🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Đẩy Mạnh Đấu Tranh Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Trên Lĩnh Vực Tư Tưởng Văn Hóa Ebooks Nhóm Zalo Chịu trách nhiệm xuất bản: GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN Chịu trách nhiệm nội dung: PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP ThS. PHẠM THỊ THINH Biên tập nội dung: TS. VÕ VĂN BÉ TS. HOÀNG MẠNH THẮNG ThS. VŨ PHƯƠNG HÀ TRẦN TRUNG THÀNH ThS. PHẠM THỊ NGỌC AN ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ Trình bày bìa: HÀ LAN Chế bản vi tính: NGUYỄN THU THẢO Đọc sách mẫu: PHẠM THỊ NGỌC AN BÍCH LIỄU Số đăng ký kế hoạch xuất bản: …-2021/CXBIPH/..-…/CTQG. Số quyết định xuất bản: …-QĐ/NXBCTQG, ngày ../../2021. Nộp lưu chiểu: tháng .. năm 2021. Mã ISBN: 978-604-57-….-... Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam §Èy m¹nh ®Êu tranh chèng "diÔn biÕn hoμ b×nh" trªn lÜnh vùc t− t−ëng, v¨n ho¸. - H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2018. - 464tr. ; 21cm §TTS ghi: Côc Tuyªn huÊn. B¸o Qu©n ®éi nh©n d©n 1. DiÔn biÕn hoμ b×nh 2. T− t−ëng 3. V¨n ho¸ 4. ViÖt Nam 320.4597 - dc23 CTF0329p-CIP 2 Chỉ đạo xuất bản THỦ TRƯỞNG TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ Chỉ đạo nội dung Thiếu tướng PHẠM VĂN HUẤN - Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân Thiếu tướng HỒ BÁ VINH - Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổ chức thực hiện Đại tá PHÙNG KIM LÂN Đại tá TRẦN ANH TUẤN Đại tá, TS. NGUYỄN NHƯ TRÚC Thượng tá TẠ VĂN THIỆN 4 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh việc chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Lợi dụng những thiếu sót của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo, điều hành, các thế lực thù địch đã dùng nhiều mưu mô xảo quyệt, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên nhiều lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Việc chống phá của các thế lực thù địch có tính chất hệ thống, vừa thường xuyên, vừa rộ lên theo từng đợt nhân các sự kiện lớn của đất nước, với nhiều chiêu trò tinh vi, xảo trá. Để đập tan những mưu đồ ấy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tích cực tuyên truyền, giáo dục không ngừng nâng cao bản lĩnh, nhận thức chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Các cơ quan báo chí, truyền thông quân đội đã triển khai, thực hiện hiệu quả nhiều biện pháp, kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, đồng thời không ngừng củng cố niềm tin trong quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Những bài viết với cứ liệu xác đáng, lập luận chặt chẽ, khoa học, được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng có uy tín, đã trở thành vũ khí sắc bén tiến công trực tiếp vào những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. 5 Tuy nhiên, đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng là cuộc đấu tranh trường kỳ, đầy cam go, phức tạp. Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” đã khó, nhưng đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn khó hơn nhiều. Bởi đây là một cuộc đấu tranh với chính bản thân và với đồng chí, đồng đội của mình, nhằm loại bỏ những suy nghĩ lệch lạc, những hành vi sai trái, thiếu chuẩn mực đang tiềm ẩn trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, sự tôn nghiêm của pháp luật nhà nước. Để cung cấp thêm các cứ liệu tin cậy cho bạn đọc nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn trong cuộc đấu tranh này, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị phối hợp với Báo Quân đội nhân dân biên soạn cuốn sách Đẩy mạnh đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Cuốn sách bao gồm một số bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà báo có kinh nghiệm trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Hy vọng cuốn sách sẽ là một tư liệu bổ ích, giúp cho độc giả có cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng các giải pháp ngăn chặn hiệu quả những mưu đồ của chúng, ngày càng củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Tuy đã rất cố gắng, nhưng cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc. Tháng 1 năm 2018 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 6 Phần thứ nhất ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC SỰ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH 7 8 ĐÒI TỪ BỎ CHỦ NGHĨA Xà HỘI LÀ MỘT SAI LẦM LỚN HÀ ĐĂNG* S ự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 là một cơn “động đất chính trị” lớn của thế kỷ XX. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới xã hội chủ nghĩa và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa. Các ông trùm chiến lược, chiến lược gia và chính khách cỡ bự của chủ nghĩa tư bản đều vỗ tay ăn mừng cho rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng chủ nghĩa xã hội sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ XX. Song Đảng ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại ____________ * Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương. 9 sẽ giữ vững trận địa, các đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới và xu thế xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục đi lên dưới hình thức này hay hình thức khác. Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Chủ nghĩa xã hội không hề diệt vong. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung - Nam Mỹ đã phát sinh phong trào xã hội chủ nghĩa kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Vênêduêla rồi lan ra một số nước khác, nay tuy đang gặp nhiều khó khăn và có bước thụt lùi. Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của nó cũng lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế”, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau. Điểm qua như thế để thấy rõ rằng, gần 30 năm qua, xung quanh vấn đề theo hay không theo chủ nghĩa xã hội, diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội ở nước ta cũng không thuần nhất mà khá phức tạp. 10 Để góp phần phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, gần đây, ban tổ chức một hội thảo có đề nghị tôi viết tham luận nội dung phê phán quan điểm cho rằng “chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội”. Tôi nghĩ, quan điểm sai trái này không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...”. Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành “phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, có người mang danh đảng viên còn trắng trợn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (1930) mà là từ Hội nghị Tua (1921). Quan điểm cho rằng “chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội” là sai lầm. Sai lầm ít nhất là ở mấy điểm sau đây: 11 Về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu 1. Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. 2. Chế độ Xôviết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (1917) và sau này trên toàn Liên bang Xôviết, đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị - xã hội trước đó. Chính quyền Xôviết thực sự là chính quyền của công, nông, binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức - Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xôviết ngộ nhận là chủ nghĩa xã hội đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xôviết cũng đã bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn 12 những gì chế độ Xôviết đã đạt được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử. 3. Sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng, chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xôviết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xôviết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử. 4. Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên (tuy chưa hết), còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chúng đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong khi lãnh đạo Liên Xô chủ trương thi đua hòa bình thì chúng một mặt đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác đề ra chiến lược “diễn biến hòa bình” để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh và súng đạn. Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này mà không tự giác phát hiện. 13 Về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 5. Ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới cộng sản chủ nghĩa”. Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên chủ nghĩa xã hội. 88 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó? 6. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là mô hình Xôviết của Liên Xô bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Bác Hồ từng nói, Bác chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta được tự do, hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chủ nghĩa xã hội đối với Bác là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, 14 văn minh. Nhầm lẫn mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với mô hình Xôviết là một sự sai lầm lớn. 7. Vào những năm Liên Xô và Đông Âu tiến hành cải tổ và cải cách, Việt Nam cũng đề ra đường lối đổi mới. Những nhân tố đầu tiên của đổi mới xuất hiện từ những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhưng đổi mới toàn diện, trở thành đường lối chính thức của Đảng ta vào cuối năm 1986, theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Đổi mới của chúng ta không đi theo vết xe đổ của cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu. Đảng ta đã nêu rõ 6 nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới nhưng không đổi màu là nguyên tắc đầu tiên. Chúng ta cũng bác bỏ quan điểm cho rằng “đổi mới là nửa vời, không nhất quán”. Sự thật là đổi mới của chúng ta qua 30 năm đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm cho Việt Nam càng vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý. 8. Tổng kết 30 năm đổi mới cho thấy: Nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và 15 Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”1. Cương lĩnh nêu lên 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng, trong đó 3 đặc trưng đầu tiên là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp... Thử hỏi con đường độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội xán lạn như vậy tại sao ta phải từ bỏ chỉ vì mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ? Trong khi nêu lên 8 sai lầm như trên, tôi muốn đặt ra câu hỏi đối với các tác giả đòi chúng ta từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, ý đồ thực sự của các vị phía sau đòi hỏi này là gì? ____________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70. 16 BẢN CHẤT, TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VÂN HÀ N ăm 2017 lợi dụng việc một vài cá nhân tự nguyện xin ra khỏi Đảng, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị lại được dịp “đục nước béo cò”, thông qua một số trang điện tử và mạng xã hội để xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với những giọng điệu hết sức hằn học theo kiểu “bới lông tìm vết”, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị ra sức cổ súy, cho rằng việc xin ra khỏi Đảng của một vài cá nhân là “hết sức đúng đắn”, “là sự tỉnh táo”, “là những người có danh dự”... Trước hết cần nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về việc một số cá nhân xin ra khỏi Đảng thời gian qua và âm mưu lợi dụng xuyên tạc nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị. Điểm qua tên tuổi những người xin ra khỏi Đảng được những kẻ rắp tâm hại Đảng, hại dân liệt kê trong 17 các bài viết đăng trên một số trang báo điện tử ở nước ngoài, hoặc qua mạng xã hội thì việc xin ra khỏi Đảng của họ cũng không khó hiểu. Không phải đến bây giờ, những người một thời mang danh đảng viên mới bộc lộ tư tưởng, mà một thời gian dài, họ đã lợi dụng dân chủ để nói và viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng; trái với chủ trương, chính sách của Nhà nước; trái với nguyện vọng và tình cảm của tuyệt đại đa số nhân dân. Sau khi được một vài trang báo nước ngoài cổ súy, được một số kẻ lưu vong, nhất là tổ chức Việt Tân “hà hơi”, số người này ảo tưởng cho rằng, tiếng nói của mình là quan trọng, là “khuôn vàng, thước ngọc” có thể từ đó tạo dựng nên một xã hội tốt đẹp (!). Việc những người từng mang danh đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái với quan điểm, đường lối của Đảng không phải mới diễn ra, mà đã kéo dài trong nhiều năm. Nhưng với bản chất tốt đẹp, nhân nghĩa, trên tình đồng chí, đồng đội, các tổ chức đảng và đảng viên đã có nhiều biện pháp giúp đỡ để họ nhận ra lỗi lầm, mà sửa chữa, phấn đấu. Tuy nhiên, khi họ đã cố tình đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc, thì sự giúp đỡ dù chân tình đến đâu cũng đều không mang lại hiệu quả. Với bản chất và truyền thống cách mạng, một chính đảng chỉ biết chiến đấu, hy sinh vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trân trọng, ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp công sức, trí tuệ của từng cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. 18 Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không dung túng, mà luôn xử lý nghiêm minh với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có suy nghĩ, hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đó cũng là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới. Vì vậy, những đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái ngược nhằm mục đích chống phá Đảng, chống phá Nhà nước phải sớm bị loại ra khỏi hàng ngũ của Đảng. Cần nói thêm rằng, mọi công dân Việt Nam, trước khi vào Đảng đều được tham gia những lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng. Thông qua những lớp học này giúp những quần chúng ưu tú có động cơ phấn đấu vào Đảng nắm chắc và hiểu rõ được bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng, mục tiêu của Đảng; đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mình khi trở thành đảng viên. Ngay ở Chương 1, Điều 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, thể hiện sự tự nguyện của đảng viên: 1- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật 19 thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. 2- Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng. Có thể thấy trách nhiệm, nghĩa vụ và sự tự nguyện cống hiến, hy sinh của người đảng viên đối với Tổ quốc, với dân tộc và nhân dân là rất rõ ràng. Bởi vậy, những ai tự nhận thấy mình không còn đủ tư cách, trí tuệ và năng lực; cũng như không chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thì việc tự nguyện xin ra khỏi Đảng là điều nên làm và đó là việc làm bình thường. Mặt khác, theo quy luật chọn lọc tự nhiên thì mọi tổ chức, mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển không ngừng. Theo đó, những nhân tố không còn phù hợp, hoặc không đáp ứng được yêu cầu, sớm muộn cũng bị đào thải, loại bỏ. Sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên đó. Vì vậy, những đảng viên không còn thấy mình xứng đáng đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản tiên phong; không còn đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, nhất là những người “mang danh đảng viên” nhưng có tư tưởng đi ngược lại lợi ích của Đảng, của dân tộc thì tốt hơn hết là tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Việc những người này sớm rút ra khỏi đội ngũ 20 không làm cho Đảng yếu đi, mà càng làm cho Đảng thêm trong sạch, vững mạnh. Cần nói thêm rằng, không phải ai xin ra khỏi Đảng cũng là hết tình yêu với Đảng, mà không ít đảng viên do điều kiện, hoàn cảnh gia đình hay cá nhân, hoặc do tuổi cao, sức yếu; cũng có những người tự thấy mình không còn xứng đáng với danh hiệu đảng viên, nên tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Đó là những người có danh dự, thể hiện phẩm giá cá nhân và không thể “vơ đũa cả nắm” xếp họ cùng những người “mang danh đảng viên” nhưng đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “... trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng... Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác. Hễ có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục... số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài...”1. Thực tiễn xã hội Việt Nam có rất nhiều điều để dẫn chứng, để khẳng định việc tuyệt đại đa số người dân, ____________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.14, tr.148-149. 21 không chỉ riêng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng vào Đảng, nguyện đi theo Đảng. Niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với Đảng Cộng sản Việt Nam được xây đắp, thử thách thông qua thực tiễn cách mạng. Kể từ khi được thành lập cho tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục tiêu nào khác là phấn đấu, hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Vì vậy, bất kỳ đảng viên nào, dù ở cương vị nào, nếu thấy mình không đủ dũng khí, phẩm chất để hy sinh, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc thì việc xin ra khỏi Đảng là điều cần thiết. Bởi, “vào Đảng là để làm đầy tớ phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp...”. Đó vừa là mục tiêu luôn hướng tới, vừa là bản chất, truyền thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được. 22 PHÍA SAU NHỮNG “THƯ NGỎ”, “TÂM THƯ” ĐÒI XÓA BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG Đại tá, PGS. TS. ĐINH NGỌC HOA C ứ gần đến những ngày kỷ niệm lớn hoặc có những sự kiện chính trị - xã hội quan trọng của đất nước là các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, những kẻ tự xưng “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam” lại tung lên các trang mạng, blog những bài viết dưới dạng “thư ngỏ”, “tâm thư” có nội dung sai trái, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Những năm qua, khi đất nước triển khai đưa Nghị quyết Đại hội XII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng vào cuộc sống, các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch lại tiếp tục rao thứ “bình cũ, rượu cũ” nhằm thực hiện những mưu toan chống phá Đảng, Nhà nước ta. I- Lật tẩy mặt nạ những “thư ngỏ”, “tâm thư” Trên một số trang mạng xã hội đăng tải các bài viết 23 dưới danh nghĩa “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư”... với nội dung chỉ trích, “kiến nghị” đòi hỏi vô lý, phi thực tế. Một số trích đoạn phơi bày cái gọi là “tâm huyết” của các tác giả, vẫn là những điệp khúc muôn thuở, nào là “sai lầm đường lối” của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; nào là “thể chế độc đảng toàn trị” nên “xã hội không có tự do, dân chủ”... Rồi có những người giả danh “tâm nguyện vì nước, vì dân” đưa ra mấy yêu cầu (thực chất là yêu sách) đòi Đảng Cộng sản Việt Nam “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”... Có thể thấy ngay dã tâm của họ qua những “tâm thư”, “tâm nguyện” đó chính là muốn quay lưng lại với con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đáng chú ý trong các hoạt động nêu trên là có sự tham gia, ký tên của một số người trước đó đã từng giữ cương vị lãnh đạo ở một số bộ, ngành; có người là nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ có tên tuổi, là đảng viên có nhiều năm tuổi Đảng... Điều này cho thấy, những “tâm nguyện”, “kiến nghị” đó không thể là do sự “ấu trĩ, mơ hồ” về chính trị - xã hội, về nhận thức tư tưởng, vì những người này đều có trình độ học vấn cao; cũng không phải do sự khác biệt về “chính kiến” bởi họ đều đã có quá trình lâu dài được Đảng và nhân dân nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào thì bản chất và mục đích thật sự của các “thư ngỏ”, “kiến nghị” đó rõ ràng 24 là phục vụ âm mưu đen tối của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị. Để tăng thêm “gia vị” cho các “tâm nguyện” và cũng để lôi kéo sự “đồng tình” của những người khác phục vụ cho động cơ, mục đích của mình, các đối tượng đã lợi dụng các vấn đề xã hội phức tạp như: Vụ việc Formosa xả thải (năm 2016); một số vụ án kinh tế lớn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, làm thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; một số cán bộ suy thoái... để từ đó “quy kết” hệ thống chính trị là “yếu kém” cả về trách nhiệm và năng lực, cho rằng Đảng “phải chịu trách nhiệm” về tình trạng nói trên. Thế nhưng, rõ ràng những “tâm thư”, “tâm nguyện”, luận điệu kể trên không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của số đông nhân dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cả phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử. Về phương diện lý luận, vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu lịch sử đương đại, C. Mác và Ph. Ăngghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng, quan điểm cơ bản đó trong điều kiện mới, V.I.Lênin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản, trong đó khẳng định, sự lãnh 25 đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Buông lỏng hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là phạm sai lầm từ nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của Nhà nước và hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội nổi dậy “cướp chính quyền”. Về phương diện thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam với truyền thống đoàn kết, thống nhất, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 30 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được củng cố, nâng cao. Về phương diện lịch sử, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam cũng có thời kỳ tồn tại đa đảng, nhưng sau đó các đảng khác đều tự giải tán do đã hoàn thành vai trò lịch sử và không còn cơ sở xã hội để tồn tại. Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam - đó là sản phẩm của sự lựa chọn mang tính khách quan của lịch sử dân tộc. Bài học rút ra từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ rằng, không cần thiết phải thực hiện “đa nguyên chính trị”. Và khẩu hiệu “đa đảng chính trị” chỉ là cái cớ để các thế lực thù 26 địch, phản động và cơ hội chính trị muốn loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm chuyển đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sang mô hình xã hội kiểu phương Tây, phá hoại sự ổn định của đất nước, xóa bỏ những thành quả mà giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc ta đã phải mất bao nhiêu xương máu mới giành được. Vấn đề cơ bản, quan trọng lúc này là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, bảo vệ Đảng, để Đảng luôn có đủ uy tín chính trị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử giao phó. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, cũng có những lúc Đảng phạm phải giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nhưng Đảng đã luôn nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Việc Đảng ta thẳng thắn thừa nhận và kiên quyết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và trách nhiệm cao của Đảng trước nhân dân, dân tộc. Vì vậy, không thể vin vào một số khuyết điểm, yếu kém hiện nay trong Đảng mà đánh giá sai bản chất của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Cũng không thể đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, từ đó quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Phủ nhận Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là phủ nhận một thực tế lịch sử, 27 phủ nhận một trong những trang hào hùng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam; là sự xúc phạm đến tình cảm và điều thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước. II- Bài học xuyên suốt: Xây dựng Đảng phải luôn gắn liền với chỉnh đốn Đảng và bảo vệ Đảng Đảng ta xác định: Xây dựng Đảng luôn gắn liền với chỉnh đốn Đảng và ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong Đảng là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt. Từ việc thẳng thắn nhìn vào sự thật, đánh giá: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”1, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã quyết định ban hành Nghị quyết “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, trong đó đã vạch rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chỉ ra mối nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng; sa ____________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.185. 28 sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc... Để bảo vệ Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết cần không ngừng củng cố, nâng cao uy tín chính trị của Đảng. Uy tín chính trị của Đảng được hình thành, củng cố, được khẳng định trước hết qua năng lực lãnh đạo chính trị của Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Nâng cao uy tín chính trị của Đảng là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng nhất nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Năng lực lãnh đạo chính trị thể hiện trước hết Đảng có khả năng vạch ra cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn để lãnh đạo đất nước, dẫn dắt cả dân tộc đi lên, tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối. Mặt khác, Đảng phải làm tốt công tác tư tưởng, chính trị, tạo sự nhất trí cao và sự vững vàng về tư tưởng, chính trị trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, bao gồm cả việc cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối, chính sách, nghị quyết, công tác cán bộ, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát... Đi đôi với việc nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, Đảng ta cần đặc biệt coi trọng việc tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; xây dựng, củng cố Đảng về tổ chức, bảo đảm từng cơ sở đảng có sức chiến đấu cao. Trong đó, đặc biệt chú ý thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ 29 và củng cố hệ thống tổ chức của Đảng vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; chăm lo củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình thương yêu đồng chí. Đồng thời, toàn Đảng và mọi đảng viên phải chú trọng liên hệ chặt chẽ với nhân dân; phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân là một trong những nhân tố quyết định tạo ra sức mạnh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Đảng phải không ngừng tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề này lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì như V.I.Lênin chỉ rõ, một trong những nguy cơ lớn nhất và đáng sợ nhất đối với một đảng cầm quyền là Đảng tự cắt đứt mối liên hệ với quần chúng nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam 88 năm qua (1930-2018), Đảng đã luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; nhân dân luôn tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, ủng hộ Đảng, theo Đảng làm cách mạng, thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ mới, để không ngừng mở rộng và tăng cường mối liên hệ với nhân dân, Đảng cần chú ý ngăn ngừa, kiên quyết xử lý, khắc phục những khuyết điểm chủ quan, như: Tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền; 30 những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, sách nhiễu nhân dân... Uy tín của Đảng được khẳng định, niềm tin của nhân dân được nâng cao - là cơ sở quan trọng, vững chắc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng là cần chú ý xây dựng những cơ chế, quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và các đoàn thể quần chúng thường xuyên tham gia các công việc của Đảng, đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng, qua đó góp phần bảo vệ và nâng cao uy tín của Đảng. Nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của bộ máy đảng và nhà nước là một nhu cầu thiết yếu của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đồng thời để vừa nâng cao vai trò và vị thế làm chủ của nhân dân, vừa củng cố mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân. Yêu cầu này càng trở nên bức thiết hơn khi hiện nay vẫn còn một số đảng viên thiếu tu dưỡng rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, làm giảm lòng tin của nhân dân, gây bất bình trong dư luận xã hội. Mặt khác, phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, quản lý xã hội bằng pháp luật; kiên quyết xử lý khẩn trương những vụ việc đang gây bức xúc dư luận trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín chính trị của Đảng. Cấp ủy các cấp cần chỉ đạo rà soát đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường 31 hợp có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp. Chú trọng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Trong xử lý vi phạm cần kết hợp chặt chẽ giữa vận động, giáo dục với xử phạt nghiêm minh; kết hợp các biện pháp giáo dục, hành chính, pháp luật với định hướng dư luận để điều chỉnh hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, cần chú trọng kiểm tra ở những nơi có vấn đề nổi cộm qua phản ánh của báo chí và nhân dân; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng phải gắn với kiểm tra, giám sát cá nhân người đứng đầu; xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã chủ trương tiến hành kiểm tra, thanh tra nhiều lĩnh vực, những dự án có dấu hiệu vi phạm pháp luật, xem xét những cán bộ có dấu hiệu suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng. Đặc biệt, đã đưa ra xét xử một số vụ án lớn về kinh tế, được dư luận hoan nghênh. Điều đó cho thấy, cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “lợi ích nhóm”, nhằm làm trong sạch Đảng đã bước đầu được thực hiện một cách quyết liệt và được đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. 32 Cùng với đó, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, bọn phản động, số cơ hội chính trị và các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng. Đấu tranh với các hoạt động chống phá Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị là nhiệm vụ to lớn, phức tạp và khó khăn; quan hệ đến sinh mệnh chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng ta, tác động “diễn biến” và “tự diễn biến” về tư tưởng, chính trị, dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Nhiệm vụ chủ yếu của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chính trị là tăng cường giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn Đảng và trong toàn xã hội, trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan khoa học, có nhận thức chính trị nhạy bén, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định. Giáo dục lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức “đề kháng” cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, chủ động đối phó với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận để tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sáng tỏ những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra; cung cấp vũ khí lý luận sắc bén nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị cho 33 cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời phản bác có hiệu quả các luận điệu sai trái, thù địch. Đặc biệt, cần tập trung tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng chúng ta phải quyết tâm thực hiện bằng được, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng và chế độ ta. Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, điều mấu chốt là khâu tổ chức thực hiện, phải có những giải pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp tình hình thực tiễn và yêu cầu của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua những thử thách của lịch sử, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn biết tự đổi mới và đã đề ra đường lối đáp ứng yêu cầu trong từng giai đoạn lịch sử, phù hợp nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, tuân thủ quy luật khách quan của sự phát triển xã hội ngày nay. Một đảng như thế có đủ uy tín chính trị đảm đương vai trò là Đảng lãnh đạo duy nhất của đất nước, mà không cần có một lực lượng chính trị nào khác. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nhìn nhận lịch sử và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam một cách công tâm, khách quan. 88 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm nên những chiến thắng “lừng lẫy năm châu, 34 chấn động địa cầu”, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập, tự do; nay đất nước ta đang từng bước lớn mạnh sánh vai hội nhập với các nước trên toàn thế giới. Sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được lịch sử chứng minh và thực tiễn khẳng định. Vì vậy, những người đã từng là (và đang là) đảng viên của Đảng Cộng sản, nhưng nếu mơ hồ, mất cảnh giác, tự nguyện phụ họa các luận điệu xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, cơ hội, thì vô hình trung đã làm tổn hại đến những thành quả thiêng liêng mà chính mình đã có một thời cống hiến máu xương và công sức. 35 S ĐẢNG CÓ VỮNG, SỰ NGHIỆP MỚI THÀNH CÔNG CÔNG MINH au Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), hệ thống chính trị nước ta có nhiều chuyển biến mới, hoạt động hiệu quả hơn, được nhân dân ghi nhận. Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ. Nhưng, để hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực phản động, cơ hội chính trị vẫn xuyên tạc rằng: Đảng ta đang thất bại, thụt lùi về công tác xây dựng Đảng. Cố tình đánh tráo khái niệm Phạm Trần, một cây bút phản động lưu vong thường xuyên có những bài viết chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã có “phân tích” kiểu chụp mũ, “thầy bói xem voi” khi cho rằng: Đảng không còn kiểm soát được đảng viên nữa, “xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh” chỉ là khẩu hiệu... Nguyễn Quang Duy, một tác giả hải ngoại khác có cái nhìn thiên kiến, 36 lệch lạc, chỉ ra “5 thất bại”, trong đó có hai điểm nói về công tác tổ chức, cán bộ, “củng cố bộ máy và duy trì tính trong sạch của bộ máy”. Trên trang điện tử của BBC, thì đưa ra phân tích hồ đồ: Trong Đảng “xuất hiện nhiều dấu hiệu mâu thuẫn nội bộ sau một năm kể từ Đại hội XII”... Trên một số trang điện tử khác, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị gần đây lại “cảnh báo” về công tác tổ chức, cán bộ khi tung hỏa mù Đảng không chỉ “khủng hoảng về đường lối” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) còn thừa nhận thất bại về công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ; tình trạng “lãn Đảng, thoái Đảng” gia tăng. Với những luận điệu trên, họ đã cố tình đánh tráo khái niệm giữa việc Đảng ta chủ động thường xuyên tự xây dựng, tự chỉnh đốn, coi đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, coi phê bình và tự phê bình như “rửa mặt hằng ngày” với việc bị động trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thái độ “nhìn thẳng vào sự thật”, chủ động “phòng bệnh hơn chữa bệnh” hoàn toàn khác và không phải “tình hình đã rất nguy”, “bệnh đã nặng hết thuốc chữa” như họ rêu rao, bịa đặt. Tổ chức có mạnh, con người có tốt thì mới làm được Thực tế những năm qua cho thấy, sau Đại hội XII của Đảng, hệ thống chính trị nước ta có nhiều chuyển biến mới, hoạt động hiệu quả hơn, bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước có những khởi sắc, được nhân dân ghi nhận. 37 Sau Đại hội XII, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 thành công tốt đẹp với hơn 99% cử tri đi bầu cử. Sau đó, Quốc hội kiện toàn ngay các cơ quan và các nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước, Chính phủ trong sự đoàn kết, đồng thuận. Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, tăng trưởng GDP đạt 6,21%, chính trị - xã hội ổn định, đất nước thanh bình. Đầu tư nước ngoài đạt gần 15 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối đạt 41 tỷ USD. Lần đầu tiên có đến 10 triệu lượt khách du lịch nước ngoài và 62 triệu lượt khách trong nước, doanh thu từ du lịch đạt 20 tỷ USD. Vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng cao, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng có 252 điện chúc mừng từ các nước, các tổ chức quốc tế, nhiều nhất từ trước tới nay... Việc Đảng ta tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thu hút cả hệ thống chính trị vào cuộc, được nhân dân đồng tình ủng hộ cao. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới gần đây nhận định: “Ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam là môi trường thuận lợi để các nhà hoạch định chính sách đẩy mạnh tái cơ cấu, đây là điều kiện thiết yếu để tiến tới mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất”... “Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, vừa được Quốc hội thông qua, sẽ xử lý được một số bất cập phát sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế”. Không thể có được nhận xét khách quan ấy nếu như đất nước không có một bộ máy quản lý, điều hành tốt và 38 không thể có bộ máy tốt nếu không có thành công trong công tác xây dựng Đảng. Hiện nay, toàn Đảng có 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương, gồm 58 đảng bộ tỉnh, 5 đảng bộ thành phố, 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương. Đảng có gần 1.300 đảng bộ cấp huyện và tương đương (gần 700 đảng bộ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gần 600 đảng bộ cấp trên cơ sở). Toàn Đảng có gần 57.000 tổ chức cơ sở đảng, với hơn 23.000 đảng bộ cơ sở và hơn 33.000 chi bộ cơ sở; gần 1.700 đảng bộ bộ phận, hơn 254.000 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở với tổng số gần 3,8 triệu đảng viên, chiếm hơn 4% dân số cả nước. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội. Phải khẳng định rằng, những thành tựu trên không phải là đột biến, bất thường mà bắt nguồn từ mạch nguồn không ngừng chảy trong công cuộc xây dựng Đảng của Đảng ta. Đảng ta từ khi ra đời đến nay luôn chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để đáp ứng vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình. Hiến pháp năm 2013 và nhiều bản hiến pháp trước đó của nước ta đều hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để đáp ứng sứ mệnh ấy, Đảng ta luôn coi trọng, phát huy vai trò công tác tổ chức xây dựng Đảng như quan điểm từng được Lênin nhấn mạnh: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn trong cuốn 39 Đường kách mệnh: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”1. Vai trò của công tác tổ chức, cán bộ đối với sự phát triển của đất nước thời gian qua đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu ghi nhận tại Hội nghị toàn quốc ngành tổ chức xây dựng Đảng năm 2016: “Tổ chức có mạnh, con người có tốt, cán bộ có giỏi, thông minh, sáng tạo, được nhân dân ủng hộ, đồng lòng thì chúng ta mới làm được. Nói cách khác, trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ. Đây là một thực tế khách quan”. Những đổi mới mạnh mẽ TS. Lê Văn Cương (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, Bộ Công an) trong một bài viết về nguyên nhân thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô đã nhấn mạnh việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng. Đi liền với đó là các bệnh: Độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới khiến cho sinh hoạt đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Cơ quan lãnh đạo cấp cao quan liêu, xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao gia tăng. Và khi sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền ____________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.289. 40 lực của Đảng thì đó chính là nguy cơ lớn, là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ như đã xảy ra ở Liên Xô và các đảng cộng sản khác tại Đông Âu. Nguyên tắc tập trung dân chủ được ghi rõ trong Điều lệ, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga từ năm 1903 nhưng chưa có cơ chế thực thi hiệu quả. Chính vì vậy, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững và phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ nói riêng, vai trò của công tác tổ chức, cán bộ nói chung vô cùng quan trọng. Từ bài học đó nhìn vào thực tế công tác xây dựng Đảng hiện nay, cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước rất đồng tình, ủng hộ trước quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Ngay tiêu đề của nghị quyết và những hành động quyết liệt của Đảng ta thời gian qua đã thể hiện rất rõ tính chiến đấu, tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói rõ sự thật”. Hội nghị toàn quốc ngành tổ chức xây dựng Đảng năm 2017 được tổ chức ngày 4-3-2017 cho thấy, Đảng ta đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong công tác tổ chức xây dựng Đảng. Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã chỉ ra nhiều định hướng mới trong công tác tổ chức xây dựng Đảng như: Tham mưu hoàn thiện chức 41 năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để “một nhiệm vụ chỉ một cơ quan, một tổ chức đảm nhiệm”, “một tổ chức, một cơ quan có thể làm nhiều nhiệm vụ”, “một việc chỉ một người làm”, “một người làm nhiều việc”; bổ sung các quy định, quy chế, hướng dẫn... bảo đảm đồng bộ, thống nhất, liên thông giữa hệ thống Đảng và hệ thống chính trị. Đặc biệt, năm 2017, ngành tổ chức xây dựng Đảng đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng “4 hóa”: Hạt nhân hóa cán bộ lãnh đạo; chuẩn hóa các văn bản pháp quy; đơn giản hóa các thủ tục hành chính; tự động hóa tổ chức thực hiện. Đặc biệt, tại hội nghị đã có bản báo cáo giới thiệu hàng loạt mô hình, sáng kiến, cách làm mới trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Có thể kể ra những mô hình, cách làm hiệu quả như: Đề án 25 về đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế ở Quảng Ninh; rà soát sắp xếp lại tổ chức bộ máy ở thành phố Hà Nội... Nhiều cấp bộ đảng đã có những mô hình rất hay trong công tác cán bộ như: Chương trình đào tạo nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và chương trình công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh; Đề án 500 tuyển chọn, tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường ở Quảng Nam; đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đà Nẵng; chương trình về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị và phục vụ sản xuất, kinh doanh; quy định và cam kết xử lý trách nhiệm người đứng 42 đầu ở Quảng Ngãi; tổ chức bồi dưỡng tiếng Việt và trình độ lý luận chính trị cho cán bộ nước bạn Lào ở Quảng Trị; hỗ trợ 2 triệu đồng/năm cho chi bộ thôn, khu phố và mua tặng thẻ bảo hiểm y tế cho đảng viên 30 tuổi đảng trở lên ở Hưng Yên... Trong công tác tổ chức cơ sở đảng xuất hiện nhiều mô hình phong phú như: Kế hoạch kiện toàn các tổ chức đảng, phát triển đảng viên và thành lập tổ chức đảng ở các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Đắk Lắk; đề án xây dựng chi bộ kiểu mẫu gắn với xây dựng nông thôn mới và văn minh đô thị ở Hà Giang; chi bộ sinh hoạt theo chuyên đề hằng năm ở Phú Yên; phân công cán bộ trong thường vụ và cấp ủy về sinh hoạt đảng ở vùng đồng bào dân tộc khó khăn tại Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Đắk Nông, Đắk Lắk; đảng viên bộ đội biên phòng về tham gia sinh hoạt tại các chi bộ vùng biên giới ở Quảng Trị; quy định ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ít nhất hằng quý phải có 10 ngày đi cơ sở ở Vĩnh Long; “Sổ tay điện tử trong công tác xây dựng Đảng” tại Tỉnh ủy Bình Thuận... Những thông tin chỉ đạo và dẫn chứng sinh động trên thêm một lần nữa minh chứng công tác tổ chức xây dựng Đảng của Đảng ta đang ngày càng đổi mới, thành công (dù vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm) nhưng thực sự đã ăn sâu bám rễ vào thực tiễn cuộc sống. Vai trò của Đảng trong công cuộc đổi mới ngày càng được phát huy tích cực, hoàn toàn không có chuyện thất bại, thụt lùi trong công tác xây dựng Đảng như những thông tin xuyên tạc, bịa đặt. 43 CHĂM LO LỢI ÍCH, HẠNH PHÚC NHÂN DÂN LÀ MỤC TIÊU THIÊNG LIÊNG CỦA ĐẢNG NGÔ THANH K ỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 – 3-2-2017), cũng đúng dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu (2017), các lực lượng thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam lại diễn trò bằng cách làm cũ rích. Trên một số trang mạng xã hội, những kẻ cơ hội đăng tải nhiều bài viết suy diễn, bịa đặt về mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Một số bài viết khác thì cố tình ngụy biện, xuyên tạc những công việc mà Đảng lo cho dân trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc. Thực chất, những luận điệu trên là hòng bóp méo sự thật, cố tình bôi nhọ, hạ thấp vai trò, uy tín và bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam; mưu đồ chia tách mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Thế nhưng, ngay cả những chiêu trò xảo quyệt, tinh vi và âm mưu, thủ đoạn, dã tâm đen tối nhất của các thế lực thù địch cũng không thể trụ vững, mà phải đón nhận thất bại 44 hoàn toàn trước thực tiễn chân thực trong đời sống xã hội ở Việt Nam. Dồn sức chăm lo hạnh phúc nhân dân Cú “giáng trả” đầu tiên, rất mạnh mẽ vào luận điệu bịa đặt của các thế lực thù địch chính là những chủ trương, chính sách đúng đắn, chủ động, thể hiện trách nhiệm cao của Đảng, Nhà nước trong chăm lo đồng bào cả nước trong dịp Tết Nguyên đán năm 2017. Đầu tiên phải kể đến là Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 20-12-2016 của Ban Bí thư Về việc tổ chức Tết năm 2017. Để chuẩn bị tốt các điều kiện cho nhân dân vui Xuân, đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt 7 nội dung quan trọng, trong đó quy định bắt buộc: “Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương không tổ chức đi thăm, chúc Tết địa phương; các địa phương không chúc Tết Trung ương. Thực hiện chủ trương nghiêm cấm tặng quà Tết cho cấp trên dưới mọi hình thức”... Cũng với tinh thần đó, ngày 17-12-2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg Về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, cụ thể hóa bằng nhiều giải pháp, biện pháp quyết liệt nhằm thực hiện triệt để việc “nói không với quà Tết”... Những chủ trương, giải pháp đó nhanh chóng nhận 45 được sự ủng hộ đồng tình cao của dư luận; được các cấp quyết liệt triển khai thực hiện; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong đi đầu. Rất dễ nhận biết tính hiệu quả, hiệu lực của chủ trương này. Trước, trong và sau Tết Đinh Dậu năm 2017, câu chuyện “quà cáp, biếu xén” không còn là chủ đề nóng trên diễn đàn truyền thông và dư luận xã hội; thay vào đó là sự tin yêu của quần chúng nhân dân về hình ảnh những đồng chí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở trực tiếp đến với dân, về với cơ sở; có mặt ở những nơi xa nhất, khó nhất, khổ nhất... kịp thời chia sẻ, động viên và trực tiếp trao tặng nhiều phần quà ý nghĩa, góp phần giúp đồng bào có một cái Tết đầy đủ, sum vầy. Thật ấn tượng khi ngay trong mùng Một Tết Nguyên đán năm 2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cùng nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương và thành phố Hà Nội đi bộ quanh Hồ Gươm, trò chuyện và thăm hỏi người dân, các cháu thiếu nhi. Cũng trong những ngày Tết, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các ban, bộ, ngành dành phần lớn thời gian đến với các địa phương trong cả nước; nhất là vùng biên giới, hải đảo, vùng bị thiệt hại do thiên tai... để cùng “vui Xuân, đón Tết” với đồng bào. Hiệu ứng từ việc thực hiện trách nhiệm và hành động vì dân của đội ngũ cán bộ chủ chốt Trung ương thực sự tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng đến toàn thể cán bộ các cấp và xã hội. Trên khắp cả nước, nhiều cao trào, phong trào 46 chăm lo Tết cho người dân được triển khai đồng bộ, thiết thực. 100% ban, bộ, ngành Trung ương đều có chương trình cử các đoàn công tác, tổ chức hoạt động thiết thực chăm lo Tết cho người dân. 100% địa phương thực hiện không bắn pháo hoa, không tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí để tập trung dành thời gian, kinh phí chăm lo Tết cho người nghèo, gia đình người có công. Đặc biệt, các tỉnh, thành phố đều chủ trương trích kinh phí, cùng với sự hỗ trợ của Trung ương, kết hợp với vận động, quyên góp để có nguồn tài chính phù hợp, thiết thực quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, gia đình bị thiệt hại do thiên tai... Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, với sự chủ trì và tham gia của chính quyền địa phương các cấp, hàng trăm phong trào, hàng nghìn hoạt động, chương trình tri ân, chăm lo Tết... cho người có công, người nghèo, người yếu thế trong xã hội được tổ chức và thu hút sự tham gia của toàn xã hội. Các chương trình như “Trái tim tình nghĩa”, “Mái ấm tình thương”, “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ”, “Tấm vé nghĩa tình”, “Tết làm điều hay vì nông dân nghèo”, “Tiếp sức người lao động”..., là minh chứng sinh động, góp phần khẳng định hiệu quả, kết quả từ công tác lãnh đạo toàn diện, cụ thể, đúng đắn của Đảng trong thực hiện chủ trương chăm lo đời sống nhân dân; quyết tâm không để người dân bị thiếu đói, đứt bữa trong dịp Tết. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, với người lao động trên toàn quốc, tổ chức Công đoàn các cấp đã vận 47 động các doanh nghiệp có chính sách thưởng Tết, tặng quà, tổ chức đưa đón công nhân về quê ăn Tết với tinh thần bảo đảm tốt nhất việc đi lại cho người lao động. Theo Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, trong dịp Tết Nguyên đán năm 2017, Trung ương Hội cũng đã tổ chức gần 100 đoàn công tác tới nhiều địa phương trao 2.500 suất quà Tết (trị giá từ 600.000 đồng đến 1.100.000 đồng/suất) tặng hộ gia đình nghèo, nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật; gia đình bị ảnh hưởng do thiên tai trong năm 2016... Từ kết quả và những số liệu như đã dẫn ở trên, có thể khẳng định, trong dịp Tết Nguyên đán năm 2017, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác chăm lo Tết cho đồng bào được thực hiện bài bản, chu đáo, thiết thực. Tinh thần “Góp tình, trao Tết” được tỏa sâu, lan rộng từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra ngoài dân, từ cán bộ về quần chúng, từ người giàu đến người nghèo... thực sự tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn, tương hỗ, giúp đỡ lẫn nhau để nhà nhà, người người đều được đón Tết đủ đầy, hạnh phúc. Truyền thống quý báu, mục tiêu cao cả thiêng liêng Chăm lo lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân là truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cao nhất là phục vụ nhân dân. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới, Chủ tịch 48 Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết, nhằm đáp ứng những đòi hỏi trước mắt của nhân dân. Ngay sau đó, Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời đã ra nghị quyết giảm 25% thuế điền cho nông dân, các địa phương bị lũ lụt được miễn thuế điền... Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, khi chưa có điều kiện chăm lo, giải quyết ruộng đất cho nông dân, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời ban hành nhiều chính sách, nhằm từng bước mang lại quyền lợi dân chủ cho nhân dân, mà trước hết là nông dân. Bước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là những năm gần đây, nhờ các thành tựu về tăng trưởng kinh tế, sự tập trung ưu tiên và những nỗ lực to lớn trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đất nước ta đã đạt những bước tiến vượt bậc, hoàn thành trước thời hạn mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo; đời sống của quần chúng nhân dân không ngừng được nâng cao rõ rệt. Có được kết quả đó, là nhờ Đảng ta luôn xác định mục tiêu cao nhất là chăm lo, phục vụ lợi ích, hạnh phúc của nhân dân. Đã có rất nhiều nghị quyết được ban hành, nhiều chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được hoạch định ở nhiều thời điểm khác nhau, nhưng mục tiêu cơ bản, xuyên suốt, bao trùm và cao nhất luôn là “vì dân phục vụ”. Hơn thế, quyết tâm của Đảng được hiện thực hóa bằng các chương trình quốc gia hỗ trợ giảm nghèo, phát triển kinh tế và an sinh 49 xã hội; tập trung mạnh mẽ cho các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... Nhờ vậy, trong khoảng 20 năm qua, hàng chục triệu hộ gia đình Việt Nam đã thoát nghèo, có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Thành quả chăm lo lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân là rất đáng ghi nhận, tuy nhiên, với tinh thần thẳng thắn, Trung ương vẫn nghiêm túc thừa nhận những tồn tại, khuyết điểm không thể tránh khỏi. Đặc biệt, Đảng ta rất nghiêm khắc, quyết tâm cao trong đấu tranh với những biểu hiện, hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên chỉ lo thu vén cá nhân, xoay xở làm giàu, vô trách nhiệm với nhân dân, vô cảm trước những khó khăn, đau khổ của quần chúng... Đảng xem đó là nguyên nhân gốc rễ gây ra “mất mát lớn nhất” trong tình cảm của nhân dân với Đảng, là điều người dân cảm thấy xót xa, buồn phiền nhất. Chính vì vậy, trong điều kiện mới, bám sát mục tiêu tổng quát Đại hội XII của Đảng xác định trong giai đoạn 2016-2020, toàn Đảng đang dồn sức lãnh đạo, quyết tâm bứt phá thực hiện mục tiêu cao nhất, là: “... Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”1. Toàn Đảng đang hành động bằng quyết tâm cao nhất như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Trong điều kiện ngày nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thì dù có nói bao nhiêu về quan ____________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.76. 50 điểm quần chúng, về quyền làm chủ của nhân dân cũng đều là vô nghĩa và không có sức thuyết phục”. Thực hiện mục tiêu đó, cùng với việc tập trung trí tuệ ban hành các chủ trương, giải pháp và tổ chức lãnh đạo chăm lo đời sống nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rất rõ và đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó tập trung vào chỉnh sửa lề lối, tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ theo hướng sát dân, gần dân. Các cấp ủy đảng trong toàn Đảng nghiêm túc đẩy mạnh các biện pháp kiên quyết, kiên trì, quyết liệt và tích cực giáo dục, rèn luyện, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, đấu tranh với các hiện tượng thoái hóa, biến chất, siết chặt kỷ luật của Đảng, kiên quyết thải loại những phần tử thoái hóa đã biến chất ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ của Đảng và bộ máy nhà nước. Đó là phương cách thiết thực, đúng đắn nhằm đẩy mạnh, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; tiếp tục khẳng định chân lý của một đảng chân chính: Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích gì khác! 51 VỮNG TIN VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG NGUYỄN TẤN TUÂN T rong các năm 2016-2017, dư luận hết sức quan tâm, bày tỏ đồng thuận cao trước những chủ trương, biện pháp trong quản lý, kỷ luật cán bộ, đảng viên của Đảng. Qua những vụ việc, vụ án lớn được cơ quan chức năng đưa ra xem xét, xử lý chính xác, công khai, minh bạch đã góp phần rất quan trọng củng cố niềm tin của cán bộ, nhân dân vào sự lãnh đạo và sức mạnh của Đảng. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân nên ít nhiều xuất hiện những ý kiến bày tỏ nghi ngại về số lượng các vụ kỷ luật Đảng có ảnh hưởng đến sức mạnh của Đảng. Lại có lập luận “hoài nghi” về tình hình đoàn kết trong Đảng; hoài nghi về mục đích xử lý kỷ luật thời gian qua một phần nguyên nhân do “đấu đá”, “hạ bệ”, “thanh trừng”, “tranh giành quyền lực”... Thực chất, đây là những suy nghĩ, lập luận không đúng, khác xa với bản chất việc duy trì kỷ luật Đảng. 52 “Kỷ luật thép” - nguồn sức mạnh nội sinh của Đảng Từ nhiều vụ việc cụ thể được đưa ra xem xét, xử lý trong năm 2017, nhất là những vụ kỷ luật do Trung ương trực tiếp theo dõi, chỉ đạo cho thấy quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong việc siết chặt kỷ cương, tăng cường kỷ luật Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng, mọi tổ chức đảng, đảng viên nếu có thành tích, lập chiến công đều được ghi nhận và khen thưởng xứng đáng; nếu vi phạm kỷ luật, gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, gây tổn hại đến quyền lợi, lợi ích của nhân dân sẽ bị xử lý nghiêm minh, không phân biệt cán bộ Trung ương hay cơ sở, cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, nghỉ chế độ... Việc khen thưởng đảng viên có thành tích hay xử lý đảng viên vi phạm kỷ luật được thực hiện công khai, dân chủ, tiến hành theo trình tự từ thấp đến cao trên nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số. Việc tăng cường kỷ luật Đảng xuất phát từ thực tiễn khách quan trong công tác xây dựng Đảng và yêu cầu nhiệm vụ xây dựng đất nước; đồng thời cũng là sự kế thừa, phát huy truyền thống, bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Là đội tiên phong chiến đấu, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nước nhà, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một tổ chức trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của 53 cán bộ và đảng viên”1. Kỷ luật Đảng nghiêm minh là điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng thật sự là một khối đoàn kết, thống nhất; bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện thắng lợi. Nói cách khác, kỷ luật Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, làm cho mọi tổ chức đảng và đảng viên tuyệt đối phục tùng và chấp hành nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lịch sử xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy: Duy trì kỷ luật Đảng là một nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng là quy luật phát triển của một đảng cộng sản chân chính. Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán tư tưởng đấu tranh không khoan nhượng với những thành phần thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật. Vụ án Trần Dụ Châu tham ô bị xử tử (năm 1950); vụ án tử hình Mười Vân, Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai vì lợi dụng chủ trương khoan hồng của Đảng để chiếm đoạt vàng của người dân và liên quan đến vụ án này; Ủy viên Trung ương Đảng (khóa V), Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai - Nguyễn Văn Y (tức Năm Chữ) bị khai trừ Đảng, xử án treo... là những ví dụ cho thấy tính nghiêm minh, nghiêm khắc của kỷ luật Đảng. Theo ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức ____________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.67. 54 Trung ương, có giai đoạn ở miền Bắc, các tổ chức đảng đã đưa ra khỏi Đảng gần 86.000 đảng viên; trong đó gần 63.000 đảng viên thoái hóa, biến chất, tự chuyển hóa, vi phạm kỷ luật Đảng. Thậm chí, có thời điểm, thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Trường Chinh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương ngừng kết nạp đảng viên mới để tập trung sức chỉnh đốn Đảng... Chính việc duy trì kỷ luật Đảng nghiêm minh như vậy đã góp phần giúp Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Kịp thời phát hiện, xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật là một đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển Đảng. Đó cũng là một trong những giải pháp hàng đầu làm cho tổ chức đảng “trong hơn, sạch hơn, mạnh hơn”; đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: Nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng. Thực tế cho thấy, nếu phát hiện tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật mà cán bộ, đảng viên không dám đấu tranh, im lặng, né tránh thì hậu quả để lại rất to lớn. Đối tượng vi phạm sẽ có cơ hội “đục nước béo cò”, coi thường sự lãnh đạo của tổ chức, coi khinh dư luận; tỏ thái độ độc đoán, chuyên quyền; dẫn đến làm giảm sút vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, gây mất đoàn kết nội bộ... Nguy hại hơn, đây còn là “mảnh đất màu mỡ” cho các 55 thành phần cơ hội, biến chất lọt vào hàng ngũ, chống phá và làm cho Đảng bị “mục ruỗng” từ bên trong. Để tăng cường kỷ luật Đảng, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp có ý nghĩa quyết định. Đó cũng là truyền thống quý báu của Đảng ta cần được khơi dậy, phát huy trong giai đoạn mới. Chúng ta không thể quên, ngay chính trong phong trào Xôviết Nghệ Tĩnh, Đảng đã tự phê bình, nhận ra sai lầm “tả khuynh” của tổ chức. Giai đoạn đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư, tuy còn non trẻ, nhưng Đảng đã “Tự chỉ trích” rất nghiêm khắc. Khi thực hiện cải cách ruộng đất có những sai lầm, Bác Hồ đã khóc, xin được nhận hình thức kỷ luật và xin lỗi quốc dân đồng bào; Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức... Hoặc vào thời điểm khi Đảng phân công đồng chí Nguyễn Chí Thanh sang công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, toàn quân đã tiến hành cuộc “rèn cán, chỉnh quân” rất nghiêm túc, mang lại hiệu quả cao... Mới đây nhất, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ sự đau lòng trước Hội nghị Trung ương vì hiệu quả của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) thời điểm đó chưa đạt kết quả như mong muốn... Đó là những bằng chứng sinh động minh chứng cho sự nêu gương và tinh thần quyết liệt, toàn tâm, toàn ý duy trì, tăng cường kỷ luật Đảng, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng. 56 Mục đích cao nhất là sự tiến bộ của tổ chức, đảng viên Trước hết, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cách mạng chân chính với tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương không lấy việc kỷ luật cán bộ, đảng viên làm thành tích chống tiêu cực, làm phương cách duy nhất trong xây dựng Đảng. Hơn nữa, kỷ luật của Đảng là kỷ luật tự giác, nghiêm minh, lấy giáo dục, răn đe cán bộ, đảng viên làm trọng, trên cơ sở tuyệt đối thực hiện đúng, đủ điều lệ, nguyên tắc, quy định của Đảng. Mục đích trong sáng, cao nhất của việc duy trì nghiêm kỷ luật Đảng là ngăn chặn cán bộ, đảng viên vi phạm, chứ không phải là sự “thanh trừng”, “bài xích”, “hạ bệ” nhau. Ở khoản 1, Điều 2, Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11- 2017 về Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm của Bộ Chính trị, xác định: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật Đảng; không có bất kỳ lực lượng, thành phần, cá nhân ngoại lệ, đứng ngoài, đứng trên kỷ luật Đảng. Tuy nhiên, việc giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng tuyệt nhiên không phải thi hành kỷ luật thật nhiều, thật nặng mà chính là một cách xây dựng, duy trì ý thức tổ chức kỷ luật trong Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và khóa XII) về xây dựng Đảng, xác định giải 57 pháp cơ bản để chỉnh đốn Đảng, chống tiêu cực trong nội bộ là “tự phê bình và phê bình” thể hiện rất rõ tinh thần trong sáng ấy trong mục tiêu tăng cường kỷ cương, kỷ luật Đảng. Hơn thế, thực tế cũng đã kiểm định, chứng minh: Có không ít cán bộ, đảng viên từng mắc sai lầm, từng chịu kỷ luật Đảng, nhưng kịp thời sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; tiếp tục được tổ chức quan tâm, giúp đỡ, dìu dắt, rồi trưởng thành, phát triển, trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, đảm nhiệm các cương vị quan trọng, then chốt. Như vậy, kỷ luật Đảng là nghiêm minh, chính xác và công bằng. Đảng thực thi kỷ luật không có mục tiêu nào khác ngoài quyết tâm làm trong sạch đội ngũ, xây dựng tổ chức vững mạnh, uốn nắn đảng viên tiến bộ, trưởng thành. Việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên được Đảng ta xem xét rất thận trọng; điều tra, nghiên cứu khách quan, kỹ lưỡng, gắn với từng giai đoạn phát triển của đất nước, của xã hội. Xem xét kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên được gắn với chức trách, nhiệm vụ mà không có biểu hiện đánh đồng, quy chụp. Tính công khai quan điểm của Đảng đối với tập thể, cá nhân vi phạm kỷ luật được duy trì nền nếp, rõ ràng không chỉ trong nội bộ mà còn được thông tin đến các tầng lớp xã hội. Trước những quyết định quan trọng liên quan đến xem xét kỷ luật Đảng được dư luận quan tâm, Văn phòng Tổng Bí thư, Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và cơ quan chức năng luôn chủ động, kịp thời cung cấp thông tin đến báo chí trong 58 nước, quốc tế nhằm công khai rộng rãi; để tăng cường sự quản lý, giám sát của nhân dân; phát huy sức dân trong tham gia xây dựng Đảng. Hơn thế, theo điều lệ, nguyên tắc của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc đưa ra quyết định thi hành kỷ luật những tổ chức, cá nhân vi phạm đều thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ do tập thể xem xét, quyết nghị (bằng hình thức bỏ phiếu kín), lại được xem xét theo phân cấp. Do đó, không thể có sự can thiệp, trù dập, đấu đá mang tính cá nhân trong thực hành kỷ luật Đảng như một số người còn hoài nghi về mục đích, mục tiêu tiến hành kỷ luật Đảng trong thời gian qua. Xét về bản chất thì kỷ luật của Đảng là kỷ luật dựa trên tình đồng chí, đồng đội; kỷ luật của những người cùng chung lý tưởng, tự nguyện đứng trong một hàng ngũ, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc. Mọi đảng viên và tổ chức đảng liên kết với nhau theo một kỷ luật chung dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, sự thống nhất chặt chẽ về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, được thể hiện tập trung trong các điều khoản của Điều lệ Đảng. Do đó, kỷ luật Đảng xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, chứ không phải là “chủ ý” của bất kỳ lực lượng, cá nhân nào. Đó là căn cứ vững chắc để công tác thi hành kỷ luật Đảng luôn được tiến hành tự giác, nghiêm minh, đúng người, đúng tội; đồng thời cũng là cơ sở để nhận diện, đẩy lùi những kết luận nóng vội, quy chụp về tình hình kỷ luật Đảng nói chung, diễn tiến từng sự việc, sự vụ, vụ án nói riêng. Giữ nghiêm kỷ luật 59 của Đảng chính là phương cách để thức tỉnh và ngăn chặn kịp thời những đảng viên, tổ chức đảng có những hành vi vi phạm. Kỷ luật Đảng chính là để giữ được tổ chức, giữ được đảng viên. Kỷ luật Đảng là để từng tổ chức, từng đảng viên thấy rõ khuyết điểm của mình mà nỗ lực phấn đấu sửa chữa, tiến bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đấu tranh cách mạng, trong công tác hằng ngày, cán bộ, đảng viên không tránh khỏi mắc khuyết điểm, sai lầm; điều quan trọng là thấy rõ khuyết điểm, sai lầm, không giấu giếm và quyết tâm sửa chữa, để Đảng ta, cán bộ ta tiến bộ mãi. Người chỉ rõ: “Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm... Chúng ta không sợ có sai lầm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”1. Theo Người, Đảng có khuyết điểm, cán bộ mắc sai lầm thì không nên giấu giếm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Có người thì cho rằng: trong Đảng việc gì cũng tốt, không có khuyết điểm gì đáng lo. Có người lại cho rằng: trong Đảng cái gì cũng kém, đầy những khuyết điểm, vì vậy mà họ bi quan, thất vọng”2. Người khẳng định: “Hai cách nhận xét đó đều không đúng”3. Vì vậy, Người chỉ ra rằng: “Thái độ mỗi người đối với những khuyết điểm của Đảng ta cũng khác nhau. Bọn phản động thì lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta. Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của ____________ 1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.323, 304. 60 họ. Đó là thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ. Bọn thứ ba thì sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình. Đó là thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn yếu ớt. Bọn thứ tư thì đối với những người có khuyết điểm và sai lầm đó, như đối với hổ mang, thuồng luồng. Họ đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh “chủ quan”. Thái độ thứ năm, là thái độ đúng. Tức là: a) Phân tích rõ ràng, cái gì đúng, cái gì là sai. b) Không chịu nổi ảnh hưởng của những chủ trương sai lầm, những phần tử không tốt. Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt. c) Không để mặc kệ. Mà ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng. d) Không làm máy móc. Nhưng khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ. đ) Đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng”1. Duy trì giữ nghiêm kỷ luật Đảng là bảo đảm để Đảng ngày càng mạnh hơn, đoàn kết hơn, trong sạch hơn. Giữ nghiêm kỷ luật Đảng là giúp từng đảng viên, từng tổ chức đảng sớm nhận ra sai lầm, khuyết điểm của mình để khắc ____________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.304-305. 61 phục, sửa chữa, tiến bộ. Đó là mục đích cao nhất, duy nhất; là công việc hằng ngày, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng. Xây dựng phải đi đôi với chỉnh đốn vừa có tính quy luật, vừa là nguyên tắc căn bản trong công tác xây dựng Đảng. 62 KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA Xà HỘI PGS. TS. NGUYỄN VĨNH THẮNG C ũng như trước đây, hiện nay và trong những năm tới, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội đang và sẽ ráo riết tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Họ đòi chúng ta “lựa chọn lại” mục tiêu, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn; đòi chúng ta phải từ bỏ con đường chủ nghĩa xã hội, muốn đất nước ta lùi về giai đoạn dân chủ nhân dân, đòi đổi tên Đảng, tên nước, công khai hô hào đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ lập luận rằng, đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, là không tưởng. Gần đây, họ cho rằng, con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ chủ nghĩa tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập nhau! 63 Thực hiện mưu đồ này, chúng ra sức bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, công khai ca ngợi chế độ tư bản chủ nghĩa, rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, chủ nghĩa tư bản có thể hội tụ với chủ nghĩa xã hội trong thời đại hậu công nghiệp, văn minh tin học! Họ lấy một số khuyết điểm, yếu kém của ta về quản lý kinh tế, quản lý xã hội để quy chụp cho bản chất của chủ nghĩa xã hội, xuyên tạc rằng, ở nước ta không có chủ nghĩa xã hội. Trong khi nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, họ lại đòi hỏi những nhân tố của chủ nghĩa xã hội phải xuất hiện đầy đủ ngay. Tiến công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng, phải phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết những vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Những luận điệu nói trên của các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội không có mục đích nào khác là gây sự hoài nghi; phá vỡ sự đồng thuận xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta đối với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta đi vào con đường tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, việc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch; củng cố, giữ vững sự kiên định, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ vô 64 cùng quan trọng của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”1. Đây là một tổng kết lịch sử cách mạng Việt Nam, vạch rõ nguồn gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chỉ rõ mục tiêu, lý tưởng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục kiên định trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hơn 87 năm qua kể từ năm 1930 là khoảng thời gian đủ để mỗi người Việt Nam kiểm nghiệm và rút ra kết luận về sự đúng đắn, sáng tạo của mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam trong hơn 87 năm qua cho thấy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta xác định là mục tiêu, là cái đích phải đến của cách mạng Việt Nam ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930). Từ đó cho đến nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ____________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.65. 65 luôn luôn là ngọn cờ dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong từng thời kỳ cách mạng là nét độc đáo, sáng tạo, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình của thế giới, khu vực và đất nước, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng; trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ đường lối, nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phù hợp với yêu cầu của lịch sử. Đặc biệt, khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình thế giới, khu vực có những biến đổi to lớn và phức tạp. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đứng trước những khó khăn, thách thức mới. Trước những biến cố của lịch sử trong những thập niên 90 của thế kỷ XX, công cuộc cải cách, cải tổ, đổi mới chủ nghĩa xã hội đã trở thành một đòi hỏi tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết, sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu; tìm ra con đường phát triển thích hợp của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với mỗi nước. Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định, đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà chính là để đạt mục 66 tiêu đó một cách có hiệu quả bằng những phương pháp, bước đi thích hợp, phù hợp với quy luật để nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khắc phục sự tụt hậu, chệch hướng, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ thực tiễn tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã tổng kết, rút ra một trong những bài học quan trọng: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”1. Trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được bổ sung, phát triển cho phù hợp với những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ của thời đại và tình hình đất nước. Kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải đặt trong xu thế phát triển của thời đại và quá trình vận động của các nhân tố dân tộc, giai cấp trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và ____________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.255. 67 công nghệ hiện đại, của xu thế toàn cầu hóa. Quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc trên thế giới được hình thành và vận động trên cơ sở tác động tổng hợp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giải quyết những vấn đề toàn cầu. Sự kết hợp, đan xen và thống nhất giữa lợi ích dân tộc, giai cấp, quốc tế tạo ra động lực mới cho sự phát triển các quan hệ quốc tế trong thời đại ngày nay. Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng của sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Đương nhiên, hành trình đi tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cùng với những thời cơ, thuận lợi mới, chúng ta vẫn còn gặp phải những khó khăn, thách thức mới. V.I.Lênin đã từng căn dặn những người cộng sản, không bao giờ được chán nản hoặc rơi vào tuyệt vọng. Cần phải kiên định con đường đã chọn, biết củng cố, nuôi dưỡng niềm tin vào thắng lợi ngay cả trong những thời điểm, những hoàn cảnh khó khăn nhất. Trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; không bi quan, dao động, mất niềm tin trước những khó khăn, thử thách. Phải nhạy cảm 68 nắm bắt cái mới, giữ vững nguyên tắc chiến lược, đồng thời, phải linh hoạt, mềm dẻo về sách lược theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” để thực hiện mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. 69 KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM SONG HÙNG H àng loạt hoạt động đối ngoại được lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta tiến hành trong thời gian gần đây nhằm tăng cường hợp tác và đối thoại chiến lược với nhiều đối tác, nâng cấp quan hệ song phương với một số quốc gia, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... do Đại hội lần thứ XII của Đảng đề ra. Sự chủ động, tích cực đó của Việt Nam được dư luận thế giới đồng tình và đánh giá cao. Tuy nhiên vẫn xuất hiện những giọng điệu lạc lõng cho rằng, tư duy ngoại giao của Việt Nam đã lỗi thời và khuyến cáo rằng, đã đến lúc Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại nếu không muốn bị cô lập... Thực chất của chiêu trò này không gì khác vẫn là xuyên tạc sự thật hòng làm cho thế giới nghi kỵ với Việt Nam, chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. 70 Những giọng điệu ấy dù có xảo quyệt, tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể xuyên tạc được sự thật lịch sử, không thể đánh lừa được dư luận. Thực tiễn lịch sử từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời (2-9-1945) cho đến nay, đặc biệt trong hơn 30 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn độc lập công bố trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1. Có thể nói đó là những thông điệp ngoại giao đầu tiên mà Việt Nam muốn gửi tới thế giới. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, với một chính quyền non trẻ đứng trước vô vàn gian nan, thử thách, có những thời điểm ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Việt Nam đã thể hiện rõ ý chí và thiện chí của mình đó là lấy độc lập, tự chủ, bằng sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Trên thực tế, ngoại giao đã được Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, huy động nhân tài, vật lực ____________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.3. 71 để kiến thiết đất nước. Những thành công khởi đầu ấy đã đặt móng, xây nền cho công tác ngoại giao, tiếp thêm động lực và để lại những kinh nghiệm quý để Việt Nam tổ chức mặt trận ngoại giao trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sau này. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện những đường lối, quyết sách đúng đắn, đặc biệt là các hoạt động ngoại giao khôn khéo, linh hoạt theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Đảng, đấu tranh ngoại giao đã góp phần quan trọng nâng cao địa vị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế; phân hóa, cô lập kẻ thù. Và cuối cùng, bằng những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao kết hợp với những thắng lợi về quân sự trên chiến trường, chúng ta đã buộc thực dân Pháp phải cam kết công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và các nước Lào, Campuchia. Thực hiện đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác ngoại giao Việt Nam luôn là một mặt trận hỗ trợ và phối hợp với mặt trận đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự. Bằng nhiều hoạt động và biện pháp linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, đấu tranh ngoại giao đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt là qua 30 năm đổi mới, công tác đối ngoại luôn bám sát tình hình thế giới, 72 tiếp tục đạt được những thành quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước. Sẽ là phiến diện nếu bàn đến thành tựu của công tác ngoại giao mà không nhấn mạnh nhân tố quyết định đó là sự phát triển trong tư duy ngoại giao và vai trò lãnh đạo của Đảng. Có thể khẳng định tư duy ngoại giao của Đảng luôn đổi mới và phát triển không ngừng. Chính sự đổi mới, phát triển ấy đã giúp cho chính sách ngoại giao của Việt Nam luôn phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với tình hình thế giới và trong nước, đạt được những thành tựu kỳ diệu, không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự phát triển tư duy ngoại giao của Đảng được thể hiện rõ nét trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề ra. Trong đó về lĩnh vực đối ngoại, Đảng đã thể hiện rõ quan điểm, cái nhìn mới mẻ về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; về những tác động, ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới với Việt Nam; về xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước... Từ những nhận định chiến lược, Đảng chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 13/NQ-TW Về nhiệm vụ và chính sách đối 73 ngoại trong tình hình mới, trong đó khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế. Nghị quyết cũng thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng đó là “thêm bạn, bớt thù”... Trong đổi mới về tư duy đối ngoại, Bộ Chính trị xác định: Đổi mới tư duy cho kịp với sự phát triển nhanh chóng của tình hình thế giới, kết hợp sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới của tình hình thế giới. Như vậy có thể nói, Nghị quyết số 13/NQ-TW của Bộ Chính trị đã đánh dấu sự đổi mới tư duy về công tác đối ngoại. Đây là cơ sở hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991), Đảng tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, với trọng tâm là “hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”1, với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”2. Nhiệm vụ bao trùm của công tác đối ngoại là: ____________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.51, tr.47, 49. 74 “giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng lợi ích của nhân dân ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”1. Từ Đại hội VII đến Đại hội XI, Đảng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ. Tại Đại hội XII, Đảng đã kế thừa những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XI và có những bổ sung, phát triển mới. Đại hội XII chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Như vậy có thể thấy rõ đường lối đối ngoại rộng mở đề ra tại Đại hội lần thứ VI đã được Đảng bổ sung, phát triển ____________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.51, tr.47. 75 thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả của đường lối đó đã được minh chứng bằng thành tựu rực rỡ của công tác đối ngoại qua các kỳ đại hội. Đường lối đó đã góp phần quan trọng tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện đường lối đúng đắn đó, Việt Nam đã tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, đồng thời hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các thể chế kinh tế toàn cầu. Đường lối đó đã khẳng định vị thế và vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Sự thật rất rõ ràng vậy mà các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc. Hành động xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam mà những kẻ phản động đang tiến hành là hết sức nguy hiểm. Đặc biệt giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tập trung phát huy sức mạnh tổng hợp, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì những hành động ấy dễ làm nhiễu thông tin, gây phân tâm, gây hiểu lầm trong quan hệ của các nước với Việt Nam, tác động tiêu cực tới niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng. 76 Sự phát triển trong tư duy ngoại giao, tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả trong đường lối đối ngoại của Đảng là sự bác bỏ mọi giọng điệu xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động, những phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. Vấn đề đặt ra với mỗi người Việt Nam chân chính ở cả trong và ngoài nước là cùng với quán triệt, nâng cao nhận thức về đường lối đối ngoại của Đảng, phải chủ động phát hiện và đấu tranh mạnh mẽ phản bác mọi thông tin sai sự thật, những luận điệu xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ đường lối của Đảng, góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định, chính trị, an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới. 77 ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ HỒNG KHANH N hững năm gần đây, mỗi khi có những sự kiện trọng đại của đất nước hoặc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trên một số trang mạng, blog lại rộ lên thông tin liên quan đến chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tung lên mạng những bài viết mập mờ theo lối “rộng đường dư luận”, cùng thông tin bịa đặt, xuyên tạc để đánh lừa dư luận và gây hoang mang trong xã hội. Bằng thủ đoạn đưa thông tin lập lờ “đen-trắng” lẫn lộn, các thế lực thù địch kích thích trí tò mò của công chúng, làm cho người đọc không phân biệt được đúng sai, nảy sinh nghi ngờ, mất lòng tin vào Đảng và Nhà nước. Những kiểu bình luận, suy diễn, bịa đặt như: “Việt Nam đang sử dụng cảng quốc tế Cam Ranh làm “mồi nhử” để “lôi kéo” các nước lớn ủng hộ Việt Nam”. Hay nhân dịp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Hoa Kỳ (từ ngày 29 đến ngày 31-5-2017), 78