🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Cuộc Thử Thách Trí Tuệ - Nhiều Tác Giả full prc pdf epub azw3 [Hài Hước] Ebooks Nhóm Zalo CUỘC THỬ THÁCH TRÍ TUỆ (Tập truyện tưởng tượng khoa học nhiều nước) NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT Hà Nội – 1986 Nguồn sách và chụp ảnh 4DHN Xử lý file pdf putin503 OCR, soát lỗi lần 1 Dr. No Soát lỗi lần 2 và đóng ebook amylee Cộng đồng tve-4u.org Trân trọng gửi đến tất cả các bạn! LỜI NÓI ĐẦU Cuộc thử thách trí tuệ là một tập truyện tưởng tượng khoa học dịch của nhiều nước, trong đó có Liên Xô, Mỹ, Ba Lan... là những nước rất phát triển thể loại này. Nội dung của tập sách khá đa dạng, bao gồm nhiều chủ đề khác nhau. Nếu như truyện “Con ngỗng đẻ trứng vàng” có thể coi là một giả thuyết khoa học độc đáo, táo bạo, thì các truyện “Thần dược Coffin”, “Cuộc đuổi bắt ban đêm” lại là lời cảnh báo đối với các phát minh khoa học đẻ non, dẫn đến những hậu quả tai hại; nếu các truyện “Sợi râu của Mohammed”, “Cuộc thử thách trí tuệ” đề cập tới khả năng tồn tại những nền văn minh khác ngoài Trái Đất, thì các truyện “Một cuộc thí nghiệm”, “Mối tình ngoài thời gian” lại trở về những đề tài muôn thuở là tình yêu và lẽ sống ở đời; nếu ở truyện “Vụ giết người bằng tinh thể”, tri thức khoa học là phương tiện để tìm ra chân lý, thì ở truyện “Lời giải”, phẩm chất của nhà khoa học lại là yếu tố được nhấn mạnh... Những truyện trên có thể khác nhau về chủ đề, phong cách tác giả, nhưng tựu trung lại đều là những bài học bổ ích về phương pháp tư duy logic, khoa học trong các vấn đề đặt ra. Tuy vậy, đây chưa phải là một tập tuyển với đầy đủ các yêu cầu nghiêm ngặt của nó, mà chỉ là một tập hợp các truyện được chọn dịch ít nhiều mang tính ngẫu nhiên. Trong quá trình làm, chắc chắn tập sách không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Mong bạn đọc lượng thứ và cho ý kiến giúp đỡ. NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT SỢI RÂU CỦA MOHAMMED Dimitar Peev (Bulgaria) Không thể quay ngược kim đồng hồ, sống trong thời gian đã trôi qua trước khi chúng ta được sinh ra. Quá khứ đối với chúng ta là không thể nào đảo ngược được. Tuy vậy tôi đã có dịp đến thăm thời kỳ xa xưa và sống trên Trái Đất hàng trăm nghìn năm trước. Đó là tôi và cũng không phải là tôi. Tôi đã nhìn thấy tất cả bằng chính “mắt mình”, mặc dù đó là mắt của một người khác không quen biết. Một người ư? Liệu có thể gọi đó là người được không? Có một lần, Strashimir Lozev đến thăm tôi. Trước đây, lúc ở trường trung học chúng tôi là bạn thân với nhau. Rồi cuộc sống đã chia lìa hai đứa. Mãi sau này ngẫu nhiên gặp lại nhau trên đường phố, chúng tôi quyết định nhất thiết phải đến thăm nhau để hồi tưởng lại “cái thời xưa ấy”. Sau những câu đùa thân mật theo thông lệ, Lozev lấy từ trong túi áo ra một chiếc lọ con và đặt nó lên bàn. – Cậu hãy nhìn kỹ cái vật này và nói cho mình biết nó được làm từ chất liệu gì và dùng để làm gì? Mình muốn biết ý kiến cậu. Thoạt đầu tôi nhìn anh bạn tôi rồi đến đồ vật. Đó là một ống trụ nhỏ trong suốt. Phía trong hiện rõ một cái lõi mảnh trăng trắng. Hình như chiếc lọ có vẻ rất nặng so với kích thước của nó. Tôi lật đi lật lại chiếc lọ trên tay, đoạn hỏi: – Cậu lấy nó ở đâu ra thế? – Hượm đã, đừng vội – Lozev cầm lấy chiếc lọ, mở ra với vẻ thành thạo và đưa cho tôi cái lõi. – Xem này, đây mới là cái quan trọng nhất. Một sợi dây trắng quấn quanh cái lõi mảnh. Tôi tìm thấy đầu sợi dây và bắt đầu gỡ ra. Mềm, dễ uốn giống như một sợi dây thép mảnh, nó nặng một cách lạ lùng. Lozev bật diêm, đốt một đầu sợi dây. Rồi cậu ta đề nghị tôi cũng làm như vậy. Sợi dây không những không cháy mà vẫn còn lạnh nguyên, thậm chí không hề bị đen đi. Tiếp đến Lozev bắt tôi tìm dao và đề nghị tôi cắt lấy một mẩu. Nhưng cố gắng của tôi chỉ vô ích: sợi dây uốn mình, trượt ra. Tôi cố gắng hết sức nhưng chỉ làm đứt ngón tay. – Nào, cậu nói gì nào? – anh bạn tôi hỏi. – Giống như một sợi tơ gì đó mặc dầu mình chưa bao giờ thấy một cái gì tương tự. Ống trụ và lõi như làm bằng thủy tinh, nhưng rất nặng, còn sợi dây... Mình không thể xác định được nó làm bằng vật liệu gì. Có thể đó là một loại chất dẻo mới có tính chất đặc biệt chăng?... – Không, – Lozev phản đối một cách tin chắc, – nó không phải là chất dẻo. – Thế thì mình chịu. Cậu nói xem nào. – Được, mình sẽ nói. Đó là sợi râu của Mohammed*. Mohammed: nhà tiên tri, sáng lập ra đạo Hồi – ND. – Sợi râu nào? Mohammed nào? – Đây là sợi râu của nhà tiên tri Mohammed. Đoạn Lozev kể cho tôi nghe một câu chuyện kỳ lạ. Bác của Lozev là đại úy Proinov, chỉ huy một đại đội trong thời kỳ chiến tranh ở vùng Balkan, đã lấy sợi râu này từ nhà thờ đạo Hồi trong thành phố nhỏ Keshan vào mùa thu năm 1912. Sợi râu đó đã làm nổi danh thành phố này trong toàn đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Tương truyền nó có đặc tính rất kỳ diệu: tự mọc, tự cuốn quanh cái lõi và chứa đựng một kho tàng thông thái lớn ngang tất cả các nhà thông thái trên Trái Đất cộng lại. Viên đại úy không giữ chiến lợi phẩm đó bên mình: làm sao mà lường được cái gì sẽ xảy ra trong chiến tranh. Bởi vậy, ông gửi chiếc lọ con có sợi tóc cho chị ông là mẹ bạn mình. Chẳng bao lâu sau đại úy Proinov chết trận. Bà chị ông không đưa cho ai xem chiếc lọ, hình như bà sợ. Chỉ sau khi bà chết nó mới đến tay bạn mình. Lozev lặng im và cẩn thận cuốn sợi tóc vào cái lõi. – Mình hy vọng, – tôi lên tiếng, – cậu cũng chẳng cần thiết phải chứng minh, nó không thể là sợi râu. – Đấy chỉ là lai lịch của nó. Bây giờ hãy nghe mình nói tại sao mình lại tìm đến cậu. Mình muốn cậu giữ lấy chiếc lọ kỳ lạ này. Không, đây hoàn toàn không phải là sự mê tín. Đơn giản là mình muốn đề nghị cậu nghiên cứu nó trong phòng thí nghiệm. Quả thực, chính tôi cũng muốn đề nghị với anh bạn tôi điều đó: tôi rất muốn hiểu rõ sợi dây bí ẩn này. Lúc đầu tôi sẽ không hé răng nói nửa lời với các bạn đồng nghiệp của tôi ở Viện hóa kỹ thuật (mà tôi là phụ giảng bộ môn điện hóa ở đó), bởi vì việc nghiên cứu sợi râu của Mohammed, chỉ có thể làm cho mọi người cười nhạo mà thôi. Trước hết, tôi muốn cắt lấy một mẩu của sợi dây bí ẩn đó. Nhưng thất bại hoàn toàn. Tôi dùng kéo, sau đến rìu, và kết thúc bằng chiếc máy lớn dùng để thử sức chịu kéo của vật liệu. Sợi dây dày gần 0,07mm (vừa bằng chiều dày của một sợi tóc) chịu được một tải trọng khổng lồ – năm tấn. Nó không đứt mà chỉ bị trượt ra khỏi trục gá. Tôi tiến hành vô số những phương thức nghiên cứu khác nhau đối với sợi dây. Nó không bị đứt, không chịu tác động của bất kỳ hoạt chất hóa học nào, không bị nóng chảy dưới ngọn lửa đèn khí, không dẫn điện, không nhiễm từ, không... và không... Tóm lại, trong tay tôi là một vật được cấu tạo từ một chất mà khoa học chưa biết đến. Nhưng đó là cái gì? Làm bằng chất liệu nào? Đúng như dự đoán, khi tôi thông báo với ban lãnh đạo Viện về “sợi râu của Mohammed”, họ đã không tin. Tôi đề nghị họ làm lại các thí nghiệm của tôi. Kết quả đúng như đã xảy ra. Có lẽ sự việc kết thúc ở đó, nếu tôi không có dịp được sang Liên Xô. Tôi quyết định chia xẻ những băn khoăn của mình với các đồng nghiệp Xô viết. Sau khi tới Moskva tôi chuyển chiếc lọ đến phòng thí nghiệm của một viện nghiên cứu và kể tất cả mọi điều tôi biết về nó. Sau hai tuần người ta gọi điện thoại cho tôi và báo rằng viện trưởng muốn gặp tôi. Ông là một nhà bác học có tên tuổi trên thế giới. Tất nhiên, tôi vội vã đến gặp ông: – Chúng tôi đã xác định được rằng, – viện sĩ nói với tôi, – ống trụ, cái lõi và sợi dây được cấu tạo từ cùng một loại vật liệu: chất silic siêu đặc được nén dưới áp suất có lẽ cao đến vài triệu atmosphere. Dưới áp lực như vậy không những mạng tinh thể bị biến dạng mà các quỹ đạo của các điện tử cũng thu nhỏ đi. Một nhà bác học khác có mặt trong phòng làm việc nói thêm: – Dấu vết của vật tìm được đã biến mất trong chiều sâu của các thế kỷ, và chắc là không bao giờ chúng ta tìm ra được. Nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. – Điều quan trọng hơn cả, – viện trưởng tiếp tục, – là những tính chất đặc biệt của vật này, không nghi ngờ gì nữa, chứng tỏ nó có nguồn gốc ở ngoài Trái Đất. – Đồng chí muốn nói… – tôi xúc động ấp úng. – Đúng, chúng tôi cho rằng ống trụ và sợi dây được những sinh vật có trí khôn sống ở các thế giới sao khác mang đến Trái Đất không rõ từ khi nào. – Viện sĩ nói câu đó liền một mạch như thể muốn giãi bày ý nghĩ đã khiến ông băn khoăn. – Không thể có cách giải thích khác bởi vì không thể có một chất tương tự như vậy được tạo thành trên Trái Đất. Thậm chí, khoa học hiện đại cũng chưa có khả năng chế tạo ra nó. Nhưng lại xuất hiện một câu hỏi hoàn toàn tự nhiên: chức năng của vật này là gì? – Có thể trên vật đó có viết gì chăng? – tôi đánh bạo phỏng đoán. – Đúng, chúng tôi đã xác định được trên sợi dây có ghi điều gì đó, nhưng không phải bằng phương pháp cơ học, quang hóa học, điện hoặc từ. Sợi dây không đặc mà có ba lớp. Dưới lớp vỏ silic là lớp dẫn điện mỏng, trong cùng là phần lõi bằng chất dẻo nóng, trên đó có ghi các xung biến thiên với tần số rất cao bằng phương pháp nhiệt điện. Trên mỗi milimet phải có đến gần bảy triệu tín hiệu. – Đã năm ngày nay, các cộng tác viên của chúng tôi ở Viện điều khiển học kỹ thuật nghiên cứu để khám phá ra bí mật của sợi dây. Chúng tôi đã cầu cứu sự giúp đỡ của các nhà ngôn ngữ, các nhà tâm lý và các nhà sinh lý học. Chúng tôi đã thử giải mã các tín hiệu bằng chữ cái hoặc bằng lời. Chúng tôi tìm kiếm trên đó các hằng số vật lý, các dữ liệu của bảng Mendeleev. Chúng tôi cố gắng tìm ra các đại lượng toán học chung cho cả vũ trụ. Nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa khám phá ra được điều gì. Hội đồng khoa học của Viện đi đến một ý kiến thống nhất là hiện nay chúng ta chưa thể giải mã được bản ghi này. – Có thể... trong các tín hiệu đó, nói chung, không có một ý nghĩa logic nào thì sao? – tôi hỏi một cách thiếu tin tưởng. – Không – nhà bác học kiên quyết bác lại. – Tôi tin rằng các tín hiệu đó có ý nghĩa, chỉ có điều là chúng rất phức tạp. Hình dạng các đường cong trên màn ảnh của máy ghi dao động không loại trừ rằng: đây là bản ghi các ý nghĩ. Đúng thế... các ý nghĩ. Nhưng chúng tôi không đủ khả năng giải mã bản ghi này. Tuy nhiên, khi đọc biên bản của hội đồng, – ông tiếp tục với vẻ nghĩ ngợi, – tôi e là chúng ta có thể sai lầm trong chính cách đặt vấn đề. Chúng ta tìm kiếm xem ở đó viết gì mà không tìm hiểu xem viết để làm gì. – Đồng chí muốn nói gì kia? – tôi hỏi. – Tôi muốn biết mục đích của bản ghi đó là gì? Cứ thử tưởng tượng xem, anh đến thăm một hành tinh của một hệ thống sao xa xôi. Ở đó chưa có các sinh vật có trí khôn mà anh có thể tiếp xúc. Anh muốn để lại đó bức thông điệp cho các thế hệ sau của họ có thể đọc. Anh sẽ xử sự thế nào? – Tôi sẽ tìm phương pháp truyền các ý nghĩ sao cho bất kỳ một sinh vật có trí khôn nào cũng có thể hiểu được. Tôi sẽ lưu ý sao cho những ghi chép của tôi có thể giữ gìn được thật lâu. – Chính thế! – Viện sĩ thốt lên. – Điều kiện thứ hai đây thôi. Chất cách điện silic có thể giữ gìn bản ghi hàng triệu năm... Nghĩa là, điều đó chứng minh bằng bản ghi được gửi đến các “độc giả” xuất hiện sau đó rất lâu. Bây giờ thử xem, điều kiện thứ nhất được thực hiện như thế nào. Phương pháp truyền đạt ý nghĩ? Các bạn cũng đồng ý là tiếng nói và chữ viết để thực hiện ý đồ đó là không phù hợp chứ: Với tư cách là phương tiện để diễn đạt hệ thống tín hiệu bậc hai, chúng hoàn toàn mang tính ước lệ, và như vậy cần phải loại bỏ chúng. – Có thể là phim chăng? – tôi giả định. – Khá lắm, có lẽ phim thì hay hơn đấy. Nhưng tiếc thay lại không phải là phim. Đúng hơn, đây không phải là bản ghi hình ảnh bằng ánh sáng. Có thể trên sợi dây này ghi lại sự thụ cảm tổng hợp nào đó, nhưng bằng một cách hoàn toàn khác. – Mà chúng ta còn chưa rõ – nhà bác học thứ hai nói xen vào. – Thế có nghĩa là chúng ta đã tìm thấy “sợi râu của Mohammed” quá sớm đấy, – viện sĩ cười khẩy. – Tuy nhiên, cần phải tiếp tục nghiên cứu. Chúng tôi đã ghi lại những xung được ghi trên sợi dây, nhưng đến đây vai trò của chúng tôi cũng kết thúc. – Đồng chí muốn ngụ ý gì? – nhà bác học thứ hai hỏi. – Phải đến viện điều khiển học thần kinh ở Leningrad. Tôi hy vọng rằng ở đó người ta sẽ tìm ra phương pháp đọc các tín hiệu. Không loại trừ khả năng các vị khách bí ẩn để lại bản ghi hoạt động bộ não của mình. – Sao cơ! – Tôi sửng sốt kêu lên. – Các đồng chí cho rằng sợi dây đó chứa đựng bản ghi trực tiếp những ý nghĩ của các sinh vật khác? – Thì ở đây có gì là lạ đâu? Chắc anh đồng ý rằng sự ghi lại các dòng điện sinh học của não không những là phương pháp trực tiếp, hoàn chỉnh nhất mà còn là phương pháp truyền tin tổng hợp nhất. Khi tôi đến Viện điều kiện học thần kinh, công việc đã tiến bộ đáng kể. Các nghiên cứu cho hay rằng trên sợi dây ghi lại chính các bức xạ của não. Để đọc được bản ghi này cần phải cải tiến một vài dụng cụ và thiết bị đã có. Toàn bộ bí quyết là như sau: Bản ghi bằng nhiệt điện, đã được chuyển hóa thành các xung điện từ, được khuếch đại và chuyển thành các tia omega (đó là các dao động do não bức xạ khi tư duy). Bộ dao động omega cần được gắn một cách thích ứng lên đầu người. Nếu như giả thuyết của chúng tôi đúng thì người được thí nghiệm sẽ cảm thấy tất cả những cảnh xúc của “người” có các tín hiệu đã được ghi lại. Mọi người đề nghị tiến hành thí nghiệm với chính tôi. Tôi đồng ý. Người ta đặt tôi ngồi xuống một chiếc ghế bành, giữ chặt sao cho tôi không thể cựa quậy được. Họ chụp lên đầu tôi một chiếc mũ bức xạ omega. Tôi cảm thấy một sự đụng chạm lạnh giá của các điện cực kim loại giống như những xúc tu của một quái vật biển đang quấn quanh đầu tôi. – Đừng sợ! Anh hãy bình tĩnh! – một giọng không quen biết vang đến tai tôi. – Chúng tôi chỉ mới thử điều chỉnh sơ bộ thôi. Sự chờ đợi căng thẳng kéo dài mấy phút. Tôi không cảm thấy gì cả. Có thể, mọi giả thiết đều sai lầm chăng? Bỗng nhiên, một tia chớp rực rỡ làm lóa mắt tôi. – Anh có nhìn thấy gì không? – một giọng ai đó hỏi. – Ánh sáng rực rỡ, – tôi trả lời. – Nhưng nó đã tắt rồi. Tôi không nhìn thấy gì hơn nữa. – Bây giờ thì sao? – vẫn giọng đó hỏi. – Anh hãy nói, hãy tả lại tất cả các cảm xúc, tình cảm và suy nghĩ của anh. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy một đường phố nhỏ với những ngôi nhà xinh xắn trong thành phố quê hương tôi. Lozev, người đã mang cho tôi sợi râu của Mohammed, đang đi đến gặp tôi. Nhưng đó là cậu bé học sinh trung học Lozev. Chính mắt tôi nhìn thấy cậu ta, nhìn thấy những phiến đá của mặt đường cũ kỹ tràn ngập ánh mặt trời, đồng thời vẫn biết rằng đấy chỉ là ảo giác. – Hồi ức về thời niên thiếu của tôi này có ý nghĩa gì? Chẳng lẽ nó cũng được ghi trên sợi dây đó sao? – Không, chúng tôi chỉ mới thử điều chỉnh, – một giọng nói trả lời. Cuộc thực nghiệm kéo dài đến một tiếng đồng hồ. Tôi trải qua khá nhiều cảm giác: nghe thấy giọng nói, tiếng nhạc, tiếng ồn trên đường phố; nhìn thấy những bức tranh đã bị lãng quên từ lâu; cảm thấy lạnh lẽo, oi nồng; cảm thấy mình đang bước lên cầu thang, điều đó thậm chí rõ ràng đến mức tôi phải nhìn xuống đôi chân của mình để khẳng định là chúng không hề chuyển động. Phần thứ hai của thí nghiệm bắt đầu từ lúc tôi cảm thấy bị chích vào cánh tay. Nhưng không có ai đến gần tôi cả: đó là bản ghi cảm giác của một trong những cộng tác viên của Viện. Sau đó, không hiểu sao tôi nghe thấy viện trưởng nói: – Plasma là vật chất ở trạng thái ion hóa mạnh. – Anh không cảm thấy gì ư? – người điều phối chính hỏi. – Tôi vừa mới nghe Nikolai Kirilovich nói: “Plasma là vật chất ở trạng thái ion hóa mạnh”. Nhưng điều đó có liên quan gì đến thí nghiệm? – Có chứ, có chứ! – viện trưởng thốt lên vui vẻ. – Anh nghĩ rằng tôi vừa nói câu đó, song thực chất câu đó được ghi lại từ hôm qua. Tôi nói câu đó với đồng chí Konovalov, bản ghi ý nghĩ của đồng chí ấy đang được truyền đến cho anh. Nhưng cuộc thí nghiệm “thực sự” mãi ba ngày sau mới được tiến hành. Mọi việc bắt đầu như bình thường: các bác sĩ, chiếc ghế bành, chiếc mũ chụp. Màn ảnh sáng lên, những chiếc kim của các thiết bị rung nhẹ, những cái đèn kiểm tra nhấp nháy. Còn tôi thì chờ đợi... Nhưng đến đây tôi phải ngừng câu chuyện của mình và thay vào đó bằng đoạn trích dẫn từ biên bản chính thức sau: “Người được thí nghiệm cảm thấy khỏe mạnh, bình tĩnh. Vào lúc 9 giờ 21 phút, bản ghi mang ký hiệu lamda-0733 được gắn vào bộ dao động omega. Tất cả các chỉ số kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn được ghi trong sơ đồ G. Người được thí nghiệm im lặng không trả lời các câu hỏi. Mạch đập nhanh dần và đạt mức tối đa là 98 nhịp vào phút thứ tư. Áp suất máu hơi giảm, thở nông và nhanh. Nhiệt độ cơ thể so với bình thường dao động trung bình trong khoảng cộng trừ 0,1°C. Trương lực của hệ cơ tăng lên rõ rệt. Đồng tử không phản ứng lại với ánh sáng. Độ nhạy cảm của da giảm đi nhiều. Cuối cuộc thí nghiệm, người được thử thậm chí không còn phản ứng dưới tác dụng của kim chích. Sau 8 phút 18 giây, khi thụ quan đạt đến điểm ghi được ký hiệu bằng fi-0209, thí nghiệm kết thúc. Trạng thái kích thích còn tiếp tục ba phút sau khi tắt bộ dao động. Người được thử nghiện tỉnh lại, mở mắt, ngáp to vài lần, nhìn ngơ ngác và hỏi bằng tiếng Bulgaria: “Tôi ở đâu thế này? Các anh là ai?” Chỉ vài phút sau anh ta mới hoàn toàn tỉnh táo và bắt đầu nói bằng tiếng Nga”. Khi tỉnh lại tôi nhìn thấy xung quanh hầu hết là những người tham gia cuộc thí nghiệm. Họ đề nghị tôi nghỉ ngơi chút ít, nhưng trên khuôn mặt họ tôi nhận thấy một sự chờ đợi nôn nóng nên tôi bắt đầu kể ngay về những cảm xúc đã xảy ra với tôi dưới ảnh hưởng của tia omega. Đầu tiên tôi nhận thấy một biển các ánh chớp chói lòa tựa như tôi đang đứng giữa những đám mây dông. Nhưng các ánh chớp đó lại có màu hồng, màu xanh lá cây nhạt, lóng lánh đủ các màu sắc của cầu vồng. Sau rồi xung quanh trở nên yên tĩnh. Tôi bay là là trên bình nguyên phủ tuyết mênh mông. Bầu trời bao bọc bởi những đám mây xám ảm đạm. Ngự trị lên tất cả là một sự im lặng chết chóc kỳ lạ, tựa như tai tôi bị nhét đầy bông. Tôi không cảm thấy giá lạnh, thậm chí không cảm nhận được cả bản thân mình nữa. Một bầy súc vật bốn chân lông lá lờm xờm đang rượt theo một con hươu lớn. Nhưng tôi chỉ bay qua, không tham gia vào tấn thảm kịch đẫm máu sắp diễn ra ở phía dưới. Tôi bay cao dần, nhanh dần tới dãy núi màu xanh lam. Tôi đi tìm một cái gì hoặc một người nào đó. Chợt tôi mơ thiếp đi trong khoảnh khắc. Trước mắt tôi hiện ra, như những ảo ảnh kỳ lạ, một thế giới khác đẹp như trong cổ tích. Dưới ánh sáng lẫn lộn của hai mặt trời – một màu xanh chói lòa và một màu huyết dụ sẫm – lấp lánh những tòa nhà bằng kim loại uy nghi. Trong bầu không khí ấm áp, hàng ngàn đồ vật hình bầu dục đang chuyển động. Ở đó, một cuộc sống văn minh tuyệt diệu đang diễn ra sôi động. Ở đó có những người thân của tôi, những người mà tôi đã giã từ. Còn ở đây – ở đây tôi chỉ có một mình. Tôi lại tiếp tục bay. Bây giờ tôi đang ở giữa các ngọn núi. Tôi bay chậm lại. Nó cần phải ở đây, một nơi nào đó rất gần. Tôi không nhìn thấy nó nhưng một cái gì đó thầm mách tôi rằng nó ở đây, ngay phía dưới tôi. Bây giờ tôi bay thật chậm, thật thấp, gần chạm vào cả các ngọn cây phủ tuyết. Đúng, nó kia rồi! Trên mặt đất băng giá, một sinh vật hai chân mình đầy lông lá đang chạy. Nó đang ráng hết sức chạy thoát khỏi kẻ săn đuổi – một con gấu núi lớn. Nhưng nó không còn đủ sức. Chỉ mấy bước nữa thôi – và những móng vuốt khủng khiếp của con quái vật sẽ cắm ngập vào lưng sinh vật hai chân. Một cái gì đó rung lên trong lòng tôi: sinh vật hai chân xấu xí đáng thương kia đối với tôi sao mà thân thiết. Nó hoàn toàn không giống tôi – cả về trí khôn lẫn vẻ bên ngoài. Nhưng dù sao tôi vẫn cảm thấy nó gần gũi với mình. Trên cái hành tinh lạ lẫm, lạnh lẽo và lãnh đạm này, chỉ ở nó là có một cái gì đó chung với tôi. Tôi có thể thiêu trụi con ác thú. Nhưng tôi chỉ cần nghĩ đến điều đó, nó đã đứng chết lặng tại chỗ, như bị sét đánh và ngã phịch xuống. Còn sinh vật hai chân vẫn tiếp tục chạy trong nỗi kinh hoàng, thậm chí không ngoái nhìn lại. Tôi không chú ý đến con gấu nữa, mà theo sau sinh vật đầy lông lá. Nó chạy trong rừng dẫn lên núi cao, luôn vấp ngã, và cuối cùng cũng đã dẫn tôi đến một cửa hang. Ở lối vào hang có đống lửa lớn đang ngùn ngụt cháy. Xúm quanh đống lửa là hàng chục sinh vật giống nó, mình quấn trong các bộ da thú thô. Thấy nó chạy đến, tất cả đều đứng phắt dậy. Họ mấp máy môi khá nhanh nhưng tôi không nghe thấy một âm thanh nào, mà tôi cũng chả cần nghe làm gì. Bằng một cách nào đó tôi cảm thụ được các cảm xúc của họ: sự sợ hãi khi thấy người cùng bộ lạc xuất hiện đột ngột, nỗi tức giận vì sự tò mò không được toại nguyện về câu chuyện nó được cứu thoát đầy bí ẩn. Sự sợ hãi, nỗi giận giữ và lòng hiếu kỳ – tất cả những tình cảm đó tôi đều hiểu được. Quả là nó còn quá thô thiển, nhưng dẫu sao chúng cũng là của tôi! Cơn kích động nhanh chóng lắng xuống. Còn kẻ mới tới đã khuất lẫn vào đám bạn bè lông lá của mình. Tôi quan sát một lúc lâu cảnh họ đi ra đi vào trong hang, chen lấn nhau, nhăn những cái trán thấp của mình. Trong tôi tràn ngập một nỗi xót thương đau đớn. Tôi thương những sinh vật đó bởi sự bất lực của họ. Và tôi cảm thấy xót thương cho chính bản thân mình. Một tình cảm cô đơn, thậm chí tuyệt vọng xâm chiếm lấy tôi. Đột nhiên, tôi quyết định ra mắt đám sinh vật đó. Tôi trở nên có thể nhìn thấy được. Xung quanh tôi xuất hiện một chiếc vỏ bọc hình cầu lấp lánh, từ đó trồi ra nhiều xúc tu bằng kim loại. Khi nhìn thấy tôi ở gần như vậy, các sinh vật hai chân bỗng ngẩn người ra vì bất ngờ rồi bỏ chạy và nấp vào trong hang sâu. Chỉ còn lại một sinh vật bé nhỏ, bất động và yếu đuối. Tôi đến gần nó. Những chiếc xúc tu nhanh như chớp túm lấy nó đưa đến cho tôi. Nó giống như tất cả các sinh vật kia nhưng bé nhỏ hơn nhiều. Chẳng lẽ tôi cần phải tìm kiếm sự hiểu biết lẫn nhau với các sinh vật đáng thương này ư? Chẳng lẽ tôi phải sống giữa đám sinh vật này ư? Không! Tôi hầu như nhìn thấy quá trình các sinh vật thô thiển kia sẽ phát triển thành loài người có trí khôn như thế nào, họ sẽ tích lũy tri thức, sự hiểu biết, sẽ chinh phục thiên nhiên như thế nào? Lúc đầu, sự tiến hóa đó sẽ xảy ra ở trên hành tinh này, sau đến các thiên thể bên cạnh. Và sẽ đến một lúc nào đó, mặc dù còn rất lâu, con cháu của các sinh vật nửa người nửa động vật lông lá này sẽ cử những con tàu vũ trụ đến hành tinh của chúng tôi. Nhưng tôi không thể chờ đợi sự phát triển chậm chạp vô tận của họ. Tôi đơn độc giữa họ. Trong khoảnh khắc đó tôi cảm thấy một trận mưa đá đổ xuống người tôi. Các xúc tu chuyển động: chúng bắt lấy các viên đá đang rơi và thả nhẹ xuống đất. Tôi có thể tiêu diệt những kẻ tấn công tôi không khó khăn gì, song tôi không muốn gây cho họ bất cứ một sự độc ác nào, bởi vậy khi đặt đứa trẻ xuống mặt đất và lại trở nên vô hình. Sau đó tôi bay với một tốc độ ghê gớm trên các cánh rừng rộng mênh mông. Như một kẻ mất trí, tôi bay lúc cao lúc thấp sát mặt đất, tựa như đang đuổi theo một ước mơ nào đó không thành. Rồi tất cả lại chìm khuất trong các ánh chớp đủ màu sắc. Đến đây kết thúc các ảo ảnh của tôi. Tiếp đó tính chất của các tín hiệu thay đổi đột ngột. Hội đồng quyết định không tái hiện lại chúng, mặc dù tôi yêu cầu khẩn khoản. Các nhà bác học sợ rằng có điều gì đó bất hạnh đã xảy ra với con người từ hành tinh khác đến, còn các tín liệu thay đổi là phần ghi cái chết của người đó. Không ai có thể đoán được cơn hấp hối của con người không quen biết kia có gây nên những chấn động mạnh mẽ trong cơ thể tôi hay không? Những cảm xúc đã qua của tôi dưới ảnh hưởng của tia omega có nghĩa gì? Tại sao người từ nơi khác đến lại chỉ có một mình? Chẳng lẽ anh ta là người duy nhất trong con tàu vũ trụ? Chẳng lẽ các bạn đồng hành đã bỏ anh ta lại? Tôi cảm thấy nỗi đau khổ bởi sự đơn độc, lòng khát khao được trở về quê hương của anh ta, những hy vọng vô ích của anh ta muốn giúp đỡ tổ tiên nguyên thủy của chúng ta, mà từ họ, anh chỉ nhận được một trận mưa đá. Mặc dù tôi được sống bằng tình cảm và tư duy của anh ta chỉ trong vài phút, song con người từ vũ trụ đến và đã chết hàng trăm nghìn năm trước đó trên hành tinh của chúng ta đã trở nên thân thiết đối với tôi. Các anh đang ở đâu, hỡi anh em của người đã chết? Các anh đang sống, sáng tạo và mơ ước dưới hai vầng Mặt Trời nào? Tại sao các anh không đến thăm Trái Đất lần nữa? Loài người sẽ không còn đón các anh bằng những trận mưa đá nữa đâu. Hay các anh sợ rằng bom nguyên tử sẽ thay thế cho các hòn đá? Có thể các anh đang ở giữa chúng tôi nhưng vô hình, cho rằng chúng tôi chưa đủ trình độ để tiếp xúc với các sinh vật có trí khôn của các thế giới sao khác? Có phải điều bí mật này của các anh – điều bí mật giấu trong “sợi râu Mohammed”, là thông thái hơn hàng nghìn các nhà thông thái? PHẠM THỊ HẠNH dịch CON NGỖNG ĐẺ TRỨNG VÀNG* Isaac Asimov (Mỹ) Nguyên văn bằng tiếng Pháp: Pâté de foie gras, nghĩa là: Patê gan ngỗng. Chúng tôi đổi thành “Con ngỗng đẻ trứng vàng” cho sát hơn. Ví thử tôi có muốn cho các bạn biết tên thật của mình, thì tôi cũng không có quyền làm việc đó. Huống chi, trong tình trạng hiện nay, chính tôi không muốn nói tên mình ra làm gì. Nếu không kể đến những bản báo cáo khoa học, tôi là một người viết lách xoàng, nên tôi đành nhờ Asimov viết thay cho tôi. Sở dĩ tôi chọn ông vì mấy lý do. Thứ nhất, ông ta là một nhà hóa sinh và dù sao thì ông cũng hiểu được một phần câu chuyện. Hai nữa là ông viết thạo. Ít ra, ông cũng đã cho in khá nhiều sách, mặc dù, được in nhiều sách không nhất thiết đã là viết thạo. Song điều quan trọng nhất là ông có thể tìm cách để in bài của mình trong bất cứ tạp chí nào. Mà tôi thì lại đang cần như vậy. Nguyên nhân thì rồi đây các bạn sẽ rõ. Tôi không phải là người đầu tiên được nhìn thấy con ngỗng ấy. Người có cái vinh dự này là một ông chủ trại trồng bông ở Texas, tên là Ariel Angus McGregor. Con ngỗng ấy chính là của ông ta trước khi trở thành tài sản quốc gia. (Những tên tuổi, địa điểm, ngày tháng nói tới ở đây đều là do tôi bịa ra. Có ai trong các bạn định dựa vào đó để lần ra dấu vết thì chỉ uổng công thôi. Các bạn không thành công đâu). Hiển nhiên là ông McGregor nuôi ngỗng trong trang trại của mình vì chúng chỉ ăn cỏ dại mà không đụng chạm đến cây bông. Ngỗng thay thế cho ông làm máy giẫy cỏ, đã thế lại cho ông nào trứng, nào lông, và cứ sau một thời gian nhất định lại cả món thịt ngỗng quay nữa. Mùa hè năm 1955, ông chủ trại này gửi đến Bộ nông nghiệp hàng xếp thư, đề nghị cung cấp những tài liệu về cách ấp trứng ngỗng. Bộ đã gửi cho ông những tập sách mỏng có sẵn, ít nhiều liên quan đến vấn đề này. Nhưng thư của ông gửi đến ngày càng khẩn khoản, và trong thư luôn nhắc tới một “người bạn” của ông làm thượng nghị sĩ ở xứ này. Tôi bị lôi cuốn vào chuyện này chỉ vì tôi làm việc ở Bộ. Tôi khá am hiểu về nông hóa học, lại ít nhiều nghiên cứu về sinh lý học động vật có xương sống. Tháng bảy năm 1955 tôi chuẩn bị đi dự một hội nghị ở San Antonio thì thủ trưởng của tôi đề nghị ghé qua trang trại của ông McGregor và thử xem có giúp gì được cho ông ta không. Chúng tôi vốn là công bộc của xã hội, ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được lá thư của vị thượng nghị sĩ mà ông McGregor đã từng nhắc đến. Thế là ngày 17 tháng bảy năm 1955, tôi đã được gặp con ngỗng này. Tất nhiên, đầu tiên tôi gặp ông McGregor. Đó là một người cao, trạc năm mươi tuổi, nét mặt nhăn nheo đầy vẻ hoài nghi. Tôi nhắc lại tất cả những tài liệu đã gửi đến cho ông, kể về những máy ấp trứng, về tầm quan trọng của những nguyên tố vi lượng trong dinh dưỡng, bổ sung thêm những tin tức mới đây về vitamin E, cobalamin, và cách sử dụng các chất kháng sinh. Ông lắc đầu. Ông đã thử nghiệm tất cả những thứ đó, nhưng từ trứng ngỗng chẳng nở ra cái gì cả. Ông đã lôi kéo tất cả những chú ngỗng đực mà ông mượn được vào việc này, nhưng cũng không ăn thua gì. Tôi biết làm gì bây giờ đây? Tôi là một viên chức nhà nước chứ đâu phải là một anh chàng chăn ngỗng. Tôi kể cho ông ta nghe tất cả những gì tôi biết. Nếu như làm thế nào trứng cũng không nở, có nghĩa là trứng không thể ấp được. Có thế thôi. Tôi lễ phép hỏi liệu tôi có thể ngó qua con ngỗng được không, để sau này không ai nói được rằng tôi đã không làm hết trách nhiệm. Ông trả lời: – Không phải ngỗng thường, thưa ông. Mà là một con ngỗng chúa. Tôi bảo: – Vậy có thể ngó qua con ngỗng chúa này được không? – Mong ông thông cảm cho. Không được. – Thế thì tôi chẳng giúp ông thêm được gì nữa. Nếu đã là một con ngỗng chúa thì hẳn phải có một cái gì không ổn rồi. Lo lắng mà làm gì. Thịt quách nó đi. Tôi đứng dậy, giơ tay với chiếc mũ. Ông ngần ngừ: – Ông đợi cho một lát. Và tôi dừng lại. Môi ông mím chặt, mắt ông nheo lại. Ông đang tự đấu tranh với mình. Sau rồi ông hỏi: – Nếu như tôi để ông xem, ông sẽ không nói với ai chứ? Ông không phải là loại người sẵn sàng tin vào lời thề sẽ giữ kín bí mật của người khác, nhưng dường như ông đã tuyệt vọng đến nỗi không nhìn thấy một lối thoát nào khác. Tôi nói: – Nếu như chuyện ấy không có gì là phi pháp. – Không có thế đâu, – ông lầm bầm đáp lại. Tôi bước theo ông vào khu chăn nuôi bên cạnh nhà, được rào lại bằng dây thép gai, khóa cẩn thận và chỉ nhốt một con ngỗng – cái con ngỗng chúa ấy. – Đây, con ngỗng chúa đây – Ông nói rành rọt từng tiếng một. Tôi dán mắt vào nó. Nó cũng chỉ là một con ngỗng mái, như bất cứ một con nào khác. Có điều, nó to béo, có vẻ ngạo mạn và giận dữ. Tôi e hèm một tiếng theo thói quen của mình. Ông McGregor nói: – Một quả trứng của nó đây. Nó đã được ấp trong máy ấp. Nhưng chẳng thành cái quái gì cả! Ông móc quả trứng từ trong cái túi rộng thùng thình của bộ áo liền quần ra. Ông cầm nó với một vẻ căng thẳng khác thường. Tôi nhíu mày. Quả trứng có cái gì kỳ quái đây. Nó nhỏ hơn và tròn trặn hơn những quả trứng thường. Ông McGregor nói: – Ông cầm thử xem. Tôi giơ tay đón lấy quả trứng. Đúng hơn là gắng giữ lấy nó. Tôi đã dùng đúng một lực đủ để cầm một quả trứng như thế, vậy mà nó vẫn muốn tuột khỏi tay tôi. Đành phải nắm chặt hơn. Lúc này tôi mới hiểu vì sao trông ông McGregor lại lạ lùng như thế khi cầm quả trứng trong tay. Nó nặng đến tám lạng. (Sau này khi cân lại khối lượng của nó đúng bằng 852,6 gam). Tôi đăm đăm nhìn quả trứng nặng trĩu trong tay và ông McGregor mỉm cười chua chát: – Ông cứ vứt nó đi. Tôi chỉ biết nhìn ông, còn ông thì giằng lại quả trứng từ trong tay tôi và tự mình thả nó xuống. Quả trứng rơi bịch xuống đất. Nó không vỡ. Lòng đỏ và lòng trắng không bắn ra tung tóe. Nó chỉ nằm yên ngay tại chỗ vừa rơi. Tôi nhặt quả trứng lên. Lớp vỏ trắng chỉ hơi dập ở chỗ chạm đất. Mảnh vỡ bong ra và bên trong lấp lánh một màu vàng nhạt. Tay tôi run lên. Tôi bóc thêm chút vỏ nữa bằng những ngón tay lóng cóng và nhìn chăm chú vào màu vàng đó. Chẳng cần đem phân tích, tôi cũng hiểu ngay đó là cái gì. Trước mặt tôi là một con Ngỗng Chúa. Một con Ngỗng Đẻ Trứng Vàng. Các bạn không tin tôi. Tôi biết chứ. Các bạn quả quyết rằng đó chỉ là một câu chuyện bịa tầm thường. Cũng tốt thôi! Tôi đã đoán thế nào các bạn cũng nghĩ như vậy. Sau này tôi sẽ giải thích vì sao. Lúc này, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là thuyết phục ông McGregor chia tay với quả trứng vàng này. Tôi gần như phát điên lên. Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng nện thẳng vào đầu ông ta, cướp lấy quả trứng và chuồn luôn. Tôi nói: – Tôi sẽ viết cho ông một tờ giấy biên nhận. Bảo đảm sẽ trả lại ông. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được. Ông hãy nghe tôi, ông McGregor ạ. Những quả trứng này không có lợi gì cho ông đâu. Ông không thể mang vàng đi bán khi ông không giải thích được vì sao ông có. Luật pháp cấm tàng trữ vàng. Ông giải thích làm sao được nào? Nếu Nhà nước mà... Ông tuyên bố một cách ngang ngạnh: – Tôi không muốn Nhà nước chọc mũi vào công việc của tôi. Nhưng tôi còn ngang ngạnh gấp hai lần. Tôi không để cho ông yên. Tôi van nài. Tôi hò hét. Tôi đe dọa. Cuộc cãi lộn diễn ra không chỉ trong một tiếng đồng hồ. Thật đúng là như vậy. Cuối cùng tôi cũng viết được một tờ giấy biên nhận và ông McGregor tiễn tôi ra xe. Khi tôi đi khỏi, ông còn đứng giữa đường nhìn theo. Và ông cũng không được trông thấy quả trứng này nữa. Tất nhiên ông đã được bồi thường theo giá vàng (656 đôla 7 xu sau khi đã trừ thuế), nhưng trong chuyện này, nhà nước chẳng thiệt thòi gì. Nếu như nghĩ đến giá trị tiềm tàng của quả trứng ấy... Giá trị tiềm tàng! Cái từ đó gói ghém tất cả sự trớ trêu của tình thế. Vì lẽ đó, tôi cho in bài báo này. Đứng đầu cái vụ trong Bộ nông nghiệp, nơi tôi đang công tác là Louis P. Bronstein. Chúng tôi rất thân nhau và tôi cảm thấy có thể kể tất cả cho anh mà không sợ sau đó bị coi là mắc bệnh tâm thần. Tôi mang quả trứng theo người và sau khi kể đến chỗ ly kỳ nhất, tôi đặt nó lên bàn. Anh ngần ngại lấy tay sờ vào quả trứng cứ như sợ phải bỏng. Tôi bảo: – Anh cứ cầm lên xem. Anh cầm lên và chắc cũng có ý nghĩ như tôi khi đón quả trứng từ tay ông McGregor. Tôi nói: – Đây là một thứ kim loại màu vàng, có thể là đồng thau. Nhưng không phải là đồng thau vì không tan trong axit nitric đậm đặc. Tôi đã thử rồi. Chỉ có lớp vỏ là bằng vàng vì quả trứng có thể bị bẹp dưới một áp lực không lớn. Vả lại, nếu bằng vàng cả thì nó phải nặng trên 10 pound*. Pound: đơn vị đo lường Mỹ, bằng 0.45359 kg. Bronstein thốt lên: – Đúng là chuyện thần thoại... – Chuyện thần thoại với vàng thực? Anh hãy nhớ rằng lần đầu tiên tôi trông thấy quả trứng này thì nó hoàn toàn bị bao bọc trong một lớp vỏ bình thường. Một mảnh vỏ đã được nghiên cứu một cách dễ dàng. Carbonate Calci. Khó mà làm giả cái đó. Và nếu như ta nhìn vào bên trong quả trứng (tôi không muốn làm điều này một mình) mà thấy lòng trắng và lòng đỏ thực, thì vấn đề sẽ được giải quyết, bởi vì nói chung không làm giả được những thứ đó. Rõ ràng là nên mở một cuộc điều tra chính thức. – Tất nhiên mình sẽ báo cáo với lãnh đạo… Rồi anh lại ngắm nghía quả trứng. Nhưng rút cục thì anh cũng đi. Hầu như suốt ngày. Anh gọi điện thoại và mướt mồ hôi. Một hai quan chức cỡ bự của Bộ đã đến xem quả trứng. Thế là bản đề án “Con Ngỗng Chúa” bắt đầu. Hôm ấy là ngày 20 tháng bảy năm 1955. Ngay từ đầu, tôi được giao toàn quyền trong việc điều tra và về danh nghĩa là người lãnh đạo cho tới lúc kết luận, mặc dù vấn đề gần như nằm ngoài lĩnh vực của tôi. Chúng tôi bắt đầu từ quả trứng. Bán kính trung bình của nó là 35 mm (trục dài 72 mm, trục ngắn 68mm). Lớp vỏ vàng dày 2,45 mm. Sau này, khi nghiên cứu các quả trứng khác, chúng tôi phát hiện ra là số liệu này hơi cao. Chiều dày trung bình của lớp vỏ chỉ là 2,1 mm. Bên trong là một quả trứng thực sự. Trông cũng thế mà mùi thì cũng vậy. Lòng trứng được đem phân tích. Các thành phần hữu cơ gần giống như tiêu chuẩn. 9,7% lòng trắng là albumin. Lòng đỏ có thành phần bình thường. Chúng tôi không có đủ phương tiện để xác định hàm lượng các thành phần vi lượng, nhưng sau này, chúng tôi đã làm việc đó, vì vấn đề liên quan đến hàm lượng vitamin, cofermen, nucleotide, các nhóm sulfhydryl v.v., nhưng chẳng thấy gì là bất bình thường. Một trong những điều khác thường đáng kể nhất mà chúng tôi nhận thấy là khi đem luộc trứng. Một phần lòng đỏ chín ngay tức khắc. Lấy một mẩu trứng luộc cho chuột nhắt ăn, nó ăn ngay và vẫn sống như thường. Còn một mẩu thì đích thân tôi nếm thử. Ít quá, không đủ để cảm nhận vị của nó, nhưng ít nhiều làm tôi buồn nôn. Có lẽ là do tự kỷ ám thị. Boris V. Finley, cố vấn của Bộ chúng tôi, cán bộ khoa hóa sinh của Trường đại học Temple chịu trách nhiệm về các thí nghiệm này. Nhân việc luộc trứng, ông bảo: – Protein của quả trứng dễ đông tụ dưới tác dụng của nhiệt, chứng tỏ nó đã bị biến chất một phần. Nếu như xét đến thành phần của lớp vỏ, thì phải thừa nhận rằng vàng đã gây ra điều đó. Một phần của lòng đỏ được đem phân tích sự có mặt của các chất vô cơ và cho thấy là giàu ion chloraurate, tức là những ion hóa trị 1 chứa một nguyên tử vàng và 4 nguyên tử clo, công thức hóa học là AuCl4. Người ta bảo rằng hàm lượng chloraurate cao, tôi xin nói chính xác là 3,2 phần nghìn hoặc 0,32%. Lượng ấy đủ để vàng tạo thành với protein một phức chất, không tan và dễ bị vón lại. Finley nói: – Rõ ràng, trứng không thể ấp được, cũng như bất cứ quả trứng tương tự nào khác. Nó bị nhiễm độc bởi kim loại nặng. Có lẽ vàng thì đẹp hơn chì thật đấy, thế nhưng đối với protein thì nó cũng độc như thế mà thôi. Tôi rầu rĩ: – Nhưng ít ra thì cũng không sợ trứng bị thối. – Hoàn toàn đúng. Không một chú vi khuẩn tự trọng nào có thể sống trong bát xúp chứa chlorure vàng này. Cuối cùng, chúng tôi tiến hành phân tích vàng trong vỏ trứng bằng quang phổ ký. Vàng gần như nguyên chất. Một tạp chất duy nhất phát hiện ra là sắt với lượng không đầy 0,23%. Trong lòng đỏ, hàm lượng sắt cao gấp đôi bình thường. Nhưng lúc đó chúng tôi không chú ý đến điều này. Một tuần sau khi triển khai đề án “Con Ngỗng Chúa”, cả một phái đoàn được cử đến Texas. Tới đây có năm nhà hóa sinh, ba xe tải chở thiết bị và một đơn vị quân đội. Tất nhiên tôi cũng cùng đi. Ngay sau khi tới, chúng tôi liền cách ly trang trại của ông McGregor với thế giới bên ngoài. Đây mới quả là một sáng kiến: tất cả các biện pháp an ninh được đặt ra ngay từ đầu. Lúc đó chúng tôi còn chưa thật tin việc đó là cần, nhưng kết quả thì thật tuyệt vời. Bộ chúng tôi muốn giữ bí mật đề án “Con Ngỗng Chúa” – Đơn giản là vì lúc đầu chúng tôi bị ám ảnh rằng dù sao thì đây cũng chỉ là một câu chuyện hết sức hoang đường, mà chúng tôi thì không thể tự cho phép làm điều quảng cáo ngớ ngẩn như vậy. Nếu đó không phải là chuyện hoang đường đi nữa thì chúng tôi cũng không muốn thu hút vào mình sự săn lùng của những tay nhà báo. Ý nghĩa thật sự của toàn bộ câu chuyện chỉ mãi sau này mới bộc lộ rõ, rất lâu sau khi chúng tôi đến trang tại của ông McGregor. Đương nhiên là ông McGregor không hài lòng về việc bấy nhiêu con người và thiết bị đến vây quanh mình. Ông cũng không hài lòng khi người ta tuyên bố con ngỗng chúa của ông trở thành tài sản quốc gia. Ông càng không hài lòng vì toàn bộ số trứng vàng bị sung công. Ông không thích tất cả những điều đó, nhưng rồi ông cũng đồng ý; nếu như có thể gọi là đồng ý, khi trong cuộc đàm phán người ta bố trí ở sâu sau nhà bạn một khẩu đại bác và vào lúc tranh cãi gay cấn nhất, một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần diễu qua dưới cửa sổ. Tất nhiên ông được bồi thường. Tiền đối với nhà nước thì có nghĩa lý gì. Ngỗng ta cũng tỏ vẻ không hài lòng. Chẳng hạn khi lấy máu nó đem phân tích. Chúng tôi không làm gây mê nó vì biết đâu thuốc mê lại không phá hỏng quá trình trao đổi chất, và thế là mỗi lần lấy máu ngỗng lại phải có hai người ra sức giữ nó. Bạn đã bao giờ thử ghìm giữ một con ngỗng đang nổi giận chưa? Con ngỗng chúa được canh phòng cẩn mật ngày đêm và bất kỳ ai đến gần nó mà để xảy ra chuyện gì ắt phải ra trước vành móng ngựa. Nếu như ai đó trong số những người lính làm nhiệm vụ canh giữ được đọc bài báo này thì mới hiểu mình đang làm việc gì. Và như vậy, anh ta sẽ có đủ trí khôn để ngậm miệng. Máu ngỗng được nghiên cứu đến nơi đến chốn. Nó chứa 2 phần 100000 (0,002%) chloraurate. Máu lấy ra từ tĩnh mạch gan chứa còn nhiều hơn – gần 4 phần 100000 chất này. Finley gật gù: – Vấn đề là ở gan đây. Chúng tôi đem chụp röntgen. Trên âm bản, lá gan trông giống như một đám sương mù màu xám nhạt, hơi sáng hơn các cơ quan xung quanh, vì nó hấp thụ nhiều tia röntgen hơn, do chứa nhiều vàng hơn. Các động mạch cũng sáng hơn gan, còn buồng trứng thì trắng tuyền. Tia röntgen hoàn toàn không đi qua được. Điều này hẳn có một ý nghĩa nào đây. Trong bản báo cáo đầu tiên, Finley thẳng thắn trình bày điều đó. Bản báo cáo đó có nội dung như sau: “Chloraurate tách từ gan vào dòng máu. Buồng trứng có tác dụng như một cái bẫy đối với ion này. Ở đây chúng bị khử thành vàng kim loại và tích tụ trong lớp vỏ trứng đang phát triển. Phần chloraurate chưa bị khử có nồng độ tương đối cao được giữ lại trong quả trứng đang phát triển. Hầu như chẳng còn gì phải nghi ngờ là con ngỗng đã dùng quá trình này để tự giải thoát mình khỏi các nguyên tử vàng mà chắc chắn là sẽ đầu độc nó nếu như chúng tích tụ lại được. Việc bài tiết cặn bã vào trứng quả là điều hiếm hoi trong thế giới sinh vật, thậm chí là chuyện có một không hai, nhưng không thể phủ nhận rằng chính vì thế mà con Ngỗng vẫn còn sống được. Nhưng rủi thay, chính buồng trứng lại bị nhiễm độc cục bộ đến mức, trứng đẻ ra rất ít và có lẽ không hơn là lượng cần thiết để cứu Ngỗng khỏi lượng vàng tích tụ. Những quả trứng ít ỏi này tất nhiên không thể nở được”. Tất cả những gì ông đã viết ra chỉ có vậy, nhưng riêng đối với chúng tôi, ông nói: – Chỉ còn một câu hỏi nữa... Tôi biết câu hỏi ấy là gì rồi. Tất cả chúng tôi đều biết. Vậy vàng lấy ở đâu ra? Tạm thời chưa trả lời được câu hỏi này, nếu như không kể đến một vài kết quả chẳng ra đâu vào đâu. Trong thức ăn của con ngỗng không phát hiện ra một tí vàng nào. Quanh vùng không có một hòn sỏi nào có vết vàng để nó có thể nuốt phải. Đất trong vùng không có lấy một dấu vết của vàng. Kiểm soát trong nhà, ngoài trời cũng chẳng thấy gì. Không có một đồng tiền vàng. Không một vật trang sức bằng vàng. Không một bát đĩa nào bằng vàng, không một đồng hồ vàng; nói chung là chẳng thấy một tí vàng nào cả. Thậm chí trong cả trang trại cũng không ai có răng vàng. Tất nhiên cũng có một chiếc nhẫn đính hôn bằng vàng của bà McGregor, nhưng suốt đời bà chỉ có một cái nhẫn đó và lúc nào bà cũng đeo ở ngón tay. Vậy vàng lấy ở đâu ra? Chúng tôi nhận được những tín hiệu đầu tiên để trả lời cho câu hỏi này vào ngày 16 tháng tám năm 1955. Albert Nevis từ Trường đại học Purdue đến và đưa vào dạ dày ngỗng một ống dò (thêm một hành động mà ngỗng ta cực lực phản đối), lấy ra một ít dịch tiêu hóa để nghiên cứu. Đây cũng là cách mà chúng tôi tìm kiếm nguồn gốc của vàng từ bên ngoài. Vàng cũng tìm ra, nhưng chỉ dưới dạng các vết; và đó là toàn bộ cơ sở để cho rằng những dấu vết này đi kèm theo sự tiết dịch tiêu hóa và vì vậy nó có nguồn gốc từ bên trong cơ thể. Tuy nhiên, cứ phát hiện thêm ra một cái này thì lại thấy thiếu một cái khác nào đó. Nevis cùng tôi đi vào phòng làm việc của Finley được dựng tạm thời chỉ trong có một đêm ngay bên cạnh chuồng ngỗng. Ông bảo: – Ngỗng có rất ít sắc tố mật. Trong tá tràng thì hầu như không có các sắc tố này. Finley nhăn mặt lại: – Có thể chức năng gan bị rối loạn hoàn toàn do nồng độ của vàng. Mà cũng có thể gan không tiết mật. – Tiết chứ, – Nevis phản đối. – Muối mật vẫn có với lượng bình thường; hay ít ra, gần với bình thường. Chỉ có sắc tố mật là thiếu thôi. Tôi đã phân tích cả phân nữa và càng khẳng định điều đó. Không có sắc tố mật. Ở đây cho phép tôi giải thích một chút. Muối mật là các chất do gan tiết vào mật và có ở phần trên của ruột non. Chúng giống như các chất tẩy rửa: giúp vào việc chuyển hóa mỡ trong thức ăn của chúng ta (và thức ăn của Ngỗng nữa) thành nhũ tương và phân phối đều trong dịch ruột dưới dạng những hạt nhỏ li ti. Sự phân phối đó, hoặc nếu các bạn muốn, sự đồng thể hóa đó, làm cho việc tiêu hóa chất mỡ được dễ dàng. Sắc tố mật – là chất mà con ngỗng này không có – lại hoàn toàn khác. Gan tạo ra chúng từ hemoglobin – chất protein có màu đỏ của máu, làm nhiện vụ vận chuyển oxi. Sau khi đã xử dụng, hemoglobin bị phân hủy trong gan. Phần tách ra – gọi là hem – là những phân tử dạng vòng (gọi là porfirin) với một nguyên tử kẽm ở trung tâm. Gan lấy sắt ra từ đó và dự trữ cho những nhu cầu tiếp theo, sau đó tách ra một phân tử dạng vòng. Chính những porfirin đã bị phân hủy này tạo thành sắc tố mật, có màu nâu nhạt hoặc xanh lá cây (tùy thuộc vào những chuyển hóa hóa học tiếp theo) và đi vào mật. Sắc tố mật không cần thiết cho cơ thể. Nó nằm trong mật như một chất thải, đi qua ruột non và thải ra ngoài với các chất bài tiết. Vì thế, các chất bài tiết có màu vàng. Mắt Finley sáng lên. Nevis nói: – Hình như porfirin bị phân hủy trong gan không giống như giả thiết. Các vị không thấy như vậy sao. Một sự xúc động mạnh mẽ xâm chiếm mọi người. Đó chính là khác biệt đầu tiên về quá trình trao đổi chất phát hiện được ở Ngỗng Chúa, không có liên quan trực tiếp đến vàng. Chúng ta làm sinh thiết gan (tức là lấy từ gan ngỗng ra một mẫu mô hình trụ để nghiên cứu). Con ngỗng đau thật đấy, nhưng cũng chẳng hại gì. Ngoài ra, chúng tôi còn phân tích lại máu. Lần này, từ máu, chúng tôi tách ra hemoglobin và lấy ra một ít xitocrom từ gan (xitocrom là các loại men oxi hóa, cũng chứa hem). Chúng tôi tách riêng hem, một phần của nó kết tủa trong dung dịch axit dưới dạng một chất màu vàng da cam tươi. Ngày 22 tháng tám năm 1955, chúng tôi thu được 5 microgram chất này. Chất màu da cam cũng giống như hem, nhưng không phải là hem. Trong hem, sắt có thể tồn tại dưới dạng ion hóa trị 2 (Fe+2) hoặc ion hóa trị 3 (Fe+3). Trong chất màu da cam tách ra từ hem, phần porfirin của phân tử không có gì lạ. Nhưng kim loại ở trung tâm của vòng là vàng, hay nói đúng hơn là ion vàng hóa trị 3 (Au+3). Chúng tôi gọi hợp chất đó là 4 “aurem” – đó chính là chữ viết tắt của các từ “hem chứa vàng”. Aurem có lẽ là hợp chấp hữu cơ đầu tiên chứa vàng phát hiện ra trong thiên nhiên. Giá như lúc thường thì nó đã làm chấn động cả giới hóa sinh, nhưng giờ đây, so với cả một chân trời mới mà chính sự tồn tại của nó mở ra, thì nó chỉ là một chi tiết hết sức tầm thường. Hóa ra là, gan không tách hem thành sắc tố mật. Thay vào đó, nó chuyển hóa hem thành aurem, trong đó sắt bị thay thế bằng vàng. Aurem, khi đã cân bằng với chloraurate, đi vào máu và được chuyển vào buồng trứng. Ở đây, vàng bị tách ra và phần porfirin của phân tử bị loại trừ gián tiếp theo một cơ chế chưa biết đến nào đó. Các phân tích khác nữa chứng tỏ rằng 29% vàng chứa trong máu ngỗng chuyển vào thành phần của huyết tương dưới dạng chloraurate. 71% còn lại chứa trong hồng cầu dưới dạng “auremoglobin”. Chúng tôi đã đưa vào thức ăn của ngỗng các vết vàng phóng xạ để theo dõi độ phóng xạ của huyết tương và hồng cầu, và tìm hiểu xem các phân tử auremoglobin chuyển hóa với tốc độ nào trong buồng trứng. Chúng tôi cho rằng auremoglobin cần phải bị loại trừ chậm hơn nhiều so với chloraurate hòa tan trong huyết tương. Nhưng thí nghiệm đã không thành công. Nói chung, chúng tôi không “bắt được” tính phóng xạ. Chúng tôi cho rằng đó chỉ là do thiếu kinh nghiệm. Trong chúng tôi chẳng có ai là chuyên gia về các chất đồng vị. Đó quả là một sai lầm nghiêm trọng, vì cuộc thí nghiệm không thành công ấy thực ra có ý nghĩa hết sức to lớn và do không nhận thức được điều đó, chúng tôi đã mất đứt đi mấy ngày. Tất nhiên, auremoglobin chẳng có tác dụng gì xét ở phương diện vận chuyển oxi, nhưng nó chỉ chiếm có 0,1% tổng lượng hemoglobin của hồng cầu nên cũng không thể có ảnh hưởng gì tới quá trình trao đổi khí trong cơ thể Ngỗng Chúa. Rút cục, câu hỏi vàng lấy ở đâu ra vẫn là điều bí ẩn. Nevis là người đầu tiên đưa ra một giả thuyết quan trọng. Tại cuộc họp nhóm ngày 25 tháng tám năm 1955, ông nói: – Biết đâu con ngỗng này không thay sắt bằng vàng. Biết đâu, chính nó đã biến sắt thành vàng? Trước khi được trực tiếp làm quen với Nevis mùa hè năm ấy, tôi đã biết ông qua các tạp chí. (Đề tài của ông là hóa học về mật và hoạt động của gan). Tôi luôn luôn cho ông là một con người chín chắn và khôn ngoan. Thậm chí, còn quá chín chắn nữa. Không ai dám nghĩ rằng ông lại có thể nói ra những điều cực kỳ hồ đồ như vậy. Điều đó cho thấy bầu không khí tuyệt vọng và mất tinh thần, đã bao trùm lên bản đề án “Con Ngỗng Chúa” như thế nào. Tuyệt vọng vì vàng không thể lấy ở đâu ra. Con ngỗng đã thải ra mỗi ngày 38,9g vàng trong suốt mấy tháng trời. Lượng vàng ấy phải lấy từ đâu chứ, và nếu như chẳng lấy được từ đâu cả thì có nghyĩa là, nó phải được sản xuất ra từ một cái gì đó. Mất tinh thần là vì trước mắt chúng tôi là một Con-Ngỗng-Đẻ-Trứng Vàng; đó là điều không ai phủ nhận được và buộc chúng tôi phải xem xét lại một cách nghiêm túc khả năng thứ hai này. Mà đã vậy thì mọi cái đều có thể xảy ra. Tất cả chúng tôi như đang sống trong thế giới của những câu chuyện cổ tích và mất đi cảm giác về hiện thực. Finley bắt đầu thảo luận nghiêm túc về khả năng này. Ông nói: – Hemoglobin đi vào gan, và từ đó một ít auremoglobin đi ra. Trong lớp vỏ bằng vàng của trứng chứa một tạp chất duy nhất – đó là sắt. Lòng đỏ trứng cũng chứa vàng với hàm lượng cao và một phần sắt. Điều bí ẩn là ở chỗ đó. Thưa các vị, chúng ta cần phải được viện trợ. Quả thật, chúng tôi rất cần được giúp đỡ. Công việc của chúng tôi đã bước vào giai đoạn cuối cùng. Giai đoạn đó quan trọng và có ý nghĩa hơn cả, đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà vật lý hạt nhân. John L. Billings từ Trường đại học California đến đây vào ngày 5 tháng chín năm 1955. Ông mang theo một số thiết bị và số còn lại sẽ được chuyển đến trong tuần sau. Những căn nhà tạm bợ mới lại mọc lên. Tôi có thể tiên đoán rằng không đầy một năm, cả một viện nghiên cứu khoa học sẽ hình thành xung quanh con ngỗng này... Chiều mồng 5, Billings tham dự buổi họp của chúng tôi. Finley kể lại cặn kẽ từ đầu và nói: – Ý kiến cho rằng sắt chuyển thành vàng liên quan đến một số vấn đề quan trọng. Trước hết, tổng lượng sắt trong con ngỗng chỉ vào khoảng nửa gam, mà vàng sản xuất ra mỗi ngày khoảng 40 gam. Billings có giọng nói cao và trong. Ông bảo: – Vấn đề khó khăn nhất không phải là ở chỗ ấy. Sắt ở mức thấp nhất trên đường cong năng lượng. Vàng ở mức cao hơn nhiều. Muốn một gam sắt chuyển thành một gam vàng, cần đến một năng lượng đúng bằng năng lượng phân hủy một gam uran-235. Finley nhún vai: – Chúng tôi dành vấn đề đó cho ông. Billings đáp: – Để cho tôi suy nghĩ đã. Ông không tự giới hạn trong việc suy nghĩ. Ông lấy hem tươi ở con ngỗng, đốt và gửi oxit sắt thu được đến Brookhaven để nghiên cứu đồng vị. Khi kết quả phân tích được gửi tới, Billings thở dài bảo: – Ở đây không có sắt-56. Finley hỏi ngay: – Thế còn các đồng vị khác? Billings trả lời: – Tất cả đều ở tỷ lệ phù hợp, nhưng không có lấy một dấu vết của sắt-56. Ở đây, tôi xin có vài lời giải thích. Sắt thường gặp gồm bốn đồng vị. Đó là những nguyên tử có khối lượng nguyên tử khác nhau. Các nguyên tử sắt có khối lượng 56, hoặc sắt-56, chiếm 91,6% tổng số nguyên tử sắt. Những nguyên tử còn lại có khối lượng 54, 57 và 58. Sắt chứa trong hem của con ngỗng này chỉ gồm có sắt-54, sắt-57 và sắt-58, sắt-56 biến mất. Điều đó có nghĩa là đã xảy ra một phản ứng hạt nhân. Chỉ phản ứng hạt nhân mới có thể đụng chạm đến một đồng vị và để yên các đồng vị khác. Bất cứ một phản ứng hóa học bình thường nào cũng lôi cuốn tất cả các đồng vị tham gia với mức độ như nhau. Finley trầm ngâm: – Về mặt năng lượng, điều đó không thể xảy ra. Nói như vậy, ông muốn nhẹ nhàng bác bỏ nhận xét đầu tiên của Billings. Những nhà hóa sinh chúng tôi biết rất rõ rằng trong cơ thể xảy ra nhiều phản ứng cần thu năng lượng, và vấn đề thường được giải quyết như sau: phản ứng thu năng lượng liên hợp với một phản ứng tách năng lượng. Nhưng các phản ứng hóa học chỉ phát ra hoặc thu vào một vài kilocalo trên một mol. Còn các phản ứng hạt nhân phát ra hoặc thu vào hàng triệu kilocalo. Có nghĩa là để bảo đảm năng lượng cho một phản ứng hạt nhân, cần một phản ứng hạt nhân khác tách ra năng lượng. Hai ngày liền, chúng tôi không trông thấy Billings đâu, khi xuất hiện trở lại, ông tuyên bố: – Xin các vị hãy nghe đây! Trong quá trình phản ứng dùng làm nguồn năng lượng, đối với mỗi hạt nhân tham gia vào đó cần phải giải phóng ra một năng lượng vừa đúng bằng năng lượng cần thiết để phản ứng hấp thụ năng lượng xảy ra. Nếu năng lượng ấy chỉ nhỏ hơn một chút xíu thôi thì phản ứng sẽ không thực hiện được. Nhưng nếu nó lại hơi lớn hơn một chút và nếu tính đến cả một số lượng khổng lồ các hạt nhân tham gia phản ứng, thì trong chớp mắt phần năng lượng dư sẽ biến con ngỗng thành hơi ngay. – Thì đã sao nào? – Finley hỏi. – Thế này nhé, số phản ứng có thể xảy ra rất hạn chế. Tôi chỉ có thể tìm ra một hệ duy nhất thích hợp. Nếu oxi-18 chuyển thành sắt-56 thì sẽ giải phóng ra một năng lượng đủ lớn để chuyển tiếp sắt-56 thành vàng-197. Tương tự như ta trượt từ trên núi xuống, khi xe trượt lao xuống từ sườn núi này thì lại vượt luôn sang sườn núi bên kia. Đành phải kiểm tra lại thôi. – Kiểm tra bằng cách nào? – Trước hết, phải xác định thành phần đồng vị của oxi trong máu ngỗng. Oxi của không khí chứa ba đồng vị bền, chủ yếu là oxi-16. Cứ 250 nguyên tử oxi này mới có một nguyên tử oxi-18. Lại phải phân tích máu ngỗng. Sau khi chưng chân không để lấy nước, người ta đưa một phần nước này vào khối phổ ký. Cũng thấy oxi-18, nhưng cứ 1300 nguyên tử oxi-16, mới có một nguyên tử oxi-18. Hóa ra không phải trong máu chứa 80% oxi-18 như chúng tôi mong đợi. Billings bảo: – Đây là một dẫn chứng gián tiếp. Lượng oxi-18 bị tiêu hao. Qua thức ăn và nước uống, nó được đưa liên tục vào cơ thể ngỗng, nhưng dù sao vẫn bị tiêu hao. Vàng-197 được sinh ra. Sắt-56 là sản phẩm trung gian. Vì phản ứng tiêu hao sắt xảy ra nhanh hơn phản ứng tạo thành nên sắt-56 không thể đạt được một nồng độ có thể nhận thấy được; phân tích đồng vị cũng cho thấy là không có. Chúng tôi không thỏa mãn với cách giải thích này và kiểm tra bằng một thí nghiệm nữa. Suốt cả tuần, ngỗng ta phải uống nước đã làm giàu oxi-18. Lập tức, lượng vàng tách ra tăng lên. Cuối tuần, nó đã sản xuất được 45,3g vàng trong khi đó hàm lượng oxi-18 trong mô của nó không tăng hơn trước đây. Billings đứng dậy, bẻ gãy chiếc bút chì và bảo: – Không còn nghi ngờ gì nữa. Con ngỗng này là một lò phản ứng hạt nhân sống. Rõ rằng, con Ngỗng Chúa là kết quả của hiện tượng đột biến. Để có được một sự đột biến như vậy thì, ngoài các yếu tố khác ra, còn cần đến tia phóng xạ. Điều đó làm người ta nghĩ ngay đến những vụ thử hạt nhân, tiến hành vào các năm 1952-1953 cách trang trại của ông McGregor có vài trăm dặm. (Nếu bạn chợt nhớ lại rằng, ở Texas chẳng bao giờ có các vụ thử hạt nhân, thì điều đó chứng minh cho hai sự việc: trước hết, tôi không thông báo với bạn tất cả những gì tôi biết; hai nữa, chính bản thân bạn cũng chẳng biết gì nhiều). Vị tất trong suốt lịch sử của thời đại nguyên tử đã có lúc người ta nghiên cứu phông phóng xạ một cách cẩn thận như thế và phân tích thành phần đất bị nhiễm phóng xạ một cách tỉ mỉ, cặn kẽ đến thế. Chúng tôi lục lọi hồ sơ lưu trữ. Mặc dù chúng là những tài liệu hoàn toàn bí mật, nhưng do tầm quan trọng hàng đầu của đề án “Con Ngỗng Chúa” vào thời gian đó, chúng tôi đã có quyền làm việc này. Chúng tôi nghiên cứu cả những số liệu về khí tượng học để theo dõi tác động của gió trong thời gian thử hạt nhân. Có hai điều được làm sáng tỏ. Thứ nhất: Phông phóng xạ trong trang trại chỉ hơi cao hơn tiêu chuẩn một chút. Tôi phải bổ sung ngay: chưa đến mức để gây hại. Nhưng các số liệu cho biết rằng: thời gian Ngỗng Chúa ra đời, trong trang trại bị bao phủ ít ra là hai đám mây phóng xạ. Tôi cũng xin nói thêm luôn là những đám mây ấy cũng không có những nguy hiểm thực sự nào. Thứ hai: Ngỗng Chúa là con ngỗng duy nhất trong trang trại, mà thực tế cũng là con vật độc nhất trong số các sinh vật sống, kể cả người, tuyệt nhiên không có một vết phóng xạ nào. Các bạn cứ thử nghĩ xem: tất cả những gì bạn muốn đều thấy có vết phóng xạ, riêng Ngỗng Chúa lại không. Tháng 12 năm 1955, Finley trình bày một bản báo cáo, có thể tóm tắt như sau: “Con ngỗng này là kết quả của hiện tượng đột biến bất thường ở mức độ cao và được sinh ra trong bối cảnh có độ phóng xạ lớn, có khả năng gây ra đột biến nói chung và làm cho quá trình đột biến này đặc biệt thuận lợi. Con ngỗng có các hệ men có khả năng xúc tác cho các phản ứng hạt nhân khác nhau. Các hệ này gồm một hoặc nhiều men thì chưa rõ. Người ta chưa biết gì về bản chất của các men này. Không thể giải thích được về mặt lý thuyết vì sao men lại có thể làm xúc tác cho phản ứng hạt nhân, vì phản ứng hạt nhân liên quan đến sự tương tác của các hạt, mạnh hơn phản ứng hóa học thông thường được xúc tác bằng men đến 106 lần. Bản chất của quá trình hạt nhân là chuyển hóa oxi-18 thành vàng-197. Oxi-18 rất sẵn trong môi trường xung quanh, có một lượng lớn trong nước và trong tất cả các thức ăn hữu cơ. Vàng-197, qua buồng trứng tách ra khỏi cơ thể. Sản phẩm trung gian rất quen thuộc là sắt-56. Hiện tượng tạo thành các auremoglobin cho phép ta giả thiết rằng: hem, với tư cách là một nhóm hoạt tính, đã tham gia vào thành phần của men. Những cố gắng to lớn đã hướng vào việc đánh giá ý nghĩa của quá trình này đối với con ngỗng. Với nó, oxi-18 là không độc hại, còn việc tách vàng-197 là một khó khăn lớn; chính vàng lại có hại và là nguyên nhân khiến cho con ngỗng bị vô sinh. Có thể, quá trình tổng hợp vàng là cần thiết để tránh những nguy hiểm trầm trọng hơn. Sự nguy hiểm này…” Đọc qua những điều đó trong bản báo cáo, chắc các bạn cũng yên tâm và thấy logic. Thật ra, tôi chưa hề thấy một người nào bị một đòn chí tử đến như thế mà vẫn còn sống được như Billings, khi ông được biết về thí nghiệm của chúng tôi với vàng phóng xạ mà tôi đã kể với các bạn, – khi chúng tôi không phát hiện ra một tí phóng xạ nào ở con ngỗng và đã xổ toẹt các kết quả như những điều vô nghĩa. Ông cứ hỏi đi hỏi lại mãi, tại sao chúng tôi lại có thể coi việc tính phóng xạ biến mất là điều không quan trọng. Ông bảo: – Các vị chẳng khác gì một anh phóng viên nọ mới vào nghề, được cử đi viết bài phóng sự về một buổi hôn lễ trang trọng, nhưng lại bỏ về và tuyên bố rằng không có gì để viết vì chú rể chưa xuất hiện. Các vị đã cho ngỗng ăn vàng phóng xạ và để mất luôn cả vàng. Chẳng những thế, các vị còn không phát hiện ra trong con ngỗng một tí phóng xạ tự nhiên nào. Không có carbone-14. Không có kali-40. Và các vị dám quả quyết là không thành công. Chúng tôi bắt đầu cho ngỗng ăn các đồng vị phóng xạ. Đầu tiên thì còn ít một, nhưng đến cuối tháng giêng năm 1956, nó đã phải ăn một lượng phóng xạ ngang với liều lượng dành cho một con ngựa lực lưỡng. Vậy mà con ngỗng vẫn không bị nhiễm phóng xạ. – Tất cả những điều đó, – Billings nhận định, – chỉ có thể có nghĩa là, quá trình hạt nhân trong con ngỗng, được xúc tác bằng men, đã có thể chuyển hóa bất cứ đồng vị không bền nào thành đồng vị bền. Tôi ngắt lời: – Điều đó cũng có ích. – Có ích không thôi ư? Đó là điều kỳ diệu! Đó là phương tiện bảo vệ tuyệt vời để chống lại mối nguy cơ của thế kỷ này! Các vị hãy nghe đây, để chuyển hóa oxi-18 thành vàng-197, mỗi nguyên tử oxi phải giải phóng ít ra là 8 pozitron. Mà mỗi pozitron khi kết hợp với electron lại phát ra tia gama. Nhưng lại không thấy tia gama ở đây! Nhất định con ngỗng đã có khả năng hấp thụ tia gama mà cơ thể lại không bị nhiễm độc. Chúng tôi lại chiếu tia gama vào con ngỗng. Cường độ tia gama càng tăng thì nhiệt độ của nó cũng càng cao, và chúng tôi hoảng hốt ngừng ngay thí nghiệm. Một ngày sau, nhiệt độ giảm xuống và con ngỗng lại tỉnh táo như thường. – Các vị có hiểu như thế là thế nào không? – Billings hỏi. – Một kỳ quan khoa học. – Finley đáp. – Trời ơi, chẳng lẽ các vị lại không nhận thấy khả năng áp dụng thực tế ở đây ư? Nếu như chúng ta giải thích được cơ chế của quá trình này và lặp lại nó trong ống nghiệm thì chúng ta có trong tay một phương pháp tuyệt vời để thủ tiêu các bã thải phóng xạ. Trở ngại chủ yếu chưa cho phép chúng ta chuyển toàn bộ nền kinh tế sang dùng năng lượng nguyên tử, đó là việc đối phó thế nào với các đồng vị phóng xạ hình thành trong quá trình phản ứng. Chỉ cần cho chúng đi qua một bể đựng các chế phẩm của loại men này, thế là xong! Thưa các vị, chúng ta cần phải tìm ra cơ chế, và thế là có thể yên tâm với các trận mưa bị nhiễm phóng xạ. Chỉ cần thay đổi một chút cơ chế là con ngỗng có thể cung cấp bất cứ nguyên tố nào mà chúng ta cần. Làm thế nào để tạo ra vỏ trứng bằng uran-235 ư? Vấn đề là cơ chế. Cơ chế! – Tất nhiên, ông có thể gào thét “Cơ chế” bao nhiêu lần cũng được. Chỉ có điều là chưa tìm được ra nó mà thôi! Tất cả chúng tôi ngồi lặng lẽ, khoanh tay và ngắm nghía con ngỗng. Giá như trứng của nó có thể nở được... Giá như chúng ta cho ấp được một lứa ngỗng con – những lò phản ứng hạt nhân... – Lẽ ra chúng ta phải nghĩ đến điều này sớm hơn, – Finley nói. – Các câu chuyện cổ tích về những loài chim như thế biết đâu lại chẳng dựa trên một sự thật nào đó. – Hay là chúng ta cứ chờ xem? – Billings hỏi. Giá như chúng tôi có cả một bầy ngỗng như thế, chúng tôi có thể xử lí một vài con. Chúng tôi có thể nghiên cứu buồng trứng của chúng. Chúng tôi có thể lấy lát cắt của các mô và những dịch đồng nhất của chúng. Cũng có thể từ đó chẳng đi đến kết luận gì. Mô sinh thiết gan không phản ứng với oxi-18 và phải trong điều kiện nào chúng tôi mới không làm ảnh hưởng đến chúng. Giá như chúng tôi có thể lấy ra trọn vẹn lá gan để xem xét. Giá như chúng ta có thể nghiên cứu những phôi chưa bị nhiễm độc, theo dõi xem cơ chế này phát triển ở phôi như thế nào? Nhưng chúng tôi chỉ có mỗi một con ngỗng, chúng tôi đành bó tay. Chúng tôi không có can đảm để mổ Con-Ngỗng-Đẻ-Trứng-Vàng. Mọi bí mật nằm trong lá gan của con Ngỗng Chúa đẫy đà ấy. Lá gan của một con ngỗng béo! Đối với chúng tôi, đó đâu phải là nguyên liệu để chế biến thành món pa tê gan ngỗng nổi tiếng; vấn đề đặt ra ở đây nghiêm túc hơn nhiều. Nevis trầm ngâm: – Cần phải có một giả thuyết. Một lối thoát cơ bản. Một ý tưởng quyết định. – Nói thì bao giờ cũng dễ, – Finley buồn rầu đáp. Sau khi góp một câu đùa ngớ ngẩn, tôi đề nghị: – Hay là ta thông báo trên báo chí? Và bất chợt một ý nghĩ lóe ra trong óc tôi. – Một câu chuyện khoa học viễn tưởng! – Tôi nói. – Sao cơ? – Finley hỏi lại. – Các vị nghe đây! Các tạp chí khoa học viễn tưởng vẫn cho in những bài viết viển vông. Độc giả thường coi đó chỉ là những chuyện đùa chơi, nhưng cũng làm cho họ quan tâm. Và tôi kể lại một bài viết của Asimov mà tôi đã được đọc trước đây. Nhưng đề nghị đó được đáp lại bằng sự phản đối lạnh lùng. – Chúng ta không sợ bị lộ bí mật, – tôi tiếp tục, – bởi vì chẳng ai tin chúng ta đâu. Tôi kể lại cho họ nghe trường hợp năm 1944, Cleve Cartmill có viết một câu chuyện về bom nguyên tử trước khi cần công bố hàng năm trời, và Cục điều tra liên bang đã tưởng kế hoạch này bị bại lộ. Mọi người nhìn tôi chờ đợi. – Độc giả những truyện khoa học viễn tưởng luôn luôn có suy nghĩ. Chúng ta không nên đánh giá thấp họ. Nếu họ cho chuyện đó là hoang đường, thời họ sẽ viết thư tới nhà xuất bản và cho nhận xét của mình. Và nếu chúng ta chưa đề xuất được ý kiến gì, nếu chúng ta đang sa vào ngõ cụt, thì chúng ta có mất gì đâu? Tất cả những điều đó vẫn chưa gây được tác động. Lúc đó tôi mới nói: – Các vị biết đấy, con ngỗng không thể sống vĩnh viễn. Lời nói đó quả là có tác dụng. Chúng tôi phải thuyết phục lên trên; sau đó, tôi liên hệ với John Kember, người xuất bản các truyện khoa học viễn tưởng, còn ông thì liên hệ với Asimov. Thế là bài báo này được viết ra. Tôi đã đọc lại, đồng ý và mong rằng các bạn đừng tin nó. Có điều là… Các bạn có ý kiến gì không đấy? NGUYỄN QUỐC TÍN dịch THẦN DƯỢC COFFIN Alain Nurse (Mỹ) Bác sĩ Chauncey Coffin đã công bố phát minh. Tại cuộc họp hàng năm của các thầy thuốc điều trị Mỹ, tuyên bố của Coffin “để kết thúc” đã làm những người có mặt bị choáng váng chẳng khác gì một trái bom nổ. Sức công phá của nó còn vượt cả sự mong đợi táo bạo nhất của chính bác sĩ Coffin. Phải khó khăn lắm ông mới chọc thủng được đám đông các phóng viên báo chí. Nhưng không phải tất cả mọi người đều khoái trá với trái bom của bác sĩ Coffin. Buổi sáng hôm sau, trong phòng thí nghiệm, bác sĩ trẻ Philip Dawson gắt ầm ĩ: – Thật là lố bịch! Chẳng lẽ anh lại không hiểu anh đã làm bậy bạ những gì? Đấy là tôi chưa muốn nói là anh đã bán đứng và phản bội chúng tôi. Anh nắm chặt trong tay tờ báo đăng bài diễn văn của Coffin và vung vẩy nó như chiếc kiếm. – “Báo cáo về văcxin chữa bệnh sổ mũi do Coffin và những người khác phát minh”. Lại còn “những người khác” nữa chứ! Thực ra ý kiến ban đầu là của tôi. Trong suốt tám tháng trời, tôi và Jake đã điên đầu vì nó, còn anh, anh đã chiếm đoạt nó và tuyên bố gian lận về phát minh của chúng tôi một cách công khai trước thời gian một năm. – Bình tĩnh, Philip. Mình tưởng cả hai cậu phải hài lòng mới đúng. Cần phải thừa nhận rằng mình đã tuyên bố thật tuyệt: truyền cảm mạnh, rất sáng sủa và cô đọng. Mọi người đều vỗ tay như điên. Giá mà các cậu để ý nhìn Underwood nhỉ? – Còn những phóng viên thì sao? – Philip ngắt lời, quay sang người da ngăm ngăm đen đang ngồi yên lặng ở một góc. – Jake, cậu đã xem báo sáng nay chưa? Con người giảo hoạt này không chỉ chiếm đoạt phát minh của chúng mình mà còn không biết xấu hổ quảng cáo nó khắp các ngã tư nữa chứ! Bác sĩ Jacob Miles húng hắng ho như người có lỗi. – Philip bực mình, mà cũng đúng thôi, là vì vấn đề được công bố trước thời hạn, – anh nói với Coffin. – Quả thực, hầu như chúng ta chưa thử trên lâm sàng. – Nhảm nhí! – Coffin nhìn Philip một cách dữ dội. – Underwood đã vượt chúng ta đến một tháng. Lúc đó thì chúng ta đẹp mặt lắm đấy! Mà muốn thử bao nhiêu nữa! Cậu nhớ không, Philip, cái bệnh sổ mũi đã hành hạ cậu như thế nào khi cậu chưa tiêm? Từ đó đến nay cậu có hắt hơi lần nào nữa không? – Không. – Philip lầm bầm thú nhận. – Còn cậu nữa, Jacob? Kể từ đó cậu có sổ mũi nữa không? – Không, không. Chẳng bao giờ hắt hơi, sổ mũi nữa. – Đấy nhé. Thế còn sáu trăm sinh viên thì sao? Hay là mình nói láo? – Không. Anh nói đúng cả thôi. 98% rõ ràng là đã khỏi những triệu chứng sổ mũi sau 21 giờ. Và không trường hợp nào tái phát. Thật là thần diệu. Có điều... mới chỉ một tháng. – Một tháng, một năm, một trăm năm! Sáu trăm người bị sổ mũi thường xuyên, còn bây giờ không một cái hắt hơi nhỏ. – khuôn mặt béo ị của Coffin trông rạng rỡ hẳn lên. – Nào, nào, thưa các ngài, các ngài phải biết điều chứ! Chúng ta không thể đứng cản trên con đường Tiến bộ! Chúng ta đã giành được một thắng lợi vĩ đại. Chúng ta đã chinh phục được bệnh sổ mũi. Chúng ta đã đi vào lịch sử! Và dù sao thì ông ta vẫn nói đúng. Họ quả là đã đi vào lịch sử. Bệnh sổ mũi không thừa nhận ranh giới đẳng cấp, không có biên giới quốc gia, không phân biệt giàu nghèo: dù nhà ngoại giao hay người phục vụ đều hắt hơi, thở khò khè và khịt mũi như nhau. Vào những ngày thu lộng gió, tại Thượng nghị viện Mỹ, các diễn giả phải ngưng bài diễn văn về những vấn đề nóng hổi nhất để xỉ mũi. Những bệnh khác có thể đưa người ta xuống mồ. Nhưng cái bệnh sổ mũi tầm thường này hành hạ hàng triệu người và ngoan cố không chịu khuất phục những cố gắng tuyệt vọng nhằm chế ngự nó. Vào một ngày mưa tầm tã tháng mười một, trên các báo xuất hiện hàng tít lớn chạy dài suốt trang : COFFIN ĐÃ VĨNH VIỄN CHINH PHỤC ĐƯỢC BỆNH SỔ MŨI? “SẼ KHÔNG CÒN NHỮNG CÁI KHỊT MŨI NỮA”? – MỘT TRONG NHỮNG TÁC GIẢ CỦA PHÁT MINH KHẲNG ĐỊNH. CÁC BẠN HÃY THỞ TỰ DO! CHỈ MỘT MŨI TIÊM THÔI VÀ SẼ KHÔNG BAO GIỜ CÒN BỊ HẮT HƠI! Giới y học gọi thứ thuốc mới là “văcxin Coffin chống virus đa nhân dùng cho đường hô hấp trên”; nhưng báo chí lại đặt cho nó cái tên đơn giản là thần dược Coffin. Những tờ báo lớn nhất có tiếng tăm đã tường thuật lại rằng: sau nhiều năm thất bại, bác sĩ Ch.P. Coffin và những người khác đã phân lập được tác nhân gây ra bệnh sổ mũi và khẳng định rằng: đây không phải là một virus đơn độc mà là tổ hợp các virus đa nhân, làm thương tổn niêm mạc mũi, họng và mắt và có khả năng làm thay đổi cấu tạo phân tử của chúng. Bác sĩ Philip Dawson đã đưa ra giả thuyết là có thể chiến thắng tổ hợp virus này nhờ một kháng thể có tác dụng làm “đông cứng” tổ hợp trong một thời gian, để cơ thể con người kịp thời tập trung tất cả sức đề kháng và quét sạch được các “vị khách” không mời này. Các báo còn mô tả quá trình tìm kiếm gian nan kháng thể đó, nào là họ đã tiêm hàng gallon* virus vào sườn những con chó thí nghiệm mà chúng vẫn không bị sổ mũi, nào là họ đã phát chán lên vì thế nhưng vẫn bền bỉ tiến hành thí nghiệm và cuối cùng đã thành công. Gallon: đơn vị đo lường Mỹ, bằng 3,78341 dm3. Chưa đầy một tuần sau khi báo cáo, thời gian đủ để cho Coffin kịp ngẫm nghĩ lại xem mình có làm gì quá đáng không, thì phòng thí nghiệm đã bắt đầu bị vây kín bởi đám người khổ sở vì bệnh hắt hơi, sổ mũi, cần được tiêm chủng. Mười bảy công ty dược phẩm đã cử đại diện của mình đến gặp Coffin với những bảng dự chi và những biểu đồ sặc sỡ. Từ Washington, một chuyến máy bay được phái đến chỗ Coffin, những cuộc hội họp kéo dài đến quá nửa đêm, và các con bệnh tới gõ cửa liên hồi kỳ trận. Mẻ vaccine đầu tiên xuất hiện sau 23 ngày và chỉ ba giờ sau đã bị đám người kiệt sức vì bệnh sổ mũi vét cạn ráo. Các máy bay siêu tốc chở món hàng quý giá đó vun vút bay đến châu Âu, châu Á, châu Phi; hàng triệu mũi tiêm đâm sâu vào hàng triệu cánh tay, và sau khi hắt hơi thật to một lần cuối cùng, loài người bước vào một kỷ nguyên mới. Nhưng vẫn có những người không tin. Ở đâu mà thiếu họ được. – Anh có nói với em bao nhiêu thì cũng vậy thôi, – Ellie Philip lắc mái tóc xoăn vàng óng, khăng khăng phản đối bằng một giọng khản đặc. – Em đã bảo không tiêm là không tiêm mà. Philip nói với giọng bực bội: – Sao em lại vô lý đến thế được. Đã hai tháng nay bệnh sổ mũi không buông tha em. Em đã không ăn được, không thở được, không ngủ được... – Dứt khoát là em không tiêm, – Ellie một mực từ chối. – Nhưng Ellie này... – Em không cần. Em không muốn tiêm một tí nào hết! – Ellie ấm ức, gục đầu vào vai anh. Philip ôm lấy vợ, hôn nhẹ lên tai và nói vài lời âu yếm. Bảo nữa cũng chỉ phí công thôi, anh buồn rầu nghĩ. Ellie không tin vào khoa học. Đối với cô ta, tiêm chủng để khỏi bị sổ mũi với tiêm chủng đậu mùa thì cũng thế mà thôi. – Thôi được, cô bé ạ, chẳng ai bắt em phải tiêm đâu. Nhưng có lẽ do bị sổ mũi mà em mất hết cả khứu giác rồi đấy. Em đã xức một lượng nước hoa khiến cho ngay đến một con bò cũng phải chóng mặt. – Philip lau nước mắt cho vợ và mỉm cười. – Nào, bình tĩnh lại em. Chúng mình đến tiệm Driftwood's ăn trưa nhé? Người ta đồn ở đấy có món sườn ngon tuyệt... Philip mở mắt, bàng hoàng ngồi nhỏm dậy. Ánh nắng buổi sáng yếu ớt chiếu qua cửa sổ. Ở dưới bếp, Ellie đang thu dọn bát đĩa làm phát ra những tiếng kêu lanh canh. Anh có cảm giác như ngạt thở. Anh nhảy xuống và chạy ra bàn nữ trang của Ellie. Trời ạ, hình như ai đã đánh đổ cả một bình nước hoa thì phải. Đầu óc anh quay cuồng vì cái mùi ngạt ngào gớm ghiếc ấy. Philip chớp mắt, tay run rẩy châm một điếu thuốc lá. Bình tĩnh, và chớ có hoảng,– anh tự nhủ và hít một hơi dài. Nhưng anh bỗng ho sặc sụa: một lượng khói cay sè đã đốt cháy họng và phổi anh. – Ellie! Mệt lử vì cơn ho xé ruột, anh lao ra phòng ngoài. Mùi diêm đốt trở nên cay ngột ngạt, cứ như là cả một đống lá ẩm mục cháy, Philip hoảng hốt nhìn chòng chọc vào điếu thuốc lá và vứt nó đi. – Ellie! Có ai đốt nhà thế này! – Ôi, anh nói gì bậy bạ thế, – giọng Ellie từ dưới nhà vọng lên. – Em đang rán bánh mì đây mà. Philip phóng xuống cầu thang. Mùi khét lẹt của mỡ cháy, mùi đắng ngắt của cà phê đun quá lửa xộc vào mũi anh. – Em không ngửi thấy mùi gì à? Trên bếp điện, ấm cà phê tự động đang khẽ sôi. Trong chảo, trứng tráng sủi lèo xèo và loáng mỡ, những miếng giăm bông đã khô lại trên đĩa giấy. Tất cả đều tỏ ra rất bình thường. Philip thận trọng bỏ tay ra khỏi mũi và... suýt nữa thì chết ngất. – Chả lẽ em không ngửi thấy mùi gì thật à? Em ra đây một phút. Từ người Ellie bốc ra mùi giăm bông, cà phê, bánh mì rán cháy nhưng nhiều nhất là mùi nước hoa. – Sáng nay em xức nước hoa rồi đấy à? – Trước khi ăn điểm tâm? Anh nhầm đấy! Philip lắc đầu: – Hượm, đã... Hình như anh bị làm sao ấy. Anh đã làm việc quá nhiều, thần kinh căng thẳng... Anh tự rót cà phê vào tách mình, thêm một chút kem và bỏ vào một miếng đường. Nhưng cà phê hôi hình như đã được đun hàng ba tuần nay trong chiếc ấm bẩn. Mùi của nó hình như bị “bóp méo” đi, bị khuếch đại lên một cách đáng sợ. Nó tràn ngập căn bếp, đốt cháy họng Philip, và nước mắt anh chảy ra giàn giụa. Trước mắt Philip bỗng lóe lên một sự thực. Đổ cà phê đi, anh run run đặt tách xuống. Nước hoa. Cà phê. Thuốc lá... – Mũ, – anh nghẹn ngào. – Em đưa cho anh cái mũ. Anh phải đến ngay phòng thí nghiệm. Trên đường đi mỗi lúc anh một cảm thấy khó chịu hơn. Trong sân, suýt nữa thì anh nôn ọe ra vì mùi ẩm mốc. Con chó nhà hàng xóm bốc ra mùi hôi hám của cả một ổ chó. Trời mưa, ẩm ướt. Trong ô tô buýt, không khí ngột ngạt như phòng thay quần áo của các nhà thể thao sau những trận thi đấu quyết liệt. Một ông lão mắt kèm nhèm ngồi xuống cạnh Philip khiến anh liên tưởng đến hồi còn là sinh viên, anh phải đi rửa thùng ở nhà máy bia để kiếm thêm tiền. – Sáng nay trời đẹp đấy chứ, cậu nhỉ? – ông lão khề khà thở ra. Trời ạ, ông ta lại còn ăn sáng với cả xúc xích có lẫn tỏi nữa chứ! Mệt lử cả người, Philip rên lên nhẹ nhõm và lách vội ra khỏi xe khi nó đỗ trước cửa phòng thí nghiệm. Tại cầu thang, anh gặp Jake, mặt tái nhợt như tờ giấy. – Chào cậu, – Philip hổn hển. – Thời tiết đẹp quá. – Ừ... ừ, – Jake đáp. – Thời tiết đẹp thật. Còn cậu... è... è... cậu cảm thấy thế nào ? – Rất dễ chịu. – Philip vờ tỏ ra mẫn cán mở tủ nuôi cấy đựng các bình văcxin. Nhưng lập tức anh phải bám chặt lấy mép bàn đến nỗi gân tay nổi cả lên. – Nhưng tại sao cậu lại hỏi thế? – Vì hôm nay trông cậu không được khỏe. Hai người nhìn nhau im lặng. Sau đó, giống như theo hiệu lệnh, họ lại nhìn về phía cuối phòng thí nghiệm, sau bức vách ngăn là phòng làm việc của Coffin. – Thủ trưởng đến rồi à? – Ông ấy đang ngồi trong phòng. Nhưng đóng cửa. – Cửa mở rồi kìa, – Philip bảo. Bác sĩ Coffin mở cửa, đứng lui lại, tựa lưng vào tường, mặt xám ngoét. Từ phòng ông xông ra mùi các loại thuốc mà các bà nội trợ vẫn dùng để làm thoáng khí trong nhà bếp. – Không, không, các cậu đừng vào đây, – Coffin kêu lên the thé. Mà các cậu cũng đừng đến gần. Tôi không thể tiếp các cậu bây giờ. Tôi... tôi đang bận. Có, việc khẩn… Philip hất hàm ra hiệu cho Jake bước vào phòng, khép cửa lại và quay sang Coffin. – Anh kể lại đi. – Anh bắt đầu bị từ bao giờ? Coffin run rẩy như chiếc lá mùa thu. – Hôm qua, ngay sau khi ăn cơm tối. Mình tưởng đến chết ngạt mất. Mình vùng dậy và suốt đêm lang thang ngoài phố. Các cậu ơi, sao mà có mùi khủng khiếp đến thế! – Còn cậu, Jake? – Sáng hôm nay. Mình bị đánh thức dậy là vì thế. – Mình cũng mới bị sáng nay, – Philip nói. Coffin thốt lên . – Nhưng tôi vẫn không hiểu nổi! Ngoài chúng ta ra, điều đó thì đã rõ rồi, không một ai nhận thấy gì cả. – Tạm thời thì chưa, – Philip đáp. – Nhưng anh chớ quên rằng chúng mình là những người tiêm đầu tiên. Mồ hôi vã ra trên trán Coffin. Mắt ông mở to vì lo sợ. – Những người khác rồi sẽ ra sao? – Tôi cho rằng chúng mình phải nghĩ ra một cái gì đó thật phi thường, thật công hiệu, – Philip nói. Coffin vẫn bàng hoàng: – Thật tai họa làm sao! Chỗ nào cũng vẫn cái mùi nồng nặc không thể chịu nổi. Này Philip, sáng ra cậu hút thuốc mà bây giờ mình vẫn thấy hôi, thậm chí chảy cả nước mắt. Nếu như mình không quen biết hai cậu, mình có thể đem đầu ra cuộc rằng hàng tuần nay các cậu không gội đầu. Tất cả các mùi, có bao nhiêu mùi trên thế giới này, bỗng dưng dậy lên rõ mồn một. – Ý hẳn anh muốn nói chúng được tăng cường lên, – Jake sửa lại. – Nước hoa thì vẫn có mùi thơm của nó, chỉ có điều hắc quá là hắc. Cũng như cái mùi quế mà tôi đã cố hít lấy được. Suốt nửa giờ sau, tôi vẫn còn chảy nước mắt và lúc nào cũng ngửi thấy cái mùi quế ấy. Bản thân các mùi thì đâu có thay đổi. – Vậy thì cái gì thay đổi? – Rõ ràng là cái mũi của chúng ta. – Jake xúc động đi đi lại lại trong phòng. – Hãy lấy con chó làm ví dụ. Chúng không bao giờ bị ngạt mũi, vì của đáng tội chúng sống chỉ bằng khứu giác. Biết bao nhiêu loài vật khác nữa, cả đời phụ thuộc vào việc đánh hơi và chẳng bao giờ chúng bị những bệnh tương tự như sổ mũi. Loại virus gây sổ mũi chỉ làm hại loài linh trưởng và thể hiện rõ rệt nhất ở chính cơ thể con người. – Thế nhưng cái mùi ghê tởm ấy ở đâu ra? Đã từ lâu tôi không hề bị sổ mũi. – Thực chất vấn đề là ở đấy! – Jake tiếp tục nói. – Vì sao nói chung chúng ta có khứu giác? Bởi vì ở niêm mạc mũi và họng có những đầu mút thần kinh cực kỳ tinh vi. Virut luôn luôn sống ở đó. Từ thời thượng cổ chúng đã làm tổ ở những tế bào này, làm tê liệt các mô cảm giác, khiến thần kinh hoạt động rất tồi tệ. Cho nên không có gì ngạc nhiên là chúng ta hầu như không cảm thấy mùi gì. Những đầu mút thần kinh bất hạnh này quả thật là không cảm thấy gì hết! – Và chúng ta đã tóm cổ và thủ tiêu loại virus này, – Philip nói. – Không, chúng ta không thủ tiêu. Chúng ta chỉ lấy đi ở chúng cái cơ cấu thông minh nhất mà nhờ nó chúng được bảo vệ khỏi sức đề kháng của cơ thể. Suốt hai tháng trời sau khi tiêm, cơ thể của chúng ta đấu tranh một mất một còn với loại virus này và đã trấn áp được kẻ xâm lược từng “ngự” trong chúng ta ngay từ khi loài linh trưởng hình thành. Thế là lần đầu tiên trong lịch sử loài người, những đầu mút thần kinh đã bị tàn tật này bắt đầu hoạt động bình thường. Coffin rên rỉ: – Các cậu ơi, thế ra tai họa mới chỉ bắt đầu thôi ư? Jake cay đắng nói: – Đây mới chỉ là nhân. Còn quả đang chờ ở phía trước. Philip thốt ra với vẻ suy tư: – Các nhà nhân chủng học sẽ có ý kiến gì về việc này? – Nghĩa là sao cơ? – Có thể là, một lúc nào đó trong thời tiền sử đã xảy ra một sự biến dị độc đáo. Do một thay đổi rất nhỏ nào đó, một dòng linh trưởng đã mất đi sức đề kháng đối với loại virus này. Và biết đâu, chính vì thế mà bộ óc của con người đã phát triển, và hoàn thiện như ngày nay. Mất đi cái sắc sảo của khứu giác, ở một mức độ nào đó, bản thân sự tồn tại của con người phải phụ thuộc vào trí óc, chứ không phải vào sức lực của cơ bắp nữa. Điều đó khiến cho con người phát triển hơn hẳn các loài linh trưởng khác. – Và bây giờ, loài người phải đi trở lui và không hồi phục lại được nữa! – Coffin lại rên rỉ. – Tôi mong rằng, – Jake nói, – việc đầu tiên là họ đi lùng bắt kẻ gây nên tội... Cả Philip và Jake đều nhìn vào Coffin. – Này, các cậu, hãy ném cái thằng ngu xuẩn này vào lửa đi. – Coffin nói và run bắn lên. – Cả ba chúng ta đều gây nên tội. Philip, có phải chính mồm cậu nói ra là ý kiến đầu tiên thuộc về cậu? Lúc này cậu không được bỏ rơi tôi. Có tiếng chuông điện thoại reo. – Bác sĩ Coffin – cô thư ký sợ hãi, ấp úng nói, – có một sinh viên vừa gọi điện thoại đến đây. Anh ta... anh ta nói rằng... anh ta sẽ đến gặp bác sĩ... – Tôi đang bận, – Coffin thét lên. – Tôi không tiếp ai hết! Không có điện thoại gì hết! – Nhưng anh ta đã đi rồi. Anh ta nói rằng... anh ta sẽ băm nát bác sĩ ra, bằng chính tay mình... Coffin quăng ống điện thoại đi. Mặt ông xám ngoét. – Chúng nó sẽ băm nát tôi. Philip, Jake, hãy cứu tôi!... Philip thở dài, gài chặt cửa lại. – Anh hãy cử một người nào đó đến kho lạnh, bảo mang tất cả chỗ vaccine nuôi cấy đã làm lạnh đến đây. Rồi tiêm cho năm con khỉ và vài chục con chó. – Nhưng cậu định làm gì mới được chứ? – Tôi cũng không biết nữa, – Philip trả lời. – Nhưng chúng ta buộc phải học lại bệnh sổ mũi, thậm chí có phải trả bằng giá của đời mình. Họ tự rưới vào niêm mạc mũi và họng một lượng virus hoạt động nhất mà bất cứ một người bình thường nào dù có chết đi cũng không thoát khỏi bệnh sổ mũi. Họ trộn sáu loại virus nuôi cấy khác nhau lại, súc rửa cổ họng bằng hỗn hợp khó ngửi này và tưới lên mình cũng như lên những con khỉ đã được tiêm chủng. – Chẳng có kết quả gì. Họ tiêm huyết thanh vào bắp thịt, vào tĩnh mạch, vào tay, vào mông, vào dưới xương bả vai. Họ uống, họ tắm văcxin. Nhưng họ vẫn không bị sổ mũi. – Có lẽ chúng ta làm sai sách rồi, – một hôm Jake bảo. – Hiện nay chúng mình đã có sức đề kháng tối đa, cần phải bẻ gãy sức đề kháng đó... Mím môi mím lợi lại, họ lao theo hướng này. Họ nhịn ăn đến đói lả. Họ không ngủ sau một vài ngày đêm thức trắng. Họ ăn những thức ăn không vitamin, không đạm, không muối. Những món ăn của họ có vị của hồ dán sách và mùi thì còn tồi tệ hơn nhiều. Họ làm việc trong những bộ quần áo ướt sũng và giày của họ lép nhép những nước. Họ tắt lò sưởi và mở toang cửa sổ mặc dù mùa đông đã bắt đầu. Sau đó họ phun đi tưới lại lên mình loại virus hoạt động đã làm lạnh và, kỳ lạ thay, họ chờ đợi để được sổ mũi. Nhưng điều kỳ lạ lại không xảy ra. Các nhà phát minh ngồi sát lại bên nhau, nhìn nhau lo lắng. Trong cuộc sống, chưa bao giờ họ lại cảm thấy khỏe đến như vậy... Toàn những mùi là mùi. Cả ba người cũng hy vọng rằng, với thời gian rồi họ sẽ quen đi, nhưng nào có được như thế. Ngược lại, họ bắt đầu ngửi thấy cả những mùi mà trước đây họ không hề ngờ tới: mùi độc hại có, mùi ngọt đến phát khiếp có, chúng làm cho họ trở nên khoái chí và chỉ còn biết xông ngay tới bồn rửa. Họ thử dùng khẩu trang che mũi, nhưng mùi vẫn lọt qua bất cứ tấm khẩu trang nào, và những người khốn khổ đó coi bữa ăn như một khổ hình. Họ gầy sút đi nhanh chóng, nhưng họ chẳng hề bị cảm lạnh. – Theo ý em, cần nhốt tất cả các anh vào nhà thương điên. – Ellie đã giận dữ nói như vậy vào một buổi sáng mùa đông trong khi kéo Philip mình mẩy thâm tím và run cầm cập ra khỏi vòi nước. – Các anh hoàn toàn mất trí rồi. – Em chẳng hiểu gì cả, – Philip rền rĩ. – Bọn anh cần phải bị cảm lạnh. – Nhưng để làm gì? – Ellie bực bội hỏi. – Hôm qua, ba trăm sinh viên kéo đến phòng thí nghiệm. Họ bảo rằng các thứ mùi đã làm họ phát điên lên được. Họ không thể chịu đựng được cả những đám bạn bè thân thiết nhất. Nếu bọn anh không chữa trả cho họ, họ sẽ xé xác bọn anh ra từng mảnh. Ngày mai, họ sẽ lại kéo đến và cùng với họ còn ba trăm người nữa. Vì bọn anh đã bắt đầu với ba trăm người mà. Rồi còn thế nào nữa đây khi mười lăm triệu người đã được tiêm chủng phát hiện ra cái mũi của họ không để cho họ sống. – Anh rùng mình. – Em đã đọc báo chưa? Đã có người lồng lên ngoài phố và khịt khịt mũi như những con chó săn. Rõ ràng bọn anh đã làm theo lương tâm. Nhưng bọn anh bất lực rồi, Ellie ạ. Những kháng thể đã làm nhiệm vụ của chúng quá ư xuất sắc. – Vậy sao các anh không đi tìm một loại kháng kháng thể để trị lại chúng – Ellie khuyên một cách mơ hồ. – Thật là một câu nói đùa ngốc nghếch... – Em hoàn toàn không đùa một chút nào. Đối với em tất cả những gì các anh làm đều thế cả. Em chỉ cần một người chồng như trước đây, nghĩa là không thở phì phì vào món ăn em làm; không đứng ủ rũ dưới vòi nước lạnh buốt vào sáu giờ sáng. – Anh hiểu, điều đó đối với em thì khó chịu, – Philip bất lực nói. – Nhưng anh biết làm thế nào. Đầu óc anh cứ rối cả lên. Đến phòng thí nghiệm, anh gặp Jake và Coffin đang bàn bạc với nhau, trông xanh xao và tiều tụy. Coffin nói: – Mình kiệt sức mất rồi. Mình đã van xin họ hoãn lại ít ngày. Mình đã hứa với họ tất cả mọi thứ, có lẽ chỉ trừ cái hàm răng giả của mình. Nhưng mình không đủ can đảm để gặp lại họ nữa! – Chúng ta chỉ còn có một vài ngày, – Jake nhắc lại một cách tuyệt vọng. – Nếu chúng ta không nghĩ ra một cái gì đó, chúng ta sẽ đi đời. Bất chợt Philip reo lên: – Chúng mình thật là những con lừa đần độn. Vì quá khiếp sợ, chúng mình đã không nghĩ ra được ý gì hết. Thật chẳng có gì đơn giản hơn. Mắt Jake sáng lên: – Cậu nói sao? – Kháng kháng thể, – Philip trả lời. – Trời đất! – Không. Mình nói nghiêm chỉnh đấy. Chúng ta có thể tuyển bao nhiêu sinh viên làm phụ tá? Coffin nuốt nước bọt: – Sáu trăm. Họ đã chờ sẵn dưới cửa sổ kia và đang khao khát máu của chúng ta. – Tuyệt rồi. Anh bảo họ lại cả đây. Tôi cần cả khỉ nữa. Nhưng chỉ những con khỉ bị cảm lạnh. Càng yếu càng tốt. – Nhưng cậu hiểu cậu định làm gì chứ? – Jake hỏi. – Hơi hơi thôi, – Philip đáp vui vẻ. – Mình chỉ biết xưa nay chưa có ai làm như thế bao giờ. Đã tới lúc nghĩ ra được cái gì thì làm luôn cái đó. Con dao quăng ném đi lại lượn về chỗ cũ. Tất cả các cửa của phòng thí nghiệm đều được bố trí chướng ngại vật. Điện thoại đã bị cắt hẳn. Trong phòng đang tiến hành những hoạt động sôi nổi, khác thường. Khứu giác của ba nhà nghiên cứu càng thính một cách không sao chịu đựng nổi. Thậm chí những chiếc mặt nạ chống hơi độc xinh xắn do chính Philip làm ra cũng không bảo vệ họ khỏi cái mùi ngột ngạt của những phát đạt bắn vào. Những chiếc xe tải chở đầy khỉ đến phòng thí nghiệm. Khỉ hắt hơi, ho sặc sụa, khóc và thở hổn hển. Những ống nghiệm nuôi cấy virus gây bệnh xếp chật cả các tủ và chất đầy các bàn. Hàng ngày, sáu trăm thanh niên giận dữ đã thay phiên nhau đến phòng thí nghiệm. Họ gầm gừ, nhưng vẫn sắn tay áo lên và há hốc mồm ra mà chịu đựng. Cuối tuần đầu tiên, một nửa số khỉ được chữa khỏi bệnh sổ mũi và không bao giờ có thể mắc lại nữa; nửa kia bị cảm lạnh và không bao giờ có thể thoát khỏi bệnh sổ mũi. Philip nhận ra điều đó với sự thỏa mãn dè dặt. Hai ngày sau, anh chạy sổ vào phòng thí nghiệm, nét mặt rạng rỡ, ôm trong tay một con chó con có cái mõm rầu rĩ lạ thường. Thế giới chưa từng trông thấy một con chó nào như vậy. Nó khụt khịt mũi và hắt hơi. Rõ ràng nó đã bị mắc cái bệnh sổ mũi khốn khổ. Ngày hôm sau, người ta tiêm vào dưới da Philip một giọt chất lỏng trắng như sữa. Họ điều chế virus để phun và cẩn thận rưới vào mũi và họng anh. Sau đó, mọi người bắt đầu ngồi đợi. Ba ngày đã trôi qua, họ vẫn kiên trì chờ đợi. – Ý kiến đó tuyệt thật, – Jake lẩm bẩm nhận xét và gấp quyển vở ghi kết quả thực nghiệm dày cộp lại. – Có điều là chẳng có kết quả gì. – Coffin đâu rồi? – Ông ấy gục đã ba hôm nay rồi. Rối loạn thần kinh. Ông đã bị ám ảnh bởi ý nghĩ là người ta sẽ treo cổ ông ấy lên. – Hừ, có gan làm thì phải có gan chịu chứ, – Philip thở dài. – Mình rất thích làm việc cùng với cậu, Jake ạ. Chỉ tiếc rằng mọi người đã quay lưng lại chúng ta một cách đáng buồn như vậy. – Thì cậu đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được rồi còn gì. – Ừ, đã đành rằng thế... Philip dừng lại ở giữa câu. Mắt anh mở to ra. Mũi anh phập phồng. Anh há hốc mồm, nấc lên – cái phản xạ đã bị dập tắt từ lâu bỗng nhiên sống lại. Anh ngửa cổ, lấy hơi... Philip hắt hơi. Anh hắt hơi liên tục đến mười cái liền và tái cả mặt đi. Anh nắm chặt lấy tay Jake và hai dòng nước mắt trào ra... – Nguyên tắc đơn giản thật đấy, – Philip nói trong khi Ellie nhỏ thuốc xông và pha nước ngâm chân cho anh. Đã có kháng thể chống virus, thì cần phải tìm ra một kháng thể khác chống lại được kháng thể của chúng ta. Anh hắt hơi và với một nụ cười chứa chan hạnh phúc, hít mạnh thuốc vào mũi. – Nhưng liệu người ta có mau chóng điều chế được nó không? – Người ta sẽ điều chế ra nó khi nào bị sổ mũi trở lại, – Philip nói với giọng khản đặc. – Nhưng vẫn còn một trở ngại. – Trở ngại gì anh? – Ellie hỏi. – Thuốc của bọn anh rất hiệu nghiệm, thậm chí quá hiệu nghiệm nữa, – Philip buồn bã trả lời. – vì vậy suốt đời anh không thể nào tránh khỏi bệnh sổ mũi nữa. Có lẽ anh phải bắt tay vào tìm kiếm một kháng thể khác chống lại kháng thể này. NGUYỄN QUỐC TÍN dịch MỘT CUỘC THÍ NGHIỆM Edi Valich (Ba Lan) 16 tháng tư Khi tôi tỉnh dậy thì gian phòng còn tối. Nhưng ở ngôi nhà đối diện đã bắt đầu sáng nhờ nhờ. Tấm rèm cửa giống như một bàn cờ và vì các ô sáng của nó cứ tăng lên dần, nên tôi chợt nhận ra trời cũng sắp sáng rồi. Cần phải cựa mình và ngay lập tức thấy đau nhói. Tuy vậy, tôi cố đưa tay bật đài và khắp phòng tràn đầy tiếng nhạc. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhưng vẫn còn rất đau. Tôi với lấy chiếc phong bì nằm trên bàn ở đầu giường và đọc lại lá thư gửi đến từ tuần trước mà tôi đã thuộc lòng: “Ủy ban... tại cuộc họp... tổ chức tại Viên... rất tiếc báo để ông biết, vì có quá nhiều người xin nên trong năm nay không thể nhận ông vào làm việc tại máy XR-85. Đầu năm 1991, chúng tôi sẽ xem xét lại”. “Đầu năm 1991... sẽ xem xét lại”… Tôi chẳng bao giờ tin vào các thầy thuốc, và lúc này cũng vậy. Nhưng không thể chống lại các số liệu. Tôi đã tự làm những phân tích cần thiết, tự mình lập chương trình cho máy tính. Tôi đã giao cho máy cùng một câu hỏi và đưa ra những xác suất 10; 1; 0,1... Nhưng than ôi, kết quả luôn luôn là một. Đưa ra xác suất nhỏ hơn thì không có ý nghĩa. Thế đấy, chẳng còn gì để hồ nghi. Thậm chí tôi tính cả ngày chết của mình: trong khoảng từ 10 đến 15 tháng năm. Còn không đầy một tháng nữa. Khó khăn lắm tôi mới lê vào được buồng làm việc, ngồi xuống bàn viết chất ngổn ngang những bản đồ thị, hình vẽ, vi ảnh – có lẽ đây là những ngày tháng, những giờ phút cuối cùng mà tôi còn có thể làm được một cái gì đó. Chính cái gì đó sẽ làm thay đổi cả quá trình diễn biến của câu chuyện. 27 tháng tư Tiếng chuông điện thoại chói tai kéo tôi ra khỏi những ý nghĩ chán chường sau một đêm mất ngủ như thường lệ: Philadelphia gọi. Trong óc tôi thoáng hiện một cái tên: Richard. Anh đã chết từ tháng trước. Và giờ đây, sau tròn một tháng im hơi lặng tiếng, Philadelphia lại gọi tôi. Tôi nghe thấy, một giọng nói quen thuộc. Richard xin lỗi vì đã quá lâu không cho tôi biết tin tức gì về anh. Nhưng anh đã không để mất thời gian và đã hỏi xin hộ tôi tại Ủy ban ở Viên. Thực ra bây giờ vẫn chưa có kết quả, nhưng anh cho rằng không phải là đã hết hy vọng. Rõ ràng là Richard đánh lừa tôi. Chẳng qua là anh không muốn để tôi mất hy vọng, cái hy vọng duy nhất mà vì nó tôi còn nán lại thêm hai tuần cuối cùng này. … Tự sát ư? Tự tử trước lúc mình buộc phải chết quả là một hành động ngu xuẩn. Vả lại, tôi cũng phải hoàn thành được một cái gì chứ. Có yếu tố nổi loạn ở trong đó. Nổi loạn và mất trí. Không lẽ chết đi mà chẳng để lại được một cái gì. Tôi ngồi hồi lâu và suy nghĩ về điều đó. Trời tối nhưng tôi không thắp nến. Và đột nhiên – lúc này đúng vào nửa đêm – tôi nghe thấy tiếng ô tô, hãm máy, ngay dưới cửa sổ. Tiếng chân leo lên thang gấp gáp và ai đó đấm cửa thình thình. Tôi cầm lấy chiếc gậy và khập khiễng bước ra. Đó là Cristina, cô trợ lý của tôi. Cô nắm lấy tay tôi và kêu toáng lên: – Chuyện kỳ lạ. Lạ vô cùng. Đi nhanh lên ông. Ông sẽ tự mình trông thấy. Tôi chẳng nói gì thêm và quay trở lại cái xe lăn dành cho người tàn tật của mình. Nhưng Cristina đã đỡ tôi dậy, quàng vai dìu tôi ra xe. Tôi hiểu lúc này thì cô ta chẳng nói gì đâu. Chúng tôi chỉ im lặng. Thậm chí tôi quên cả đau. Ô tô dừng lại trước phòng thí nghiệm của chúng tôi, bên trong vẫn để đèn dù rằng đã muộn. Cristina giúp tôi bước vào nhà. Mấy chiếc bàn như thường lệ chất đầy những bình nuôi cấy mô, trong đó chúng tôi đang nuôi vi khuẩn. Chất thuốc, được xử lý bằng nơtron ở tần số của trường điện từ 12866 megahertz, đang nằm dưới kính hiển vi điện tử. Tôi liếc nhìn vào thị kính. Tôi đã thấy cái mà tôi hằng mong ước bấy nay. Trên nền xanh lá cây nhạt có thể phân được rõ ràng những tiểu thể virus cùng bị ức chế giống hệt nhau bằng nơtron. Cristina chạy đi chạy lại trong phòng thí nghiệm, hai tay vỗ vào nhau và kêu khe khẽ. Tôi không thể nào rời khỏi chiếc kính hiển vi nữa. Không. Đâu phải là đã mất hết hy vọng! 28 tháng tư Suốt từ sáng, điện thoại gọi đến không ngớt. Trên tấm bảng phân phối của điện thoại truyền hình, những bóng đèn kiểm tra liên tiếp nhấp nháy. Tôi không sao tắt máy được. Từ các thành phố đều gọi điện cho tôi, gặng hỏi tỉ mỉ từng chi tiết, yêu cầu những số liệu mới. Khoảng 11 giờ thì Philadelphia gọi điện tới. Richard chúc mừng thành công. Giọng nói của anh biểu lộ niềm vui thực sự: không còn nghi ngờ gì về những quyết định đúng đắn của Ủy ban. Ngày mai sẽ có một cuộc họp bất thường để xem xét lại đề nghị của tôi. Cho tới rất khuya, tôi vẫn ngồi trước máy truyền hình nổi, bật hết kênh này sang kênh khác. Tôi chỉ quan tâm đến những tin tức cuối cùng. Trên màn ảnh, bất kỳ chương trình nào trước sau cũng đều giới thiệu thiết bị mà tôi chế tạo với con số thần kỳ 12866 – tần số của trường điện từ, trong đó dòng nơtron tác dụng một cách có chọn lọc đã tiêu diệt những vi trùng nguy hiểm quen thuộc đối với con người. 29 tháng tư Chiều hôm nay, qua điện thoại truyền hình từ Viên, người ta thông báo cho tôi biết: Ủy ban đã quyết định vấn đề theo ý muốn của tôi. Ngày mồng một tháng năm, tôi phải có mặt ở Paris, trong bệnh viện đa khoa của giáo sư Tibo. 30 tháng tư Buổi sáng, ông giám đốc Trường đại học và ông thị trưởng thành phố đến thăm tôi. Họ cho biết là chương trình tang lễ của tôi đã được quyết định tiến hành với những nghi thức trọng thể. Ấn định vào ngày 6 tháng năm. Quan tài sẽ được quàn tại đại giảng đường Trường đại học. Cuối lễ viếng, tang khúc sẽ được cử tại Nhà hát giao hưởng. ... Buổi chiều tôi đáp máy bay đi Paris. Tôi ra sân bay trong chiếc xe hơi mui trần. Ngoài phố, người đi lại không nhiều nhưng một đám đông đón tôi tại sân bay. Sự chú ý của những người này cũng dễ hiểu: họ muốn nhìn tận mặt tôi lần cuối cùng. Khi bước lên thang máy bay, tôi những muốn kêu lên: “...Hẹn gặp lại các bạn tại lễ truy điệu”, nhưng tôi đã kịp thời cắn lưỡi lại. 1 tháng năm Tôi đã tới Paris. Tôi ngồi trong một gian phòng lớn, sáng sủa. Bệnh viện ở gần công viên Luxembourg. Mùi thơm ngan ngát của cây cỏ đang mùa hoa lọt vào qua cửa sổ. Tibo cho mời tôi. Đó là một người đàn ông đẹp lão, tóc bạc. Tôi đã là bệnh nhân thứ tám của ông, nên ông vui vẻ kể cho tôi nghe về mọi chi tiết của cuộc phẫu thuật này. ... Họ đặt tôi vào cáng và khiêng tới phòng phẫu thuật nổi tiếng số 15. Sau bức tường bằng thủy tinh, một nhóm sinh viên sẽ theo dõi quá trình mổ. Những bóng đèn rọi của thiết bị truyền hình nổi rực sáng. Giáo sư vẫn còn mặc bộ áo đuôi tôm. Ông hỏi tôi thích nghe bản nhạc nào lần cuối cùng. Tôi chọn bản giao hưởng của Verniapski. Nhạc nổi lên. Tibo đưa cho tôi một chai sâm banh. Tôi uống một ngụm. Tôi thấy giáo sư thấp thoáng trong bộ áo choàng trắng như tuyết, rồi tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Cuộc phẫu thuật đã bắt đầu. 5 tháng năm Tôi tỉnh dậy trong bóng tối dày đặc. Vả chăng, có nên tin vào điều nói ra không? Và có nên nói hay không? Tôi không thể nói. Và tôi cũng không thể “tỉnh dậy”! chẳng qua đó là lúc mà con người giã từ mộng mị và cảm nhận được những âm thanh của thế giới hiện thực. Đầu óc tôi trở lại hoạt động sau khi bị cưỡng bức nghỉ không làm việc bằng xung lượng của máy kích thích từ ngoài. Thế là tôi bắt đầu suy nghĩ. Hay đúng hơn là bắt đầu nhận thức cái mà mình suy nghĩ. Tôi hồi tưởng lại tất cả những gì đã xảy ra và tự an ủi mình bằng một phương châm của tam đoạn luận: – Ta tồn lại, và ta biết rằng mình tồn tại. Tôi tự nhủ: thế là đã thực hiện được điều mình hằng mơ tưởng – cuộc phẫu thuật đã thành công. Bộ óc của tôi đã nằm trong cái thiết bị quý báu có một không hai ấy, đảm bảo duy trì những hoạt động sống bình thường của nó, điều mà tôi đã giao quyền quyết định cho Ủy ban ở Viên. Bộ não của tôi đang sống. Trong giờ phút này, mỗi một suy nghĩ của tôi đều được ghi lại trên màn ảnh để cho một nhóm chuyên gia, đứng đầu là chính giáo sư Tibo, nghiên cứu. Nếu như kết quả khả quan, lập tức người ta sẽ để cho thị giác hoạt động. Tôi cảm thấy – không nhìn thấy nhưng vẫn cảm thấy – một tia sáng bùng lên, rồi sau đó dường như lại tối đi. Nhưng đó không phải là cái bóng tối bao quanh tôi. Cái bóng tối ấy thì trống rỗng, còn bóng tối này lại tràn đầy một cái gì đó: lúc này, tôi cảm thấy và tôi tin rằng nó hoàn toàn không có giới hạn. Sáng dần, sáng dần và các đồ vật dần dần hiện ra. Tôi đang ở trong phòng khách của Tibo. Giờ thì rõ lắm rồi. Tôi đã nhận ra những người đứng trước mặt. Trong số này có cả giáo sư. Ông hỏi: – Ông thấy trong người ra sao? Những lời nói của Tibo hiện trên màn ảnh trong khi tôi vẫn trông thấy ông. Hình như tôi không trả lời, nhưng trên một màn ảnh khác, lấp loáng những từ, những câu, những đoạn. Quá nhiều đến mức tôi không nhận thức nổi. Tôi tò mò theo dõi sự thể hiện ý nghĩ của chính mình. Cuối cùng, tôi đã chế ngự được chúng và chắp lại thành câu “Cảm ơn giáo sư, tôi thấy khỏe”. Nhưng trên màn ảnh, ở phía sau, những suy nghĩ cứ tiếp tục nhảy nhót mà tôi không chia xẻ được với ai. Một môn học quái gở – nghĩ trên màn ảnh. Mặc dầu thấy sung sướng vì mình đang sống, tôi vẫn mong muốn kết thúc cai trò này càng sớm càng hay. Giáo sư mỉm cười, bảo: – Được rồi, tôi sẽ cho kết thúc. Chúng tôi lắp cho ông thính giác và giọng nói ngay bây giờ đây. Còn thị giác thì tạm đóng lại đã. Dòng suy nghĩ chợt chậm hẳn đi, tôi buồn ngủ quá và thiếp đi mà không kịp nhận ra là mình đang ngủ một cách gượng ép. Đã đến lúc bật thiết bị bổ sung. … Lại một cái gì đó bừng lên. Và tôi lại suy nghĩ, lại bắt đầu nhìn. Hơn thế nữa, tôi còn nghe được nữa chứ. Tôi nghe thấy tiếng nhạc – chính là bản giao hưởng của Verniapski mà giáo sư Tibo đã bật khi bắt đầu cuộc giải phẫu. Trong phòng đã sáng hẳn. Tôi nghe rõ tiếng gõ cửa. Tôi chưa kịp suy nghĩ thì giọng nói của chính tôi đã vang lên: – Xin mời vào. Giáo sư Tibo bước vào. – Xin chào ông. Công việc thế nào? Tôi đáp: – Không thể khá hơn. Ông có hài lòng về tôi không? – Rất hài lòng. Tất cả đều đâu vào đấy. – Hôm nay là ngày mấy rồi? – Mồng 5 tháng năm. Tôi ngẫm nghĩ rồi nói: – Thế ra ngày mai đã làm lễ tang tôi. – Đúng thế. Ông muốn tự mình tham dự hay xem trên vô tuyến truyền hình nổi? – Thế nào là “tự mình”? – Chúng tôi sẽ cử đến đó một nhân viên của bệnh viện, anh ta sẽ thực hiện mọi mệnh lệnh của ông. Anh ta sẽ mang theo những cơ quan thị giác và thính giác tương tự như các bộ phận đó của ông hiện nay. Các tín hiệu sẽ được truyền đến bệnh viện nhờ các thiết bị vô tuyến và ông sẽ có cảm giác hệt như đang có mặt tại đó... – Ông bảo đảm là sẽ giữ bí mật chứ? – Tôi hỏi. – Lẽ đương nhiên. Tôi hiểu là ông muốn mai danh ẩn tích. Cũng như những người đã thực hiện thí nghiệm này trước ông. Nhưng vì sao ông lại muốn tham dự lễ tang của chính mình. Tôi định cười trả lời nhưng không sao được. Yên lặng một vài giây. “A, – tôi đã nghĩ ra, – mình không được cười. Mình không được tham dự vào những chuyện đại loại”. Tôi bảo giáo sư: – Tôi còn một yêu cầu nữa. Tôi muốn trông thấy mình... – Không sao. Đó là một yêu cầu thông thường. Để làm điều đó, chúng tôi có một hệ thống đặc biệt. Giao sư ấn một cái nút. Một chiếc gương hiện ra trên tường. Tôi đã nhìn thấy mình, hay đúng hơn, các cơ cấu thay thế cho những cơ quan cảm giác để tôi liên hệ được với thế giới bên ngoài: ba cái hộp lớn trên bàn, có trang bị những máy móc kiểm tra và hệ thống các thiết bị điều chỉnh. Trong một hộp, sau màn ảnh bằng thủy tinh là... đôi mắt. Một đôi mắt người thực, có khớp nối và góc nhìn khá lớn. Hình như đó là đôi mắt của tôi, một bộ phận của chính tôi, mặc dù tuyệt nhiên, không phải mắt tôi. Tôi bị cận thị, còn đôi mắt này không có kính vẫn tinh tường. Ngoài ra, mắt tôi nâu sẫm, còn đôi mắt này lại đen. – Cảm ơn giáo sư, bây giờ... – Bây giờ ông muốn thấy tất cả được lắp ráp như thế nào phải không? – Tibo nói khẽ, – Rất đơn giản. Ông hãy nhìn lên màn ảnh. Trên màn ảnh hiện ra khung cảnh một gian phòng khá lớn, ngổn ngang những dụng cụ lạ lùng và chằng chịt những dây dẫn. Toàn bộ các dây dẫn đều tập trung vào một điểm mà tôi không nhìn thấy. Tâm điểm đó chính là tôi. Bộ não của tôi được gìn giữ ở nhiệt độ ổn định, nối liền với hàng ngàn đường dây. Tôi băn khoăn: làm sao biết được là mình ở đâu? Ở gian phòng có ba cái hộp thần kỳ và đang nói chuyện với giáo sư, hay ở một địa điểm nào đó giữa những máy móc rất phức tạp? Cuối cùng, tôi cho rằng hợp lý nhất là quan niệm đôi mắt ở đâu là chính mình đang ở đấy. 6 tháng năm Đúng chín giờ, người ta “nối tiếp” tôi với Michel, một nhân viên trong bệnh viện của Tibo. Sau khi mang theo một máy cảm biến, anh đi ô tô đến trường đại học. Tôi đã ở thành phố của tôi. Trời u ám. Mưa lâm thâm. Khách bộ hành lầm lũi dưới những chiếc ô. Tôi đề nghị Michel ghé vào giảng đường khi mọi người còn chưa tập hợp. Chúng tôi đã đến đúng lúc. Giảng đường còn chưa có ai. Michel bước tới một chỗ cao, nơi đặt chiếc quan tài có nắp trong suốt. Từ xa, tôi đã nhìn thấy chính thi hài của mình. Ánh sáng chiếu xuống mặt, trông tôi không tới năm lăm tuổi. Tôi thấy hài lòng. Giảng đường đông người dần. Vào 9 giờ 30 phút, lễ tưởng niệm bắt đầu. Lơ đãng nghe các diễn giả, tôi sốt ruột chờ đợi bài phát biểu của mình đã gửi đến từ trước trên băng từ. Bài phát biểu của tôi không lấy gì làm tồi: tôi hiểu được điều đó qua nét mặt của những người tới dự lễ. Có điều, thỉnh thoảng trong bài có gài những ý châm chọc, nhưng chắc không ai để ý. Khi tôi theo thi hài mình vào nghĩa trang, trời lạnh buốt hơn buổi sáng. Rồi mưa to. Tôi tò mò nhìn đám người cứ thưa dần. Ngay cả những người thân nhất của tôi cũng vụng trộm bỏ về. Tôi chỉ thương Michel không mang theo ô, tôi bảo anh đưa tôi về bệnh viện. Thế là lễ tang đã kết thúc. Bây giờ chỉ nên nghĩ đến tương lai. Thật tuyệt vời khi biết rằng từ nay thời gian không hạn chế được mình nữa. NĂM NĂM SAU 27 tháng tư Bài giảng hôm nay tôi đã truyền đạt quá tồi. Tôi hiểu được điều đó qua phản ứng của người nghe. Thông thường họ chăm chú theo dõi đôi mắt tôi đặt tại bục giảng. Nhưng lúc này chẳng ai thèm nhìn tôi cả. Sinh viên, cũng như tôi, thả suy nghĩ của mình tận đâu đâu. Tôi không muốn kéo dài tình trạng này, bảo họ: – Buổi học hôm nay sẽ kết thúc sớm hơn 2 giờ. Các thính giả nhộn nhịp hẳn lên và tôi cũng vội vã chuyển mạch sang chiếc máy đặt trong phòng mình. Một giờ nữa, Anna sẽ tới. Tôi chuẩn bị đón cô. Nhưng khái niệm “chuẩn bị” phải như thế nào đây? Tôi cần phải làm gì? Bốn cái hộp bảo đảm cho tôi liên hệ với thế giới xung quanh đó là thị giác, tiếng nói, thính giác, và gần đây được bổ sung thêm khứu giác nữa – lúc nào cũng hoạt động hết sức chính xác. May quá, tôi vẫn còn có thể xúc động, cứ từng phút lại nhìn lên đồng hồ, suy nghĩ, hình dung ra cô ta lần đầu tiên bước vào nhà, và tôi lắng nghe tiếng động của những chiếc xe hơi qua lại. Đúng năm giờ, tôi nghe thấy tiếng xe dừng ở cửa. Rồi có tiếng mở cửa, tiếng chân bước trên cầu thang: Anna. Cô ta ôm theo một bó hoa tử đinh hương (tôi nhận ra ngay qua mùi). Tôi nhìn Anna và im lặng. Cô ta lại gần cái bàn mà tôi được đặt trên đó. Cô ta hôn những bông hoa và đặt xuống trước “mặt” tôi. – Cảm ơn. Và cảm ơn một lần nữa vì em đã mặc rất đẹp.