái ví còn không. Tay hắn run đến mức hắn gần như không đọc được dòng chữ 10 giờ 20 phút sáng trên vé xe lửa. Bây giờ là 8 giờ 10 phút theo vài cái đồng hồ xung quanh. Nếu hôm nay là Chủ nhật. Tất nhiên hôm nay là Chủ nhật, dân Anh điêng đều mặc quần áo sạch sẽ. Hắn đề phòng Wilson, dù cả ngày hôm qua đã không gặp anh ta và cũng ít khả năng anh ta sẽ ra ngoài vào lúc này. Hắn không muốn Wilson biết mình sắp rời thị trấn.
Quảng trường đột ngột trải dài trước mắt hắn, đầy gà, trẻ con và những người đàn ông già thường ăn hạt thông vào bữa sáng. Hắn đứng bất động để đếm các cột của tòa nhà Quốc Hội, để xem hắn có đếm được tới 17 không, và hắn có thể. Mấy cái cột đó không còn là thước đo tốt nữa. Ngoài di chứng sau khi say xin, hắn còn nhức mỏi cả người vì ngủ trên đống sỏi chết tiệt. Hắn tự hỏi không biết làm sao mình lại uống nhiều như thế thậm chí còn suýt khóc. Nhưng hắn đã rất cô đơn, lúc nào ở một mình hắn cũng uống nhiều hơn. Điều đó có đúng không nhỉ? Có ai quan tâm đâu? Hắn vẫn nhớ rõ đã có một suy nghĩ xuất sắc và can đảm ập đến tối qua khi hắn xem trò xáo bài bằng gậy phát trên tivi: cách tốt nhất để nhìn thế giới là nhìn nó khi say xỉn. Tất cả mọi thứ đều được tạo ra để nhìn ngắm lúc ta say. Nhưng chắc chắn đó không phải là cách để nhìn ra thế giới, khi
mà đầu óc như muốn nứt ra mỗi lần đảo mắt. Tối qua hắn muốn ăn mừng đêm cuối ở Santa Fe. Hôm nay, hắn sẽ đến Metcalf và hắn phải thật sắc bén. Làm gì có di chứng sau say nào mà một vài ly rượu nữa không thể giải quyết cơ chứ? Hắn nghĩ có khi đau đầu thế này còn có ích là đằng khác, vì hắn có thói quen làm mọi việc một cách chậm rãi và cẩn trọng khi bị đau đầu. Tuy vậy, hắn vẫn chưa lập kế hoạch gì cả. Việc đó có thể làm trên tàu.
“Có thư không ?” hắn hỏi một cách máy móc, nhưng không có. Hắn khoan thai tắm rửa, gọi một tách trà nóng và trứng sống lên để làm một ly Prairie Oyster*, rồi đi ra phía tủ và đứng đó hồi lâu, mơ màng cân nhắc xem nên mặc gì. Hắn quyết định mặc bộ đồ màu nâu đỏ vì Guy. Khi mặc vào, hắn nhận ra nó cũng tương đối chìm. Hắn thấy hài lòng vì mình đã vô thức chọn nó cũng vì lý do này. Dốc cạn cốc Prairie Oyster xuống họng, hắn thả lỏng bắp tay... thế rồi đột nhiên đồ nội thất kiểu Anh-điêng của căn phòng, cái đèn sắt điên rồ, tấm rèm rủ xuống các bức tường đều khiến hắn không sao chịu nổi. Cả thân hình run bần bật, hắn chỉ muốn thu dọn đồ đạc và rời khỏi đó thật nhanh chóng. Đồ gì chứ? Hắn không thật sự cần gì hết. Chỉ có tờ giấy mà hắn đã viết ra tất cả những gì hắn biết về Miriam. Hắn lấy nó ra từ ngăn sau của vali và nhét nó vào túi áo trong. Động tác đó làm hắn cảm thấy mình như một doanh nhân. Hắn đặt một chiếc khăn tay trắng vào túi áo ngực, rồi rời khỏi phòng và khóa cửa lại. Hắn đoán là tối mai mình có thể quay lại, sớm hơn nêu hắn có thể làm xong việc tối nay và lên toa giường nằm để quay lại. * Một loại cocktail có thành phần là trứng sống.
Tối nay!
Hắn không thể tin nổi điều đó khi đi về phía trạm xe buýt, noi người ta bắt xe đi ga tàu Lamy. Hắn đã nghĩ mình sẽ vô cùng hạnh phúc và kích động - hoặc sẽ trầm lắng và ủ rũ - nhưng hoàn toàn không. Đột nhiên, hắn cau mày, khuôn mặt xám xịt và đôi mắt thâm
quầng của hắn bỗng trông trẻ hẳn ra. Liệu có điều gì đó đã cướp mất niềm vui của việc này không? Điều gì nhỉ? Nhưng luôn có điều gì đó cướp mất niềm vui của tất cả những gì hắn từng hy vọng. Lần này, hắn sẽ không để điều đó xảy ra. Hắn bắt mình mỉm cười. Có lẽ chính cơn đau đầu làm hắn sinh ra sự hoài nghi. Hắn vào quán rượu và mua hơn nửa lít rượu từ một người phục vụ mà hắn quen, đổ đầy bình rượu của mình, rồi hỏi xin một cái chai khác để chứa chỗ còn lại. Người phục vụ đi tìm nhưng không có.
Ở Lamy, Bruno đi vào nhà ga, chẳng mang gì ngoài nửa chai rượu rỗng trong một túi giấy, còn chả có đến một thứ vũ khí. Hắn chưa lên kế hoạch, hắn tự nhủ, nhưng lên kế hoạch kỹ càng không phải lúc nào cũng mang đến thành công cho một vụ giết người. Chứng kiến việc...
“Này, Charley! Anh đi đâu đấy?” Wilson, cùng một nhóm người, gọi hắn. Bruno ép mình đi về phía họ, lắc đầu một cách chán chường. Họ hẳn vừa xuống tàu, hắn nghĩ thầm... Trông họ mệt mỏi và tiều tụy.
“Anh đã ở đâu những 2 ngày nay vậy?” Bruno hỏi Wilson. “Las Vegas. Không hề biết tôi sẽ tới đó cho tới khi tôi đã tới đó, không thì tôi đã rủ anh, gặp Joe Hanover đi. Tôi đã kể cho anh về Joe rồi đấy.”
“Xin chào, Joe.”
“Sao anh ủ rũ thế?” Wilson vừa hỏi vừa thân thiết huých nhẹ. “Ồ, Charley lại say rồi!” một đứa con gái kêu ré lên, giọng như tiếng chuông xe đạp vang lên ngay sát tai hắn.
“Chào Charley Say Xỉn, tôi là Joe Hanover!” Joe Hanover nói, cười ngặt nghẽo.
“Ha ha.” Bruno nhẹ nhàng rút tay ra khỏi tay của một cô gái đeo vòng hoa quanh cổ. “Chết tiệt, tôi phải lên chuyến tàu kia.” Tàu của hắn đang đợi.
“Anh đi đâu thế?” Wilson hỏi, cau mày khiến hàng lông mày đen của anh ta gần như chạm vào nhau.
“Tôi đã gặp một người ở Tulsa,” Bruno lầm bầm nói, nhận ra rằng đã dùng nhầm thì, hắn phải chuồn ngay thôi. Cảm giác bức bối khiến hắn muốn khóc nức nở và đấm vào cái áo đỏ cáu bẩn của Wilson.
Wilson vung tay như định xóa bỏ Bruno giống lau một vết phấn trên bảng đen. “Tulsa!”
Từ tốn, cố gắng cười toe toét, Bruno đáp lại bằng động tác tương tự và quay người đi. Hắn đi tiếp, chờ họ đi theo sau, nhưng không. Ra đến tàu, hắn ngoái lại nhìn và thấy cả nhóm như đang lăn từ chỗ nắng vào bóng râm dưới mái nhà ga. Hắn cau mày nhìn, cảm thấy có điều gì đó đáng nghi ngờ khi thấy họ túm tụm vào nhau như thế. Họ có nghi ngờ gì không? Họ đang thì thầm về hắn à? Hắn thong thả lên tàu và nó bắt đầu di chuyển trước khi hắn tìm được ghế.
Khi tỉnh lại sau giấc ngủ ngắn, thế giới quanh hắn dường như thay đổi khá nhiều. Con tàu đang phóng êm ru qua một vùng đồi núi xanh tươi mát lạnh. Những thung lũng xanh rì đã khuất bóng nắng. Bầu trời xám xịt. Khoang điều hòa, cộng với vẻ lạnh lẽo của những thứ bên ngoài đang phả từng đợt hơi mát giống như một tảng băng. Và hắn đói. Hắn liền ăn một bữa trưa gồm thịt cừu, salad và khoai tây chiên, cùng một miếng đào tươi ngon lành, 2 ly scotch pha soda trong phòng ăn và sải bước về ghế ngồi của mình với cảm giác như đang có 1 triệu đô trong tay.
Cảm giác có mục đích thật kỳ lạ và ngọt ngào đối với hắn, đưa hắn vào một dòng chảy không thể cưỡng lại. Chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ, hắn cũng cảm thấy có sự hòa hợp mới xuất hiện giữa tâm trí và đôi mắt. Hắn bắt đầu nhận ra mình định làm gì. Hắn đang trên đường tiến hành một vụ giết người, nó không chỉ giúp hắn thỏa mãn khao khát nhiều năm qua, mà còn giúp ích cho một người bạn.
Bruno rất hạnh phúc khi được giúp bạn bè. Và nạn nhân của hắn xứng đáng phải chịu số mệnh đó. Nghĩ tới những người đàn ông tử tế mà hắn sẽ cứu khỏi việc quen biết cô ta xem! Nhận ra tầm quan trọng của việc mình làm khiến tâm trí hắn ngây ngất. Và trong một khoảnh khắc, hắn cảm thấy say xỉn một cách trọn vẹn và hạnh phúc. Năng lượng đã bị hao mòn của hắn giờ lan ra như một dòng nước lũ chảy trên một mảnh đất bằng phẳng và nhàm chán, giống như vùng đất Llano Estacado mà hắn đang băng qua vậy. Chúng dường như tụ lại thành một dòng xoáy nhằm về hướng Metcalf như chuyển động hung hãn của con tàu này. Hắn ngồi ra mép ghế và ước gì Guy đang ngồi ở chiếc ghế đối diện. Hắn biết Guy sẽ cố gắng ngăn cản mình, Guy không hiểu hắn muốn điều đó đến thế nào hay việc đó dễ dàng ra sao. Nhưng vì Chúa, anh ta phải hiểu là điều đó có ích chứ! Bruno nắm bàn tay mịn màng như cao su cứng của mình lại và đấm vào lòng bàn tay bên kia, ước rằng con tàu đi nhanh hơn. Khắp cả cơ thể, những múi cơ nhỏ của hắn đang co giật và run rẩy.
Hắn rút tờ giấy về Miriam ra, đặt nó lên chiếc ghế trống đối diện, rồi nghiêm túc nghiên cứu nó. Miriam Joyce Haines, khoảng 22 tuổi, dòng chữ được ghi lại bằng nét chữ viết tay chính xác vì đây là bản chép tay thứ ba của hắn. Khá đẹp. Tóc đỏ. Hơi đầy đặn, không cao lắm. Có bầu tầm 1 tháng. Loại phụ nữ thích giao du và ồn ào. Hẳn là khá chưng diện. Có thể đã để kiểu tóc ngắn và xoăn trong một thời gian dài. Không nhiều chi tiết lắm, nhưng là điều tốt nhất mà hắn có thể làm. Mừng là ít nhất thì cô ta có mái tóc đỏ. Hắn tự hỏi liệu mình có thể làm được điều đó luôn trong tối nay hay không. Nhưng điều đó còn phụ thuộc vào việc liệu hắn có tìm được cô ta ngay không. Hắn có thể sẽ phải rà lại toàn bộ danh sách những người tên Joyces và Haines. Hắn nghĩ có lẽ cô ta đang sống cùng gia đình. Khi đã nhìn thấy cô ta thì hắn chắc chắn mình sẽ nhận ra ngay thôi. Ả khốn! Chưa gì hắn đã ghét cô ta rồi. Chân hắn nhảy bật trên sàn khi hắn
"""