"
Diễm Chi - Dạ Thảo full mobi pdf epub azw3 [Kinh Điển]
🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Diễm Chi - Dạ Thảo full mobi pdf epub azw3 [Kinh Điển]
Ebooks
Nhóm Zalo
QUYỂN 31
NGÔ THÁI BÁ THẾ GIA
Ngô Thái bá và em trai là Trọng Ung, đều là con của Chu Thái vương và là anh của vua Quý Lịch. Quý Lịch hiền năng, lại có người con thánh minh tên là Xương, Thái vương muốn lập Quý Lịch để truyền đến Xương, thế nên hai anh em Thái bá, Trọng Ung bèn chạy trốn đến đất Kinh Man*, xăm mình cắt tóc, tỏ rằng mình không thể được trọng dụng, nhằm tránh Quý Lịch. Quý Lịch quả nhiên được lập, đó là vua Quý, còn Xương [sau] là Văn vương. Thái bá chạy trốn đến Kinh Man, tự lấy hiệu là Câu Ngô. [Người] Kinh Man cho ông là người có nghĩa, bèn theo rồi quy thuận đến hơn nghìn nhà, lập làm Ngô Thái bá.
Thái bá chết, không có con, người em trai là Trọng Ung lên thay, đó là Ngô Trọng Ung. Trọng Ung chết, con là Quý Giản lên thay. Quý Giản chết, con là Thúc Đạt lên thay. Thúc Đạt chết, con là Chu Chương lên thay. Bấy giờ Chu Vũ vương diệt xong nhà Ân, cho tìm hậu duệ của Thái bá và Trọng Ung, tìm được Chu Chương. Chu Chương đã làm vua nước Ngô, [Vũ vương] nhân đó phong cho đất Ngô. Bèn lấy vùng nguyên là Hạ Khư* ở phía bắc nước Chu phong cho em của Chu Chương là Ngu Trọng, đó là Ngu Trọng*, được liệt vào hàng chư hầu.
Chu Chương chết, con là Hùng Toại lên thay. Hùng Toại chết, con là Ca Tướng lên thay. Ca Tướng chết, con là Cương* Cưu Di lên thay. Cương
Cưu Di chết, con là Dư Kiều Nghi Ngô lên thay. Dư Kiều Nghi Ngô chết, con là Kha Lư lên thay. Kha Lư chết, con là Chu Dao* lên thay. Chu Dao chết, con là Khuất Vũ lên thay. Khuất Vũ chết, con là Di Ngô lên thay. Di Ngô chết, con là Cầm Xử* lên thay. Cầm Xử chết, con là Chuyển lên thay. Chuyển chết, con là Phả Cao lên thay. Phả Cao chết, con là Câu Ty lên thay. Khi ấy, Tấn Hiến công diệt Ngu công ở phía bắc nước Chu để mở đường cho nước Tấn đánh nước Quốc. Câu Ty chết, con là Khứ Tề lên thay. Khứ Tề chết, con là Thọ Mông lên thay. Thọ Mông lên ngôi thì nước Ngô bắt đầu lớn mạnh dần, xưng vương.
Từ thuở Thái bá dựng nước Ngô, trải năm đời thì đến khi [Chu] Vũ vương lật đổ nhà Ân, hậu duệ được phong hai nơi: một là nước Ngu, nằm ở Trung nguyên, một là nước Ngô, nằm ở vùng man di. [Được] mười hai đời thì nước Tấn diệt nước Ngu ở Trung nguyên. Nước Ngu ở Trung nguyên bị diệt được hai đời thì nước Ngô ở vùng man di hứng khởi. Tính ra từ Thái bá đến Thọ Mông gồm mười chín đời.
Vua Thọ Mông năm thứ hai, vì oán tướng nước Sở là Tử Phản nên viên đại phu đào tẩu của Sở là Thân công Vu Thần chạy trốn sang nước Tấn, từ Tấn đi sứ sang Ngô, dạy người Ngô phép dùng binh và chiến xa, sai con ở lại Ngô làm chức Hành nhân*, từ đó Ngô mới bắt đầu qua lại với Trung nguyên. Ngô đánh Sở. Năm thứ mười sáu, Sở Cung vương đánh nước Ngô, đến tận Hành Sơn.
Năm thứ hai mươi lăm, vua Thọ Mông chết. Thọ Mông có bốn người con trai, con trưởng là Chư Phàn, kế là Dư Tế, tiếp là Dư Muội, út là Quý Trát. Quý Trát là người hiền năng, nhưng khi Thọ Mông định lập [Quý Trát] làm vua, Quý Trát lại thoái thác, thế là bèn lập con trưởng là Chư Phàn, để nắm quyền hành xử lý mọi việc trong nước.
Vua Chư Phàn năm thứ nhất, Chư Phàn đã đoạn tang, liền nhường ngôi cho Quý Trát. Quý Trát từ tạ rằng: “Tào Tuyên công chết đi, chư hầu và người nước Tào đều cho rằng Tào quân bất nghĩa, định lập Tử Tang*, Tử Tang rơi nước Tào, để thành toàn cho Tào quân, người Quân tử* cho là: 'Biết thủ tiết đấy'. Đại huynh nối ngôi theo lễ, ai dám mạo phạm! Việc nhận ngôi vua, không phải khí tiết của Trát. Trát tuy bất tài, cũng nguyện noi theo tiết tháo của Tử Tang.” Người Ngô cố lập Quý Trát, Quý Trát bỏ nhà đi cày ruộng, người ta mới chịu thôi. Mùa thu, Ngô đánh Sở, bị Sở đánh bại. Năm thứ tư, Tấn Bình công mới lên ngôi.
Năm thứ mười ba, vua Chư Phàn chết. Có di mệnh truyền ngôi cho em là Dư Sái, muốn truyền lần lượt, nhất định truyền quốc đến Quý Trát mới thôi, để thuận theo ý nguyện của tiên vương Thọ Mông, hơn nữa để biểu dương khí tiết của Quý Trát, các anh em đều muốn truyền quốc cho, nên mới theo cách này để dần dần truyền đến [Quý Trát]. Quý Trát được phong ở Diên Lăng, vì vậy hiệu là Diên Lăng Quý tử. Vua Dư Sái năm thứ ba, Tướng quốc nước Tề là Khánh Phong mắc tội, từ Tề chạy sang Ngô. Nước Ngô đem huyện Chu Phương ban cho Khánh Phong làm ấp hưởng lộc, gả con gái cho, [khiến Khánh Phong] giàu có hơn khi ở nước Tề.
Năm thứ tư, nước Ngô sai Quý Trát sang thông hiếu với nước Lỗ, được mời thưởng thức âm nhạc nhà Chu. Sau khi nghe hát “Chu nam”, “Thiệu nam”, [Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, bắt đầu gây dựng nền móng, còn chưa hoàn thiện, nhưng dân vất vả mà không oán thán.” Hát “Bội phong”, “Dung phong”, “Vệ phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, sâu xa thay, lo âu mà không khốn quẫn. Ta nghe đức hạnh của Vệ Khang thúc, Vũ công cũng giống như thế, đây là Vệ Phong ư?” Hát “Vượng phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, suy tư mà không
sợ sệt, là nhạc sau hồi nhà Chu rời sang đông ư?” Hát “Trịnh phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Quá ư nhỏ nhặt, dân không chịu thấu, là nước sẽ mất đầu tiên ư?” Hát “Tề phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, sâu thẳm mênh mông thay, thực là khuôn phép của nước lớn. Người là mẫu mực của miền Đông Hải, chính là Thái công đó chăng? Vận nước chưa thể lường hết được.” Hát “Bân phong”*, [nghe xong, QuýTrát] nói: “Đẹp đẽ thay, thảnh thơi thay, vui mà không dâm, là nhạc lúc Chu công đông chinh chăng?” Hát “Tần phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Đây gọi là Hạ thanh*. Ôi, đã là Hạ thì to lớn, to lớn đến cực độ vậy, đó là âm nhạc cũ của nhà Chu chăng?” Hát “Ngụy phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, uyển chuyển thay, rộng rãi mà biết ước thúc, khiêm hòa mà vẫn giản đơn, nhờ đức hạnh bổ trợ để thi hành, đó hẳn là bậc minh chủ vậy.” Hát “Đường phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Nghĩ sâu xa thay, còn di phong của họ Đào Đường chăng? Bằng không sao suy tư sâu xa tới vậy? Phi hậu duệ của bậc có đức lớn, ai được như thế?” Hát “Trần phong”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Nước không vua, sao có thể lâu dài được đây?” Từ “Cối phong” trở về sau, Quý Trát không bình luận nữa. Hát “Tiểu nhã”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, suy tư mà chẳng hai lòng, oán hận mà chẳng nói ra, là đức nhà Chu nhỏ chăng? Do hãy còn cái tình dân cũ của tiên vương.” Hát “Đại nhã”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Rộng lớn thay, nhuần nhị thay, ngữ khí uyển chuyển mà vẫn cương chính, là đức của Văn lương chăng?” Hát “Tụng”, [nghe xong, Quý Trát] nói: “Cực điểm vậy thay, thẳng thắn mà không ngạo mạn, uyển chuyển mà không khuất phục, thân cận mà không bức bách, xa xôi mà không lỏng lẻo, biến đổi mà không dâm loạn, trăn trở mà không mệt mỏi, đau thương mà không ưu sầu, vui vẻ mà không hoang đàng, dùng mà không thiếu, rộng mà không lộ, ra ơn mà không phí phạm, lấy mà không tham nhiều, ngừng nghỉ
mà không trì trệ, vận hành mà không trôi tuột. Lời của năm thanh hài hòa, khí của tám phương bình ổn, tiết tấu có chừng mực, phách nhịp có quy tắc, giống như nơi chứa đức tốt vậy.” Xem múa “Tượng sóc”, “Nam thược”, [Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, nhưng vẫn chứa niềm hoài hận.” Xem múa “Đại vũ”, [Quý Trát] nói: “Đẹp đẽ thay, sự hưng thịnh của nhà Chu đại để giống thế chăng?” Xem múa “Thiều hộ”, [Quý Trát] nói: “Thánh nhân lớn lao thay, nhưng dường có chỗ còn thắc thỏm, làm thánh nhân khó thế đấy!” Xem múa “Đại Hạ”, Quý Trát nói: “Đẹp đẽ thay, chăm chỉ mà không khoe khoang, không phải Vũ thì ai làm được thế?” Xem múa “Chiêu sóc”, Quý Trát] nói “Đức đến cực điểm thay, lớn lao thay, như trời cao, không gì không che phủ, như đất dày, không gì không gánh chở, dẫu thêm đức tốt cũng không biết thêm vào đâu. Xem thế là đủ, dẫu thêm nhạc khác, ta cũng chẳng dám xem nữa.”*
[Quý Trát] rời nước Lỗ, bèn đi sứ sang nước Tề. [Quý Trát] nói với Yến Bình Trọng* rằng: “Ngài mau giao nộp ấp phong và quyền chức. Không ấp không quyền, mới mong thoát nạn. Quyền chính nước Tề sắp quy về một mối; chưa về một mối, họa nạn chưa dứt vậy.” Vì thế, Yến tử nhờ Trần Hoàn tử để giao lại ấp phong và quyền tước, nhờ thế thoát được nạn Loan Cao*.
[Quý Trát] rời nước Tề, sang sứ nước Trịnh. [Quý Trát] gặp Tử Sản, như gặp lại bạn cũ. Bảo Tử Sản rằng: “Người cầm quyền nước Trịnh xa hoa, họa nạn sắp đến đấy, chính sự nhất định về tay ngài. Ngài nắm quyền chính, phải thận trọng tuân theo lễ pháp. Bằng không nước Trịnh sẽ suy vong.” Rời nước Trịnh, Quý Trát đến nước Vệ. [Quý Trát] bảo Cừ Viện, Sử Cẩu, Sử Thu, công tử Kinh, Công Thúc Phát, công tử Triều rằng: “Nước Vệ nhiều quân tử, chưa có gì đáng lo.”
[Quý Trát] từ nước Vệ sang nước Tấn, định vào ở trọ trong ấp Thích, chợt nghe thấy tiếng chuông, bèn nói: “Quái lạ! Ta từng nghe, khéo biện bác mà không có đức hạnh, nhất định phải chịu hình phạt. Phu tử (Tôn Văn tử) đắc tội với quốc quân vậy mà vẫn còn ở đây, sợ hãi chưa xiết, mà còn có thể làm nhạc được sao? Phu tử ở ấp Thích khác nào tổ én trên mành* vậy. Quốc quân (Vệ Hiến công) còn quàn ở đó, mà có thể làm nhạc được chăng?” Đoạn bỏ đi. Văn tử nghe được lời ấy, sau này cả đời không nghe tiếng đàn cầm đàn sắt nữa.
[Quý Trát] đến nước Tấn, nói với Triệu Văn tử, Hàn Tuyên tử, Nguỵ Hiến tử rằng: “Vận mệnh nước Tấn sẽ tập trung trong tay ba nhà đấy!” Sắp sửa đi thì nói với Thúc Hướng rằng: “Ngài hãy cố gắng! Nhà vua xa xỉ mà lại nhiều bề tôi giỏi, các đại phu đều giàu có [ắt ban bố ân huệ sâu dày], cho nên chính sự sắp về tay ba nhà. Ngài là người ngay thẳng, ắt phải tự nghĩ cách mà tránh nạn.”
Lúc Quý Trát mới đi sứ, lên phía bắc qua chỗ Từ quân. Từ quân thích kiếm của Quý Trát, nhưng chưa dám mở lời. Quý Trát trong lòng hiểu ý, song vì còn đi sứ nước lớn nên chưa đem tặng. Khi trở về đến nước Từ, Từ quân đã chết, thế là bèn cởi kiếm báu buộc lên cây ở mộ Từ quân rồi mới đi. Tùy tòng hỏi: “Từ quân đã chết, ngài còn để lại tặng ai?” Quý tử đáp: “Không phải thế. Trước đây, ta đã thầm hứa sẽ tặng kiếm, há vì ông ấy đã mất mà làm trái lòng mình sao?”
Năm thứ bảy, công tử nước Sở là Vi giết vua nước mình là Giáp Ngao để tự lập làm vua, đó là Linh vương. Năm thứ mười, Sở Linh vương hội chư hầu để vây đánh đất Chu Phương của nước Ngô, nhằm giết Khánh Phong nước Tề. Nước Ngô cũng vây đánh nước Sở, đoạt ba ấp rồi rút về. Năm thứ mười một, nước Sở tiến đánh nước Ngô, đến tận Vu Lâu. Năm
thứ mười hai, nước Sở lại đến đánh, đóng quân ở Càn Khê, quân Sở thua chạy.
Năm thứ mười bảy, vua Dư Sái chết, em là Dư Muội lên thay. Vua Dư Muội năm thứ hai, công tử nước Sở là Khí Tật giết vua nước mình là Linh vương để lên thay.
Năm thứ tư, vua Dư Muội chết, muốn truyền ngôi cho em là Quý Trát. Quý Trát từ chối, rồi bỏ trốn. Vì thế, người Ngô nói: “Tiên vương đã có di mệnh, anh mất thời em lên thay, ắt truyền đến Quý tử. Nay Quý tử trốn ngôi, thì vua Dư Muội là người cuối cùng trong các anh em được lập. Nay [vua Dư Muội] mất đi, lập con ngài lên thay.” Bèn lập con của vua Dư Muội là Liêu lên làm vương.
Vương Liêu năm thứ hai, công tử Quang thảo phạt nước Sở, bị thua, còn làm mất chiến thuyền của tiên vương. Quang sợ, đánh úp nước Sở, đoạt lại được chiến thuyền của tiên vương rồi về.
Năm thứ năm, bề tôi bỏ trốn của nước Sở là Ngũ Tử Tư chạy đến [nước Ngô], công tử Quang đối đãi như khách. Công tử Quang là con vua Chư Phàn. [Quang] luôn cho rằng cha mình có ba người anh em, [ngôi báu] đáng lẽ được truyền đến Quý tử. Quý tử đã không nhận ngôi báu, thì cha của Quang là người đầu tiên được lập. Đã không truyền ngôi đến Quý tử thì đáng lý Quang phải được lập. [Quang] liền ngầm chiêu nạp hiền sĩ, muốn tập kích Ngô vương Liêu.
Năm thứ tám, nước Ngô sai công tử Quang thảo phạt nước Sở, đánh bại quân Sở, đón mẹ của Thái tử Kiến trước đây từ Cư Sào trở về. Thừa cơ bắc phạt, đánh bại quân đội nước Trần và nước Sái. Năm thứ chín, công tử Quang thảo phạt nước Sở, hạ được Cư Sào, Chung Ly. Hồi trước, có xử nữ tộc Ty Lương thị ở biên ấp nước Sở tranh lá dâu với người con gái ở biên
ấp nước Ngô, dẫn đến hai nhà nổi giận rồi đánh giết nhau, quan trưởng biên ấp hai nước hay tin cũng tức giận đánh nhau, biên ấp nước Ngô bị diệt. Ngô vương nổi giận, nên mới phạt Sở, chiếm hai thành ấp* rồi về.
Hồi Ngũ Tử Tư mới chạy sang nước Ngô, thuyết phục Ngô vương Liêu về mối lợi khi thảo phạt nước Sở. Công tử Quang bảo: “Cha và anh của Tư bị Sở giết, nên muốn báo thù cho họ mà thôi, chưa thấy lợi gì cả.” Vì vậy, Ngũ Viên biết Quang có chí khác (muốn tiếm ngôi), bèn tìm dũng sĩ là Chuyên Chư, ra mắt Quang. Quang mừng rỡ, bèn đối đãi với Ngũ Tử Tư như khách. Tử Tư lui về cày ruộng ở nơi thôn dã, để đợi việc Chuyên Chư [hành thích Ngô vương Liêu thành công].
Mùa đông năm thứ mười hai, Sở Bình vương chết. Mùa xuân năm thứ mười ba, nước Ngô muốn nhân lúc nước Sở có tang sang đánh, liền sai công tử Cái Dư, Chúc Dung đem quân bao vây ấp Lục, ấp Tiềm nước Sở. Phái Quý Trát sang Tấn, để quan sát động tĩnh của chư hầu. Nước Sở cất quân chặn phía sau quân Ngô, quân Ngô không trở về được. Thế là, công tử Quang nước Ngô nói: “Thời cơ [hành thích Ngô vương] này không thể bỏ lỡ.” Rồi nói với Chuyên Chư rằng: “Không tìm làm sao có được! Ta mới thực là người thừa kế vương vị, đáng lý phải được lên ngôi, ta muốn đạt được điều đó. Quý tử dẫu có trở về cũng không phế ta đâu.” Chuyên Chư đáp: “Ngô vương Liêu thì có thể giết được. Mẹ già con thơ*, còn hai công tử thì đem quân vây đánh Sở, bị Sở cắt đứt đường về. Nay, nước Ngô bên ngoài bị Sở vây khốn, bên trong không có bề tôi cương trực, thì sao làm gì được ta chứ.” Quang đáp: “Mạng sống của ta cũng chính là mạng sống của ông vậy.” Ngày Bính Tý tháng Tư, Quang giấu giáp sĩ ở dưới hầm, rồi mời Ngô vương Liêu đến dự yến tiệc. Ngô vương Liêu sai binh sĩ đứng dàn trên đường, từ vương cung đến tận nhà Quang, các chỗ như
cổng, thềm, cửa, chỗ ngồi đều có thân tín của Ngô vương Liêu, ai nấy đều cầm kiếm sắc. Công tử Quang vờ đau chân, đi xuống dưới hầm, rồi sai Chuyên Chư giấu chảy thủ vào bụng cá nướng rồi dâng món ăn. [Sau đó Chuyên Chư] tay nắm chủy thủ đâm Ngô vương Liêu, [tuy Chuyên Chư cũng bị] đâm vào bụng, nhưng vẫn giết được Ngô vương Liêu. Rốt cuộc công tử Quang thay thế rồi lên ngôi vương, đó là Ngô vương Hạp Lư. Hạp Lư liền cho con của Chuyên Chư làm chức khanh.
Quý tử về đến, nói rằng: “Nếu việc tế tự tiên quân không bị bỏ phế, ngôi chúa của dân chúng không bị bỏ trống, [thì ai] thờ phụng đàn xã đàn tắc, người đó chính là quốc quân của ta vậy. Ta dám oán ai đây? Xót người đã mất, thờ người còn sống, đặng đợi mệnh trời. Ta không dấy loạn, ai lên ngôi thì theo, đó là đạo lý của các bậc tiền nhân vậy.” Liền hồi báo việc đi sứ, khóc trước mộ Liêu, trở về giữ chức đợi lệnh [Quang]. Công tử nước Ngô là Chúc Dung, Cái Dư, hai người cầm quân bị người Sở bao vây, nghe tin công tử Quang giết Ngô vương Liêu để tự lập, liền đem quân hàng Sở, nước Sở phong cho ở đất Thư.
Ngô vương Hạp Lư năm thứ nhất, cất nhắc Ngũ Tử Tư làm Hành nhân để cùng mưu tính việc nước. Nước Sở giết Bá Châu Lê, cháu nội [Bá Châu Lê] là Bá Phỉ chạy trốn sang nước Ngô, Ngô vương phong làm đại phu.
Năm thứ ba, Ngô vương Hạp Lư cùng Tử Tư, Bá Phỉ đem quân chinh phạt nước Sở, hạ được đất Thư, giết hại tướng vốn là hai công tử nước Ngô trốn sang. Quang mưu đánh vào đất Dĩnh, Tướng quân Tôn Vũ nói: “Dân còn vất vả, chưa thể đánh được, hãy đợi thêm đã.” Năm thứ tư, chinh phạt nước Sở, chiếm được ấp Lục và ấp Tiềm. Năm thứ năm, chinh phạt nước Việt, nước Việt thua trận. Năm thứ sáu, nước Sở sai Tử Thường,
Nang Ngõa chinh phạt nước Ngô. Đón đánh quân Sở, đại phá quân Sở ở Dự Chương, chiếm được Cư Sào của nước Sở rồi rút về. Năm thứ chín, Ngô vương Hạp Lư thỉnh triệu Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ đến hỏi rằng: “Trước đây, các ông bảo chưa thể tiến đánh vào đất Dĩnh, nay thì thế nào?” Hai người đáp rằng: “Tướng nước Sở là Tử Thường tham lam, mà nước Đường, nước Sái đều oán ông ta. Nếu nhà vua nhất định muốn đánh lớn, tất phải được nước Đường, nước Sái ủng hộ mới được.” Hạp Lư nghe theo, đem hết quân binh, cùng nước đường, nước Sái tiến sang phía Tây chinh phạt nước Sở, kéo đến Hán Thủy. Nước Sở cũng phát quân chống cự quân Ngô, bày trận hai bên bờ sông. Em trai của Ngô vương Hạp Lư là Phù Khái muốn đánh, Hạp Lư không cho. Phù Khái nói: “Đại vương đã giao quân cho thần, việc quân lấy lại làm đầu, còn đợi gì nữa?” Bèn đem năm nghìn quân của mình đánh úp quân Sở, quân Sở đại bại, rút chạy. Thế là Ngô vương bèn tung quân truy kích. Đến khi tới đất Dĩnh, thì năm lần đánh, Sở bại cả năm lần. Sở Chiêu vương trốn khỏi Dĩnh đô, chạy đến đất Vân. Em của Vân công muốn giết Chiêu vương, Chiêu vương cùng Vân công chạy sang đất Tùy. Thế rồi quân Ngô liền kéo vào Dĩnh đô. Tử Tư, Bá Phỉ dùng roi đánh vào thây của Bình vương để báo thù cho cha.
Mùa xuân năm thứ mười, nước Việt nghe tin Ngô vương đang ở Dĩnh đô, trong nước trống không, liền chinh phạt nước Ngô. Ngô vương sai cánh quân khác đánh nước Việt. Nước Sở cấp báo với nước Tần, Tần sai quân cứu Sở, đánh Ngô, quân Ngô thua. Em trai Hạp Lư là Phù Khái thấy quân Tần, quân Việt thay nhau đánh bại quân Ngô, Ngô vương còn lưu lại Sở không về, Phù Khái trốn về Ngô rồi tự lập làm Ngô vương. Hạp Lư biết tin, liền dẫn quân về, tấn công Phù Khái. Phù Khái thua chạy sang
nước Sở. Sở Chiêu vương đến tháng Chín mới về lại được Dĩnh đô, đoạn phong Phù Khái đất Đường Khê, đó là Đường Khê thị. Năm thứ mười một, Ngô vương sai Thái tử Phù Sai chinh phạt nước Sở, chiếm được đất Phan. Nước Sở lo sợ, bèn bỏ đất Dĩnh dời đô sang ấp Nhược.
Năm thứ mười lăm, Khổng tử làm Tướng quốc nước Lỗ. Mùa hạ năm thứ mười chín, nước Ngô đánh nước Việt, Việt vương Câu Tiễn đón đánh ở đất Tuy Lý. Nước Việt sai dũng sĩ cảm tử khiêu chiến, dàn thành ba hàng đến trước quân Ngô, hét lên rồi tự cắt cổ. Quân Ngô đang mải trông, quân Việt thừa cơ tấn công quân Ngô, đánh bại quân Ngô ở đất Cô Tô, làm Ngô vương Hạp Lư bị thương ở ngón tay, quân phải lùi bảy dặm. Ngô vương bị thương rồi ốm chết. Hạp Lư truyền lập Thái tử Phù Sai, bảo rằng: “Mày có dám quên việc Câu Tiễn giết cha mày không?” Đáp rằng: “Không dám!” Năm thứ ba, mới báo thù được nước Việt. Ngô vương Phù Sai năm thứ nhất, lấy đại phu Bá Phỉ làm Thái tể. Tập trận bắn cung, luôn nuôi chí báo thù nước Việt. Năm thứ hai, Ngô vương đem hết quân tinh nhuệ để thảo phạt nước Việt, đánh bại nước Việt ở đất Phù Tiêu, báo được mối thù ở đất Cô Tô. Việt vương Câu Tiễn liền đem năm nghìn giáp binh lưu lại ở Cối Kê, sai đại phu Chủng thông qua Thái tể Bá Phỉ của nước Ngô để cầu hòa, xin giao nước, nguyện làm tôi đòi cho nước Ngô. Ngô vương định nhận lời, Ngũ Tử Tư can rằng: “Xưa Hữu Qua thị giết Châm Quán rồi thảo phạt Châm Tầm, tiêu diệt con cháu nhà Hạ là Đế Tướng. Phi tử của Đế Tướng là Hậu Mân đang có thai, chạy trốn đến Hữu Nhưng rồi sinh ra Thiếu Khang. Thiếu Khang làm chức Mục chính* cho Hữu Nhưng. Hữu Qua lại muốn giết Thiếu Khang, Thiếu Khang chạy sang Hữu Ngu. Hữu Ngu nhớ đức của nhà Hạ, do đó đem hai con gái gả cho [Thiếu Khang] rồi phong cho ấp Luân; đất đai vuông một thành*, dân
có một lữ*. Sau bèn thu phục dân chúng, vỗ về các quan chức nhà Hạ. Sai người dụ dỗ Hữu Qua, rồi tiêu diệt Hữu Qua thị, khôi phục cơ đồ của Hạ Vũ, tế tự nhà Hạ phối hưởng với trời, không làm mất đi những việc cũ [của triều Hạ]. Nay nước Ngô không mạnh bằng Hữu Qua, còn Câu Tiễn lại lớn hơn Thiếu Khang. Nay không thừa thế bây giờ mà diệt đi, lại muốn khoan dung, chẳng cũng nguy lắm sao! Hơn nữa, Câu Tiễn là người có thể chịu được cay đắng [để chờ thời], nay không tiêu diệt, sau tất phải hối hận.” Ngô vương không nghe, mà theo lời Thái tể Phỉ, rốt cuộc cho nước Việt được hòa, cùng lập minh ước rồi rút quân về.
Năm thứ bảy, Ngô vương Phù Sai nghe tin Tề Cảnh công chết mà các đại thần lại tranh sủng, vua mới còn yếu đuối, liền cất quân lên phía bắc chinh phạt nước Tề. Tử Tư can rằng: “Việt vương Câu Tiễn ăn không hai vị, mặc không hai màu, điếu viếng người chết, thăm nom kẻ ốm, ý muốn huy động dân chúng. Người này không chết, tất trở thành mối lo của nước Ngô. Nay nước Việt là bệnh trong phủ tạng mà nhà vua không lo trước, lại lo chuyện nước Tề, chẳng cũng sai lầm hay sao?” Ngô vương không nghe, bèn tiến lên phía bắc chinh phạt nước Tề, đánh bại quân Tề ở Ngải Lăng. [Ngô vương] đến đất Tăng, triệu Lỗ Ai công đến đòi cung ứng cỗ Bách lao*. Quý Khang tử sai Tử Cống dùng lễ chế nhà Chu thuyết phục Thái tể Phỉ, [Thái tể Phỉ] mới thôi [không đòi hỏi]. Nhân lúc lưu lại bèn cướp các đất phía nam nước Tề, nước Lỗ. Năm thứ chín, [nước Ngô] vì nước Trâu mà chinh phạt nước Lỗ, kéo đến [nước Lỗ], cùng nước Lỗ kết minh rồi về. Năm thứ mười, thừa cơ chinh phạt nước Tề rồi về. Năm thứ mười một, lại tiến lên phía bắc phạt Tề.
Việt vương Câu Tiễn dẫn các bề tôi của mình sang triều kiến nước Ngô, dâng lễ vật trọng hậu, Ngô vương vui lòng. Riêng Tử Tư lo sợ, nói:
“Ấy là vứt bỏ nước Ngô vậy.” Can rằng: “Nước Việt [là mối lo] trong tim trong bụng, nay ta được đắc chí ở đất Tề, cũng giống như mảnh ruộng đá sỏi vậy, không dùng được vào việc gì. Hơn nữa, thiên “Bàn Canh chi cáo”* có câu “Kẻ ngông cuồng vượt lễ thì chớ lưu lại, nhà Thương nhờ thế mới hưng thịnh.” Ngô vương không nghe, sai Tử Tư đi sứ nước Tề, Tử Tư gửi gắm con mình cho Bào thị nước Tề, trở về phục mệnh với Ngô vương. Ngô vương biết chuyện, cả giận, ban kiếm Chúc lũ* để cho Tử Tư tự vẫn. Khi sắp chết, [Tử Tư] nói: “Trồng cây tử trên mộ của ta, để sau này làm quan tài. Móc mắt ta treo trên cửa đông nước Ngô, để ta xem nước Việt tiêu diệt nước Ngô.”
Bào thị nước Tề giết Tề Điệu công. Ngô vương biết chuyện, khóc ngoài cửa quân ba ngày, đoạn theo đường biển tấn công nước Tề. Người Tề đánh bại quân Ngô, Ngô vương bèn dẫn quân về.
Năm thứ mười ba, Ngô vương triệu Lỗ quân, Vệ quân đến hội minh ở đất Thác Cao.
Mùa xuân năm thứ mười bốn, Ngô vương lên phía bắc hội chư hầu ở đất Hoàng Trì, muốn xưng bá Trung nguyên để bảo toàn cho nhà Chu. Ngày Bính Tý tháng Sáu, Việt vương Câu Tiễn chinh phạt nước Ngô. Ngày Ất Dậu, năm nghìn quân Việt đánh với quân Ngô. Ngày Bính Tuất, bắt sống Thái tử Hữu nước Ngô. Ngày Đinh Hợi, vào đất Ngô. Người Ngô báo việc bại trận với Ngô vương Phù Sai, Phù Sai sợ tin tức đến tại chư hầu. Có kẻ tiết lộ tin ấy, Ngô vương nổi giận, chém bảy người ngay dưới trướng [để diệt khẩu]. Ngày Tân Sửu tháng Bảy, Ngô vương và Tấn Định công tranh làm minh chủ. Ngô vương bảo: “Trong nhà Chu, ta là trưởng.” Tấn Định công bảo: “Trong họ Cơ*, ta lớn nhất.” Triệu Ưởng nổi giận, định tiến đánh nước Ngô, bèn tôn Tấn Định công làm minh chủ. Ngô
vương sau khi lập lời minh, chia tay vua Tấn, muốn đánh nước Tống. Thái tể Phỉ nói rằng: “Có thể thắng được nhưng không thể ở lại.” Liền dẫn quân về nước. Nước mất Thái tử, trong nước trong rỗng, Ngô vương ở ngoài nước lâu, quân sĩ đều mệt mỏi, thế là bèn đem hậu lễ để giảng hòa với nước Việt.
Năm thứ mười lăm, Điền Thường nước Tề giết Giản công. Năm thứ mười tám, nước Việt ngày càng mạnh. Việt vương Câu Tiễn dẫn quân lại đánh bại quân Ngô ở Lạp Trạch. Nước Sở diệt nước Trần.
Năm thứ hai mươi, Việt vương Câu Tiễn lại chinh phạt nước Ngô. Năm thứ hai mươi mốt, bèn bao vây nước Ngô. Ngày Đinh Mão tháng Mười một năm thứ hai mươi ba, nước Việt đánh bại nước Ngô. Việt vương Câu Tiễn định đày Ngô vương Phù Sai ra Dũng Đông, cấp cho trăm hộ để ở lại đó. Ngô vương nói: “Ta già rồi, không thể thờ quân vương được nữa. Ta hối hận vì không nghe lời Tử Tư, tự khiến mình sa vào cảnh này.” Đoạn cắt cổ chết. Việt vương tiêu diệt nước Ngô, giết Thái tể Phỉ vì cho là bất trung, rồi trở về.
Thái sử công bàn rằng: Khổng tử nói: “Thái bá khá gọi là bậc chí đức vậy, ba lần nhường thiên hạ, mà dân không biết để xưng tụng.” Ta đọc cổ văn Xuân Thu, mới hay nước Ngu ở Trung nguyên và Câu Ngô ở Kinh Man là anh em vậy. Lòng nhân của Diên Lăng Quý tử, mến mộ đạo nghĩa vô cùng, xem điều nhỏ nhặt mà biết chuyện đục trong. Ôi, sao mà bậc quân tử ấy lại hiểu biết sự vật rộng lớn đến thế!*
QUYỂN 32
TỀ THÁI CÔNG THẾ GIA
Thái công Vọng Lã Thượng, là bậc thượng nhân* ở vùng Đông Hải. Tổ tiên của ông từng làm đến chức Tứ nhạc*, giúp vua Vũ trị thủy thổ rất có công lao. Khoảng giữa thời Ngu Thuấn và Hạ Vũ, được phong ở ấp Lã, có khi được phong ở ấp Thân, họ Khương thị. Đến thời nhà Hạ và nhà Thương, con cháu ngành thứ ở hai ấp Thân, Lã vẫn tiếp tục được phân phong, nhưng cũng có người trở thành dân thường, Thượng là hậu duệ của họ vậy. Ông vốn họ Khương thị, nhân dùng tên ấp phong làm họ nên gọi là Lã Thượng.
Đại để Lã Thượng từng rất khốn cùng, đến già mới nhận việc câu cá gặp được Tây bá nhà Chu*. Tây bá khi sắp đi săn, bói quẻ, quẻ bói rằng: “Thứ săn được chẳng phải trồng, chẳng phải ly, không phải hổ, không phải gấu; mà được người phò nghiệp bá vương.” Thế rồi Tây bá nhà Chu đi săn, quả nhiên gặp Thái công ở bờ bắc sống Vị, cùng nhau nói chuyện, cả mừng, nói: “Nghe từ tiên quân ta là Thái công nói rằng, đương có thánh nhân đến nước Chu, nhà Chu nhờ đó sẽ hưng khởi, ông đúng là người đó sao? Thái công của ta trông mong ông lâu lắm rồi.” Vì vậy mới có hiệu là “Thái công Vọng”, cho ngồi cùng xe về, tôn làm thầy.
Có người nói, Thái công học rộng hiểu nhiều, từng thờ vua Trụ. Trụ vương vô đạo, ông bỏ đi. [Thái công Vọng] du thuyết chư hầu, chưa gặp
được người thích hợp, rốt cuộc về tây với Tây bá nhà Chu. Lại có người bảo, Lã Thượng là một xử sĩ*, ẩn cư ở bãi bể. Tây bá nhà Chu bị bắt ở Dữu Lý, Tán Nghi Sinh, Hoằng Yêu vốn biết tài Lã Thượng mới mời về. Lã Thượng cũng nói: “Ta nghe nói Tây bá là người hiền năng, lại giỏi chăm người già, sao lại không đến đó?” Ba người bèn vì Tây bá mà tìm kiếm mỹ nữ, của lạ đem hiến cho vua Trụ để chuộc Tây bá. Tây bá nhờ đó thoát ra được, trở về nước. Lời truyền về lý do Lã Thượng thờ nhà Chu tuy có khác, nhưng cơ bản đều nói ông là bậc thầy của Văn vương, Vũ vương.
Tây bá nhà Chu là Cơ Xương thoát khỏi Dữu Lý trở về, cùng Lã Thượng ngầm bày mưu, sửa đức để khuynh đảo chính sự nhà Thương, những việc đó hầu hết là thuật dùng binh và kế lạ, vì vậy người đời sau khi bàn đến việc binh và việc ngầm dùng quyền mưu của nhà Chu đều quy cho Thái công là người định ra mẹo mực. Tây bá nhà Chu chấp chính công bằng, khéo xử tranh chấp giữa nước Ngu và nước Nhuế*, vì thế các nhà thơ xưng tụng Tây bá nhận được mệnh trời, gọi là Văn vương. Chinh phạt nước Sùng, nước Mật Tu, nước Khuyển Di, ra sức xây dựng ấp Phong, Thiên hạ ba phần thì hai phần theo về nước Chu, mưu kế phần nhiều đều của Thái công.
Văn vương băng hà, Vũ vương kế vị. Năm thứ chín, [Vũ vương] muốn sửa sang cơ nghiệp của Văn vương, liền chinh phạt phía đông để xem chư hầu có theo hay không. Lúc phát binh, Thượng phụ* [Lã Thượng] tay trái nắm búa vàng, tay phải cầm cờ mao trắng mà thề rằng: “Thương hủy, Thương hủy*, hãy tập hợp quân binh của các ngươi, cấp cho thuyền và mái chèo, kẻ nào đến chậm sẽ bị chém đầu?” Đoạn tiến đến Mạnh Tân. Chẳng hề hẹn trước mà tám trăm chư hầu hội hợp. Chư hầu đều nói: “Trụ,
có thể đánh được rồi.” Vũ vương nói: “Chưa được.” Bèn kéo quân về, cùng Thái công làm bài “Thái thệ”*.
Qua hai năm, vua Trụ giết Vương tử Tỷ Can, bỏ tù Cơ tử. Vũ vương định phạt Trụ, bói quẻ bằng mai rùa, hiện điềm không lành, mưa to gió lớn kéo đến. Các quan đều sợ hãi, chỉ riêng Thái công ra sức khuyến khích Vũ vương, thế là Vũ vương bèn cất quân đi. Ngày Giáp Tý, tháng Giêng năm thứ mười một, tuyên thệ ở Mục Dã, chinh phạt Trụ vương nhà Thương. Quân Trụ đại bại. Trụ vương quay đầu bỏ chạy, lên Lộc Đài, Vũ vương bèn cho đuổi theo chém chết vua Trụ. Ngày hôm sau, Vũ vương đứng trước đàn xã, quần thần dâng nước tinh khiết, Vệ Khang thúc là Phong trải chiếu hoa, Sư Thượng phụ dắt các con vật tế, Thái sử Dật đọc lời khấn cáo, cẩn cáo với thần minh tội trạng của vua Trụ. Chia tiền bạc trong Lộc Đài, phát thóc gạo trong Cự Kiều để chẩn tế dân nghèo. Tôn cao mộ của Tỷ Can, thả Cơ tử khỏi ngục tù. Dời chín đỉnh, sửa sang chính trị nhà Chu, cùng cả thiên hạ đổi mới. Phần lớn đều nhờ mưu của Sư Thượng phụ.
Bấy giờ, sau khi Vũ vương đã bình định nhà Thương, làm vua thiên hạ, phong cho Sư Thượng phụ vùng Doanh Khâu đất Tề. [Thái công] sang phía đông để đến đất Phong, vừa đi vừa nghỉ, đi rất chậm. Chủ quán trọ bảo: “Tôi nghe thời cơ khó gặp nhưng dễ mất. [Vậy mà] khách ngủ rất ngon, cơ hồ không phải người đi đến nhận nước Phong.” Thái công nghe vậy, đương đêm khoác áo lên đường, tờ mờ sáng thì đến nước Phong. Lai hầu đến đánh, tranh giành Doanh Khâu với Thái công. Doanh Khâu gần biên giới nước Lai. Người nước Lai vốn là người rợ vậy, nhân lúc loạn thời vua Trụ mà nhà Chu mới lập, chưa thể chiêu dụ được phương xa, vì thế mới tranh nước với Thái công.
Thái công đến nước Phong, sửa sang chính sự, nương theo phong tục, giảm bớt lễ nghi, mở mang việc buôn bán, thủ công, phát triển nguồn lợi nghề cá, nghề muối, vì thế nhiều người dân theo Tề, Tề trở thành nước [chư hầu] lớn. Nhằm lúc Chu Thành vương còn nhỏ, Quản thúc, Sái thúc làm loạn, các tộc rợ vùng Hoài Phố phản lại nhà Chu, Vũ vương bèn sai Thiệu Khang công truyền mệnh cho Thái công rằng: “Đông đến biển lớn, tây đến Hoàng Hà, nam đến Mục Lăng, bắc đến Vô Lệ, năm hầu chín bá*, Sư Thượng phụ đều được chinh phạt.” Nhân thế nước Tề được quyền chinh phạt, trở thành nước [chư hầu] lớn, đóng đô ở Doanh Khâu.
Ước chừng Thái công chết lúc hơn 100 tuổi, con là Đinh công Lã Cấp lên thay. Đinh công chết, con là Ất công Đắc lên thay. Ất công chết, con là Quý công Từ Mẫu lên thay. Quý công chết, con là Ai công Bất Thần* lên thay.
Thời Ai công, Kỷ hầu gièm với nhà Chu, nhà Chu nấu chết Ai công rồi lập em của Ai công là Tĩnh, đó là Hồ công. Hồ công dời đô đến Bạc Cô, bấy giờ nhằm thời Chu Di vương.
Người em nhỏ cùng mẹ của Ai công là Sơn oán hận Hồ công, bèn cùng đồ đảng dẫn người ở Doanh Khâu đánh úp giết chết Hồ công rồi tự lên ngôi, đó là Hiến công. Hiến công năm đầu, đuổi hết con cái của Hồ công, nhân đó dời đô từ Bạc Cô về Lâm Truy.
Năm thứ chín, Hiến công chết, con là Vũ công Thọ lên thay. Vũ công năm thứ chín, Chu Lệ vương chạy trốn khỏi nước, trú ở đất Trệ. Năm thứ mười, vương thất [nhà Chu] rối loạn, đại thần chấp chính, gọi là “Cộng hòa”*. Năm thứ hai mươi tư, Chu Tuyên vương mới lên ngôi.
Năm thứ hai mươi sáu, Vũ công chết, con là Lệ công Vô Kỵ lên thay. Lệ công bạo ngược, vì vậy con của Hồ công lại trở về nước Tề, người Tề
muốn lập [con của Hồ công] làm vua, bèn cùng nhau đánh giết Lệ công. Con của Hồ công cũng vì đánh nhau mà chết. Người Tề bèn lập con của Lệ công là Xích lên làm vua, đó là Văn công, rồi giết bảy mươi người can dự vào việc giết Lệ công.
Văn công đến năm thứ mười hai thì chết, con là Thành công Thoát lên ngôi. Thành công đến năm thứ chín thì chết, con là Trang Công Cấu lên ngôi.
Trang công năm thứ hai mươi tư, rợ Khuyển Nhung giết U vương, nhà Chu dời sang đất Lạc ở phía đông. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ năm mươi sáu, người Tấn giết vua nước mình là Chiêu hầu.
Năm thứ sáu mươi tư, Trang công chết, con là Hy công Lộc Phủ lên ngôi.
Hy công năm thứ chín, Lỗ Ẩn công mới lên ngôi. Năm thứ mười chín, Lỗ Hoàn công giết anh mình là Ẩn công rồi tự lập làm vua. Năm thứ hai mươi lăm, rợ Bắc Nhung chinh phạt nước Tề. Nước Trịnh sai Thái tử Hốt đến cứu nước Tề, nước Tề muốn gả con gái cho [Hốt]. Hốt nói: “Nước Trịnh nhỏ nước Tề lớn, ta không tương xứng”, đoạn từ chối việc ấy.
Năm thứ ba mươi hai, em cùng mẹ của Hy công là Di Trọng Niên chết. Con của Di Trọng Niên là Công Tôn Vô Tri được Hy Công yêu mến, ban cho bổng lộc, trang phục, người hầu hạ, nuôi nấng ngang với Thái tử.
Năm thứ ba mươi ba, Hy công chết, Thái tử Chư Nhi lên ngôi, đó là Tương công.
Trong công năm đầu, hồi trước khi còn là Thái tử, thường tranh giành với Vô Tri, đến lúc lên ngôi, bèn bãi bỏ chế độ bổng lộc, phục sức của Vô Tri, Vô Tri oán hận.
Năm thứ tư, Lỗ Hoàn công và phu nhân đến nước Tề. Tề Tương công vốn từng tư thông với Lỗ phu nhân. Lỗ phu nhân là em gái của Tương công, từ thời Hy cũng đã được gả làm vợ Lỗ Hoàn công, đến khi Hoàn công tới [nước Tề], Tề Tương công lại tư thông với nàng. Lỗ Hoàn công biết chuyện, giận phu nhân, phu nhân bèn mách với Tề Tương công. Tề Tương công và vua Lỗ cùng uống rượu, thuốc cho [vua Lỗ] say, sai lực sĩ là Bánh Sinh xốc vua Lỗ lên xe, thừa cơ bẻ (cổ) Lỗ Hoàn công, Hoàn công xuống xe thì đã chết. Người Lỗ trách nước Tề, thế là Tề Tương công giết Bành Sinh để tạ lỗi với nước Lỗ.
Năm thứ tám, [nước Tề] chinh phạt nước Kỷ, nước Kỷ phải dời đô. Năm thứ mười hai, hồi đầu, Tương công sai Liên Xứng, Quản Chí Phủ đóng quân doanh ở đất Quỳ Khâu, hẹn mùa dưa [tháng Bảy] thì lên đường, đến mùa dưa sau thì được đổi phiên. Đóng quân được một năm, rốt cuộc đến mùa dưa mà Tương công không phái người ra thay. Có người xin ra thay, Tương công không nghe. Vì vậy, [Liên Xứng và Quản Chí Phủ] hai người tức giận, [liền] nương theo Công Tôn Vô Tri để bày mưu làm loạn. Liên Xứng có người em gái họ ở trong cung của Tương công, không được sủng ái, [Xứng] bèn sai nghe ngóng tình hình của Tương công rằng: “Việc thành công, ngươi sẽ được làm phu nhân của Vô Tri.” Tháng Mười hai, mùa đông, Tương công du ngoạn ở Cô Phần, rồi đi săn ở Bái Khâu. [Tương công] thấy con lợn lòi, kẻ tùy tùng hô là “Bành Sinh”. [Tương công] nổi giận, bắn nó, con lợn đứng thẳng như người mà rống. Tương công sợ hãi, ngã xuống xe, bị thương ở chân, rơi mất chiếc giày. [Tương
công] trở về, đánh kẻ quản lý giày tên là Phất ba trăm roi. Phất rời khỏi cung. Bọn Vô Tri, Liên Xứng, Quản Chí Phủ hay tin Tương công bị thương, bèn dẫn quân đánh úp vào trong cung. Gặp kẻ quản lý giày là Phất, Phất bảo: “Tạm chớ vào làm kinh động trong cung, làm kinh động trong cung thì không dễ mà vào được.” Vô Tri không tin, Phất vạch cho xem vết roi, mới tin theo. [Bọn Vô Tri] đợi ngoài cung, sai Phất vào trước. Phất vào trước, giấu Tương công vào phía sau cánh cửa. Qua một lúc lâu, bọn Vô Tri sợ, bèn tiến vào cung. Phất ngược lại cùng người trong cung và những sủng thần tấn công bọn Vô Tri, không thắng được, đều chết cả. Vô Tri vào cung, không tìm thấy Tương công. Có kẻ thấy chân người thò ra ở khe cửa, lôi ra xem, chính là Tương công, bèn giết chết, thế rồi Vô Tri tự lập làm vua Tề.
Mùa xuân năm Hoàn công thứ nhất, vua Tề Vô Trị đến chơi Ung Lâm*. Người Ung Lâm từng có thù oán với Vô Tri, tới khi Vô Tri đến chơi, bèn đánh úp giết chết Vô Tri, rồi bảo các đại phu nước Tề rằng: “Vô Tri giết Tương Công rồi tự lập, chúng thần chỉ giết mình hắn. Xin các đại phu chọn lập người xứng đáng trong các công tủ lên ngôi, [chúng thần] xin được nghe theo.”
Hồi trước, Tương công chuốc say rồi giết Lỗ Hoàn công, tư thông với phu nhân của Lỗ Hoàn công, giết nhiều kẻ vô tội, dâm loạn với phụ nữ, nhiều lần khinh khi đại thần, các em trai đều sợ tai vạ đến mình, thế nên em thứ là Củ chạy sang nước Lỗ. Mẹ của công tử Củ là người con gái nước Lỗ. Quản Trọng, Thiệu Hốt phò tá công tử Củ. Em trai nữa là Tiểu Bạch chạy sang nước Cử, Bão Thúc phò tá Tiểu Bạch. Mẹ của Tiểu Bạch là người con gái nước Vệ, được Hy công rất sủng ái. Từ nhỏ Tiểu Bạch rất yêu quý và tôn kính đại phu Cao Hề. Tới khi người Ung Lâm giết chết Vô
Tri, bàn chuyện lập vua mới, hai họ Cao, Quốc mới ngầm sai người sang nước Cử vời Tiểu Bạch đến trước. Nước Lỗ nghe tin Vô Tri chết, cũng sai quân đưa công tử Củ về nước, rồi sai Quản Trọng dẫn cánh quân khác chặn đường nước Cử, bắn trúng cái móc trên dây lưng của Tiểu Bạch. Tiểu Bạch giả chết, Quản Trọng sai người ruổi ngựa về báo với nước Lỗ. Nước Lỗ đưa đoàn của công tử Củ đi chậm lại, sáu ngày mới tới nước Tề thì Tiểu Bạch đã vào trước, Cao Hề lập Tiểu Bạch, đó là Hoàn công.
Hoàn công bị bắn trúng cái móc trên dây lưng, giả chết để lừa Quản Trọng, sau đó ngồi ôn xa* đi gấp, cũng nhờ có họ Cao, họ Quốc làm nội ứng, ông mới đến trước được lập làm vua, rồi cất quân chống nước Lỗ. Mùa thu, giao chiến với nước Lỗ ở đất Càn Thì, quân Lỗ thua chạy, quân Tề chặn đứng đường về của nước Lỗ. Nước Tề gửi thư cho nước Lỗ, bảo: “công tử Củ là anh em, không nỡ ra tay giết, mong người Lỗ tự giết Củ đi. Thiệu Hốt, Quản Trọng là kẻ thù, muốn bắt được để băm vằm bọn chúng cho hả dạ. Nếu không nghe, [nước Tề] sẽ bao vây nước Lỗ.” Người nước Lỗ lo lắng về việc đó, bèn giết công tử Củ ở đất Sênh Đậu. Thiệu Hốt tự sát, Quản Trọng xin làm tù nhân. Hoàn công lên ngôi, đem quân tấn Công nước Lỗ, định bụng giết Quản Trọng. Bão Thúc Nha nói rằng: “Thần may mắn được theo nhà vua, rốt cuộc nhà vua cũng lên ngôi. Ngôi vua tôn quý, thần không có gì khiến nhà vua tôn quý hơn được nữa. Nếu nhà vua muốn nước Tề yên trị, chỉ cần Cao Hề và Thúc Nha là đủ. Còn nếu nhà vua muốn làm bá vương, thì nhất định phải cần Quản Di Ngô. Di Ngô ở nước nào, nước đó trở nên cường thịnh, không được để mất.” Thế rồi Hoàn công nghe theo. [Hoàn công] bèn giả cách triệu Quản Trọng [để băm vằm] cho hả dạ, kỳ thực là muốn trọng dụng ông ta. Quản Trọng hiểu điều đó, cho nên xin đi. Bão Thúc Nha đón được Quản Trọng, đưa đến Đường Phụ rồi
tháo bỏ gông cùm, tắm rửa trai giới sạch sẽ rồi đưa yết kiến Hoàn công. Hoàn công dùng lễ hậu đối đãi, phong làm Đại phu, giao trông coi chính sự. Hoàn công đã có được Quản Trọng, cùng Bão Thúc, Thấp Bằng*, Cao Hề sửa sang chính sự nước Tề, liên kết quân binh của năm nhà*, thiết lập nguồn lợi của [kế sách] “Khinh trọng"*, đánh cá và nấu muối, để chẩn cứu
kẻ bần cùng, ban bổng lộc cho bậc hiền tài, người nước Tề đều vui mừng. Năm thứ hai, đánh diệt nước Đàm, Đàm tử* chạy sang nước Cử. Trước đây, khi Hoàn công lưu vong, có qua đất Đàm, người nước Đàm vô lễ, vì thế [Hoàn công] mới đánh họ.
Năm thứ năm, [nước Tề] chinh phạt nước Lỗ, quân Lỗ thua trận. Lỗ Trang cũng xin hiến ấp Toại để cầu hòa, Hoàn công nhận lời, cùng Lễ gặp mặt ở đất Kha rồi kết minh ước. Lỗ công chuẩn bị uống máu thề, Tào Mạt dùng chủy thủ uy hiếp Hoàn công ngay trên đàn, nói rằng: “Hãy trả lại đất [ngài] đã chiếm của nước Lỗ!” Hoàn công đồng ý. Xong, Tào Mạt mới bỏ chủy thủ, lùi về vị trí bề tôi, quay mặt về hướng bắc. Sau đó Hoàn công hối hận, không muốn trả đất cho nước Lỗ mà lại muốn giết Tào Mạt. Quản Trọng nói: “Ôi, bị uy hiếp nên đã nhận lời thế mà lại bội tín đi giết [Tào Mạt], thỏa được niềm vui nhỏ mọn nhất thời vậy mà thất tín với chư hầu, mất đi sự ủng hộ của thiên hạ, không được.” Bởi thế [Hoàn công] mới đem đất đai thu được khi Tào Mạt ba lần thua trận, trả lại cho nước Lỗ. Chư hầu nghe chuyện đó, đều tin tưởng nước Tề và muốn đến quy phụ. Năm thứ bảy, chư hầu hội họp với Hoàn công ở đất Quyên, từ ấy Hoàn công bắt đầu xưng bá.
Năm thứ mười bốn, con của Trần Lệ công là Hoàn, hiệu là Kính Trọng, chạy sang nước Tề. Tề Hoàn công muốn cho làm chức khanh, [Trần Hoàn]
từ chối; vì vậy cho làm quan Công chính*. Đó là tổ tiên của Điền Thành tử Thường vậy.
Năm thứ hai mươi ba, tộc Sơn Nhung đánh nước Yên, nước Yên cấp báo với nước Tề. Tề Hoàn công cứu nước Yên, bèn chinh phạt tộc Sơn Nhung, đến tận Cô Trúc mới rút về. Yên Trang công liền đưa tiễn Hoàn công vào tận biên cảnh nước Tề. Hoàn công nói: “Không phải thiên tử, chư hầu đưa tiễn nhau thì không vượt khỏi biên giới, ta không thể vô lễ với nước Yên được.” Thế là [Tề Hoàn công] cho chia ngòi cắt chỗ đất vua nước Yên đã vào để cho nước Yên, bảo vua nước Yên tu sửa, phục hồi nền chính sự của Thiệu công, nạp cống cho nhà Chu, giống như thời Thành Khang. Chư hầu biết việc đó, đều theo nước Tề.
Năm thứ hai mươi bảy, mẹ của Mẫn công nước Lỗ là Ai Khương, tức là em gái của Tề Hoàn công. Ai Khương thông dâm với công tử nước Lỗ là Khánh Phủ, Khánh Phủ giết Mẫn công, Ai Khương muốn lập Khánh Phủ lên ngôi, người Lỗ lại lập Hy công. Hoàn công triệu Ai Khương về, giết chết Ai Khương.
Năm thứ hai mươi tám, Vệ Văn công gặp loạn người Địch, cấp báo với nước Tề. Nước Tề thống lãnh chư hầu đắp thành Sở Khâu rồi lập Vệ quân.
Năm thứ hai mươi chín, Hoàn công cùng phu nhân là Sái cơ chơi đùa trong thuyền. Sái cơ vốn ưa nước [giỏi bơi lội], mới lay thuyền đùa giỡn Hoàn công, Hoàn công sợ hãi, bảo [Sái cơ] ngừng lại, [Sái cơ] không ngừng, [đến khi] lên khỏi thuyền, Hoàn công nổi giận, trả Sái cơ về nước, nhưng không tuyệt giao. Sái hầu cũng giận, cải giá cho Sái cơ. Hoàn công hay tin thì tức tối, dấy binh sang chinh phạt.
Mùa xuân năm thứ ba mươi, Tề Hoàn công thống lãnh chư hầu thảo phạt nước Sái, dân chúng nước Sái trốn chạy khắp nơi. Đoạn chinh phạt Sở. Sở Thành vương cất quân chất vấn: “Hà cớ gì lại xâm phạm đất đai của ta?” Quản Trọng đáp rằng: “Xưa Thiệu Khang công truyền mệnh cho tiên quân Thái công của ta rằng: 'Năm hầu chín bá, thấy được quyền chinh phạt, để giúp phò vương thất nhà Chu.' Ban cho tiên quân của ta cương giới, phía đông đến biển, tây đến Hoàng Hà, nam đến Mục Lăng, bắc đến Vô Lệ. Sở không cống cỏ bao mao*, khiến đồ tế của thiên tử không đầy đủ, cho nên đến để trách cứ. Chiêu vương nam chinh không trở về, cho nên đến để chất vấn.” Sở vương đáp: “Cống phẩm không vào đến triều đình, quả có việc đó, là tội của quả nhân, nào dám không dâng hiến! Chiêu Dương ra đi mà không trở về, ngài nên đến bờ Hán Thủy mà hỏi*.” Quân Tề đóng quân ở đất Hình. Mùa hạ, Sở vương sai Khuất Hoàn đem quân chống cự lại quân Tề, quân Tề lui về đóng quân ở Thiệu Lăng. Hoàn công tự khoe khoang quân mình đông với Khuất Hoàn. Khuất Hoàn nói: “Nhà vua theo đạo nghĩa thì được; bằng không, Phương Thành nước Sở sẽ làm thành, Trường Giang, Hán Thủy sẽ thành hào, nhà vua còn dám tiến nữa chăng?” [Hoàn công] bèn cùng Khuất Hoàn lập minh ước rồi rút về. [Trên đường về Hoàn công] đi qua nước Trần, Viên Đào Đồ nước Trần lừa quân Tề, dẫn đi sang phía đông, việc bị phát giác. Mùa thu, nước Tề chinh phạt nước Trần. Cùng năm ấy, nước Tấn giết Thái tử Thân Sinh.
Mùa hạ năm thứ ba mươi lăm, hội chư hầu ở Quỳ Khâu. Chu Tương vương sai Tể Khổng ban cho Hoàn công thịt tế vua Văn vương, Vũ vương, cung tên màu đỏ và xe lớn*, miễn việc quỳ lạy. Hoàn công định chấp nhận, Quản Trọng bảo: “Không được”, bèn lui xuống quỳ lạy nhận ban thưởng. Mùa thu, [Tề Hoàn công] lại hội họp chư hầu ở Quỳ Khâu, ngày càng có vẻ
kiêu ngạo, nhà Chu sai Tể Khổng đến họp. Có nhiều chư hầu chống lại. Tấn hầu bị ốm, đến sau, gặp Tể Khổng. Tể Khổng nói: “Tề hầu thật kiêu ngạo, ngài không cần phải đến họp.” [Tấn hầu] nghe theo. Năm ấy, Tấn Hiến công chết, Lý Khắc giết Hề Tề và Trác tử, Tần Mục công nhờ mối quan hệ của phu nhân [là Mục cơ] nên đưa công tử Di Ngô về nước lập làm Tấn quân. Thế rồi Hoàn công sang dẹp loạn ở nước Tấn, đến đất Cao Lương, sai Thấp Bằng lập Tấn quân, rồi mới về.
Lúc bấy giờ, nhà Chu suy vi, chỉ có Tề, Sở, Tần, Tấn là cường mạnh. Tấn mới tham dự hội minh thì Tấn Hiến công chết, trong nước có loạn. Tần Mục công ở chỗ xa xôi hẻo lánh, không tham dự hội minh cùng các nước ở Trung nguyên được. Sở Thành vương mới thu phục và chiếm được đất Kinh Man, tự [lập quốc] ở vùng Di Địch. Chỉ riêng nước Tề dự hội minh ở Trung nguyên, mà Hoàn công là người có thể phát dương chính đức của nhà Chu, vì vậy chư hầu mới tin phục mà dự hội minh. Do đó, Hoàn công tự xưng rằng: “Quả nhân nam phạt đến Thiệu Lăng, trông thấy núi Hùng Sơn; bắc chinh phạt Sơn Nhung, Ly Chi, Cô Trúc; tây chinh phạt Đại Hạ, băng qua Lưu Sa; bọc chắc chân ngựa, gắn chắc bánh xe*, lên núi Thái Hàng, đến tận núi Ty Nhĩ* mới về. Chư hầu không nước nào dám trái ý quả nhân. Quả nhân dùng binh xa để hội thề ba lần, ngồi xe để hội thề sáu lần, chín lần hội họp chư hầu, một phen sửa sang thiên hạ*. Xưa Tam đại* nhận mệnh trời, có khác gì ta bây giờ? Ta muốn tế Phong ở Thái Sơn, tế Thiện ở núi Lương Phủ*.” Quản Trọng ra sức can ngăn, Hoàn công không nghe; bèn thuyết phục Hoàn công phải có những đồ trân quý, kỳ lạ từ phương xa thì mới được làm lễ tế Phong, Hoàn công mới thôi.
Năm thứ ba mươi tám, em trai của Chu Tương vương là Đại hợp mưu với rợ Nhung, Địch để đánh nhà Chu, nước Tề sai Quản Trọng dẹp loạn
người Nhung ở nước Chu. Nhà Chu muốn dùng lễ Thượng khanh để đãi Quản Trọng, Quản Trọng dập đầu đáp: “Thần là kẻ bồi thần, nào dám!” Ba lần thoái thác rồi mới chịu dùng lễ Hạ khanh để ra mắt [thiên tử]. Năm thứ ba mươi chín, em trai của Chu Tương vương là Đái chạy sang nước Tề. Nước Tề sai Trọng Tôn thỉnh cầu Chu vương, tạ tội thay cho Đái. Tương vương nổi giận, không nghe.
Năm thứ bốn mươi mốt, Tần Mục công bắt sống được Tấn Huệ công, rồi lại cho về. Năm ấy, Quản Trọng, Thấp Bằng đều qua đời. Quản Trọng bị ốm, Hoàn công hỏi rằng: “Trong các bề tôi, ai có thể làm Tướng quốc?” Quản Trọng đáp: “Biết bề tôi, không ai bằng nhà vua.” Hoàn công hỏi: “Dịch Nha thế nào?” Đáp rằng: “Giết con để làm vừa lòng nhà vua, không hợp lẽ nhân tình, không được.” Hoàn công hỏi: “Khai Phương thì sao?” Đáp rằng: “Phản bội người thân để làm vừa lòng nhà vua, không hợp lẽ nhân tình, khó gần được.” Hoàn công hỏi: “Thụ Điêu thì sao?” Đáp rằng: “Tự thiến để làm vừa lòng nhà vua, không hợp lẽ nhân tình, khó thân được.” Quản Trọng chết, nhưng Hoàn công không nghe lời của Quản Trọng, rốt cuộc vẫn thân cận và trọng dụng ba kẻ ấy, ba kẻ ấy chuyên quyền.
Năm thứ bốn mươi hai, người Nhung chinh phạt nhà Chu, nhà Chu cấp báo với nước Tề, nước Tề sai chư hầu cùng cất quân bảo vệ nhà Chu. Năm ấy, công tử Trùng Nhĩ nước Tấn đến, Hoàn công gả con gái cho.
Năm thứ bốn mươi ba, hồi trước, Tề Hoàn công có ba vị [chính thất] phu nhân là: Vương cơ, Từ cơ, Sái cơ, đều không có con. Hoàn công thích các nữ quan* trong cung, sủng ái rất nhiều người, [đối xử] như với phu nhân thì có sáu người: Trưởng Vệ cơ sinh ra Vô Quỷ; Thiếu Vệ cơ sinh ra Huệ công là Nguyên; Trịnh cơ sinh ra Hiếu công là Chiêu; Cát Doanh sinh
ra Chiêu công là Phan; Mật cơ sinh ra Ý công là Thương Nhân; Tống Hoa Tử sinh ra công tử Ung. Hoàn công và Quản Trọng đem Hiếu công gửi gắm Tống Tương công, cho làm Thái tử. Ung Vu* được Vệ Cung cư* sủng ái, thông qua hoạn quan Thụ Điêu để dâng hậu lễ lên Hoàn công nên [Vệ Cung cơ] cũng được [Hoàn công] tin yêu, Hoàn công đồng ý lập Vô Quỷ lên ngôi*. Quản Trọng chết đi, cả năm công tử [còn lại] đều muốn được lên ngôi. Ngày Ất Hợi tháng Mười, mùa đông, Tề Hoàn công chết. Dịch Nha vào cung, cùng Thụ Điêu dựa vào các sủng thần ở nội cung* giết chết nhiều đại phu, rồi lập công tử Vô Quỷ làm vua. Thái tử Chiêu chạy sang nước Tống.
[Khi] Hoàn công ốm, năm công tử ai nấy đều tự lập bè đảng để tranh ngôi vua. Đến khi Hoàn công chết, liền đánh lẫn nhau, vì vậy trong cung trống không, chẳng ai dám khâm liệm nhập quan. Thi thể Hoàn công trên giường sáu mươi bảy ngày, giòi bọ bò ra tận cửa. Ngày Ất Hợi tháng Mười Hai, Vô Quỷ lên ngôi mới cho làm khâm liệm nhập quan rồi phát tang. Đêm ngày Tân Tỵ [mới xong việc] khâm liệm và quàn lại.
Hoàn công có hơn mười người con trai, sau này có năm người được chọn lên ngôi: Vô Quỷ lên ngôi được ba tháng thì chết, không có tên thụy; kế đến Hiếu công; tiếp đến Chiêu công; rồi Ý công; rồi Huệ công. Tháng Ba, năm Hiếu công thứ nhất, Tống Tương công thống lĩnh quân chư hầu đưa Thái tử nước Tề là Chiêu về để chinh phạt nước Tề. Người Tề lo sợ, giết vua của mình là Vô Quỷ. Người Tề định lập Thái tử Chiêu lên ngôi, thì đồ đảng của bốn công tử còn lại liền tấn công Thái tử, Thái tử chạy sang nước Tống, nước Tống bèn giao chiến với bốn công tử nước Tề. Tháng Năm, quân Tống đánh bại quân của bốn công tử rồi lập Thái tử Chiêu lên ngôi, đó là Tề Hiếu công. [Trước đây] do Tề Hoàn công và Quản
Trọng gửi gắm Thái tử cho nước Tống, cho nên [nước Tống] mới sang chinh phạt [nước Tề]. Vì có nội loạn, [nên tới tận] tháng Tám Tề Hoàn công mới được chôn cất.
Năm thứ sáu, mùa xuân, nước Tề chinh phạt nước Tống, vì nước Tống không tham gia hội minh với nước Tề*. Mùa hạ, Tống Tương công chết. Năm thứ bảy, Tấn Văn công lên ngôi.
Năm thứ mười, Hiếu công chết, em trai của Hiếu công là Phan dựa vào công tử Khai Phương nước Vệ giết các con của Hiếu công để lên ngôi, đó là Chiêu công. Chiêu cũng là con của Hoàn công, mẹ là Cát Doanh.
Chiêu công năm đầu, Tấn Văn công đánh bại quân Sở ở Thành Bộc, rồi hội minh với chư hầu ở Tiễn Thổ, vào chầu nhà Chu, thiên tử cho nước Tấn làm bá. Năm thứ sáu, nước Địch xâm phạm nước Tề. Tấn Văn công chết. Quân Tần thua ở Hào Sơn. Năm thứ mười hai, Tần Mục công chết.
Tháng Năm năm thứ mười chín, Chiêu công qua đời, con là Xá lên ngôi vua Tề. Do mẹ của Xá không được Chiêu công sủng ái nên người trong nước không nể sợ. Kể từ sau khi Hoàn công mất, em của Chiêu công là Thương Nhân tranh ngôi vua không được nên ngầm kết giao hiền sĩ, yêu quý vỗ về trăm họ, trăm họ đều vui. Đến khi Chiêu công qua đời, con là Xá lên ngôi vua, đơn độc yếu thế, [Thương Nhân] liền tập trung đồ đảng vào tháng Mười giết Tề quân là Xá ngay trên mộ [Chiêu công], rồi Thương Nhân tự lên ngôi, đó là Ý công. Ý công là con của Hoàn công, mẹ là Mật cơ.
Mùa xuân năm Ý công thứ tư, hồi trước, khi Ý công còn là công tử, thường cùng cha của Bính Nhung đi săn, không tranh được vật phẩm săn về, đến khi lên ngôi liền chặt chân cha của Bính Nhung, rồi bắt Bính Nhung làm phu đánh xe. Vợ của Dung Chức xinh đẹp, Ý công đưa vào
trong cung, cho Dung Chức làm Tham thừa*. Tháng Năm, Ý công du ngoạn ở Thân Trì, Bính Nhung và Dung Chức cùng tắm, đùa nhau. Chức nói: “Con của kẻ cụt chân!”, Nhung nói: “Thằng bị mất vợ!” Hai người đều thẹn sau câu nói đó, bèn sinh lòng oán hận. [Hai người] cùng bàn mưu khi theo Ý công dạo chơi trong rừng trúc, sẽ giết Ý công trên xe, vứt xác vào bụi trúc rồi bỏ trốn.
Ý công sau khi lên ngôi, kiêu ngạo, dân chúng không theo. [Do đó] người Tề phế bỏ con của Ý công rồi đón công tử Nguyên nước Vệ về, lập [Nguyên] lên ngôi, đó là Huệ công. Huệ công là con của Hoàn công. Mẹ Huệ công là người con gái nước Vệ, gọi là Thiếu Vệ cơ, vì tránh loạn nước Tề nên mới ở nước Vệ.
Huệ công năm thứ hai, rợ Trường Địch đến, Vương tử Thành Phủ đánh giết Trường Địch, chôn xác ở cửa Bắc. Triệu Xuyên nước Tấn giết vua nước mình là Linh công.
Năm thứ mười, Huệ công chết, con là Khoảnh công Vô Dã lên thay. Ban đầu, Thôi Trữ được Huệ công sủng ái, [sau khi] Huệ công chết, họ Cao, họ Quốc sợ bị bức hại bèn xua đuổi ông ta, Thôi Trữ chạy sang nước Vệ.
Khoảnh công năm đầu, Sở Trang vương mạnh lên, chinh phạt nước Trần; năm thứ hai, bao vây nước Trịnh, Trịnh bá đầu hàng, sau lại cho khôi phục nước cho Trịnh bá.
Mùa xuân năm thứ sáu, nước Tấn sai Khích Khắc đi sứ nước Tề, Tề Khoảnh công cho phu nhân ngồi trong rèm để xem. Khích Khắc bước lên điện, phu nhân bật cười. Khích Khắc nói: “Không báo được nhục này, [thề] không bước qua Hoàng Hà nữa!” Đoạn ra về, xin chinh phạt nước Tề, Tấn hầu không nghe. Sứ giả nước Tề đến nước Tấn, Khích Khắc bắt
bốn sứ giả nước Tề tại Hà Nội rồi giết đi. Năm thứ tám, nước Tấn chinh phạt nước Tề, nước Tề cho công tử Cường sang làm con tin ở nước Tấn, quân Tấn rút. Mùa xuân năm thứ mười, nước Tề chinh phạt nước Lỗ, nước Vệ. Đại phu nước Lỗ, nước Vệ sang nước Tấn xin quân, đều thông qua Khích Khắc. Nước Tấn sai Khích Khắc chỉ huy Trung quân đem theo 800 chiến xa*, Sĩ Nhiếp chỉ huy Thượng quân, Loan Thư chỉ huy Hạ quân, để cứu nước Lỗ và nước Vệ, rồi chinh phạt nước Tề. Ngày Nhâm Thân tháng Sáu, [quân Tấn] gặp quân của Tề hầu dưới núi Mỹ Kê. Ngày Quý Dậu, bày trận ở đất Yên. Phùng Sửu Phủ làm hộ vệ bên phải của Tề Khoảnh công. Khoảnh công nói: “Phóng ngựa sang trận địch, phá quân Tấn rồi sẽ cùng nhau ăn uống.” Bắn Khích Khắc bị thương, máu chảy xuống tận giày. Khắc định rút vào doanh lũy, người đánh xe nói: “Tôi mới vào trận đã bị thương hai lần, nhưng không dám kêu đau, e làm sĩ tốt sợ hãi, mong ngài cố chịu.” bèn quay lại đánh tiếp. Đánh tiếp, quân Tề nguy cấp, Sửu Phủ sợ Tề hầu bị bắt, bèn đổi chỗ, Khoảnh công làm hộ vệ bên phải, xe bị vướng vào cây nên phải dừng lại. Viên tiểu tướng nước Tấn là Hàn Quyết phục xuống trước xe của Tề hầu, nói rằng: “Vua nước thần sai thần cứu nước Lỗ, nước Vệ” để bỡn cợt. Sửu Phủ bảo Khoảnh công xuống xe lấy nước, [Khoảnh công] nhân thế trốn chạy, thoát được, về lại trong doanh quân Tề. Khích Khắc nước Tấn muốn giết Sửu Phủ. Sửu Phủ nói: “Chết thay cho vua mà lại bị giết, về sau kẻ làm bề tôi chẳng ai còn dám trung với vua nữa.” Khắc tha cho, Sửu Phủ bèn trốn được về nước Tề. Thế rồi quân Tấn đuổi theo quân Tề tới Mã Lăng. Tề hầu đề nghị dùng đồ quý báu để tạ lỗi, [nước Tấn] không nghe, nhất định đòi con gái của Tiêu Đồng Thúc*, là người đã cười cợt Khích Khắc trước kia và bắt nước Tề phải đổi sang ruộng hướng đông*. Đáp rằng: “Con gái của Đồng Thúc chính là mẹ của Tề quân. Mẹ của Tề quân cũng như mẹ của Tấn
quân, ngài định sắp đặt thế nào? Huống hồ ngài dựa vào nghĩa để chinh phạt vậy mà sau lại muốn làm việc bạo ngược, thế có được không?” Vì vậy [nước Tấn] mới đồng ý [nhận đồ quý báu], rồi sai trả lại các đất đã cướp của nước Lỗ, nước Vệ.
Năm thứ mười một, nước Tấn bắt đầu thiết lập lục khanh, khao thưởng chiến công ở đất Yên. Tề Khoảnh công sang chầu nước Tấn, muốn tôn Tấn Cảnh công tước vương, Tấn Cảnh công không dám nhận, đoạn [vua Tề] trở về. Sau khi về nước, Khoảnh công liền cho bỏ vườn cảnh thú nuôi, giảm nhẹ thuế khóa, chẩn tế kẻ côi cút, thăm hỏi người ốm đau, dốc kho tàng để cứu dân, dân chúng cả mừng. [Khoảnh công] dùng hậu lễ để giao đãi chư hầu. Cho tới khi Khoảnh công chết, trăm họ đều thân gần, chư hầu không đến xâm phạm.
Năm thứ mười bảy, Khoảnh công chết, con là Linh Công Hoàn lên thay. Linh công năm thứ chín, Loạn Thư nước Tấn giết vua nước mình là Lệ công. Năm thứ mười, Tấn Điệu Công chinh phạt nước Tề, Tề Hoàn lệnh cho công tử Quang sang nước Tấn làm con tin. Năm thứ mười chín, [nước Tề] lập công tử Quang làm Thái tử, cho Cao Hậu phụ tá [Quang], rồi lệnh [hai người] hội minh với chư hầu đất Chung Ly. Năm thứ hai mươi bảy, nước Tấn sai Trung Hàng Hiến tử chinh phạt nước Tề. Quân Tề thua, Linh công chạy vào Lâm Truy. Yến Anh ngăn Linh công, Linh công không nghe theo. [Yến Anh quở] rằng: “Vua mà chả có chút dũng khí nào?” Quân Tấn bèn bao vây Lâm Truy, quân giữ thành Lâm Truy không dám ra, quân Tấn đốt thành ngoài rồi rút đi.
Năm thứ hai mươi tám, hồi trước, Linh công lấy người con gái nước Lỗ, sinh ra con là Quang, cho làm Thái tử. [Linh công lại lấy] Trọng cơ, Nhung cơ. Nhung cơ Vốn hèn kém mà được vua sủng ái, Trọng cơ sinh
con trai là Nha, gửi gắm cho Nhung cơ. Nhung cơ xin [Linh công cho Nha] làm Thái tử, Linh công nghe theo. Trọng cơ nói: “Không được. [Nhà vua đã] lập Quang [làm Thái tử], liệt vào hàng chư hầu rồi, nay vô cớ phế đi, nhà vua tất phải hối hận.” Linh công nói: “Tất cả do ở ta thôi.” Đoạn dời Thái tử Quang sang phía đông, sai Cao Hậu phò tá Nha làm Thái tử. Linh công ốm, Thôi Trữ bèn đón Thái tử Quang trước đây rồi lập làm vua, đó là Trang công. Trang công giết Nhung cơ. Ngày Nhâm Thìn tháng Năm, Linh công qua đời, Trang công lên ngôi, bắt Thái tử Nha ở gò Câu Đậu, rồi giết đi. Tháng Tám, Thôi Trữ giết Cao Hậu. Nước Tấn nghe tin nước Tề có loạn, liền chinh phạt Tề, kéo tới Cao Đường.
Trang công năm thứ ba, đại phu nước Tấn là Loan Doanh trốn chạy sang nước Tề, Trang Công hậu đãi như khách. Yến Anh, Điền Văn tử can gián, nhưng Trang công không nghe. Năm thứ tư, Tề Trang công sai Loan Doanh nhân cơ hội bí mật vào Khúc Ốc nước Tấn làm nội ứng, để quân binh đánh vào theo, lên núi Thái Hàng, vào cửa Mạnh Môn. Loan Doanh thất bại, quân Tề rút về, chiếm được ấp Triều Ca.
Năm thứ sáu, trước đây, vợ của Đường công xinh đẹp, nên sau khi Đường công chết, Thôi Trữ đoạt lấy nàng. Trang công tư thông với vợ của Thôi Trữ, nhiều lần đến nhà họ Thôi, còn đem mũ của Thôi Trữ ban cho người khác. Thị tòng [thấy thế] nói rằng: “Không được.” Thôi Trữ nổi giận, nhân lúc Tề Trang công chinh phạt Tấn, muốn hợp mưu cùng nước Tấn để đánh úp nước Tề mà chưa tìm được cơ hội. Trang công từng đánh đòn tên hoạn quan Giả Cử, Giả Cử lại được cho vào hầu, giúp Thôi Trữ dò xét sơ hở của Trang công để báo oán. Tháng Năm, Cử tử vào chầu nước Tề, Tề Trang công thết tiệc ngày Giáp Tuất. Thôi Trữ thác bệnh không đến lo việc. Ngày Ất Hợi, Trang công đến thăm bệnh Thôi Trữ, đoạn đi theo vợ
Thôi Trữ. Vợ Thôi Trữ vào trong nhà, cùng Thôi Trữ đóng chặt cửa không cho Trang công ra, Trang Công ôm cột nhà mà hát. Hoạn quan Giả Cử ngăn các cận thần và tùy tòng đi theo Trang công, rồi tự vào trong, đóng cửa lại. Đồ đảng của Thôi Trữ cầm binh khí từ trong nhà xông ra. Trang công lên đài cao rồi xin hòa giải, [bọn Thôi Trữ] không nghe; xin lập lời thề, [bọn Thôi Trữ] không chịu; xin tự sát ở trong miếu đường, [bọn Thôi Trữ] không chấp thuận. Chúng đều nói: “Bề tôi của nhà vua là Trữ đang bệnh nặng, không thể nghe mệnh. Nơi này gần cung vua. Bọn bồi thần đến để bắt kẻ dâm loạn, không biết mệnh lệnh nào khác [ngoài lệnh của Thôi Trữ].” Trang công trèo qua tường, bị bắn tên trúng vào đùi, Trang công rơi trở lại, bèn bị giết. Yến Anh đứng ngoài cổng nhà Thôi Trữ, nói: “Vua chết vì xã tắc thì bề tôi chết theo, bỏ trốn vì xã tắc thì bề tôi bỏ trốn theo. Nhược bằng chết vì bản thân, bỏ chạy vì bản thân thì không phải người thân tín, ai dám đi theo.” Cổng mở rồi đi vào, gối lên thây Trang công mà khóc, nhảy lên ba lần* rồi đi ra. Có người bảo Thôi Trữ: “Phải giết hắn đi.” Thôi Trữ nói: “Người đó được dân chúng trọng vọng, tha cho hắn để được lòng dân.”
Ngày Đinh Sửu, Thôi Trữ lập em khác mẹ của Trang Công là Chử Cữu lên ngôi, đó là Cảnh công. Mẹ của Cảnh công là con gái của Thúc Tôn Tuyên bá nước Lỗ. Cảnh công lên ngôi, lấy Thôi Trữ làm Hữu tướng, Khánh Phong làm Tả tướng. Hai Tướng quốc sợ nội loạn nổi lên, bèn cùng người trong nước thề rằng: “Ai không theo Thôi, Khánh thì chết!” Yến tử ngẩng nhìn trời cao, nói: “Anh này không làm được, chỉ theo người trung với vua, làm lợi cho xã tắc mà thôi!” Không chịu thề. Khánh Phong muốn giết Yến tử, Thôi Trữ bảo: “Đó là trung thần, tha cho ông ta đi.” Quan Thái sử nước Tề chép rằng: “Thôi Trữ thí* Trang công.” Thôi Trữ bèn giết
đi. Người em của quan Thái sử lại viết [đúng như thế], Thôi Trữ lại giết đi. Người em út [của quan Thái sử] lại viết, Thôi Trữ đành tha cho. Cảnh công năm đầu, hồi trước, Thôi Trữ sinh được con trai là Thành và Cương, người mẹ của chúng chết, [Thôi Trữ] mới lấy người đàn bà họ Đông Quách*, sinh ra Minh. Người đàn bà họ Đông Quách bắt con trai của chồng trước là Vô Cữu và em trai là Yển phò tá họ Thôi. Thành mắc tội, hai người [Vô Cữu và Yển] vội trị tội, lập Minh làm con đích. Thành xin sống đến già ở ấp Thôi, Thôi Trữ đồng ý, nhưng hai người kia không nghe, nói: “Thôi là ấp của tổ tông, không được.” Thành và Cương nổi giận, bèn nói với Khánh Phong. Khánh Phong và Thôi Trữ có hiềm khích, muốn trừ khử lẫn nhau. Thành và Cương giết Vô Cữu và Yển ở trong nhà Thôi Trữ, người nhà đều bỏ chạy. Thôi Trữ nổi giận, không có ai ở cạnh, liền sai một viên hoạn quan đánh xe, gặp Khánh Phong. Khánh Phong bảo rằng: “Ta xin vì ngài mà giết chúng đi.” Đoạn sai người có thù với Thôi Trữ là Lư Bồ Miết tấn công nhà họ Thôi, giết Thành và Cương, tận diệt nhà họ Thôi, vợ Thôi Trữ tự sát. Thôi Trữ không còn chỗ nào để về, cũng tự sát. Khánh Phong làm Tướng quốc, chuyên quyền.
Tháng Mười năm thứ ba, Khánh Phong ra ngoài đi săn. Lúc trước, Khánh Phong đã giết Thôi Trữ*, ngày càng kiêu ngạo, ham rượu, thích săn bắn, không nghe chính lệnh. [Con là] Khánh Xá nắm chính sự, đã có hiềm khích nội bộ [từ trước]. Điền Văn tử bảo Hoàn tử rằng: “Sắp có loạn rồi.” Các họ Điền, Bão, Cao, Loan cùng nhau hợp mưu diệt trừ họ Khánh, Khánh Xá sai giáp sĩ bao vây quanh cung phủ của Khánh Phong, đồ đảng bốn nhà cùng đánh phá. Khánh Phong trở về, không thể vào được, liền trốn chạy sang nước Lỗ. Người Tề trách nước Lỗ, Khánh Phong lại chạy sang nước Ngô. Nước Ngô ban cho Khánh Phong đất Chu Phương, nhóm
họp người trong họ để ở, giàu có còn hơn khi ở nước Tề. Mùa thu năm ấy, người Tề cải táng cho Trang công, phơi thây [làm nhục] Thôi Trữ ở chợ để làm vui lòng dân.
Năm thứ chín, Cảnh công sai Yến Anh đi sứ nước Tấn, [Yến Anh] nói riêng với Thúc Hướng rằng: “Chính sự nước Tề rốt cuộc sẽ về tay họ Điền. Họ Điền tuy không có đức lớn nhưng đem việc công để mưu cầu cho việc nhà, có ơn đức với dân, được dân quý mến.” Năm thứ mười hai, Cảnh công sang nước Tấn, gặp Bình công, muốn cùng chinh phạt nước Yên. Năm thứ mười tám, Cảnh công lại đến nước Tấn, gặp Chiêu công. Năm thứ hai mươi sáu, [Cảnh công] đi săn ở bên ngoài thành của nước Lỗ, nhân đó vào nước Lỗ, cùng Yến Anh hỏi rõ về lễ của nước Lỗ. Năm thứ ba mươi mốt, Lỗ Chiêu công tránh họa nạn họ Quý, chạy sang nước Tề. Nước Tề muốn đem nghìn xã* để phong cho [Lỗ Chiêu công], Tử Gia can ngăn Chiêu công, Chiêu công bèn đề nghị nước Tề chinh phạt nước Lỗ, lấy thành Vận cho Chiêu công ở.
Năm thứ ba mươi hai, sao chổi xuất hiện. Cảnh công ngồi trên đài Bách Tẩm, than rằng: “Bề thế thay! Ai sẽ có được đài này?”* Quần thần đều khóc, Yến tử lại cười, Cảnh công tức giận. Yến tử tâu rằng: “Thần cười vì quần thần rất đỗi xu phụ.” Cảnh công bảo: “Sao chổi xuất hiện ở góc đông bắc, nhằm phân dã nước Tề, quả nhân lấy đó làm lo lắng.” Yến tử thưa: “Nhà vua có đài cao hào sâu, thuế liễm chỉ lo không thu được [tất cả từ dân], hình phạt chỉ e không đủ nặng [để cai trị dân], sao khách sắp xuất hiện gần, thì việc sao chổi có gì mà đáng lo?” Cảnh công hỏi: “Có phải làm lễ giải trừ không?” Yến tử đáp: “Nếu cầu cúng mà thần linh đến thì cũng có thể cầu cúng để trừ tai. Bách tính kêu khổ, oán than kể hàng vạn, mà nhà vua chỉ sai một người cầu đảo trừ tai, liệu có thể hơn được
miệng của muôn người không?” Bấy giờ Cảnh công ham mê xây dựng cung thất, nuôi nhiều chó ngựa, vô cùng xa xỉ, nặng thuế má, lạm hình phạt, vì vậy Yến tử mới nhân việc này để can gián.
Năm thứ bốn mươi hai, Ngô vương Hạp Lư chinh phạt nước Sở, tiến vào Dĩnh đô.
Năm thứ bốn mươi bảy, Dương Hổ nước Lỗ tấn công vua nước mình, không thắng được, bỏ chạy sang nước Tề, xin nước Tề tiến đánh nước Lỗ. Bão tử can ngăn Cảnh công, đoạn cầm tù Dương Hổ. Dương Hổ trốn được, chạy sang nước Tấn.
Năm thứ bốn mươi tám, [Cảnh công] hội minh hữu hảo với Lỗ Định công ở Giáp Cốc. Lê Tư nói: “Khổng Khâu biết lễ nhưng nhu nhược, xin lệnh cho người Lai* đến tấu nhạc, thừa cơ bắt Lỗ quân, có thể đạt được ý đồ của ta.” Cảnh công lo Khổng Khâu phò tá nước Lỗ, e sẽ khiến [nước Lỗ] xưng bá, vì vậy nghe theo kế của Lê Tư. Lúc mới hội minh, tấu nhạc người Lai, Khổng tử theo bậc thềm đi lên, sai quan Hữu ty bắt người Lai chém đầu, đem lễ pháp ra trách Cảnh công. Cảnh công cả thẹn, đoạn phải trả lại các vùng đất đã chiếm của nước Lỗ để tạ lỗi, rồi bãi hội ra về. Năm ấy, Yến Anh chết.
Năm thứ năm mươi lăm, họ Phạm, họ Trung Hàng phản lại vua nước mình ở nước Tấn, bị vua Tấn đánh rất gấp, liền chạy đến [nước Tề] xin thóc. Điền Khất muốn [nhân thế] làm loạn, liên kết đảng với nghịch thần, thuyết phục Cảnh công rằng: “Họ Phạm, họ Trung Hàng nhiều lần có ơn đức với nước Tề, không thể không cứu.” [Cảnh công] bèn sai Khất chở thóc cho để cứu họ.
Năm thứ năm mươi tám, mùa hạ, con đích phu nhân Yên cơ của Cảnh công chết. Thiếp yêu của Cảnh công là Nhuế cơ sinh con trai là Thư, Thư
còn nhỏ, mẹ Thư lại xuất thân thấp hèn, không có đức hạnh, các đại phu sợ [nhà vua sẽ chọn] Thư là người nối ngôi, mới thuyết phục chọn người lớn tuổi, hiền đức trong các công tử để làm Thái tử. Cảnh công già, ghét nhắc đến chuyện nối dõi, lại yêu mẹ của Thư, muốn lập Thư, nhưng lại sợ phải mở miệng nói ra điều đó, bèn bảo các đại phu rằng: “Hãy vui lên, sao phải lo nước không có vua?” Mùa thu, Cảnh công ốm, truyền mệnh cho Quốc Huệ tử, Cao Chiêu tử lập con nhỏ là Thư lên làm Thái tử, đuổi các công tử, bắt dời đến ấp Lai. Cảnh công chết đi, Thái tử Thư lên ngôi, đó là Yến Nhụ tử. Mùa đông, chưa táng [Cảnh công], nhưng các công tử sợ bị giết, đều bỏ trốn. Các công tử là anh khác mẹ của Thư là Thọ, Câu, Kiềm chạy sang nước Vệ; công tử Tư, Dương Sinh chạy sang nước Lỗ. Người nước Lai hát rằng: “Cảnh công chết chừ chửa dự tang, ba quân đại sự chừ lấy ai bàn; các con chừ, các con chừ, đồ đảng đều tan?”
Mùa xuân năm Yến Nhụ tử thứ nhất, Điền Khất giả cách phụng sự họ Cao, họ Quốc, mỗi lần vào chầu, Khất đều [ngồi ở vị trí] Tham thừa [bên phải xe], nói rằng: “Ngài được nhà vua yêu, các đại phu đều lo sợ, muốn mưu làm loạn đấy.” Rồi lại bảo các đại phu rằng: “Cao Chiêu tử đáng lo, nên [thừa lúc hắn] chưa dấy loạn, phải ra tay trước.” Các đại phu đều nghe theo. Tháng Sáu, Điền Khất, Bão Mục bèn cùng các đại phu đem quân vào cung vua, tấn công Cao Chiêu tử. Chiêu tử nghe tin, cùng Quốc Huệ tử đến cứu Yến Nhụ tử. Quân của Yến Nhụ tử thua, đồ đảng của Điền Khất đuổi theo, Quốc Huệ tử chạy sang nước Cử, [đồ đảng của Điền Khất] bèn quay lại giết Cao Chiêu tử. Yến Ngữ [con của Yến Anh] chạy sang nước Lỗ. Tháng Tám, Bỉnh Ý Tư* nước Tề [cũng chạy sang Lỗ]. Điền Khất đánh bại hai Tướng quốc, đoạn sai người sang nước Lỗ triệu vời công tử Dương Sinh. Dương Sinh về đến nước Tề, ngầm trốn trong
nhà Điền Khất. Ngày Mậu Tý tháng Mười, Điền Khất mời các đại phu đến, nói rằng: “Mẹ của Thường có cá, đậu làm lễ tế*, hy vọng chư vị đến cùng yến ẩm.” Trong tiệc rượu, Điền Khất để Dương Sinh vào trong bao, đặt ở giữa nhà, rồi mở bao cho Dương Sinh ra, bảo: “Đây mới chính là Tề quân!” Các đại phu đều phủ phục bái yết. [Điền Khất] định cùng các đại phu uống máu ăn thề rồi lập Dương Sinh lên ngôi, [thấy] Bão Mục say rượu, Khất liền lừa các đại phu rằng: “Ta và Bão Mục cùng mưu lập Dương Sinh.” Bão Mục nổi giận quát: “Ngài quên di mệnh của Cảnh công rồi sao?” Các đại phu nhìn nhau ra chiều hối hận, Dương Sinh tiến lên trước, dập đầu nói: “Đáng lập thì lập, không đáng lập thì thôi.” Bão Mục sợ vạ đến, mới nói lại rằng: “Đều là con của Cảnh công cả, có gì mà không được chứ.” Đoạn cùng thề, lập Dương Sinh lên ngôi, đó là Điệu công. Điệu công vào cung, sai người đày Yến Nhụ tử đến đất Thai, rồi giết ngay ở trong trướng [trên đường đi], còn đuổi mẹ của Nhụ tử là Nhuế tử đi. Nhuế tử vốn xuất thân hèn hạ mà Nhụ tử còn nhỏ, vì vậy không có quyền thế, người trong nước đều rẻ rúng.
Năm Điệu Công đầu tiên, nước Tề chinh phạt nước Lỗ, chiếm ấp Hoan, ấp Xiển. Hồi trước, Dương Sinh trốn ở nước Lỗ, Quý Khang tử đem em gái của mình gả cho [Dương Sinh]. Đến khi trở về lên ngôi, [Dương Sinh] sai người đến đón. Quý cơ và Quý Phường hầu* tư thông với nhau, biết rõ chuyện đó, nước Lỗ không dám cho Quý cơ về Tề, vì vậy nước Tề tiến đánh nước Lỗ, cuối cùng đón được Quý cơ. Quý cơ được sủng ái, nước Tề lại trả các đất đã xâm chiếm của nước Lỗ.
Bão tử và Điệu Công có hiềm khích, không thân thiết nhau. Năm thứ tư, nước Ngô, nước Lỗ chinh phạt phía nam nước Tề. Bão tử giết Điệu công, rồi chạy sang Ngô. Ngô vương Phù Sai khóc ngoài cửa quân doanh
ba ngày, định theo đường biển vào hỏi tội nước Tề. Người Tề đánh bại, quân Ngô bèn rút. Triệu Ưởng nước Tấn chinh phạt nước Tề, tới ấp Lại rồi về. Người Tề cùng đồng thuận lập con của Điệu công là Nhâm lên ngôi, đó là Giản công.
Mùa xuân năm Giản công thứ tư, hồi trước, Giản công cùng cha là Dương Sinh đều ở nước Lỗ, [khi ấy] Giám Chỉ được sủng ái. Đến khi [Giản công] lên ngôi, sai [Giám Chỉ] coi chính sự. Điền Thành tử lo sợ, khi lên chầu thường nhìn dáo dác. Ngự Ưởng mới bảo Giản công rằng: “Điền, Giám không thể đứng cùng nhau, nhà vua nên lựa chọn.” [Giản công] không nghe. Tử Ngã* lên chầu vào buổi tối, bắt gặp Điền Nghịch giết người, liền bắt dẫn vào cung. Điền Thành tử đương [muốn có nước Tề nên] hòa mục [với người trong tông tộc], mới bảo Điền Nghịch giả bệnh rồi chuốc rượu cho người coi tù, chuốc cho say rồi giết người coi tù, [Điền Nghịch] trốn được ra ngoài. Tử Ngã liền mời ngành họ Điền* đến nhà trưởng họ Trần để giao ước cầu hòa. Trước đây, Điền Báo muốn làm gia thần của Tử Ngã, mới nhờ Công Tôn giới thiệu Báo [với Tử Ngã], sau Báo có tang nên lại thôi. Việc tang xong xuôi, [Tử Ngã] dùng Báo làm gia thần, [Báo] được Tử Ngã yêu mến. Tử Ngã bảo rằng: “Ta muốn đuổi hết ngành họ Điền đi để lập ngươi [lên làm trưởng tộc], được không?” Đáp rằng: “Tôi với ngành họ Điền là họ hàng xa. Hơn nữa, chẳng qua có vài người trái ý ngài, sao phải đuổi hết đi!” Đoạn cáo giác với Điền Thành tử. Tử Hàng bảo [Điền Thành tử] rằng: “Hắn được vua yêu, nếu không ra tay trước thì họa ắt đến ngài.” Tử Hàng vào ở trong cung của Giản công [để làm nội gián].
Ngày Nhâm Thân tháng Năm, mùa hạ, anh em Thành tử ngồi trên bến xe vào gặp Giản công. Tử Ngã ở trong trướng*, bước ra đón, [anh em
Thành tử liền] vào trong, rồi đóng cổng lại khiến Tử Ngã không vào được nữa. Đám hoạn quan [đem quân] ngăn lại, Tử Hàng giết đám hoạn quan. Giản công cùng thị thiếp đang uống rượu ở Đàn Đài, Thành tử muốn chuyển Giản công cùng thị thiếp trở vào tẩm cung. Giản công cầm qua định đâm [vì ngờ Thành tử có ý làm loạn], quan Thái sử là Tử Dư nói: “Ông ấy không làm việc bất lợi, sắp trừ hại [cho nhà vua] đấy.” Thành tử rời khỏi tẩm cung ra ở nhà kho, nghe nói Giản công còn giận, muốn bỏ trốn, bảo rằng: “Chỗ nào mà không có vua!” Tử Hàng tuốt kiếm rồi nói rằng: “Lần lữa là kẻ thù của công việc vậy. Ai không phải là dòng dõi Điền thị chứ? [Nếu ông trốn đi], ta không giết ông thì không phải với tông tộc Điền thị.” Thành tử mới thôi. Tử Ngã quay về, tụ tập đồ đảng tấn công vào các cửa lớn ngách trong cung, đều không thắng được, phải chạy ra ngoài. Điền thị [Thành tử] đuổi theo. Người ấp Phong Khâu bắt được Tử Ngã rồi báo cho Điền thị, giết Tử Ngã ở Quách Quan. Thành tử muốn giết Đại Lục Tử Phương, Điền Nghịch cầu xin [Thành tử] mới tha cho. Tử Phương viện dùng lệnh của Giản công để chặn lấy xe trên đường, ra khỏi Ung Môn. Điền Báo liền cấp xe cho, [Tử Phương] không nhận, nói: “Điền Nghịch cầu xin hộ ta, Điền Báo cấp xe cho ta, [như vậy là] ta có ý riêng với các người. Ta thờ Tử Ngã mà lại có ý riêng với kẻ thù [của Tử Ngã], còn mặt mũi nào nhìn kẻ sĩ nước Lỗ, nước Vệ nữa?”
Ngày Canh Thìn, Điền Thường bắt Giản công ở Từ Châu. Giản công bảo: “Ta sớm nghe lời Ngự Ưởng, đã không ra nông nỗi này.” Ngày Giáp Ngọ, Điền Thường giết Giản công ở Từ Châu. Điền Thường bèn lập em của Giản công là Ngạo lên làm vua, đó là Bình công. Bình công lên ngôi, Điền Thường làm Tướng quốc, thao túng chính sự nước Tề, cắt đất nước Tề từ ấp An Bình về phía đông làm ấp phong cho Điền thị.
Bình công năm thứ tám, nước Việt diệt nước Ngô. Năm thứ hai mươi lăm, [Bình công] chết, con là Tuyên công Tích lên ngôi. Tuyên công năm thứ năm mươi mốt thì chết, con là Khang công Thắc lên ngôi. Điền Hội làm phản ở huyện Lẫm Khâu.
Khang công năm thứ hai, nước Hàn, nước Ngụy, nước Triệu bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ mười chín, chắt của Điền Thường là Điền Hòa bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu, đày Khang công đến bãi biển.
Năm thứ hai mươi sáu, Khang công chết, Lã thị liền bị dứt việc tế tự. Điền thị rốt cuộc có được nước Tề, làm Tề Uy vương, là nước hùng mạnh trong thiên hạ.
Thái sử công bàn rằng: Ta sang nước Tề, từ Thái Sơn liền đến Lang Da, phía bắc tiếp đến biển, đất đai phì nhiêu hai nghìn dặm, người dân khoáng đạt, tài trí bên trong không hiển lộ rõ ra bên ngoài, đó là thiên tính của họ vậy. Nhờ sự thánh minh của Thái công, xây dựng gốc của nước, sự thịnh trị của Hoàn công, sửa sang chính sự tốt đẹp, mới họp được chư hầu để hội minh, xưng bá, chẳng hợp lẽ lắm sao? Lớn lao thay, vốn là phong khí của nước lớn vậy!*
QUYỂN 33
LỖ CHU CÔNG THẾ GIA
Chu công Đán là em trai Chu Vũ vương. Từ khi Văn vương còn sống, Đán là người con hiếu, chuyên chú vào đức nhân, không giống các con khác. Đến khi Vũ vương lên ngôi, Đán thường phò tá Vũ vương, gánh vác nhiều trọng trách. Vũ vương năm thứ chín, [Vũ vương] đem quân chinh phạt phía đông đến Minh Tân, Chu công đi theo phò tá. Năm thứ mười một, phạt vua Trụ, tiến đến Mục Dã, Chu công phò tá Vũ vương, viết lời Mục thệ*. [Vũ vương] phá được quân Ân, vào cung nhà Thương. Sau khi giết vua Trụ, Chu công cầm búa lệnh lớn, Thiệu Công cầm búa lệnh nhỏ*, để phù trợ hai bên Vũ vương, giết vật tế để tế thần xã*, tuyên cáo tội trạng của vua Trụ với trời và dân chúng nhà Ân. Phóng thích Cơ tử khỏi ngục*, phân phong cho con vua Trụ là Vũ Canh Lộc Phủ, sai Quản thúc, Sái thúc phò tá* để kế tục việc cúng tế nhà Ân. Phong thưởng khắp lượt bề tôi có công, cùng thân thuộc họ hàng. Phong cho Chu công Đán đất Khúc Phụ, là đất cũ của Thiếu Hạo*, đó là Lỗ công. Chu công không đến đất phong, ở lại phò tá Vũ vương.
Hai năm sau khi Vũ vương diệt được nhà Ân, thiên hạ chưa an định hẳn, Vũ vướng mắc bệnh, không được khỏe, quần thần lo sợ, Thái công, Thiệu Công bèn kính cẩn bói mai rùa. Chu công nói: “Không thể để tiên vương ta lo lắng được.” Thế là Chu công bèn đích thân làm vật hiến tế,
lập ba đàn tế, Chu công đứng quay mặt về phía bắc, đầu đội ngọc bích, tay cầm ngọc khuê*, cáo tế với Thái vương, Vương quý, Văn vương*. Quan sử đọc lời khấn khắc trên thẻ* [do Chu công soạn] rằng:
“Cháu trưởng của chư vị là [Vũ] vương Phát*, do vất vả vì quốc sự nên mắc bệnh nặng, nếu ba vị tiên vương có nợ trời một người con cháu*, vậy thì xin cho Đán được thế thân cho Vũ vương Phát. Đán này khéo léo, tài năng, lắm tài nhiều nghệ, giỏi thờ quỷ thần. Còn Vũ vương Phát không lắm tài nhiều nghệ, không khéo thờ quỷ thần bằng Đán. Nhưng do [Vũ vương Phát] nhận mệnh của thiên đế, bảo bọc khắp bốn phương, khiến con cháu các ngài trong thiên hạ được yên ổn, chúng dân khắp bốn phương không ai không kính sợ. [Vì thế] nếu [Vũ vương Phát] chẳng làm mất mệnh trời quý báu đã ban xuống, thì các tiên vương ta cũng mãi mãi có chỗ nương về. Nay Đán đã thỉnh mệnh [của các ngài] ở rùa lớn*, nếu các ngài chấp nhận thỉnh cầu của Đán, Đán xin dâng ngọc bích và ngọc khuê, chờ mệnh lệnh của các ngài. Nếu các ngài không chấp nhận thỉnh cầu của Đán, Đán sẽ cất ngọc bích và ngọc khuê.”
Chu công lệnh cho quan sử đọc lời khấn cáo với Thái vương, Vương quý, Văn vương khắc trên thẻ xong, muốn chết thay cho Vũ vương Phát, rồi liền bói quẻ thỉnh mệnh ba vị tiên vương. Thầy bói đều nói là tốt, mở sách bói ra xem, đích xác quẻ tốt. Chu công mừng, lại đích thân mở khóa lấy sách bói quẻ ra coi, thấy sách cũng ghi lời bói tốt lành. Chu công vào triều chúc mừng Vũ vương rằng: “Bệnh tình của nhà vua không có gì nguy hại nữa. Đán mới thỉnh mệnh ba vị tiên vương, nhà vua chỉ cần toan tính sao cho mọi việc đều được lâu dài trọn vẹn. Đó là nhờ tiên vương đoái nghĩ đến nhà vua vậy.” Chu công đem cất thẻ ghi lời khấn vào hộp Kim
đằng*, răn bảo người cất giữ không được nói cho ai biết. Hôm sau, Vũ vương khỏi bệnh.
Về sau, sau khi Vũ vương băng hà, Thành vương nhỏ tuổi, hãy còn trong tã địu. Chu công sợ thiên hạ hay tin Vũ vương băng hà sẽ làm phản, bèn lên ngôi thiên tử thay Thành vương nắm giữ, điều hành chính sự trong nước. Quản thúc cùng các em của mình phao tin trong nước rằng: “Chu công sẽ gây bất lợi cho Thành vương.” Chu công bèn nói với Thái công Vọng và Thiệu Công Thích rằng: “Tôi sở dĩ không tránh [hiềm nghi] để nắm quyền điều hành chính sự, là sợ thiên hạ phản lại nhà Chu, [như thế] không biết nói sao với các vị tiên vương Thái vương, Vương quý, Văn vương của ta. Ba vị tiên vương lo lắng cho thiên hạ đã lâu, đến nay mới được thiên hạ. Vũ vương mất sớm, Thành vương còn nhỏ, vì muốn hoàn thành sự nghiệp nhà Chu, tôi mới phải làm như vậy.” Thế rồi rốt cuộc phò tá Thành vương, lại sai con là Bá Cầm thay mình đến đất phong ở Lỗ. Chu công răn Bá Cầm rằng: “Ta là con của Văn vương, em của Vũ vương, chú của Thành vương, ta đối với thiên hạ cũng không phải hạng thấp hèn. Nhưng ta một lần gội đầu mà ba lần vắt tóc, một bữa ăn mà ba lần nhả cơm, đứng dậy để tiếp đãi kẻ sĩ, thế mà còn sợ để mất người hiền trong thiên hạ. Con đến Lỗ, phải thận trọng, chớ vì có nước phong mà kiêu mạn với người.”
Quả nhiên bọn Quản thúc, Sái thúc, Vũ Canh thống lãnh tộc Hoài Di làm phản. Chu công bèn phụng mệnh Thành vương, dấy binh sang đông chinh phạt, soạn bài “Đại cáo”*. Thế rồi chém Quản thúc, giết Vũ Canh, đày Sái thúc. Thu gom dân còn lại của nhà Ân, đem phong cho Khang thúc đất Vệ, phong cho Vi Tử đất Tống, để họ phụng thờ tế tự nhà Ân. Vỗ yên
vùng đất phía đông tộc Hoài Di, sau hai năm thì thảy được bình định. Chư hầu đều quy phục nhà Chu.
Trời giáng phúc lành, Đường thức được cây lúa, khác gốc nhưng chung bông, đem dâng lên Thành vương, Thành vương sai Đường thức đưa tặng Chu công ở vùng đất phía đông, làm bài “Quỹ hòa”*. Chu công nhận lúa Thành vương ban cho, ngợi ca ân điển của thiên tử, làm bài “Gia hòa”*. Vùng đất phía đông đã quy phục, Chu công về báo với Thành vương, rồi làm thơ để lại cho Thành vương, gọi là bài “Si hiêu”*. Thành vương cũng không dám chê trách Chu công.
Ngày Ất Mùi tháng Hai năm Thành vương thứ bảy, từ sáng sớm Thành vương đã đi bộ từ đất Chu đến ấp Phong*, sai quan Thái bảo Thiệu công đến ấp Lạc trước, xem xét hình thế đất đai. Tháng Ba năm ấy, Chu công đến xem xét tình hình xây dựng ấp Lạc Đông Chu, [sau đó] coi bói để định đô, được quẻ tốt, bèn dựng quốc đô tại đó*.
Thành vương đã trưởng thành, có thể xử lý chính sự. Thế là Chu công bèn trao trả chính sự cho Thành vương, Thành vương lâm triều. Khi Chu công cai trị thay Thành vương, Chu công quay mặt về phía nam, lưng hướng vào bình phong để tiếp kiến chư hầu. Từ năm thứ bảy trở đi, trả lại quyền chính sự cho Thành vương, [Chu công] quay mặt về phía bắc, đứng ở vị trí bề tôi, cung kính cẩn trọng như có dáng vẻ sợ sệt.
Trước đây, khi Thành vương còn nhỏ, bị ốm, Chu Công bèn tự cắt móng tay mình ném xuống sông Hà, rồi khấn thần sông rằng: “Nhà vua còn thơ dại chưa hiểu biết, kẻ làm trái mệnh lệnh của thần là Đán vậy.” Cũng lại giấu thẻ ghi lời khấn ấy trong kho. Thế rồi Thành vương khỏi bệnh. Đến khi Thành vương chấp chính, có người gièm pha Chu công, Chu
công phải chạy sang nước Sở. Thành vương mở kho, thấy giản thư ghi lời khấn cầu, bèn khóc rồi đón Chu công về.
Chu công trở về, sợ Thành vương [đang tuổi] tráng kiện, cai trị có điều sẽ sa đà, buông thả, bèn làm các bài “Đa sĩ”, “Vô dật”*. Bài “Vô dật” viết: “Làm cha mẹ, phải rất dài lâu mới tạo nên cơ nghiệp, con cháu kiêu mạn xa xỉ mà quên điều đó, đến nỗi mất cả gia nghiệp, kẻ làm con có thể không thận trọng được ư? Cho nên thuở xưa, Ân vương Trung Tông nghiêm cẩn kính sợ mệnh trời, tự noi pháp độ để trị dân, sợ sệt không dám lơi là an dật, vì thế Trung tông hưởng nước bảy mươi lăm năm. [Nhà Ân dưới] thời Cao tông, từng lâu ngày mất cả bên ngoài, làm việc cùng dân thường, đến khi lên ngôi lại chịu tang cha, ba năm không nói, [đến khi mãn tang] nói thì người đều vui, không dám lơi là an dật, khiến nhà Ân yên định, việc lớn nhỏ dân đều không oán, cho nên Cao Tông được hưởng nước năm mươi lăm năm*. Đến thời Tổ Giáp, làm vua không hợp danh nghĩa*, sống cùng dân thường ở ngoài lâu ngày, hiểu chỗ nương dựa của họ, biết bảo bọc gia ơn cho dân chúng, không khinh mạn kẻ quan quả, cho nên Tổ Giáp hưởng nước ba mươi ba năm.” Bài “Đa sĩ” viết rằng: “Từ Thành Thang đến đế Ất, không ai không cung thuận trong tế tự, làm sáng đức độ, không vị đế vương nào không phối sánh với trời. Sau này, vua Trụ nối ngôi, hoang dâm phóng đãng, không đoái đến phép trời và ý dân. Dân trong nước đều cho là Trụ đáng bị tru diệt.” “Văn vương bận lo chính sự mặt trời quá trưa vẫn chưa rảnh để ăn, hưởng nước năm mươi năm.” [Chu công] viết những điều đó để khuyên răn Thành vương.
Thành vương ở ấp Phong, thiên hạ đã yên định, nhưng chế độ quan chức nhà Chu chưa rõ thứ bậc, Chu công bèn viết “Chu quan ”*, biện biệt
chức trách các quan. Soạn “Lập chính”* để tiện lợi cho trăm họ, trăm họ đều mừng*.
Chu công ở ấp Phong, bị bệnh, sắp mất, nói: “Phải chôn ta ở Thành Chu, để tỏ rõ ta không dám xa lìa Thành vương.” Sau khi Chu công mất, Thành vương cũng khiêm nhượng, táng Chu công đất Tất, theo [hầu] Văn vương*, để tỏ rằng bản thân mình không dám coi Chu công là bề tôi vậy.
Sau khi Chu công mất, mùa thu lúa còn chưa gặt, trời nổi gió lớn sấm rền, lúa đều đổ rạp, cây lớn bật gốc. Người ở quốc đô nước Chu cả sợ. Thành vương cùng các quan đại phu mặc triều phục, mở giản sách trong hộp Kim đằng, bấy giờ Thành vương mới biết việc Chu công nguyện chết thay cho Vũ vương. Thái công và Thiệu Công cùng Thành vương bèn hỏi các viên quan sử, họ thưa: “Quả là có [việc đó], trước đây Chu công lệnh cho chúng thần không được nói ra.” Thành vương cầm sách mà khóc, nói rằng: “Từ rày về sau không cần kính cẩn coi bói nữa! Trước đây Chu công vất vả vì vương thất, riêng ta còn thơ dại nên chưa biết. Nay trời ra uy để tỏ rõ đức độ của Chu công, đích thân trẫm phải làm lễ đón thần, theo nghi lễ nước nhà thì điều đó cũng phù hợp.” Thành vương ra ngoại thành tế giao, trời bèn đổ mưa, gió thổi ngược lại, lúa thảy lại dựng lên. Thái công, Thiệu Công lệnh cho người trong nước, phàm cây lớn bị đổ, đều dựng lên rồi lèn đất lại. Năm ấy được mùa to. Thế rồi Thành vương bèn lệnh cho nước Lỗ được dùng lễ tế giao để tế Văn vương*. Nước Lỗ có lễ nhạc của thiên tử là để tán dương đức tốt của Chu công vậy.
Chu công mất, trước đó con là Bá Cầm vốn đã được thụ phong, đó là Lỗ công. Trước kia khi Lỗ Công Bá Cầm được phong Lỗ, sau ba năm mới
báo cáo tình hình chính sự với Chu công, Chu công hỏi: “Sao chậm thế?” Bá Cầm đáp: “Đổi phong tục, thay lễ nghi, tang phục sau ba năm mới cởi bỏ, cho nên chậm trễ.” Thái Công cũng được phong ở Tề, sau năm tháng liền báo cáo chính sự với Chu công, Chu công hỏi: “Sao nhanh thế?” Đáp: “Tôi giảm bớt lễ nghi quân thần, theo phong tục ở đó mà làm vậy.” Sau đó, thấy Bá Cầm báo cáo chính sự chậm chạp, [Chu công] bèn than rằng: “Hỡi ôi, hậu thế của nước Lỗ sẽ quay mặt về hướng bắc mà phụng sự nước Tề thôi! Xét lẽ, chính sự không giản bớt sẽ chẳng dễ thi hành, [chẳng dễ thi hành thì] dân không gần gũi, giản dị và gần gũi người dân, dân ắt hướng về người đó.”
Sau khi Bá Cầm lên ngôi, xảy ra việc bọn Quản thúc, Sái thúc làm phản, tộc Hoài Di, tộc Từ Nhung cũng nhất tề nổi lên làm phản. Thế là Bá Cầm dẫn quân chinh phạt chúng ở đất Bí, làm bài “Bí thệ”*, viết rằng: “Các ngươi hãy bày giáp trụ, đừng làm điều chẳng lành. [Các ngươi] chớ làm tổn thương trâu ngựa trong chuồng trại. [Nhìn thấy] trâu ngựa chạy đi, đầy tớ con hầu bỏ trốn, chớ có rượt đuổi, sẽ có kẻ cung kính dẫn về thôi. Đừng có cướp bóc, trèo tường [trộm cắp]. Người Lỗ ở ba mặt*, hãy dự trữ rơm cỏ, lương khô, ván cọc, đừng để thiếu. Ta định ngày Giáp Tuất sẽ xây thành đắp ụ, chinh phạt tộc Từ Nhung, không được vắng mặt, trái lệnh sẽ xử đại hình*.” Làm bài “Bí thệ” này rồi bèn bình định tộc Từ Nhung, yên định nước Lỗ.
Lỗ công Bá Cầm chết, con là Khảo công Tù lên thay. Khảo công lên thay được bốn năm thì chết, lập em trai là Hy lên thay, đó là Dương công. Dương công xây dựng cổng Mao Khuyết. Dương công lên ngôi được sáu
năm thì chết, con là U công Tể lên thay. U công năm thứ mười bốn, bị em của mình là Phí giết, rồi [Phí] tự lập làm vua, đó là Ngụy công. Ngụy công ở ngôi năm mươi năm thì chết, con là Lệ công Trạc lên thay. Lệ công tại vị ba mươi bảy năm thì chết, người Lỗ lập người em [của Lệ công] là Cụ lên thay, đó là Hiến công. Hiến công tại vị ba mươi hai năm thì chết, con là Thận công Tỵ lên thay.
Thận công năm thứ mười bốn, Chu Lệ vương vô đạo, chạy đến đất Trệ, [Lệ vương đi rồi] [quần thần] cùng thi hành chính sự*. Năm thứ hai mươi chín, Chu Tuyên vương lên ngôi.
Năm thứ ba mươi, Thận công chết, em là Ngao lên thay, đó là Vũ công.
Mùa xuân năm Vũ công thứ chín, Vũ công cùng con trưởng là Quát, con út là Hí sang phía tây vào chầu Chu Tuyên vương. Tuyên vương yêu quý Hí, muốn lập Hí làm Thái tử nước Lỗ. Phan Trọng Sơn Phủ nhà Chu can Tuyên vương rằng: “Phế lớn lập nhỏ, không thuận lý; không thuận lý, ắt phạm vương mệnh; phạm đến vương mệnh, kẻ đó ắt bị tru diệt; cho nên lệnh ban ra không thể không thuận lý vậy. Mệnh lệnh không được thi hành, chính sự sẽ không đứng vững; thi hành mà không thuận lý, dân chúng sẽ bỏ bề trên. Xét lẽ, kẻ dưới thờ người trên, nhỏ thờ lớn, đó là thuận lý. Nay thiên tử phong cho chư hầu mà lập con nhỏ của họ, là dạy dân làm ngược vậy. Nếu nước Lỗ nghe theo, chư hầu bắt chước họ, vương mệnh sẽ có chỗ bị khuất lấp; nếu không nghe theo mà trừng trị họ, là tự hủy vương mệnh vậy. Trị tội cũng hỏng, không trị cũng hỏng, xin nhà vua cân nhắc việc đó.” Tuyên vương không nghe, rốt cuộc vẫn lập Hí làm Thái tử nước Lỗ. Mùa hạ, Vũ công về nước rồi mất, Hí lên thay, đó là Ý công.
Ý công năm thứ chín, con trai người anh của Ý công là Bá Ngự cùng người Lỗ đánh giết Ý công, rồi lập Bá Ngự làm vua. Bá Ngự lên ngôi được mười một năm, Chu Tuyên vương thảo phạt nước Lỗ, giết Lỗ quân là Bá Ngự, rồi hỏi trong các công tử nước Lỗ ai có thể dẫn dắt được chư hầu, để lập làm người kế tục nước Lỗ. Phàn Mục Trọng* nói: “Em trai của Lỗ Ý công là Xứng, nghiêm trang kính cẩn với thần linh, cung kính phụng thờ bậc trưởng lão; thu thuế dùng hình, ắt đều hỏi ở di huấn [của tiên vương] rồi xét đến các tiền lệ đã từng có; không làm trái những điều đã hỏi, không phạm đến những việc đã xét.” Tuyên vương nói: “Phải, vậy thì có thể dạy bảo cai trị dân nước Lỗ rồi.” Bèn lập Xứng tại Di Cung*, đó là Hiếu công. Từ đó về sau, chư hầu phần nhiều làm trái vương mệnh.
Hiếu công năm thứ hai mươi lăm, chư hầu phản lại nhà Chu, Khuyển Nhung giết chết U vương. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ hai mươi bảy, Hiếu công chết, con là Phất Hoàng lên thay, đó là Huệ công.
Huệ công năm thứ ba mươi, người Tấn giết vua nước mình là Chiêu hầu. Năm thứ bốn mươi lăm, người Tấn lại giết vua nước mình là Hiếu hầu.
Năm thứ bốn mươi sáu, Huệ công chết, con trưởng trong số các con ngành thứ là Tức nhiếp chính, chủ trì quốc sự, điều hành việc nước như nhà vua, đó là Ẩn công. Trước đây, phu nhân của Huệ công không có con, tiện thiếp của Huệ công là Thanh Tử sinh con là Tức. Tức trưởng thành, lấy vợ ở nước Tống. Người con gái nước Tống đến [nước Lỗ], [nàng ta] xinh đẹp, Huệ công liền cướp đoạt rồi tự lấy làm vợ. [Nàng ta] sinh con là
Doãn. [Huệ công] thăng người đàn bà nước Tống lên làm phu nhân, phong Doãn làm Thái tử. Đến khi Huệ công chết, vì Doãn còn nhỏ, người Lỗ cùng để Tức nhiếp chính, nhưng không nói là lên ngôi.
Ẩn công năm thứ năm, xem đánh cá ở ấp Đường. Năm thứ tám, cùng nước Trịnh đổi ấp Hứa Điền lấy ấp Bang ở Thái Sơn của thiên tử, người quân tử chê cười việc đó*.
Mùa đông năm thứ mười một, công tử Huy xúi Ẩn công rằng: “Trăm họ ủng hộ ngài, ngài hãy nhân cơ hội lên ngôi. Tôi xin vì ngài mà giết Tử Doãn, ngài hãy cho tôi làm Tướng quốc.” Ẩn công nói: “Có di mệnh của tiên vương. Do Doãn còn nhỏ, nên ta nhiếp chính thay. Nay Doãn đã trưởng thành, ta đang dựng cung thất ấp Thố Cừu rồi về dưỡng lão ở đó, đem chính sự trao lại cho Tử Doãn.” Huy sợ Tử Doãn biết chuyện sẽ quay sang giết mình, bèn trở mặt gièm pha Ẩn công với Tử Doãn rằng: “Ẩn công muốn lên ngôi, sẽ giết ngài, ngài hãy tính đi. Tôi xin vì ngài mà giết Ẩn công.” Tử Doãn đồng ý. Tháng Mười một, Ẩn công tế Chung vu*, trai giới ở vườn Xã Phố, nghỉ ở nhà Vị thị*. Huy sai người giết Ẩn công ở nhà Vị thị, rồi lập Tử Doãn làm vua, đó là Hoàn công.
Hoàn công năm thứ nhất, nước Trịnh dùng ngọc bích đổi đất Hứa Điền của thiên tử*. Năm thứ hai, đưa đỉnh do nước Tống hối lộ vào thái miếu, người quân tử chê cười việc đó*.
Năm thứ ba, sai Huy đón người vợ ở nước Tề về làm phu nhân. Năm thứ sáu, phu nhân sinh con trai, cùng ngày sinh với Hoàn công, cho nên đặt tên là Đồng. Đồng trưởng thành, được làm Thái tử.
Năm thứ mười sáu, hội minh ở ấp Tào, thảo phạt nước Trịnh, đưa Lệ công về nước.
Mùa xuân năm thứ mười tám, Hoàn công bàn việc xuất hành, định cùng phu nhân sang nước Tề. Thân Nhu can ngăn, Hoàn công không nghe, rồi sang nước Tề. Tề Tương công tư thông với phu nhân của Hoàn công. Hoàn công giận phu nhân, phu nhân đem việc đó nói với Tề hầu. Ngày Bính Tý tháng Tư mùa hạ, Tề Tương công đãi tiệc Hoàn công, Hoàn công say, [Tề Tương công] sai công tử Bành Sinh dìu Lỗ Hoàn công, nhân đó lệnh Bành Sinh bẻ gãy xương sườn [Hoàn công], Hoàn công chết ở trong xe. Người Lỗ báo cho nước Tề rằng: “Vua nước tôi sợ uy của ngài, không dám ở yên [trong nước], đến làm lễ giao hảo. Lễ xong mà không trở về, không biết đổ lỗi cho ai, xin giao Bành Sinh để xóa tiếng xấu với chư hầu.” Người Tề giết Bành Sinh để làm đẹp lòng nước Lỗ. [Nước Lỗ] lập Thái tử Đồng, đó là Trang công. Mẹ của Trang công phu nhân [của Lỗ Hoàn công] nhân đó lưu lại nước Tề, không dám về nước Lỗ.
Mùa đông năm Trang công thứ năm, thảo phạt nước Vệ, đưa Vệ Huệ công về nước.
Năm thứ tám, công tử Củ nước Tề chạy sang. Năm thứ chín, người Lỗ muốn đưa công tử Củ về nước Tề, [công tử Củ] theo sau Hoàn công, Hoàn công phát binh đánh nước Lỗ, nước Lỗ nguy cấp, bèn giết công tử Củ. Thiệu Hốt chết. Nước Tề báo cho nước Lỗ [phải để] Quản Trọng còn sống và đưa sang [Tề]. Thi Bá* người nước Lỗ nói: “Nước Tề muốn có Quản Trọng, không giết ông ta đâu, sẽ trọng dụng ông ta, nếu [nước Tề] trọng dụng ông ta thì đó là mối lo của nước Lỗ. Chẳng bằng giết đi, đem xác đưa cho họ.” Trang công không nghe, bèn nhốt Quản Trọng vào xe tù đưa sang nước Tề. Người Tề phong Quản Trọng làm Tướng quốc.
Năm thứ mười ba, Lỗ Trang công cùng Tào Mạt hội minh với Tề Hoàn công ở ấp Kha, Tào Mạt uy hiếp Tề Hoàn công, đòi đất của nước Lỗ đã bị xâm chiếm, kết minh xong mới thả Hoàn công. Hoàn công muốn bội ước, Quản Trọng can, cuối cùng phải trả những đất đã chiếm của nước Lỗ. Năm thứ mười lăm, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Năm thứ hai mươi ba, Trang công đến nước Tề xem tế thần xã*.
Năm thứ ba mươi hai, ban đầu, Trang công dựng đài gần nhà Đảng thị, thấy nàng Mạnh nữ*, thích rồi yêu nàng, hứa lập làm phu nhân, cắt vào tay để thề. Mạnh nữ sinh được con trai là Ban. Ban lớn lên, thích con gái nhà Lương thị, đến đó ngắm. Đúng lúc người nuôi ngựa là Lạc ở bên ngoài tường đang đùa giỡn với con gái nhà Lương thị. Ban tức giận, dùng roi đánh Lạc. Trang Công biết việc đó, mới nói: “Lạc là người có sức vóc, nên giết đi, không nên chỉ đánh rồi thả.” Ban chưa kịp giết [Lạc]. Đúng khi ấy Trang công bị bệnh. Trang công có ba người em trai, lớn là Khánh Phủ, thứ đến Thúc Nha, rồi tới Quý Hữu. Trang công lấy người con gái nước Tề là Ai Khương làm phu nhân. Ai Khương không có con. Em gái Ai Khương là Thúc Khương sinh con trai là Khai. Trang công không có con đích nối dõi, yêu thương Mạnh nữ, muốn lập con nàng là Ban. Trang công ốm, mới hỏi em trai Thúc Nha về người nối ngôi. Thúc Nha nói: “Cha chết con nối, anh chết đến em, là lệ thường ở nước Lỗ vậy. Khánh Phủ còn đây, có thể nối ngôi, người còn lo gì?” Trang công e Thúc Nha muốn lập Khánh Phủ, [sau khi Thúc Nha] lui về [Trang công] bèn hỏi Quý Hữu. Quý Hữu nói: “Xin liều chết để lập Ban lên thay.” Trang công nói: “Mới rồi Thúc Nha muốn lập Khánh Phủ, phải làm thế nào?” Quý Hữu dùng lệnh của Trang công để sai Thúc Nha đợi ở nhà Châm Vu thị, sai Châm Quý ép Thúc Nha uống rượu độc, nói: “Uống rượu này thì có người đời sau phụng thờ tế
tự, nếu không, chết sẽ vô hậu.” Nha bèn uống rượu độc rồi chết, nước Lỗ lập con của Thúc Nha làm Thúc Tôn thị. Ngày Quý Hợi tháng Tám, Trang công chết, rốt cuộc Quý Hữu lập Tử Ban làm vua, đúng theo di mệnh của Trang công. Trong khi chịu tang, [Tử Ban] ở nhà Đảng thị.
Khi trước, Khánh Phủ tư thông với Ai Khương, muốn lập con của em gái Ai Khương là Khai lên ngôi. Đến khi Trang công chết đi, Quý Hữu lập Ban lên thay, [nhưng] ngày Kỷ Mùi tháng Mười, Khánh Phủ sai người nuôi ngựa là Lạc giết công tử Ban nước Lỗ ở nhà Đảng thị. Quý Hữu chạy sang nước Trần. Rốt cuộc Khánh Phủ lập con của Trang công là Khai lên thay, đó là Mẫn công.
Mẫn công năm thứ hai, Khánh Phủ và Ai Khương tư thông ngày càng nhiều. Ai Khương cùng Khánh Phủ mưu giết Mẫn công để Khánh Phủ lên thay. Khánh Phủ sai Bốc Ỷ tập kích giết Mẫn công ở Vũ vi*. Quý Hữu nghe tin ấy, từ nước Trần cùng em trai Mẫn công là Thân đến nước Chu*, đề nghị người nước Lỗ cho mình về nước. Người Lỗ muốn giết Khánh Phủ. Khánh Phủ lo sợ, chạy sang nước Cử. Thế là Quý Hữu theo Tử Thân về nước, [Tử Thân] lên làm vua, đó là Hy công. Hy cũng là con út của Trang công. Ai Khương sợ hãi, chạy sang nước Chu. Quý Hữu đem đồ hối lộ đến nước Cử để đòi Khánh Phủ, Khánh Phủ trở về, [Quý Hữu] sai người giết Khánh Phủ, Khánh Phủ xin ra đi, [Quý Hữu] không nghe, [Khánh Phủ] bèn sai đại phu Hề Tư đi [cầu xin], [Hề Tư] khóc trở về. Khánh Phủ nghe thấy tiếng Hề Tư khóc, bèn tự sát. Tề Hoàn công nghe tin Ai Khương và Khánh Phủ dâm loạn gây nguy hại cho nước Lỗ, bèn triệu Ai Khương đang ở nước Chu về rồi giết đi, đem xác [Ai Khương] về, phanh thấy ở nước Lỗ. Lỗ Hy công đề nghị đem chôn.
Mẹ của Quý Hữu là người đàn bà nước Trần, vì thế [khi Quý Hữu] lưu vong đến nước Trần, nước Trần mới phụ tá hộ tống Quý Hữu và Tử Thân về. Khi sắp sinh Quý Hữu, cha là Lỗ Hoàn công sai người bói quẻ, [thầy bói] nói: “Con trai, tên là Hữu, giữa hai đàn xã*, là người phò tá tông thất. Quý Hữu chết thì nước Lỗ không còn hưng thịnh nữa.” Đến khi sinh, có chữ “Hữu” ở lòng bàn tay, liền lấy đó đặt tên, hiệu là Thành Quý. Hậu duệ của Thành Quý là Quý thị, còn hậu duệ của Khánh Phủ là Mạnh thị vậy.
Hy công năm thứ nhất, đem ấp Phí và [ruộng] Vấn Dương* phong cho Quý Hữu. Quý Hữu làm Tướng quốc.
Năm thứ chín, Lý Khắc nước Tấn giết vua nước mình là Hề Tề và Trác Tử. Tề Hoàn công dẫn theo Hy công dẹp loạn nước Tấn, đến Cao Lương rồi rút về, lập Tấn Huệ công lên ngôi. Năm thứ mười bảy, Tề Hoàn công chết. Năm thứ hai mươi tư, Tấn Văn công lên ngôi.
Năm thứ ba mươi ba, Hy công chết, con là Hưng lên thay, đó là Văn công.
Văn công năm thứ nhất, Thái tử nước Sở là Thương Thần giết vua cha là Thành vương, lên thay. Năm thứ ba, Văn công triều kiến Tấn Tướng công.
Ngày Giáp Ngọ, tháng Mười, năm thứ mười một, nước Lỗ đánh bại quân nước Địch ở đất Hàm, bắt được Kiều Như của tộc Trường Địch, Phú Phủ Chung Sanh dùng qua đâm vào yết hầu, giết chết Kiều Như, chôn thủ cấp ở cửa Tử Câu, lấy [tên của Kiều Như] đặt tên con là Tuyên Bá*.
Trước đây, vào thời Tống Vũ công, Sưu Man tấn công nước Tống, Tư đồ Hoàng Phủ quân chống địch, nhờ đó đánh bại người Địch ở Trường Khâu, bắt được Duyên Tư của tộc Trường Địch*. Nước Tấn diệt nước Lộ, bắt được người em trai [đầu] của Kiều Như là Phần Như*. Tề Huệ công năm thứ hai, Sưu Man tấn công nước Tề, vương tử nước Tề là Thành Phủ bắt [giết] được người em trai [thứ hai của] Kiều Như là Vinh Như, chôn thủ cấp cửa bắc. Người Vệ bắt được người em út* của Kiều Như là Giản Như. Nước Sưu Man từ đó diệt vong.
Năm thứ mười lăm, Quý Văn tử đi sứ nước Tấn.
Tháng Hai năm thứ mười tám, Văn công chết. Văn công có hai người phi: trưởng phi là người con gái nước Tề, tức Ai Khương, sinh hai con trai là Ác và Thị; thứ phi là Kính Doanh, được sủng ái, sinh con là Đồng. Đồng ngấm ngầm phụng sự Tương Trọng, Tương Trọng muốn lập Đồng lên ngôi, Thúc Trọng nói: “Không thể được.” Tương Trọng bèn thỉnh cầu Tề Huệ công, Huệ công mới lên ngôi, muốn kết thân với nước Lỗ, đồng ý. Tháng Mười mùa đông, Tương Trọng giết Tử Ác và Thị rồi lập Đồng lên ngôi, đó là Tuyên công. Ai Khương trở về nước Tề, khóc đi qua chợ, nói: “Trời ơi! Tương Trọng làm việc vô đạo, giết con đích lập con thứ!” Người trong chợ đều khóc, người Lỗ gọi nàng là “Ai Khương”. Từ đó tông thất nước Lỗ suy vi, Tam Hoàn* càng mạnh.
Tuyên công Đồng năm thứ mười hai, Sở Trang vương lớn mạnh, bao vây nước Trịnh. Trịnh bá đầu hàng, rồi lại khôi phục nước cho. Năm thứ mười tám, Tuyên công chết, con là Hắc Quăng lên ngôi, đó là Thành công. Quý Văn tử nói: “Người sai khiến ta phải giết đích lập thứ,
mất đi sự chi viện lớn, là Tương Trọng.” Tương Trọng lập Tuyên công lên ngôi, Công Tôn Quy Phủ được sủng ái. Tuyên công muốn trừ khử Tam Hoàn, cùng nước Tấn mưu phạt Tam Hoàn. Gặp đúng lúc Tuyên công chết, Quý Văn tử oán Tương Trọng, Quy Phủ phải chạy sang nước Tề.
Mùa xuân năm Thành công thứ hai, nước Tề đánh chiếm được ấp Long của nước Lỗ. Mùa hạ, Thành công cùng Khích Khắc nước Tấn đánh bại Tề Khoảnh công ở đất Yên, nước Tề trả lại các đất đã chiếm của nước Lỗ. Năm thứ tư, Thành công sang nước Tấn, Tấn Cảnh công bất kính với vua Lỗ. Lỗ muốn trở mặt với nước Tấn để bắt tay với nước Sở, có người can ngăn, bèn thôi. Năm thứ mười, Thành công sang nước Tấn. Tấn Cảnh công chết, nhân đó [nước Tấn] giữ Thành công lại để đưa [Cảnh công đi] an táng, nước Lỗ giấu nhẹm việc này. Năm thứ mười lăm, bắt đầu hội kiến với Ngô vương Thọ Mông ở Chung Ly.
Năm thứ mười sáu, Tuyên bá báo cho nước Tấn biết ý định giết Quý Văn tử. Văn tử có đạo nghĩa, người Tấn không đồng ý.
Năm thứ mười tám, Thành công chết, con là Ngọ lên thay, đó là Tương công. Bấy giờ Tương công mới ba tuổi.
Tương công năm đầu, nước Tấn lập Điệu công làm vua. Mùa đông năm trước, Loan Thư nước Tấn giết vua nước mình là Lệ công. Năm thứ tư, Tương công triều kiến vua Tấn.
Năm thứ năm, Quý Văn tử chết. Trong nhà hầu thiếp không mặc lụa trắng, ngoài chuồng ngựa không được ăn thóc, trong kho không có vàng ngọc, lấy đó phò tá ba đời vua*. Người quân tử nói: “Quý Văn tử là người liêm khiết trung thành vậy.”
Năm thứ chín, [nước Lỗ] cùng nước Tấn đánh nước Trịnh. Tấn Điệu công làm lễ đội mũ cho Tương công ở nước Vệ, Quý Vũ tử đi theo, giúp việc thực hiện các nghi lễ.
Năm thứ mười một, Tam Hoàn thị chia làm ba quân*.
Năm thứ mười hai, triều kiến vua Tấn. Năm thứ mười sáu, Tấn Bình công lên ngôi. Năm thứ hai mươi mốt, triều kiến Tấn Bình công. Năm thứ hai mươi hai, Khổng Khâu sinh*.
Năm thứ hai mươi lăm, Thôi Trữ nước Tề giết vua nước mình là Trang công, lập em của Trang công lên ngôi, đó là Cảnh công. Năm thứ hai mươi chín, Diên Lăng Quý tử nước Ngô đi sứ sang nước Lỗ, hỏi về nhạc nhà Chu, hiểu hết nghĩa lý các khúc nhạc, người nước Lỗ kính trọng ông ta*.
Tháng Sáu năm thứ ba mươi mốt, Tương công chết. Tháng Chín năm này, Thái tử chết*. Người Lỗ lập con trai của Tề Quy là Trù làm vua, đó là Chiêu công.
Chiêu công năm mười chín tuổi, tâm tính vẫn như trẻ con. Mục Thúc vốn không muốn lập [Trù], nói: “Thái tử chết đi, có thể lập em cùng mẹ, nếu không thì lập trưởng [của ngành thứ]. Nếu tuổi ngang nhau thì chọn người hiền, đạo nghĩa ngang nhau thì bói quẻ quyết định. Nay Trù không phải con đích nối dòng, vả lại cư tang mà không có ý thương xót, còn có vẻ vui mừng, nếu quả thực được lập, ắt thành mối lo của Quý thị.” Quý Vũ tử không nghe, rốt cuộc vẫn lập Trù làm vua. Đến khi an táng [Cảnh Công], [Trù] ba lần thay tang phục*. Bậc quân tử nói: “Người này không có kết cục trọn vẹn vậy.”
Chiêu công năm thứ ba, triều kiến nước Tấn, [khi mới] đến sông Hoàng Hà, Tấn Bình công đã từ tạ rồi [bảo Chiêu công] về, nước Lỗ lấy làm hổ thẹn*. Năm thứ tư, Sở Linh vương hội chư hầu ở đất Thân, Chiêu công thác bệnh không đến. Năm thứ bảy, Quý Vũ tử chết. Năm thứ tám, Sở Linh vương dựng xong đài Chương Hoa, triệu Chiêu công tới. Chiêu công tới chúc mừng, [Sở Linh vương] tặng Chiêu công đồ dùng quý báu; thế rồi hối hận, lừa để lấy lại. Năm thứ mười hai, triều kiến vua Tấn, [khi mới] đến sông Hoàng Hà, Tấn Bình công đã từ tạ rồi bảo Chiêu công về. Năm thứ mười ba, công tử Khí Tật nước Sở giết vua nước mình là Linh vương, rồi lên thay. Năm thứ mười lăm, triều kiến nước Tấn, nước Tấn giữ lại để an táng Tấn Chiêu công, nước Lỗ lấy làm hổ thẹn về việc đó. Năm thứ hai mươi, Tề Cảnh công và Yến tử đi săn ở biên giới, nhân đó vào nước Lỗ hỏi về lễ. Năm thứ hai mươi mốt, triều kiến vua Tấn, [khi mới] đến sông Hoàng Hà, vua Tấn đã từ tạ rồi [bảo Chiêu công] về.
Mùa xuân năm thứ hai mươi lăm, chim yểng đến làm tổ. Sư Kỷ nói: “Đời Văn công, Thành công có bài đồng dao rằng: Yểng đến làm tổ, vua tại Càn Hầu. Yểng bay vào ở, vua ra ngoài đồng*.”
Họ Quý cùng họ Hậu chọi gà, gà của họ Quý mang giáp, gà của họ Hậu mang cựa vàng. Quý Bình tử nổi giận rồi chiếm đất của họ Hậu, Hậu Chiêu bá cũng giận Bình tử. Em trai Tang Chiêu bá là Hội, vờ gièm pha họ Tang, rồi trốn ở nhà họ Quý, Tang Chiêu bá giam người nhà họ Quý. Quý Bình tử tức giận, giam gia thần nhà họ Tang. Họ Tang và họ Hậu đem họa nạn đó báo Với Chiêu Công. Ngày Mậu Tuất tháng Chín, Chiêu công tiến đánh họ Quý, tiến vào lãnh địa. Bình tử lên đài đề nghị rằng: “Nhà vua nghe lời gièm pha, không xét tội của thần, đến để giết thần, vậy xin cho thần được lưu đày đến vùng trên sông Nghi.” [Chiêu công] không cho.
[Bình tử] xin bị giam ở đất Phí, [Chiêu công] không cho. [Bình tử] xin năm cỗ xe để chạy khỏi nước, [Chiêu công] không cho. Tử Gia Câu nói: “Nhà vua hãy đồng ý đi! Chính sự trong tay họ Quý đã lâu, bè đảng đông đúc, sẽ hợp lại để mưu tính đấy.” [Chiêu công] không chịu nghe. Họ Hậu nói: “Nhất định phải giết đi.” Gia thần của họ Thúc Tôn là Lệ hỏi đồng đảng rằng: “Không có họ Quý với có họ Quý, đằng nào lợi hơn?” Đồng đảng đều đáp: “Không có họ Quý thì không có họ Thúc Tôn.” Lệ đáp: “Phải, hãy cứu họ Quý!” [Họ Thúc Tôn] bèn đánh bại quân của Chiêu Công. Mạnh Ý tử nghe tin họ Thúc Tôn thắng, cũng giết luôn Hậu Chiêu bá. Hậu Chiêu bá là sứ giả của Chiêu công [đến chỗ họ Mạnh], nên bị họ Mạnh bắt lại. Ba nhà [Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn] cùng đánh Chiêu công, Chiêu công liền tháo chạy. Ngày Kỷ Hợi, Chiêu công đến nước Tề. Tề Cảnh công nói: “Xin đem nghìn xã* tiếp đãi ngài.” Tử Gia nói: “Bỏ cơ nghiệp của Chu công để làm bề tôi nước Tề, liệu được không?" [Chiêu công] bèn thôi không nhận. Tử Gia nói: “Tề Cảnh công vốn không có tín nghĩa, chi bằng hãy sớm qua nước Tấn.” [Chiêu công] không nghe, Thúc Tôn [sang nước Tề] trông thấy Chiêu công, trở về nước Lỗ, [Thúc Tôn] gặp Bình tử, Bình tử khấu đầu. [Thúc Tôn] ban đầu muốn nghênh đón Chiêu công trở về, nhưng rồi họ Mạnh Tôn, Quý Tôn sợ sau này sẽ phải hối hận, bèn thôi.
Mùa xuân năm thứ hai mươi sáu, nước Tề đánh nước Lỗ, chiếm được ấp Vận rồi cho Chiêu công ở đó. Mùa hạ, Tề Cảnh công định đưa Chiêu công về nước Lỗ, hạ lệnh không nhận đồ hối lộ của nước Lỗ. Thân Phong, Nhữ Giả đồng ý cho bề tôi nước Tề là Cao Hột, Tử Tương năm nghìn dữu* thóc. Vì thế Tử Tương mới nói với Tề hầu rằng: “Quần thần không thể phụng sự Lỗ quân, có điều gì kỳ quái chăng? Tống Nguyên công vì nước Lỗ mà Sang nước Tấn, thỉnh cầu nước Tấn đua Lỗ quân về, [để rồi
bị] chết trên đường đi. Thúc Tôn Chiêu tử xin đưa vua mình về nước, rồi không bệnh mà chết. Không rõ trời bỏ nước Lỗ ư? Hay là Lỗ quân có tội với quỷ thần? Xin nhà vua hãy đợi xem sao.” Tề Cảnh công nghe theo.
Năm thứ hai mươi tám, Chiêu công sang xin nước Tấn giúp đỡ để về nước. Quý Bình tử [hay tin mới] gặp riêng quan Lục khanh nước Tấn, Lục khanh nhận hối lộ của họ Quý, liền can Tấn quân, Tấn quân bèn thôi, rồi cho Chiêu công ở Càn Hầu. Năm thứ hai mươi chín, Chiêu công đến ấp Vận. Tề Cảnh công sai người ban thư cho Chiêu công, tự xưng là “Chủ quân"*. Chiêu công hổ nhục về việc đó, giận rồi rời khỏi Càn Hầu. Năm thứ ba mươi mốt, nước Tấn muốn đưa Chiêu Công về, bèn triệu kiến Quý Bình tử. Bình tử mặc áo vải đi chân đất, thông qua Lục khanh xin tạ tội [với Tấn quân]. Lục khanh nói giúp rằng: “Nước Tấn muốn đưa Chiêu công về, nhưng dân chúng không chịu.” Người Tấn liền thôi. Năm thứ ba mươi hai, Chiêu công chết ở Càn Hầu. Người Lỗ cùng lập em trai Chiêu công là Tống lên làm vua, đó là Định công.
Định công lên ngôi, Triệu Giản tử hỏi quan sử là Mặc* rằng: “Họ Quý có bị diệt vong không?” Quan sử Mặc đáp rằng: “Không bị diệt vong. Quý Hữu có công lớn với nước Lỗ, được phân phong ấp Phí làm tới chức Thượng khanh, đến Văn tử, Vũ tử, đời đời cơ nghiệp tăng thêm. Lỗ Văn công chết, Đông Môn Toại* giết đích lập thứ, thế là vua Lỗ mất quyền bính. Quyền chính trong tay họ Quý, đến nay trải bốn đời vua rồi. Dân không biết đến vua, làm sao mà được nước! Bởi vậy làm vua phải thận trọng với các đồ xa mã, phục sức và tước hiệu, không được khinh suất trao cho người khác.”
Định công năm thứ năm, Quý Bình tử chết. Dương Hổ vì oán hận cá nhân mà nổi giận*, bắt giam Quý Hoàn tử, buộc cùng lập minh ước rồi mới thả. Năm thứ bảy, nước Tề đánh nước Lỗ, chiếm ấp Vận, lấy làm ấp [phong cho] Dương Hổ, để [Dương Hổ] xử lý chính sự. Năm thứ tám, Dương Hổ muốn giết hết con đích của Tam Hoàn, rồi đổi lập con thứ mà mình yêu quý lên thay; dùng xe chở Quý Hoàn tử toan giết đi, Hoàn tử lừa rồi trốn thoát. Tam Hoàn cùng tấn công Dương Hổ, Dương Hổ chạy ra ở Dương Quan. Năm thứ chín, nước Lỗ đánh Dương Hổ, Dương Hổ chạy sang nước Tề, rồi lại chạy sang chỗ họ Triệu ở nước Tấn.
Năm thứ mười, Lỗ Định công và Tề Cảnh công hội minh ở Giáp Cốc, Khổng tử đi theo giúp việc. Nước Tề muốn đánh úp Lỗ quân, Khổng tử theo nghi lễ bước từng bước lên thềm, giết [những kẻ tấu] nhạc dâm loạn của nước Tề, Tề hầu sợ hãi, liền thôi, trả lại các đất đã chiếm của Lỗ rồi tạ lỗi. Năm thứ mười hai, sai Trọng Do phá hủy thành trì của Tam Hoàn, thu lấy giáp binh. Họ Mạnh không chịu phá thành, đem quân đánh [họ Mạnh], không hạ được nên thôi. Quý Hoàn tử [bảo Lỗ Định công] nhận nữ nhạc của nước Tề*, Khổng tử bỏ đi.
Năm thứ mười lăm, Định công chết, con là Tướng lên thay, đó là Ai công.
Ai công năm thứ năm, Tề Cảnh công chết. Năm thứ sáu, Điền Khất nước Tề giết vua nước mình là Nhụ Tử.
Năm thứ bảy, Ngô vương Phù Sai mạnh lên, đánh nước Tề, đến đất Tăng, đòi nước Lỗ cung ứng cỗ Bách lao. Quý Khang tử sai Tử Cống sang thuyết phục Ngô vương cùng Thái tể Bá Phỉ, dùng lễ để bác đi. Ngô vương
nói: “Ta xăm mình, không thể dùng lễ mà căn dặn được.” [Ngô vương] bèn thôi [không đòi cỗ Bách lao nữa].
Năm thứ tám, nước Ngô vì nước Trâu nên tiến đánh nước Lỗ, kéo đến dưới thành, kết minh rồi về. Nước Tề đánh nước Lỗ, chiếm được ba ấp. Năm thứ mười, tiến đánh biên giới phía nam nước Tề. Năm thứ mười một*, nước Tề đánh nước Lỗ. Họ Quý dùng Nhiễm Hữu, lập được công tích, nhớ đến Khổng tử*, Khổng tử từ nước Vệ trở về nước Lỗ.
Năm thứ mười bốn, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công ở Từ Châu. Khổng tử đề nghị thảo phạt Điền Thường, Ai công không nghe. Năm thứ mười lăm, phái Tử Phục Cảnh bá làm sứ thần, Tử Cống làm phó sang nước Tề, nước Tề trả các đất đã chiếm của nước Lỗ. Điền Thường mới lên làm Tướng quốc, muốn kết thân với chư hầu.
Năm thứ mười sáu, Khổng tử chết.
Năm thứ hai mươi hai, Việt vương Câu Tiễn diệt Ngô vương Phù Sai. Mùa xuân năm thứ hai mươi bảy, Quý Khang tử chết. Mùa hạ, Ai công lo sợ Tam Hoàn, nên muốn dựa vào chư hầu để khống chế họ, Tam Hoàn cũng lo Ai công sẽ gây khó, cho nên vua tôi có nhiều hiềm khích. Ai công du ngoạn ở Lăng Bản, trên đường đi thì gặp Mạnh Vũ bá, hỏi rằng: “Xin hỏi, tôi có được trọn vẹn đến lúc chết không?” Đáp rằng: “Không biết.” Ai cũng muốn dùng người Việt để đánh Tam Hoàn. Tháng Tám, Ai công đến nhà họ Hình*. Tam Hoàn tấn công Ai công, Ai công chạy sang nước Vệ, lại sang nước Trâu, rồi sang nước Việt. Người trong nước đón Ai công trở về, rồi chết ở nhà họ Hữu Sơn, con là Ninh lên thay, đó là Điệu công. Thời Điệu Công, Tam Hoàn thắng thế, nước Lỗ giống như chư hầu nhỏ, còn kém hơn gia tộc của Tam Hoàn.
Năm thứ mười ba, Tam Tấn tiêu diệt Trí bá, chia nhau đất đai chiếm được của Trí bá.
Năm thứ ba mươi bảy, Điệu công chết, con là Gia lên thay, đó là Nguyên công. Nguyên công năm thứ hai mươi mốt thì chết, con là Hiển lên thay, đó là Mục Công. Mục công năm thứ ba mươi ba thì chết, con là Phấn lên thay, đó là Cung công. Cung công năm thứ hai mươi hai thì chết, con là Truân lên thay, đó là Khang công. Khang công năm thứ chín thì chết, con là Yển lên thay, đó là Cảnh công. Cảnh công năm thứ hai mươi chín thì chết, con là Thúc lên thay, đó là Bình công. Bấy giờ sáu nước đều xưng vương.
Bình công năm thứ mười hai, Tần Huệ vương chết. Năm thứ hai mươi, Bình công chết, con là Giả lên thay, đó là Văn công. Năm Văn công thứ nhất*, Sở Hoài vương chết ở nước Tần. Năm thứ hai mươi ba, Văn công chết, con là Thù lên thay, đó là Khoảnh công.
Khoảnh công năm thứ hai, Tần hạ được Dĩnh đô nước Sở, Sở Khoảnh vương sang đông dời đến ấp Trần. Năm thứ mười chín, nước Sở đánh nước Lỗ, chiếm được Từ Châu. Năm thứ hai mươi tư, Khảo Liệt vương nước Sở đánh diệt nước Lỗ. Khoảnh công chạy trốn, trốn đến một ấp nhỏ ngoài nước, trở thành dân thường, nước Lỗ chấm dứt tế tự. Khoảnh công chết ở ấp Kha.
Nước Lỗ từ Chu công đến Khoảnh công, cả thảy ba mươi tư đời.
Thái sử công bàn rằng: Ta nghe Khổng tử nói rằng: “Đạo của nước Lỗ suy bại quá chừng! Giữa khoảng sông Thù sông Tứ mà còn lấn lướt nhau đến như thế.” Xem giữa Khánh Phủ với Thúc Nha, Mẫn công, sao loạn đến thế? Nào việc của Ẩn công, Hoàn công; nào việc Tương Trọng
giết đích lập thứ, ba nhà [Mạnh Tôn, Thúc Tôn, Quý Tôn] quay mặt về bắc làm bề tôi thế mà lại đích thân tấn công Chiêu công, khiến Chiêu công phải chạy trốn. Đến như lễ bái nhượng thì theo đấy, nhưng hành sự sao mà lại trái ngược đến thế?
QUYỂN 34
YÊN THIỆU CÔNG THẾ GIA
Thiệu Công Thích cùng họ với nhà Chu, họ Cơ thị. Chu Vũ vương tiêu diệt vua Trụ, phân phong cho Thiệu công ở Bắc Yên*.
Vào thời Thành vương, Thiệu công là một trong Tam công*: từ đất Thiểm sang phía tây, Thiệu công làm chủ; từ đất Thiểm sang phía đông, Chu công làm chủ. Thành vương vẫn còn thơ dại, Chu công nhiếp chính, đảm đương quốc sự, nắm giữ ngôi vị, Thiệu công nghi ngờ Chu công, [Chu công] bèn viết bài “Quân Thích”*. Quân Thích không hài lòng với Chu công. Chu công bèn giải thích rằng: “Thời Thành Thang có Y Doãn, [công đức] cảm động trời cao; thời Thái Mậu thì có người như Y Trắc*, Thần Hỗ, [công đức] cảm động Thượng đế, Vu Hàm trị lý vương gia; thời Tổ Ất, có người như Vu Hiền*; thời Vũ Đinh, có người như Cam Ban: họ phô bày đức nghiệp, bảo vệ sự yên trị của nhà Ân.” Thế rồi Thiệu công [đổi ngờ làm] vui.
Thiệu công trị lý phía tây, dân chúng rất yên vui. Thiệu công tuần hành đến các hương ấp, có cây cam đường, ông ngồi dưới gốc cây xử lý chính sự và việc ngục tụng, việc từ hầu bá đến dân thường đều xử lý thỏa đáng, không ai mất chức nghiệp của mình. Thiệu Công chết đi, người dân nhớ đến chính tích của ông, lưu luyến cây cam đường nên không nỡ chặt, ca vịnh cây đó, làm thành thơ “Cam đường”*.
Từ Thiệu Công trở xuống chín đời đến Huệ hầu. Yên Huệ hầu [ở ngôi] đúng lúc Chu Lệ vương chạy ra ấp Trệ, là thời kỳ “Cộng hòa”*. Huệ hầu chết, con là Hy hầu lên thay. Năm ấy, Chu Tuyên vương mới lên ngôi. Hy hầu năm thứ hai mươi mốt, Trịnh Hoàn công mới được phong ở đất Trịnh. Năm thứ ba mươi sáu, Hy hầu chết, con là Khoảnh hầu lên thay.
Khoảnh hầu năm thứ hai mươi, Chu U vương dâm loạn, bị Khuyển Nhung giết chết. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ hai mươi tư, Khoảnh hầu chết, con là Ai hầu lên thay. Ai hầu đến năm thứ hai thì chết, con là Trịnh hầu lên thay. Trịnh hầu đến năm thứ ba mươi sáu thì chết, con là Mậu hầu lên thay.
Mậu hầu năm thứ bảy, tương đương năm Lỗ Ẩn công thứ nhất. Năm thứ mười tám thì Mậu hầu chết, con là Tuyên hầu lên thay. Tuyên hầu đến năm thứ mười ba thì chết, con là Hoàn hầu lên thay. Hoàn hầu đến năm thứ bảy thì chết, con là Trang công lên thay.
Trang công năm thứ mười hai, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Năm thứ mười sáu, cùng nước Tống, nước Vệ thảo phạt Chu Huệ vương, Huệ vương chạy ra đất Ôn, lập em Huệ vương là Đồi lên làm Chu vương. Năm thứ mười bảy, nước Trịnh bắt Yên Trọng Phủ rồi đưa Huệ vương về Chu. Năm thứ hai mươi bảy, Sơn Nhung đến xâm phạm nước Yên, Tề Hoàn công cứu nước Yên, sau đó tiến lên phía bắc thảo phạt Sơn Nhung rồi kéo về. Vua Yên đưa tiễn Tề Hoàn công ra khỏi biên cảnh, Hoàn công nhân đó cắt đất chỗ vua Yên đặt chân đến cho nước Yên, khiến nước Yên cùng được triều cống thiên tử như chức phận thời Thành Chu; khiến nước Yên
khôi phục pháp độ của Thiệu công. Năm thứ ba mươi ba, [Trang công] chết, con là Tương công lên thay.
Tương công năm thứ hai mươi sáu, Tấn Văn công hội minh Tiễn Thổ, xưng bá. Năm thứ ba mươi mốt, quân Tần thua trận ở Hào Sơn. Năm thứ ba mươi bảy, Tần Mục công chết. Năm thứ bốn mươi, Tương công chết, Hoàn công lên thay.
Hoàn công đến năm thứ mười sáu thì chết, Tuyên công lên thay. Tuyên công đến năm thứ mười lăm thì chết, Chiêu công lên thay. Chiêu công đến năm thứ mười ba thì chết, Vũ công lên thay. Năm đó nước Tấn diệt ba đại phu họ Khích*.
Vũ công đến năm thứ mười chín thì chết, Văn công lên thay. Văn công đến năm thứ sáu thì chết, Ý công lên thay. Ý công năm đầu, Thôi Trữ nước Tề giết vua nước mình là Trang công. Năm thứ tư [Vũ công] chết, con là Huệ công lên thay.
Huệ công năm đầu, Cao Chỉ nước Tề chạy sang [nước Yên]. Năm thứ sáu, Huệ công có nhiều sủng thần, Huệ công muốn bãi truất các đại phu để lập sủng thần là Tống, các đại phu cùng giết sủng thần là Tống, Huệ công sợ hãi, chạy sang nước Tề. Năm thứ tư, Cao Yển nước Tề sang nước Tấn, đề nghị cùng thảo phạt nước Yên, để đưa [Huệ công] về nước. Tấn Bình công đồng ý, cùng nước Tề thảo phạt nước Yên, đưa Huệ công về nước. Huệ công đến nước Yên thì chết. Nước Yên lập Điệu Công lên ngôi.
Điệu công đến năm thứ bảy thì chết, Cung công lên thay. Cung công đến năm thứ năm thì chết, Bình công lên thay. Công thất nước Tấn suy yếu, Lục khanh bắt đầu lớn mạnh. Bình công năm thứ mười tám, Ngô vương Hạp Lư đánh phá nước Sở, tiến vào Dĩnh đô. Năm thứ mười chín, [Bình công] chết, Giản công lên thay. Giản công đến năm thứ mười hai thì
chết, Hiến công lên thay. Triệu Ưởng nước Tấn bao vây họ Phạm và họ Trung Hàng ở Triều Ca. Hiến công năm thứ mười hai, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công. Năm thứ mười bốn, Khổng tử chết. Năm thứ hai mươi tám, Hiến công chết, Hiếu công lên thay.
Hiếu công năm thứ mười hai, nước Hàn, nước Ngụy, nước Triệu diệt Trí bá, chia nhau đất của Trí bá, Tam Tấn hùng mạnh.
Năm thứ mười lăm, Hiếu công chết, Thành công lên thay. Thành công đến năm thứ mười sáu thì chết, Mẫn công lên thay. Mẫn công đến năm thứ ba mươi mốt thì chết, Hy công lên thay. Năm ấy, Tam Tấn được liệt vào hàng chư hầu.
Hy công năm thứ ba mươi, đánh bại nước Tề ở Lâm Doanh. Hy công chết, Hoàn công lên thay. Hoàn công đến năm thứ mười một thì chết, Văn công lên thay. Năm ấy, Tần Hiến công chết. Nước Tần ngày càng mạnh.
Văn công năm thứ mười chín, Tề Uy vương chết. Năm thứ hai mươi tám, Tô Tần mới được bái kiến, du thuyết Văn công. Văn công cấp xe ngựa vàng lụa cho [Tô Tần] sang nước Triệu, Triệu Túc hầu trọng dụng Tô Tần. Nhân đó lập ước sáu nước, [Tô Tần] là trưởng tung ước. Tần Huệ vương đem con gái của mình gả cho Thái tử nước Yên.
Năm thứ hai mươi chín, Văn công chết, Thái tử lên ngôi, đó là Dịch vương.
Dịch vương mới lên ngôi, Tề Tuyên vương nhân khi nước Yên có tang liền thảo phạt nước Yên, chiếm mười thành; Tô Tần du thuyết nước Tề, khiến [nước Tề] trả lại mười thành cho nước Yên. Năm thứ mười, Yên quân xưng vương. Tô Tần tư thông với phu nhân của Yên Văn công, sợ bị
giết, bèn nói với Dịch vương cho sang làm phản gián ở Tề, muốn làm Tề rối loạn. Dịch vương lên ngôi được mười hai năm thì chết, con là Yên Khoái lên thay.
Sau khi Yên Khoái lên ngôi, người Tề giết Tô Tần. Lúc Tô Tần còn ở nước Yên, có kết thông gia với Tướng quốc Tử Chi*, còn Tô Đại* cũng kết giao với Tử Chi. Đến khi Tô Tần chết, Tề Tuyên vương lại trọng dụng Tô Đại. Yên Khoái năm thứ ba, cùng nước Sở, Tam Tấn tấn công nước Tần, không thắng được phải rút về. Tử Chi làm Tướng quốc nước Yên, quyền cao chức trọng, quyết đoán mọi việc. Tô Đại vì nước Tề nên đi sứ sang nước Yên, Yên vương hỏi rằng: “Tề vương thế nào?” Đáp rằng: “Nhất định không thể xưng bá.” Yên vương hỏi: “Tại sao?” Đáp rằng: “Không tin bề tôi của mình.” Tô Đại muốn [dùng cách đó] khích Yên vương để khiến Tử Chi được trọng vọng. Thế là Yên vương càng tín nhiệm Tử Chi. Nhân đó Tử Chi tặng trăm dật vàng cho Tô Đại, rồi nghe theo chỉ dẫn của Tô Đại.
Lộc Mao Thọ nói với Yên vương rằng: “Chi bằng đem quốc gia nhường cho Tướng quốc Tử Chi. Người ta nói Nghiêu là bậc hiền, là vì đem thiên hạ nhường cho Hứa Do, Hứa Do không nhận, [vua Nghiêu] được tiếng nhường thiên hạ mà thực không hề mất thiên hạ. Nay nhà vua đem đất nước nhường cho Tử Chi, Tử Chi ắt không dám nhận, thế là nhà vua được liệt ngang hàng với vua Nghiêu vậy.” Yên vương nhân đó phó thác quốc gia cho Tử Chi, Tử Chi càng được tôn quý. Có người nói: “Hạ Vũ tiến cử Bá Ích, rồi cho Khải* làm chức lại. Khi về già, lại cho là Khải không đủ khả năng đảm nhiệm trọng trách trị thiên hạ, bèn truyền ngôi cho Ích. Thế rồi phải cùng bè đảng tấn công Ích, chiếm đoạt ngôi vị. Thiên hạ nói rằng, danh nghĩa Vũ truyền thiên hạ cho Ích, nhưng thực chất là khiến
cho Khải tự cướp lấy. Nay nhà vua nói giao nước cho Tử Chi, nhưng đám quan lại không ai không phải bề tôi của Thái tử, như thế danh nghĩa là giao cho Tử Chi mà thực chất để Thái tử trị lý vậy.” Yên vương nhân đó thu ấn tín của quan lại từ ba trăm thạch trở lên rồi giao cho Tử Chi. Tử Chi quay mặt về phía nam thi hành chính sự của nhà vua, còn Khoái cao tuổi nên không nghe chính sự, nguyện làm bề tôi, việc nước đều do Tử Chi quyết định.
Năm thứ ba, trong nước đại loạn, trăm họ đau buồn sợ sệt. Tướng quân Thị Bị cùng Thái tử Bình bàn mưu, định tấn công Tử Chi. Các tướng nói với Tề Mẫn vương rằng: “Nhân dịp này tiến sang, ắt phá được nước Yên.” Tề vương nhân đó sai người nói với Thái tử Bình nước Yên rằng: “Quả nhân nghe nói về nghĩa khí của Thái tử, muốn bỏ tư theo công, tô điểm cho nghĩa quân thần, làm sáng địa vị cha con. Nước của quả nhân nhỏ bé, không đủ để trọn trước vẹn sau. Dẫu vậy, cũng chỉ xin nghe theo mệnh lệnh của Thái tử.” Thái tử nhân đó mới muốn tụ tập vây cánh, [ra lệnh cho] tướng quân Thị Bị bao vây vương cung, tấn công Tử Chi, [nhưng] không hạ được. Tướng quân Thị Bị cùng trăm họ quay lại tấn công Thái tử Bình, tướng quân Thị Bị chết, bị đem để thị chúng. Nhân đó chiến loạn liền mấy tháng, người chết mấy vạn, ai nấy thảy đều sợ sệt, trăm họ nhân tâm ly tán. Mạnh Kha nói với Tề vương rằng: “Nay thảo phạt nước Yên, là thời cơ của vua Văn vua Vũ [phạt Trụ] đấy, không thể để lỡ.” Tề vương liền lệnh cho Chương Tử đem quân của năm đô thành*, lại dựa vào quân ở biên giới phía bắc để sang thảo phạt nước Yên. Quân sĩ nước Yên không chịu đánh, cổng thành cũng không đóng, Yên quân Khoái chết, nước Tề thắng lớn. Tử Chi nước Yên chết, hai năm sau thì người Yên cùng lập Thái tử Bình lên ngôi, đó là Yên Chiêu vương.
Yên Chiêu vương lên ngôi sau khi nước Yên bị đánh phá, mới hạ mình dùng hậu lễ để vời gọi người hiền. [Chiêu vương] nói với Quách Ngỗi rằng: “Nước Tề nhân lúc nước của cô* có loạn mà đánh úp phá nước Yên, cô vốn rất biết nước Yên nhỏ bé sức lực yếu ớt, không đủ khả năng báo thù. Thế nhưng thực tâm muốn có được bậc hiền sĩ để chung lo việc nước, đặng rửa mối nhục của tiên vương, đó là tâm nguyện của cô vậy. Tiên sinh thấy ai có tài năng, [cô sẽ] đích thân phụng thờ người đó.” Quách Ngỗi đáp: “Nhà vua nhất định muốn chiêu vời hiền sĩ, trước hết hãy bắt đầu từ Ngỗi. [Ngỗi này còn được trọng dụng], huống chi người hiền năng hơn Ngỗi, [vậy thì họ] há coi ngàn dặm là xa xôi ư?”* Thế là Chiêu vương dựng lại cung thư cho Ngỗi, thờ như bậc thầy. Nhạc Nghị từ nước Ngụy sang, Trâu Diễn từ nước Tề tới, Kịch Tân từ nước Triệu qua, kẻ sĩ tranh nhau sang nước Yên. Yên vương điếu viếng người chết, thăm hỏi kẻ côi cút, chung ngọt bùi đắng cay với trăm họ.
Năm thứ hai mươi tám, nước Yên giàu mạnh, sĩ tốt nhàn nhã yên vui, coi đánh trận là việc nhẹ nhàng, thế rồi bèn dùng Nhạc Nghị làm Thượng tướng quân, cùng nước Tần, nước Sở và Tam Tấn hợp mưu để thảo phạt nước Tề. Quân Tề thua trận, Mẫn vương chạy trốn khỏi nước. Riêng quân Yên truy đuổi lên phía bắc, tiến vào tới Lâm Truy, thu hết bảo vật nước Tề, thiêu rụi cung thất, tông miếu. Những thành ấp của nước Tề chưa bị hạ chỉ còn có Liêu, Cử và Tức Mặc, còn lại đều thuộc về nước Yên, cứ thế trong sáu năm liền.
Chiêu vương năm thứ ba mươi ba thì chết, con là Huệ vương lên thay. Lúc Huệ vương còn là Thái tử, đã có hiềm khích với Nhạc Nghị; đến khi lên ngôi, nghi ngờ Nhạc Nghị, sai Kỵ Kiếp làm tướng thay [Nhạc Nghị]. Nhạc Nghị trốn sang nước Triệu. Điền Đan nước Tề dựa vào Tức
Mặc đánh bại quân Yên, Kỵ Kiếp chết, quân Yên kéo về, nước Tề thu lại được hết thành trì cũ của mình. [Tề] Mẫn vương chết ở ấp Cử, bèn lập người con làm Tương vương.
Huệ vương năm thứ bảy thì chết. Nước Hàn, nước Ngụy, nước Sở cùng thảo phạt nước Yên. Yên Vũ Thành vương lên ngôi. Vũ Thành vương năm thứ bảy, Điền Đan nước Tề thảo phạt nước Yên, hạ được Trung Dương. Năm thứ mười ba, nước Tần đánh bại hơn bốn mươi vạn quân Triệu ở Trường Bình. Năm thứ mười bốn, Vũ Thành vương chết, con là Hiếu vương lên thay.
Hiếu vương năm đầu, quân Tần đang bao vây Hàm Đan, giải vây rút về. [Hiếu vương] năm thứ ba thì chết, con là Kim vương* Hỷ lên ngôi. Kim vương Hỷ năm thứ tư, Tần Chiêu vương chết. Yên vương sai Tướng quốc Lật Phúc kết ước hòa hiếu với nước Triệu, dùng năm trăm dật vàng bày tiệc chúc rượu Triệu vương. [Lật Phúc] về báo Yên vương rằng: “Quân của Triệu vương, người khỏe mạnh đều chết ở Trường Bình, con côi của họ chưa lớn, có thể thảo phạt được.” Yên vương triệu Xương Quốc quân Nhạc Can* đến hỏi về việc phạt Triệu. [Nhạc Can] đáp rằng: “Triệu là nước bốn phía phải đối diện với chiến tranh*, dân nước đó quen việc binh đao, không thể thảo phạt được.” Yên vương nói: “Ta lấy năm chọi một.” Đáp rằng: “Không được.” Yên vương tức giận, quần thần đều cho là có thể đánh được. Rốt cuộc phái hai đạo quân*, hai nghìn cỗ chiến xa, Lật Phúc làm tướng, rồi tấn công đất Hạo, Khanh Tần tấn công đất Đại. Chỉ mình Đại phu Tướng Cừ nói với Yên vương rằng: “Cùng với người ta thông quan ải, lập giao ước, đem năm trăm dật vàng chúc rượu vua của họ, sứ giả về báo liền trở mặt tấn công, điềm không tốt lành, quân sẽ không thành công.” Yên vương không nghe, đích thân dẫn một cánh
quân khác đi theo. Tướng Cừ kéo dây thao đỏ [buộc ấn tín] của Yên vương lại nói: “Đại vương quyết không được qua đó, có qua cũng không thể thành công.” Yên vương giơ chân đá [Tướng Cừ]. Tướng Cừ khóc nói: “Thần không vì bản thân, chỉ vì đại vương thôi!” Quân Yên đến Tống Tử, nước Triệu sai Liêm Pha làm Tướng quân, đánh úp phá được Lật Phúc tại đất Hạo. Nhạc Thừa phá được Khanh Tần ở đất Đại. Nhạc Can chạy sang nước Triệu. Liêm Pha truy kích hơn năm trăm dặm, bao vây nước Yên. Người Yên xin hòa, người Triệu không cho, khăng khăng đòi Tướng Cừ ra khu xử mới cho hòa. Nước Yên phong Tướng Cừ làm Tướng quốc để ra nghị hòa. Nước Triệu nghe theo Tướng Cừ, giải vây nước Yên.
Năm thứ sáu, nước Tần diệt Đông Chu, đặt thành quận Tam Xuyên. Năm thứ bảy, nước Tần đánh hạ ba mươi bảy thành ở Du Thứ của nước Triệu, nước Tần đặt làm quận Đại Nguyên. Năm thứ chín, Tần vương Chính mới lên ngôi. Năm thứ mười, nước Triệu sai Liêm Pha làm tướng tấn công Phồn Dương, hạ được Phồn Dương. Hiếu Thành vương nước Triệu chết, Điệu Tương vương lên thay. [Điệu Tương vương] sai Nhạc Thừa thay Liêm Pha, Liêm Pha không nghe, bèn tấn công Nhạc Thừa, Nhạc Thừa bỏ chạy, Liêm Pha cũng chạy sang Đại Lương. Năm thứ mười hai, nước Triệu sai Lý Mục tấn công nước Yên, hạ được đất Vũ Toại và Phương Thành. Kịch Tân vốn ở nước Triệu, thân thiết với Bàng Huyên, sau đó trốn chạy sang nước Yên. Nước Yên thấy nước Triệu nhiều lần bị khốn đốn bởi quân Tần, còn Liêm Pha đã bỏ đi, [Điệu Tương vương lại] lệnh Bàng Huyên làm tướng, [nước Yên] muốn nhân lúc nước Triệu mỏi mệt mà tấn công. [Yên vương] hỏi Kịch Tân, Tân đáp: “Bàng Huyên dễ đối phó thôi.” Nước Yên sai Kịch Tân làm tướng đánh nước Triệu, nước Triệu sai Bàng Huyên đánh lại quân Yên, bắt được hai vạn quân Yên, giết
chết Kịch Tân. Nước Tần hạ được hai mươi thành của nước Ngụy, đặt làm Đông Quận. Năm thứ mười chín, nước Tần hạ được chín thành ở đất Nghiệp của nước Triệu. Triệu Điệu Tương vương chết. Năm thứ hai mươi ba, Thái tử Đan làm con tin ở nước Tần, trốn về nước Yên. Năm thứ hai mươi lăm, nước Tần bắt sống Hàn vương An, diệt nước Hàn, lập thành quận Dĩnh Xuyên. Năm thứ hai mươi bảy, nước Tần bắt sống Triệu vương Thiên, diệt nước Triệu. Công tử nước Triệu là Gia tự lập làm Đại vương.
Nước Yên thấy nước Tần sắp diệt sáu nước, quân Tần áp sát Dịch Thủy, họa sắp đến nước Yên. Thái tử Đan ngầm nuôi hai mươi tráng sĩ, sai Kinh Kha dâng địa đồ Đốc Cang* sang nước Tần, nhân đó bất ngờ hành thích Tần vương. Tần vương biết âm mưu đó, giết Kha, sai Tướng quân Vương Tiễn đánh nước Yên. Năm thứ hai mươi chín, nước Tần đánh hạ thành Kế của nước Yên, Yên vương bỏ trốn, rời đến sống tại Liêu Đông, chém Thái tử Đan rồi dâng đầu cho nước Tần. Năm thứ ba mươi, nước Tần diệt nước Ngụy.
Năm thứ ba mươi ba, nước Tần đánh hạ Liêu Đông, bắt sống Yên vương Hỉ, rốt cục diệt nước Yên. Năm đó, tướng Tần là Vương Bôn* cũng bắt sống được Đại vương Gia.
Thái sử công bàn rằng: Thiệu Công Thích khá gọi là người có đức nhân đấy! Cây cam đường mà người ta còn nhớ đến, huống chi là người ư? Nước Yên phía ngoài kề sát người Man Lạc*, trong thì xen với nước Tề nước Tấn, ở khoảng gập ghềnh hiểm trở giữa các nước mạnh, là nước rất đỗi nhỏ yếu, mấy lần tưởng chừng bị diệt rồi. Nhưng xã tắc được
hưởng huyết thực tám chín trăm năm, là nước duy nhất bị diệt sau các nước chư hầu họ Cơ, há không phải là nhờ huấn nghiệp của Thiệu công ư!
QUYỂN 35
QUẢN, SÁI THẾ GIA
Quản Thúc Tiên, Sái Thúc Độ là con của Chu Văn vương, em của Vũ vương. Anh em cùng mẹ với Vũ vương có mười người. Mẹ là Thái Tự, chính phi của Văn vương. Con trưởng [của Thái Tự và Văn vương] là Bá Ấp Khảo, rồi đến Vũ vương Phát, Quản thúc Tiên, Chu công Đán, Sái Thúc Độ, Tào Thúc Chấn Đạc, Thành Thúc Vũ, Hoắc Thúc Xử, Khang thúc Phong, Nhiễm Quý Tải. Nhiễm Quý Tải là con út. Anh em cùng mẹ mười người, nhưng chỉ có Phát và Đán là hiền năng, làm tả hữu phụ bật cho Văn vương, cho nên Văn vương bỏ Bá Ấp Khảo mà lấy Phát làm Thái tử. Đến khi Văn vương băng hà thì Phát lên ngôi, đó là Vũ vương. Bá Ấp Khảo đã chết từ trước đó.
Sau khi Vũ vương đánh thắng vua Trụ nhà Ân, bình định thiên hạ, phân phong cho bề tôi có công và các em. Thế rồi phong cho Thúc Tiên đất Quản, Thúc Độ đất Sài: hai người phụ tá con trai vua Trụ là Vũ Canh Lộc Phủ, cai trị di dân của nhà Ân. Phong cho Thúc Đán đất Lỗ để phò tá nhà Chu, đó là Chu công. Phong cho Thúc Chấn Đạc đất Tào, phong cho Thúc Vũ đất Thành, phong cho Thúc Xử đất Hoắc, Khang thúc Phong và Nhiễm Quý Tải đều còn nhỏ, chưa được phân phong.
Sau khi Vũ vương băng hà, Thành vương còn nhỏ, Chu công Đán nắm đại quyền trong vương thất. Quản thúc, Sái thúc ngờ Chu công sẽ làm
"""