"Đột Phá - Hành Trình Thay Đổi Thế Giới Của Một Thần Đồng Khoa Học - Jack Andraka & Matthew Lysiak full prc pdf epub azw3 [Self Help] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Đột Phá - Hành Trình Thay Đổi Thế Giới Của Một Thần Đồng Khoa Học - Jack Andraka & Matthew Lysiak full prc pdf epub azw3 [Self Help] Ebooks Nhóm Zalo a Mục lục 1. PHẦN MỞ ĐẦU - CAN THIỆP 2. Chương 1 - Andraka đang tuổi ăn tuổi lớn 3. Chương 2 - Thằng khùng trong tủ áo 4. Chương 3 - Công thức tạo thảm họa 5. Chương 4 - Phương thuốc tri thức 6. Chương 5 - Nghĩ đến người bệnh 7. Chương 6 - Liên tiếp thất bại 8. Chương 7 - Cậu bé giấy ung thư 9. Chương 8 - Lạy chúa, chúng tôi đã giết Morley Safer? 10. Chương 9 - Đột phá 11. Đột phá 12. Lời tri ân 13. TRƯỜNG HỌC CỦA JACK 14. Thí nghiệm 15. Thí nghiệm #1 - Tự làm đèn đối lưu 16. Thí nghiệm #2 - Chiếc xương cao su kỳ thú bẻ cong được 17. Thí nghiệm #3 - Tự làm kẹo cứng 18. Thí nghiệm #4 - Những bong bóng mạnh mẽ không vỡ 19. Thí nghiệm #5 - Bác sĩ Jekyll và ông Milk 20. Thí nghiệm #6 - Xem giờ nhờ khoai tây!! 21. Thí nghiệm #7 - Cốc hút 22. Thí nghiệm #8 - Nhà khoa học điên 23. Thí nghiệm #9 - Tạo mây mưa trong chai 24. Thí nghiệm #10 - Tự chế mô-tơ 25. Làm toán với chú Ted 26. Nhận thức về bắt nạt 27. Nhận thức về LGBTQ LƯU Ý CỦA TÁC GIẢ XIN LƯU Ý QUÝ VỊ PHỤ HUYNH: Cuốn sách này đề cập đến rất nhiều thí nghiệm có thể gây nguy hiểm nếu không được thực hiện chính xác theo chỉ dẫn và có thể không phù hợp với trẻ nhỏ. Thí nghiệm chỉ nên được thực hiện dưới sự giám sát của người lớn. Tác giả và Nhà xuất bản hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý trước bất kỳ thương tích và tổn hại nào bắt nguồn từ những thí nghiệm trong cuốn sách này. Người gửi: _____________ Người nhận: _______________ Ngày: 22 tháng 4 năm 2011 Nội dung: Sản phẩm kháng nguyên và kháng thể ung thư tuyến tụy RIP1 Kính gửi cậu Andraka, Tôi lấy làm tiếc phải thông báo rằng cảm ứng được đề xuất trong thủ tục đính kèm không thể thực hiện theo chức năng dự kiến. Việc sử dụng thiết bị ống bán dẫn nano cacbon đòi hỏi một nguồn lực khổng lồ, dẫn đến sản phẩm cuối cùng sẽ vô cùng đắt đỏ, vô cùng mong manh với độ nhạy cảm và chọn lọc kém. Mong cậu cân nhắc việc thử những phương án khác. Kính thư PHẦN MỞ ĐẦUCAN THIỆP B Ố MẸ NGỒI TRÊN CHIẾC GHẾ BÀNH trước mặt tôi, mặt buồn rười rượi. “Jack, con nghĩ ý tưởng này hơi bất bình thường không?” Một lần nữa, ánh nhìn âu lo lại hiện lên trên gương mặt bố tôi. Hai hàng lông mày của ông chau lại, tay chống dưới cằm. Mẹ ngồi cạnh bố. Bà khoanh tay trước ngực, chăm chú nhìn thẳng vào tôi. Bố mẹ vừa buộc phải ngồi xem lại tình hình sau cuộc gọi từ tư vấn viên học đường của tôi. Tôi mới biết tư vấn viên học đường thường sẽ gọi về nhà khi học sinh cố gắng tự sát trong nhà tắm. “Jack, bố mẹ thực sự không muốn con đau đớn hay tổn thương.” Mẹ nói. Bà nghĩ rằng tôi không thể chịu được áp lực. “Con đã rất cố gắng. Có lẽ đã đến lúc thay đổi, hoặc hướng đến một mục tiêu khác.” Mẹ tiếp lời. Một mục tiêu khác? Nghĩa là bỏ cuộc ư? Tôi đã bỏ bộn thời gian và chiến đấu ngoan cường. Và tôi… sắp… làm được rồi. Rõ ràng, tất cả những điều này là quá sức chịu đựng với bố mẹ tôi. Tôi đọc được điều đó trong ánh mắt và cử chỉ của họ. Họ cảm thấy bắt buộc phải nhắc nhở tôi nhìn vào thực tế. Nhưng tôi lại cảm thấy bắt buộc phải lờ đi. Tôi thực ra đã không còn lắng nghe được gì nữa. Tôi thờ thẫn cả người. Tôi gần như đoán trước được bố mẹ sắp nói gì, bởi đã nghe đi nghe lại những cuộc tranh luận ấy hàng nghìn lần trong chính đầu mình. Các cuộc tranh luận ấy thường đặt ra những vấn đề kiểu như thế này: Mình nghĩ mình là ai cơ chứ? Mình tưởng mình biết nhiều hơn tất cả những chuyên gia, tiến sĩ khoa học đó ư? Mình nghĩ ý tưởng của mình sẽ thành công ư? “Jack, dù con có tin vào ý tưởng của mình nhiều thế nào đi chăng nữa, thì tất cả chúng ta đều biết nó không thể thành hiện thực vì chẳng ai đồng ý cho con thử nghiệm trong một phòng thí nghiệm thực sự.” Tôi thấy kiệt sức. Tôi không thể nhớ nổi lần cuối mình được ngủ ngon là khi nào. Ròng rã nhiều tháng, tôi chẳng duy trì được bất cứ thứ gì, ngoại trừ hoóc-môn adrenalin hưng phấn. Tôi băn khoăn, khi mình sụp đổ, mọi thứ có phải cũng giống thế này chăng? “Con nghĩ rằng, nếu con tìm ra cách mới để phát hiện ung thư tuyến tụy, thì một trong những bác sĩ kia sẽ cho con cơ hội áp dụng ư?” Gần hai trăm nhà khoa học. Không một ai nghĩ rằng ý tưởng của tôi đủ độ tin cậy. Điều mà bố mẹ tôi không thể thấy, không ai có thể thấy, đó là, trong mường tượng của tôi, mọi thứ đã rất rõ ràng. Một giọt máu trên một que giấy thử. Đó là tất cả những gì cần thiết để xét nghiệm ung thư tuyến tụy. Quá đơn giản! Nếu đúng như dự đoán thì tôi đã ở rất gần một bước đột phá xét nghiệm tầm soát ung thư sớm, có thể cứu sống hàng triệu người. Dẫu vậy, sẽ chẳng nghĩa lý gì nếu tôi không đưa được nó vào phòng thí nghiệm. Bố mẹ quay sang nhìn nhau. Họ cuối cùng cũng đưa ra quyết định. Họ biết tôi cần sự hỗ trợ của họ đến mức nào. Không có họ, tôi sẽ chẳng thể chi trả cho nghiên cứu hay dụng cụ cần thiết. Sau rốt, vì mới mười bốn tuổi, tôi chẳng thể tự lái chiếc wagon của gia đình. Cuối cùng, mẹ tôi chốt lại: “Thôi được, cứ thế xem sao!” Đó không hẳn là một lời tán thành, nhưng vậy là đủ. Chú tôi vừa mới qua đời. Tôi phải đương đầu với bệnh trầm cảm và tệ bắt nạt suốt nhiều năm. Tôi chỉ còn biết bấu víu vào ý tưởng này. Và giờ đây, tôi không muốn bỏ cuộc. Nhất là khi tôi đã ở rất gần vạch đích. Thử nghiệm của tôi đã thành công. Tôi biết. Tôi chỉ cần chứng minh nó với phần còn lại của thế giới. Tôi chỉ cần một cơ hội. Chương 1Andraka đang tuổi ăn tuổi lớn N GÔI NHÀ NƠI TÔI SINH RA, nếu thoạt nhìn cũng từa tựa bao ngôi nhà khác ở khu ngoại ô Maryland. Nhưng bên trong đó lại bùng nổ một nguồn năng lượng sáng tạo. Bố mẹ tôi quan niệm cuộc đời là một trò thách đố vĩ đại và nhiệm vụ hết sức vui vẻ của chúng ta là khám phá những bí ẩn bất tận của nó. Dịp sinh nhật ba tuổi, bố mẹ tặng tôi một mô hình dòng sông bằng nhựa dài 1,8 m, có nước thật chảy bên trong. Bố Steve của tôi, một kỹ sư xây dựng, nghĩ nó thật thú vị và giàu tính giáo dục. Tôi dành hàng giờ thả bọt và những thứ khác xuống dòng sông nhỏ. Tôi ngẩn người khi quan sát thấy, việc xếp những mẩu đá lớn nhỏ khác nhau trên dòng chảy sẽ cản trở và làm thay đổi dòng chảy. Thí nghiệm khoa học đầu tiên của tôi – đánh chìm vỏ chuối – đã thành công rực rỡ. Khi tôi vào tuổi ăn tuổi lớn, mẹ Jane của tôi đã biến mỗi chuyến ô tô buồn chán thành một cuộc thi trí tuệ giữa tôi và anh Luke. Thường thì, thử thách bắt đầu bằng một câu hỏi vu vơ của mẹ. “Điều gì sẽ xảy ra nếu Mặt trời đột nhiên biến mất? Bắt đầu!” Trên băng ghế sau, hai anh em tôi đua nhau đáp. “Trái đất sẽ thình lình chệch khỏi quỹ đạo.” Anh tôi hét lên. “Trời sẽ lạnh căm.” Tôi thêm vào. Não tôi hoạt động cực nhanh, nhưng anh Luke còn nhanh hơn. “Chúng ta sẽ không phát hiện ra Mặt trời biến mất trong vòng tám phút, bởi đó là thời gian ánh sáng cần để di chuyển.” Anh ấy quá thông minh và anh ấy ý thức được điều đó. Thật là huênh hoang! “Không phải thế!” Tôi phản đối. “Tra cứu đi!” Anh tôi bình tĩnh đáp với vẻ hơi tự mãn. Chúng tôi đều biết rằng anh nói đúng. Thói dễ ghét của anh ấy chính là luôn luôn đúng. Sau khi cảm thấy não anh em tôi đã kiệt quệ bởi dạng câu hỏi nào đó (hoặc khi đoán tôi sắp phát hờn vì con-mệt-với-trò-này-rồi), mẹ sẽ đột ngột chuyển sang dạng khác. Đôi khi, mẹ còn cắt cả lời chúng tôi. “Hãy tưởng tượng một con ếch đang nhảy trên một dãy số. Nó luôn nhảy trên những số giống nhau, nhưng ta không biết khoảng cách là bao nhiêu. Nếu muốn bắt ếch, ta phải vồ tại những số nào? Bắt đầu!” Anh Luke và tôi thốt ra những con số khác nhau. “Không, ba, bảy!” Anh Luke reo to. “Một, bốn, chín!” Tôi xen vào. Chúng tôi biết ai là người đưa ra câu trả lời đúng dựa trên lời khen của mẹ, và thường là: “Giỏi lắm, Luke!” và ngay sau đó là tiếng thở dài đầy hậm hực của tôi. Tôi không thể nhớ nổi liệu có lúc nào đó, mình không mong được giống như anh trai. Dường như anh ấy đã định làm gì thì sẽ làm được, nhất là những việc liên quan đến máy tính, trò chơi điện tử, toán hay lắp ráp. Đặc biệt là lắp ráp. Luke, chỉ ra đời sớm hơn tôi hai năm, vô cùng yêu thích xây lắp. Từ khi còn nhỏ, anh ấy đã thích cầm chiếc tua-vít Phillips nhỏ đi khắp nhà để tháo lắp đủ thứ vật dụng. Đôi khi anh ấy lỉnh đi đâu đó vài tiếng đồng hồ với một chiếc đài hỏng mà ai đó ném vào thùng rác. Sáng chủ nhật, khi hầu như đứa trẻ con nào cũng chúi đầu vào hoạt hình thì tôi thức giấc và thấy Luke lủi vào một góc nào đó làm việc như một nhà khoa học điên loạn. Khi tôi lò dò bước vào để ngó xem Luke đang làm gì, anh ấy nhìn tôi như thể một con mèo tinh quái vừa túm được chuột và quyết bảo vệ chiến tích của mình khỏi những kẻ ngoài cuộc. Biết anh ấy không muốn bị quấy rầy nên tôi luôn giữ một khoảng cách an toàn và quan sát. Xem Luke làm việc thú vị hơn xem hoạt hình cả tỷ lần. Khi tôi chuẩn bị vào tiểu học, Luke dạy tôi chơi cờ đam Trung Quốc. Tôi rất hiếu thắng, lúc nào cũng muốn “hạ gục” anh. Ngoài việc dắt lưng thêm những khái niệm chiến thuật, chơi cờ với Luke còn mang đến cho tôi cơ hội để kiểm tra sự dữ dội trong ánh mắt mình. Tôi mơ tưởng rằng tia nhìn chăm chú của mình có thể xuyên qua sọ anh, cản trở sức mạnh tinh thần và buộc anh phải trao cho tôi chiến thắng đầu tiên. Tôi chơi và nhìn chăm chú, nhìn chăm chú và lại chơi, nhưng dù có nhìn đến long cả mắt thì tôi vẫn phải nếm mùi thua cuộc. Sau khi thua vẫn hoàn thua, tôi nhìn trừng trừng anh thêm một lúc. Anh chỉ cười, vỗ vai tôi và nói: “Biết đâu lần sau em thắng thì sao.” Cả hai chúng tôi đều biết rằng, đó chỉ là lời nói đãi bôi. Dù thái độ hớn hở của anh khiến tôi bực bội, nhưng có vẻ như anh chẳng mấy bận tâm. Anh liên tục tiến lên và thực hiện những cuộc chinh phục trí tuệ mới. Những ngày mưa, anh em tôi tranh nhau chiếc máy tính trong nhà. Màn hình của chiếc máy này khá lớn, tôi khoái nhìn dòng chữ và con số hiện ra trước mắt mỗi khi chạm vào bàn phím. Khi học lớp ba, tôi đã có thể mở các ứng dụng để vẽ tranh hay viết truyện. Chẳng bao lâu sau, tôi đã đóng, mở thành thạo các trình duyệt mà chú Ted dạy. Chú là người đầu tiên gợi mở cho tôi về sức mạnh của Internet. Chú luôn bảo: “Hãy dùng công nghệ. Nó phù hợp với bộ não của cháu.” Chú nói đúng. Quả là vậy thật. Tôi choáng ngợp trước kho thông tin đồ sộ bên trong chiếc máy. Đối với một đứa trẻ tám tuổi như tôi thì dường như toàn bộ tri thức trong vũ trụ có thể được khám phá nhờ bấm đúng phím cần thiết. Chú Ted và tôi có một mối liên kết đặc biệt. Chú không phải chú ruột tôi, nhưng bởi chú đã xuất hiện từ khi tôi nhận thức được thế giới này, thế nên, chú là một phần của gia đình. Nhiều hồi ức đẹp đẽ thuở ấu thơ của tôi thuộc về những buổi sáng mùa hè, khi chú Ted đến đón và dẫn tôi đi bắt cua. Đêm trước ngày đi bắt cua hệt như đêm Giáng sinh vậy. Tôi lôi sẵn quần áo ra khỏi tủ và đặt chuông báo thức sớm hơn hẳn một tiếng, kiểm tra đi kiểm tra lại xem chuông có chắc chắn kêu không… rồi mới leo lên giường. Nhưng dù đặt báo thức sớm đến mức nào, tôi vẫn luôn thức giấc trước lúc chuông reo. Tôi sẽ mặc quần áo thật nhanh và chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ phòng ngủ, chờ được trông thấy ánh đèn pha từ chiếc xe màu xanh cà tàng lùi trên lối vào ga-ra. Cuối cùng, chú cũng đến. Tôi nhảy tót lên băng ghế sau xe. Chú Ted là một người cao lớn, chắc nịch, mái tóc nâu của chú gần như chạm vào trần xe. Chú cười: “Chào Jack! Cháu đã sẵn sàng chưa?” “Dạ rồi ạ!” Trong một tiếng chạy xe đến nơi đậu thuyền, chú cháu tôi rôm rả bàn cách bắt cua. Hai chú cháu đến nơi khi Mặt trời vừa chiếu rọi khắp Chesapeake1. 1. Một thị trấn thuộc quận Cecil, bang Maryland, Mỹ. Khi chú Ted tìm được một điểm dừng vừa ý trên vịnh, chúng tôi lấy những chiếc lồng cua – to bằng cái cũi chó cỡ vừa – và mắc cổ gà vào làm mồi trước khi thả chúng xuống nước. Vài giờ sau đó, chúng tôi dong thuyền trên mặt nước và nói hết chuyện này đến chuyện khác. Đặc biệt là chuyện tương lai. “Cháu đã quyết định sẽ làm gì khi lớn lên chưa, Jack?” Chú hỏi. “Cháu sẽ trở thành một bác sĩ ạ.” Tôi nói. “Tại sao?” “Cháu muốn giúp mọi người khoẻ mạnh ạ.” Tôi tự hào đáp. Chú mỉm cười. Chờ một lúc cho lũ cua bò vào lồng, chú Ted vòng thuyền lại nơi thả cái lồng đầu tiên còn tôi thì giúp chú kéo lồng cua lên mạn thuyền. Những chiếc lồng giờ đây nhỏ nước tong tong và nặng trịch với lũ cua bên trong. Đôi khi, có chú cua nhỏ thoát ra khỏi lồng, cuống cuồng bò khắp mạn thuyền hòng thoát thân, và nhiệm vụ của tôi là lần theo truy bắt. May là tôi nhanh hơn tụi cua. Nếu cua quá nhỏ, tôi sẽ ném chúng về lại mặt nước. Sau một tiếng “tõm” nhỏ xíu, chúng biến mất giữa những đợt sóng. Tôi thấy mãn nguyện hơn cả khi trở về sau một ngày bẫy cua mệt nhọc. Về đến nhà, chú Ted hấp cua còn tôi thì trải giấy báo ra kín chiếc bàn ngoài trời. Tối hôm đó, cả nhà quây quần chuyện trò vui vẻ và ăn cua. Chúng tôi dùng búa gỗ và dĩa nhỏ để gỡ những mẩu thịt cua thơm mềm cho đến khi chiếc bàn đầy ắp vỏ cua lộn xộn và sực mùi hải sản hấp. Từ chỗ ngồi bên bàn ăn trẻ nhỏ, tôi nghe tiếng chú Ted phá lên cười như pháo rang. Dẫu không nghe rõ những lời người lớn nói, nhưng tiếng cười vẫn lan ra khắp chốn. Trong khi mê mải nghe tiếng dế kêu ngoài cửa sổ, tôi thường thiếp đi vì mệt và no kễnh. Nhà chúng tôi nằm giữa những vạt rừng xanh mướt. Những con đường mòn trải đi muôn hướng. Vào các buổi tối và ngày cuối tuần, anh em tôi thường tranh thủ khám phá chúng, đặc biệt là những con đường tăm tối, quanh co. Chúng tôi gặp đủ thứ, từ chuột chũi, sóc đến rắn. Một trong những đường mòn dẫn đến con lạch, nơi Luke và tôi săn tìm kỳ giông. Kỳ giông ưa trốn dưới đá nên anh em tôi chia nhau lật đá lên và vồ lấy chúng. Thân chúng nhèm nhẹp, dấp dính, lấp loáng những chấm màu sáng. Anh em tôi ghé sát nhìn, xem chúng bò ngoằn ngoèo và ánh sáng phản chiếu trên da chúng rồi thả đi. Sau một ngày dài khám phá, chúng tôi về nhà, nơi có món nui phô mai nóng hổi sở trường của bố đang chờ. Hồi tôi học tiểu học, mẹ thường xuyên vắng nhà. Thị trấn Crownsville của chúng tôi nằm ngay rìa Annapolis, cách bắc Washington, D.C. khoảng một tiếng chạy xe. Nhưng mẹ tôi không làm gần đó. Mỗi thứ bảy, cả nhà tôi lại chất đồ lên chiếc xe wagon rồi đưa mẹ đến sân bay. Sau đó, mẹ sẽ bắt chuyến bay đến Cleveland, bang Ohio, nơi mẹ làm chuyên viên điều dưỡng gây mê. Năm ngày sau, cả nhà lại đón mẹ về. Cứ nghĩ đến việc mẹ mình là một bác sĩ chuyên ru ngủ, tôi lại thấy phấn khích tột độ. Ngay khi vừa đủ lớn để trò chuyện, tôi bắt đầu biết mè nheo đòi bay đến Ohio để xem mẹ làm việc. Tôi muốn chứng kiến một cuộc phẫu thuật thực sự. Suốt hàng giờ liền, tôi mò mẫm các đoạn băng ghi hình phẫu thuật trên mạng. Xem các bác sĩ “mở” cơ thể người ra còn thú vị hơn cả xem anh Luke tháo tung chiếc đài. Tôi chẳng thấy ghê gai gì. Dẫu vậy, khi mẹ quyết định cho tôi và Luke cùng bay đến Cleveland, thì đó lại không phải chuyến thực tế tại bệnh viện. Thay vào đó, mẹ cho chúng tôi về nông trại một tuần. Nghiêm túc đấy! “Trẻ con thích nông trại mà.” Bà vừa nói vừa vẫy tay chào tạm biệt. “Các con sẽ cực kỳ vui cho mà xem.” Tôi đã trải qua một quãng thời gian tồi tệ. Mười hai tiếng mỗi ngày, anh em tôi vừa hì hục xúc phân bò vừa chống chọi với cơn rét buốt và lớp tuyết dày gần hai mét chực vùi thây. Tôi chưa bao giờ khao khát được trở về Crownsville đến thế. Ít nhất, tôi cũng hiểu rằng, lớn lên mình không muốn làm nông dân. Năm sau đó, khi mẹ nhận việc ở Washington, D.C., tôi sung sướng ngất ngây. Không phải chỉ bởi khoảng cách gần hơn khiến cả nhà có nhiều thời gian bên nhau hơn. Quan trọng hơn là giờ đây, mẹ không cần đi máy bay để đến chỗ làm, và như thế, tôi có thể tận mắt xem phẫu thuật! Ngày trọng đại đó đến vào năm tôi học lớp hai. Tôi mặc bộ đồ phẫu thuật màu xanh và rửa tay bằng loại xà phòng đặc biệt. Đó là một ca mổ đơn giản. Bác sĩ sẽ cắt u máu ở chân người bệnh. Vai trò của mẹ tôi trong ca mổ dường như khá mờ nhạt. Bà chỉ đứng trông chiếc máy gây mê tẻ ngắt. Điều khiến tôi kinh ngạc là kỹ năng và thao tác chính xác của các bác sĩ quanh bàn mổ. Toàn bộ ca mổ chỉ kéo dài bốn mươi phút, nhưng từng giây từng phút đều khiến tôi phải há hốc miệng ngạc nhiên. Trông các bác sĩ thật bình tĩnh khi cắt vào chân người bệnh. Càng tìm hiểu về phẫu thuật qua mạng, tôi càng thấy công việc của mẹ vô cùng hấp dẫn. Tôi ngồi khoanh chân trong bộ đồ ngủ tất-liền quần, nghe mẹ kể về công việc và thấy còn hay hơn cổ tích! Mẹ giải thích về những phản ứng hóa học xảy ra khi các chất gây mê khác nhau được đưa vào cơ thể bệnh nhân, khiến họ rơi vào trạng thái ngủ sâu, không còn cảm thấy những nhát dao mổ cắt vào người. Điều này hơi khó hiểu với tôi – nhưng tôi chắc mình cảm nhận được! Câu chuyện khiến tôi càng thêm háo hức. Tôi hỏi hết câu này đến câu khác. Tôi thích nghe chuyện về những bệnh nhân của mẹ. Một trong số đó là chuyện về người phụ nữ quá khổ đến khám vì đau tức ngực. Các bác sĩ quyết định phẫu thuật cho bà và mọi thứ đều ổn thỏa cho đến khi ca phẫu thuật xong xuôi, bà tỉnh dậy. Kíp mổ sững người nhìn bà thọc tay vào dưới lớp thịt nhão xệ. Vài giây sau, bàn tay bà lại xuất hiện, nắm chặt một chiếc bánh bông lan Twinkie. Kíp mổ khiếp đảm ngừng tay lại và kinh hãi nhìn bà nhét chiếc bánh vào miệng. Về sau, họ mới biết đây là trò mà bà thường chơi cùng chồng. Họ giấu bánh kẹo vào những bộ phận khác nhau trên cơ thể. Bà chỉ giải thích đơn giản rằng: bà tỉnh giấc và thấy đói meo nên lấy bánh ra ăn. Chẳng bao lâu sau, mẹ bắt đầu áp dụng triết lý giáo dục cốt lõi của mình, rằng trẻ con nên đăng ký tham gia các hoạt động ngoài trời và được phép chọn điều chúng thích. “Sống là phải tìm kiếm đam mê, Jack ạ!” Mẹ tôi rất chuộng châm ngôn. Điều đó cho ta nhiều kinh nghiệm – và cả thất bại nữa. Đầu tiên, bố mẹ mua một chiếc piano cho Luke và mời một quý bà người Nga – từng được đào tạo tại nhạc viện – về nhà dạy nhạc. Tôi cũng muốn thử xem sao. Vui làm sao, cũng có việc gì đó mà anh trai tôi không giỏi, và anh ghét piano bao nhiêu thì tôi lại mê mệt bấy nhiêu. Điều tôi thích nhất chính là ý nghĩ chiến thắng anh mình ở một mặt nào đó. Khoảnh khắc Luke tuyên bố từ bỏ piano cũng là lúc tôi đứng phắt dậy và tự nguyện thay vào vị trí của anh. Ban đầu, tôi thích mê thích mệt. Tôi tập luyện không ngơi nghỉ, dù có tập nhiều đến mấy cũng không đủ đối với quý bà người Nga từng được đào tạo tại nhạc viện, nhưng thừa đủ để nhận được những tràng pháo tay lịch sự từ khán phòng đầy ắp các vị phụ huynh đang rất đỗi tự hào. Dù vậy, sau một thời gian, tôi nhận ra rằng từ khi chứng minh được mình giỏi hơn anh trai ở mặt nào đó, thì niềm hào hứng chơi đàn trong tôi bắt đầu vơi bớt. Rồi mẹ nghĩ tôi nên tập thể thao, đó thực là một ý tưởng thảm họa. Những ngày chơi bóng mau chóng kết thúc vì rõ ràng tôi thích mơ mộng, kết vòng hoa cúc dại bên rìa sân hơn là đánh và bắt bóng. Tennis, vốn được mẹ tôi ưu ái gọi là “môn thể thao cuộc đời”, thậm chí còn tệ hơn. Trời nóng như nung, các bạn khác đều đã tập nhiều năm nên giỏi hơn tôi. Sân tập được làm từ cát hoặc đất cứng nên chẳng có bông cúc dại nào để tôi kết vòng. Nếu mục tiêu của môn thể thao này là đập dập mặt bằng bóng thì hẳn giờ đây tôi đã sắp đoạt danh hiệu Wimblendon. Bóng vợt, một ý tưởng khác của mẹ tôi, cũng tệ chẳng kém. Mẹ nghĩ bóng vợt là một lựa chọn khôn ngoan bởi tôi có thể dùng lại dụng cụ thể thao cũ của anh Luke. Tôi chỉ làm điên đầu các huấn luyện viên bằng cách giả vợt bóng là micro rồi hát rống lên những bài ca lạc điệu và cố tránh bị hạ gục. Môn thể thao duy nhất mà tôi thích là chèo kayak2. Lúc nào tôi cũng thích nước. Bố mẹ đã gặp nhau trên một dòng sông và có lẽ điều đó đã ngấm vào máu tôi. Cứ đến cuối tuần, gia đình tôi lại đến Pennsylvania hoặc West Virginia. 2. Xuồng gỗ hẹp và nhẹ. Học chèo kayak trên sông Nantahala Tại đó, bố mẹ để chúng tôi lại trên bờ và chèo kayak trên sông Cheat, Youghiogheny hoặc Gauley. Xong xuôi, bố mẹ đón chúng tôi và cả nhà cùng thả bè mảng trên một khúc sông êm ả hơn. Đối với tôi, chèo kayak là một môn thể thao phối hợp. Vị trí ưa thích của tôi, hẻm núi Cheat, có đến gần ba mươi ghềnh thác cấp độ ba, và những ghềnh thác cấp độ năm và sáu chỉ dành cho những vận động viên kỳ cựu. Bố mẹ hướng dẫn tôi di chuyển xuống những vị trí dễ. Tôi cảm nhận được cử động của chiếc xuồng kayak màu cam tươi rói. Nó lèo lái qua loạt chướng ngại vật tự nhiên. Con sông giống như một thực thể sống biết thở, biết buồn vui. Có lúc đang êm ả, nó bỗng chợt hất tôi lên và cuốn tôi sang một hướng mới. Tôi nhìn chằm chằm về phía cửa sông, nghiền ngẫm các ghềnh thác và cố tìm đường tránh tốt nhất. Đôi lúc, khi nước dâng quá cao, tôi đi dọc bờ sông cùng Casey, chú chó giống Golden Retriever lông vàng óng. Tôi ném đá, cành khô xuống sông. Tôi thích xây mô hình con đập và ghềnh thác nhỏ bằng sỏi đá ven sông. Tôi cho các nhánh cây đóng giả các thành viên trong gia đình và thả chúng xuống “ghềnh thác” rồi mô tả về kết quả bi thương trong sự khiếp đảm của bố mẹ mình. “Và thế là mẹ đã rơi xuống thác nước nguy hiểm.” Tôi bảo. “Thế còn bố thì sao?” Mẹ hỏi. “À, bố được an toàn. Bố tạo một xoáy lốc từ đá tảng và sẽ băng qua ghềnh thác cấp độ năm.” Tôi đáp. Nhiều năm sau, mẹ vẫn còn để bụng chuyện bà luôn là người chịu kết cục bi thảm. Tôi là học sinh tiểu học duy nhất – mà tôi biết – bị ám ảnh bởi những con đập với cột nước thấp, nơi dòng chảy của con sông trông chẳng khác gì chiếc máy giặt khổng lồ. Đập với cột nước thấp còn được coi là cỗ máy nhấn chìm bởi lực nước khủng khiếp mà nó ghìm người xuống. Có một con đập khổng lồ tình cờ nằm ngay bên trên khu cắm trại của nhà tôi. Tôi thích dạo lòng vòng quanh đó và dĩ nhiên, trò chơi gia đình với nhánh cây và sỏi đá ven sông sẽ lại “tái xuất giang hồ”. Và mẹ tôi lại gặp cảnh trớ trêu như thường lệ. Đáng ra bà không nên ép tôi tập tennis mới phải! Tôi đang xây đập từ đá sỏi Chẳng bao lâu sau, tôi tìm ra một tình yêu mới – toán học. Việc tìm kiếm những dạng bài lắt léo và cách giải luôn khiến tôi phấn khích. Tôi không chỉ thích mà còn giỏi môn này nữa. Tiếc là trường cấp một của tôi không chú trọng môn toán lắm. Lên lớp năm, chúng tôi vẫn chỉ học xem giờ! Ở nhà, tôi học được nhiều kiến thức toán hơn ở trường. Mẹ mang về một bộ đồ vui học toán để tôi thường xuyên được thử sức, nhưng hơn tất thảy, chính chú Ted mới là người hướng tôi đến một góc nhìn mới về các con số. Mỗi khi thấy tôi đánh vật với bài toán nào đó, chú lại cầm bút chì lên và hỗ trợ tôi. Chú hỏi: “Vấn đề là gì?” Tôi đáp: “Tất cả ạ!” Đầu óc chú hoạt động hệt như một cỗ máy đẹp đẽ biết kết nối tất cả mọi thứ trở về dạng bài dễ hiểu. Nhờ kỹ năng hình ảnh hóa, chú có thể khiến các bài toán nhảy ra khỏi trang giấy để bước vào cuộc sống. Chú bảo: “Đây, nhìn này, để chú cho cháu xem một mẹo nhỏ. Hãy cho chú bảy con số bất kỳ!” Tôi hùng hồn đọc ra bảy chữ số ngẫu nhiên hiện ra trong đầu rồi nhìn chú cầm bút chì lên và bắt đầu viết nguệch ngoạc một cách điên cuồng. Tôi không thể tin vào mắt mình nữa. Trong vòng chưa đến mười giây, sau khi viết ra vỏn vẹn vài con số, chú đã chia hết một số gồm sáu chữ số cho chín. Không thể như thế được! “Không thể nào!” Tôi kêu lên. “Cháu kiểm tra xem!” Tôi bấm máy tính. “Đúng rồi!” Tôi hồ nghi. “Sao chú có thể…” Chú cúi xuống nhìn tôi và mỉm cười. Nụ cười ấy nghĩa là chú có một bí mật muốn chia sẻ. “Để chú chỉ cho cháu!” Chú bảo. Chú hướng dẫn tôi cách tính nhẩm mà tôi chưa từng biết. Mẹo tính phép chia dài siêu nhanh ấy vẫn còn theo tôi đến tận bây giờ. Đó cũng là lần đầu tiên tôi biết đến phép tính nhẩm. Chú Ted đã dạy tôi những “đường tắt” để làm toán nhờ ước lượng và vận dụng nhanh những kiến thức dễ nhớ như nhân và chia, thế là tôi học được cách giải toán nhanh hơn. Từ đó, tôi bắt đầu nhìn thấy các dạng bài trong mọi thứ. Toán không còn là môn học hay điều gì đó liên quan xa xôi đến công việc hoặc trường lớp nữa. Tôi chỉ nghĩ về toán như cách để giải thích những bí ẩn của vũ trụ. Nhiều đêm, tôi vờ đi ngủ để chui dưới ga giường, bật đèn pin giải toán. Niềm đam mê mới mẻ với môn toán lớn nhanh đến nỗi phát lộ ra điều mà tôi yêu thích và có vẻ có năng khiếu – đó chính là khoa học. Tôi thích làm thí nghiệm. Tôi bắt đầu với những dạng cơ bản như tính xem có thể đặt được bao nhiêu quyển sách lên mà không làm trứng vỡ, hoặc cho thêm muối để thay đổi nhiệt độ sôi của nước. Tới lớp năm, các thí nghiệm của tôi bắt đầu có một “đời sống” riêng. Một hôm, tôi quyết định nuôi trồng vi khuẩn E. coli – loại vi khuẩn có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm chết người – trong bếp lò, chỉ để cho vui thôi. Đó là lần cuối tôi được làm thí nghiệm trong bếp. Sau hôm ấy, bố mẹ nhất quyết bắt tôi xuống tầng hầm làm thí nghiệm. Trong bóng tối nhập nhoạng của tầng hầm, tôi miệt mài làm thí nghiệm trong góc, còn ở một góc khác, anh Luke thực hiện những thí nghiệm nghiêm túc hơn nhiều. Tôi không rõ anh đang làm gì, nhưng đủ biết để sợ. Đôi khi, rất sợ là đằng khác. Anh trai và tôi luôn cố gắng đạt mục tiêu. Lần nọ, Luke tháo tung một chiếc lò vi sóng cũ trong thùng rác nhà ai đó để chế tạo một khẩu súng chiếu tia có thể nướng mọi thứ. Tôi bấy giờ đang ở đầu kia của tầng hầm, vừa nén sợ vừa làm thí nghiệm với các bộ tụ điện – trông chúng giống những mẩu bọt biển nhỏ có khả năng thấm hút điện cực nhanh. Tôi muốn xem điều gì sẽ xảy ra nếu tôi tăng nạp phân tử để tạo ra thể điện tương với lá nhôm. Đó chính là lúc cả tầng hầm tối đen. “Chắc bọn mình làm sập cầu chì mất rồi!” Anh Luke đoán. Chúng tôi không hiểu chuyện gì nhưng biết mình đã dùng điện quá tải. Bố mẹ đi vắng nên anh Luke tự mình đi kiểm tra hộp cầu chì. Vài phút sau, chúng tôi nghe thấy tiếng gõ cửa. Đó là người của công ty điện lực. Anh em tôi không chỉ đánh sập nguồn điện của mỗi nhà mình. Chúng tôi đã đánh sập nguồn điện của cả khu phố. Ôi trời ơi! “Có cháu nào phát hiện ra điều gì lạ thường không?” Chú thợ điện hỏi và nhìn quanh quất, vẻ nghi hoặc. Luke và tôi bối rối nhìn nhau. “Không ạ!” Tôi ấp úng. Có gì lạ thường đâu, tôi cố tự bào chữa cho mình. Ít nhất thì đối với nhà Andraka, một buổi chiều như thế này là bình thường. Tối hôm đó, khi bố mẹ đi làm về, chúng tôi thú nhận tất cả. Thay vì nổi giận và mắng mỏ như chúng tôi dự đoán, bố mẹ lại có vẻ vừa kinh hãi vừa thích thú khi nài nỉ anh em tôi cẩn thận hơn, đừng có thổi tung ngôi nhà. Bố kết thúc bài “diễn văn” với một lời cảnh báo: “Hai đứa không được nói với ai chuyện này, không bao giờ!” (Con xin lỗi bố!) Bố mẹ thường rơi vào tình huống khó xử. Họ không muốn ai bị thương, nhưng cũng cảm thấy tầm quan trọng của việc để tôi và Luke làm thí nghiệm rồi tự tìm tòi học hỏi. Và cách làm ấy thực sự có hiệu quả. Trí óc của tôi phát triển khôn lường và bố mẹ đã nhận ra điều đó. Khi thấy rõ rằng trường tiểu học không còn làm tôi háo hức nữa, mẹ đã đi tìm một trường bán công nhỏ gần nhà – nơi chuyên dạy toán và khoa học – để tôi có thể phát triển theo nhịp độ của riêng mình. Trường bán công và trường công lập của tôi khác nhau một trời một vực. Điều đầu tiên tôi nhận ra khi học trường mới (năm lớp sáu) là học sinh ở đây thuộc dạng “siêu cạnh tranh”, nhất là khi diễn ra cuộc thi bắt buộc kiểu “Đấu trường sinh tử”. Đó chính là Hội thi Khoa học kỹ thuật quận Anne Arundel. Giống với “Đấu trường sinh tử”, cuộc thi này thực sự là một vụ “tàn sát”. Mỗi năm một lần, toàn thể học sinh tập hợp tại trường Đại học Maryland để tranh tài – dự án này đấu với dự án nọ. Học sinh cuối cùng trên “sàn đấu” sẽ có quyền vênh vang trước toàn trường và được tặng kèm một chiếc máy tính xách tay giá rẻ. Mỗi lần nghĩ đến chuyện sẽ thắng cuộc thi ấy là tôi hăng hái hẳn. Tôi mê tít các cuộc thi. Tôi dồn hết tâm trí và sức lực vào đó. Lúc mới vào lớp sáu, tôi gặp Logan. Lần đầu tiên tôi để mắt đến cô ấy là khi đang ngồi trong lớp Toán cao cấp. Chúng tôi thấy “mết” nhau ngay lập tức. Mỗi khi thầy giáo quay đầu lên bảng, hai đứa lại chuyền giấy để thông tin qua lại. “Có muốn ngồi cạnh tớ trong giờ ăn trưa không?” Tôi viết. “Có.” Cô ấy trả lời. Mối quan hệ này nhanh chóng tiến triển vượt ra khỏi phạm vi lớp học. Chúng tôi tìm cách ở bên nhau nhiều hơn. Giữa chúng tôi có một mối liên kết dễ dàng và tự nhiên. Chẳng bao lâu sau, mọi người nghĩ chúng tôi là một cặp, và cả hai đứa đều đón nhận khái niệm này một cách vui vẻ. Tôi bảo: “Tớ đoán tụi mình là bạn trai, bạn gái của nhau.” Cô ấy đáp: “Hay đấy!” Vậy đấy. Cô bạn gái đầu đời của tôi. Cô ấy mua gấu bông và sô-cô-la tặng tôi. Bấy giờ tôi đã lên cấp hai và bắt đầu nhận ra áp lực phải hòa nhập. Ở bên Logan khiến tôi cảm thấy bình thường và được chấp nhận. Và cô ấy thật hoàn hảo: xinh đẹp, thông minh, và hơn tất thảy, là ở cạnh cô ấy thật vui. Hoạt động yêu thích của chúng tôi là tới rạp xem phim cùng nhau rồi về nhà cô ấy để chơi trò đập mì3 trong chiếc bể bơi khổng lồ. Hai đứa cười không dứt. Mọi thứ đều thật vui và có vẻ đều hoàn hảo. 3 “Mì” ở đây là những cây gậy làm bằng xốp mềm. Dẫu vậy, vài tuần sau khi xác định quan hệ, tôi bắt đầu cảm thấy có điều gì đó sai sai. Tôi thích dành thời gian ở bên Logan. Tôi thích gương mặt cười cô ấy vẽ trên thư tay mà chúng tôi chuyền qua chuyền lại trong lớp. Nhưng dường như thiếu thiếu một điều gì đó. Lẽ ra tôi phải cảm thấy điều gì đó với Logan – điều mà tôi không chắc rằng tôi đang cảm thấy. Đặc biệt là, lẽ ra tôi phải muốn hôn cô ấy. Nhưng sự thật thì… tôi không hề muốn thế. Tháng đầu tiên của lớp sáu trôi qua mà tôi chẳng hề có động thái nào đối với nụ hôn đầu cả. Tôi biết Logan cũng bắt đầu thắc mắc chuyện gì đang xảy ra. Lần đầu tiên, một câu hỏi mới bắt đầu xoay xoay trong đầu tôi. Câu hỏi đó chẳng hề liên quan đến đa thức, mức bão hòa nước hay lựa chọn hoạt động ngoại khóa. Điều gì xảy ra với tôi vậy? Chương 2Thằng khùng trong tủ áo L ỚP SÁU TIẾP TỤC TRÔI QUA và tôi vẫn chẳng có cảm giác gì với Logan. Tôi cực kỳ bối rối. Câu hỏi vẫn luôn nằm đó. Cô ấy thật hoàn hảo. Tại sao mình lại không bị cô ấy hấp dẫn? May mắn thay, Logan không hề để ý đến chuyện đó. Thật nhẹ nhõm! Tôi làm đủ cách để đẩy những ý nghĩ đó vào góc xa nhất, tăm tối nhất trong tâm khảm. Tôi tự nhủ mọi thứ đều rất tuyệt. Ngoài nỗi bối rối về Logan, năm học này diễn ra khá suôn sẻ. Tôi kết thêm hai người bạn mới là Jake, Sam và thành lập bộ ba hoàn hảo. Jake là kiểu con trai sẵn sàng làm gần như mọi thứ mà người khác thách thức. Cậu ấy sôi nổi đến mức lúc nào cũng khiến tôi và Sam ôm bụng cười. Sam thì trầm tĩnh hơn một chút. Cậu ấy hài hước và thuộc kiểu dễ gần. Đến cuối tuần, chúng tôi ngủ lại nhà nhau và thức thâu đêm để chơi World of Warcraft, đồng thời luôn cảnh giác để không bị phụ huynh phát hiện. Đôi khi, chúng tôi sẽ làm một chuyến đến công viên Hershey để chơi tàu lượn siêu tốc và ăn đồ ăn nhanh. Và thường thì chúng tôi tự tạo thú vui riêng. Jake có một tấm bạt nhún khổng lồ ở sân sau, và chúng tôi ném một quả bóng màu đen lên đó rồi đua nhau nhảy lên mà không chạm bóng. Tới lúc kiệt sức và đầm đìa mồ hôi, tôi nằm ngửa trên tấm bạt, không muốn đối diện với nỗi bối rối của mình hay bận tâm về bất kỳ điều nghiêm túc nào nữa. Tôi chỉ muốn được vui. Một hôm, tôi cùng Jake, Sam và Logan chơi trò “Sự thật và Thách đố”. Tôi ngồi bên trong một chiếc hộp bìa cứng to bự, kết quả của lời thách đố trước. Chúng tôi đang đợi Jake chọn lượt kế tiếp. Cậu ấy quay sang tôi và bảo: “Jack, sự thật hay thách đố?” Tất cả đều biết rằng tôi luôn chọn thách đố. Tôi là kiểu con trai như vậy. “Thách đố!” Jake lóe lên một nụ cười tinh quái. “Hôn Logan đi!” Cậu ấy bảo. “Cái gì?” Tôi bật lại, dẫu rằng đã nghe rất rõ lời cậu ấy nói. “Hôn bạn gái cậu đi!” Cậu ấy nói. “Hôn mấy cái vào!” Sam chêm lời. Sam và Jake không biết rằng dù đã hẹn hò được ba tháng nhưng Logan và tôi chưa từng hôn nhau, dù chỉ là một cái hôn vội. Giờ thì mọi người đang nhìn. Tôi đỏ bừng mặt. Tôi muốn biến mất trong cái hộp của mình và có lẽ là đóng tem lên đó rồi gửi đến nơi nào xa lắc. “Không thành vấn đề.” Tôi đáp và cố tỏ ra tự tin khi rời khỏi cái hộp, sải bước về phía Logan. Thấy rõ sự hồi hộp của tôi, chính Logan cũng không thoải mái. Cô ấy co người lại trên ghế. Tôi chỉ muốn làm cho xong. Tỏ ra tự nhiên đi, Jack, tỏ ra tự nhiên. Tôi đặt nhẹ một cái hôn dài và thiếu tự nhiên trên môi cô ấy, làm ra vẻ chẳng có gì to tát trước khi quay trở lại cái hộp của mình. Cô ấy mỉm cười ngượng nghịu. Tôi mỉm cười ngượng nghịu. “Sự thật hay thách đố?” Tôi hỏi Jake, cố dời sự chú ý sang một người khác, bất kỳ ai khác, càng nhanh càng tốt. Trời ơi, điều gì đang xảy ra với con thế này? Sâu thẳm bên trong, tôi biết có điều gì đó không ổn. Ở tuổi này, tôi đã xem ti vi đủ nhiều để biết rằng trải nghiệm này – tức là nụ hôn đầu – đáng ra phải khác hẳn. Lẽ ra tôi phải cảm thấy hồi hộp, dĩ nhiên, nhưng hòa vào nỗi lo ấy phải là niềm vui thích và sự hấp dẫn. Ấy thế mà tôi chẳng hề cảm thấy vậy khi hôn bạn gái mình. Tôi chỉ cảm thấy như đang hôn một người bạn thân. Người bạn mà tôi không hề bị thu hút. Tất cả những suy tư ấy xoáy cuộn trong đầu tôi, khiến tôi dễ nổi cáu mỗi khi gặp Logan. Chuyện gì xảy ra với tôi vậy? Tại sao tôi không cảm nhận về cô ấy theo cách đó? Không biết bấu víu vào đâu, tôi bắt đầu xa lánh Logan. Tôi ít gặp cô ấy hơn và thường lờ cô ấy đi. Dần dần, sự bối rối của tôi chuyển thành cáu bẳn. Tôi ngừng ngó lơ cô ấy và bắt đầu hành xử như thể mình quá tốt đến nỗi cô ấy không thể với tới. Tôi thực sự là một kẻ tồi tệ. Cuối cùng, giữa năm lớp sáu, tôi gửi cho cô ấy một mẩu giấy, nhắn rằng mọi chuyện giữa chúng tôi đã chấm dứt. Chia tay bằng giấy nhắn là một hành động nghiệp dư, dù xét theo tiêu chuẩn mười một tuổi. Chẳng có gì ngạc nhiên khi cô ấy không thèm nói chuyện với tôi nữa. Việc tự tay đánh mất Logan không chấm dứt hoàn toàn đời sống xã hội của tôi. Tôi vẫn tụ tập với Jake và Sam, nhưng họ cũng bắt đầu nhận ra một vài thay đổi ở tôi. Họ biết có gì đó không ổn. Đôi khi tôi trả lời cộc lốc hoặc tỏ ra lơ đễnh. Tôi cảm thấy mình đang dần xa cách họ. Tuy khả năng duy trì tình bạn dần suy giảm nhưng tinh thần cạnh tranh của tôi thì tăng tiến như vũ bão. Hội thi khoa học lớn sắp đến. Tôi vẫn cần tìm ra ý tưởng cho dự án của mình, phải nhanh lên mới kịp. Chuyện này không chỉ liên quan đến quyền được vênh vang khắp trường, nó còn góp phần quan trọng vào điểm cuối kỳ của tôi nữa. Nguồn cảm hứng ập đến khi tôi chèo kayak với chú Ted trên sông Cheat. Hai chú cháu đến một con đập với cột nước thấp. Nhưng lần này, thay vì ném những cái que tượng trưng cho các thành viên trong gia đình, tôi muốn hiểu nguyên lý hoạt động của con đập. Tôi mang thắc mắc của mình ra hỏi chú Ted. Chú đáp: “Người ta gọi đây là hiện tượng nước nhảy ngập. Nó thực sự rất thú vị.” Khi tiếp tục xuôi dòng, chú bắt đầu giải thích về sự nguy hiểm chết người của vực nước xoáy bên dưới con đập. Trên bề mặt, nước trông có vẻ êm ả, nhưng ở bên dưới, nó cực kỳ hung hăng. Bất cứ thứ gì gặp phải vực nước xoáy đều bị kẹt lại và quay vòng liên tục đến mức khó lòng thoát ra, thậm chí là không thể. Tôi muốn biết nhiều hơn. Ngay khi trở về, tôi lao đến máy tính và vào mạng tìm kiếm. Càng biết nhiều, tôi càng bị mê hoặc bởi hiệu ứng tương-tự-máy-giặt của dòng nước cũng như khả năng nhấn chìm con người của nó. Tôi khám phá ra rằng có hàng ngàn hiểm họa tiềm tàng ở dạng này rải rác khắp đất nước. Gần như năm nào cũng có người chết đuối vì sức mạnh của những dòng chảy kỳ lạ và ghê gớm nấp ngay dưới mặt nước. Tôi muốn biết mọi điều, đặc biệt là những tri thức khoa học đằng sau sự vận hành của những con đập cỗ-máy-nhấn-chìm này. Tôi muốn biết chính xác điều gì xảy ra dưới mặt nước kia. Tôi bắt đầu suy nghĩ, sẽ thế nào nếu tôi tìm ra cách thay đổi dòng chảy của nước, để chúng không kéo những người đang bơi xuống? Rồi một ý nghĩ ập đến – đây sẽ là dự án khoa học của tôi. Nó cho phép tôi đưa niềm đam mê với các con đập cột nước thấp vào hội thi khoa học và biết đâu còn cứu sống được ai đó. Tôi lấy mô hình dòng sông mà bố dựng giúp dưới tầng hầm ra rồi bắt đầu hàn nối xung quanh và chỉnh dòng chảy nhằm mô phỏng hoạt động của đập nước. Sau khi thử nghiệm nhiều tình huống, tôi đã có thể tạo ra một mô hình dòng sông, đập với cột nước thấp và con người với tỷ lệ chính xác. Tôi gắn một chiếc bơm hút nước vào mô hình để điều chỉnh dòng chảy của con sông trong tầng hầm trở thành một bản sao dòng chảy trên con sông thật. Khi mô hình dòng sông và người đã được thu nhỏ theo tỷ lệ chính xác đủ để mô phỏng tác động của cỗ-máy-nhấn-chìm, tôi thay đáy gỗ của mô hình bằng một tấm nhựa trong để giám sát tình hình từ những vị trí thuận lợi. Giờ đã mô phỏng thành công cỗ-máy-nhấn chìm, tôi cần tìm cách để ngăn chặn hiệu ứng tương-tự-máy-giặt nguy hiểm. Trong tầng hầm tối, tôi miệt mài làm thí nghiệm với những vật cản khác nhau – những vật có thể thay đổi dòng chảy. Tôi đã thử các miếng nhựa, gỗ và bê tông được đo đạc cẩn thận. Thử đến bốn mươi vật khác nhau, tôi mới tìm ra thứ có thể thay đổi hiệu ứng xoáy dữ dội. Vật đó chính là một tấm gỗ cong với độ dốc 5:1. Bằng cách đặt đỉnh của đường cong vào giữa đập, mực nước dềnh sẽ tăng dần, ngắt ngang dòng nước, đủ để đá văng người mắc kẹt bên trong. Nhiệm vụ hoàn thành: thiết bị hỗ trợ loại bỏ hiện tượng nước nhảy ngập. Bằng việc mô phỏng con đập cột nước thấp, cùng một quá trình thử nghiệm với nhiều lần mắc lỗi, tôi đã giải quyết được vấn đề sống còn. Thí nghiệm của tôi đã chứng minh rằng có cách để giúp những con đập với cột nước thấp trở nên an toàn hơn. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra mình có năng lực tạo ra những thay đổi thực sự cho thế giới. Tôi muốn chia sẻ ý tưởng của mình với các bạn cùng lớp. Nhưng tôi biết, đó là một hành động đầy rủi ro. Làm lộ dự án khoa học không phải là điều khôn ngoan ở trường. Hẳn các bạn còn nhớ tôi từng nhận xét rằng hội thi khoa học chẳng khác gì “Đấu trường sinh tử”? À, quả hơi phóng đại một chút! Đây thực sự là một cuộc đấu không thương tiếc và nghe đồn rằng có cả những vụ phá hoại ngầm nữa. Tôi tin vào những lời đồn ấy. Người duy nhất tôi có thể chuyện trò thoải mái chính là Logan, nhưng tôi đã làm mọi chuyện rối tung lên. Cô ấy vẫn không thèm nói chuyện với tôi. Nhưng tôi không thể kìm lòng được. Tôi phải kể cho ai đó biết. Tôi nói cho Jake biết việc này trước giờ vào học, bởi không thể nấn ná niềm vui này thêm một giây nào nữa. Phản ứng của Jake hệt như tôi mong đợi. Càng nghe, trông cậu ấy càng có vẻ bị ấn tượng. “Thật không? Cậu sẽ chắc thắng đấy!” Jake nói. “Cậu nghĩ vậy thật à?” Chiến thắng không quá quan trọng với tôi. Mong mỏi duy nhất của tôi là giành điểm tốt. “Ý tưởng của cậu thật tuyệt cú mèo, Jack ạ!” Cậu ấy nói thêm. Tôi biết là cậu ấy thực sự nghĩ vậy. Khi Jake hỏi thêm về dự án, tôi đã hào hứng chia sẻ đến mức bắt đầu nói to hơn. Và Damien tình cờ nghe được. Chắc chắn trường nào cũng có ít nhất một đứa như Damien. Damien thực sự là một đứa bạn tồi. Hết sức tồi. Cậu ta luôn kiếm chuyện với tôi. Tôi biết cậu ta cũng hiếu thắng như bao người khác, nhưng vì một lý do ất ơ nào đó, cậu ta đặc biệt ghét tôi. Đó là điều duy nhất tôi có thể nghĩ ra để giải thích hành vi của cậu ta. Chẳng hạn tình cờ đi ngang qua và dè bỉu tôi là đứa quá sức tệ hại. Từ tệ hại lúc nào cũng treo trên miệng Damien. “Mày làm dự án về đập với cột nước thấp hả?” Cậu ta hỏi với nụ cười tự mãn. Chúng tôi đều biết câu hỏi đó chẳng tử tế gì. Mà là một lời châm chọc. Tôi không muốn dây dưa với cậu ta. Không phải bây giờ. Không bao giờ. “Có thể. Thì sao?” Tôi đáp và quay đi chỗ khác. “À, dự án của mày có vẻ cực kỳ tệ hại.” Cậu ta mỉa mai. Thế đấy! Từ yêu thích của Damien – tệ hại. “Tao sẽ thắng.” Nó thêm vào, nụ cười tự mãn trở lại. “Nhưng tao đùa đấy, mày sẽ làm tốt thôi.” Tôi không giỏi nói chuyện kiểu “ý tại ngôn ngoại” này lắm. “Ờ… ừm...” Tôi lắp bắp. Tôi muốn đáp trả ngay lập tức, nhưng đầu óc tôi trống rỗng. May sao lúc ấy, thầy giáo kịp xuất hiện và mở khoá phòng học, giúp tôi thoát khỏi bộ mặt ngẫn ngờ. Tôi ngồi vào chỗ và bắt đầu cáu kỉnh. Damien luôn khiến tôi khó chịu. Nhưng lần này, tôi thực sự nổi đoá. Thằng đó chẳng biết gì về mình! Nó dựa vào đâu mà tự tin thế? Tôi muốn đánh bại cậu ta. Vô cùng muốn. Nếu thực sự muốn đè bẹp Damien, tôi cần bắt tay vào việc, và phải thật nhanh. Chỉ còn bảy tuần nữa thôi là đến hội thi. Tôi biết kiến thức khoa học của mình rất vững, nhưng lại không tự tin vào tài thuyết trình – trong cuộc thi, nó cũng quan trọng ngang ngửa dự án nghiên cứu. Tôi tập đi tập lại trước mặt bố mẹ. Tôi lờ mờ cảm thấy có gì đó không ổn khi vẻ chán nản lan dần trên gương mặt họ trong lúc nghe tôi thuyết trình. Sau một vài lần tập dượt, bố mẹ quyết định sẽ không nghe tôi luyện nói nữa. Họ mua cho tôi một chiếc máy quay phim và bảo tôi tự xem lại. Một sự bừng tỉnh phũ phàng! Bấy lâu nay, tôi vẫn tưởng mình thuyết trình chẳng đến nỗi nào, nhưng khi xem băng hình, tôi nhận ra mình không chỉ tệ – mà còn là thảm hoạ. Tôi nuốt từ. Tôi lắp bắp. Tôi quên chỗ nọ chỗ kia và nói giọng đều đều như ru ngủ. Tôi phải bắt đầu lại từ đầu mỗi khi nói vấp. Quá cần giúp đỡ, tôi rơi xuống một cấp độ mà chưa đứa em nào từng rơi xuống – xin lời khuyên từ anh trai. Sau khi theo dõi từng cử động của tôi, anh tôi đáp lại bằng cách duy nhất mà anh ấy biết. “Tồi tệ!” Anh buông một câu gọn lỏn và đóng sầm cửa ngay trước mũi tôi. Lát sau, anh ấy quay lại và nhét một tờ giấy vào tay tôi rồi bảo: “Anh đã viết ra mấy mẹo mà anh biết. Khi nào học hết thì hẵng làm phiền anh.” Tôi dành hàng giờ liền nghiên cứu tờ giấy chứa những mẹo rất hữu ích như: “Nói như thể trò chuyện với đứa bạn về trò chơi mới mà em rành rẽ, hãy nhớ đây là trò chuyện.” “Nói điều em nghĩ, không đọc diễn văn.” “Không bao giờ quay lại! Cứ tiếp tục và bổ sung những phần bị thiếu sau.” “Lúc nào cũng phải rõ ràng, rành mạch.” “Bỏ qua những thứ chán ngắt.” Tôi nghiên cứu những đoạn thuyết trình ở hội thi khoa học trên YouTube, luyện tập nhiều hơn và làm việc nhiều hơn. Dần dần, tôi bắt đầu thấy kết quả. Tôi phát biểu trơn tru hơn. Càng luyện, tôi càng thêm tự tin. Càng tự tin, tôi càng ít nuốt chữ và lắp bắp. Khi ngày hội thi đến gần, tôi thấy mình đã sẵn sàng. Hôm thi, tôi đến trường Đại học Maryland với hy vọng giành điểm cao, áp đảo Damien và đạt được giải nào đó trong số tám hạng mục. Các hạng mục trải từ hóa học, kỹ thuật cho đến vật lý. Sau khi công bố người thắng cuộc của từng hạng mục, ban giám khảo sẽ trao giải nhì và ba trước khi đội vương miện cho nhà vô địch toàn hội thi. Vừa đẩy hai cánh cửa lớn, tôi thấy như đang bước vào một trong những băng hình YouTube mình từng nghiên cứu. Người ta dựng rạp khắp hội trường lớn và đám trẻ hồi hộp xẹt qua xẹt lại trước dự án của mình. Tôi không nói nhiều lắm. Mặt tôi trông khá tập trung – tức là trông rất giống gương mặt thường ngày, mỗi tội không cười. Tôi tìm chỗ và sắp xếp phần trình bày trên một tấm bảng bìa cứng với tiêu đề “Liệu chúng ta có dừng được cỗ-máy-nhấn-chìm không?” và các thông tin kết luận. Rồi cũng đến lúc tôi thể hiện phần thi. Tôi nghĩ mình chẳng có nhiều cơ hội chiến thắng bởi đây là lần đầu tôi tham gia một cuộc thi khoa học thực sự và có quá nhiều dự án hay, đặc biệt là của các anh chị lớp bảy, lớp tám. Trong hạng mục khoa học hành vi có dự án “Loại đồ uống phổ biến nào có hại cho răng nhất?” Cũng trong hạng mục đó, có một dự án khá tinh tế với lũ chuột chạy qua một mê cung, “Ảnh hưởng của nhạc cổ điển đối với việc chuột chạy qua mê cung.” Bài thuyết trình tại hội thi khoa học của tôi năm lớp sáu: “Liệu chúng ta có dừng được cỗ máy nhấn chìm không?” Một trong những dự án mà tôi rất thích tên là “Hiệu suất tốc độ của tàu điện từ trường”. Đó là chiếc tàu hỏa Lego dùng nam châm để bay lên. Rồi tôi thấy Damien. Nó đang đứng trước phần trình bày của mình với vẻ tự mãn. “Ê, đồ thua cuộc!” Nó gọi. “Có muốn sáng mắt ra không?” “Không, cảm ơn!” Tôi hờ hững đáp. Anh Luke bấy giờ đang học lớp tám, cũng tham gia cuộc thi với đề tài “Nốt sùi có tồn tại quanh ta không?” Nghiên cứu của Luke chứng minh các nốt sần tự gắn vào rễ, giúp cây sinh trưởng. Trải nghiệm hội thi của tôi bất ngờ trở nên tồi tệ hơn, bởi Damien vừa giành ngôi đầu trong một hạng mục. Tuyệt, mình sẽ phải nghe chuyện này đến hết năm! Cuối buổi, những người chiến thắng chung cuộc được xướng tên. Cái tên đầu tiên là Luke! Anh ấy giành giải ba chung cuộc. Tôi tự hào nhìn anh bước lên bục nhận giải. Rồi vị trí á quân được công bố. Vị trí này thuộc về dự án mang tên “Góc cánh quạt nào hiệu quả nhất cho cối xay gió?” Tôi cực kỳ “kết” công trình này và nghĩ rằng nó sẽ giành ngôi vô địch. Ai sẽ vô địch nhỉ? Khoảnh khắc ban giám khảo công bố người chiến thắng chung cuộc, không khí yên ắng đến mức bạn có thể nghe thấy tiếng chiếc đinh ghim rơi xuống khán phòng. “Tôi xin tuyên bố, chức vô địch thuộc về Jack Andraka với dự án ‘Liệu chúng ta có dừng được cỗ máy nhấn chìm không? Cải tiến đập cột nước thấp để chúng trở nên an toàn’.” Tôi sững sờ. Từ trên sân khấu, tôi nhìn về phía khán giả. Tôi thấy anh trai đang mỉm cười. Damien luống cuống chạy ra cửa. Sau khi ôm bố mẹ, tôi muốn báo tin nóng hổi này cho chú Ted ngay lập tức. Thế là tôi vồ lấy chiếc điện thoại nắp trượt của mẹ. “Chú Ted ơi, đố chú đoán được chuyện gì?” Tôi reo lên. “Gì thế? Cháu thi thế nào?” “Cháu thắng rồi!” Tôi đáp. “Tuyệt vời! Hạng mục nào?” “Chung cuộc ạ. Giải nhất chung cuộc!” Chú kinh ngạc. “Chúc mừng cháu, Jack! Quá tuyệt!” Chú nói. “Chúng ta phải ăn mừng thôi!” Và phần thưởng của chú tặng tôi là một ngày chèo thuyền quanh sông Chesapeake. Với tôi, phần thưởng này còn hay ho hơn cả chiếc máy tính xách tay mà trường tặng cho nhà vô địch. Tôi dẫn Jake và Sam theo rồi cùng tổ chức một bữa tiệc. Hôm đó là một ngày đẹp trời. Khi dạo chơi quanh vịnh, chúng tôi vừa luân phiên chèo lái vừa vẫy tay chào những chiếc thuyền đi qua. Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ lại được lên thuyền. Chiến thắng vẻ vang đã kết thúc năm học lớp sáu đúng dịp mùa cua bắt đầu. Dù đã lớn hơn nhưng tôi vẫn đặt chuông báo thức và ngóng nhìn ra ngoài cửa sổ, cảm nhận nỗi phấn khởi trẻ thơ khi chiếc xe cà tàng của chú Ted lướt trên lối vào ga-ra. Thế nhưng, năm nay, tôi nhận ra có điều gì đó khang khác. Sau quy trình thả kéo quen thuộc, chúng tôi chỉ bắt được một nhúm cua. “Chuyện gì thế ạ?” Tôi hỏi. “Cua đâu hết rồi ạ?” “Lũ cua đang chết dần vì nước ngày càng trở nên ô nhiễm.” Chú đáp. “Tại sao ạ?” Tôi lại hỏi. Một trong những chủ đề trò chuyện yêu thích của chú Ted là chất lượng nước ở vịnh Chesapeake. Là một chuyên gia đánh giá chất lượng nước, chú được tai nghe mắt thấy sức tàn phá của ô nhiễm đối với đời sống mong manh của các loài sinh vật và chú có thể nói hàng giờ liền về những giải pháp nhằm ngăn chặn nó. “Ô nhiễm xuất phát từ rất nhiều nơi.” Chú nói. “Có một nhà máy mới ở Baltimore và chú nghĩ một số chất gây ô nhiễm đến từ nơi đó. Nhiều chất khác được thải ra từ các hộ gia đình.” Tôi vẫn chưa hiểu và muốn biết nhiều hơn. “Khi con người bón thật nhiều phân ở các bãi chăn nuôi để cỏ lên xanh và hoa tươi tốt, các chất này sẽ ngấm vào dòng nước đổ ra vịnh, khiến tảo sinh sôi.” Chú giải thích. Tôi thấy bối rối quá. Cứ tưởng tảo là sinh vật tốt cơ mà. “Sao tảo lại giết cua được ạ?” Tôi thắc mắc. Dù tôi chỉ là một đứa trẻ, nhưng chú trình bày các ý tưởng với tôi như với một người ngang hàng. Bởi chú nghĩ tôi hiểu điều chú nói, chú biết tôi sẽ hỏi nếu tôi không hiểu. Hẳn vậy mà những lời chú nói mãi khắc sâu vào tâm trí tôi. “Lũ tảo chặn ánh sáng mặt trời và đôi khi hạ thấp mực ôxy cần thiết cho những loài sinh vật, như cua chẳng hạn.” Chú nói. Đó là lần đầu tiên tôi suy xét một vấn đề và bị mê hoặc. Tôi bắt đầu kết nối những dòng suy nghĩ trong đầu mình lại: sự ô nhiễm ở vịnh Chesapeake dẫn đến phản ứng dây chuyền không chỉ đối với nước mà còn với hầu hết mọi bình diện của hệ sinh thái xung quanh. Nghe chú giải thích, tôi đã hình dung ra. Chất ô nhiễm ngấm vào nước. Cá ngấm chất gây ô nhiễm. Con người ăn cá. Chú kết thúc vấn đề ô nhiễm hệt như kết thúc những câu chuyện khác, lắc đầu và bình luận: “Phải có cách nào đó hay hơn.” Dần dần, hai chú cháu cũng bắt đủ cua cho bữa tiệc cua thường niên. Tôi rất mong đợi phần còn lại của kỳ nghỉ hè bởi mẹ có một ý tưởng cực “chúa”: cho tôi đến Colorado Springs để dự trại hè toán học. Tôi ngờ rằng đây không phải là khoản đầu tư xứng đáng trong kỳ nghỉ hè quý giá. Trại hè toán học ư? Ý tôi là, một trại hè toán học đúng theo nghĩa đen đấy nhé. Ngày đầu ở trại hè chẳng khác gì ngày đầu tiên đi học. Nhiều đứa quen nhau bởi chúng đã tham gia trại hè năm ngoái. Tôi chẳng quen ai. Trên chiếc xe buýt đưa chúng tôi từ sân bay về nơi cắm trại, tôi lặng lẽ ngồi một mình. Lúc ấy, một chị lớn lại gần và tự giới thiệu. “Chào, chị là Katherine. Em đến từ đâu vậy?” “Maryland ạ.” Tôi ngoan ngoãn đáp lời. Katherine lập tức thu phục tôi về dưới trướng. Chị ấy học lớp tám và cư xử hệt một người chị lớn. Tôi chưa bao giờ có chị gái và tôi thích cách chị ấy dẫn tôi đi xem xung quanh và giới thiệu tôi với những người chị ấy quen. Tôi không chỉ kết thêm một người bạn tuyệt vời mà còn nhận ra rằng mình đã sai toét về trại hè. Có rất nhiều điều khác ngoài môn toán. Hãy tưởng tượng bạn có ba mươi ngày ở cùng một nhóm người cực kỳ tuyệt vời. Chúng tôi chơi đủ loại bài và xem phim. Đến chơi thể thao cũng vui nữa. Chúng tôi chơi ném đĩa cấp độ cao và thi đấu bóng đá. Buổi tối, chúng tôi chơi Sự thật và Thách đố hết vòng này đến vòng khác. Vượt qua trải nghiệm bối rối cùng Logan hồi đầu năm, tôi vẫn là một thằng nhóc khoái thách đố. Tôi còn học gấp giấy origami nữa. Gấp giấy thành những hình thù phức tạp quả là một hình thức giải trí tuyệt diệu và khơi nguồn ý tưởng cho tôi. Cuối mỗi ngày, Katherine và tôi tìm một chiếc ghế bành lớn trong phòng nghỉ – nơi đặt chiếc ti vi to bự – cuộn tròn lại và cùng xem America’s Next Top Model. Chúng tôi đi hết từ thử thách này đến thử thách khác của môn toán. Các trại viên khác đều rất thông minh, và ai cũng bị cuốn vào những cuộc thảo luận bất tận, cả trên lớp lẫn trong giờ giải lao. Chúng tôi tranh luận xem môn toán được sáng tạo hay được khám phá ra, chia sẻ mẹo giải những phương trình phức tạp và khảo sát những cách tiếp cận khác nhau đối với một vấn đề. Tôi thực sự buồn khi trại hè kết thúc và quyết định sẽ quay lại đây vào năm sau. Về nhà, tôi phát hiện ra hai thành viên lông lá vừa gia nhập gia đình Andraka. Mẹ đã khiến anh Luke và tôi bất ngờ bằng những chú chồn sương. Tôi đặt tên chú chồn của mình là Ginny Weasley – theo tên một nhân vật trong Harry Potter, còn Luke thì đặt tên cho chú chồn của anh ấy là Phaedrus – theo tên một nhà hiền triết Hy Lạp, người từng nói câu: “Nhiều thứ không đúng như vẻ bề ngoài, ấn tượng đầu tiên thường lường gạt số đông.”4 Chồn sương là loài thú cưng tuyệt vời. Chúng tình cảm, thông minh và ngủ suốt. Ginny Weasley thích cuộn mình trên vai tôi và ngủ trưa trong lúc tôi đọc sách. 4. Câu nguyên gốc: “Things are not always as they seem, the first appearance deceives many.” Chúng không ngại chú chó Casey. Chúng cong lưng và nhảy choi choi xung quanh Casey để rủ chơi cùng. Casey nhìn chúng bằng ánh mắt thích thú, nhưng thường chẳng mấy bận tâm. Những ngày hè còn lại của tôi là ở trong tầng hầm làm thí nghiệm. Càng dành nhiều thời gian trong đó, các thí nghiệm của tôi càng thêm phức tạp. Một hôm, tôi đặt trên mạng một mớ phân tử hữu cơ, trong đó có nitơ, về làm chất xúc tác phá vỡ các chất hoá học hữu cơ. Đó là lần đầu tiên tôi cho titan điôxit kết hợp với nhóm nitơ. Tôi chỉ muốn xem điều gì sẽ xảy ra. Tôi đâu biết một vài chất mà tôi đã mua được dùng để chế tạo chất nổ nguy hiểm. Cục điều tra liên bang FBI đã tiếp cận được lịch sử mua hàng của tôi và gửi một lá thư ngắn đến nhà để tôi biết mình đang thuộc diện bị theo dõi. Mẹ và bố chẳng vui gì. Không một chút nào luôn. Tôi buộc phải hiểu rằng từ lúc ấy, họ bắt đầu tránh xa tầng hầm hết sức có thể. Đôi khi, thí nghiệm mà tôi dự tính lại chuyển thành những thí nghiệm ngoài mong đợi. Một đêm, trong bếp, tôi thức khuya để trộn phân tử nano trong một chiếc bát ăn sáng. Mệt quá, tôi leo lên giường ngủ, để chiếc bát lại trên bàn bếp. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi thấy anh họ Allen, mười hai tuổi, đang ở trong bếp. Tôi reo lên: “Em quên mất là anh sẽ đến.” Anh ấy nhìn lên và vẫy tay, quá bận bịu để chào hỏi đàng hoàng, bởi miệng còn đang ngấu nghiến một thìa đầy ngũ cốc. Tôi thấy cái bát trông quen quen. Bộ não buổi sáng dần dần liên kết lại. Thí nghiệm của mình! Tôi nhìn quanh bệ bếp, tìm kiếm đám phân tử nano nhưng chẳng thấy đâu. Tôi lại quay sang nhìn anh họ. Anh ấy đã rót sữa và trút ngũ cốc vào cái bát thí nghiệm của tôi và xì xụp chén món phân tử nano – vốn trông giống hệt đường bột màu trắng. “Đừng ăn nữa!” Tôi gào lên. Anh ấy nhìn lên, món sữa-trộn-nano nhễu quanh miệng. “Anh đang ăn thí nghiệm khoa học của em đấy!” Anh ấy phun phì phì món ngũ cốc ra và lao vào nhà vệ sinh. Từ hôm đó, tôi thường đùa rằng anh ấy là thí nghiệm biết đi của tôi, và rằng tôi đang giám sát kỹ lưỡng, ghi chép cẩn thận mỗi lần anh ấy đến chơi nhà. Khi chỉ còn một tuần nghỉ hè nữa là vào lớp bảy, tôi nhận được một tin khủng khiếp. Hai người bạn thân nhất của tôi, Jake và Sam, đều sắp chuyển khỏi bang. Quả là choáng váng, nhưng tôi cố tỏ ra lạc quan. Dù sao đi nữa, việc kết bạn mới ở trại hè toán học cũng không quá khó khăn. Thêm vào đó, tôi vừa giành chiến thắng trong hội thi khoa học đầu tiên. Tôi nghĩ, việc đó có thể giúp mình kiếm thêm vài người bạn mới. Tuy nhiên, thêm vào đó, một thay đổi mang tính phá hoại khác đang diễn ra trong tôi. Đầu năm lớp bảy, tụi con trai trong trường buộc phải nhận ra sự trưởng thành của tụi con gái sau một mùa hè. Dù cố phớt lờ cảm xúc của chính mình nhiều đến thế nào chăng nữa, việc tôi không thích con gái càng ngày càng trở nên rõ rệt. Một hôm, tôi mơ màng nghĩ đến một bạn nam cùng lớp. Cậu ấy thật đáng yêu, tôi tự nhủ. Đôi khi, tôi cười quá lâu sau câu chuyện đùa của một cậu bạn nào đó hoặc lơ đãng giữa giờ học, mải mê nghĩ về các cậu con trai khác. Lớp bảy trôi đi, những cảm xúc và suy nghĩ về sự hấp dẫn này ngày càng trở nên khó kiềm chế. Chúng cứ xuất hiện suốt. Mình bị làm sao thế này? Dù những dấu hiệu đã rõ ràng, tôi vẫn không thực sự chắc, hoặc sẵn sàng để đối diện với mọi chuyện. Tôi không biết người khác sẽ phản ứng ra sao, nhưng luôn có một cảm giác suy sụp rằng sẽ chẳng có gì tốt đẹp. Tôi gom những cảm xúc ấy vào và nhốt chúng lại trong một hầm mộ sâu thẳm. Tôi cố hết sức để quên chúng hoàn toàn. Tôi tập trung vào khoa học. Đó là thứ mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống của tôi. Điều tôi yêu quý nhất ở khoa học là cách nó cho phép tôi hé mắt nhìn vào một thế giới khác, đưa tôi đến những chốn sâu sắc hơn phía sau bao màu sắc và hình khối tưởng chừng ngẫu nhiên quanh mình, đến với thực tại của những quy tắc và nguyên lý, đến một cái đích nơi càng biết nhiều tôi càng lột bỏ được nhiều lớp phủ bên ngoài để đến gần hơn, khơi mở được những bí mật bên trong mỗi vấn đề, mỗi điều huyền bí của vũ trụ. Trong khoa học, tất cả đều có lôgic riêng. Mọi hành động đều có nguyên nhân và mọi vấn đề đều có lời giải đáp. Giá mà tôi có thể truyền đủ cảm hứng cho chính bản thân mình để khám phá ra tất cả. Tôi cảm thấy những gì mình có thể đạt được là không giới hạn. Tôi chắc rằng mình đang ngày càng tiến bộ. Tôi tự tin hơn. Tâm trí tôi tựa một vũ khí đầy uy lực, tự do tung hoành khi gặp phải bất cứ vấn đề nào. Khi một trong những bãi biển yêu thích phải đóng cửa vì ô nhiễm, tôi thấy các nhà chức trách địa phương phải đánh vật với những thiết bị đắt đỏ để đánh giá chất lượng nước. Những cuộc kiểm tra đó không chỉ tốn kém mà còn thiếu thiết bị. Cuộc nói chuyện với chú Ted về loài cua và hiện tượng ô nhiễm ở vịnh Chesapeake giết chết loài cua vẫn còn in trong đầu tôi, hệt như mới hôm qua. Phải có cách nào đó hay hơn! Trên cơ sở những điều học được sau khi nghiên cứu các con lạch, tôi nghĩ mình có thể đưa ra giải pháp. Tôi nghĩ có thể tìm ra một chất chỉ thị ô nhiễm qua cách thức sinh vật phát quang sinh học – những sinh vật tí hon biết phát sáng để phản ứng với chất gây ô nhiễm. Tôi bắt đầu nuôi cấy khuẩn phát quang sinh học ở nhà, trong căn phòng duy nhất không có cửa sổ – phòng tắm. Sau vài tuần, tôi đã thu được nhiều sinh vật phát sáng đến mức mẹ có thể đọc sách trong phòng tắm mà không cần bật đèn. Bằng việc đặt các sinh vật vào các môi trường ô nhiễm ở nhiều mức độ, tôi đi đến kết luận rằng càng hấp thụ nhiều chất bẩn, ánh sáng của sinh vật phát quang sinh học càng mờ đi. Tôi đặt tên cho nghiên cứu khoa học cấp trường năm nay là “Khám phá sáng ngời: Liệu vi khuẩn Vibrio Fischeri có phát hiện được chất gây ô nhiễm nguồn nước sinh khả dụng ở lưu vực sông Stony Creek hay không?” Giờ đây, khi đã “dắt lưng” được một năm kinh nghiệm, tôi thấy đủ tự tin để trình bày thật tốt. Và tôi đã làm được. Hai năm liên tiếp, tôi ra về với vị trí quán quân chung cuộc của Hội thi Khoa học kỹ thuật quận Anne Arundel. Nhờ giành giải thưởng lớn trong hai năm liên tục, tôi nhanh chóng trở thành nhân vật được quan tâm trong thế giới cạnh tranh đầy khốc liệt của các hội thi khoa học. Khi tôi đang nghiên cứu phương án phát hiện ô nhiễm, anh Luke, lúc ấy vừa vào cấp ba, cũng lội sâu xuống nước. Dự án của anh ấy thực sự xuất sắc. Đó là dự án nghiên cứu những tác động tiêu cực đối với môi trường, sinh vật hoang dã của hệ thống thoát nước mỏ axit và có thể đưa ra một giải pháp thực sự. Luke thiết kế một tế bào để kiểm tra bốn biến số khác nhau. Với những biến số đó, anh ấy có thể tạo ra tế bào hoàn hảo dành cho bất cứ dòng chảy nào dựa trên các tham số cụ thể. Nó không chỉ thay đổi cách xử lý ô nhiễm trong các dòng chảy và tiết kiệm được hàng chục triệu lít nước sạch mà còn dễ áp dụng hơn rất nhiều so với công nghệ đá vôi hiện tại. Bài thuyết trình hội thi khoa học của tôi năm lớp bảy: “Khám phá sáng ngời: Liệu vi khuẩn Vibrio Fischeri có phát hiện được chất gây ô nhiễm nguồn nước sinh khả dụng ở lưu vực sông Stony Creek hay không?” Luke đặt tên cho nghiên cứu đó là “Bổ sung điện hóa học AMD – Hướng giải pháp xử lý ô nhiễm mỏ axit?” Anh em tôi lên kế hoạch đưa dự án của mình tham gia hội thi khoa học ngoài khu vực: “Olympic quốc tế về nghiên cứu thế giới bền vững (năng lượng, kỹ thuật và môi trường)” ở Houston, Texas (với tên viết tắt tiếng Anh là I-SWEEEP). Giờ đây khi đủ tự tin phát biểu trước đám đông, tôi nghĩ mình sẽ thuyết trình trôi chảy hơn nhưng tôi cũng biết, cuộc thi này “khó nhằn” hơn rất nhiều. I-SWEEEP là một trong những hội thi khoa học môi trường lớn nhất thế giới, nơi 1.655 nhà khoa học trẻ đến từ 71 quốc gia tranh tài. Sân khấu ở đây lớn hơn bất kỳ sân khấu nào tôi từng thấy ở Maryland. Và cuộc thi thì đúng là không thể tin nổi. Đây là lần đầu tiên tôi tham dự một hội thi toàn quốc, và không bận tâm lắm đến chiến thắng, bởi nghĩ mình không có cơ hội. Mục tiêu của tôi là học hỏi và hy vọng sẽ dùng được những tri thức đó cho dự án tương lai. Rõ ràng mọi thứ ở I-SWEEEP đều ở đẳng cấp cao hơn – từ độ phức tạp của các dự án cho đến cách người nghiên cứu trình bày ý tưởng. Tại hội thi, tôi đi dọc sảnh hội nghị để ngắm nhìn các dự án nghiên cứu và thấy một đám đông nho nhỏ. Khi đọc tấm bảng giới thiệu, tôi sững sờ: cô gái này đã tìm ra cách sử dụng sóng âm để dò mìn. Tôi đứng đó, mở to mắt kinh ngạc. “Xin chào, tôi là Marian Bechtel.” Cô gái trẻ nói và chìa tay về phía tôi. Tôi muốn biết mọi điều. Câu hỏi đầu tiên của tôi là – bằng cách nào? Marian kể rằng đã gặp gỡ một nhóm nhà khoa học quốc tế – những người đang nghiên cứu một thiết bị sử dụng rađa holographic5 để thăm dò mìn trong lòng đất. Họ đã truyền cảm hứng cho cô ấy. Khi chơi piano, cô ấy nhận ra các dây của chiếc đàn banjo gần đó đã cộng hưởng với một vài nốt nhạc hoặc hợp âm nào đó. Điều đó đã gợi mở cho cô ấy, có thể dùng sóng âm thanh hoặc địa chấn để kích thích những quả mìn bị vùi trong đất và từ đó tìm ra chúng. 5. Một kỹ thuật cho phép ánh sáng tán xạ từ một vật thể được ghi lại và sau đó tái tạo lại hình ảnh ba chiều trong một chùm tia laze. Nhờ đó, hình ảnh của vật thể này sẽ được nhìn thấy ngay cả khi nó không còn hiện diện tại vị trí đó nữa. “Tôi có thể kết hợp niềm đam mê mới mẻ về rà phá mìn nhân đạo với tình yêu âm nhạc.” Cô ấy nói. Bên cạnh phần trưng bày là mô hình thiết bị dò âm thanh làm từ phần khung của máy dò mìn sắt. Câu chuyện của cô ấy truyền cảm hứng cho tôi. Khi đến lượt trình bày, tôi nghiêm túc vào cuộc. Tôi vẫn giữ tờ giấy viết những mẹo thuyết trình của anh trai. Tôi không cố gây ấn tượng với giám khảo bằng những lời đao to búa lớn, mà cố gắng thuyết trình sao cho dễ hiểu và thú vị. Tôi và anh Luke nhận giải tại I-SWEEEP Cũng giống như hội thi khoa học khu vực, có hàng loạt hạng mục chuyên môn và một người chiến thắng chung cuộc. Khi giám khảo công bố tôi là người đứng đầu khối trường cấp hai, tôi hét lên – không hẳn vì vui sướng, mà bởi quá ngạc nhiên. Thật vinh dự khi dự án nghiên cứu ở lứa tuổi đó được thừa nhận ở cấp quốc gia. Nhưng tin “sét đánh” nhất chính là anh Luke trở thành nhà vô địch chung cuộc, có nghĩa là anh ấy đã giành được một suất tham gia hội thi khoa học thần thánh – Hội thi Khoa học Kỹ thuật Intel (ISEF). Khi bố mẹ bảo rằng tôi được “bám càng” anh trai tới San Jose, California, nơi tổ chức sự kiện đặc biệt kia, tôi chạy như điên quanh nhà bếp, đến mức tất cả mọi người – kể cả tôi – đều chóng cả mặt. Tôi được đến dự ISEF và cực kỳ ngạc nhiên khi thấy sự kiện này hoàn toàn khác với hội thi khoa học khu vực (nơi lẫn lộn giữa những nghiên cứu có-vẻ-tốt và có-vẻ-tệ) và thậm chí khác cả I-SWEEEP. ISEF đúng là “đỉnh của đỉnh”. Tất cả các thiếu niên ở đây đều sở hữu những nghiên cứu xuất sắc. Họ có tài ăn nói mạch lạc, ngập tràn đam mê và tài giỏi xuất chúng. Nói cách khác, tất cả bọn họ đều hoàn hảo. Tôi có gần một tuần ở bên những thiếu niên lớn hơn và thông minh hơn mình, và hoàn toàn nể phục họ. Tôi chạy lên chạy xuống các lối đi của hội thi khoa học, hệt một thằng nhóc loăng quăng trong cửa hàng bánh kẹo, và hỏi từng người về nghiên cứu của họ. ISEF tạo những tấm thẻ cực “ngầu” cho mỗi nhà khoa học, với một mặt là ảnh chân dung còn mặt kia là lý lịch trích chéo. Tôi thu thập thẻ của tất cả những người lọt vào vòng chung kết và nghiền ngẫm chúng kỹ lưỡng. Luke đã thể hiện thế nào ở ISEF? À, anh ấy đã giành giải thưởng trị giá 96.000 đôla. Tôi chưa bao giờ thấy ngưỡng mộ anh trai mình đến thế. Ngày cuối của cuộc thi, tôi ngồi trên hàng ghế khán giả trong khi Amy Chyao – năm ấy mới mười sáu tuổi – bước lên bục nhận giải cao nhất, giải thưởng Gordon E. Moore, cho thí nghiệm tuyệt vời của mình. Chị ấy dùng năng lượng ánh sáng để hoạt hoá một loại thuốc chống ung thư. Vừa về nhà, tôi vội lên mạng tìm thông tin về Amy Chyao cùng tất cả những điều tuyệt diệu về chị ấy. Câu chuyện thậm chí còn ấn tượng hơn tôi tưởng. Suốt năm thứ nhất và năm thứ hai ở trường trung học, Amy tự học môn Hóa. Sau đó, chị ấy áp dụng những điều đã học vào liệu pháp quang động học – quy trình sử dụng ánh sáng để tiêu diệt các tế bào ung thư trên bề mặt da. Liệu pháp quang động học đã xuất hiện từ lâu, nhưng mới chỉ được dùng để chữa các bệnh ung thư nằm gần bề mặt da. Tuy nhiên, bằng cách sử dụng phân tử nano bán dẫn siêu nhỏ (các hạt li ti sinh điện) phóng chúng ở một bước sóng ánh sáng nào đó, Amy phát hiện ra rằng chị ấy có thể tạo ra một dạng ôxy đủ sức tiêu diệt tế bào ung thư. Khi những phân tử nano này được tiêm vào cơ thể, chúng sẽ di chuyển theo các mạch máu hoặc tập trung tại những khối u ác tính. Phân tử do chị Amy phát triển cho phép các bác sĩ sử dụng liệu pháp ánh sáng mục tiêu để xâm nhập sâu hơn vào cơ thể, kiến tạo khả năng chữa trị nhiều căn bệnh ung thư khác nằm dưới da. Tất cả những thành tựu đó đến từ một học sinh chẳng lớn hơn tôi là bao. Chị ấy thật tài giỏi, dũng cảm, và hơn hết, vô cùng sáng tạo. Đó là tất cả những gì tôi hướng tới. Tôi bắt đầu nghĩ về bản thân – nếu mình lao làm việc như thiêu thân thì sao nhỉ? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi học tập và tư duy giống những người trẻ kiệt xuất này? Biết đâu một ngày nào đó, tôi cũng sẽ được tham gia ISEF. Biết đâu một ngày nào đó, tôi sẽ làm được điều gì đó để thay đổi thế giới, giống như người hùng mới của tôi, Amy Chyao. Tôi bắt đầu mộng mơ về tương lai khoa học của mình. Sau khi giành giải cao nhất cho học sinh cấp hai tại I-SWEEEP, tôi tưởng khi trở lại trường, mình sẽ được đón chào như một kẻ chinh phục, có lẽ không chỉ Damien, mà là tất cả những học sinh còn lại. Nhưng tôi đã nhầm. Ngôi sao khoa học của tôi càng vút cao thì thái độ của các bạn cùng lớp càng thay đổi rõ rệt. Ban đầu, tôi nghĩ mình chỉ tưởng tượng thôi. Nhưng rồi tôi bắt đầu nhận ra nhiều điều hơn thế. Trong ngôi trường siêu cạnh tranh như trường tôi, nỗi bực bội trước thành công của tôi bắt đầu sôi sục. Tưởng chừng mọi thứ đã thay đổi chỉ sau một đêm. Trong lần đầu giành giải năm lớp sáu, dường như các bạn ở trường đều mừng cho tôi. Nhưng giờ đây, cứ nhắc đến hội thi khoa học là tôi lại nhận ra ánh nhìn khang khác của các bạn. Thay vì chia sẻ niềm hào hứng, họ có vẻ giận dữ. Khi đi dọc hành lang, tôi nghe mọi người xì xào về mình. Nhìn qua khoé mắt, tôi có thể thấy những nụ cười giả dối và những điệu cười khẩy. Dù đã tự nhủ bao lần rằng mình chỉ hoang tưởng, thực tế là vậy. Suốt tuần thứ ba của lớp bảy, tôi bước vào nhà ăn, đặt khay xuống bàn và thấy mọi người đang trong bàn đứng dậy bỏ đi. Họ không hề giải thích. Họ chỉ không muốn lại gần một đứa như tôi. Tôi thấy mình vô hình, hệt như một bóng ma mà ai cũng biết, nhưng không ai muốn thừa nhận. Để tránh bị bẽ mặt và muốn tránh những trải nghiệm khủng khiếp khác, tôi quyết định bỏ hết các bữa ăn trưa. Sau khi chuông hết tiết bốn reo, tôi đi theo các bạn khác đến nhà ăn, rồi vào phút cuối, khi phải xếp hàng dài dằng dặc vào nhà vệ sinh nam, tôi vọt vào gian dành cho người khuyết tật và khóa trái cửa lại. Khi đã an ổn bên trong, tôi ngồi lên nắp bồn cầu, lấy bánh kẹp bơ đậu phộng phết mứt trái cây ra, dùng dụng cụ chia giấy vệ sinh làm khay đựng và lặng lẽ ăn. Khi có ai đó thực sự cần dùng nhà vệ sinh thì việc ăn trưa trở nên hết sức khó chịu. Tôi nhấc chân lên và ngừng nhai cho đến khi họ “xong việc”. Sự hiện diện của tôi chẳng có ý nghĩa gì. Có ai nhớ thằng nhóc cấp hai với cặp kính dày cộp, to bự, đeo niềng răng và luôn giơ tay phát biểu trong lớp không? Vâng, chính tôi đấy! Ngoài những đặc điểm ấy, tôi có xu hướng gặp rủi ro như đột ngột chảy máu mũi trong những khoảng thời gian tệ nhất chẳng hạn. Lớp học ít người cũng là một vấn đề. Việc mắc kẹt với 24 đứa khác suốt ba năm trung học có nghĩa là, một khi đã mang tiếng, thì có cố gột rửa thế nào cũng không sạch. Tôi tưởng sự thay đổi phong cách sẽ có tác dụng. Tôi thấy mái tóc bờm xờm của mình có vẻ cổ lỗ sĩ. Mẹ đã đưa tôi đến chỗ chuyên gia làm tóc trong vùng. Tôi hỏi cô ấy về kiểu tóc mốt nhất. Cô ấy cắt cho tôi kiểu đầu bát úp. Mái tóc ấy đã mang về cho tôi biệt danh “Đầu gáo dừa.” Kiểu tóc của tôi trông chẳng giống quả dừa, nhưng có vẻ như tụi cùng lớp chẳng thèm bận tâm. Bất cứ khi nào có ai đó thốt ra từ dừa là mọi người lại cười rộ lên. Jake đã chuyển đi. Sam đã chuyển đi. Logan không nói chuyện với tôi. Tôi hoàn toàn cô đơn. Tôi còn bắt đầu đối diện với bản chất giới tính của mình. Tôi không thể tiếp tục phớt lờ mọi dấu hiệu được nữa. Tôi biết tôi là một đứa gay (đồng tính nam). Dẫu vậy, tôi vẫn giữ quyết tâm (ít nhất là) cố vờ như mình giống những người khác. Một phần trong tôi vẫn ôm hy vọng rằng biết đâu tất cả những cảm xúc kỳ lạ này sẽ biến mất. Bởi nhiều lý do, có vẻ đây là cách hay nhất để giải quyết vấn đề. Đầu tiên, có những từ lóng ghét-gay đã được định nghĩa sẵn, găm vào vốn từ vựng trung học cơ sở. Nếu bạn vẫn chưa biết, thì tôi xin giải thích rằng, trong từ điển phiên bản thiếu nhi, từ gay đồng nghĩa với “dị hợm”, “thô thiển”, “hèn nhát”… nói chung là bất cứ thứ tồi tệ nào trên đời. Nếu ai đó cư xử một cách ngốc nghếch, họ “đích thị là gay”. Nếu ai đó thiếu dũng cảm, họ bị bảo rằng: “Ê, đừng có gay nữa!” Nếu ai đó thích một loại nhạc lạc lõng – a ha, bạn đoán đúng rồi đấy, thật là “quá gay”. Nghĩ mà xem, việc công khai là gay – theo đúng nghĩa đen – rõ ràng không phải là lựa chọn tốt nhất dành cho cậu nhóc Jack mười hai tuổi. Tuy đã cố giấu diếm, nhưng việc tôi là gay ngày càng lộ rõ ở trường. Giờ họ đã có vũ khí hoàn hảo để nhiếc móc và chế nhạo tôi. Giữa năm lớp bảy, dường như chỉ còn mỗi gia đình và chú Ted tưởng tôi là “trai thẳng”. Mỗi ngày, sau giờ học, tôi về nhà, ngồi bên bàn bếp, cố thả lỏng trong thế giới của toán và khoa học. Tôi giữ nỗi đau lại cho riêng mình. Tôi vẫn chưa thấy thoải mái để nói về các vấn đề riêng tư, một phần là bởi tôi chưa hiểu hết về chúng. Mỗi lần gặp chú Ted, tôi như được hít thở một luồng khí trong lành. Chú lúc nào cũng lạc quan. Chú đoán được rằng tôi đang gặp khúc mắc nào đó, nhưng không ép tôi nói ra. Thay vào đó, chú nhìn xuống vở bài tập của tôi, lắc đầu: “Mọi chuyện thế nào hả Jack?” Chú hỏi. “À, cháu đang đánh vật với các số bình phương.” Tôi đáp. “Có một cách hay hơn.” Chú vừa nói vừa cầm bút chì của tôi lên và hướng dẫn một cách tính nhẩm khác. Cách này còn hay hơn cả phép chia dài. Chú Ted kiên nhẫn chỉ cho tôi cách giải quyết vấn đề. Trước khi rời đi, chú bảo: “Jack, dù ở trường có chuyện gì, và dù việc buông thả rất dễ dàng, nhưng cháu phải luôn nhớ mình là ai. Không ai có thể động đến cháu, trừ khi cháu cho phép họ làm vậy.” Chẳng bao lâu sau, lời khuyên của chú được dịp kiểm chứng ngay. Tụi bạn cùng lớp quyết định công bố sự khác biệt của tôi ra khắp bàn dân thiên hạ. Khi cả lớp đang đợi giáo viên dạy nhạc đến mở cửa phòng học, khoảng tám, chín đứa quây tôi lại. “Sao hả, thằng đần?” Một đứa trong đám trơ tráo ấy quát. Họ đang nói với tôi. Dĩ nhiên là nói với tôi rồi. Tôi vờ như không nghe thấy, nhưng điều đó chỉ khiến giọng họ to hơn. “Mày định làm gì hả thằng bỏ đi?” “Mày sắp khóc hả?” Tôi nhìn quanh, tìm bóng dáng giáo viên. Nhưng cô giáo đến muộn. Những kẻ chất vấn đang rất sẵn khán giả và chúng chuẩn bị trình diễn. “Mày biết là mày sẽ chẳng làm nên trò trống gì, phải không, thằng bỏ đi?” Tôi không bị khiêu khích. Tội lỗi duy nhất của tôi là đứng chết trân ngoài cửa lớp. Tôi thấy mặt mình đỏ rần. Tôi cố mỉm cười. Vì không biết phải nói gì nên tôi chẳng nói gì cả. Cô giáo đâu? Cô giáo đâu rồi? Tôi cúi đầu xuống, chờ đợi. Tôi biết cô giáo sẽ đến bất cứ lúc nào. Bất cứ lúc nào. Vòng tròn siết chặt hơn. “Mày khóc hả, thằng pê-đê?” Tôi cảm nhận được sức nóng quất vào mình từ những lời lẽ ấy. Tôi tránh nhìn vào mắt chúng. Giờ tôi ước mình thực sự vô hình. Giờ tôi ước có một cái lỗ nẻ để nhảy vào và biến mất. Ấy thế mà, những giọng nói càng lúc càng dồn dập. Cô giáo sẽ đến trong một phút nữa. Cố chịu một phút nữa thôi. Vòng tròn siết chặt thêm. Một trong những đứa đó đẩy tôi. Rất mạnh. Tôi ngã nhào xuống đất. Sách vở văng tung tóe. Mũi tôi bắt đầu chảy máu. Tôi nhìn lên các bạn cùng lớp. Máu nhễu trên tay, trên sách, quần áo của tôi và cả trên sàn nhà. Cả lớp đang cười sằng sặc. “Mày tưởng mày ngon lắm hả? Tự nhìn lại mình đi!” Tôi nghe một trong số chúng chế nhạo trong lúc chạy về nơi trú ẩn an toàn duy nhất – phòng vệ sinh dành cho người khuyết tật. Tôi gài then cửa, ngồi lên bồn cầu, bưng mặt khóc. Khóc thật lâu. Sau sự vụ giờ âm nhạc, tiếng tăm của tôi đã chính thức được khắc trên đá bằng axit. Tôi nằm trong danh sách Dở Hơi và chẳng thể làm bất cứ điều gì để thay đổi điều đó. Không chỉ mỗi học sinh chống lại tôi. Đôi khi, các giáo viên và nhân viên trong trường cũng gia nhập dàn đồng ca ghét bỏ. Rất nhiều người trong số họ sùng đạo, và thế giới quan của họ đi ngược với bản tính của tôi. Đối với rất nhiều người trong số họ, đồng tính là sai trái và vô đạo đức. Điều đó có nghĩa là, những người mà lẽ ra tôi có thể trông cậy đã không chấp nhận con người tôi. Họ tin rằng tôi, với tư cách con người, là kẻ sai trái và vô đạo đức. Một hôm, khi tôi gặp rắc rối trong lớp, một giáo viên buột miệng thốt lên: “Em là gì thế? Gay hả?” Chỉ mấy chữ thôi. Nhưng chúng là đòn trí mạng với tôi. Là gay thì có gì sai? Mình bị làm sao thế này? Tôi đoán rằng, nếu có địa ngục, thì có lẽ trông nó rất giống trường cấp hai của tôi. Khi lớp bảy cuối cùng cũng kết thúc, tôi nhẹ nhõm cả người. Năm nay, tôi mong chờ được đi bắt cua với chú Ted hơn bao giờ hết. Sau khi thả bẫy và lưới kéo đủ sâu, chú hỏi tôi về trường học. “Hơi khó khăn một chút ạ.” Tôi đáp lại bằng một lời nói tránh. Tôi tin rằng chú biết nhiều hơn thế. “Jack, hãy nhớ tất cả những điều cháu mong mỏi.” Chú nói. “Cấp hai có thể là một giai đoạn khó khăn, nhưng mọi thứ sẽ ổn hơn khi cháu lên cấp ba. Một ngày nào đó, cháu sẽ làm nên chuyện. Chú chắc chắn đấy.” Chú nói tiếp. Mùa hè trước năm lớp tám đồng nghĩa với việc trở lại trại hè toán học. Sau khoảng thời gian tuyệt vời ở mùa hè trước, tôi háo hức mong được nhảy lên máy bay và tránh càng xa Crownsville càng tốt. Tôi muốn, một lần nữa, được là chính mình. Trại hè năm nay được tổ chức ở Wyoming. Tuần đầu tiên, tôi gặp một cậu chàng tên là Anthony. Cậu ấy thông minh, vui tính và có chung sở thích với tôi. Chúng tôi nhanh chóng kết thân, nhưng đến tuần thứ hai, cảm giác của tôi đối với cậu ấy đã phát triển đến ngưỡng trên-tình-bạn. Tôi thích cậu ấy. Tôi cảm giác rằng cậu ấy cũng thích tôi. Có gì đó là lạ trong cái cách cậu ấy nhìn tôi. Chưa bao giờ tôi thích được giải toán cùng người khác đến thế. Chúng tôi vừa cười nói vừa thi xem ai tìm ra cách giải nhanh nhất. Có những khoảnh khắc tôi thấy mình cực kỳ căng thẳng, như cái đêm chúng tôi ngồi trên ghế bành xem World Cup cùng nhau. Tôi rất muốn bày tỏ với cậu ấy. Tôi tự nhủ, cậu ấy bao dung và tốt bụng, nếu ở bên cậu ấy, tôi sẽ được an toàn, được là chính mình. “Anthony…” Tôi mở lời. “Ừ?” Tôi cố gắng nhiều lần nhưng vẫn không đủ can đảm. Tôi sợ nếu nói ra, mọi thứ sẽ rối tung lên. “À, chẳng có gì đâu!” Thời gian trôi qua, tôi ngày càng thấy áp lực với việc phải thành thực với cậu ấy về cảm xúc của mình. Trại hè toán học sắp kết thúc và có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại cậu ấy. Điều gì sẽ xảy ra nếu sự hèn nhát của tôi hủy hoại mối quan hệ có thể sẽ tuyệt vời nhất từ trước đến giờ? Rốt cuộc, vào ngày cuối, tôi hạ quyết tâm. Dũng cảm lên! Mình làm được! Cả trại đang chơi cướp cờ. Chúng tôi chạy cùng nhau. Tôi bảo: “Dừng lại, tớ cần nói với cậu chuyện này.” “Chuyện gì?” Tôi muốn kể với cậu ấy tất cả những gì tôi cảm thấy suốt một tháng qua. Tôi muốn cởi mở về bản thân mình, nhưng không thể thốt nên lời. Khi sự im lặng dài đến mức khó chịu, cậu ấy bắt đầu nhìn tôi bằng ánh mắt bối rối. “Sao thế?” Cậu ấy giục tôi lên tiếng. Tôi biết, hoặc là bây giờ, hoặc là không bao giờ. “Tớ là gay.” Tôi nói. Dường như cậu ấy đông cứng lại. Tên đã rời cung, không thể quay lại được nữa. Tôi đã ra đòn quyết định. “Và tớ nghĩ rằng cậu khá dễ thương.” “Được rồi!” Cậu ấy đáp và lùi lại một bước. Rồi cậu ấy quay đi và bỏ chạy một mạch. Tôi ngồi thụp xuống, vùi mặt vào hai lòng bàn tay. Cậu ấy không bao giờ nói chuyện với tôi nữa. Tôi khóc sụt sùi suốt chuyến bay về nhà. Dù cố gắng đến mấy cũng chẳng ích gì. Tôi bắt đầu lo sợ, rằng mình sẽ trở thành đứa trẻ mãn đời chết dí trong phòng thí nghiệm dưới tầng hầm bởi chẳng ai thèm bầu bạn. Chương 3Công thức tạo thảm họa T rở về nhà sau trại hè toán học, tôi thấy áp lực lại dồn thêm. Tôi không muốn gặp ai. Tôi không muốn đi bất cứ đâu. Tôi chỉ muốn ở trong phòng mình. Một hôm, thấy mẹ nói chuyện điện thoại dưới nhà, tôi quyết định ra cầu thang nghe trộm đoạn cuối. Tôi nghe lõm bõm, nhưng đủ để biết rằng đó là một cuộc nói chuyện hệ trọng. Bầu không khí trong phòng dần trở nên quá mức nặng nề. Tôi nhanh chóng nhận ra mẹ đang nói chuyện với ai đó về chú Ted. Chú ấy bị ốm. Bị ung thư. Chú Ted? Ung thư ư? Tôi mất một giây để nghe và hiểu chuyện. Rồi tôi đi đến một kết luận là chẳng có lý do gì để xúc động hay hoang mang. Tuy chẳng hiểu mấy về ung thư, nhưng tôi biết đủ nhiều để cảm thấy buồn thương cho chú Ted, bởi chú ấy sắp phải trải qua đủ kiểu điều trị khủng khiếp. Nhưng, một phần khác trong tôi lại thờ ơ, lãnh đạm. Ngày nay có biết bao người bị ung thư. Tôi tự nhủ. Thường thì họ đều ổn. Và đây là chú Ted cơ mà! Dĩ nhiên là chú ấy sẽ ổn! Nghe tiếng mẹ cúp điện thoại, tôi từ từ bước xuống cầu thang và hỏi xem ai ở đầu dây bên kia. “Jack, mẹ con mình đi dạo nhé!” Mẹ bảo. Khi bắt đầu bước xuống con đường mòn cạnh nhà, mẹ mở lời. “Chú Ted ấy mà. Chú ấy đang ốm nặng.” Mẹ giải thích rằng chú bị ung thư tuyến tụy. “Chú ấy sẽ ổn chứ mẹ?” Tôi thắc mắc. Mẹ do dự. Đôi mắt mẹ trông rất lạ. Dường như mẹ đang phải cố giữ bình tĩnh. “Chú Ted gặp được những bác sĩ rất giỏi. Họ sẽ làm mọi cách để giúp chú ấy khỏe hơn.” Bà đáp. Sau cuộc đi dạo, tôi về phòng, đóng cửa, vùi đầu vào chăn và khóc. Tôi không biết tại sao mình khóc. Tôi nhủ rằng mình chỉ mệt mỏi thôi. Tôi đang phải đối diện với quá nhiều điều không như ý. Sắp sang lớp tám, tôi thấy khiếp đảm khi nghĩ đến việc trở lại trường. Trước khi khai giảng, tôi nhận được chút tin vui: Logan nhắn rằng cuối cùng cô ấy cũng tha thứ cho sự xấu tính của tôi hồi lớp sáu. Điều đó không có nghĩa chúng tôi là bạn thân nhất, nhưng ít ra, chúng tôi lại thân thiện với nhau. Với vị thế lúc này, tôi lấy làm mừng khi có ai đó không ghét mình nữa. Điều đầu tiên bạn cần hiểu về cuộc đời tôi khi năm lớp tám bắt đầu là, trên thực tế, có hai Jack. Jack thứ nhất là kẻ tôi trưng ra cho người khác nhìn. Cuộc sống của Jack ấy đã được tính trước. Nó hạnh phúc. Nó mỉm cười, chiến thắng các hội thi khoa học, được điểm A các môn và thậm chí tự giác đi đổ rác, không cần ai nhờ vả. Đó là Jack mà tôi muốn trở thành. Nhưng thực ra tôi đang sống một cuộc đời hai mặt. Bên dưới nụ cười toe và những chiếc cúp vô địch, có một Jack khác cực kỳ không hạnh phúc. Nó chẳng biết làm gì để cải thiện tình hình đó cả. Trong hành trình tìm kiếm giải pháp, lý trí luôn kéo tôi về thế giới khoa học. Nếu có thể tìm ra nguyên lý đằng sau việc bị ruồng bỏ ở trường học, chắc chắn tôi có thể giải quyết vấn đề và đưa đời sống xã hội của mình về guồng quay tốt đẹp. Tôi phân tích tình hình và đi đến kết luận rằng nguyên nhân không nằm ở cách tôi cư xử với Logan hay sự ghen tỵ của các bạn cùng lớp với giải thưởng khoa học của mình. Nguyên nhân nằm ở nơi sâu xa hơn thế. Nó nằm ở chỗ, tôi là ai. Tôi có thể làm gì? Tôi phải làm sao để hòa nhập? Tôi nhủ thầm, có lẽ, nếu cứ tảng lờ nỗi đau, bằng một cách kỳ diệu nào đó, mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn. Lưu ý gửi bạn đọc: Hãy cảnh giác với bất kỳ kế hoạch nào dựa trên điều kỳ diệu. Quyết định né tránh cảm xúc của mình có nghĩa là mọi nỗi đau bên trong sẽ không được giải tỏa. Tất cả những cảm xúc khủng khiếp bị kìm nén, không lối thoát, áp lực cứ chất cao dần, cao dần. Tôi biết, có điều gì đó cần phải thay đổi. Và khao khát được thay đổi đến tuyệt vọng. Tôi quan sát những bạn được yêu mến và cách cư xử của họ. Hầu hết họ không giơ tay hay đặt câu hỏi liên tục. Họ đạt điểm cao nhưng không thể hiện rằng đã học hành chăm chỉ. Tôi quyết rồi, điều đầu tiên cần làm là vứt bỏ tấm mác về một kẻ ham thích khoa học và toán. Thế nào là “ngầu”? Sự thờ ơ, tức chẳng quan tâm đến bất cứ điều gì, chính là “ngầu”. Tôi trở thành một thằng như thế. Ai thèm quan tâm chứ? Không phải tôi. Tôi chẳng quan tâm gì hết! Hoặc ít nhất là tôi đang cố không quan tâm. Tôi không bao giờ để lộ rằng mình làm khoa học và toán cho vui. Tôi quan tâm đến điều gì? Trò chơi điện tử! Chỉ những thằng ngố mới chăm chỉ học hành ở trường, phải không nào? Hãy chỉ chơi World of Warcraft! Sau khi chơi xong, ta lại chơi tiếp! Rồi chơi tiếp, chơi tiếp… chơi tiếp. Nếu thầy cô đưa ra một phương trình, tôi sẽ vờ như không hiểu gì hết. Tôi không giơ tay hay trao đổi bằng mắt. Bất cứ khi nào thầy cô gọi, tôi đều nhún vai tảng lờ. Dẫu vậy, vài tuần trôi qua, bạn cùng lớp vẫn không chấp nhận tôi. Tôi nghĩ mình cần cân nhắc lại tình hình và cố gắng đưa ra một giải pháp mới. Mình biết cách hay nhất để được chấp nhận. Tôi nghĩ. Mình sẽ hùa cùng bọn họ! Đúng rồi – tôi sẽ gia nhập dàn đồng ca ghét bỏ. Tôi bắt đầu chấp nhận ngôn ngữ của họ và gọi bất cứ thứ gì kỳ lạ hoặc quê quê bằng cách khinh miệt nhất: “gay”. Tôi treo trên mặt nụ cười giả dối hoàn hảo nhất khi chĩa những lời lẽ từng khiến bản thân tổn thương sâu sắc về phía đứa dễ bị tổn thương nhất mà mình tìm được. Không khó để tìm ra. Cậu ấy tên là Andres và có lẽ là đứa trẻ duy nhất trong trường gặp nhiều vấn đề hơn tôi. Andres khá kỳ cục. Trong giờ học, cậu ấy ngồi một mình cuối lớp và gây những tiếng động rất kỳ lạ. Đôi khi, cậu ấy ngoáy mũi và nghiên cứu mớ gỉ mũi. Trong hình hài mới của một kẻ chuyên đi căm ghét, tôi bắt đầu cuộc công kích ngôn ngữ bằng cách thóa mạ nghiên cứu khoa học của cậu ấy – kiểu sỉ nhục tồi tệ nhất trong trường. “Nghiên cứu hay đấy!” Tôi nói thế, nhưng thái độ thì hoàn toàn ngược lại. Rồi tôi công kích bản năng giới tính của cậu ấy. “Đừng có gay nữa!” “Đúng là quá gay!” “Như thế là gay-gay-gay, GAY!” Tôi không biết cậu ấy có gay thật hay không. Điều đó chẳng quan trọng lắm. Tôi thấy mình là một kẻ phản bội, không chỉ với người mà mình đang chế nhạo, mà với chính bản thân tôi nữa. Khi tưởng rằng mình không thể lún sâu thêm, hành động tự-chối-bỏ bản thân khủng khiếp nhất này đã kéo tôi xuống một cấp độ mới. Sâu thẳm bên trong tôi, sự tiêu cực và áp lực ngày một nặng nề hơn trong cái vòng luẩn quẩn của cảm giác bị cô lập đến cực đoan. Giữa lớp tám, có vẻ như quá trình biến đổi đã hoàn thành. Thằng Jack trẻ ranh và vui tươi, cái đứa dành cả mùa hè nghịch cành khô bên bờ sông cùng gia đình đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một đứa trẻ ủ ê, bối rối, lúc nào cũng sùm sụp mũ trên đầu và đút tay vào túi áo. Tôi cảm thấy thế giới xung quanh ngày càng siết lại và u ám hơn. Khi chỉ có một mình, tôi òa khóc. Trước những người khác, tôi mỉm cười, nhưng lòng đổ lệ – thế còn tệ hơn cả khóc một mình. Giữa khi ấy, tôi đi thăm chú Ted đang trong đợt hóa trị đầu tiên. Tôi mang theo cả một tấm thiệp chúc mau-lành-bệnh tự làm. Tôi không biết phải nói gì, chỉ biết đưa thẳng cho chú. “Cảm ơn cháu!” Chú nói. Tôi ngồi xuống mép giường bệnh của chú. Trông chú vẫn hệt như trước, vẫn là người đàn ông cao lớn, vạm vỡ với mái tóc nâu mỏng – như lần gần đây nhất tôi gặp. Nhưng giờ đây, câu chuyện hai chú cháu nói với nhau đã khác. Mọi thứ dường như trống rỗng. Chú cố tỏ ra bình thường, như thể chẳng có gì khác lạ. “Chính xác thì ung thư tuyến tụy là gì ạ? Bao giờ thì chú khỏe hơn?” Chú không muốn nói về chuyện đó và liên tục đổi chủ đề, hướng về phía tôi. Khi ấy, cuộc đời tôi chẳng có gì suôn sẻ cả, và tôi không muốn nói về nó. Hai chú cháu chẳng còn gì nhiều để nói với nhau. Lớp tám tiếp tục với những lời chế nhạo ngày một thêm tồi tệ. Mỗi khoảnh khắc ở trường, tôi thấy như mình bị đặt dưới kính hiển vi. Tôi chẳng bao giờ thoải mái, và mỗi khi tôi nói điều gì, tưởng như luôn có ai đó đợi sẵn để tung ra một lời thóa mạ. Đồ thất bại! Đồ gay! Jack, mày chẳng là cái thá gì! CHẲNG LÀ GÌ CẢ! Tôi quyết định chuyển sang một nguồn không bao giờ khiến mình thất vọng – mạng Internet. Tôi nhập từ khoá bắt nạt vào công cụ tìm kiếm và tìm được hơn hai lăm triệu kết quả. Không may là, chỉ một số ít thông tin giúp ích được cho tôi. Rất nhiều lời khuyên trên trang mạng do chính phủ điều hành – những hướng dẫn dành cho cha mẹ hỗ trợ con cái bị bắt nạt – có vẻ viển vông đến mức lố bịch. Có những lời khuyên kiểu như “Hô ‘dừng lại’ thật dõng dạc và tự tin. Ở gần người lớn hoặc một nhóm bạn khác.” Một trang khác gợi ý: “Chẳng chóng thì chầy, những kẻ bắt nạt sẽ chán và không cố làm phiền bạn nữa.” Còn cả: “Nếu bạn phải đương đầu với một kẻ bắt nạt và không thể bỏ đi trong tư thế ngẩng cao đầu, hãy dùng óc hài hước – nó sẽ khiến kẻ bắt nạt mất cảnh giác.” Bảo họ dừng lại ư? Hài hước ư? Bỏ đi ư? Ở gần người lớn ư? Một trang khác thậm chí còn gợi ý “cố gắng trao đổi và đạt được nhận thức chung”. Chắc chắn rồi! Và rồi tất cả sẽ nắm tay nhau, ca vang bài Kumbaya6. 6. Bài hát tâm linh Hebrew của người Mỹ gốc Phi được sáng tác vào những năm 1930. Tôi bắt đầu ngờ rằng rất có thể một đám bắt nạt đã tập trung lại với nhau và lập trang web này – như một sự giễu nhại tột bậc. Tôi phát hiện ra dường như rất nhiều lời khuyên trên mạng đang cổ xuý suy nghĩ rằng nếu nạn nhân biết nỗ lực để hòa giải với kẻ bắt nạt, thì biết đâu sẽ được chấp nhận. Bất kỳ ai từng thực sự bị đám đông dọa dẫm hoặc ghét bỏ đều hiểu rằng những lời nói đùa, bỏ đi, hay tảng lờ đều không thể giúp họ thoát khỏi kẻ bắt nạt. Tôi chán ngấy mọi thứ. Tôi nhận ra rằng mình không thể thay đổi bản thân. Thấy không, bị gay không giống như mang một đôi giày xấu xí. Tôi có thể thay giày, nhưng bản năng giới tính là một phần của con người tôi. Khi cảm thấy xấu hổ về chính bản thân mình, cả thế giới dường như trở thành một chốn xa lạ, nơi bạn không thuộc về. Chẳng có gì dễ chịu cả. Và đúng thế thật. Việc giấu giếm bản chất không lừa được bất cứ ai. Hùa theo dàn đồng ca bắt nạt rõ ràng là một ý tưởng thảm hại. Tôi nghĩ, có lẽ, nếu ngừng giấu giếm bản năng giới tính của mình, mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn. Tôi bỏ lại sau lưng những cảm xúc tồi tệ về sự cự tuyệt trong sự cố ở trại hè toán học. Tôi tự nhủ, lần đó khác, vì tôi đã bày tỏ tình cảm của một ai đó khác. Tôi nghĩ, nếu trung thực với tất cả mọi người về bản thân mình, tôi sẽ chịu đựng được những lời chòng ghẹo với bản-chất-tốt trước khi được mọi người chấp nhận. Có lẽ tôi quá tuyệt vọng. Tôi cũng không biết nữa. Ký ức về những ngày đen tối không phải lúc nào cũng rõ rệt, nhưng kể cả thế, cuối cùng tôi vẫn quyết định: công khai xu hướng giới tính của mình. Tôi cố suy nghĩ tích cực. Tôi tưởng sự công khai của mình sẽ là một khoảnh khắc kịch tính đầy tự hào, tựa như những kịch bản thường thấy trên ti vi hoặc rạp chiếu phim. Bạn biết đấy, trong những bộ phim ấy, người đồng tính nam lấy hết can đảm và đứng lên như một người hùng. Chẳng khác gì việc, vài phút sau khi công bố vị vua của vũ hội, người ta tuyên bố vào micro rằng vị vua ấy là gay. Và điều đó chẳng hề gì, bởi anh ấy thực ra vẫn là người mà bạn bầu chọn. Rồi tiếp theo, sau vài khoảnh khắc lộn xộn, khi tất cả học sinh lo lắng nhìn nhau, một tiếng vỗ tay chầm chậm, nho nhỏ bắt đầu phá vỡ sự yên lặng. Và sau đó, bất ngờ, tiếng vỗ tay rộ lên cho đến khi vị vua đồng tính vừa công khai được nhấc bổng ra khỏi sân khấu, chuyền trên bờ vai của những người bạn và đám đông hân hoan đưa chàng ra cửa giữa tiếng nhạc rộn ràng. Nhờ đó, khán giả biết rằng, những điều tuyệt vời đang chờ phía trước! Nhưng sự thật không như vậy. Chẳng có lời tuyên bố trang trọng nào hết. Thậm chí chẳng có cả lời tuyên bố từ “chính chủ”. Jack Andraka công khai giới tính qua tin nhắn. Chính xác! Tôi đã công khai xu hướng giới tính của mình qua tin nhắn đấy. Đúng là chết cười! Tôi “bắn” một tin nhắn cho Logan. Một tin nhắn đơn giản, thẳng thắn và đúng trọng tâm. Tôi viết: “Tớ là gay.” Khoảnh khắc kịch tính nhất xuất hiện trước khi tôi nhấn nút “gửi”. Tin tôi đi, khó khăn khủng khiếp! Logan chẳng hề tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhận được lời thú nhận của tôi qua tin nhắn. Cô ấy phản ứng như thể đã biết rõ mười mươi. Cô ấy vui vì tôi đã nói với cô ấy sự thật. Ổn đấy chứ! Có lẽ tôi đã đi đúng hướng. Tôi bảo cô ấy lan truyền tin nhắn này đi. Và cô ấy làm thế thật. Ngay khi tin nhắn được chuyển đi, tôi có chút nhẹ nhõm và thêm một chồng khiếp đảm. Bạn bè tôi sẽ nói gì? Thầy cô sẽ nói gì? Níu lấy cơ may rằng hành động này sẽ có tác dụng, tôi chờ đợi. Tôi không phải đợi lâu. Ngày hôm sau, tôi đến trường và nghe học sinh toàn trườngbàn tán về bản năng giới tính của mình. Nhưng thay vì lôi kéo được thiện cảm của thầy cô và các bạn như mong muốn, tôi lại càng trở thành mục tiêu xì xào. Giờ đây không chỉ tụi học trò lờ tôi đi mà sau khi tin nhắn về giới tính của tôi đi một vòng quanh văn phòng giáo viên, vài thầy cô đã không còn nói chuyện với tôi nữa. Còn khi thấy tôi, một vài bạn cùng lớp gọi tôi bằng một cái tên mới. Thằng bóng. Người ta gọi tôi là thằng bóng. Thường là gọi sau lưng. Đôi khi gọi ngay trước mặt. Nhìn lại thì, thật khó nói kiểu gọi nào khó nghe hơn. Nhưng điều tồi tệ gần bằng việc đó chính là những cái nhìn ghê tởm bám theo dai dẳng mỗi khi tôi bước đi. Tụi dân chơi thể thao là đáng ghét nhất. Tôi tránh chúng bất cứ khi nào có thể. Nhưng mỗi tuần, khi đến giờ thể dục, tôi lại rơi vào một lượt đấu mới. “Jack, sao mày gay thế hả?” Một thằng bạn cùng lớp hỏi. “Sao mày học toán ngu thế?” Tôi đáp trả một cách khập khiễng. Tôi cố gắng nhìn đi chỗ khác, ám chỉ rằng cuộc đối thoại đã kết thúc. Nhưng hành động ấy chẳng bao giờ có tác dụng. “Mày đã nghe gì về thằng nhóc gay vừa bị ăn đòn chưa?” Nó hỏi với vẻ thích thú độc ác lóe lên trong mắt. Tôi lờ nó đi. Nhưng tôi biết nó đang nói về chuyện gì. Ở trường, chúng tôi bàn tán câu chuyện về một anh chàng – người đã bị đánh vì “tội” là gay. Anh ấy bị đánh dã man đến mức phải nhập viện. Người ta không tìm thấy kẻ thủ ác. “Mày sẽ là đứa tiếp theo!” Hắn gào lên. Chẳng còn chốn dung thân cho mình nữa. Tôi cần phải gặp chú Ted, theo đường cùng cực nhất. Chú ấy đã nhập viện từ đầu năm. Tôi cố đến gặp chú nhiều nhất, nhưng đôi khi, vài tuần trôi qua mà tôi chẳng thể thu xếp được thời gian. Tôi chưa kể với chú về những rắc rối mình đang gặp phải, nhưng giờ tôi nghĩ, đã đến lúc làm rõ mọi chuyện. Chỉ chú Ted mới có thể chỉ cho tôi hướng đi đúng. Chú luôn biết phải nói gì. Ngay khi bước vào phòng bệnh, tôi giật bắn mình vì diện mạo của chú. Dù mới bốn, năm tuần không gặp, trông chú đã già đi đến hai mươi tuổi. Đầu chú trọc lóc. Chú gày guộc và xanh xao. “Cháu chào chú!” “Chào Jack!” Chú hỏi về các nghiên cứu khoa học của tôi và tôi kể cho chú nghe ý tưởng dùng vi khuẩn để phát hiện nguồn nước ô nhiễm. Tôi biết chú sẽ thích điều đó. Tôi không nhắc đến rắc rối của mình ở trường như dự định. Tôi không thể làm thế. Trong tình cảnh này, tôi không muốn chú phải lo lắng thêm bất kỳ điều gì nữa. Cuối buổi, tôi ôm chú thật chặt. Chú chẳng khác gì một bộ xương. Tôi cảm thấy xương bả vai của chú lồi ra khỏi lưng. Chú thì thầm vào tai tôi: “Jack, chú rất tự hào về cháu!” “Hẹn gặp chú tuần sau!” Tôi đáp. Trải nghiệm phòng bệnh đó chẳng ăn nhập chút nào với hình tượng chú Ted trong lòng tôi. Chú Ted chưa bao giờ ốm yếu thế. Tôi bỏ qua mọi dấu hiệu và chỉ coi đó là một ngày buồn. Sau khi công khai việc là gay và tiết lộ vài điều riêng tư, tôi thấy mình đã bị phơi bày hoàn toàn trước cuộc đời. Chẳng còn nơi nào để ẩn nấp nữa. Không còn đeo mặt nạ nữa. Giờ đây tất cả đều đã biết – tất cả, trừ gia đình tôi. Vài ngày sau khi gửi đi tin nhắn giờ đây-đã-trở-thành-nhục-nhã kia, tôi đi học về và thấy mẹ đứng đợi Ở trước cửa. Ở nhà tôi, việc mẹ đứng đợi trước cửa không bao giờ là một dấu hiệu tốt. Mẹ bảo: “Jack, con có muốn đi dạo một lúc thật lâu với mẹ không?” Mẹ thường nói thế để tôi biết rằng mẹ cần bàn việc gì đó quan trọng. Hai mẹ con đều biết câu hỏi đó chỉ mang tính lịch sự. Nó không hẳn là một câu hỏi, mà là một mệnh lệnh. Tôi gật đầu, đặt ba lô xuống và bước theo mẹ xuống con đường rừng quanh nhà. Mẹ đi thẳng vào vấn đề: một bạn cùng lớp nghe đồn tôi là đồng tính và đã kể lại với bố mẹ bạn ấy. Các vị phụ huynh này gọi cho mẹ tôi để hỏi xem tin đồn có thật hay không. Giờ mẹ muốn nghe tôi nói. “Jack, thật không con? Con là gay phải không?” Mẹ biết rõ khi nào tôi nói dối. Tôi cứng người. Tôi không đủ sức nhìn thẳng vào mắt mẹ. Tôi chỉ biết nhìn xuống đất. Mẹ sẽ nghĩ gì nếu biết sự thật? Tôi dịch một chân lên trước chân kia. Vâng, mẹ ạ. Đúng thế! Con là gay! Nhưng tôi không thể thốt ra những lời đó được. “Jack, mẹ sẵn sàng đi dạo suốt đêm. Mẹ muốn con trả lời mẹ.” Mẹ nói. Tôi biết mẹ không lừa mình. Mẹ tôi không lừa gạt ai bao giờ. Bà cố chấp đến tận xương tủy. Tôi thấy mình thua cuộc. Thua thảm hại. Tôi đã trở thành trò cười trong mắt bạn bè. Tôi không có người bạn nào thực sự. Tôi chẳng còn nhiều để mất. Thế là tôi nói với mẹ. “Vâng ạ.” Tôi lí nhí. “Ừ.” Mẹ đáp, không hề có dấu hiệu nào của sửng sốt hay thất vọng. “Đó chính là điều khiến con buồn phiền bấy lâu nay ư?” Tôi nhìn xuống mặt đất. Toàn lá và sỏi. Sỏi và lá. “Jack, bố mẹ không quan tâm đến điều đó.” Mẹ nói. “Đó là một phần con người con. Mẹ yêu con.” Và chuyện là thế đấy. Chẳng có gì to tát. Tôi là con trai của mẹ. Mẹ chỉ quan tâm đến việc tôi được hạnh phúc. Nghe vậy, tôi nhận ra rằng mình chẳng ngạc nhiên chút nào trước phản ứng của mẹ. Từ lâu, tôi đã tự nhủ rằng mẹ nghĩ thế nào cũng không quan trọng, mẹ có chấp nhận việc tôi là gay hay không cũng chẳng sao. Nhưng tôi đã lầm to. Sự chấp nhận của mẹ rất quan trọng đối với tôi. Một phần trong tôi ước rằng mình đã kể với mẹ sớm hơn. Biết đâu mẹ có thể giúp gì. Dẫu vậy, mọi chuyện vẫn chưa xong. Tôi vẫn phải nói chuyện với bố. Sau khi về nhà, tôi lủi nhanh vào phòng. Tôi không muốn xuống nhà khi bố về. Tôi không muốn gặp ai hết. Vài tiếng sau, tôi thấy tim mình nhảy vọt lên cổ khi nghe tiếng bố lùi xe vào ga-ra. Đó là âm thanh của điều không thể tránh khỏi. Đầu tiên là tiếng mở cửa xe, rồi tiếng sập cửa ra vào. Khi bố bước lên cầu thang, tôi đếm ngược từ mười bốn – số bậc dẫn lên phòng tôi. Tôi túm lấy một cuốn sách và vờ như mình đang đọc. Bố gõ cửa. “Mời vào!” Tôi nói, ra vẻ như mọi ngày. Dĩ nhiên, mẹ đã kể với bố về chuyện vừa xảy ra. Ít nhất thì tôi cũng không cần phải chủ động bắt đầu cuộc nói chuyện. Bố ngồi xuống giường và bảo tôi đặt sách xuống. “Jack, bố muốn con nhìn bố.” Ông nói. “Bố yêu con, Jack. Con chỉ cần biết rằng con luôn luôn là con trai bố, và bố luôn yêu con.” Cũng giống như mẹ, bố không khó chịu về việc tôi là gay. Ông cũng chỉ muốn tôi được hạnh phúc. Và tôi biết ông thực sự nghĩ vậy. “Con biết ạ!” Tôi đáp. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi sự ủng hộ của bố, nhưng khi bố làm thế, tôi thấy thực sự tuyệt vời. Tuy nhiên, Luke lại là một câu chuyện khác. Vài ngày sau khi tôi kể với bố mẹ, mới đầu, anh em tôi rất kiệm lời với nhau, dẫu tôi chắc chắn rằng anh ấy biết chuyện. Tôi biết anh ấy bận nên ban đầu cũng chẳng mấy lo lắng. Nhưng ngay khi bắt đầu bàn về chuyện đó, tôi biết có điều gì khang khác. Tôi nhận ra sự hài hước anh ấy dành cho tôi đã thay đổi. Anh ấy chế giễu tôi mọi lúc mọi nơi, tôi biết một ông anh trai thường hay làm thế, nhưng giờ đây, dường như sự chế giễu ấy gai góc hơn nhiều. Càng ngày tôi càng nhận rõ rằng Luke không hề khoái việc có một thằng em trai đồng tính. Không một chút nào. Điều đó khiến tôi đau đớn. Bạn cùng lớp và thầy cô là một nhẽ, nhưng Luke là người anh mà tôi luôn ngưỡng mộ. Sự chấp nhận của anh có ý nghĩa hơn cả sự dễ chịu của bản thân tôi khi quyết định cho anh ấy biết sự thật. Một hôm, sau khi Luke ném ra một lời bình phẩm cực kỳ cay độc, tôi chạy lên phòng. Tôi không thể để anh ấy thấy mình khóc. Tôi thấy mình thật bất hạnh và lạc lõng. Mẹ cố xoa dịu tôi, nhưng không phải lúc nào bà cũng thành công. Một ngày nọ, khi ngồi trong phòng chờ của một phòng khám nha khoa, mẹ bảo rằng tôi phải mạnh mẽ lên. “Con phải sẵn sàng để đương đầu với sự thật rằng, từ nay mọi người sẽ đối xử với con khác trước.” “Ý mẹ là sao ạ?” Tôi thắc mắc. “À!” Mẹ đáp. “Vài bậc phụ huynh sẽ thấy phiền khi cho phép con cái họ ngủ qua đêm cùng con, và những chuyện tương tự như vậy, nhưng đừng lo, dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng sẽ vượt qua được hết.” Từ khi Jake và Sam chuyển đi, tôi chẳng còn người bạn nào để ngủ cùng nữa, nhưng tôi vẫn chưa dám nghĩ về những người bạn trong tương lai. Tôi bắt đầu nghĩ về đủ thứ – những thứ có thể thay đổi cuộc đời mình, bởi giờ đây tất cả đã biết tôi là người đồng tính. Suốt những năm cuối cấp hai, tôi tưởng mình sẽ không thể có người bạn thực sự nào. Tôi không muốn để lộ nỗi đau tột cùng ấy, nên đã gắng hết sức để cư xử theo kiểu “Tôi đồng tính và tôi tuyệt vời”. Tôi vùi mình trong thế giới của khoa học và toán, chốn ẩn náu vĩnh viễn hoàn hảo. Sau khi ngưng giả vờ rằng mình là người dị tính, tôi cũng chẳng buồn giả vờ rằng mình không thích toán – dù chưa chắc đã có ai từng tin vào điều đó! Khi làm thí nghiệm, tôi không cần phải che giấu bản thân hay âu lo về ánh mắt của người khác nữa. Ở nơi an toàn ấy, điều duy nhất quan trọng là các ý tưởng của tôi và việc tôi thực hiện chúng thành công đến mức nào. Nhưng không giải nhất nào đủ sức giải thoát tôi khỏi nỗi đau đè nát trái tim mỗi ngày. Sau khi công khai giới tính, có một đám con gái tử tế hơn với tôi, nhưng lũ con trai lại là chuyện khác. Chúng khăng khăng ép tôi phải sống mà không có lấy một khắc yên bình. Và chúng đã thành công. Sao hả, thằng bóng? Mày sắp chui vào nhà vệ sinh khóc lóc hả Jack? Mày biết bọn đồng tính sẽ bị thế nào, phải không? Tôi cố nhắc nhở bản thân rằng rồi cấp hai cũng sẽ chấm dứt. Tôi đang đếm ngược từng ngày. Một chiều nọ, khi cuối cùng lễ tốt nghiệp cấp hai cũng sắp đến, tôi về nhà và lại thấy mẹ đợi trước cửa. “Jack, ngồi xuống đi con!” Mẹ nói. Mắt mẹ ngân ngấn nước. “Mẹ phải cho con biết một chuyện.” Chuyện về chú Ted. Chú đã qua đời. Tôi chết lặng đến mức không khóc nổi. Lẽ ra, việc này không hề đột ngột. Chú Ted đã chiến đấu với bệnh ung thư tuyến tụy suốt sáu tháng qua và đã ốm lắm rồi. Nhưng bất chấp tất cả những điều rành rành trước mắt, tôi vẫn tin vào điều tôi muốn tin: Chú Ted sẽ xoay xở để vượt qua được. Tôi thấy ruột gan lộn tùng phèo. Những giây phút tiếp sau, tôi có cảm giác đang tự nhìn vào cuộc đời mình – từ xa. Rồi các câu hỏi nối nhau ào đến, tới tấp hệt những đợt súng liên thanh, nhưng khác với những phương trình tôi từng giải, dường như, tất cả đáp án đều quá xa xôi, vượt khỏi tầm tay với. Tại sao lại là chú Ted? Và tại sao mọi chuyện xảy ra nhanh đến vậy? Dù vẫn biết chú đã đau đớn ra sao, nhưng đó vẫn là chú Ted mọi khi, luôn lạc quan và đưa ra những lời khuyên quý giá. Tôi thậm chí còn không có cơ hội để nói một lời từ biệt tử tế. Tôi có quá nhiều điều muốn nói – nhưng giờ đã quá muộn rồi. Sao có thể như thế? Mãi tận bây giờ tôi mới được nghe toàn bộ câu chuyện. Bệnh của chú bị phát hiện quá muộn. Quá muộn. Khi chú biết tin, ung thư đã di căn. Điều đó có nghĩa là đã quá trễ để phẫu thuật cắt bỏ những khối u ác tính. Khi ấy, ai cũng hiểu rằng, mọi chuyện chỉ là vấn đề thời gian. Mọi người – trừ tôi. Vậy đấy! “Giá chúng ta phát hiện bệnh sớm hơn.” Đó là tất cả những gì bác sĩ nói. Giờ đây, bệnh ung thư đã cướp đi sinh mệnh của chú. Chú ra đi thật rồi. Tôi ngồi xuống giường và cố gắng hiểu mọi chuyện. Tại sao điều này lại xảy ra? Mình phải làm gì bây giờ? Tại sao tất cả những điều khủng khiếp này cứ liên tục xảy đến với mình? Tôi cảm thấy cuộc đời này không còn điểm tựa, không còn gì ổn định để tôi tìm lại sự cân bằng. Mọi thứ thay đổi quá nhanh. Suy nghĩ về những khoảnh khắc tương lai mà ung thư đã cướp đi còn tệ hại hơn việc hồi tưởng lại những ký ức đẹp tươi từng trải qua cùng chú Ted. Giờ đây, khoảnh khắc bên nhau cuối cùng của hai chú cháu, ít ra là trong kiếp này, sẽ diễn ra trong đám tang của chú. Ngày tang lễ, tôi vô cảm, trống rỗng. Tôi không khóc. Tôi ngồi đó, bối rối và hoang mang trong lúc bạn bè và người thân của chú lần lượt kể những điều tuyệt vời về tinh thần chiến đấu ngoan cường cùng những câu chuyện vui vui về chú. Tôi không thể kiểm soát nổi thân xác. Dường như tôi chỉ đứng từ xa nhìn thằng nhóc Jack Andraka bé xíu bước dọc các hàng ghế, tiến về phía quan tài. Trên chuyến xe về nhà dài hàng tiếng đồng hồ, tôi không thể nhớ nổi bất cứ câu nào của bất cứ ai. Tôi cứ nhìn chằm chằm ra cửa sổ xe bằng ánh mắt vô hồn, tự hỏi, bao giờ mình mới thoát khỏi cơn ác mộng dài-bất-tận này. Nỗi đau lại dội về ngay phút đầu tôi đến trường. Vài ngày sau khi chú Ted qua đời, tôi ngồi trong lớp nghe cô giáo hướng dẫn bài đọc về một nhà thờ, nơi các nhà truyền giáo bủa đi khắp mọi miền đất nước và đứng ngoài đám tang của người đồng tính – nhằm tỏ thái độ phản đối. Họ trưng ra những tấm biển đầy căm hờn, phỉ nhổ những lời độc địa rằng người đồng tính khi mất sẽ phải xuống địa ngục, và họ sẽ làm mọi cách nhằm phá đám những người đang tiếc thương cho sự ra đi của người thân yêu. Tôi nhìn trân trân vào từng từ trên trang giấy, đọc đi đọc lại. Chẳng nghĩa lý gì… Làm thế nào mà họ có thể… Tại sao… Thế này là… Thật khó để giải thích về trầm cảm nếu bạn chưa từng trải qua. Nó như một tấm chăn tuyệt vọng khổng lồ bọc chặt toàn thân. Nó nặng nề đến mức dù cố cách mấy, tôi cũng không tài nào thoát ra nổi. Tôi còn suy sụp tới mức thậm chí không hề muốn rũ ra khỏi tấm chăn ấy để vui trở lại. Rắc rối không chỉ nằm ở những vấn đề tôi gặp phải – mà tôi chính là một rắc rối. Tôi là một kẻ tuyệt vọng, tôi không thể tưởng tượng mình từng đến nơi nào mà mọi thứ tốt đẹp hơn hay chưa. Tôi thậm chí không còn chắc chắn mình là ai nữa. Mất đi chú Ted. Những kẻ căm ghét mình. Sự ruồng rẫy. Giấu giếm bản chất giới tính quá lâu, cả quá trình công khai nó nữa, quá nhiều thứ tôi cần phải đương đầu. Tôi có cảm giác mình đã dùng hết mọi quyền lựa chọn. Thế đấy. Với tôi, thế là hết. Tôi xin phép ra ngoài đi vệ sinh và rời khỏi lớp. Tôi khóa cửa buồng vệ sinh. Tôi muốn tự làm đau mình. Xung quanh không có dao hay vật nhọn nên tôi bẻ một mẩu bút chì và bắt đầu đâm đầu nhọn của nó vào cổ tay. Hết lần này đến lần khác. Tôi tự thách thức bản thân để sự việc tiến xa hơn, vết đâm mỗi lúc một sâu hơn. Tôi muốn cảm nhận thêm nhiều đau đớn. Tôi muốn thấy thêm nhiều máu. Tôi thách thức chính mình chấm dứt mọi thứ. Tôi luôn là kẻ thách thức. Và giờ tôi đang thách thức bản thân chấm dứt tất cả. Suy nghĩ về cái chết không làm tôi sợ hãi. Có lẽ chết là một sự giải thoát. Nếu tôi đâm đủ sâu, mọi thứ sẽ tan biến. Đó thực sự là tất cả những gì tôi cần. Mọi thứ nhòe đi. Tôi rơi vào một trạng thái kỳ lạ, lang thang giữa tê liệt và vô thức. Dần dần, tôi nhận ra mình không thể tự kết liễu. Mẩu bút chì gãy không đủ nhọn. Tôi bước ra khỏi nhà vệ sinh. Logan và một bạn khác đang đứng ở hành lang. Thấy dấu máu trên cổ tay tôi, họ chạy thẳng đến phòng giáo viên. Lát sau, tôi bị vây giữa các tư vấn viên học đường. Điều tiếp theo mà tôi nhớ được, là bố mẹ đã đến trường. Sau đó, mọi thứ sụp tối. Chương 4Phương thuốc tri thức S au cố gắng tự tử bất thành của tôi, nhà trường gửi thông báo về nhà, nói rằng tôi sẽ không được nhận lại trường cho đến khi nhận được sự giúp đỡ của chuyên gia. Bố mẹ tôi vừa ngạc nhiên vừa hoảng hốt. Họ quyết tâm làm tất cả trong khả năng để kéo tôi ra khỏi vực thẳm này. Họ tìm ra một nơi họp mặt của cộng đồng LGBTQ7 địa phương. Họ cho rằng sẽ khá hơn nếu tôi nói chuyện với những bạn thiếu niên khác có cùng trải nghiệm. Nhưng khi tới nơi, tôi lại là thiếu niên duy nhất. Chuyện tiếp theo là tôi nói chuyện rất nhiều với một gã lớn tuổi bá vơ nào đó vốn chẳng biết gì về tôi hay những vấn đề cá nhân sâu kín của tôi cả. Thật khó để hồi phục khi bạn vẫn cảm thấy ngượng ngùng và không thoải mái. 7. Chữ viết tắt của lesbian (đồng tính nữ), gay (đồng tính nam), bisexual (song tính), transgender (chuyển giới), queer (dị biệt). Thực ra thì, tôi đã ngán nói về chuyện đó lắm rồi. Tôi còn không chắc rằng mình phải nói gì nữa. Chú Ted sẽ nói gì nhỉ? Chú đã rất vất vả chiến đấu để giành thêm từng giây sự sống trong khi tôi thì sẵn sàng vứt bỏ hết. Tôi nghĩ, nếu đang ngồi cạnh tôi lúc này, chắc chú sẽ hỏi tôi về kế hoạch tiếp theo. Hơn hết, tôi thực sự muốn quay lại với niềm đam mê của mình – đó là khoa học. Một hội thi khoa học sắp diễn ra, và tôi bắt tay vào một ý tưởng mới. Phát triển từ dự án năm lớp bảy, tôi khởi động một dự án mới nghiên cứu tác động của ôxít kim loại trên một số sinh vật. Điều này hệ trọng ở chỗ, ôxít kim loại rất độc hại, nhưng chúng lại xuất hiện trong những thứ quen thuộc như kem chống nắng, và thường bị rửa trôi xuống ống thoát nước nhà tắm rồi ngấm vào nguồn nước sinh hoạt. Tôi đã nghiên cứu cụ thể tác động của chúng lên một loại phù du nước ngọt có tên là Daphnia Magna và vi khuẩn nước mặn Vibrio Fischeri. Kết quả cho thấy ôxít kim loại hoạt động khác nhau trong môi trường nước ngọt và nước mặn. Chúng ta càng hiểu rõ tác động của nó đến môi trường ra sao, thì càng dễ ngăn chặn tác hại. Nhưng liệu tôi có thể tranh đấu không? Hay suốt phần đời còn lại tôi sẽ chỉ là một đứa đầu óc không ổn định lúc nào cũng cần sự chú ý? Và dường như, giống với mọi câu hỏi khác, tôi không biết câu trả lời. Tôi chỉ biết chắc rằng nếu không thể rũ bỏ được tấm chăn tuyệt vọng nặng nề này, thì tôi sẽ chẳng được tham gia hội thi khoa học, không được đi nhảy lạch, cũng không được khám phá các thác ghềnh. Không gì hết! Mà tôi không chỉ muốn quay lại với khoa học. Dường như đã cả thiên thu rồi tôi chưa chèo kayak hay đi bè vượt suối. Còn rất nhiều dòng sông mà tôi muốn khám phá. Tôi cũng luôn muốn bơi thuyền ở Grand Canyon. Liệu tôi có thực hiện nổi không? Và rồi, anh trai tôi đột nhiên thay đổi thái độ. Huấn luyện viên ruột của Luke trong môn bóng vợt, tình cờ nghe thấy anh nhạo báng thiên hướng tính dục của tôi, liền kéo anh ấy ra một góc để chia sẻ trải nghiệm của chính ông ở trường đại học khi phát hiện bạn cùng phòng mình là gay. Lúc đầu ông cũng có cùng những ý nghĩ đang đi qua đầu anh tôi khi đó: Mọi người sẽ nghĩ gì về mình nếu người ở gần mình là gay? Mình nên hành động ra sao? Nhưng càng sống lâu với người bạn đó, vị huấn luyện viên dần nhận ra rằng, dù thiên hướng tính dục của bạn mình là gì đi nữa, thì đầu tiên và quan trọng nhất, người bạn ấy vẫn là một con người. Thậm chí là một người rất tuyệt. Ông kể với anh tôi rằng hai người bọn họ đã trở thành bạn chí cốt. Sau bữa tâm tình với vị huấn luyện viên, anh trai tôi dần dà chấp nhận tôi. Anh lại tiếp tục trêu chọc tôi như hồi trước. Thật lạ lùng, điều ấy khiến tôi mau chóng trở lại bình thường. May mắn thay, tôi được phép tham gia hội thi khoa học. Tạ ơn trời, nếu không tôi sẽ chẳng thể tốt nghiệp được và buộc phải học lại lớp tám. Đó là điều tôi muốn tránh bằng mọi giá. Dự án của tôi, “Nghiên cứu so sánh về độc tính của các ôxít kim loại đối với Vibrio Fischeri và Daphna Magna”, thắng giải quán quân. Đây là năm thứ ba liên tiếp tôi vô địch. Đó là một thành tích lớn, và đáng ra tôi nên tự hào. Bề ngoài, tôi đã nặn ra được những nụ cười. Đến lúc này, tôi đã trở thành chuyên gia giả mạo cảm xúc như mọi người mong muốn. Tôi gồng mình qua những ngày cuối cùng của lớp tám và thấy không gì nhẹ nhõm hơn khi bước ra khỏi trường trong ngày bế giảng. Tôi không có ý định quay lại. Kỳ nghỉ hè bắt đầu đồng nghĩa với trại hè toán học. Tôi cũng chẳng rõ là mình mong gì trong lần tham gia này. Tôi vẫn còn cảm thấy vị đắng trong miệng sau lần bày tỏ thất bại với Anthony hồi cuối lớp bảy. Tuy vậy, tôi vẫn hy vọng những điều tốt đẹp nhất. Hai năm qua, tôi đã phải chứng kiến hai người bạn thân chuyển đi, bị đám bạn cùng lớp xa lánh và sỉ nhục, công khai giới tính thật, toan tự tử, và đã mất một trong những người thân thiết nhất cõi đời. Tôi nghiệm ra rằng rồi mọi việc cũng sẽ phải tốt lên thôi, vì chúng chẳng thể tệ hơn được nữa. Trại hè toán học năm nay một lần nữa được tổ chức ở Colorado, nơi tôi đã có một trải nghiệm tuyệt vời sau năm lớp sáu. Tôi cho đây là một điềm tốt. Ngày đầu tiên tại trại, tôi gặp một thầy cố vấn tên là Jim. Thầy có vẻ thông minh và tôi thích cách nói chuyện nhẹ nhàng, thoải mái của thầy. Thầy trông như chẳng vướng bận điều gì trên đời. Tuần đầu hội trại, chúng tôi đi thực địa, và trên xe buýt trở về, tôi nghe thấy ai đó nói thầy Jim là gay. Thật thế ư? Khác với tôi, thầy có vẻ rất giỏi điều chỉnh và vô tư trước bất kỳ xáo trộn tâm lý nào. Thầy ấy làm thế bằng cách nào? Tôi muốn học hỏi thêm. Ngay khi trở về phòng, tôi viết một lá thư dài hai trang để thổ lộ nỗi lòng. Tôi kể với thầy về những dằn vặt tôi đang phải vật lộn, về việc che giấu giới tính thật, về Anthony, về cái ngày tự đâm bút chì vào tay trong nhà vệ sinh. Khi chắc mẩm rằng không bị ai nhìn thấy, tôi lặng lẽ bước sang buồng thầy và nhét lá thư xuống khe cửa. Vài ngày sau, thầy kéo tôi ra một góc. “Thầy đã nhận được thư của em.” Thầy nói với vẻ lo âu. “Mình nói chuyện nhé!” Thầy kể cho tôi nghe chuyện của chính mình. Thầy đã chiến đấu trong những cuộc chiến giống tôi, thầy chia sẻ kinh nghiệm công khai giới tính với bạn bè, người thân và vượt qua sự ghét bỏ mà mọi người ném về phía mình. Thầy là người đầu tiên hiểu một cách sâu sắc, tường tận và đầy cảm quan cá nhân về những gì tôi phải trải qua. Nhưng quan trọng hơn câu chuyện quá khứ, thầy chia sẻ với tôi hy vọng về tương lai. Nhìn thầy, tôi tự nhủ rằng mình cũng có thể sở hữu một tương lai như thế, và hơn hết, tôi xứng đáng có được tương lai ấy. “Nghe này, Jack!” Thầy nói. “Em là một đứa trẻ thông minh. Rồi mọi chuyện sẽ ổn cả thôi.” Thầy Jim là kiểu người có thể giải thích những vấn đề toán học phức tạp bằng ngôn từ dễ hiểu. Thầy giữ bình tĩnh giữa một biển thanh thiếu niên cuồng loạn. Khi thầy nói mọi chuyện rồi sẽ ổn, tôi tin thầy. Hai thầy trò nói chuyện rất lâu, cho đến tận khuya. Những tuần cuối ở trại hè trôi qua cực nhanh. Vào ngày bế mạc, một nhóm trại viên và tôi quyết định thực hiện chuyến phiêu lưu cuối cùng. Chúng tôi chất các thứ lên một chiếc ô tô và lái đến núi Pikes Peak. Tôi chẳng còn bụng dạ nào nhìn xuống dưới – bởi chiếc xe đang bò lên mỗi lúc một cao, cao đến mức, dù đang giữa mùa hè, con đường vẫn phủ dày băng tuyết. Khi lên đến đỉnh núi cao 4.302 m, chúng tôi nhảy xuống xe, kiếm chỗ sau những tảng đá và thân cây để bắt đầu cuộc đấu bóng tuyết khổng lồ. Khi toàn thân ướt sũng nước vì tuyết tan và cổ họng đã khản tiếng vì gào thét và cười đùa, chúng tôi “rút quân” về một cửa hàng bánh rán vòng gần đó. Cả đám ngồi uống sô-cô-la nóng và ăn bánh rán vòng trong lúc hong khô mớ quần áo sũng nước. Ngồi bên các bạn, tôi nhìn qua cửa sổ và thấy những đỉnh núi trùng điệp bên dưới. Lần đầu tiên sau một quãng thời gian đằng đẵng, cuộc sống trở nên thật dễ chịu. Đêm đó đầy ắp những lời từ biệt dài thật dài với những người bạn mới. Trước lúc ra sân bay, thầy Jim đến gần tôi. Thầy có một lời khuyên nữa. “Em đã nghe nhiều về chuyện của thầy và cách thầy vượt qua giai đoạn khó khăn.” Thầy nói. “Nhưng Jack ạ, giờ câu chuyện là của em. Mỗi chúng ta có một lối đi riêng, người duy nhất có thể quyết định phương hướng chính là bản thân em.” Nhờ trò chuyện với thầy Jim, tôi đã hiểu rằng mình không cần thay đổi bản thân. Tôi không còn giả vờ trở thành một kẻ không-phải mình nhằm giành lấy sự yêu mến của người khác. Tôi có thể đối xử với những kẻ ghét mình theo một cách hoàn toàn mới. Tôi được quyền lựa chọn lờ họ đi. Tôi nhớ lại những ngày lục tung mạng Internet để kiếm tìm giải pháp. Tôi từng đọc lời khuyên rằng hãy lờ những kẻ ghét mình đi, nhưng chưa thể áp dụng. Hồi ấy, dù Alan Turing, cha đẻ của khoa học máy tính lý thuyết (cũng là một trong những nhà khoa học tôi yêu thích) có đội mồ sống dậy để trao lời khuyên thì cũng chưa chắc tôi đã biết cách nhận. Đấy bạn thấy không, lờ những kẻ ghét mình chỉ là phần đơn giản của giải pháp. Phần khó nằm ở chỗ trước hết phải biết cách ngăn chặn nhận thức của chính mình, không cho phép bản thân bị người khác định hình. Nói cách khác, hãy tin rằng mình không đáng bị đối xử khác biệt chỉ vì là người đồng tính. Đôi khi, tôi vẫn vùng vẫy vật lộn. Có những khoảnh khắc bối rối, nhất là trong các buổi tụ họp gia đình. Vài người họ hàng có quan điểm tôn giáo cố chấp. Họ không dung thứ cho bản chất giới tính của tôi. Thành thật mà nói thì, chúng tôi không nói về những điều đó. Đó chỉ là một trong rất nhiều chuyện – tôi biết họ thuộc phe nào và họ biết tôi là ai. Nhờ sự tôn trọng và yêu thương thực sự dành cho nhau, chúng tôi cứ để mặc mọi chuyện như thế. Đến giờ, tôi thấy cách hành xử đó ổn thỏa. Sau khi hạ cánh xuống Maryland, tôi biết mình sắp phải đối mặt với một chuyện khác – sự ra đi của chú Ted. Tôi chưa hoàn toàn nhận thức được vấn đề, nhưng nỗi tê liệt ban đầu khi được tin chú ra đi nay bị thay thế bởi nỗi đau đè nặng trong lòng. Nó chẳng khác gì tảng đá khổng lồ bất di bất dịch. Hơn tất thảy, tôi muốn hiểu tại sao chú qua đời. Tôi cần hiểu cái gì đã cướp chú khỏi tôi. Khi đó, tôi nảy ra một ý. Biết đâu, biết đâu đấy, tôi có thể tìm ra cách chữa ung thư tuyến tụy… Nếu trưởng thành hơn và có thêm thời gian để đầu óc thực tế hơn, rất có thể tôi đã phá lên cười nhạo cái ý tưởng đó. Tôi đâu phải là người đầu tiên muốn thử làm điều này, hầu hết những người từng thử đều yêu khoa học, có học vị tiến sĩ của những trường đại học danh giá và họ, khác với tôi, đều đủ lớn để đi xem những bộ phim giới hạn độ tuổi. Lúc ấy, phần trưởng thành, chín chắn trong tôi biết ý tưởng đó lố bịch đến mức nào. Nhưng phần trẻ trung và hỗn xược đã nhanh chóng thắng thế. Tôi không rõ nguyên nhân nằm ở tuổi trẻ hừng hực khí thế hay sự ngu ngốc khó lòng kiềm chế, nhưng dù sao chăng nữa, tôi cũng chẳng có gì để mất. Và hóa ra, tôi là người duy nhất hy vọng vào nghiên cứu này. Câu đầu tiên vuột ra khỏi miệng bố sau khi nghe giấc mơ của tôi là: “Jack, điều này có hơi viển vông không?” Bố mẹ biết rằng một khi đã bắt tay vào thực hiện, tôi không bao giờ hời hợt. Tôi là một kẻ cứng đầu cứng cổ, một khẩu súng thần công. Điều này có thể giải thích thái độ kiên quyết của bố mẹ khi phản đối tôi bỏ quá nhiều thời gian vào một công việc bất khả thi đến vậy. Nhất là khi công việc đó có quá ít cơ hội được đền đáp. Sau tất cả những chuyện tôi từng trải qua, bố mẹ chẳng lấy gì làm thích thú khi nghĩ rằng con trai họ đang lao đầu vào những thứ quá nặng nề như nghiên cứu ung thư chẳng hạn. Tôi không thể trách cứ họ vì điều đó. Dẫu vậy, được bố mẹ ủng hộ lúc nào cũng hơn. Sự chấp thuận của họ vô cùng cần thiết. Vấn đề nhuệ khí không lớn bằng những vấn đề thực tế, chẳng hạn, tôi có thể nhờ bố mẹ lái xe đưa đến chỗ này chỗ kia để lấy hàng hay dùng thẻ tín dụng của họ để mua đồ trên mạng. Về phần tôi, tôi cho rằng kế hoạch này hoàn toàn phù hợp với mình – tôi đang tìm kiếm một lối thoát cho tất cả những nỗi sầu khổ trong lòng và bệnh ung thư thì cần một cách chữa. Vận dụng tài thuyết phục đã học được trong những lần thuyết trình và sự cố chấp cao độ, tôi bắt đầu “lôi kéo” được bố mẹ. Có lẽ bố mẹ cảm nhận được niềm say mê của tôi, cũng có thể họ biết rằng dù có được chúc phúc hay không, tôi vẫn sẽ tiếp tục tiến về phía trước, dù gì đi nữa, bố mẹ cũng miễn cưỡng cho phép tôi thực hiện mong muốn của mình. Giờ là lúc bắt đầu. Sau chừng ấy thời gian dành cho các nghiên cứu khoa học đi dự thi, tôi biết rằng mọi phát hiện đều bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu và đặt ra vấn đề cần giải quyết để di chuyển từ điểm A đến điểm B. Phần đó khá dễ. Tôi biết mục tiêu của mình là chữa bệnh ung thư tuyến tụy. Khi ai đó cố chiến đấu chống lại ung thư tuyến tụy, như tôi, câu hỏi đầu tiên hiển nhiên hiện ra là: Tụy là cái quái gì vậy? Ban đầu, tôi thậm chí còn không hiểu tụy là gì. Ý tôi là, tôi nghe nói về tụy và biết nó là một bộ phận quan trọng bên trong cơ thể, nhưng chính xác thì, nhiệm vụ của tụy là gì? Điều này thì tôi chịu. Nhưng sự thiếu hiểu biết này chẳng hề khiến tôi sợ hãi, bởi tôi đã có công cụ cần thiết để bắt đầu: Google và Wikipedia. Tôi mở màn bằng việc gõ từ khóa vào máy tính xách tay – “tụy là gì” – và nhấp chuột vào kết quả đầu tiên. Đó là bài báo trên một trang mạng phổ biến về sức khỏe, với nhan đề chính xác: “Tụy là gì?” Hóa ra, tụy thực sự rất thú vị và có nhiều chức năng. Tụy là bộ phận hình-con-cá, xốp mềm, dài từ 15 đến 25 cm, nằm sau dạ dày, sát thành sau ổ bụng và tiết ra các enzym cũng như hoóc-môn quan trọng giúp tiêu hoá thức ăn. Không có tụy, chúng ta không thể chuyển hoá thức ăn thành dinh dưỡng cần thiết để duy trì sự sống. Tụy còn có một công việc trọng đại khác, đó là sản sinh hoóc-môn insulin và đưa chúng vào máu để điều hoà mức glucose (hay đường) trong cơ thể. Tôi còn được biết rằng có hai tuyến tụy khác nhau. Tuyến tụy ngoại tiết giúp đẩy nhanh các phản ứng hoá học và chia nhỏ chất béo cũng như protein. Tuyến tụy nội tiết sẽ tạo các hoóc-môn như insulin giúp cân bằng lượng đường trong máu. Nếu tuyến này trục trặc, chúng ta sẽ bị tiểu đường. Có quá nhiều thông tin cần phải tiêu hóa (bạn hiểu ý tôi chứ?). Nhưng giờ tôi đã biết tụy là gì và sẵn sàng chuyển đến câu hỏi tiếp theo: Ung thư tuyến tụy là gì? Sau khi tìm kiếm nhanh trên mạng, tôi nhận ra chú Ted không phải người tuyệt vời duy nhất trở thành nạn nhân của ung thư tuyến tụy. Đây là dạng ung thư đặc biệt nguy hiểm, đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người nổi tiếng, trong đó có Steve Jobs, nhà sáng lập Apple. Nó còn cướp đi sinh mạng của nữ diễn viên Patrick Swayze, nữ diễn viên Joan Crawford, nhà nhân học Margaret Mead và ca sĩ opera lừng danh Luciano Pavarotti. Xa hơn một chút, tôi phát hiện ra một chuyện. Câu chuyện đó tiết lộ một xu hướng khá nhiễu loạn: trong khi rất nhiều loại ung thư khác ngày càng giảm đi trong thập niên vừa qua, tỷ lệ ung thư tuyến tụy đã và đang tăng từ khoảng năm 2000. Hiệp hội ung thư Mỹ ước tính có 46.420 ca mắc ung thư tuyến tụy được chẩn đoán tại Mỹ vào năm 2014 và 39.590 người chết vì bệnh này trong cùng năm đó. Nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy là 1/78 người. Tỷ lệ mắc bệnh của nam và nữ ngang nhau. Khi mắc bệnh này, các tế bào tụy bắt đầu nổi loạn và mất kiểm soát. Thay vì phát triển thành các mô khỏe mạnh bình thường, chúng tiếp tục phân chia và tạo nên những khối mô gọi là u ác tính. Khi đã biết ung thư tuyến tụy là gì, tôi cần hiểu nguyên nhân gây ra bệnh này. Tôi tìm được một liên kết dẫn đến trang web của bệnh viện Johns Hopkins. Trang này hẳn là đáng tin cậy bởi nó trực thuộc một trong những bệnh viện hàng đầu thế giới (xin hãy nhớ, rằng thông tin chúng ta tìm được trên mạng Internet tốt hay tệ tùy thuộc vào nguồn của chúng). Tôi nhấp chuột vào đọc. Theo trang web của John Hopkins, các bác sĩ và nhà khoa học tin rằng có hai nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư tuyến tụy. Một trong các giả thuyết đó là sự phá hủy, hoặc đột biến trong ADN dẫn đến sự phát triển bất ổn của tụy. Chúng ta có thể “kế thừa” các mô ung thư tuyến tụy và bệnh này tiến triển cực nhanh khi ta lớn lên. Nhưng chưa ai dám chắc ung thư tuyến tụy là một căn bệnh di truyền. Nghiên cứu sâu hơn, tôi biết thêm rằng cơ thể chúng ta có bản sao lấy từ hai bộ gen khác nhau của bố mẹ. Các nhà khoa học tin rằng người bị di truyền bệnh ung thư thường có một bản sao đột biến từ bố (hoặc mẹ) và một bản sao bình thường từ người còn lại. Khi lớn lên, một số người sẽ bị phá hủy bản sao gen khỏe mạnh trong các tế bào tuyến tụy. Tế bào đó chỉ còn lại hai bản sao gen ốm yếu và sẽ phát triển thành ung thư. Những tế bào này “nằm vùng” hệt như một quả bom nổ chậm cho đến một “độ tuổi” nào đó, khi súng lên cò, các tế bào bắt đầu biến đổi. Ung thư tuyến tụy được coi là một trong dạng ung thư gây tử vong cao nhất thế giới. Theo Hiệp hội ung thư Mỹ, tính trên mọi giai đoạn của ung thư tuyến tụy, tỷ lệ người sống sót mỗi năm là 1:5 và tỷ lệ sống này qua năm năm là 6%! Điều đó có nghĩa là chỉ có sáu trong số 100 người bị chẩn đoán ung thư tuyến tụy sẽ qua khỏi trong vòng năm năm. Chẳng cần phải giỏi toán, bạn cũng nhận ra rằng không một người hiểu biết nào lại mong muốn tỷ lệ mong manh như thế cả. Dẫu vậy, những số liệu khủng khiếp đó lại dẫn tôi đến một câu hỏi khác. Mặc cho những tiến bộ mới mẻ của khoa học và những đột phá kỳ diệu của công nghệ, tại sao tỷ lệ sống sót của các bệnh nhân ung thư tuyến tụy vẫn thấp kinh hoàng như vậy? Vấn đề chủ yếu nằm ở thời gian. Hơn 85% ca ung thư tuyến tụy bị chẩn đoán muộn. Khi đó, người bệnh chỉ còn 2% cơ hội sống sót. Thời điểm đó, thông thường, các khối u ác tính đã di căn và không thể phẫu thuật để cắt bỏ. Tại sao ung thư tuyến tụy lại bị phát hiện muộn đến thế? Một phần là bởi rất khó xác định các khối u ác tính ở tụy. Tuyến tụy náu mình sâu trong ổ bụng, bên dưới những nội tạng mong manh khác. Khó khăn còn nằm ở chỗ, tụy bị bao quanh bởi những mô dày, kháng thuốc. Một vấn đề nữa nằm ở bản thân xét nghiệm. Nó chưa hề được cập nhật sau tận sáu thập niên! Xét nghiệm hiện tại cũng hơi quá phức tạp. Để sàng lọc máu của bệnh nhân có nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy, bác sĩ phải gửi mẫu sinh thiết đến phòng thí nghiệm, nơi các mẫu này được xét nghiệm mức độ phát triển của dấu ấn sinh học, một thuật ngữ chỉ dấu hiệu ban đầu của bệnh. Còn nhiều vấn đề khác. Những xét nghiệm này vô cùng đắt đỏ, tốn đến 800 đô-la mỗi lần. Chúng cũng không thực sự chính xác – bỏ qua đến 30% tỷ lệ mắc bệnh. Bỏ qua 30% là đã quá tuyệt vời đối với một tay đánh bóng trong giải bóng chày chuyên nghiệp (tức là đánh trúng 7/10 quả), nhưng điều này chẳng hay chút nào đối với những người đang hy vọng chống chọi một căn bệnh ung thư chết người, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết có thể được tính bằng ngày. Điều đó có nghĩa là, một trong những vấn đề cốt yếu của ung thư tuyến tụy không nằm ở sự điều trị, mà là sự phát hiện. Tôi bỗng bừng tỉnh. Việc của tôi không phải là tìm ra cách chữa bệnh ung thư tuyến tụy, mà là đưa ra cách tốt hơn để phát hiện ung thư tuyến tụy trước khi nó xâm lấn sang các bộ phận khác trong cơ thể – khi bệnh vẫn còn có thể chữa được. Tôi nhớ đến lời bác sĩ nói sau cái chết của chú Ted: Giá mà chúng ta phát hiện bệnh sớm hơn. Tôi quyết định đương đầu với một nhiệm vụ mới. Tôi sẽ tìm ra biện pháp phát hiện sớm ung thư tuyến tụy. Nhưng điều không may là, trước đó, tôi phải làm một việc khác – bước vào trường cấp ba. Ngày đầu tiên đến trường Trung học North County, tôi hào hứng với viễn cảnh thiết lập thanh danh mới cùng nhóm bạn mới. Nhưng đồng thời tôi cũng lo rằng, lịch sử sẽ lặp lại như hồi cấp hai. Ngày đầu tiên bắt đầu bằng việc tôi cúi gằm gằm, đi vào hết lớp này đến lớp khác. Hầu như mọi người đều đến trường cùng ai đó trong tám năm qua và đã là bạn bè cả, thế nên chẳng có lý do gì để họ nói chuyện với tôi. Suốt buổi sáng, tôi có cảm giác khá “gở” rằng khoảnh khắc “được ăn cả ngã về không” của mình sẽ xuất hiện vào giờ ăn trưa. Tôi biết chỗ ngồi sẽ liên hệ mật thiết và sâu rộng với tương lai của chính tôi ở ngôi trường này. Nếu biết lựa chọn khôn ngoan và ngồi đúng bàn, tôi có thể gây dựng những tình bạn quan trọng suốt cả năm, thậm chí lâu hơn. Tôi cũng ý thức được các mối nguy. Sai lầm của việc vô tình đặt khay ăn nhầm chỗ sẽ tạo ấn tượng ban đầu tệ hại khó phai. Khi chuông báo hết tiết bốn vang lên, tôi bước vào nhà ăn sâu hun hút như hang động. Kích thước của căn phòng này thật ấn tượng. Nó rộng hơn rất nhiều so với nhà ăn ở trường cũ. Tôi trở thành thằng nhóc máy móc hệt như trong phim – vừa bồn chồn siết chặt khay thức ăn trong tay vừa nhìn quanh căn phòng đầy ắp bạn học, cố tìm một chỗ an toàn để ngồi xuống. Tôi quét mắt nhìn các nhóm khác nhau, tuyệt vọng tìm kiếm một nơi ẩn náu an toàn. Bên trái là tụi dân thể thao. Tôi vẫn nhớ chúng từ hồi học cấp hai. Không có cửa nào đâu. Bên phải là một nhóm ăn mặc sành điệu. Trông họ có vẻ ổn, nhưng hơi quá “chất chơi” so với tôi. Đã thế, chẳng còn chỗ trống nào cạnh họ cả. Tôi biết thế là không ổn. Nếu cứ đứng đờ ra, nhìn chằm chằm xung quanh quá lâu như thể một thằng lập dị, tôi sẽ đặt mình vào hiểm cảnh. Quan trọng là tôi cần di chuyển thật nhanh. Tôi nhắm đến một nhóm con gái ngồi gần cuối nhà ăn. Họ đang lật giở các trang sách và trông có vẻ hay hay. Qua thái độ thoải mái và nụ cười dễ chịu của họ, tôi dám chắc mình sẽ thích họ. Và có một chỗ trống tại bàn đó. Tôi bước đến, cẩn thận để không làm đổ khay và bắt đầu giới thiệu. “Xin chào, tớ ngồi đây được không?” Tôi hỏi. “Tất nhiên rồi!” Một cô gái với gương mặt niềm nở, dễ mến đáp. “Tớ là Chloe.” Chloe. Vị cứu tinh của tôi. Suốt phần còn lại của bữa trưa, tôi chỉ lặng lẽ ngồi ăn. Tôi tính, nếu ngậm miệng thì sẽ chẳng nói sai điều gì. Không chỉ thế, tôi đang tận hưởng khoảnh khắc này. Dù sao đi nữa, không khí trong nhà ăn của trường cấp ba đã khá hơn nhiều so với bàn ăn trưa trước kia của tôi – buồng dành cho người khuyết tật trong nhà vệ sinh nam. Khoảng thời gian quan trọng nhất trong ngày đã qua, tôi dành hai giờ tiếp đó để di chuyển cho đến khi chuông tan học reo vang. Khi không ở trường, tôi chăm chỉ đầu tư cho nghiên cứu của mình. Giờ đây, khi phát hiện ra mục tiêu mới – tìm kiếm phương pháp phát hiện sớm ung thư tuyến tụy – tôi bắt đầu thiết lập các tiêu chuẩn khoa học, một bộ quy tắc cần tuân thủ. Trong trường hợp của mình, tôi cần tìm ra vài ý tưởng kiểu như thế nào là một cuộc xét nghiệm lý tưởng nhằm chẩn đoán chính xác căn bệnh ung thư tuyến tụy. Tôi quyết định rằng để tạo ra hiệu ứng khác biệt thực sự, xét nghiệm cần phải rẻ, nhanh và đơn giản. Xét nghiệm của tôi cần đủ nhạy để phát hiện sớm ung thư, nhưng chỉ được can thiệp ở mức tối thiểu để không gây cho bệnh nhân quá nhiều phiền phức. Để thực hiện được điều này, tôi biết mình cần một kế hoạch hành động vững vàng. Trong khoa học, việc định nghĩa các tính chất của tri thức, bao gồm các lý thuyết, chính là khả năng đưa ra các dự đoán có thể mô phỏng hoặc có thể thử nghiệm được. Nói cách khác, dự đoán mà bạn đưa ra có thể đúng hoặc sai. Đặc tính của các dự đoán sẽ quyết định xem lý thuyết hữu ích đến mức nào. Tôi cần tìm vài manh mối mà ung thư tuyến tụy để lại trong cơ thể để phát hiện ra sự tồn tại của nó. Sau khi tra cứu rất lâu, tôi đã tìm được bài báo giá trị trong một tạp chí khoa học công khai tên là Public Library of Science (Thư viện khoa học công cộng). Nó liệt kê loạt dữ liệu về các protein khác nhau được tìm thấy ở những người bị ung thư tuyến tụy. """