"
Lược Sử Tôn Giáo PDF EPUB
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Lược Sử Tôn Giáo PDF EPUB
Ebooks
Nhóm Zalo
LƯỢC SỬ TÔN GIÁO - RICHARD HOLLOWAY Dịch giả: Loan Vũ
Nhã Nam phát hành
Ebook: VCTVE GROUP
Richard Holloway (sinh năm 1933) là nhà văn và khách mời phát thanh nổi tiếng thế giới, thành viên của Hiệp hội Hoàng gia tại Edinburgh. Ông từng là Giám mục giáo phận Edinburgh từ năm 1986 đến năm 2000 và là Giám mục Giáo hội Tân giáo Scotland từ năm 1992 đến năm 2000.
Ông hiện sống tại Edinburgh, Vương quốc Anh.
“Một sự suy ngẫm với những kiến thức phong phú về tín ngưỡng ở thế giới phương Tây trong thế kỷ 21, tác phẩm của người có kinh nghiệm dày dặn với tôn giáo. Một cuốn sách bổ ích và đầy trí tuệ.”
- Tim Whitmarsh, The Guardian
“Một cuốn sách xuất sắc mà khi đọc xong, chúng ta sẽ biết thêm những kiến thức mới mẻ về các tôn giáo trên thế giới... Theo cách riêng của mình, cuốn sách hấp dẫn này có thể xem là một tác phẩm hồi tưởng có giá trị.”
-John Charmley, Times
Hơn bảy tỷ người trên thế giới có thể viết một thứ gì đó khác chữ “Không” vào mục Tôn giáo trong hồ sơ của mình. Một số sinh ra đã theo một tôn giáo được chọn sẵn; số khác có thể tự lựa chọn theo sở thích, theo định hướng, theo đám đông... Thế rồi họ thực hành đức tin của mình hằng ngày, tự hào về nó và muốn truyền bá nó cho nhiều người khác nữa. Đó là con đường phát triển hết sức tự nhiên của tôn giáo suốt hàng nghìn năm qua, kết quả là vô số tín ngưỡng với cành nhánh sum suê mà chúng ta thấy ngày nay. Nhiều tôn giáo ra đời cách đây hàng nghìn năm với số lượng tín đồ hùng hậu, một số khác non trẻ hơn nhưng không kém phần đình đám vì những tín đồ ít ỏi nhưng nổi tiếng của mình. Thế nhưng, ai trong số họ dám chắc những gì mình đang làm là đúng nguyên bản và không khiến các vị khai sinh ra tôn giáo ấy lắc đầu, thất vọng?
Mục lục
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
CHƯƠNG 1: CÓ AI Ở ĐÓ KHÔNG? CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁNH CỬA CHƯƠNG 3: VÒNG LUÂN HỒI
CHƯƠNG 4: TỪ MỘT THÀNH NHIỀU CHƯƠNG 5: HOÀNG TỬ THÀNH PHẬT CHƯƠNG 6: KHÔNG LÀM HẠI
CHƯƠNG 7: KẺ LANG THANG
CHƯƠNG 8: BỤI CÂY BỒ HOÀNG CHƯƠNG 9: MƯỜI ĐIỀU RĂN
CHƯƠNG 10: CÁC NHÀ TIÊN TRI CHƯƠNG 11: HỒI KẾT
CHƯƠNG 12: KẺ DỊ GIÁO
CHƯƠNG 13: TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 14: TÔN GIÁO THẾ TỤC CHƯƠNG 15: ĐẠO THUẬN TỰ NHIÊN CHƯƠNG 16: KHUẤY BÙN ĐẤT LÊN CHƯƠNG 17: TÔN GIÁO CHO CÁ NHÂN CHƯƠNG 18: NGƯỜI CẢI ĐẠO
CHƯƠNG 19: ĐẤNG CỨU THẾ
CHƯƠNG 20: GIÊ XU ĐẾN THÀNH RÔMA CHƯƠNG 21: GIÁO HỘI LÊN NGÔI CHƯƠNG 22: VỊ TIÊN TRI CUỐI CÙNG CHƯƠNG 23: SỰ QUY PHỤC
CHƯƠNG 24: CUỘC TRANH ĐẤU CHƯƠNG 25: ĐỊA NGỤC
CHƯƠNG 26: ĐẠI DIỆN CỦA ĐỨC KITÔ CHƯƠNG 27: KHÁNG NGHỊ
CHƯƠNG 28: CUỘC ĐẠI LY
CHƯƠNG 29: CẢI CÁCH CỦA NANAK
CHƯƠNG 30: TRUNG ĐẠO
CHƯƠNG 31: CHÉM ĐẦU CON THÚ
CHƯƠNG 32: CÁC THÂN HỮU
CHƯƠNG 33: XUẤT XỨ TỪ CHÂU MỸ
CHƯƠNG 34: SINH RA Ở MỸ
CHƯƠNG 35: THẤT VỌNG LỚN
CHƯƠNG 36: NHÀ HUYỀN HỌC VÀ CÁC NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH CHƯƠNG 37: NHỮNG CÁNH CỬA MỞ
CHƯƠNG 38: TÔN GIÁO CUỒNG NỘ
CHƯƠNG 39: CÁC CUỘC THÁNH CHIẾN
CHƯƠNG 40: HỒI KẾT CỦA TÔN GIÁO?
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phức tạp và lịch sử phát triển của một số tôn giáo lớn trên thế giới, trải qua hàng ngàn năm, lại càng phức tạp hơn. Chính vì vậy, người ta có nhiều cách tiếp cận tôn giáo để nghiên cứu, tìm hiểu và Lược sử tôn giáo của tác giả Richard Holloway thể hiện một trong những tiếp cận đó. Cuốn sách cung cấp thông tin khá bao quát, phong phú và súc tích về các tôn giáo lớn của phương Đông và phương Tây, dưới góc nhìn và cách lý giải của chính bản thân tác giả.
Chúng tôi tôn trọng nhưng không nhất thiết đồng tình với một số quan điểm, cách tiếp cận và lý giải riêng của tác giả về các vấn đề được đề cập đến trong cuốn sách. Chúng tôi mong độc giả đọc cuốn sách này như một tài liệu tham khảo.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Nhà xuất bản Thế Giới
Dành tặng Nick và Alice thân yêu!
CHƯƠNG 1: CÓ AI Ở ĐÓ KHÔNG?
Tôn giáo là gì? Nó đến từ đâu? Tôn giáo đến từ bên trong tâm trí của loài người, từ chính chúng ta mà ra. Những giống loài khác trên Trái đất dường như chẳng cần đến tôn giáo. Và theo những gì ta biết thì chúng cũng chưa từng tạo ra tôn giáo nào cả. Đó là vì chúng hòa hợp với đời sống của chính mình hơn chúng ta. Chúng hành động theo bản năng. Chúng thả mình theo dòng chảy sinh tồn mà chẳng hề băn khoăn về sự sống. Loài người đã mất khả năng làm được điều ấy. Bộ não của chúng ta phát triển theo hướng khiến chúng ta biết tự ý thức. Chúng ta quan tâm đến chính mình. Chúng ta không thể không thắc mắc về mọi thứ. Chúng ta không thể không suy nghĩ.
Và điều to lớn nhất mà chúng ta nghĩ tới chính là vũ trụ và nguồn gốc của vũ trụ. Có ai đó ngoài kia đã tạo nên nó chăng? Một từ ngắn gọn mà chúng ta dùng để gọi người, hay thứ này, là Thần, hay theos trong tiếng Hy Lạp. Ai nghĩ có một vị thần ở ngoài kia được gọi là một người hữu thần (theist). Còn ai cho rằng chẳng có vị thần nào ngoài kia sất mà loài người là đơn độc trong vũ trụ thì được gọi là người vô thần (atheist). Ngành nghiên cứu về thần thánh và những gì các vị ấy mong muốn từ chúng ta gọi là thần học (theology). Một câu hỏi lớn khác chúng ta không ngừng tự hỏi là điều gì xảy đến cho chúng ta sau khi chết. Khi chết thì ta chỉ chết thôi hay còn điều gì xảy đến nữa không? Nếu có điều gì khác thì nó sẽ như thế nào?
Thứ được gọi là tôn giáo chính là những nỗ lực đầu tiên của chúng ta hòng trả lời cho những câu hỏi như vậy. Câu trả lời của tôn giáo cho câu hỏi đầu tiên khá đơn giản. Vũ trụ được tạo ra bởi một đấng quyền năng bên ngoài vũ trụ, một số người gọi đó là Thượng Đế, đấng quyền năng này
tiếp tục để tâm và tham gia vào những gì Người đã tạo ra. Mỗi tôn giáo đều đưa ra một phiên bản khác nhau về đấng quyền năng gọi là Thượng Đế này và điều Người đòi hỏi ở chúng ta, nhưng mọi tôn giáo đều tin vào sự hiện hữu của đấng quyền năng đó dưới dạng này hay dạng khác. Tôn giáo nói rằng chúng ta không đơn độc trong vũ trụ. Còn có những thực tại, những chiều kích khác nằm ngoài sự tồn tại của chúng ta. Ta gọi chúng là “siêu nhiên” vì chúng vượt ra ngoài thế giới tự nhiên mà ta vốn có thể nắm bắt trực tiếp qua các giác quan.
Nếu niềm tin quan trọng nhất của tôn giáo là về sự tồn tại của một thực thể nằm bên ngoài thế giới này mà ta gọi là Thượng Đế thì điều gì đã khơi mào cho niềm tin đó và từ khi nào? Tất cả bắt đầu từ nhiều kỷ nguyên trước. Thực ra, dường như chưa có lúc nào mà loài người lại không tin vào một thế giới siêu nhiên nằm ngoài thế giới hiện tại. Và có thể chính thắc mắc về điều gì xảy ra sau khi con người chết đi là câu hỏi đã mở màn cho tất cả. Tất cả loài vật đều chết đi, nhưng duy nhất chỉ có loài người không đơn thuần để yên cho xác chết phân rã ngay tại chỗ. Lần theo lịch sử xa xưa nhất có thể, con người dường như đã làm lễ tang cho người chết. Và cách tổ chức các lễ tang cũng đã cho thấy nhiều điều về những niềm tin sơ khai nhất của loài ngườii.
Dĩ nhiên, nói thế không có nghĩa là các loài vật khác không biết thương tiếc đồng loại đã chết. Vô số bằng chứng về khả năng đó có ở nhiều động vật. Edinburgh có một bức tượng nổi tiếng về chú chó Greyfriars Bobby, minh chứng cho nỗi buồn đau của loài vật khi chúng mất đi đối tượng thân thiết. Bobby chết năm 1872 sau mười bốn năm cuối đời nằm bên mộ của chủ nhân quá cố John Gray. Rõ ràng Bobby đã rất nhớ chủ nhân, nhưng chính những người trong gia đình John Gray đã tổ chức một đám tang chu toàn cho Bobby và đặt chú an nghỉ ở nghĩa trang Greyfriars Kirkyard. Thông qua việc chôn cất ấy, họ đã thực hiện một trong những nghi thức đặc trưng nhất của loài người. Vậy thì điều gì đã khiến loài người bắt đầu tiến hành chôn cất người chết?
Điều rõ ràng nhất chúng ta nhận thấy ở một người chết là một điều gì đó từng diễn ra bên trong họ nay bỗng dừng lại. Họ không còn thở nữa. Nhận thấy điều đó là bước đầu để tiến tới liên hệ việc thở với ý tưởng rằng có gì đó nương náu ở bên trong nhưng lại tách biệt với thể xác vật lý
và mang lại cho thể xác ấy sự sống. Từ tiếng Hy Lạp để chỉ thứ này là psyche, tiếng Latinh là spiritus, cả hai đều có gốc là các động từ có nghĩa là thở hay thổi. Tinh thần hay linh hồn là thứ làm cho thể xác sống và hít thở. Nó cư ngụ trong cơ thể một thời gian. Khi cơ thể chết, nó rời đi. Nhưng nó đi đâu? Một cách giải thích là nó trở lại thế giới kia, thế giới của linh hồn, đối lập với thế giới Trái đất, nơi ta đang cư ngụ.
Các nghi thức tang lễ cổ xưa mà chúng ta khám phá ra cũng củng cố quan niệm trên, tuy rằng với những dấu tích mơ hồ còn sót lại thật khó đoán biết tổ tiên chúng ta đã thật sự suy nghĩ những gì. Chữ viết khi đó còn chưa ra đời nên họ không thể để lại những suy nghĩ hay mô tả các quan niệm của mình dưới dạng mà ngày nay ta có thể đọc được. Nhưng họ vẫn để lại các manh mối để ta biết họ từng nghĩ gì. Vì thế, hãy cùng khảo sát các manh mối ấy, tức là tìm về thời điểm cách đây hàng ngàn năm trước Công nguyên (TCN), một thuật ngữ cần được giải thích trước khi ta tìm hiểu bất cứ điều gì.
Cũng dễ hiểu khi ta có một bộ lịch và cách tính ngày tháng chung cho toàn cầu khi đề cập đến các sự việc diễn ra trong quá khứ. Loại lịch ta đang dùng là do Kitô giáo (hay là Cơ Đốc giáo) sáng chế ra vào thế kỷ 6 sau Công nguyên (CN); nó cũng cho thấy tôn giáo đã từng có sức ảnh hưởng lớn đến thế nào trong lịch sử. Giáo hội Công giáo từng là một trong những thế lực hùng mạnh trên Trái đất suốt hàng nghìn năm, đến mức nó đã ấn định hệ thống dương lịch mà thế giới vẫn đang dùng. Sự kiện cột mốc là sự ra đời của đấng sáng lập Kitô giáo, Chúa Giê xu. Năm Chúa Giê xu ra đời tính là năm Một. Những gì diễn ra trước đó được gọi là trước Công nguyên (Before Christ - BC), sau năm đó là Công nguyên (anno Domini - AD, tức năm của Chúa).
Trong tiếng Anh, để nói về trước hay sau Công nguyên, ngoài các từ viết tắt BC và AD, người ta còn dùng BCE và CE, hai thuật ngữ vừa có thể hiểu theo khuynh hướng tôn giáo hoặc không. Ví dụ, BCE có thể là viết tắt của Before the Christian Era (trước thời kỳ Công giáo) nhưng cũng có thể là viết tắt của Before the Common Era (trước thời kỳ Tây lịch); còn CE là within the Christian Era (trong thời kỳ Công giáo) hoặc within the Common Era (trong thời kỳ Tây lịch). Mỗi người có thể chọn từ viết tắt và nghĩa của nó tùy theo cách hiểu của mình. Trong cuốn sách này, mỗi khi đề
cập các sự kiện diễn ra trước Công nguyên, tôi sẽ ghi rõ TCN. Nhưng để tránh lộn xộn, tôi sẽ dùng ký hiệu CN tiết chế hơn và chỉ khi nào tôi cho là cần thiết. Do đó, khi bạn đọc đến mốc thời gian không đề cập gì thêm thì nghĩa là nó xảy ra trong thời kỳ Tây lịch (hoặc thời kỳ Công giáo).
Trong giai đoạn từ khoảng 130.000 TCN trở về sau, chúng ta đã tìm ra các chứng cứ về một kiểu niềm tin tôn giáo biểu hiện qua cách tổ tiên chúng ta chôn cất người chết. Người ta phát hiện ra thức ăn, công cụ và đồ trang trí đặt trong các ngôi mộ cổ, gọi ý rằng người xưa tin người chết sẽ đi sang một cõi nào đó và cần mang theo những món đồ cho hành trình ấy. Một thực hành khác là tô vẽ lên người chết một loại bột đất màu đỏ, có lẽ để tượng trưng cho ý niệm sự sống tiếp diễn sau cái chết. Cách thức này cũng được biết đến tại một trong những ngôi mộ cổ xưa nhất của một bà mẹ và đứa con ở Qafzeh, Israel vào năm 100.000 TCN. Tục lệ tương tự cũng được tìm thấy cách đó nửa vòng Trái đất, tại hồ Mungo, úc: vào năm 42.000 TCN, xác người chết cũng được phủ đất đỏ. Việc tô vẽ xác chết đánh dấu sự xuất hiện một trong những ý niệm thông minh nhất của nhân loại là tư duy biểu tượng. Tư duy biểu tượng có rất nhiều trong tôn giáo, vậy nên việc hiểu về nó sẽ rất cần thiết.
Như nhiều từ hữu dụng khác, từ biểu tượng (symbol) có gốc từ tiếng Hy Lạp mang nghĩa là ghép nối lại những thứ tách rời với nhau, giống như cách bạn gắn các mảnh vỡ của một cái đĩa. Sau đó, biểu tượng trở thành một vật thể hiện hay tượng trưng cho cái khác. Ý nghĩa gắn kết các thứ khác nhau vẫn còn, nhưng từ này đã trở nên phức tạp hơn chứ không chỉ đơn thuần là lấy keo dán các mảnh gốm lại. Một ví dụ hay về biểu tượng là quốc kỳ của mỗi nước, như lá cờ Sao và Sọc. Khi thấy Sao và Sọc, ta nghĩ đến nước Mỹ. Lá cờ biểu tượng cho nước Mỹ, đại diện cho nước Mỹ.
Các biểu tượng trở nên thiêng liêng với chúng ta là vì chúng đại diện cho lòng trung thành sâu sắc hơn bất cứ ngôn từ nào. Thế nên con người rất ghét thấy các biểu tượng của họ bị xâm phạm. Chẳng có gì sai khi ai đó đốt một mảnh vải cũ, nhưng nếu mảnh vải đó tượng trưng cho quốc gia của bạn thì bạn có thể nổi giận. Nếu các biểu tượng có ý nghĩa tôn giáo và thiêng liêng với một cộng đồng cụ thể thì chúng càng có thêm sức ảnh hưởng. Và việc xúc phạm những biểu tượng như thế có thể gây nên sự cuồng nộ chết người. Hãy ghi nhớ ý niệm về biểu tượng vì nó sẽ còn xuất
hiện trở đi trở lại trong cuốn sách này. Ý niệm rằng một thứ nọ, như bột đất màu đỏ, đại diện cho một thứ khác, như niềm tin rằng người chết sẽ bắt đầu cuộc sống mới ở một nơi khác.
Một ví dụ khác của tư duy biểu tượng là việc đánh dấu nơi người chết yên nghỉ trở nên quan trọng, nhất là khi người đó là yếu nhân và có thế lực. Đôi khi, họ được đặt dưới những tảng đá khổng lồ, đôi khi lại ở trong những buồng đá được xây dựng công phu gọi là mộ đá gồm hai phiến đá lớn dựng đứng chống đỡ một phiến đá đậy ngang bên trên. Những lăng mộ ấn tượng nhất của loài người chính là các kim tự tháp ở Giza, Ai Cập. Ngoài vai trò lăng mộ, các kim tự tháp cũng có thể được xem như các bệ phóng để từ đó, linh hồn của các vị hoàng thân quốc thích bên trong sẽ đi thẳng lên cõi bất tử.
Theo thời gian, các nghi thức mai táng không chỉ công phu hơn mà ở nhiều nơi, chúng còn trở nên tàn ác một cách đáng sợ, với việc tuẫn táng những người vợ và người hầu để đảm bảo sự thoải mái và địa vị của người đã khuất ở thế giới bên kia. Vì thế, ta cũng cần lưu ý là thuở ban sơ đã luôn có một khía cạnh tàn nhẫn nhất định nào đó gắn liền với tôn giáo mà không mấy quan tâm đến cuộc sống từng cá nhân.
Một tri thức thú vị của những manh mối này là tổ tiên chúng ta xem cái chết như một cửa ngõ đưa đến một giai đoạn tồn tại khác, được mường tượng như một phiên bản khác của thế giới này. Ta cũng nắm bắt được phần nào niềm tin của họ vào một thế giới bên kia, vẫn có liên kết với thế giới này, với cái chết là cánh cổng giữa hai thế giới.
Đến đây thì có vẻ như niềm tin tôn giáo đã được thụ đắc qua một quá trình phỏng đoán đầy cảm hứng. Tổ tiên của chúng ta tự hỏi rằng thế giới này từ đâu mà có và hình dung chắc phải có một quyền năng cao cả ở ngoài kia đã tạo ra thế giới. Kế đến, họ nhìn xác chết không còn thở nữa và quyết định rằng những linh hồn hẳn đã rời khỏi thể xác mà nó từng trú ngụ để đi đến nơi nào khác.
Tuy vậy, trong lịch sử tôn giáo có một nhóm người quan trọng không chỉ phỏng đoán về sự tồn tại của thế giới bên kia hay về điểm đến tiếp theo của các linh hồn thoát tục. Họ nói rằng họ đã viếng thăm thế giới ấy
hoặc ngược lại. Họ đã nghe thấy những đòi hỏi nơi ấy đặt ra cho chúng ta. Họ được yêu cầu phải nói cho những người khác biết những gì họ đã thấy và đã nghe. Vậy là họ công bố những thông điệp đã được nhận. Họ thu hút những môn đồ tin và bắt đầu sống theo những gì họ rao giảng. Chúng ta gọi những người như vậy là nhà tiên tri hoặc nhà hiền triết. Và thông qua họ các tôn giáo mới ra đời.
Thế rồi một điều khác nữa xảy đến. Các môn đồ ghi nhớ câu chuyện mà các vị tiên tri, hiền triết kể. Đầu tiên, câu chuyện được phổ biến thông qua truyền miệng. Sau đó, nó được viết lại trên giấy. Rồi nó trở thành thứ ta vẫn gọi là Thánh thư hay bản chép thiêng liêng. Kinh Thánh! Cuốn-sách
mà-ai-cũng-biết-là-sách-gì-đấy! Và nó trở thành biểu tượng giàu sức ảnh hưởng nhất của tôn giáo. Đó là một cuốn sách hữu hình, hiển nhiên rồi. Nó do con người chắp bút. Chúng ta có thể lần lại lịch sử của nó. Thế nhưng thông qua những ngôn từ trong đó, thông điệp từ thế giới bên kia được truyền đến thế giới này. Kinh Thánh trở thành cây cầu nối thời gian vĩnh cửu với thời gian hữu hạn, nối loài người với thần thánh. Đó là lý do con người kính ngưỡng và dành tâm huyết nghiên cứu Kinh Thánh. Cũng vì thế, các tín đồ căm ghét ai báng bổ hoặc hủy hoại Kinh Thánh.
Lịch sử tôn giáo chính là câu chuyện về các vị tiên tri và hiền triết như thế, về các phong trào họ khởi tạo và những kinh thư viết về họ. Đây cũng là một chủ đề gây rất nhiều tranh cãi và bất đồng. Những người hoài nghi thắc mắc không biết liệu các vị tiên tri đó có thật sự tồn tại không. Và họ hoài nghi cả những tuyên bố dựa trên khải tượng và lời phán các vị này đã tiếp nhận. Cũng có lý thôi, nhưng họ lại bỏ qua điểm mấu chốt. Thứ không thể tranh cãi là việc các vị tiên tri và hiền triết ấy tồn tại trong những câu chuyện kể về họ, những câu chuyện vẫn đang truyền tải ý nghĩa cho hàng tỷ con người ngày nay.
Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ đọc các câu chuyện mà các tôn giáo vẫn tự kể về chúng mà không phải lúc nào chúng cũng băn khoăn có thật mọi chuyện đã từng xảy ra như vậy hay không. Dĩ nhiên, việc hoàn toàn phớt lờ câu hỏi đó cũng chẳng hề đúng, thế nên ở chương tiếp theo chúng ta cũng sẽ ngẫm nghĩ xem điều gì đã xảy ra khi các nhà tiên tri và hiền triết nhìn thấy những khải tượng và nghe được những lời phán. Một trong các vị tiên tri đó tên là Moses.
CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁNH CỬA
Tưởng tượng rằng bạn đang ở trong sa mạc Sinai xứ Ai Cập vào một buổi sáng năm 1300 TCN. Bạn bắt gặp một người đàn ông với chòm râu rậm, đi chân đất và đang quỳ gối trước một bụi cây bồ hoàng. Bạn quan sát thấy ông ta chăm chú lắng nghe bụi cây. Rồi ông ta nói chuyện với nó. Rồi lại nghe. Cuối cùng ông đứng dậy và sải bước với dáng vẻ quyết đoán. Tên của người đàn ông này là Moses (Mô-sê), một trong những vị tiên tri nổi tiếng nhất trong lịch sử tôn giáo và là vị sáng lập ra Do Thái giáo. Câu chuyện viết về ông sau này kể rằng vào chính ngày này, Thiên Chúa đã ngỏ lời với ông từ một bụi cây bồ hoàng đang cháy rực, phán bảo ông dẫn một đám con dân đang sống ách nô lệ thoát ra khỏi Ai Cập để hướng về phía cuộc sống tự do ở Đất hứa Palestine.
Đối với bạn, người quan sát, bụi cây đó không bốc cháy đến mức sắp bị thiêu rụi. Bụi cây đó đang “cháy rực” những quả đỏ mọng thôi. Bạn nhận thấy Moses chăm chú lắng nghe đến mức nào, nhưng bạn chẳng nghe được lời nào phát ra từ bụi cây mà chỉ hiểu những lời đáp lại của Moses. Thật ra chuyện như thế cũng không khó hiểu lắm với bạn. Hẳn có người từng thấy em gái mình nói chuyện rất hồ hỏi với mấy con búp bê. Hay bạn có thể có đứa em họ hay nói chuyện với một người bạn tưởng tượng mà nó coi là thật không khác gì ba mẹ nó. Bạn cũng có thể từng nghe nói đến những người mắc bệnh tâm thần lảm nhảm với những người mà không ai nhìn thấy. Thế nên hẳn bạn cũng quen với việc có người nghe được những tiếng nói mà không ai khác có thể nghe thấy.
Nhưng hãy quay lại với Moses một lát và nghĩ thêm về Đấng Vô Hình đang truyền tới ông ấy. Thử xác quyết là có một thực tại vô hình nằm ngoài không gian và thời gian này, nơi có thể giao tiếp trực tiếp với loài
người. Giữ ý tưởng ấy trong đầu và bạn sẽ hiểu được ý niệm trung tâm của tôn giáo. Rằng có một thế lực trong vũ trụ nằm ngoài khả năng nắm bắt của các giác quan thông thường và đấng ấy chủ động phán truyền cho một số người đặc biệt để họ tiếp tục đưa thông điệp đó đến những người khác. Tạm thời, ta hãy khoan đồng ý hay phản đối tuyên bố này. Chúng ta chỉ đang cố gắng xác định ý tưởng trọng tâm. Có một thế lực vô hình ngoài kia mà ta gọi chung là Đấng Tối Cao và đấng ấy đã tiếp cận chúng ta rồi! Khi lần theo lịch sử tôn giáo, ta sẽ thấy các tôn giáo khác nhau đều có các phiên bản và cách giải nghĩa khác nhau về tuyên bố này. Hầu hết các tôn giáo đều mặc định là có tồn tại một đấng như thế và tín ngưỡng của họ là cách hồi đáp tốt nhất đối với sự tồn tại này.
Rồi, giờ ta quay lại với Moses và nghĩ về cuộc gặp gỡ trong sa mạc ấy từ góc độ của ông. Bạn thì không thấy bụi cây nào đang cháy hay nghe có giọng nói của đấng nào từ đó phát ra cả. Vậy thì làm thế nào Moses cảm thấy được hơi nóng của ngọn lửa cũng như lắng nghe chăm chú lời phán bảo ông phải làm gì để mà làm theo? Hay những chuyện đó chỉ đang diễn ra trong tâm trí của ông, thế nên bạn không trông thấy gì cả? Hay tâm trí ông Moses đã kết nối với một tâm thức khác mà bạn không có khả năng tiếp cận và lĩnh hội? Nếu các tôn giáo khởi đầu từ các trải nghiệm trong tâm thức của các vị tiên tri và hiền triết, và nếu bạn muốn lắng nghe những chuyện này một cách chân thành chú không chỉ phán bừa đó là tưởng tượng, thì bạn sẽ phải cân nhắc khả năng một số người có thể cởi mở đón nhận những thực tại khác mà số còn lại không nghe và nhìn thấy được.
Một cách giải thích khả dĩ là tâm thức của chúng ta hoạt động trên hai tầng khác nhau, như một căn nhà có tầng trệt và có thêm tầng hầm hay hầm chứa bên dưới. Ta trải nghiệm sự khác biệt đó khi ngủ mơ. Ban ngày, tâm trí có ý thức tỉnh táo sống cuộc đời đã được lên kế hoạch và trật tự ở tầng trệt. Khi ý thức tắt đèn đi ngủ vào ban đêm thì cánh cửa dẫn xuống tầng hầm mở ra, lấp đầy đầu óc đang mơ màng của chúng ta bằng những mảnh vụn lộn xộn vốn là các khao khát chưa được thổ lộ hay những nỗi sợ đã bị quên lãng. Thế nên nếu ta tạm bỏ qua câu hỏi liệu vũ trụ có gì sâu xa hơn những gì mắt thường nhìn thấy, ít nhất ta cũng đã thừa nhận rằng chúng ta có những điều khác nữa, ngoài cuộc sống bình thường, tỉnh táo của mình. Có một hầm ngầm trong tâm thức con người có tên là tiềm thức;
khi ta ngủ, cánh cửa vào tiềm thức mở ra và qua đó, những hình ảnh và tiếng nói tràn vào, điều ta vẫn gọi là chiêm bao.
Trong lịch sử tôn giáo, chúng ta sẽ thấy nhiều người khi thức có được các trải nghiệm mà mọi người khác chỉ thấy khi nằm mơ. Chúng ta gọi họ là những nhà tiên tri và những người mơ mộng, nhưng mặt khác ta cũng có thể nhìn nhận họ như các nghệ sĩ sáng tạo. Thay vì truyền những tưởng tượng của mình vào tranh vẽ hay tiểu thuyết, các nghệ sĩ này bị thôi thúc phải biến chúng thành các thông điệp có thể thuyết phục hàng triệu người tin theo những gì họ đã thấy, đã nghe. Moses là một ví dụ nổi tiếng cho kiểu hoạt động huyền bí này. Một cái gì đó từ một nơi nào đó đã kết nối với ông ấy và vì cuộc gặp gỡ ấy mà lịch sử của dân tộc Do Thái đã thay đổi mãi mãi. Nhưng cái đó là cái gì và nó đến từ đâu? Nó ở sẵn bên trong Moses ư? Hay nó ở bên ngoài? Hay là cùng lúc ở cả trong và ngoài ông ấy?
Thông qua việc lấy ví dụ là câu chuyện xảy đến với Moses ở Sinai cũng như dùng đến ẩn dụ về cánh cửa nối giữa tầng ý thức và tiềm thức của tâm trí, tôi muốn đề xuất một cách tiếp cận đưa ra ba cách lý giải khác nhau về các trải nghiệm tôn giáo.
Thứ nhất, trong một sự kiện kiểu như thế này, cánh cửa giữa tầng ý thức và tiềm thức sẽ mở ra. Những gì xảy ra sau đó giống như một giấc mơ. Các nhà tiên tri tin rằng chúng đến từ bên ngoài họ, nhưng thực chất là đến từ tiềm thức của chính họ. Tiếng nói họ nghe được là thật. Đúng, nó đang nói với họ. Nhưng tiếng nói ấy là giọng nói của chính họ, đến từ bên trong tâm thức của họ thôi. Vì thế mà không ai khác nghe được cả.
Thứ hai, có thể là có hai cánh cửa mở ra trong một sự kiện có tính tiên tri. Tâm trí tiềm thức hay chiêm bao đó chắc là đang tiếp xúc với một thế giới siêu nhiên ngoài kia. Nếu có một thực tại khác ở ngoài kia hay một tâm thức vượt khỏi tâm thức người thường, cũng không phải không có khả năng nó đang cố gắng liên lạc với chúng ta. Điều xảy đến với nhà tiên tri khi họ nhận mặc khải chính là việc họ bắt gặp thực tại khác đó và tâm thức của nó nói chuyện với tâm thức của họ. Thế rồi họ kể cho thế giới biết những gì mình đã được nghe.
Thứ ba là một lập trường nằm giữa giả thuyết Một Cửa và Hai Cửa nói trên. Vâng, biết đâu có hẳn hai cánh cửa ở ngay trong tiềm thức của ta và tâm thức có thể đã thực sự gặp gỡ cái gì đó ở ngoài kia. Nhưng ta cũng biết việc hiểu tâm thức giữa người với người là đáng tin cậy đến mức nào, vậy ta cũng nên thận trọng khi nghe ai đó tuyên bố là mình đã gặp gỡ một dạng tâm thức thần thánh. Cứ cho là có hai cánh cửa trong tầng tiềm thức của tâm trí con người thì có vẻ cánh cửa dẫn đến thế giới kia hiếm khi mở ra hoàn toàn, vì thế ta không thể biết chắc về những gì nhà tiên tri tuyên bố là đã thấy và nghe.
Bây giờ, hãy sử dụng phép ẩn dụ cánh cửa của tôi để nhìn lại những gì đã xảy ra với Moses ở trong sa mạc và cả ba cách tiếp cận giải thích về tôn giáo. Nếu bạn dùng cách lý giải Một Cửa, Moses đã có một giấc mơ truyền cho ông sức mạnh và lòng quyết tâm trở thành người giải phóng nhân dân mình khỏi ách nô lệ ở Ai Cập, câu chuyện sẽ được chúng ta xem xét kỹ hơn ở chương sau. Trải nghiệm đó rất thật. Nó đã xảy ra. Nhưng nó đến hoàn toàn từ tiềm thức của ông mà thôi. Cách tiếp cận tôn giáo này có sự tương đồng rất rõ với những rạp chiếu bóng kiểu cũ mà tôi vẫn rất thích khi còn bé. Ngày đó, phim ảnh được ghi lại trên những cuộn phim bằng nhựa celluloid. Ở phía cuối rạp, trên bao lơn sẽ có một buồng chiếu để phóng những hình ảnh lên một tấm màn bạc trên tường đối diện. Từ chỗ đang ngồi, ta thấy hình ảnh hiện lên trước mặt, nhưng thực ra chúng đến từ cái máy chiếu ở sau lưng ta. Vì vậy, ta có thể nghĩ tôn giáo như một sự phóng chiếu những nỗi sợ hãi và ước ao trong tiềm thức con người ra ngoài màn ảnh cuộc đời. Tôn giáo có vẻ như hiện hữu ở ngoài này và có đời sống riêng. Thực ra nó đến từ những tầng sâu thẳm trong trí tưởng tượng của chính ta. Hoàn toàn là một sản phẩm do con người tạo ra.
Bạn có thể chọn dừng ở cách lý giải đó hoặc chấp nhận phần lớn mô tả đó và vẫn bước qua ý tưởng Hai Cửa. Nếu giữ nguyên mọi trải nghiệm tôn giáo từ khía cạnh con người thì ta cũng có thể tin trải nghiệm đó đến từ Đức Chúa Trời. Sở dĩ chúng ta không nghe được lời phán mà Moses nghe thấy là vì trong trường hợp này, tâm thức của Đấng ấy chỉ giao tiếp trực tiếp với tâm thức của Moses mà thôi. Ta không thấy và không nghe được nhưng đó vẫn là một sự kiện gặp gỡ đích thực đối với một thực thể khác.
Ta không hoàn toàn hiểu được sự kiện nhưng ta vẫn trông thấy kết quả của nó.
Và cách lý giải Hai Cửa có thể phát triển thêm một hướng nữa. Ta biết người gặp gỡ người hằng ngày còn dễ có hiểu lầm đến thế nào nên ta thấy cần cẩn thận, nghi ngờ và dè dặt khi nghe những lời tuyên bố rằng họ đã gặp gỡ Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là ta nên vận dụng năng lực phản biện của mình đối với những tuyên xưng tôn giáo chứ không chỉ tiếp nhận chúng đúng như những gì chúng tự nhận.
Vậy bạn có thể là người không có đức tin, một tín đồ thực thụ hoặc một tín đồ phản biện. Khi bạn ngẫm nghĩ về những vấn đề này qua nhiều năm, có thể bạn sẽ thay đổi từ lập trường này sang lập trường khác, như nhiều người đã trải qua. Tôi sẽ để bạn tự quyết định cách nào là tốt nhất để lý giải các câu chuyện bạn sẽ đọc được trong sách này. Hoặc cứ để cho vấn đề là bất định cho đến tận trang cuối cùng. Thậm chí bạn có thể quyết định là không quyết định gì cả, một quan điểm theo thuyết “bất khả tri”, từ tiếng Anh là agnosticism vốn bắt nguồn từ một từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “không thể biết được”.
Đến đây chứng ta đã và đang nói về tôn giáo một cách chung chung nhất. Giờ đã đến lúc xem xét từng tôn giáo cụ thể. Câu hỏi thú vị ở đây là ta nên bắt đầu từ đâu, vì đó cũng là thứ tự mà ta sẽ đi theo. Không giống như lịch sử khoa học hay triết học, nói về các tôn giáo mà theo thứ tự thời gian chặt chẽ thì sẽ không ổn chút nào. Các sự kiện khác nhau diễn ra ở các nơi khác nhau trong cùng một thời điểm, vậy nên ta không thể đi theo một đường phát triển liên tục. Chúng ta sẽ phải đi ngoắt ngoéo chữ chi theo cả thời gian và địa lý.
Cách tiếp cận này có cái hay là ta sẽ thấy được sự phong phú của các câu trả lời mà các tôn giáo đã đưa ra nhằm đáp lại những câu hỏi lớn con người vẫn tự vấn từ thuở nguyên sơ. Câu hỏi có lẽ vẫn không đổi - “Có ai ở ngoài đó không? Điều gì xảy đến sau khi ta chết?” - nhưng câu trả lời có thể rất khác nhau. Nhờ vậy mà lịch sử tôn giáo trở nên vô cùng hấp dẫn.
May sao, hành trình của chúng ta dường như có một điểm khởi đầu hết sức hiển nhiên. Hẳn là với tôn giáo cổ xưa nhất và theo nhiều nghĩa
cũng là tôn giáo phức tạp nhất còn tồn tại: Ấn Độ giáo, hay Hindu giáo. Vậy ta bắt đầu đi từ Ấn Độ.
CHƯƠNG 3: VÒNG LUÂN HỒI
Một chủ đề phổ biến trong truyện khoa học viễn tưởng là các anh hùng trở lại quá khứ để thay đổi các sự kiện từng gây thảm họa cho lịch sử loài người. Trong phần đầu một câu chuyện kiểu thế, một con tàu đang xinh xịch chạy trên đường ray, mang theo một kẻ đánh bom điên rồ. Kẻ này khiến con tàu nổ tung khi đang đi qua một con đập lớn, rồi dòng nước chảy tràn nhấn chìm cả thành phố. May thay, một tổ chức bí mật của chính phủ đã thu xếp chu toàn việc đưa người đi ngược thời gian, sử dụng thiết bị tối tân đưa một điệp viên lên con tàu đó trước khi nó rời ga và người này có hai tiếng đồng hồ để tìm ra kẻ đánh bom và vô hiệu hóa quả bom. Anh ta hoàn thành vừa kịp lúc và cả thành phố được cứu thoát. Hầu hết chúng ta đều ước mình cũng có khả năng đi ngược thời gian như thế để xóa đi một tin nhắn hay kiềm chế một con thịnh nộ đã gây tổn thương người khác và khiến ta đau khổ. Tuy vậy, quy luật nhân-quả (cái này theo sau cái kia) thắng thế và ta bị kẹt trong kết quả của những điều mình đã làm.
Trong Hindu giáo, điều đó gọi là nghiệp (karma) hay là luật về nghiệp báo. Phạm vi của luật đó không chỉ trong cuộc đời mà bạn đang sống. Theo giáo lý Hindu giáo, linh hồn hay thể tâm linh của bạn đã trải qua nhiều kiếp trong quá khứ trước khi bạn đi vào cuộc đời hiện tại này. Và bạn sẽ còn sống tiếp nhiều kiếp nữa trong tương lai sau khi kiếp này kết thúc. Mỗi kiếp đó là do những điều bạn đã làm trong kiếp trước và trước nữa, ngược về xa xưa, quyết định. Cũng như vậy, cách bạn đang hành xử hiện tại sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bạn sẽ trải qua ở kiếp kế tiếp.
Khi các vị tiên tri và hiền triết của Ấn Độ dõi nhìn vào xa xăm và tự hỏi điều gì xảy đến với con người sau cái chết, họ đã nhận được một câu trả lời xuất chúng. Con người không chết, không theo nghĩa chấm dứt tồn
tại hoàn toàn hay đi tiếp đến một dạng sống khác vượt ra ngoài cái chết. Họ chỉ quay lại Trái đất ở một dạng sống khác do nghiệp của họ chi phối. Và nó có thể không phải là con người. Toàn thể sự sống giống như một nhà máy tái chế vĩ đại, chất lượng của cái đi qua cửa Tử sẽ ảnh hưởng đến địa vị của cái thoát ra từ cửa Tái sinh bên kia. Tên của nhà máy này là vòng luân hồi (samsãra), tức lang thang trôi nổi, vì các linh hồn cứ nương theo đó mà đến hình hài kế tiếp và tiếp nữa. Từng hành động ta làm trong kiếp này, cả tốt và xấu, cứ thế tác động đến chất lượng của kiếp sống kế tiếp. Không chỉ cố con người mới mắc kẹt trong vòng luân hồi. Bản thân thế giới cũng theo quy luật chết và tái sinh như thế. Ở cuối vòng luân hồi hiện tại sẽ là một trạng thái ngơi nghỉ tĩnh lặng để rồi đến lúc chín muồi, linh hồn lại được triệu hồi vào cuộc hiện sinh. Cứ vậy mà bánh xe luân hồi cứ xoay, xoay và xoay thêm nữa.
Nhưng các vị hiền triết không nghĩ nghiệp như một sự trừng phạt đến từ đấng siêu nhiên nào đó chuyên giám sát các linh hồn. Nghiệp là một quy luật khách quan như định luật hấp dẫn, theo đó thì thứ này đến từ một thứ khác, như kết quả theo sau nguyên nhân, như chạm một quân domino và cứ thế nhìn các quân khác đổ rạp. Trong lúc lang thang trôi nổi trong vòng luân hồi, linh hồn có thể trải qua lần lượt tám triệu kiếp khác nhau trước khi đạt tới cái gọi là sự giải thoát (moksha), tức được giải phóng khỏi hiện hữu, hòa vào vĩnh cửu như một giọt mưa rơi xuống đại dương. Và làm sao để thoát khỏi vòng quay vô tận của luân hồi và đạt đến một sự cứu rỗi là mục đích tối hậu của Hindu giáo.
Thuật ngữ diễn tả quá trình xảy ra với chúng ta sau cái chết là sự đầu thai chuyển kiếp. Nhiều cộng đồng khác trên khắp thế giới cũng tin vào điều đó, nhưng không đâu mãnh liệt như trong Ấn Độ giáo. Những từ tôi dùng để định nghĩa sự đầu thai - nghiệp (luật nhân quả), vòng luân hồi (sự lang thang của linh hồn tìm kiếm sự giải thoát hay giải phóng) - tất cả bắt nguồn từ một ngôn ngữ cổ là tiếng Phạn. Thuở xa xưa, một nhóm người man di từ phương Bắc đã tràn vào đất Ấn và đem tới ngôn ngữ này. Nhờ sự bùng chiếm của họ vào Ấn Độ khoảng năm 2000 TCN đó mà ta có thể đánh dấu thời điểm ra đời của Hindu giáo.
Phía trên Ấn Độ, xa về phương bắc có một vùng đồng cỏ trải dài gọi là thảo nguyên Trung Á. Đó là thảo nguyên cỏ mọc bạt ngàn, nơi lý tưởng
cho dân du mục cưỡi ngựa theo các đàn gia súc gặm cỏ, không ngừng tìm kiếm các đồng cỏ tốt nhất. Vì những lý do mà ta chưa biết rõ, vào khoảng đầu thiên niên kỷ thứ hai TCN, những người này bắt đầu di cư khỏi thảo nguyên để tìm cuộc sống tốt hơn. Nhiều người trong số họ đi về phía nam vào đất Ấn Độ. Họ gọi dân họ là Aryan, nghĩa là “đồng bào”. Họ là những người hiếu chiến, lái chiến xa cực nhanh. Và những làn sóng người Aryan đã tràn vào thung lũng Indus nằm ở góc tây bắc tiểu lục địa Ấn Độ.
Một nền văn minh tiến bộ đã hiện diện ở đó với những hệ thống nghệ thuật, kiến trúc và tôn giáo tân tiến. Nó cũng mang những hạn chế lẫn ưu việt của mọi xã hội phát triển khác. Vó ngựa xâm lăng của người Aryan đã tiến đến trong bối cảnh như vậy, với năng lượng cũng như sự dũng cảm bù đắp lại những gì họ còn thiếu về mặt tinh tế. Một yếu tố nữa phân biệt những kẻ xâm lăng với người bản địa là màu da của người Aryan sáng hơn và sự khác biệt về màu da này được nhắc đến trong sử sách nhiều đến mức trải qua hàng thế kỷ, nó đã tạo nên một ấn tượng xấu cho thuật ngữ gọi là “người Aryan”. Họ không chỉ mang vào Ấn Độ màu da sáng mà cả những vị thần linh của họ và sự khỏi nguồn của một kho tàng kinh văn tôn giáo phi thường gọi là kinh Vệ Đà.
Kinh Vệ Đà ở dạng văn bản được sáng tác đầu tiên trong khoảng năm 1200 và 1000 TCN, khi người Aryan đã ổn định và thống trị đời sống tại Ấn Độ. Được xem là loại kinh dạng Shruti, tức là “nghe thấy/được mặc khải”, kinh Vệ Đà được hiểu theo hai hướng khác nhau nhưng có liên quan đến nhau. Nội dung cốt yếu của Vệ Đà vốn gốc là những gì các vị hiền triết trong quá khứ đã nghe được khi họ đợi thế giới bên kia tiết lộ cho mình ý nghĩa của sự tồn tại. Các vị này là những người nghe đầu tiên, là đối tượng mà lời phán đã chọn. Những gì họ nghe thấy lại được các môn đệ của họ lắng nghe hết lần này đến lần khác, hệt như cách các sư phụ của họ đã truyền kể. Nội dung kinh Vệ Đà được truyền lại theo cách này qua nhiều thế kỷ. Để học các bản kinh Hindu giáo thì hình thức được ưa chuộng hơn cả vẫn là đọc lớn. Bạn sẽ không tìm thấy một cuốn “Kinh Thánh” hay “Kinh Koran” trong đền thờ Hindu giáo nhưng bạn sẽ nghe thấy nội dung kinh được xướng lên trong các nghi lễ cử hành tại đó.
Vệ Đà (Veda) nghĩa là “tri thức”, cùng một gốc với những từ tiếng Anh như “wit” - trí khôn và “wisdom” - trí tuệ. Vệ Đà là tập hợp của bốn
cuốn kinh cổ Rig Veda, Yajur Veda, Sama Veda và Arthava Veda; mỗi cuốn lại được chia làm bốn phần là Samhita, Brahmana, Aranyaka và Upanishad. Samhita của Rig Veda là cổ xưa nhất trong bốn tạng kinh Vệ Đà, chứa đựng hơn một ngàn bài tụng ca dâng lên các thần linh. Trong tôn giáo nói chung thì việc làm đó gọi là “thờ phụng” và ta có thể hiểu nó giống như một cách tôn vinh mà các nhà cai trị quyền thế ưa thích, tựa như cách Nữ hoàng Anh được tôn xưng là “Bệ hạ” và mọi người sẽ khom lưng cúi đầu hay nhún người khi gặp bà. Dưới dây là một ví dụ về sự xưng tụng như thế trong Rig Veda:
Đấng tạo lập Vạn vật, vô cùng thông thái, vô cùng mạnh mẽ,
Đấng sáng tạo, Người ban lệnh, Hình mẫu cao đẹp nhất...
Chắc bạn đã hiểu, tán dương hết lời! Và giống các vị đế vương trên mặt đất thích nhận cống nạp và đắm mình trong những lời khen tặng, các vị thần linh cũng thế. Các bài tụng ca là lời tán dương dâng lên các vị thần, tiếp theo là các vật cúng tế như những món quà đi kèm. Tất cả chúng phải được trình bày trong các buổi lễ chu toàn do những vị có đủ thẩm quyền và năng lực thực hiện. Trong Hindu giáo, các thầy tu chuyên cử hành lễ tế gọi là tu sĩ Bà la môn (Brahmin) và các bản chỉ dẫn họ biên soạn để thực hiện các nghi lễ gọi là Brahmana.
Các danh mục trong các bản chỉ dẫn đó có thể nhàm chán với hầu hết chúng ta, nhưng với những ai hứng thú với tôn giáo thì chúng lại rất thú vị đến khó cưỡng. Khi còn là một thanh niên đang theo học để trở thành linh mục, tôi rất hứng thú với các sách hướng dẫn về nghi thức và nghi lễ của các truyền thống Kitô giáo khác nhau. Hồi đó có một tập sách dày gần hai chục phân có tên The Ceremonies of the Roman Rite Described (tạm dịch: Mô tả các nghi thức trong lễ của Công giáo La Mã) cũng như một ấn bản cũ của Giáo hội Anh tên là Ritual Notes (tạm dịch: Các ghi chú về Lễ); tôi từng hào hứng chìm đắm trong cả hai cuốn đó để mường tượng các giám mục đi thành hàng chầm chậm vào trong các thánh đường to lớn mờ ảo trong làn khói hương dịu ngọt. Những cuốn sách đó tựa như Brahmana của Công giáo La Mã vậy. Nhưng không chỉ những tu sĩ mới thích mặc lễ phục và thực hiện các nghi lễ mà nhiều câu lạc bộ kín và hội sinh viên cũng có
những truyền thống bí mật của riêng họ như những lời nhắc nhở về nhu cầu của con người xưa nay về biểu tượng luận và nghi lễ.
Nếu bạn cũng như tôi, quan tâm đến các niềm tin chứa đụng trong tôn giáo hơn là các nghi thức bề ngoài thì giai đoạn phát triển sau cùng của kinh Vệ Đà sẽ cuốn hút bạn hơn. Nó thể hiện trong bản văn Áo Nghĩa Thư (Upanishad), được viết trong khoảng ba thế kỷ và hoàn tất khoảng năm 300 TCN. Áo Nghĩa Thư ý là “ngồi gần thầy” và chuyển sự quan tâm từ khía cạnh thể hiện hay nghi lễ sang các triết lý và thần học của Hindu giáo. Chính trong Áo Nghĩa Thư ta sẽ bắt gặp lần đầu tiên thuyết về nghiệp và vòng luân hồi đã nói đến ở đầu chương.
Trong chương kế, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự ra đời của một số giáo lý đặc trưng của Hindu giáo cũng như việc chúng đã được diễn giải ra sao. Nhưng tôi muốn kết lại chương này bằng cách chuyển sang câu trả lời của Hindu giáo đối với câu hỏi quan trọng khác của tôn giáo. Ta đã biết họ trả lời câu hỏi về điều xảy đến với con người sau khi chết như thế nào. Câu trả lời trong Áo Nghĩa Thư chứa đựng cả một học thuyết đáng chú ý về đầu thai chuyển kiếp. Một câu hỏi khác tôn giáo luôn đặt ra là cái gì, nếu thật sự có cái gì, ở ngoài khoảng không tối đen của vũ trụ kia. Các tôn giáo khác thường lấy tên những nhà tiên tri đã đưa ra câu trả lời cho họ làm tên tôn giáo mình nhưng Hindu giáo lại không như vậy. Không có vị sáng lập nào để tôn giáo này đặt tên theo, cũng không có một hình tượng ban đầu duy nhất nào để nó lấy làm niềm cảm hứng. Nó đến từ những người mơ mộng vô danh từ trong quá khứ xa xưa của đất Ấn. Hindu giáo có thể không ghi tên của những người mộng tưởng đầu tiên đó nhưng nó vẫn giữ lại những gì họ đã kể lại.
Và trong kinh Rig Veda, Ấn Độ giáo bắt đầu trả lời câu hỏi cái gì ở ngoài kia. Để nghe được nó, chúng ta cần tưởng tượng mình đang hạ trại bên đống lửa, dưới bầu trời đầy sao của Bắc Ấn, khi một trong các vị hiền triết không tên đi xuyên qua thời gian về lại thời khởi thủy của thế giới và hơn thế nữa. Vị ấy không hẳn đang nói mà đang hát tụng trong khi đưa mắt nhìn sâu vào màn đêm.
Thủa ấy, chẳng có không-tồn-tại hay tồn-tại: chẳng có tầng không hay vòm trời xa xăm.
Chỉ Cái Độc Nhất đó, không có hơi thở, vẫn sống đời tự nó: ngoài ra chẳng có bất cứ thứ gì.
Các thần linh cũng chỉ xuất hiện sau này. Vậy thì, ai biết được thế giới từ đâu mà có?
Đấng ấy, người đến trước trong tạo hóa, chính ngài gây thành tất cả hay chẳng cất tay.
Đấng trị vì dõi mắt từ tầng trời cao nhất kia, ngài ắt biết cơ sự, mà có thể cũng chẳng hề hay.
Nội dung lời hát tụng trên chứa đựng những điều đáng ngạc nhiên. Cũng có “các thần linh” như chúng ta vẫn được kể, tuy vậy họ “cũng chỉ xuất hiện sau này”. Nghĩa là các vị thần, cũng như chúng ta, được tạo tác mà ra và cũng chịu sự chi phối của vòng thời gian luân hồi. Thần cũng đến và đi như ta vậy. Rồi người mộng tưởng này còn ám chỉ rằng đằng sau tất cả những vận đổi sao dõi đó có một thứ vẫn không đổi thay, gọi là “Cái Độc Nhất đó”. Cứ như cả lịch sử và mọi tạo vật trong đó chỉ như những màn sương mù bao phủ làm khuất lấp sự hiện diện của một ngọn núi sừng sững vĩ đại: Cái Độc Nhất đó! Nhưng nó là cái gì vậy? Các vị thần do nó phái đến là những ai?
CHƯƠNG 4: TỪ MỘT THÀNH NHIỀU
Một ngày nọ, bạn nghe tin nhà văn mình yêu thích sẽ đến thành phố để trò chuyện về tác phẩm của cô ấy. Bạn đến hiệu sách nơi tổ chức sự kiện và nghe cô đọc trích đoạn cuốn sách mới, trong đó đầy rẫy những chuyến phiêu lưu mới nhất của các nhân vật vốn từ lâu quen thuộc với bạn. Bạn hỏi tác giả rằng các nhân vật đó ở đâu mà ra. Họ có thật không? Họ có tồn tại đâu đó ngoài đời chứ? Cô ấy cười lớn và đáp: “Chỉ có trong trí tưởng tượng của tôi thôi”. Vậy là cô nhà văn đã bịa ra tất. Tất cả nhân vật chỉ từ trong đầu cô mà ra, nhờ thế cô ấy có thể làm mọi điều cô muốn với các nhân vật.
Chuyện gì xảy ra nếu trên đường trở về từ buổi nói chuyện đó, bạn chợt nghĩ chính mình cũng không có thật? Có thể bạn cũng là sản phẩm do ai đó tạo dựng ra, một nhân vật trong cốt truyện mơ mộng của ai khác? Nếu vậy bạn sẽ giống một nhân vật trong một cuốn sách đột nhiên nhận ra mình không có đời sống độc lập như từng tưởng mà chỉ đơn giản là sản phẩm tưởng tượng của một nhà văn nào đó.
Các nhà hiền triết Ấn Độ đã ngộ ra chân lý tương tự như vậy. Chính họ cũng không thật! Chỉ có một thứ là thực sự thật: Linh hồn hay Thể tâm linh của vũ trụ mà họ thường gọi là Brahman, tức Đại Ngã (Brahmar); thứ có thể tự biểu hiện hoặc biên tạo dưới nhiều dạng thể khác nhau. Mọi thứ trên thế gian hiện hữu ở dạng vật chất cụ thể này, thực ra, là một khía cạnh của Brahman trong vô số hình dạng và lớp cải trang. Như Áo Nghĩa Thư đã nói, nó “ẩn tàng trong mọi thứ tồn tại... cái ngã của chung tất cả, quan sát
mọi việc, ngụ ở mọi thứ, chứng nhân, nhận thức, chỉ một cái duy nhất”. Chúng đều thuộc trong Brahman và Brahman ở trong chúng!
Một câu chuyện trong Áo Nghĩa Thư đã lột tả được sự gần gũi của bản dạng này qua một câu nổi tiếng: Người cha nói với con trai: “Đó là cái tinh túy thiện hảo nhất - linh hồn của toàn thể thế giới này là chính nó. Đó là Thực tại... và... cũng là con đó, Shvetaketu”. Con người có thể nghĩ họ tồn tại tách biệt, độc lập, nhưng đó chỉ là một ảo ảnh. Tất cả đều là các nhân vật xuất hiện hết lần này đến lần khác trong cốt truyện dần khai mở của Brahman, mỗi vai của họ trong chương kế tiếp là do nghiệp tích tập của họ viết ra.
Không chỉ các cá nhân là được phân vai sẵn. Cách xã hội được tổ chức thành các giai cấp hoặc tầng lớp cũng được định sẵn trong kịch bản. Mỗi lần một hồn người đầu thai trở lại, nó sẽ ở trong một nhóm xã hội đó và phải sống hết phần đời của mình cho đến khi cái chết và sự tái sinh tiếp theo xảy đến. Có một mối liên hệ rõ ràng giữa các tầng lớp và màu da của họ nên ta nên lưu ý rằng những người Aryan có màu da sáng đã đi xâm chiếm và mang ngôn ngữ, tôn giáo của họ vào thung lũng Indus và có lẽ đã coi thường những tộc người có màu da sậm hơn mà họ bắt gặp. Trước khi họ đến, có thể đã tồn tại một cách phân loại đẳng cấp nào đó ở Ấn Độ; tuy nhiên, người Aryan đã hợp thức hóa sự phân đẳng cấp bằng cách nói đó là sự sắp xếp theo ý của đấng Thực tại Tối cao và có một bản kinh mô tả nguồn gốc việc đó.
Brahman đã ủy thác nhiệm vụ tạo ra thế giới này cho một vị thần gọi là Thần Sáng tạo (Brahma). Vị này tạo ra người đàn ông đầu tiên, gọi là Manu, và người phụ nữ đầu tiên, gọi là Shatarupa. Từ đó, nhân loại ra đời. Thế nhưng con người không được tạo ra bình đẳng với nhau mà có bốn đẳng cấp, tương ứng với tầm quan trọng giảm dần: Cao nhất là các Bà la môn (Brahmin), những tu sĩ và giáo sĩ; kế đến là các Sát đế ly (Kshatriya), hàng vua chúa quý phái và các tướng lĩnh, chiến sĩ; dưới họ là Vệ xa (Vaisyas), gồm các thương gia, chủ điền và thợ thủ công; dưới cùng là Thu đà la (Sudra), những kẻ hầu hạ và lao động chân tay. Người Bà la môn có nước da trắng, Sát đế ly thì gắn với màu đỏ, Vệ xa gắn với màu vàng, còn Thu đà la màu da đen. Và tận cùng, bên dưới cả bốn đẳng cấp trên là giai cấp bị coi như đời đời không trong sạch, chuyên dọn dẹp nhà xí và các việc
dơ bẩn khác. Họ là những kẻ “tiện dân”, đến cái bóng của họ đi đến đâu cũng sẽ làm ô uế đến đó. Đó là một hệ thống khắc nghiệt và vững chắc, tuy niềm tin vào nghiệp và luân hồi tái sinh cũng phần nào làm giảm sự khổ đau trong đó. Lang thang trôi nổi trong các cõi sống do nghiệp định sẵn, con người luôn có thể hy vọng rằng bằng cách sống tốt, họ có thể cải thiện vị trí của mình ở kiếp kế tiếp.
Tuy vậy, thế giới với các đẳng cấp cùng vô số dạng sống khác nhau không phải là cách duy nhất Brahman thể hiện mình. Ngài còn tạo ra các thần linh, hàng triệu vị thần. Đó cũng là một cách khác để Đấng Vô Hình khoác lên các hình dạng phong phú. Chúng ta cũng nên thận trọng khi nhìn nhận các vị thần đó. Bề ngoài thì ta hay nói Hindu giáo là tôn giáo đa thần, nghĩa là họ tin vào nhiều vị thần; nhưng cùng lúc nói Hindu là tôn giáo độc thần cũng không sai vì bấy nhiêu vị thần đều được cho là những khía cạnh hay biểu hiện của cùng một Đấng mà thôi. Rồi ngay cả ý tưởng về “một Đấng” cũng không hẳn chính xác. Trong niềm tin của Hindu giáo, đằng sau tất cả các nhân vật huyễn ảo đổi thay vụt qua trong cuộc đời - tính cả các “vị thần” - là một Thực tại Tối cao, chính là “Cái Độc Nhất” mà Áo Nghĩa Thư mô tả. Nếu bạn hứng thú với các thuật ngữ, niềm tin này có thể hiểu là thuyết Nhất nguyên (monism), nghĩa là niềm tin vào “một-thứ” chứ không hẳn là “một-thần”.
Không phải ai cũng có tâm thức thoải mái đón nhận một tư tưởng cao xa như thế nên hình ảnh các vị thần được với tư cách là các biểu tượng cho “Cái Độc Nhất” tạo ra để mọi người có đối tượng để nhìn vào và quán tưởng. Hãy nhớ rằng: biểu tượng là một đối tượng đại diện và kết nối ta với một ý tưởng lớn. Hindu giáo có hàng ngàn vị thần linh và hàng ngàn hình ảnh để bạn lựa chọn, tất cả được tạo tác để hướng suy nghĩ của các tín đồ về Cái Độc Nhất, thông qua nó, vạn vật trở nên hiện hữu.
Nếu bạn muốn biết các thần linh Hindu giáo trông ra sao, bạn có thể tìm thấy họ trong các đền thờ, do đó hãy cùng đến đền thờ gần nhất. Chúng ta sẽ bước lên các bậc tam cấp đến thềm điện, cởi giày dép và đi chân trần vào trong. Chúng ta vào đến chính điện và ở cuối điện, trên vài bậc tam cấp nữa là một điện thờ một hay nhiều vị thần bảo hộ ngôi đền. Những ngôi đền lớn ở Ấn Độ thờ rất nhiều vị thần khác nhau. Còn ngôi đền chúng ta đang ghé thăm chỉ thờ ba vị rất nổi tiếng và quan trọng.
Ở
Ở đây có bức tượng một người đàn ông nhảy múa có ba mắt và bốn tay, từ đầu tượng chảy ra dòng sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, sông Hằng. Bên này là bức tượng với thân người to lớn, bụng bự và đầu của con voi. Nhưng khám phá gây bối rối nhất phải là một bức tranh vẽ hình một phụ nữ có lưỡi thè ra hết cỡ; bà có bốn tay, một tay cầm thanh gươm sắc nhọn và những tay khác nắm vài thủ cấp còn đang nhỏ máu.
Hình người nhảy múa có ba mắt, bốn tay chính là thần Shiva, vị thần Hủy diệt. Thần đầu voi là Ganesh, một trong các con trai của thần Shiva với vợ là nữ thần Parvati. Người phụ nữ bốn tay cầm vài thủ cấp kia là Kali, một bà vợ khác của thần Shiva. Sở dĩ thần Ganesh mang đầu voi là vì một ngày nọ, cha ngài đã không nhận ra con trai mình nên đã chém bay đầu ngài. Khi nhận ra sai lầm của mình, Shiva đã hứa sẽ hồi sinh cho Ganesh và gắn cho ngài đầu của sinh vật đầu tiên mà ngài bắt gặp; và đó là một con voi. Và hợp với một người từng trải qua một thách thức ra trò như vậy, Ganesh là một vị thần bình dân và dễ gần, giúp đỡ các tín đồ đương đầu với những thử thách họ gặp trong đời.
Câu chuyện của thần Kali thì dữ dội hơn. Các vị thần trong Hindu giáo có năng lực biến thân mạnh mẽ và Kali chính là một trong các hóa thân của mẫu thần, khía cạnh tính nữ của Đấng nhất thể. Trong một trận chiến của Kali với quỷ dữ, bị cuốn theo con cuồng nộ hủy diệt, thần đã ra tay hạ sát mọi thứ trước mặt. Để cản Kali, Shiva phủ phục dưới chân Kali. Kali sửng sốt trước việc làm đó của Shiva đến nỗi lưỡi của thần thè ra vì bất ngờ. Trong khi Kali và Ganesh là những hình tượng nhiều màu sắc, Shiva mới là vị thần quan trọng hơn cả. Trong bộ tam thần tối cao của đền thờ Hindu, Shiva là vị đáng ghi nhớ nhất, còn hai vị kia là Thần Sáng tạo Brahma mà ta đã nhắc ở trên và Thần Bảo hộ Vishnu.
Để hiểu được vị trí của ba vị thần tối cao trong Hindu giáo, ta cần hiểu hai cách nhận thức về thời gian khác nhau. Trong tư duy người Tây phương, thời gian như một mũi tên phóng về mục tiêu, bởi vậy hình ảnh minh họa phù hợp nhất là một đường thẳng thế này: . Còn trong tư duy Ấn Độ, thời gian quay như một chiếc bánh xe, vậy nên hình dung tốt nhất về nó là một đường tròn như thế này: . Cũng như mỗi cá nhân là do nghiệp của họ đưa đẩy từ vòng tái sinh này đến vòng tái sinh khác, vũ trụ tuân theo một quy luật tương tự. Vào cuối hạn kỳ hiện tại của nó, vũ trụ tan biến vào
hư không trống rỗng, cho đến khi Cái Độc Nhất khởi động vòng quay thời gian lần nữa và thần Sáng tạo Brahma cho ra đời một vũ trụ khác.
Vai trò của Brahma đến đó là kết thúc, thần nghỉ ngơi cho đến vòng quay kế tiếp, giờ là đến lượt thần Vishnu đảm trách. Thường được mô tả với tay phải cầm chùy như biểu tượng của quyền thế, Vishnu là vị thần ấp ủ cả thế gian như một bậc phụ mẫu ân cần và dốc sức bảo vệ sự an toàn của thế giới. Vishnu an ủi và làm người ta yên lòng, thậm chí có thể hơi nhàm chán. Shiva thì chẳng hề giống như thế vì thần đại diện cho phương diện hiếu chiến trong bản chất con người. Shiva là kẻ hủy diệt, chấm dứt mọi thứ Brahma đã dựng nên và Vishnu đã giữ gìn. Hành động kịch tính nhất của Shiva là Tử Vũ, tức giẫm đạp lên thời gian và thế giới để đưa tất cả về lãng quên cho đến khi vòng quay kế tiếp bắt đầu.
Khi những tín đồ Hindu chí thành nhìn chăm chú vào các hình ảnh thần linh và suy ngẫm về những điều các vị đại diện, họ sẽ được nhắc nhớ về vòng quay của bánh xe thời gian vĩ đại cứ thế xoay và xoay, đưa họ sống hết kiếp này đến kiếp khác. Đó là một sân khấu quay vòng, trong đó họ cứ đến và đi, xuất hiện và biến mất, bước vào rồi bước ra, một quang cảnh rực rỡ mà cũng mỏi mệt rã rời. Vậy thì họ có cách nào bỏ được cái sân khấu đó để mà lui về nghỉ ngơi không? Liệu có khả thi cho một lối thoát cuối cùng khỏi những đến và đi trong vòng luân hồi?
Linh hồn có thể thực hiện những cách thức tu tập sẽ giúp nó thoát khỏi sân khấu xoay vần của thời gian, nhưng để hiểu được chúng thì ta phải nhớ lại một thế lưỡng nan mà con người vướng phải. Bản thân con người không có thật, vậy mà họ kẹt trong ảo tưởng rằng mình có thật. Sự cứu rỗi là được giải phóng khỏi ảo tưởng đó và khiến bản ngã biến mất hẳn. Để cho đơn giản thì ta có thể tạm chia các cách thức dẫn đến giải thoát đó thành hai loại thực hành tâm linh. Ta có thể xem hai loại đó như một đường hướng ra ngoài và một đường hướng vào trong; đường này tập trung vào một cái gì đó, đường kia tập trung vào hư không.
Khi đi theo con đường hướng ra ngoài, còn được gọi là mộ đạo tôn kính, các tín đồ dùng hình ảnh hay hình dạng của một vị thần để đạt được sự tương thông với Đấng Vô Hình. Họ mang phẩm vật dâng lên thần linh trong đền và chăm sóc vị ấy với lòng tôn kính. Khi thực hiện các nghi thức
này, họ đã thoát khỏi chính mình để đi vào Cái Độc Nhất. Cách này khuyến khích một dạng vị tha, dần dần giải phóng con người khỏi những bám víu cố hữu vốn khiến họ mắc kẹt trong ảo tưởng. Tuy thế, đây là một quá trình chậm chạp và có thể mất vô số kiếp sống trước khi đạt đến sự giải thoát cuối cùng khỏi bánh xe luân hồi.
Con đường giải thoát kia tiếp cận theo hướng ngược lại. Nó không dùng đến các hình ảnh để đạt tới cái nằm bên ngoài hình tướng. Nó cố gắng trút bỏ hết ảo tưởng của bản thân bằng cách thực hành thiền định. Bằng cách học ngồi tĩnh tại và phớt lờ những khó chịu trên thân xác cũng như những điều gây nhiễu tâm liên tục, người hành thiền nỗ lực rũ sạch cái bản ngã ảo tưởng để đến sự hợp nhất với cái Thật. Thế nhưng thiền định cũng không phải là một lời giải nhanh chóng. Trạng thái hợp nhất mà nó mang lại là thoáng qua. Tâm trí trống rỗng lại sớm đầy ắp những ham muốn và nhũng nhiễu quen thuộc. Chính vì thế mà trong quá trình theo đuổi trạng thái vị tha và hợp nhất với Cái Độc Nhất về lâu dài, có những người chọn từ bỏ hết các mối liên hệ trần tục và trở thành những kẻ hành khất lang thang trôi nổi, sống đời hoàn toàn chối bỏ bản thân. Họ đè nén những nhu cầu của thể xác vốn trói buộc họ với đời để đánh mất chính mình rồi hòa vào với Cái Độc Nhất, thứ duy nhất có thực.
Hindu giáo vẫn giữ lời hứa về sự giải phóng cuối cùng khỏi vòng luân hồi, nhưng chỉ riêng nghĩ về hằng hà sa số kiếp mà ta cần trải qua để đến với sự cứu chuộc đó cũng đủ khiến ta choáng váng. Vào khoảng năm 500 TCN, một số kẻ đã tự hỏi chẳng lẽ không có cách nào nhanh hơn để đạt tới sự giải thoát đáng mong chờ đó. Câu trả lời đã được một trong những kỳ tài hấp dẫn bậc nhất trong lịch sử tôn giáo đưa ra. Ngài là hoàng tử Siddhartha Gautama (Tất đạt đa Cồ đàm). Nhưng người ta thường biết đến ngài với tôn hiệu Đức Phật.
CHƯƠNG 5: HOÀNG TỬ THÀNH PHẬT
Một ngàn năm trăm năm sau khi vó ngựa người Aryan sầm sập tiến vào đất Ấn và khởi đầu cho sự phát triển của một tôn giáo phức tạp và đa sắc gọi là Hindu giáo, một người đàn ông đã đau đáu nhìn vào giáo thuyết của Hindu giáo về những kiếp đầu thai vô tận. Ngài tự hỏi điều gì đã trói buộc các linh hồn vào bánh xe luân hồi đó. Từ câu trả lời mà ngài tìm được, một phong trào tâm linh mới đã ra đời. Chào đời vào khoảng năm 580 TCN dưới chân dãy núi Himalaya ở vùng Đông Bắc Ấn, tên ngài là Siddhartha Gautama (Tất-đạt-đa cồ-đàm) và sau đây là câu chuyện về ngài.
Siddhartha xuất thân từ hàng Sát đế ly, đẳng cấp của những vị vua chúa và các chiến binh. Cha ngài là vua Suddhodhana (Tịnh Phạn), người trị vì thị tộc Sakya (Thích ca). Khi đức vua 50 tuổi, hoàng hậu Maya hạ sinh một hoàng tử. Vốn là một cậu bé mộ đạo, Siddhartha đã học kinh Vệ Đà thiêng liêng của Hindu giáo. Và dù ngài là một hoàng tử sống đời vương giả, các sư phụ của ngài vẫn nhắc nhở rằng giống như mọi người khác, ngài cũng đang trên một hành trình dài đi qua nhiều kiếp. Năm 16 tuổi, ngài kết hôn với công chúa Yosodhara (Da-du-đà-la) và hai người có một con trai tên là Rahula (La-hầu-la). Đến năm 29 tuổi, Siddhartha vẫn sống một cuộc đời đầy đặc quyền và yên ấm, mọi nhu cầu của ngài đều được vô số kẻ hầu người hạ đáp ứng. Thế nhưng chỉ trong vài ngày, một chuỗi sự kiện đã làm thay đổi cuộc đời ngài vĩnh viễn. Người ta gọi các sự kiện đó là Tứ Cảnh.
Ngày đầu tiên, sau khi trở về từ một cuộc đi săn, Siddhartha trông thấy một người đàn ông hốc hác đang oằn mình đau đớn trên mặt đất. Ngài hỏi người cận vệ Channa (Sa Nặc) của mình có chuyện gì với ông ấy và nhận được câu trả lời “Ông ta bị bệnh đó ạ”. Ngài hỏi tiếp: “Sao ông ấy
bệnh?” “Thưa hoàng tử, cuộc đời là thế. Ai rồi cũng sẽ bệnh”. Ngài trầm ngâm không nói gì.
Ngày kế tiếp, ngài gặp một ông cụ lưng còng rạp, cái đầu gà gật, đôi tay run rẩy. Ngay cả khi đã chống hai cây gậy, ông cụ vẫn đi lại khó khăn. Hoàng tử hỏi Channa: “Ông cụ này cũng bệnh sao?” Channa đáp: “Dạ không, ông ấy già rồi. Già thì người ta như vậy đấy ạ”. Ngài trầm ngâm và cũng không nói gì.
Cảnh tượng thứ ba là một đám ma. Một người đã chết được khiêng đến giàn hỏa thiêu theo truyền thống của Hindu giáo trong khi vợ con người này theo sau khóc than. Siddhartha tiếp tục hỏi Channa chuyện gì đang xảy ra. “Đó là cảnh ngộ của mọi xác thân, thưa hoàng tử. Dù là vương tử hay là dân nghèo, ai cũng phải đến lúc chết”. Lần này Siddhartha cũng không nói gì.
Như vậy Siddhartha đã chứng kiến nỗi đau của bệnh tật, tuổi già và cái chết. Ngài tự hỏi: “Điều gì là nguyên nhân của mọi khổ đau này?” Ngài đã học kinh Vệ Đà nhưng tất cả những gì kinh nói đó là quy luật cuộc đời, là nghiệp báo. Khi ngài ngồi trong cung điện suy nghĩ về việc này, tiếng ca hát vẫn ngân vang ngoài cửa sổ, nhưng nó chỉ khiến ngài buồn hơn. Ngài nhận ra lạc thú là thoáng qua, nó xoa dịu nhưng cũng không thể làm gì để chậm bước cái chết.
Vào ngày thứ tư, trong lúc ngài đến chợ cùng Channa như thường lệ, giữa những thương gia và người mua sắm tấp nập, Siddhartha thấy một tỳ kheo trong y phục tồi tàn đang đi xin ăn. Vị tỳ kheo già và rõ ràng là nghèo, vậy mà trông ông thật hạnh phúc và thanh thản. Hoàng tử hỏi Channa: “Người này là sao đây?” và được giải thích rằng đó là một trong rất nhiều người đã rời nhà để sống đời vô hữu và không bận tâm đến sự sở hữu nữa.
Siddhartha trở về với nhung lụa trong cung điện cùng suy tư sâu sắc. Đêm hôm đó, mất ngủ và trằn trọc không yên, đột nhiên ngài nhận ra nguyên nhân của khổ đau của con người chính là ham muốn. Đàn ông đàn bà không bao giờ bằng lòng với những gì mình có, chẳng bao giờ bình an. Họ thèm khát cái họ không có. Rồi ngay khi có được điều họ từng ham muốn, một thèm khát nữa lại thế chỗ. Càng nghĩ về điều này, Siddhartha càng thấy chán ghét những ham muốn. Ham muốn giống như một căn bệnh đày đọa mọi người sinh ra trên đời và không ai thoát khỏi sự cưỡng bách của nó. Dù chán ghét ham muốn như vậy, Siddhartha cũng thấy thương cảm những người đang bị nó giày vò. Đó là lúc ngài quyết định sẽ giúp đỡ họ. Ngài muốn tìm ra một con đường giải thoát con người khỏi những trói buộc của ham muốn để họ không bao giờ phải sinh ra trong thế giới khổ đau này nữa. Ngài sẽ tìm kiếm một sự giác ngộ có thể cứu rỗi mình khỏi vòng xoay của luân hồi tái sinh. Rồi ngài sẽ dẫn những người khác đi theo con đường đã tìm thấy.
Quyết định như vậy, Siddhartha rời khỏi giường. Sau khi thì thầm lời tạm biệt với vợ và con, ngài triệu Channa đến và cả hai cùng ra đi vào màn đêm trên cỗ xe do chú ngựa Kanthaka kéo. Khi cả hai đến bìa rừng, Siddhartha xuống xe và dùng gươm cắt đi mái tóc đen dài. Ngài đưa tóc cho Channa và ra lệnh mang về cung điện như một bằng chứng cho biết từ đây ngài bắt đầu một cuộc đời mới. Rồi ngài đổi bộ y phục đắt tiền của mình lấy áo quần của một kẻ lang thang, từ đây sống đời của một kẻ du hành không nhà cửa. Khi trở thành một kẻ ăn mày, hoàng tử Siddhartha Gautama được 29 tuổi. Khoảnh khắc này trong lịch sử được gọi là Cuộc Xuất ly Vĩ đại.
Suốt sáu năm ròng, ngài lang thang tìm cách tốt nhất để thanh lọc sự nhức nhối do ham muốn và đạt giác ngộ. Các vị hiền triết ngài gặp chỉ ra hai hướng khác nhau. Một là một dạng rèn luyện tinh thần dữ dội để rèn
tâm và lắng những khao khát trong tâm xuống. Siddhartha đã thuần thục các kỹ thuật này và thấy chúng hữu ích; tuy vậy, chúng vẫn chưa đem lại sự giải thoát hay giác ngộ cuối cùng mà ngài tìm kiếm. Vì thế ngài tạm biệt các thiền sư nọ và tiếp tục du hành đến khi gặp một nhóm các tỳ kheo đang thực hành phép tu khổ hạnh nghiêm ngặt. Họ nói với ngài rằng ngài càng từ chối cơ thể này bao nhiêu thì tâm trí sẽ càng thêm sáng sủa bấy nhiêu. Nếu muốn giải thoát linh hồn mình thì ngài phải cho cơ thể nhịn đói. Rồi Siddhartha tuân theo một quá trình diệt kỷ suýt khiến ngài bỏ mạng. Ngài kể lại thời điểm đó của mình:
Khi ta sống bằng trái cây, một quả một ngày, cơ thể ta dần gầy mòn... Tay chân ta thành như những mấu gồ ghề trên cây dây leo khô héo... xương sườn lộ rõ như rui nóc của mái nhà đổ nát... nếu ta rờ xuống bụng thì tay lại chạm phải xương sống.
Ngài tự vấn: nếu thuyết diệt kỷ này mà đúng thì giờ này ta hẳn là đã đạt giác ngộ vì đã sát bờ vực của cái chết rồi. Yếu đến độ không lết nổi thân thể mình thêm chút nào, Siddhartha ngất xỉu. Bằng hữu nghĩ ngài đang hấp hối, nhưng rồi ngài đã hồi lại được. Khi đã tỉnh lại, ngài nói với các tỳ kheo rằng mình đã có quyết định. Sáu năm thiền định và diệt kỷ nghiêm ngặt đã không đưa ngài đến gần sự giác ngộ mà ngài hằng tìm kiếm. Thế nên ngài sẽ không nhịn đói và hành hạ bản thân nữa. Các vị tỳ kheo buồn bã bỏ đi, còn Siddhartha tiếp tục một mình trên đường tìm kiếm.
Ngài đến một cây bồ đề hoang và trong lúc nghỉ ngơi dưới tán cây, ngài đã thệ nguyện với chính mình: dù cho da, gân và xương ta có thể mục ruỗng dần và dòng máu thì khô cạn, ta sẽ ngồi thiền ở đây cho đến ngày đạt giác ngộ. Sau bảy ngày, ngài nhận ra chính mong muốn xóa bỏ ham muốn trong mình của ngài cũng là ham muốn! Ngài nhận ra chính ham muốn loại bỏ ham muốn là vật cản ngăn ngài đạt đến giác ngộ. Khi ý nghĩa của điều chứng nghiệm này ngày càng ăn sâu vào tâm trí, ngài ý thức được rằng lúc này, ngài đã xả bỏ hết ham muốn. Kế đến, ngài chuyển sang một trạng thái khoái lạc khi mà “vô minh đã bị đoạn diệt, trí tuệ khởi lên; bóng tối đã bị đoạn diệt, ánh sáng khởi lên”. Ngay tức thì, ngài chứng ngộ rằng “Không còn đầu thai; ta đã sống ở cảnh giới cao nhất; nhiệm vụ ta đã xong; với ta, giờ không còn gì hơn những thứ ta đã đạt được”. Vòng quay
của luân hồi chuyển kiếp đã kết thúc với ngài. Sau đó, ngài thành Đức Phật, Đấng Giác Ngộ. Đêm ngài thành đạo được gọi là Đêm Thiêng.
Sau đó ngài đi tìm các vị tỳ kheo mà ngài từng khiến họ thất vọng vì từ bỏ đường tu khổ hạnh của họ. Ngài gặp họ tại Vườn Lộc Uyển ở Benares, một thành phố nằm bên sông Hằng phía Bắc Ân Độ. Các vị vẫn tiếp đón ngài một cách nhã nhặn dù từng bị ngài khước từ. Khi các tỳ kheo cáo buộc việc ngài từ bỏ cách sống ép xác sẽ khiến ngài không còn khả năng đi tới giác ngộ nữa, ngài đã đáp lại bằng một bài thuyết giảng mà về sau ta gọi là kinh Chuyển Pháp Luân. Trong bài thuyết pháp này, ngài đặt lại câu hỏi từng khiến ngài day dứt khôn người từ khi rời bỏ gia đình đi tìm giác ngộ. Chúng ta vốn bị những ham muốn trói buộc vào vòng quay luân hồi; vậy điều gì sẽ chấm dứt được vòng quay ấy? Câu trả lời của ngài về con đường giải thoát là con đường của sự trung dung giữa các cực đoan mà ngài gọi là Trung Đạo. “Có hai cực đoan, này các tỳ kheo, mà người xuất gia không nên hành trì. Một là đắm mình vào dục lạc, thấp hèn... không ích lợi. Hai là sống đời khổ hạnh ép xác; như vậy là khổ đau... và cũng không ích lợi. Bằng cách tránh cả hai cực đoan này, ta tìm ra Trung Đạo chính là con đường đưa đến Giác Ngộ.” Còn các biển chỉ dẫn đến Trung Đạo chính là Tứ Diệu đế, hay Bốn Chân Lý: Đời là bể khổ; nguyên nhân của khổ là các ham muốn; ham muốn có thể bị đoạn trừ, con đường đoạn trừ nó là thực hành theo Bát Chánh Đạo.
Đức Phật là một người thực tế, một người của hành động. Một đặc điểm nổi bật của những người thực tế là họ thích đưa ra danh sách, ví như những việc cần làm, những điều nên ghi nhớ, các món đồ cần mua khi đi chợ. Danh sách Bát Chánh Đạo của Phật gồm những điều cần làm để đoạn diệt các khao khát gây nên khổ đau là như sau: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Chánh kiến và chánh tư duy là việc tìm ra Trung Đạo và đi theo đường ấy. Tiếp đến là thực hành chánh ngữ, tức quyết định không vu khống người khác hay dùng lời lẽ thô tục. Quan trọng hơn là từ chối ăn cắp, sát sinh hay làm điều bất chính, cũng như tránh các nghề nghiệp gây hại cho sinh linh khác.
Đạo Phật do vậy là một lối thực hành chứ không phải là một tín điều. Là điều để làm hơn là để tin. Điểm mấu chốt để thực hành hiệu quả là
thông qua thiền định kiểm soát tâm thức không ngừng ham muốn. Bằng việc ngồi yên và dõi theo hơi thở hay thiền định về một từ hay một bông hoa nào đó, các thiền sinh sẽ trải qua các tầng tâm thức khác nhau cho đến khi đạt trạng thái tĩnh lặng có thể giảm bớt ham muốn. Đức Phật hẳn sẽ đồng ý với cái nhìn của một thầy tu người Pháp sống ở thế kỷ 17 có tên Blaise Pascal: “Mọi thói hư tật xấu của con người đều xuất phát từ một nguyên nhân duy nhất: họ không thể ngồi yên trong phòng”.
Được những điều Đức Phật giải thích về Trung Đạo thuyết phục, các tỳ kheo trở thành đệ tử Phật và Tăng đoàn, tức đoàn thể gồm các tỳ kheo và tỳ kheo ni, hay tăng và ni, ra đời. Giáo lý của Phật không áp đặt tín điều nhưng nó vẫn dựa trên cột trụ là hai giả thuyết của Ấn Độ giáo là nghiệp và luân hồi: luật Nghiệp báo dẫn đến hàng triệu triệu kiếp tái sinh. Phật dạy rằng cách nhanh nhất để dừng vòng quay tái sinh là trở thành một nhà sư và thực hành các phương pháp dẫn đến Giác ngộ. Nếu hoàn cảnh của bạn chưa cho phép làm được như vậy thì cách tốt thứ hai là sống một đời đạo hạnh với hy vọng rằng trong kiếp sau, bạn sẽ có được thuận duyên để xuất gia tu hành làm tăng hoặc ni.
Bốn mươi lăm năm sau bài thuyết pháp ở Benares, Đức Phật đã du hành khắp nơi để ra sức củng cố Tăng đoàn của mình. Khi gần nhập diệt, ngài nói với các đệ tử của mình rằng việc ngài ra đi không quan trọng lắm vì giáo thuyết của ngài vẫn sẽ ở lại, chính những lời dạy đó mới quan trọng. Vị hoàng tử nay trở thành Đức Phật đã có hành trình cuối cùng của mình là đến một ngôi làng ở vùng Đông Bắc Benares. Tại đó, cảm thấy yếu sức, ngài nằm giữa hai cây sala và viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Tôn giáo do Siddhartha Gautama sáng lập đã được truyền bá khắp châu Á và sau trở thành một tôn giáo phổ biến trên thế giới, dù ngày nay không mấy thịnh hành ngay tại nơi khai sinh ra nó. Không giống như với Kỳ-na giáo, tôn giáo khó lòng tìm thấy ở đâu khác ngoài Ấn Độ, chủ đề sẽ được bàn tiếp sau đây.
CHƯƠNG 6: KHÔNG LÀM HẠI
Giống Phật giáo, Kỳ-na giáo cũng là một câu trả lời dành cho câu hỏi mà Hindu giáo đã đặt cho nhân loại. Nếu quả thật sự tồn tại hiện thời của ta chỉ là kiếp sống gần nhất trong vô vàn kiếp do nghiệp đã đưa đẩy ta vào vòng đầu thai, thế thì làm cách nào ta giải phóng được chính mình và thoát đến một trạng thái gọi là Niết bàn? Niết bàn, hay Nirvãna, là một từ tiếng Phạn nghĩa là “bị thổi tắt như một ngọn nến”. Người ta đạt được nó khi linh hồn đã thoát ra khỏi luân hồi. Câu trả lời của đạo Phật là tìm Trung Đạo đi giữa các cực đoan. Kỳ-na giáo đi theo hướng ngược lại: nó chọn cách cực đoan nhất mà con người có thể hình dung được, con đường của sự tự chối bỏ đầy khắc nghiệt. Lý tưởng cao nhất của nó là các tín đồ cam kết thực hành sallekhana và nhịn đói đến chết.
Bản thân từ Kỳ-na xuất phát từ một động từ trong tiếng Phạn với ý nghĩa là “chinh phục”, ám chỉ cuộc chiến mà các tín đồ Kỳ-na khởi lên chống lại bản chất của chính mình, từ đó đạt tới giác ngộ, mang lại sự cứu rỗi cho linh hồn. Trong truyền thống của Kỳ-na giáo, hai mươi bốn vị jina, nghĩa là “người chiến thắng”, đã chinh phục được các ham muốn của mình để đạt đến trạng thái giác ngộ. Họ còn được biết đến như là các tirthankara, nghĩa là “những người vượt qua”, vì họ có khả năng dẫn dắt các linh hồn băng qua dòng sông sinh tử luân hồi để đến được bờ cứu rỗi bên kia. Vị cuối cùng trong số các tirtharikara ấy thường được cho là người sáng lập của Kỳ-na giáo có tên là Vardamana, dù ngài còn được gọi là Mahavira, tức “anh hùng vĩ đại”. Lịch sử cho ta biết ngài sinh vào khoảng năm 599 TCN ở lưu vực sông Hằng phía Đông Ấn Độ, cũng là vùng hoàng tử Siddhartha Gautama được sinh ra, sau trở thành Phật.
Ngoài vị trí địa lý và niên đại, Mahavira có nhiều điểm chung khác với Đức Phật. Ngài cũng là một hoàng tử. Ngài cũng đau đáu với vấn đề khổ đau và nguyên nhân gây khổ. Ngài cũng đã từ bỏ cuộc sống phú quý để đi tìm giác ngộ. Và cũng như Phật, ngài thấy ham muốn là gốc rễ của khổ đau. Con người đau khổ vì họ thèm khát những cái họ không sở hữu; rồi ngay khi có được cái họ say mê, họ lại khao khát cái khác nữa. Các ham muốn gây ra khổ đau như vậy nên chỉ có sự đoạn diệt ham muốn mới có thể cứu được chúng ta. Cách Mahavira tiến hành dập tắt ham muốn đã cho thấy ngài là một nhân vật quyết liệt đến thế nào. Ngài cho rằng để thoát khỏi bánh xe luân hồi, chỉ có cách tránh ác, làm thiện. Cũng giống Phật, ngài thích đưa ra các danh sách và đã cô đọng phương pháp của mình thành Năm Điều Răn, hay Ngũ giới: không giết hay làm hại bất cứ sinh linh nào; không trộm cắp; không nói dối; không tà dâm, phóng túng; không tham đắm thứ gì.
Nhìn thoáng qua thì những giới luật trên không có gì mới. Nhiều hệ tôn giáo khác cũng liệt kê những điều tương tự. Điểm đặc trưng của Kỳ-na giáo là mức độ sâu xa mà Mahavira yêu cầu đối với việc thực hành giới không giết hay làm hại các sinh linh khác. Ahimsa, tức “bất hại”, là điểm chính trong giáo thuyết của ngài. Ngài xem nó là một giới luật tuyệt đối và phổ quát. Chỉ bằng cách thực hành bất hại một cách triệt để, những người tìm kiếm sự cứu chuộc mới có thể thay đổi dòng nghiệp đã kẹp chặt họ vào vòng luân hồi.
Các vị tăng, ni theo Kỳ-na giáo sẽ không làm hại hay giết bất cứ thứ gì! Họ không giết thú vật để lấy thức ăn, cũng không săn bắn hay câu cá. Ngay cả việc đập con muỗi đang đốt vào má hay con ong đang chích vào cổ, họ cũng không làm. Nếu thấy nhện hay bất kỳ con côn trùng không mong muốn nào trong nhà thì họ cũng không đập chết chúng. Nếu không muốn các con vật đó ở trong nhà, họ sẽ cẩn thận bắt nó, đảm bảo không làm nó bị thương, rồi thành kính thả nó ra ngoài trời. Và khi bước đi trên mặt đất vốn có vô số loài vật bé li ti sinh sống, họ sẽ phải bước thật cẩn thận để tránh làm hại chúng. Để chắc chắn bước chân nặng nề của mình không giẫm nát các sinh vật trên đất, tín đồ Kỳ-na giáo mang bên mình một cây chổi làm bằng lông vũ mềm và nhẹ nhàng quét lối đi trước mặt trước khi họ đi qua. Một số người thậm chí còn đeo khẩu trang che miệng để
tránh vô tình làm hại các loài côn trùng khi hít thở. Sự thành kính và tôn trọng với mọi dạng sống đó thậm chí còn được họ áp dụng cho các loại cây có củ. Họ sẽ không nhổ chúng ra khỏi đất để ăn. Chúng đều là các sinh vật có sinh mạng quý giá như con người vậy.
Vậy nếu không ăn thịt, cá hay rau củ, tín đồ Kỳ-na giáo ăn gì để sống? Quả thực có những người chọn không ăn gì. Sallekhana, hay tự sát bằng cách nhịn đói, chính là một lý tưởng cao nhất của Kỳ-na giáo. Nó đánh dấu sự diệt trừ ham muốn trong linh hồn cũng như sự giải thoát cuối cùng khỏi nghiệp báo luân hồi. Thế nhưng, nếu để ý một chút, bạn sẽ thấy không phải ai cũng thực hành tự sát kiểu vậy, ngay trong số các tín đồ Kỳ-na. Mọi tôn giáo đều có các mức độ nghiêm ngặt khác nhau, từ cuồng tín nhiệt thành đến chỉ ngó qua hờ hững. Kỳ-na giáo cũng vậy, dù đó là một trong những tôn giáo gay gắt bậc nhất trong lịch sử. Bản thân các hành giả của họ cũng có mức độ sôi nổi khác nhau.
Hầu hết không nhịn đói đến chết, nhưng những gì họ làm cũng rất cực đoan. Ví dụ, họ sẽ sống bằng trái cây và chỉ ăn trái nào rụng xuống đất. Tín đồ Kỳ-na giáo là những người ăn kiêng bằng trái cây theo đúng nghĩa của nó. Tự hạn chế bản thân chỉ dùng những của trời cho chính là cách họ duy trì cuộc sống của mình mà không làm hại bất kỳ sinh linh nào.
Ngoài niềm tin vào sự thiêng liêng của mọi sinh linh, Kỳ-na giáo mang rất ít giáo thuyết. Nó không đưa ra một vị thần linh hay đấng sáng tạo tối cao nào. Nó bác bỏ sự độc ác của hệ thống phân chia đẳng cấp. Tuy thế con đường đến sự cứu rỗi thì vẫn phụ thuộc vào một hình đồ vũ trụ chính xác. Các tín đồ Kỳ-na giáo tin rằng vũ trụ bao gồm hai khối cầu khổng lồ với một nút thắt tí hơn ở giữa. Tưởng tượng giống như ta xoắn một nút chính giữa một quả bóng bay, biến nó thành hai phần nối với nhau ở nút thắt. Theo Kỳ-na giáo, nút thắt đó chính là thế giới này đây, nơi các linh hồn đang sống phần đời của mình trong vòng luân hồi. Tựa như việc ăn nhiều quá khiến cơ thể nặng nề không lê bước nổi, người theo Kỳ-na giáo tin rằng các hành vi xấu cũng làm linh hồn nặng hơn, khiến việc ra khỏi vòng tái sinh trở nên khó khăn hơn. Linh hồn nào sống đời bất thiện sẽ đầu thai vào một dạng sống thấp kém hơn. Có thể là con rắn hay con ếch. Thậm chí thành củ cà rốt hay hành tây. Linh hồn nào trải một đời quá đỗi hung ác sẽ chịu hình phạt nặng nề đến mức bị kéo xuống bảy tầng Địa
ngục nằm ở đáy của vũ trụ, trong đó càng xuống thấp thì Địa ngục càng có nhục hình kinh khủng hơn.
Cũng theo quy luật đó, các linh hồn càng nỗ lực để thanh tẩy tội lỗi thì càng trở nên nhẹ hơn. Những tín đồ thật sự sùng đạo thực hành theo cái gọi là chủ nghĩa khổ hạnh (asceticism) cực độ, một từ có nguồn gốc từ những vận động viên Hy Lạp cổ, nghĩa là tập luyện khắt khe đến mức vượt trội hơn hẳn mọi đối thủ khác trong bộ môn đó. Các jina, những vận động viên hàng đầu của Kỳ-na giáo, cũng vậy. Họ khổ luyện đến mức linh hồn họ nhẹ bẫng vút bay lên cao và cao nữa qua các tầng trời nằm ở khối cầu bên trên. Khi lên đến tầng trời hai mươi sáu, họ đã chạm tới cõi Niết bàn và mọi sự tranh đấu của họ cũng kết thúc. Khi này họ mãi mãi trụ ở trạng thái của đạo hạnh bất thối chuyển. Sự cứu chuộc đã viên thành!
Một khía cạnh thú vị nữa của Kỳ-na giáo là cách nó mở rộng sự khổ luyện để bay lên Thiên đường sang cả phạm vi tư tưởng. Cùng với các hành vi sai trái, các tư tưởng sai trái cũng có thể đè nặng linh hồn xuống. Lịch sử chắc chắn đã cho thấy sự bất đồng chính kiến, bao gồm bất đồng chính kiến trong tôn giáo, là một trong những nguyên nhân chính gây ra bạo lực giữa người và người. Đối với các tín đồ Kỳ-na giáo, thuyết ahimsa hay bất hại được áp dụng không chỉ với những vấn đề về thể xác mà với cả những quan niệm của con người. Ngay cả trong địa hạt tâm trí, người theo Kỳ-na giáo cũng không gây hại và không làm gì bạo lực. Họ tôn trọng các góc nhìn và các trải nghiệm thực tại khác nhau mà mỗi cá nhân có, đồng thời nhận ra chưa có ai từng nhìn được toàn thể thực tại cả.
Họ gọi học thuyết về sự tôn trọng đó là anekantavada. Để minh họa cho nó, họ kể câu chuyện về sáu người mù được mòi đến tả một con voi bằng cách sờ các bộ phận khác nhau của con vật. Người sờ được cái chân nói con voi giống như cái cột. Người sờ cái đuôi thì nói voi giống sợi dây. Kẻ nắm được vòi lại nói con voi ắt là như cái cành cây. Người sờ tai voi nói nó giống cái quạt nan. Bên lần tay theo bụng voi bảo voi giống bức tường. Cuối cùng người nắm cái ngà thì nói con voi y như cái ống đặc. Sư phụ của họ cho biết tất cả những mô tả của họ về con voi đều đúng, nhưng mỗi người chỉ mới nắm bắt một phần chứ chưa phải là cái toàn thể. Bài học của câu chuyện này là mọi người đều có hạn chế khi nhìn nhận thực tại. Họ có thể không hoàn toàn mù tịt nhưng cũng chỉ thấy thực tại từ một góc độ
đơn lẻ mà thôi. Mọi việc hoàn toàn ổn nếu như họ không tuyên bố góc nhìn của mình là bức tranh toàn cảnh rồi ép buộc người khác nhìn theo cách đó.
Đối với người Kỳ-na giáo, sự hạn chế trong hiểu biết của chúng ta là hệ quả của cái phi thực tại, tức cái hiện hữu sa ngã mà ta đang mắc kẹt bên trong. Chỉ có người giác ngộ mới đạt toàn tri toàn giác. Dù các khía cạnh khác của Kỳ-na giáo có ra sao đi nữa thì sự đề cao tính khiêm cung trong tư tưởng của họ vẫn là điều hiếm có trong tôn giáo. Các tôn giáo nói chung thích nghĩ rằng mình đã có lời đáp cuối cùng cho mọi sự. Các tôn giáo ấy bác bỏ lối suy nghĩ cho rằng họ đều là những kẻ ăn xin mù lòa đang tranh cãi về hình dạng của một con voi.
Tổ sư Mahavira đã du hành khắp đất Ấn để truyền bá thông điệp của mình và thu nhận các môn đồ. Cho đến lúc qua đời do tuyệt thực vào năm 527 TCN, ở tuổi 70, ngài đã có lượng tín đồ gồm 14.000 vị tăng và 36.000 vị ni. Các vị tăng, ni đó là những vận động viên thực thụ của Kỳ-na giáo. Họ tu luyện chăm chỉ để đủ thanh thoát và đạt đến Niết bàn trong kiếp này. Họ đã tập hợp các bài thuyết giáo của Mahavira về bất hại và tôn kính mọi sinh linh thành bộ giáo pháp của Kỳ-na giáo gọi là Agamas hay các bộ kinh A hàm.
Hầu hết các tôn giáo sau khi đã thành hình ổn định đều phân hóa thành nhánh khác nhau, mỗi nhánh đó đều tự xưng là đại diện chân truyền của vị tiên tri hay vị thầy đầu tiên. Kỳ-na giáo cũng không phải ngoại lệ. Nó phân thành hai nhánh khác biệt không nhiều và thật ra khá hữu hảo. Một nhánh tự xưng là Digambara, nghĩa là “không mặc gì”; họ nhấn mạnh là các vị tăng, ni không nên mặc quần áo. Còn nhánh kia là Svetambaras, nghĩa là “mặc đồ trắng”, cho phép các tăng, ni được mặc y phục màu trắng.
Bên cạnh các tăng, ni xuất gia, Kỳ-na giáo còn có hàng triệu người tu tại gia ở Ấn Độ. Dù các vị tu hành kia khổ luyện như những vận động viên chuyên nghiệp, những cư sĩ này lại sống giản dị tùy theo điều kiện xã hội của họ. Họ không kỳ vọng sẽ đạt tới tầng trời thứ hai mươi sáu chỉ bằng nỗ lực trong một kiếp này mà hy vọng lối sống hiền hòa, bất hại của kiếp này sẽ đảm bảo cho họ được làm một vị tăng hay ni trong kiếp kế tiếp. Sau kiếp đó thì họ mới đạt đến Niết bàn.
Với bản chất như vậy, Kỳ-na giáo rất khó trở thành một tôn giáo của số đông nhưng nó vẫn là tôn giáo có sức ảnh hưởng. Nó đem đến cho chúng ta một nét riêng thú vị. Các phép tu cực hạn có thể chỉ hấp dẫn một nhóm thiểu số nào đó nhưng vẫn tác động đến quan điểm của đại chúng và làm dịu thái độ của họ. Quan điểm của Kỳ-na giáo về sự thiêng liêng của mọi sinh linh đã đóng góp vào phong trào ăn chay với nhiều dạng thức khác nhau. Giáo lý về bất hại hay phi bạo lực ảnh hưởng đáng kể đến giới chính khách. Nó đã truyền cảm hứng cho Mahatma Gandhi, vị luật sư đã lãnh đạo phong trào giành lại độc lập cho Ấn Độ từ tay thực dân Anh vào nửa đầu thế kỷ 20. Nó đã ảnh hưởng đến linh mục Martin Luther King, người dẫn đầu phong trào dân quyền cho người Mỹ gốc Phi ở Mỹ vào nửa sau thế kỷ 20.
Và Kỳ-na giáo tiếp tục nhắc nhở chúng ta một sự thật: ham muốn là nguồn gốc khổ đau của con người và chỉ bằng cách học kiểm soát nó ta mới có được hạnh phúc và viên mãn lâu dài. Chắc rất ít người trong chúng ta muốn sống trần truồng hay tuyệt thực đến chết; nhưng chí ít khi nhớ đến những người thực hành các phương pháp đó, chúng ta cũng tự nhủ lòng nên bắt đầu sống giản dị hơn một chút.
Khi mở đầu cuốn sách này, tôi đã chỉ ra tại sao việc lần theo sự phát triển của các tôn giáo theo trình tự thời gian chặt chẽ là điều không thể. Vì trong câu chuyện này, yếu tố nơi chốn quan trọng không kém thời gian và có nhiều chuyện xảy ra tại cùng một thời điểm nhưng ở các địa điểm khác nhau. Ta cần đi qua lại, tới lui ngoắt ngoéo trên dòng lịch sử. Vậy nên ở chương kế tiếp, ta sẽ đi lùi lại một chút đến thời điểm vài trăm năm sau khi người Aryan tiến vào Ấn Độ và nhích sang phía Tây để xem một trong các nhân vật quan trọng nhất của lịch sử tôn giáo, một nhân vật huyền bí có tên Abraham.
CHƯƠNG 7: KẺ LANG THANG
Ur. Một từ ngắn gồm hai chữ cái. Chữ “u” được phát âm gần giống chữ “ă”, chữ “r” đọc uốn lưỡi giống như cách một người Scotland phát âm. Vậy là đọc thành Ăr, hay Ărrr. Và đấy chính là nơi giáo trưởng Abraham, một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử tôn giáo, đã ra đời vào khoảng năm 1800 TCN. Ngài được cả tín đồ Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo tôn là người cha sáng lập ra tôn giáo của họ. Điều này giống như một dòng suối nhỏ bắt nguồn từ đỉnh núi xa xăm, tỏa thành ba dòng sông vĩ đại cách đó cả ngàn dặm trên một thảo nguyên rộng lớn. Ur nằm ở phía Đông Nam vùng Lưỡng Hà, nằm giữa hai con sông Tigris và sông Euphrates. Theo lãnh thổ quốc gia ngày nay thì Ur thuộc nước Iraq.
Theo câu chuyện được truyền đến chúng ta qua Sách Sáng thế trong Kinh Thánh Cựu Ước, Abraham là con trai của Terah và có hai anh em trai là Nahor và Haran. Nhưng một cuốn sách giáo huấn cổ về Kinh Thánh của người Do Thái còn kể thêm nhiều câu chuyện về họ nữa. Rằng họ là những người chăn gia súc, dẫn cừu đi kiếm cỏ trên các thảo nguyên tươi tốt ở thung lũng sông Euphrates. Ông Terah còn có một nghề phụ nữa là tạc tượng các vị thần mà dân chúng trong vùng thờ phụng. Người vùng Lưỡng Hà thờ bốn vị thần chính. Anu là nam thần của Thiên đường, Ki là nữ thần của mặt đất, Enlil là thần không khí, còn Eki là thần nước. Mặt trời và Mặt trăng cũng được tôn thờ như là các thần linh. Cũng cần lưu ý là trong tôn giáo cổ, các thế lực của tự nhiên thường được con người mặc nhiên xem là thiêng liêng.
Cũng như dân Ấn Độ, các cư dân Lưỡng Hà muốn có một vật cụ thể nào đó để nhìn thấy khi họ thực hiện dâng cúng lên các vị thần. Thế nên
Terah vui lòng giúp họ được thỏa nguyện bằng xuởng làm tượng thần của mình. Một ngày nọ, khi Terah vắng mặt và Abraham thay cha đảm đương công việc, một cụ ông đến mua một bức tượng. Abraham hỏi ông cụ: “Ông năm nay bao nhiêu tuổi?” Cụ đáp: “Tôi bảy mươi”. Abraham liền nói: “Vậy thì cụ ngớ ngẩn thật. Cụ sinh ra cách đây cả bảy thập kỷ, vậy mà lại đi thờ một bức tượng mới ra đời trong xưởng của cửa hiệu này ngày hôm qua!” Ông cụ tư lự một chút, rồi quyết định không mua tượng nữa, cầm tiền ra về.
Các anh em của Abraham biết chuyện đó thì rất giận dữ. Họ nói với cha là Abraham có thể gây nguy hại đến việc kinh doanh của gia đình với lối suy nghĩ cứng đầu như thế. Từ đó Terah cấm Abraham xuất hiện ở cửa hàng và sai ông làm công việc tiếp nhận các phẩm vật thờ cúng mà khách hàng mang đến để ở phòng trưng bày các tượng thần. Một hôm, một phụ nữ mang đồ ăn đến dâng cúng cho một vị thần. Thay vì dâng lên thần như thường lệ, Abraham quay sang mỉa mai cô ta: “Tượng này đúng là có miệng, nhưng nó chẳng thể ăn món cô làm hay nói cảm ơin cô. Tượng có tay nhưng đâu thể bốc một miếng thức ăn nào cô đặt trước mặt. Chân tượng được đẽo tạc đẹp đấy, vậy mà nó có lê được bước nào về phía cô đâu. Theo như tôi thấy thì cả đám người làm tượng và đám thờ cúng tượng đều ngu ngốc và vô dụng như nhau chẳng khác gì chính các bức tượng này cả.”
Nói những điều như thế là khá nguy hiểm, vì hai lý do. Thách thức cả một tôn giáo đã được an bài của một cộng đồng là điều ít ai dám làm. Tệ hơn nữa là lời phê phán đó còn đe dọa cả nền kinh tế địa phương. Xã hội đó vốn thờ nhiều vị thần và việc sản xuất ra tượng thờ các vị ấy là một ngành mang lại lợi nhuận. Abraham đã tự chuốc lấy rắc rối. Việc an toàn nhất nên làm là rời khỏi đó. Kể từ đó, ông trở thành một kẻ lang thang, vượt qua những quãng đường rất dài cùng gia đình mình và bầy gia súc. Nhưng chính hành trình tâm linh của ông đã làm nên lịch sử tôn giáo.
Câu chuyện của Abraham đánh dấu sự khởi đầu của việc chuyển đổi từ đa thần giáo sang độc thần giáo, từ việc thoải mái thờ nhiều vị thần đến chỗ chỉ gắn chặt với một vị. Điều gì đã kích thích việc này? Sao Abraham lại bực tức với các bức tượng nhỏ vô hại trong cửa hiệu của cha mình như vậy? Ta cần dùng trí tưởng tượng để biết Abraham nghĩ gì, nhưng cũng dễ
dàng đoán được một phần chuyện xảy ra khi đó. Ông đã chứng kiến cha mình đẽo gọt các bức tượng ra sao. Ông biết cái gì xảy ra trong quá trình tạc tượng. Vậy làm sao ông có thể đánh giá chúng là gì khác ngoài những món đồ chơi cho con người? Nhưng tại sao ông không thể đơn giản nhún vai bỏ qua việc mọi người đã cả tin thế nào mà sống tiếp? Sao ông lại giận đến thế?
Đó là vì ông là một nhà tiên tri đã nghe được lời Thượng Đế phán truyền trong tâm trí. Lời phán ấy cảnh báo ông rằng việc thờ các thần linh như vậy không chỉ là một trò chơi giúp con người giải khuây và các thợ tạc tượng có việc làm. Tất cả dựa trên một lời dối trá tệ hại và nguy hiểm. Chỉ có một Thượng Đế thôi! Rằng ngài không chỉ khinh các bức tượng và hình ảnh của thần linh; ngài còn ghét họ vì họ đã ngăn các con của ngài hiểu được cha mình. Giống như một phụ huynh có con bị người lạ cướp mất, ngài muốn các con quay về và những kẻ bắt cóc đó phải bị trừng phạt.
Đây là một bước ngoặt trong câu chuyện về loài người nói chung, đáng để ta ngẫm nghĩ. Rõ ràng, từ lịch sử loài người, ta có thể thấy chúng ta rất giỏi căm ghét nhau. Thường thì ai khác ta về mặt nào đó sẽ là đối tượng để ta ghét. Chủng tộc, giai cấp, màu da, giới tính, chính trị, thậm chí màu tóc khác nhau cũng có thể kích động hành vi xấu xí nào đó của ta. Với tôn giáo cũng thế. Thực tế, sự thù ghét về tôn giáo có lẽ là hình thức chết chóc nhất trong các loại bệnh tật của con người vì nó cho sự căm ghét của con người một phép biện hộ thần thánh. Nói bạn ghét ai đó vì không thích ý kiến của người đó là một chuyện. Nói Đức Chúa Trời ghét họ và muốn họ bị tiêu diệt lại là một chuyện khác. Thế nên việc kết án dữ dội về mặt tôn giáo có thể góp phần gây nguy hại đến mối quan hệ giữa người và người là rất đáng chú ý, giống một trường hợp khác trong câu chuyện về Abraham sau đây.
Cùng với việc bảo ông phải ghét các bức tượng thần, giọng nói mặc khải trong đầu Abraham còn lệnh cho ông phải rời khỏi quê hương và di cư đến một vùng đất mà về sau sẽ đến lúc trở thành một quốc gia hùng mạnh. Sách Sáng thế kể rằng Abraham ra đi cùng gia đình, bầy gia cầm và gia súc, đi theo hướng tây băng qua sông Euphrates cho đến vùng đất tên là Canaan, ngày nay là đất Israel hay Palestine, nằm ở rìa phía đông của vùng biển mà bây giờ là Địa Trung Hải. Abraham không dừng chân ở vùng bờ
biển mà ở rẻo đất dọc theo dãy núi đá vôi làm thành xương sống của đất nước. Tại đó, gia đình ông bắt đầu an cư lạc nghiệp cùng bầy vật nuôi.
Rồi một ngày nọ, giọng nói trong đầu ông lại vang lên. Nó bảo ông phải đưa con trai Isaac đến một ngọn núi trong vùng và hiến tế con cho Đức Chúa Trời. Abraham từng giết và hỏa thiêu xác thú vật để làm phẩm vật hiến tế lên Đức Chúa Trời, nhưng ông chưa bao giờ bị sai giết một trong những đứa con của mình. Tuy vậy, ông không dám nghi ngờ mệnh lệnh đó. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, buộc một đống củi lên lưng con lừa và lên đường cùng con trai và hai thanh niên nữa. Khi đến chân núi, ông dặn hai thanh niên ở lại giữ lừa, còn ông cột củi vào lưng Isaac, thắp một ngọn đuốc, giắt con dao sắc ở thắt lưng rồi hai cha con cùng leo lên núi. Khi họ lê bước trên đường lên núi, Isaac hỏi cha: “Cha có củi và dao để làm lễ tế rồi, nhưng con vật mà cha sẽ giết đâu ạ?” Abraham đáp: “Đừng lo, con trai. Đức Chúa Trời sẽ cho ta những cái ta cần.”
Khi lên đến chỗ làm lễ tế trên núi, Abraham xếp vài tảng đá thành một bệ thờ tạm và đặt củi lên trên. Rồi ông nắm lấy cậu con trai đang run rẩy và ép cậu nằm sấp lên đống củi. Ông túm mái tóc dài của Isaac, kéo mạnh đầu cậu ra sau để phần cổ họng lộ ra rồi rút dao từ thắt lưng chuẩn bị cắt cổ con trai; ngay lúc đó, tiếng nói trong đầu ông lại phán gọi lần nữa.
“Abraham, đừng giết con của ngươi nữa. Việc ngươi sẵn lòng giết con theo yêu cầu của ta đã chứng tỏ lòng trung thành của ngươi với ta đã mạnh hơn sự yêu mến quyến thuộc của bản tính con người. Vì vậy ta sẽ tha cho con của ngươi.” Abraham run rẩy trong con chấn động và hạ con dao xuống. Rồi ông chọt thấy một con cừu đực đang mắc sừng vào một bụi cây gần đó. Trong cơn vui mừng được giải thoát, ông liền ra tay cắt cổ con vật và dùng nó dâng lên bệ thờ Đức Chúa Trời thay cho con trai. Câu chuyện không cho ta biết Isaac thấy sao về cảnh tượng hãi hùng đêm đó, nhưng nó cũng không khó tưởng tượng cho lắm.
Chúng ta biết rằng việc hiến tế người đã từng diễn ra trong một số tôn giáo cổ xưa. Cũng không khó để hiểu vì sao chuyện đó diễn ra. Một khi con người thuở ban sơ đã xem các vị thần như những bậc cai trị khó đoán và phải được phục tùng, họ ắt sẽ kết luận rằng ngoài những con vật béo tốt nhất, việc thỉnh thoảng hiến tế người thật ra có thể đem đến cho họ đặc ân
nào đó. Tàn dư của lịch sử ác nghiệt như vậy có lẽ đã được phản ánh trong câu chuyện về Abraham và Isaac. Thế nhưng đó lại không phải là cách diễn dịch câu chuyện trong Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo truyền thống. Với họ, đó là đoạn trích trọng yếu của đạo và nó minh họa cho sự khuất phục hoàn toàn trước ý nguyện của Đức Chúa Trời, vượt lên mọi ràng buộc trần tục. Có thể ngày nay ta sẽ đánh giá một người là bị điên khi ông ta nói rằng Đức Chúa Trời bảo ông phải giết con trai, kể cả ông ta có dừng tay vào phút chót đi nữa; điều đó cũng không có nghĩa là chúng ta nên kết luận mọi tôn giáo đều điên loạn. Nhưng sẽ khôn ngoan nếu ta đặt dấu chấm hỏi đằng sau một số tuyên bố kèm theo những câu chuyện kể của tôn giáo. Như ở đây, ta đã nhận ra mối nguy từ xu hướng trao quá nhiều quyền năng cho lời phán bảo của Đức Chúa Trời trong tâm trí con người. Ở đây, mối căm ghét của Abraham dành cho các ảnh, tượng thánh chính là một chỉ dẫn đáng giá.
Ta đã lần theo quan điểm muốn gạt bỏ các bức ảnh và tượng thần của Abraham vì ông cho đó chỉ là sản phẩm của con người nên việc đem ra thờ phụng chúng là nực cười. Nhưng chẳng phải các ý niệm của chúng ta về Đức Chúa Trời cũng là một sản phẩm của con người ư? Có thể ta không dùng tay tạo tạc ra các ý niệm đó từ gỗ và đá, nhưng ta đã tạo ra chúng trong tâm trí mình bằng các từ ngữ và ý tưởng. Vì vậy, ta nên thận trọng với các tuyên bố dành cho những ý niệm ấy. Ta đã thấy một số tuyên bố như vậy có thể nguy hiểm đến thế nào. Ý tưởng cho rằng các vị thần có thể muốn ta hiến tế con cháu mình phần nào thể hiện tôn giáo có thể là một lực lượng thù địch với nhân loại. Thử thách của Đức Chúa Trời dành cho Abraham chứng tỏ: con người có thể thuyết phục chính mình làm hầu như bất cứ điều gì miễn là họ nghĩ mệnh lệnh đến từ “trên kia”. Và thực tế, hầu như mọi điều từng được thực hiện đều là nhân danh tôn giáo, lúc này hay lúc khác.
Tôi đã nói câu chuyện về Abraham là một bước ngoặt trong lịch sử tôn giáo. Nó đưa loài người đi từ thuyết đa thần sang thuyết độc thần và đến với ý tưởng về một Đức Chúa Trời duy nhất. Nó cũng cho thấy các tôn giáo chẳng bao giờ dừng lại mà luôn phát triển và thay đổi. Tôn giáo là một bức tranh động. Đó là lý do vì sao Abraham là một nhân vật thật sự cuốn hút. Ông ấy lang thang và không chỉ đổi hướng về mặt địa lý mà còn đổi
hướng trong chính tâm trí mình. Khả năng xoay chuyển và đổi hướng ấy là một trong những dấu hiệu của tất cả những người thú vị. Đó cũng là một chìa khóa giúp ta hiểu được các tôn giáo.
Bản thân Abraham là một kẻ lang thang và sau khi ông qua đời, những con dân do ông dẫn dắt tiếp tục di cư như cách con người luôn làm để tìm kiếm một cuộc đời tốt đẹp hơn. Câu chuyện kể rằng vài thế hệ sau khi Abraham mất, vùng Canaan bị nạn đói hoành hành và con cháu ông buộc phải lên đường lần nữa. Lần này, họ đi về hướng nam, băng qua một con sông lớn nữa để vào Ai Cập, bắt đầu một chương mới trong lịch sử của mình. Và sau đây, ta sẽ gặp lại Moses.
CHƯƠNG 8: BỤI CÂY BỒ HOÀNG
Isaac, cậu con trai suýt bị Abraham giết để hiến tế theo yêu cầu của lời phán, sống sót và cũng thành một người cha. Con của Isaac là Jacob và cũng như ông nội, cậu nghe thấy lời Đức Chúa Trời phán bảo với mình rằng từ đây cậu không còn tên là Jacob nữa. Tên mới của cậu là Israel, nghĩa là “Thiên Chúa trị vì”. Do đó, mười hai người con trai của Jacob được gọi là những người con của Israel hay những người Do Thái cổ đại. Giống ông nội, Jacob hay giờ là Israel cũng là một người chăn gia súc lang thang. Cậu dẫn đàn gia súc đi từ nơi này đến nơi khác tìm nước và các bãi cỏ tươi tốt. Trải qua nhiều năm tháng, những người con của Israel đã trở thành một bộ tộc có đủ khả năng cạnh tranh chống lại những bộ tộc khác để giành lấy những đồng cỏ và giếng nước tốt nhất.
Đến ngày nọ, vùng Canaan trải qua một nạn đói kinh khủng, cỏ khô héo và nước cạn hết. Thế nên, như con người vẫn từng làm từ trước đến nay, những người Do Thái cổ quyết định sẽ thử vận may ở một nơi khác. Họ di cư về phương Nam đến Ai Cập, nơi có dòng sông Nile và đồng cỏ trù phú cho bầy gia súc của họ. Mới đầu, người Ai Cập chào đón và cho phép họ định cư ở xứ Goshen thuộc vùng Đông Bắc, gần sông Nile và không quá xa biển. Tại đó, người Do Thái cổ bắt đầu phát triển và số dân gia tăng. Tuy vậy họ sống khép kín. Nhớ sự khinh miệt của Abraham dành cho các ảnh tượng thần linh, họ cũng xa lánh tôn giáo đa thần sống động ở địa phương, vốn thờ cúng các vị thần đủ hình dạng như chó, mèo, cá sấu và các động vật khác.
Giống những gì hay xảy ra với những ai từ chối hòa nhập với đa số, người Do Thái cổ dần bị người Ai Cập ghét bỏ. Khi họ đông lên và thành đạt hơn, sự ghét bỏ đã biến thành căm ghét rồi trở thành động thái hành hạ và bắt lao động khổ sai. Khi ngay cả sự khắc nghiệt có tổ chức đó cũng không đàn áp được họ, giới chức Ai Cập quyết định thực hiện chính sách hủy diệt có kế hoạch. Họ bắt phụ nữ Israel kết hôn với đàn ông Ai Cập để đồng hóa thành một sắc dân chung; nhà vua ra sắc lệnh phải giết hết các bé trai Israel ngay từ khi mới sinh. Một bà mẹ bèn quyết định thà cho con mình đi còn hơn phải thấy nó bị giết. Bà đặt đứa con mới sinh của mình trong một cái giỏ được chống thấm nước kỹ lưỡng rồi thả trôi ở giữa đám sậy bên sông Nile, nơi mà bà biết con gái của pharaoh, hoàng đế Ai Cập, sẽ đến tắm. Kế hoạch của bà đã thành công. Khi công chúa nhìn thấy một bé trai trong cái giỏ mắc kẹt ở bụi cây bồ hoàng, nàng liền nhận đứa trẻ làm con nuôi và đặt cho cậu một cái tên Ai Cập là Moses.
Dù sống một đời vương giả trong cung điện hoàng gia của các pharaoh, Moses ý thức rõ rằng mình là một người con của Israel chứ không phải người Ai Cập. Chàng có cảm giác ngày một lớn dần là số phận mình là ở bên những người nô lệ chứ không phải bên phe đàn áp đã nhận nuôi mình. Vậy là Moses tò mò muốn biết những gì đang xảy ra với họ. Một ngày nọ, sự tò mò đã kéo chàng đứng xem một nhóm nô lệ đang làm việc. Khi thấy những tên chủ người Ai Cập đánh đập một trong những người Israel đó, chàng giận dữ đến độ đã lao ra giết tên đó và chôn hắn xuống cát. Ngày hôm sau, Moses lại ra ngoài nhưng lần này chàng nổi giận khi trông thấy hai người Israel đánh nhau. Khi chàng cố can thiệp, kẻ gây lộn nhìn chàng mỉa mai: “Chắc mày sẽ lại giết tao như cách mày giết cái thằng Ai Cập hôm qua rồi chôn xuống cát chứ gì!” Nhận ra mình đã bị phát giác và tin đồn sẽ sớm đến tai hoàng gia, đưa mình vào vòng nguy hiểm, Moses đã trốn vào sa mạc và được một gia đình người chăn gia súc cho tá túc.
Chính tại đó, chúng ta đã gặp ông lần đầu tiên, người đã quỳ gối trước một bụi cây, lắng nghe tiếng nói phán bảo những lời ông không muốn nghe và kêu gọi ông thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm mà ông không muốn làm. Vẫn là giọng nói từng lệnh cho Abraham mạo hiểm mạng sống của mình mà chống lại những ảnh tượng thần linh được cư dân Lưỡng Hà thờ
phụng, vẫn là giọng nói đã yêu cầu Abraham hiến tế con trai Isaac. Và vẫn giọng nói này muốn Jacob đổi tên thành Israel hay “Thiên Chúa trị vì”.
Đó là một cách nghĩ mới về thần linh. Trước đó, mọi bộ lạc và dân tộc có thần linh của riêng mình. Việc cho rằng có một vị thần duy nhất điều khiển số mệnh loài người, có khi của cả lịch sử nữa, là một ý tưởng mới mẻ và đáng sợ. Khi Moses hỏi lại tên của đối tượng đang nói với mình thì câu trả lời còn gây lúng túng hơn nữa: “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU”. Thật khó để xác định chính xác câu đó nghĩa là gì, nhưng nó gợi ý đấng cất lời phán là nguồn gốc của mọi sự sống, là năng lượng và ý nghĩa đằng sau mọi thứ từng tồn tại. Và những ai từng nghe được lời của đấng ấy sẽ cảm thấy việc đi theo sự phán truyền sẽ đặt họ vào hiểm nguy.
Không phải tiếng nói ấy không trao quyền quyết định cho họ. Chỉ là nó xuất hiện từ hư không và vang dội trong đầu họ như một ý tưởng không sao thoát nổi. Nó bảo họ rằng có một vị thần mà thôi, có thể là vị đó. Tất cả các thần linh khác là do con người bịa ra, do tưởng tượng hoặc nặn đúc dưới bàn tay người mà thành. Các vị thánh thần ấy chỉ là trò dối trá. Và sự dối trá đã gây hại đến tinh thần con người phải bị loại trừ. Chính vị Thiên Chúa đích thực duy nhất đó đã chọn con dân Israel để tuyên bố sự thật ấy cho thế giới. Thật dễ hiểu là ai được chọn nghe thông điệp ấy cũng sẽ thấy e ngại. Thế giới vốn đã đầy rẫy các vị thần cùng bầu đoàn tín đồ nhiệt thành và các ngành buôn bán được họ dựng nên để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Xúc phạm tín ngưỡng của người khác đã là tệ; đe dọa việc làm ăn kiếm com của họ còn tệ hơn.
Đó là lý do Moses đã cố cưỡng lại những mệnh lệnh của giọng nói ấy. Ông chỉ vừa thoát khỏi Ai Cập và những bậc cai trị nơi đó. Vậy mà giọng nói trong đầu ông lại bảo ông phải quay lại và tổ chức một cuộc khởi nghĩa! Ông được phán phải dẫn con dân Israel rời khỏi Ai Cập đến một nước khác, trong khi ông thừa biết họ là đám dân vô ơn và bất trị như thế nào. Ai mà biết được khi đến được đất hứa, họ sẽ được chào đón ra sao, nếu việc ấy có xảy ra thật? Thế nhưng giọng nói ấy vẫn cương quyết và Moses miễn cưỡng vâng lời. Ông quay lại Ai Cập và đối mặt với hai thử thách. Thách thức lớn hơn cả là thuyết phục con dân Do Thái cổ rằng Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob đã truyền lệnh cho ông dẫn họ đi khỏi Ai Cập đến vùng đất mới, trở lại nơi họ từng ra đi từ nhiều thế hệ
trước. Dù lầm bầm phàn nàn, họ vẫn đồng ý đi theo Moses nếu ông thuyết phục được pharaoh thả họ. Moses định làm việc đó như thế nào?
Cách đầu tiên là ông yêu cầu người Ai Cập cho dân Israel nghỉ làm vài ngày để tổ chức cúng tế thần thánh của họ ở hoang mạc phía Bắc Goshen. Vốn khinh thị thứ tôn giáo kiêu hãnh và khác biệt của dân Do Thái cổ, người Ai Cập đã từ chối cho dân Israel nghỉ để họ cúng tế thờ phụng vị thần thánh đố kỵ của mình. Thế rồi chuyện kể cho ta biết là sau một chiến dịch kéo dài do Moses khởi xướng, vị Thiên Chúa của dân Israel đã giáng xuống Ai Cập hết tai họa này đến tai họa khác và đạt đến đỉnh điểm bằng một sự phản chiếu khủng khiếp đáp lại việc tàn sát các bé trai Israel trước đây, vốn đã đưa đẩy Moses vào gia tộc Pharaoh năm nào.
Giọng nói ấy đã lệnh cho Moses bảo dân Israel hãy ở trong nhà và khóa chặt cửa vào một đêm đã định. Mỗi nhà cần hiến một con cừu và bôi máu nó lên khung cửa trước nhà như một dấu hiệu cho biết đó là nhà của dân Israel chứ không phải Ai Cập. Nửa đêm hôm đó, Thiên Chúa đã đi qua vùng đất ấy và giết đứa con đầu lòng cũng như con gia súc đầu tiên ra đời của mỗi nhà; nhưng ngài bỏ qua các nhà có dấu máu trên khung cửa. Khi trời sáng tỏ, những tiếng khóc than khủng khiếp xuyên thấu cả ngày dài. Không có nhà dân Ai Cập nào không có người chết trong đêm đó. Vị pharaoh đã triệu Moses đến và nói: “Nhà ngươi thắng rồi, hãy dẫn đám ấy vào hoang mạc vài ngày để hầu thần của ngươi đi. Và để yên cho chúng ta khóc than những người đã chết.” Vậy là cuộc trốn thoát vĩ đại bắt đầu.
Moses đã dẫn đám dân Israel ấy đi thành một hàng dài người và súc vật qua một khu vực cửa sông nguy hiểm gọi là Biển Sậy nằm gần bờ Địa Trung Hải. Thủy triều đang rút và họ qua được bờ bên kia an toàn. Đúng lúc ấy, dân Ai Cập nhận ra họ đã bị lừa. Dân Israel không phải đang đi xa vài hôm để hành hương cúng tế. Nếu muốn vậy, họ đã không dẫn theo cả bầy gia súc, gia cầm làm gì. Không, họ đang chạy trốn mãi mãi và đã đi được một ngày đường rồi. Thế là quân Ai Cập gióng ngựa đuổi theo, đến Biển Sậy đúng lúc thủy triều dâng lên. Cả đoàn quân bị nước cuốn và chết đuối. Dân Israel vui mừng cho đó là hành động của Thượng Đế. Cuối cùng, dân họ đã được tự do và không có gì ngăn trở nữa.
Đây là sự kiện chủ chốt trong lịch sử dân tộc Do Thái và đến nay, họ vẫn chiêm nghiệm về nó với sự trang trọng thích đáng. Họ tổ chức Lễ Vượt Qua hay Lễ Quá Hải hằng năm để nhìn lại đêm ấy, khi Đấng Hủy Diệt toàn năng bỏ qua cho con dân Israel và để họ thoát khỏi ách áp bức ở Ai Cập, đến miền Đất hứa. Vào đêm lễ, trẻ con Do Thái hỏi ba mẹ chúng tại sao các bữa ăn trong ngày này lại khác với mọi ngày.
Tại sao họ ăn maizo, một loại bánh mì dẹt, không nở, thay vì bánh mì thường vào đêm đó? Đó là vì người dân muốn tưởng nhớ đêm trốn thoát khỏi Ai Cập khi xưa, tổ tiên họ đã không có thời gian chờ cho bánh mì nở phồng lên thành ổ bánh nướng bình thường. Họ phải lấy bánh ra khỏi lò khi hình dạng bánh không khác gì khi cho vào. Thay vì ăn nhiều loại rau trong bữa tối, vào đêm ấy, họ chỉ được ăn rau đắng để tưởng nhớ sự đắng cay của những năm tháng nô lệ ở Ai Cập xưa kia. Họ chấm rau đắng vào nước muối một lần và vào nước xốt ngọt một lần, tượng trưng cho những giọt nước mắt hóa thành niềm hân hoan và khổ đau thành vui sướng. Khi trẻ nhỏ hỏi tại sao trong đêm lễ, mọi người lại nằm ngồi ngả ngớn ở bàn ăn, người lớn kể rằng ở Ai Cập khi xưa, chỉ người tự do mới được làm như vậy, còn nô lệ thì phải đứng. Giờ đây, dân họ đã được tự do và cũng có thể ngả người thảnh thoi!
Hơn 3300 năm đã trôi qua và các câu hỏi về tập tục lễ đó vẫn được trẻ em Do Thái hỏi ba mẹ chúng, vẫn những câu hỏi và câu trả lời ấy. Họ là người tự do nên giờ họ có thể ngả người thảnh thoi mà ăn uống! Sự thấm thìa của câu chuyện nằm ở chỗ: có vô số lần trong lịch sử dân tộc, khi trẻ em Do Thái đặt những câu hỏi này và nghe câu trả lời tuyên bố sự tự do như thế, một lần nữa, họ lại chịu họa giam cầm. Nó như một đám mây từng phủ bóng lên câu chuyện và trôi theo dòng thời gian. Câu chuyện ca tụng hành động giải phóng con người vĩ đại như một thời khắc định nghĩa cả một dân tộc mà lịch sử của họ vốn gắn liền với sự kiềm tỏa và ngược đãi.
Câu chuyện cũng đem đến một bài học quan trọng về cách gây ảnh hưởng của tôn giáo. Các câu chuyện tôn giáo tuy kể chuyện về quá khứ nhưng thực ra cũng gửi gắm hy vọng cho tương lai. Đó là cách người Do Thái sử dụng câu chuyện này. Họ xem cuộc Xuất hành khỏi Ai Cập năm xưa là ngày họ được khai sinh với tư cách là một dân tộc. Nhưng điều diễn ra sau đó không phải là một Ngày Độc Lập rực rỡ pháo hoa và yến tiệc.
Thực tế, nó đã là một hành trình lâu dài và khốn khó băng qua sa mạc, đi tìm một tương lai tươi sáng hơn.
CHƯƠNG 9: MƯỜI ĐIỀU RĂN
Những đứa con của Israel đả thoát khỏi cảnh bó buộc ờ Ai Cập, tuy vậy các khó khăn mới chỉ bắt đầu. Việc quân Ai Cập chết chìm ở Biển Sậy đã tiếp thêm can đảm cho họ và họ đã theo lời Moses để cùng nhau tiến vào sa mạc. Nhưng họ không bao giờ thật sự hiểu những gì Moses nói về Thiên Chúa. Quan niệm phổ biến thời kỳ đó cho rằng các vị thần là điều gì rất phổ biến, giống như các đội tuyển bóng đá ngày nay: Bạn rõ ràng ủng hộ vị thần “đội nhà”, nhưng điều đó không có nghĩa bạn phải ghét tất cả các vị còn lại. Bạn biết liên đoàn các vị thần có rất nhiều “cầu thủ”. Dân Do Thái cổ hiểu vị thần đã phán truyền cho Moses là một vị thần đặc biệt, nhưng với họ, điều đó không có nghĩa là không có vị thần nào khác. Nó chỉ có nghĩa thần của họ là giỏi nhất vì đó là thần của họ!
Chẳng mấy chốc, họ biết rằng Moses không có chung quan điểm như vậy. Ông nói sẽ dẫn họ đi đến một vùng đất tràn trề sữa và mật ong nhưng lại có vẻ không vội vàng gì đưa họ đến đó. Rất lâu sau khi rời khỏi Ai Cập, đoàn người đến chân một ngọn núi. Moses nói mọi người hãy đợi mình ở đây trong khi ông lên đỉnh núi để nhận lời mặc khải tiếp theo của Thiên Chúa. Ông đi lâu đến nỗi đoàn người thấy chán chường và đứng ngồi không yên, những người đứng đầu quyết định bày trò tiêu khiển bằng một lễ hội tôn giáo. Họ giao cho các thợ thủ công làm một con bê đực bằng vàng to lớn, vốn là một trong những biểu tượng về thần trong tôn giáo của Ai Cập. Họ đặt tượng lên bệ rồi kêu gọi cả đoàn người cùng bày tỏ lòng tôn kính. Có lẽ họ cũng đã thấy nhớ nhà cửa ở Ai Cập. Hoặc có thể họ chỉ cần nghỉ ngơi sau một chặng đường dài lê bước trên sa mạc. Buổi lễ thờ cúng tượng bê vàng nhanh chóng biến thành một cơn cuồng say. Trống đánh dồn dập và dân Do Thái nhảy múa phấn khích, la hét ầm ĩ quanh bức tượng, kích động như những người hâm hộ tại một buổi diễn nhạc rock.
Thình lình Moses quay trở về giữa lúc ấy và nổi giận điên tiết. Ông ra lệnh cho mọi người dừng cuộc tế lễ đó và giữ yên lặng. Giọng nói mặc khải đã nói chuyện với ông trên núi và sai ông mang về một danh sách gồm Mười Điều Răn mà kể từ bây giờ toàn thể dân Do Thái phải làm theo!
Hầu hết các điều răn đó hợp lý với bất cứ cộng đồng nào muốn duy trì sự gắn kết nội tại. Không sát sinh. Không trộm cắp. Không ngoại tình. Không nói dối. Có một ngày nghỉ ngơi không làm việc. Những điều hợp lý kiểu như thế. Điều răn thứ Nhất cũng dễ hiểu. Vị đã dẫn họ ra khỏi Ai Cập là Thiên Chúa duy nhất của họ và họ không được có vị thần nào khác. Dân chúng thấy ổn với điều răn này. Bạn phải ủng hộ đội nhà chứ.
Điều răn thứ Hai mới khiến họ ngạc nhiên vì nó nghiêm cấm họ vẽ hình hay tạc tượng bất cứ thứ gì trên đời, chứ không chỉ Đức Chúa. Không hình ảnh! Không nghệ thuật! Điều này làm họ thực sự bối rối. Việc con người vẽ tranh con thú mà mình săn bắt được hay tạc lại vị thần họ tôn thờ là tự nhiên như hơi thở, bất cứ đứa bé nào có viên phấn trong tay cũng có thể chứng minh điều ấy. Vậy mà giọng nói phán truyền cho Moses lại nghi ngại sâu sắc bất cứ loại hình nghệ thuật nào và sẽ nổi giận lôi đình nếu con người cố gắng dùng nghệ thuật để nắm bắt những bí ẩn của đời sống. Thế thì điều gì đứng đằng sau cơn giận đó của Thiên Chúa?
Để nắm được vấn đề, ta nên quay lại thảo luận về các biểu tượng một chút. Ta đã thấy các biểu tượng có thể nối kết con người với những thực tại to lớn như thế nào: một mảnh vải màu có thể tượng trưng cho cả một quốc gia. Biểu tượng là một trong những sáng chế hữu ích nhất của con người, một cách vắn tắt nắm bắt được các chủ đề lớn lao và trừu tượng như ý tưởng về một đất nước. Khi chữ viết ra đời, các biểu tượng thậm chí còn trở nên hữu ích hơn nữa. Giờ đây, bạn có thể chuyển bất cứ thứ gì thành con chữ nằm trong một cuốn sách mà bạn có thể cầm trên tay. Sai lầm nằm ở việc nhầm lẫn ngữ nghĩa với cái mà chúng đại diện rồi đối xử với hai cái đó như nhau. Chẳng có thứ nào hoàn toàn giống với những gì ta nói về chúng. Bạn đâu uống được từ “nước”. Từ này là dấu hiệu đề cập đến nước, chứ không phải chính là nước.
Vấn đề là các tín đồ hay xem xét các từ ngữ tôn giáo một cách lầm lẫn như thế. Cứ như những lời họ nói về Thiên Chúa cũng là Thiên Chúa vậy.
Sách thánh của họ không còn là các hàng mực in trên giấy mà là chính Thiên Chúa được gói gọn giữa hai bìa sách. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi họ thường đánh nhau để xem ai nói hay nhất và có những biểu tượng đẹp nhất về Thiên Chúa. Chẳng ai trong số họ đúng cả, lời Thiên Chúa trong Điều răn thứ Hai đã phán thế. Không có một loại hình nghệ thuật nào của con người, dù là dạng tranh vẽ trên tường hay ngôn từ viết ra trong sách, có thể tiếp cận và truyền tải được điều bí ẩn nơi Thiên Chúa.
Điều răn thứ Hai là cách hiểu biết về Thiên Chúa quan trọng nhất từng được con người khám phá. Mục tiêu thật sự của nó là tôn giáo. Và không chỉ thứ tôn giáo khiến người ta nhảy múa quanh tượng một con bê vàng. Nó là lời cảnh báo với chúng ta rằng không một hệ thống tôn giáo nào có thể nắm bắt hay chứa đựng được sự huyền nhiệm của Thiên Chúa. Vậy mà trong lịch sử, như ta sẽ thấy, đây lại chính là điều mà rất nhiều tôn giáo tự tuyên xưng. Điều răn thứ Hai là lời khuyến cáo sớm cho ta biết chính các tổ chức nói mình là tiếng nói đại diện cho Đức Chúa Trời sẽ là những kẻ địch lớn nhất của ngài, là những thứ được tôn sùng nguy hiểm nhất. Trên thực tế, người Do Thái cổ đã mất nhiều thời gian mới hiểu được điều răn đó.
Sau buổi lễ cuồng quay xung quanh con bê vàng trong sa mạc đó, đã đến lúc họ tiếp tục lên đường. Miền Đất hứa vẫn đang đón chờ. Moses đã đưa họ đến gần nó hơn. Lời Thiên Chúa phán bảo ông leo lên một ngọn núi để nhìn thấy nó từ xa. Sau đó Moses qua đời và vị chỉ huy dưới quyền ông là Joshua lên dẫn dắt cuộc chinh phạt này. Nhưng chuyện không hề dễ dàng. Ngay cả khi đã đặt chân vào miền đất ấy rồi, họ vẫn phải liên tục chiến đấu chống lại các bộ tộc địa phương để giữ lấy mảnh đất của mình. Cuối cùng, họ quyết định phải bầu ra một vị vua để lãnh đạo họ qua các trận chiến liên miên như thế. Các bộ tộc khác có vua, sao họ lại không? Vị vua đầu tiên là Saul, người đã dành phần lớn thời gian trị vì của mình để chiến đấu bảo vệ đất của dân Do Thái ở Canaan.
Một trong những bộ tộc đối đầu với họ tên là Philistine, trong những chiến binh hung tợn của họ có một tay khổng lồ tên Goliath. Một ngày nọ, khi quân lính hai bên đang dàn trận ở phía sau, Goliath bước ra trước để thách đấu tay đôi với bất cứ ai bên quân của vua Saul. Không ai bên quân Israel bước ra, mãi đến khi một cậu bé chăn gia súc bước lên và chấp nhận
lời thách đấu. Nhưng họ chế giễu cậu bé. Làm sao một thằng oắt con như cậu có thể đương đầu với một sát thủ lão luyện như Goliath? Cậu đáp: “Giống như lúc tôi bảo vệ đàn cừu của cha trước bầy sói, bằng sợi dây ném đá này”. Cậu bước ra đối mặt với gã khổng lồ trong khi hắn vừa gầm lên vừa tiến tới cậu. Khi Goliath vung tay ra sau chuẩn bị phóng giáo, David bình tĩnh đặt một viên đá vào sọi dây, quay nó một vòng rồi thả viên đá bay đi. Viên đá trúng ngay thái dương Goliath và hạ gục hắn. Thế rồi cậu dùng chính thanh gươm của gã khổng lồ để chém đầu gã. Ngày hôm đó, đoàn quân của vua Saul giành chiến thắng và dân Do Thái có thêm một vị anh hùng tên là David.
Về sau vua Saul tử trận và David kế vị, trở thành nhà vua mới, người vẫn được dân tộc Israel sau này tưởng nhớ đến như một hình mẫu lý tưởng. Vua David trị vì ba mươi năm, hầu hết thời gian đó là chiến tranh. Con trai ngài, Solomon, chính là người đã xây đền thờ đầu tiên của Israel, nơi họ thờ phụng và cúng tế những con vật béo tốt nhất và hoa trái tươi ngon nhất cho Thiên Chúa. Và họ bao phủ Ngài bằng hương khói tôn vinh. Suy cho cùng, dân tộc này đã trải qua một chặng đường dài kể từ những ngày kiềm tỏa tại Ai Cập. Họ không còn là một nhóm người rời rạc của một bộ tộc lang thang nữa. Giờ họ đã thành một đất nước đàng hoàng. Họ có đức vua của mình. Họ có đền thờ đẹp đẽ. Cuối cùng họ đã đạt được thành tựu. Có điều Thiên Chúa của họ thì lại không nghĩ vậy!
Giọng nói từng phán truyền đến Moses lại lên tiếng. Nó đã im lặng qua hàng thế hệ nhưng giờ lại vang vọng trong tâm trí của một thế hệ các nhà tiên tri mới. Giọng nói ấy cho họ biết là ngài ghét những gì dân Do Thái đang làm với ngài. Đấng giải phóng dân tộc họ đã trở thành một vị thần tham lam hệt như các vị thần mà dân tộc này từng thay thế. Đó không phải là điều ngài muốn. Ngài muốn công lý cho dân nghèo. Ngài muốn các bà góa và trẻ mồ côi được chăm sóc, chứ không phải bị lừa lấy tài sản như bây giờ. Trên tất cả, Ngài muốn dân Do Thái phải quay lại đời sống giản dị như lúc họ còn ở trong hoang mạc, khi tất cả bọn họ biết chăm sóc nhau. Nhưng dân Do Thái còn phải trải qua một giai đoạn nô lệ ở ngoại quốc nữa để cuối cùng mới hiểu được lời Thiên Chúa đã cố gắng nói với họ lâu nay.
Tuy nhiên, với tư cách một vương quốc độc lập, họ chưa bao giờ thật sự được yên ổn. Ngay cả khi họ đã thắng các trận chiến chống lại những bộ
tộc địa phương và chiếm được vùng đất Canaan cho riêng mình, họ vẫn luôn gặp hiểm nguy thường trực. Vùng đất hứa của họ như một hành lang chắn giữa các thế lực hùng mạnh ở phương Bắc và phương Nam. Phía nam là Ai Cập, nơi họ từng biết tới và có một giai đoạn lịch sử tại đó. Nhưng chính đế chế Assyria vùng Lưỡng Hà ở phương bắc mới tác động nhiều nhất đến sự tự do của họ. Vài trăm năm sau cuộc xuất hành giải phóng họ khỏi Ai Cập, con cháu của Israel lại rơi vào ách áp bức. Đoàn quân Assyria tràn đến và đánh tan vương quốc này. Hơn 10.000 người bị trục xuất và đày sang Babylon. Và cũng giống việc những chiến thắng ở Canaan năm xưa đã thay đổi quan niệm về Thiên Chúa của họ, quan niệm đó lại đổi khác một lần nữa sau những khổ đau ở Babylon.
Mới đầu, họ nghĩ mình đã mất đi Đức Chúa Trời mãi mãi. Ngài đã ở lại trong đền thờ mà vua Solomon xây cho ngài ở Jerusalem. Họ khóc than bên các dòng sông ở Babylon mỗi khi nhớ đến điều ấy. Giờ đây, làm sao họ có thể cất tiếng hát ca ngợi Chúa ở nơi xa lạ này? Tuy vậy, nỗi đau đớn đã mang lại cho họ một hiểu biết mới về Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là một bức tượng kẹt lại trong đền thờ. Ngài thậm chí còn không kẹt lại Canaan. Thiên Chúa ở khắp nơi nơi! Thiên Chúa ở cùng họ tại Babylon cũng như ngài đã ở với họ tại Jerusalem. Tại Ai Cập khi trước cũng thế! Thực ra, Thiên Chúa đã luôn ở bên họ ở mọi nơi, vào mọi lúc, như các nhà tiên tri đã nói. Giờ đây họ hiểu ra tất cả. Giá mà họ hiểu những lời tiên tri đó sớm hơn! Nhưng dù sao, họ cũng sẽ chuộc lỗi bây giờ.
Họ bắt đầu thu thập các câu chuyện họ từng được nghe về việc làm của Thiên Chúa trong quá khứ: chuyện về giọng nói mặc khải cho Abraham, Isaac, Jacob và Moses; chuyện họ trốn thoát khỏi Ai Cập và định cư ở đất Canaan; chuyện họ đã được mòi gọi dự phần trong một thỏa ước hay sự hiệp thông cùng một Đức Chúa Trời đích thực duy nhất, vị sẽ luôn ở bên họ, dù trong kiềm tỏa hay tự do, dù trên mảnh đất của chính họ với những dòng sông ngọn đồi yêu dấu hay tại vùng đất với các con sông và ngôn ngữ xa lạ, như thế nào. Đây chính là những suy nghiệm đến với họ trong thời gian lưu đày ở Babylon, khi họ băn khoăn ý nghĩa của lịch sử dân tộc mình. Thiên Chúa đã lên tiếng với họ lần nữa thông qua các nhà tiên tri mà ngài gửi đến. Và lần này, họ đã lắng nghe.
CHƯƠNG 10: CÁC NHÀ TIÊN TRI
Các nhà tiên tri không nói trước tương lai. Họ truyền đạt tương lai. Họ không hẳn dự đoán tương lai, mà truyền đạt hoặc thông cáo lại những gì họ nghe được từ Thiên Chúa thì đúng hơn. Abraham nghe được lời phán bảo của Thiên Chúa chế giễu các thần linh của cư dân Lưỡng Hà. Moses nghe đấng ấy triệu hồi mình làm người giải phóng dân Do Thái ở Ai Cập và dẫn họ đến Vùng đất hứa. Và khi con dân Israel đã định cư ở Canaan dưới sự trị vì của các đức vua của mình, giọng nói của Thiên Chúa vẫn còn đó. Nó đã đến với những người dân giản dị, dám ra khỏi bức màn vô minh và thách thức những bậc quyền thế khi họ không tuân lời Thiên Chúa phán bảo Moses trên ngọn núi thiêng năm nào. Các nhà tiên tri là những diễn giả hấp dẫn, dùng các câu chuyện để truyền đi thông điệp của mình. Ngay cả các đức vua cũng không nằm ngoài sự thu hút của họ. Sau đây là câu chuyện về cách một nhà tiên tri đã thách thức vị vua vĩ đại nhất của Israel, vua David, người trước khi làm vua đã giết người khổng lồ Goliath bằng dây lăng đá.
Vua David lên ngôi vua của Israel vào khoảng năm 1000 TCN. Ngài chọn vùng đất cao kiên cố tên là Núi Zion để xây dựng một thủ phủ xinh đẹp cho vương quốc và đặt tên nó là Jerusalem, nghĩa là “thành phố của hòa bình”. Ngày nay, Jerusalem vẫn là một địa điểm thiêng liêng với hàng triệu người. Dù là một chiến binh vĩ đại, một nhà lãnh đạo có sức hút, vua David cũng có những hạn chế riêng. Có lần, một vị tiên tri tên là Nathan đến gặp để nói với đức vua về một vụ vi phạm trắng trợn vừa xảy đến. Một người đàn ông giàu có nọ sống ở vùng thôn quê, sở hữu hàng ngàn con cừu và gia súc các loại, không thiếu thứ gì. Một người tá điền của ông ấy vốn rất nghèo và chỉ có trong tay một con cừu cái nhỏ mà anh ta yêu thương như con gái mình. Khi nhà ông chủ có khách viếng thăm bất ngờ, thay vì
làm thịt con cừu trong đàn của mình, ông chủ lại đem giết con cừu của người tá điền để thiết đãi khách.
Nghe chuyện, vua David liền đứng phắt dậy và hạ lệnh: “Con quái vật đó là ai?” Nathan thưa: “Chính là người đó, thưa bệ hạ”. Nathan biết trong một lần đi chiến dịch, vua David đã qua đêm với Bathsheba, vợ của Uriah, một người lính trung thành trong đoàn quân của nhà vua. Để giữ bí mật vụ ấy, nhà vua đã dàn xếp để Uriah bị giết trong một trận chiến rồi âm thầm cưới Bathsheba. Nhờ sự thách thức của Nathan mà nhà vua nhận tội ác của mình và cố gắng sửa đổi. Các nhà tiên tri biết các câu chuyện có sức mạnh làm thay đổi đường hướng cuộc đời của con người. Tuy thế, không phải câu chuyện nào cũng để tố cáo và truyền đạt sự không bằng lòng của Đức Chúa Trời. Đôi khi, bên cạnh nội dung có tính răn đe, họ còn kể chuyện để an ủi và trao hy vọng về tương lai. Sau đây là một ví dụ.
Khoảng bốn trăm năm sau khi vua David băng hà, khi người dân Do Thái bị lưu đày ở Babylon đang đau buồn nhớ tiếc Jerusalem yêu dấu, một người trong bọn họ đã đem đến một thông điệp nhận được từ Thiên Chúa. Tên ông ta là Ezekiel. Đầu tiên, ông mắng đám người này về quá khứ của họ, rằng Thiên Chúa không kêu gọi họ đi khỏi Ai Cập để cuối cùng họ lại thành ra y hệt các quốc gia khác. Các quốc gia đó muốn trở nên giàu có, thịnh vượng và ngang tàn trên khắp toàn cầu. Họ dùng các thần linh của họ để đạt đến vị thế đó. Tôn giáo với họ chỉ như một nhánh của chính trị.
Trong khi đó, Thiên Chúa của người Israel không phải là một vị thần để các chính trị gia lợi dụng trong trò chơi quyền lực của họ. Dân tộc Do Thái cũng không giống các dân tộc khác. Sứ mệnh của họ là trở thành một dân tộc thần thánh, với mục đích duy nhất trên Trái đất là phục vụ Thiên Chúa của họ. Vậy mà họ đã để mình bị hút vào các ván cờ tranh giành quyền lực tại vùng đó. Vậy nên Thiên Chúa đã trừng phạt họ bằng cách lưu đày họ đến Babylon.
Việc Ezekiel coi sự lưu đày là do các tội ác của dân Israel đã cho thấy một tư tưởng thú vị khác trong lịch sử tôn giáo. Mỗi lần con dân của Israel chịu thống khổ do tranh giành quyền lực trong khu vực, các vị tiên tri đều coi nỗi đau đớn của họ không phải do các đoàn quân đã giày xéo họ mà do sự thiếu trung thành của nhân dân với Đức Chúa. Ý tưởng ở đây là nếu có
điều tồi tệ xảy đến với bạn, đó không phải là do bạn xui xẻo, nó là sự trừng phạt dành cho tội lỗi của bạn. Thế nên, khi những điều tệ hại liên tục đến với Israel thì dân họ không ngừng bị các nhà tiên tri quở trách về tội lỗi của chính dân tộc. Lại cũng có lúc Thiên Chúa ngưng việc quở trách đó và bắt đầu an ủi con dân Israel. Một trong những thông điệp an ủi cảm động nhất cũng đến với họ thông qua Ezekiel.
Ezekiel không chỉ nghe được lời phán mà còn thấy được các khải tượng. Và một trong những khải tượng đó chứa một thông điệp về niềm hy vọng dành cho những người Do Thái đang trong cảnh tù tội. Trong khải tượng, Ezekiel đứng trên một ngọn đồi nhìn về một thung lũng rộng chất đầy xương khô. Lời phán của Thiên Chúa lệnh cho ông thông báo lời tiên tri cho đống xương rằng hơi thở sẽ luồn vào trong chúng, thịt da sẽ bao bọc chúng và chúng sẽ sống thêm lần nữa. Ông đã làm đúng như những gì được hướng dẫn. Lập tức những tiếng lạch cạch vang lên khi đống xương lắp ghép lại với nhau và cả thung lũng tràn ngập các bộ xương người hoàn chỉnh. Kế đó, phần gân, thịt và da cũng mọc lên bao bọc lấy khung xương, thung lũng giờ đầy xác người chết. Cuối cùng, hơi thở đi vào các xác người và họ đứng dậy. Tựa như một đoàn quân sung mãn và thiện chiến vừa tràn đến thung lũng. Theo giọng nói mặc khải cho Ezekiel, đống xương khô này vốn của những người Do Thái từng nghĩ đời mình đã chấm dứt, họ qua đời và được chôn ở Babylon. Nhưng Thiên Chúa sẽ sóm mang lại sự sống cho những người này và đem họ trở về miền đất của dân Israel.
Thực tế, chuyện xảy ra đúng như thế. Vào năm 539 TCN, người Ba Tư đánh bại người Assyria; vua Cyrus của Ba Tư đã trả những người bị lưu đày về lại Israel và bảo họ xây lại đền thờ đã bị người Assyria phá hủy, đồng thời khôi phục những truyền thống tôn giáo của mình. Trong hai trăm năm tiếp theo, người Do Thái cổ được tự chủ với tôn giáo riêng của mình. Giờ đây, cuối cùng, họ bắt đầu sống đúng với ý nghĩa của cái tên “Israel”: Thiên Chúa trị vì. Họ thấy mình không như các quốc gia khác do con người dẫn dắt, mà là một cộng đồng tôn giáo được Thiên Chúa trị vì, một nền chính trị thần quyền. Họ khởi công xây dựng lại ngôi đền từng là biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong dân tộc họ, trung tâm của sự hiện hữu của dân tộc. Ngôi đền được xây xong và khánh thành vào năm 515 TCN.
Không còn một vị vua nào ở nước Israel nữa, thế nên vị giáo sĩ đứng đầu ngôi đền trở thành người trọng yếu nhất nước. Ông ấy được xem như đại diện của Thiên Chúa trên trần gian. Cũng chính trong quá trình dài thống nhất đất nước này, một tục lệ từng là một phần trong lịch sử dân tộc họ từ thời Abraham đã kết thúc: Sự tiên tri chấm dứt! Bây giờ, thay vì những vị tiên tri sống liên tục đem đến ngạc nhiên thông qua những lời phán truyền của Thiên Chúa với dân Do Thái, sách vở đã được thu thập, trong đó tập hợp các câu chuyện về lịch sử được Thiên Chúa dẫn dắt của dân tộc, và các bộ luật giúp quản lý đời sống nhân dân từ đó về sau.
Quan trọng nhất trong số đó là bộ năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, gọi là Ngũ Thư, được các học giả Do Thái viết trên chất liệu là các cuộn giấy cói. Chính trong giai đoạn hòa bình sau khi trở về từ họa lưu đày này mà cuối cùng, câu chuyện về mối quan hệ lâu dài giữa dân tộc Do Thái với Thiên Chúa mới được ghi lại. Từ chỗ là dân tộc gắn với Lời phán mặc khải, giờ đây họ trở thành dân tộc của Kinh Sách.
Trong những năm mở đầu đó, người ta có cảm giác như tôn giáo của dân Do Thái đang đi những bước mang tính thể nghiệm. Ta thậm chí có thể mô tả nó như là một tôn giáo tự do, khi mà đường hướng của nó không do những người chuyên tu quyết định mà là từ những kẻ nghiệp dư tài năng nghe được lời Thiên Chúa phán bảo trực tiếp. Đó là cách các tôn giáo ra đời. Chúng bắt đầu thông qua những người có tài năng thiên bẩm, mà ta gọi là nhà tiên tri hay nhà hiền triết, có thể nghe được các lời phán và thấy được các khải tượng. Họ kể cho mọi người biết những gì mình đã nghe và thấy được. Những ai không nghe và thấy được như vậy cũng tin vào những gì được kể lại. Từ đó mà các cấu trúc tôn giáo hình thành.
Khi các cấu trúc đó trở nên tinh vi hơn, nhu cầu về một nhà lãnh đạo kiểu mới sẽ phát sinh. Sự chuyển dịch từ nghiệp dư sang chuyên nghiệp bắt đầu. Người ta cần các giáo sĩ để diễn giải các câu chuyện thánh linh đã được kết nối với nhau. Người ta cần các vị linh mục để chủ trì các lễ, hội tôn vinh những sự kiện ghi trong sách thánh. Người ta cần các đền thờ để có nơi tụ hợp và tổ chức mọi hoạt động đó. Và khi quá trình lâu dài đó hoàn thành, nhân loại lại có thêm một tôn giáo hoàn chỉnh nữa.
Thế nhưng, người ta vẫn cảm thấy có một điều gì đó đã bị bỏ sót và đó là lý do các tôn giáo luôn nhìn lại những năm đầu hình thành với sự ước ao pha lẫn tiếc nuối. Tựa như các cặp đôi đã chán việc chung sống cùng nhau khi mà đam mê của tình yêu ban đầu đã phai nhạt, họ nhìn lại và thèm muốn được như những ngày đầu khi mà yêu đương tuôn trào thật dễ dàng. Cũng vì thế mà mọi tôn giáo đều bỏ nhiều thời gian nhớ tưởng lại thời ban đầu và nỗ lực thắp lại ngọn lửa yêu kính đầy nhiệt thành khi xưa. Việc đó rất khó, vì giọng nói của đấng muôn vàn thương yêu đã rơi vào thinh lặng và những gì còn lại chỉ là các sách vở về Người.
Có thể chính những người đang đứng đầu tôn giáo không còn nhận lời gọi của Đấng Tối Cao nữa vì họ không muốn ngài phá bĩnh hệ thống mà họ đang tự vận hành một cách trơn tru? Sự căng thẳng đó không quá xa lạ ở các tôn giáo có tổ chức như lịch sử tiếp theo đây sẽ chứng minh, về phần dân tộc Israel, sau khi thoát khỏi họa lưu đày ở Babylon, họ bắt đầu thống nhất lại như sau. Những mẩu xương tản mác lại được tập hợp trở lại. Theo sau là thời gian chuyển tiếp hai trăm năm, trong đó họ được sống hòa bình, điều họ tìm kiếm suốt hàng ngàn năm trước. Khi ấy, quốc vương của các đế chế cai quản dân Israel chọn cách không can thiệp vào tôn giáo của nước chư hầu. Điều này tuy vậy không kéo dài được lâu.
Năm 333 TCN, hoàng đế Hy Lạp Alexander Đại đế thống trị ở hầu khắp địa cầu và một thời kỳ thay đổi khác lại bắt đầu tại Israel. Alexander cho phép dân Israel được theo tôn giáo riêng và để họ yên. Khi ông chết đi thì nhiều phần trong đế chế của ông mà ngày nay thuộc về Afghanistan, Iran, Iraq, Syria, Li-băng và Palestine đã bị những nhà lãnh đạo có phong cách khác hoàn toàn tiếp quản. Họ chọn cách áp đặt tôn giáo của mình lên các nước chư hầu, vậy nên việc họ xung đột với vị Thiên Chúa vốn nghi kỵ dữ dội của dân Israel chỉ còn là vấn đề thời gian. Vị vua đầu tiên khai chiến là vua Antiochus IV. Có gốc gác Hy Lạp và đang lúng túng với tham vọng đóng vai trò lớn hơn trong cuộc chơi quyền lực tại khu vực, ông quyết định hất đám thần dân Do Thái của mình ra khỏi vị Thiên Chúa thích chiếm hữu của họ và bắt họ phải sống theo văn hóa và tôn giáo phức tạp của Hy Lạp.
Năm 167 TCN, vua Antiochus IV biến đền thờ ở Jerusalem thành điện thờ thần Zeus và gửi người đi khắp đất Israel thúc ép dân Do Thái phải
hiến tế phẩm vật cho ông. Khi một trong những tên tay sai đó đến ngôi làng ở vùng ngoại ô Jerusalem có tên là Modin, hắn ra lệnh cho vị linh mục của làng, một ông già tên là Mattathias, tuân theo sắc lệnh của nhà vua và thực hiện cúng tế, nếu không ông sẽ phải chết. Mattathias đáp lại bằng cách thọc con dao chuyên dùng cho việc hiến tế vào chính tên tay sai, khiến cho hắn trở thành phẩm vật hiến tế thay cho con cừu đã được chuẩn bị sẵn.
Sau đó, Mattathias và các con trai đã phát động một cuộc chiến kéo dài ba năm chống lại vị vua hung bạo. Họ thắng ba trận và chiếm lại được ngôi đền đã bị làm vẩn đục. Vào ngày 14 tháng Mười hai năm 164 TCN, họ bắt đầu thanh tẩy, phục hồi và lại dâng ngôi đền lên đức Thiên Chúa. Việc này diễn ra trong tám ngày, khoảng thời gian được người Do Thái ngày nay tưởng niệm bằng Lễ hội Anh Sáng hay lễ Hanukkah. Vào mỗi ngày trong lễ Hanukkah, người dân thắp một ngọn nến trên chân nến tám nhánh gọi là menorah để nhớ về công sức khôi phục lại ngôi đền ở Jerusalem năm xưa sau khi bị Antiochus mạo phạm.
Antiochus băng hà vào năm 163 TCN và nhờ đó, cuộc sống cũng trở nên dễ thở hơn cho dân Israel. Họ duy trì nền tự chủ mong manh được một trăm năm nữa cho đến khi quân La Mã tiến chiếm đóng vào năm 63 TCN. Hồi kết vậy là bắt đầu.
CHƯƠNG 11: HỒI KẾT
Điều xấu có thể xảy đến với người tốt. Cuốn cuối cùng trong Kinh Thánh Tân ước phân các điều xấu thành bốn loại tương ứng với hình ảnh Tứ Kỵ sĩ Khải Huyền: Chiến tranh, Nạn đói, Bệnh dịch và Chết chóc. Bốn vị kỵ sĩ ấy đã phi nước đại qua lịch sử nhân loại từ thuở ban đầu và chưa hề có dấu hiệu ghìm cương. Bất cứ ai cũng thấy khó khăn khi đối diện với họ, còn những người có tín ngưỡng tôn giáo lại có một vấn đề đặc thù khác. Giả sử bạn không tin vào thần thánh, không tin có một ý nghĩa cuối cùng nào của sự hiện sinh, vậy thì bạn chỉ thấy các sự khổ đau chỉ như một thực tế khó chịu mà mình phải đối phó. Nhưng nếu tin vào thần thánh thì bạn sẽ có thêm các câu hỏi khó trả lời. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho nhiều khổ đau xảy ra trên thế gian đến thế? Và tại sao người tốt lại thường gặp khó khăn còn kẻ xấu lại có thể thoát nạn? Mọi tôn giáo đều có câu trả lời của riêng họ cho những câu hỏi này. Do Thái giáo có câu trả lời từ sớm là: Nếu con dân Israel đang chịu khổ đau, đó là họ đang chịu sự trừng phạt cho các tội lỗi của mình.
Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về khổ nạn của cả dân tộc Israel thay vì về một cá nhân cụ thể nào và vì một lý do rất hiển nhiên. Đức Chúa Chân chính Duy nhất gọi tên Israel là dân tộc mà ngài lựa chọn, là vị hôn thê và là người yêu dấu của ngài. Thế tại sao mối quan hệ ấy lại đắt đỏ đến vậy? Sao nó khiến dân họ khổ đau nhiều thế? Vị tiên tri Ezekiel nói đó là vì họ chưa hiểu rằng làm dân được Chúa chọn đồng nghĩa với việc tách biệt khỏi đường lối quen thuộc của các quốc gia khác và thần linh của họ. Đằng này, họ lại bắt chước y hệt. Họ có sự lẫn lộn trong hệ thống chính trị. Thậm chí họ tôn thờ Thiên Chúa như thể ngài là một thần tượng muốn được tán dương và nhận cống vật thay cho sự công bình và tính linh thánh. Vì lẽ đó họ đã phải chịu kết cục tù ngục ở Babylon. Sau khi được phóng
thích và trở về Jerusalem, họ đã chiêm nghiệm ra được bài học cho dân tộc mình.
Một lần nữa về lại đất Israel, họ lập nên một quốc gia lấy sự trong sạch của đức tin tôn giáo làm mục đích và ý nghĩa của đời sống. Họ tuân theo các hướng dẫn trong Ngũ Thư một cách cẩn thận. Mỗi ngày được đánh dấu bằng các nghi thức lấy Chúa là vị đưa dẫn hàng đầu trong tâm thức. Từng khía cạnh trong đời sống của họ đều được sắp xếp để phụng sự Chúa, từ những gì họ có thể ăn đến những thứ họ có thể chạm vào cũng như những người họ có thể kết giao. Israel trở thành một nhà nước theo chế độ thần quyền, trong đó tôn giáo trở thành mục đích cho toàn bộ sự tồn tại của dân tộc. Cuối cùng, họ đã học được cách chung sống hòa bình với Thiên Chúa của mình và với chính bản thân.
Rồi nền hòa bình đó bị vua Antiochus phá hủy, khổ đau của dân tộc họ lại bắt đầu từ đầu. Thế nhưng lần này có một sự khác biệt. Giờ thì chính sự trung thành của dân họ với Chúa đã gây ra khổ đau. Vì vậy, lời giải thích cũ cho rằng những đày đọa đó là để trừng phạt họ không còn đúng nữa. Người ta cần phải tìm một lời giải thích mới. Trong giai đoạn đọa đày dưới trướng vua Antiochus, một câu chuyện nữa xuất hiện và nó đã mang đến một thành tố khác nữa cho Do Thái giáo, điều không chỉ ảnh hưởng đến lịch sử của dân tộc Do Thái mà còn tác động đến cả lịch sử Ki tô giáo và Hồi giáo.
Chúng ta đã thấy các nhà tiên tri đóng vai trò chủ chốt trong lịch sử Israel đã không nói trước tương lai, mà họ báo trước cơn thịnh nộ của Chúa đối với quá khứ của dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chống lại vua Antiochus, một nhân vật mới đã xuất hiện, tuyên bố có thể nhìn xuyên qua cái chết, xuyên qua cả lịch sử, dẫn hướng đến tương lai mà Chúa đã chuẩn bị sẵn cho các con dân khổ đau của ngài. Không như các nhà tiên tri trước đó, vị này không lộ diện trên sân khấu để thông báo những gì Thiên Chúa đã phán truyền. Vị này ở trong bóng tối như một điệp viên, đưa những gì ông đã nghe và thấy vào trong sách. Giống như khi điệp viên gửi báo cáo về từ trong hàng ngũ địch, ông ấy cũng mã hóa thông điệp của mình để chỉ phe ta mới đọc được nó. Cách truyền thông tin bí mật từ Chúa đó được gọi là khải huyền (apocalyptic), một từ cấm trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tiết lộ điều bị che giấu”, giống như cách tấm màn được vén lên để lộ
những gì diễn ra trên sân khấu. Cách hiểu hay nhất về những người viết sách khải huyền là coi họ như những điệp viên đang làm việc theo kế hoạch của Chúa để thực hiện trận đánh trả cuối cùng chống lại kẻ thù. Họ được Chúa gửi đến để chuẩn bị cho con dân của ngài trước họa xâm lăng.
Điệp viên khải huyền đầu tiên tự xưng là Daniel. Ông viết thông điệp của mình trong một cuốn sách mỏng mà chỉ có dân Do Thái mới hiểu được. Bối cảnh trong cuốn sách là khoảng thời gian bị lưu đày hàng trăm năm trước ở Babylon, nhưng thực chất đó chính là một bản tường thuật được mã hóa về tình trạng ngược đãi do vua Antiochus gây ra ngay trong thời kỳ sách được viết. Cuốn sách gồm sáu câu chuyện và một vài giấc mơ. Câu chuyện nổi tiếng nhất có Daniel là một nhân vật trong đó và nó mang ý nghĩa trấn an người Do Thái là họ sẽ sống sót qua cơn hung bạo của kẻ ngược đãi.
Trong câu chuyện, Daniel là một người Do Thái chịu cảnh lưu đày ở Babylon, sau đó trở thành một viên quan thuộc Đế chế Ba Tư. Daniel được vua Darius, con của Cyprus, vị vua với đức tin tôn giáo và năng lực trị vì từng cho phép dân Do Thái trở lại sinh sống trong vùng đất của họ, kính nể không chỉ vì sự trung thành của ông với Chúa mà còn bởi năng lực khi đảm nhiệm vị trí quản lý ngân khố. Nhưng địa vị cao quý của Daniel khiến các viên quan khác sinh lòng ghen tức và họ đã đặt bẫy hãm hại ông. Họ nịnh bợ vua Darius gọi ý rằng nhà vua nên ban hành một đạo luật áp dụng cho cả vương quốc, theo đó trong vòng một tháng, không ai được phép cầu nguyện vị thần nào ngoài chính nhà vua. Ai phạm luật đó sẽ bị quăng vào hang sư tử. Vua Darius thông qua đạo luật và đám người chủ mưu mừng thầm trong bụng. Họ biết rằng Daniel sẽ tiếp tục cầu nguyện hướng đến Thiên Chúa của dân Do Thái, dù cho điều gì xảy ra đi nữa.
Đám quan này rình bắt tại nhà của Daniel trong lúc ông đang cầu nguyện như thế và áp giải ông đến trước đức vua. Nhà vua buồn bã vô cùng khi nhận ra mình đã sa bẫy, nhưng vì ngài đã ký ban hành luật nên chẳng cách nào thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan này. Nhà vua đành đau khổ hạ lệnh tống Daniel vào hang sư tử để trừng phạt. Thế nhưng, sáng hôm sau, sau khi trải qua một đêm ở giữa bầy sư tử, Daniel ra khỏi hang bình an vô sự. Các độc giả theo dõi câu chuyện của Daniel biết rằng câu chuyện không kể về một sự việc từng xảy ra ở Babylon cách đó ba trăm
năm. Nó ám chỉ những việc đang xảy ra trên đất Israel trong thời kỳ họ chịu sự áp bức của Antiochus vì đã trung thành với Chúa. Daniel đang nói với họ rằng dù họ đang ở cảnh bị lùa vào giữa bầy sư tử nhưng nếu họ kiên định với đức tin thì Chúa sẽ cứu giúp họ. Cuốn sách của Daniel nhằm củng cố sự kiên gan của dân tộc.
Nhưng Daniel vẫn còn một ý định khác. Ông không chỉ muốn động viên dân Israel giữa cảnh khổ đau của họ. Ông muốn giúp họ chuẩn bị trước trận chiến cuối cùng của Chúa chống lại kẻ thù của con dân ngài. Khác với các nhà hiền triết Ấn Độ vốn coi thời gian như một vòng quay vô tận, trong đó các linh hồn vật lộn để thoát ra đến cõi hư vô hỷ lạc, các nhà tư tưởng Do Thái lại thấy thời gian như một mũi tên do Thượng Đế bắn ra và nó sẽ dừng lại khi đã trúng mục tiêu. Theo lời Daniel thì sắp đến lúc đó rồi. Tại chặng cuối của mũi tên thời gian, khổ nạn của dân Israel cuối cùng sẽ được gột rửa. Khi đó, những người chết qua bao năm tháng sẽ sống dậy từ trong mộ phần để gặp đấng sáng tạo và nghe sự phán xét của ngài. Chính tại đây, Daniel đã lần đầu tiên truyền cho dân Do Thái niềm tin về sự sống sau cái chết, một sự tính sổ cuối cùng khi mà mọi công tội sẽ được phân định theo luật của Chúa.
Trước thời điểm đó trong lịch sử, dân tộc Do Thái hầu như không quan tâm đến sự sống sau cái chết. Họ gặp Chúa khi còn sống, nhưng khi chết, thời gian của họ được xem là đã hết và họ rời khỏi màn diễn. Các linh hồn rời khỏi đây sau đó sẽ đi vào một thế giới ngầm tăm tối gọi là sheol, kiểu như “âm phủ”, chốn của sự quên lãng, tại đó ngay cả Chúa cũng không được nhớ đến. Cuốn sách của Daniel đã thay đổi tất cả các quan niệm đó. Ông bảo họ rằng vào hồi cuối của lịch sử nhân loại, Thiên Chúa sẽ hiện ra và “những ai ngủ vùi trong bụi đất sẽ thức dậy, có người được sự sống đời đời, người thì chịu sự nhục nhã và khinh miệt mãi mãi”.
Sự phục sinh người chết là một tư tưởng mới mẻ trong Do Thái giáo và sẽ luôn gây tranh cãi. Sẽ đến lúc các giáo sĩ Do Thái chia thành hai phe, phe tin vào điều đó và phe không tin. Dù sao, đó vẫn là một tư tưởng sẽ tăng tốc trong tương lai. Daniel không tin vào sự phục sinh của từng cá nhân sau khi họ chết đi mà tin vào cái gọi là một sự phục sinh chung hết. Mọi người sẽ nằm trong nấm mồ của mình cho đến khi Chúa đưa lịch sử
nhân loại vào hồi cuối, khi mọi người sẽ trỗi dậy cùng một lúc để đối diện với sự phán xét dành cho mình. Daniel cho rằng ngày đó không còn xa nữa.
Daniel còn đưa ra một ý tưởng lớn khác. Để chứng minh hồi kết đã gần kề, Thiên Chúa sẽ gửi một “đặc vụ” bí ẩn gọi là Messiah, hay một Đấng Cứu Thế, đến để giúp mọi người chuẩn bị cho cuộc tấn công cuối cùng. Messiah có nghĩa là “người được xức dầu thánh”. Trong quá khứ, khi người Do Thái bầu ra một vị vua để dẫn dắt dân tộc, họ sẽ bôi dầu thánh lên đầu vị ấy, một dấu hiệu cho thấy đó là một bầy tôi của Chúa. Daniel nói với con dân Israel rằng thời gian sắp hết và nỗi khổ đau của họ sẽ sớm chấm dứt. Và dấu hiệu của thời điểm đó là sự xuất hiện của Đấng cứu thế Messiah. Nhưng ngài sẽ không đến từ vũ trụ, cũng không phải từ Thiên đường. Ngài sẽ là một người đang sống giữa mọi người. Sẽ đến lúc ta trông thấy ngài, danh tính của ngài được hé lộ. Có thể ngài đang ở đây rồi, vậy nên hãy để mắt trông chừng! Bằng cách đó, Daniel đã đem lại cho dân Do Thái niềm hy vọng vào một thời điểm mà các khổ nạn của họ sẽ kết thúc và Thiên Chúa sẽ lau đi những dòng nước mắt của họ. Thế là họ bắt đầu theo dõi và chờ đợi Đấng Messiah. Nhưng ngài đã không bao giờ tới. Tình hình chỉ tệ hơn mà thôi.
Những khổ nạn dưới thời vua Antiochus chẳng là gì nếu đem so với điều xảy ra khi quân La Mã chiếm được Palestine vào năm 63 TCN. Tiếp theo đó là một giai đoạn biến loạn triền miên kéo dài 150 năm, xen giữa là những cuộc chiến tranh, trước khi hồi kết thực sự tới. Một lần nữa, ngôi đền ở Jerusalem giống như cột thu lôi. Với người Do Thái, ngôi đền còn quý giá hơn cả mạng sống của họ. Nó chứa đựng biểu tượng cho vị Thiên Chúa đã gọi dân họ đi khỏi Ai Cập hơn một ngàn năm trước. Sự nồng nhiệt sôi sục họ dành cho vị thần của họ đã làm bối rối cả những kẻ cai trị mới, những người La Mã. Đối với dân La Mã, thần linh là một điều rất phổ biến. Những ai có lý trí sẽ không xem chủ đề đó là quá nghiêm trọng. Vậy thì điều gì ở vị thần thánh Do Thái này lại khiến dân họ sẵn sàng xả thân đến chết như thế?
Theo truyền thuyết, khi vị tướng La Mã là Pompey chinh phục được thành Jerusalem vào năm 63 TCN, ông ấy quyết định tìm kiếm vị Thiên Chúa của dân Do Thái trong ngôi đền của họ. Ngôi đền được xây dựng với một dãy các gian thờ theo mức độ linh thiêng tăng dần. Pompey sải bước
qua các gian cho đến khi vào một chốn tôn nghiêm gọi là Nội Điện. Đây là phần linh thiêng nhất của đền thờ mà chỉ có Giáo sĩ Tối cao (hay Thầy Thượng Tế) mới được phép vào. Với lòng thành kính, Pompey bước vào Nội Điện, mong chờ được nhìn thấy vị thần linh của dân Israel. Nội Điện trống rỗng, chẳng có gì ở đó!
Vì người Do Thái biết rằng không có gì hay không vật gì có thể đại diện cho tiếng nói mặc khải đã ám ảnh họ trong hàng thế kỷ qua. Điều răn thứ Hai đã đi sâu vào trong tâm hồn dân tộc họ. Họ đã dựng lên ngôi đền thờ tráng lệ này với những phiến đá được chạm trổ tinh xảo và hàng dãy sân trong đẹp đẽ. Họ đã yêu kính nơi này và khóc thương cho sự mất mát của nó trong suốt chiều dài lịch sử. Thế nhưng, nơi trái tim ngôi đền lại không có gì hết! Tướng Pompey quay trở ra, cảm thấy bối rối trước sự bí ẩn của một tôn giáo mà biểu tượng cho vị thần linh của họ là một gian phòng trống rỗng.
Sang đến thế kỷ tiếp theo, sự bối rối của người La Mã dần chuyển thành cơn hung nộ khi họ nhận thấy không thể nào dung chứa được lối sống của đám dân cứng đầu này cùng với vị thần khó nắm bắt của họ. Thế là người La Mã quyết định kết liễu hoàn toàn dân tộc Do Thái. Vào năm 70 TCN, dưới sự lãnh đạo của tổng tư lệnh Titus, quân La Mã san phẳng thành Jerusalem và phá hủy ngôi đền thờ từng được mở rộng và trang hoàng bề thế kể từ cuộc viếng thăm của tướng Pompey 140 năm trước. Tướng Titus tự nhủ rằng cuối cùng chuyện đã xong, ta đã hủy diệt hết bọn chúng.
Nhưng còn lâu dân Do Thái mới bị hủy diệt. Tản mác ra khắp các ngõ ngách của địa cầu trong một hành trình đày ải dằng dặc khác, họ đã mất tất cả, trừ một thứ quan trọng nhất với họ: Thiên Chúa của dân tộc. Họ đã biết không có một đền đài bằng đá nào có thể chứa đựng Chúa của họ. Họ cũng hoài nghi những ai cho rằng có thể bao hàm Thiên Chúa trong vòng ngôn từ sách vở. Trong khi chịu đựng cuộc đày ải mới này và đợi chờ Đấng Messiah xuất hiện, họ đã lập nên một truyền thống mới phản bác lại bất cứ nỗ lực nào muốn định nghĩa Thiên Chúa bằng lời lẽ của thế gian.
Trên nền bối cảnh đó, một nhân vật quan trọng và khó ưa đã xuất hiện, đó là kẻ dị giáo. Họ là những người khó ưa hay đặt ra các câu hỏi kỳ quặc và thách thức lối nghĩ của số đông. Họ có nhiều điều để dạy chúng ta. Một
trong những kẻ dị giáo nổi tiếng nhất lại nằm ngay trong Kinh Thánh Do Thái.
CHƯƠNG 12: KẺ DỊ GIÁO
Khi cựu Tổng thống Mỹ John F. Kennedy muốn giảm số bom hạt nhân toàn cầu vì ông tin rằng càng nhiều bom sẽ càng làm thế giới nguy hiểm hơn, rất nhiều người đã phản đối ông. Người lên tiếng mạnh mẽ nhất là một nhà vật lý hạt nhân, người tin rằng nước Mỹ càng có nhiều bom thì càng được an toàn. Khi được hỏi về ý kiến đó, vị Tổng thống trả lời rằng bất cứ ai có sự quả quyết bất cứ điều gì, nhất là một chuyên gia, người đó nhất định sẽ khiến những ai có đầu óc cởi mở phải thấy sửng sốt. Ông nói tiếp: đó là ưu điểm của một người có đầu óc cố chấp.
Như vậy, với nhũng người có đầu óc cố chấp thì thử thách duy nhất còn lại trong đời là đi chiến đấu để áp đặt góc nhìn của họ lên những người còn lại. Thuật ngữ tiếng Anh để chỉ sự tin chắc kiểu này là orthodoxy, nghĩa là “tư tưởng chính thống”, có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “niềm tin đúng hoặc chính xác”. Khi Tổng thống Kennedy phản đối cái nhìn chính thống về bom hạt nhân thì ông ta được xem là người có tư tưởng dị giáo, heresy, gốc từ tiếng Hy Lạp chỉ “một người phản đối các chính sách lãnh đạo”. Bên chính thống và bên dị giáo có ở khắp nơi trong đời sống quanh ta, nhưng họ đặc biệt mạnh mẽ trong tôn giáo. Nhìn vào cách họ tương tác với nhau, ta sẽ hiểu tại sao nội bộ các tôn giáo lại thường trực bất đồng ý kiến với nhau và đôi khi đến mức bạo liệt.
Thế nhưng hầu hết các tôn giáo đều bắt đầu từ những kẻ dị giáo. Một nhà tiên tri đáp lại lời phán bảo ở bên trong, vốn thách thức quan điểm đương thời, theo cách Abraham khinh rẻ các tượng thần trong cửa hiệu của cha mình. Điều thường xảy ra tiếp theo là một sự chia rẽ, trong đó kẻ dị giáo bỏ đi và thành lập một tôn giáo mới hay một nhánh cạnh tranh với cái cũ. Đôi khi kẻ dị giáo thắng cuộc và tư tưởng của họ trở thành tư tưởng chính thống mới. Hoặc là bên có đầu óc bảo thủ vẫn không xoay chuyển và
niềm cảm hứng mới kia biến ra chỗ khác, hoặc là bên bảo thủ chịu cởi mở đủ để hấp thụ thêm hiểu biết mới.
Người Do Thái quen thuộc với quá trình như vậy hơn các tín đồ của các tôn giáo độc thần khác. Ngay từ đầu, các cuộc tranh cãi và bất đồng ý kiến đã đóng vai trò trung tâm trong đời sống dân họ. Tất nhiên, mọi tôn giáo đều có sự tranh luận, nhưng hầu hết đều đóng lại cuộc tranh biện ngay khi có thể và vạch ra lằn ranh mà mọi người hoặc là chấp nhận hoặc đi khỏi đó. Họ thích sự tôn ti trật tự. Tôn giáo của dân Do Thái không bao giờ như vậy, họ biết rằng chẳng có gì trong tôn giáo mà không đem ra bàn cãi được cả. Họ tin là thà rằng cứ cãi nhau, còn hơn là khóa chặt tâm trí vào trong cái hộp và quăng chìa khóa đi. Ngay trong sách thánh của Do Thái giáo, ta cũng dễ dàng tìm thấy một kẻ dị giáo tên là Job dám phản biện lại quan điểm chính thống đương thời.
Chuyện về Job đã lưu truyền từ lâu như một câu chuyện dân gian, nhưng trong thời kỳ đày ải ở Babylon, một nhà thơ vô danh đã dùng lại nó để tìm hiểu sâu hơn sự khổ đau. Dân Do Thái có lẽ có nhu cầu giải quyết vấn đề đó nhiều hơn các dân tộc khác. Trong lịch sử, nhiều quốc gia và dân tộc từng bị các đế chế hùng mạnh xóa sổ; nhưng ít nhất, khổ đau của họ cũng dừng lại tại đó. Còn khổ đau của dân Do Thái dường như không bao giờ chấm dứt. Không còn là một đất nước từ năm 70 TCN và cũng không còn mảnh đất cắm dùi, dân họ chuyển sang giai đoạn lịch sử lang thang và bị chối từ ở mọi nơi họ đi qua. Chẳng bao giờ có sự an toàn lâu dài ở bất cứ đâu, họ cứ phải sẵn sàng hành lý, sẵn sàng cho cuộc ra đi kế tiếp, cuộc lưu đày kế tiếp.
Họ mất đất và đền thờ nhưng vẫn giữ cuốn kinh thánh và nó trở thành một mái ấm tâm linh cho dân họ, thứ họ có thể nhét vào hành lý mỗi khi lần trục xuất tiếp theo bắt đầu. Ngay cả khi có ai lấy mất cuốn sách ấy thì họ vẫn còn mang theo tinh túy của nó trong trí nhớ, đó là một vài câu Shema từ bộ Ngũ Thư mà họ đều thuộc nằm lòng. Shema trong tiếng Do Thái có nghĩa là “lắng nghe” và đoạn đó như sau: “Nghe này, hỡi con dân Israel: Đức Chúa Trời của các ngươi là Đấng duy nhất; ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Đức Chúa Trời ngươi”. Chính Daniel, khi ở giữa bầy sư tử, đã làm theo một tục lệ cổ xưa của người Do Thái là tụng đọc đoạn Shema mà được thoát nạn. Câu chuyện về Daniel đã động viên
dân tộc Israel trong cơn khốn khó. Thế nhưng giờ đây, điều gì có thể động viên được dân tộc họ khi họ đã bị nghiền thành tro bụi trong hàm sư tử? Tại sao mà giờ đây, khổ đau lại chính là cuộc sống của dân Israel?
Sách Job đã trả lời cho câu hỏi đó. Job thực ra không có một câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi mà dân tộc ông đã hỏi qua hàng thế kỷ. Điều ông đã làm là phá hủy tín điều chính thống cho rằng dân họ đang phải chịu sự trừng phạt của Chúa vì những tội lỗi họ gây ra. Đó là một khoảnh khắc lớn lao trong lịch sử tôn giáo. Nó cho ta thấy một người đàn ông bình thường cũng biết rằng ý kiến nào là sai khi nhìn thấy ý kiến ấy. Nhưng tôn giáo của ông ta lại nói nó không thể nào sai được vì Chúa nói rằng nó đúng. Job tự hỏi: liệu Chúa có thể khiến một điều sai trở thành đúng bằng cách nói nó đúng không? Không, cái gì sai thì vẫn là sai, dù Chúa nói gì hay các giáo sĩ nói Chúa đã nói gì. Ta biết cách giải thích của họ là sai và ta vẫn sẽ nói ra điều ấy cho dù các tầng trời có sập xuống đi nữa. Như vậy, Job là một kẻ dị giáo đã đứng lên ngay giữa cuốn Kinh Thánh và thách thức các giáo lý trong đó.
Sách Job cho ta biết ông là một người tốt, công chính và sống rất sung túc. Ngoài việc có bảy đứa con trai và ba đứa con gái mà ông yêu thương hết mực, Job còn sở hữu bảy ngàn con cừu, ba ngàn con lạc đà, năm trăm cặp bò đực, năm trăm con lừa cái cùng nhiều nô bộc và ruộng đất không kể xiết. Theo đơn vị tiền bạc của thời điểm và chốn ấy, ông giàu có đến độ không thể nào tính xuể.
Thế nhưng, chỉ trong vòng vài ngày, mọi tài sản của ông tiêu tán hết cả. Gia súc bị lấy trộm, người hầu và con cháu bị giết, bản thân ông bị một căn bệnh da liễu tệ hại hành hạ. Còn mình ông ngồi lại trên một đống rác, dùng một mảnh sành gãi người mình. Nỗi đau của ông là tuyệt đối. Vợ ông bảo ông hãy nguyền rủa Chúa và chết đi. Nhưng đáp lại tất cả những đày đọa ấy, Job chỉ nói: “Ta trần truồng từ bụng mẹ mà ra, giờ ta trở về cũng trần truồng như vậy; Đức Chúa Trời ban cho, rồi Ngài lấy đi; con xin vinh danh tên Ngài”.
Trong cảnh tiếp theo, ba người bạn tiến đến bên Job nói là họ đến để an ủi ông, nhưng thực chất là thẩm vấn Job. Họ là kiểu tín đồ có sẵn câu trả lời cho mọi thứ, ngay cả cho cơn cuồng phong mất mát đã nhấn chìm
Job. Eliphaz xứ Temanite, Bildad xứ Shuhite và Zophar xứ Naamathite cùng ngồi lại trước người bạn tả toi của họ và bắt đầu cuộc thẩm tra. Họ nói đi nói lại các ý giống nhau với mức độ cáu kỉnh ngày càng tăng, trong đó Eliphaz là người mở đầu bằng lời lý giải chính thức cho tình trạng tệ hại của Job.
Eliphaz nói rằng những người vô tội không bao giờ tàn lụi cả, còn kẻ xấu ác thì sẽ gặt hái một bồ khổ đau mà thôi. Ông đang hứng chịu vô số khổ đau như thế, vậy hãy cho chúng tôi biết, ông đã làm gì khiến cho nỗi khổ đau trút cả lên vai ông thế này? Job không chấp nhận lý lẽ buộc tội đó của họ. Bất kể lý do Chúa công kích ông là gì, chắc chắn không phải do tội lỗi nào của ông mà ông phải hứng chịu đau khổ như thế. Job tin rằng mình là người công chính và chưa từng gây ra điều gì để đáng phải chịu khổ như thế này cả.
Những ông bạn của Job chẳng hề đến với ông với đầu óc cởi mở. Họ chẳng bao giờ nghĩ lý thuyết chính thống cũng có thể sai. Nếu họ có mảy may nghi ngờ như thế thì mọi thứ trong vũ trụ tôn giáo ngăn nắp của họ sẽ xổ tung hết thảy. Tốt hơn hết là cứ theo khuôn phép, còn hơn phải ở trong sự hoài nghi. Riêng Job thì vẫn tin ở chính mình. Giáo lý ắt là sai vì Job biết mình chưa từng làm gì để đáng phải chịu sự tàn phá quét sạch gia tài và gia đình.
Là một thường dân bị xô đẩy vào một hoàn cảnh hiếm có, thay vì quy phục theo những cáo buộc chống lại mình, Job đã tìm thấy sự can đảm để thách thức một giả thuyết bạo tàn. Ngay cả khi ông không thể chứng minh sự vô tội của mình trong cuộc đời này, vì chứng minh cho một điều bị xem là tiêu cực luôn là bất khả, Job vẫn tin tưởng rằng sau khi mình chết, Chúa sẽ bào chữa cho thanh danh của ông: “Vì tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc của tôi vẫn sống và cuối cùng Ngài sẽ đứng trên trần gian này; khi ấy da tôi đã tiêu tan, nhưng trong máu thịt mình, tôi sẽ trông thấy Chúa, tôi sẽ thấy Người đang ở cùng bên tôi và mắt tôi sẽ nhìn ngắm Người, chứ không ai khác”.
Tuy vậy, Job đã không phải đợi đến cái chết mới có được sự phán xét ấy. Đức Chúa xuất hiện và lên án những kẻ đã cố cáo buộc Job tội xúc phạm Ngài. “Đức Chúa bảo Eliphaz xứ Temanite rằng: 'Ta vô cùng phẫn nộ
vì ngươi và hai bạn của ngươi; vì các ngươi đã không nói với ta điều gì là đúng, là sai như kẻ bề tôi Job đã làm.' “ Như thế, chính một người dị giáo đã được ân phước của Chúa, chứ không phải là các vị thầy chính thống thích rao giảng các giáo điều của họ.
Thế nhưng, ngay cả Chúa cũng không được phép thách thức giáo lý chính thống trong câu chuyện này! Một học giả sau này, do thất vọng về sự ủng hộ của Chúa dành cho hành động dị giáo của Job, đã thêu dệt một kết thúc có hậu vào câu chuyện. Chúa ban thưởng cho Job “gấp đôi những gì ông từng sở hữu”, qua đó củng cố một lý thuyết quen thuộc là người tốt sẽ được trọng thưởng, còn kẻ xấu sẽ bị trừng phạt. Điều tuyệt khéo trong câu chuyện này nằm ở chỗ nó cho chúng ta thấy sự đối đầu giữa phe chính thống và phe dị giáo diễn ra thế nào, rồi để chúng ta tự quyết định quan điểm của mình.
Khi suy xét câu chuyện này, ta cũng nên nhìn lại Điều răn thứ Hai về sự chối bỏ các tượng thần. Điều răn này cảnh báo dân Israel về lối suy nghĩ cho rằng họ có thể gói ghém Thiên Chúa vào các món hàng nhỏ gọn rồi đẩy ra chợ tôn giáo. Thế mà đó lại là điều các tôn giáo có tổ chức thường làm. Họ hay đóng khung Chúa trong các giáo lý chính thống của riêng họ rồi cố ép buộc mọi người phải nghe theo. Giống như cách các ông bạn của Job đã làm. Thay vì ngồi cạnh để chia sẻ với Job nỗi đau buồn và mất phương hướng, họ lại răn bảo cho ông biết bàn tay của Chúa đã can thiệp ra sao rồi nhấn mạnh là ông phải chấp nhận cách giải thích của họ. Đó là cách mà các trường phái tôn giáo chính thống và lâu đời rất thích làm. Bảo người khác phải nghĩ chính xác những gì, giải thích ý nghĩa mọi việc và cách Chúa tham gia vào tình huống đó ra sao. Phải đối diện với làn sóng các lý giải mà một số tôn giáo đưa ra tựa như khi bạn bị kẹt trên một chuyến xe buýt đường dài với một kẻ lắm điều, khăng khăng giãi bày với bạn những điều ám ảnh trong đầu hắn suốt đêm.
Ba ông bạn Eliphaz xứ Temanite, Bildad xứ Shuhite và Zophar xứ Naamathite là những ví dụ kinh điển cho những người cuồng tín tôn giáo, những người nghĩ rằng họ đã ghi âm mọi điều và thích phát cuộn băng đó cho bất cứ ai họ gặp. Điều vĩ đại của Sách Job nằm ở chỗ nó không ngại làm chúng ta chán ngán khi phải nghe những giáo điều đó, để rồi đưa ra
"""