"
Lễ Vật Kinh Hoàng - Dolores Redondo PDF EPUB
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Lễ Vật Kinh Hoàng - Dolores Redondo PDF EPUB
Ebooks
Nhóm Zalo
DOLORES REDONDO Đinh Thanh Vân dịch
—★—
LỄ VẬT
KINH HOÀNG
• OFFERING TO THE STORM • (Baztan Trilogy, #3)
NXB PHỤ NỮ
ebook©vctvegroup | 24-03-2021
Tặng Eduardo cùng các tác phẩm của tôi
Kính tặng cô Angela và tất cả những người phụ nữ kiêu hãnh trong gia tộc tôi, họ luôn làm những việc phải làm
Hơn hết thảy, tặng Ainasa, tôi không thể đem lại công bằng cho em, nhưng ít ra tôi sẽ nhớ mãi tên em
1
Ngọn đèn trên chiếc bàn cạnh giường tỏa ánh sáng màu hồng ấm áp khắp phòng, đem lại những sắc thái khác hẳn qua cái chụp đèn thủy tinh thành những hoa văn uyển chuyển. Trên giá, một bộ sưu tập thú nhồi bông với những con mắt thủy tinh tròn xoe chăm chú quan sát kẻ đột nhập đang lặng lẽ nhìn chằm chặp đứa trẻ say ngủ. Hắn nghe thấy tiếng lào xào trên tivi ở căn phòng kế bên, tiếng thở nặng nhọc của người đàn bà ngủ thiếp trên sofa, được màn hình chiếu vào bằng ánh sáng lạnh lẽo. Cái nhìn của kẻ đột nhập đảo khắp phòng, trong chốc lát nắm bắt từng chi tiết, dường như mong muốn gìn giữ ngay lập tức, biến nó thành kỷ niệm để nâng niu mãi mãi. Háo hức nhưng bình tĩnh, hắn ghi nhớ hoa văn nhã nhặn trên lớp giấy dán tường, những bức ảnh lồng khung, cái túi du lịch đựng tã lót, quần áo của bé gái rồi nhìn xoáy vào chiếc giường cũi. Một cảm giác gần như say sưa pha lẫn nôn nao bao trùm lên hắn. Đứa trẻ nằm ngửa, mặc bộ pyjamas bằng vải flanen, một tấm khăn in hoa đắp tới eo. Bé gái thở dài trong giấc ngủ, một vệt nước dãi nhỏ xíu chảy ra từ đôi môi hồng, để lại một vết ẩm trên má. Đôi bàn tay mũm mĩm xòe ra hai bên đầu, run nhẹ vài lần rồi lại nằm yên. Trước cảnh tượng ấy, kẻ đột nhập thở dài, thoáng xúc động. Cầm lấy một con thú bông ở chân giường cũi, như một vệ sĩ im lìm, hắn mơ hồ cảm nhận sự chăm sóc của người đã cậy nhờ đến nơi này. Đó là một con gấu Bắc Cực, có cặp mắt đen nhỏ và cái bụng phồng lên. Một sợi ruy băng màu đỏ không thích hợp buộc quanh cổ nó, lòng thòng xuống tận hai chân sau. Kẻ đột nhập vuốt ve đầu con gấu bông, thích thú sự mềm mại của nó rồi dí mũi vào cái bụng đầy lông, hít mùi thơm của thứ đồ chơi đắt tiền, mới tinh.
Mạch đập dồn, da lấm tấm mồ hôi, rồi bất chợt nổi điên, hắn dang thẳng cánh tay đang cầm con gấu, ném xuống mũi và miệng đứa trẻ. Tiếp theo là ấn chặt xuống.
Đôi bàn tay bé bỏng đập lia lịa trong không khí, một ngón tay nhỏ xíu của đứa trẻ chạm nhẹ vào cổ tay kẻ tấn công. Một lát sau, bé gái rơi vào một trạng thái giống như giấc ngủ sâu và dưỡng sức. Các bắp thịt của bé giãn ra, đôi bàn tay xòe rộng như con sao biển, một lần nữa lại nằm yên trên các tấm đắp.
Kẻ đột nhập quăng món đồ chơi và nhìn vào mặt bé gái. Đứa trẻ không hề có dấu hiệu đau đớn, ngoài một vết đỏ giữa hai lông mày do mũi con gấu bông đè xuống. Ánh sáng trên mặt bé đã tắt và cái nhìn chằm chằm vào khoảng không trống rỗng dường như càng dữ dội lúc kẻ đột nhập giơ con thú bông lên và hít hà lần nữa mùi thơm của bé gái, lúc này càng nồng đượm hơn vì linh hồn đang lìa bỏ. Mùi thơm và sự thuần khiết có tác động mạnh đến nỗi khiến mắt hắn nhòe lệ. Thở dài đầy cảm kích, hắn vuốt phẳng sợi ruy băng của con gấu bông trước khi đặt nó xuống chân giường cũi.
Bị cảm giác cấp bách thôi thúc, kẻ giết người như bất chợt nhận ra mình đã nấn ná quá lâu liền bỏ trốn và chỉ quay nhìn lại một lần. Ánh đèn lấp lánh trong mắt của mười một con thú bông khác trên giá như đang kinh hoàng nhìn xuống.
2
Amaia từ trong xe quan sát ngôi nhà suốt hai mươi phút.
Động cơ đã tắt, các cửa xe đóng chặt vì mưa phùn rả rích đọng lại trên kính, làm mờ đường nét của ngôi nhà, các cửa chớp tối om. Ngay sau đó, một chiếc ô tô nhỏ đỗ ở cửa trước. Một thanh niên bước ra, xòe ô và ngả người cầm cuốn sổ tay, liếc nhìn rồi ném nó vào xe. Sau đó, anh ta vòng ra cốp xe, lấy một cái gói phẳng và đi tới ngôi nhà. Lúc anh ta bấm chuông, Amaia tiến tới bên cạnh.
– Xin lỗi, anh là ai?
– Dịch vụ xã hội, chúng tôi cung cấp đồ ăn hằng ngày cho người trong nhà này, - anh ta đáp, chỉ cái khay nhựa trên tay. - Ông ấy không thể ra khỏi nhà và không có người chăm sóc. Chị là họ hàng à? - Anh ta hỏi, đầy hy vọng.
– Không, - Amaia đáp. - Cảnh sát Navarre đây.
– À, - anh ta nói, cụt hứng.
Anh ta bấm chuông lần nữa, rồi ghé gần cửa, gọi to:
– Senor Yanez, Mikel ở dịch vụ xã hội đây. Ông nhớ cháu không? Cháu mang bữa…
Anh ta chưa kịp dứt lời thì cửa đã bật mở và bộ mặt nhăn nheo, ảm đạm của Yanez xuất hiện.
– Tôi nhớ cậu chứ, tôi chưa bị lão suy… hoặc điếc lác, - lão nói, cáu kỉnh.
– Tất nhiên là không rồi, Senor Yanez, - Mikel nói và mỉm cười lúc đi lướt qua ông ta để vào nhà.
Amaia lần tìm phù hiệu và giơ ra với Yanez.
– Không cần đâu, - lão nói, nhận ra chị và tránh sang bên để Amaia đi qua.
Yanez mặc tấm áo ngủ dày bên ngoài quần nhung kẻ và áo len dài tay, Amaia không thể biết là màu gì vì trong nhà tối om. Chị theo Yanez xuống hành lang tới căn bếp, nơi có bóng đèn huỳnh quang rung rinh, trước khi đi tiếp.
– Senor Yanez, - Mikel thốt lên, hơi to. - Tối qua ông không ăn! - Anh ta đứng cạnh cái tủ lạnh mở toang, đổi khay đồ ăn bọc trong giấy bóng. - Ông biết đấy, cháu sẽ phải ghi vào báo cáo. Ông đừng trách cháu nếu bác sĩ rầy la đấy, - anh ta nói thêm như nói với một đứa trẻ.
– Cứ báo cáo với bất cứ nơi nào cậu muốn, - Yanez càu nhàu. – Ông không thích món cá xốt cà chua à? - Mikel nói tiếp, phớt lờ câu trả lời của ông già. - Hôm nay ông có món thịt hầm với đậu Hà Lan, tráng miệng bằng sữa chua còn bữa tối có súp, trứng tráng và bánh xốp. - Anh ta quay ngoắt lại, cầm khay đựng bữa tối chưa động đến rồi cúi xuống bồn rửa, thắt nút cái túi rác nhỏ chỉ chứa vài cái giấy gói bỏ đi, rồi bắt đầu đi ra cửa. Dừng lại cạnh Yanez, Mikel nói với ông già lần nữa, giọng quá to. – Xong mọi việc, Senor Yanez, chúc ông ngon miệng*, mai gặp lại ông. - Rồi anh ta quày quả bỏ đi và gật đầu chào Amaia.
Yanez đợi đến lúc nghe thấy tiếng cửa đằng trước đóng lại rồi mới nói. – Cô thấy sao hả? Hôm nay cậu ta ở lại lâu hơn thường lệ. Bình thường cậu ta đi lâu rồi, - lão nói thêm, tắt đèn bếp và để Amaia vào phòng
khách trong bóng tối nhập nhoạng. - Ngôi nhà này khiến cậu ta sởn gáy. Tôi chẳng trách cậu ta, nó giống như đi thăm nghĩa trang vậy. Một tấm khăn trải giường, hai tấm chăn dày và một cái gối nằm ngổn ngang trên chiếc sofa bằng nhung nâu. Amaia đoán Yanez không chỉ ngủ mà sống trong căn phòng này. Trong bóng tối ảm đạm, chị có thể nhận ra những thứ giống như vụn bánh trên các tấm chăn và một vết bẩn màu cam, có lẽ là lòng đỏ trứng. Amaia xét nét Yanez lúc lão ngồi xuống và dựa vào cái gối. Một tháng đã trôi qua từ khi chị thẩm vấn lão tại đồn cảnh sát. Lão được quản thúc tại gia đợi phiên xử vì tuổi tác. Yanez đã sụt cân, vẻ mặt khắc nghiệt, khó hiểu càng thêm sắc nét, trông lão giống một người ẩn dật lập dị. Lão vẫn chải tóc, cạo râu, nhưng Amaia tự hỏi cái áo pyjamas thò ra trong chiếc áo len kia mặc đã bao lâu rồi. Ngôi nhà lạnh giá, rõ ràng Yanez không sưởi trong nhiều ngày. Đối diện với sofa, trước lò sưởi trống trơn, một chiếc tivi màn hình phẳng chiếu ánh sáng xanh lơ, lạnh lẽo khắp phòng.
– Tôi có thể mở cửa chớp được không? - Amaia hỏi.
– Nếu cô nhất định muốn thế, nhưng trước khi ra về nhớ đóng lại như cũ.
Amaia gật đầu, mở cánh chớp ra cho ánh sáng u ám của Baztan tràn vào. Lúc chị quay lại, Yanez đang nhìn chằm chặp vào tivi. – Sensor Yanez.
Người đàn ông tiếp tục nhìn chăm chú vào màn hình, như thể chị không ở đây.
– Senor Yanez…
Ông ta liếc nhìn chị, bực bội.
– Tôi muốn được… - Amaia bắt đầu và ra hiệu về phía hành lang. - Tôi muốn nhìn ngó một chút.
– Cứ đi đi, - ông ta nói và xua tay. - Cô thích gì xem nấy, chỉ đừng động chạm đến bất cứ thứ gì. Sau khi cảnh sát tới đây, nơi này là một đống hỗn độn. Tôi phải mất nhiều năm mới xếp đặt mọi thứ trở lại được như cũ. – Tất nhiên rồi.
– Tôi tin cô sẽ ý tứ như viên sĩ quan cảnh sát ghé đến hôm qua. – Hôm qua có một sĩ quan cảnh sát tới đây sao? - Amaia ngạc nhiên hỏi.
– Phải, một anh chàng dễ thương. Anh ta còn pha cho tôi một tách cà phê kia.
Ngoài căn bếp và phòng khách, ngôi nhà gỗ một tầng của Yanez còn có ba phòng ngủ và một buồng tắm khá rộng rãi. Amaia mở các tủ, kiểm tra những giá đầy đồ cạo râu, giấy vệ sinh và vài lọ thuốc. Trong phòng ngủ chính có một giường đôi trông như mới được dùng gần đầy. Tấm khăn phủ giường in hoa lá hợp bộ với rèm cửa, bạc phếch vì ánh nắng qua nhiều năm. Những chiếc lọ cắm đầy hoa nhựa lòe loẹt và các tấm móc trang trí phủ trên tủ có ngăn kéo và bàn cạnh giường, cho thấy căn phòng được vợ của Yanez chăm chút tô điểm trong những năm 70 và được chồng bà giữ gìn nguyên vẹn. Ngắm nó giống như xem một phòng triển lãm trong bảo tàng dân tộc học.
Phòng ngủ thứ hai trống rỗng, bên dưới cửa sổ chỉ có cái máy khâu cũ kỹ cạnh một cái giỏ đan bằng cành liễu gai. Chị nhớ nó có ghi trong biên bản kiểm kê. Tuy vậy, chị vẫn mở nắp máy kiểm tra các cuộn chỉ, nhận ra
màu hơi nhạt hơn màu rèm trong phòng ngủ chính. Phòng ngủ thứ ba được ghi trong biên bản là “phòng của con trai”, mà đúng thế: phòng ngủ của một cậu bé mười hoặc mười một tuổi. Cái giường đơn phủ khăn trắng muốt, mới tinh khôi, các giá xếp đầy sách thiếu nhi, một loạt sách mà chị nhớ mình đã đọc; nhiều đồ chơi, phần lớn là các mô hình tàu thủy và máy bay, một bộ sưu tập ô tô đồ chơi, tất cả sắp xếp ngay hàng thẳng lối, sạch sẽ tinh tươm, không hề vương một hạt bụi. Đằng sau cánh cửa là một bức tranh lớn, in chiếc Ferrari cổ điển, trên bàn là một số sách vở cũ và một bó những tờ chương trình bóng đá buộc bằng dây chun. Lúc cầm lên, Amaia thấy sợi chun đã nhão, dính vào những tờ chương trình thi đấu đã phai mờ. Chị để chúng lại, thầm so sánh căn phòng ngủ lạnh lẽo với dãy phòng của Berasategui ở Pamplona.
Trong nhà còn hai phòng nữa, cộng với một khu tiện ích nhỏ và một kho củi sắp xếp gọn gàng, là nơi lão Yanez cất giữ các dụng cụ làm vườn, các thùng khoai tây và hành. Trong một góc, Amaia nhận ra một cái nồi hơi không bật.
Chị nhấc một cái ghế, để nó giữa lão Yanez và tivi.
– Tôi muốn hỏi ông vài câu.
Yanez với cái điều khiển từ xa ở bên cạnh và tắt tivi. Rồi lão lặng lẽ, trừng trừng nhìn thẳng vào Amaia chờ đợi, với vẻ giận dữ và oán hận hệt như lần đầu tiên họ gặp nhau.
– Hãy cho tôi biết về con trai ông.
Người đàn ông nhún vai.
– Hai người có mối quan hệ loại gì vậy?
– Nó là một đứa con trai tốt, - Yanez đáp, quá nhanh. - Nó làm mọi việc mà tôi mong một đứa con trai ngoan làm được.
-Ví như?
Lần này Yanez nghĩ ngợi một lát.
– Ờ, thì nó cho tôi tiền… thỉnh thoảng nó đi chợ, mua thực phẩm cho tôi, đại loại thế.
– Tôi chưa từng nghe thấy thế. Dân làng nói sau khi vợ ông mất, ông tống con trai đi du học nước ngoài, và trong nhiều năm liền không ai thấy mặt anh ta ở đây.
– Nó bận học hành. Nó là một sinh viên giỏi, có hai bằng và là một bậc thầy, là một trong những bác sĩ tâm thần cừ khôi nhất ở bệnh viện của nó… – Anh ta bắt đầu đến thăm ông thường xuyên hơn từ khi nào? – Tôi không biết, khoảng một năm trước.
– Con trai ông có mang gì khác tới ngoài thực phẩm không? Một thứ gì đó anh ta cất ở đây hoặc nhờ ông cất hộ ở nơi nào đó?
– Không.
– Ông chắc chứ?
– Chắc.
– Tôi đã xem xét ngôi nhà, - Amaia nói và nhìn quanh. - Rất sạch sẽ. – Tôi phải giữ cho nó sạch sẽ.
– Tôi hiểu. Ông giữ sạch sẽ cho con trai ông.
– Không, cho vợ tôi. Mọi thứ phải đúng y như lúc bà ấy ra đi… - Mặt Yanez méo đi thành một cái nhăn nhó đau đớn và thương tiếc. Lão cứ thế
trong vài giây, không thốt ra âm thanh nào. Amaia nhận ra lão khóc, khi thấy những giọt nước mắt lăn xuống má.
– Đó là việc tối thiểu tôi có thể làm, còn những việc khác tôi đã làm đều hỏng bét.
Cái nhìn của Yanez lướt từ vật này đến vật khác, dường như lão đang tìm kiếm câu trả lời giấu trong các món đồ trang trí đã phai màu trên các tấm móc và các bàn sát tường, cho đến khi bắt gặp cái nhìn chăm chú của Amaia. Lão túm lấy mép chăn, giơ lên trước mặt vài giây rồi quẳng nó sang một bên, dường như tự ghê tởm bản thân vì đã khóc trước mặt chị. Amaia ngỡ cuộc nói chuyện sẽ chấm dứt ở đó, nhưng Yanez với tay ra sau cái gối đang dựa và rút ra một bức ảnh lồng khung. Lão trân trân nhìn bức ảnh như bị mê hoặc, rồi đưa nó cho chị. Động tác của Yanez đưa Amaia trở lại một năm trước, khi trong một phòng khách khác, một người cha đau đớn đưa cho chị bức chân dung đứa con gái bị sát hại của mình, tấm ảnh mà ông ta giấu dưới đệm. Từ ngày đó Amaia không gặp bố của Anne Arbizu, nhưng hồi ức về nỗi đau của ông ta vẫn lưu lại trong tâm trí chị.
Trong ảnh, một phụ nữ không quá hai lăm tuổi đang cười với chị. Amaia liếc nhìn rồi trả lại tấm ảnh cho Yanez.
– Tôi đã ngỡ chúng tôi sẽ sống hạnh phúc mãi mãi, cô có biết không? Vợ tôi là một phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp và tốt bụng… Nhưng sau khi con trai chúng tôi ra đời, cô ấy bắt đầu cư xử rất lạ lùng, ngày càng buồn bã hơn, không bao giờ mỉm cười, thậm chí không ôm ẵm con, nói rằng không sẵn lòng yêu thương con trai và nó hắt hủi cô ấy. Tôi nói thế nào cũng vô ích. Tôi bảo cô ấy nói năng vớ vẩn - tất nhiên là con trai yêu mẹ chứ - nhưng cô ấy chỉ càng buồn hơn. Lúc nào vợ tôi cũng buồn, tuy vẫn giữ nhà cửa gọn gàng ngăn nắp, nấu nướng chu đáo nhưng không bao giờ tươi
cười, cô ấy không còn may vá nữa và hầu hết thời gian chỉ ngủ. Cô ấy thường đóng cửa chớp đúng như tôi làm bây giờ và ngủ… Tôi sẽ không bao giờ quên chúng tôi đã tự hào biết mấy khi mới mua ngôi nhà này. Vợ tôi đã làm cho nó đẹp đẽ như thế: chúng tôi sơn tường, đặt các chậu hoa lên cửa sổ… Cuộc sống quả là tốt đẹp. Tôi tưởng sẽ chẳng có gì thay đổi. Nhưng một ngôi nhà không phải là một tổ ấm, và ngôi nhà này đã thành mồ chôn cô ấy… Bây giờ đến lượt tôi, tuy người ta gọi là quản thúc tại gia, và luật sư nói họ sẽ để tôi thi hành án tại đây. Đêm đêm tôi nằm ở đây, không sao ngủ được, ngửi thấy mùi máu của vợ dưới đầu tôi.
Amaia đăm đăm nhìn chiếc sofa, vỏ bọc không ăn nhập gì với đồ trang trí còn lại.
– Tôi đã sửa lại vì có nhiều vết máu, nhưng người ta không còn dệt loại vải như trước nữa nên họ dùng thứ này thay thế. Còn mọi thứ vẫn như cũ. Khi tôi nằm ở đây, tôi có thể ngửi thấy mùi máu của vợ tôi dưới lớp vải bọc.
– Nhà lạnh quá, - Amaia nói, che giấu cái rùng mình chạy suốt sống lưng chị.
Yanez nhún vai.
– Tại sao ông không bật nồi hơi?
– Nó không bật được từ đêm có bão, khi mất điện.
– Đấy là hơn một tháng trước. Ý ông là suốt thời gian này ông không sưởi ấm ư?
Yanez không đáp.
– Còn những người ở dịch vụ xã hội thì sao?
– Tôi chỉ mở cửa cho cái cậu mang khay đồ ăn tới. Một hôm, tôi đã bảo họ rằng nếu họ còn lảng vảng quanh đây, tôi sẽ cầm rìu đợi họ. – Ông có nhiều củi, tại sao không nhóm lò sưởi? Bất đắc dĩ mới phải chịu rét chứ.
– Tôi đáng thế lắm.
Amaia đứng dậy và ra nhà kho, rồi trở lại với một thúng củi và một số báo cũ. Quỳ trước lò sưởi, chị cời đống tro lạnh ngắt thành một khoảng trống để xếp củi. Chị cầm bao diêm trên nóc lò sưởi và nhóm, rồi lại ngồi xuống. Yanez đăm đăm nhìn ngọn lửa.
– Ông cũng gìn giữ phòng của con trai ông y như trước. Tôi thấy khó mà hình dung một người như anh ta ngủ ở đó.
– Nó không ngủ. Thỉnh thoảng nó ghé đến ăn trưa, đôi khi ăn tối nhưng chưa bao giờ ở lại qua đêm. Nó ra đi rồi trở lại vào sáng sớm hôm sau. Nó bảo thích ở khách sạn hơn.
Amaia không tin, họ không tìm thấy bằng chứng Berasategui ở bất cứ khách sạn, nhà nghỉ hoặc những nơi cho thuê giường ngủ và ăn sáng ở thung lũng.
– Ông chắc chứ?
– Tôi nghĩ thế, nhưng tôi không chắc 100%, như tôi đã khai với cảnh sát, trí nhớ của tôi tệ hơn tôi tỏ ra với các dịch vụ xã hội. Tôi quên nhiều thứ lắm.
Amaia rút điện thoại kêu vo vo trong túi ra. Màn hình hiển thị vài cuộc gọi nhỡ nhưng chị lờ đi, chỉ nhìn lướt qua các hình ảnh cho tới khi tìm ra đúng tấm cần tìm, chị chạm vào màn hình phóng to nó ra rồi đưa cho Yanez.
– Con trai ông đã đến đây với người phụ nữ này phải không? – Là mẹ cô.
– Ông biết bà ta? Tối hôm đó ông có gặp bà ấy chứ?
– Không, nhưng tôi biết mẹ cô đã nhiều năm. Bà ấy già đi, nhưng tôi nhận ra ngay.
– Nghĩ lại đi, ông vừa nói với tôi trí nhớ của ông không được tốt như thế.
– Thỉnh thoảng tôi quên ăn tối, hoặc ăn tối hai lần vì quên đã ăn rồi, nhưng tôi nhớ người đến nhà tôi. Mẹ cô chưa bao giờ đặt chân đến đây. Amaia nhét điện thoại vào túi áo khoác, để cái ghế lại chỗ cũ, kéo cánh chớp khép lại và bỏ đi. Vừa vào trong xe, chị rút điện thoại và phớt lờ tiếng reo dai dẳng, chị bấm một số trong danh bạ. Sau hai hồi chuông, một người đàn ông trả lời.
– Xin ông vui lòng cử người đến sửa một cái nồi hơi bị vỡ trong đêm có bão, - chị nói và cho địa chỉ của Yanez.
3
Lúc Amaia đỗ xe cạnh đài phun nước Lamia trong quảng trường, mưa phùn đã biến thành mưa như trút. Chị kéo áo khoác trùm đầu và vội vã chạy xuyên qua mái vòm tới đường Pedro Axular, theo âm thanh của những giọng nói đầy kích động. Vẻ khổ sở và khẩn cấp của những cuộc gọi nhỡ hiện rõ trên mặt thanh tra Iriarte lúc anh cố ngăn cản một nhóm người đang xông tới gần xe tuần tra. Trên hàng ghế sau, một người nom mệt lử đang ngồi, đầu dựa vào kính xe đầy hạt mưa. Hai cảnh sát mặc đồng phục đang cố dùng rào ngăn khu vực quanh một cái ba lô nhưng không thành công, nó nằm trên mặt đất giữa vũng nước. Amaia rút điện thoại và gọi hỗ trợ lúc vội vã tới giúp. Đúng lúc đó, thêm hai xe tuần cảnh băng qua cầu Giltxaurdi khiến đám đông giận dữ xao lãng, tiếng còi hú khiến những tiếng la hét tạm lắng trong chốc lát.
Iriarte ướt sũng, và vừa báo cáo với Amaia anh vừa cố lau trán để ngăn nước chảy vào mắt. Phó thanh tra Etxaide từ đầu đó xuất hiện, cầm một cái ô lớn và đưa cho họ, rồi tới giúp các cảnh sát khác trấn an đám đông cho nguôi giận.
– Gì thế, thanh tra?
– Nghi phạm trong xe là Valentín Esparza. Đêm qua, con gái bốn tháng tuổi của anh ta chết trong lúc ngủ ở nhà bà ngoại. Bác sĩ ghi nhận nguyên nhân tử vong là Hội chứng đột tử bất ngờ của trẻ sơ sinh. Đúng là một thảm kịch. Hôm qua, Inés Ballarena - bà ngoại cháu - đã tới đồn cảnh sát. Hình như đứa trẻ ở lại ban đêm với bà lần đầu tiên vì hôm đó là kỷ niệm ngày cưới của bố mẹ em bé, và họ ra ngoài ăn tối. Bà Inés hân hoan, sửa soạn cho bé ngủ trong phòng bà. Bà cho cháu ăn rồi ban đêm đặt cháu
xong, bà ngủ thiếp trước tivi trong phòng khách bên cạnh, song bà thề là màn hình theo dõi đứa trẻ vẫn bật. Bà tỉnh giấc vì một tiếng động, và tới xem cháu bé, nhìn từ ngưỡng cửa có vẻ vẫn ngủ say. Lúc đó, bà nghe thấy tiếng lốp xe nghiến xào xạo trên lớp sỏi bên ngoài. Bà nhìn qua cửa sổ, đúng lúc trông thấy một chiếc ô tô to màu xám đang chạy đi. Mặc dù không nhìn thấy biển số, bà nghĩ là xe của con rể, anh ta có một chiếc giống hệt, - Iriarte nói và nhún vai. - Bà ấy khẳng định là xem đồng hồ thấy mới hơn hai giờ sáng. Bà ngỡ vợ chồng cô con gái trên đường về nhà lái qua xem còn đèn đóm không. Bà không lấy làm lạ vì họ sống gần đó. Không nghĩ ngợi thêm, bà trở lại sofa ngủ tiếp. Khi tỉnh dậy, bà ngạc nhiên không thấy bé khóc đòi ăn, bèn vào phòng ngủ và thấy đứa trẻ đã chết. Bà rất hoảng hốt, không ngừng tự trách mình, nhưng khi bác sĩ ước tính thời điểm tử vong là giữa hai và ba giờ sáng, bà nhớ mình đã thức giấc và trông thấy chiếc xe trên đường vào nhà. Hiện giờ bà ấy tin rằng bị tiếng động lúc trước trong nhà đánh thức. Khi Inés hỏi con gái về việc này, cô ta kể họ về nhà khoảng một rưỡi sáng, cô không hay uống rượu nên một cốc vang và một cốc rượu mùi sau bữa ăn đủ đánh gục cô. Tuy nhiên, khi Inés hỏi con rể, anh ta rất kích động, không chịu trả lời và giận điên lên. Anh ta bảo chắc hẳn là một cặp si tình đang tìm chốn ẩn dật, và đầy không phải là lần đầu tiên. Nhưng Inés nhớ ra một điều nữa: bà xích hai con chó ở bên ngoài và chúng sủa như điên bất cứ khi nào có người lạ đến gần nhà, nhưng đêm qua chúng không hề động tĩnh.
– Anh làm gì tiếp theo? - Amaia hỏi.
Không hiểu vì sự có mặt của cảnh sát hay chỉ vì muốn tránh mưa, đám đông rút vào lối đi có mái che của nhà tang lễ. Một phụ nữ ở trung tâm đám
người lộn xộn đang ôm một người khác, người này la hét và khóc lóc vật vã. Không thể nghe được bà ta nói gì.
– Người phụ nữ đang la hét là mẹ đứa trẻ, còn người đang ôm cô ấy là bà ngoại bé gái, - Iriarte giải thích theo ánh nhìn của Amaia. - Như tôi đã nói, bà ngoại bé đang trong tình trạng rất tệ. Bà ta khóc lóc không ngừng trong lúc kể với tôi. Ban đầu, tôi tưởng bà ta cố tìm ra một lời giải thích cho một sự việc khó chấp nhận. Đây là lần đầu tiên họ để bà trông đứa trẻ, đứa cháu ngoại đầu tiên của bà, bà rất quẫn trí…
– Nhưng?
– Tôi đã gọi cho bác sĩ nhi khoa. Ông ta khẳng định: Hội chứng đột tử bất ngờ của trẻ sơ sinh. Đứa trẻ đẻ non, phổi chưa hoàn thiện và nó đã phải trải qua nửa cuộc đời ngắn ngủi trong bệnh viện. Mặc dù người ta đã cho bé về, trong tuần này người mẹ đã phải đưa bé đến khám vì cảm lạnh - chỉ sổ mũi nhưng vì đẻ non, thiếu cân, nên bác sĩ không nghi ngờ gì về nguyên nhân tử vong. Một giờ trước, Inés lại xuất hiện ở đồn, quả quyết là bé gái có một vết đỏ trên trán mà trước đó không có - một vết tròn như cái núm. Bà ta nói khi chỉ vết đó cho con rể, anh ta ngắt lời bà và khăng khăng đòi đóng nắp quan tài. Vì thế tôi quyết định tự xem xét. Lúc vào nhà tang lễ, chúng tôi chạm trán với người bố, Valentín Esparza trên đường ra. Anh ta xách cái ba lô kia - Iriarte chỉ cái bọc ướt trong một vũng nước - và cách anh ta giữ nó khiến tôi thấy kỳ cục. - Iriarte siết tay vào ngực, bắt chước động tác. - Lúc trông thấy tôi, anh ta tái mặt và bắt đầu bỏ chạy. Tôi đuổi kịp ở cạnh xe của anh ta, và lúc đó anh ta bắt đầu kêu la, bảo chúng tôi cứ mặc anh ta, anh ta phải kết thúc chuyện này.
– Tự sát chăng?
– Tôi cũng nghĩ thế. Tôi chợt nghĩ có lẽ anh ta có vũ khí trong đó…
Iriarte cúi lom khom cạnh cái ba lô, không che ô nữa và đặt nó lên mặt đất như một cái bình phong. Anh mở nắp ba lô, kéo nút nới lỏng sợi dây buộc. Món tóc đen, lơ thơ của bé gái để lộ cái thóp mềm mềm trên đầu, da bé tái nhợt mặc dù miệng bé hơi hé mở vẫn còn giữ lại chút màu sắc, đem lại ấn tượng giả dối về sự sống khiến họ chết khiếp, cho đến khi bác sĩ San Martín tới, phá vỡ trạng thái mê mụ.
Trong khi nhà bệnh lý học lấy một miếng gạc vô trùng, Iriarte thuật lại tóm tắt những điều vừa nói với Amaia. Sau đó, San Martín cúi xuống cạnh xác đứa trẻ và nhẹ nhàng dùng miếng gạc lau lớp trang điểm vội vã trên sống mũi của bé.
– Nó bé xíu thế này. - Cảm giác đau xót trong giọng nói điềm tĩnh thường lệ của San Martín khiến Iriarte và Amaia nhìn ông sửng sốt. Nhận thấy ánh mắt của họ, ngay lập tức ông kiểm tra dấu vết trên da đứa trẻ. - Một ý định quá ư thô bạo che đậy dấu vết đè xuống. Chắc chắn nó diễn ra đúng lúc bé ngừng thở, và bây giờ bằng mắt thường cũng thấy rõ nó bắt đầu tái mét. Giúp tôi một tay nào? - Ông nói.
– Ông định làm gì?
– Tôi phải xem xét toàn thân con bé, - ông đáp với một cử chỉ sốt ruột. – Xin ông đừng làm ở đây, - Iriarte nói. Anh chỉ đám đông bên ngoài nhà tang lễ. - Ông có thấy những người kia không? Họ là người thân của đứa trẻ, cả mẹ và bà ngoại bé. Chúng tôi khó khăn lắm mới kiềm chế được họ như thế này. Nếu họ trông thấy xác bé nằm trên đất, họ sẽ nổi điên lên mất.
– Thanh tra Iriarte nói đúng, - Amaia nói và liếc nhìn đám đông rồi lại nhìn San Martín.
– Tốt lắm, nhưng cho đến khi tôi có con bé trong phòng xét nghiệm, tôi không thể nói cho các vị biết còn dấu hiệu bạo lực nào khác. Các vị cố xử lý hiện trường chu đáo đi nhé; tôi nhớ đã làm một vụ tương tự, một vết trên má đứa trẻ hóa ra do cái khuy ở áo gối gây ra. Tôi cho các vị mẩu thông tin ấy may ra giúp gì chăng. - San Martín giơ một thiết bị kỹ thuật số nhỏ trong cái va li đồ nghề, tự hào giơ nó lên. - Một thiết bị đo kỹ thuật số, - ông giải thích lúc tách hai ngạnh kim loại và chỉnh chúng để đo đường kính dấu vết trên má đứa trẻ. - Nó đây, - ông nói và chỉ trên màn hình. - Vật các vị đang tìm có đường kính 13,85 milimét.
Họ đứng dậy, để các kỹ thuật viên pháp y cho cái ba lô vào một bao đựng xác. Amaia quay lại thấy thẩm phán Markina đứng cách đó vài mét, đang lặng lẽ quan sát. Chắc chắn San Martín đã báo cho ông. Dưới cái ô đen và trong ánh sáng mờ tỏ lọt qua các đám mây xám xịt, mặt ông trông ảm đạm; tuy nhiên, chị thấy ánh lấp lánh trong mắt ông, sự mãnh liệt trong cái nhìn đăm đăm lúc ông chào chị. Tuy cử chỉ ấy lướt nhanh, chị vẫn căng thẳng nhìn San Martín rồi đến Iriarte xem họ có nhận ra không. San Martín đang bận chỉ thị cho các kỹ thuật viên và vạch ra những bằng chứng cho viên thư ký tòa cạnh ông, trong lúc Iriarte vẫn quan sát kỹ đám người thân kia. Tin đồn đã lan rộng và họ bắt đầu giận dữ đòi câu trả lời khi những tiếng rú đau xót của người mẹ mỗi lúc một to hơn.
– Chúng ta cần đưa gã kia ra khỏi đây ngay, - Iriarte tuyên bố, ra hiệu cho một cảnh sát.
– Đưa anh ta tới thẳng Pamplona, - Markina ra lệnh.
– Thưa ngài, tôi sẽ điều một xe chuyên chở của cảnh sát và sẽ đưa anh ta tới Pamplona vào lúc muộn nhất. Trong lúc này, chúng tôi sẽ đưa tới
đồn cảnh sát địa phương. Chúng ta sẽ gặp nhau ở đó, - Iriarte nói với Amaia.
Chị gật đầu với Markina như một lời chào tạm biệt rồi đi tới xe mình. – Thanh tra… cô có chút thời gian không?
Amaia dừng lại giữa đường, vừa quay người đã thấy ông đến cạnh mình, che ô cho chị.
– Tại sao cô không gọi cho tôi? - Câu này không hẳn là trách móc, cũng không phải là một câu hỏi; nó có giọng điệu đầy cám dỗ của một lời mời mọc, sự vui đùa của trò tán tỉnh. Tấm áo khoác Markina mặc bên ngoài rất hợp với bộ com lê xám, sơ mi trắng muốt không chê vào đâu được của ông và cà vạt đen - khác thường với ông - tạo cho ông một vẻ nghiêm trang, duyên dáng, dịu hẳn nhờ món tóc xõa xuống trán và sự thanh thoát của một bộ đồ được thiết kế tinh tế. Dưới vòm ô, chị cảm thấy mình bị hút vào một khoảnh khắc thân mật, nhận ra mùi nước hoa đắt tiền tỏa ra từ làn da ấm áp của ông, cái nhìn đăm đăm, mãnh liệt của ông, sự nồng nhiệt trong nụ cười của ông…
Jonan Etxaide bỗng đột ngột xuất hiện từ đâu đó.
– Sếp à, các xe đều chật chỗ. Sếp có thể cho tôi đi nhờ tới đồn được không?
– Tất nhiên là được, Jonan, - Amaia đáp, giật mình trở lại thực tế. - Chúng tôi xin lỗi, thưa ngài.
Kiếm được cớ để rời đi, chị tới thẳng xe mình không một lần nhìn lại. Tuy vậy, Etxaide ngoái nhìn Markina một lần, ông vẫn đứng nguyên tại chỗ. Viên thẩm phán đáp lại bằng một cái vẫy tay.
4
Hơi ấm trong đồn cảnh sát không làm má Iriarte hồng lại, nhưng ít ra anh cũng kịp thay bộ quần áo ướt lúc Amaia tới.
– Hắn nói gì? - Amaia hỏi. - Tại sao hắn mang xác đi?
– Hắn không nói một lời. Hắn ngồi cuộn tròn như quả bóng trong góc phòng giam, không nhúc nhích hoặc nói năng.
Chị bỏ đi, nhưng ra đến cửa chị quay lại, đối diện với viên thanh tra. – Anh nghĩ thái độ của Esparza là vì thương tiếc hay vì hắn dính líu đến cái chết của con gái mình?
– Tôi thật lòng không biết, - Iriarte nói. - Có thể đây là phản ứng mất con gái, nhưng tôi không loại trừ khả năng hắn ta đang cố ngăn chặn một cuộc khám nghiệm tử thi lần thứ hai, sợ lời khẳng định của mẹ vợ. - Iriarte im bặt, rồi thở dài. - Tôi không hình dung nổi bất cứ việc gì gớm ghiếc hơn làm hại chính con mình.
Hình ảnh rõ ràng của bộ mặt mẹ chị bỗng lóe lên trong trí Amaia. Chị cố gạt nó sang bên, thay thế bằng một hình ảnh khác, bà đỡ Fina Hidalgo vừa ngắt những chồi non mới mọc bằng móng tay bẩn thỉu, dây màu xanh lá: “Các gia đình hầu hết tự làm việc này; thỉnh thoảng tôi chỉ giúp khi họ không thể tự phá hủy cái kết quả trong bụng hoặc vài thứ vớ vẩn như thể’.
– Con bé bình thường chứ, thanh tra? Ý tôi là nó có bị liệt não hoặc thương tật nào không?
Iriarte lắc đầu:
– Bác sĩ cam đoan với tôi rằng ngoài bị đẻ non, con bé là một đứa trẻ bình thường, khỏe mạnh.
Các xà lim giam giữ ở đồn cảnh sát mới tại Elizondo không có chấn song; thay vào đó là một bức tường bằng kính cường lực ngăn cách khỏi khu vực tiếp đón, cho phép từ bên ngoài có thể quan sát từng ngăn và người bị giam bị quay phim suốt ngày đêm. Amaia và Iriarte đi bộ dọc hành lang bên ngoài các xà lim, tất thảy trống rỗng trừ một cái. Lúc đến gần tấm kính, họ trông thấy một người đàn ông thu mình trên sàn ở cuối xà lim, giữa chậu rửa và toilet. Cánh tay gã vòng quanh đầu gối, mặt cúi gằm. Iriarte bật điện thoại nội bộ.
– Valentín Esparza.
Người đó ngước nhìn.
– Thanh tra Salazar muốn hỏi anh vài câu.
Mặt gã lại cúi gằm.
– Valentín, - Iriarte gọi to, lần này kiên quyết hơn, - chúng tôi vào đây. Đừng xúc động, hãy giữ bình tĩnh.
Amaia ngả người tới gần Iriarte.
– Tôi sẽ vào một mình, tôi mặc thường phục, tôi là phụ nữ, sẽ đỡ đe dọa hơn…
Iriarte rút sang phòng bên, nó được thiết kế để anh có thể trông thấy và nghe thấy mọi việc diễn ra.
Amaia vào xà lim và đứng đối diện với Esparza. Sau vài giây, chị hỏi: – Tôi có thể ngồi xuống không?
Gã ngước nhìn chị, ném ra một câu hỏi:
– Cái gì?
– Anh không phiền nếu tôi ngồi xuống chứ? - Chị nhắc lại, chỉ cái ghế dài bằng gỗ dọc tường, có thể gập đôi như một cái giường. Hỏi để xin phép là một dấu hiệu tôn trọng, chị không cư xử với gã như một tù nhân hoặc một nghi phạm.
Gã vẫy tay.
– Cảm ơn anh, - Amaia nói và ngồi xuống. - Vào thời gian này trong ngày, tôi đã mệt lử. Tôi cũng có một đứa con, một bé trai. Nó mới năm tháng tuổi. Tôi biết hôm qua anh vừa mất đứa con gái. - Người đàn ông ngẩng bộ mặt xanh xao và nhìn thẳng vào chị. - Bé được mấy tháng?
– Bốn tháng, - gã nói bằng giọng khàn khàn.
– Tôi rất tiếc vì sự mất mát của anh.
Gã nuốt khan, mắt nhìn xuống.
– Anh biết không, hôm nay lẽ ra là ngày nghỉ của tôi. Khi tôi tới, tôi thấy cả mớ hỗn độn này. Tại sao anh không kể cho tôi chuyện xảy ra nhỉ? Gã ngồi thẳng lên, hất cắm ra hiệu về phía camera đằng sau tấm kính, và đèn pha chiếu sáng xà lim. Mặt gã nghiêm trang, đau đớn nhưng không hồ nghi.
– Các đồng nghiệp của chị chưa kể gì sao?
– Tôi muốn nghe chính anh nói ra. Tôi thích anh thuật lại hơn. Gã câu giờ. Một điều tra viên thiếu kinh nghiệm có thể nghĩ gã im thin thít, nhưng Amaia sẵn sàng đợi.
– Tôi đã mang xác con gái tôi đi.
Amaia nhận thấy khi dùng từ “xác”, gã có ý thức mang một thi hài chứ không phải một đứa trẻ.
– Đi đâu?
– Đi đâu ư? - Gã hỏi, hoang mang. - Không đi đâu hết, tôi chỉ… tôi chỉ muốn có nó lâu thêm một chút.
– Anh nói anh đã mang nó đi, rằng anh đã mang xác nó đi và họ đã bắt anh ngay cạnh xe của anh. Anh định đi đâu vậy?
Gã lặng thinh.
Chị thử chiến thuật khác.
– Có một đứa con là đời ta thay đổi biết bao. Có nhiều việc phải làm, có nhiều yêu cầu với ta. Con trai tôi đêm nào cũng đau bụng sau khi ăn bữa cuối, thỉnh thoảng nó khóc dai đến hai hoặc ba tiếng đồng hồ. Tôi chỉ còn biết bế nó đi khắp nhà, cố dỗ nó nín. Tôi hiểu vì sao việc đó có thể khiến một số người phát rồ.
Esparza gật gù tỏ ra thông cảm.
– Đó có phải là việc xảy ra không?
– Cái gì?
– Mẹ vợ anh khẳng định anh đã vào nhà bà ta lúc sáng sớm. Gã lắc đầu lia lịa.
– Bà ấy đã trông thấy xe anh chạy đi…
– Mẹ vợ tôi nhầm. - Sự thù địch của gã thật rõ ràng. - Bà ấy không thể nói xe này khác xe kia. Chắc là một cặp trẻ tuổi tạt vào đường xe trong nhà mong tìm ra một nơi yên tĩnh để… chị thừa biết rồi.
– Phải, song những con chó của bà ấy không sủa, vậy phải là người chúng rất quen. Hơn nữa, mẹ vợ anh còn kể với đồng nghiệp của tôi về một dấu vết trên trán con gái anh, trước khi bà đặt nó vào giường chưa hề
có. Bà ấy cũng nói rằng bà thức giấc vì một tiếng ồn, và khi nhìn ra ngoài cửa sổ, bà ấy trông thấy xe của anh đang chạy đi.
– Mụ khốn ấy sẽ nói bất cứ điều gì khiến tôi gặp rắc rối. Bà ta chưa bao giờ ưa tôi. Chị có thể hỏi vợ tôi, cô ấy sẽ nói với chị: chúng tôi ra ngoài ăn tối và sau đó chúng tôi về thẳng nhà.
– Các đồng nghiệp của tôi đã nói chuyện với vợ anh, nhưng cô ấy không giúp được gì nhiều. Cô ấy không phủ nhận câu chuyện của anh, chỉ không nhớ gì thôi.
– Tôi biết, cô ấy đã uống quá nhiều. Cô ấy không quen uống rượu, vì đang mang thai…
– Điều đó hẳn là khó khăn cho anh.
Gã nhìn chị, bối rối.
– Tôi đang nói trong năm nay. Ý tôi là một thai kỳ đầy rủi ro, phải nghỉ ngơi, không sex; rồi đứa trẻ ra đời, thời gian ở cữ, không sex. Cuối cùng cô ấy về nhà, bận bịu chăm đứa trẻ sơ sinh và vẫn không sex… Gã cười gượng.
– Tôi biết theo kinh nghiệm của tôi, - Amaia tiếp tục. - Vào dịp kỷ niệm ngày cưới, hai người để con cho mẹ vợ của anh trông hộ, ra ngoài ăn tối ở một nhà hàng sang trọng, và sau vài cốc vang vợ anh đã say bí tỉ. Anh đưa cô ấy về nhà, đặt vợ lên giường và… vẫn không sex. Đêm ấy còn sớm. Anh lái xe đến nhà mẹ vợ xem mọi việc có ổn không. Tới nơi, thấy bà ấy ngủ thiếp trên sofa, anh phát cáu. Vào phòng con gái, anh bất chợt nhận ra rằng đứa bé là một gánh nặng, nó làm hỏng đời anh, trước khi nó ra đời mọi việc tốt đẹp hơn nhiều… và anh đi đến một quyết định.
Gã ngồi lặng ngắt, bám lấy từng lời của chị.
– Thế là anh làm việc phải làm, có điều mẹ vợ anh thức giấc và trông thấy anh lái xe đi.
– Thì tôi đã nói với chị rồi: mẹ vợ tôi là một con sói cái khốn kiếp. – Tôi biết anh cảm thấy ra sao, mẹ tôi cũng thế thôi. Nhưng mẹ vợ anh cũng rất sắc sảo. Bà ấy nhận ra dấu vết trên trán bé gái. Hôm qua nhìn rõ nhưng hôm nay nhà bệnh lý học khẳng định vết đó do một vật đè mạnh vào da bé.
Gã thốt ra một tiếng thở dài sâu.
– Anh cũng nhận ra, chính vì thế anh cố che đi bằng một lớp trang điểm. Và để bảo đảm không ai nhìn thấy nó, anh yêu cầu đóng nắp quan tài. Nhưng bà mẹ vợ khốn kiếp của anh giống như con chó già giữ xương, đúng không? Vì thế anh quyết định mang cái xác đi để ngăn mọi người hỏi han. Vợ anh chẳng hạn? Có người đã trông thấy hai người cãi nhau trong nhà tang lễ.
– Chị thừa biết là mọi sự hỏng bét. Vì cô ta cứ một mực đòi hỏa táng con bé.
– Còn anh chống lại? Anh muốn chôn cất? Chính vì thế anh đưa bé đi? Hình như một ý nghĩ lóe lên trong gã.
– Bây giờ có chuyện gì xảy ra với cái xác?
Amaia ngạc nhiên vì cách chọn từ của Esparza; những người thân thường tránh nhắc đến người mình yêu quý như một cái xác hoặc thi hài, mà gọi là bé gái, đứa trẻ, hoặc… Chị nhận ra mình không biết tên con bé.
– Nhà bệnh lý học sẽ tiến hành khám nghiệm tử thi lần thứ hai, sau đó sẽ trả xác cho gia đình.
– Họ không được hỏa táng nó.
– Việc đó sẽ do các vị quyết định với nhau.
– Họ không được hỏa táng nó. Tôi chưa làm xong.
Amaia nhớ lại lời Iriarte nói với chị.
– Anh chưa làm xong việc gì?
– Nếu tôi không hoàn thành, tất cả chuyện này sẽ thành vô ích. Sự tò mò của Amaia tăng lên:
– Chính xác thì anh định nói gì vậy?
Esparza bỗng nhận ra mình đang ở đâu và đã nói quá nhiều. Ngay lập tức gã im bặt.
– Anh đã giết con gái mình?
– Không, - gã đáp.
– Anh có biết ai làm việc đó không?
Im lặng.
– Có lẽ vợ anh đã giết con bé…
Esparza mỉm cười và lắc đầu, dường như gã thấy ý nghĩ này là nực cười.
– Không phải cô ấy.
– Vậy là ai? Ai đã khiến anh tới nhà mẹ vợ?
– Không ai hết.
– Không, tôi không tin lời anh, vì chính là anh. Anh đã giết con gái mình.
– Không! - Gã đột ngột hét lên. -… Tôi sẽ giao nộp nó.
– Giao nộp nó? Cho ai? Để làm gì?
Gã cười toe toét, tự mãn.
– Tôi đã giao nộp nó cho… - Gã hạ thấp giọng thành tiếng thì thào không nghe rõ.-… giống như mọi đứa khác… - Gã nói. Gã lẩm bẩm thêm vài từ nữa rồi vùi đầu vào cánh tay.
Amaia ở lại trong xà lim một lát, mặc dù chị nhận thấy cuộc thẩm vấn đã chấm dứt, chị sẽ không moi thêm được gì ở gã. Chị bấm điện thoại bảo họ mở cửa từ bên ngoài. Lúc chị đi ra, gã lại nói:
– Chị có thể làm cho tôi một việc không?
– Còn tùy.
– Bảo họ đừng hỏa táng nó.
Phó thanh tra Etxaide và Zabalza cùng Iriarte đang đợi chị trong phòng kế bên.
– Các anh có nghe thấy hắn nói gì không?
– Chỉ nghe thấy loáng thoáng hắn nói giao nộp con bé cho ai đó, nhưng tôi không nghe ra cái tên. Trong băng hình, chị có thể trông thấy môi hắn cử động nhưng không nghe thấy. Chắc hắn nói tào lao.
– Zabalza, liệu anh có thể làm gì đó với băng audio và video, tăng âm lên hết cỡ. Tôi mong anh đúng, hắn đang làm chúng ta rối tung lên, nhưng chúng ta phải biết chắc chắn. Jonan, Montes và Iriarte đi với tôi. Mà này, Montes đâu nhỉ?
– Anh ấy vừa lấy xong lời khai của những người thân.
Amaia mở hộp đồ dã ngoại trên bàn để biết chắc đã có mọi thứ chị cần.
– Chúng ta cần dừng ở đâu đó mua một thiết bị đo kỹ thuật số.- Amaia mỉm cười vì nhận ra Iriarte nhăn mặt. - Có chuyện gì không ổn sao? – Hôm nay là ngày nghỉ của chị…
– Không nói thêm nữa, nhé? - Amaia cười, cầm cái hộp và theo Jonan ra ngoài, tới chỗ Montes đang đợi trong xe, động cơ đã nổ sẵn.
5
Chị cảm thấy gần như thông cảm và thương hại Valentín Esparza khi bước vào căn phòng mẹ vợ gã trang hoàng cho đứa cháu gái. Trái ngược với vô số ruy băng, đăng ten và đồ thêu màu hồng, cảm giác ngờ ngợ quá mạnh. Amatxi của bé gái này đã chọn các nữ thần và nàng tiên thay cho những con cừu màu hồng ngộ nghĩnh mà mẹ chồng chị chọn cho Ibai, nhưng ngoài cái đó ra, căn phòng trông như thể do chính bà ấy trang trí. Trên tường là sáu bức ảnh lồng khung chụp bé gái được mẹ, bà ngoại và một người phụ nữ già hơn bế, có lẽ là một bà cô. Không thấy Valentín Esparza trong bất cứ tấm ảnh nào.
Các lò sưởi trên gác đều bật, chắc chắn vì đứa trẻ. Nhiều giọng nói thì thào từ căn bếp ở tầng dưới vọng tới họ, bạn bè và hàng xóm tới an ủi hai người phụ nữ. Lúc này người mẹ hình như đã nín khóc, tuy nhiên Amaia vẫn khép cửa ở đầu cầu thang. Chị đứng quan sát lúc Montes và Etxaide xử lý hiện trường, nguyền rủa cái điện thoại cứ rung trong túi áo từ lúc họ ra khỏi đồn. Cả đống cuộc gọi nhỡ. Chị kiểm tra độ phủ sóng: đúng như chị nghi ngờ, vì các bức tường dày ở bên trong ngôi nhà nông trại yếu hơn nhiều.
Xuống cầu thang, Amaia rón rén đi qua bếp, ghi nhận những tiếng thì thầm, điển hình ở những buổi thức canh người chết. Chị nhẹ người lúc bước ra ngoài. Mưa mới tạnh lúc gió quét sạch các đám mây dông đen sì, nhưng không có bất cứ mảng trời nào sáng sủa, có nghĩa là một khi gió dịu, trời sẽ lại bắt đầu mưa. Chị đi ra xa ngôi nhà vài mét và kiểm tra các cuộc gọi nhỡ. Một cuộc của bác sĩ San Martín, một của trung úy Padua thuộc
Guardia Civil, một của James và sáu cuộc của Ros. Chị gọi James trước, anh lo lắng khi nghe chị nói không về nhà ăn trưa.
– Nhưng Amaia, hôm nay là ngày nghỉ của em…
– Em hứa sẽ về nhà ngay khi có thể, và em sẽ báo cho anh. Anh có vẻ hoài nghi.
– Nhưng chúng ta đã đặt trước bữa tối…
– Một giờ nữa là cùng, em sẽ về nhà.
Padua nhấc máy ngay.
– Thanh tra, chị có ổn không?
– Tôi ổn. Tôi thấy cuộc gọi của anh, và… - Chị chỉ kiềm chế nỗi lo của mình vừa đủ.
– Không có tin gì đâu, thanh tra. Tôi chỉ gọi để báo tôi đã nói chuyện với Chỉ huy Hải quân ở San Sebastian và La Rochelle. Tất cả các tàu tuần tiễu trong vịnh Biscay đã được huy động và họ biết phải tìm gì.
Chắc hẳn Padua nghe thấy tiếng chị thở dài. Anh nói thêm, giọng an ủi: – Thanh tra ạ, đã tham khảo ý kiến của các lực lượng tuần duyên và tôi đồng ý rằng một tháng là đủ lâu để xác mẹ chị dạt vào đâu đó ven bờ biển. Có thể kiểm soát bờ biển Cantabrian, tuy dòng chảy ngược có thể cuốn nó tới Pháp. Hoặc nó có thể mắc ở đáy sông, hoặc những trận mưa xối xả có thể cuốn xác ra biển nhiều dặm, vào một trong những khe sâu trong vịnh Biscay. Những cái xác bị cuốn ra biển hiếm khi tìm thấy, và từ ngày mẹ chị mất tích đã lâu, tôi nghĩ chúng ta phải coi đây là một khả năng. Một tháng là một thời gian dài.
– Cảm ơn trung úy, - chị nói và cố không để lộ sự thất vọng. - Nếu anh nghe được tin gì…
– Cứ yên trí, tôi sẽ báo ngay với chị.
Amaia ngắt máy, nhét điện thoại vào sâu trong túi, thấm thía lời Padua vừa nói. Một tháng ngâm trong biển là một thời gian dài với một xác chết. Nhưng biển cả chẳng luôn luôn từ bỏ những thứ đã chết của nó sao?
Trong lúc nói chuyện với Padua, chị bắt đầu đi vòng quanh ngôi nhà, tránh tiếng sỏi lạo xạo khó chịu ở lối đi bên ngoài. Lúc đi theo vết nước mưa rỏ giọt từ mái nhà, Amaia tới một góc ở đằng sau nhà, nơi các mái hiên gặp nhau. Cảm thấy một chuyển động đằng sau, chị quay lại. Người phụ nữ già hơn trong các bức ảnh ở phòng ngủ của bé gái đang đứng cạnh một cái cây trong vườn, hình như đang nói chuyện một mình. Lúc gõ nhẹ vào thân cây, bà ta ngân nga một loạt từ chỉ vừa đủ nghe, như nói với một người vô hình nào đó. Amaia quan sát bà già vài giây, cho đến khi bà ta ngước nhìn và thấy chị.
– Ngày xưa, chúng tôi phải chôn con bé ở đây, - bà ta nói. Amaia hạ cái nhìn chăm chú xuống mặt đất lún và vệt đường thấy rõ theo vết nước rỏ từ mái hiên. Chị không nói nên lời, khắc khoải vì những hình ảnh nghĩa trang của gia tộc chị, những tàn tích của tấm chăn phủ giường cũi lộ ra khỏi lớp đất đen.
– Tốt hơn là để nó một mình trong nghĩa trang, hoặc hỏa táng nó, đó là điều mà cháu gái tôi muốn làm… Những cung cách hiện đại không phải lúc nào cũng là tốt nhất. Ngày xưa, đàn bà chúng tôi không được bảo nên làm những gì, có thể chúng tôi đã làm một số việc không đúng, nhưng chúng tôi đã làm nhiều việc khác tốt hơn. - Bà ta nói với chị bằng tiếng Tây Ban Nha, mặc dù theo cách phát âm chữ “r”, Amaia đoán bà thường nói tiếng Basque. Một etxeko andrea già cả của Baztán, một người thuộc thế hệ phụ nữ không thể đánh bại, đã chứng kiến một thế kỷ trọn vẹn, sáng sáng vẫn
còn đủ sức đứng dậy, vun tóc thành búi, nấu ăn và nuôi gia súc. Amaia nhận ra những vết bột kê mà bà già để trong các túi tạp dề màu đen theo truyền thống cổ xưa. - Cô hãy làm việc phải làm.
Lúc bà lê đôi chân đi ủng màu xanh tới chỗ chị, Amaia cưỡng lại sự thôi thúc tới giúp bà, chị cảm thấy làm thế sẽ khiến bà lúng túng. Thay vì, chị đợi đến lúc bà tới ngang chỗ mình, chị mới giơ bàn tay ra.
– Bà đang nói với ai vậy? - Chị hỏi, ra hiệu về phía bãi cỏ thoáng rộng. – Với những con ong.
Amai nhìn bà, bối rối.
Ong ơi, ong
Hôm nay ông chủ đã qua đời
Ong ơi, ong
Chúng ta cần nền cho nhà thờ*.
Amaia nhớ lại cô chị đã kể rằng ở Baztán, khi có người nào đó qua đời, bà chủ nhà sẽ tới chỗ những đõ ong trong đồng cỏ và xin ong thêm sáp để làm thêm nhiều nến, soi sáng người chết trong đêm thức canh và lễ tang. Theo bà cô của chị, câu thần chú sẽ tăng sản lượng của đàn ong lên gấp ba.
Thương cảm vì hành động của bà già, Amaia hình dung chị nghe thấy cô Engrasi đang nói: “Khi mọi phương pháp khác thất bại, chúng ta trở lại những truyền thống cổ xưa”.
– Cháu rất tiếc vì nỗi mất mát của bà, - chị nói.
Phớt lờ bàn tay của Amaia, bà ôm lấy chị mạnh mẽ đáng ngạc nhiên. Sau khi buông chị ra, bà nhìn xuống đất, lau nước mắt bằng cái túi tạp dề đựng thức ăn cho gà. Amaia cảm động vì sự can đảm cao quý của bà, nhen nhóm lại lòng ngưỡng mộ của chị với thế hệ đó, chị im lặng kính cẩn.
– Bố nó không làm việc đó đâu, - bà ta bỗng nói.
Được huấn luyện để biết khi người nào đó định thổ lộ tâm tình, Amaia không đáp.
– Không ai nghe tôi vì tôi là một bà già, nhưng tôi biết ai đã giết bé gái của chúng tôi, không phải thằng bố ngu xuẩn của nó đâu. Nó chỉ quan tâm đến ô tô, xe máy của nó và khoe khoang đủ thứ. Nó mê tiền y hệt những kẻ tham ăn mê táo. Tôi biết, vì hồi trẻ tôi đã quyến rũ nhiều đàn ông như thế. Họ đến đón tôi bằng xe máy hoặc ô tô, nhưng tôi không bị lừa vì mọi thứ vô nghĩa đó. Tôi muốn có một người đàn ông đích thực…
Đầu óc bà già bắt đầu nghĩ lan man. Amaia lái bà trở lại hiện tại: – Bà biết ai giết con bé sao?
– Phải, tôi đã bảo họ rồi, - bà ta nói, vẫy tay về phía ngôi nhà. - Nhưng chẳng ai chịu nghe vì tôi là một bà già.
– Cháu đang lắng nghe đây ạ. Hãy cho cháu biết ai đã làm việc này. – Là Inguma… Inguma đã giết con bé, - bà ta tuyên bố, dứt khoát. – Inguma là ai?
Nỗi tiếc thương của bà già quá mãnh liệt lúc bà nhìn Amaia trừng trừng.
– Bé gái thật tội nghiệp! Inguma là ác ma chuyên ăn cắp linh hồn trẻ con lúc chúng đang ngủ. Inguma lọt vào qua các kẽ hở, ngồi lên ngực bé và mang linh hồn nó đi.
Amaia bối rối há miệng rồi ngậm lại, không biết nói gì.
– Cô tưởng tôi đang oang oang những chuyện mê tín sao, - bà già nói, vẻ buộc tội.
– Không ạ…
– Trong các kỷ lục của Baztán ghi rằng mỗi lần Inguma thức giấc là lấy đi hàng trăm linh hồn trẻ con. Các bác sĩ gọi là bệnh ho gà, nhưng chính là Inguma tới, tước đoạt hơi thở của chúng trong lúc các bé ngủ. Inés Ballarena xuất hiện từ bên sườn nhà.
– Ama, mẹ làm gì ở đây? Con đã nói là sáng nay con cho gà ăn mà. - Bà nắm cánh tay bà cụ và nói với Amaia. - Xin cô tha lỗi cho mẹ tôi, bà già quá rồi, chuyện xảy ra khiến bà vô cùng lo lắng.
– Tất nhiên, - Amaia lẩm bẩm và nhẹ người vì lúc đó điện thoại có cuộc gọi đến. Chị xin lỗi rồi đi xa, trong tầm cần thiết để nhận cuộc gọi. – Bác sĩ San Martín, ông đã xong việc rồi sao? - Chị nói và liếc nhìn đồng hồ.
– Thực ra chúng tôi vừa mới bắt đầu. - Ông hắng giọng. - Lần này tôi nhờ một đồng nghiệp tới giúp, - ông nói, không thể giấu được mưu mẹo trong giọng nói, - nhưng tôi nghĩ cần cho cô biết chúng tôi đã tìm thấy gì. Nạn nhân chết ngạt vì một vật mềm, như cái gối hoặc tấm nệm chẳng hạn. Cô đã thấy vết trên sống mũi; lúc các vị tiến hành tìm kiếm, hãy nhớ kích thước tôi đã nói. Nhân viên pháp y vừa kiểm tra các phần mềm, và chúng tôi tìm thấy những sợi vải màu trắng trong hốc miệng, nên tôi báo ngay để cô có khái niệm về màu sắc. Chúng tôi cũng tìm thấy nhiều vệt nước bọt trên mặt bé, hầu hết là của bé gái nhưng ít nhất có một vết của người khác. Có thể là của một người thân để lại lúc hôn lên má bé…
– Bao giờ ông có thể cho tôi biết thêm?
– Vài giờ nữa.
Amaia chấm dứt cuộc gọi và vội vã đi theo hai người phụ nữ. Chị bắt kịp họ ở cửa ra vào đằng trước.
– Inés, bà có tắm cho cháu gái trước khi đặt cháu lên giường không? – Có, tắm buổi tối làm nó dễ chịu, giúp cháu ngủ say, - bà đáp, nén một tiếng thổn thức.
Amaia cảm ơn bà rồi chạy lên gác.
– Chúng ta tìm một vật mềm màu trắng, - chị nói và lao vào phòng ngủ.
Montes nhấc một túi đựng tang vật giơ cho chị xem.
– Trắng như tuyết, - anh tuyên bố, giơ cao con gấu bông. – Sao các anh…?
– Từ mùi, - Jonan giải thích. - Sau đó chúng tôi nhận ra lông gấu bẹt dí…
– Nó có mùi ư? - Amaia cáu; một món đồ chơi bẩn có vẻ không khớp với căn phòng được suy tính kỹ càng đến từng chi tiết.
– Nó không chỉ bốc mùi, mà còn hôi thối, - Montes nói.
6
Lúc rời ngôi nhà, trên điện thoại của Amaia có ba cuộc gọi nhỡ của Ros. Chị cưỡng lại sự thôi thúc trả lời, cảm thấy sự dai dẳng bất thường của chị gái có thể báo trước một cuộc trò chuyện không thoải mái, và chị không muốn các đồng nghiệp chứng kiến. Chỉ đến lúc riêng tư trong xe, chị mới gọi. Ros trả lời ngay hồi chuông đầu tiên, dường như đang đợi sẵn.
– Ôi Amaia, em có thể đến đây được không?
– Tất nhiên, có chuyện gì thế Ros?
– Tốt hơn hết là em đến và tự thấy.
Amaia đỗ xe bên ngoài công ty Mantecadas Salazar và đi qua xưởng bánh, chào hỏi các công nhân trên đường tới văn phòng ở đằng sau. Ros đứng ở ô cửa, quay lưng lại phía Amaia, chắn tầm nhìn vào bên trong. – Ros, chị sẽ cho em biết có chuyện gì xảy ra chứ?
Ros quay ngoắt lại, mặt xám ngoét. Ngay lập tức Amaia hiểu vì sao. – Hay lắm, tuyệt hay. Tiếp viện đã tới kìa! - Flora nói thay lời chào hỏi.
Giấu sự ngạc nhiên, Amaia tới gần người chị cả sau khi hôn vội lên má Ros.
– Bọn em không ngờ chị đến, Flora. Chị ổn chứ?
– Ổn như bất cứ người nào có thể, trong mọi hoàn cảnh… Amaia nhìn chị gái, bối rối.
– Mẹ của chúng ta đã chết thảm một tháng trước đây, hay tôi là người duy nhất quan tâm đây? - Flora mỉa mai nói.
Amaia cười toét với Ros.
– Tất nhiên rồi Flora, cả thế giới đều biết chị nhạy cảm hơn mọi người như thế nào rồi, - Amaia trả miếng.
Flora nhăn mặt đáp lại lời chế nhạo, rồi đến đứng sau bàn. Đứng bất động ở ô cửa, cánh tay thõng bên sườn, Ros là hình ảnh của kẻ bơ vơ, ngoài cái bĩu môi và ánh mắt kiềm chế cơn thịnh nộ.
– Chị định ở lại lâu sao, Flora? - Amaia hỏi. - Em tưởng với công việc của chị ở đài truyền hình, chị chẳng có mấy thời gian rảnh rỗi. Flora chỉnh lại tầm cao của ghế rồi ngối xuống sau bàn.
– Đúng, tôi quá ư bận rộn nhưng tôi nghĩ sẽ nghỉ vài ngày, - chị ta nói và sắp xếp lại đống giấy tờ trên bàn.
Ros mím môi chặt hơn. Thấy thế, Flora hờ hững nói thêm: – Thực ra, biết những việc xảy ra, tôi quyết định lưu lại thêm một thời gian nữa. - Chị ta dùng chân kéo giỏ rác tới bên bàn, vơ những giấy ghi chú sặc sỡ, bút bi và những thẻ đánh dấu rõ ràng là của Ros và ném tọt vào. – Tuyệt, - Amaia nói. - Em chắc cô Engrai sẽ rất hài lòng gặp chị khi chị ghé đến. Nhưng Flora ạ, sau này nếu chị muốn tạt vào xưởng bánh, hãy cho Ros biết trước. Bây giờ chị ấy là một phụ nữ bận rộn và đã ký hợp đồng với một chuỗi siêu thị lớn của Pháp - chính là việc chị theo đuổi mãi, chị nhớ không? Vì thế chị ấy không có thời gian dọn dẹp đống lộn xộn chị để lại đâu. - Amaia cúi xuống giỏ rác và lấy lại các thứ của Ros, rồi xếp lại lên bàn.
– Martiniés, - Flora rít lên khe khẽ.
– Đúng*, - Amaia đáp lại với nụ cười tươi tắn, tinh quái. Bằng vào vẻ mặt của Flora, Amaia biết cầu nói chua cay của mình đã bắn trúng đích. – Tôi đã gây dựng mọi thứ, - Flora nạt nộ. - Tôi đã nghiên cứu, đã mất hơn một năm thiết lập các mối quan hệ cần thiết.
– Đúng vậy, nhưng chị Ros đã thỏa thuận xong ngay trong cuộc họp đầu tiên, - Amaia đáp lại, hân hoan.
Flora trừng trừng nhìn Ros, chị tránh cái nhìn ấy và đến bên máy pha cà phê, lấy vài tách.
– Mọi người muốn uống cà phê không? - Ros hỏi, gần như thì thầm. – Có ạ, - Amaia đáp và nhìn xoáy vào Flora.
– Không, cảm ơn, - Flora nói. - Tôi không muốn làm mất thời giờ quý báu của các cô, - chị ta nói thêm rồi đứng dậy. - Tôi chỉ muốn nói với các cô rằng tôi tới đây để thu xếp tang lễ cho ama.
Câu đó khiến Amaia sửng sốt. Ý niệm về một tang lễ chưa bao giờ đến trong đầu chị.
– Nhưng… - Amaia bắt đầu phản đối.
– Phải, tôi biết, nó không chính thức, tất cả chúng ta đều muốn tin rằng mẹ đã xoay xở để thoát khỏi dòng sông và vẫn còn sống, nhưng thực tế thì chắc chắn là không phải thế, - Flora nói và trừng trừng nhìn thẳng vào Amaia. - Tôi đã nói chuyện với thẩm phán ở Pamplona phụ trách vụ này, ông ấy tán thành tổ chức tang lễ là một ý tưởng hay.
– Chị đã gọi cho thẩm phán Markina?
– Thực ra là ông ta gọi cho tôi. Một người đàn ông quyến rũ đến bất ngờ.
– Phải, nhưng…
– Nhưng cái gì? - Flora vặn hỏi.
– Ờ… - Amaia nuốt khan, giọng chị khản đặc lúc nói. - Chừng nào chưa tìm thấy xác, chúng ta không thể biết chắc là mẹ đã chết. – Vì Chúa, Amaia! Cô đã thấy quần áo người ta lôi từ dưới sông lên. Làm sao một bà già, tàn tật, có thể sống sót được chứ?
– Em không biết… Dù sao thì mẹ chưa chết một cách chính thức. – Chị nghĩ đây là một ý đúng, - Ros xen vào.
Amaia nhìn chị, ngỡ ngàng.
– Phải, Amaia ạ, chị nghĩ chúng ta nên lật sang trang thôi. Việc tổ chức một tang lễ cho linh hồn ama sẽ khép lại chương này một lần và mãi mãi. – Em không thể. Em không tin mẹ đã chết.
– Vì Chúa, Amaia! - Flora kêu lên. - Vậy thì, bà ở đâu? Bà ở chỗ quái quỷ nào vậy? Bà không thể trốn thoát vào rừng trong đêm tối mịt mùng như thế! - Chị ta hạ giọng. - Người ta đã mò vét dòng sông, Amaia. Mẹ chúng ta đã chết đuối, mẹ chết rồi.
Amaia nhắm nghiền mắt.
– Flora, nếu chị cần bất cứ sự giúp đỡ nào khi thu xếp, cứ gọi cho em, - Ros bình tĩnh nói.
Không đáp lại, Flora cầm xắc và sải bước ra cửa.
– Chị sẽ báo cho các cô thời gian và địa điểm ngay khi thu xếp xong mọi thứ.
Flora đi rồi, hai chị em ngồi xuống uống cà phê. Không khí trong phòng giống như sau một cơn dông điện, cả hai đợi nạp lại năng lượng trong không trung để dịu lại và bình tĩnh hồi phục trước khi cất tiếng nói. – Mẹ chết rồi, Amaia, - cuối cùng, Ros nói.
– Em không biết…
– Em không biết, hay em không chịu thừa nhận?
Amaia nhìn chị gái.
– Suốt đời em chạy trốn Rosario, nên em quen sống với sự hăm dọa đó, với ý thức rằng mẹ ở ngoài kia, mẹ vẫn còn sống để làm hại em. Nhưng bây giờ chuyện đó chấm dứt rồi, Amaia ạ. Nó đã kết thúc. Rốt cuộc ama đã chết, và - xin Chúa tha tội cho con nói thế này - chị không thương. Chị biết việc mẹ làm với Ibai khiến em đau đớn biết chừng nào, nhưng chị đã tận mắt trông thấy chiếc áo khoác sũng nước của mẹ. Không người nào có thể trèo lên khỏi dòng sông mà còn sống giữa đêm tối. Hãy tin chị, Amaia: mẹ đã chết rồi.
Amaia đỗ xe đối diện nhà bà Engrasi và ngồi một lát, thích thú ánh sáng màu vàng chiếu sáng các cửa sổ từ bên trong, dường như trong lòng nó có một mặt trời bé xíu hoặc một ngọn lửa bất diệt đang cháy. Chị ngước nhìn bầu trời u ám, màn đêm đã buông; mặc dù các ngọn đèn bật suốt ngày, chỉ đến lúc này chúng mới rực lên mọi vẻ huy hoàng. Amaia nhớ lại hồi bé, chị mong chờ những lần cô Engrasi bảo chị mang rác ra ngoài, nghĩa là có thể lẻn tới bức tường thấp ven sông. Amaia đã ngồi ở đó, mê mẩn cảnh tượng cả ngôi nhà rực sáng, cho đến lúc bà cô réo gọi. Chỉ đến lúc đó Amaia mới vào trong nhà, bàn tay và mặt rát bỏng vì rét. Cảm giác trở về
nhà vui sướng đến mức chị biến nó thành một thói quen, một cách kéo dài niềm vui vào nhà trở lại. Chị nghĩ đến nó như một loại nghi lễ của đạo Lão, một thứ chị mang vào tuổi trưởng thành và chỉ từ bỏ khi đã làm mẹ. Chị thèm nhìn thấy con trai ngay khi mới tới cửa, đến nỗi chị chạy ào vào trong nhà, háo hức chạm vào và hôn hít nó. Tối nay, tìm lại trò chơi bí mật và hấp dẫn này, chị ngẫm nghĩ đến cách chị đã trung thành với nỗi ám ảnh, với những nghi thức giữ cho đầu óc chị lành mạnh suốt tuổi thơ đau buồn. Có lẽ đã đến lúc chị gạt quá khứ lại đằng sau.
Amaia xuống xe và lên đường vào nhà. Không dừng lại cởi áo khoác, chị vào phòng khách, nơi bà Engrasi đang dọn dẹp sau khi chơi bài với các Cô gái Vàng. James ngồi trên sofa tay cầm cuốn sách, say sưa ngắm Ibai trong chiếc võng trẻ con. Amaia ngồi xuống cạnh chồng và cầm lấy tay anh.
– Em xin lỗi, mọi việc phức tạp quá. Em không thể dứt ra được. – Không sao đâu, - anh nói, không hề kết tội và ngả người hôn chị. Chị cởi áo khoác vắt lên lưng sofa, rồi bế Ibai lên.
– Ama đi vắng suốt ngày, nhớ con lắm lắm, con có nhớ mẹ không? - Chị thì thầm và đung đưa con trong tay. Nó nắm một dải tóc chị, giật thật đau. - Cháu nghĩ cô đã nghe chuyện xảy ra ở nhà tang lễ sáng nay, - Amaia nói và ngước nhìn bà cô.
– Phải, các bà ấy đã kể cho chúng ta. Thật là một thảm kịch kinh khủng. Cô biết gia đình đó nhiều năm rồi, họ là những người tử tế. Mất một đứa trẻ như thế… - Bà Engrasi ngừng bặt, tới bên Ibai và dịu dàng vuốt đầu thằng bé. - Cô không thể chịu nổi khi nghĩ đến chuyện ấy.
– Chẳng có gì lạ khi người bố phát điên vì thương tiếc. Anh không thể hình dung mình sẽ làm gì, - James nói.
– Cuộc điều tra vẫn đang tiếp tục, vì thế em không thể bình luận, nhưng đấy không phải lý do duy nhất khiến em về muộn. Chắc chắn là chị ấy không đến đây, nếu không mọi người đã kể với em.
James và Engrasi nhìn nhau, bối rối.
– Flora đang Ở Elizondo. Ros đã rất tỉnh táo khi gọi cho cháu, hình như việc đầu tiên khi Flora tạt vào xưởng chỉ để thanh toán Ros. Rồi khi cháu đến, Flora tuyên bố chị ấy đến để thu xếp tang lễ cho Rosario.
Bà Engrasi ngừng đẩy cặp kính tới, lui và lo lắng nhìn Amaia. – Ờ, anh chưa bao giờ có nhiều thời gian dành cho Flora, nhưng anh thấy đây là một ý tưởng tuyệt vời, - James nói.
– Sao cháu có thể nói thế, James! Chúng ta còn chưa biết chắc bà ấy đã chết chưa. Tổ chức tang lễ là một việc lố bịch! - Bà Engrasi kêu lên. – Cháu không đồng ý. Đã hơn một tháng từ khi dòng sông cuốn Rosario đi…
– Chúng ta vẫn chưa biết. - Amaia ngắt lời. - Việc áo khoác của bà ấy ở trong nước không có ý nghĩa gì hết. Bà ấy có thể ném nó xuống đó để đánh lạc hướng chúng ta.
– Để làm gì? Nghe em nói kìa, Amaia. Em đang nói về một bà già, lội qua con sông ngập lụt trong đêm dông bão tối tăm. Em phải thừa nhận rằng, điều đó là không thể.
Bà Engrasi đứng giữa bàn chơi bài và cửa bếp, môi mím lại, lắng nghe họ tranh cãi.
– Không thể ư? Anh không nhìn thấy bà ấy, James ạ. Rosario đã đi bộ ra khỏi bệnh viện, đến ngôi nhà này, đứng đúng nơi em đang đứng lúc này và mang con trai của chúng ta đi. Bà ấy đã lê bước nhiều dặm xuyên qua các cánh rừng tới cái hang mà bà định dùng nó làm vật hiến sinh. Đó không phải là một bà già yếu đuối, bà ấy là người kiên quyết và cá tính. Em biết vì em đã ở đó.
– Đúng là anh không ở đó, - anh đáp gọn lỏn. - Nhưng nếu bà còn sống, thì suốt thời gian này bà ở đâu? Tại sao bà không xuất hiện? Hai chục người mất nhiều giờ tìm kiếm, họ vớt được áo khoác của bà khỏi dòng sông, hẳn bà đã chết đuối rồi, Amaia. Guardian Civil nghĩ thế, lực lượng cảnh sát địa phương nghĩ thế, anh đã nói chuyện với Iriarte và anh ấy cũng nghĩ thế. Kể cả ông bạn thẩm phán của em cũng nghĩ như thế, - anh bồi thêm, châm chọc. - Dòng sông đã cuốn bà đi.
Phớt lờ những lời bóng gió của chồng, Amaia lắc đầu và vẫn đu đưa Ibai, thằng bé bị quấy rầy vì họ cao giọng, nó bắt đầu khóc. – Em không quan tâm. Em không tin chuyện đó, - chị lẩm bẩm. – Đó mới là vấn đề, Amaia, - James cáu. - Mọi chuyện này là vì em và em tin gì. Em có bao giờ dừng lại để nghĩ các chị của em cảm thấy gì không? Em có chợt nghĩ ra rằng họ cũng có thể đau đớn, có thể họ cần tránh xa tình tiết quan trọng này một lần và mãi mãi, việc em tin hoặc không tin gì không phải là thứ duy nhất để tính đến?
Ros vừa bước vào, đứng ở ô cửa hoảng hốt.
– Mọi người đều biết em đã phải chịu đựng nhiều thứ, Amaia, - James nói tiếp, - nhưng việc này không chỉ vì em. Hãy dừng lại một lát và suy nghĩ về việc những người khác cần gì. Anh thấy việc chị Flora đang cố
làm chẳng có gì sai. Trên thực tế, nó có thể chứng tỏ là có ích cho sự lành mạnh về tinh thần của tất cả mọi người, kể cả cho anh, vì thế anh sẽ đến tang lễ và anh hy vọng lần này em sẽ đi cùng với anh.
Trong giọng của anh có vẻ trách cứ và Amaia cảm thấy tổn thương, nhưng điều chị sốc nhất là James đã nêu ra một chủ đề mà chị ngỡ họ đã giải quyết xong xuôi; và không giống anh mọi khi chút nào. Lúc này Ibai gào hết hơi, nó vùng vẫy trên tay mẹ, bối rối vì sự căng thẳng trong cơ thể, vì hơi thở dồn của mẹ. Chị ôm con thật chặt, cố làm nó dịu lại. Không nói một lời, chị lên gác, phớt lờ Ros đang đứng bất động ở ô cửa.
– Amaia… - Ros thì thào gọi em gái lúc Amaia đi lướt qua. James quan sát vợ rời khỏi phòng rồi bứt rứt hết nhìn Ros tới Engrasi. -James à… - Bà Engrasi cất lời.
– Cháu xin cô, cháu van cô, đừng dung dưỡng những nỗi sợ hãi của Amaia hoặc khích lệ những nghi ngờ của cô ấy. Nếu ai có thể giúp cô ấy lật sang trang thì chính là cô. Trước đây cháu chưa bao giờ xin cô điều gì, nhưng bây giờ cháu xin cô đấy, vì cháu đang mất cô ấy, cháu đang mất vợ cháu, - James nói chán nản, và ngồi sụp xuống ghế.
Amaia vẫn đu đưa Ibai cho đến lúc nó nín, rồi chị nằm xuống giường, đặt con bên cạnh để có thể ngắm cặp mắt trong sáng của nó, những ngón tay bé xíu vụng về của nó chạm vào mắt, mũi và miệng chị cho tới lúc nó thiếp dần đi. Chỉ vì lúc trước sự căng thẳng của chị bao trùm lấy nó, lúc này chị cảm thấy sự bình yên của nó lan sang chị.
Amaia biết cuộc triển lãm ở Guggenheim quan trọng biết nhường nào với James, chị hiểu anh thất vọng vì chị không đến đó cùng anh. Nhưng họ
đã nói về chuyện này. Nếu chị đến đó, chắc Ibai đã chết. Chị biết James hiểu, nhưng hiểu không giống với chấp nhận. Chị thở dài sườn sượt, và Ibai cũng thế, dường như bắt chước mẹ. Cảm động, chị cúi hôn con.
– Con trai yêu quý của mẹ, - chị thì thào, kinh ngạc vì những đường nét xinh xắn hoàn hảo của nó, ẩn chứa vẻ bình tĩnh bí ẩn mà chị chỉ trải nghiệm khi ở cùng với con, mùi bơ và bánh quy của nó làm chị mê mẩn, các cơ bắp của chị giãn ra, nhẹ nhàng kéo chị vào một giấc ngủ sâu.
Amaia nhận thấy mình đang mơ, và mùi thơm của Ibai đã gây ra nhiều hình ảnh tưởng tượng. Chị đang ở xưởng bánh, từ lâu trước khi nó trở thành khung cảnh cho những cơn ác mộng của chị; cha chị mặc áo choàng trắng muốt, đang dát mỏng bột làm bánh xốp bằng cái trục cán bằng thép, trước khi nó trở thành vũ khí. Những miếng bột nhào vuông vắn, trắng mịn tỏa mùi kem và bơ. Tiếng nhạc từ một cái đài bán dẫn nhỏ mà cha chị để ở cái giá trên cùng, vang khắp xưởng. Amaia không nhận ra bài hát, nhưng trong mơ, bé gái là chị đang đớp theo một số giai điệu. Amaia thích ở một mình với cha, thích ngắm cha làm việc trong lúc em nhảy múa quanh cái quầy đá hoa, hít thở mùi mà bây giờ chị nhận ra là mùi của Ibai, nhưng hồi đó nó tỏa ra từ những chiếc bánh quy bơ. Amaia cảm thấy vui sướng theo kiểu độc nhất vô nhị với cô bé vốn là báu vật của cha em. Amaia hầu như đã quên cha yêu quý mình biết bao và dù trong mơ vẫn nhớ nó khiến em hạnh phúc hơn một lần. Em quay tròn và quay tròn, biểu diễn các tư thế xoay tròn thanh lịch, bàn chân em bay trên nền xưởng. Nhưng khi Amaia quay lại cười với cha, ông đã biến mất. Cái bàn trộn trống không, không có ánh sáng lọt qua các cửa sổ cao. Amaia phải nhanh nhanh lên, phải về nhà ngay, nếu không mẹ sẽ nghi ngờ. “Mày đang làm gì ở đây?”. Ngay lập
tức, thế giới trở nên bé nhỏ và đen tối, uốn cong ở các rìa cho đến lúc phong cảnh trong mơ biến thành một đường hầm đi xuống mà em buộc phải đi. Khoảng cách ngắn ngủi giữa em và cánh cửa xưởng biến thành một hành lang dài, quanh co, ở đầu có một ngọn đèn nhỏ, sáng. Sau đó chẳng còn gì, bóng tối ôn hòa làm em mù lòa, máu ở đâu cạn kiệt. “Chảy máu không đau, chảy máu là yên bình và êm dịu, giống như biến thành dầu và chảy nhỏ giọt”, Dupree đã bảo chị thế. “Cô càng chảy nhiều máu bao nhiêu càng ít quan tâm bấy nhiêu”. Đúng thế, mình không quan tâm, cô bé nghĩ. Amaia cảm thấy buồn vì cô bé không nên chấp nhận cái chết, nhưng chị cũng hiểu và mặc dù nó khiến chị đau đớn, chị để mặc cô bé một mình. Em nghe thấy tiếng thở hổn hển trước, rồi những tiếng thở gấp gáp, háo hức đề phòng. Và không hề mở mắt, em cảm thấy mẹ đang đến gần, chậm rãi, không hề động tâm, thèm khát máu và hơi thở của em. Ngực cô bé chỉ chứa dưỡng khí đủ duy trì ý thức mỏng manh ràng buộc em với sự sống. Người ấy như một sức nặng đè lên bụng em, nghiền nát phổi em trống rỗng như một cặp ống bễ thở phì phò, để không khí thoát khỏi miệng lúc đôi môi tàn bạo, đói khát phủ lên miệng em, hút hơi thở cuối cùng của em.
James bước vào phòng, khép cửa lại sau lưng. Anh ngồi xuống giường, ngắm vợ một lát, trải nghiệm niềm vui ngắm một người ngủ, hoàn toàn kiệt sức. Anh với tấm chăn ở cuối giường, kéo nó lên đến eo chị. Lúc anh cúi xuống hôn vợ, chị mở cặp mắt hoảng hốt, không nhìn thấy gì và khi trông thấy anh, ngay lập tức chị thư giãn, lại dựa đầu vào gối.
– Ổn rồi, em đang mơ, - Amaia lẩm bẩm, nhắc lại các từ như niệm câu thần chú gần như chị đọc thuộc lòng hằng đêm, từ khi là một cô bé. James
ngồi ngay lại, lặng lẽ ngắm Amaia cho đến lúc chị thoáng cười, rồi ôm lấy chị.
– Anh nghĩ họ còn phục vụ chúng ta ở nhà hàng không?
– Anh hủy rồi, em đã quá mệt. Lần khác chúng ta sẽ tới đó… – Ngày mai được không? Em phải lái xe tới Pamplona, nhưng em hứa sẽ dành cả buổi chiều với anh và Ibai. Anh phải mời em ra ngoài ăn tối đấy, - chị nói thêm và cười khúc khích.
– Xuống dưới nhà đi, có sẵn thứ cho em ăn rồi, - anh nói. – Em không đói.
Nhưng James đã đứng dậy chìa tay ra, tươi cười, và chị ngoan ngoãn theo anh.
7
Bác sĩ Berasategui không hề mất vẻ bình tĩnh và uy quyền mà người ta mong đợi ở một bác sĩ tâm thần nổi tiếng, diện mạo vẫn gọn gàng và chau chuốt như mọi khi; lúc Berasategui đan hai bàn tay trên bàn, Amaia nhận thấy móng tay đã cắt tỉa cẩn thận. Bộ mặt hắn vẫn nghiêm trang lúc lịch sự chào chị: “Xin chào” rồi đợi chị nói.
– Bác sĩ Berasategui, thú thật tôi ngạc nhiên thấy anh đồng ý gặp tôi. Tôi hình dung cuộc sống tù đày ắt phải tẻ ngắt với một người như anh. – Tôi không hiểu ý cô. - Berasategui đáp lại, có vẻ thẳng thắn. – Bác sĩ, anh không cần giả vờ với tôi. Trong tháng vừa qua tôi đã đọc các thư từ của anh, đã đến thăm căn hộ của anh vài lần, và anh biết không, tôi đã có dịp tìm hiểu sở thích bếp núc của anh…
Môi Berasategui hơi cong lên vì những từ cuối cùng của chị. – Chỉ riêng lý do đó, tôi hình dung anh thấy cuộc sống ở đây tầm thường và tẻ nhạt không chịu nổi. Chưa kể đến việc nó tước đoạt trò giải trí ưa thích của anh.
– Thanh tra, đừng đánh giá tôi thấp thế. Khả năng thích ứng là một trong những năng khiếu của tôi đấy. Thực ra, nhà tù này không khác với một trường giáo dưỡng ở Thuỵ Sĩ là mấy. Đó là một kinh nghiệm chuẩn bị cho ta đối phó với mọi thứ.
Amaia lặng lẽ nghiên cứu hắn vài giây, rồi nói tiếp:
– Tôi không có gì nghi ngờ anh là người thông minh. Thông minh, tự tin và giỏi giang, anh đều có, và đã thành công trong việc sai khiến những người bất hạnh khốn khổ phạm tội vì anh.
Lần đầu tiên, Berasategui cười thoải mái.
– Cô nhầm rồi, thanh tra. Mục tiêu của tôi là không bao giờ muốn bọn chúng ký tên vào tác phẩm của tôi, nhưng chúng đã thực hiện hơn thế. Tôi tự thấy mình như một loại đạo diễn sân khấu vậy, - hắn giải thích.
– Phải, với một siêu ngã lớn bằng Pamplona… Tôi nghĩ đó là thứ không cần tăng thêm. Anh có thể giải thích: tại sao một người như anh, một người đầy quyền lực, một trí tuệ sáng láng lại tuân theo mệnh lệnh của một bà già bị lão suy?
– Việc xảy ra không phải thế.
– Không ư? Tối đã xem các hình ảnh trên CCTV ở bệnh viện. Tôi thấy anh hoàn toàn phục tùng bà ấy.
Amaia cố tình dùng từ “phục tùng”, vì biết hắn sẽ thấy từ đó có ý lăng mạ. Berasategui đặt những ngón tay lên đôi môi bĩu ra dường như tự ngăn mình cắn câu.
– Thế đấy, một bà già tâm thần ốm yếu đã thuyết phục được một bác sĩ tâm thần lỗi lạc của một bệnh viện uy tín, một người rất tài giỏi - anh tự coi mình là thế phải không? À phải, một đạo diễn sân khấu nữa chứ, trở thành tòng phạm của bà ta trong một cuộc bỏ trốn vụng về, kết cục là bà ta bị dòng sông cuốn đi trong lúc anh bị bắt và bị bỏ tù. Anh phải thừa nhận rằng, chính xác thì đây chẳng phải là khoảnh khắc huy hoàng nhất của mình.
– Cô không thể nhầm lẫn hơn, - Berasategui nhạo báng. - Mọi việc té ra được dự tính chính xác.
– Mọi việc ư?
– Trừ sự ngạc nhiên vì giới tính đứa trẻ, nhưng tôi không đóng vai trò gì trong chuyện đó. Nếu không thì tôi đã biết.
Hình như Berasategui đã lấy lại sự bình tĩnh thường lệ. Amaia mỉm cười.
– Hôm qua tôi đã đến thăm bố anh.
Berasategui hít vào đầy phổi rồi thở ra từ từ. Rõ ràng việc này làm hắn lo lắng.
– Anh không hỏi thăm về ông ấy sao? Anh không muốn biết ông ấy như thế nào ư? Không, tất nhiên là anh không quan tâm rồi. Ông ta chỉ là một ông già mà anh lợi dụng để định vị các mairu trong mảnh đất chôn cất của gia tộc tôi.
Berasategui vẫn không nao núng.
– Một số xương để lại nhà thờ là gần đây hơn. Gã Garrido đần độn và vụng về ấy sẽ không bao giờ tìm ra chúng, chỉ người nào có quan hệ với Rosario mới biết được, vì chỉ mình bà ấy biết thông tin này. Phần còn lại của cái xác đó ở đâu, bác sĩ Berasategui? Nấm mồ đó ở đâu?
Hắn nghiêng đầu sang một bên thoáng vẻ tự mãn, dường như toàn bộ chuyện này làm hắn khoái trá.
Vẻ đó biến mất ngay khi Amaia nói tiếp:
– Bố anh hay nói hơn anh nhiều. Ông ấy kể với tôi là anh chưa bao giờ ở lại qua đêm với ông ta, ông ấy nói anh ở khách sạn nhưng chúng tôi đã kiểm tra và biết sự thật không phải thế. Tôi sẽ nói cho anh tôi nghĩ gì. Tôi nghĩ anh có một ngôi nhà khác ở Baztán, một ngôi nhà an toàn, một nơi anh cất giữ các đồ vật không ai trông thấy, những vật anh không thể từ bỏ.
Nơi anh đưa mẹ tôi tới đêm đó, là nơi bà đã thay quần áo và chắc chắn là nơi bà trở lại khi bỏ anh lại trong hang và chạy trốn.
– Tôi không biết cô đang nói gì.
– Tôi đang nói lên thực tế rằng Rosario không thay đồ ở nhà bố anh hoặc trong xe của anh. Thực tế là có một khoảng thời gian khuyết từ lúc hai người ra khỏi bệnh viện và tạt vào nhà cô tôi. Trong lúc chúng tôi bận giải mã các đồ lưu niệm trong căn hộ của anh, hai người đã ghé vào đâu đó. Anh tưởng tôi tin một người như anh mà không che giấu một sự việc bất ngờ như thế sao? Đừng sỉ nhục trí thông minh của tôi bằng cách giả vờ làm tôi tin rằng anh hành động như một thằng ngốc mò mẫm…
Lần này Berasategui đưa hai tay lên che miệng, cố kìm phản ứng. – Ngôi nhà ấy ở đâu? Anh đã đưa Rosario tới đâu? Bà ấy vẫn còn sống phải không?
– Cô nghĩ gì vậy? - Hắn bất ngờ buột miệng.
– Tôi tin rằng anh đã lập ra kế hoạch bỏ trốn, và bà ấy làm theo. – Tôi thích cô, thanh tra ạ. Cô là một phụ nữ thông minh - cô phải như thế mới biết đánh giá trí thông minh của người khác. Cô nói đúng, có nhiều việc tôi bỏ lỡ ở đây - ví dụ tổ chức một cuộc trò chuyện thú vị với người có chỉ số IQ_trên 85, - hắn nói và ra hiệu một cách miệt thị về phía những người lính gác ở cửa. - Chính vì thế, tôi sẽ tặng cô một món quà. - Hắn ngả người thì thầm vào tai chị. Amaia vẫn giữ được bình tĩnh, mặc dù chị ngạc nhiên khi những người gác cửa không ngăn hắn lại. - Lắng nghe cẩn thận, thanh tra, vì đầy là tin nhắn của mẹ cô.
Lần này chị lùi lại nhưng đã quá muộn, chị có thể ngửi thấy mùi nước hoa cạo râu của Berasategui. Hắn nắm chặt gáy chị lúc chị cảm thấy môi
hắn chạm vào tai mình:
– Ngủ với một mắt mở, con sói cái bé nhỏ, vì sớm hay muộn ama sẽ tới ăn thịt mi.
Amaia chộp cổ tay hắn, buộc hắn thả chị ra rồi loạng choạng lùi lại, đánh đổ cái ghế. Berasategui ngả người ra sau, xoa xoa cổ tay. – Thanh tra, đừng giết người đưa tin nhé, - hắn nói và cười nhăn nhở. Amaia vẫn đi lùi tới cửa, hoảng hốt nhìn những người gác vẫn dửng dưng.
– Mở cửa!
Hai người đàn ông đứng lặng lẽ, nhìn chị chằm chằm.
– Các anh điếc à? Mở cửa! Tù nhân đã hành hung tôi!
Hoảng sợ, chị tóm lấy người gần nhất và quát vào mặt anh ta, gần đến mức nước bọt bắn vào má anh ta.
– Mở cửa, anh là đồ khốn! Mở cửa, hoặc tôi thề sẽ… - Người gác phớt lờ chị, nhìn thẳng vào Berasategui, hắn gật đầu cho phép một cách trịch thượng. Những người gác mở cửa, mỉm cười với Amaia lúc chị đi ra.
8
Amaia vội vã đi dọc hành lang, cố không chạy, rồi báo cho người gác cổng an ninh tiếp theo và đi tới lối vào chính, chị nhận ra một trong những người gác lúc chị đến. Im lặng, chị đợi lấy lại xắc và súng rồi mới yêu cầu gặp giám đốc nhà tù.
– Ông ấy không có ở đây, ông ấy đang ở Barcelona dự hội nghị về an ninh nhà tù, nhưng chị có thể nói chuyện với phó giám đốc nếu chị muốn, - người gác nói và với lấy điện thoại.
Amaia trả lời ngay lập tức.
– Không, không cần. Không có gì quan trọng.
Vào xe, Amaia rút điện thoại và ngờ vực liếc nhìn các camera CCTV rải rác quanh nhà tù. Chị để điện thoại xuống và lái đi, tìm thấy một chỗ trống đỗ xe cách đó vài con phố, rồi bấm một số trước đây chị chưa sử dụng bao giờ.
Giọng nói điềm đạm của thẩm phán Markina trả lời ở đầu dây bên kia. – Thanh tra, lần đầu tiên cô gọi cho tôi theo số này…
– Đây là việc nghiêm trọng, thưa ngài. Tôi vừa ra khỏi nhà tù Pamplona sau khi thẩm vấn Berasategui… - Nhận ra giọng mình run run, chị ngừng lại và hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh.
– Berasategui? Sao cô không nói với tôi cô sẽ đi gặp hắn? – Tôi xin lỗi thừa ngài, đây là một cuộc thăm không chính thức, tôi muốn hỏi hắn về… Rosario.
Chị nghe thấy ông tặc lưỡi trách móc.
– Mọi thông tin chúng tôi có đều chỉ rõ đêm hôm ấy hắn và Rosario đã ghé vào một nơi nào đó, ở một ngôi nhà an toàn để bà ta có thể thay quần áo, một nơi họ có thể ẩn náu phòng khi mọi sự không theo kế hoạch… Tôi không tin một người có óc tổ chức như Berasategui lại không tính đến một sự việc bất ngờ như thế.
Ở đầu dây bên kia, Markina im lặng.
– Nhưng đó không phải là lý do tôi gọi. Cuộc thẩm vấn suôn sẻ, cho đến lúc tôi hỏi hắn liệu Rosario còn sống không… Lúc đó hắn cho tôi một tin nhắn của bà ta.
– Gì kia! Amaia, tên này đang đùa giỡn với cô, hắn là một kẻ dụ dỗ bậc thầy! - Ông lớn tiếng, bỏ cả sự dè dặt thường lệ. - Hắn chẳng có tin nhắn gì của mẹ cô hết, cô đã cho hắn một cơ hội, hắn nhận ra điểm yếu của cô và hắn vồ ngay lấy.
Amaia thở dài, bắt đầu tiếc đã nhắc tới việc đó với ông.
– Chính xác thì hắn đã nói gì?
– Cái đó không quan trọng, việc xảy ra tiếp theo mới làm tôi lo lắng. Trong lúc hắn chuyển cái gọi là tin nhắn cho tôi, hắn đã chộp lấy cổ tôi. – Hắn có làm cô đau không? - Markina ngắt lời, hoảng hốt. – Hai lính gác ở trong phòng với chúng tôi không hề nhúc nhích, - chị nói tiếp. - Không, hắn không làm tôi đau, tôi giằng ra và rút lui tới cửa, nhưng lính gác vẫn không động đậy, kể cả lúc tôi quát họ mở cửa. Họ đợi cho đến khi Berasategui cho phép họ làm.
– Cô có chắc là ổn không? Nếu hắn làm cô bị thương… – Tôi ổn, - chị ngắt lời. - Vấn đề là, hai người lính gác hành động như một cặp đã được huấn luyện. Thậm chí Berasategui còn nói đùa về việc họ
mới đần độn làm sao, vậy mà họ vẫn tuân phục hắn hoàn toàn. – Cô đang ở đâu? Tôi muốn gặp cô. Nói cho tôi biết cô đang ở đâu, tôi sẽ tới ngay.
Amaia nhìn quanh, mất phương hướng.
– Giám đốc nhà tù đang ở một hội nghị, và tôi không quen phó giám đốc, nhưng chúng ta cần hành động ngay bây giờ. Ai mà biết có bao nhiêu lính gác đã bị hắn khống chế.
– Tôi sẽ xem xét việc này. Tôi có số điện thoại di động của giám đốc ở đây. Tôi sẽ gọi đề nghị chuyển Berasategui tới nơi an toàn tối đa và giam vào xà lim cách ly. Vấn đề sẽ được giải quyết trong vòng mười phút. Nhưng tôi cần gặp cô ngay bây giờ. Tôi cần biết cô an toàn.
Amaia ngả đầu vào tay lái, cố sắp xếp mọi ý nghĩ. Phản ứng của Markina khiến chị mất bình tĩnh, ông có vẻ lo lắng thực sự và chị thấy phản ứng của ông có thể làm hại chị, chị vừa tức vừa tự mãn.
– Ngài đã nhận được báo cáo của nhà bệnh lý học về vụ Esparza chưa? – Chưa. Tôi muốn gặp cô bây giờ.
– Chị tôi kể ngài đã gọi cho chị ấy.
– Phải. Cô ấy để lại tin nhắn cho tôi qua thư ký, và tôi gọi lại vì lịch sự. Cô ấy muốn biết liệu tôi có coi việc tổ chức tang lễ cho mẹ cô là thích hợp không. Tôi trả lời là tôi không phản đối. Còn bây giờ, tôi có thể gặp cô không?
Amaia bật cười vì sự dai dẳng của ông, và chị cần biết lối giải thích của Flora giả mạo đến đâu.
– Tôi ổn thật mà. Hơn nữa, tôi phải về đồn xem báo cáo của bác sĩ San Martín, nó có thể tới bất cứ lúc nào.
– Vậy thì bao giờ?
– Bao giờ cái gì ạ?
– Bao giờ tôi có thể gặp cô?
– Tôi có cuộc gọi khác, - chị nói dối. - Tôi phải ngắt máy đây. – Thôi được, nhưng hãy hứa với tôi: không được đến gặp Berasategui một mình. Nếu có chuyện gì xảy ra với cô…
Amaia chấm dứt cuộc gọi, nhìn đăm đăm vào màn hình một lát, không nhúc nhích.
9
Bầu trời xám xịt khiến cư dân Pamplona đã đổi tên là Mordor, ở Baztán đã nhường chỗ cho bầu không khí mờ mịt hơn, rõ ràng hơn - một màn sương mờ lung linh lóa mắt, bao phủ cảnh vật trong ánh sáng kỳ quái và che mờ đường chân trời. Đồn cảnh sát Elizondo dường như yên tĩnh lạ thường so với hôm qua, và vừa xuống xe, Amaia nhận thấy sự im lặng này bao trùm như một tấm chăn phủ lên toàn bộ thung lũng, đến mức từ đó chị có thể nghe tiếng rì rào của dòng sông Txokoto, vừa đủ nhìn thấy đằng sau các dinh thự cổ bằng đá. Chị chăm chú nhìn trở lại phòng làm việc: nửa tá ảnh cái giường cũi, con gấu trắng, cái xác trong ba lô, quan tài trống rỗng vì Valentín Esparza đã lấy xác con gái đi, và cuối cùng là báo cáo của nhà bệnh lý học mở sẵn trên bàn chị. San Martín khẳng định ngạt thở là nguyên nhân tử vong. Hình dáng và kích thước mũi con gấu bông hoàn toàn trùng khớp với vết đè lên trán bé gái, và những sợi trắng tìm thấy trong nếp miệng bé là từ đồ chơi này. Những vệt nước bọt trên mặt bé và trên đồ chơi của đứa trẻ là của Valentín Esparza; mùi hôi hám tỏa ra từ đồ chơi liên quan đến một vết nước bọt thứ ba, chưa xác minh được nguồn gốc.
– Cái này chẳng chứng minh được gì, - Montes nhận xét. - Người bố có thể hôn tạm biệt con khi để nó lại nhà bà ngoại.
– Ngoài những điều San Martín khẳng định về những vết nước bọt, tôi đã hỏi bà ngoại có tắm cho bé trước khi đặt nó lên giường không, bà nói là có. Vì thế, bất cứ nước bọt nào của bố mẹ cháu đều được rửa sạch, - Amaia giải thích.
– Một luật sư có thể cãi rằng vào lúc anh ta hôn thứ đồ chơi đã làm đứa trẻ bị ngạt, vì thế chảy nước bọt xuống da đứa trẻ, - Iriarte nói.
Zabalza nhếch lông mày, hoài nghi.
– Hoàn toàn có thể thế, - Iriarte phản đối và nhìn Amaia mong ủng hộ. - Khi các con tôi còn bé, chúng thường đòi tôi hôn đồ chơi của chúng. – Bé gái này mới bốn tháng tuổi, tôi không tin bé đòi bố hôn con gấu. Hơn nữa, Esparza không phải loại người làm những việc như thế. Bà ngoại bé khẳng định hôm đó hắn ta ở trong bếp uống bia trong lúc vợ lên trông con, - Amaia nói, nhặt một tấm ảnh lên kiểm tra kỹ hơn.
– Tôi có thứ này, - Zabalza nói. - Tôi đã kiểm tra các băng hình ở xà lim của Esparza. Tôi không thể đoán ra các từ, kể cả khi tăng âm lượng hết cỡ. Nhưng vì hình ảnh rất rõ, tôi chợt nghĩ gửi nó cho một người bạn làm việc với những người điếc và có thể nhìn khẩu hình mà đoán ra. Anh ấy chắc chắn Esparza nói rằng: “Tôi đã giao nộp nó cho Inguma, giống như mọi vật hiến sinh khác”. Tôi đã kiểm tra từ Inguma và không thể tìm ra người nào có tên hoặc nickname như thế.
– Inguma? Anh chắc không? - Amaia hỏi, ngạc nhiên.
– Bạn tôi nói đúng như thế: “Inguma”.
– Lạ thật, cụ ngoại của bé cũng khăng khăng rằng Inguma chịu trách nhiệm về cái chết của bé. Theo bà cụ, Inguma là một ác ma, một sinh vật ban đêm lẻn vào các phòng ngủ, ngồi lên ngực bọn trẻ trong lúc chúng ngủ say và tước đoạt hơi thở của chúng, - chị nói, nhìn Jonan chờ khẳng định, anh vốn có hai bằng khảo cổ học và nhân chủng học.
– Đúng thế. - Phó thanh tra Etxaide tiếp lời. - Trong văn hóa dân gian truyền thống, Inguma là một trong những sinh vật cổ xưa nhất, độc ác nhất, một ác ma ban đêm chuyên vào nhà các nạn nhân và bóp ngạt họ. Inguma bị coi là chịu trách nhiệm gây ra những cơn ác mộng khủng khiếp
và hiện tượng ngày nay chúng ta gọi là ngừng thở trong khi ngủ, người ngủ ngừng thở vì lý do không rõ ràng. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể xảy ra tử vong. Hầu hết những người bị mắc chứng này là người nghiện thuốc lá hoặc thừa cân. Điều thú vị là ngủ mà mở cửa sổ bị coi là nguy hiểm vi Inguma có thể bước vào dễ dàng, những người có vấn đề về hô hấp thường đóng cửa sổ vào ban đêm, chặn mọi kẽ hở vì tin rằng ác ma có thể lọt qua những khe bé nhất. Lẽ tất nhiên, hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh cũng bị quy cho Inguma, nên trước khi đặt trẻ vào giường, người ta thường niệm thần chú để xua đuổi ma quỷ. Khi nhắc đến phù thủy, phải bắt đầu bằng lời tuyên bố bạn tin vào họ nhưng không sợ họ. Nó như thế này:
Inguma, ta không sợ ngươi.
Ta có thể cầu xin Thượng đế và Đức Mẹ Maria che chở.
Cho đến khi ngươi đếm hết mọi ngôi sao trên trời,
Mọi lá cỏ trên mặt đất,
Mọi hạt cát trên bãi biển,
Ngươi sẽ không đến được với ta.
– Đây là một câu thần chú tuyệt vời, ra lệnh cho ác quỷ thực hiện một nhiệm vụ mất một thời gian vô tận. Rất giống với eguzkilore dùng để chống lại phù thủy, chúng phải đếm toàn bộ các gai nhọn trên cây kế trước khi bước vào nhà. Việc này phải mất cả đêm, và đến rạng đông chúng phải chạy trốn và ẩn nấp. Điều thú vị về Inguma, mặc dù là một trong những ác ma ban đêm ít được nghiên cứu nhất, là chúng giống hệt nhau trong nhiều nền văn hóa khác nhau.
– Tôi muốn thấy Esparza giải thích với thẩm phán Markina rằng con gái của hắn bị ác ma ban đêm giết chết, - Montes nói.
– Hắn không thú nhận đã giết con gái, nhưng cũng không phủ nhận. Hắn khăng khăng nói rằng hắn đã giao nộp nó, - Iriarte giải thích. – “Giống như mọi vật hiến sinh khác”, - Zabalza bổ sung. - Ý hắn là gì đây? Các vị có nghĩ đây không phải lần đầu tiên hắn làm việc này không? – Hắn sẽ khó mà đổ tội được cho quỷ dữ, - Montes nói. - Sáng nay tôi đã nói chuyện với một số hàng xóm của hắn và may mắn tìm ra một người phụ nữ xem bản tin đêm khuya trên tivi. Bà ta “tình cờ” nhìn ra ngoài cửa sổ và trông thấy một cặp về nhà sau khi đi ăn tối ở ngoài. Hai mươi phút sau, bà ta ngạc nhiên nghe thấy tiếng ô tô lại đi. Bà ta nói vì lo đứa trẻ không khỏe nên bà ta lắng nghe. Hai mươi phút nữa, bà ấy nghe thấy tiếng xe trở về. Lần này, bà ấy ngó qua khe nhòm ở cửa trước chỉ để biết chắc đứa bé đã ổn, và thấy Esparza vào nhà một mình.
Iriarte nhún vai.
– Sau đó chúng tôi bắt hắn.
Amaia đồng tình.
– Phải, tất cả đều nhằm vào người chồng, nhưng có ba thứ cần làm rõ: mùi và vết nước bọt trên con gấu, ám ảnh của Esparza không muốn hỏa táng con gái, và ý nghĩa của câu “giống như mọi vật hiến sinh khác”. Mà nhân thể, - chị giơ tấm ảnh đang kiểm tra,- đây là mẹo của máy ảnh hay là thứ gì trong cỗ quan tài?
– Phải, - Iriarte công nhận, - lúc đầu, chúng tôi nhầm là tấm chăn, nhưng giám đốc nhà tang lễ đã cảnh báo chúng tôi. Hình như Esparza đã
đặt ba túi đường quấn trong cái khăn mặt trắng và để trong cỗ áo quan. Vì thế những người khiêng không nhận ra nó trống rỗng.
– Đúng, - Amaia nói, đặt tấm ảnh xuống cạnh những tấm khác. – Chúng ta sẽ đợi và thấy liệu các xét nghiệm về vết nước bọt thứ ba có mở ra tuyến điều tra khác không; có khi hắn vớ được người nào đó trên đường. Làm tốt đấy, - chị nói và ra hiệu cuộc họp kết thúc. Jonan tụt lại đằng sau.
– Mọi việc ổn chứ, sếp?
Amaia nhìn anh, cố che giấu vẻ bứt rứt. Chị đang cố lừa ai kia chứ? Jonan hiểu chị gần như chị tự hiểu mình, nhưng chị nhận thấy không phải lúc nào cũng có thể kể cho anh mọi chuyện. Chị đánh lạc hướng Jonan bằng cách nhắc đến một việc đang làm chị bận tâm.
– Chị Flora của tôi đang ở Elizondo, chị ấy cứ một mực đòi tổ chức tang lễ cho mẹ tôi; chỉ nghĩ đến việc ấy tôi đã cảm thấy buồn nôn; nhưng thế chưa đủ, những người còn lại trong gia đình tôi đều ủng hộ Flora, kể cả James. Tôi đã cố giải thích lý do vì sao tôi nghĩ bà ấy vẫn còn sống, nhưng tôi chỉ càng làm cho họ giận tôi vì đã ngăn cản họ đóng lại một chương trong đời.
– Nếu đây là lời an ủi, thì tôi không tin bà ấy ngã xuống sông. Amaia thở dài, nhìn thẳng vào anh.
– Tất nhiên là thế rồi, Jonan, có rất nhiều thứ… Cậu là một cảnh sát giỏi và tôi tin vào thiên hướng của cậu. Tôi nhẹ cả người vì cậu đứng về phía tôi.
Jonan gật đầu không thuyết phục lắm lúc anh đi vòng quanh bàn thu các bức ảnh.
– Chị có cần tôi đi đâu cùng chị không, sếp?
– Tôi vừa rời khỏi nhà, Jonan ạ, - chị đáp.
Anh cười buồn với Amaia trên đường đi ra, để chị lại với cảm giác quen thuộc là không thể đánh lừa nổi anh.
Lúc lái xe tới sông Txokoto, Amaia đi ngang qua Juanitaenea, tòa nhà của bà nội chị. James dự định phục chế nó để họ sống ở đó; các vật liệu xây dựng anh đã đặt đang ở trên các tấm nâng hàng bên ngoài tòa nhà, nhưng chưa có dấu hiệu hoạt động gì.
Chị định tạt qua xưởng bánh trên đường, nhưng lại quyết định thôi: chị có quá nhiều thứ trong đầu để bàn cãi với Ros về tang lễ. Thay vào đó, chị băng qua cầu Giltxaurdi và đỗ xe cạnh chợ cũ. Chị biết ngôi nhà mình đang tìm ở gần đó, nhưng tất cả các ngôi nhà trên con phố đều giống nhau và chị không thể nhớ nó là nhà nào. Cuối cùng, chị đoán chừng và nhẹ người, mỉm cười khi Elena Ochoa mở cửa.
– Chúng ta có thể nói chuyện được không ạ? - Amaia hỏi bà. Người đàn bà đáp lại bằng cách nắm chặt cánh tay Amaia và kéo chị vào trong nhà, rồi thò đầu ra ngoài nhìn ngược ngó xuôi trên phố. Như trong cuộc viếng thăm lần trước, Amaia đi theo Elena tới căn bếp. Họ không trao đổi lời nào lúc Elena pha cà phê cho cả hai, đặt hai tách lên cái khay nhựa phủ giấy thấm nước. Amaia cảm kích sự yên lặng, mỗi khoảnh khắc bà tỉ mẩn pha cà phê cho Amaia thêm thời gian sắp xếp lại các bản năng - để chị chắc chắn không gọi chúng là ý nghĩ hoặc ý tưởng - đưa chị tới đây. Chúng va chạm lách cách trong đầu chị như tiếng vọng của luồng gió lúc dòng hình ảnh hòa trộn với những thứ đã khắc sâu trong trí nhớ. Chị
tới đó tìm câu trả lời, song chị chưa biết chắc các câu hỏi. Bà cô Engrasi thường bảo chị: “Cháu chỉ tìm ra câu trả lời nếu cháu biết rõ các câu hỏi”. Trong vụ này, tất cả mọi thứ chị dựa vào là một cỗ quan tài nhỏ màu trắng, chất nặng các túi đường và từ “vật hiến sinh”. Một kết hợp báo điềm gở.
Amaia nhận thấy Elena Ochoa cố giữ vững bàn tay lúc xúc đường vào hai cái tách. Bà bắt đầu khuấy, nhưng tiếng thìa chạm vào đồ sứ hình như chọc tức bà, cho đến lúc bà bực mình ném mạnh cái thìa lên khay.
– Thứ lỗi cho tôi, đầu óc tôi tệ quá. Hãy nói cô muốn gì cho xong đi. Đây là tính hiếu khách của Baztán. Elena Ochoa không muốn nói chuyện với chị, trên thực tế bà mong chị rời khỏi nhà và sẽ thở dài nhẹ nhõm khi thấy chị bước ra khỏi cửa, song vẫn không thể từ bỏ nghi thức đáng tôn kính là mời khách ăn hoặc uống thứ gì đó. Bà là một trong những người đàn bà đã làm việc phải làm. An tâm vì ý nghĩ đó, Amaia đưa tay ôm tách cà phê chị không có thời gian để uống, và nói.
– Khi tới đây lần cuối, tôi đã hỏi bà liệu giáo phái có từng tiến hành hiến tế người không…
Nghe câu này, Elena bắt đầu run không sao kiềm chế nổi. – Tôi xin cô… Cô phải đi thôi, tôi không có gì để nói.
– Bà Elena, xin bà giúp tôi. Mẹ tôi vẫn ở ngoài kia. Tôi cần bà cho biết ngôi nhà ấy ở đâu, tôi biết đó là nơi tôi tìm ra câu trả lời. – Tôi không thể… họ sẽ giết tôi.
-Ai?
Bà ta lắc đầu, kinh hãi.
– Chúng tôi sẽ bảo vệ bà, - Amaia nói, bắt gặp cái liếc vào bức phù điêu nhỏ, khắc Đức Mẹ đồng trinh với cây nến lung linh phía trước, một
chuỗi tràng hạt cũ mòn quấn ở bệ,- bên cạnh dựng hai bưu thiếp in hình Chúa Cứu thế.
– Cô không thể bảo vệ tôi khỏi bọn họ.
– Bà nghĩ họ đã tiến hành lễ hiến sinh chứ?
Elena đứng dậy, dốc tuột phần cà phê còn lại vào bồn, quay lưng lại Amaia lúc bà rửa tách.
– Không. Bằng chứng là cô vẫn còn sống; hồi đó, người phụ nữ mang thai duy nhất trong nhóm là Rosario. Tôi đã cảm tạ Chúa một ngàn lần vì đã giữ cho cô an toàn. Có lẽ rốt cuộc họ cố gây ấn tượng với chúng tôi, dọa nạt chúng tôi phải phục tùng bằng cách tỏ ra mình nguy hiểm và uy quyền hơn…
Amaia nắm được cả dãy bùa chú mà Elena xếp quanh mình: người đàn bà tội nghiệp đang ra sức tự thuyết phục rằng bà bình tĩnh, nhưng ngôn ngữ cơ thể đã phản bội bà.
– Elena, bà hãy nhìn tôi, - Amaia ra lệnh.
Elena tắt vòi nước, thả miếng bọt biển và quay ngoắt lại nhìn chị. – Tôi có một người chị sinh đôi chết lúc mới sinh. Nguyên nhân chính thức ghi là hội chứng đột tử của trẻ sơ sinh.
Tái mét vì sợ hãi, bà ta đưa hai bàn tay đặt lên bộ mặt kiệt quệ, ướt nước mắt và hỏi:
– Con bé được chôn ở đâu? Con bé được chôn ở đâu?
Amaia lắc đầu, quan sát người đàn bà nao núng lúc chị tiếp tục giải thích:
– Chúng tôi không biết. Tôi đã tìm ra mộ chị ấy, nhưng quan tài trống rỗng.
Elena rú lên một tiếng kinh hoàng, bản năng và lao tới Amaia, khiến chị đứng phắt dậy, hoảng hốt.
– Ra khỏi nhà tôi ngay! Hãy ra khỏi nhà tôi và đừng bao giờ trở lại! - Bà ta hét lên, dồn Amaia buộc chị phải đi. Trước khi mở cửa, Amaia quay lại lần nữa cầu xin người đàn bà.
– Ít ra bà cũng cho tôi biết ngôi nhà ấy ở đâu.
Sau khi cánh cửa sập lại, Amaia vẫn nghe thấy những tiếng nức nở nghẹn ngào của bà ta vọng ra từ bên trong.
Theo bản năng, Amaia thọc tay vào túi lấy điện thoại và bấm số của đặc vụ Aloisius Dupree. Chị ép chặt máy vào tai lúc trở về xe, chăm chú lắng nghe âm thanh yếu ớt ở đầu dây đằng kia. Chị định ngắt máy thì nghe thấy một tiếng lách tách. Chị biết anh ở đó, đặc vụ FBI đã từng là người cố vấn dày kinh nghiệm của chị trong suốt thời gian chị ở New Orleans, là người đóng vai trò quan trọng trong đời chị mặc dù ở xa. Âm thanh vọng tới chị qua tai nghe một lát khiến cơn run chạy suốt sống lưng chị: tiếng đều đều lặp đi lặp lại của bài hát tang, tiếng vọng của nhiều giọng nói cho thấy một khoảng không rộng lớn, có lẽ là một thánh đường. Một cái gì đó ảm đạm và hung hiểm trong cách lặp lại ba từ hết lần này đến lần khác bằng giọng đều đều. Những tiếng the thé, đau khổ khóc người chết khiến gan ruột chị lộn nhào. Những tiếng than khóc khổ sở kéo dài vài giây rồi nhỏ dần, chị đoán Dupree đã di chuyển ra xa.
Rốt cuộc anh cất tiếng, giọng anh để lộ nỗi khổ não mà chính chị cũng cảm thấy.
– Đừng gọi tôi nữa, tôi sẽ gọi cho cô. - Rồi anh ngắt máy, để lại cho Amaia cảm giác nhỏ bé và xa cách đến mức chị muốn hét lên.
Amaia vẫn đang cầm điện thoại thì chuông reo. Chị nhìn màn hình, vừa hy vọng vừa kinh hãi. Chị nhận ra số ID của FBI và nghe thấy giọng nói thân thiết của đặc vụ Johnson chào chị từ Virginia. Anh thông báo các hội nghị chuyên đề ở Quantico đã được bật đèn xanh và họ mong chị đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến hành vi tội phạm. Hiện tại, họ đang trong quá trình xin phép thượng cấp của chị.
Cho đến thời điểm đó, cuộc nói chuyện của họ không khác gì bất cứ cuộc nói chuyện nào của chị với các nhân viên FBI, nhưng thực tế là chị nhận được cuộc gọi này ngay sau khi gọi Dupree, và điều đặc vụ Johnson nói ngay sau đó đã khẳng định rằng họ đang giám sát các cuộc gọi của chị.
– Thanh tra, chị có liên hệ gì với đặc vụ Dupree không?
Amaia cắn môi, lưỡng lự lúc nhớ lại cuộc nói chuyện với đặc vụ Johnson trước đó một tháng, anh đã khuyên chị đừng sử dụng đường dây điện thoại của cơ quan cho bất cứ việc gì liên quan đến đặc vụ Dupree, và cho chị số đặc biệt để gọi. Trong những dịp hiếm hoi lúc cố liên lạc được với Dupree, giọng anh luôn xa vời vợi, đầy những tiếng vang; lúc nào họ cũng bị cắt liên lạc, và có lần số của anh biến khỏi điện thoại của chị như thể cuộc gọi chưa bao giờ xảy ra. Rồi những email bí ẩn chị nhờ Jonan xem xét, anh vừa dò ra nguồn tới một địa chỉ IP ở Baton Rouge, Louisiana, đúng lúc đó FBI can thiệp, ra lệnh cho Jonan bỏ ngay việc tìm kiếm. Johnson hỏi chị về Dupree dường như anh đã quên những điều chị kể với anh trong cuộc trò chuyện cuối cùng của họ, cụ thể là Dupree luôn luôn trả lời các cuộc gọi của chị. Dù thế nào đi nữa, lúc này Johnson gọi chị vì anh biết chị vừa gọi Dupree. Thông báo là chị được mời đến dự hội nghị chỉ là một cái cớ.
– Không thường xuyên lắm. Thỉnh thoảng tôi gọi để chào hỏi, cũng như với anh vậy, - chị nói, thờ ơ.
– Chị có nói với đặc vụ Dupree về vụ anh ấy đang làm không? Hình như Johnson đang đánh dấu vào tờ câu hỏi kiểm tra nội bộ. – Không, tôi không biết anh ấy đang làm một vụ mới.
– Nếu Dupree liên hệ lại với chị, chị sẽ báo cho chúng tôi chứ? – Đặc vụ Johnson, anh đang cảnh báo tôi có chuyện gì không ổn sao? – Chỉ là mấy ngày gần đây, chúng tôi không liên hệ được với đặc vụ
Dupree. Tôi nghĩ tình hình có hơi phức tạp hơn, anh ấy quyết định án binh bất động vì những lý do an ninh. Chị đừng lo lắng, thanh tra ạ. Tuy vậy, nếu Dupree liên hệ, chúng tôi sẽ rất cảm kích nếu chị cho biết ngay lập tức. – Tôi sẽ làm thế, đặc vụ Johnson.
– Cảm ơn thanh tra, chúng tôi mong sớm gặp chị ở đây.
Amaia ngắt máy rồi ngồi trong xe mươi phút đợi điện thoại reo lần nữa. Lúc chuông reo, chị nhận ra số cá nhân của Johnson trên màn hình. – Có chuyện gì thế, đặc vụ?
– Tôi đã kể với chị, Dupree làm mọi việc theo cách riêng của anh ấy. Chị biết đấy, anh ấy không liên lạc một thời gian là chuyện bình thường khi đang hoạt động bí mật. Tìm thấy đúng lúc có thể rất khó khăn. Tuy nhiên, cùng với việc thái độ của Dupree có phần thiếu tôn kính đã làm họ đặt câu hỏi về nhân thân của anh ấy.
- Ý anh là người ta nghĩ vỏ bọc của anh ấy đã bị lộ?
– Đó là cách giải thích chính thức. Sự thật là người ta cho rằng anh ấy có thể đã bị bắt làm con tin.
– Anh nghĩ sao? - Amaia nói thận trọng, chị tự hỏi có thể tin Johnson đến đâu. Làm sao chị biết chắc cuộc gọi thứ hai này không bị ghi âm? – Tôi nghĩ Dupree biết mình đang làm gì.
– Tôi cũng nghĩ thế, - chị tuyên bố với sự thuyết phục hết mức có thể, lúc những tiếng than khóc kỳ cục chị đã nghe thấy khi Dupree trả lời lại vang lên lần nữa trong đầu chị.
10
Họ dành cả buổi chiều ở trung tâm mua sắm Carretera de Francia, viện cớ mua quần áo cho Ibai và tránh sương mù lạnh lẽo lúc đêm buông. Lúc họ rời đi ăn tối, hầu như không còn trông thấy bờ sông bên kia. Nhà hàng Santxotena tương đối náo nhiệt, tiếng cười nói khe khẽ vẳng tới lúc họ vừa bước qua ngưỡng cửa. Họ có thói quen đặt trước một bàn cạnh bếp, thông ra phòng ăn rộng rãi để có thể ngắm sự phục vụ hối hả của ba thế hệ phụ nữ, đeo tạp dề trắng muốt hồ bột ra ngoài đồng phục đen di chuyển trong bếp dường như đang diễn tập một vũ điệu trang trọng một ngàn lần.
Sau khi chọn rượu vang, James và Amaia hài lòng thưởng thức không khí trong nhà hàng một lát. Họ không đả động đến đề tài tang lễ, và tránh làm tăng thêm sự căng thẳng hiển hiện giữa họ chiều hôm ấy. Họ biết là cần nói chuyện, nhưng có một thỏa thuận ngầm là đợi cho đến khi chỉ còn hai người.
– Cuộc điều tra thế nào rồi? - James hỏi thăm.
Chị nhìn anh, cân nhắc nên trả lời ra sao. Từ khi gia nhập lực lượng cảnh sát, chị thận trọng không bao giờ bàn bạc công việc của mình với gia đình, và họ biết không nên hỏi. Chị không muốn nói chuyện với James về những khía cạnh đáng sợ trong nghề nghiệp của mình, cũng như tốt hơn hết là không nhắc tới những sự kiện trong quá khứ của mình, dù James đã biết. Chị thấy khó nói về thời thơ ấu, và trong nhiều năm chị chôn vùi sự thật dưới vỏ ngoài giả dối. Khi các rào chắn kìm giữ mọi nỗi kinh hoàng mở toang, đưa chị tới ngưỡng lành mạnh, có thể thổ lộ với James về kẽ nứt trên bức tường sợ hãi cho phép ánh sáng tràn vào, tạo ra một chỗ cho họ sát
bên nhau, một chỗ đưa chị trở lại cõi đời mà nếu thận trọng, những bóng ma cũ có thể không chạm được đến chị.
Song, Amaia luôn biết rằng nỗi sợ không bao giờ mất đi hoàn toàn, nó chỉ co lại vào một nơi tối tăm, nhớp nháp và chờ đợi, giảm bớt thành một tia sáng màu đỏ nhỏ xíu có thể vẫn trông thấy dù không muốn, dù ta không thừa nhận sự tồn tại của nó, vì nó cản trở ta khỏi cuộc sống. Chị cũng biết nỗi sợ là việc cá nhân, dù có nói đến đâu hoặc đặt tên nó là gì đi nữa, nó cũng không ra đi; câu nói cũ, sáo mòn “gánh nặng chia đôi sẽ còn một nửa” không áp dụng ở nơi dính líu đến nỗi sợ. Chị luôn tin rằng tình yêu sẽ chiến thắng mọi thứ, sẽ mở toang cánh cửa và chị sẽ tự bộc lộ với James mọi gánh nặng trong quá khứ.
Giờ đây, ngồi đối diện với anh, chị vẫn nhận ra anh chàng điển trai mà chị yêu say đắm. Người nghệ sĩ tự tin, lạc quan không bị ai muốn giết, nhìn nhận mọi sự việc với cung cách đơn giản gần như trẻ thơ, cho phép anh đi theo một con đường không thay đổi, chắc chắn không bị những hành động tàn ác tấn công. Nó cho phép anh tin rằng chỉ cần lật sang trang, chôn vùi quá khứ hoặc nói chuyện với một bác sĩ tâm thần trong nhiều tháng về việc mẹ đẻ thèm ăn thịt mình là sẽ giúp chị vượt qua nỗi sợ, sống trong một cõi đời có những đồng cỏ xanh tươi và bầu trời xanh biếc, chống đỡ bằng những thiện ý đơn giản là nó phải như thế. Kỳ vọng hạnh phúc là một lựa chọn khiến chị ngỡ ngàng vì nó ngây thơ, gần như là xúc phạm. Chị biết James không thực lòng muốn biết công việc của chị diễn biến ra sao, và khi hỏi anh không mong chị giải thích rằng chị đã thẩm vấn một người thần kinh không ổn định về mẹ chị hoặc về cái xác của người chị gái đã biến mất.
Chị mỉm cười với James vì chị yêu anh, vì cách anh nhìn nhận thế giới khiến chị thích thú, vì chị biết rằng yêu, chính là nỗ lực yêu một ai đó. – Rất suôn sẻ. Em đang hy vọng gói gọn vụ này trong vài ngày, - chị đáp.
– Hôm nay anh đã nói chuyện với ba anh. Gần đây ba không được khỏe, mẹ khăng khăng bắt ba đi kiểm tra và người ta phát hiện một tổn thương trong tim ba.
– Ôi James! Có nghiêm trọng không?
– Không, còn mẹ cũng đã bình tĩnh. Hình như ba có một cục nhỏ trong động mạch vành vì xơ cứng động mạch giai đoạn đầu. Ba cần đặt stent để ngăn ngừa những cơn đau tim trong tương lai. Tuy vậy, ba phải ngừng làm việc. Mẹ đang ép ba bàn giao việc quản lý công ty hằng ngày, nhưng ba thích bận bịu, vì thế trong thời gian sức khỏe còn chịu được, ba vẫn muốn điều hành, không biết đến bao giờ. Mẹ hầu như vui vì việc đó, và đã nói đến những chuyến du ngoạn khi ba phẫu thuật xong.
– Em hy vọng mọi việc tốt đẹp James à, và em mừng vì anh hiểu theo cách này. Khi nào ba phẫu thuật?
– Thứ Hai tuần sau. Chính vì thế anh mới hỏi công việc của em ra sao. Anh mong cả ba chúng ta có thể bay cùng nhau. Ba mẹ anh không gặp Ibai từ khi nó rửa tội.
– Ừm…
– Chúng ta có thể ra đi sau tang lễ. Sáng nay chị Flora ghé đến bảo chị ấy định tổ chức vào ngày thứ Sáu. Ngày mai chị ấy sẽ xác nhận lại. Chúng ta chỉ lưu lại vài ngày. Anh không tin em gặp trở ngại gì khi nghỉ phép vào thời gian này trong năm.
Quá nhiều việc chưa giải quyết, quá nhiều thứ cần sắp xếp. Phải, cuộc điều tra sẽ chính thức đóng lại trong vài ngày, nhưng còn nhiều việc khác, chị phải nhận được lời phê chuẩn chính thức từ văn phòng Chánh thanh tra về việc chị có được tham dự các hội nghị chuyên đề ở Quantico, và chị chưa nói gì với James.
– Em không biết, James à… Em phải nghĩ đã.
Nụ cười đông cứng trên mặt anh.
– Amaia, đây là việc thực sự quan trọng với anh, - anh nói, trang nghiêm.
Chị hiểu hàm ý ngay lập tức. Hôm qua, anh đã cho chị một ý niệm lờ mờ. Anh có những nhu cầu của riêng mình, kế hoạch của riêng mình, anh muốn có một vị trí trong đời chị. Hình ảnh những công việc bị trì hoãn ở Juanitaenea lóe lên trong trí chị, cùng những lời của Yanez: “một ngôi nhà không phải là một tổ ấm”.
Amaia với qua bàn, siết tay anh.
– Tất nhiên rồi, nó cũng quan trọng với em, - chị nói và gượng cười. - Ngày mai, việc đầu tiên là em nộp đơn xin nghỉ phép. Như anh nói đấy, em không tin họ phản đối, vì không ai đi nghỉ vào thời gian này trong năm.
– Tuyệt, - James vui vẻ đáp. - Anh đang xem lịch các chuyến bay. Ngay khi em được phép, anh sẽ đặt vé.
Suốt phần còn lại của bữa tối, James trù tính chuyến đi của họ, hào hứng vì lần đầu tiên đưa Ibai đi Mỹ. Amaia lắng nghe, không nói gì.
11
Amaia nhận thấy hơi thở nóng ấm của ông trên da mình, chị bị kích thích mãnh liệt vì cảm nhận sự gần gũi của ông. Ông thì thầm gì đó, tuy không nghe ra nhưng chị không quan tâm, giọng nói của ông có gì đó khiến chị mê mẩn. Nó khêu gợi cảm xúc của khuôn miệng ông, đôi môi ông, nụ cười luôn làm chị xao xuyến. Hít hơi ấm của làn da ông khuấy động sự khao khát của chị, chị thèm muốn ông, mắt nhắm nghiền, chị nín thở lúc cảm giác chịu thua ý muốn. Amaia cảm thấy môi ông ở trên cổ, lướt xuống dưới, chuyển động chầm chậm, không ngừng như dung nham chảy từ núi lửa. Mọi dây thần kinh trong cơ thể chị căng lên trong cuộc đấu tranh mãnh liệt giữa khoái lạc và đau đớn, nài xin nhiều hơn nữa, muốn hơn nữa, tóc trên gáy chị ngứa râm ran, núm vú chị cứng lên, chị cảm thấy nóng bỏng giữa hai đùi. Amaia mở mắt, liếc quanh, bối rối. Ngọn đèn nhỏ chị luôn bật ban đêm cho phép chị nhận ra phòng ngủ quen thuộc của họ trong nhà bà Engrasi. Cơ thể chị căng thẳng, hoảng hốt. James đang thì thầm vào tai chị lúc tiếp tục hôn chị.
Đang là ban ngày, và Ibai đã thức giấc. Chị nghe thấy nó cử động, ríu rít khe khẽ lúc đá lung tung trong không khí, đẩy chăn xuống tận chân giường cũi. Chị không mở mắt ngay, lâu lắm rồi chị mới ngủ lại sau khi họ làm tình, mí mắt còn nặng trĩu, chị tận hưởng cảm giác lười biếng trên giường thêm năm phút nữa. Chị nghe thấy James dậy, bế Ibai và thì thầm với nó:
– Con đói chưa? Ba con mình để ama ngủ thêm tí nữa nhé.
Chị nghe thấy anh bế con ra khỏi phòng, cố thả lỏng vào một giấc ngủ yên bình, không mộng mị nhưng vô ích. Bất chợt, giấc mơ về Markina ùa trở lại. Chị biết rõ hơn bất cứ ai rằng chúng ta không chịu trách nhiệm về những giấc mơ, những hình ảnh tưởng tượng khoái lạc nhất và những cơn ác mộng kinh khủng nhất xuất phát từ một nơi bí ẩn, không với tới được, ngoài tầm kiểm soát của ta. Song chị vẫn cảm thấy tội lỗi. Lúc này đã hoàn toàn tỉnh táo, phát tức vì phải từ bỏ thêm năm phút yên bình, Amaia phân tích cảm giác của bản thân. Chị nhận ra mình cảm thấy tội lỗi không phải vì đã mơ thấy Markina, đúng hơn là chị đã làm tình với chồng vì bị kích thích bởi nỗi khao khát vị thẩm phán.
Lúc James vào phòng mang cho chị tách cà phê, điện thoại của chị để trên bàn cạnh giường reo, âm thanh thật khó chịu.
– Chào Iriarte.
– Chào thanh tra. Chúng tôi vừa nhận một cuộc gọi từ nhà tù Pamplona. Người ta tìm thấy Berasategui đã chết trong xà lim của hắn. Chị ngắt máy, nhảy phắt dậy, mặc quần áo giữa hai ngụm cà phê. Chị không thích uống kiểu này, chị nhiễm thói quen uống cà phê sáng trên giường từ hồi còn là sinh viên, nó nhắc chị cách bắt đầu một buổi sáng ưa thích hơn. Sửa soạn gấp gáp là thứ chị ghét cay ghét đắng; nó luôn là điềm báo trước một ngày tệ hại.
Giám đốc nhà tù đang đợi họ ở lối vào, ông ta đi đi lại lại như một con thú trong chuồng. Ông giơ tay lịch thiệp rồi mời họ theo mình vào văn phòng. Amaia từ chối, đề nghị xem xét cái xác ngay lập tức.
Một người gác tháp tùng họ qua nhiều cổng an ninh khác nhau cho đến lúc tới các xà lim cách ly. Có thể nói ngay cái nào là của Berasategui vì có lính gác bên ngoài cánh cửa bằng kim loại.
– Bác sĩ không tìm thấy dấu hiệu bạo lực trên xác chết, - viên giám đốc giải thích.— Hôm qua, hắn được đưa tới xà lim cách ly theo yêu cầu của thẩm phán Markina, và từ lúc đó không chuyện trò với ai. - Ông ta ra hiệu cho người gác mở khóa cửa, rồi dẫn họ vào trong.
– Nhưng phải có người vào đây chứ, - thanh tra Montes nói, - để khẳng định rằng hắn đã chết.
– Một trong những lính gác nhận thấy hắn không động đậy và cảnh báo. Những người duy nhất đã vào xà lim là bác sĩ của trại giam để khẳng định hắn đã chết, và tôi. Chúng tôi gọi điện cho các vị ngay lập tức. Có lẽ hắn chết vì nguyên nhân tự nhiên.
Xà lim không có các vật dụng cá nhân, sạch sẽ và ngăn nắp, đồ trải giường phẳng phiu đúng kiểu quân sự. Bác sĩ Berasategui nằm ngửa trên giường, ăn vận đầy đủ, đi giầy, mặt thư thái, mắt nhắm nghiền. Mùi nước hoa tràn ngập xà lim, quần áo thanh lịch hoàn hảo, đôi bàn tay đan lại trên ngực, gây ấn tượng là một xác ướp.
– Ông nói là nguyên nhân tự nhiên ư? - Amaia cau mày. - Đây là một người đàn ông ba mươi sáu tuổi, giữ gìn bản thân sung sức, thậm chí trong căn hộ của anh ta có cả một phòng tập thể dục. Không những thế, anh ta còn là bác sĩ, và là người đầu tiên biết mình không khỏe, ông không nghĩ thế sao?
– Tôi phải công nhận rằng đây là thi thể trông đẹp mã nhất tôi từng thấy! - Montes đùa và huých Zabalza đang chiếu đèn pin khám xét xung
quanh xà lim.
Amaia xỏ đôi găng phó thanh tra Etxaide đưa và đến gần giường. Chị lặng lẽ quan sát cái xác kỹ càng trong vài phút, cho đến khi nhận ra bác sĩ San Martín đang đứng sau chị.
– Chúng ta có gì đây, thanh tra? Giám đốc nhà tù bảo tôi không có dấu hiệu bạo lực và gợi ý tử vong vì các nguyên nhân tự nhiên. – Ở đây không có đồ vật nào để hắn có thể làm mình bị thương, - Montes nói, - và dù nguyên nhân cái chết là gì đi nữa, các vị có thể thấy hắn không đau đớn.
– Nếu các vị đã xong việc ở đây, tôi sẽ đưa hắn đi. Kết quả khám nghiệm tử thi sẽ có vào cuối hôm nay.
– Berasategui không chết vì nguyên nhân tự nhiên, - Amaia xen vào. Những người khác lặng thinh và chị nghĩ đã nghe thấy Zabalza thở dài. - Nhìn cách hắn chuẩn bị trước, ở ngay giữa giường mà xem. Quần áo vuốt phẳng phiu, giày đánh bóng. Bàn tay đặt đúng như hắn muốn chúng ta thấy khi bước vào đây. Hắn là tên kiêu ngạo, chú ý chăm sóc bản thân đến mức hão huyền, không bao giờ để chúng ta thấy hắn trong tư thế bối rối hoặc bẽ mặt.
– Tự tử không khớp với tiểu sử một người có tính cách quá yêu mình, - Jonan đánh bạo nhận xét.
– Phải, tôi biết, đó chính là điều khiến tôi bối rối khi chúng ta vào. Một mặt, nó khớp; mặt khác, nó không khớp. Tự tử có thể là đặc thù của người có cá tính như hắn, nhưng nếu Berasategui định kết liễu đời mình, thì đó chính là việc tôi hình dung hắn sẽ làm.
– Nhưng cái xác cho thấy không có dấu hiệu tự tử, - Zabalza phản đối.
Bị tính tò mò thúc giục, San Martín đến gần xác Berasategui, sờ vào cổ hắn, nâng mí mắt hắn và nhìn xuống cổ họng hắn.
– Mọi dấu hiệu cho thấy là một cơn đau tim, nhưng trên thực tế hắn tương đối trẻ và đang sung sức. Mặt khác, không có thương tích, không có vết thương vì tự vệ hoặc dấu hiệu tổn thương khác. Ai cũng có thể nghĩ, - bác sĩ nói và nhìn cả nhóm, - rằng hắn nằm xuống và chết.
– Hoàn toàn đúng, thưa bác sĩ. Đó chính xác là việc hắn làm: nằm xuống và chết. Nhưng để làm được việc đó, hắn cần giúp đỡ. Hắn bị cách lỵ bao lâu rồi? - Amaia hỏi viên giám đốc.
– Từ gần mười một giờ sáng hôm qua, ngay sau khi thẩm phán Markina gọi cho tôi. Tôi đi vắng, nhưng phó của tôi đã thông báo, mười lăm phút sau khi chuyển hắn đi.
– Trong các xà lim cách ly có camera không? - Montes hỏi, chiếu đèn pin vào các góc phòng.
– Không, không cần thiết. Lính gác giám sát tù nhân trong xà lim cách ly qua ô kính ở cửa xà lim. Nhưng chúng tôi có CCTV ở ngoài, trong các hành lang. Tôi nghĩ các vị muốn xem băng, nên đã chuẩn bị một bản sao. – Hai người gác hắn hôm qua thì sao?
– Họ bị tạm đình chỉ, trong khi điều tra sự việc kia nữa, - giám đốc đáp, trông lo lắng.
Montes và Etxaide không biết “sự việc kia” là gì, quay nhìn chị chờ giải đáp. Phớt lờ họ, Amaia đến gần cái giường lần nữa và nói: – Bác sĩ Berasategui không muốn chết, nhưng tính cách của hắn không cho phép bất cứ người nào lấy đi mạng sống của hắn.
– Bác sĩ Berasategui không muốn chết, song đã tự sát…?
Chị cúi xuống cái xác, chiếu đèn pin vào mặt hắn. Nước da rám nắng của Berasategui để lộ cặn trăng trắng đọng trong các nếp nhăn quanh mắt. – Những giọt nước mắt, - San Martín tuyên bố.
– Đúng, thưa ông, - chị đồng tình. - Thực ra với bản tính quá yêu bản thân, Berasategui nằm xuống đây, tự thương thân và khóc cho cái chết của mình. Khóc rất nhiều, - chị nói, sờ một dải vải rõ ràng sẫm hơn phần còn lại. - Hắn khóc nhiều đến nỗi nước mắt ướt đẫm gối.
"""