"Mắt Đá - Otsuichi PDF EPUB 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Mắt Đá - Otsuichi PDF EPUB Ebooks Nhóm Zalo MẮT ĐÁ Tác giả: Otsuichi Người dịch: Thu Hiền Phát hành: IPM Nhà xuất bản Hà Nội 2020 —★— ebook©vctvegroup MẮT ĐÁ Xưa kia, dịch cảm bùng lên tại một ngôi làng. Hoàn toàn mù mờ về dịch bệnh, dân làng chỉ biết ngồi yên chờ chết. Kẻ mất chỗ dựa, lâm cảnh khốn cùng. Kẻ mất gia đình, tứ cố vô thân. Trong số đó, có cặp vợ chồng mất đứa con thơ. Họ đặt đứa trẻ đã lạnh ngắt trên chiếu rơm, than khóc đêm ngày. Thời buổi quẫn bách, cơm chẳng có mà ăn nên tay đứa trẻ khẳng khiu như que củi. Họ cho con vào quan tài nhỏ, cùng khiêng nó lên núi để chôn cất ở chỗ nào đèm đẹp. Ngoảnh đi ngoảnh lại mặt trời đã lặn, bóng tối dày đặc dâng ngập xung quanh. Cây cối rậm rạp che khuất ánh trăng, đôi vợ chồng như bị màn đêm mênh mông nghiền nát. Bốn bề không một bóng nhà dân. Trên tay họ là cỗ quan tài nhẹ bẫng của đứa con tội nghiệp. Họ cảm giác sau lưng có ai đó. Xào xạc… Xào xạc… Người vợ định ngoái đầu, người chồng liền can ngăn, “Chỉ là tiếng lá thôi!” Lạch bạch… lạch bạch… Lần này là tiếng bước chân. Chân trẻ con hay sao ấy. Người vợ định ngoái đầu, người chồng liền ngăn cản, “Heo hút thế này, trẻ con đâu ra.” Thế là tiếng trẻ con vọng tới, đúng giọng đứa con đã mất của họ, “Mẹ ơi, mẹ nhìn con này…” Người mẹ mất con ngoái đầu lại. Không có đứa trẻ nào hết. Chỉ có một người đàn bà cao lớn đứng sững ở đó. Mắt Đá. Nó bắt chước giọng nói của đứa trẻ đã chết. Ai nhìn vào mắt nó sẽ hóa đá. Người vợ hóa đá trong tư thế ngoái đầu. Người chồng kinh hãi nhắm tịt mắt. Không được nhìn. Sẽ hóa đá mất. Mắt Đá tiến lại gần. Nó sờ soạng gò má và cẳng tay người chồng. Không dám mở mắt, người chồng cắm đầu tháo chạy. Bỏ lại cỗ quan tài chỏng chơ giữa núi rừng. ✧ Lên tiểu học, tôi chuyển về quê nội sống. Kí ức về ngôi nhà cũ chẳng còn đọng lại bao nhiêu. Cả những hồi ức về mẹ cũng dần tan biến, còn chăng chỉ là thoang thoảng dư âm. Có một hình ảnh cũ vẫn lờ mờ lưu giữ trong tâm trí. Không gian trong ấy không có vẻ là ở nhà nội, quanh rìa hình ảnh đã tối đi, phai màu. Một căn phòng chật chội, chỉ rộng tầm bốn chiếu, cửa sổ khung gỗ xập xệ, trên tường có treo ảnh trang trí. Nắng lọt vào phòng qua cửa sổ. Không biết do ngược sáng hay bởi khi ấy tôi còn nhỏ mà bóng mẹ trông to lớn lạ thường. Tôi nằm nghiêng, nghe mẹ hát ru. Trưởng thành ra đời rồi, tôi vẫn không sao quên được hình ảnh xưa cũ cùng lời ru ngày ấy. Tôi vào tiểu học, học cách khôn lớn mà không có mẹ ở bên. Nhà chỉ có ông bà nội, bố, chú, và tôi. Nhà nằm dưới chân núi, ngay sát bìa rừng nơi có con dốc thẳng đứng. Mặc dù cũ kĩ nhưng khá rộng, đủ cho năm người sinh hoạt mà vẫn thừa một nửa không gian. Ngay trước nhà là một con dốc, xuống dốc đi học thì khỏe re nhưng lúc về phải leo mệt phờ người. Dọc đường thi thoảng lại gặp ruộng bậc thang. Mỗi lần tới trường tôi toàn đi tắt qua những thửa ruộng ấy. Không thì chui qua các bụi cây hoặc băng xuyên vườn nhà người lạ. Trên đường tới trường có một ngã rẽ, cạnh đó là một ngôi miếu nhỏ. Gọi là miếu nhưng thực chất chỉ là một cái hốc thờ cao ngang đứa trẻ con, ẩn mình giữa lùm cây, khuất dạng trong bóng đổ. Địa Tạng Bồ Tát trong miếu giăng đầy mạng nhện. Lại gần nhìn sẽ thấy rõ là mặt tượng trơn nhẵn, không có mắt. Tượng tạc từ đầu đã vậy chứ không phải do ai nghịch ác đục đi. Điều này khiến những người ở nơi khác tới không khỏi thắc mắc. Trong vùng chúng tôi đây, ít nhất là trong phạm vi tôi từng lai vãng suốt thời tiểu học, Địa Tạng Bồ Tát nào cũng khuyết mắt cả. Dù bấy giờ còn trẻ con, tôi vẫn ngờ ngợ là mình biết tại sao. Thời ấy, lũ trẻ chúng tôi hay chơi một trò ú tim gọi là “Quỷ bịt mắt”. Đầu tiên chúng tôi oẳn tù tì để chọn ra người làm quỷ. Con quỷ sẽ bịt mắt và đuổi bắt những người còn lại. Nếu quỷ tiến về hướng không người, người trốn phải vỗ tay để đánh động cho quỷ biết. “Quỷ ơi, ta ở đây này, lại đây mà bắt.” Trò chơi sẽ kết thúc khi có người rơi vào tay quỷ, nói cách khác là chết. Đó là luật chơi thông thường của trò ú tim, nhưng còn một cách chơi khác. Người bịt mắt không phải con quỷ mà là người trốn. Phải chạy trốn với hai mắt bị bịt kín nên không biết bao nhiêu đứa trẻ đã bị thương. Sân chơi quen thuộc là ngôi đền cách nhà tôi chừng năm phút đi bộ. Chắc kinh động đến các vị thần nhiều lắm, song chúng tôi vẫn thích đến đây bởi khoảng sân rộng rãi. Người bịt mắt trốn thì chạy thục mạng. Chúng tôi thậm chí không dám dừng cho dù phía trước là đèn đá đổ hay rễ cây trồi lên mặt đất. Bởi nếu bị quỷ bắt thì coi như xong. Năm nào cũng có đôi ba đứa không gãy xương thì gãy răng. Người ngoài chắc phải ngạc nhiên lắm khi chứng kiến chúng tôi cuống cuồng chạy trốn đến chảy máu cam, bầm tay tím chân như vậy. Tuy nhiên, dù trầy vi tróc vảy cỡ nào thì chúng tôi vẫn chơi đều đặn hầu như hằng ngày. Không chỉ vì vui thôi đâu. Nguyên nhân sâu xa có lẽ nằm ở truyền thuyết được lưu truyền trong vùng từ xưa. Cho nên chúng tôi coi trò bịt mắt như một kiểu nghĩa vụ, như một kiểu rèn luyện. Lạ thay, trò chơi nguy hiểm như thế mà lại không bị cấm. Chưa hết, đứa nào sợ ngã đau không ráng mà chạy, để người lớn thấy được sẽ ăn mắng ngay. Có chết cũng không được rơi vào tay quỷ. Không tập nhắm mắt chạy trốn cho tử tế sẽ bị Mắt Đá biến thành đá đấy. Người lớn nói vậy. Thế hệ ông bà chúng tôi hiếm khi nhắc tới cái tên Mắt Đá. Nếu lỡ miệng nói ra, họ sẽ chắp tay hướng về phía đỉnh núi, kính cẩn vái lạy nhiều lần. Mắt Đá. Còn được biết đến với tên gọi Thạch Nữ. Đó là nhân vật truyền thuyết được đồn đại qua nhiều thế hệ ở quê nội tôi. Không rõ là nghe ai kể, và từ khi nào, song lũ trẻ chúng tôi đều nằm lòng các sự tích xoay quanh nhân vật ấy. Nghe kể, Mắt Đá cất tiếng gọi, khiến người mẹ mất con ngoái đầu lại và hóa đá. Lại nghe kể, có người đi lạc trong rừng, tìm nơi tá túc lại đến đúng nhà Mắt Đá. Ngoài đôi mắt có thể biến người ta thành đá, Mắt Đá còn có đôi mắt thật giấu trong ngực. Nếu đôi mắt này bị đâm xuyên, Mắt Đá sẽ đau đớn mà hóa luôn thành đá. Lớn lên, tôi hiểu những câu chuyện đó không hề có thật. Có lẽ bắt nguồn từ truyền thống địa phương, đây là truyện kể để cảnh báo hay răn dạy con trẻ mà thôi. Vì đã hiểu ra rồi, những đứa trẻ cuối cấp tiểu học không còn chơi Quỷ bịt mắt nữa. Chúng tìm đến những trò hấp dẫn hơn. Khi lũ trẻ đồng trang lứa bên hàng xóm đổi sang đi câu, tôi buộc phải theo chúng ra sông. Ngày ấy gần nhà tôi có một tên đánh nhau rất giỏi. Cả bọn thường xúm xít quanh nó, vì sợ không dám từ chối mỗi lần nó rủ rê, chứ không phải yêu quý gì cho cam. Thành ra nếu tên đó đi câu thì tôi cũng phải ra sông, chẳng còn cách nào khác. Nước sông chảy xiết, cuốn trôi cả những cục đá to. Có đứa trèo đến tận mỏm đá lớn nhô hẳn ra mặt sông để thả câu. Dòng nước trong vắt, tiếng nước va vào đá tảng ở đáy sông nghe rất vui tai. Nhưng tôi ghét câu cá. Rầu hết cả người, tôi chỉ muốn ở nhà vẽ tranh thôi, không câu cá gì hết. Một ngày hè nọ, tôi vừa nghĩ thế vừa tách khỏi đám bạn. Để tránh bị tên hổ báo kia để mắt tới, tôi làm như mình rất khoái câu cá. Tôi thả dây câu xuống sông, cố định cần. Chuẩn bị mọi thứ nghiêm chỉnh xong, tôi bảo đám bạn rằng mình đi kiếm giun đất, rồi cứ thế lỉnh đi. Còn dặn nhớ gọi tôi nếu có cá cắn câu. Cơ mà chắc đến mùa quýt cá mới cắn cho, bởi lưỡi câu làm quái gì có mồi. Đi dọc bờ sông một lát sẽ đến nơi chốn bí mật chỉ mình tôi biết. Con đường dốc dần, tách biệt với mực nước sông, dựng thành một vách đá. Nơi bí mật ở ngay phía dưới này. Vách đá không quá cao, ngã xuống không mất mạng, song cũng khó mà còn lành lặn. Nhưng chỉ cần đủ can đảm leo trèo thì muốn xuống cũng không mấy khó khăn. Bên dưới chẳng có gì cả, chỉ là một khoảng trống phủ đầy rong rêu, đủ chỗ cho một người ngồi thả chân xuống lòng sông. Trời lặng gió, đứng im mà mồ hôi vẫn túa ra. Đang giữa trưa, nắng gắt làm rõ nét những bóng cây. Tôi leo xuống, dùng toàn thân đu bám vách đá. Vì mặc áo cộc nên cánh tay đẫm mồ hôi của tôi dính đầy những cát. Tôi tìm ra nơi chốn bí mật này là do một hôm trượt chân té ngã. Quá nửa trầy xước trên người là tại trèo xuống vách đá này mà ra. Khuỷu tay trái tứa máu, trống ngực đập thình thịch. Ngẩng lên nhìn, tôi thấy những viên đá nhỏ lăn lông lốc từ chỗ mình vừa trượt chân. Đỡ lấy tôi là một thảm rêu dày mọc trên mặt đất và mặt đá, chắc đã sinh sôi ở đây từ hàng chục, hàng trăm năm trước. Do va đập mạnh, một mảng rêu trợt ra, trôi theo dòng nước. Có thể nói tai nạn này là bất hạnh cho cả tôi lẫn thảm rêu. Chợt tôi chú ý tới lớp đất khi nãy còn ẩn dưới lớp rêu. Rêu bong rồi, nền đất đen xốp lâu ngày mới tiếp xúc với không khí. Ở đó vùi một mẩu đá tạc hình bàn tay nhỏ. Tôi bới nó ra, quan sát kĩ hơn. Dù chỉ tạo hình từ cổ tay tới các ngón, nhưng rõ ràng là bàn tay trẻ con. Trông nó tinh xảo tới mức đứa trẻ tiểu học như tôi mê mẩn không thôi. Tôi còn nhớ nó được chạm khắc tỉ mỉ đến từng đầu móng tay, vân tay, khớp xương, thậm chí cả lông tơ. Khối đá độc đáo hình bàn tay trẻ con mũm mĩm ấy dường như chứa đầy không khí bên trong. Sống động đến nỗi tôi phải lấy làm lạ khi ấn vào mà không thấy đàn hồi. Bàn tay để trong tư thế tự nhiên, trông như chuẩn bị nắm lấy thứ gì. Thành thử tôi quên khuấy mất nó chỉ là đá, lòng còn băn khoăn liệu có khi nào nó cử động. Nhỡ đâu nó cử động thật, chắc tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên. Tôi mang mẩu đá về, nâng niu như bảo bối và không hé với ai một lời. Tôi vẽ bàn tay đó nhiều lần. Khả năng vẽ của tôi tiến bộ nhanh chóng. Nhưng nhìn tranh, tôi chẳng cảm nhận được sự sống động như sắp cựa quậy của bàn tay lúc nhìn vào mẩu đá. Sâu trong núi mịt mù sương giăng, thầy N đồng nghiệp của tôi nằm bất tỉnh dưới gốc cây. Tôi lại gần kiểm tra xem thầy còn thở hay không, vừa gọi tên, tôi vừa nắm vai anh lắc mạnh. Sau hai ba lần, bờ mi anh run run, rồi anh mở mắt. “Tôi sao thế này?” “Trượt chân. Chúng ta ngã xuống từ vách núi dựng đứng kia.” Hai chúng tôi ngước nhìn sườn núi dốc như được bào bằng một cái muỗng khổng lồ. Ra là mình chưa chết, thầy N (người luôn khiến học sinh sợ như sợ ông kẹ) lúc này cũng phải nhăn nhó khổ sở. Anh toan đứng dậy, song lập tức rên rỉ vì đau. Chân phải hình như có vấn đề, không bước nổi. “Tôi không sao!” Thầy N vừa toát mồ hôi vừa gượng cười che giấu cơn đau. Ngọn núi này gần nhà tôi. Nhưng cách khá xa nơi tôi hay chơi đùa hồi nhỏ. Có một con đường mòn có thể dẫn chúng tôi leo trở lại đỉnh núi. Tôi không ngờ ở một nơi xa trục đường chính, róc rách tiếng nước chảy, lại có sườn dốc như vậy. Trước giờ vốn không mấy người leo lên đây, nên chẳng ai hay biết địa hình núi này thế nào. Chắc là tại ảnh hưởng của truyền thuyết về người đàn bà kia đây mà. Cõng thầy N lên sườn dốc là chuyện không tưởng. Mặt trời dần khuất bóng, ánh nắng khi nãy còn chiếu rọi trên da giờ đã lẩn khuất trong bốn bề rừng cây. Chúng tôi không thể ngồi yên ngắm hoàng hôn buông được. Tôi quyết định trèo lên vách núi một mình rồi tìm người tới giúp. Thầy N cũng đồng ý ngồi tại chỗ đợi tôi vài tiếng. Tuy nhiên kế hoạch phá sản. Đất trên vách núi rất dễ sạt lở. Tôi như con kiến mắc kẹt trong lòng chảo, chẳng thể quay lại đường mòn. Song không phải mọi hi vọng đều tắt. Trước mắt chúng tôi là một con đường rải sỏi men theo sườn núi. Không biết con đường dẫn tới đâu, nhưng nơi nào có đường nơi ấy ắt phải có người. Tôi cõng thầy N, lần theo con đường ấy đi xuống chân núi. Lúc cả hai ở phòng giáo vụ, tôi đã kể cho thầy N nghe về kế hoạch leo núi. Căn bản vì thầy hỏi tôi có dự định gì không khi kì nghỉ hè đang gần kề trước mắt. Chúng tôi cùng quê, học xong đều trở về trường trung học cũ làm giáo viên. Thầy N hơn tôi ba tuổi, dạy khoa học xã hội và sống ngay gần trường. Lần đầu gặp nhau, nghe tôi kể rằng nhà mình ở gần ngọn núi trong thị trấn, thầy N xoa cằm nhăn nhó. “À, đằng đấy hả? Ngày bé tôi từng đạp xe qua đó. Có khi chúng ta gặp nhau từ hồi cấp hai cũng nên. Kể ra cậu mà gia nhập câu lạc bộ Judo thì đàn anh như tôi đã dìu dắt chu đáo rồi.” Hôm nhập học tôi đã đăng kí tham gia câu lạc bộ Mỹ thuật, và hiện đang làm cố vấn ở đó. Chúng tôi nhanh chóng trở thành cạ cứng của nhau, hẹn kì nghỉ này cùng đi chơi một chuyến. “Nghỉ hè nào tôi cũng leo núi.” “Leo núi? Hiếm lắm mới thấy thầy S vận động mạnh nhỉ. Bình thường leo cầu thang thôi cũng thấy cậu hụt hơi mà.” Tôi là giáo viên mỹ thuật, bấy giờ đang ngồi chấm từng bức tranh của học sinh. Đề bài là phác họa quả trứng để học vẽ các mảng sáng tối. Chỉ bằng những bức vẽ này cũng đủ để đánh giá khả năng của các em sao? Tôi băn khoăn, song cũng nhanh chóng cho điểm để sớm kết thúc công việc nhàm chán này. Tôi định giao bài tập hè là vẽ tranh phong cảnh. Không biết năm nay có bao nhiêu em nghiêm túc làm bài nữa. Bản thân là giáo viên nhưng tôi lại không thích xem tranh của học trò mình. Tranh chúng vẽ cũng giống của tôi, không một chút sinh khí. Người trong tranh cứ lặng như tờ. Tranh như vậy chẳng có gì đáng xem cả. Tôi chỉ ậm ừ trong khi thầy N vẫn thao thao bất tuyệt, thành ra không biết từ lúc nào đã chốt xong vụ leo núi cùng nhau rồi. Sáng nay tôi lỡ nói ra lý do mình muốn leo núi. Thầy N ăn vận thoải mái, ghé qua nhà tôi. Chú tôi mang trà ra mời. Bây giờ trong nhà chỉ còn chú và tôi. Thầy N thường xuyên tới chơi nên đôi bên chẳng lạ gì nhau nữa. Cả ba người chúng tôi đều độc thân. Tôi lên núi để tìm di hài của mẹ. Nghe vậy, khuôn mặt thầy N lộ rõ vẻ thích thú. “Nghe thú vị đấy.” “Thôi đi. Giáo viên mà thấy thú vị với một việc như thế, nghe kì quá đấy!” Mẹ tôi vào núi và không bao giờ trở về nữa. Tôi biết sự thật này khi đã tốt nghiệp cấp ba khoảng ba tháng, tức là sau khi bố mất. Chú tôi, người thân duy nhất còn lại trên đời đã cho tôi hay, chuyện mẹ mất vì bệnh khi tôi còn nhỏ chỉ là một lời nói dối. Tôi vẫn giữ vài tấm hình chụp mẹ với khuôn mặt tươi cười và đặt trên bàn cho tới năm 20 tuổi. Từ hồi tiểu học tới giờ, những gì tôi biết về mẹ chỉ gói gọn trong mấy tấm ảnh ít ỏi, vài kỉ niệm nhạt nhòa và biết mẹ là một nhiếp ảnh gia. “Mẹ cháu đẹp lắm. Đẹp hơn trong mấy cái ảnh đó nhiều.” Chú tôi nói, giọng đầy hoài niệm. “Sinh cháu rồi chị ấy vẫn thiết tha được sống với nghề nhiếp ảnh dù rằng không gặt hái được chút tăm tiếng nào.” Bố đưa tôi về đây sống hồi chú đang học cấp ba. Bố mẹ bất hòa chỉ vì mẹ không chăm lo cho con cái. Bố cũng như ông bà nội không hiểu giá trị những tấm ảnh của mẹ, luôn cho rằng mẹ cần bớt ham vui để vun vén cho gia đình. Nhưng mẹ không từ bỏ việc chụp ảnh, lòng đinh ninh tin tưởng rằng một ngày kia những tác phẩm của mình sẽ được công nhận. Vì vậy mà gia đình tan vỡ. “Đêm đó, chị ấy đến, xin được gặp cháu. Cháu thì đang ngủ trong màn, không hay biết gì.” Mẹ đứng khóc ngoài hành lang, mong mỏi gặp tôi. “Mẹ chú, tức bà nội của cháu, thấy vậy đã nói, ‘Thật quá mất mặt, hàng xóm mà biết thì còn ra thể thống gì nữa.’ Chú chưa bao giờ thấy bà như vậy. Bà lớn tiếng tuyên bố, ‘Cả đời này thằng bé sẽ không bao giờ gặp cô. Nếu cô còn bén mảng tới đây tôi sẽ gọi cảnh sát đấy.’ Ở trong phòng, chú nghe mẹ cháu khóc hồi lâu. Khi yên ắng trở lại, chú ghé qua cửa sổ, thấy chị ấy ngồi thất thần trên sàn. Ba tiếng sau, chị ấy vẫn ngồi bất động ở đấy. Sáng ra không thấy mẹ cháu đâu nữa. Hàng xóm kháo nhau rằng, có một phụ nữ áo đỏ đã đi vào núi ngay trước bình minh.” Nhưng không có ai trở ra nên mọi người ngỡ là nhìn nhầm. Trừ gia đình tôi. Người phụ nữ mà mọi người nhìn thấy rất có thể là mẹ. Bởi theo những gì chú nhớ, đêm đó mẹ mặc bộ đồ màu đỏ, đứng ngoài hành lang. Có lẽ vì không gặp được con, vì tác phẩm không được người đời công nhận nên mẹ đã nghĩ quẩn và tìm đến cái chết. Không lâu sau, ảnh mẹ tôi chụp bán rất chạy. Tôi thích mê cuốn sách ảnh được xuất bản của mẹ. Tôi không am hiểu về lĩnh vực này nên không đưa ra nhận xét chính xác được, nhưng có thể nói mẹ chính là hình mẫu nhiếp ảnh gia lý tưởng nhất trong lòng tôi. “Thù lao cuốn sách ảnh đó thì sao?” Thầy N cất tiếng hỏi sau một hồi im lặng. “Bố tôi nhận hết. Người ngoài đều không biết mẹ tự tử nên đến giờ họ vẫn coi như không rõ tung tích thôi.” Thầy N nhìn chằm chằm tấm ảnh mẹ tôi. Trong ảnh, mẹ mặc bộ quần áo màu đỏ, có lẽ giống bộ đồ mẹ mặc đêm đó, ngực áo thêu một đóa hướng dương lớn. Sau cùng, thầy N thở dài. “Nói gì thì nói, quả là mỹ nhân.” Chẳng mấy chốc bóng tối đã bao trùm khắp mọi nơi. Ban đầu chúng tôi dự tính trở về trước khi mặt trời lặn nên chẳng ai mang theo đèn. Giờ chỉ có thể dò dẫm từng bước trên con đường rải sỏi và nương theo những ánh sao trời. Tuy là cao thủ Judo nhưng thầy N không phải người vạm vỡ. Thầy sở hữu vóc dáng cân đối cùng cơ bắp săn chắc. Cõng thầy trên lưng cũng không mấy chật vật, nhưng cơ thể yếu ớt của tôi cũng đã cạn sức. Ban nãy thầy N nói “Cảm ơn nhiều” rồi nhắm nghiền mắt đến tận bây giờ, khiến tôi không biết thầy chỉ thiếp đi hay bất tỉnh luôn nữa. Con đường rải sỏi quanh co ngoằn ngoèo. Rõ ràng tôi tính xuống chân núi, không hiểu sao lại thành đi vòng theo chiều ngược lại. Sương mù mỗi lúc một dày. Đột nhiên, phía sau có cảm giác như kéo lê vật nặng. Tôi ngoái lại kiểm tra. Ra là chân thầy N. Có lẽ tôi kiệt quệ hơn tôi tưởng. Cánh tay đỡ thầy N mỏi rã rời. Không biết từ bao giờ cơ thể thầy như bị lôi đi theo bước chân tôi. Điều tôi lo lắng hơn cả là thầy N chẳng rên rỉ lấy một tiếng, bất chấp đôi chân bị thương đang lê lết. Tôi chột dạ, có khi nào thầy chết rồi không. Song nhìn kĩ thì thấy thầy nhắm mắt thật chặt, người vã vượi mồ hôi. Tôi thở phào vì thầy còn sống, song lòng lại nôn nóng đi kiếm chỗ nghỉ chân ngay. Thình lình tôi bắt gặp một đốm sáng le lói giữa màn sương mịt mù. Nhỏ như lỗ kim châm. Có khi là nhà dân. Không, nhất định là nhà dân. Tôi xốc lại thầy N trên lưng, ráng sức bước đi. Phải tới đó rồi mới được ngất. Đôi chân tôi gần như di chuyển theo quán tính. Vừa giống đi trên đất bằng, lại có cảm giác đạp lên tấm nệm trải dài mãi. Càng lúc đốm sáng càng lớn hơn trước đôi mắt đờ đẫn của tôi. Trong mơ hồ, tôi thấy xung quanh như có vô số bóng người bất động đứng san sát nhau. Mùi thơm của gỗ lâu năm kéo tôi từ trong cơn mê trở về thực tại. Tôi nhận ra mình đang nằm dưới một lớp chăn. Rách rưới và mỏng manh, tấm chăn cũ mèm được khâu tay, chắp vá từ nhiều mảnh vải cũ. Tôi đang ở trong nhà ai đó. Căn phòng kiểu truyền thống rộng chừng sáu chiếu, bao quanh bởi tấm vách di động và cửa trượt. Hương gỗ tôi ngửi thấy khi nãy có lẽ là thứ mùi xưa cũ của căn phòng này. Trần nhà vân gỗ bám bụi, chẳng có đèn đóm gì hết. Trời sáng rồi thì phải, ánh nắng chói chang xuyên qua giấy dán cửa khiến đôi mắt ngái ngủ của tôi không kịp thích ứng. Thầy N nằm cạnh tôi, vẫn đang ngủ. Không có vẻ gì là sắp tỉnh dậy. Tấm chăn phập phồng lên xuống theo nhịp thở sâu, đều đặn. Trông thầy ngủ thật an ổn. Do chăn nhỏ, lại thêm dáng ngủ quẫy đạp, cái chân bị thương của thầy thò ra ngoài. Vết thương đã quấn băng, chắc được chủ nhà chữa trị giúp. Không phải băng gạc thường dùng trong bệnh viện, mà là vải trắng xé thành dải nhỏ. Miếng vải đã ố, không còn màu trắng nguyên bản. Quên bẵng lúc trước mình đã sức cùng lực kiệt, tôi chồm dậy. Tức thì toàn thân đau nhức, tôi khẽ rên rỉ. Tôi không nhớ chúng tôi đã nằm đây từ khi nào. Cảnh tượng cuối cùng lưu lại trong tâm trí là tôi cõng thầy N, đi về phía có ánh sáng le lói. Đốm sáng lớn dần, rồi tôi thấy có bóng người xung quanh. Có lẽ tôi đã kiệt sức và ngã gục trước khi được mang tới căn phòng này. Tôi cẩn thận đứng dậy, không để cơ bắp phải vận động mạnh quá. Cần nói lời cảm ơn với chủ nhân nhà này. Cửa trượt sang êm ái như vén bức màn không khí. Hành lang chạy ngang cửa phòng, bên kia hành lang là một khu vườn rộng. Trong giây lát, tôi ngỡ mình đang đứng trong mây. Sương mù dày đặc. Loanh quanh hai mươi bước thôi chắc cũng đủ lạc lối. Tôi căng mắt quan sát, thấy một khu vườn rải sỏi và vài bóng cây mờ mịt trong sương, vườn khá rộng, không rõ trải ra tới đâu. Đôi giày của tôi và thầy N được xếp ngay ngắn ngay sát hiên nhà, có lẽ chủ đích giúp chúng tôi bước thẳng xuống vườn. Cách đây không xa, lố nhố những cái bóng mà tôi nghĩ là đèn đá đứng xếp hàng thẳng tắp. Tôi dán mắt vào chúng. Sắp xếp không theo quy tắc, kích thước cũng không đồng nhất. Chúng được đặt quanh ngôi nhà. Muốn nhìn kĩ trong màn sương này thì phải lại gần hơn. Nhưng thôi, chuyện đó để sau đi. Tôi đi dọc hành lang, tìm kiếm chủ nhà. Sàn gỗ khô khốc, hình như còn bị rộp trắng cả lên. Vân gỗ lồi lõm chọc vào gan bàn chân. Thay vì ván gỗ ngắn ghép theo chiều ngang, hành lang này được ghép bằng ván gỗ dài theo chiều dọc, khiến nơi đây giống một ngôi chùa hơn ngôi nhà cũ kĩ. Tôi bước đi mà không nghe thấy tiếng cót két, chắc do sàn làm từ gỗ dày và có tính đàn hồi thấp. Ngôi nhà rộng thênh thang. Tôi vừa đi vừa đếm bước chân, song mãi không tới đầu nhà nên cũng quên mất mình đếm tới đâu. Hành lang bên hông cứ dài mãi với bên trái là vườn, bên phải là cửa trượt và tường gỗ. Không một bóng người. Tôi thử cất tiếng gọi. Không ai đáp lại. Toàn bộ cửa trượt kéo kín. Tôi mở ra xem nhưng bên trong chẳng có hơi người. Đầu hành lang hiện ra đột ngột. Sàn gỗ đứt đoạn, thay bằng nền đất. Tôi đoán phía trước là nhà bếp. Một mùi thơm phức dậy lên trong không gian ẩm ướt lạnh lẽo. Nó tỏa ra từ nồi đất bắc trên bếp lò, hơi nước bốc nghi ngút. Quả nhiên không phải nhà hoang. Tôi thấy trong nồi có chút cháo rau dại. Ngoài nồi đất, mọi thứ đều lạnh lẽo. Không có kệ bếp. Nồi niêu bát đũa thảy hết trên sàn nhà. Bát đũa đa phần làm bằng gỗ. Cũng có vài món sành sứ nhưng đều sứt mẻ không dùng được nữa. Góc bếp chất hàng mớ rau dại còn dính bùn đất. Có cả thớt và một con dao đã lốm đốm hoen gỉ. Căn phòng gần bếp nhất để ngỏ cửa. Dẫu biết không phải phép nhưng tôi vẫn bước vào. Chiếu đã cũ rách, bàn chân giẫm lên lún hẳn xuống. Căn phòng ảm đạm, rộng thênh thang. Nhưng khác những phòng còn lại, tôi cảm nhận được có người sống trong đây. Góc phòng có bốn cây nến dài ngắn khác nhau, cắm trên giá nến nhỏ bằng gỗ. Tôi tiến lại gần, khom gối. Nhìn kĩ thì thấy vô số dấu sáp chảy dưới chân nến. Cạnh chân nến đặt một chiếc hộp gỗ. Nó nhẵn lì, đủ to để nhét vừa một quyển sách. Phải chăng đây là bàn thờ. Những cây nến như nghiêng mình trước chiếc hộp. Tôi cầm nó lên. Nhẹ bẫng như thể hộp rỗng. Bên ngoài có chốt khóa nhỏ trông khá lỏng lẻo. Tôi muốn xem cả bên trong. “Tôi không biết cậu người ở đâu, nhưng…” Sau lưng thình lình vang lên giọng phụ nữ khản đặc. “Cậu không thấy áy náy khi vô phép bước vào phòng người khác sao?” Là chủ nhà. Tôi hối lỗi, để chiếc hộp lại chỗ cũ. “Thành thật xin lỗi. Tôi vừa mới tỉnh dậy. Muốn tìm ân nhân cứu mạng để nói lời cảm ơn nên đã tự ý đi quanh nhà.” Tôi định quay lại nhìn mặt ân nhân. “Ở yên đó!” Người phụ nữ bỗng thét lên. Như bị điểm huyệt, tôi đứng bất động, lưng quay ra bà chủ nhà. “Tôi không muốn người khác thấy mặt mình, chẳng vì lý do gì cả. Tôi rất vui nếu cậu có thể giữ nguyên tư thế đó mà nói chuyện.” Ngôn từ lịch sự nhưng lời lẽ chứa đựng một sức mạnh khó tả. Tôi nghe gáy ớn lạnh, áp lực có người đứng sau lưng đè nặng lên tôi. Lời đề nghị của bà lạ lùng thật, song tôi chẳng buồn thắc mắc. Lòng còn bận bối rối và bất an vì bị nhìn từ phía sau. Giá có thể quay lại thì tốt. “Tôi thấy vô cùng khó xử khi quay lưng với ân nhân đã cứu mình trong cơn hoạn nạn thế này. Tôi thật mong bà cho phép tôi được nhìn mặt.” Không có tiếng đáp. Chỉ thấy tiếng quần áo sột soạt, rồi bà ngồi xuống sau lưng tôi. Tiếng động như khẳng định rằng ngay từ đầu người phụ nữ đã chẳng để tâm đến những lời tôi nói. Tôi đành ngồi quỳ, vẫn trong tư thế quay lưng với bà. Người phụ nữ kể lại chuyện đêm qua. Mọi sự đúng như tôi suy đoán. Không nhìn thấy bà nên ánh nhìn của tôi không cố định. Tôi nhắm mắt, dằn xuống sự mất tự nhiên. Không nhìn thấy, tôi càng ý thức mãnh liệt hơn về sự tồn tại của bà chủ nhà. Giọng nói khản đặc của bà đập mạnh vào màng nhĩ tôi. Người phụ nữ này chắc đã có tuổi. Lời ăn tiếng nói mực thước và đầy trang trọng. Nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy trong đó hàm chứa sự sắc lạnh thúc ép người ta theo ý mình. Có thể nói là oán hận. Không hẳn vậy, nhưng chắc chắn có gì đó khiến bà không thoải mái với người đối diện. Tôi giải thích rằng mình gặp tai nạn trong núi, nhọc nhằn tìm lối ra, kết cục lạc tới đây. Căn phòng dần trở nên nặng nề. Không khí xung quanh nơi bà chủ nhà ngồi như đông đặc lại. Da thịt ngứa ngáy, tôi phải ngăn mình không được ngoái đầu. Chúng tôi nói chuyện giây lát. Được một lúc thì bà chủ nhà đứng dậy, bỏ đi. Hình như bà sang căn phòng trong cùng. Tôi bất giác thở phào nhẹ nhõm. “Giờ tôi muốn ở một mình, mời cậu quay về phòng với bạn cho. Cũng tới lúc dùng bữa rồi. Nơi này heo hút nên chỉ có thức ăn đạm bạc thôi.” “Không đâu. Tôi vô cùng biết ơn sự nồng hậu của bà.” Đi khỏi đó tôi mới nhận ra, toàn thân đã vã vượi mồ hôi. Trong phòng, thầy N vẫn đang ngủ. Tôi xỏ giày, quyết định ra vườn. Đây là lần đầu tiên tôi quan sát bên ngoài ngôi nhà, sự cổ kính và bề thế của nó khiến tôi sửng sốt. Không có tầng hai. Đúng là không để tâm không được. Tại sao khi nãy người phụ nữ lại không cho tôi nhìn mặt chứ. Vừa bước trên con đường rải sỏi, tôi vừa nghĩ tới một giả thuyết, song ngay lập tức bật cười, giễu nhại trí tưởng tượng của bản thân. Khi tôi hỏi nhờ điện thoại, người phụ nữ đáp rằng nhà không có thứ đó. “Tôi rất lấy làm tiếc. Nhưng đường xuống núi hiểm trở lắm, cậu khó mà cõng bạn về được. Cho nên cứ ở lại đây đến khi bạn cậu hồi phục.” Quan sát một hồi, tôi thấy nhà cũng không có điện. Rốt cuộc người phụ nữ này sống kiểu gì chứ. Không biết bà có giao tiếp với người dân dưới chân núi không. Sương mù trắng xóa vẫn bao trùm khiến tôi có cảm giác mình đang lạc trong mơ. Ngôi nhà dần bị nhấn chìm trong màn sương. Ấy vậy mà những chiếc đèn đá trước đó tôi không rõ hình thù lại trở nên rõ nét. Đến gần, tôi lập tức hiểu ra. Thứ bao quanh nhà này không phải đèn đá, mà là đá. Đá mang hình dáng con người. Tôi hoảng hốt, bất thần gạt mạnh cửa trượt. Phải chịu tác động không nhỏ, cánh cửa bật ra âm thanh giòn như tiếng pháo. Thầy N tỉnh dậy. Tôi cứ nghĩ thầy sẽ ngơ ngác khi thấy bản thân nằm ngủ trong chăn thế này cơ. Nhưng không, thầy từ từ ngồi dậy. “Có vẻ chúng ta hẵng còn may mắn lắm.” Thầy nói, tay sờ chân phải quấn băng. Tôi kể cho thầy nghe về người phụ nữ kia, “Anh nghĩ sao, anh N? Bà ấy không cho người khác nhìn mặt có phải vì…” “Ý cậu là sẽ bị hóa đá nếu nhìn vào mắt bà ấy hả? Vớ vẩn! Trên đời làm gì có chuyện đó!” Thầy N cười giễu, dập tắt sự hoảng hốt của tôi. Tôi kể về các tượng đá nhìn thấy khi nãy. Thầy N liền liếc ra cánh cửa trượt đang mở. “Ý cậu là, các tượng đá đó vốn là người, nhưng nhìn vào mắt bà ấy mà hóa thành đá ư?” Hai chữ “tượng đá” làm tim tôi run rẩy. “Tượng đá” vốn để chỉ những thứ được tạc từ đá. Liệu có thể gọi những khối đá hình người thấp thoáng trong màn sương mù ngoài kia như thế không? Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là tượng một thanh niên đang sải bước. Cao tầm tôi, bờ vai xuôi. Khuôn mặt không sắc nét nhưng lộ rõ vẻ sầu não. Dáng điệu mệt mỏi. Tạo hình sinh động tới mức khiến người ta liên tưởng rằng, trong lúc vừa đi vừa suy nghĩ, anh ta bị thần linh lấy nhíp gắp lên nhét luôn vào khuôn đá cũng nên. Tôi còn thấy cả cơ bắp ẩn hiện bên trong tượng đá, như thể anh ta vẫn định tiếp tục vừa đi vừa suy nghĩ. Tôi có cảm giác như thế, mà quên bẵng trước mắt mình chỉ là tượng đá. Tôi sờ thử, nước dính đầy tay. Chắc sương mù khiến bề mặt đá ẩm ướt. Tôi thực sự kinh ngạc khi không thấy đàn hồi. Nó làm tôi bất giác nhớ đến mẩu đá nhặt ở bờ sông hồi nhỏ. Nếu số đá ở đây được bàn tay tài hoa nào đó tạc ra, rất có thể chúng có chung nguồn gốc với mẩu đá của tôi. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng tin chắc rằng số tượng đá này không hề được chạm khắc theo cách thông thường. Lại có tảng đá hình người già. Ông lão ngồi xếp bằng trên đất, khuôn mặt nhăn nheo mỉm cười móm mém. Trông như đang nghỉ ngơi giữa lúc làm đồng. Tay phải giơ ngang trán, chắc chuẩn bị lau mồ hôi. Tôi thậm chí tin rằng giọt nước đọng trên bề mặt đá là mồ hôi của ông ấy. Tay phải ông lão chưa chạm vào trán. Nhìn kĩ, tôi phát hiện có kẽ hở nhỏ chỉ đủ lách một tờ giấy mỏng. Nếu tạc từ đá nguyên khối thì không thể làm tinh xảo đến mức ấy. Tôi thậm chí còn thấy được độ lồi lõm của các nếp nhăn, cho tới kẽ hở giữa các ngón tay mà dụng cụ đục đẽo không thể tạc thành. Đá phụ nữ. Đá trẻ con. Vô số tượng đá với đủ tư thế, nét mặt khác nhau. Chúng không đứng lẻ loi, cũng chẳng xếp quá dày. Mỗi tượng đá đặt cách nhau chừng mười bước chân. Có cả đá tạc tỉ mỉ đến từng sợi tóc. Tất nhiên chúng sẽ gãy vụn nếu bị ấn mạnh. Các tảng đá ở đây đều có một điểm chung. “Hầu hết đều không mặc quần áo. Chúng trần truồng.” “Ra vậy. Thú vị thật.” Tôi diễn giải những điều mình nghĩ với thầy N. Nếu ai đó hóa đá, chẳng phải quần áo mặc trên người họ cũng hóa đá theo sao. “Nếu bà chủ nhà đúng là Mắt Đá…” Thì những bức tượng ngoài kia chính là con người, vì nhìn vào mắt bà ta mà hóa đá. Nhưng quần áo thì không, chúng vẫn nguyên vẹn. Theo thời gian, chúng sờn bạc, rách rưới rồi tiêu biến. Cuối cùng chỉ còn lại những tượng đá trần truồng. “Nhưng quần áo làm sao biến mất dễ dàng vậy chứ. Kể cả dãi dầu mưa nắng, tôi không tin chúng có thể bị xóa sạch không còn dấu vết.” Thầy N tỏ ra hoài nghi liệu chủ nhà này có thật là Mắt Đá. “Tôi chưa xem hết các bức tượng nên biết đâu trong số đó vẫn còn tượng mặc quần áo. Nhưng việc tượng trần truồng như vậy chắc chắn phải có lý do.” “Suy luận theo hướng của cậu thì tôi có ý này. Có thể ở đây từng xảy ra hỏa hoạn, quần áo trên tượng cũng vì thế mà cháy rụi.” “Không loại trừ khả năng người phụ nữ đó lấy, tuy tôi không biết để làm gì…” “Cũng có thể. Mà không, chính xác là vậy đấy. Nhất định người phụ nữ sống trong ngôi nhà này đã lấy chúng. Bởi bà ta cần quần áo và chăn màn.” “Tại sao?” “Cậu cũng thấy mà, nhà này chẳng sung túc gì cho cam. Trước mắt có quần áo còn tốt thì bỏ qua sao đành chứ. Lấy làm giẻ lau cũng được. Tấm chăn vá chằng vá đụp này có khi làm từ quần áo của ai đó không chừng. Nhưng trên đời làm gì có Mắt Đá. Cậu quên những điều tôi vừa nói đi nhé.” Chúng tôi vô thức nhìn xuống chăn. Tấm chăn được người phụ nữ khâu tay, chắp ghép từ nhiều loại vải khác nhau. Cả hai không hẹn mà cùng nhìn vào một chỗ. Góc chăn có mảnh vải đỏ. Duy nhất ở đây dùng vải đỏ thêu hoa hướng dương lớn. Chúng tôi từng thấy hình thêu này rồi. Nó giống họa tiết trên chiếc áo mẹ tôi mặc trong tấm ảnh. Chú tôi cũng kể, đêm đó mẹ mặc bộ quần áo màu đỏ. Nếu bà chủ nhà đúng là Mắt Đá, thì mảnh vải này cho thấy mẹ đã từng đến đây. Mẹ đã hóa đá, tới giờ vẫn đứng trong khu vườn kia với nguyên hình hài ngày trẻ. Mảnh vải chính là bằng chứng cho cái chết của mẹ. Thầy N nhìn tôi thương cảm, có lẽ vì đã đoán ra. Nhưng tôi không hề đau khổ. Mẹ đã vượt qua dòng chảy thời gian, có lẽ mẹ sẽ sống mãi với vẻ đẹp thanh xuân tạc vào tượng đá. Suy nghĩ ấy khiến trái tim tôi thổn thức. “Thức ăn đã chuẩn bị xong. Tôi xin phép được mang lên.” Giọng nói khản đặc của bà chủ nhà vang lên ngoài phòng. Tôi kéo cửa trượt, nhưng chắc là bà cất tiếng gọi từ xa nên chúng tôi chẳng thấy bóng dáng đâu cả. Thầy N tính lao ra tìm bà nhưng tôi ngăn lại. Tuy mới nghe giọng nói đó lần đầu, thầy N đã lập tức quả quyết lên tiếng. “Xin tự giới thiệu tôi là N. Mới nãy tỉnh dậy nghe cậu S bạn tôi kể về lòng tốt của bà, tôi thực lòng biết ơn thưa bà. Bà mang thức ăn tới tận đây có phải vì suy nghĩ cho vết thương ở chân tôi không ạ? Nhưng như vậy chúng tôi cảm thấy thất lễ quá. Làm ơn cho chúng tôi được cùng dùng bữa với bà. Được đối đãi như khách quý thế này, tôi khó xử vô cùng.” Thầy N đề nghị ba người ăn chung một phòng. Tôi ra hiệu rằng mình không hề muốn thế. “Tôi muốn tìm hiểu kĩ càng về bà ấy.” Thầy N khẽ đáp, đôi mắt hấp háy. Sau một thoáng im lặng suy nghĩ, bà chủ nhà đồng ý. Tôi có cảm giác bà đã nhìn thấu sự hiếu kì của thầy N. Như thể bà đang thích thú quan sát cuộc chơi của một đứa trẻ từ vị trí cao hơn. “Chắc cậu đã nghe cậu S kể rồi, mong cậu chú ý, tuyệt đối không được nhìn mặt tôi.” Bà chủ nhà chỉ cho chúng tôi phòng ăn rồi quay đi. Tôi thử hỏi cảm nghĩ của thầy N về khí chất sắc lạnh thâm trầm trong giọng nói của bà chủ nhà. Nhưng thầy thong thả đáp rằng chẳng cảm thấy gì cả. Tôi dìu thầy N đi đến phòng ăn. Không biết đây có phải là sự trả đũa đối với ý đồ của thầy N không, mà phòng ăn với phòng chúng tôi ngủ như thể nơi đầu sông nơi cuối sông vậy. Xếp sẵn chờ chúng tôi là hai tấm đệm ngồi trông hơi thiếu thiện cảm đặt trên chiếu cũ mèm. Đệm ngồi bày sát tường. Khoảng cách giữa hai đệm chỉ chừng 30 phân. Ở đó có một tấm gỗ thay mâm, bên trên bày sẵn phần ăn cho hai người. Nếu chúng tôi ngồi ăn thì lưng sẽ quay ra cửa phòng. Có lẽ đó là ý đồ của bà chủ nhà. Chúng tôi hướng mặt vào tường. Anh bạn tôi đau chân nên không thể ngồi quỳ. Trước mắt chúng tôi là tường đất nứt nẻ. Sau lưng có tiếng kéo cửa. Là bà chủ nhà. Không được nhìn. “Thể theo đề nghị của các cậu, tôi đã sắp xếp để chúng ta cùng dùng bữa. Tuy không phải phép cho lắm, nhưng tôi xin được ngồi ăn ở phía sau.” Có lẽ bà ngồi quay lưng về phía chúng tôi. Tôi không chắc. Dù bà ấy đứng đó với một con dao (không phải để nấu ăn), tôi cũng không có gan quay lại. Bị đâm chết cũng chẳng hay biết. Nghĩ vậy tôi căng thẳng vô cùng. Phải chi mình không mặc chiếc áo cổ rộng này. Bữa ăn đầu tiên của chúng tôi ở đây chỉ có món canh rau dại mà tôi nhìn thấy trong nồi khi nãy. Nhạt thếch. Chúng tôi bắt đầu bữa ăn trong không khí kì quái vì phải quay lưng về phía chủ nhà. Không gian lặng như tờ, nghe thấy cả tiếng nhai nuốt món cháo rau nát nhừ đó. Tôi dán mắt vào những vết nứt chạy dọc bức tường. Căng thẳng tột độ. Mồ hôi vã ra không phải chỉ vì đồ ăn nóng. Thầy N và bà chủ nhà cùng im lặng, xem chừng nghe ngóng động tĩnh của đối phương. Tôi cảm thấy ánh mắt họ như tóe lửa dù chẳng hề nhìn nhau. Muốn không phát ra âm thanh thì chỉ còn nước ăn từng chút một. Nếu là người đầu tiên kết thúc bữa ăn, tôi phải đặt bát xuống và làm gì đó. Thật đáng sợ. Lỡ tôi sơ sẩy một chút, sai phạm nhỏ lập tức biến thành giọt nước tràn ly. Biết đâu ham muốn sáng tạo của bà ấy bùng lên, rất có thể hai tượng đá mới sẽ ra đời. May là toàn bộ bát đũa đều làm bằng gỗ. Nếu không tôi sẽ đứng tim vì những tiếng vỡ “choang” chói tai của sành sứ mất. “Cho tôi xin thêm bát nữa.” Thình lình thầy N lên tiếng, phá tan không khí tĩnh lặng trong phòng. Tay cầm đũa khựng lại giữa không trung, tôi nín thở chờ đợi bà chủ nhà hồi đáp. “Có ngay đây.” Tôi cảm nhận được bà đứng lên và lại gần chúng tôi. Bức tường phía trước đột ngột tối đi, in hằn bóng bà. Quả nhiên là có người thật tồn tại. Không phải chỉ là giọng nói. Thầy N vẫn đối diện với bức tường, vòng tay đưa bát ra sau. “Nếu không phiền, tôi mong bà có thể giải đáp một thắc mắc…” Không đợi trả lời, thầy N đã hỏi tiếp. “Bà có phải Mắt Đá không?” Trong thoáng chốc, mọi thứ đều ngưng trệ. Tay tôi cầm đũa không xê dịch một li. “Chà, cứ tưởng chuyện gì, cậu hỏi y chang mọi người vậy.” Bà chủ nhà chẳng mảy may ngạc nhiên, chất giọng lạnh lùng ra chiều thích thú. Tôi ngỡ những lời ấy thốt ra từ một hàm răng trắng bóng ẩn sâu dưới các vết nứt trên tường. “Ý bà là những người khác cũng đặt câu hỏi tương tự?” “Phải.” “Vậy họ sao rồi?” “Phạm sai lầm nho nhỏ, nên giờ bất động ngoài kia cả rồi.” Từng câu từng chữ dội thẳng vào tâm trí chúng tôi như thể ghé sát tai từng người mà nói vậy. “Bà vừa gián tiếp thừa nhận mình là Mắt Đá đúng không? Tôi vẫn cho rằng chuyện như thế chỉ có trong truyền thuyết. Không thể tin lời bà dễ dàng được.” “Vậy cậu muốn đối mặt với tôi không?” Mất một lúc lâu thầy N mới lên tiếng. Không. Nghe xong bà chủ nhà bước ra khỏi phòng, có lẽ đi lấy thêm đồ ăn. Tôi nhìn thầy N. Mắt chúng tôi chạm nhau. “Đúng là bất ngờ nhỉ?” Thầy N mỉm cười ngượng nghịu. “Bà ấy chính xác là Mắt Đá.” “Không, chưa chắc. Mặc dù tôi chưa thấy mặt bà ấy.” Bà chủ nhà mang thêm thức ăn vào. Bà lại đứng sau lưng chúng tôi. Tất nhiên tôi không có mắt sau gáy. Tôi cúi gằm xuống liếc nhìn chân người phụ nữ, cố gắng để không bị phát hiện. Đó là đôi bàn chân nhăn nheo của một người có tuổi. Đôi chân không mang tất, chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như nền đá bị đục đục vào. Đã một tuần trôi qua kể từ khi chúng tôi sống trong ngôi nhà đó và không có bất cứ liên lạc gì với người làng. May mắn thay, thầy N không gãy chân. Thầy có thể tự đi lại nếu chống gậy, nhưng muốn đi đường núi thì vẫn cần tịnh dưỡng thêm nữa. Chờ chút, kể cả chân thầy khỏi hẳn, tôi cũng không định rời khỏi ngôi nhà này. Mục đích ban đầu của tôi - vào núi tìm mẹ - vẫn chưa hoàn thành. Mặt trời lên, ánh nắng nhuộm vàng màn sương. Sương không tan hoàn toàn, vẫn giăng mờ mờ quanh núi. Tôi quan sát từng bức tượng để tìm mẹ. Tượng đá nhiều vô kể. Đã vậy chúng đều không mặc quần áo nên càng khó phân biệt. Để tránh lặp lại, tôi cẩn thận đánh dấu bằng cách vạch chữ S - chữ cái đầu tiên trong tên mình - lên nền sỏi bên chân các bức tượng đã xem. Không dễ để tìm ra mẹ. Một ngày như mọi ngày, sau khi đi qua đi lại trong vườn, tôi vạch chữ S dưới chân một bức tượng rồi ngồi nghỉ. Bức tượng tôi vừa đánh dấu là một cô gái trẻ đang quỳ gối, ngẩn ngơ nhìn hoàng hôn buông. Nếu cô gái mặc quần áo chắc tôi sẽ đoán được thời đại mà cô sống. Gương mặt hiền dịu. Mái tóc dài trước khi hóa đá hẳn vẫn đang tung bay trong gió. Tôi bất giác đưa tay, toan chạm vào mái tóc với từng sợi đẹp đẽ vô cùng. Con người không thể tạc được tác phẩm thế này. Tôi đang lưỡng lự muốn chạm vào suối tóc bằng đá, thì một mảnh nhỏ như kim chợt gãy lìa, rơi xuống nền sỏi. Tiếc quá. Tôi nhìn theo hướng mắt cô gái. Phía trước là một ngọn đồi thoai thoải. Trong màn sương dày, tôi chẳng thấy gì ngoài sỏi đá và vô vàn bức tượng chôn chân trong vườn. Cõi vô thanh kéo dài đến vô tận này, rõ ràng không phải thế giới của con người. Tôi đứng lên, tiếp tục xem xét các bức tượng khác. Hàng nghìn người đứng yên bất động. Tôi không thể quên cú sốc khi lần đầu nhìn thấy cảnh tượng đó. Tôi kiệt sức tìm mẹ giữa mênh mông tượng đá, song lòng cũng dâng đầy cảm xúc. Bên cạnh việc tìm mẹ, tôi còn dò la xung quanh. Nhờ vậy mới biết nơi đây bốn bề là núi và chẳng có đường xuống làng. Có một con đường rải sỏi trước nhà người phụ nữ. Tôi và thầy N đã lần theo nó tới đây. Không biết đầu kia của nó dẫn tới đâu. Con đường vạch một vòng cung lớn, đi qua vách núi nơi tôi và thầy N trượt chân, rồi lại quay về chính ngôi nhà này. Nói cách khác, con đường rải sỏi ôm trọn thung lũng chìm trong sương. Dù đi hướng nào thì cuối cùng cũng tới ngôi nhà này cả. Tôi mất cả ngày trời để đi hết con đường rải sỏi. Một bên là thung lũng, chẳng có gì ngoài đất đá. Nhưng khung cảnh nhạt nhẽo ấy không kéo dài lâu. Đi một hồi liền bắt gặp rừng cây, ruộng lúa rồi ruộng rau. Tôi còn nhác thấy cả hoa màu đã được thu hoạch. Đây chính là khung cảnh tôi đã đi qua khi cõng thầy N trong buổi hoàng hôn ấy. Ngoài thung lũng là sườn núi dốc, cây cối đan thành bức tường dày đặc khó lòng vượt qua. Quả là lồng giam của thiên nhiên, một khi bước vào thì không thể trở ra. Giữa chừng tôi đi qua một cây cầu. Cây cầu ngắn bằng đá, một phần ba phủ kín rong rêu, bên dưới là dòng sông nhỏ chảy xiết. Tôi nhớ có bữa bà chủ nhà đãi cá. Chắc là bắt ở sông này lên. Bà chủ nhà từng nhắc đến đường xuống núi. Rốt cuộc đường đó ở đâu chứ. Bà không chỉ cho tôi biết, viện cớ rằng phải chờ cho chân của bạn tôi khỏi hẳn. Các bữa ăn với bà vẫn diễn ra vô cùng căng thẳng. Nhưng dần dà tôi cũng học được cách thả lỏng và thưởng thức các món ăn. Tôi quỳ ngồi, mặt vẫn hướng vào tường, cầm đào lên ăn. Quanh nhà có năm cây đào đang đúng dịp kết trái. Đào ngọt, không chát, vị rất được. Đôi lúc trong bữa ăn, bà chủ nhà có hỏi chuyện dưới chân núi. Đúng hơn là hỏi thăm chuyện nhân gian. Tôi và thầy N giải thích về sự phát triển của khoa học. Bà chỉ yên lặng lắng nghe. Chúng tôi không rõ bà có biểu cảm gì, không biết một người sống tách biệt trong núi ấn tượng ra sao với thế giới ngoài kia. “Tôi không khỏi ngạc nhiên khi nghe chuyện dưới chân núi. Một cuộc sống đông đúc như hai vị kể là điều tôi khó lòng hình dung được. Hai vị không thấy đáng sợ khi có vô số người cùng sinh sống, chuyện trò như vậy sao?” Tôi kể với bà về mẹ mình. Đằng nào giữ im lặng về chuyện đó cũng không phải cách hay. “Những người tới đây đều hóa đá. Có lẽ mẹ cậu S cũng… Tôi nghĩ cậu nên qua nhà kho đằng sau xem thử. Cửa không khóa. Trong đó cất đồ đạc mà những vị hóa đá ở đây từng mang theo.” Âm thanh nặng nề vang lên, cửa nhà kho mở ra. Không khí quyện nhiều thứ mùi khó chịu, khiến dạ dày tôi như quặn lại mỗi khi hít phải. Tôi nhớ lại nhà kho ở nhà mình. Ngoài các loại máy móc nông nghiệp, trong đó còn bảo quản khoai với hành tây. Rơm rải đầy đất, nhà kho hôi rình. Nhà kho này rộng thênh thang, bên trong tối thui. Không có cửa sổ, ánh nắng không thể lọt qua nên căn phòng kín bưng cho tới khi tôi bước vào. Ánh sáng yếu ớt, mờ nhạt trong sương, len vào qua khe cửa. Đồ đạc lộn xộn chất lên cao ngất, rối nùi. Toàn những món cũ kĩ, tưởng như chỉ chạm khẽ là vỡ tan thành cát bụi. Không gian rộng thế này, ánh mặt trời khó mà chiếu rọi được toàn bộ. Tôi sờ quanh, tìm được nến trên giá để thắp lửa. Đồ đánh lửa thì bà chủ nhà đã đưa cho. Nhà không có đèn điện nên chắc đêm xuống bà đều phải dùng nến. Tôi đi sâu vào kho, lập tức mất phương hướng. Trần cao, không gian tối mù, như mê cung sinh ra từ hố đen vũ trụ vậy. Tìm đồ của mẹ trong ánh nến lập lòe này chẳng khác nào mò kim đáy bể. Vốn dĩ tôi đâu biết mẹ mang theo thứ gì trên người. Rất có thể mẹ bỏ vào núi mà không đem theo gì cả. Và cho dù tìm được đồ thì cũng khó mà biết được mẹ ở đâu giữa biển đá mênh mông ngoài kia. Tôi chỉ có thể chắc chắn rằng mẹ đã từng tới đây. Vì đau chân nên thầy N đợi bên ngoài, tôi mau chóng quay ra tìm thầy. Mặc dù thầy N buộc phải ở yên trong phòng cho đến khi chân lành hẳn, song mấy ngày nay, sự hiếu kì đã thôi thúc thầy đi loanh quanh trong vườn tượng đá. Thầy N chống cây gậy bà chủ nhà đưa cho, nom như gậy của ông tiên. Đến giờ thầy vẫn không tin những bức tượng ngoài vườn vốn là con người. Trong lúc tôi mò mẫm tìm cửa ra thì thình lình nến tắt. Ngọn lửa bùng lên rồi tắt ngúm. Trong giây lát ánh sáng phản chiếu trên thứ gì đó. Tôi sửng sốt như thấy công tắc đèn giữa đống đổ nát. Thứ phản chiếu ánh sáng nằm lẫn trong đống đồ hổ lốn. Một chiếc máy chụp ảnh lấy ngay đời cũ. Có lẽ ánh nến đã hắt sáng lên ống kính của nó. Tôi cố gắng lôi ra xem thì đống đồ phía trên đổ ập xuống. Máy ảnh có dây đeo, móc với một chiếc túi phụ nữ. Vừa nhìn thấy, tôi nhận ra ngay là của ai. Máy ảnh đã hỏng. Trong túi chỉ có một tấm ảnh cũ và hộp phấn trang điểm. Nhưng với tôi, thế là đủ. Hộp phấn có gương. Biết đâu lại có ích, nghĩ vậy tôi mang nó theo. Tôi để ý ngôi nhà này không có gương. Âu cũng là điều dễ hiểu. Tấm ảnh chụp một căn phòng. Người mẹ và đứa trẻ tươi cười. Tôi mơ hồ nhận ra khung cảnh đó. Nhắm mắt lại, từng lời ru quen thuộc của mẹ sống dậy trong tâm trí tôi. Tôi cất tấm ảnh vào trong ngực áo. “Tôi hiểu tại sao cậu lại tin những bức tượng đó vốn là người. Thú thực là nhìn chúng, tôi cũng thấy ghê ghê.” “Vậy ư? Trái lại, tôi thấy cảm động ấy.” Trong phòng riêng, thầy N vừa thay băng vừa nhún vai mỉm cười, “Trước giờ tôi vốn chả thích gì điêu khắc hay tranh tả thực. Nhất là tranh chân dung Picasso hay Beethoven thường thấy trong phòng dạy nhạc. Tôi thích tranh của Fukuzawa Yukichi cơ.” “Nói trắng ra là tiền chứ gì*. Với cả phòng dạy nhạc làm gì treo chân dung Picasso chứ.” Thầy N đang thoa thứ thuốc mà bà chủ nhà đưa cho. Thuốc có vẻ tốt, chân thầy đã bớt sưng. “Tóm lại tôi vẫn chưa tin bà ấy là Mắt Đá. Tuy không mấy am hiểu về điêu khắc, song tôi vẫn giữ quan điểm chỗ tượng đó là do đẽo tạc mà ra. Hầy, nhìn vào mắt rồi hóa đá gì đó chỉ là tin đồn nhảm nhí.” “Chẳng phải anh không dám nhìn mặt bà ấy hay sao?” “Thì đúng thế. Tôi nhát gan ghê cơ. Nhưng kể cả có hóa đá, tôi cũng không tin có Mắt Đá trên đời đâu.” Giờ cơm tới. Thầy N hỏi thăm về sinh hoạt thường ngày của bà chủ nhà. “Những lúc không làm ruộng, tôi luôn ở trong phòng. Tôi mà ở ngoài ruộng thì tốt hơn hết đừng ai bất cẩn bén mảng làm gì. Vì chẳng cứ xa hay gần, nhìn vào mắt tôi là hóa đá hết.” Bà chủ nhà đáp, giọng khàn đặc như mọi khi. Không biết thầy N thấy thế nào, chứ tôi luôn căng thẳng trước mỗi lời bà thốt ra. Nếu quả thật có nữ tu nghe được lời của các vị thần, thì tôi cũng như người đó, lần nào nghe tiếng bà cũng nơm nớp. Thật đáng sợ. Đáng sợ bởi tới giờ vẫn chưa có gì xảy ra, song tôi không biết những ngày tiếp theo sẽ thế nào. “Tôi vô cùng biết ơn bà đã tiếp đãi. Nhờ có thuốc của bà mà vết sưng tấy ở chân tôi đã đỡ rất nhiều. Tuy nhiên, tôi vẫn không tin bà chính là Mắt Đá. Vậy nên tôi muốn thỉnh cầu một điều. Liệu bà có thể biến thứ gì đó thành đá trước mặt chúng tôi không?” Tôi suýt đánh rơi đũa khi nghe đề nghị của thầy N. “Cậu quả là hài hước. Cậu có lường trước hậu quả khi đưa ra đề nghị như vậy không?” “Tôi biết sự tò mò của mình đã khiến bà khó chịu. Tôi xin cam đoan đây là lần cuối cùng tôi làm phiền bà, mong bà lượng thứ cho…” Một hồi lâu sau, bà chủ nhà mới cất lời, “Đã vậy, tôi sẽ cân nhấc. Sau bữa ăn, mời cậu tới gốc đào gần hiên nhà.” Chúng tôi đứng đợi đúng chỗ bà hẹn. Song chẳng thấy bà đâu. “Cứ đứng nguyên như thế nhé, chỉ nhìn về phía cây đào thôi.” Giọng bà chủ nhà vang lên sau lưng. Tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi mỗi lúc một gần. Không được quay lại nhìn. “Sắp sửa có một con chim sà xuống cành đào. Đợi đến khi ấy…” Tôi sẽ biến nó thành đá cho các cậu xem. Tôi nghe thấy giọng người phụ nữ thoảng bên tai. Nghe thấy cả tiếng hít thở. Tôi dán mắt vào cây đào, cố ngăn bản thân không được ngoảnh lại. Đúng như lời bà, một con chim bay tới. Con chim nhỏ với đôi cánh trắng mềm mại nhảy nhót chuyền cành. Lắc lư cái đầu, nó đậu trên một quả đào chín nục. Con chim cất tiếng hót líu lo, rồi mổ xuống quả đào dưới chân nó. Trong một thoáng, con chim nhìn về phía này. Chính xác là nhìn vào mắt bà chủ nhà đứng sau lưng tôi. Tôi chưa kịp hiểu chuyện gì, quả đào đã rơi bộp xuống đất. Vẫn còn nguyên con chim nhỏ đang đậu bên trên. “Bây giờ tôi đi làm đồng. Chân cậu N chưa khỏi hẳn, nên tôi thấy cậu đừng đi lại nhiều thì hơn.” Nói rồi bà rời đi. Tôi và thầy N tìm kiếm quả đào vừa rụng. Con chim đã văng khỏi quả sau khi chạm đất, nhưng trước đó, lúc đang rơi thì không. Ngoài vết mổ của con chim và phần tiếp đất bị giập ra, quả đào không có vấn đề gì cả. Tuy nhiên, con chim nằm bất động đã chuyển màu từ trắng sang xám. Nó đã hóa đá. Tôi thử cầm lên, là đá thật. Đôi cánh mềm mại hóa đá rắn câng, hơi ấm trên cơ thể mất sạch, chẳng còn gì ngoài một cục đá lạnh lẽo. Và nhất là, nó nặng trịch. “Chắc thứ này nặng quá nên quả đào rụng đó. Đột nhiên biến thành đá, cơ thể nhẹ bẫng của con chim liền nặng gấp nhiều lần. Quả đào không chịu được sự biến đổi đó nên mới rụng.” Thầy N điềm nhiên giải thích. “Thế anh đã thừa nhận sức mạnh của bà ấy chưa?” Thầy N có vẻ phiền não, song đôi mắt vẫn lóe sáng. “Thừa nhận ư, không đời nào. Đây chỉ là một giấc mơ. Tôi định chống mắt xem giấc mơ này kéo dài bao lâu. Nhưng tính tò mò trỗi dậy thì biết làm sao được. Mà cậu S này, cậu bảo phòng bà ấy có một chiếc hộp gỗ nhỉ?” “Đúng, hôm tôi mới tỉnh dậy, trong lúc loanh quanh tìm kiếm chủ nhà, tôi đã vô tình bước vào phòng bà. Rồi thấy chiếc hộp gỗ.” “Này, chuyện về Mắt Đá có nhiều dị bản lắm đấy. Tỉ như…” “Ngoài đôi mắt có thể hóa đá đối phương, Mắt Đá còn đôi mắt cất vào trong ngực…” “Hoặc mắt thật bị đâm, Mắt Đá quá đau nên tự biến thành đá.” “Ý anh là chiếc hộp đó cất đôi mắt thật?” “Bà ấy bày biện như thể thờ cúng đúng không? Chắc chắn cái hộp cất giữ thứ quan trọng với bà ấy. Rất có thể là điểm yếu của Mắt Đá, như truyền thuyết thường kể.” Thấy thầy N khấp khởi mừng thầm, tôi liền biết thầy đang nghĩ gì. “Anh định vào phòng bà ấy lục xem chiếc hộp?” “Thì giờ bà ấy đang ở ngoài đồng mà.” Thầy N ra chiều quyết tâm không để lỡ cơ hội. Tôi đút con chim đá vào ngực áo, bước vào phòng bà chủ nhà. Căn phòng vẫn quạnh quẽ như trước, song chiếc hộp đã không còn nằm ở chỗ cũ. “Có đúng phòng này không?” Ngôi nhà có quá nhiều phòng, nhớ không nổi. Nhưng tôi không lầm đâu. Góc phòng có nến và chân nến bằng gỗ. Thiếu mỗi chiếc hộp. Hẳn bà chủ nhà đọc được ý đồ của chúng tôi, nên đã giấu kín hoặc mang nó đi. Thầy N không khỏi lộ vẻ buồn vui lẫn lộn, “Quả nhiên bà ấy không muốn người khác xem thứ bên trong. Háo hức ghê ta.” Thầy ấy kiên định thật. Nếu chỉ có mình tôi tới ngôi nhà này thì không biết mọi chuyện sẽ ra sao. Chúng tôi quay lại phòng mình. Nửa đêm. Thầy N lay tôi dậy khi tôi còn đang mơ màng trong chăn. Trên tay thầy là ngọn nến leo lét. “Gì thế?” “Tôi sẽ thử qua phòng chủ nhà lần nữa. Ban ngày có lẽ bà ấy mang hộp đi làm nên nó không có trong phòng. Nhưng bây giờ bà ngủ rồi. Chiếc hộp chắc chắn ở chỗ cậu nhìn thấy lần trước.” “Bà ấy ngủ trong phòng đấy! Anh dám lẻn vào để xem hộp sao?” “Tôi sẽ cố không làm bà ấy thức giấc.” Tôi ngăn thầy N, “Nguy hiểm lắm! Chân cẳng anh lại như vậy.” “Bà ấy hẳn cũng lớn tuổi rồi. Chắc cũng như ông nội tôi, gõ kẻng bên tai cũng không dậy đâu. Với lại chân tôi khá ổn rồi.” “Tôi không đi đâu đấy.” “Tôi có bảo cậu đi cùng đâu. Cứ chờ tôi thông báo bên trong hộp có gì nhé.” Thầy N biến mất sau cửa trượt. Tôi vùi đầu vào chăn, đợi thầy N quay về. Không ngủ nổi. Trời sáng mà thầy N vẫn chưa quay lại. Sắp sửa tới giờ ăn sáng, tôi đi một mình đến phòng ăn. Tôi có linh tính chẳng lành. Vì đêm qua thầy N không trở về. Chỗ thầy N thường ngồi nay không kê đệm. Suất ăn cũng chỉ có một phần của tôi. Tôi ngồi quỳ, quay mặt vào tường như mọi khi. Phía sau có người tới. Là bà chủ nhà. Việc ở một mình cùng bà khiến tôi sợ hãi. Bà chủ nhà ngồi xuống, nhìn xoáy vào tôi. Tôi biết, vì sau gáy nóng ran như bị một cái bay nóng rẫy áp vào. Nhưng tôi không thể quay lại, chỉ biết dán mắt vào vết nứt trên tường, mồ hôi túa ra. “Tôi rất thất vọng về người đó.” Bà chủ nhà cất lời, hơi thở tôi nghẹn lại, phổi như bị bóp nghẹt. “Tôi đã đối đãi rất mực tử tế, vậy mà cậu ta lại có hành động xấu xa. Tôi quả không còn cách nào khác.” Giọng bà run run nhưng phải tinh lắm mới nhận ra, bởi thoạt nghe chẳng khác gì mọi ngày. Mặt cắt không còn giọt máu, tôi biết bà chủ nhà này bây giờ nguy hiểm đến thế nào. “Anh ấy sao rồi?” “Ồ, tôi tưởng cậu phải đoán được rồi chứ.” Tôi cố gắng không run rẩy, nặn mãi mới thốt ra được một câu, “Tôi muốn nghe chính bà xác nhận.” “Đêm qua cậu ta hóa đá. Kể lể chi tiết cũng chẳng hay ho gì. Thật tình, cậu ta mất trí rồi. Tôi cất công chế thuốc để giúp vết thương của cậu ta mau lành, không ngờ lại bị phản bội như vậy. Nếu biết trước, tôi đã không mời hai người tới đây. Tôi hối hận vì mình quá tử tế.” Từng lời nói của bà như bóp nghẹt trái tim tôi. Bà chủ nhà buộc tội thầy N hồi lâu. Sau đó, bữa ăn bắt đầu mà chỉ có hai người, tất nhiên chúng tôi không đối diện nhau. “Thầy N bất động hiện giờ đang ở đâu?” “Đến trước cửa phòng tôi, cậu sẽ rõ.” Dừng một lúc, bà chủ nhà nói tiếp. “Cậu S này, cậu khác cậu N, tôi tin cậu không phải loại người giẫm đạp lên sự tử tế của tôi. Tôi mong rằng sự việc đêm qua sẽ không ảnh hưởng đến mối quan hệ của hai chúng ta.” Lưng tôi râm ran như có trăm nghìn dòi bọ, tôi cảm nhận được ánh nhìn của bà xoáy vào lưng mình, cánh tay đang cầm đũa cũng nổi da gà. “Nếu sự hiện diện của tôi khiến bà không thoải mái xin bà hãy nói ra. Bây giờ không có thầy N nữa nên tôi sẽ xuống núi một mình.” “Cậu tìm thấy mẹ chưa?” “Chưa.” “Cậu có thể nán lại tới khi tìm thấy mẹ mà. Tôi tin tưởng và sẵn sàng cho cậu tạm trú lâu dài. Hay cậu có gì không hài lòng với cuộc sống ở đây?” “Không, tôi hài lòng lắm. Khí hậu tốt, không gian yên bình, vô cùng dễ chịu. Bà tiếp đãi rất ân cần nữa.” Thú thật, đúng là tôi cảm thấy dễ chịu thật. “Tại sao cậu còn muốn xuống núi? Tôi không phiền nếu cậu ở lại đây luôn đâu.” Không biết tôi có nhầm không, mà giọng nói bình thản của bà chủ nhà như xen chút mãn nguyện. Tôi cắn một miếng đào. Đào ngọt, nhưng tôi đã ngán đến tận cổ rồi. “Ở đây có thể nhìn ra xa đúng không?” Thầy N không trả lời. Sau bữa ăn, tôi đến trước cửa phòng bà chủ nhà thì thấy thầy N ngồi đó, hai chân duỗi thẳng. Tay phải thầy cầm gậy, tay trái giơ ngang ngực. Chiếc gậy không thể rơi khỏi bàn tay đã hóa đá. Mắt nhìn tay trái, thầy nở nụ cười xem chừng mãn nguyện. Có lẽ tay trái thầy đã cầm được chiếc hộp đó. Thầy mở nắp hộp, vô tình đánh thức thứ quái quỷ ngủ say bên trong. Tôi không đành lòng để thầy N trước cửa phòng bà chủ nhà nên đã mất hơn nửa ngày hì hục để di chuyển thầy ra vườn, nơi có tầm nhìn đẹp, mặc dù hầu hết mọi thứ đều chìm trong màn sương dày đặc. Trong số tượng đá ở đây, chỉ có mình thầy N là mặc quần áo. Hôm nay tôi cũng đi tìm mẹ. Mặt đất đầy những chữ S do tôi đánh dấu mỗi khi xem xong một bức tượng. Rất nhanh thôi, tôi sẽ kiểm tra hết tượng ở đây. Tôi sẽ dò hết những tượng đá chưa đánh dấu S để tìm ra khuôn mặt mẹ. Thế nhưng, tôi xem hoài không hết chỗ tượng đá cứ đinh ninh là hữu hạn ấy. Đã một tuần trôi qua, song tôi vẫn còn bắt gặp cơ man nào là tượng không có chữ S. Tôi tưởng mình đã xem hết tất cả, nhưng tượng chưa xem hóa ra vẫn nhiều một cách khó hiểu. Không tìm thấy mẹ, lòng tôi nóng như lửa đốt. Chẳng khác chi một đứa trẻ lạc. Tôi như kẻ mộng du lang thang trong màn sương dày đặc. Những kẻ bất động kia ẩn hiện trong sương như những bóng ma. Chỉ có sỏi và đá. Ở đây gần như không có bóng dáng sinh vật sống, trừ một con rắn lớn thè cái lưỡi màu đỏ, thi thoảng uốn éo giữa những bức tượng. Mệt rã rời, tôi ngồi bệt xuống con đường rải sỏi. Ánh nắng len lỏi trong sương, phủ lên không gian một thứ màu bàng bạc. Nhưng trái tim tôi đen đặc, không có lấy một tia sáng. Phía sau bất chợt vang lên một giọng nói. Là bà chủ nhà. “Đang tính đi làm đồng thì thấy cậu nên tôi ghé vào hỏi thăm. Ngồi bệt xuống thế này hẳn là cậu đã mệt rồi. Cậu gặp được mẹ mình chưa?” “Đủ rồi. Dù tôi tìm mãi, tìm mãi cũng không sao hết được. Khi tôi ngỡ đây là tượng đá cuối cùng thì trước mắt lại thấy một bức tượng khác ẩn mình trong sương. Như thể chúng sinh sôi bằng cách ngưng tụ sương mù xung quanh vậy. Dù trong giây lát, tôi cũng muốn gặp mẹ, muốn thấy mẹ trong hình hài đẹp đẽ vượt qua dòng chảy của thời gian. Nhưng tôi kiệt sức rồi. Tôi nghĩ mình nên quên đi mục đích ban đầu và xuống núi thôi.” “Tôi vẫn cố gắng lo chu toàn ngày ba bữa cho cậu, vậy mà cậu vẫn muốn rời khỏi đây khi chưa tìm thấy mẹ sao? Đâu cần vội vã quay lại nơi đông người đầy rẫy nguy hiểm ấy kia chứ? Cậu cứ xem cho kĩ các bức tượng. Những tác phẩm tuyệt vời như thế chỉ có ở đây thôi. Không gian thanh bình, cảnh sắc tươi đẹp. Không ai là không rung động khi nhìn ngắm những bức tượng này cả. Vậy mà cậu vẫn muốn rời xa chúng ư?” “Tôi đồng tình với bà. Nhưng dưới chân núi tôi còn một người chú. Đó là người thân duy nhất của tôi. Nếu tôi mãi không về chú ấy sẽ lo lắng.” “Cậu S này, tôi rất tiếc, có lẽ tôi không thể chỉ đường cho cậu xuống núi được. Tôi không mong chờ được đền đáp. Nhưng bỏ ngoài tai lời khuyên của ân nhân, một mình tìm đường xuống núi thì thật lố bịch, cậu không nghĩ vậy ư?” Nói rồi, bà im lặng. Như thể chờ xem tôi phản ứng ra sao. Nhưng tôi không định gật đầu. “Cậu không nghĩ thế sao?” Bà chủ nhà hỏi lại. Giọng càng lúc càng chói tai. Thật đáng sợ. “Vâng, tôi cũng nghĩ vậy.” Tôi luôn cố gắng duy trì quan hệ hữu hảo. Thành ra không thể không gật đầu. “Có lẽ tôi đã quá lời, nhưng tất cả chỉ vì muốn tốt cho cậu thôi. Xin hãy thứ lỗi cho sự nhiều lời của tôi. Tôi cũng không định giữ cậu mãi. Nhưng ít nhất hãy để tôi lo cơm nước trong thời gian cậu tìm mẹ. Tôi sẽ chỉ cho cậu đường xuống núi sau khi hai mẹ con đoàn tụ.” Bà chủ nhà đi rồi, tôi tiếp tục tìm mẹ trong màn sương mờ mịt. Tôi có cảm giác mình sẽ chết ở nơi này, chẳng ai hay biết. Tôi nhớ lại từng lời bà chủ nhà nói, trái tim bị bào mòn bởi tuyệt vọng. Chừng nào chưa tìm thấy mẹ, tôi không thể rời khỏi đây ư? Tìm thấy mẹ rồi, bà ấy thực sự để tôi xuống núi chứ? Dường như bà muốn tôi ở lại. Tại sao? Vì cô đơn? Lẽ nào Mắt Đá cũng biết đến cô đơn. Bà chủ nhà muốn giữ tôi lại, nhất định là vì muốn biến tôi thành đá. Bà cũng giống tôi, thấy được vẻ đẹp tuyệt mỹ của tượng đá. Những người hóa đá ở đây chính là bộ sưu tập của bà. Khu vườn là bảo tàng mỹ thuật của bà. Chỉ cần bắt được khoảnh khắc lý tưởng, bà sẽ dùng ánh nhìn giam tôi vĩnh viễn trong vòng tròn thời gian. Tôi cảm thấy nực cười vì những suy nghĩ điên rồ của chính mình. Tôi ngờ rằng con quái vật ấy thực sự mưu tính chuyện đó. Nếu vậy, tính mạng của tôi sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng tôi không có bằng chứng. Trước mắt, không biết bà ấy muốn tạc tượng tôi với hình dáng thế nào. Tìm thấy mẹ rồi, tôi sẽ được giải thoát. Tự trấn an bản thân, tôi tiếp tục dò dẫm trong sương mù. Tôi phát hiện thêm một tượng đá chưa được đánh dấu S. Tượng một người con gái quỳ gối, quay về phía mặt trời lặn. Nét mặt thật dịu dàng. Hai chân tôi mềm nhũn, đầu gối khuỵu xuống. Thật nực cười khi giờ tôi ngồi đây, y chang cô gái kia. Tôi bỗng thấy bức tượng này quen quen. Tôi hầu như không nhớ gì về các tượng đá. Nhưng nét mặt dịu dàng của cô gái này tình cờ đọng lại trong tâm trí tôi. Tôi đã thấy bức tượng này một lần. Mái tóc cô ấy bồng bềnh trong gió. Tôi từng chạm vào và khiến nó đứt gãy. Mảnh đá nhỏ như chiếc kim rơi xuống. Vậy tại sao nền sỏi lại không có chữ S? Nó đã bị xóa. Là bà chủ nhà. Chắc chắn bà ấy biết chữ S có ý nghĩa gì. Bà muốn tôi rối trí tìm đi tìm lại các bức tượng nên đã xóa chữ đi. Có lẽ tượng của mẹ đã bị giấu chỗ khác. Bà chủ nhà bắt tôi tìm hoài ở nơi này, bào mòn sức lực tôi. Bộ dạng bồn chồn, bất an khi tôi không tìm thấy mẹ chính là điều bà ấy mong muốn. Bắt được khoảnh khắc ưng ý, bà sẽ ra tay. Chỉ như chụp một tấm ảnh, bà sẽ ngưng đọng vẻ đau khổ của tôi vĩnh viễn. Nhớ lại khuôn mặt các bức tượng, tôi bất giác rùng mình. Có thư thái nhưng cũng có thống khổ. Tất cả đều do bà chủ nhà tạo ra. Cảm xúc phơi bày trên các tượng đá chẳng phải xuất phát từ ý muốn của bà ấy sao. Bà chủ nhà không chỉ hóa đá con người, mà còn thực hiện đầy khéo léo để có thể tạc ra được những hình dáng lý tưởng. Bà muốn vẻ mặt đau khổ của tôi. Nỗi đau của người con lang thang tìm mẹ trong tuyệt vọng. Một thời gian dài sau, khi tôi định bỏ đi, bà sẽ ngăn tôi lại và tạc thành tượng. Đó là một chiến thuật. Một trò đùa. Bà sẽ treo lên cổ tôi-đã-hóa-đá một tấm thẻ khắc chữ. Chữ gì được nhỉ! “Tuyệt vọng” chăng? Thế là xong bức tượng đau khổ theo ý bà ấy. Chẳng mấy chốc, bà chủ nhà sẽ nhận thấy đến lúc hạ màn rồi. Bà sẽ xuất hiện trước mặt tôi và thông báo trò chơi kết thúc. Tôi phải hành động, trước khi điều đó xảy ra. Đêm xuống. Lạ thay, sương mù tan. Không khí khô lạnh se sắt. Nương theo ánh nến, tôi vào bếp lấy dao. Con dao lốm đốm gỉ sét, không mấy sắc bén nhưng là thứ duy nhất có thể giết người. Chỉ cần lơ đễnh đôi chút, có lẽ tôi sẽ đứng tê dại tại chỗ mất. Không khí ban đêm căng thẳng như biến thành ngàn cánh tay bủa vây, cản bước chân tôi. Kế hoạch của tôi như sau: Cất tiếng gọi bà chủ nhà. Thổi tắt phụt nến. Dùng dao đoạt mạng. Vũ khí của bà ấy là ánh mắt khiến người ta hóa đá. Vì vậy, từ đầu tới cuối tôi phải nhắm chặt mắt. Bà ấy chỉ giỏi sử dụng mỗi đôi mắt thôi. Vả lại sau khi sống ở đây một thời gian, tôi hiểu ra nhiều điều. Bà chủ nhà không có năng lực đặc biệt nào khác ngoài dùng mắt hóa đá mọi sinh vật. Nếu vậy tôi chỉ cần nhắm mắt là được, và bà ấy sẽ chẳng khác gì một bà lão bình thường. Loại bỏ thị lực, tôi và bà hoàn toàn bình đẳng. Tôi sẽ giấu vũ khí trong người. Con chuột một khi bị dồn vào góc tường, chắc chắn sẽ phản ứng bạo liệt hơn. Dập tắt ánh nến, bà ấy sẽ không thấy gì cả. Tôi biết buổi tối bà ấy cũng dùng nến. Tôi tới trước cửa phòng bà chủ nhà, “Thưa bà, tôi là S đây ạ. Đêm muộn còn làm phiền bà, tôi thành thật xin lỗi. Tôi có chuyện muốn thưa với bà.” Tim tôi đập dồn dập. Hơi thở đứt quãng. Tiếng bà từ trong phòng vọng ra, “Chắc phải là chuyện quan trọng lắm nên cậu mới đánh thức tôi đúng không?” “Vâng. Quả là có chuyện quan trọng một lời khó nói hết, trao đổi cách lớp cửa thế này hơi bất tiện, nên tôi mong được gặp bà ở một căn phòng khác. Nếu bà có lòng muốn nghe, xin bà theo tôi được không?” Một lúc sau, bà chủ nhà mới lên tiếng, “Tôi hiểu rồi. Tôi sửa soạn ngay đây.” “Tôi có mang nến, nên bà không cần chuẩn bị đâu ạ.” Tôi vừa quay lưng lại, bà ấy liền kéo cửa bước ra. Đúng như tôi mưu tính, bà không cầm nến theo. Nếu tôi không phải người duy nhất mang nến thì kế hoạch sẽ chẳng thể suôn sẻ. Bà chủ nhà đi đằng sau. Chúng tôi bước trên hành lang nhìn ra vườn. Đêm tối tĩnh mịch, chỉ có duy nhất ngọn nến trên tay tôi là nguồn sáng. Lạ thật, hè rồi mà chẳng thấy côn trùng rả rích gì cả. Tôi biết, người sau lưng vẫn đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi muốn quay lại, bịt mắt bà. Nhưng nếu không cẩn thận, tôi sẽ phải hứng chịu ánh mắt đó. Tôi di chuyển tới căn phòng ở giữa nhà, trông ra khu vườn. Khi nến bị thổi tắt, ánh trăng mờ nhạt xuyên qua cửa trượt không thể chiếu sáng ánh nhìn của bà ấy. Chúng tôi đến căn phòng như tôi dự tính. Tôi đặt cây nến trước mặt, ngồi giữa phòng. Bà chủ nhà ngồi ngay phía sau. Dường như bà không quay lưng lại, đôi mắt đáng sợ nhìn xoáy vào gáy tôi. “Tôi nghĩ mình nên rời khỏi đây.” Bà chủ nhà thận trọng cất tiếng như thể thăm dò, “Tôi thực sự thất vọng khi nghe cậu nói vậy. Cậu vẫn chưa tìm thấy tượng mẹ mình mà, đúng không?” Ẩn sau giọng nói tưởng chừng bình thản ấy là sự khó chịu. Nếu nhắm mắt, có thể mường tượng ra cơn thịnh nộ như cơn sóng lớn, đủ sức nhấn chìm tất cả. Đó là sát khí. Nhưng tôi không có ý định phục tùng. “Trưa nay tôi đã gặp được mẹ mình. Tất cả là nhờ sự tử tế của bà. Tôi không biết phải bày tỏ lòng biết ơn thế nào cho đủ.” Tiếng bà chủ nhà thét lên như xé tan bầu không khí, “Nói dối! Cậu cố tình man trá hòng xin tôi chỉ đường xuống núi, đúng không?” “Không hề thưa bà. Tôi đã thấy mẹ với vẻ ngoài tuyệt mỹ đúng như trong trí tưởng tượng. Giữa biển sương huyền hoặc, nụ cười của mẹ tạc mãi vào dòng chảy vĩnh hằng. Nguyện ước đã thành, cũng đến lúc tôi trở về rồi.” “Vô lý! Tất cả đều là bịa đặt. Kể cả cậu nói thật, tượng đá mà cậu thấy cũng không phải mẹ cậu!” Nếu không giữ vững tâm lý, có lẽ tim tôi sẽ ngừng đập mất. Mồ hôi lăn dài trên má. Chỉ cần dịch chuyển một chút thôi, sợ rằng tình thế cân bằng giữa tôi và bà sẽ sụp đổ. Tôi thậm chí không dám lau mồ hôi. Hệt như đang quỳ trên sợi dây mảnh vắt ngang địa ngục. “Sao bà biết? Hay bà cố tình giấu tượng mẹ tôi để giữ chân tôi lại?” “Thật nực cười. Khi cậu bất tỉnh, tôi đã hết lòng chăm sóc mà không đòi hỏi đền đáp. Và đây là cách cậu báo đáp tôi sao?” Bà chủ nhà càng lúc càng cao giọng. “Thái độ vô ơn, lời nói vô lễ. Tôi sẽ tha thứ nếu cậu xin lỗi ngay bây giờ. Mau thành tâm cầu xin sự tha thứ của tôi. Nếu không, hãy sẵn sàng đối mặt với mọi chuyện đi.” Tôi phẩy tay tắt nến. Không gian chìm trong bóng tối. Bà chủ nhà sửng sốt. Trong đêm tối, tôi tiến hành những điều mình đã tự mường tượng không biết bao lần. Tôi rút con dao giấu trong áo ra, đứng lên. Tôi nín thở, mắt nhắm nghiền. Trò chơi Quỷ bịt mắt hồi nhỏ đây mà. Tôi vẫn nhớ rất rõ. Mặc dù tối thui nhưng tôi biết mình đang đứng chỗ nào trong phòng. Tiếng sột soạt của quần áo cho tôi biết bà chủ nhà đang ở đâu. Tôi vung dao về phía bà ngồi khi nãy. Nhắm vào vùng bụng. Hụt rồi. Bà lao tới túm lấy chân tôi. Cánh tay khẳng khiu như của loài thú xa lạ, nhưng mạnh hơn tôi tưởng, tràn đầy những cảm xúc đen tối như nguyền rủa, hận thù. Tôi sợ hãi, ngã ngửa ra. Nằm lăn trên sàn, tôi mất tự chủ vung dao lên. Khoảnh khắc con dao cắm ngập da thịt bà, tôi cảm nhận được lực đẩy hệt như ngón tay bấu vào quả bóng bay. Lưỡi dao gỉ sét rạch một vết thương toang hoác, con dao đâm lút cán. Đầu dao đụng phải chỗ cứng, chắc là xương. Con dao rời khỏi tay tôi. Bà chủ nhà hét lên như một con thú. Không đứng dậy nổi, tôi cố tháo chạy bằng cách bò về hướng ngược lại với tiếng thét. Mùi máu tanh đặc quánh như nhuốm đỏ trí não tôi. Nhưng đâu đó trong thâm tâm, tôi lại thoáng nhẹ nhõm vì đã kết liễu được bà ấy. Không biết con dao đâm trúng chỗ nào, nhưng chắc chắn để lại vết thương chí mạng. Nếu bây giờ tôi chạy vào rừng, bà ấy sẽ không thể đuổi theo. Tôi nghe thấy tiếng vật cứng va vào nhau lách cách. Ý thức mách bảo đó là thứ nguy hiểm. Tiếng đá lửa. Bà chủ nhà định châm lửa. Lúc này tôi mới biết bà giấu viên đá trong người. Tôi nghe thấy tiếng lửa xèo xèo. Cửa trượt bốc cháy. Ngọn lửa bùng lên, rọi sáng cả căn phòng. Đột nhiên hai má tôi bị bóp mạnh. Tôi vẫn nằm vật trên sàn, bị bà dùng sức bóp nghẹt hai má. Hơi thở phả vào mặt tôi. Trước mắt tôi chính là khuôn mặt bà ta. “Mở mắt ra!” Bà ta hét lớn, khiến tôi choáng váng không thôi. Tôi phải vét chút tỉnh táo còn sót lại để chống cự trước thanh âm dữ dội ấy. Bỗng nhiên tôi nhớ ra, mình còn giữ một thứ trong ngực áo. Hộp phấn của mẹ. “Tôi bảo cậu mở mắt ra!” Giọng nói như vọng lên từ hố sâu. Đôi tay đầy máu của bà chà xát khuôn mặt tôi. Tôi cậy mở hộp phấn, cố gắng để không bị phát hiện. Lòng thầm cầu nguyện sẽ giơ gương trúng mặt đối phương. Chắc chắn bà sẽ hóa đá khi nhìn mắt mình phản chiếu trong đó. Nhưng tôi không thể. Bà giằng được nó ra. Vật lưu niệm của mẹ tuột khỏi tay tôi. Bà chủ nhà ngoan cố dùng sức ép tôi mở mắt. Tôi lắc đầu quầy quậy, vùng vẫy thoát khỏi sự kìm kẹp của bà. Nhưng không được. Nước mắt trào ra. Dù thế nào đi nữa tôi cũng nhất quyết không mở mắt. Thà bị thiêu cháy, bị đâm chết còn hơn là biến thành tượng đá. Tôi nghe tiếng lửa bùng lên trong phòng. Đôi tay bà chủ nhà đã buông tôi ra tự khi nào. Không nghe hơi thở của bà trước mặt tôi nữa. Thật nực cười, giờ đây tôi lại nghe thấy những tiếng ngân nga đầy hoài niệm. Lồng ngực tôi thắt lại. Nghe như bài hát trong bộ phim xưa. Bài hát mẹ ru tôi thuở bé. Tôi quên mất câu chuyện Mắt Đá giả giọng đứa trẻ đã chết để khiến người mẹ ngoảnh đầu lại. Lúc nhận ra cái bẫy thì đã muộn màng. Tôi mở choàng mắt, gọi tên mẹ… Khi tỉnh dậy, thứ đầu tiên đập vào mắt tôi là trần nhà trắng toát. Tôi nằm trên giường, lồng ngực cắm ống truyền. Tôi nhìn xung quanh nhưng không thấy bà chủ nhà đâu cả. Không thấy cửa trượt cháy rụi, chỉ có rèm cửa phất phơ trong gió. Tất cả là mơ sao. Tôi ấn nhẹ lên lồng ngực, vẫn còn đàn hồi. Tôi thở phào vì mình chưa hóa đá. Một lúc sau bác sĩ và y tá bước vào. Thì ra đây là bệnh viện. Nhận được tin báo tôi đã tỉnh lại, trong vòng chưa đầy mười phút chú tôi liền xuất hiện, trên tay là hoa tươi và nhiều đồ dùng khác. Tôi nghe chú kể tường tận mọi chuyện. Đã một tháng trôi qua kể từ ngày tôi và thầy N vào núi. Chúng tôi bặt vô âm tín. Tất cả mọi người tìm kiếm trong tuyệt vọng, đoán rằng chúng tôi đã bỏ mạng đâu đó. Thế rồi họ tìm thấy tôi. Hai ngày trước, mọi người phát hiện ra tôi trôi theo dòng sông, con sông nơi có mẩu đá hình bàn tay mà tôi tìm thấy ngày nhỏ. Tôi được đưa ngay vào bệnh viện và bất tỉnh tới tận hôm nay. Tôi hỏi tình hình thầy N, song chú tôi chỉ lắc đầu buồn bã. Cắm hoa xong, chú đưa tôi một thứ. Một chiếc túi nhỏ. Trái tim tôi đập dồn dập khi mở túi nhìn vào bên trong. “Đây là những thứ trên người con khi mọi người tìm thấy con trên sông.” Con chim đá nhỏ. Chiếc hộp gỗ. Đột nhiên mùi máu tanh nồng xộc lên, tôi như bị ném trở lại căn phòng ngập trong lửa tối hôm đó. Những hình ảnh tưởng đã lãng quên nay quay về, thấp thoáng như pháo hoa tàn. Chú tôi định mở chiếc hộp. Tôi vội vàng ngăn lại rồi hỏi thêm. “Chú này, rõ ràng còn có thứ khác đúng không? Khi cháu được tìm thấy trên sông, chắc chắn bên cạnh còn một khúc đá nữa. Khúc đá hình chân người.” Người mà tôi vẫn đinh ninh là Mắt Đá, thực chất không phải Mắt Đá. Đêm hôm đó khi mở mắt ra, tôi không bị hóa đá, chỉ thấy trước mắt mình là khuôn mặt già nua của người phụ nữ lớn tuổi đang cất tiếng hát ru. Trong đám cháy dữ dội, người phụ nữ đã kể tôi nghe về cuộc đời bà. Ngày trẻ, bà vào núi để quyên sinh. Thế rồi bà tới ngôi nhà gỗ cũ kĩ ẩn mình trong sương mù này. Khi đó Mắt Đá thực sự đã sống ở đây. Mắt Đá định hóa đá bà song không thành công. Cuối cùng tình bạn nảy nở, gắn kết người phụ nữ vứt bỏ thế gian với Mắt Đá sống cô độc giữa rừng núi. Rốt cuộc, tại chốn rừng sâu núi thẳm định làm nơi kết liễu đời mình, bà lại tìm thấy cuộc sống an yên. Bà tình cờ đem theo chiếc máy ảnh chụp lấy ngay. Là một nhiếp ảnh gia, ngay cả khi lựa chọn cái chết, bà vẫn mang máy ảnh bên người. Một ngày nọ bà chụp ảnh Mắt Đá, không nhìn qua kính ngắm. Mắt Đá ngây ngô trước thứ máy móc đó. Và bất hạnh xảy đến. Bà bấm máy, in tấm ảnh ra đưa cho Mắt Đá. Từng đường nét từ từ nổi lên. Mắt Đá thích thú nhìn chằm chằm vào món đồ lạ lẫm. Rồi hóa đá. Nó bị hóa đá bởi chính đôi mắt đầy ma lực của mình trong tấm ảnh. Đôi mắt đã thành đá của Mắt Đá cũng khiến các động vật xung quanh hóa đá nếu lỡ nhìn phải. Để tránh những nguy hiểm không đáng có, người phụ nữ đã đập vụn, chôn cất tượng đá từng là người bạn duy nhất của mình. Kể từ đó, bà đóng giả Mắt Đá, bảo vệ ngôi nhà. Đó là chốn bình yên duy nhất đối với người đã vứt bỏ cuộc sống như bà. Bất cứ kẻ nào có ý đồ phá hỏng thế giới ấy, bà sẽ chìa tấm ảnh Mắt Đá ra, biến họ thành đá. Theo thời gian, người phụ nữ dần già đi. Một ngày nọ, có hai người gặp nạn và lưu lạc tới nơi ở của bà. Tên của một trong hai người khiến bà sửng sốt. Đứa con thơ bà bỏ lại ngày nào giờ đây đứng trước mặt bà, trưởng thành cứng cáp. Đứa con không nhận ra người mẹ nay đã già nua. Nó luôn tin mẹ mình đã hóa đá trong dáng vẻ trẻ trung, mãi mãi xinh đẹp. Nghĩ đi nghĩ lại bà thấy mình quả là một người mẹ ích kỉ, vì công việc mà bỏ bê con cái. Bà không biết nên xuất hiện trước mặt con mình với bộ dạng thế nào. Bà muốn mình mãi mãi trẻ trung trong tâm trí đứa con. Vì vậy bà quyết định che giấu thân phận và cư xử như thể mình là Mắt Đá. Lúc đầu, bà định sẽ rời đi sau khi vết thương của người bạn đồng hành kia lành lặn. Nhưng sau một thời gian chung sống, bà nhận ra mình không đành lòng rời xa con. Bà bỗng sợ hãi với cảnh cô độc một mình nơi hoang vắng. Vì vậy bà tìm cách giữ đứa con ở lại… Đám cháy càng lúc càng dữ dội. Nếu không sớm ra khỏi đây, họ sẽ mất mạng. Con dao găm sâu vào đùi người phụ nữ. Không kịp nữa, bà đã mất quá nhiều máu. Bà khẩn cầu tôi lấy hộ chiếc hộp. Trước khi chết, bà muốn nhìn mặt người bạn Mắt Đá. Có lẽ trong hộp là tấm ảnh của Mắt Đá. Khi hóa đá con chim, hẳn bà đã giấu tấm ảnh trong người và hành động sau lưng chúng tôi. Giữa đám cháy, tôi lao vào phòng bà để lấy chiếc hộp. Bà để nó ở lại vì ngay từ đầu không có ý định hóa đá tôi. Tôi đưa hộp cho bà rồi quay đi. Tôi có thể nghe rõ tiếng thở dài sau lưng mình. Tại sao lại đẹp như vậy? Sao khuôn mặt bạn lại đẹp như vậy chứ! Cuối cùng hơi thở của người phụ nữ biến mất. Bà đã hóa đá. Vết thương bị dao đâm ở đùi hóa thành vết nứt trên tượng. Từ chỗ đó phần chân còn lại rơi ra, lăn tròn trên chiếu. Tôi cố gắng không nhìn tấm ảnh, mà cất lại nó vào hộp. Trước khi chết, hẳn thầy N đã thấy tấm ảnh nằm bên trong. Có lẽ sau khi trộm được chiếc hộp, thầy đã chạy ra khỏi phòng, yên chí ngồi xuống mở hộp ra xem nên mới hóa đá trong tư thế ngồi này. Ánh mắt dừng trên đầu ngón tay, có lẽ trên tay thầy là tấm ảnh ấy. Không biết tự khi nào, tôi đã đứng bên ngoài với đôi chân trần giẫm trên sỏi đá, nhìn chằm chằm ngôi nhà chìm trong biển lửa. Chuyện tiếp theo tôi không nhớ gì nữa. Trong kí ức chập chờn, tôi thấy mình ôm phần chân đã hóa đá của mẹ. Dưới ánh trăng, trong sương mờ, tôi bước chân trần qua những bức tượng đá. Hình như tôi đã lao mình xuống sông. Phải chăng tôi định tự tử. Hay trong cơn hoảng loạn, tôi đã tìm thấy con đường xuống núi bằng cách men theo dòng sông. Thung lũng này được bao quanh bởi một con đường khép kín như vòng tròn. Nếu dòng sông vắt ngang thung lũng thì nhất định phải có hai cây cầu. Nhưng lạ lùng thay, cầu chỉ có một cây. Điều đó chứng tỏ thượng nguồn dòng sông nằm trong thung lũng, hoặc dòng sông đem nước đổ vào vùng đất này. Nhưng chẳng giả thiết nào đúng cả. Không gian kết nối một cách kì lạ. Rốt cuộc dòng sông chính là cửa ra của chiếc lồng. Nếu ví thung lũng này như tử cung thì dòng sông chính là âm đạo. Mẩu đá mà tôi nhặt ven sông hồi nhỏ chính là từ nơi này trôi xuống. Trước khi mọi người phát hiện tôi trôi trên sông, có lẽ cẳng chân hóa đá tôi ôm theo đã rơi mất, không tìm thấy nữa. Tôi được chuyển phòng. Đứa trẻ giường bên khen con chim đá đặt cạnh tôi. Kì diệu quá, trông nó như đang sống vậy. Tôi tặng thằng bé con chim, đổi lại nó cho tôi xem bức tranh vẽ mẹ. Bức tranh màu sáp đậm chất con nít, nhưng đẹp hơn mọi bức tôi từng vẽ. Tôi bảo rằng mình là giáo viên mỹ thuật. Thằng bé liền hỏi làm thế nào để có thể vẽ mẹ đẹp hơn. Tôi bèn đáp, đừng đặt nặng xấu đẹp, chỉ cần gắng hết sức vì mẹ, khiến mẹ vui lòng, vậy là đủ rồi. Sau khi rời viện, ngày ngày tôi đều lang thang bên bờ sông. Thỉnh thoảng tôi lại nhớ về ngôi nhà cháy rụi cùng người phụ nữ luống tuổi đó. Ngạc nhiên làm sao, lòng tôi dâng lên nỗi nhớ nhung. Hiện tại, tôi không biết có nên mở chiếc hộp gỗ ra hay làm gì với nó không. Trước khi chết tôi cũng muốn nhìn thử người trong tấm ảnh ấy. Cũng muốn hóa đá. Nhưng bây giờ thì chưa. Tôi vừa rảo bước vừa dán mắt xuống lòng sông. Người hàng xóm thấy vậy bèn hỏi tôi đánh rơi gì à. Tôi đáp rằng mình đang tìm cẳng chân của mẹ. HAJIME Kizono bước vào quán cà phê, trễ hẹn một chút. Lâu rồi mới gặp nhau, tôi thấy hơi ngượng ngùng. “Sắp tới giỗ đầu của Hajime rồi. Chúng ta có nên mua hoa và đến thăm nơi nó mất không?” Tuần trước, tôi nhận được điện thoại của cậu bạn Kizono Atsuno. Ngày này năm ngoái. Hajime qua đời vì tai nạn. Chiếc xe buýt chở nó va chạm với một xe tải trên cầu. Xe buýt văng khỏi cầu. Hầu hết hành khách đều không qua khỏi. Duy nhất một đứa bé sống sót một cách kì diệu. Tôi biết rất rõ cây cầu nơi xảy ra tai nạn. Một cây cầu khá cũ với rào chắn thấp. Chính vì thế xe buýt mới rơi xuống sông. Đến giờ tôi vẫn giữ những bài báo về vụ tai ngày ấy. Trong danh sách nạn nhân có tên Hajime. “Nếu có ngày tớ gặp bất trắc, qua đời chẳng hạn, tớ sẽ không chết như người bình thường đâu. Nên cậu đừng buồn nhé.” Hajime từng nói như vậy. Tôi gặp nó lần đầu là hồi học lớp Bốn. Hồi tiểu học, mọi người gọi tôi là Nhóc Xó, nghĩa là đứa trẻ ngồi trong góc. Tôi thích ngồi gần cửa sổ. Thi thoảng bị chuyển chỗ, phải ngồi ở giữa lớp, tôi cảm thấy rất bất an. Kể cả lúc chụp ảnh hay đi bộ trên đường, tôi đều cố tránh vị trí trung tâm. Tôi ghét sự nổi bật. Trong mắt giáo viên, tôi là một học sinh chăm ngoan. Điểm số trên trường không tệ nên chẳng mấy khi bị thầy cô để ý. Bạn bè cũng nhận xét tôi là một đứa nghiêm túc và chăm chỉ. Lạ lùng thay, tôi có cảm giác mình phải cư xử giống những gì người khác nghĩ về mình. Cách nghĩ đơn thuần của tôi đã bắt nguồn từ đó. Hồi ấy, tôi luôn phải dốc hết sức lực để không rơi vào tầm ngắm của giáo viên. Nhưng rốt cuộc, trái đất hình tròn làm sao chừa cho tôi góc khuất chứ. Một ngày nọ, tôi bất đắc dĩ trở thành tâm điểm của cả lớp. Đó là năm tôi học lớp Bốn. Lớp tôi phụ trách chăm sóc đàn gà của trường. Hằng ngày cứ chiều đến, chúng tôi sẽ cho gà ăn và mỗi tuần thì dọn chuồng một lần. Công việc nhẹ nhàng, có mỗi việc cuối tuần phải đến trường cho chúng ăn là hơi phiền. Lớp tôi chia làm sáu nhóm, hằng tuần luân phiên nhau chăm sóc đàn gà. Mọi người đều chê chuồng gà hôi, không muốn động đến. Trong chuồng toàn phân, tụi con gái thậm chí chẳng dám bước vào. Thành thử công việc chăm sóc đàn gà gần như do con trai phụ trách hết. Đã vậy, nhiều khi chăm gà xong chúng tôi còn bị tụi con gái xua đuổi “Hôi rình, đừng có lại gần”. Tôi chịu khó chăm đàn gà lắm. Tôi vốn yêu động vật, vả lại cũng không muốn phụ lòng thầy cô. Từ khi gắn bó với đàn gà, tôi dành rất nhiều tình cảm cho chúng. Tôi có thể vỗ ngực tự hào rằng không ai yêu thương lũ gà con hơn tôi. Phải đến phân nửa lớp còn không biết tới sự tồn tại của chúng. Ngày nọ, tôi được phân công dọn vệ sinh chuồng gà. Đáng lẽ đây là công việc của cả nhóm, song mọi người vờ như không biết, lẳng lặng bỏ về. Công việc dọn chuồng không đến nỗi quá nặng nhọc hôi hám. Tôi cũng chẳng phát khóc vì phải làm một mình. Thật ra không phải cả nhóm đều bỏ về hết. Vẫn còn một cậu bạn ở lại phụ tôi. Tên cậu ấy là Kizono Atsuo. Đó là năm đầu tiên tôi và Kizono học chung lớp. Cậu ấy thấp bé, răng hô, đeo cặp kính gọng đen. Ngoài mặt cảm ơn cậu ấy đã ở lại giúp đỡ, song trong lòng tôi không khỏi cảm thán “Đúng là bề ngoài điển hình của người Nhật trong mắt người nước ngoài”. Trước đó cả hai chưa từng trò chuyện cho ra hồn, trừ một lần tôi cho cậu ấy mượn vở chép bài. Trong lúc Kizono đi lấy vòi nước để xối phân gà trên nền đất, tôi đã vô tình giẫm chết một chú gà con. Tôi sốc nặng. Không biết phải làm sao, tôi nhặt xác gà con lên, nhét vội vào túi quần. Kizono trở lại, thấy sắc mặt khác thường của tôi liền hỏi thăm “Sao vậy?”. Tôi không nhớ mình trả lời thế nào nữa. Công việc dọn dẹp kết thúc, chúng tôi báo cáo với giáo viên rồi trở vào lớp lấy cặp. Tôi cứ ngỡ mọi chuyện chỉ là một cơn ác mộng, cho đến khi chạm vào cái xác lạnh ngắt của gà con trong túi quần. Thất vọng não nề. Kizono về rồi, trong lớp chỉ còn mình tôi đứng trân trối không biết phải làm sao. Sau đó, một giọng nói xấu xa vọng lên từ sâu thẳm lòng tôi, “Vứt đi. Thả nó xuống kênh ngầm thì không ai biết đâu.” Thị trấn nơi tôi sống có một kênh đào cũ bằng đá. Vốn là kênh đào thủy lợi nhưng nay đã bỏ hoang, nằm yên dưới lòng đất như tổ kiến khổng lồ. Lòng kênh khá rộng, người lớn bình thường có thể đi vừa. Kênh ngầm từng được nghiên cứu khảo sát bên trong, hình như vì lưu giữ giá trị lịch sử gì đó. Khi tôi vào tiểu học, nghe đâu người ta không khảo sát nữa mà định làm đường đi qua nhưng không thành. Tuy nhiên cư dân không ai rõ lối vào kênh ngầm ở đâu. Đã từng được khảo sát bên trong thì dứt khoát phải có lối vào chứ. Song chẳng ai hay biết, cũng không có ghi chép gì cả. Thành thử mọi người đều biết có kênh ngầm, nhưng chưa ai tận mắt nhìn thấy bao giờ. Kênh đào thủy lợi khổng lồ không rõ lối vào ấy được mọi người gọi tắt là kênh ngầm. Tôi xé trang cuối của quyển vở, gói kín xác gà con. Khi ấy tôi không đủ tỉnh táo để hiểu rằng rãnh thoát nước không dẫn ra kênh ngầm. Tôi nhét xác gà con xuống rãnh thoát nước ở chỗ rửa tay rồi bỏ chạy. Không cả dám dừng lại hay ngoái đầu. Thật đáng sợ! Ngày hôm sau tôi chỉ muốn ở nhà, nhưng không đủ can đảm để bùng học. Tôi nặng nhọc lê bước tới trường. Mọi người đã phát hiện gà con gói trong trang vở. Bạn học xúm xít xôn xao quanh xác nó. Tôi cố gắng bình tĩnh. Một bạn thốt lên, “Kinh khủng quá! Ai đã gây ra chuyện này cơ chứ. Xác gà con bị nhét xuống rãnh nước ở chỗ rửa tay đó!” Tôi thậm chí còn tỏ vẻ sửng sốt. Sau cùng, một cậu bạn rất có tiếng nói trong lớp, giỏi thể thao, vô cùng nổi bật, người người ngưỡng mộ, đã đứng ra tuyên bố “Truy tìm thủ phạm nào”. Các bạn khác cũng nhiệt tình hưởng ứng. Lòng tôi không khỏi thảng thốt. Một số bạn có thái độ xấu đã bị liệt vào danh sách kẻ tình nghi. Nhưng rốt cuộc mọi người đi đến kết luận rằng chỉ có thể là tôi hoặc Kizono, hai người hôm qua ở lại sau cùng để dọn dẹp chuồng gà. Ai đó lên tiếng “Bạn Kohei không thể là người giết gà con được”. Trong mắt mọi người, tôi là học sinh ngay thẳng và ngoan ngoãn. Nhưng ấn tượng về Kizono Atsuo thì khác. Lúc nào cậu ấy cũng luộm thuộm, đồng phục thể dục có khi mấy tháng chẳng chịu đem về, hôi rình. Thể thao phọt phẹt, học tập làng nhàng. Thành ra mọi người đều cho rằng Kizono chính là người gây chuyện. “Kizono, hung thủ là cậu đúng không?” Một bạn nữ lên tiếng. Tức thì mọi người trong lớp đồng loạt chĩa mũi nhọn về phía Kizono, “Đồ độc ác! Gà con tội nghiệp!” Một số bạn nữ còn khóc lóc thương xót cho cái chết của gà con. Lúc này đây tôi không thể thú nhận rằng mình là thủ phạm. Tuy không mấy thân thiết với Kizono, nhưng tôi vô cùng áy náy vì đã đẩy cậu ấy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan này. Trước làn sóng ồn ào dâng lên đến đỉnh điểm, Kizono Atsuo gãi đầu nói, “Trước giờ mấy người có ngó ngàng gì đến chuồng gà đâu, sao hôm nay tự dưng tỏ vẻ yêu thương động vật thế?” Sau đó, nhờ một bạn lý trí trong lớp lên tiếng mà Kizono thoát khỏi công kích. Bởi không đủ chứng cứ kết tội Kizono nên cần công khai điều tra thêm. Tôi và Kizono bị triệu tập tới gặp giáo viên chủ nhiệm. Trên đường đi, Kizono hỏi thẳng tôi, “Kohei đã làm chuyện đó, đúng không?” “Cậu, cậu nói gì cơ?” “Trước đây cậu từng cho tớ chép bài còn gì. Giấy gói xác con gà giống y như giấy trong vở cậu. Màu của dòng kẻ ấy.” “Thì sao chứ!” “Thế đưa quyển vở của cậu đây. Để tớ xem xem vở có bị xé không.” Tôi chấp nhận khai hết với Kizono. Cậu chăm chú lắng nghe, không buồn thương, không trách mắng, hệt như đang xem lại một chương trình đã phát trên ti vi. Tôi hứa sẽ thú nhận mọi chuyện với cô giáo. Vì đằng nào Kizono cũng tung chuyện này ra với mọi người. Nếu thú tội trước thì ít nhiều còn được giảm nhẹ hình phạt, có khi giáo viên còn thông cảm cho tôi sau khi nghe chuyện xong. Đối với những đứa trẻ tiểu học chúng tôi, giáo viên là người lớn mà. “Kizono Atsuo này, sao em lại giết gà con chứ?” Vừa bước vào phòng giáo viên, chúng tôi đã nghe thấy giọng nói nghiêm khắc của cô chủ nhiệm Sanda. Cô Sanda là một người yêu động vật và được nhiều học sinh quý mến. Cô Sanda đưa ra ý kiến như sau. Hôm qua, người cuối cùng ở lại chăm sóc lũ gà là tôi và Kizono. Một người ngoan ngoãn và yêu động vật như tôi không thể là thủ phạm. Nên cô quy kết Kizono Atsuo chính là người gây chuyện. Chẳng khác gì kết luận của các bạn cùng lớp. Tôi không ngờ cô giáo lại có cùng suy nghĩ với tụi học sinh lớp Bốn như vậy. “Làm sao Kohei có thể giết gà con được chứ! Em hãy nói thật đi, Atsuo!” Câu nói của cô Sanda làm tôi rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Tôi không thốt nổi lên lời, chỉ đứng đó run bần bật. “Không phải em.” Kizono kiên quyết phủ nhận. Bây giờ tôi đang nghĩ chính mình cũng không thể hé răng thú tội được, Kizono đã lập tức tiếp lời. “Cũng không phải bạn Kohei.” “Hả?” Cả cô Sanda và tôi đều sửng sốt. Kizono bảo rằng, khi ra về cậu trông thấy có người đi vào chuồng gà, “Người đó không phải bạn Kohei. Chắc chắn người đó đã giết gà con và vứt xác nó xuống cống.” Kizono nói dối để che đậy giúp tôi. Trong suốt mười năm cuộc đời, đây là lần đầu tiên tôi gặp một người tuyệt vời đến thế. Thâm tâm tôi tràn đầy biết ơn. “Thật ư? Nhưng làm sao cô tin em được?” “Em cũng trông thấy. Chắc chắn là người đó…” Thấy tôi đồng tình với Kizono, cô Sanda có vẻ tin tưởng hơn hẳn. Cô hỏi chúng tôi người giết gà con trông như thế nào. Thật ra tôi và Kohei đâu nhìn thấy ai, nên đành miêu tả theo trí tưởng tượng của mình. Bạn ấy tóc ngắn, mặc áo len trắng và quần soóc. Cao cỡ chúng tôi. “Các em có biết là học sinh lớp nào không?” “Không ạ, hình như không phải học sinh trường mình. Nhưng em hay bắt gặp bạn ấy quanh khu nhà em.” “Bạn ấy tên gì?” “Hình như là Hajime ạ. Hajime. Bạn ấy là con gái.” Thủ phạm giết gà con là một bạn nữ! Sự thật khủng khiếp nhanh chóng lan khắp trường. Làm gì có sự thật nào như thế, ngoài lời nói dối của tôi và Kizono, và cũng chỉ hai chúng tôi biết điều đó. Vả lại không cần biết chân tướng ra sao, chỉ riêng tình tiết vụ việc đã đủ kích thích trí tò mò của các học sinh trong trường. Tại sao người giết gà con không phải con trai mà là con gái. Tại sao thủ phạm tên Hajime kia không bị bắt (đương nhiên rồi)… Cứ thế, học sinh trong trường truyền tai nhau không biết bao nhiêu giả thuyết lẫn lời đồn. Nghe đâu Hajime là ma cà rồng, giết gà để hút máu. Không biết từ khi nào Hajime đã biến thành một người có hai răng nanh sắc nhọn. Thoạt đầu tôi và Kizono bị vây quanh suốt vì là hai nhân chứng duy nhất nhìn thấy Hajime. Mỗi lần bị bạn bè hay anh chị khóa trên hỏi, chúng tôi đều phải đính chính rằng Hajime không hề có răng nanh. Hajime vốn không tồn tại nên có răng nanh hay không cũng chẳng quan trọng. Nhưng chúng tôi luôn phải làm rạch ròi vụ răng nanh này. Nhiều đứa trong trường còn nói “Tớ cũng thấy Hajime rồi”. Theo lời chúng kể, Hajime luôn làm việc xấu. Bẻ gãy cây trong vườn nhà người ta, vẽ bậy lên ô tô, ăn cắp đồ trong cửa hàng… Dứt khoát Hajime không bẻ cành hay vẽ bậy lên ô tô. Chắc chắn là do lũ trẻ sợ bị la mắng nên đổ lỗi cho Hajime. Giống như tôi vậy. Tuy nhiên, những chuyện tương tự ngày một nhiều lên, cái tên đầy tai tiếng Hajime cũng vì thế mà lan rộng. Không chỉ trong trường chúng tôi, cả khu vực quanh trường, không ai không biết đến Hajime. Thầy cô và phụ huynh cố gắng tìm kiếm đứa trẻ có tên Hajime nhưng không thể. “Nhỡ có người tên Hajime thật thì toi đó.” Kizono thở ra. Tôi tặc lưỡi. Vì những chuyện như vậy mà chúng tôi đã thân thiết với nhau tự lúc nào không hay. Chừng một tháng sau vụ lùm xùm của Hajime, trường học cuối cùng cũng yên bình trở lại. Tôi và Kizono, trước giờ hay bị vây quanh vì là nhân chứng của vụ việc, cuối cùng cũng có thể quay lại làm các thành viên bình thường trong lớp. Song những lời đồn về Hajime vẫn tiếp diễn. Rằng Hajime vẫn có những hành động xấu xí hết lần này đến lần khác. Tóm lại, hình tượng một đứa trẻ thích phá phách như Hajime là một sự tồn tại tuyệt vời để những đứa trẻ khác đổ vấy khi phạm lỗi gì đó. Kì nghỉ hè của tôi là chuỗi ngày dài lười biếng. Cả ngày tôi chỉ lăn lộn trên giường hết xem hoạt hình, lại lắp ráp mô hình rồi ngắm nghía mớ đồ chơi quái thú, thành ra bị mẹ nổi quạu suốt. Những lúc như vậy tôi thường đạp xe qua nhà Kizono. Nhà của Kizono vừa rộng lại vừa đẹp, lúc nào cũng thoang thoảng hương thơm. Mẹ cậu rất ưa nhìn, hơn hẳn mẹ tôi. Phòng Kizono treo cơ man nào là ảnh, đều là ảnh cậu tự chụp. Trong đó có cả một tấm ảnh chụp mèo khiến tôi vô cùng ghen tị. Cả tôi và Kizono đều là con một, nhưng cậu được cho nhiều tiền tiêu vặt hơn. Tôi bực tức vì thua kém mọi mặt nên cố tìm ra điểm hơn cậu ấy. “Cậu không nuôi thú cưng à?” “Ngày trước tớ từng nuôi mèo nhưng nó mất rồi.” Bấy giờ nhà tôi có nuôi chó nên tôi thầm nhủ mình đã thắng. Tất nhiên chỉ một chút. Một chiều hè nọ, chúng tôi dừng xe ven bờ sông, ngắm dòng nước chảy. Thị trấn tôi sống khá lớn, có phần cổ kính lâu đời. Mưa nhiều nên sông ngòi phong phú. Bây giờ mọi thứ đã được bê tông hóa nhưng nghe nói hồi chúng tôi còn chưa ra đời, thời Edo thì phải, nơi này thường xuyên ngập úng. Có người nói kênh ngầm thực chất là để chống lụt. Nhưng chẳng có kết luận cuối cùng, nên không rõ người tạo ra nó là ai, nhằm mục đích gì. Cũng có khi người ta đào nó để xử lý nước thải vì dân cư đông lên. Đó là những gì tôi còn nhớ sau khi học xong giờ lịch sử địa phương. Nhưng với một học sinh tiểu học thì lý do tồn tại của con kênh chẳng mấy quan trọng. Điều tôi quan tâm hơn cả là lời đồn đáng sợ về nó. Rằng có người từng tìm đường vào kênh, bị lạc, không thấy lối ra, vĩnh viễn mắc kẹt bên trong. Rõ ràng miệng kênh ngầm chỉ ở đâu đó trong thị trấn, thế mà chẳng ai hay biết nó ở đâu. Nhưng chúng tôi đã tìm ra. Hôm ấy, vừa ngắm dòng sông, chúng tôi vừa nói chuyện về Hajime. “Hajime biết rất rõ về kênh ngầm. Biết cả lối vào luôn. Nó thuộc làu bản đồ của kênh nên có đi trong bóng tối cũng chẳng lạc được. Kênh ngầm như căn cứ bí mật của nó vậy.” Phần lớn các đặc điểm của nhân vật tên Hajime đều do chúng tôi dựng lên. Ban đầu tưởng chỉ là trò giết thời gian, nhưng chẳng biết tự khi nào chúng tôi đã tưởng tượng về Hajime một cách vô cùng nghiêm túc. “Hajime luôn mặc quần soóc kể cả mùa đông.” “Bên trên thì mặc áo len, lông trên áo bị xù nhiều lắm, tay áo lấm lem vì hay lau nước mũi.” “Nó hơi cục tính, có lẽ là tại môi trường giáo dục. Số nó khổ nhiều vì bố mẹ.” Ngoài ra còn đủ thứ chuyện như Hajime sinh vào mùng 1 Tết, thường nhai kẹo cao su hương việt quất, trạc tuổi tôi và Kizono. Tất cả đều được thêu dệt từ trí tưởng tượng của chúng tôi, dần dà làm nên một Hajime sống động, đầy đủ nhân dạng. Tôi thử tạo ra chi tiết “Hajime rất thích bóng chày nên lúc nào cũng đội mũ bóng chày”. Ngạc nhiên là chi tiết đó hoàn toàn trùng khớp với Hajime trong trí tưởng tượng của tôi, khiến tôi không thể ngừng nghĩ về nó. Tôi định kể ngay với Kizono nhưng cậu không ở bên cạnh. Tôi nhìn quanh, thấy Kizono đang đi bộ dọc dòng sông xuống hạ lưu. Tôi gọi với theo nhưng cậu không dừng lại. Hình như Kizono định đuổi theo hộp các tông đang trôi trên mặt nước. Chiếc hộp trôi thêm khoảng 50 mét thì mắc vào trụ cầu. Cây cầu khá bé, bề ngang rất hẹp. Khung cảnh xung quanh ảm đạm, cỏ dại mọc đầy vì không mấy người qua lại. Chúng tôi chui xuống gầm cầu. Cỏ dại ngập lối khiến chúng tôi bước xuống khá khó khăn. Tôi không hiểu tại sao mình phải chui xuống đây, nhưng Kizono lại có vẻ rất hứng thú với cái hộp. Dù khó hiểu nhưng tôi không truy hỏi nguyên do, mọi sự chỉ rõ ràng khi chúng tôi lên cấp ba. Dưới cầu có một cái bục bằng bê tông. Chúng tôi đứng đó, săm soi chiếc hộp. Kizono mở hộp mà tay run run, làm tôi mong đợi bên trong cất giấu thứ gì thật khủng khiếp. Nhưng Kizono thở phào nhẹ nhõm, lau mồ hôi trên trán. Không có gì bên trong cả. Nếu Hajime ở đây, hẳn nó sẽ thất vọng thốt lên. “Tớ tưởng bên trong có xác chết cơ.” “Tớ cứ nghĩ bên trong có xác chết cơ.” Kizono thừ người lẩm bẩm. “Tớ dám cá Hajime cũng sẽ thất vọng mà nói vậy đấy.” Chúng tôi thở dài, nhìn quanh một lượt. Mặc dù giữa trưa nhưng gầm cầu khá tối, gần sát mặt nước nên không gian rất mát dù là ngày hè. Bức tường bê tông ngay dưới cầu có một lỗ thủng lớn hình bán nguyệt. Chúng tôi nhanh chóng chui vào, bên trong có vẻ sâu và tối thui. Sau khi đi bộ vài bước, chúng tôi trở ra. Không mất nhiều thời gian, chúng tôi đoán đó là lối vào kênh ngầm. Cả hai tìm ra miệng kênh ngầm nhanh chóng đến không ngờ. Nhưng đây là bí mật của hai đứa, chúng tôi sẽ không tiết lộ với ai hết. Từ đó về sau, mỗi lần đi chơi tôi lại sang cửa hàng gần nhà mua kẹo rồi lang thang ra chỗ gầm cầu. Kizono đã nằm dài ở đó. Thấy tôi, cậu sẽ vẫy tay, “Ê tới rồi à!” Kì nghỉ hè của chúng tôi trôi đi như vậy. Tất nhiên chúng tôi đã thử đi vào kênh ngầm. Bên trong tối thui nên phải cầm đèn pin theo. Lòng kênh vừa rộng vừa cao. Đủ cho hai, ba người lớn dàn hàng ngang đi lại vẫn thoải mái. Kênh đào dẫn tới trung tâm thị trấn bằng một đường hầm kéo dài hình bán nguyệt. Đúng như bài học trong giờ lịch sử địa phương, các bức tường đều xây bằng đá. Nhưng lỏng lẻo cũ kĩ cả rồi, không biết đã trơ gan ở đây qua bao nhiêu năm tháng. Lòng kênh rất mát. Mỗi khi có tiếng động, bốn bề lại dội lên những tiếng ong ong. Nền phủ một lớp cát mỏng và khô. Đôi lúc thấy cả rác. “Khi mực nước sông dâng lên, nước tràn vào đây sẽ mang theo rác.” Kizono nói. Thị trấn này nhiều mưa nên cảnh nước sông dâng cao cũng không phải hiếm. Sau một đoạn đường thẳng dài, cuối cùng trước mặt chúng tôi xuất hiện một ngã ba. Ngoảnh đầu lại, thấy lối vào giờ chỉ còn là một đốm sáng. “Sao người ta làm ra thứ này được nhỉ!” Tôi còn đang cảm thán thì bị Kizono giội ngay một gáo nước lạnh. “Ở Paris có kênh ngầm dài những 2000 kilomet đấy. Hơn nữa còn được xây dựng từ hơn trăm năm trước. So với nó thì kênh ngầm này chỉ như một tổ kiến thôi. Mà trong đây không có nước thải nên gọi là kênh ngầm cũng không chính xác lắm nhỉ.” Kizono đúng là một người khó lay chuyển. Cậu bạn này, học hành thì bết bát mà toàn biết những chuyện đâu đâu. Sau đó chúng tôi quyết định trở ra. Cả hai không mang đủ vật dụng để thoải mái khám phá trong kênh ngầm. Vẫn còn quá sớm để làm điều đó. Chúng tôi chỉ mang mỗi đèn pin, đường đi lại nhiều ngã rẽ nên dễ lạc. Không ai bảo ai song chúng tôi đều chung suy nghĩ như vậy. Nếu Hajime ở đây, hẳn nó sẽ lêu lêu “Đồ nhát gan”. Nhưng đành chịu thôi. Lúc dợm bước quay về, tôi nghe bên tai văng vẳng, “Đồ nhát gan!” Chính là giọng Hajime mà tôi đã tự tưởng tượng không biết bao lần. Tất nhiên chỉ là ảo giác. Tôi quá ám ảnh về những lời trêu chọc của Hajime nên mới nghe thấy như vậy. Lạ lùng thay, giọng nó vang vọng trong kênh, tạo thành những tiếng ong ong. Chắc cũng chỉ là ảo thanh thôi. “Ồn ào quá!” Tôi và Kizono cùng la lên. Hình như Kizono cũng nghe thấy giọng Hajime. “Ha ha… Đáng sợ đúng không?” Ảo giác tiếp diễn, chính là giọng nói tôi vẫn luôn tưởng tượng. “Chẳng qua dò dẫm trong này rất dễ lạc nên chúng tớ cần lên kế hoạch kĩ càng thôi.” Mà tại sao tôi phải đáp lại giọng nói trong ảo giác nhỉ. “Thế thì yên tâm. Tớ biết rõ nơi này như lòng bàn tay. Nhắm mắt cũng không lạc luôn.” Ánh sáng cuối đường dần hiện ra, chúng tôi đã tới cửa. Gầm cầu mờ tối, nhưng cũng khiến chúng tôi nheo mắt vì chói. Tôi ngoái lại phía đường hầm, thoáng chốc nhìn thấy bóng dáng Hajime trong trí tưởng tượng. Nó mang đôi giày thể thao cũ mèm, đầu gối dán băng cá nhân. Hai tay đút trong túi quần soóc, miệng cười lớn. Mũ bóng chày đội trên mái tóc ngắn. Nhân vật mà tôi và Kizono cùng tưởng tượng thực sự xuất hiện trong kênh ngầm. Nó giơ tay chào tôi rồi biến vào bóng tối. Có lẽ tôi không thực sự nhìn thấy Hajime, tất cả chỉ là tưởng tượng. Do tâm trí tôi mải mê xây dựng hình ảnh Hajime nên giờ mới sinh ảo giác nhìn thấy người thật. Tóm lại toàn ảo ảnh thôi mà. Nhưng rồi Kizono lên tiếng, “Lúc nãy hình như tớ nhìn thấy Hajime. Nó đội mũ bóng chày.” Thực tế tôi chưa hề kể với Kizono về chuyện Hajime đội mũ bóng chày, vậy mà cậu lại nhìn thấy hình ảnh đó thì quá kì khôi. Chúng tôi bắt gặp bóng dáng Hajime trong tích tắc. Sau đó chỉ nghe tiếng, không thấy người. Tiếng nói âu cũng chỉ là ảo thanh. Dù vậy tôi và Kizono vẫn cố gắng rảo bước. Một ngày nọ, tôi và Kizono cùng tới cửa hàng kẹo. Hajime cũng xuất hiện. Tất nhiên không phải bằng xương bằng thịt. Nó hiển hiện trong tâm trí chúng tôi. Tôi luôn tưởng tượng ở mỗi tình huống cụ thể thì Hajime sẽ nói những gì. Giọng nó ra sao, phát âm thế nào. Hình dung một cách hết sức chân thực, tỉ mỉ. Tôi thậm chí không phân biệt được đó chỉ là tưởng tượng hay nó thực sự sống trong trí óc tôi nữa. Điều đó cũng xảy ra với Kizono. Cậu không biết Hajime đang thì thầm trong đầu mình thật hay do bản thân tự tưởng tượng. Ngoài chúng tôi ra không ai phát hiện tiếng nói của Hajime. Tôi và Kizono luôn nghe thấy giọng nó cùng một lúc với cùng một nội dung. Nheo mắt lại, chúng tôi thậm chí còn nhìn thấy Hajime. Tưởng như có thể chạm vào được. Nếu chạm vào tay nó, chắc sẽ cảm nhận được hơi ấm và năng lượng. “Con bé Hajime dạo này hay trộm đồ lắm. Tôi nghe mọi người bàn tán suốt.” Bà chủ quán khàn giọng kể. Đó là một bà lão lớn tuổi, luôn ngồi sâu trong quán. Khuôn mặt bà chi chít nếp nhăn đến nỗi khó mà phân biệt nổi đâu là mắt với miệng. Mọi người bảo bà gần như không nhìn thấy gì nữa. “Giá mà nó chịu trả tiền thì đã không có chuyện.” Kizono vừa dứt lời, đã thấy Hajime từ phía sau đáp lại. Nói thế nhưng nó không thực sự hiện diện, chúng tôi chỉ nghe thấy mỗi giọng nói, “Lắm chuyện quá. Không có tiền thì làm sao trả được chứ!” Ai bảo “không trả được”, phải là “không định trả” mới đúng. Tôi nghĩ thôi chứ không nói thành lời. Tức thì Hajime trả treo sắc lẻm, “Kohei, bạn đang nghĩ gì đấy?” Sau đó tôi có mua vài thứ. Bà lão nhận tiền xong bèn hỏi, “Cô bé kia, không mua gì à cháu?” “Dạ?” Giọng Hajime ngạc nhiên vọng vào. Nhưng tôi chẳng thấy nó đâu cả. “Ơ kìa. Lạ thật đấy! Ban nãy tôi còn thấy một bé gái đứng đó mà, sao giờ lại không thấy ai nhỉ. Gần đây mắt tôi kém quá. Tuổi già chán ghê.” Vào những ngày cuối cùng của kì nghỉ hè, chúng tôi đã sắp hoàn thiện bản đồ kênh ngầm. Bài tập về nhà cũng xong xuôi rồi. Tôi đút bản đồ thị trấn và la bàn vào ba lô, còn cẩn thận mang thêm một ít bánh kẹo. Thật ra không cần đến bản đồ hay la bàn đâu nhưng cứ mang theo cho chắc. Tôi cũng mua thêm một chiếc đèn pin mới. Một chiếc đèn màu đen với kiểu dáng bắt mắt. Kênh ngầm không bố trí nhằng nhịt như ma trận nhưng cũng khá phức tạp vì có nhiều ngã rẽ. Việc trở ra sớm vào hôm nọ quả là quyết định sáng suốt. Nếu không có kế sách hợp lý, chắc chắn chúng tôi sẽ lạc đường ngay. Kế hoạch cụ thể là tôi đi trước, chọn con đường thích hợp, Kizono theo sau. Mỗi lần đổi hướng tôi đều đếm bước chân, rồi báo lại cho Kizono trước khi rẽ sang ngã mới. Kizono sẽ ước lượng độ dài quãng đường theo số bước chân rồi vẽ lên giấy. Nói cách khác, những nét vẽ đó chính là con đường chúng tôi đã đi. Nếu tôi rẽ theo đường dích dắc thì cậu ấy sẽ vẽ đường dích dắc. Giả như có những ngã ba đường mà chưa đi hết. Chúng tôi sẽ đánh dấu và hẹn ngày khác trở lại. Ngoài ra, tôi dùng bút không xóa đánh dấu ở mỗi khúc ngoặt. Tôi đánh dấu mũi tên biểu thị hướng mình đã đi qua và sẽ đi tiếp. Thành thử lúc nào chúng tôi cũng mang bút dấu theo người. Cuối cùng dựa vào độ rộng bước chân của tôi, nhân lên để tính khoảng cách cả quãng đường, rồi hoàn thành bản đồ. Người đưa ra đề xuất là Kizono. Còn người gây rối là Hajime. Khi tôi đang tập trung đếm từng bước thì Hajime đứng kế bên toàn nói xen vào một con số chẳng liên quan (tôi có ảo giác mình nghe thấy tiếng ai nói ngay bên cạnh). Tôi bị sao nhãng, liên tục quên mất mình đã đếm tới đâu. Thành ra toàn phải ước lượng con số gần đúng rồi báo với Kizono để đánh dấu lại. Chính Kizono cũng nghe được giọng nói của Hajime. Có khi nào cậu ấy không nhận ra tôi đang lạc đường không? Kizono đeo đèn pin chụp đầu, chăm chú vẽ bản đồ. Theo ánh đèn, con đường như kéo dài vô tận. “Gì chứ vẽ bản đồ cứ giao cho tớ. Chỉ như mảnh vườn thôi mà.” “Tin được không đó?” Tôi vừa dứt lời thì có cảm giác Hajime xuất hiện bên cạnh. Không đúng, đó chỉ là ảo giác trong tâm trí chúng tôi thôi. Đáng ngờ nhất là tiếng bước chân. Tại sao trong kênh ngầm lại có tiếng bước chân của ba người? Tất nhiên tôi biết thực tế chỉ có tôi và Kizono bước đi trong đây, song tôi lại cứ nghe thành ba. Chúng tôi đi bộ một lúc thì thấy trước mặt có ánh sáng. Ánh mặt trời rọi thẳng từ trên trần xuống nền đất. Trong hầm nãy giờ vẫn tối đen nên tôi vô cùng phấn khích, định thông báo cho Kizono đang cắm mặt vào bản đồ vẽ dở. “Phía trước có ánh sáng kìa!” Là Hajime. Kizono nghe thấy, lập tức ngẩng lên. Tức là, không chỉ tôi mà Kizono cũng nghe được giọng nói của nó. Tôi bức xúc vì bị Hajime nẫng mất câu nói quan trọng. Ánh sáng rọi xuống từ một lỗ hổng hình vuông trên trần. Chúng tôi ngước lên, thấy lỗ hổng bị chắn bằng lưới mắt cáo, ngoài kia là bầu trời cao rộng. Nghe đâu đây còn có âm thanh của xe cộ. Có lẽ bên trên là mặt đường. Tôi cúi xuống, liền phát hiện dấu vết của những vũng nước mưa trên nền đất. “Hajime, chỗ này ứng với chỗ nào trong thị trấn?” Kizono cất tiếng hỏi, đánh dấu vào tờ giấy vẽ bản đồ. “Không biết. Tớ chưa từng ngó ra ngoài. Nhưng duy nhất chỗ này có lỗ hổng như vậy thôi.” Chẳng rõ những điều ảo giác mách bảo đáng tin đến đâu. Chúng tôi kiệu nhau trên vai để nhìn ra. Tôi đứng dưới còn Kizono trèo lên. “Không được rồi. Chỗ này lạ lắm, tớ còn không với tới trần nữa.” Kizono từ bỏ. Cậu vạch mũi giày đánh dấu lên mặt đất, nguệch ngoạc ra chữ “Atsuo”. Kì nghỉ hè kết thúc. Học sinh trở lại trường. Thầy hiệu trưởng nêu tên Hajime trong giờ chào cờ. Hình như sau mùa hè, tiếng xấu của Hajime đã lan sang tận trường khác. Thật ngoài sức tưởng tượng, tôi sửng sốt không thôi. Đối với đứa trẻ như tôi ngày ấy, trường học khác nghe xa xôi như nước ngoài vậy. Lại nói, thầy hiệu trưởng trường tôi không được lòng học sinh cho lắm. Thầy dễ nổi nóng, ngoài câu cá thì không thích thú gì khác. Có lớp nọ chỉ vì quên tắt đèn sau khi ra về mà bị thầy phạt quỳ suốt một ngày. Giáo viên chủ nhiệm cũng chẳng dám nói đỡ, chỉ biết luống cuống không thôi. Mọi người ai cũng sợ thầy hiệu trưởng. Vào thứ Bảy đầu tiên của tháng Chín, tôi và Kizono cùng chăm lũ gà sau giờ học. Hôm đó chỉ phải cho gà ăn nên rất nhanh đã xong việc. Khóa cửa chuồng xong, chúng tôi định ra về thì bắt gặp thầy hiệu trưởng quỳ gối cạnh chiếc ô tô của thầy. Không muốn liên can nên chúng tôi chỉ đứng quan sát từ xa. Mặt đỏ lừ, thầy hét lên “Chết tiệt!” rồi đá vào bồn hoa. Tôi còn đang mải đoán già đoán non không biết có phải ô lô bị xịt lốp không thì thầy đã đi đâu mất. Chúng tôi nhanh chóng lại gần chiếc ô tô. Dáng vẻ tức tối của thầy hiệu trưởng vì xe xịt lốp khiến chúng tôi khoái chí vô cùng. Nhưng lại gần mới thấy, hóa ra bánh xe không làm sao cả. “Trời ơi! Kohei, nhìn này!” Kizono chỉ vào vị trí khi nãy thầy hiệu trưởng quỳ xuống. Chỗ ấy có một tấm lưới mắt cáo ghim chặt vào nền đường trải nhựa. Mặt trời ban trưa treo cao trên đỉnh đầu, giúp chúng tôi dễ dàng nhìn qua lưới xuống tận đáy. Chiếc ví của thầy hiệu trưởng rơi dưới đó. Tôi đồ rằng thầy đánh rơi ví khi móc chìa khóa xe trong túi quần. Thật không may, chiếc ví đã lọt qua khe hở của lưới sắt. Có khi là thế thật. “Không biết trong ví có bao nhiêu tiền nhỉ?” “Đồ ngốc. Tớ không nói cái ví. Nhìn bên phải kìa!” Cuối cùng tôi cũng hiểu Kizono muốn chỉ cái gì. Dưới đó có chữ Atsuo. Là tên của Kizono. Sau đó thầy hiệu trưởng trở lại với một cây chổi cán dài. Thầy dùng cán chổi để khều nhưng mãi không được. Thầy cũng không thể nhấc lưới sắt lên. Cuối cùng thầy bỏ cuộc, để lại chiếc ví rồi đi đâu mất. Tôi và Kizono nhìn nhau. Chúng tôi đều có chung suy nghĩ. Cả hai báo cáo công việc xong xuôi với cô Sanda rồi lao bổ về nhà. Tôi đút bút dấu vào túi quần, mang theo đèn pin rồi nhanh chóng đạp xe tới chỗ cây cầu. Nếu là trước đây, tôi sẽ mang theo một ba lô đựng cơ man nào là đồ. Nhưng bây giờ kênh ngầm quen thuộc với tôi quá rồi nên không cần chuẩn bị rườm rà nữa. Kizono đã đợi sẵn trước cửa kênh ngầm, tay cầm theo tấm bản đồ vẽ dở. “Chúng ta có thể tới chỗ cái ví đúng không?” “Tất nhiên, đi thôi!… Ấy khoan, đèn không sáng.” Kizono lắc cái đèn đội đầu, thắc mắc vỗ vỗ vài cái. Chắc là cạn pin rồi. “Không sao, có một chiếc của tớ đây. Vào luôn nào.” Cầm đèn pin trong tay, chúng tôi lần tới chỗ cái ví của thầy hiệu trưởng. Tôi đinh ninh chiếc ví đã thuộc về hai đứa, lòng còn mải suy nghĩ không biết nên tiêu pha thế nào. Bên trong nhất định phải có vài tờ mười nghìn yên. Chúng tôi không có ý định trả lại. Lúc này bản đồ đã khá lớn. Ban đầu cứ tưởng chỉ cần một tờ giấy vẽ là đủ. Nhưng đã quá mười tờ rồi mà xem chừng vẫn chưa hoàn thành. Có nghĩa là kênh ngầm này rất rộng, đã vậy lại còn phức tạp. Thành ra Kizono cứ phải ngoẹo cổ hết bên này sang bên khác khi vẽ. Sau nhiều lần ra vào kênh ngầm, chúng tôi đã quen với việc lần mò trong này. Chỉ cần có bản đồ, ắt sẽ tìm được lối ra. Lòng nhủ thầm không lạc được đâu, nên sự cẩn trọng ban đầu chẳng mấy chốc tan biến. “Được rồi. Một lần rẽ nữa là tới chỗ cái ví.” Kizono nói trong hơi thở gấp gáp. Bàn tay cầm đèn pin của tôi cũng run lên. Với chúng tôi ngày ấy, một nghìn yên đã là một số tiền lớn, đủ để thỏa thích mua mọi thứ. Hơn nữa đây lại là ví của thầy hiệu trưởng. Chúng tôi phấn khích tột độ, nhanh chóng quẹo vào ngã rẽ. Nơi đó vốn dĩ phải có ánh sáng rọi từ trên trần xuống. Nhưng không. Nó tối thui như mọi nơi khác trong kênh ngầm. “Gì đây? Hay là ngã rẽ kế tiếp nhỉ?” Không. Ngã tiếp theo cũng không phải. Chẳng thấy màu mực đánh dấu mỗi đầu ngã rẽ đâu hết. Rốt cuộc chúng tôi cũng hiểu tại sao mình không đến được nơi cần đến. Bản đồ vẽ sai rồi. Trước giờ việc chúng tôi thám thính trong kênh ngầm đơn giản chỉ là đi lại lối đã đi, nên chẳng hề nhận ra bản đồ có sai sót. Kizono đột ngột ném bản đồ về phía tôi, “Kohei, cậu đếm sai bước chân rồi. Đồ ngốc! Có mỗi thế mà cũng không làm được!” Mặt cậu ấy đỏ bừng, tay bám lấy áo tôi, người run bần bật. Tôi sửng sốt vì mọi chuyện diễn ra quá bất ngờ. “Này, chính cậu là người vẽ sai bản đồ còn gì? Làm sao bây giờ? Chúng ta không thể tới chỗ cái ví mất.” Chúng tôi cãi nhau. Đúng lúc đó, tôi đánh rơi đèn pin nên cả hai tạm thời đình chiến. Không thể cãi nhau trong bóng tối. Có cự cãi thì cũng phải kiếm chỗ sáng sủa mới được. Mặc dù tối thui thế này đáng sợ thật, nhưng có Kizono ở đây nên tôi vẫn có thể tỏ ra bình tĩnh. “Tớ không bực bội vì cái ví. Tớ chỉ buồn vì chúng mình đã vẽ sai bản đồ thôi.” Nói đoạn Kizono nhặt bản đồ lên. Tôi cũng nhặt chiếc đèn đánh rơi trong lúc cãi cọ. Nhưng vết thương ở ngón tay khiến tôi không nắm chặt được. Chiếc đèn cầm tay cứ thế lăn lông lốc. “Ở đây có dốc.” Kizono thốt lên. Tôi vội vã chộp lấy chiếc đèn. Đây là ánh sáng duy nhất chúng tôi có. Nếu mất, chúng tôi sẽ bị bóng tối bủa vây. Chúng tôi đi xuống chỗ chiếc đèn pin. Nó lăn về hướng ngược lại. Nhìn Kizono cắm cúi lẳng lặng bước đi tôi không thể không bám theo. Lòng đầy lo lắng, tôi ướm hỏi, “Đi hướng đó cũng được sao?” Cậu ấy đáp lại, “Chúng ta cũng có biết mình đang ở đâu trên bản đồ đâu.” Chúng tôi lạc trong kênh ngầm dài dằng dặc chẳng thấy điểm dừng. Tới ngã rẽ, chúng tôi chọn con dốc mà chiếc đèn pin lăn xuống. Con dốc thoải không khác gì đường bằng, song lại dẫn chúng tôi đi xuống càng lúc càng sâu. Sau cùng chúng tôi cũng tới đáy của kênh ngầm. Cơ mà gọi là đáy cũng không đúng. Con dốc vẫn còn sâu nữa nhưng vì trước mặt là vũng nước, chúng tôi không đi tiếp được. Lúc trước cũng gặp nhiều đoạn đường hư hỏng nặng bắt buộc phải dừng chân, nhưng vũng nước thì đây là lần đầu. Đoạn hầm chỗ nước đọng có kích thước lớn hơn hẳn con đường đưa chúng tôi tới đây. Nhìn lại phải công nhận rằng chỗ này dốc thật đấy. Xem chừng toàn bộ ngóc ngách của kênh ngầm đều dẫn đến nơi này. Mọi thứ đổ về đây như những con suối nhỏ đổ về sông lớn. Nước bắt đầu dềnh lên trong lòng kênh. Vì các ngả dẫn vào đây đều dốc xuống nên nước đổ tràn chỗ trũng. Phía trước chúng tôi ngập chìm trong nước. Tôi rọi đèn pin nhìn khắp xung quanh. Hệt như một cái hồ dưới lòng đất. Không gian tĩnh lặng, không một tiếng động. Không có gió nên mặt nước không chút gợn sóng. Như chết vậy. Tôi rọi đèn vào, mặt nước đen đặc hiện ra như lưng một con côn trùng. Tôi bỗng thấy rờn rợn. Trên đời cũng có một nơi như thế này sao. Cách tôi không xa có một cái lon rỗng. Lạ thật đấy, ở đây mà có lon rỗng. “Đây là nước sông. Mưa lớn khiến nước sông dâng lên. Miệng kênh ngập trong nước, nước sông tràn đầy lòng kênh. Nước cứ dốc xuống, chảy hết về đây. Rác rưởi cũng theo đó tụ lại. Quả nhiên kênh ngầm này được tạo ra để chống ngập. Khi nước sông dâng, chỗ này ắt hẳn tích nhiều nước lắm.” Chúng tôi lấy bút đánh dấu viết tên mình lên tường. Kan Kohei và Kizono Atsuo, vì chính chủ đang cãi vã nên hai cái tên nằm cách nhau khá xa. Vậy làm sao để ra khỏi đây? Kizono đề xuất ý kiến. “Chúng ta đi qua bao con dốc rồi mới xuống chỗ này, vậy giờ chỉ cần leo ngược lại là thấy lối ra còn gì?” Nhưng kế hoạch đó thất bại ngay từ ngã rẽ đầu tiên. Tình hình trái ngược với dự tính của chúng tôi. Từ đáy ngầm rộng lớn, vô số ngã rẽ tỏa ra hệt như cây trổ cành. Chưa kể không ít đoạn đường hư hỏng nặng không thể đi qua. Đã thế, ngoài lối vào dưới gầm cầu có khi còn nhiều lối khác ở đâu đó cũng nên. Nếu vậy chúng tôi sẽ có nhiều lựa chọn để lên được mặt đất. Vì hướng nào cũng là đường lên dốc. Nhưng không phải con đường nào cũng dẫn ra gầm cầu. Dẫu vậy chúng tôi vẫn đi. Chúng tôi muốn ra khỏi nơi này. Biết đâu giữa đường lại tìm thấy dấu hiệu vạch ra khi trước. Những mũi tên đánh dấu con đường chúng tôi đi qua và đổi hướng. Cho nên chỉ cần đi ngược hướng mũi tên, chúng tôi sẽ tìm được lối ra. Chỉ cần gặp được một mũi tên ở ngã rẽ thôi. Chỉ cần một thôi. Nhưng mong muốn chẳng thành. Đèn pin chập chờn rồi tắt hẳn. Hết pin rồi. Tôi không tin vào mắt mình, bật tắt công tắc liên tục. Thôi xong. Chẳng thấy gì trong bóng tối nữa. Tôi đã chủ quan không đem theo ba lô khi ra khỏi nhà. Trong ba lô có pin dự phòng. Tôi cứ nghĩ mình chẳng lạc đường đâu. Đèn đội đầu của Kizono cũng hết pin. Chúng tôi không còn gì để chiếu sáng. Tuy nhiên chúng tôi vẫn dò dẫm bước tiếp trong bóng tối. Đang cãi vã đấy, nhưng cả hai phải nắm tay để khỏi lạc nhau. Không chút ánh sáng, chúng tôi cứ đi bừa trong bóng tối đen đặc. Không biết đã qua bao lâu, cơ thể mệt mỏi tới cực hạn, chúng tôi liền ngồi phịch xuống đất. Trong bóng tối chỉ có tiếng thở vọng lại. Đây cũng là lần đầu tiên từ khi sinh ra tôi cảm nhận cái chết đến gần mình như vậy. Tôi đã quá chủ quan. Những tưởng có thể loanh quanh đi lại trong kênh ngầm tối thui mà vẫn tìm được đường ra dễ dàng. Chúng tôi chỉ biết duy nhất một người thuộc làu nơi đây, đi trong bóng tối cũng không sợ lạc. Nhưng dù có ở đây thật, nó cũng chẳng giúp được gì. Nó chỉ xuất hiện qua giọng nói. Chỉ bằng giọng nói thì sao có thể dẫn hai người đã sức cùng lực kiệt ra khỏi nơi này chứ. Chúng tôi mệt đứt hơi. Cả hai ngồi bệt xuống. Ngồi thừ một lúc, thân xác mệt mỏi khiến hai mắt tôi trĩu nặng. Nơi này vừa tối vừa ẩm ướt, quả là rất dễ vỗ về cơn buồn ngủ. Cứ thế tôi lịm dần. Đúng lúc ấy, có người nắm lấy tay phải tôi kéo mạnh. Trong cơn mê man, tôi bị người ấy lôi đi. Chắc là Kizono đã hồi phục, xốc tôi dậy rồi dẫn tôi ra ngoài. “Kohei? Có phải Kohei không?” Giọng Kizono. “Kohei, cậu đang nắm tay tớ à?” “Không không, tớ tưởng cậu mới là người đang lôi tớ chứ?” Trong phút chốc, tôi bừng tỉnh. Nếu không phải Kizono đang kéo tôi đi, trong bóng tối này chắc chắn còn một người khác. Có tiếng cười khúc khích. Lẽ nào… Một lúc sau, lọt vào mắt tôi là không gian bên ngoài bừng sáng. Loáng thoáng có tiếng tàu điện chạy qua. Nó đã đến bên chúng tôi. “Hai người làm gì ở chỗ này thế?” Không khí bên ngoài thật dễ chịu. Cho dù trời đã tối, vẫn thấy rõ người trước mắt chúng tôi Hajime. Nó đứng đó, cười thích chí. Nhờ Hajime mà tôi với Kizono mới ra khỏi kênh ngầm. “Ngay từ đầu tại cậu quấy nhiễu nên tớ mới đếm sai đấy!” “Đúng rồi! Tại Hajime cả. Hajime thật xấu xa.” “Ừ đấy thì sao?” Nó khoanh tay. Tôi nhìn xuống tay phải mình. Cánh tay bầm cả lại do bị nắm chặt suốt cả đoạn đường. Ngày hôm sau, chúng tôi nghe nói thầy hiệu trưởng đã dùng cần câu móc cái ví lên. Đúng ra nó phải là của chúng tôi, tiếc quá. Về chuyện của Hajime, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Thực chất Hajime chỉ là nhân vật do chúng tôi tưởng tượng ra, mười mươi không có thật. Nhưng chúng tôi có thể nhìn thấy, nghe thấy, thậm chí là chạm vào. Tôi cả gan đoán Hajime chính là ảo ảnh. Một thứ ảo ảnh đặc biệt, chỉ xuất hiện trước mắt tôi và Kizono. Từng có lần như thế này. Khi ấy chúng tôi kết bạn với Hajime cũng đã được một thời gian. Tan học, cổng trường nhộn nhịp toàn học sinh, tôi và Kizono chuẩn bị ra về thì chợt nghe đằng sau có tiếng ai đó gọi to. “Này! Kohei! Atsuo!” Giọng nói lớn tới nỗi kinh động cả những chú chim. Tôi và Kizono giật mình quay lại. Hajime đang đứng vẫy tay chào. Nhưng không ai thấy Hajime hết, trừ hai chúng tôi. Mọi người vẫn bước đi như thể chẳng có gì xảy ra. Thực tế mọi sự đang tiếp diễn bình thường. Bằng chứng là con chim sẻ đậu trên dây điện hoàn toàn không có phản ứng gì cả. Tóm lại, thế gian này chỉ có tôi và Kizono nghe thấy giọng nói, nhìn thấy bóng hình của Hajime. Dĩ nhiên rồi. Nó là ảo giác của riêng chúng tôi mà. Một ngày mùa đông, chúng tôi đột nhập vào quán kẹo sau khi bà chủ quán qua đời. Người báo tin, tất nhiên là Hajime. “Quán sắp đóng cửa đó. Tớ nghe bà tớ kể vậy. Đằng nào quán cũng sắp đóng rồi nên trộm ít kẹo cũng không sao đâu.” Hajime sống ở thị trấn kế bên. Cứ thứ Bảy hằng tuần nó lại một mình tới thăm bà. Hai bà cháu thương nhau lắm nên cuối tuần nó toàn sang và ở lại nhà bà. Nhà bà nó khá gần nhà tôi, thành thử hầu như thứ Bảy nào ba người chúng tôi cũng hẹn nhau tụ tập. Tất cả đều là tưởng tượng của Kizono từ vài tháng trước. Chúng tôi không biết nhà bà Hajime ở đâu. Chỉ mơ hồ rằng nhà bà nó ở gần đây chứ không có địa chỉ cụ thể. Vì vậy chúng tôi không biết buổi tối Hajime sẽ về đâu sau khi tàn cuộc. Nhưng dù sao chúng tôi cũng đã nghe Hajime xúi bẩy, nên quyết định lẻn vào quán trộm đồ. Hajime đề xuất đột nhập vào quán ngay đêm đó. Chúng tôi sẽ âm thầm rời nhà lúc nửa đêm rồi tập hợp gần quán kẹo. Đó là một tối mùa đông gió lạnh se sắt. Tôi đến điểm hẹn sớm nhất, tiếp theo là Hajime. Không biết nó rón rén lại gần từ khi nào, áp đôi tay lạnh buốt vào gáy tôi. Tôi không kìm được, hét lên thất thanh. Thấy tôi nổi xung. Hajime xin lỗi rối rít, rồi bật cười với hơi thở phả ra trắng toát. Bên trên Hajime mặc áo len bông xù, bên dưới là quần soóc bất chấp mùa đông rét mướt. Tai và mũi nó đỏ bừng. Trong lúc đợi Kizono tới, chúng tôi dựa sát vào nhau để chống chọi với giá lạnh. Tối đó nó cũng nhai kẹo cao su việt quất, mùi hương phả ra thơm lừng. Tất nhiên mùi hương này là ảo giác. Lại nói, tôi thực sự cảm thấy lạnh buốt khi Hajime áp tay vào gáy tôi. Nhưng đấy chỉ là ảo giác. Hơi thở phả ra làn khói trắng của nó là ảo giác. Cái bóng lúc ẩn lúc hiện dưới đèn đường là ảo giác. Hajime vốn không tồn tại. Chẳng có ai bên cạnh tôi hết. Chỉ là năm giác quan của tôi đều nhất trí công nhận sự hiện diện của Hajime. Cả mắt, mũi và tai cũng mắc sai lầm, nên mỗi lần gặp ảo giác, tôi lại ngỡ Hajime thực sự có mặt trên đời. Đứng sát vào nhau đúng là đỡ lạnh hơn. Thật ấm áp. Mặc dù đây vẫn chỉ là ảo giác. Cuối cùng Kizono cũng tới. Ba chúng tôi lẻn vào quán kẹo. Khi còn sống, bà lão thường sinh hoạt một mình, vợ chồng người con sống ở nhà bên. Cho nên bây giờ bà lão mất rồi, chẳng ai cản trở chúng tôi nữa. Kết quả là, chúng tôi ôm đầy tay toàn kẹo và đồ chơi. Nhưng Hajime chỉ đứng nhìn. Đúng hơn là canh chừng. Khi tôi và Kizono đã vơ cả đống đồ, nó vẫn chưa lấy gì cả. Nhưng chúng tôi không định hỏi tại sao. Câu trả lời đã quá hiển nhiên. Hajime chỉ là ảo ảnh, cái kẹo mười yên có ngon đến mấy cũng đâu thể ăn được. Nói cách khác, Hajime hoàn toàn bất lực trước những món đồ ở đây. Điều này hiển nhiên nhưng cũng vô cùng quan trọng. Ảo ảnh là sản phẩm của tâm trí chúng tôi. Hajime tồn tại nhờ được chúng tôi nhìn thấy, nghe thấy, nên nó không thể chạm vào những vật hữu hình. Cánh tay bầm tím vì bị Hajime lôi đi ngày trước thực chất cũng là ảo giác của tôi. Tôi từng thấy trên ti vi, có người cầm điếu thuốc không châm lửa, gí vào tay và bị bỏng. Chương trình đó nói về thôi miên. Vết bỏng thực chất được tạo ra bởi thuật thôi miên, khiến người ta tin nó thực sự tồn tại. Trường hợp của tôi cũng tương tự. Cơ thể chịu sự điều khiển của hệ thần kinh. Còn con người thì một mực tuân theo điều họ tin tưởng. Tối đó, tôi không nói gì với Hajime về vấn đề ấy. Nhưng chẳng phải Hajime hoàn toàn nhận thức được bản thân chỉ là ảo ảnh, khác với chúng tôi sao. Chúng tôi giấu chỗ kẹo ăn trộm ở lối vào kênh ngầm. Nơi này chính là căn cứ bí mật của ba chúng tôi. Tin đồn cửa hàng kẹo bị trộm lan ra nhanh chóng. Nhưng lần này người lớn không cho là Hajime gây chuyện nữa. Bởi đó chỉ là cách đổ lỗi của những đứa trẻ hư. Trong thị trấn, mọi người đều tin có cô nhóc tên Hajime. Không những thế, nhiều người còn bức xúc phản ánh, “Tôi thấy có đứa con gái trông giống Hajime lắm.” Ngay cả mẹ tôi cũng nói rằng đã nhìn thấy Hajime. Tôi hỏi vặn khi nào, ở đâu nhưng mẹ chỉ lắc đầu, kêu không nhớ. “Chà, ở đâu nhỉ. Nhưng rõ ràng mẹ thấy nó rồi. Trông con bé y như lời đồn nên không thể sai được. Cô Ishihashi hàng xóm cũng thấy nó đấy. Mà Kohei này, con không chơi với Hajime đâu nhỉ? Không chơi với bạn xấu đâu nhé. Nói chuyện cũng không được. Nếu thấy nó thì phải báo ngay cho mẹ biết, rõ chưa?” Tôi gật đầu với tâm trạng ngổn ngang. Ba chúng tôi vào cấp hai. Tôi và Kizono học chung trường trong thị trấn còn Hajime học ở thị trấn lân cận. Tất nhiên Hajime không thực sự tới trường. Tôi chưa từng nghe nói có ảo ảnh nào tới trường cả. Thế nhưng thẻ học sinh của nó không giống đồ giả, phù hiệu cũng đúng là của trường bên đó luôn. Thôi thì suy cho cùng tất cả đều không thực sự tồn tại. Thẻ học sinh hay phù hiệu chỉ là do ảo giác mà thôi. Ngày trước, điều khiến tôi buồn bực nhất là chiều cao thua kém Hajime. Sau ba năm chơi chung, giờ đây tôi là đứa cao nhất nhóm. Hajime cố tình đứng trước mặt tôi, kiễng chân rồi trêu đùa “Như ý cậu nhé!”. Một ngày nọ, Hajime và Kizono đòi tới nhà tôi chơi. Vốn dĩ trước giờ chúng tôi chỉ toàn tụ tập ở miệng kênh ngầm. Tôi chịu không nhớ tại sao cả bọn lại muốn đổi gió nữa. Đại khái tự dưng mọi chuyện đã thành như vậy rồi. Chơi dưới kênh ngầm thoải mái vô cùng nên chúng tôi chưa từng nghĩ tới việc hẹn qua nhà nhau. Ở dưới kênh đông thì ấm hè thì mát, còn không bị bố mẹ quản thúc nữa. Cho nên đó là lần đầu tiên Hajime tới nhà tôi chơi. Sau khi chơi với con chó ngoài vườn một lúc, hai đứa tháo giày bước vào nhà, và không biết đường xếp lại giày cho ngay ngắn. Tất nhiên hành động tháo giày của Hajime chỉ là ảo giác. Tôi và Kizono có thể nhìn và chạm vào Hajime. Nó chẳng khác gì người thường, chỉ là hoàn toàn vô hình trong mắt người khác. Hai đứa nhanh chóng lục lọi phòng tôi, cười trêu con quái thú bằng nhựa dẻo bày trên giá sách. Thật ra tôi có rất nhiều mô hình kiểu đó, nhưng vì mang xuống kênh ngầm nên mất gần hết rồi. Có lẽ Kizono nói đúng, mỗi lần mưa lớn nước sẽ ngập đầy kênh, vì thế đám quái thú của tôi đều bị trôi xuống đáy. Nhưng chúng không quan trọng lắm nên tôi chẳng mấy để ý. Một lúc sau, mẹ tôi mở cửa bước vào. Tất nhiên mẹ không nhìn thấy Hajime. “À, Kizono à! Chẳng mấy khi thấy cháu tới chơi. Mà Kohei này, lại đây mẹ bảo.” Mẹ vẫy tay gọi tôi ra cửa phòng nói chuyện. Chỉ cách một vánh cửa nên hai đứa (đúng hơn là một) trong phòng thừa sức nghe được nội dung trao đổi của chúng tôi. “Kohei, lúc nãy con và Kizono nói chuyện về Hajime đúng không. Đừng bảo với mẹ là hai đứa quen con bé ấy nhé!” Không xong rồi. Tôi biết mẹ đã nghe nhiều lời đồn về Hajime và không mấy thiện cảm với nó. Nhưng tôi không định đáp “Con có biết Hajime là ai đâu”. Hajime ở trong phòng sẽ nghe thấy mất. Vì đổi lại, giả như tôi nghe thấy Hajime nói với mẹ nó, “Kohei có phải bạn con đâu,” tôi sẽ tổn thương và đau lòng chết mất. Cho nên tôi đã trả lời mẹ, “Vâng, tụi con là bạn mà.” “Bọn? Con nói cái gì? Nó là Hajime đấy! Mẹ đã cấm con lại gần nó cơ mà!” “Nó không xấu như mẹ nghĩ đâu!” Nghe thế, mẹ càng tức giận. Mẹ nói sa sả rằng Hajime hư đốn ra sao, đã khiến người lớn đau đầu thế nào, rằng mẹ cấm tôi không được chơi với nó. Tôi hiếm khi chống đối mẹ, hễ mẹ nổi giận là tôi sợ hãi và thỏa hiệp. Nhưng riêng ngày hôm đó, tôi dứt khoát không để mất lòng tự trọng. Tôi còn khổ sở khi nghĩ tới việc Hajime ở đằng sau cánh cửa đã nghe hết cuộc hội thoại giữa tôi và mẹ. Cuối cùng mẹ cũng rời đi, tôi rụt rè quay lại phòng. Tôi cứ nghĩ Hajime sẽ tức giận lắm. Nhưng nó vẫn bình thản như không, chỉ bảo “Lâu thế”. Kizono lầm bầm với tôi “Đồ ngốc”. Chuyện tương tự cũng xảy ra lúc hai đứa ra về. Đôi giày Kizono để lung tung đã được xếp ngay ngắn. Nhờ sự chu đáo của mẹ tôi. Nhưng mẹ bỏ qua giày của Hajime, nó vẫn lăn lóc như cũ. Mẹ làm sao thấy được giày của Hajime. Tôi cũng biết chẳng có gì phải thắc mắc vụ thấy hay không thấy cả, chỉ sợ Hajime tủi thân. Nó luôn thản nhiên như không có chuyện gì, nhưng làm sao lại không có chuyện gì được chứ. Về sau, hễ chúng tôi bàn vụ qua nhà nhau chơi, Hajime liền ngài ngại, cố ý lẩn tránh mà bảo rằng, “Nay tớ bận rồi.” Hẳn Hajime đã nghĩ ngợi nhiều lắm. Hôm đó khi Hajime ra về, tôi đã áy náy xin lỗi. “À… ừm… Tớ không nghĩ gì đâu. Tớ phải cảm ơn cậu mới đúng.” Chính Hajime cũng lúng túng không hiểu tại sao lại nói cảm ơn tôi. Hajime không hư hỏng như người lớn vẫn nghĩ. Nó còn khá nhạy cảm và tinh tế nữa. Là những người tạo ra Hajime, tôi và Kizono hiểu điều này hơn ai hết. Thậm chí chúng tôi còn ngạc nhiên không hiểu sao mình có thể làm bạn với Hajime suốt thời gian dài như vậy. Ảo ảnh là thứ dễ dàng tan biến, chỉ cần không có lý do tồn tại, nó sẽ sớm chấm dứt. Vậy mà chúng tôi thực sự đã ở bên nhau suốt một thời gian dài. Từ sau lần đi lạc, chúng tôi không định quay lại đáy kênh ngầm thêm lần nào nữa. Có lúc muốn ở một mình tôi đi vào trong, nhưng mới được vài bước đã vội quay ra. Tôi và Kizono tự cảm thấy hài lòng vì dù sao cũng đã đặt chân tới hồ chứa nước cuối kênh ngầm. Dưới di sản văn hóa bí mặt ấy còn lưu tên hai đứa chúng tôi mà. Mỗi lần nghĩ tới chốn đó, không hiểu sao tôi lại thấy bất an. Con đường dẫn tới làn nước đen đặc ấy xuất hiện trong giấc mơ tôi không biết bao lần. Kizono cũng bảo không muốn quay lại. “Hồ đó nhiều ma lắm. Thử nghĩ mà xem, mưa lớn làm nước sông dâng cao, tràn vào lòng kênh. Đủ các loài cá cũng trôi theo vào. Khi mưa tạnh, nước trong kênh rút đi, để lại lũ cá mắc kẹt chết khô. Thôi tớ không tới đó nữa đâu.” Tôi nhớ đến mặt nước phẳng lặng dưới đáy kênh ngầm. Nó im lìm, không gợn sóng. Mặt nước tối om, quả đúng là nơi ma quỷ trú ngụ. Một ngày nọ, con chó nhà tôi chết. Ban đầu tôi chẳng đau buồn gì đâu. Nó không còn đáng yêu như hồi bé nữa. Nhưng sáng ngày hôm sau, tôi bật khóc nức nở. “Gần đây nó bị xích suốt, chẳng mấy khi được dắt đi dạo. Chắc nó buồn lắm.” Tôi ngẩn ngơ nghĩ, tâm trí trôi theo dòng hồi tưởng những câu chuyện xưa cũ. Hồi nó bé xíu, tôi thường giấu bố mẹ mang nó vào phòng, cu cậu vui sướng quấn quýt lấy tôi. Ôi, không biết từ khi nào tao lại đối xử bạc bẽo với mày thế này. Có tiếng nước rơi tí tách, một hình ảnh nháng lên trong óc tôi. Một con chó đeo đèn đội đầu chạy về phía nước dưới đáy kênh. Quả nhiên, mặt nước thăm thẳm ấy thuộc về thế giới bên kia. Cùng ý nghĩ kì lạ đó, tôi vừa tiến vào kênh ngầm vừa khóc thút thít. Thật không may, Hajime đã bắt gặp bộ dạng ấy của tôi. Quả là kí ức xấu hổ nhất trần đời. Đến tận khi vào cấp hai, tôi cũng chưa từng rơi nước mắt trước mặt bạn nữ nào hết. “Tớ sẽ chẳng khóc vì cái chết của một con chó đâu.” Tôi tức khắc nổi xung khi nghe Hajime nói vậy. Vì thế tôi lỡ lời, “Cậu thì có tư cách gì mà phát ngôn! Cậu chỉ là ảo ảnh thôi!” “Phải phải, từ giờ tớ sẽ không xuất hiện trước mặt cậu nữa!” Bình tĩnh lại, tôi ý thức được những lời mình nói mới khó nghe làm sao. Song Hajime lại dửng dưng như thể đã quên sạch, khiến tôi chẳng thể thốt ra lời xin lỗi. Tôi và Kizono học cùng trường nhưng khác lớp. Tôi quen vài bạn mới, nhưng không thực sự thân thiết với ai như với Kizono và Hajime. Bạn bè mới của tôi cũng biết Hajime. Có lẽ tin đồn về Hajime cũng phổ biến quanh khu nhà các bạn ấy. Không hiểu sao Hajime lại nổi tiếng đến thế. Có lẽ ai nấy đều sốc vì chuyện một bé gái giết chết gà con. Tôi chỉ yên lặng nghe bạn bè tám chuyện. “Tin đồn về Hajime cũng lan sang cả trường cấp một của tớ đấy. Thầy giáo của bạn anh tớ cũng nhìn thấy nó luôn.” “Có người còn nhìn thấy Hajime khi đã vào cấp hai nữa. Giờ có khi nó đã trở thành đàn chị sừng sỏ, đánh bật hết bọn con trai chúng mình ấy nhỉ.” Tôi ngạc nhiên. “Hả? Đàn chị ư?” “Hồi cấp một Hajime từng khiến một anh chị cấp hai gì đó phải nhập viện mà.” “Nhầm rồi đồ ngốc, nó cắn mũi một giáo viên vì không vừa mắt á.” Tức thì có bạn nữ chen vào, “Hajime mà tớ thấy rất mảnh mai, không cao lắm, đáng yêu vô cùng.” “Cậu thấy Hajime rồi á?” “Có lần tớ đang dạo phố mua đồ, thì bắt gặp một bạn nữ tóc ngắn y chang lời mọi người tả. Đích thị là Hajime luôn.” Mọi người đều trầm trồ, “Quào!” “Thích ghê!” “Này Cà phê lon, cậu có tin gì về Hajime không?” Đám bạn hỏi tôi. Cà phê lon* là biệt danh đọc trại từ Kan Kohei, tên tôi. “Không, tớ có biết gì đâu.” Ở lớp bên, hình như Kizono Atsuo được mọi người gọi là Izono Katsuo*. Một ngày mùa đông, Hajime ủ rũ ngồi trong lòng kênh. Mùa đông nào chúng tôi cũng mang lò sưởi đặt cách lối vào một quãng. Gió không lùa tới nên bên trong khá ấm áp. Hôm đó, tôi vừa bước vào liền thấy Kizono và Hajime ngồi im lặng, thu mình bên lò sưởi. “Bà Hajime mất rồi.” Kizono nói với tôi. Hai mắt Hajime đỏ hoe, sưng húp, “Trông tớ nực cười lắm đúng không. Thế mà lúc con chó của Kohei chết, tớ còn bảo cậu không việc gì phải khóc. Cậu giận lắm đúng không? Tớ xin lỗi.” Nói đoạn, Hajime hơ tay lên lò sưởi. Tôi nghĩ bụng, ảo ảnh cũng biết lạnh ư. “Nhưng lúc đó Kohei cũng bảo tớ ‘Chỉ là ảo ảnh’ đúng không!… Tớ tổn thương nhiều lắm đấy!” “Xin lỗi.” “Tớ chỉ như hình ảnh phản chiếu trên võng mạc các cậu, thì sao? Là các cậu tự nằm mộng giữa ban ngày. Tớ thực sự không tồn tại đấy, nhưng bà tớ thì có, dù các cậu chưa gặp bao giờ. Tớ thường xuyên đến nhà bà ngủ, cứ đến là thấy cơm nước bà dọn sẵn. Tớ ghét dưa muối nhưng lần nào cũng có. Bà chuẩn bị cả phòng ngủ và chăn mền riêng cho tớ. Tớ cũng mang nhiều quần áo để thay. Có lần bà dọn phòng cho tớ, nhưng chỉ vì không thích người khác động vào đồ của mình mà tớ nổi nóng với bà. Khi ấy bà buồn lắm. Một người có thể nhớ mọi điều như tớ tại sao lại chỉ là ảo ảnh của các cậu chứ?” Đó là lần đầu tiên Hajime đề cập đến việc mình là ảo ảnh. Và tôi đã chứng kiến Hajime nhạy cảm thế nào. Nó không đội mũ bóng chày, không mặc áo len lông xù lem nhem nước mũi ở ống tay. Nó là một cô gái với trang phục bình thường như bao bạn nữ khác. Hajime lặng lẽ ngồi đó, chẳng còn vẻ hoạt bát như mọi khi. Rốt cuộc chúng tôi cũng được biết, hóa ra sau khi chia tay bọn tôi, Hajime sẽ bắt xe buýt về nhà ở thị trấn kế bên. Trước nay bà của Hajime vẫn sống một mình, giờ bà mất rồi, có lẽ bố mẹ nó sẽ sớm bán ngôi nhà của bà đi. Tôi và Kizono đã nhiều lần tiễn Hajime ra bến xe buýt. Đợi một lúc, cuối cùng xe buýt cũng tới. Cửa xe mở ra, Hajime nhẹ nhàng bước vào. Bác tài liếc nhìn Kizono và tôi, ý hỏi “Mấy đứa không lên xe à?”. Bác tài thấy tôi và Kizono ở bến nên mới dừng lại, chẳng hề hay biết Hajime đã lên xe tự khi nào. Hajime ngồi ghế cuối, vẫy tay tạm biệt chúng tôi. Y như một đứa trẻ. Cạnh nhà tôi là gia đình Ishihashi. Nhà họ có một bé trai khoảng bốn, năm tuổi tên là Nobihiro. Tôi vẫn quen gọi nhóc ấy là Nobi. Tôi bắt đầu thân thiết với Nobi từ khi học lớp Chín. Năm đó phải thi tốt nghiệp, song tôi tự dưng chán học, thành tích cũng vì thế mà tụt dốc thảm hại. Kizono trước giờ vốn không mặn mà tới trường lớp nên điểm chác cũng chẳng khá khẩm gì, nhưng từ khi học hành nghiêm túc, kết quả học tập của cậu ấy cải thiện hẳn. Không chỉ thế, Kizono còn nghiêm túc học chụp ảnh. Những lúc tôi nhăn nhó ngồi nghe Hajime giảng bài, Kizono sẽ vừa chụp cả tá ảnh vừa kêu lên “Thảm quá, thảm quá!”. Lạ lùng thay, người học giỏi nhất trong ba chúng tôi lại là Hajime. Thật khó diễn tả cảm xúc khi ảo ảnh của chúng tôi lại dễ dàng giải được bài toán mà tôi và Kizono đều bó tay. Sau một ngày nghe Hajime giảng bài dưới gầm cầu, tôi thất thểu ra về, giữa chừng tạt vào một cửa hàng đồ chơi ở trung tâm thương mại. Từ nhỏ tôi đã thích cửa hàng đồ chơi rồi. Mỗi lần bước vào, tôi lại thấy mình như được nạp năng lượng sau một ngày dài mệt mỏi. Hôm ấy, tôi tình cờ bắt gặp Nobi đang dán mắt vào màn hình trò chơi điện tử. Tôi có trò đó, bèn lên mặt khoe khoang với đứa trẻ mẫu giáo, tự dưng mọi áp lực học hành cứ thế tan biến. Nobi khi ấy ghen tị đỏ mắt, khiến tôi khoái chí vô cùng. Trước giờ tôi và Nobi không thân thiết mấy, nhưng kể từ hôm đó Nobi rất hay sang nhà tôi chơi. Tất nhiên là để chơi game. Kizono và Hajime nghe kể xong liền phá lên cười. Một học sinh lớp Chín lại chơi game với đứa trẻ mẫu giáo ư, hài hước quá. Tôi chẳng thấy có gì buồn cười hết, phiền toái là đằng khác. Nobi ăn kẹo của tôi, bôi mũi dãi khắp nơi, còn ngắt cả đầu mô hình lắp ghép của tôi chứ. Tôi không thể đuổi cổ thằng bé. Ngày nào cũng như ngày nào, cái phòng của tôi trông chẳng khác gì phòng Nobi. Một ngày nọ, Nobi phát hiện ra cửa vào kênh ngầm. Tôi và Kizono đang chơi bài ở bục bê tông dưới gầm cầu thì Nobi xuất hiện. Hóa ra thằng bé bám theo tôi. Nobi nhìn tôi và Kizono rồi cười toe toét. Hajime cũng ở đó, đứng ngay bên cạnh Nobi nhưng thằng bé chẳng hề nhận ra. Hajime buồn bã cúi đầu. Thấy tôi để ý, nó khẽ nhún vai, mỉm cười ý bảo, ôi khó xử ghê. Tôi đã bắt Nobi phải giữ bí mật về nơi này, song vẫn không mấy yên tâm. Dễ thằng bé kể tông tốc với mọi người mất, Kizono bảo. Tuy nhiên mấy ngày sau đó chúng tôi không thấy tin đồn gì về kênh ngầm cả. Nobi đã giữ bí mật. Đổi lại, thi thoảng thằng bé cũng tới gầm cầu với chúng tôi. Một thời gian sau, tôi và Kizono đều đỗ cùng trường cấp ba. Quả nhiên, ở trường mới hầu như không mấy ai biết đến chuyện của Hajime. Đôi lúc tái ngộ bạn cũ, mọi người lại nhắc tới cái tên Hajime đầy hoài niệm, “Đúng là từng có người như vậy nhỉ.” Hajime (hình như) học khác trường với tôi và Kizono. Có lần tôi vô tình bắt gặp Hajime mặc đồng phục đi bộ trên phố. Nó khoác áo vest màu nâu, nom trưởng thành lắm. Thấy tôi vẫy tay, nó vui vẻ ào tới như một con mèo. “Tớ đang tìm chỗ làm thêm,” Hajime bảo. Làm sao một cô gái ảo ảnh tìm được việc làm cơ chứ, tôi trộm nghĩ. Ấy vậy mà mấy ngày sau, Hajime đã báo cho tôi biết chỗ làm của nó. “Tớ làm thu ngân ở hiệu sách trước ga nha.” Tôi hỏi tên và địa chỉ hiệu sách. Hình như trước ga có một cái thật. Tôi ghi nhớ tên và không gian bên trong. Địa chỉ nó đưa không phải địa chỉ ma. Tôi định đến tận nơi song lần nào cũng lạc, thành ra chưa bao giờ tìm ra hiệu sách đó cả. “Cậu thử miêu tả đồng phục của Hajime đi.” Nghe xong chuyện Hajime làm thêm ở hiệu sách, Kizono bỗng tò mò với vụ đồng phục. Thật ra chúng tôi không biết Hajime theo học ở trường cấp ba nào. Nhiều lần định hỏi rồi nhưng lại thôi. Nghe tôi tả lại theo trí nhớ, Kizono tức thì sửng sốt. Đâu như là đồng phục của một trường chuyên vô cùng nổi tiếng. Tôi cũng bất ngờ khi được biết tên trường. Ngôi trường ấy xếp trên trường tôi cả tá bậc trong bảng xếp hạng. Một ngày nọ, Nobi tè bậy ở lối vào kênh ngầm. Thành thử Hajime tức tối đặt cho Nobi biệt danh là “Ôn con”. Mặc dù bấy giờ đã lên cấp ba rồi, chúng tôi vẫn không định vào thám hiểm bên trong lần nữa. Tuy nhiên, tất cả đều coi đó như ngôi nhà thứ hai của mình. Hồi đầu, mỗi lần thấy tôi nói chuyện với Hajime, coi bộ Nobi ngạc nhiên lắm. Bởi với thằng bé, trông tôi chẳng khác gì đang nói chuyện với không khí cả. Kizono liền đứng ra giới thiệu Hajime, “Có thể nhóc không thấy nhưng ở đây có một bà chị đáng sợ lắm đấy!” Nobi tin liền, đúng là trẻ con có khác. Câu đầu tiên thằng bé nói với Hajime chính là “Đồ ngốc”. Đã thế, nó còn ca một tràng “Hajime thật ngốc nghếch, ngốc nghếch”. Hajime tức giận cốc đầu thằng bé. Nhưng với Nobi, Hajime chỉ như không khí, không nhìn thấy, không tồn tại, nên thằng bé hiển nhiên chẳng thấy đau. Trong khi đó Hajime nhức hết cả tay. Dù có là ảo ảnh sắc nét cỡ nào nó cũng không thể hoạt động mạnh. Việc Hajime cốc đầu Nobi chẳng khác gì chúng tôi lấy tay gõ lên mặt bê tông cả. “Thôi nào, Hajime đang tức điên lên, sắp hóa phù thủy rồi kìa.” Nghe thế, Nobi càng khoái chọc Hajime hơn. Lần này Hajime cốc đầu tôi. Đau điếng. Vì tôi nhìn thấy nó. Vài tháng sau, mùa đông về. Mùa đông năm đó thực sự rất lạnh. “Hôm nay Ôn con vẫn không đến à?” Hajime lạnh nhạt hỏi. Chắc đang cuối năm nên thằng bé ấy bận. Chừng hai tuần rồi Nobi không tới gầm cầu. Trước kia thằng bé toàn tới đây chơi, giờ thì ngay cả nhà tôi thằng bé cũng chẳng sang luôn. Tôi bảo, “Có khi nó đang cảm cúm, nằm li bì một chỗ cũng nên.” “Thôi thì yên tĩnh cũng hay,” Hajime đáp. Tối xuống, tôi biết được lý do vì sao Nobi không tới. Dạo đó, gần nhà tôi tối nào cũng có một nhóm quái xế chạy qua. Tuy không phải ở mặt đường, nhưng nhà chúng tôi cách quốc lộ cũng không xa lắm. Có lẽ tiếng động cơ nửa đêm đã đánh thức Nobi. Mỗi lần nhóm quái xế phóng qua, thằng bé lại choàng tỉnh rồi khóc ré lên. Thiếu ngủ khiến nó bị trầm cảm. “Nobi mất ngủ mà sao cậu lại ngủ được thế, Kohei?” “Vì tên này có bao giờ biết gì đâu.” Nói rồi Hajime và Kizono chụm đầu bàn bạc. Chốt lại, Kizono đưa tôi một cái xô nhựa để ban đêm đi đổ nước. Tôi ù ù cạc cạc, chỉ biết Hajime bảo thế thì làm theo. Địa điểm là một đoạn đường cua gấp ở ngoại ô. Dốc thoai thoải. Đêm hôm khuya khoắt, tôi đổ nước tràn ra đường y như mệnh lệnh. Hôm sau tôi hay tin nhóm quái xế đã gặp tai nạn ở đó. Hình như họ trượt ngã do đường đóng băng. Hầu hết đều phải nhập viện. May là thương tích chỉ dừng lại ở mức bầm tím hoặc gãy xương. “Có biển báo giảm tốc độ nhưng họ không chịu tuân theo đấy chứ,” Kizono nói. Tin đồn dấy lên rằng ai đó đã đổ nước, cố tình khiến đám đua xe trượt ngã. “Đích thị là do Hajime làm đấy, thật kinh khủng.” Chưa đến vài ngày, nhiều người lớn đã xì xào với nhau như vậy. Năm lớp Mười, tôi đón Tết dưới gầm cầu. Mùng 1 Tết là sinh nhật Hajime nhưng tôi chưa một lần chúc mừng sinh nhật nó. Ảo ảnh như Hajime không ăn được bánh kem, cũng chẳng thể thổi nến. Vì vậy chúng tôi không chuẩn bị gì cả, chỉ đơn giản ngồi chơi bài với nhau như mọi lần. Bộ bài là do Hajime mang đến. Chỉ là ảo giác, song tôi và Kizono đều nhìn thấy và chạm vào được. Ai mà chứng kiến cảnh chúng tôi chơi bài hẳn sẽ sửng sốt lắm. Họ sẽ hét lên vì thấy bộ dạng chúng tôi quờ quạng cầm nắm không khí. Tuy nhiên Tết năm đó Hajime hơi mệt. Có lẽ nó kiệt sức vì làm việc quá nhiều. “Gia cảnh Hajime bây giờ buồn lắm. Hình như mẹ nó đang nằm viện.” Kizono thì thầm với tôi. Chắc hẳn Hajime đã tâm sự với Kizono nhiều chuyện mà tôi chẳng hay biết. Ra mình là một thằng con trai không đáng tin, buồn thật đấy. “Cho nên cậu ấy làm thêm nhiều hơn.” Trước giờ tôi và Kizono đã ấn định “Hajime vất vả vì bố mẹ”. Tôi hối hận rồi, tại sao lại dễ dàng nói ra điều đó chứ. Cho nên chúng tôi đã thử nghĩ lại “Thật ra Hajime là con gái của một nhà tài phiệt”. Nhưng chẳng thay đổi được nữa. “Tớ thừa hiểu mình chỉ là ảo ảnh.” Hôm đó Hajime đã nói thế, “Tớ không thể chạm vào thế giới của các cậu, nôm na là không thể cầm nắm hay di chuyển đồ vật. Đối với tớ, hai má của Nobi cứng như thạch cao. Mà như thế thì chẳng thể nói là chạm vào đúng không? Tớ chỉ như giấc mơ của các cậu, nên chẳng phải mọi thứ sẽ rối tinh lên nếu tớ can dự vào cuộc sống của người khác ư? Thật khó hiểu. Tớ có thể trò chuyện với bạn bè trên trường, cũng có thể tiếp khách ở chỗ làm thêm. Nhưng cái gọi là trường học hay chỗ làm thêm ấy, và kể cả bà tớ, chỉ là một trong nhiều giấc mộng do các cậu tạo ra xoay quanh Hajime mà thôi. Nếu không gặp các cậu, có lẽ tớ vẫn tin mình là một người bình thường. Sao tớ lại kết giao với các cậu cơ chứ!” Hajime vừa dứt lời, tôi liền đáp, “Nhưng ít nhất một lúc nào đó trong cuộc đời này, thế giới của tớ và của cậu sẽ giao hòa với nhau.” “Không, không đời nào! Làm gì có chuyện như thế chứ!” Kizono lên tiếng. Hajime không đồng tình cũng chẳng phản đối, khuôn mặt lộ rõ vẻ đăm chiêu. Mùa hè năm tôi học lớp Mười một, mưa lớn kéo dài nhiều ngày liên tiếp. Thị trấn chúng tôi vốn mưa nhiều. Nhưng mùa mưa năm ấy quả thật rất dữ dội, có lẽ cả đời này tôi cũng không bao giờ quên. Mưa xuống khiến nước sông dâng cao. Gầm cầu nơi chúng tôi hay chơi chẳng mấy chốc đã ngập trong biển nước. Lòng kênh cũng vậy. Một hôm tôi đứng ngắm mưa qua cửa sổ, lòng thầm nghĩ có lẽ lối vào kênh đã biến mất dưới làn nước rồi. Chỉ tưởng tượng thôi cũng đủ ớn lạnh. Một chiều tối Chủ nhật, tôi đang xem ti vi thì mẹ bước vào phòng, mặt mũi tái mét. Hình như ngoài trời mới tạnh, ban nãy còn nghe thấy tiếng mưa rào rào. “Thằng bé Nobihiro nhà Ishihashi biến mất từ trưa rồi. Nó không ở trong nhà, không biết mưa gió thế này còn đi đâu nữa.” Làm gì đến nỗi! Ngoài trời âm u nhưng chưa tối hẳn. Có khi thằng bé về ngay bây giờ đây. Mặc dù vào lớp Một rồi nhưng Nobi vẫn khiến mọi người lo lắng không thôi. Chẳng hạn như lần bố mẹ Nobi phải báo cảnh sát vì 8 giờ tối rồi mà không thấy con đâu, tôi giật mình thử chạy tới gầm cầu, liền bắt gặp Nobi ngủ quên ngay lối vào kênh ngầm. “Không sao đâu mẹ. Có khi thằng bé nấp trong tủ quần áo đấy.” “Nhưng mọi người tìm khắp nơi rồi.” “Đầy trường hợp tìm siêu kĩ nhưng vẫn không thấy mà. Đến khi mọi người không tìm nữa, em ấy sẽ lẳng lặng xuất hiện cho coi.” “Trong thị trấn có nhiều vụ chết đuối nên cũng lo lắm. Chỉ mong thằng bé Nobihiro không sẩy chân ngã xuống nước thôi.” Đêm khuya vẫn không thấy Nobi đâu, cảnh sát liền tiến hành lấy lời khai. Một cụ ông hàng xóm cho biết, trong lúc đi phát thông báo cho từng nhà, ông đã thấy một bé trai rất giống Nobi lai vãng ở ven bờ sông. Mẹ tôi càng lúc càng lo lắng. Tin Nobi rớt xuống sông lập tức lan khắp khu phố. Đến đêm thì mưa tạnh. Không tài nào ngủ yên được, tôi bèn mò ra bờ sông. Khúc sông nơi người ta nhìn thấy Nobi ở gần lối vào kênh ngầm. Rất có thể Nobi xuống gầm cầu chơi như thường lệ, không may sẩy chân rớt xuống sông. Hẳn thằng bé không biết mưa lũ đã khiến nước sông dâng lên làm toàn bộ kênh ngầm chìm trong dòng nước, nên vẫn vô tư tới chơi. Những suy đoán ấy cứ thế lướt qua tâm trí tôi. Trên bờ là hàng tốp người lớn đang cầm gậy dài chọc xuống lòng sông. Ánh đèn pin quét nhoang nhoáng, tấp nập như lễ hội. Tôi gặp Kizono ở đó. Xem ra Kizono cũng đã biết chuyện. “Cậu nghĩ thằng bé còn sống không?” Nghe tôi hỏi, Kizono lạnh nhạt đáp lại, “Lần cuối người ta thấy thằng bé là trưa nay nhỉ? Khả năng sống sót gần như bằng không còn gì. Dẫu chúng ta lo lắng đến mấy, có khi thằng bé đã chết rồi.” Tôi thốt lên, “Từ nay tớ không muốn thấy mặt cậu nữa!” Kizono nhăn nhó nhưng không nói gì. Cậu giơ máy ảnh lên chụp khung cảnh xung quanh. Những tấm ảnh do Kizono chụp ấy, tôi cũng quyết không bao giờ xem. Hôm sau có tiết nhưng tôi cúp học, nằm dài ở nhà. Trời âm u nhưng không mưa. Rốt cuộc, đêm qua Nobi không quay về. Buổi trưa có điện thoại gọi tới. “Atsuo gọi con này,” mẹ đưa ống nghe cho tôi. Tôi nhận nhưng dập máy ngay lập tức. “Con đi dạo một chút mẹ nhé.” Nói rồi tôi rời nhà. Đôi chân quả quyết hướng về phía dòng sông. Những người lớn tối qua ở đây đều đã rút rồi. Mẹ bảo rằng họ đã di chuyển xuống hạ lưu. Hình như mọi người đều không phát hiện lối vào kênh ngầm. Nước sông dâng cao hơn ngày thường một chút. Nhưng nhiêu đây thì không sợ nước tràn vào lòng kênh. Tôi gặp lại Hajime trên cầu. “Lâu quá không gặp nè!” Hajime mỉm cười vẫy tay chào tôi. Mưa lớn kéo dài nhiều ngày khiến chúng tôi không tụ tập dưới gầm cầu được. Vì vậy ba đứa hầu như không gặp nhau vào mỗi mùa mưa. Tất nhiên Hajime có thể tới nhà tôi hoặc nhà Kizono, nhưng nó không muốn. “Dạo này cậu khỏe chứ?… Ơ, sao lại khóc?” """