"Đất Dữ - Jorge Amado full prc pdf epub azw3 [Kinh Điển] 🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Đất Dữ - Jorge Amado full prc pdf epub azw3 [Kinh Điển] Ebooks Nhóm Zalo ĐẤT DỮ Nguyên tác: Terras do sem fim (1943) —★— Tác giả: Jorge Amado Dịch giả: Dương Tường & Hà Huy Thái Đông A phát hành NXB Văn học - 2016 Nguồn sách: Trúc Quỳnh Đặng Scan: Hà Du OCR & Chuyển text: Caruri ebook©vctvegroup 03-02-2020 Lời giới thiệu Được biết đến nhiều nhất tại Việt Nam qua tác phẩm Hảo hán nơi Trảng cát, nhưng với thế giới, Jorge Leal Amado de Faria (10/8/1912 - 06/8/2001) còn nổi tiếng bởi hàng loạt tác phẩm khác khắc họa những câu chuyện đời người xảy ra tại quê hương ông, một vùng đất ở miền đông Brazil. Sinh ra và lớn lên trong một đồn điền ca cao ở thành phố duyên hải Ilhéus, bang Bahia, ngay từ khi còn nhỏ, Amado đã sớm dành tình yêu cho biển cả, những cành ca cao trĩu quả và văn chương. Năm mười bốn tuổi, Amado khởi đầu văn nghiệp bằng việc cộng tác với một số tờ báo và xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, cuốn Xứ sở của hội hè (O País do Carnaval), khi mới mười chín tuổi. Cuốn sách viết về cuộc sống ở đồn điền ca cao này đã trở thành một hiện tượng văn học và tác giả của nó ngay lập tức được xếp vào hàng ngũ các nhà văn tên tuổi của Brazil. Năm 1933-1934, Amado tiếp tục chuỗi tiểu thuyết về cuộc sống và con người ở vùng đất ca cao Bahia với tác phẩm thứ hai và ba là Ca cao (Cacau) và Mồ hôi (Suor). Sau khi chuyển đến học luật tại Rio de Janeiro, Jorge Amado phát triển các mối quan hệ bạn bè với rất nhiều người nổi tiếng trong giới chính trị, văn học và bắt đầu biết đến những lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Tình trạng bất công trong xã hội Brazil lúc bấy giờ đã thôi thúc Amado gia nhập đảng cộng sản Brazil. Từ đây, sự nghiệp văn chương của ông song hành với với sự nghiệp chính trị. Các hoạt động cánh tả khiến cuộc sống của Amado gặp nhiều khốn đốn dưới chế độ độc tài của Getúlio Vargas. Năm 1935, ông bị bắt và bị đày biệt xứ. Các tác phẩm của ông bị cấm ở Bồ Đào Nha, nhưng tại các nước khác thuộc châu Au, Amado lại bắt đầu tạo được tiếng tăm lừng lẫy ở tuổi hai mươi ba khi xuất bản Jubiaba, cuốn tiểu thuyết với nhân vật chính là Antônio Balduíno, một trong những người anh hùng da đen đầu tiên của nền văn học Brazil. Hai năm sau, ông sáng tác Hảo hán nơi Trảng cát (Capitães da Areia) - một tiểu thuyết nổi bật khác về những người trẻ tuổi của xứ Bahia. Trong những năm 1940, Amado tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm thể hiện sự thăng hoa của tài năng như Hiệp sĩ của Hy vọng (O Cavaleiro da Esperanga - 1942), Đất dữ (Terras do Sem Fim - 1943), Những con đường đói khát (Seara Vermelha - 1946); đồng thời các hoạt động chính trị cấp tiến đã giúp ông được bầu vào Hội đồng Lập hiến với tư cách nghị sĩ liên bang đại diện cho Đảng Cộng sản Brazil năm 1945. Năm 1947, chính quyền đương thời tuyên bố đảng của ông là đảng bất hợp pháp và các thành viên của đảng bị bắt, bị hành hạ. Amado một lần nữa bị đày, lần này tại Pháp. Trong thời gian này ông cũng đến Liên Xô; tại đó ông đã giành được giải thưởng Hòa bình Lenin vào năm 1951. Khi trở về Brazil năm 1954; Amado từ bỏ hoạt động chính trị, rời khỏi đảng Cộng sản Brazil. Kể từ đây, ông dành trọn cuộc đời mình cho văn chương. Năm 1958, với Gabriela - Nhành quế và Hoa đinh hương (Gabriela, Cravo e Canela) - được Jean-Paul Sartre khen ngợi là “tiểu thuyết dân gian tiêu biểu nhất” - giai đoạn sáng tác thứ hai của Amado bắt đầu. Ông từ bỏ chủ nghĩa hiện thực và đề tài xã hội trong các tác phẩm giai đoạn đầu, bắt đầu cho ra đời một loạt những tiểu thuyết tập trung vào các nhân vật nữ và hết lòng ca ngợi truyền thống và nét đẹp xứ Bahia. Ngoài Gabriela, một tác phẩm nổi bật khác thuộc phong cách này là Dona Flor và hai người chồng (Dona Flor e Seus Dois Maridos), cũng đã ra đời vào năm 1966. Năm 1961, nhờ những đóng góp của mình, Jorge Amado được bầu vào Viện Hàn lâm Văn học Brazil. Qua hơn sáu mươi năm sáng tạo miệt mài, Amado sở hữu lượng tác phẩm đồ sộ; ông không chỉ nổi tiếng ở đất nước mình mà còn vang danh khắp thế giới khi các tác phẩm tiêu biểu của ông được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác và được đón nhận nồng nhiệt. Trong số các tác phẩm của J. Amado, Đất dữ được coi là một trong những tác phẩm hoàn hảo nhất. Câu chuyện mang tầm cỡ của một sử thi dân gian trong đó chiều hiện thực quyện lẫn với chiều huyền thoại này tạo nên sức cuốn hút kỳ lạ. Amado từng viết: “Không có tác phẩm nào thân thương với tôi như Đất dữ, đó là nguồn cội của tôi, máu chảy trong đó là dòng máu đã tạo ra tôi, tiếng súng trong đó là âm thanh tôi nghe thấy từ thuở thiếu thời.” Năm 1948, cuốn sách được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh, có sự tham gia diễn xuất của chính tác giả. Ngoài ra, câu chuyện còn được làm thành hai phiên bản phim truyền hình vào năm 1966 và 1981. Công ty Đông A Thương tặng Matilde, kỷ niệm mùa đông. Vinh danh D. Shostakovich, nhà soạn nhạc và một người lính của Leningrad. Gửi tặng Carmen Ghioldi và Teresa Kelman, Aparecida và Paulo Mendes de Almeida, Và gửi tặng Remi Fonseca. Tôi xin kể các bạn cùng nghe Một câu chuyện rùng mình sởn gáy… (Dân ca) Mười năm trước, tôi có viết một cuốn tiểu thuyết ngắn rùng rợn cũng về đề tài ca cao mà hôm nay tôi trở lại. Hồi đó tôi mười chín tuổi và mới bắt đầu bước vào cuộc đời viết tiểu thuyết. Trong mười năm qua, tôi đã viết bảy cuốn tiểu thuyết, hai truyện tiểu sử, một số bài thơ, hàng trăm bài báo và đã đứng trên bục giảng hàng chục lần. Tôi đã đấu tranh hằng ngày, tôi đã đi nhiều nơi diễn thuyết, sách của tôi bị tịch thu và bị đốt, tôi đã ngồi tù, đã phải sống nơi đất khách quê người. Tôi đã sống cuộc đời của đồng bào, cùng với đồng bào tôi. Tôi vô cùng sung sướng nhận thấy vẫn một mối liên hệ luôn luôn nhất quán đã thấm nhuần không chỉ riêng tác phẩm của tôi trong mười năm ấy mà cả cuộc đời tôi hồi đó nữa: hi vọng - hơn cả hi vọng nữa - niềm tin chắc chắn rằng ngày mai sẽ tốt hơn, đẹp hơn ngày hôm nay. Chính để phục vụ ngày mai đó, cái ngày mai đã lấp ló hừng đông ngay từ trong đêm tối, mà tôi đã sống và đã viết. Montevidéu 1942 VÙNG ĐẤT ĐẪM MÁU CON TÀU 1 Còi tàu rền rĩ buồn bã xuyên qua hoàng hôn đang đè nặng trên thành phố. Đứng trên boong tàu, đại úy João Magalhães ngắm lớp lớp nhà cũ kỹ, những tháp nhà thờ, những mái sẫm tối, những đường phố lát đá to. Mắt y nhận rõ hình thù khác nhau của các mái nhà, nhưng chỉ thấy một đoạn phố không người qua lại. Y không hiểu tại sao những phiến đá kia, do những bàn tay nô lệ lát trên đường phố, đối với y lại có một vẻ đẹp nao lòng đến thế. Đẹp thay cả những mái nhà sẫm tối và những hồi chuông đầu tiên kêu gọi thành phố ngoan đạo đi chịu lễ. Một lần nữa, còi tàu lại xé tan hoàng hôn đang bao trùm thành phố Bahia và đại úy João giơ tay vẫy chào vĩnh biệt. Tưởng như y đang từ giã một người yêu dấu, một người đàn bà thân thiết với lòng mình. Trên tàu, đàn ông đàn bà đang trò chuyện; xa hơn một chút, dưới chân cầu bắc lên tàu, một người đàn ông nước da bánh mật, tay cầm mũ dạ, đang hôn một thiếu phụ xanh xao; bên cạnh João, một người to béo nằm dài trên một chiếc ghế trên boong đang làm quen với một khách thương Bồ Đào Nha. Người này xem đồng hồ rồi nói to cho mọi người đều có thể nghe thấy: - Còn năm phút nữa. João nghĩ thầm chắc đồng hồ của người hành khách này chậm vì bấy giờ còi tàu đã vang lên lần cuối và người ở lại đều đã rời tàu trong khi người ra đi đã chen chúc nhau lên boong. Bỗng tiếng máy chạy ầm ầm khiến y biết chắc là tàu đã khởi hành, y bèn ngoảnh lại ngắm thành phố một lần nữa, lòng xúc động lạ lùng khi mắt dừng lại trên những mái nhà cổ kia và trên những quãng phố lát những phiến đá kếch xù. Có tiếng chuông vang lên và João tưởng như nó gọi y, mời y dạo phố thêm lần nữa, xem những đám rước long trọng, ăn mingau* trên quảng trường, uống rum với thảo mộc, đánh bài ở một xó chợ lúc gần trưa, đánh một ván “bảy rưỡi” ở nhà Violeta, nơi bao giờ cũng có vô khối bạn bè vui nhộn, tối đến chơi bài poker ở tiệm cà phê với bọn nhà giàu vẫn tỏ vẻ kính trọng y biết mấy. Tảng sáng, tóc xõa xuống tận mắt, y bước ra khỏi tiệm, bỡn cợt với những ả tay khoanh tròn trên ngực vì rét, đang đi tìm một bạn trai và những tiếng đàn ghi ta nơi phố dưới. Rồi đến tiếng thở dài của Violeta khi ánh nắng lọt qua cửa sổ căn buồng và gió đưa cành lá của hai cây ca cao trong vườn. Những tiếng thở dài ái ân được gió mang đi xa, xa lắm, nào ai biết đến đâu? Tới tận cung trăng? Mingau: Món ăn làm bằng bột sắn, trứng và đường. Tiếng nức nở của người thiếu phụ xanh xao dứt y ra khỏi dòng suy nghĩ. Nàng nói với một giọng đinh ninh: - Chẳng bao giờ nữa, Robério ạ, chẳng bao giờ nữa. Người đàn ông ôm hôn nàng, rất xao xuyến; lòng buồn tê tái, anh ta cố gắng trả lời: - Em yêu quý, một tháng nữa, anh sẽ trở lại, anh sẽ đưa các con về… Còn em, hãy ngoan nhé. Bác sĩ đã bảo anh… Giọng người thiếu phụ thật rầu rĩ, João cũng cảm thấy lo âu như nàng khi nghe nàng nói: - Em sắp chết rồi, em biết lắm, Robério ạ. Chẳng bao giờ em được gặp lại anh nữa. Chẳng bao giờ em được trông thấy mặt các con nữa. Và hạ thấp giọng, nàng nhắc lại: - Chẳng bao giờ gặp lại các con nữa. Rồi nàng òa lên nức nở. Người đàn ông muốn nói một điều gì nhưng chỉ lắc đầu, nhìn chiếc cầu tàu và đưa mắt về phía João như cầu xin giúp đỡ và an ủi. Giọng người thiếu phụ chỉ còn là một tiếng nghẹn ngào: - Chẳng bao giờ em được gặp lại anh nữa. Người đàn ông nước da bánh mật vẫn đăm đăm nhìn João; anh ta cảm thấy cô đơn vì đau khổ. João đứng phân vân một lúc không biết nên giúp đỡ như thế nào; y muốn chạy thẳng một mạch xuống cầu tàu, nhưng thủy thủ đã kéo cầu lên rồi, và tàu bắt đầu chạy. Người đàn ông chỉ kịp đặt một cái hôn nồng cháy kéo dài lên môi thiếu phụ một lần nữa, tựa hồ như muốn nhiễm lấy căn bệnh đang đục khoét ngực nàng. Rồi anh nhảy lên tàu; nỗi buồn mạnh hơn sĩ diện, anh òa lên nức nở; tiếng khóc như tràn ngập con tàu đang khởi hành; cả viên đại tá to béo cũng ngừng câu chuyện với người khách thương. Từ đằng xa, có tiếng người gọi, gần như gào lên: - Viết thư cho em! Viết thư cho em! Rồi tiếp theo: - Đừng quên em! Đừng quên em nhé! 2 Người ta trông thấy những chiếc khăn tay vẫy vẫy, nhưng chỉ có một khuôn mặt ròng ròng nước mắt - khuôn mặt người thiếu phụ mà lồng ngực thổn thức vì những tiếng nức nở. Hồi đó Bahia chưa có bến tàu mới và nước lên đến gần ngang mặt đường. Người đàn bà đang khóc cũng vẫy khăn, nhưng trong đám hành khách đáp lại, không còn phân biệt được ai là người làm chủ trái tim nàng. Tàu bắt đầu tăng tốc độ và những người đi tiễn đều quay về. Một ông đứng tuổi khoác tay người thiếu phụ dìu đi, thì thầm những lời an ủi và hi vọng. Con tàu đã khuất về phía xa. Trong những phút đầu của cuộc hành trình, nhóm này nhóm nọ trà trộn vào nhau, rồi phụ nữ quay về buồng riêng, còn nam giới nán lại nhìn guồng tàu đập mặt biển, vì thời ấy tàu thủy qua lại giữa Bahia và Ilhéus đều chạy guồng, tựa hồ như chúng chỉ chạy trên sông chứ không phải là đang đi chinh phục biển cả, chốn tung hoành của gió Nam. Gió bắt đầu thổi mạnh hơn, đưa về phía trời đêm Bahia những mẩu chuyện trên tàu, những tiếng vang vọng: ruộng đất, của cải, ca cao, chết chóc… 3 Trong khi những ngôi nhà biến dần khỏi tầm mắt, João xoay xoay chiếc nhẫn ở ngón tay, tìm cách tránh cái nhìn của người đàn ông da bánh mật đang vừa lau nước mắt vừa nói để giải thích cảnh vừa qua: - Tội nghiệp, nhà tôi bị lao phổi. Bác sĩ bảo hết hi vọng rồi. João đăm đăm nhìn mặt biển màu lục sẫm và bây giờ mới nhớ ra là có một lý do khiến y phải trốn khỏi thành phố. Chiếc nhẫn của viên kỹ sư thật vừa tay y quá. - Cứ như là đánh riêng cho mình vậy. - Y lẩm bẩm. Nhớ đến viên kỹ sư, y cười tủm tỉm. Thật là miếng mồi ngon. Chưa bao giờ y gặp mồi ngon đến thế. Cái thằng cha chẳng biết tí gì về bài poker cả, thế mà hắn cứ để cho lột… Lột tất, phải, lột nhẵn nhụi đến cả chiếc nhẫn. Tối đó cách đây đúng một tuần, João đã vét sạch của bọn họ; chỉ kể riêng viên đại tá, y đã moi của lão tới một conto*, một nghìn milreís. Đâu phải lỗi tại y? Y đương cởi trần nằm duỗi dài rất thoải mái trên giường Violeta trong khi ả hát cho y nghe bằng cái giọng nhỏ nhẹ yếu ớt và vuốt tóc y; gã hầu bàn Tabaris bỗng xuất hiện và nói là đã tìm y khắp thành phố. Conto: đơn vị tiền tệ của Brazil. Một conto bằng một nghìn milreís hoặc một triệu reís. Rodolfo bao giờ cũng xoay xở tìm được cho y một chân. Mỗi khi có một chiếu bạc chưa đủ người, hắn thường nói với các con bạc: - Các ngài có biết đại úy João Magalhães, một vị đại úy về hưu không? Bao giờ cũng có người nói là biết y, và trước đây đã từng đánh bạc với y. - Lão ta không phải là một tay bạc bịp đấy chứ? - Những người khác hỏi. Rodolfo bất bình trả lời: - Đại úy chơi rất ngay thật. Tôi đồng ý với các ngài là ông ta chơi giỏi. Nhưng chơi ngay thật theo như tôi hiểu thì chính là cách chơi của đại úy. Hắn nói dối một cách trắng trợn nhất đời và kết luận như sau: - Một canh bạc thiếu đại úy thì không thành canh bạc. Bù lại cái điệp khúc nho nhỏ ấy, Rodolfo thường nhận được một món hoa hồng, vả chăng hắn cũng biết rằng ở bàn João Magalhães ngồi, rượu sẽ tuôn ra như suối và bọn con gái trong tiệm sẽ nhờ đó mà kiếm đẫy. Cho nên hắn đã phái người đi tìm João trong khi hắn sửa soạn bài. Sự việc đã xảy ra đúng như thế này: João đang nằm ườn, Violeta đang đưa tay vuốt tóc y và bài hát của ả sắp ru y ngủ thì gã hầu bàn đến. Y vội vã mặc quần áo và lát sau đã ở trong một căn phòng đóng kín ở cuối sòng bạc. Y đã được viên đại tá Juvêncio một conto và được viên kỹ sư tất cả những gì anh chàng có trong người kể cả chiếc nhẫn trường đại học*, mà chàng ta ném lên bàn khi thấy trong tay mình có một bộ bốn con đầm do João Magalhães chia bài. Viên kỹ sư đã thua vì đại úy có bốn con tây. Tay thứ tư, một nhà buôn ở phố dưới cũng gặp vận đỏ, hắn được độ hai trăm milreís. Thường ở bàn João đánh bài, người thứ tư bao giờ cũng thắng, điều này nằm trong kỹ thuật của y. Và bởi chưng viên đại úy rất thính về vấn đề này (các bạn y quả quyết như vậy) bao giờ y cũng chọn người thắng theo màu mắt, sao cho giống đến mức tối đa một đôi mắt khác ở Rio de Janeiro trước đây đã xoi mói một cách ghê tởm và khinh bỉ vào bộ mặt nhà nghề của y và nhìn y trừng trừng khiến y đâm luống cuống. Ở Brazil, các kỹ sư thường đeo một chiếc nhẫn có biệt hiệu chỉ nghề nghiệp của mình. Khi họ đứng dậy thì trời đã sáng. Rodolfo ước giá chiếc nhẫn đến trên một conto. Viên kỹ sư tin vào bộ bốn con đầm của mình đã đặt 320 milreís. Trên boong tàu, João cứ cười thầm một mình về chuyện đó. - Định ăn thua với một bộ bốn con đầm thì quả là ngốc. Y trở về nhà Violeta, rất phởn phơ, bụng nghĩ đến nỗi vui thích của ả hôm sau khi y sẽ tặng ả chiếc áo dài xanh ả đã trông thấy ở tủ kính cửa hàng. Ai ngờ viên kỹ sư đáng lẽ phải giữ kín chuyện, lại đi trình cảnh sát là mình bị mất cắp. Những điều anh ta nói về João thật là quá đủ. Anh ta muốn được biết đại úy được phong quân hàm ở binh chủng nào. Và nếu như sở cảnh sát không gọi João đến để hỏi chuyện tí chút thì phải chăng là vì y đã chuồn mất tăm? Rodolfo giấu y và đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ này. Agripino Doca đã tán dương với y về Ilhéus và về tàu ca cao. Cho nên sau tám tháng trú ở Bahia, y đáp con tàu này lên đường tới cái thành phố Ilhéus ấy, nơi có ca cao mọc và cùng với ca cao, những cơ nghiệp phất lên mau chóng. Ngón tay y đeo chiếc nhẫn của viên kỹ sư; một bên túi có cỗ bài và trong túi kia, độ một trăm tấm danh thiếp. ĐẠI ÚY JOÃO MAGALHÃES sĩ quan công binh Nỗi buồn xâm chiếm y khi rời cái thành phố xiết bao yêu mến trong tám tháng qua, giờ đây mờ dần, và João chăm chú theo dõi phong cảnh, cây cối, nhà cửa đằng xa mỗi lúc một nhỏ dần khi khoảng cách càng tăng. Còi tàu lại vang lên, nước bắn ướt mũ y. Y bỏ mũ ra, lấy khăn tay thơm phức lau qua chỏm mũ và cắp mũ bên tay. Rồi vuốt mớ tóc không chải mà y dụng tâm để uốn như làn sóng. Y đảo mắt khắp boong tàu. Cái nhìn của y chuyển từ người đàn ông da bánh mật vẫn đăm đăm hướng về bến tàu lúc này đã mất hút, sang viên đại tá to béo đang kể cho người khách thương nghe thành tích táo bạo của mình ở cái xứ sở bán khai São Jorge dos Ilhéus. Vừa xoay xoay chiếc nhẫn quanh ngón tay, João vừa quan sát diện mạo những người bạn đồng hành. Liệu y có tìm được trong họ những con bạc để làm một canh nhỏ không? Đành rằng trong túi y đã có một món chiến lợi phẩm kha khá, nhưng tiền bạc có làm hại ai bao giờ. Y khe khẽ huýt sáo. Trên tàu, cuộc trò chuyện đã lan rộng. João Magalhães có cảm giác là y cũng sắp xen vào góp chuyện và y nghĩ cách tổ chức một chầu poker. Y rút một điếu thuốc lá, châm lửa và đi dạo trên boong; một lần nữa, phong cảnh lại lôi cuốn y và khi đi ngang qua dải cát nổi, tàu phải chạy sát gần bờ. Trước một túp lều vách đất tiều tụy, hai thằng bé trần truồng, bụng ỏng, đang gọi con tàu. Ở một căn nhà khác, một cô gái trẻ xinh đẹp, mặt lấp ló sau cửa sổ vẫy tay từ biệt. João nghĩ bụng cái chào đó hẳn là gửi tới người đốt máy, hay tới toàn thể hành khách, nhưng y tự nhận lấy nhiệm vụ phải đáp lại và giơ bàn tay thanh thanh vẫy vẫy một cách thân ái. Viên đại tá to béo kể một cuộc đánh lộn xảy ra tại một nhà chứa ở Bahia khiến tay khách thương phải kinh ngạc. Mấy tên du côn nhãi ranh định hớt tay trên của ông một cô gái trẻ lai đen, đã bẽ mặt. Ông chỉ cần rút khẩu súng lục ra: - Nào! Lại đây! Tao ở Ilhéus đây! Thế là bọn vô lại chuồn mất như những thằng hèn. Tay khách thương rất đỗi khâm phục cái can trường của viên đại tá. - Thế mới đáng gọi là một đấng nam nhi - hắn ta nói - một bậc mày râu chân chính. Đại úy João Magalhães thong thả tiến về phía họ. 4 Rời buồng riêng, Margot đi khắp nơi trên tàu, từ đầu nọ đến đầu kia. Ả xoay tròn chiếc dù mỏng tanh, nâng cái đuôi áo đồ sộ và để cho mọi người trầm trồ, nào là bọn khách thương phát biểu những ý nghĩ dâm đãng khi ả đi ngang qua, nào là bọn điền chủ trố mắt nhìn ả chằm chặp, và cả những khách hạng ba đi kiếm việc làm ở miền Nam Bahia nữa. Vừa khe khẽ xin lỗi gần như nói thầm, ả vừa len lỏi qua nhóm này, nhóm khác, và mỗi khi ả tới gần nhóm nào là nhóm ấy lại im lặng để nhìn ngắm cho sướng mắt và cho bõ thèm khát. Tuy nhiên, sau đó chuyện trò lại tiếp tục và trở lại vấn đề duy nhất và muôn thuở: ca cao. Đám khách thương vừa cười vừa quan sát Margot và bọn điền chủ. Họ hiểu là ả đang đi kiếm một món bở nào đấy, và những gã thô kệch kia còn phải tốn khối của mới yên được với ả. Nhưng họ không cười nữa khi thấy Juca Badaró từ bóng tối xuất hiện, ôm lấy ngang lưng Margot và đưa ả tới gần lan can, từ chỗ đó có thể ngắm cảnh Itaparica khuất dần phía chân trời và những lớp nhà hợp thành thành phố Bahia. Đêm xuống nhanh trong khi con tàu vẫn tiến trong tiếng sóng vỗ. - Cô em từ đâu đến? - Và cặp mắt nhỏ của Juca Badaró lướt khắp thân hình người đàn bà trẻ để rồi cuối cùng dừng lại ở cặp đùi và bộ ngực. Hắn thò tay tới tận phía dưới lưng ả và vuốt ve các bắp thịt rắn chắc. Margot làm ra bộ bị xúc phạm: - Nào tôi có quen biết gì ông đâu? Ông suồng sã với tôi như thế là nghĩa lý gì? Juca Badaró nắm lấy cằm ả và nâng cái đầu tóc vàng lên, nhìn thẳng vào mắt Margot, dằn từng tiếng: - Chớ quên rằng cô em sẽ còn nghe nói nhiều đến Juca Badaró. Và hãy nhớ lấy là từ hôm nay trở đi, cô em đã thuộc về ta. Hãy chú ý ăn ở cho khéo, vì ta không phải là người nói suông đâu. Rồi hắn đột ngột buông cằm người thiếu phụ, quay gót đi về phía cuối tàu. Ở đằng ấy, đám hành khách hạng ba họp thành một nhóm, vẳng ra những điệu đàn ghi ta và kèn armonica du dương. 5 Trăng đã bắt đầu lên, một vầng trăng to và đỏ kệch buông một vệt dài như máu trên mặt biển tối mò. Antônio Vítor co đôi cẳng dài và ngồi dậy, tì cằm lên đầu gối. Tiếng hát của người đàn ông miền trong, ngồi kề bên anh, chìm vào mênh mông của đại dương, và nghe anh ta hát, lòng Antônio tràn đầy nỗi nhớ quê hương. Bài hát gợi lại trong trí anh những đêm trăng ở cái thành phố nhỏ nơi anh đã sống, những đêm không ai thắp đèn, những đêm đi câu trên cầu, cùng với biết bao thanh niên nam nữ khác, những đêm chuyện gẫu và cười vui, mà đi câu chỉ là một cái cớ, mà mỗi khi có đám mây che khuất ánh trăng là những bàn tay lại riết chặt lấy nhau. Ivone bao giờ cũng ở bên anh; cô mới mười lăm tuổi, nhưng đã vào làm ở nhà máy sợi. Cô đóng vai đàn ông trong gia đình, nuôi mẹ và bốn em, từ cái buổi chiều người cha bỏ đi. Không ai rõ ông ta đi đâu, không còn nghe thấy ai nói gì về ông ta nữa. Ivone phải vào làm nhà máy để nuôi chừng ấy miệng ăn; những đêm trên cầu ấy là thú vui duy nhất của cô. Cô ngả cái đầu tóc nâu lên vai Antônio và chìa đôi môi chín mọng tươi đẹp cho anh hôn mỗi khi mây che lấp vầng trăng. Còn anh thì trồng cấy một thửa ruộng kê ở giáp thành phố cùng với hai người anh, nhưng thu hoạch được rất ít. Nghe nói ở miền Nam công cao hơn nhiều, có thể làm giàu trong ngành ca cao, cho nên một hôm, cũng như cha Ivone, cũng như chính anh ruột mình, như hàng ngàn người khác, anh rời bỏ tỉnh Sergipe quê anh, và đáp tàu ở Aracaju; anh đã ngủ đêm ở một quán trọ nhỏ của bến cảng Bahia rồi lấy vé hạng ba đi Ilhéus. Anh là một caboclo* cao lớn và gầy, bắp thịt nổi cuồn cuộn, bàn tay thô đầy chai, tuổi hai mươi mà lòng buồn mênh mang. Một cảm giác trước nay chưa từng thấy xâm chiếm anh. Phải chăng vì cái vầng trăng to, đỏ kệch màu máu kia? Phải chăng vì điệu hát đau thương của bác nông dân? Caboclo: người lai da đen. Đàn ông, đàn bà chen chúc nhau trên boong, nói lên niềm hi vọng của mình, niềm hi vọng gắn chặt với mảnh đất miền Nam. - Tôi đi Tabocas. - Một người không còn trẻ nữa, râu thưa, tóc xoăn tít, nói. - Nghe nói đó là một vùng có tương lai đấy. - Nhưng người ta cũng bảo rằng đấy là một nơi man rợ, lạy Chúa xá tội cho, rất nhiều án mạng đã xảy ra ở đó. Câu nói này là của một người đàn ông nhỏ bé, giọng khàn khàn. - Tôi cũng nghe nói vậy, nhưng tôi chẳng tin tí nào. Nghe đồn thì biết bao nhiêu chuyện. - Xin tùy lượng Chúa - một người đàn bà đầu chít khăn san nói. - Tôi đi Ferradas, - một gã thanh niên tuyên bố, - tôi có một người anh làm ăn ở đấy, khá lắm; anh ấy làm cho đại tá Horácio, một tay giàu sụ! Tôi sẽ đến ở với anh tôi, anh ấy có khối việc cho tôi làm, rồi tôi sẽ về đón Zilda. Một người đàn bà muốn rõ chuyện, hỏi: - Vợ chưa cưới à? - Không, vợ chính thức; chúng tôi có một bé gái lên hai và sắp thêm cháu nữa. Con bé kháu lắm. - Chú sẽ không trở về được đâu, - một ông già khoác áo choàng nói. - Chú sẽ không trở về nữa vì Ferradas chính là cái bẫy lớn nhất trên đời để dử những kẻ ngu ngốc. Chú muốn làm thợ hay làm nghề giết người? Lão đại tá không sẵn việc cho những kẻ không biết giết người, chú sẽ chẳng bao giờ trở về được đâu. Và ông lão khạc nhổ một cách giận dữ. Antônio nghe thấy câu chuyện đó, nhưng điệu nhạc từ nhóm đằng kia vẳng lại, những điệp khúc nhịp nhàng của kèn armonica và đàn ghi ta, lại một lần nữa đưa anh về với chiếc cầu ở Estância, nơi có trăng đẹp mê hồn và cuộc đời thật êm ả. Ivone đã van xin anh đừng đi. Mảnh ruộng kia có thể đủ nuôi sống cả hai. Tại sao lại muốn chạy theo đồng tiền ở một nơi người ta đồn là có biết bao nhiêu chuyện khủng khiếp? Tuy vậy, trong một đêm trăng trời đầy sao, những vì sao đẹp rực rỡ, Antônio Vítor chân đu đưa trong dòng nước, đã quyết định đi Ilhéus. Những người đi đến đó trước anh đã viết thư về cho gia đình biết là ở đó dễ kiếm tiền, dễ tậu một mảnh đất để trồng trọt một thứ cây gọi là ca cao, một thứ cây có quả màu vàng ối và còn quý hơn cả vàng nữa. Ở đấy đất chờ người nào muốn có đất; đất chưa thuộc về ai cả. Nó sẽ thuộc về tay ai có gan lao mình vào nơi hoang vu, khai phá rừng, trồng ca cao, kê và sắn, chịu khó sống vài năm bằng bột và chim muông cho đến khi ca cao bắt đầu ra quả. Bấy giờ sẽ giàu to: tiền nhiều không tiêu xuể, có nhà ở thành phố, có cả xì gà, ủng bằng da loại tốt… Trái lại, đôi khi cũng có người kể rằng trong bọn họ có kẻ đã chết vì một viên đạn hoặc vì bị rắn cắn, vì một nhát dao găm trong một cuộc ẩu đả ở thành phố hay vì một phát súng trong một cuộc mai phục. Nhưng có sá gì một nhân mạng khi mà người ta có thể kiếm ra bao nhiêu là của cải. Ở thành phố quê hương của Antônio Vítor, người ta sống lầm than, không hi vọng gì ở tương lai. Hầu hết đàn ông đã ra đi, ít có người trở về. Mà những ai trở về thì bao giờ cũng chỉ là để thăm viếng qua quýt, và họ khó hòa hợp được với cuộc sống xưa kia sau bao nhiêu năm xa cách, bởi vì khi trở về, họ đã giàu có, nào đồng hồ vàng, nào nhẫn đầy tay, nào ngọc trai đính cà vạt. Họ tiêu thả sức, vung tiền mua quà cho họ hàng hoặc cúng cho nhà thờ hay vị thánh họ mang tên, hiến lễ cho những ngày hội cuối năm. “Anh ta đã giàu có trở về.” Ấy, cả thành phố nghe truyền rộn lên như vậy, và những kẻ về để rồi lại ra đi vì không quen được với cuộc sống yên tĩnh ở thành phố cũ lại càng khuyến khích Antônio Vítor đi theo họ. Ivone là người độc nhất níu chân anh lại: đôi môi, bầu ngực nóng ấm, giọng nói cầu khẩn, cái nhìn van lơn của nàng. Nhưng rồi một hôm anh đã dứt khoát cắt đứt, anh ra đi, bỏ lại Ivone nức nở trên cầu, nơi họ từ biệt nhau. - Một năm nữa, anh sẽ giàu, anh hứa vậy, và anh sẽ trở về đón em. Trăng Estância giờ đây soi tỏ con tàu, nhưng không còn là vầng trăng vàng tỏa ánh sáng tràn ngập những đôi trai gái yêu nhau trên cầu. Đây là một mặt trăng đỏ. Và có một ông già bảo rằng chẳng ai đến đất ca cao mà lại trở về được. Trong lòng Antônio có một cảm giác anh chưa từng thấy. Sợ chăng? Nhớ quê hương chăng? Trăng gợi cho anh nhớ đến cặp môi của Ivone, cặp môi van xin anh đừng đi, và đôi mắt đẫm lệ của nàng trong cái đêm họ vĩnh biệt nhau. Đêm ấy không có trăng. Chẳng có ai câu trên cầu cả. Trời âm u; họ nghe thấy bên dưới tiếng rì rào của dòng sông, khi Ivone đến gặp anh với tấm thân nồng nàn và nóng hổi, với khuôn mặt đẫm nước mắt. - Anh nhất định đi ư? - Im lặng một lúc lâu, một im lặng buồn thảm - Anh sẽ chẳng bao giờ trở lại. - Anh thề với em là anh sẽ trở về. Nàng lắc đầu rồi nằm xuống bên bờ sông và gọi anh. Nàng lặng lẽ trao thân cho anh không tiếng kêu rên. Sau đó, nàng buông chiếc áo dài vải chúc bâu xuống, hoa trên áo phai màu giờ nhuốm máu; nàng úp hai bàn tay lên mặt và nói với anh những lời ngắt đoạn: - Anh sẽ chẳng bao giờ về nữa. Một ngày kia có kẻ có thể chiếm đoạt thân em, thà rằng anh là người đầu tiên còn hơn. Như vậy anh sẽ hiểu em yêu anh biết chừng nào. - Anh thề với em là anh sẽ về. - Anh sẽ chẳng bao giờ về nữa. Hơn cả nỗi cảm khoái nàng đem lại cho anh, Antônio thấy xao xuyến vì đã chiếm thân nàng như thế; anh cũng thấy xao xuyến khi nghĩ rằng mình đã để lại một đứa con. Anh tự nhủ mình phải kiếm tiền cho nàng và cho con, và một năm nữa sẽ quay về. Ở Ilhéus có thể mua được đất dễ dàng. Anh sẽ trồng ca cao, hái quả và sau đó sẽ trở về bên Ivone và đứa bé. Tuy rằng đúng là cha nàng chẳng bao giờ trở về và chẳng ai biết giờ ông ta ở đâu. Và vừa đây ông lão bảo là chẳng ai ở cái xứ ấy thoát về được, cả đến người có vợ và hai con. Sao chiếc armonica kia vẫn cứ thổi hoài? Nhạc đâu mà buồn vậy? Và trăng kia muốn gì, hỡi vầng trăng đỏ máu ngự trên biển cả? 6 Bài ca buồn như một điềm gở. Gió thổi lồng trên mặt biển, giật lấy những nốt nhạc tung đi khắp nơi, khiến cho khúc nhạc tưởng như không bao giờ muốn dứt. Nhạc dâng sầu trong lòng những hành khách hạng ba và trong lòng người đàn bà chửa đang níu lấy cánh tay Filomeno giữa đám khách ấy. Những điệu kèn armonica đệm cho khúc nhạc mà chàng thanh niên đang hát bằng một giọng khỏe khoắn. Antônio Vítor thu đôi cẳng dài lại sát người, trong khi hình ảnh xứ Estância thanh bình và hình ảnh Ivone trao thân cho anh không một tiếng thì thầm, cứ quyện lẫn vào những ảo tưởng tươi mới về một vùng đất đai còn phải chinh phục, đất của những cuộc ẩu đả, của súng đạn và chết chóc bất thần, của tiền bạc và ngân phiếu. Một hành khách đơn lẻ, không bắt chuyện với ai, đang lách một lối đi giữa các nhóm và đến nằm dài ra trên boong. Trăng để lại một vệt đỏ nhạt trên mặt biển, trong khi tiếng hát vò xé lòng người: Vĩnh biệt người yêu ta từ giã Để không bao giờ nữa trở về Giờ đây, ảo tưởng về một miền đất đai xa xăm khác, về những con người khác, những vùng biển khác, những bến bờ khác, một miền thôn dã khô cằn lại đến. Và biết bao hành khách trên con tàu nhỏ này đã để lại sau lưng một mối tình. Có những người ra đi vì mối tình đó, tìm cách để chinh phục người yêu, tìm vàng để mua lấy hạnh phúc, cái thứ vàng ngọc trên những cây ca cao ở đất Ilhéus. Thế mà bài hát lại bảo rằng họ sẽ không trở về nữa; rằng trên đất ấy, cái chết đang rình họ sau mỗi thân cây. Và trăng thì đỏ đọc trong khi con tàu chồm lên và chòng chành trong đợt sóng chao nghiêng. Dưới tấm áo choàng, ống chân và bàn chân ông lão để trần. Ông hút một điếu thuốc lá, đôi mắt nhìn khắc khổ. Ông rít một hơi để ánh lửa lóe lên cho một hành khách châm tiếp. - Cảm ơn bố lắm. - Không dám. - Xem chừng như muốn có dông. - Giờ là mùa gió Nam. Đôi khi gió thổi mạnh đến nỗi không một tàu nào đương nổi. - Ở Ceará mới có những cơn dông to chứ. - Người đàn bà nói - Cứ tưởng như đến ngày tận thế ấy. - Phải, lão nghe thấy người ta nói thế. - Ông già đáp - Phải, người ta nói vậy… Họ nhập bọn với một nhóm đang trò chuyện gần đám người chơi bài. - Cụ ở Ilhéus? - Lão sống ở Tabocas đã gần được năm năm rồi. Lão ở nội địa tới. - Cụ tuổi tác thế này rồi còn làm gì ở đây? - Con trai lão là Joaquim tới đó trước. Nó làm ăn khá giả, có một mảnh đất nhỏ trồng ca cao. Mẹ nó mất, nó cho người tìm lão. Đến đây, ông cụ im bặt, dường như lắng nghe tiếng nhạc theo gió bay về thành phố khuất trong đêm tối. Những người khác ráng chờ, nhưng chỉ có tiếng rì rầm từ khoang hạng nhất và tiếng hát phá tan im lặng. Để không bao giờ trở lại Và chết ở đất xa xăm Tiếng hát vẫn tiếp tục tới khi tiết trời làm mọi người rùng mình. Một cơn gió mạnh thổi nhanh từ phương Nam tới và con tàu chồm chồm trên ngọn sóng. Nhiều hành khách trước đây chưa từng đi tàu thủy bao giờ. Họ đã xuyên qua những cánh rừng không dung khách nội địa, trên một chuyến xe lửa gồm rất nhiều toa chở người di cư. Ông già có đôi mắt khắc khổ nhìn mọi người: - Các bạn có nghe thấy không? Để không bao giờ trở lại Và chết ở đất xa xăm - Đấy, sự thật là như thế; tất cả những người ra đi đều không trở lại bao giờ. Cứ y như là bị chài phép, bị bẫy vậy. Lão bảo thật đấy: tất cả những ai… - Nhưng ở đấy dễ kiếm tiền phải không cụ? Người thanh niên đăm đăm nhìn ông lão, mắt bừng lên một ánh lửa. - Tiền ư? Đó chính là cái nó bẫy họ tìm đến vì ở đấy kiếm được tiền, nhưng đó là thứ tiền mang tai mang họa, thứ tiền chết tiệt. Nó chẳng bao giờ đậu lại trong tay; ta trồng một ít ca cao… Nhạc lúc này nghe dịu hơn, như nghẹn lại. Những tay chơi đánh xong ván bài. Ông già nhìn chòng chọc vào mắt chàng trai trẻ, sau khi đã đảo mắt nhìn khắp lượt những người xung quanh đang uống từng lời của ông: - Các bạn đã bao giờ nghe nói chuyện “tiếm đoạt” chưa? - Tôi có nghe nói rằng đó là một kiểu lừa đảo bằng cách đưa nhân viên tư pháp đến lấy đất của mình. - Một tên thầy cò cùng đến với một viên đại tá; chúng tiến hành “tiếm đoạt” để cướp không những cây ca cao do chính tay ta trồng. Một lần nữa ông già lại đảo mắt nhìn quanh. Rồi ông xòe đôi bàn tay thô kệch ra: - Các bạn trông thấy đôi bàn tay này chứ? Nó đã trồng biết bao nhiêu cây ca cao. Lão và Joaquim đã dựng lên hết rừng này đến rừng khác; bố con lão đã làm việc như trâu lăn, đúng như vậy đấy! Giờ chúng tôi còn lại cái gì? Ông lão đặt câu hỏi với tất cả, với những người chơi bài, với người đàn bà chửa, với gã thanh niên. Rồi ông lại làm ra vẻ chú ý nghe nhạc, đồng thời đưa mắt ngắm trăng ở phía xa xa. - Người ta bảo khi trăng có sắc máu như tối nay thì sẽ có chuyện lôi thôi ngoài phố. Tối hôm chúng giết Joaquim, trăng cũng màu này. Chúng chẳng có cớ gì để giết nó; hoàn toàn chỉ do tàn ác mà thôi. - Tại sao chúng giết anh ấy? - Người đàn bà nói. - Tên đại tá và tên thầy cò, đã bày ra một vụ “tiếm đoạt”; chúng đã cướp ca cao của bọn lão trồng; chúng bịa ra rằng đất là của tên đại tá, Joaquim không có quyền gì vào đó cả. Tên đại tá Horácio cùng lũ sát nhân của hắn đến với một mớ giấy tờ hợp pháp. Chúng đuổi bố con lão ra khỏi đất của mình và chúng còn giữ cả ca cao đã phơi khô, chờ ngày bán. Joaquim là một thanh niên tốt, nó không sợ lao động, nhưng sau khi chúng cướp mất cánh rừng của nó, nó đã trở thành người bỏ đi. Nó bắt đầu uống rượu, và một hôm, rượu vào, nó kể lể với người ta là nó sẽ trả thù, nó sắp hạ thủ tên đại tá. Một tên cabra* của thằng đại tá nghe thấy, bèn báo lại cho chủ; đêm hôm sau, chúng đã mai phục giết Joaquim trên đường đi Ferradas. Cabra: con cái của một người đàn ông lai đen với một người đàn bà da đen (hoặc ngược lại). Nghĩa riêng: Tên giết người. Ông già im bặt và không một ai hỏi ông câu gì. Đám bạc lại tiếp tục chơi; người cầm trương ném ra hai lá bài, những người khác đặt tiền. Nhạc tắt dần trong đêm; gió mỗi lúc một thổi mạnh. Ông già kể tiếp câu chuyện: - Joaquim vốn tôn trọng pháp luật, - ông cụ nói, - nó chẳng bao giờ giết ai đâu. Tên đại tá Horácio biết rất rõ điều đó và tay chân của hắn cũng biết vậy. Joaquim nói thế là vì nó say rượu, nó đâu có định giết tên kia. Nó là một thanh niên cần cù; nó chỉ muốn kiếm sao cho đủ sống mà thôi. Đành rằng nó buồn khổ vì bị cướp mất rừng ca cao thật, nhưng nếu nó không uống rượu thì chẳng bao giờ nó nói thế! Nó không phải đứa giết người, bọn chúng đã giết trộm nó. - Thế chúng có bị bắt không? Ông cụ lại khạc nhổ, vẻ khinh bỉ. - Ngay cái đêm chúng giết nó, chúng đến chè chén ở một quán rượu và ba hoa khoe khoang về chuyện này. Cả nhóm im lặng. “Bảy”, một người chơi bài nói. Nhưng người được cũng không buồn nhặt tiền nữa vì đang mải nhìn ông lão vẫn đứng nguyên đó, trầm lặng, đơn độc với nỗi buồn riêng, như quên hết sự đời. - Còn cụ? - Người đàn bà có mang khe khẽ nói. - Chúng đưa lão lên tàu đi Bahia, chúng bảo rằng lão không thể ở lại đấy được nữa. Nhưng bây giờ, lão lại quay về. Ông lão bỗng đứng thẳng lên, ánh mắt lại nghiêm khắc như lúc kể xong câu chuyện, giọng ông đanh lại. Ông nói tiếp: - Bây giờ lão quay về, lão sẽ ở lại đấy mãi mãi và không ai đuổi được lão nữa. Số phận quyết định mọi điều xảy đến với ta, bác ạ. Lúc sinh ra, người ta không tốt mà cũng chẳng xấu; khoèo chân, gù lưng là tại số cả thôi. - Nhưng… - Người đàn bà ngập ngừng. - Cứ nói đi. - Nhưng rồi cụ sẽ sống ra sao? Bây giờ, cụ đã đến tuổi không làm được việc nặng nữa rồi. - Khi người ta đã quyết định làm một việc gì, bác ạ, thì mọi sự sẽ ổn thôi. Mà lão đây thì đã quyết rồi. Con trai lão là một thanh niên trung thực; không khi nào nó lại giết tên đại tá, còn lão cũng chẳng muốn dính vào máu cho bẩn tay. Ông cụ nhìn hai bàn tay đầy vết chai vì công việc trồng trọt: - Nhưng chúng đã giết con trai lão. - Vậy ra cụ… - người đàn bà định nói, giọng run lên vì khiếp sợ. Ông già quay lưng lại và thong thả đi ra xa. - Rất có thể ông lão sẽ giết đấy. - Đó là lời bình luận của một người hom hem dự cảnh ấy. Nhạc lại cất lên, vang to hơn trong đêm; trăng tiếp tục lên nhanh trên vòm trời. Người cầm trương gật đầu tán thành, xác nhận điều người đàn ông gầy còm vừa mới nói. Người đàn bà có chửa nắm lấy cánh tay Filomeno: - Em sợ… Chiếc kèn armonica ngưng bặt; trăng giống như một vũng máu. 7 José da Ribeira át hẳn nhóm kia. Lão nói về những sự việc xảy ra trên đất ca cao, thôi thì cơ man nào là chuyện. Lão khạc nhổ luôn miệng, vui thích được làm đầu trò dẫn dắt câu chuyện và được kể những điều mình biết. Người ta chăm chú nghe lão, như một người đáng để học tập. - Tôi đã suýt thay đổi ý kiến và không muốn đến đó nữa khi nghe nói vùng ấy có bệnh sốt chết người như bỡn. - Một người đàn bà nhỏ bé đang cho con bú nói vậy. José bật cười khi tất cả quay về phía lão. Lão lấy giọng chắc chắn của người hiểu biết: - Họ không nói dối bà đâu. Thật đấy, bà bạn ạ, tôi đã thấy nhiều người khỏe như vâm, chết vì bệnh sốt ấy. Chỉ ba đêm là tong. - Y như bệnh đậu mùa ấy à? - Có nhiều thứ đậu mùa lắm, nhưng thứ tôi muốn nói đây không phải là đậu mùa. Có đậu mùa, thủy đậu và tất cả các thứ bệnh thuộc loại này; lại có bệnh sốt đen là nguy hiểm hơn hết. Tôi chưa thấy ai bị bệnh đó mà sống sót được, nhưng vẫn không phải thứ tôi muốn nói. Bệnh này là một thứ sốt mới. Không ai biết nó là cái gì. Nó cũng chẳng có tên nữa. Chẳng có triệu chứng gì hết, độp một cái anh bị sốt và trong nháy mắt là đi đứt. - Xin các Thánh che chở chúng tôi, - một người đàn bà khác nói. José nhổ nước miếng và tiếp tục ôn chuyện cũ: - Một hôm, có một ông bác sĩ đến, mang theo đủ thứ bằng cấp và trăm thứ bà giằn. Ông ta còn trẻ, thậm chí chưa có râu nửa kia. Mặt mày cũng đẹp. Ông ta nói là sẽ tiêu diệt bệnh sốt ở Ferradas, nhưng chính bệnh sốt đã tiêu diệt ông ta, cả người lẫn xác cùng một lúc; vì nó quả là cái xác chết xấu nhất mà tôi từng thấy, xấu hơn cả Garangau, anh chàng bị đâm chết ở Macacos nữa kia. Hắn bị xả ra từng mảnh, bị móc mắt, cắt lưỡi và lột da ngực. - Sao người ta nỡ làm thế, thật tội nghiệp? - Người đàn bà có con thơ nói. - Tội nghiệp! - José da Ribeira bật cười, một tiếng cười tự trong bụng phát ra, ồm ồm. Lão có vẻ thích thú ghê lắm. - Tội nghiệp! Ở miền Nam, chẳng có tên sát nhân nào ghê gớm hơn nó! Úi chào, có hôm nó khử liền bảy người ở Juparana đấy. Nó thực quả là kẻ đê mạt nhất mà Thượng đế đã sinh ra. Những người nghe chuyện lão ta rất xúc động, nhưng một người vùng Ceará lên tiếng: - Bảy là con số tầm bậy, ông bạn José ạ. José vẫn vừa cười vừa hút thuốc lá; lão chẳng tỏ vẻ phật ý gì cả. - Anh bạn chỉ là một đứa con nít thôi, - lão nói. - Anh bạn đã biết gì về cuộc đời nào? Anh bạn trông thấy tôi đấy chứ, với cái gánh nặng năm mươi tuổi đời trên vai đây? Này này, tôi đã từng bôn ba khắp chốn. Tôi đã từng sống mười năm trong những cánh rừng ấy, trước đó, tôi đã đi lính và trong đời lính tôi cũng đã nếm đủ mùi cơ cực; nhưng không gì có thể so sánh được với những điều người ta thấy ở nơi kia. Anh bạn có bao giờ nghe nói về một chuyện “mai phục” chưa? - Có, - một người trong bọn kêu lên. - Nghe nói là họ nấp sau một gốc cây rình người nào đó rồi bắn. - Đúng; vậy thì, nghe đây. Tôi biết có một người đánh cá mười milreís với bạn. Hắn đánh cá là người bị giết sẽ từ phía này tới, còn bạn hắn cược là người đó từ phía kia tới; người đầu tiên qua đó sẽ ăn viên đạn quyết định kẻ thắng cuộc. Các người đã bao giờ thấy cái gì quái quỷ hơn chuyện đó chưa? Người đàn ông ở Ceará rùng mình khiếp sợ. Một bà trong đám phụ nữ không tin: - Thế chúng làm như vậy chỉ để được cuộc thôi ư? José da Ribeira lại nhổ và tiếp tục giải thích: - Tôi đã đến đấy. Tôi đã từng đi rất nhiều nơi trong thiên hạ, tôi đã đi lính, tôi đã thấy những chuyện ghê gớm đến rợn tóc gáy. Nhưng tôi chưa hề thấy có gì giống như những điều thường thấy ở nơi ấy. Họ là những người đàn ông, những hảo hán cả đấy, đúng thế, nhưng ở đấy chỉ có tiền là đáng kể. Nhanh tay bóp cò thì sẽ khá giả. - Thế chứ bác, bác làm gì ở đấy? - Tôi đã làm cảnh sát một thời gian. Rồi tôi mua một cái đồn điền nho nhỏ, lời lãi hơn và tôi sống ở đấy. Tôi đi Bahia để nghỉ và mua những thứ cần thiết. - Thế mà bố lại về bằng vé hạng ba hở bố? José lại cười mỉm, vẫn nụ cười từ bên trong ấy. - Bọn gái chơi đã bòn hết tiền của tôi rồi, chú mày ạ, - lão thú thật. - Đàn bà ở thành phố là mèo hoang ở rừng. Thấy một mẻng da trắng nào ở thủ đô là mình cứ lóa cả mắt lên. Bọn gái đã vét của tôi nhẵn như chùi rồi. Chẳng ai bàn tán thêm về chuyện này vì lúc đó một người đàn ông nhỏ bé, tay cầm roi mềm, đầu đội mũ rộng vành vừa dừng lại trước mặt họ. José quay lại và kính cẩn nói với hắn ta: - Chào ngài Juca. - Chào ông bạn. Đồn điền dạo này thế nào? - Tôi đi vắng gần một tháng nay, nếu Chúa thương, năm nay tôi sẽ vỡ hoang nhiều hơn ạ. Juca Badaró gật đầu, mắt nhìn nhóm người. - Anh biết những người này? - Thưa ngài Juca, tôi mới làm quen với họ. Ngài hỏi vậy là có duyên cớ gì đó ạ? Đáng lẽ nên trả lời, Juca lại lách vào giữa đám người. - Anh ở đâu tới? - Hắn hỏi một người trong bọn. - Thưa ông chủ, ở Ceará. Ở Crato. - Làm nghề gì? Dắt la ư? - Thưa ngài không, ngài bỏ quá cho. Trước cháu có một cái trại nhỏ. - Và không đợi hỏi thêm - Hạn hán đã làm cháu khánh kiệt cả. - Anh có gia đình chưa? Sống một mình à? - Cháu đã có vợ và sắp có con ạ. - Anh có muốn làm cho tôi không? - Thưa ngài có, xin cảm ơn lòng tốt của ngài. Juca đi mướn người như thế đó; hắn mướn người cầm trương, một tay chơi bài khác, người đàn ông ở Ceará, anh chàng trai trẻ và mướn cả Antônio Vítor đang mải ngắm bầu trời với hàng ngàn ngôi sao trên đó. Nhiều người xin việc nhưng hắn từ chối. Hắn rất biết người biết của và nhanh chóng nhận ra những người được việc cho đồn điền của hắn: đốn cây, làm đất, trông nom mùa màng. 8 Đại úy João Magalhães gọi rượu porto. Tay khách thương thuận uống, nhưng viên đại tá từ chối; tàu chòng chành làm ông ta cồn cào cả ruột gan. - Cứ cái gió quỷ quái này, lại rượu vang vào thì tôi đến nôn mật xanh mật vàng xuống biển mất. - Vậy ngài dùng bia nhé? Hay một cốc cognac? Viên đại tá không muốn uống gì cả. João Magalhães kể những chuyện bố láo về cuộc sống của y ở Rio de Janeiro, với tư cách là đại úy và nhà kinh doanh quan trọng. “Tôi có khối nhà và cả khế ước nữa.” Phút chốc, y bịa ra một câu chuyện tưởng tượng về một món gia tài thừa kế của một bà cô triệu phú, chết không có con cái. Y nhắc đến những chính khách lớn đương thời, bạn của y - y mạo nhận như vậy - gọi họ bằng tên tục và nói là vẫn đánh bài, uống rượu với họ. Y đã về hưu và đi du ngoạn để xem phong cảnh đất nước. Y vừa ở Rio Grande do Sul trước khi thăm các nước khác. Y không thuộc cái loại người vừa kiếm được tí tiền đã tót sang Paris tiêu pha với những người Pháp. Viên đại tá tán thành và thấy đó là một lòng ái quốc cao cả, rồi ông ta muốn biết rõ về những nhà chứa ở Pháp, ở Rio de Janeiro; có thật ở đấy người ta làm đủ mọi trò, hay đó chỉ là những chuyện đồn đại bẩn thỉu. Vì ông ta đã nghe nói là ở đấy có những phụ nữ chuyên làm những việc ấy. João Magalhães xác nhận điều đó và bèn tô vẽ thêm lên, đưa ra mọi thứ chi tiết hấp dẫn, lại được tay khách thương phụ họa vào, tay này cũng muốn tỏ ra mình sành sỏi về chuyện đó (hắn ta đã có lần đến Rio de Janeiro và cuộc đi thăm này là sự kiện quan trọng nhất trong đời hắn). Viên đại tá thích mê. - Chà, đại úy kể cho tôi nghe cái gì đấy? Quả thật là tởm. Thấy thế, viên đại úy càng tố thêm. Tuy nhiên, y không lan man tả những chuyện kia nhiều quá, mà quay lại chuyện cái gia tài y hiện có và những quan hệ giao du quyền quý của y. Y có thể làm việc gì ở Rio de Janeiro giúp ngài đại tá? Có cần y rỉ tai giới thiệu một lời với nhà chính khách nào không? Nếu có thì ngài đại tá chỉ cần bảo y một tiếng là xong. Có y đây là để làm việc đó, để giúp đỡ bạn bè. Y chỉ tiếc không được làm quen với ngài đại tá sớm hơn; hai người sẽ ăn ý với nhau một cách tuyệt diệu và y sẽ rất sung sướng được giúp đỡ ngài đại tá bằng bất cứ cách nào. Xem ra viên đại tá không cần gì ở Rio de Janeiro cả, nhưng vẫn cứ sốt sắng cảm ơn. Giữa lúc ấy, Maneca Dantas đi qua. Đó là một người béo lùn, có khuynh hướng phát phì; áo sơ mi của ông ta ướt đẫm mồ hôi, bàn tay lạnh và nham nháp. Viên đại tá gọi ông ta lại và giới thiệu: - Xin giới thiệu với các vị đây là đại tá Maneca Dantas, một đại điền chủ vùng chúng tôi. Ông ấy nhiều tiền đến nỗi không biết dùng làm gì nữa. João Magalhães đứng dậy; phong thái của y hết sức lịch thiệp. - Đại úy João Magalhães, sĩ quan công binh, xin hầu tiếp ngài. Y rút một tấm danh thiếp chìa cho đại tá Maneca; rồi y đẩy một chiếc ghế tựa mời ông ta ngồi, làm như không nghe thấy lời nhận xét gã khách thương phát biểu với đại tá Ferreirinha: - Một người lịch sự. - Có học thức và có giáo dục, điều đó thật rõ ràng. Đại tá Maneca đồng ý uống rượu vang. Ông ta không dễ gì bị say sóng. - Ở đây tôi cũng thấy thoải mái y như trên chiếc giường của tôi ở Auricídia. Auricídia là tên cái đồn điền bé nhỏ của tôi, đại úy ạ. Nếu đại úy muốn ghé qua chơi vài ngày. Có nghĩa là nếu ngài bằng lòng dùng tạm món thịt bò sấy… Ferreirinha phá lên cười giễu cợt: - Thịt bò sấy! Thực ra, thưa đại úy, ở Auricídia, mỗi bữa ăn trưa là một bữa tiệc, mỗi bữa chiều là một bữa cỗ ngày lễ rửa tội. Trong bếp của Dona* Auricídia có những mụ da đen nấu nướng giỏi như thiên thần. Dona: phu nhân, bà. Và đại tá Ferreirinha, vốn người sành ăn, thè lưỡi liếm môi tựa hồ ông ta trông thấy ngay trước mắt những món ăn ông đang tả vậy: - Những con mụ ấy làm dồi thật tuyệt! Có thể khiến cho một người theo đạo Thiên Chúa như trông thấy thiên đàng. Maneca Dantas mỉm cười, vô cùng mãn nguyện về những lời khen ngợi ấy: - Cuộc sống ở đấy thì chỉ có như vậy làm vui thôi, - ông ta giải thích, - người ta sống ở đấy như giữa sa mạc; phải đến đấy để làm ca cao, làm quần quật như bất cứ một thằng nhà quê nào, phải đề phòng rắn cắn, tránh những viên đạn của các cuộc mai phục; thế mà không ăn cho sướng thì còn cái gì nữa? Ở đấy chẳng có những trò chơi giải trí sang trọng của nơi đô thị, chẳng có rạp hát, chẳng có gái, chẳng có quán cà phê, chẳng có gì cả. Chỉ có làm việc ngày đêm, chặt cây và trồng ca cao. Ferreirinha xác nhận lời nói của bạn: - Họ làm việc vất vả thật, quả có thế. - Nhưng ở đấy lại kiếm được nhiều tiền, - người khách thương vừa xen vào, vừa chùi rượu vang dính trên môi. Maneca Dantas lại mỉm cười: - Đúng thế, - ông ta nói, - ở đấy thì làm ra tiền đấy; đó là một vùng đất tốt, thưa đại úy, một vùng đất đai bõ công làm. Thu hoạch tốt, người ta trồng được nhiều ca cao và được trả giá hời. Về mặt này thì chúng tôi chẳng có gì đáng phàn nàn. Lúc nào cũng có đủ các thứ để thết đãi bạn bè. - Ngày 16, tôi sẽ ở quanh vùng đó, - người khách thương nói (hắn đang trên đường đi Sequeiro Grande); - tôi sẽ ghé qua ngủ đêm ở đấy. - Xin hầu tiếp ngài, - Maneca nói - Còn ngài đại úy, ngài có định tới đó không? João Magalhães trả lời là có thể, vì y có ý ghé qua vùng này một thời gian. Thực tình, y cũng muốn xem xem có đáng bỏ một món tiền đầu tư vào đất ca cao không. Ở Rio de Janeiro, người ta đã nói với y về vùng này, về tiền bạc có thể kiếm được ở đó và y cũng rất muốn bỏ một phần vốn vào việc mở đồn điền. Kể ra y chẳng có lý do gì để phàn nàn; phần lớn vốn liếng của y đầu tư vào nhà cửa ở Rio de Janeiro thu lợi cho y cũng khá, nhưng y còn một số tiền nhà băng nợ lại sau khi quyết toán, khoảng vài chục conto, và y cũng có một khoản tiền quan trọng bằng công trái nữa. Nếu việc này bõ bèn, đáng làm… - Chắc chắn là đáng làm đấy, đại úy ạ. Maneca Dantas nghiêm trang nói: - Hẳn thế. Ca cao là một loại cây trồng mới nhưng với loại cây ấy, đất này là đất tốt nhất thế giới. Nhiều chuyên gia đã lên xem xét kỹ và tất cả đều nhất trí như vậy; không có đất nào trồng ca cao tốt hơn, không thể đòi hỏi năng suất cao hơn thế. Có đánh đổi lấy cà phê, thậm chí lấy mía nữa, tôi cũng không ưng. Duy có một điều đáng chê là người ở đó tính khí cục cằn và dễ cãi nhau, đánh nhau; nhưng cái đó không có gì đáng ngại đối với một người có bản lĩnh như ngài. Đại úy ạ, tôi cam đoan với ngài là: hai mươi năm nữa, Ilhéus sẽ là một thành phố lớn, một thủ đô; và tất cả những thành phố nhỏ hiện nay cũng sẽ trở thành những thành phố lớn. Ca cao là vàng, đại úy ạ. Họ tiếp tục trò chuyện như vậy, bàn tán về các cuộc hành trình, hết chuyện này đến chuyện khác. João Magalhães nhắc đến những xứ sở khác y đã tới thăm, những chuyến viễn du trên đất liền và trên những tàu biển lớn. Mỗi phút qua đi, uy tín của y lại tăng thêm và cứ mỗi chuyện y kể ra thì rượu càng nhiều và vòng người hâm mộ y càng lớn. Trong suốt thời gian ấy, đại úy đã tìm cách khéo léo lái họ sang chuyện đánh bài và cuối cùng một canh poker được tổ chức. Đại tá Totonho, điền chủ ở Riacho Doce ngồi vào bàn, nhưng gã khách thương không tham gia; tiền cược vượt quá khả năng của hắn, tiền đặt lên nhanh quá. Thành thử ra chỉ có João và ba viên đại tá họp thành một bàn, còn những người khác ngồi chầu rìa. - Tôi không thạo kiểu chơi này lắm, - Maneca vừa cởi áo khoác vừa nhận định như vậy. Ferreirinha phá lên cười ông ổng: - Đừng có tin ông ta, đại úy ạ. Maneca là bậc thầy về bài poker đấy. Tôi chưa hề thấy ai đánh giỏi như ông ta! Maneca bỏ khẩu súng lục vào túi áo khoác; đeo nó ở thắt lưng trông lộ liễu quá; João Magalhães nghiêm túc tự hỏi có nên để thua những ván đầu và chưa trổ tài ngay không. Người bồi bàn mang bài tới. - Chơi cả joker* chứ? - Maneca hỏi. Quân bài tây vẽ hình một anh hề (Joker) có tác dụng trở thành một quân bài khác tùy theo ý muốn của những người rút được quân đó. Ta quen gọi là “phăng-teo”. - Tùy ý ngài, - João Magalhães đáp. - Để cả joker thì chẳng phải là chơi poker nữa, - Totonho lần đầu tiên lên tiếng - Ta bỏ joker đi, các vị đồng ý chứ? - Phải lắm, ông bạn của tôi ạ, - và Maneca bỏ quân joker ra. Ferreirinha cầm trương và mỗi người bỏ năm trăm milreís mua thẻ. João hết sức chăm chú quan sát Totonho. Lão này có con mắt nhìn lờ đờ và đeo ba chiếc nhẫn ở cùng một bàn tay. Lão có vẻ lầm lì và nín lặng. Tốt hơn là cho bài lão ta. Viên đại úy quyết định không ăn gian mà đánh thực thà, thậm chí nếu có thể thì đánh ngớ ngẩn nữa, để thua một tí ti. Như thế y sẽ nhử được các bạn chơi vào một canh khác lợi hơn vô kể. Trên tay y có một đôi “K” và y đi tiền. Maneca tố thêm mười sáu đồng. Ferreirinha bỏ, Totonho theo và João “đắt”. Ferreirinha chia bài, Maneca rút hai quân, Totonho rút một. - Đến lượt các ngài, - João nói. Totonho vứt bài xuống, Maneca đi tiền nhưng không có ai “đắt” và hắn vơ gọn. Hắn tháu cáy và hắn không thể đừng được, chìa bài cho mọi người xem. “Ba bánh xe”, - hắn nói. Hắn có một cây “K”, một cây “Q”, một cây “J”; hắn định rút lấy một bộ suốt*. João Magalhães vừa cười vừa vỗ vai hắn: Tức là “A” “K” “Q” “J” và 10. - Giỏi lắm, đại tá, thật là rất cừ. Totonho nhìn hắn không mỉm cười nhưng cũng không nói gì. Viên đại úy thua sạch cả tiền có trong người, để cho những tay chơi kia được. Không nghi ngờ gì nữa, y sắp làm giàu ở đất ca cao. 9 Xem đánh bài chán, gã khách thương lên boong, nơi Margot đang cúi xuống mặt biển ngập ánh trăng, trầm ngâm suy nghĩ. Biển một màu xanh sẫm và những ánh đèn cuối cùng của thành phố đã biến mất từ lâu. Con tàu lắc lư; hầu hết các hành khách đã về buồng riêng hoặc nằm dài trên ghế, mình quấn trong những tấm chăn nặng trịch; ở khoang hạng ba, chiếc armonica lại thổi một điệu lả lướt. Mặt trăng lúc này ở chính giữa bầu trời, một cơn gió lạnh từ phương Nam thổi tới hất tung những lọn tóc vàng của Margot. Ả nắm lấy lan can và để mặc cho làn tóc bay trong gió. Thấy có một mình ả, gã khách thương bèn huýt sáo nhè nhẹ và lân la đến gần. Hắn không có kế hoạch hành động gì nhất định, chỉ có một hi vọng mơ hồ trong lòng. - Xin chào! Margot quay lại, đưa tay lên mái tóc: - Xin chào! - Trời bắt đầu lạnh, phải không nhỉ? - Đúng thế. Một lần nữa ả lại nhìn mặt biển soi bóng những vì sao. Chít một chiếc khăn xung quanh mái tóc, ả nhích ra cho gã đến đứng bên lan can. Im lặng hồi lâu. Margot như không nhận thấy có gã ta ở đấy và đắm mình trong sự thưởng ngoạn cái huyền bí của biển, trời. Cuối cùng, gã nói: - Cô đi Ilhéus? - Vâng. - Để ở lại đó? - Tôi không biết, nếu tôi thành công… - Trước cô ở chỗ Lúcia? Ả gật đầu. - Thứ bảy trước tôi thấy cô ở đấy. Cô đi với viên thầy cò. - Tôi biết. - Ả quay đi để nhìn mặt biển như kiểu không muốn tiếp tục câu chuyện. - Ilhéus là một vùng hái ra tiền. Một cô bé xinh đẹp như cô chắc phải tậu được một cái đồn điền nho nhỏ. Trong đám khách, thể nào chẳng có một tay đại tá. Mắt ả rời khỏi mặt biển, nhìn chằm chặp vào người bạn đồng hành. Hình như ả ngập ngừng định nói; rồi ả lại quay đi và cúi xuống mặt biển, không nói một lời. - Juca Badaró lúc nãy có nói chuyện với cô, - gã khách thương nói tiếp. - Hãy coi chừng đấy. - Hắn là ai thế? - Một trong những người giàu có nhất vùng - và can trường nữa. Người ta bảo những tên làm ở chỗ hắn tiêu xài quá trời - những thằng huênh hoang và thô bạo - chúng chiếm đất của người khác và giết người bừa bãi. Hắn là chúa tể vùng Sequeiro Grande. Thấy Margot có vẻ chú ý nghe, gã liền tiếp tục: - Nghe nói cả gia đình hắn, đàn bà lẫn đàn ông đều can trường và tất thảy, kể cả phụ nữ, đều có thể giết người được! Cô có muốn tôi khuyên cô một câu không? Hãy tránh xa ra. Margot bĩu môi khinh bỉ. - Thế ai bảo ông là tôi để ý đến hắn? Hắn chỉ là một con gà trống già, cứ thấy con mái tơ nào là chạy theo. Tôi chẳng dính dáng gì với hắn cả. Tôi không chạy theo tiền đâu. Gã mỉm cười ra vẻ không tin và nhún vai như kiểu muốn nói rằng ý kiến của ả không quan trọng gì đối với gã. - Có một cô gái thân với hắn lắm, - gã nói. - Vợ Juca đã tìm cách xử trí gọn. - Nhưng làm sao ông lại cứ đinh ninh là tôi quan tâm đến cái đó kia chứ. Hắn có thể lấy bao nhiêu vợ tùy thích; đây là một người mà hắn không lấy được. - Ả vỗ vào ngực mình. Một lần nữa, ả lại như lưỡng lự muốn nói gì; rồi đột nhiên ả quyết định: - Ông đã trông thấy tôi nhảy với Virgílio phải không? Thế thì anh ấy đang ở Ilhéus và tôi đến với anh ấy đấy. - Đúng vậy, tôi quên mất chuyện đó. Quả là anh ta đang làm ăn ở Ilhéus. Một chàng trai có triển vọng, hả? Nghe nói là đại tá Horácio mời anh ta đến để điều khiển hai đảng. - Gã khách thương gật đầu ra chiều tin tưởng. - Nếu như vậy, tôi không cần nói thêm gì nữa. Ý kiến duy nhất của tôi là: Hãy coi chừng Juca Badaró. Gã lảng đi. Nói với cô ả làm gì nữa? Một đứa con gái đang yêu còn tệ hơn cả một đứa con gái tân. Nhưng Juca Badaró sẽ nói sao? Margot cởi khăn và hong tóc trước gió. 10 Một bóng người len lén lên cầu thang và trước khi vào khoang hạng nhất, đảo mắt nhìn quanh một lượt để yên tâm là không có ai. Người đó vuốt tóc, buộc lại cái khăn thắt ở cổ tay còn sưng vù sau những ngược đãi hắn phải chịu đựng ở sở cảnh sát. Chiếc nhẫn to tướng có gắn ngọc giả không còn ở ngón tay hắn nữa. Viên cảnh sát bảo là nếu muốn cho hắn không móc túi người khác được nữa thì chỉ có cách bẻ tay hắn đi thôi. Fernando bước lên bậc cuối cùng và đi về mạn tàu đối diện với chỗ Margot đang đứng. Thoáng thấy một nhân viên trên tàu, hắn tiến lại gần lan can, làm như mình là một hành khách hạng nhất ra hóng mát vậy; sau đó, hắn từ từ lẻn đến một chiếc ghế nằm có một hành khách đang ngáy, hai bàn tay khéo léo luồn xuống dưới tấm chăn chạm phải vỏ thép lạnh của một khẩu súng lục và rút ra khỏi túi nạn nhân của hắn một chiếc ví to sụ. Người kia vẫn không động cựa. Tên kẻ trộm trở về khoang hạng ba. Ném cái ví không xuống biển, hắn bỏ tiền vào túi; rồi, rón đầu ngón chân, hắn lách qua đám người đang ngủ, tìm một người nào đó. Trong một góc, nằm sóng soài như vừa bị đánh ngã xuống đất, ông lão ra đi để báo thù cho con trai, đang ngáy khò khò. Rút mấy tờ giấy bạc ra, Fernando nhét vào túi ông già với tất cả cái khéo léo có thể có của đôi bàn tay hắn. Hắn nín thở, giấu số bạc còn lại trong lớp lót áo khoác, rồi trở lại cái góc khuất hẻo nơi Antônio đang nằm mơ đến Estância, mơ đến hơi ấm của thân hình Ivone kề sát bên anh. 11 Những giờ cuối cùng của ban đêm, trời lạnh và hành khách trên boong xo ro trong chăn. Margot nghe thấy có tiếng người nói cách chỗ ả mấy bước. - Nếu năm nay, ca cao thu lợi được mười bốn milreís, tôi sẽ đưa cả gia đình về Rio de Janeiro. - Tôi thì thích xây một ngôi nhà ở Ilhéus. Những người đang nói chuyện tới gần. - Sai người giết trộm Zequinha thật là bẩn thỉu. - Nhưng lần này sẽ có xét xử đấy. Tôi bảo đảm với ông như vậy. Ta hãy cứ hi vọng thế. Họ dừng lại trước mặt Margot và sỗ sàng nhìn thẳng vào mặt ả. Người đàn ông béo lùn, mỉm một nụ cười dưới bộ ria to tướng mà cứ hai phút hắn lại vuốt một lần. - Thế này thì sẽ cảm lạnh mất thôi, quý cô ạ. Margot không trả lời gì cả. - Đến Ilhéus, cô ở đâu? - Người kia hỏi. - Ở nhà Machadão chăng? - Thế thì việc gì đến các ông? - Đừng có làm cao thế, cô nương ơi. Có phải là nhờ có những người như chúng tôi, cô mới sống được, đúng không nào? Này, đây là ông bạn Moura của tôi, ông ấy sẽ sắp xếp chỗ ăn ở cho cô sang trọng nhất trần đời. Người thấp lùn vuốt bộ ria mép. - Và anh cũng sẽ đến thăm cô em nữa, cô em ạ. Cô em chỉ cần nói một tiếng là anh đến thôi. Họ thoáng trông thấy Juca Badaró đang lại gần. - Xin ngài tha lỗi cho. - Kính chào ngài Juca. Và cả hai lỉnh mất. Juca gật đầu chào lại rồi quay về phía Margot. - Đến giờ đi ngủ rồi đấy, cô em ạ. Thà đi ngủ còn hơn chuyện trò với mọi người qua lại. Hắn chằm chằm nhìn những cái lưng đang rút lui, vẻ không bằng lòng. Nhưng Margot nhìn thẳng vào mặt hắn. - Ai cho phép ông thò mũi vào công việc của tôi? - Tốt hơn là hãy coi chừng đấy, cô em ạ. Ta xuống xem vợ ta ở dưới cabin ra sao, nhưng ta sẽ quay lại và nếu ta còn thấy cô em ở đây, thì rầy rà to đấy. Một người đàn bà thuộc về tay ta, phải làm theo ý ta. Nói rồi, hắn bỏ đi. - Một người đàn bà thuộc về tay ta… - Margot thầm nhắc lại câu nói đó, vẻ khinh bỉ. Và rất đủng đỉnh, ả đi xuống buồng riêng. Khi đi ngang qua, ả nghe thấy người đàn ông thấp lùn để ria nói: - Lão Juca Badaró rồi sẽ được một bài học đích đáng. Bỗng nhiên, ả cảm thấy mình đã thuộc về tay Juca. - Vậy tại sao ông không tự mình cho hắn bài học ấy? - Ả hỏi. 12 Một im lặng sâu thẳm đè nặng lên con tàu trong khi nó rẽ nước trên mặt biển ban đêm. Kèn armonica và đàn ghi ta ở khoang hạng ba đã thôi không chơi nữa; không còn một tiếng hát nào cất lên những điệp khúc yêu đương và thương nhớ. Margot đã trở về buồng riêng, không còn một hành khách mơ mộng nào đứng tựa lan can tàu. Tiếng những người chơi poker chưa kịp vọng tới mặt biển đã tắt ngấm. Tắm trong ánh sáng đỏ đầy hăm dọa của vầng trăng, con tàu tiếp tục đi, bao bọc trong im lặng. Đêm trên tàu trôi qua trong giấc ngủ triền miên - giấc ngủ, những giấc mơ và hi vọng của những con người. Thuyền trưởng từ trên cầu đi xuống, theo sau là thuyền phó. Họ cùng nhau đi ngang qua đám hành khách hạng nhất đang ngủ trong chăn. Thỉnh thoảng, một người thốt ra một tiếng mê sảng về những đồn điền trĩu quả. Thuyền trưởng và thuyền phó bước xuống chiếc cầu thang nhỏ hẹp của khoang hạng ba trong đó đàn ông, đàn bà nằm ngủ sít bên nhau, người nọ sát vào người kia vì rét. Thuyền trưởng lặng thinh. Thuyền phó khẽ huýt sáo một điệp khúc quen thuộc. Antônio Vítor nở một nụ cười khoái trá trên môi; anh nằm mơ thấy mình kiếm được một món tiền lớn trên đất Ilhéus dễ dàng và quay về Estância tìm Ivone. Thuyền trưởng dừng lại; ông ta ngắm anh chàng lai đen đang ngủ. - Ông trông thấy hắn chứ? - Ông ta vừa nói vừa quay về phía thuyền phó. - Hắn sẽ không cười tươi như thế nữa khi hắn ở trong rừng. Ông lấy chân hẩy đầu Antônio. - Họ làm tôi thấy thương hại. Hai người tới lan can đằng sau tàu. Sóng dâng cao và trăng đỏ kệch. Cả hai đều im lặng. Thuyền phó châm tẩu thuốc cuối cùng, thuyền trưởng nói: - Ông biết không, đôi khi tôi có cảm tưởng mình là thuyền trưởng một con tàu chở hắc nô ngày xưa. Thấy thuyền phó không trả lời, ông giải thích: - Một con tàu đem những người da đen đi bán làm nô lệ. Ông lấy ngón tay trỏ những bóng người nằm ngủ và Antônio Vítor vẫn đang mỉm cười: - Nào có khác gì đâu? Thuyền phó nhún vai, rít tẩu một hơi nhưng không nói gì. Ông ta ngắm biển, ngắm cái bao la của đêm tối và bầu trời đầy sao. RỪNG 1 Rừng yên nghỉ, trầm lặng, ngủ giấc ngủ ngàn đời của nó. Đêm và ngày trôi đi trên rừng. Nắng hạ rực chiếu trên cao và mưa đông trút xuống rừng. Cây rừng đều là cổ thụ; lá xanh bất tận phủ kín núi, tràn xuống đồng bằng và mất hút đi trong vô biên. Thật như một vùng biển chưa ai thám hiểm, khép kín trong cái huyền bí của chính bản thân nó. Như một gái đồng trinh mà tấm thân chưa hề biết đến tiếng gọi của dục vọng. Mặc kệ những thân cây già cỗi, rừng vẫn trẻ, đẹp, rực rỡ như một cô gái đồng trinh. Bí ẩn như tấm thân một người đàn bà chưa từng trao xương gửi thịt cho ai, rừng cũng khêu gợi sự thèm muốn nồng cháy của những người đàn ông. Những buổi mai nắng đẹp, từ trong rừng bật lên những tiếng chim vang động; những cánh én mùa hè bay lượn ở đầu cành; từng bầy khỉ leo trèo, nhảy từ nhánh này sang nhánh kia, với những cú nhào lộn cuồng dại. Vào những đêm tĩnh mịch, người ta nghe thấy tiếng cú rúc trong ánh trăng vàng vọt. Tiếng kêu của chúng không báo tai họa, vì con người chưa thâm nhập vào cánh rừng khổng lồ. Vô vàn loại rắn lặng lẽ trườn giữa đám lá khô và những con báo gầm lên khủng khiếp, trong những đêm động dục. Rừng cây cổ đại yên ngủ; những dây leo chằng chịt, những vũng lầy cùng gai góc sắc nhọn bảo vệ giấc ngủ của nó. Từ rừng thẳm, từ cái bí ẩn của nó, nỗi sợ đột ngột xâm chiếm con tim đoàn người. Tới đây vào một buổi chiều, sau khi đã lội bùn, vượt sông để vạch một con đường, lúc đối diện với cây cối hoang dại này, họ bỗng đờ người vì sợ. Đêm xuống, cùng đến với đêm tối là những đám mây đen, nặng trĩu mưa tháng sáu; và lần đầu tiên, tiếng cú rúc là một điềm gở. Cái tiếng kêu kỳ lạ ấy vang khắp rừng; nó đánh thức đám thú vật dậy: rắn bắt đầu phun, báo gầm lên trong hang, én rơi xuống chết cứng, khỉ chạy trốn. Theo đà bão lồng lộn, những hình thù ma quỷ trỗi dậy; nhưng thực ra, chúng cùng đến với những người mang theo lưỡi rìu, hái; hay có lẽ chúng đã ở trong rừng từ thuở khai thiên lập địa? Đêm hôm ấy, chúng đánh thức ma sói và quỷ lùn, quỷ la và quái vật rắn phun lửa ra lỗ mũi gọi là boitatá. Đám người kinh hãi nép vào nhau vì rừng gợi cho họ một nỗi sợ thần bí. Họ không thấy một vệt đường mòn nào; rừng là xứ sở của thú vật và ma quỷ. Cho nên họ dừng lại và nỗi sợ ngự trị trong tim họ. Thế rồi bão chớp rạch trời, sấm gào thét tựa hồ như những thần linh của rừng đang nghiến răng kèn kẹt trước sự hăm dọa do con người mang đến. Thỉnh thoảng, chớp lóe sáng khoảng cây lá xanh um nhưng đám người chỉ trông thấy độc có màu lục sẫm của những thân cây, trong khi họ ráng hết sức lắng nghe những tiếng động đập vào tai họ: tiếng phun của lũ rắn đang chạy trốn, tiếng báo gầm hốt hoảng, những tiếng hãi hùng của các bóng ma bị bỏ mặc trong hiu quạnh. Ngọn lửa họ trông thấy chạy dài trên ngọn cây cao nhất hẳn là từ lỗ mũi con boitatá phun ra và cái tiếng vó dồn kia phải chăng là con quỷ la từ dưới cánh rừng lao tới? Con la cái này xưa kia là một cô gái đẹp, trong một phút yêu đương sôi nổi đã trao thân vào cánh tay phạm thánh của một giáo sĩ. Họ không còn nghe thấy tiếng báo gầm nữa, lúc này tiếng gầm đó đã trở thành tiếng kêu gớm ghiếc của con ma sói, nửa sói, nửa người, vuốt to tướng và hóa dại vì lời nguyền của một bà mẹ. Con quỷ lùn chỉ có một chân và một tay nhảy điệu “Caapora”*, vừa nhảy vừa cười giãn cả bộ mặt xẻ làm đôi. Cái sợ bóp nghẹt con tim mọi người. Caapora: quỷ lùn. Mưa bắt đầu rơi xối xả tưởng như lại đến một kỳ đại hồng thủy mới; ở đây tất cả đều nhắc đến thuở khai thiên lập địa. Bất khả xâm nhập và huyền bí, già cỗi như chính bản thân thời gian, nhưng lại trẻ như mùa xuân, rừng hiện ra trước mắt mọi người như sào huyệt đồ sộ nhất của ma quỷ, chỗ ở và hang của ma sói và quỷ lùn. Đối với họ, rừng trở thành một cõi bao la thăm thẳm. Dưới chân rừng, sao mà họ tự cảm thấy nhỏ nhoi đến thế, như những con vật bé bỏng run lên vì sợ hãi! Từ đáy rừng sâu thẳm ré lên những tiếng kỳ lạ. Nhưng điều làm họ kinh hãi nhất trong cơn thịnh nộ của dông bão, là bầu trời đen kịt không có lấy một vì sao rọi sáng chào đón những người mới tới. Họ từ những xứ sở bên kia biển tới, ở đó đã từng tồn tại những khu rừng khác, nay bị triệt hạ, chinh phục, bị đốt quang đi, với những con đường xuyên ngang, những khu rừng mất hẳn giống báo dữ và rắn rết ngày càng hiếm thấy. Và giờ đây, trước mắt họ là một khu rừng khác, hoang dại, một vùng cây cối không một vệt đường mòn, chưa có dấu chân người, dưới một bầu trời trĩu nặng dông bão và không một ánh sao. Ở quê hương xứ sở của họ, những đêm trăng, các bà già thường kể những chuyện ma quỷ rùng rợn. Ở một xó heo hút của trái đất - không ai biết là ở đâu, ngay cả những nhà du lịch lớn nhất, ngay cả những người đã từng rong ruổi trên những nẻo đường sâu kín nhất trong nội địa, vừa đi vừa phán những lời tiên tri - ở một nơi nào đó trong cái xó heo hút và xa xăm kia, ma quỷ đã chọn làm nơi trú ngụ. Đó là những điều mà các bà già đã nói, bằng vào sự thông thái của tuổi tác và sự từng trải của mình. Và giờ, trong một đêm dông, tại đây, bên rìa rừng, đám người bỗng nhiên khám phá ra cái xó khủng khiếp này của vũ trụ, nơi ở của bọn quỷ lùn. Những kẻ đã bị một lời nguyền nào đó biến thành quái vật, nay phải đền tội tại đây, giữa vùng cây cối rậm rạp, giữa những dây leo, những con rắn hổ mang, những con báo dữ tợn, những con cú báo tai họa. Tại đây, những đêm không trăng, chúng mò tới những đường cái lớn rình khách lữ hành trở về nhà và làm cho lòng người khiếp sợ. Cho nên trong tiếng ầm ầm của dông tố, đám người dừng lại, thấy rõ sự bé bỏng của mình, dừng lại và lắng tai nghe những tiếng kêu tuyệt vọng của lũ ma rừng. Giữa hai làn chớp lóe, họ trông thấy những cái hàm khạc lửa; đôi khi họ thoáng thấy những tư thế kỳ quái của con Caapora đang nhảy điệu nhảy quỷ lùn gớm ghiếc của nó. Rừng! Nó chẳng phải là một truyền kỳ, nó chẳng phải là một mối nguy hiểm, một mối đe dọa. Nó là một vị thần linh! Không một ngọn gió nào nổi lên từ biển xa trong màu xanh của những lớp sóng. Không một cơn gió nào trong cái đêm mưa chớp sáng lòa ấy. Vậy mà đám người vẫn rùng mình, run rẩy vì cái rét tự trong tim họ khiến nó như đang ngừng đập; trước mặt họ là thần rừng, trong lòng họ là cái sợ. Rìu, cưa tay và lưỡi hái rơi tõm xuống. Bàn tay họ buông thõng mất hết sinh khí, trong khi họ đứng sững, trân trân nhìn cảnh rừng, lòng tràn đầy kinh hãi. Với đôi mắt mở tròn xoe, với đôi mắt thao láo, họ ngắm vị thần linh đang trong cơn thịnh nộ. Đây những thú vật báo tai họa, kẻ thù của người, đây những bóng ma quỷ. Không thể đi xa hơn nữa được; bàn tay con người không chống lại được với thần. Họ chỉ có thể lùi lại với cái sợ trong tim. Chớp rạch trời phía trên rừng, bão gầm, rắn rít, những tiếng than van của ma sói trùm lên dông bão cùng với tiếng rền rĩ của bọn quỷ lùn, quỷ la bảo vệ sự trinh bạch và huyền bí của rừng. Khu rừng khổng lồ trước mặt là quá khứ và khởi đầu của thế giới. Họ ném dao, rìu, hái, cưa xuống. Họ chỉ còn có một con đường là quay trở lui con đường đã đưa họ tới. 2 Đám người trở lui. Họ đã trải qua bao ngày, đêm, những giờ dài đằng đẵng mới tới được đây. Họ đã băng qua những dòng sông, vượt những rừng rậm hầu như không thể vào được, những con đường nóng bỏng; họ đã vất vả xuyên qua những bãi lầy. Một người trong bọn bị rắn cắn đã yên nghỉ dưới ba tấc đất ở bên lề một con đường mới. Một cây thập tự thô sơ, một nắm đất, đó là những gì còn lại của người đàn ông miền Ceará đã ngã xuống như vậy. Người ta không khắc tên anh bởi vì không có gì để khắc. Dọc con đường lớn đó trên đất ca cao, đây là cây thập tự đầu tiên trong vô vàn cây thập tự sau này sẽ chạy dọc những nẻo đường mòn để lưu lại kỷ niệm của những người đã ngã xuống trong công cuộc chinh phục xứ sở này. Một người khác bị sốt, bị đúng cái sốt thường khiến khỉ chết ấy. Anh ta đã gắng bò đi, và bây giờ anh ta cũng trở lui. “Ma chó sói đấy”, - anh ta kêu lên trong cơn mê sảng. Đám người rút lui mới đầu còn từ từ từng bước một, cho đến con đường mòn rộng hơn, đỡ nhằng nhịt gai góc và đỡ lầy hơn. Mưa tháng sáu trút xuống người họ, ướt hết quần áo, làm họ run lẩy bẩy. Nhưng chính phía kia là rừng, là bão táp, ma quỷ. Đám người trở lui. Giờ đây họ đã tới con đường mòn, họ nối đuôi nhau đi hàng một trên con đường mòn đó ra đến tận bờ sông, nơi có một chiếc xuồng đang chờ họ. Họ thở dài nhẹ nhõm. Người bị sốt không còn thấy mình sốt nữa; cái sợ đem lại cho anh ta một sức mạnh mới. Nhưng kìa phía trước mặt, họ bỗng trông thấy Juca Badaró, súng lục trong tay, mặt rúm lại vì điên giận. Cả hắn cũng đi tới rìa rừng; hắn đã nhìn thấy chớp, thấy sấm; hắn đã lắng tai ngóng tiếng bão gầm, tiếng rắn phun! Tim hắn cũng thắt lại khi cú báo điềm gở. Cũng như những người khác, hắn biết rừng là nơi trú ngụ của ma quỷ, nhưng điều mà Juca Badaró trông thấy, không phải là rừng, mà là thuở khai thiên lập địa. Mắt hắn nhìn một ảo cảnh khác. Hắn trông thấy đất đen, loại đất tốt nhất thế giới để trồng ca cao. Trước mặt hắn không còn là khu rừng nhằng nhằng chớp lóe đầy những tiếng động quái dị, rậm rạp dây leo, bao bọc kín trong cái bí ẩn của thân cây cổ đại, hang ổ của dã thú và của ma quỷ hiện hình. Hắn chỉ thấy ở đó một cánh đồng đã trồng trọt. Những hàng cây đều đặn nặng trĩu quả, những quả ca cao chín vàng. Hắn trông thấy ở đó, đồn điền này nối đồn điền nọ phủ kín vùng đất này, nơi xưa kia rừng trải dài tít tắp, và đối với hắn đó là một cảnh tuyệt diệu. Trên đời không có gì đẹp bằng một đồn điền ca cao. Đối diện với rừng, với cái huyền bí của nó, Juca Badaró chợt mỉm cười. Đây là nơi sẽ mọc lên những cây nặng trĩu quả ca cao, ngả bóng nhẹ nhàng trên mặt đất; đó là tất cả những điều hắn trông thấy. Thậm chí hắn không trông thấy cả bọn người làm của hắn đang kinh hãi trở lui nữa. Khi hắn thấy vậy, hắn chỉ còn vừa đủ thì giờ để chạy tới trấn trước mặt họ, súng lục lăm lăm trong tay, mắt nhìn dữ tợn và kiên quyết: - Đứa nào tiến lên đầu tiên, tao bắn. Đám người dừng lại; họ đứng như thế một lúc, không biết làm gì. Sau lưng họ là rừng và trước mặt họ là Juca Badaró sẵn sàng nổ súng. - Ma sói đấy, - người bị sốt kêu lên, nhảy chồm về đằng trước. Juca Badaró bắn, lại một ánh sáng lóe trong đêm. Tiếng vang của rừng dội lại. Những người khác đứng sững, đầu cúi gằm quanh người bị bắn gục. Juca Badaró, súng trong tay, thong thả tiến lại. Antônio Vítor cúi xuống nâng đầu kẻ bị thương lên. Viên đạn xuyên qua bả vai. - Tao không chủ tâm bắn chết đâu, mà để cho chúng mày biết rằng chúng mày phải vâng lời tao, - Juca Badaró nói, giọng bình tĩnh đến kinh hồn. Hắn tiếp: - Đi kiếm nước để rửa vết thương mau. Hắn giúp họ chăm nom người bị thương; tự tay hắn sửa lại một mảnh giẻ băng vết thương rồi giúp họ chuyển anh ta đến khu trại ở gần rừng. Những người kia vừa đi vừa run, nhưng vẫn cứ phải đi. Người bị nạn mê sảng khi người ta đặt anh xuống đất. Trong rừng, ma quỷ tha hồ đi lang thang đây đó. - Lên đường, - Juca Badaró nói. Mọi người nhìn nhau, Juca bèn giơ súng lục lên. - Đi thôi. Thế là rìu và dao quắm hạ xuống với một tiếng động đều đều, kéo khu rừng ra khỏi giấc ngủ. Juca Badaró nhìn thẳng về phía trước. Hắn vẫn còn nhìn thấy cả cái khoảng đất đen này trồng cây ca cao, đồn điền nọ tiếp đồn điền kia, trĩu trịt những quả vàng. Mưa tháng sáu đổ xuống đám người. Người bị nạn xin uống nước, giọng run rẩy. Juca Badaró vẫn lăm lăm khẩu súng lục trong tay. 3 Mặt trời buổi sáng đã nhuộm vàng những trái ca cao còn xanh mướt trên cành, khi đại tá Horácio đi dạo giữa những hàng cây đều đặn. Những cây này được năm tuổi rồi, đồn điền đang ra lứa quả đầu tiên. Rừng cũng ở ngay kia, luôn luôn đe dọa và bí ẩn. Người của lão đã đốt lửa, dùng dao quắm, rìu, dao phát hạ những thân cây to tướng để khai phá rừng, đuổi báo và ma quỷ đi. Rồi lại phải vạch luống trồng, vạch cẩn thận để năng suất được cao hơn; giờ đây, sau năm năm, cây đã trổ hoa; và buổi sáng hôm đó đã có những quả nhỏ lủng lẳng ở đầu cành. Lứa quả đầu tiên. Mặt trời tô vàng những trái cây trong khi lão đại tá đang đi dạo. Lão chừng năm mươi tuổi, mặt rỗ hoa nặng trịch, cau có. Lão cầm một cuộn thuốc lá và một con dao díp và đôi tay đầy chai vấn một điếu thuốc, những bàn tay ngày xưa đã từng vung roi trên lưng lừa khi lão còn dắt la cho một đồn điền ở Rio do Braço. Cũng những bàn tay ấy sau này đã tập bắn một khẩu súng tự động khi lão đại tá trở thành kẻ đi chiếm đất. Có khá nhiều chuyện đồn đại về lão. Bản thân lão đại tá thì lại chẳng biết gì về mọi thứ, chuyện người ta kể ở Ilhéus, ở Tabocas, ở Palestine và Ferradas, ở Água Branca, ở Água Preta. Những bà già mộ đạo đi cầu Thánh Jorge ở nhà thờ Ilhéus thường nói rằng ông đại tá Horácio ở Ferradas vẫn giấu quỷ dưới gầm giường, nhốt vào trong một cái lọ. Còn như việc ông ấy đã bắt được con quỷ đó như thế nào là cả một câu chuyện dài kể lại việc ông ta đã đem bán linh hồn như thế nào vào một ngày dông tố. Và con quỷ trở thành đầy tớ ngoan ngoãn của ông ta, thỏa mãn mọi điều ông ta ước mong, làm giàu thêm cho ông và giúp ông chống lại kẻ thù. Nhưng rồi một ngày kia - và khi kể đến quãng này, các bà già thường làm dấu thánh giá - Horácio sẽ chết không được xưng tội, con quỷ sẽ chui ra khỏi lọ để đem linh hồn ông ta xuống tận đáy địa ngục. Lão đại tá biết câu chuyện này, mỗi khi nghe thấy lão thường bật cười, tiếng cười khô khan và cụt ngủn nghe còn kinh hãi hơn cả tiếng la thét giận dữ của lão vào một vài buổi sáng nào đấy. Người ta còn kể những chuyện khác nghe có vẻ thật hơn. Mỗi khi rượu vào, thầy cò Rui ưa nhắc lại chuyện hắn ta đã cãi cho lão đại tá ở tòa án cách đây bao nhiêu năm về trước. Horácio bị tố cáo về ba vụ giết người đặc biệt tàn bạo. Theo những bằng chứng buộc tội, thì chẳng những lão đã giết chết một nạn nhân của lão mà còn cắt tai, cắt mũi, và xẻo dương vật người đó nữa. Thầy cò Rui đã cãi cho lão và xin được tha bổng. Hắn ta cãi rất hùng hồn, làm một bài biện thuyết nói về sự “bất công trắng trợn” của lời buộc tội và những “điều vu khống do những kẻ thù vô danh, vô liêm sỉ và vô nhân cách bày đặt ra”. Kết quả là một thắng lợi: đây là một trong những bài biện hộ khiến hắn ta nổi tiếng là tay thầy cãi giỏi. Trong đoạn ca ngợi lão đại tá, hắn ta gọi lão là một trong những nhà điền chủ giàu có nhất vùng, một người không những đã đem lại cho mọi người cái giáo đường nhỏ ở Ferradas, mà ngay lúc bấy giờ còn đang cho xây nhà thờ ở Tabocas nữa; ông ta tôn trọng luật pháp; ông đã hai lần tham gia hội đồng thành phố Ilhéus; ông ta là hội trưởng chi nhánh hội Tam điểm. Một người như vậy lẽ nào lại có thể phạm vào một tội ác đầy hằn thù như thế được? Tất nhiên, ai nấy đều biết rõ Horácio là thủ phạm. Câu chuyện bắt đầu vì một bản hợp đồng. Trên một miếng đất của Horácio, anh da đen Altino cùng người anh rể là Orlando và một người bạn thân nữa tên là Zacarias, ba người đã thỏa thuận với viên đại tá là sẽ trồng cho lão một trại cây. Họ đã phá rừng, đốt đất, trồng ca cao, trồng sắn và kê giữa các luống cây để tạm sống chừng ba năm đợi đến mùa thu hoạch ca cao. Sau ba năm họ đến tìm viên đại tá để trao trả khu trại và lĩnh tiền công. Mỗi gốc ca cao đến kỳ ra quả tính ra được năm trăm reís. Họ trù tính, với món tiền đó, sẽ mua một thửa đất, một mảnh rừng nào đó để khai phá và trồng ca cao. Họ sung sướng và ca hát suốt dọc đường. Tuần lễ trước, Zacarias có mang bột kê và sắn đến cửa hàng của đồn điền để đổi lấy thịt bò khô, rượu rum và đậu. Anh đã gặp viên đại tá và có nói chuyện với lão. Zacarias cho lão biết tình hình trồng trọt; tên chủ có nhận là đã hết hạn ba năm rồi, sau đó Horácio còn mời anh uống rượu ngoài hiên nhà lớn và hỏi bọn anh định làm ăn ra sao. Zacarias nói là bọn anh định sẽ mua một mảnh đất đã trồng vườn ca cao. Viên đại tá không những tán thành dự định ấy bằng một giọng khá tử tế, mà còn ngỏ ý muốn giúp đỡ nữa. Bọn anh không thấy rằng lão có khu đất trồng ca cao tốt nhất hay sao? Trong cả vùng chung quanh Ferradas, cả một vùng rộng lớn thuộc quyền lão, bọn anh cứ việc cắm lấy một khu, bất cứ chỗ nào. Làm như vậy lại càng tiện hơn nữa, vì bọn anh sẽ không phải trả một đồng xu nào cả. Zacarias hớn hở trở về lều. Đến hạn, họ đến gặp viên đại tá nói cho lão biết số cây ca cao chín và ý họ muốn mua khu đất nào. Họ đi tới thỏa thuận với nhau và cuộc mua bán đã được đánh dấu bằng nhiều cốc rượu rum. Rồi Horácio lên tiếng: - Các anh có thể tiếp tục khai phá, - lão nói. - Bữa nào tôi đi Ilhéus, tôi sẽ tin cho các anh biết; các anh sẽ cùng đến đấy; chúng ta sẽ giải quyết dứt khoát mọi chuyện giấy tờ ở sở trước bạ. Họ có nhắc đến chuyện ký văn tự, nhưng viên đại tá bảo họ đừng lo; một hoặc hai tháng sau họ sẽ cùng đi Ilhéus. Ba người bèn cáo lui sau khi lạy chào và cảm ơn rối rít. Ngày hôm sau, họ lên đường vào rừng, bắt đầu đốn cây và dựng lên một túp lều. Ngày tháng trôi qua; viên đại tá hai ba lần đi Ilhéus, mấy người đã vạch ra khu trồng cây nhưng văn tự vẫn chưa có. Một hôm, Altino đánh bạo nhắc viên đại tá: - Thưa quan đại tá, xin ngài xá lỗi cho, chúng tôi muốn được biết bao giờ chúng tôi có thể nhận được văn tự bán đất. Thoạt tiên, Horácio tỏ ra bất bình vì thái độ thiếu tin cậy ấy, nhưng vì Altino xin lỗi, lão ta bèn giải thích rằng lão đã dặn dò thầy cò Rui là đại diện của lão, để ông này thu xếp công việc. Không bao lâu nữa đâu; một ngày nào đó, lão sẽ cho người đi tìm bọn anh, chỉ việc ghé qua Ilhéus, là công việc xong ngay. Nhưng thời gian cứ trôi; những mầm ca cao đầu tiên sau này sẽ thành cây đã nhú ra khỏi lớp đất mới trồng. Altino, Orlando và Zacarias trìu mến đứng ngắm những mầm non này. Đây là cây của họ, do họ trồng, trên một miếng đất do chính tay họ đã khai phá. Cây sẽ mọc lên, sẽ mang những quả vàng, những quả sẽ đem lại tiền của. Họ đã quên khuấy mất chuyện ký văn tự. Chỉ có một mình Altino là thỉnh thoảng còn nhớ tới. Anh biết viên đại tá Horácio từ lâu rồi và không tin lão. Dù sao, họ vẫn sửng sốt khi một hôm, họ hay tin khu đồn điền Coronel trong đó có mảnh đất của họ đã được bán cho viên đại tá Ramiro. Họ quyết định đến nói chuyện với đại tá Horácio. Altino và Zacarias lên nhà lớn. Orlando ở nhà. Họ không gặp viên đại tá, lão đã đi Tabocas. Hôm sau họ lại đến; viên đại tá lại đi Ferradas. Orlando bèn quyết định thân hành đến đấy. Anh tha thiết với miếng đất này hơn tất cả mọi thứ, không muốn mất nó. Người ta bảo anh rằng đại tá ở Ilhéus. Anh gật đầu, nhưng cứ đi vào sảnh và thấy Horácio đang ngồi ăn trong phòng ăn. Lão đại tá nhìn người công nhân cũ của mình. - Anh có ăn không, Orlando? Ngồi xuống đây nếu anh muốn. - Không, xin cảm ơn quan lớn. - Có việc gì mà tới đây, có gì lạ không? - Vâng, thưa quan lớn, một tin rất xấu. Đại tá Ramiro đến nói với chúng tôi rằng khu rừng của chúng tôi thuộc về ông ta; ông ta nói rằng đã mua của quan, thưa quan đại tá. - Nếu đại tá Ramiro đã nói vậy thì chắc là đúng rồi. Ông ấy không phải là người nói dối đâu. Orlando nhìn chằm chằm lão đại tá, nhưng lão lại tiếp tục ăn. Người khách nhìn vào hai bàn tay to lớn đầy chai và bộ mặt nặng trịch của lão chủ. Cuối cùng anh nói: - Vậy thế là quan lớn đã bán miếng đất đó. - Đấy là việc của tao. - Thế là quan lớn không nghĩ rằng ngài đã bán cái mảnh rừng ấy cho chúng tôi, thay vào món tiền phải trả chúng tôi theo giao kèo trồng ca cao? - Có giấy tờ gì không? - Và Horácio vẫn tiếp tục ăn. Orlando xoay xoay trong tay cái mũ lớn bằng rơm. Anh lường thấy tất cả cái tai họa mênh mông vừa đổ sụp xuống đầu anh và các bạn. Anh thấy rõ rằng bọn anh không còn miếng đất nào hết, không còn vườn cây nào hết, bọn anh không còn gì cả. Anh nóng mặt và không giữ gìn lời nói nữa. - Không có gì đáng cười cả, ngài đại tá ạ. Tôi xin báo trước để ngài biết rằng cái ngày mà đại tá Ramiro đặt chân đến khu rừng của chúng tôi, ngày ấy ngài sẽ phải trả cho chúng tôi một giá đắt và sẽ phải trả tất cả. Ngài hãy suy nghĩ đi. Nói xong, anh rời khỏi phòng ăn, lấy cánh tay gạt Felícia, người phụ nữ da đen hầu bàn viên đại tá. Horácio vẫn tiếp tục bữa ăn như không có chuyện gì xảy ra. Đêm hôm ấy, lão cùng bộ hạ đi đến khu rừng của ba anh em. Tiến thẳng đến túp lều, lão tuyên bố sẽ tự tay xử mấy gã thanh niên nọ. Sau đó, dùng một con dao gọt quả, lão đã cắt lưỡi Orlando, khoét mắt, xẻo tai, cắt mũi anh, rồi lột quần ra, lão xẻo cả dương vật. Lão cùng bọn tay chân trở về đồn điền, và sau khi một tên trong bọn chúng bị cảnh sát bắt vì say rượu và bị buộc vào tội là thủ phạm vụ án mạng, Horácio vẫn cười cái cười thường lệ của lão; tên tay chân của lão được tha bổng. Bọn jagunco của lão - hay gọi là bọn thổ phỉ cũng được - thường nói rằng ngài đại tá đúng là một tay hảo hán và được làm việc với một ông chủ như vậy thật cũng bõ công bõ sức. Không bao giờ lão để cho một tên tay chân nào phải ngồi tù. Thậm chí có một lần lão còn đi đến tận Ferradas để giải thoát cho một tên bộ hạ. Cứu tên này ra khỏi nhà tù, lão còn xé luôn bản cáo trạng ngay trước mặt viên lục sự. Phải, người ta kể rất nhiều chuyện về lão đại tá. Người ta nói rằng, trước khi trở thành thủ lĩnh đảng đối lập, để giành được địa vị đó, lão đã sai bọn tay chân đi rình viên thủ lĩnh cũ của đảng, một tay thương gia ở Tabocas, và cho khử địch thủ của mình. Sau đó, lão đổ tội cho những kẻ thù chính trị của lão. Đến nay, lão đại tá trở thành vị chúa tể tuyệt đối của vùng này, nhà điền chủ lớn nhất trong nước và lão còn dự định mở rộng cơ nghiệp thêm nữa. Có sá gì những chuyện bàn ra tán vào ấy? Từ điền chủ đến thợ thuyền, tá điền và những kẻ làm việc ở các vườn cây nhỏ, ai nấy đều kính nể lão. Lão có vô số đầy tớ. Nên chi, sáng hôm ấy, lão đi dạo giữa những luống ca cao mang lứa quả đầu tiên. Đôi bàn tay to lớn đầy chai của lão đã châm xong điếu xì gà; lão chậm rãi kéo từng hơi thuốc, chẳng nghĩ ngợi đến việc gì hết, cả những chuyện người ta nói về lão, cả viên thầy cò Virgílio vừa tới, một luật gia mới mà đảng cử từ Bahia đến làm việc ở Tabocas. Thậm chí lão cũng chẳng nghĩ gì tới Ester, cô vợ vừa trẻ lại vừa xinh của lão. Ester là con gái của ông Salustiano, thương gia ở Ilhéus, đã được các bà xơ ở Bahia nuôi nấng, dạy dỗ; ông cụ rất sung sướng được gả con cho lão đại tá. Đó là vợ kế của lão; người vợ trước đã chết khi lão còn là anh chăn la. Ester mảnh người, mặt trắng xanh và nét đẹp thoáng đượm một vẻ buồn. Nàng là người duy nhất trên đời có thể làm cho môi lão nở một nụ cười khác hẳn với nụ cười thường lệ. Nhưng giờ lão không nghĩ tới Ester. Lão không nghĩ tới gì hết. Lão chỉ nhìn thấy cái quả nhỏ bé trên cây ca cao còn xanh kia thôi, trái quả đầu tiên của khu rừng này. Lão cầm một quả ca cao trong tay và vuốt ve nó một cách dịu dàng, say đắm. Dịu dàng, say đắm y như lão đang vuốt ve làn da thịt măng tơ của Ester vậy. Một cách trìu mến. Với một tình yêu vô hạn. 4 Ester ngồi vào dương cầm. Chiếc đàn dương cầm cánh dơi chiếm một góc ở phòng khách lớn. Nàng lướt đôi bàn tay lên phím và những ngón tay bất giác dạo lên một giai điệu, một khúc waltz cổ, một đoạn nhạc gợi cho nàng nhớ lại những ngày còn đi học và một vài buổi hội hè nào đó. Nàng như thấy lại Lúcia. Giờ đây Lúcia ở đâu? Nàng tự hỏi. Lâu rồi, nàng không được tin tức gì của cô bạn, không nhận được một lá thư nào của bạn, những lá thư ngộ nghĩnh và vui vui. Thậm chí nàng cũng chưa viết thư cảm ơn Lúcia đã gửi cho mình các tạp chí Pháp và báo nói về thời trang. Báo chí còn kia trên mặt dương cầm, cùng với những tờ nhạc khác bị bỏ quên. Ester khẽ cười buồn bã và đánh một hòa âm khác. Báo thời trang mà làm gì trong cái xứ hẻo lánh này, trong cái cảnh cô đơn này? Thời trang trong ngày hội thánh José ở Tabocas, trong ngày hội thánh Jorge ở Ilhéus, lạc hậu hàng bao nhiêu năm và không bao giờ nàng có thể mặc được những áo dài bạn nàng vẫn mặc ở Paris. Chao ôi! Nếu như Lúcia có thể tưởng tượng được ra cái trại này là thế nào, cái nhà mất hút giữa rừng cây ca cao, và tiếng phun phì phì của những con rắn chuyên ăn thịt ếch ở đầm lầy! Lại còn rừng nữa, cánh rừng bắt rễ từ kia, ngay đằng sau nhà ở, dây leo chằng chịt, trải ra vô tận, thân cây chi chít không biết đằng nào mà lần. Ester sợ rừng như người ta sợ kẻ thù. Không bao giờ nàng có thể làm quen được với nó, điều ấy đã hẳn rồi. Ý nghĩ đó khiến nàng tuyệt vọng, vì nàng biết chắc chắn rằng cả đời nàng sẽ sống ở đây, trên cái đồn điền này, trong cái thế giới lạ lùng này, chứa đựng biết bao điều khủng khiếp đối với nàng. Nàng sinh ở Bahia, trong nhà ông bà, nơi mẹ nàng đến ở cữ và chết ngay khi nàng ra đời. Cha nàng buôn bán ở Ilhéus và thời gian đó mới bắt đầu bước vào nghề. Ester ở lại với ông bà, các cụ ve vuốt nuông chiều cháu, làm theo mọi ý thích của cháu và hiến cả cuộc đời cho cháu. Cha nàng và cửa hiệu buôn bán của ông ta cũng theo nhau phát đạt, và thỉnh thoảng ông ta mới có mặt ở nhà bố mẹ, thường là một năm hai lần ông ta về thủ đô để giải quyết công việc. Con gái ông đến ở nhà ký túc tốt nhất ở Bahia, do các bà tu nữ trông nom. Thoạt tiên nàng học ngoại trú, rồi khi ông bà chết đi, nàng vào ở trong ký túc xá. Ông bà nàng chết theo nhau trong vòng một tháng. Ester để tang ông bà nhưng lúc ấy nàng không thể cho mình là cô đơn được vì nàng có đủ bạn gái và cùng với bạn, việc đọc các tiểu thuyết Pháp, đọc truyện những nàng công chúa làm cho nàng mơ tới một cuộc đời lộng lẫy trong tưởng tượng. Các cô ai nấy đều có những dự định về tương lai, những dự định đầy tham vọng ngây thơ, về hôn nhân, giàu sang và tình yêu, về quần áo đẹp, về những cuộc du lịch đi Rio de Janeiro và sang châu Âu, tất cả, trừ cô Geni muốn trở thành tu nữ và cả ngày chỉ cầu kinh, về phần Ester và Lúcia là hai cô ăn mặc sang trọng nhất và thuộc loại hoa khôi của nhà trường, các cô tha hồ để cho trí tưởng tượng thỏa sức bay bổng. Các cô tán gẫu ngoài sân trong giờ ra chơi và trong nhà ngủ lặng lẽ. Ester đứng lên, rời khỏi dương cầm và hòa âm cuối cùng tan vào trong cánh rừng. Ôi! Những ngày đi học, những ngày sung sướng! Nàng nhớ tới những lời của bà xơ Angelica, người thân mật và dễ thông cảm nhất trong số tất cả những bà tu sĩ, vào cái hôm mà các cô cầu mong ngày tháng trôi đi nhanh hơn nữa để được sống mãnh liệt hơn. Bà đặt đôi tay thanh thanh lên vai cô học trò, đôi vai mảnh khảnh xiết bao! “Đời người không có lúc nào sánh tầy lúc này, Ester ạ, khi mà người ta còn có thể mơ mộng được.” Bấy giờ nàng chưa hiểu ra. Phải đợi nhiều năm sau, điều nhận xét ấy mới trở lại trong ký ức của nàng để rồi sau đó hầu như ngày nào nàng cũng nhớ đến. Ôi! Sung sướng thay những ngày đi học! Ester đi ra, ngồi lên cái võng ở ngoài hiên. Ngồi đây, nàng nhìn thấy con đường cái họa hoằn mới có một anh công nhân đi qua, về phía Tabocas hay Ferradas. Nàng còn trông thấy những thùng gỗ phơi ca cao đã được những bàn chân đen đủi của công nhân vò xát. Khi học xong, nàng đến ở Ilhéus, cũng chẳng đợi dự đám cưới của cô bạn thân Lúcia lấy bác sĩ Alfredo, một thầy thuốc nổi tiếng. Bạn nàng giờ đây đang đi du lịch ở Rio de Janeiro và ở châu Âu, nơi chồng cô ta trau dồi chuyên môn và làm việc từng thời gian tại các bệnh viện trứ danh. Lúcia đã thực hiện được mơ ước của cô ta; nào là áo quần sang trọng, nước hoa, nào là những dạ hội khiêu vũ lớn. Số phận hai người khác nhau biết bao! Ester nghĩ. Nàng thì đến Ilhéus, một thế giới khác hẳn. Đó là một thành phố vừa mới bắt đầu mọc lên, dân số gồm có thợ thuyền và những kẻ giang hồ, nơi chỉ toàn nói đến mỗi chuyện ca cao hay là chết chóc. Cha nàng ở tầng hai, trên gian nhà kho; qua cửa sổ, Ester nhìn thấy quang cảnh tẻ nhạt của thành phố. Mỗi bên có một quả đồi; nàng không tìm thấy cái gì đẹp, trên mặt sông cũng như trên mặt biển. Đối với nàng, cái đẹp nằm trong cuộc sống của Lúcia, trong những dạ hội khiêu vũ ở Paris. Khi tàu cập bến và khi cả thành phố náo nhiệt lên, khi báo chí ở thủ đô tới và các cửa hàng chật ních những người tranh luận về chính trị, ngay cả trong những dịp quan trọng gần như ngày hội ấy, Ester cũng không rũ được cái buồn. Bọn đàn ông khen ngợi nàng và tán tỉnh nàng một cách dè dặt. Có một lần, trong ngày hội trá hình, một sinh viên y khoa viết cho nàng một lá thư và gửi những câu thơ tặng nàng, nhưng đối với Ester thì đó là thời kỳ của khóc than và tang tóc; nàng than khóc cái chết của ông bà nàng đã buộc nàng phải sống trong cái xó xỉnh hẻo lánh này. Tin tức về những chuyện tranh chấp và chết chóc làm nàng khiếp đảm, và lo sợ ghê gớm. Tuy nhiên, nàng cũng quen dần với cuộc sống ở thành phố này và dần dà mất cả cái thú làm dáng của phụ nữ, điều đã từng làm cho mọi người bàn tán rất nhiều khi nàng mới tới đây (thậm chí thành một điều tai tiếng nữa). Và một hôm, khi cha nàng rất sung sướng báo cho nàng biết rằng đại tá Horácio, một trong số những nhà điền chủ giàu nhất, hỏi nàng làm vợ, thì nàng chỉ còn biết nhỏ vài giọt nước mắt mà thôi. Và giờ đây, được đi chơi Ilhéus đối với nàng đã trở thành một ngày hội. Giấc mơ về những thành phố lớn ở châu Âu, những buổi dạ hội khiêu vũ của hoàng đế và những chiếc áo kiểu Paris, nàng đã bỏ lại tận đâu đâu rồi, mất hút trong đám sương mù của thời gian, của quãng thời gian mà người ta còn có thể mơ mộng được. Mới qua có vài năm mà nàng tưởng như mình đã sống cả một cuộc đời với một tốc độ nhanh đến chóng mặt. Giờ đây, giấc mơ tráng lệ nhất của nàng là được đi Ilhéus, dự một ngày hội tôn giáo, một đám rước hay dự một cuộc bán đấu giá để làm phúc. Nàng thong thả đưa võng; phía trước mặt, mãi tận cuối tầm mắt, từ đỉnh đến chân các quả đồi, nàng chỉ nhìn thấy những khu rừng ca cao nặng trĩu quả. Trên thảm cỏ quanh nhà, gà mái và gà tây đang bới đất. Bọn da đen vò đạp ca cao trong các máng gỗ. Mặt trời đột nhiên ló ra khỏi một đám cây, rọi ánh nắng tràn ngập cảnh vật. Ester nhớ lại ngày cưới. Ngày hôm ấy, nàng cùng với chồng đến đồn điền. Hồi tưởng lại làm nàng còn rùng mình trong khi đang ngồi đưa võng ở đây. Đó là cảm giác ghê sợ nhất nàng từng biết tới. Nàng nhớ lại khi tuyên bố đính hôn, khắp thành phố rộn lên những lời rì rầm bàn tán. Một người đàn bà mà nàng không giao du một bữa kia đến gặp nàng, kể cho nàng nghe một vài câu chuyện. Trước đó, cũng có mấy bà mộ đạo trong thành phố, rất quen thuộc trong giới tu hành, đã cho nàng biết những chuyện đồn đại về ông đại tá; nhưng người đàn bà này mang đến cho nàng một cái tin còn cụ thể và ghê sợ hơn nữa. Bà ta kể cho Ester hay rằng Horácio đã giết người vợ trước, đã lấy roi quất vợ đến chết hôm lão bắt gặp mụ nằm với một người đàn ông khác trên giường. Đó là thời lão ta còn là tên giữ la, còn lần theo những con đường hẻm mới vạch ra trong rừng đầy bí mật. Rất lâu về sau, mãi đến khi lão trở nên giàu có, câu chuyện này mới truyền đi trong các phố ở Ilhéus trên cái đất ca cao này. Có lẽ chính vì cả thành phố xì xào với nhau câu chuyện ấy, cho nên Ester vẫn tiếp tục chuẩn bị việc cưới, với đôi chút tự hào và rất nhiều khinh miệt. Horácio đến tán tỉnh nàng vào những ngày chủ nhật hiếm hoi khi lão đến dùng bữa ở nhà nàng, tán tỉnh bằng cách im lặng kéo dài; một lối tán tỉnh không có hôn hít, vuốt ve, không có những lời tình tứ, khác biết bao với những điều Ester đã tưởng tượng trong cái yên tĩnh của trường nhà dòng. Nàng muốn một đám cưới không khoa trương hình thức, mặc dầu thoạt tiên Horácio năn nỉ đòi làm thật linh đình: phải có tiệc tùng, khiêu vũ, đốt nhiều nến và lễ lớn. Nàng đã thắng. Đám cưới của nàng đã tổ chức thân mật, và hai cuộc nghi lễ, một với ông cha cố và một với viên thẩm phán, đều cử hành ở nhà. Cha cố thì giảng cho họ nghe một bài thuyết giáo, viên thẩm phán với bộ mặt mệt mỏi của một tay sâu rượu thì chúc họ hạnh phúc. Thầy cò Rui đọc một bài diễn văn khá hay. Cưới buổi sáng thì sẩm tối họ đã cưỡi lừa vượt đầm lầy về tới nhà lớn ở đồn điền. Thợ thuyền tụ tập ở trước nhà, bắn một loạt súng khi đoàn lừa đến gần: Đó là cách họ chào mừng đôi vợ chồng mới. Nhưng Ester thấy tim mình như thắt lại khi nghe thấy những tiếng súng nổ đó trong đêm tối. Horácio sai phân phát rượu rum cho bọn đầy tớ. Chỉ vài phút sau, nàng đã trơ trọi một mình và Horácio bỏ đi thăm rừng và ca cao sấy trong lò để xem trận mưa đã làm lão thiệt hại đến đâu. Mãi đến khi lão quay về, bọn nữ tì da đen mới thắp đèn lên. Nghe tiếng ếch kêu, Ester sợ. Horácio chẳng có chuyện gì nói, và sốt ruột. - Cái gì thế? - Nàng hỏi khi nghe thấy một con ếch khác kêu trong đầm. - Một con ếch trong miệng rắn đấy, - lão đáp, giọng thản nhiên. Bọn nữ tì da đen dọn bữa chiều, họ nhìn Ester với một vẻ ngờ vực, và đột nhiên, vừa ăn xong, quần áo nàng đã bị rứt tung ra, xác thịt nàng bị chiếm đoạt thô bạo một cách bất ngờ nhất. Từ đó, nàng quen dần với tất cả mọi chuyện. Giờ đây nàng đã khá hòa hợp với các cô đầy tớ da đen; nàng còn đi đến chỗ yêu mến Felícia, một cô gái lai đen trung thành. Nàng quen dần với chồng, với những phút im lặng nặng nề của lão, với những cơn dâm dật bất thường của lão, với những lúc lão nổi cơn giận dữ điên cuồng khiến tên jagunco hung dữ nhất cũng phải lùi bước. Nàng quen dần với những tiếng súng nổ trong đêm khuya trên con đường cái, với những cái xác chết nằm trong võng thỉnh thoảng lại được khiêng qua, kèm theo tiếng đàn bà khóc lóc thảm thiết. Có một điều duy nhất nàng không thể quen được, đó là cánh rừng đằng sau nhà. Đêm đêm, trong những đầm do nước sông tạo nên, những con ếch cất tiếng kêu tuyệt vọng trong miệng con rắn đang ăn thịt chúng. Mười tháng sau, nàng sinh một đứa con trai: Giờ đây thằng bé đã được một năm rưỡi. Ester ghê sợ nhận ra rằng con mình hoàn toàn giống Horácio. Nàng không thể không nghĩ rằng đó là do lỗi của chính nàng, vì nàng đã không góp sức trong việc hoài thai ra nó; bởi vì nàng không bao giờ tự ý trao thân cho chồng, bao giờ nàng cũng bị cưỡng bức như một thứ đồ dùng hay như một con vật. Tuy nhiên nàng vẫn tha thiết yêu con, và đau khổ vì nó. Vậy là nàng đã quen dần với mọi chuyện. Nàng không mơ mộng nữa, nhưng cái mà nàng không thể nào chịu đựng nổi, đó là rừng và đêm tối. Những đêm dông tố thật là kinh khủng; chớp sáng lòe trên những thân cây cao nhất, sét nổ ầm ầm, cây cối bật cả gốc. Trong những đêm như vậy, Ester chỉ ngồi bó gối, kinh hoàng, than khóc cho số kiếp. Những đêm khủng khiếp với cái sợ không sao nén nổi, một nỗi ghê sợ cụ thể và như sờ mó được. Nó bắt đầu cùng với cái giờ đầy lo âu của hoàng hôn. Ôi! Những buổi hoàng hôn báo trước cơn bão táp! Theo ánh chiều tà tắt dần trong những đám mây đen và thấp, bóng tối trở thành một định mệnh xác thực; không cây đèn nào có thể làm cho nó sợ, xua đuổi được nó đi, ngăn cản nó tìm ra ngôi nhà và biến cái nhà ấy, biến những bụi ca cao kia, biến cả khu rừng thành một thực thể đồng nhất giới hạn trong một bóng tối ngang với bóng tối của đêm trường. Cây cối bỗng khoác những hình thù khổng lồ; bóng tối càng dày thì thân cây càng cao mãi lên. Người ta nghe thấy những tiếng gọi đau đớn, tiếng kêu của những con chim và những con vật lạ. Tiếng kêu ấy ở đâu ra? Ester không biết. Và cả tiếng rít của loài bò sát, tiếng chúng lướt mình lạo xạo trên lá khô! Ester luôn luôn có cảm giác rằng một ngày kia rắn rết sẽ bò lên hiên, tràn vào trong nhà một đêm dông tố nào đó, và chúng sẽ chộp lấy cổ họng nàng và con trai nàng, quấn vào cổ hai người như một cái vòng. Nàng không tài nào diễn tả nổi nỗi kinh hoàng của những giờ phút kéo dài suốt từ lúc mặt trời lặn cho đến khi bão táp nổi lên. Và cuối cùng khi cơn dông tố sập xuống với tất cả sự cuồng nộ của nó, khi thiên nhiên như muốn hủy diệt tất cả, nàng chạy tới chỗ nào có ánh đèn sáng nhất. Ngay cả lúc đó nữa, những cái bóng do vầng ánh sáng hắt xuống cũng vẫn làm cho nàng sợ, kích thích trí tưởng tượng của nàng và đẩy nàng đến chỗ phải tin những mẩu chuyện mê tín nhất do bọn da đen kể lại. Một kỷ niệm bao giờ cũng trở về trong trí nàng những buổi tối ấy, đó là những bài hát ru mà bà nàng xưa kia vẫn hát để làm khuây khỏa nỗi sợ của nàng hồi bé, cách đây đã lâu lắm rồi. Và giờ đây, ngồi cạnh nôi con, nàng vừa khóc vừa hát lại những bài hát ru đó, hát khe khẽ bài nọ tiếp bài kia, lòng tin chắc ở hiệu lực thần diệu của chúng. Nàng hát ru con, nó ngước cặp mắt nâu và dữ lên nhìn nàng, cặp mắt của Horácio; nhưng nàng cũng hát cho nàng nghe nữa, chính vì nàng cũng chỉ là đứa bé đang khiếp sợ. Nàng hát nho nhỏ tự ru mình bằng âm điệu bài hát trong khi nước mắt ròng ròng chảy trên mặt. Nàng quên khuấy bóng tối ngoài hiên, những bóng đen khủng khiếp ngoài kia, những tiếng hú hăm dọa của cú trong những lùm cây, quên cả đêm sâu, quên cả rừng, và bí mật của rừng. Nàng hát những bài hát ngày xưa, những giai điệu đơn giản, rất mầu nhiệm để chống lại những phép yêu ma. Dường như vong hồn hiền từ của bà nàng, trìu mến và thông cảm đang che chở cho nàng. Thế rồi thốt nhiên, tiếng kêu của một con ếch trong đầm bị cắn chết, xuyên qua khu rừng, qua những lùm cây ca cao, lọt vào trong nhà, nó mạnh hơn cả tiếng cú kêu, hơn cả tiếng lá xào xạc, hơn cả tiếng gió rít, nó bay đến, tắt ngấm trong căn buồng sáng, bên cạnh nàng Ester đang ngồi run lẩy bẩy. Nàng không hát nữa. Nàng nhắm mắt lại, và nhìn thấy rõ từng li từng tí: những con rắn ghê tởm và bầy nhầy đang trườn trên mặt đất giữa đám lá mục, rồi bất thần phóng bổ vào con ếch vô tội, trong khi cái tiếng kêu chết chóc và tuyệt vọng kia khuấy động mặt sông yên tĩnh, khiến cho cảnh tượng đe dọa của đêm khuya tràn đầy sợ hãi, tai họa và đau khổ. Trong những đêm như vậy, nàng nhìn thấy rắn ở khắp các xó nhà; chúng từ khe sàn, từ kẽ hở, giữa những hàng ngói bò ra; mỗi lần người ta mở cửa chúng lại bò vào. Nhắm mắt lại một lát, nàng thấy chúng đang bò thận trọng để chuẩn bị cú phóng chết người. Lát sau, nàng lại run lên nghĩ rằng có thể có một con rắn đang ở trên nóc nhà, đang chậm chạp trườn đi, lén lút và lặng lẽ, đến gần chiếc giường bằng gỗ hồng, có lẽ để quấn chết nàng trong giấc ngủ. Nàng đã trải qua không biết bao nhiêu đêm trắng, tưởng như nhìn thấy một con rắn bò xuống dọc theo bức tường! Một tiếng động nhỏ nhất nghe thấy trong giấc ngủ cũng đủ làm cho nàng kinh hoảng. Nàng tung chăn nhỏm dậy, đi đến chỗ nôi con. Khi biết chắc rằng nó đang ngủ ngon, nàng cầm một cây nến trong tay, đi lục soát khắp buồng, không bỏ sót một xó xỉnh nào, mắt thao láo vì khiếp sợ. Thỉnh thoảng Horácio thức giấc, lão làu bàu vài tiếng, nhưng Ester vẫn tiếp tục tìm kiếm vô ích. Nàng không ngủ được nữa mà nằm đợi cái thứ kia đến, lòng xiết bao kinh hãi. Nó đã đến, nó bò đến gần giường, còn chính nàng thì không đủ sức mà cựa quậy, hoặc là kêu lên được nữa. Nàng cảm thấy nó, cái thứ kia, đang quấn lấy cổ nàng và thít chặt lại. Nàng nhìn thấy con mình chết, nằm trong cái nôi màu thiên thanh, trên mặt còn mang vết răng độc. Một lần, nàng thoáng nhìn thấy một mẩu dây thừng trong đêm tối và nàng thét lên một tiếng như tiếng ếch kêu, tiếng """