🔙 Quay lại trang tải sách pdf ebook Cuộc Đại Lạm Phát Và Những Hệ Lụy - Robert J. Samuelson full prc pdf epub azw3 [Kinh Tế] Ebooks Nhóm Zalo Thông tin sách Tên sách: Cuộc đại lạm phát và những hệ lụy Nguyên tác: The Great Inflation and Its Aftermath Tác giả: Robert J. Samuelson Dịch giả: Nguyễn Dương Hiếu, Đặng Nguyễn Hiếu Trung, Nguyễn Trường Phú Công ty phát hành: DT Books Nhà xuất bản: NXB Trẻ Trọng lưͫng vận chuyển: 520g Kích thước: 14.5 x 20.5 cm Số trang: 384 Ngày xuất bản: 06/2010 Giá bìa: 88.000₫ Thể loại: Kinh tế - Phân tích môi trường kinh tế Thông tin ebook Type+Làm ebook: thanhbt Ngày hoàn thành: 10/04/2015 Dự án ebook #130 thuộc Tủ sách BOOKBT Ebook này được thực hiện nhằm chia sẻ cho những bạn không có điều kiện mua sách! Còn nếu bạn có khả năng hãy mua sách ủng hộ nha! Giới thiệu Trong nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, có thể nói lạm phát là đề tài luôn dành đưӧc sӵ quan tâm thường xuyên và to lӟn tӯ tất cả mӑi người: giӟi hӑc thuật, các Chính phủ và các cơ quan điều tiết, các doanh nghiӋp, người tiêu dùng, người lao đӝng v.v... Lạm phát gia tăng ảnh hưởng trӵc tiếp đến cuӝc sống và theo đó là hành vi kinh tế của tất cả chúng ta. Cuốn sách này nó về chính đề tài luôn nóng bӓng này - lạm phát ở nưӟc Mӻ - nền kinh tế lӟn nhất thế giӟi. Đây chính là mӝt khoảng trống lӟn trong lӏch sӱ nưӟc Mӻ. Trong tác phẩm đầy tính thách thức này, theo tác giả Robert J.Samuelson - mӝt phóng viên chuyên mục của Washington Post và Newsweek - cuӝc Đại Lạm phát là sai lầm chính sách tӋ hại nhất của nưӟc Mӻ trong giai đoạn sau Thế chiến II, đóng vai trò quan trӑng trong viӋc biến đәi chính trӏ, kinh tế cũng như đời sống hàng ngày tại đất nưӟc này, thế nhưng câu chuyӋn về nó lại chưa hề đưӧc lắng nghe hay quan tâm đúng mức. Trong giai đoạn kinh tế bất әn hiӋn nay, chúng ta lại càng cần phải tìm hiểu cho rõ nhӳng gì đã xảy ra vào nhӳng năm 1960 và 1970, nếu không muốn lặp lại nhӳng sai lầm đã qua! Tӯ 1960 đến 1979, lạm phát tại Mӻ đã leo thang tӯ mức hơn 1% lên gần 14%. Đây là giai đoạn lạm phát trong thời bình lӟn nhất tại Mӻ, gây ra nhӳng ảnh hưởng sâu rӝng đến mӑi mặt đời sống của tất cả mӑi người. Nhӳng hậu quả trӵc tiếp của đӧt lạm phát này bao gồm viӋc Ronald Reagan đắc cӱ Tәng thống năm 1980, sӵ trì trӋ trong mức sống, cùng vӟi niềm tin phә biến rằng sức mạnh siêu cường của nưӟc Mӻ đang đi vào hồi kết. Tác phẩm Cuӝc Đại Lạm phát và nhӳng hӋ lụy truy tìm căn nguyên của thời kỳ lạm phát bùng nә lên mức hai chӳ số, sӵ sụt giảm tiếp theo của lạm phát trong giai đoạn suy thoái 1981-1982 do quyết tâm và đường lối của Cục Dӵ trӳ Liên bang (FED), vӟi sӵ hậu thuẫn mạnh mẽ tӯ Tәng thống Reagan. Nhưng đó mӟi chӍ là mӝt phần của câu chuyӋn. Sӵ kết thúc của lạm phát cao lại châm ngòi cho nhӳng thay đәi về kinh tế và xã hӝi hiӋn vẫn đang hiӋn diӋn cùng chúng ta ngày hôm nay. Các bong bóng nhà đất và chứng khoán là nhӳng hậu quả trӵc tiếp, ngoài ra còn có nhӳng hậu quả khác như doanh nghiӋp Mӻ trở nên có năng suất cao hơn, ít bảo vӋ người lao đӝng hơn, và toàn cầu hóa đưӧc khuyến khích. Theo tác giả Robert J.Samuelson, chúng ta sẽ không thể hiểu thế giӟi ngày nay nếu như không hiểu cuӝc Đại Lạm phát và nhӳng hӋ lụy của nó. Chúng ta cũng không thể chuẩn bӏ tốt cho tương lai nếu không hӑc đưӧc nhӳng bài hӑc tӯ thời gian này. Tác phẩm sắc sảo và nhiều thông tin này xứng đáng là mӝt bản tәng kết có giá trӏ về mӝt sӵ kiӋn quan trӑng trong thời đại của chúng ta. Mục lục GHI CHÚ DÀNH CHO ĐӜC GIẢ LӠI CẢM ƠN LӠI GIӞI THIỆU 1. LӎCH SӰ Đà MẤT I II III IV V 2. NӚI ÁM ẢNH VỀ “TÌNH TRẠNG ĐẦY ĐỦ VIỆC LÀM” I II III IV 3. SӴ NӔI KẾT TIỀN TỆ I II III IV 4. HIỆP ƯӞC CỦA NIỀM TIN I II III 5. SӴ PHӨC HỒI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN I II III IV 6. SӴ THӎNH VƯӦNG NHẤT THӠI I II III IV 7. MӜT TƯƠNG LAI SUNG TÚC I II III IV V BẢNG CHÚ GIẢI THUẬT NGӲ PHӨ LӨC 1. NỀN KINH TẾ MӺ KỂ TӮ NĂM 1950 PHӨ LӨC 2. CÁC CHU KỲ KINH TẾ TẠI MӺ TӮ SAU THẾ CHIẾN THỨ II Tặng vợ tôi Judy. Không có em thì cuốn sách này không thể hoàn thành, mà cũng không đáng để hoàn thành. GHI CHÚ DÀNH CHO ĐỘC GIẢ Trong câu chuyӋn mà tôi sắp kể, chắc chắn có nhӳng khái niӋm hay thuật ngӳ kinh tế, tài chính mà không phải ai cũng thấy quen thuӝc. Do đó, tôi đã cố để giảm tối đa viӋc sӱ dụng chúng, đồng thời có giải thích sơ qua về tӯng khái niӋm khi đưa ra lần đầu tiên trong sách. Đӝc giả nào muốn biết nhӳng giải thích sâu hơn về chúng có thể tham khảo phần chú giải thuật ngӳ ở cuối sách. Riêng đối vӟi nhӳng ai quan tâm đến nhӳng con số thống kê, sách có cung cấp hai phụ lục trình bày tәng quan về nền kinh tế Mӻ tӯ sau Thế chiến II. Phụ lục thứ nhất gồm nhӳng chӍ số thống kê cơ bản như tӹ lӋ tăng trưởng kinh tế, thất nghiӋp, lạm phát, lãi suất hay giá chứng khoán. Phụ lục thứ hai mô tả nhӳng chu kỳ mở rӝng và suy thoái của kinh doanh. LỜI CẢM ƠN Mӝt cuốn sách trên hết thuӝc về trách nhiӋm của người viết ra nó. Tuy nhiên trong quá trình hình thành nên cuốn sách, nó có thể là gánh nặng lên mӝt số người xung quanh. Tôi dành tặng cuốn sách này cho vӧ tôi Judy chính vì lẽ đó: gánh nặng trên vai cô ấy là lӟn nhất! Tôi vốn là người không mấy dễ chӏu ngay cả nhӳng khi tâm trạng vui vẻ, nên trong khi viết sách và cố gắng sao cho cuốn sách diễn tả đưӧc đúng nhӳng gì tôi muốn nói, tôi lại càng bẳn gắt hơn bao giờ hết. Cuốn sách đã trở thành lý do để tôi tránh né không làm mӑi viӋc khác, nhӳng viӋc mà lý ra tôi đã muốn làm, và vӧ tôi cũng muốn làm. “Ồ không, anh còn phải tập trung vào quyển sách!” là điӋp khúc thường thấy ở nhà tôi trong thời gian này. Đáp lại là sӵ đӝng viên thường xuyên, đôi khi ngӧi khen, và sӵ tӵ kiềm chế đầy kiên nhẫn của vӧ tôi. Cảm ơn em, Jude! Người tiếp theo đã giúp tôi hoàn thành cuốn sách là đồng nghiӋp lâu năm tại tờ Newsweek - Richard Thomas - người trong nhiều năm là phóng viên chính về kinh tế của tờ báo. Hoá ra anh đã quên quá nhiều về kinh tế và nhӳng liên hӋ của nó đến chính trӏ, đến cuӝc sống hàng ngày của người Mӻ, hơn nhiều so vӟi nhӳng gì tôi biết. Ở Rich, có sӵ kết hӧp hiếm thấy của mӝt nhà báo: sӵ kết hӧp giӳa kӻ năng trình bày, báo cáo mӝt cách xuất sắc (điều này rất phә biến) và phong cách tư duy không theo lối thường (điều vô cùng hiếm), điều cho phép anh nhận ra tầm quan trӑng của các sӵ kiӋn khi chúng xảy ra mӝt cách sӟm hơn nhiều so vӟi đa số người khác. Anh đã giúp tôi đӑc vô số bản thảo và đưa ra nhӳng đề nghӏ quý báu về mặt biên tập. Ngoài ra, anh còn nӛ lӵc đóng vai trò của mӝt “chuyên gia tâm lý” đối vӟi tác giả, khi liên tục tuyên bố bản thảo của tôi là “tuyӋt vời”, ngay cả khi liền sau đó anh đề nghӏ tôi cắt bӓ nhiều đoạn dài trong bản thảo “tuyӋt vời” đó, hay sӱa đәi đôi chӛ để làm tăng tính “tuyӋt vời” của nó! Rich có công lӟn trong nhӳng phần đặc sắc của cuốn sách, đồng thời luôn cảnh báo tôi về nhӳng điểm yếu còn tồn tại trong đó. Tôi xin cảm ơn anh vì đã giúp tôi cải thiӋn chất lưӧng bản thảo và nâng đӥ tinh thần tôi rất nhiều trong quá trình viết sách. David Lindsey, cӵu kinh tế gia xuất sắc tại Cục Dӵ trӳ Liên bang, cũng đӑc bản thảo rất nhiều lần và cӝng tác mӝt cách chuyên cần để đảm bảo sao cho trình tӵ các sӵ kiӋn là chính xác, đồng thời các vấn đề mang tính kӻ thuật đưӧc trình bày rõ ràng, trong sáng. Cuốn sách này nếu thất bại thì cũng không phải do lӛi của Dave! Vào lúc viết và xem lại tác phẩm, tôi có đưa bản thảo cho người bạn lâu năm của mình là Jon Rauch (phóng viên của The Atlantic và National Journal, người đoạt giải National Magazine Award - giải tương đương vӟi Pulitzer trong ngành tạp chí - vào năm 2005) để lấy nhận xét. Ông đӑc toàn bӝ bản thảo, đưa ra nhận xét về điểm mạnh và điểm yếu của cuốn sách (khá giống vӟi nhӳng nhận xét của Rich và người biên tập của tôi là Jonathan Jao), điều đã khiến tôi cắt bӓ mӝt phần đáng kể cũng như sắp xếp lại bố cục cuốn sách. Tính thẳng thắn và rõ ràng của Jon trong viӋc chӍ ra nhӳng phần không thӵc sӵ cần thiết của bản thảo đã giúp nó trở nên tốt hơn rất nhiều khi in thành sách. Mӝt số người nӳa đã đӑc bản thảo và cho tôi nhӳng đề xuất hӳu ích, tôi chӍ có thể nhӟ và kể ra vài cái tên như sau: Joel Havemann, người biên tập lâu năm cho cӝt báo của tôi ở The Washington Post; em trai và em hӑ tôi - cả hai đều mang tên Richard (nhӳng người mang hӑ Samuelson chúng tôi dường như không mấy “đӝc đáo” trong viӋc đặt tên!); Prakash Loungani - bạn tôi, nhà kinh tế ở IMF; và John McCusker, mӝt sӱ gia kinh tế tại Đại hӑc Trinity, San Antonio. Tôi gӱi lời cám ơn tӟi Mark Zandi ở Moody’s Economy.com, người cung cấp các thông tin thống kê trong hai phụ lục cuối sách, đồng thời luôn giúp tôi hiểu rõ hơn về nền kinh tế. Malcom Gillis, cӵu Chủ tӏch Đại hӑc Rice, đã mời tôi tӟi nói chuyӋn tại trường này (đây cũng là nơi con gái tôi theo hӑc), và đây chính là lý do thôi thúc tôi viết ra cuốn sách. Pat Jackman (Văn phòng thống kê lao đӝng) thì trong nhiều năm đã giúp tôi hiểu rõ hơn về chӍ số giá tiêu dùng (CPI). Tại Cục Dӵ trӳ Liên bang (Fed), Dave Skidmore và Michelle Smith đã luôn vui vẻ hӛ trӧ tôi mӝt cách nhanh chóng khi tôi cần thông tin để viết báo cũng như chuẩn bӏ cho cuốn sách này. Athanasios Orphanides, nguyên là nhà kinh tế tại Fed, người đã dày công nghiên cứu giai đoạn tӯ cuối nhӳng năm 1960 đến đầu nhӳng năm 1980, đã dành cho tôi mӝt cuӝc phӓng vấn rất bә ích, cung cấp cho tôi nhiều kiến thức nền tảng (sau này ông đã rời khӓi Fed và sang làm Giám đốc Ngân hàng Trung ương Cyprus). Allan Meltzer (Đại hӑc Carnegie Mellon), tác giả của bӝ sách hai tập về lӏch sӱ của Fed, đã rất tốt bụng khi cho tôi xem trưӟc mӝt chương trong tập hai (sắp xuất bản) của bӝ sách này. Trong cuӝc phӓng vấn dành cho cuốn sách của tôi, cũng như trong nhiều năm trưӟc đó, ông đã giúp tôi nâng cao hiểu biết về nền kinh tế cũng như viӋc hình thành các chính sách kinh tế. Paul Volcker, cӵu Chủ tӏch Hӝi đồng Thống đốc Cục Dӵ trӳ Liên bang, đã dành cho tôi hai cuӝc phӓng vấn cho cuốn sách này, đồng thời đӑc lại vài phần trong bản thảo để đảm bảo tính chính xác của nó. Cuӝc phӓng vấn vӟi người kế nhiӋm Volcker, Alan Greenspan, cũng giúp tôi xác nhận tầm quan trӑng mà ông dành cho viӋc әn đӏnh giá cả nói chung. Tại nhà xuất bản Random House, cuốn sách đã lần lưӧt qua tay bốn biên tập viên, tuy nhiên lý do chính không phải do nӝi dung của nó mà là do nhӳng lý do cá nhân: hai người trong số các biên tập viên nói trên đã rời nhà xuất bản trong giai đoạn này, nên cuốn sách mӟi phải đưӧc bàn giao nhiều lần như vậy. Tuy nhiên, cuối cùng vӟi Jonathan Jao, tôi đã có mӝt biên tập viên khéo léo để kết thúc quá trình biên tập và hoàn chӍnh cuốn sách nhằm ra mắt bạn đӑc. Nhӳng nhận xét và đề nghӏ của ông luôn sắc sảo, xác nhận mӝt lần nӳa nhӳng gì mà nhiều người khác đã nhận xét trưӟc đó vӟi bản thảo. Ông là người rất chặt chẽ, hễ nói là làm, cởi mở và lắng nghe quan điểm của tôi nhưng cũng rất kiên quyết khi tin rằng tôi sai lầm. Người đại diӋn và cũng là hàng xóm của tôi, Rafe Sagalyn, luôn lạc quan về dӵ án cuốn sách này, ngay cả khi chúng tôi có đủ lý do để cảm thấy bi quan và hoài nghi về nó. Giờ thì đã đến lúc chúng tôi có thể thảnh thơi chuyӋn trò cùng nhau trong khi đi dạo đưӧc rồi! Cuối cùng là nhӳng đứa con của tôi: Ruth, Michael và John. Chúng thӵc ra chẳng liên quan gì đến cuốn sách này cả, nhưng chúng chính là cuӝc sống của tôi. Nhӳng đứa con đã giúp tôi giӳ cho mӑi viӋc trong trật tӵ, và nay chúng cũng đã đủ lӟn để có nhӳng góc nhìn riêng của mình. Khi thấy cha “vật lӝn” vӟi cuốn sách, Michael đã khuyên tôi mӝt cách chân thành “Sau này ba đӯng viết sách nӳa nhé!”. Dường như đó là mӝt lời khuyên đúng, nhưng tôi cũng không rõ liӋu tӟi đây mình có làm theo hay không nӳa. Tất nhiên, cuốn sách khó tránh khӓi nhӳng sai sót về sӵ kiӋn và cách diễn giải. Vӟi nhӳng sai sót nếu có, tác giả xin nhận hoàn toàn trách nhiӋm về mình. LỜI GIỚI THIỆU Tôi quyết đӏnh viết cuốn sách này vì chưa tӯng có ai, và dường như cũng sẽ không có ai, viết mӝt cuốn sách tương tӵ. Vӟi cá nhân tôi, mӝt nhà báo kinh tế trong nӱa thế kӹ qua, viӋc tăng giảm của lạm phát ở mức hai chӳ số gây ảnh hưởng to lӟn trong suốt giai đoạn đó, và ảnh hưởng đó không chӍ giӟi hạn trong nền kinh tế của chúng ta mà thôi. Ngoài ra, lạm phát còn ảnh hưởng tӟi cách thức quản trӏ trong các doanh nghiӋp lӟn, cũng như nhӳng công nhân của hӑ. Tất cả nhӳng liên hӋ này dường như khá rõ ràng, và tôi đã kỳ vӑng sẽ có ai đó viết về chúng. Tôi vốn là người viết chậm, hơn nӳa cuốn sách trưӟc (Cuộc sống tốt đẹp và nhͷng bất đồng: Giấc mơ MͿ trong thͥi kỳ trͫ cấp xã hội 1945-1995) đã ngốn của tôi khá nhiều thời gian và sức lӵc, nên tôi không thích bắt đầu mӝt đề tài mà có thể ai đó đã vӯa làm xong. Nhưng hóa ra chẳng có ai viết về đề tài này cả, và tôi bèn quyết đӏnh tӵ mình làm, sӧ rằng nếu không thì cả mӝt giai đoạn này sẽ biến mất khӓi ý thức của chúng ta. Cũng như đa số các bài báo của tôi, mục đích chính của cuốn sách này là giải thích nhӳng điều đã xảy ra, lý do và các hậu quả của chúng. Bố cục cơ bản của câu chuyӋn là rất rõ ràng. Như chúng ta đã thấy, các hӑc thuyết kinh tế đầy tham vӑng do mӝt số nhà kinh tế hàng đầu đưa ra và cә vũ hứa hẹn sẽ kiểm soát đưӧc cái gӑi là chu kỳ kinh tế (business cycle) bằng cách giảm hoặc loại bӓ suy thoái, nhưng nhӳng ý tưởng này đã thất bại. Nhӳng tác dụng phụ không mong muốn không chӍ là lạm phát cao mà còn là nhӳng đӧt suy thoái thường xuyên hơn, nặng nề hơn, kéo dài tӯ cuối nhӳng năm 1960 đến đầu nhӳng năm 1980. Trong thời gian này, tâm lý lạm phát đã trở nên nặng nề đến nӛi người ta cảm thấy tuyӋt vӑng trong viӋc giải quyết nó. ChӍ có đӧt suy thoái nặng nề và bất ngờ vào nhӳng năm 1981-82, khi tӹ lӋ thất nghiӋp đạt đӍnh 11%, mӟi có thể thay đәi đưӧc tâm lý nói trên. Giai đoạn tiếp theo của sӵ giảm lạm phát - và đến mӝt mức đӝ nào đó thì có thể xem là hậu quả của nó - là mӝt thời kỳ thӏnh vưӧng kéo dài của Mӻ, trong đó các đӧt suy thoái ít đi và cũng không trầm trӑng bằng trưӟc đó. Nhưng nghӏch lý là đồng thời giai đoạn này (thời kỳ hậu lạm phát) cũng làm gia tăng sӵ bấp bênh cho doanh nghiӋp và người lao đӝng. Rõ ràng là đã và đang có mӝt mối liên hӋ nào đó. Sӵ bấp bênh và sức ép cạnh tranh mà doanh nghiӋp và người lao đӝng đang cảm thấy là hậu quả của mӝt nền kinh tế có lạm phát đang giảm đi, và đến mӝt mức đӝ nào đó, điều này đã giúp kiềm chế lạm phát. Theo nhiều cách, viӋc cuốn sách này đưӧc xuất bản chậm hơn 2 năm so vӟi dӵ đӏnh ban đầu của tác giả hóa ra lại khiến nó trở nên “đúng thời điểm” hơn. Mãi đến gần đây, mối nguy về lạm phát tăng có vẻ như khá xa vời, nhưng khi tôi viết nhӳng dòng này vào mùa hè 2008, giá tiêu dùng ở Mӻ đã tăng khoảng 5%/năm, và còn tăng nhanh hơn ở mӝt số nưӟc khác do giá dầu và lương thӵc gia tăng. Câu hӓi bây giờ là liӋu mӝt sӵ gia tăng khiêm tốn của lạm phát như trên chính là mӝt điềm báo chẳng lành (cho nhͷng đͫt lạm phát cao hơn - ND), hay đó chӍ đơn thuần là mӝt sӵ chӋch hưӟng nhӓ nhặt và sẽ sӟm nhường bưӟc cho sӵ quay lại của mӝt mức đӝ tăng giá “chấp nhận đưӧc”, tức vào khoảng dưӟi 2%/năm? Cuốn sách này đưa ra mӝt thông điӋp rất rõ ràng về lạm phát: nếu chúng ta không khống chế đưӧc lạm phát, chúng ta chắc chắn sẽ gặp nhӳng vấn đề rắc rối lӟn, dù không thể nói trưӟc nhӳng vấn đề đó sẽ xảy ra dưӟi dạng thức gì. Lạm phát cao là mӝt yếu tố cӵc kỳ có hại. Ngay cả nếu như sau đây lạm phát dӏu đi, cuốn sách này vẫn còn rất “đúng lúc”. Tôi cho rằng gần mӝt nӱa thế kӹ vӯa qua (tӯ 1960 đến nay) chúng ta đã trải qua mӝt chu kỳ kinh tế đánh dấu bởi nhӳng đӧt lên và xuống của lạm phát, và rằng đa số các đӝng cơ của tăng trưởng kinh tế trong mӝt phần tư thế kӹ vӯa qua đã bӏ tiêu tan. Nhӳng đӝng cơ này bao gồm viӋc tăng chi tiêu của người dân do giá chứng khoán và bất đӝng sản tăng, điều đưӧc thúc đẩy bởi chính sách lãi suất thấp trong thời kỳ lạm phát giảm. ViӋc chứng khoán và bất đӝng sản tăng giá dẫn đến đầu cơ quá mức, mang lại nhӳng hậu quả tӋ hại cho các nhà đầu tư và chủ sở hӳu nhà, do nhӳng đӧt tăng giá hӧp lý ban đầu cuối cùng trở thành nhӳng bong bóng tài sản. Nhưng ngay cả khi nhӳng bong bóng đưӧc loại ra khӓi nền kinh tế, như đối vӟi trường hӧp chứng khoán, thì nhӳng khoản thu nhập to lӟn mà người Mӻ tӯng xem là đương nhiên cũng sẽ không bao giờ quay trở lại! Niềm tin và sӵ mở rӝng quy mô kinh tế Mӻ phải cần có nhӳng nguồn khác, ngưӧc lại tăng trưởng sẽ chậm đi. Nhận ra sӵ thay đәi này cũng như lý do của nó là điều hết sức quan trӑng. ViӋc điều này xảy ra cùng thời gian vӟi cuӝc bầu cӱ tәng thống năm 2008 cũng là hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong phần cuối cuốn sách, tôi cũng sẽ đưa ra mӝt số đề xuất về viӋc cải thiӋn tình hình kinh tế của chúng ta. Như các bạn sẽ thấy, tôi sӱ dụng thuật ngӳ “nền kinh tế” vӟi nghĩa rӝng hơn là sӵ tәng hӧp của các thӏ trường hàng hóa, dӏch vụ, lao đӝng, tiết kiӋm, đầu tư, làm viӋc và giải trí. Vӟi tôi, nền kinh tế cũng còn là mӝt quá trình mang tính xã hӝi, chính trӏ và tâm lý. Đó là điểm hӝi tụ của các ý tưởng, các thể chế (cả công và tư), các giá trӏ, niềm tin, thói quen, công nghӋ để tạo ra mӝt hӋ thống sản xuất và phân phối. Điều này có nghĩa là nhӳng thay đәi trong tư tưởng, thể chế, giá trӏ và niềm tin có thể thay đәi cách thức vận hành của nền kinh tế bằng vӟi mức đӝ mà các công nghӋ mӟi, nhӳng thay đәi về giá cả hay lãi suất tạo ra, nhiều khi ảnh hưởng của nhӳng yếu tố trên còn lӟn hơn. Câu chuyӋn mà tôi sắp kể cho các bạn ở đây sẽ lần theo dấu vết phát triển của nền kinh tế theo ý nghĩa rӝng hơn này. Câu chuyӋn sẽ nói về viӋc mӝt tập hӧp tư tưởng và giá trӏ này đã phải nhường bưӟc cho mӝt tập hӧp tư tưởng và giá trӏ khác khi nó không thӵc hiӋn đưӧc nhӳng hứa hẹn của mình, và cách thức mà thay đәi này ảnh hưởng lên chính trӏ, thái đӝ công chúng và quản trӏ doanh nghiӋp. Thể hiӋn bên ngoài của nhӳng thay đәi đó chính là nhӳng đӧt lên xuống của lạm phát; nhưng viӋc tăng giảm của giá cả mà chúng ta thấy chӍ là hậu quả, chứ không phải là nguyên nhân. Cuốn sách của tôi nhắm tӟi đӝc giả phә thông, theo đúng nghĩa của tӯ này. Nó đưӧc viết cho nhӳng người tò mò, quan tâm và hiểu biết mӝt cách hӧp lý! Đӑc cuốn sách này không đòi hӓi bạn phải có kiến thức chuyên môn về kinh tế. Tôi nӛ lӵc giải thích đầy đủ và có ngӑn ngành mӑi chuyӋn, để các đӝc giả già và trẻ, trong và ngoài ngành kinh tế đều có thể hiểu đưӧc. Bạn cũng không cần phải tӵ mình trải qua nhӳng sӵ kiӋn trong cuốn sách thì mӟi hiểu đưӧc tầm quan trӑng của nó. Tuy nhằm vào đối tưӧng đӝc giả phә thông là chính, tôi hy vӑng quan điểm khác biӋt về lӏch sӱ gần đây của nưӟc Mӻ trình bày trong cuốn sách cũng có thể có ích đối vӟi các hӑc giả: các nhà kinh tế, sӱ gia, và nhӳng nhà khoa hӑc chính trӏ. Mục tiêu của tôi là giúp đӝc giả hiểu đưӧc tiến trình phát triển của nền kinh tế Mӻ cho đến nay và tại sao lạm phát lại hàm chứa nhӳng bài hӑc lӟn cho tương lai như vậy. Nhӳng bài hӑc đó không chӍ gồm tầm quan trӑng của bình әn giá cả, mà còn là viӋc nhӳng đề xuất cho chính sách công phải không đưӧc dӵa trên nhӳng ý đӏnh đưӧc tô vẽ (thường luôn luôn tốt) mà nên dӵa trên nhӳng kết quả trong dài hạn (thường trái ngưӧc). Các bình luận về kinh tế trên báo chí thường đi tӯ cӵc này sang cӵc khác, cả hai đều quá lố. Hoặc là chúng ta đang đi lên thiên đường vӟi tăng trưởng liên tục do công nghӋ, tài năng quản trӏ hay tính linh hoạt của thӏ trường, hoặc là chúng ta đi xuống đӏa ngục vӟi nhӳng thời kỳ đình trӋ kéo dài do nạn đầu cơ, các công ty mất cạnh tranh, người lao đӝng thiếu kӻ năng, hay các chính sách công kém cӓi. Nói gì thì nói, tính giật gân luôn giúp báo bán chạy! Tôi thì cố tránh cả hai quan điểm này, vì nghĩ rằng cả hai đều không thӵc tế. Qua bao nhiêu năm, tôi luôn lạc quan về viễn cảnh kinh tế Mӻ. Nền văn hóa Mӻ vӟi sӵ đề cao cơ hӝi cá nhân, tính cần cù và nӛ lӵc trong công viӋc, kết hӧp vӟi hӋ thống kinh doanh lành mạnh luôn hưӟng tӟi tăng trưởng, hiӋu suất và lӧi nhuận đã tạo cơ sở vӳng chắc cho sӵ thӏnh vưӧng. Nhӳng vấn đề trong quá khứ, bao gồm cả lạm phát, nhìn chung đều có thể giải quyết đưӧc, tất nhiên là vӟi mӝt cái giá nhất đӏnh. Tuy nhiên, mấy năm gần đây sӵ lạc quan của tôi phần nào giảm sút, do chúng ta đã quá lӓng lẻo trong viӋc giải quyết nhӳng vấn đề trưӟc mắt, viӋc không quan tâm đến nhӳng nguy cơ kinh tế cũng có thể làm suy yếu cӛ máy kinh tế của đất nưӟc. Tôi đã tóm tắt mӝt số nguy cơ đó trong chương cuối của cuốn sách: mӝt xã hӝi đang già đi (đӝ tuәi trung bình của người dân tăng lên), khu vӵc y tế chiếm mӝt phần năm của nền kinh tế đang không đưӧc kiểm soát tốt, nền kinh tế thế giӟi nhiều bất әn, phản ứng không hiӋu quả trưӟc nguy cơ trái đất nóng lên khiến phải tiêu tốn rất nhiều tiền để giải quyết, ảnh hưởng tӟi hiӋu suất chung của nền kinh tế. Tôi gӑi cuốn sách này là mӝt “luận văn mang phong cách báo chí, tường thuật”. Như cuốn sách trưӟc đó, nó cũng đưa ra mӝt lập luận và sau đó trình bày các sӵ kiӋn, chứng cӟ để chứng thӵc cho lập luận ấy. Bản thảo đầu tiên dài hơn cuốn sách mà bạn đang cầm, nhưng theo lời khuyên của mӝt số bạn bè tôi đã lưӧc bӓ mӝt số phần tuy rất thú vӏ song không mấy liên quan đến lập luận chính của cuốn sách. Tuy nhiên tôi cũng xin nói ngay rằng cuốn sách không phải là về lӏch sӱ của Cục Dӵ trӳ Liên bang, chính sách tiền tӋ và chính sách kinh tế nói chung (bao gồm cả các vấn đề thuế má và quy đӏnh), sӵ giàu có của các gia đình và người lao đӝng Mӻ, năng lӵc cạnh tranh của nưӟc Mӻ, hay mӝt nghiên cứu về toàn cầu hoá và lạm phát trên toàn thế giӟi. Câu chuyӋn của tôi đúng là có “đụng chạm” đến tất cả nhӳng đề tài kể trên, song đӝc giả nào muốn tìm hiểu sâu hơn về chúng ắt phải tìm đӑc nhӳng cuốn sách khác. Cuốn sách của tôi chӍ sӱ dụng nhӳng đề tài đó như nhӳng mảnh ghép của mӝt bức tranh, cố ghép chúng lại để chúng ta có thể thấy đưӧc mӝt bức tranh đầy đủ về mӝt nét quan trӑng nhưng chưa đưӧc hiểu đúng trong lӏch sӱ hiӋn đại Mӻ. Robert J. Samuelson Ngày 30 tháng 5 năm 2008 1. LỊCH SỬ Đà MẤT I Lӏch sӱ là nhӳng gì mà ta nói đó là lӏch sӱ. Nếu bạn yêu cầu mӝt nhóm các hӑc giả kể tên nhӳng mốc quan trӑng nhất của câu chuyӋn về nưӟc Mӻ trong nӱa thế kӹ qua thì hӑ sẽ liӋt kê mӝt vài hay toàn bӝ nhӳng sӵ kiӋn sau đây: chiến tranh ViӋt Nam; phong trào đấu tranh đòi quyền công dân; các cuӝc ám sát tәng thống John Kennedy, thưӧng nghӏ sĩ Robert Kennedy và mục sư Martin Luther King; cuӝc cách mạng giӟi tính; sӵ phát minh ra vi mạch máy tính; cuӝc bầu cӱ tәng thống Ronald Reagan năm 1980; kết thúc Chiến tranh lạnh; sӵ phát minh ra Internet; sӵ xuất hiӋn của bӋnh AIDS; cuӝc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001; và hai cuӝc chiến ở Iraq (năm 1991 và 2003). Nhìn ra bên ngoài nưӟc Mӻ, các hӑc giả có thể kể thêm nhӳng sӵ kiӋn phát triển khác như sӵ trӛi dậy của Nhật Bản thành mӝt thế lӵc kinh tế lӟn vào thập niên 70 và 80; sӵ nәi lên của Trung Quốc thoát khӓi lӟp vӓ tӵ cô lập vào thập niên 80; và sӵ lan tràn của vũ khí hạt nhân (đến Trung Quốc, Ấn Đӝ, Pakistan và các quốc gia khác). Vậy nhưng trong bất kỳ danh sách nào cũng vắng bóng sӵ trồi sụt của mức lạm phát hai chӳ số ở Mӻ. Điều này quả là mӝt trường hӧp sơ suất to tát. Ngày nay chúng ta đã tiến đến giai đoạn cuối của mӝt chu kỳ kinh tế kéo dài gần nӱa thế kӹ bӏ chi phối bởi lạm phát ở cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Lạm phát lên xuống là mӝt trong nhӳng biến đӝng to lӟn trong thời đại của chúng ta, cho dù đó là mӝt biến đӝng bӏ lãng quên nhiều và bӏ hiểu sai lӋch. Tӯ năm 1960 đến 1979, lạm phát hàng năm ở Mӻ đã tăng tӯ mӝt mức không đáng kể là 1,4% lên đến 13,3%. Cho đến trưӟc năm 2001, nó đã giảm xuống còn 1,6%, gần bằng mức lạm phát năm 1960. Trong suốt giai đoạn này, viӋc trồi sụt của lạm phát đã gây ra mӝt tác đӝng mang tính bao quát nhất đối vӟi nhӳng thành công và thất bại của nền kinh tế - và còn hơn thế nӳa. Sӵ lên xuống của lạm phát đã đӏnh hưӟng, dù trӵc tiếp hay gián tiếp, cách người Mӻ cảm nhận về bản thân và xã hӝi; cách hӑ bӓ phiếu bầu và bản chất chính trӏ của hӑ; cách vận hành của các doanh nghiӋp và viӋc đối xӱ vӟi các công nhân của doanh nghiӋp đó; và cách mà nền kinh tế Mӻ gắn kết vӟi phần còn lại của thế giӟi. Mặc dù không ai tuyên bố rằng nhӳng tác dụng phụ của lạm phát là sức mạnh duy nhất gây ảnh hưởng đối vӟi quốc gia trong nhӳng thập kӹ vӯa qua, nhưng chúng lại có giá trӏ hơn nhiều so vӟi nhiều người vẫn nghĩ. - bao gồm hầu hết nhӳng nhà sӱ hӑc, kinh tế hӑc và các nhà báo - Không thể giải mã kӹ nguyên của chúng ta, hay nghĩ mӝt cách hӧp lý hơn về tương lai, mà không hiểu thấu về cuӝc Đại lạm phát và hậu quả của nó. Giá cả әn đӏnh mang đến mӝt cảm giác an toàn. Nó giúp xác đӏnh mӝt trật tӵ xã hӝi và chính trӏ đáng tin cậy, kiểu như nhӳng đường phố an toàn, nưӟc uống trong sạch và nguồn điӋn әn đӏnh. Người ta chӍ để ý đến tầm quan trӑng của nó khi đã đánh mất nó. Và người Mӻ đã hết sức kinh hoàng khi nó mất đi vào nhӳng năm 1970. Hầu như trong suốt nhӳng năm này, tăng giá rӝng khắp trở thành phә biến, tӵa như mӝt cơn mưa dầm chẳng bao giờ tạnh. Đôi khi đó chӍ là cơn mưa tí tách, đôi khi lại ồ ạt như trút nưӟc. Nhưng hầu như lúc nào cũng mưa. Hết tuần này đến tuần khác, người ta không thể biết đưӧc chi phí cho rau cải, sinh hoạt thiết yếu, đồ dùng thiết bӏ, giặt khô, kem đánh răng và bánh pizza. Người ta không thể tiên đoán đưӧc liӋu lương bәng của hӑ có thể theo kӏp mức tăng giá hay không. Không ai có thể hoạch đӏnh đưӧc gì, nhӳng khoản tiết kiӋm thì lại gặp rủi ro và dường như không thể kiểm soát đưӧc lạm phát. Giai đoạn lạm phát là mӝt trải nghiӋm vӥ mӝng và xáo đӝng sâu sắc đã ngấm ngầm gặm nhấm niềm tin của người Mӻ vào tương lai và vào nhӳng nhà lãnh đạo của hӑ. Hậu quả lạm phát lan rӝng khắp nơi. Nếu không có lạm phát hai chӳ số, Ronald Reagan hầu như chắc chắn không thể đưӧc bầu làm tәng thống vào năm 1980 - và phong trào chính trӏ bảo thủ mà ông khơi gӧi có lẽ sau này mӟi xuất hiӋn hay cũng có thể hình dung đưӧc rằng sẽ không bao giờ xuất hiӋn. Không thể chối cãi là lạm phát cao đã làm mất cân bằng nền kinh tế, dẫn đến bốn cuӝc suy thoái (vào nhӳng năm 1969-70, 1973-75, 1980 và 1981-82) vӟi tính khắc nghiӋt càng tăng; mức thất nghiӋp hàng tháng đạt tӟi đӍnh 10,8% vào cuối năm 1982. Lạm phát cao làm chậm đi viӋc nâng cao nhӳng tiêu chuẩn sống, biểu hiӋn qua mức tăng trưởng năng suất thấp hơn và đó cũng là nguyên nhân làm cho thӏ trường chứng khoán bӏ trì trӋ - chӍ số bình quân công nghiӋp Dow Jones năm 1982 đã không cao hơn năm 1965 - và đưa tӟi mӝt loạt nhӳng khủng hoảng nӧ ảnh hưởng đến nhӳng nông dân Mӻ, đến ngành công nghiӋp tín dụng và đến cả nhӳng nưӟc đang phát triển. Nếu di sản của lạm phát chӍ là như vậy, thì nó chӍ đáng chiếm mӝt chương lӟn trong bài tường thuật về hậu thế chiến II của Mӻ. Nhưng nó còn hơn thế nhiều. Lạm phát ở mức rất thấp - hay đưӧc gӑi là “thiểu phát” (disinflation) - dẫn đến nhӳng mức lãi suất thấp hơn, mà điều này lại làm giá cә phiếu cao hơn và, thật lâu sau đó là giá cả nhà đất cũng cao hơn. Thiểu phát này đã đẩy mạnh sӵ thӏnh vưӧng trong mӝt phần tư thế kӹ qua. Trong hai thập kӹ sau năm 1982, chu kỳ kinh doanh đã chậm lại nên đất nưӟc chӍ gánh chӏu hai cuӝc suy thoái tương đối êm dӏu (đó là vào nhӳng năm 1990-91 và năm 2001), kéo dài tәng cӝng mười sáu tháng. Thất nghiӋp hàng tháng cao nhất chӍ là 7,8% vào tháng 6/1992. Vì giá trӏ cә phiếu và nhà đất tăng lên, người Mӻ thấy mình giàu có hơn và bắt đầu vay nӧ hoặc chi tiêu nhiều hơn trong phần thu nhập thường xuyên của hӑ. Và rồi là mӝt cuӝc mua sắm lu bù đã làm mức tiết kiӋm giảm xuống. Thâm hụt thương mại - bӏ khích đӝng bởi cơn đói khát xe hơi, máy tính, đồ chơi, giày dép của người Mӻ - đã tăng vӑt. Mӝt cách nghӏch lý, sӵ thӏnh vưӧng kéo dài này cũng góp phần sản sinh tính tӵ mãn và bất cẩn, cái cuối cùng đạt đến đӍnh điểm là mӝt loại mất cân bằng về kinh tế và tình trạng hӛn loạn tài chính khác, tấn công mạnh mẽ vào nền kinh tế trong năm 2007 và 2008. Chính cái niềm tin vào phát triển kinh tế dài hạn đã phá hủy sӵ phát triển kinh tế. Đưӧc châm ngòi bởi sӵ sụt giảm lạm phát và các mức lãi suất, hành trình đi lên của giá cә phiếu và sau đó là của giá trӏ nhà đất đã khiến giӟi đầu cơ hoa mắt. Người ta bắt đầu tin rằng giá cә phiếu và nhà đất chӍ có thể tăng mà thôi. Mӝt khi cái quan niӋm đӝc hại này đưӧc hình thành, thì giá cả tăng đến nhӳng mức cao hết sức ngӟ ngẩn và nguy hiểm, dẫn đến nә tung bong bóng cә phiếu vào năm 2000 và bong bóng nhà đất vào năm 2007. Cho vay mua nhà đưӧc mở rӝng cho nhӳng cá nhân có đảm bảo tín dụng thấp mà lại ít hay thậm chí là không đòi hӓi trả góp trưӟc mӝt phần. Sӵ suy đoán rằng nhà đất luôn tăng giá đã đem đến mӝt cảm giác an toàn giả tạo cho nhӳng người cho vay và hӧp lý hóa nhӳng tiêu chuẩn về tín dụng mà, vӟi sӵ nhận thức muӝn màng, có vẻ như là thất bại rõ ràng. Khi nhӳng khoản vay thế chấp nhà dưӟi chuẩn này bắt đầu vӥ nӧ ở số lưӧng lӟn, viӋc bùng nә xây dӵng nhà cӱa chấm dứt, giá nhà đất giảm, các đӏnh chế tài chính - như ngân hàng, các ngân hàng đầu tư - đã chӏu nhӳng tәn thất to lӟn ở chứng khoán thế chấp nhà này, và nền kinh tế đã chạm vào (hay lảo đảo bên bờ của) mӝt cuӝc suy thoái khác[1]. Điểm mấu chốt cho câu chuyӋn của chúng ta là: nhӳng vấn đề khó khăn hiӋn tại của nền kinh tế chính là mӝt hậu quả không đưӧc đánh giá đúng mức nӳa của lạm phát và sӵ suy giảm lạm phát sau đó. Nguyên nhân trӵc tiếp của sӵ sụp đә về vấn đề nhà đất nằm ở các thӵc hành cho vay lӓng lẻo; nhưng cái nằm phía sau và là đӝng lӵc của nhӳng thӵc hành lӓng lẻo này là nhӳng kỳ vӑng về giá cả bất đӝng sản liên tục tăng lên, đưӧc gieo mầm mống trong bối cảnh thiểu phát và mức lãi suất giảm. Vì thế điều này, cùng vӟi nhiều điều khác nӳa về hӋ thống kinh tế của chúng ta giờ đây đưӧc coi là hiển nhiên: Nhӳng mối liên hӋ vӟi lạm phát vẫn tồn tại ngay trưӟc mắt, nhưng đơn giản là chúng ta tӯ chối không muốn thấy chúng. Lấy ví dụ, xét thái đӝ các công ty đối xӱ vӟi công nhân. Trong nhӳng thập kӹ đầu sau Thế chiến II, chính phủ và doanh nghiӋp lӟn đã ngầm liên kết vӟi nhau. Chính phủ hứa kiểm soát chu kỳ kinh doanh, để giảm thiểu hay loại bӓ hoàn toàn nhӳng cuӝc suy thoái. Các công ty lӟn thì hứa nâng nhӳng tiêu chuẩn đời sống lên và đảm bảo về mặt kinh tế cho công nhân - như là công viӋc әn đӏnh, bảo hiểm y tế đầy đủ và lương hưu chắc chắn. Nhưng khi lạm phát lấn át sӵ cam kết của chính phủ trong viӋc kiểm soát chu kỳ kinh doanh, thì thoả thuận xã hӝi ngầm đó bӏ tan vӥ. Thập niên 1980 trở thành mӝt bưӟc ngoặt về hành vi công ty đã bӏ thay đәi. Nếu các công ty không thể tăng giá sản phẩm, hӑ phải (và đã làm) cắt giảm chi phí. Cắt giảm nhân viên, “tái cơ cấu” và cho nghӍ hưu sӟm trở nên phә biến hơn và có thể chấp nhận đưӧc. “Chủ nghĩa tư bản”, mӝt tӯ về cơ bản đã biến mất trong ngôn ngӳ thường dùng trong nhӳng thập kӹ đầu sau chiến tranh, lại quay trở lại trong vốn tӯ vӵng phә thông. Kết quả là mӝt nghӏch lý: Mặc dù toàn bӝ nền kinh tế phát triển әn đӏnh hơn sau năm 1982, nhưng cảm giác bất an của tӯng người lại tăng lên, bởi các công ty ít bӏ ràng buӝc bởi nhӳng quy tắc của nhӳng thập kӹ đầu sau chiến tranh về viӋc bảo đảm công viӋc và bảo vӋ công nhân tránh khӓi nhӳng thay đәi đӝt ngӝt. “Chủ nghĩa tư bản mӟi” đã phần nào khống chế lạm phát bằng cách tạo ra mối lo lắng nhằm giӳ cho tiền lương và giá cả trong tầm kiểm soát. Nó cũng hứng chӏu sӵ bất bình đẳng lӟn lao hơn - khoảng cách giӳa giàu, nghèo và trung lưu ngày càng tăng. Hay xét về “toàn cầu hóa” - sӵ hӝi nhập dày đặc của các nền kinh tế quốc gia thông qua các dòng lưu chuyển thương mại, tài chính và thông tin. Mặc dù chúng ta không muốn gắn chúng vӟi lạm phát, nhưng chúng ta vẫn phải làm như thế. Nếu nền kinh tế Mӻ vẫn cứ giӳ nguyên như nhӳng năm 1970, bӏ bao vây bởi cuӝc lạm phát dường như rất khó chӳa và nhӳng cuӝc suy thoái tӋ hại chưa tӯng thấy, thì viӋc Mӻ ủng hӝ toàn cầu hóa mӝt cách đầy tӵ tin vào thập niên 1980 và 1990 đã không xảy ra. Nhӳng nhà lãnh đạo nưӟc Mӻ lẽ ra đã không nӛ lӵc đạt toàn cầu hóa; và thậm chí nếu như hӑ có cố gắng đi nӳa, thì cũng không ai lắng nghe hӑ. Sӵ khôi phục nền kinh tế әn đӏnh và tràn đầy sức sống, xuất phát tӯ thiểu phát, đã cho phép nhӳng nhà lãnh đạo nưӟc Mӻ theo đuәi nhӳng chính sách của chủ nghĩa quốc tế. Nhӳng đӝng lӵc đó cũng phả mӝt luồng sinh khí mӟi vào đồng đôla đưa vai trò của nó lên thành loại tiền tӋ toàn cầu quan trӑng nhất đưӧc sӱ dụng trong thương mại quốc tế. ViӋc các công ty và các cá nhân nghĩ rằng hӑ có thể dӵa vào đồng đôla để mua bán hàng hóa cũng như xem đôla là “tài sản dӵ trӳ” đã thúc đẩy cả thương mại lẫn tài chính xuyên quốc gia. Lạm phát là mӝt ví dụ cho thấy nền kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến hầu hết mӑi thứ khác và người ta không thể phác hӑa thӵc tế câu chuyӋn về nưӟc Mӻ trong nӱa thế kӹ qua mà không nhìn nhận vai trò trung tâm của lạm phát. Phần lӟn nhӳng điều chúng ta xem là bình thường và theo thông lӋ thì hoặc là có đưӧc do trải nghiӋm lạm phát hoặc là bӏ lạm phát chi phối. Cuӝc mua sắm lu bù, sӵ tái xuất của chủ nghĩa tư bản và toàn cầu hóa đưӧc tăng cường là ba ví dụ cho điều đó. Nhưng giờ đây chúng ta đang đi đến quãng cuối của giai đoạn này. ChӍ riêng viӋc chu kỳ kinh tế sắp tӟi sẽ đem lại cho chúng ta điều gì vẫn là mӝt vấn đề còn bӓ ngӓ mà, ở mӝt mặt nào đó, sẽ liên quan đến viӋc giải quyết nhӳng hậu quả của rất nhiều trong vô số tác đӝng của Đại lạm phát. Cuӝc mua sắm lu bù đã chấm dứt. Cái gì sẽ thế chӛ nó? Toàn cầu hóa có vẻ như đang đe dӑa đến nhiều người Mӻ, nhưng chủ nghĩa tư bản mӟi cũng đang đe dӑa hӑ vậy. LiӋu chúng ta sẽ hưӟng nhӳng nguồn lӵc này là lӧi thế của chúng ta hay lại thấy chính chúng ta bӏ chúng hạ gục? LiӋu chúng ta có thể duy trì viӋc tăng trưởng và әn đӏnh kinh tế ở nhӳng mức có thể chấp nhận đưӧc hay không? Tình trạng hӛn loạn kinh tế hiӋn tại báo hiӋu mӝt kӹ nguyên mӟi vӟi nhӳng mối đe dӑa của riêng nó đối vӟi sӵ әn đӏnh và nhӳng tiêu chuẩn sống. Ở phần cuối của quyển sách này, tôi sẽ bàn về mӝt số các mối đe dӑa và đưa ra mӝt số đề nghӏ dùng để đáp lại nhӳng mối đe dӑa này ra sao. Nhưng mӝt kӹ nguyên mӟi khó lòng không liên quan đến Đại lạm phát. Ngưӧc lại, lӏch sӱ của nó nắm giӳ nhӳng bài hӑc quan trӑng cho tương lai. Mӝt trong số đó liên quan đến chính lạm phát. Khi quyển sách này đưӧc đem đi in, lạm phát đã tăng lên ở mӝt mức không lấy gì làm thoải mái cho lắm là khoảng 5%, do bӏ kích thích mạnh mẽ bởi giá dầu và thӵc phẩm cao hơn xuất phát tӯ các thӏ trường quốc tế. Không thể nói đưӧc liӋu nó còn tăng lên nӳa hay giảm xuống trong phạm vi không đáng kể tӯ 0 đến 2% (đây là mức mà hầu hết nhӳng nhà kinh tế hӑc đều tin rằng nhӳng thay đәi về giá cả nhẹ đến nӛi mà chúng hầu như không ảnh hưởng đến hầu hết người Mӻ hay các doanh nghiӋp). Nhӳng gì rõ ràng nhất chính là sӵ tương đồng giӳa tình huống khó khăn hiӋn tại của chúng ta và tình huống đã dẫn tӟi lạm phát cao hơn vào nhӳng năm 1960 và 1970. Lúc bấy giờ, bắt đầu là mӝt “chút xíu” lạm phát dường như không đe dӑa lắm; nhưng mӝt chút dẫn đến thêm mӝt chút, và thêm mӝt chút lại dẫn đến nhiều. Chúng ta đang đối diӋn vӟi mӝt tình huống tiến thoái lưӥng nan kéo dài: Chúng ta phải chӏu đӵng sӵ đau đӟn hiӋn tại đến đâu để dẫn đến thành tӵu tương lai? Cách dễ dàng nhất để vô hiӋu hóa lạm phát ngày càng tăng là cho phép (hay thậm chí lôi kéo) mӝt cuӝc suy thoái nhằm hãm lại đà tăng của tiền lương và giá cả thông qua mức thất nghiӋp cao hơn, nhu cầu về hàng hóa và dӏch vụ ít hơn và thặng dư nhiều hơn về năng lӵc sản xuất không dùng đến. Nhưng hầu như không ai thích thú gì vӟi mӝt cuӝc suy thoái như thế, và lúc nào cũng có nhӳng sức ép khắc nghiӋt của công chúng để tránh suy thoái hay tối thiểu hóa tính nghiêm trӑng của nó. Vào nhӳng năm 1960 và 1970, phản ứng của chúng ta đối vӟi tình huống tiến thoái lưӥng nan này đã chứng tӓ là sai lầm và thất sách. Sӵ chấp nhận nӛi đau của chúng ta hiӋn tại hời hӧt đến nӛi nó chẳng dẫn đến thành tӵu tương lai mà lại gây ra nhӳng nӛi đau chưa tӯng thấy cho tương lai. Lạm phát tăng lên; các cuӝc suy thoái càng tӋ hại hơn. Trong giai đoạn đầu của chúng, cái giá mà xã hӝi và kinh tế phải trả cho lạm phát không phải là thấy liền đưӧc. Thật vậy, nhӳng tác đӝng đầu tiên thường là dễ chӏu. Người dân và các công ty tin rằng thu nhập của hӑ đã cao hơn. Hӑ đang chӏu “ảo giác tiền tӋ” - sӵ ảo tưởng rằng có đưӧc lương bәng và lӧi nhuận cao hơn biểu hiӋn qua sức mua đạt đưӧc trên thӵc tế, trong khi thӵc ra chúng chӍ thể hiӋn nhӳng tác đӝng phụ lӯa đảo của lạm phát. Lúc mà người dân thức tӍnh ra, thì lạm phát đã đảm bảo đưӧc mӝt cơ sở ban đầu vӳng chắc trong hành vi về tiền lương và giá cả rất khó đảo ngưӧc. Tâm lý lạm phát và mӝt sӵ tăng lên theo đường xoắn trôn ốc của tiền lương - giá cả đã bám chặt. Bài hӑc tӯ Đại lạm phát là lạm phát phải bӏ bóp chết tӯ trong trứng nưӟc: Chúng ta càng chờ lâu thì nó càng trở nên nặng nề. Bài hӑc này đáng đưӧc chú ý đến, nhưng vì nhӳng ký ức về Đại lạm phát phai nhạt dần - đối vӟi nhiều người Mӻ, nó thậm chí còn không tồn tại - nên nó có thể mất dấu vết. Sӵ nguy hại của lạm phát dường như ít đe dӑa hơn, và chӍ qua viӋc lại chӏu đӵng chúng thì chúng ta mӟi nhӟ lại đưӧc sức mạnh nguy hại của chúng. Mӝt trong nhӳng điều hӳu ích của quá khứ là tránh nhӳng sai lầm có thể ngăn chặn đưӧc; nhưng để làm điều đó, chúng ta phải hiểu lӏch sӱ cho đúng. Và điều này mang lại cho người Mӻ mӝt bài hӑc rӝng lӟn hơn: cách tôi luyӋn và kiểm soát lòng nhiӋt thành quốc gia để tӵ tiến bӝ. Đó là mӝt ưu điểm mạnh mẽ của người Mӻ nhưng lại là ưu điểm mà, thӍnh thoảng, lại đẩy chúng ta vào rắc rối to. Chủ nghĩa hoài nghi trưӟc nhӳng lời mời mӑc đầy cám dӛ vì mӝt xã hӝi tốt đẹp hơn không phải lúc nào cũng là bi quan hay bảo thủ; mà thường thì nó là hiӋn thӵc khôn ngoan. Vì lạm phát hai chӳ số không phải là mӝt hành đӝng tӵ nhiên hay là mӝt tai nạn ngẫu nhiên. Đó là sai lầm lӟn nhất về chính sách nӝi đӏa của chính quyền liên bang tӯ Thế chiến II: hậu quả dai dẳng của nhӳng chính sách kinh tế vӟi ý đӏnh tốt, đưӧc phát triển bởi mӝt số các nhà kinh tế hӑc ưu tú nhất của quốc gia. Nhӳng chính sách này hứa hẹn kiểm soát chu kỳ kinh tế nhưng kết quả là làm cho nó tӋ hại hơn. Toàn bӝ thời kỳ này làm người ta có sӵ so sánh vӟi chiến tranh ở ViӋt Nam, mà đây là sai lầm to lӟn nhất về chính sách đối ngoại ở kӹ nguyên sau Thế chiến II.[2] Nhӳng điều tương tӵ thì nhan nhản. Cả hai đều xuất phát tӯ nhӳng ý đӏnh tốt - mӝt cái thì nhằm bảo vӋ quyền lӧi nưӟc Mӻ; cái kia thì tăng sӵ thӏnh vưӧng. Cả hai đều đưӧc nhӳng nhà trí thức ủng hӝ, cho dù là các nhà kinh tế hay các nhà lí luận chủ trương chiến tranh hạn chế. Cả hai đều phải chӏu sӵ quá sức và quá đơn giản; nhӳng sӵ kiӋn chính liên tục làm tiêu tan nhӳng kỳ vӑng. Nhưng có mӝt khác biӋt rất lӟn. Mӝt cái (chiến tranh ViӋt Nam) chiếm mӝt phần lӟn trong ký ức lӏch sӱ. Còn cái kia (lạm phát) thì lại không. II Như tôi sӱ dụng cụm tӯ này, “Đại lạm phát” đề cập đại thể đến giai đoạn tӯ giӳa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1980, khi lạm phát tăng tӯ mức ít ӓi đến nhӳng mức có hai chӳ số. Tôi đã trải qua nhӳng năm tháng này trưӟc tiên vӟi tư cách là mӝt phóng viên báo và sau đó là người phụ trách mӝt chuyên mục cho tờ Newsweek và tờ The Washington Post, viết về nhӳng sӵ kiӋn đã xảy ra. Lạm phát không chӍ là viӋc tăng lên của mӝt vài loại giá cả - ví dụ như là xăng hay quần áo. Lạm phát nói chung là sӵ tăng lên của hầu hết các loại giá cả. Trong bất kỳ nền kinh tế hiӋn đại nào cũng không thể đo lường đưӧc lạm phát thӵc. Có quá nhiều hàng hóa và dӏch vụ, và hầu hết mӑi người đều mua mӝt hӛn hӧp các loại hàng hóa có khác nhau đôi chút; và do đó mà trải nghiӋm về lạm phát cũng có đôi chút khác nhau. Điều tốt nhất có thể làm đưӧc là khảo sát giá cả của nhiều thứ mà người ta mua. Mӛi tháng, Cục Thống kê lao đӝng (mӝt bӝ phận của Bӝ Lao đӝng) lại cho hàng trăm nhân viên thu thập dӳ liӋu đến 30.000 đӏa điểm để ghi lại giá cả của khoảng 80.000 mặt hàng - bao gồm xà phòng, trứng, xe hơi, máy tính cá nhân, hӑc phí, xăng, thuốc tây - và 5.000 loại phí cho thuê. Sau đó giá cả đưӧc tính bình quân gia quyền theo thói quen tiêu thụ của người dân, đưӧc tiết lӝ trong nhӳng cuӝc khảo sát khác và trong nhật ký chi tiêu của khoảng 30.000 cá nhân. Kết quả này đưӧc gӑi là ChӍ số giá tiêu dùng, hay là CPI (Consumer Price Index), đây chính là chӍ số đo lạm phát đưӧc biết đến nhiều nhất của chính phủ.[3] Hầu hết tất cả nhӳng tham chiếu đến lạm phát trong quyển sách này đều sӱ dụng CPI, chính xác bởi vì chӍ số này hoàn toàn quen thuӝc.[4] Để hiểu tại sao lạm phát lại mang tính then chốt đến thế trưӟc tiên cần phải bác bӓ nhӳng lập luận chống lại quan điểm này. Vӟi sӵ suy xét thông thường, người ta đã “phong thánh” cho nhӳng phát triển và sӵ kiӋn khác như là nhӳng thế lӵc kinh tế thống trӏ trong thời đại của chúng ta. Máy tính cá nhân và Internet là nhӳng lӵa chӑn ưa thích. Tương tӵ là toàn cầu hóa cũng như sӵ tồn tại dai dẳng và bưӟng bӍnh của thâm hụt ngân sách đáng kể của Mӻ. Người ta cũng thường tranh luận rằng lạm phát thӵc ra không phải là mӝt sӵ kiӋn đӝc lập. Phần nào nó là kết quả tӵ nhiên của nhӳng sӵ kiӋn khác, chẳng hạn như chiến tranh ở ViӋt Nam và giá dầu tăng trên toàn thế giӟi vào nhӳng năm 1970. Vì thế, lạm phát thӵc sӵ không đáng để người ta cân nhắc đến chӍ riêng bản thân nó; đơn giản nó chӍ là mӝt khía cạnh của nhӳng phần lӏch sӱ khác này. Tất cả nhӳng quan điểm này dường như hӧp lý. Nhưng khi đưa ra xem xét, thì chúng lại kém hӧp lý hơn. Không thể chối cãi rằng máy tính và Internet đã thay đәi đời sống hàng ngày ở vô số khía cạnh. Nhưng nhӳng sӵ biến đӝng công nghӋ là điӋp khúc liên tục trong trải nghiӋm của người Mӻ, và người ta cũng không rõ liӋu biến đӝng mӟi nhất này có tầm quan trӑng hơn nhiều nhӳng biến đӝng trưӟc nó hay không. Trong nhӳng thập kӹ sau cuӝc nӝi chiến, công nghiӋp hóa ở quy mô lӟn (luyӋn thép, tinh luyӋn đường và dầu, sản xuất thuốc lá, xay bӝt) tạo ra nhӳng thành phố khәng lồ và dần dần biến Mӻ tӯ xã hӝi nông thôn sang thành thӏ. LiӋu Internet có quan trӑng hơn điều này hay không? Hay có hơn đưӧc sӵ sản xuất hàng loạt của xe ô tô đã đẻ ra sӵ ngoại ô hóa? Hay có hơn đưӧc sӵ xuất hiӋn của điӋn thoại, truyền thanh và truyền hình đã làm thay đәi hẳn lĩnh vӵc thông tin liên lạc đại chúng và giải trí? Nhӳng biến đӝng công nghӋ này và nhӳng cái khác nӳa cạnh tranh vӟi - và có lẽ là vưӧt hơn - Internet và máy tính cá nhân ở tác đӝng xã hӝi và kinh tế của chúng. Còn về toàn cầu hóa, có vẻ nó đӏnh nghĩa nền kinh tế sắp tӟi hơn là nền kinh tế đã qua. Cho dù sӵ phụ thuӝc lẫn nhau trên thế giӟi ngày càng tăng, nhưng nhà nưӟc đӝc lập vẫn chi phối đời sống kinh tế, đặc biӋt là đối vӟi nhӳng xã hӝi lӟn như Mӻ. Hãy xem xét Mӻ, Châu Âu, Nhật và các nưӟc phát triển khác, tất cả đều tiếp cận đến nhӳng công nghӋ và thӵc tiễn quản lý giống nhau. Nếu toàn cầu hóa lại áp đảo đến thế, vậy thì tất cả nhӳng nền kinh tế này sẽ đồng nhất, hay gần như thế; tuy nhiên chúng lại không phải thế. HiӋu quả kinh tế và các tiêu chuẩn sống của các nưӟc này khác nhau ở nhiều phương diӋn cốt lõi, bởi vì nền văn hóa, lӏch sӱ, giá trӏ, chính trӏ và các chính sách kinh tế của chúng khác nhau. Toàn cầu hóa chӍ là mӝt nguồn lӵc bắt đầu hoạt đӝng. Nó điều khiển sӵ chú ý của chúng ta chủ yếu là do nó có vẻ mӟi mẻ. Mӝt lời cảnh báo tương tӵ gắn vӟi nhӳng thâm hụt ngân sách của Mӻ. Tӯ đầu thập niên 60, ngân sách đã nằm trong tình trạng thâm hụt chӍ trӯ có năm năm (1969 và tӯ 1998 đến 2001). Tuy thế, khoản nӧ liên bang - số tích lũy của tất cả nhӳng khoản thâm hụt hàng năm của nhӳng năm qua - hiӋn nay thӵc sӵ nhӓ hơn so vӟi thời kỳ kết thúc Thế chiến II (tính trên tӹ lӋ so vӟi quy mô của nền kinh tế).[5] Mối đe dӑa thӵc sӵ về ngân sách là nằm ở tương lai, khi nhӳng chi phí cho thế hӋ bùng nә dân số nghӍ hưu có thể tạo ra nhiều mức thuế cao hơn, thâm hụt, hay cả hai. Còn lập luận cho rằng lạm phát cao là sӵ lan tràn không may của cuӝc chiến ở ViӋt Nam và sӵ dâng lên liên tục của giá dầu trong nhӳng năm 1973-73 và 1979-80 thì sao? Trong cách nói này, lạm phát không phải chủ yếu là mӝt thất bại của chính sách chính phủ hay lý thuyết kinh tế. Nó là thiӋt hại mà người dân phải gánh chӏu tӯ nhӳng sӵ kiӋn khác và do đó không đáng phải chú ý đến nhiều. Thoạt nghe cũng có vẻ có lý. Trong nhӳng năm 1960, người ta nói rằng, chi tiêu thời chiến tạo ra mӝt hiӋu ứng nhà kính về lạm phát mang tính cә điển: quá nhiều nhu cầu gây áp lӵc lên quá ít cung. Lương và giá cả đều tăng. Sau đó, các tập đoàn dầu mӓ toàn cầu (OPEC, tә chức các nưӟc xuất khẩu dầu) lại giáng mӝt đòn thiӋt hại mӟi. Nhưng nhӳng quan điểm này, cho dù là hӧp lý, đều bӏ bác bӓ mӝt cách dễ dàng. Nếu như ViӋt Nam là nguyên nhân chính của lạm phát, thì lạm phát lẽ ra phải giảm xuống khi chiến tranh bӟt dần (đó là nhӳng gì đã xảy ra sau chiến tranh Triều Tiên). Nó đã không hạ xuống. Và nếu dầu là nguyên nhân, thì năng lưӧng lẽ ra phải là tác nhân chính để lạm phát cao hơn. Và cũng không phải như vậy. Hãy xét mӝt vài số liӋu. Cùng vӟi CPI chuẩn, chính phủ cũng công bố nhӳng chӍ số riêng biӋt mà không tính đến năng lưӧng. So sánh hai loại chӍ số này sẽ cho thấy giá năng lưӧng cao hơn đã góp phần vào lạm phát chung nhiều như thế nào. Câu trả lời là “không nhiều lắm”. Năm 1973, trưӟc khi có ảnh hưởng hoàn toàn của “cú sốc về dầu” đầu tiên (xảy ra cuối năm), thì CPI tәng thể tăng lên mức 8,7% tӯ mức 3,3% năm 1971. Không tính đến giá dầu, thì mức tăng sẽ là 8,3%. Năm kế đó, CPI tăng 12,3%; không có năng lưӧng là 11,7%. Năm 1978 - trưӟc khi có “cú nhảy” ngoạn mục trong giá dầu - CPI tăng 9%, gần như gấp đôi so vӟi mức 4,9% năm 1976. Năm 1979, mức chung CPI là 13,3%; không có giá năng lưӧng thì nó vẫn là 11,1%. Các nghiên cứu kinh tế đã xác nhận điều mà nhӳng số liӋu thô sẵn có lúc đó chӍ ra. “Nhӳng lӝn xӝn ở thӏ trường dầu ... gây ra ảnh hưởng ít hơn nhiều so vӟi nhӳng gì mà người ta vẫn hằng nghĩ”, hai nhà kinh tế là Robert Barsky và Lutz Killian của trường Đại hӑc Michigan đã viết như thế.[6] Cũng như chuyӋn thần thoại, nhӳng điều này sống sót là do chúng có mӝt phần sӵ thật, và do chúng phù hӧp về chính trӏ cũng như về trí tuӋ. Chiến tranh ViӋt Nam quả thӵc đã làm cho lạm phát xấu đi. Mӟi vào đầu năm 1965, hai nhà kinh tế hӑc của tәng thống Johnson - Gardner Ackley, chủ tӏch Hӝi đồng cố vấn kinh tế, và Charles Schultze, lúc đó là giám đốc Cục ngân sách - đã kiến nghӏ tăng thuế nhằm làm giảm cầu.[7] Nhưng Johnson đã không đưa ra bất kỳ đề nghӏ nào, vì ông phӓng đoán (mӝt cách chính xác) rằng Quốc hӝi sẽ không thông qua. Hơn nӳa, Johnson muốn cả “súng và bơ”. Trong Thông điӋp Liên bang vào năm 1966, ông nói: “Tôi tin rằng chúng ta có thể tiếp tục mӝt “Đại xã hӝi”[8]trong khi vẫn tiến hành chiến tranh ở ViӋt Nam”. Ông sӧ rằng, đứng trưӟc mӝt đề nghӏ về viӋc tăng thuế, Quốc hӝi có thể cắt giảm chi tiêu đối vӟi nhӳng chương trình cải cách xã hӝi mӟi của ông. Cuối cùng khi Johnson đề nghӏ đánh thêm 10% thuế thu nhập vào năm 1967, thì mãi đến năm 1968 mӟi đưӧc Quốc hӝi thông qua. [9] Cũng đúng khi cho rằng dầu thô đã làm lạm phát trầm trӑng thêm, nhưng lý do thật sӵ vì sao vai trò của dầu quá lӟn trong câu chuyӋn về lạm phát là nó đã gây ra mӝt vết sẹo về tinh thần của người Mӻ. Giӳa thời gian chiến tranh Yom Kippur[10]vào tháng 10/1973, các nhà cung cấp dầu ở Ả Rập đã cấm vận nhӳng chuyến tàu dầu đến Mӻ; quan trӑng hơn, lưӧng cung dầu trên toàn cầu thời điểm trưӟc chiến tranh cũng đã khá eo hẹp rồi, viӋc này đã đặt nhӳng nhà cung cấp dầu vào vӏ thế tăng giá. Tӯ 9/1973 cho đến 1/1974, giá dầu chính thức của Ả Rập Saudi tăng tӯ 2,59 đôla lên 11,65% đôla mӝt thùng. Dù giá xăng không tăng theo mӝt cách tương xứng (dầu nӝi đӏa vẫn nằm trong tầm kiểm soát), nhưng bưӟc vào tháng 3 giá xăng cũng đã tăng gần 40%. Người Mӻ đã bӏ sốc; đơn giản là hӑ không tài nào hiểu đưӧc làm sao mà mӝt thứ hết sức căn bản như là xăng lại có thể tăng lên nhanh chóng và không ngờ đến thế. Như Daniel Yergin đã thuật lại trong sách lӏch sӱ dầu mӓ của ông, cuốn The Prize[11]: Sӵ thiếu hụt (dầu) đã đánh vào nhӳng niềm tin căn bản về nguồn tài nguyên dồi dào vô tận, sӵ tin chắc đã bám rễ sâu trong bản tính và kinh nghiӋm của người Mӻ đến nӛi đại bӝ phận công chúng thậm chí còn không biết rằng, cho đến tận tháng 10/1973, nưӟc Mӻ đã không nhập khẩu đưӧc thùng dầu nào cả. Nhưng chẳng hiểu sao, chӯng vài tháng sau đó, nhӳng người chạy xe ô tô đã thấy giá bán lẻ xăng đã tăng lên 40% - và vì nhӳng lý do mà hӑ không tài nào hiểu đưӧc. Chưa tӯng có sӵ thay đәi giá cả nào lại có nhӳng tác đӝng rõ ràng, trӵc tiếp và sâu sắc đến thế như sӵ thay đәi giá xăng. Nhӳng người đi xe ô tô không chӍ móc thêm hầu bao để đә đầy bình xăng của hӑ, mà hӑ còn đi qua nhӳng trạm xăng mà bảng giá mӝt gallon[12] xăng cũng tăng thường xuyên mӛi ngày mӝt lần.[13] Mà đâu chӍ là chuyӋn giá cả. Khi chính phủ cố gắng phân bә nguồn nhiên liӋu khan hiếm, ở các trạm xăng xuất hiӋn nhӳng hàng xe rồng rắn vì các tài xế sӧ bӏ thiếu xăng. Vào đầu năm 1974, tờ The New York Times tường thuật lại rằng “người dân ở các khu vӵc đô thӏ ngày càng trở nên nghi ngờ và giận dӳ, bấp bênh, xảo quyӋt và thường là bạo lӵc... tất cả là do thiếu xăng”. Ở Gary, bang Indiana, mӝt khách hàng đã bắn và giết chết mӝt chủ trạm xăng sau khi chen ngang hàng và do đó mà bӏ tӯ chối phục vụ. “Nhӳng con người này giống như nhӳng con thú đang lùng sục thức ăn”, mӝt thương nhân đã bình luận như thế. “Nếu bạn không thể bán xăng cho hӑ, hӑ sẽ dӑa là cho bạn ăn đòn, đập phá trạm xăng của bạn, và cho xe cán bạn”. Câu chuyӋn tӵ nó cũng lặp lại vào năm 1979-80 khi xảy ra cuӝc lật đә vӏ “shah”[14]của Iran và cuӝc chiến Iran-Iraq đã tạo điều kiӋn cho giá dầu thô tăng tӯ 15 đôla/thùng lên đến mức đӍnh điểm là gần 40 đôla/thùng. Gần như không ai thắc mắc là liӋu giá xăng cao - và các hàng xe rồng rắn chờ đә xăng - có là biểu tưӧng của lạm phát trong tâm trí của dân chúng hay không.[15] Đә lӛi cho mӝt cuӝc chiến không đưӧc lòng dân hay cho nhӳng người ngoại quốc không đưӧc ưa thích đã gây ra lạm phát là ngụy trang mӝt thӵc tế không mấy tốt đẹp: Thủ phạm chính là nhӳng chính sách kinh tế tồi của chúng ta. Trong toàn bӝ lӏch sӱ Mӻ, cuӝc lạm phát này không có tiền lӋ nào có thể so sánh vӟi nó. Nhӳng cuӝc lạm phát đӝt ngӝt xuất hiӋn trưӟc đó, hầu hết luôn xảy ra trong thời kỳ chiến tranh khi chính phủ in thêm càng lúc càng nhiều tiền để chi tiêu cho súng ống, lính chiến, tàu bè và đạn dưӧc. Dòng tiền mặt ồ ạt đã làm cho giá tăng lên theo như công thức truyền thống của tất cả nhӳng cuӝc lạm phát lӟn: Quá nhiều tiền theo đuәi quá ít hàng hóa. ViӋc in tiền giấy không giӟi hạn trong Cuӝc chiến giành quyền đӝc lập của Mӻ bởi cả các tiểu bang và chính phủ quốc gia khơi nguồn cho viӋc quy đӏnh trong Hiến pháp; nhӳng nhà lập quốc Mӻ muốn ngăn chặn sӵ tái diễn điều này bằng cách điều tiết tiền tӋ. Nhӳng lạm phát khác trong thời chiến - sau cuӝc Nӝi chiến Mӻ và, ở mӝt mức đӝ ít hơn nhiều, Thế chiến I, II và chiến tranh Triều Tiên - đã chấm dứt khi chiến tranh chấm dứt. Nhӳng gì xảy ra vào thập niên 1960 và 1970 thì khác hẳn. Lạm phát thời bình bӏ kéo dài nhất của Mӻ là tác đӝng phụ không lường trưӟc đưӧc của nhӳng chính sách kinh tế nhằm làm giảm thất nghiӋp và chấm dứt chu kỳ kinh tế. Lạm phát này là mӝt vết thương tӵ gây ra cho bản thân mình, do hy vӑng quá nhiều và tӵ tin trí tuӋ quá mức. Năm 1962, mӝt thanh sôcôla Hershey giá 4 xu, hamburger 28 xu, tem hạng nhất 4 xu và mӝt chiếc Chevrolet là 2.529 đôla. Đến năm 1994, khi lạm phát bắt đầu bưӟc vào giai đoạn cuối của pha suy thoái hưӟng về nhӳng mức thấp của năm 1950, thì thanh Hershey giá 75 xu, tem 29 xu, hamburger 1,65 đôla và chiếc Chevrolet giá 19.495 đôla. Hầu như mӑi người và mӑi thứ đều bӏ ảnh hưởng. Chính trӏ và tâm lý phә biến đã phản ứng lại mӝt cách sâu sắc. Nền kinh tế vận hành theo cách khác hẳn. Mӛi phát triển trong số này có thể đưӧc coi là tách biӋt, nhưng chúng rõ ràng là giao thoa nhau và tương tác nhau.[16] III Người Mӻ là nhӳng kẻ nghiӋn sӵ phát triển. Hӑ nghĩ rằng ngày hôm nay sẽ tốt hơn ngày hôm qua và rằng ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay. So vӟi hầu hết các xã hӝi khác, người Mӻ đặt niềm tin lӟn hơn vào “cơ hӝi” hay là dӏp để “tiến lên phía trưӟc”. Trong mӝt cuӝc thăm dò dư luận trên 44 quốc gia, người ta nêu ra cho nhӳng người tham gia đồng ý hay không đồng vӟi câu nói như sau: “Thành công trong cuӝc sống đưӧc quyết đӏnh khá nhiều bởi nhӳng điều nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi”. Số người Mӻ không đồng ý (khoảng 60%) nhiều hơn so vӟi nhӳng người đưӧc hӓi ở các quốc gia khác. Ví dụ ở Pháp là 60% đồng ý. Người Mӻ ghét cay ghét đắng lạm phát không chӍ đơn thuần vì nó làm cho cuӝc sống thêm bấp bênh. Người Mӻ ghét nó vì nó tấn công vào niềm tin phát triển của quốc gia: Nó thách thức quan điểm lạc quan của người Mӻ về chính hӑ và phó thác số phận của hӑ cho nhӳng lӵc lưӧng bên ngoài. Chúng ta dường như đánh mất sӵ đӏnh đoạt số phận của mình, ở cả khía cạnh cá nhân lẫn xã hӝi.[17] Năm 1979, Daniel Yankelovich - mӝt trong nhӳng nhà nghiên cứu hàng đầu về quan điểm công chúng thời hậu Thế chiến II - đã viết về cuӝc lạm phát này như sau: Đối vӟi công chúng ngày nay, lạm phát có tầm vóc thống trӏ mà không có vấn đề nào khác có đưӧc kể tӯ Thế chiến II. Đối thủ cận kề nhất là nhӳng nӛi sӧ hãi về Chiến tranh lạnh vào đầu nhӳng năm 1950 và có lẽ là nhӳng năm đã trải qua cuӝc chiến tranh ở ViӋt Nam. Nhưng lạm phát đã vưӧt quá nhӳng vấn đề đó trong mối quan tâm rӝng lӟn mà nó đã đánh thức giӳa nhӳng người Mӻ. Người ta cần phải quay trở lại nhӳng năm 1930 và cuӝc Đại Suy thoái mӟi tìm thấy mӝt vấn đề trong thời bình mà có thể làm cho đất nưӟc lo lắng và phiền muӝn nhiều đến thế. Tӯ quan điểm của công chúng, nó (có vẻ như) là mӝt vấn đề khó chӳa...[18] Vào lúc đó, đánh giá của Yankelovich là không phải bàn cãi. Người ta coi nó là hiển nhiên. Bây giờ, nó dường như đang gây ngạc nhiên - lạm phát mà gây khó chӏu hơn vấn đề ViӋt Nam hay vụ Watergate ư? Làm sao có thể như thế? Nhӳng sӵ kiӋn đau buồn đó đӑng lại sâu sắc trong ký ức của công chúng, trong khi lạm phát hầu như tan biến. Nhưng điều để phân biӋt lạm phát ngày càng tăng vӟi vụ Watergate, ViӋt Nam hay thậm chí là mӝt cuӝc suy thoái sâu sắc là nó đã tác đӝng trӵc tiếp đến hầu hết tất cả mӑi người: công nhân, nhӳng người mua hàng, nhӳng người nghӍ hưu, các doanh nghiӋp nhӓ, các doanh nghiӋp lӟn, chính phủ bang và đӏa phương, các tә chức phi lӧi nhuận, chính phủ quốc gia. Ai cũng phải trả tiền nhiều hơn. Có người thắng, kẻ thua tӯ lạm phát. Chu trình này dường như có vẻ đồng bóng và không thể đoán trưӟc đưӧc. Nó đe dӑa, hay có vẻ như đe dӑa, đến nhӳng tiêu chuẩn đời sống của người dân, nhӳng khoản tiết kiӋm của hӑ. Nó dường như bao bӑc tương lai trong mӝt màn sương mù dày đặc, không thể nào xâm nhập đưӧc. Dĩ nhiên, nhӳng nӛi sӧ hãi này không phải chӍ liên quan đến người Mӻ. Lenin nәi tiếng vì đã nói rằng cách tốt nhất để phá hủy mӝt xã hӝi tư bản là làm giảm giá trӏ đồng tiền của nó - thật vậy, đó có lẽ là cách tốt nhất để phá hủy bất kỳ mӝt xã hӝi nào, bởi vì lạm phát cao khiến mӝt chính phủ ở vào thế chống lại nhӳng công dân của nó. Trong mӝt quyển sách gần đây, nhà kinh tế hӑc Thụy Sĩ Peter Bernholz đã đếm đưӧc 29 cuӝc siêu lạm phát trong kӹ nguyên hiӋn đại (cơ bản là tính tӯ cuӝc Cách mạng tư sản Pháp), vӟi siêu lạm phát đưӧc tạm đӏnh nghĩa là nhӳng sӵ tăng giá ít nhất 50% hàng tháng. TӋ nhất trong số đó là cuӝc siêu lạm phát của Đức năm 1920- 23, tӹ lӋ tăng hàng tháng đạt tӟi mӝt mức không thể hiểu đưӧc là gần 30.000%. Ở nhӳng mức đӝ thấp hơn so vӟi con số vӯa nêu, lạm phát đã phá hủy cả nền kinh tế lẫn niềm tin của công chúng. Nhӳng phẩm chất cá nhân - như là chăm chӍ, cần kiӋm, hoạch đӏnh trưӟc - đều bӏ vô hiӋu hóa, bởi vì nhӳng khoản tiết kiӋm có thể chẳng còn giá trӏ và chăm chӍ trở nên vô nghĩa khi mà tiền lương mất giá nhanh đến thế. Người ta dành nhiều thời gian hơn để tiêu xài cho nhanh số tiền mà hӑ kiếm đưӧc - chứ không phải là làm viӋc và sản xuất - trưӟc khi tiền giấy trở nên hoàn toàn vô dụng. Ở Đức, người ta chở tiền trong nhӳng va li và xe cút kít. Mặc dù rốt cuӝc đồng tiền đã đưӧc әn đӏnh trở lại, nhưng nền dân chủ còn non yếu của nưӟc Đức (cӝng hòa Weimar) chưa bao giờ đạt đưӧc trӑn vẹn “niềm tin đã bӏ lạm phát làm cho mất mát quá nhiều của tầng lӟp trung lưu”, nhà sӱ hӑc Eric D. Weitz đã viết như thế.[19] Thậm chí ở nhӳng mức thấp hơn nhiều, lạm phát cũng làm mất phương hưӟng mӝt cách sâu sắc, bởi vì người ta sӧ rằng hӑ không thể theo kӏp giá cả (thậm chí nếu như hӑ thường làm đưӧc điều đó) và lo lắng rằng hӑ đang mất vӏ trí so vӟi người khác, nhӳng người có đưӧc sӵ bảo vӋ tốt hơn hoặc may mắn hơn. MӍa mai thay, chính nhà kinh tế hӑc người Anh John Maynard Keynes lại là người giải thích đúng nhất về nhӳng tác đӝng phá huӹ xã hӝi dần dần của lạm phát. (MӍa mai là nhӳng chính sách kinh tế dẫn đến lạm phát cao của Mӻ lại đưӧc gán cho ông. Keynes mất năm 1946, và vì thế mà chúng ta không bao giờ có thể biết đưӧc liӋu ông có xác nhận nhӳng chính sách đưӧc dán nhãn “theo kiểu Keynes” (Keynesian) hay không. Sӵ quan sát của Lenin cũng xuất phát tӯ Keynes; ở đây không có nguồn đӝc lập nào). Lúc đầu, Keynes tranh luận, lạm phát ngày càng tăng kích thích hoạt đӝng kinh tế bởi vì các doanh nghiӋp cho rằng giá cao hơn là dấu hiӋu nhiều nhu cầu hơn đối vӟi sản phẩm của hӑ. Các công ty đầu tư và thuê mưӟn lao đӝng nhiều hơn nӳa. Nhưng chẳng mấy chốc, lạm phát đã cắt đứt nhӳng mối quan hӋ kinh tế và xã hӝi đã đưӧc thiết lập. Quan điểm chính yếu của Keynes là: Khi giá trӏ của đồng tiền thay đәi, nó không thay đәi mӝt cách giống nhau đối vӟi tӯng cá nhân và mục đích. Số tiền nhận đưӧc và số tiền bӓ ra của mӝt người (thu nhập và chi tiêu) không đưӧc sӱa đәi theo mӝt tӹ lӋ cân xứng không đәi. Vì thế mӝt thay đәi về giá và khoản thưởng, khi đưӧc đo bằng tiền, nói chung ảnh hưởng các tầng lӟp khác nhau mӝt cách không đồng đều, chuyển đәi của cải tӯ người này sang người khác, ban tặng sӵ sung túc ở nơi này và sӵ túng quẫn tài chính ở nơi kia, và tái phân phối nhӳng đặc ân về vận mӋnh để làm hӓng ý đӏnh và làm thất vӑng sӵ trông đӧi.[20] Quan điểm của Keynes giải thích tại sao lạm phát cao lại đe dӑa đến xã hӝi của nhӳng tầng lӟp trung lưu đến thế. Nó làm cho sӵ tiến bӝ xã hӝi và kinh tế có vẻ như là mӝt trò sә xố - mӝt trò sә xố đưӧc liên tục chơi đi chơi lại để cho nhӳng người thắng cuӝc ở mӝt vòng có thể trở thành nhӳng kẻ thua cuӝc ở vòng kế tiếp. Thậm chí đối vӟi nhӳng người đang có viӋc làm, nó dường như cũng làm giảm đi hay phủ nhận sӵ kiểm soát ở chính số phận của hӑ. Người Mӻ càng lúc càng cảm nhận theo cách ấy. Năm 1973, CPI tăng 8,7%; nhưng tiền công tính theo giờ lại chӍ tăng 6,2%. Mӝt số lần bùng nә giá cả đã châm ngòi cho nhӳng phản đối của dân chúng. Vào đầu năm 1973, giá thӏt bò tăng vӟi tӹ lӋ nóng là 75%/năm (sӵ kiểm soát giá vӯa mӟi đưӧc dӥ bӓ). Người mua phản ứng bằng viӋc tẩy chay thӏt bò mӝt tuần; lưӧng thӏt bán ra tạm giảm xuống 2/3. Người Mӻ cố bảo vӋ chính mình khӓi lạm phát bằng cách thông qua cả nhӳng chính sách công cӝng lẫn viӋc tӵ bảo hiểm cá nhân. Vào năm 1975, khoảng 60% thӓa ưӟc công đoàn đã lập mối liên hӋ giӳa tiền lương vӟi chӍ số CPI - khi chӍ số CPI tăng, lương cũng tăng theo. Trưӟc đó (năm 1972), Quốc hӝi đã lập mối liên hӋ giӳa nhӳng trӧ cấp An sinh xã hӝi vӟi lạm phát. Nhiều gia đình đã mua nhà cӱa như là bảo hiểm lạm phát. Mӝt giáo sư kinh tế của Đại hӑc Harvard đã nói vӟi Peter Kilborn của tờ The New York Times rằng: “Tôi thấy điều đó trong nhӳng người trẻ tuәi quanh đây, nhӳng giảng viên cơ hӳu của trường. Hӑ đang mua nhà vӟi giá cao và thӵc hiӋn nhӳng khoản thế chấp lӟn. Hӑ sẽ không làm thế nếu như hӑ không trông mong vào lạm phát”.[21] Hầu hết người Mӻ đều nản chí. Tӯ năm 1935, cuӝc thăm dò dư luận quần chúng của viӋn Gallup đã thường xuyên hӓi nhӳng người đưӧc thăm dò rằng “Các bạn cho rằng vấn đề nào là quan trӑng nhất trong các vấn đề khó khăn hiӋn nay của đất nưӟc?” Trong chín năm tӯ 1973 đến 1981, “chi phí đắt đӓ” xếp vӏ trí thứ nhất hàng năm. Trong mӝt số cuӝc khảo sát, mӝt tӹ lӋ đáng ngạc nhiên 70% người đưӧc hӓi cho rằng nó là vấn đề to lӟn. Năm 1971, nó đứng hàng thứ hai sau vấn đề ViӋt Nam; năm 1972, nó phai nhạt đi chӍ bởi vì tiền lương và giá cả kiểm soát mӝt cách giả tạo và tạm thời giӳ giá trong tầm kiểm soát. Năm 1982 và 1983, nó đứng vӏ trí thứ hai sau thất nghiӋp (và không phải là ngẫu nhiên, mức thất nghiӋp cao xuất phát tӯ mӝt cuӝc khủng hoảng dӳ dӝi do lạm phát gây ra). Có mӝt thuật ngӳ để mô tả sӵ pha trӝn khó chӳa của lạm phát ở mức cao, tăng trưởng kinh tế khiêm tốn và mức thất nghiӋp cao - “lạm phát đình trӋ” (stagflation). Phóng viên chuyên mục Joseph Kraft là mӝt trong số nhӳng người đầu tiên sӱ dụng thuật ngӳ này. Trên tờ Washington Post ngày 25/2/1971, ông đã nêu lên rằng “cốt lõi của lạm phát đình trӋ là mӝt sӵ ì ạch ở hoạt đӝng kinh tế. Mức thất nghiӋp là 6%... Sӵ đi xuống (kinh tế) ít nhất mӝt phần là do nhӳng hành đӝng quản lý nhằm kiềm chế lạm phát. Nhưng sӵ tăng giá tiêu dùng lại không đưӧc cắt giảm nhiều. Năm 1969, chӍ số giá tiêu dùng tăng 6,6%. Năm ngoái chӍ số này tăng 5,5%”.[22] Giӳa các viên chức chính phủ, thӵc ra có mӝt thuyết đӏnh mӋnh đưӧc lan truyền phә biến về viӋc giảm lạm phát. Tәng thống Carter thường có vẻ tuyӋt vӑng về viễn cảnh này. Đầu năm 1980, khi đưӧc hӓi tại mӝt cuӝc hӑp báo về viӋc ông dӵ đӏnh làm gì đối vӟi lạm phát, ông trả lời rằng: “Đối vӟi tôi sẽ là sai lạc nếu nói vӟi bất kỳ ai trong số các anh rằng có mӝt giải pháp đối vӟi lạm phát. Như các anh biết, đây là mӝt vấn đề toàn cầu, lan tӓa khắp nơi cùng vӟi giá dầu đã tăng lên 100% trong suốt 13 hay 14 tháng vӯa qua”. ViӋc ông tӯ chức chẳng có gì lạ. Lạm phát đã âm thầm luồn lách vào cơ cấu đời sống hàng ngày sâu đến nӛi, phải bӓ đi suy nghĩ là sẽ dễ dàng tách bӓ nó đi. Phương cách chӳa trӏ tiêu chuẩn sẽ là mӝt cuӝc giảm giá khủng khiếp, hay là mӝt cuӝc suy thoái, mà sẽ làm giảm đi tiền lương và viӋc tăng giá. Nhӳng tính toán thông thường đề nghӏ rằng mӝt điểm phần trăm tăng lên ở mức thất nghiӋp (ví dụ như tӯ 6 đến 7%) sẽ làm lạm phát chӍ giảm đi nӱa điểm phần trăm (ví dụ như tӯ 8 còn 7,5%) trong mӝt năm. Để hạ mức lạm phát đang lan tràn (khoảng 8% vào đầu năm 1979) mӝt cách có ý nghĩa thì sẽ “thӵc hiӋn hoặc là mӝt cuӝc suy thoái trên diӋn rӝng hoặc là mӝt cuӝc suy thoái cӵc kỳ lâu”, mӝt nhà kinh tế hӑc nәi tiếng thời bấy giờ đã viết như thế. “Nhӳng phí tәn quá lӟn về con người” biểu hiӋn rằng “về mặt chính trӏ, nó có thể sẽ bӏ ngăn ngӯa”.[23] Lạm phát đưӧc suy nghĩ mӝt cách duy lý như là mӝt phản ánh về nhӳng căn bӋnh thâm căn của xã hӝi Mӻ. Nó không phải là mӝt nguyên nhân của các vấn đề của nưӟc Mӻ; nó là mӝt hậu quả của điều kiӋn của chúng ta. Đặc biӋt, người ta nói rằng nó cho thấy đất nưӟc đang dần trở nên không thể kiểm soát. Người Mӻ muốn nhiều hơn (lương bәng cao hơn, nhiều chương trình phúc lӧi hơn, môi trường trong lành hơn) nhӳng gì hӑ có thể đưӧc đáp ứng. Lạm phát “là mӝt triӋu chứng của nhӳng mâu thuẫn và xung đӝt kinh tế và xã hӝi thâm căn cố đế, giӳa nhӳng tập đoàn kinh tế lӟn đòi hӓi nhӳng miếng bánh mà nếu gӝp lại nhӳng miếng bánh này thì lại lӟn hơn chiếc bánh hiӋn có”, nhà kinh tế hӑc James Tobin của Yale đã viết như thế, trưӟc đây ông là cố vấn cho Tәng thống Kennedy, người đã ủng hӝ nhӳng chính sách thúc đẩy lạm phát tăng tốc. Alfred Kahn, mӝt nhà kinh tế hӑc của Đại hӑc Cornell và là cố vấn cấp cao về lạm phát của tәng thống Carter, cũng thể hiӋn mӝt quan điểm tương tӵ. Ông đã nêu ra rằng “LiӋu mӝt nền dân chủ có thể tӵ khép mình vào kӹ luật hay không? Vấn đề ở nền kinh tế của chúng ta là chúng ta đã có nhӳng sức ép dai dẳng, có tә chức do tӯng thành viên hay tӯng nhóm để bảo toàn vӏ thế tuyӋt đối của hӑ mặc cho nhӳng gì sẽ xảy ra đối vӟi đất nưӟc nói chung”. Lạm phát đưӧc miêu tả như là mӝt cách thức không liên quan đến ai để điều tiết cuӝc cạnh tranh này. Mӝt số nhóm sẽ dẫn đầu; số khác sẽ bӏ tụt lại phía sau.[24] Ở mӝt cách nào đó, đӍnh điểm của chủ nghĩa bi quan quốc gia xảy ra vào tháng 7/1979, khi Carter, đúng vào lúc sӵ ủng hӝ của công chúng dành cho ông đang giảm sút, có các bài nói chuyӋn trưӟc công chúng. Cuӝc nói chuyӋn do đó mà bӏ chụp mũ vӟi cái tên là bài phát biểu “bạc nhưӧc”, mặc dù Carter thӵc sӵ không bao giờ sӱ dụng ngôn tӯ đó. Vӏ tәng thống này nói về “mӝt mối đe dӑa căn bản đối vӟi nền dân chủ Mӻ... là cuӝc khủng hoảng về sӵ tӵ tin”: Sӵ tӵ tin đã xác đӏnh đường lối của chúng ta và đưӧc xem như là mӝt mối liên kết giӳa các thế hӋ. Chúng ta luôn luôn tin vào mӝt thứ đưӧc gӑi là sӵ tiến triển. Chúng ta luôn luôn có niềm tin rằng thế hӋ của nhӳng đứa con của chúng ta sẽ tốt hơn thế hӋ của chúng ta... Người dân đang mất đi niềm tin này... Lần đầu tiên trong lӏch sӱ của đất nưӟc, mӝt đại bӝ phận dân chúng tin rằng năm năm kế tiếp sẽ tồi tӋ hơn năm năm vӯa qua.[25] Nhưng Carter đã không gán sӵ mất niềm tin này cho viӋc tăng lạm phát. Mặc dù phần lӟn bài phát biểu của ông có liên quan đến chính sách năng lưӧng - trong số nhӳng vấn đề khác, ông đề nghӏ tài trӧ cho nhiên liӋu tәng hӧp - nhưng nhӳng chẩn đoán căn bản của ông về cuӝc khủng hoảng về tinh thần của đất nưӟc, mӝt cách nghӏch lý, lại là người Mӻ đã quá quan tâm đến “sӵ phát triển”, hay ít nhất là sӵ phát triển về vật chất. “Ở mӝt quốc gia tӵ hào về sӵ siêng năng, gia đình bền vӳng, có nhӳng cӝng đồng gắn bó vӟi nhau, và có niềm tin ở Chúa, vậy mà giờ đây có quá nhiều người trong số chúng ta có khuynh hưӟng tôn thờ đam mê lạc thú và tiêu dùng. ViӋc nhận diӋn con người đã không còn đưӧc xác đӏnh bởi nhӳng gì người ta đã làm ra, mà bởi nhӳng gì người đó sở hӳu. Nhưng chúng ta khám phá ra rằng viӋc sở hӳu và tiêu thụ không thӓa mãn khát khao của chúng ta về ý nghĩa cuӝc sống. Chúng ta đã ngӝ ra rằng chất hàng đống vật chất không thể lấp đầy sӵ trống rӛng của cuӝc sống mà không có niềm tin hay mục đích”. Ông đã phát biểu như thế. Do đó mà chính phủ đã thoát đưӧc nhiều trách nhiӋm đối vӟi trạng thái tinh thần của đất nưӟc. Chủ nghĩa bi quan càng lӟn dần là phản ánh của nhӳng thất bại cá nhân. Ở mӝt mức đӝ nào đó, tất cả nhӳng suy nghĩ ảm đạm này là xác thӵc. Chắc chắn, nhӳng thâm hụt ngân sách liên bang dai dẳng minh chứng cho phong cách “hứa hẹn quá nhiều” của các chính trӏ gia - chương trình phúc lӧi nhiều hơn, cắt giảm thuế nhiều hơn, trӧ cấp nhiều hơn, và ngân sách đưӧc cân bằng - nhiều hơn nhӳng gì mà hӑ có thể làm. Dĩ nhiên, nhiều người Mӻ khao khát nhӳng ý nghĩa về tinh thần. Nhưng cuối cùng, nhӳng lý thuyết này đã không giải thích đưӧc viӋc người ta đã không làm bất kỳ điều gì đối vӟi lạm phát, và thời điểm chúng trở nên ít đưӧc tin cậy hơn là vào cuӝc bầu cӱ năm 1980. Sau này mӝt tác giả về vấn đề chính trӏ Theodore H. White đã quan sát rằng “Vào mùa hè năm 1979, không vấn đề nào khác có thể cạnh trạnh đưӧc vӟi lạm phát như là mӝt áp lӵc đè nặng tâm trí của người Mӻ, tâm trạng và hoạch đӏnh gia đình cho tương lai”. Giá cả cứ theo lӋ thường tăng lên ở mức hai con số hàng năm, lạm phát hơn gấp đôi mức 4,9% vào năm 1976, khi Carter tiếp nhận tӯ người tiền nhiӋm. Ronald Reagan đã đắc cӱ khá áp đảo - 50,7% phiếu phә thông so vӟi mức 41% của Carter và 6,6% của “ứng cӱ viên đӝc lập” John Anderson. Lạm phát là mối quan tâm hàng đầu. Nhӳng người bầu cӱ đã không biết rằng Reagan có thể kiểm soát nó; nhưng hӑ biết rõ là Carter thì không thể. Sau này, chính Carter đánh giá rằng lạm phát đã là nhân tố quyết đӏnh chống lại ông, còn quan trӑng hơn cả viӋc giải quyết tӋ hại của ông về vụ khủng hoảng con tin Iran.[26] Các cuӝc tiếp xúc cӱ tri sau khi bӓ phiếu cho thấy 47% nhӳng người bӓ phiếu cho Reagan đánh giá “viӋc kiểm soát lạm phát” như là mӝt vấn đề quan trӑng nhất, theo sát đó là 45% cho rằng “làm vӳng mạnh vӏ thế của Mӻ trên toàn thế giӟi”. (Nhӳng người bӓ phiếu đưӧc hӓi về mӝt hay hai vấn đề gì là quan trӑng nhất, vì thế hơn mӝt câu trả lời vẫn đưӧc chấp nhận). Trong cuӝc thăm dò dư luận quần chúng của viӋn Gallup vào tháng 9, 58% đánh giá lạm phát là vấn đề hàng đầu. Theo các tiêu chí khác, nền kinh tế thời Carter không phải là vận hành tӋ đến thế; ví dụ như nó đã tạo ra 11.000 viӋc làm kể tӯ khi ông đắc cӱ.[27] Nhӳng lo lắng sâu sắc của dân chúng vào cuối nhӳng năm 1970 hóa ra không phải xuất phát tӯ mӝt sӵ trống rӛng về tinh thần hay nhӳng mâu thuẫn nhóm không thể giải quyết đưӧc. Chúng xuất phát tӯ lạm phát và nhӳng tác dụng phụ của nó. Mӝt khi lạm phát cao đưӧc kiềm xuống - đó là, mӝt khi Reagan chӑn kéo dài mӝt cuӝc suy thoái thương đau mà các nhà kinh tế đã cho rằng về mặt chính trӏ là không thể - thì tinh thần của dân chúng đưӧc cải thiӋn mӝt cách đáng chú ý, ngay cả khi mức thất nghiӋp giảm xuống cũng chӍ tӯ tӯ. Tӯ điểm đӍnh là 10,8% vào cuối năm 1982, nó vẫn còn ở mức trung bình là 7,5% năm 1984. Nhưng Reagan đã dễ dàng tái đắc cӱ, và khẩu hiӋu của chiến dӏch vận đӝng của ông là “Bình minh lại đến trên nưӟc Mӻ” về cơ bản là mӝt tiếng reo hò chiến thắng chấm dứt lạm phát. Nó biểu hiӋn trật tӵ và sӵ lạc quan, mӝt tương phản sâu sắc so vӟi tâm trạng của bốn năm trưӟc. Mӝt nghiên cứu về nhӳng cuӝc khảo sát dư luận cho thấy hầu như 60% của viӋc sụt giảm về niềm tin của dân chúng vào các thể chế quốc gia (như là chính phủ, doanh nghiӋp, lao đӝng) vào nhӳng năm 1970 đã phản ánh mức lạm phát và mức thất nghiӋp cao hơn - và chủ yếu là lạm phát. Hai nhà phân tích dân ý Seymour Martin Lipset và William Schneider đã viết: “Mӝt mức lạm phát cao xem ra làm giảm đi nhӳng kỳ vӑng của người dân về tương lai ở mӑi khía cạnh: về chính cuӝc sống của hӑ, về đất nưӟc nói chung, về nền kinh tế....Lạm phát, hơn bất kỳ cái gì khác, đã tạo ra “s͹ bạc nhưͫc”đáng hổ thẹn năm 1979, mặc dù chỉ là tạm thͥi”. (Phần chӳ in nghiêng là nguyên văn). “Sӵ bạc nhưӧc” chính do con người gây ra.[28] IV Dĩ nhiên, quan điểm chính trӏ và tâm lý rốt cuӝc không thể nào bӏ tách hoàn toàn khӓi kinh tế. Nhӳng gì mà người Mӻ nghĩ về chính hӑ, về cuӝc sống của hӑ và xã hӝi của hӑ luôn luôn phản ánh vận mӋnh kinh tế. Lạm phát và thiểu phát đã tác đӝng rӝng khắp. Trong gần hết chu kỳ nӱa thế kӹ trên, đó là mӝt kiểu mẫu không thể nào nhầm lẫn đưӧc. Trong khoảng hai thập kӹ đầu, lạm phát ngày càng tăng đã làm suy yếu nền kinh tế. Và rồi hai mươi năm tiếp theo, thiểu phát lại làm nền kinh tế vӳng mạnh và mãi cho đến khi tinh thần lạc quan dễ lan rӝng này bӛng biến thành sӵ phӓng đoán không thể chứng minh đưӧc và góp phần làm cho mӝt thӏ trường chứng khoán yểu mӋnh và tạo nên nhӳng “bong bóng” về nhà ở. Sau này nhìn lại, chúng ta biết rằng lạm phát cao vốn đã bất әn. Tӯ năm 1969 đến 1982, lạm phát trung bình đạt 7,5%, thất nghiӋp là 6,4%. Tӯ năm 1990 đến 2007, nhӳng con số có thể so sánh đưӧc đưa ra là 2,9% lạm phát và 5,4% thất nghiӋp. Tương tӵ, năng suất đạt đưӧc cũng phù hӧp vӟi nhӳng biến đәi bất thường của lạm phát. Nên nhӟ “năng suất” (productivity) là mӝt biӋt ngӳ kinh tế của “tính hiӋu quả” (ef iciency) và rằng tăng trưởng năng suất (thường đưӧc đo bằng sản lưӧng đưӧc thӵc hiӋn tính theo giờ lao đӝng) là nguồn gốc của nhӳng tiêu chuẩn sống cao hơn. Ta càng làm viӋc có hiӋu quả, thì thu nhập càng cao hay càng có nhiều thời gian thư thái. Tiền lương, tiền công và tiền phụ cấp tất cả đều có khuynh hưӟng tăng lên cùng vӟi năng suất. Nếu không có tăng trưởng năng suất thì phát triển kinh tế, theo nghĩa như phần lӟn mӑi người vẫn hiểu về thuật ngӳ này, sẽ không tồn tại. Sau năm 1950, lạm phát và năng suất dường như sát cánh bên nhau. Tӯ năm 1950 đến 1965 (thời kỳ lạm phát ở mức thấp), tăng trưởng năng suất hàng năm đạt mức trung bình là 3,1%. Khi lạm phát tăng vào cuối thập niên 60, tăng trưởng năng suất trở nên xấu đi (thời kỳ 1965-70 đạt mức trung bình là 2,4%). Trong nhӳng năm lạm phát tồi tӋ nhất, 1973-80, tăng trưởng năng suất trung bình hết sức ít ӓi là 1,1%, đến năm 1980 nó cải thiӋn ở mức 1,8%, và vào cuối nhӳng năm 1990, khi lạm phát quay trở lại mức như ở nhӳng năm 1950, thì năng suất tăng trưởng tương ứng như thế (thời kỳ 1995-2005 đạt mức trung bình là 2,9%)[29][30] Đây không phải là mӝt tai nạn. Sẽ không ai khẳng đӏnh rằng lạm phát tӵ thân quyết đӏnh xu hưӟng của năng suất. Thật ra, năng suất bӏ tác đӝng bởi rất nhiều yếu tố - công nghӋ, chính sách của chính phủ, cạnh tranh, viӋc chấp nhận rủi ro - đến nӛi mà các nhà kinh tế chưa bao giờ giải thích đưӧc tường tận sӵ vận đӝng của nó. Vài mức tăng năng suất đạt đưӧc trong thời gian đầu sau Thế chiến II, không nghi ngờ gì nӳa, là phản ánh của viӋc ứng dụng nhӳng công nghӋ mӟi vốn đã bӏ trì hoãn bởi chiến tranh và cuӝc suy thoái: quay số điӋn thoại đường dài trӵc tiếp (viӋc này làm giảm đi nhu cầu về số lưӧng của các nhân viên tәng đài); sӱ dụng máy bay nhanh hơn và lӟn hơn cho ngành hàng không thương mại; nhӳng công cụ máy móc tiến bӝ. Mӝt số sӵ tăng lên đạt đưӧc gần đây có nguồn gốc tӯ máy tính và Internet. Tuy vậy, lạm phát ở mức đӝ cao hơn vẫn gây tәn thương. Mӝt lý do là “ảo giác tiền tӋ”: khuynh hưӟng đưӧc chú giải trưӟc đây là nhầm lẫn giӳa tăng giá vӟi nhӳng cái thӵc tế thӵc đạt. Khi lạm phát tăng, doanh số và lӧi nhuận của công ty cũng tăng nhanh chóng. Các nhà kinh tế tin là hӑ đã làm tốt hơn so vӟi trưӟc đây; thế là hӑ ít để tâm đến các vấn đề nhӓ nhặt trong hoạt đӝng hàng ngày, nhưng các vấn đề này góp phần cải thiӋn hiӋu quả hoạt đӝng. Tӯ năm 1964 đến 1974, lӧi nhuận sau thuế tăng vӑt tӯ 41 tӹ đôla đến 95 tӹ đôla. Vì lӧi nhuận là cách mà hầu hết các nhà quản lý tӵ đánh giá chính mình (và đưӧc đánh giá), vậy vấn đề là gì? Rất đơn giản: Nhӳng cái đạt đưӧc phần lӟn phản ánh lạm phát. Khi mӝt số công ty tӵ nguyӋn công bố nhӳng báo cáo tài chính đã đưӧc điều chӍnh yếu tố lạm phát vào cuối thập kӹ 70, các kết quả đã đưӧc chấn chӍnh lại. Năm 1978, General Motors báo cáo rằng doanh số và lӧi nhuận của nó tăng theo tương ứng là 77% và 46%, tӯ năm năm trưӟc. Con số hết sức ấn tưӧng, nghe có vẻ như thế. Nhưng khi đưӧc điều chӍnh yếu tố lạm phát, viӋc tăng doanh số co lại 20%, và viӋc tăng lӧi nhuận biến mất hoàn toàn. GM không chơi trò may rủi. Mặc dù lӧi nhuận đưӧc báo cáo là tăng nhanh trong nhӳng năm 1970, nhưng lӧi nhuận biên - lӧi nhuận tính theo mӝt phần doanh số - rӟt tӯ 17% vào nhӳng năm 1950 xuống còn 11% vào nhӳng năm 1970[31]. Lúc đầu, nhiều giám đốc không đánh giá cao nhӳng viӋc đang xảy ra. Nhưng vào cuối nhӳng năm 1970, chӍ có nhà quản lý ngu đần nhất mӟi không thể nghi ngờ về tình hình thӵc tế. Tuy nhiên nhiều nhà quản lý của các tập đoàn đã “không lo lắng để chuyển sang viӋc báo cáo lӧi nhuận chính xác” bằng viӋc chấp nhận bản tính toán đưӧc điều chӍnh theo lạm phát. Tờ The Wall Street Journal đã giӟi thiӋu bài xã luận vào năm 1979. “Hӑ thà là bӏ bêu riếu công khai vì viӋc lӯa đảo (về giá) còn hơn là giải thích viӋc thua lӛ và lӧi nhuận thấp trưӟc các cә đông”. Tận đến cuối năm 1981, tờ Business Week mӟi phê bình: Qua suốt hơn mӝt thập kӹ lạm phát, mӝt thế hӋ của các nhà lãnh đạo công ty đã tӯ chối thӯa nhận rằng tiền lãi đưӧc báo cáo cho các cә đông - và thường đưӧc trích tӯ “báo cáo kӹ lục” - tóm lại không phải là như tiếng tăm của nó. Lạm phát hai chӳ số đã làm cho thưӟc đo truyền thống về kết quả hoạt đӝng của công ty trở nên ảo tưởng hay nghi ngờ.[32] Mӝt khi lạm phát giảm xuống, các nhà quản lý không thể che giấu nӳa. Vào nhӳng năm 1990, nhiều công ty than phiền rằng hӑ đã đánh mất “quyền đӏnh giá”, ngay cả khi các áp lӵc tӯ Wall Street đã làm lӧi nhuận tăng mạnh mẽ. Lӧi nhuận giờ đây phần lӟn tăng lên là do doanh số bán hàng tăng hay chi phí giảm. Các nhà quản lý phải nghiên cứu nhӳng cách thức mӟi để làm tăng năng suất. Lạm phát cao cũng gây tәn thương cho tăng trưởng năng suất theo nhiều cách khác. Điều rõ ràng nhất là cần phải có thêm thời gian và sức lӵc để thay đәi giá thường xuyên - mӝt hiӋn tưӧng mà các nhà kinh tế hӑc gӑi là “giả thuyết chi phí thӵc đơn - menu costs”. (Đây ám chӍ đến nhӳng chi phí cho viӋc thay đәi mӝt thӵc đơn). Khi lạm phát tăng, cho dù là làm tăng giá 3 hay 5% đều trở nên quan trӑng đối vӟi lӧi nhuận cũng như đối vӟi nhӳng năng suất đạt đưӧc. Cố để phù hӧp, hay tránh đi, nhӳng hình thức khác nhau của kiểm soát tiền lương-giá cả cũng đều tiêu tốn thời gian của các nhà quản lý. Cuối cùng, lạm phát tác đӝng qua lại vӟi luật thuế để giảm sӵ khích lӋ cho nhӳng đầu tư mӟi, và thúc đẩy năng suất. Chi phí khấu hao - mӝt chi phí “phi tiền mặt” để bù cho viӋc thoái hóa của máy móc và nhà xưởng - đưӧc dӵ đӏnh để giúp các công ty trả tiền mua mӟi thiết bӏ, máy móc, nhà xưởng và văn phòng. Nhưng nhӳng khấu hao này dӵa trên nhӳng chi phí trưӟc đây; lạm phát đã ăn mòn giá trӏ của nó. Khi lạm phát làm tăng nhӳng chi phí thay thế để đầu tư mӟi, thì chi phí khấu hao không tăng lên mӝt cách tương đương. Lãi suất cũng là mӝt cơ chế chủ yếu khác qua đó lạm phát phục hồi hiӋn trạng kinh tế. Lãi suất là giá của đồng tiền: cái mà người dân hay các công ty sẽ phải trả để đưӧc vay. Trong số tất cả các loại giá cả của nền kinh tế, thì lãi suất là quan trӑng nhất, bởi vì chúng ảnh hưởng đến rất nhiều thứ khác. Chúng làm lu mờ nhӳng giá cả có ý nghĩa khác - ví dụ như lúa mì, dầu hay các vi mạch máy tính. Trong thӵc tiễn có nhiều nhân tố quyết đӏnh lãi suất: nguồn cung các khoản tiền gӱi; nhu cầu tín dụng; trạng thái của chu kỳ kinh doanh; các chính sách của Cục dӵ trӳ; bản chất của các thӏ trường tài chính. Nhưng lạm phát và kỳ vӑng về lạm phát trong tương lai đóng mӝt vai trò rất lӟn, bởi vì nhӳng người cho vay muốn đưӧc bảo vӋ chống lại khả năng hao hụt dần giá trӏ thӵc tế của khoản tiền cho vay. Lạm phát ở mức cao làm lãi suất tăng (vӟi mӝt đӝ trễ nhất đӏnh); và lạm phát giảm xuống làm lãi suất giảm xuống (cũng vӟi mӝt đӝ trễ, tất nhiên). Năm 1965, lãi suất cố đӏnh trong 30 năm của cho vay thế chấp nhà trung bình là 5,8%; vào năm 1980, mức trung bình là 12,7%; và vào năm 2005, nó lại hạ nhiӋt ở mức 5,9%. Cũng trong cùng thời điểm, “lãi suất cơ bản” của các ngân hàng thương mại đối vӟi khách hàng thân thiết xê dӏch tӯ 4,5% đến 15,3% rồi đến 6,2%. Nhӳng dao đӝng hết sức kӏch tính này đã tác đӝng sâu sắc đến thӏ trường tín dụng, thӏ trường chứng khoán và giá trӏ của đất đai và nhà ở. Và đã có “hiӋu ứng gӧn sóng” khәng lồ.[33] [34] Quý vӏ còn nhӟ cuӝc khủng hoảng tín dụng Mӻ (cuӝc khủng hoảng S&L) chứ? Đối vӟi nhiều người Mӻ, “quӻ tiết kiӋm và cho vay” (hay S&L: savings and loans associations) và “quӻ tiết kiӋm” giờ đây chӍ còn là nhӳng tàn tích. Năm 2006, chӍ còn 845 quӻ này, vӟi tài sản là 1,5 nghìn tӹ đôla; ngưӧc lại, có hơn 7.000 ngân hàng thương mại vӟi tәng tài sản gần 10 nghìn tӹ đôla. Nhưng trở lại năm 1975, có xấp xӍ 5.400 quӻ tiết kiӋm đảm nhận phân nӱa nhӳng khoản cho vay thế chấp nhà. Các nhà quản lý quӻ tín dụng thường sống theo kiểu “ba-sáu-ba”, như cách mà nhà kinh tế hӑc Lawrence White đã thuật lại. Hӑ “có thể nhận tiền gӱi tiết kiӋm ở mức lãi suất 3%; có thể cho vay thế chấp nhà vӟi mức 6%; và (hӑ) có thể có mặt ở sân golf trưӟc 3h chiều”. Nhưng sӵ phân bә nhàn hạ này đòi hӓi giá cả phải әn đӏnh, bởi nhӳng quӻ tín dụng “đi vay ngắn hạn” (nhӳng người gӱi tiền ngắn hạn có thể rút tiền bất kỳ lúc nào) và “cho vay dài hạn” (cho vay thế chấp nhà có lãi suất cố đӏnh và kỳ hạn phải thanh toán là 30 năm). Nếu lạm phát ở mức cao hơn đẩy mức lãi suất huy đӝng tiền gӱi tăng lên, thì chi phí vay của S&L có thể vưӧt quá số tiền có đưӧc tӯ các khoản cho vay thế chấp nhà trưӟc đó. Đó chính là nhӳng gì đã xảy ra.[35] Khủng hoảng S&L là loại điển hình của chuyӋn kể về sӵ điều tiết vô tác dụng của chính phủ và viӋc cho vay lӋch lạc. Các S&L đã lãng phí nguồn quӻ của hӑ vào nhӳng dӵ án nhà cӱa thiếu suy nghĩ, nhӳng phố mua sắm và nhӳng khu nghӍ dưӥng. Nhưng câu chuyӋn chính lại liên quan đến sӵ phá hoại của lạm phát. Cho đến năm 1981, 85% các quӻ tiết kiӋm không có lãi. Vì mức lãi suất ngắn hạn tăng lên, hӑ phải đối diӋn vӟi mӝt tình huống nan giải: hoặc là nâng lãi suất huy đӝng tiền gӱi của chính hӑ lên, mà điều này có thể làm hӑ không có lãi, hoặc là phải đối diӋn vӟi tình trạng mӝt sӵ rút tiền tiết kiӋm ồ ạt, dẫn đến vӥ nӧ. Sӵ ra đời của nhӳng quӻ hӛ tương trên thӏ trường tiền tӋ vào cuối nhӳng năm 1970 làm cho mức trần lãi suất tiền gӱi do chính phủ quy đӏnh cho các ngân hàng và các S&L không còn hiӋu quả; người gӱi có thể chuyển tiền của hӑ đến bất kỳ nơi nào khác. ChӍ sau khi S&L đối diӋn vӟi cảnh khánh kiӋt thì nhӳng điều tiết vô tác dụng và sӵ cho vay mӟi mӑc nhanh như nấm. Chính phủ nӟi lӓng quyền cho vay của các S&L vӟi hy vӑng rằng lӧi nhuận tӯ nhӳng khoản cho vay mӟi đối vӟi bất đӝng sản thương mại sẽ bù lại nhӳng thua lӛ ở nhӳng tài sản thế chấp cũ; nhưng nhӳng khoản cho vay đầu cơ mӟi đơn giản là càng làm tình hình tồi tӋ hơn. Sӵ sụp đә của các S&L làm cho nhӳng người đóng thuế phải gánh chӏu 160 tӹ đôla - đó là mức chênh lӋch giӳa nhӳng gì mà các S&L còn nӧ người gӱi tiền (người gӱi tiền đưӧc bảo vӋ bởi bảo hiểm tiền gӱi liên bang) và trӏ giá tài sản của các S&L thất bại.[36] Tác đӝng qua lại của lạm phát và các thӏ trường tín dụng gây ra nhӳng sӵ chấn đӝng khác. Người nông dân Mӻ đã vay nhӳng khoản tiền lӟn, dӵa trên mức lạm phát của mùa màng và giá cả đất đai. Mӝt nông dân ở Iowa đã nói vӟi nhà báo William Greider rằng: “Nhӳng người cho vay sẽ đi đến thẳng nông trại và hӑ có thể sẽ nói rằng “Cái máy cày đó hơi cә lӛ”. Vì thế người nông dân sẽ phải đi mua mӝt cái mӟi. Tại sao lại không chứ?”. Thu nhập và của cải của nông dân dường như dư thӯa. Tӯ năm 1972 đến 1975, lúa mì tӯ 1,34 đôla/giạ đã tăng lên hơn 4đôla/giạ, ngũ cốc tӯ 1,08 đôla tăng đến 3,02 đôla. Ở Iowa, giá đất tăng gấp năm lần, tӯ 319 đôla/ha vào năm 1970 đã tăng đến 1.697 đôla/ha năm 1982. Nhưng khi lãi suất tăng và giá nông sản rӟt mạnh vào nhӳng năm 1980, nhiều nông dân đã ngập trong nӧ nần. Nhӳng vụ xiết nӧ khắp nơi cứ kéo dài. Nhӳng cuӝc “diễu hành máy kéo” đến Washington và mӝt số cuӝc tӵ sát đưӧc đưa tin nhiều trên báo chí của nhӳng nông dân đánh mất đất đai do ông cha để lại qua nhiều thế hӋ cũng lan rӝng.[37] Cuӝc khủng hoảng nӧ của các nưӟc thuӝc Thế giӟi thứ ba cũng đi theo mӝt đường biến thiên tương tӵ. Vào thập niên 1970, nhӳng khoản cho vay của các ngân hàng thương mại cho các nưӟc ở khu vӵc Mӻ Latinh tồn tại hết sức ít ӓi; đến năm 1982, nhӳng khoản nӧ này tәng cӝng lên đến 327 tӹ đôla. Người ta suy luận rằng giá các loại mặt hàng ngày càng tăng, là mӝt chӛ dӵa chính đối vӟi viӋc xuất khẩu của các nưӟc này, sẽ đảm bảo cho hӑ trả đưӧc nhӳng món nӧ tӯ nưӟc ngoài, phần lӟn đưӧc tính bằng đồng đôla Mӻ. Mexico và Venezuela có dầu; Brazil có cà phê; Argentina có lúa mì và thӏt. Nhưng lãi suất ngày càng cao (hầu hết các khoản cho vay đều “thả nәi” lãi suất) và giá hàng hóa ngày càng giảm vào đầu thập niên 1980 đã phá hủy lôgic này. Đến tháng 8/1982, Mexico bӏ vӥ nӧ vӟi nhӳng khoản vay là 80 tӹ đôla. Mười lăm nưӟc Mӻ Latinh khác cũng chung số phận sau đó. Nhӳng năm tiếp sau đưӧc gӑi là “mӝt thập kӹ đã mất”, khi nhiều quốc gia Latinh khác - oằn lưng gánh món nӧ không thể trả - đã phải chӏu đӵng sӵ tăng trưởng kinh tế chậm chạp và cái nghèo càng tăng.[38] Không hề ngạc nhiên, lãi suất dao đӝng cũng tàn phá cә phiếu. Phân nӱa hӝ gia đình ở Mӻ giờ đây sở hӳu cә phiếu hay các quӻ hӛ tương. Người ta thường suy xét rằng rằng sӵ điên cuồng “công nghӋ” vào nhӳng năm 1990 phải chӏu trách nhiӋm đã cám dӛ mӑi người vào thӏ trường. Điều này chӍ mӟi đúng phân nӱa. Quay trở lại nhӳng năm 1950, và bạn sẽ khám phá ra rằng cә phiếu và quyền sở hӳu cә phiếu cũng đã phát đạt. Tӯ cuối Thế chiến II cho đến 1965, chӍ số bình quân công nghiӋp Dow Jones tăng gấp năm lần. Số lưӧng cә đông tăng vӑt tӯ 6,5 triӋu người vào năm 1950 lên đến 30,9 triӋu người vào năm 1970. Nhưng lạm phát cao hơn đã kiềm lại sӵ tăng lên của thӏ trường và chấm dứt nhiӋt huyết dành cho cә phiếu. Tháng 8/1979, tờ Business Week đã viết lời cáo phó. “Cái chết của vốn cә phần: Lạm phát đang phá hủy Thӏ trường chứng khoán như thế nào” chính là nhan đề của bài viết này. Mӝt viên quản lý công ty trẻ tuәi đã hӓi rằng “Gần đây các anh có đến dӵ cuӝc hӑp cә đông Mӻ hay không? Tất cả bӑn hӑ đều là nhӳng người cә hủ”. Trong số nhӳng người dưӟi 65 tuәi, số lưӧng cә đông trong thập kӹ qua đã giảm 25%. Kết quả hoạt đӝng tồi của nó đã làm cho các nhà đầu tư trẻ thờ ơ hơn.[39] Năm 1982, chӍ số Dow Jones thӵc sӵ còn thấp hơn so vӟi năm 1965. Tờ Business Week bình luận rằng lạm phát đã làm “các nhà đầu tư hết sức thận trӑng”. Người Mӻ đã ngӝ ra rằng “lạm phát đã dẫn đến mӝt thời kỳ suy thoái kinh tế phá hủy tình trạng có lãi của công ty và giá cả cә phiếu. Điều này đã xảy ra vào năm 1974, khi cuӝc suy thoái tồi tӋ nhất kể tӯ thời kỳ Đại suy thoái tiếp theo sau cuӝc bùng nә cuối cùng của lạm phát hai chӳ số”. Nhưng ở ý nghĩa rӝng lӟn hơn, cә phiếu đã tấn công nạn nhân ở mӝt lôgic hết sức tàn nhẫn về mức lãi suất ngày càng tăng. Cә phiếu, trái phiếu, các khoản tiền gӱi ngân hàng và nhӳng quӻ đầu tư tương hӛ ở thӏ trường tiền tӋ, tất cả đều cạnh tranh vӟi nhau để giành nhӳng đồng đôla của người đầu tư. Khi lãi suất trái phiếu và nhӳng nguồn đầu tư có lãi khác tăng lên, thì cә phiếu buӝc vẫn phải ở vӏ trí cạnh tranh. Tӹ suất thu nhập trên thӏ giá (earnings yields - chӍ số nghӏch đảo của chӍ số P/E) phải tăng; mӝt nghӏch lý là điều này lại làm giảm áp lӵc đối vӟi giá cә phiếu. Vào tháng 1/1973, chӍ số Dow đã đạt mức kӹ lục là 1.051,70. Đến tháng 12/1974, nó giảm gần phân nӱa còn 577,60. Trong năm 1979, khi đưӧc điều chӍnh yếu tố lạm phát, cә phiếu vẫn còn thấp hơn 50% so vӟi đӍnh năm 1973. Mӝt ví dụ đơn giản sẽ cho thấy lý do tại sao. Giả sӱ mӝt trái phiếu kho bạc trả mức lãi suất 5%. Cә phiếu, vì rủi ro hơn, phải đưa ra mӝt mức lӧi nhuận cao hơn, ví dụ như 7%. Lӧi suất của mӝt cә phiếu là thu nhập trên mӛi cә phiếu của công ty (lӧi nhuận) đưӧc chia theo giá cә phiếu. Mӝt công ty vӟi mức thu nhập tӯ cә phiếu là 7 đôla/cә phiếu và giá của mӝt cә phiếu là 100 đôla thì sẽ có tӹ suất lӧi nhuận trên thӏ giá là 7%. Bây giờ giả sӱ rằng lãi suất ở trái phiếu kho bạc tăng lên 10%. Để duy trì tiền lãi cao hơn 2 điểm phần trăm so vӟi trái phiếu, thì tӹ suất lӧi nhuận trên thӏ giá của cә phiếu phải tăng lên là 12%. Vӟi 7 đôla thu nhập trên mӛi cә phiếu thì giá cә phiếu phải giảm xuống còn 58 đôla (7 đôla là 12% của 58 đôla). Nếu lӧi nhuận tăng đủ nhanh thì giá cә phiếu mӟi có thể tăng; nhưng trong thӵc tế, điều này đã không xảy ra. Lạm phát cao hơn đã phá hoại ngầm thӏ trường cә phiếu[40]. Nhưng khi lạm phát đi xuống vào đầu thập niên 1980 - và lãi suất bắt đầu tụt nhanh - thì chu trình này đã đảo ngưӧc cùng vӟi lôgic hết sức điên cuồng tương tӵ. Lãi suất giảm và lӧi nhuận tăng đã đẩy cә phiếu đi lên. Đến năm 1986, chӍ số Dow đã gấp đôi năm 1982; năm 1989, nó gần gấp ba; năm 1996, nó gấp hơn sáu lần. Các nhà đầu tư đã tràn ngập thӏ trường, khá lâu trưӟc khi có nӛi ám ảnh “công nghӋ”. Trong năm 1989, chӍ có 31,6% hӝ gia đình sở hӳu cә phiếu hay các quӻ hӛ tương; đến năm 1998, tӹ lӋ này là 48,8%. Sӵ tiến bӝ không ngӯng của thӏ trường đã thuyết phục nhiều nhà đầu tư, thường là nhӳng người mӟi vào nghề, rằng giá cả sẽ tăng lên không gì ngăn lại đưӧc, ngay cả khi có nhӳng quãng gián đoạn mang tính thời điểm. Chính là do niềm tin hàng loạt này đã tạo ra mӝt giai đoạn cho sӵ đắm chìm đầu cơ cuối cùng, đó là “bong bóng công nghӋ”. Cә phiếu đã tăng lên ở nhӳng mức hoàn toàn mâu thuẫn vӟi nhӳng quan hӋ về mặt lӏch sӱ. Có lúc cә phiếu Yahoo! đưӧc bán ra gấp 2.154 lần thu nhập (lӧi nhuận); trong khi hӋ số giá trên thu nhập mӝt cә phiếu (P/E) bình quân trong lӏch sӱ của tất cả nhӳng cә phiếu chӍ ở khoảng tӯ 14 đến 15 mà thôi. Thậm chí cả khi như thế, “bong bóng” cũng khá ngắn. Mӝt cuӝc phân tích cẩn thận đã đӏnh khoảng thời gian bắt đầu mạnh mẽ của nó là giӳa 1997 và cuối 1998; thӏ trường đạt đӍnh điểm vào đầu năm 2000.[41] Thật vậy, lạm phát đã giúp thay đәi hình dạng của toàn bӝ hӋ thống tài chính - và không chӍ thӏ trường cә phiếu. Mặc dù thường là bí hiểm, cơ sở tài chính cấp cao phục vụ cho mӝt mục đích đơn giản: hưӟng nhӳng khoản tiết kiӋm của xã hӝi vào viӋc đầu tư có hiӋu quả. Tӯ cuӝc Đại Suy thoái cho đến nhӳng năm 1980, phần lӟn hӋ thống tài chính đưӧc phân chia cao đӝ. ViӋc cho vay đưӧc điều khiển bởi các ngân hàng và các S&L, mà phần lӟn cho vay thế chấp nhà, vay tiêu dùng và vay vốn kinh doanh. (ChӍ có các công ty uy tín blue-chip mӟi có thể tăng vốn bằng cách bán trái phiếu; còn các công ty khác thì vay tӯ các ngân hàng). Nhưng lạm phát đã phá hủy mӝt số trong hӋ thống này (các S&L) và gây thiӋt hại nhiều đối vӟi nhӳng phần còn lại (nhӳng ngân hàng thương mại - hӑ phải chӏu thua lӛ đối vӟi nhӳng khoản nӧ xấu ở nông dân, các công ty năng lưӧng, nhӳng nhà phát triển bất đӝng sản và các nưӟc đang phát triển). Nhiều hình thức mӟi để cung cấp tín dụng đã đưӧc tìm ra. Cái nәi bật là “sӵ chứng khoán hóa”. Bởi vì các ngân hàng và mӝt số ít các S&L còn sống sót có nhӳng nguồn quӻ giӟi hạn, hӑ và các thể chế tài chính khác đã tạo ra nhӳng khoản vay ngày càng tăng, rồi sau đó “đóng gói” chúng lại thành nhӳng chứng khoán tương tӵ như trái phiếu, nhӳng thứ này đã đưӧc bán cho nhӳng quӻ hưu bәng, nhӳng công ty bảo hiểm, nhӳng quӻ đầu tư hӛ tương, nhӳng quӻ đầu tư cho đại hӑc và nhӳng nhà đầu tư lӟn khác. Vì thế cho vay thế chấp nhà, vay mua ô tô, nӧ ở hình thức thẻ tín dụng và nhӳng hình thức cấp vốn khác đưӧc trӧ cấp về mặt tài chính ngày càng tăng. Ở mӝt mức đӝ nào đó, hӋ thống mӟi này ưu viӋt hơn hӋ thống cũ. Nó tiếp cận đưӧc nhӳng nguồn tín dụng mӟi và phân tán rủi ro. Nhưng ở mӝt mức đӝ nào đó, nó lại thua kém. Mӝt số sӵ bảo vӋ của hӋ thống cũ không hiӋn diӋn trong hӋ thống mӟi. Ngân hàng và các S&L nói chung gần gũi vӟi nhӳng người đi vay đӏa phương hơn nhӳng người sở hӳu nhà, nhӳng người tiêu thụ, và nhӳng doanh nghiӋp - và nắm giӳ phần lӟn nhӳng khoản cấp vốn của hӑ trong danh mục các nhà đầu tư. Vì thế, hӑ có đӝng cơ chӍ cung cấp tín dụng cho nhӳng người đi vay có khả năng hoàn trả tốt. Vӟi hình thức chứng khoán hóa, sӵ thận trӑng bӏ giảm sút đi. Người cho vay và người đi vay thường bӏ tách biӋt nhau rất nhiều. “Mӝt người phát sinh” (mӝt nhà môi giӟi tài sản thế chấp chẳng hạn) có thể cho vay rồi sau đó lại bán cho mӝt ngân hàng đầu tư (chẳng hạn là Goldman Sachs), ngân hàng này sẽ “chứng khoán hóa” khoản vay trên và bán nó cho nhӳng người đầu tư cuối cùng. Tất cả nhӳng người trung gian này đều có đӝng cơ để hoàn tất nhӳng giao dӏch mà thông qua đó hӑ kiếm đưӧc các phí giao dӏch. Hầu hết nhӳng người trung gian không nắm giӳ nhӳng khoản cấp vốn cuối cùng. Sau này, chúng ta có thể thấy rằng viӋc quá cả tin đối vӟi giá nhà kết hӧp vӟi nhӳng thông lӋ cho vay bất cẩn đã nuôi dưӥng “bong bóng” về nhà ở như thế nào. Thậm chí đến hôm nay, nhӳng tác dụng phụ của lạm phát vẫn còn dai dẳng. Nền kinh tế Mӻ luôn luôn thay đәi; có lẽ đây là bản chất thường trӵc của nó. Nếu như không có lạm phát, nền kinh tế ngày hôm nay sẽ khác biӋt so vӟi nền kinh tế của mười lăm năm trưӟc hay kể cả mười lăm năm trưӟc đó nӳa. Nhưng đã có lạm phát và thiểu phát. Chúng thúc đẩy cho sӵ bất әn đӏnh của nhӳng năm 1970, sӵ bành trưӟng kéo dài của nhӳng năm 1980 và 1990, sӵ dao đӝng của tăng trưởng năng suất, và sӵ tiêu thụ, cә phiếu và nhӳng bùng nә nhà ở. Tất cả nhӳng thay đәi này có nhӳng nguyên nhân khác, và mӝt số có thể xảy ra theo bất kỳ mӝt cách thức nào đó. Nhưng tất cả cũng đều là nhӳng kết quả phụ của sӵ trải nghiӋm lạm phát. V Thậm chí chӍ ngắn gӑn điểm lại nhӳng chuyӋn trong nӱa thế kӹ qua cũng đã khẳng đӏnh đưӧc nhӳng tác đӝng to lӟn của lạm phát - cả khi nó tăng lên lẫn giảm đi - đối vӟi đời sống đất nưӟc. Nó không phải là mӝt buәi trình diễn phụ, mà nó là mӝt phần của buәi trình diễn chính. Nó đӏnh hình quan điểm về chính trӏ, nền kinh tế, trạng thái đất nưӟc, các thӏ trường tài chính và nhiều hơn nӳa. Cái nào làm nәi bật bài toán đố trӑng tâm: Nếu lạm phát lại quan trӑng đến thế, thì tại sao người ta lại bӓ qua nó? Cho đến nay, có mӝt khối lưӧng lӟn các tài liӋu kể lại chi tiết về cuӝc hành trình của người Mӻ trong nhӳng thập kӹ gần đây. Hầu như tất cả đều phó thác lạm phát cho mӝt sӵ xuất hiӋn chӟp nhoáng[42]. ViӋc các tác giả là nhà sӱ hӑc hay là nhà kinh tế hӑc; theo phe tӵ do hay bảo thủ; hay chính bản thân hӑ có là tәng thống đi chăng nӳa cũng chẳng có gì quan trӑng. Trong tác phẩm Bình mình trên đất MͿ: Ronald Reagan đã phát minh ra thập kͽ 80 như thế nào của Gil Troy, thì lạm phát không đáng mӝt chương hay chӍ là mӝt mục trong phần chú dẫn. Nhưng nó cũng không đưӧc nhắc đến nhiều trong mӝt miêu tả chân dung gay gắt hơn về Reagan của nhà báo Haynes Johnson trong Mộng du xuyên suốt lịch s͵. Trong hồi ký Vͷng tin của Jimmy Carter, ông nói rằng “trong nhӳng tháng đầu của năm 1980, vấn đề nӝi bӝ quan trӑng nhất là lạm phát” - thӵc sӵ, nó nghiêm trӑng trong phần nhiӋm kỳ của ông - nhưng ông chӍ dành cho nó có bốn trang mà thôi. Ông ưu ái nhӳng kỳ tích về chính sách ngoại giao của ông, như là hiӋp đӏnh hòa bình giӳa Israel và Ai Cập. Ronald Reagan xem sӵ khôi phục kinh tế như mӝt trong nhӳng chiến thắng vang dӝi của ông nhưng lại nhấn mạnh ở viӋc giảm thuế, chứ không phải lạm phát giảm đi. Kể cả ông cũng ưu ái chính sách đối ngoại hơn, đặc biӋt là nhӳng thương thuyết của ông đối vӟi Mikhail Gorbachev mà đã góp phần vào viӋc kết thúc Chiến tranh lạnh.[43] Chúng ta đang mất đi nhӳng mảng cốt lõi của lӏch sӱ; thật vậy, sӵ bӓ sót đã tạo ra mӝt lӏch sӱ không đúng. Hãy xét nhӳng giải thích “tay đôi” đối vӟi kết quả thӵc hiӋn đầy ấn tưӧng của nền kinh tế trong thập kӹ 1980 và 1990. Phe bảo thủ nhӟ về thập kӹ 1980 mӝt cách đầy lưu luyến là vì thời khắc lӏch sӱ của Reagan, khi ông cắt giảm thuế, cắt giảm nӝi các và khôi phục lại nền kinh tế. Vấn đề là phần lӟn câu chuyӋn này lại là mӝt truyền thuyết. Mặc dù mức thuế giảm mӝt cách đáng kể (mức cao nhất giảm tӯ 70% xuống còn 28%), gánh nặng chung về thuế chӍ giảm mӝt ít, còn qui mô của nӝi các thì không. Năm 1980, tәng thuế liên bang chiếm 19% GDP; khi Reagan rời khӓi vӏ trí tәng thống của mình vào năm 1989, thì chúng chiếm 18,3%.[44] Nhӳng mức thuế thấp hơn đã xảy ra bởi vì thâm hụt ngân sách tăng lên và mӝt số lӛ hәng của luật pháp về thuế đã đưӧc bít lại. Trong khi đó, phe tӵ do lại tín nhiӋm nhӳng chính sách của Bill Clinton vì mӝt nền kinh tế vӳng mạnh vào thập kӹ 1990. Nhưng nhӳng chính sách của Clinton lại đối lập vӟi nhӳng chính sách của Reagan: ông tăng thuế (đến mӝt mức cao nhất là 39,6%) và kiềm chế thâm hụt ngân sách. Cả hai câu chuyӋn đều không thể chính xác đưӧc, và thật vậy, không có câu chuyӋn nào chính xác cả. Nền kinh tế đã có kết quả thӵc hiӋn tốt trong cả hai thập kӹ, và lời giải thích là hành đӝng chủ yếu của chính sách kinh tế của cả hai vӏ tәng thống là chính sách ngăn chặn lạm phát. Nó әn đӏnh nền kinh tế và, thông qua viӋc giảm lãi suất và viӋc tăng ở thӏ trường cә phiếu và sӵ thӏnh vưӧng của bất đӝng sản, đã thúc đẩy người tiêu dùng mạnh mẽ chi tiêu. Mức thuế thấp hơn, thậm chí sau khi Clinton tăng lên, cũng có thể có ích; nhưng chúng không phải là sӵ tác đӝng mang tính quyết đӏnh. Cũng không phải sӵ co lại về thâm hụt ngân sách liên bang của Clinton. Thật vậy, thâm hụt ngân sách vẫn còn dai dẳng trong suốt phần lӟn thời kỳ cầm quyền của Clinton, chӍ biến mất vào năm 1998, phần nhiều là kết quả của mӝt nền kinh tế mạnh mẽ và giá cә phiếu ngày càng tăng - điều này đã tạo ra mӝt triều cường không trông đӧi ở doanh thu về thuế - hơn là nguyên nhân. Cả hai bảng sә sách tiêu chuẩn của hai thập kӹ này đều có nhầm lẫn và không trӑn vẹn. Sӵ kiӋn kinh tế to tát của thời kỳ này là sӵ chinh phục lạm phát hai chӳ số. Đây chӍ là phần lӏch sӱ mà chúng ta bӓ qua. Sӵ suy tàn của lạm phát cũng là mӝt sӵ kiӋn toàn cầu. Giӳa nhiều nhà kinh tế hӑc (dù chẳng phải là tất cả), các viên chức chính phủ và nhiều nhà đứng đầu các doanh nghiӋp ngày nay, có mӝt niềm tin mạnh mẽ cho rằng lạm phát cao thì phá hủy khủng khiếp. Nhiều người đủ già để sống qua thời kỳ của nhӳng sӵ tăng giá hai chӳ số và để nhӟ đến cái hậu quả đó. Ở mӝt phạm vi lӟn, bài hӑc đã lan ra toàn cầu. Nhà kinh tế hӑc ở Harvard, Kenneth Rogoff, đã góp nhặt nhӳng con số cho thấy bản chất đầy kӏch tính của sӵ thay đәi. Trong nhӳng năm 1970, mức lạm phát trung bình hàng năm là 162% ở Chilê, 33% ở Israel, 9% ở Đan Mạch, 15% ở Nam Triều Tiên và 9% ở Pháp. Đầu thế kӹ XXI, mức này là 3% cho Chilê, Đan Mạch, Hàn Quốc và Israel; Pháp là 2%. Đối vӟi toàn bӝ các nưӟc đang phát triển, lạm phát hàng năm giảm tӯ mức trung bình là 31% trong khoảng 1980-84 xuống còn 6% trong khoảng 2000 đến 2006. Đối vӟi nhӳng quốc gia giàu có, nó chuyển tӯ 9% xuống còn 2%. Phản ứng của đám đông làm cho các quốc gia dễ dàng theo đuәi nhӳng chính sách vӟi mức lạm phát thấp - và khó khăn hơn, mặc dù không phải là không thể, cho bất kỳ quốc gia nào cho phép dấy lên mӝt cuӝc lạm phát.[45] [46] Tôi đã nêu ra mӝt lý do của viӋc coi nhẹ lạm phát: viӋc nhấn mạnh quá mức vào vai trò của dầu lӱa và cuӝc chiến tranh ở ViӋt Nam. Nhưng hẳn phải có nhӳng lời giải thích khác. Mӝt lời giải thích rõ ràng đơn giản là sӵ trôi qua của thời gian. Đại bӝ phận người Mӻ ngày hôm nay chưa bao giờ trải nghiӋm qua mӝt cuӝc lạm phát hai chӳ số. Đó không phải là mӝt phần của cuӝc sống của hӑ, như nó đã tӯng là mӝt phần của cuӝc sống của tôi vậy. Năm 2008, hơn 60% mӝt chút của xấp xӍ 300 triӋu người Mӻ hiӋn nay sinh ra vào năm 1962 hay là sau này, có nghĩa là người lӟn tuәi nhất trong số hӑ chӍ mӟi 17 hay 18 tuәi khi lạm phát đạt đến đӍnh vào năm 1979 và 1980. Đối vӟi nó hӑ còn quá trẻ để có thể có ấn tưӧng gì. Thậm chí đối vӟi mӝt số người đã sống qua thời kỳ đó, ký ức về lạm phát cũng nhạt nhòa. Tất cả nhӳng điều này đều là sӵ thật và, ở mӝt khía cạnh rất hời hӧt, đưa ra mӝt lời giải thích có ích. Nhưng nó không có sức thuyết phục, bởi vì cũng cùng sӵ tính toán số hӑc này áp dụng đối vӟi cuӝc chiến ở ViӋt Nam - thật vậy, hơn thế nӳa, vì đó là mӝt sӵ kiӋn xảy ra trưӟc hơn - và tuy nhiên chiến tranh ViӋt Nam vẫn duy trì đưӧc sӵ thu hút mạnh mẽ đối vӟi nhận thức của nưӟc Mӻ. Phải có mӝt điều gì khác đang diễn ra ở đây. Tôi nghĩ, gần vӟi sӵ thật hơn cả là mӝt sӵ thất bại chung ở viӋc thông tin và tính bӝc trӵc của các nhà kinh tế hӑc của đất nưӟc. Ở mức đӝ nền tảng của nó, lạm phát hai chӳ số chính là nhӳng viӋc làm của hӑ. Nó là kết quả của nhӳng ý tưởng tồi - đưӧc khuyến khích bởi nhiều nhà kinh tế hӑc hàng đầu và chuyển đәi thành nhӳng chính sách chính phủ - tạo ra nhӳng kết quả tồi. Giờ đây đang có mӝt nhận thức rӝng khắp về vấn đề này, và mặc dù có rất nhiều nhӳng cuӝc nghiên cứu chuyên môn về lạm phát và về khoảng thời gian có lạm phát cao, nhưng vẫn không có nhiều dưӟi hình thức nhӳng lời xin lӛi công khai (tӯ nhӳng người có dính líu trong sai lầm đó) hay nhiều sӵ khiển trách (tӯ nhӳng người không có dính líu, bởi vì hoặc là hӑ bất đồng hoặc là hӑ còn quá trẻ). Dường như có mӝt thӓa hiӋp không đưӧc nói ra hoặc mӝt sӵ tӵ kiềm chế ở viӋc cứ để cho nhӳng gì thuӝc về quá khứ trôi qua, có lẽ vì do sӵ xấu hә chung hay mӝt sӵ nhận thức rằng cứ mải mê quá vӟi nhӳng thất bại của quá khứ có thể làm tәn hại đến viễn cảnh của nhӳng nhà kinh tế hӑc như là nhӳng người cố vấn nӝi các và nhӳng người đưӧc bә nhiӋm cấp cao. Nhӳng sӵ giải thích khả dĩ khác về sӵ bӓ quên này là tinh thần đảng phái và kӏch tính hóa lӏch sӱ. Các nhà sӱ hӑc, các nhà kinh tế hӑc và nhӳng người bình luận chính trӏ - cho dù là có nhận thức ra hay không - chӍ làm theo điều hӑ ưa thích. Người ta cố làm nhӳng sӵ kiӋn trở nên thích hӧp vӟi nhӳng đӏnh kiến của hӑ hay tạo ra nhӳng anh hùng chính trӏ. Có mӝt khuynh hưӟng làm cho nhӳng nhận xét trở nên thuận hay chống lại mӝt tập hӧp nhӳng chính sách và nhӳng nhân vật chính đối vӟi mӝt cái khác. Nhӳng câu chuyӋn kể của chúng ta có khuynh hưӟng tôn vinh hay thóa mạ nhӳng người lãnh đạo của chúng ta. Lạm phát thì không thích hӧp lắm vӟi loại chuyӋn kể này. Trưӟc hết là, khi lạm phát bắt đầu, nó bò lên mӝt cách chậm chạp. Đánh bại nó ở thời điểm đầu này, nếu có thành công, là thӵc hiӋn mӝt cuӝc “đánh chặn” nhìn chung không đưӧc công chúng đánh giá cao bởi vì lúc đó lạm phát chưa dễ dàng nhận thấy. Để đánh bại nó ở nhӳng thời điểm về sau là đảm trách mӝt cuӝc tấn công mà, thậm chí nếu có thành công, có nhӳng hậu quả gây khó chӏu (mức thất nghiӋp cao, mất thu nhập) mà nhӳng hậu quả này không đưӧc công chúng hưởng ứng mấy. Dù là làm cách nào đi nӳa cũng đều khó mà có quyền khoe khoang đưӧc. Cuӝc chiến lạm phát thiếu đi cái kӏch tính của mӝt cuӝc chiến thӵc thụ hay của nhiều cuӝc vận đӝng và chiến dӏch công khai đưӧc nhӳng nhà lãnh đạo chính trӏ ấp ủ. Điều này có thể giải thích tại sao nó lại ít đưӧc nhắc đến trong hồi ký của nhiều vӏ tәng thәng và nhӳng nhà chính trӏ. Ở mӝt mức đӝ, nhӳng lời giải thích này giúp giải đưӧc bài toán đố. Nhưng tôi cho rằng có mӝt nguyên nhân sâu hơn nӳa đối vӟi viӋc bӓ sót này. Đó là cách chúng ta làm nên lӏch sӱ. Có phần đơn giản mӝt chút: Các nhà sӱ hӑc không làm kinh tế, và các nhà kinh tế hӑc không làm lӏch sӱ. Nói chung, các nhà kinh tế - ngay cả khi hӑ nghiên cứu nhӳng sӵ kiӋn lӏch sӱ - chủ yếu nhấn mạnh vào nhӳng nguyên nhân và hậu quả kinh tế. Hӑ ít khi sӱ dụng kinh tế như là mӝt bӋ phóng để thông báo về mӝt câu chuyӋn kể lӏch sӱ ở phạm vi rӝng hơn. Các nhà sӱ hӑc lại chӏu nhӳng nhưӧc điểm ngưӧc lại. Bối cảnh của hӑ bao gồm hầu như toàn bӝ nhӳng vấn đề chính trӏ, xã hӝi và con người. Kinh tế làm cho hӑ lúng túng và buồn chán.[47] Con người và ý tưởng là nhӳng đӝng lӵc chính của hӑ. Nếu nhӳng lӵc lưӧng kinh tế xâm phạm, nhӳng nhà sӱ hӑc chӍ nhận thức chúng mӝt cách điển hình mà không cố lý giải hay phân tích chúng. Còn cánh nhà báo thì sao? Hӑ tập trung vào khoảng thời gian ngay trưӟc mắt. Hӑ muốn biết ai làm cái gì, cho ai và tại sao - nhưng chӍ là ngày hôm nay hay hôm qua mà thôi. Tóm lại, chúng ta phải phân đӏnh rõ là lӏch sӱ thì nói sơ lưӧc về kinh tế hӑc và kinh tế hӑc cũng nhắc sơ sài về lӏch sӱ. Cuӝc Đại Suy thoái - sӵ kiӋn kinh tế trӑng yếu nhất trong thế kӹ XX - minh hӑa rõ nhưӧc điểm này. Nhӳng nhà kinh tế hӑc đã thӵc hiӋn nhiều nӛ lӵc đầy tham vӑng để giải thích nhӳng nguyên nhân về mặt kinh tế, tӯ “The Great Crash” (Đại đổ vͩ) của Kenneth Galbraith đến “Golden Fetters”(Xiềng xích vàng) mӟi đây của Barry Eichengreen. Về phía các nhà sӱ hӑc, chúng ta có nhiều lời giải thích xuất sắc về nhӳng năm 1930, bao gồm “Since yesterday” (Tӯ hôm qua) của Frederick Lewis Allen và ấn phẩm bӝ ba“Age of Roosevelt” (Thời đại Roosevelt) của Arthur Schlesinger Jr. Nhưng gần như không có sӵ tәng hӧp về cả nhӳng căn nguyên của kinh tế lẫn nhӳng hậu quả lӟn lao hơn. Nếu ngay cả cuӝc Đại Suy thoái cũng gặp phải sơ sót này, thì khó lòng mà ngạc nhiên rằng lạm phát hai chӳ số - mӝt biến đӝng đầy ý nghĩa nhưng nhӓ hơn nhiều so vӟi Đại suy thoái - cũng cùng chung số phận như thế. Chúng ta đang lãng quên mӝt phần quan trӑng trong quá khứ. Đây là lúc để khôi phục lại lӏch sӱ đã mất này. 2. NỖI ÁM ẢNH VỀ “TÌNH TRẠNG ĐẦY ĐỦ VIỆC LÀM” I Có thể bạn tӵ hӓi: Làm thế nào điều này xảy ra đưӧc? Trong thời buәi yên bình này nưӟc Mӻ chưa tӯng trải qua mӝt cuӝc lạm phát kéo dài thì lý nào lại có mӝt cuӝc lạm phát bắt đầu vào thập niên 1960? Câu trả lời ngắn gӑn là sức mạnh của các ý tưởng. Trong thập niên 1960, các nhà kinh tế hӑc hàn lâm, cùng vӟi sӵ thӯa nhận của các nhà lãnh đạo chính trӏ, cho rằng có thể duy trì vĩnh viễn trạng thái gần “đầy đủ viӋc làm”[48]trong nền kinh tế (lúc đầu đưӧc đӏnh nghĩa là ở mức thất nghiӋp 4%). Nhӳng vòng tuần hoàn bùng nә và giảm sút, nhӳng đӧt suy thoái và Đại suy thoái tӯ lâu đã đưӧc coi là nhӳng đặc điểm khó chӏu và không thể tránh khӓi của chủ nghĩa tư bản công nghiӋp. Nhưng mӝt khi người ta đã chấp nhận ý tưởng cho rằng chu kỳ kinh doanh có thể điều khiển đưӧc, thì lúc đó sӵ tӵ kiềm chế đã lặng lẽ giӳ cho giá cả và tiền lương trong vòng kiểm soát cũng dần dần tan theo mây khói. Và nhӳng giả đӏnh mӟi đã xuất hiӋn. Nếu chính phủ có thể ngăn cản các cuӝc suy thoái, thì các doanh nghiӋp luôn có thể trông mong vào nhu cầu cao đối vӟi sản phẩm của hӑ. Tất cả nhӳng chi phí cao hơn (kể cả chi phí nhân công cao hơn) đều có thể đưӧc bù lại thông qua giá cả cao hơn. Tương tӵ như thế, nếu nền kinh tế lúc nào cũng đảm bảo “tình trạng đầy đủ viӋc làm”, thì công nhân có thể gây ra sức ép để đưӧc trả lương cao hơn mà không sӧ phải mất viӋc. Nếu nhӳng ông chủ hiӋn tại của hӑ không thể trả mức lương cao hơn đó, thì sẽ có người khác làm viӋc đó. Sẽ không còn mӝt mức thất nghiӋp đáng kể; chính phủ đã hứa như vậy. Kết quả là tạo ra mӝt vòng xoắn ốc về tiền lương-giá cả khó chӳa. Tiền lương đuәi theo giá cả, rồi giá cả đuәi theo tiền lương. Lạm phát trở thành “hiӋn tưӧng tӵ thӵc hiӋn” và khó có thể thay đәi. Đơn giản là thế đó. Giờ đây chúng ta biết rằng lời hứa loại bӓ chu kỳ kinh doanh nhất đӏnh là đã thất bại. Nếu nó tạo ra hành vi lạm phát (như đã diễn ra) và nếu lạm phát ngày càng tăng đe dӑa sӵ phát triển kinh tế (như đã diễn ra), thì lúc đó xung đӝt là không thể tránh khӓi. Tất cả nhӳng điều này giờ đây đều rõ ràng, nhưng vào thời điểm đó thì không như thế, ít ra là đối vӟi phần lӟn mӑi người. Có điều là, hành vi lạm phát xuất hiӋn tӯ tӯ và không có mӝt ý tưởng bất ngờ mang tính tập thể nào cả, khi mà nhӳng nhà điều hành doanh nghiӋp, nhӳng người lãnh đạo công đoàn và nhӳng công nhân bình thường đã kết luận, “Lạ thật, chính phủ đã loại bӓ hoàn toàn suy thoái. Không ai còn phải lo lắng rằng tiền lương cao và nhӳng viӋc tăng giá sẽ hủy hoại các doanh nghiӋp hay phá hủy công ăn viӋc làm của chúng ta”. Thay vào đó, người Mӻ lặng lẽ chấp nhận rằng viӋc tăng giá cả và tiền lương giờ đây không còn là mối nguy hiểm như trưӟc nӳa. Nhӳng sӵ xuất hiӋn đӝt ngӝt gây phiền phức của lạm phát đều bӏ đә lӛi cho nhӳng sӵ kiӋn “xưa như trái đất”: chi tiêu cho chiến tranh ở ViӋt Nam hay giá dầu tăng đӝt ngӝt trên phạm vi toàn cầu. Nếu nhӳng nguyên nhân nhất thời này biӋn hӝ cho hầu hết lạm phát, thì lời hứa cơ bản - viӋc kiểm soát chu kỳ kinh doanh - sẽ vẫn còn tác đӝng. Thật không may là hầu hết lạm phát đã không xuất phát tӯ nhӳng nguyên nhân nhất thời. Giờ đây thật khó cho chúng ta để hồi tưởng lại sӵ đồng tâm hưӟng tӟi “tình trạng đầy đủ viӋc làm” mà cả Đảng Dân chủ lẫn Đảng Cӝng hòa đều theo đuәi vào thời điểm cuối thập niên 1960 và 1970. Không ngạc nhiên lắm, Richard Nixon, mӝt nhân vật có tính nhạy cảm sắc bén về chính trӏ, là người nắm bắt nӛi ám ảnh nhiều nhất. Ông đã bình luận vào thời kỳ đầu nhiӋm kỳ tәng thống của mình “Khi anh bắt đầu nói về lạm phát ở khía cạnh trӯu tưӧng, thì rất khó để người ta có thể hiểu đưӧc. Nhưng khi mức thất nghiӋp tăng lên 0,5% thì đó là mӝt chấn đӝng ... Đã tám năm qua không có cuӝc suy thoái nào (trong nhӳng năm 1960)... Chúng ta không thể cho phép có - Rầm! - mӝt cuӝc suy thoái. Chúng ta sẽ không bao giờ cầm quyền đưӧc nӳa”. Mức thất nghiӋp thấp là điều quan trӑng nhất và là điểm kết thúc của chính sách kinh tế; lạm phát là mӝt sӵ phiền toái khó chӏu. Nhӳng điều ưu tiên đó kéo dài hơn cả mӝt thập kӹ. Nhìn lại nhiӋm kỳ của tәng thống Carter (1977-1981), Stuart E. Eizenstat, trưởng cố vấn nӝi vụ của Nhà Trắng sau này đã thú nhận rằng: Sai lầm chính của chính sách kinh tế thời tәng thống Carter là thất bại ở viӋc xác đӏnh tính nghiêm trӑng của nhӳng áp lӵc lạm phát tiềm ẩn trong nền kinh tế. Chúng tôi đã kẹt quá lâu vào nhӳng chính sách tài khóa và tiền tӋ mang tính kích thích đã hứa vӟi cӱ tri trong chiến dӏch bầu cӱ tәng thống vào năm 1976, để chấm dứt cái mà chúng tôi gӑi là “sӵ suy thoái của Ford”. Ngẫm lại, chúng tôi đã mờ mắt cho đến khi quá trễ trưӟc mức đӝ ngày càng tăng của lạm phát. ...Nhӳng phụ tá cấp cao của tәng thống, gồm cả tôi, và Đảng Dân chủ nói chung, đã lo sӧ và có khuynh hưӟng chống đối bất kỳ quyết đӏnh về kinh tế nào để chiến đấu chống lạm phát mà có nguy cơ gây rủi ro là kìm hãm sӵ tăng trưởng và gây ra mức thất nghiӋp cao hơn.[49] Nhӳng quan điểm chính trӏ thường đi theo chu kỳ quen thuӝc của sӵ mê đắm và sӵ tӍnh ngӝ. Trong các cơn mê, lúc đầu mӑi viӋc đều dường như hoàn hảo, cuӝc sống như có mӝt ánh hào quang đặc biӋt, tương lai đầy hứa hẹn và thi vӏ. Nhưng sӟm muӝn gì thì nhӳng căng thẳng cũng xâm nhập. Lãng mạn đánh mất đi vẻ hào quang của nó. Đôi khi nó mở ra mӝt mối quan hӋ vӳng chắc hơn; đôi khi nó lại chìm vào sӵ tố cáo lẫn nhau và sӵ hối hận. Nó đã là như thế cùng vӟi lời cam kết về viӋc loại bӓ nhӳng chu kỳ kinh doanh. Lúc đầu, kết quả thӵc hiӋn ăn khӟp vӟi lời hứa. Tӯ tӯ, nhӳng rắc rối xuất hiӋn; đã có nhӳng nӛ lӵc tuyӋt vӑng để đạt đưӧc lời hứa ban đầu - chủ yếu là thông qua nhӳng kiểm soát về tiền lương và giá cả. Người ta dần dần tӯ bӓ nhӳng niềm tin đã ấp ủ, thường chӍ khi chạm trán vӟi nhӳng bằng chứng ồ ạt về các sai lầm. Vào cuối thập niên 1970, nhӳng bằng chứng như thế nằm ngay trong tầm tay, và nhӳng tác đӝng mang tính tàn phá của lạm phát đã gieo rắc tâm trạng vӥ mӝng. Người ta đã không còn tin vào lời hứa ban đầu nӳa. II Câu chuyӋn của chúng ta bắt đầu vӟi cuӝc bầu cӱ của John F. Kennedy vào năm 1960. Bưӟc vào Nhà Trắng, Kennedy đã không có mӝt chương trình kinh tế rõ ràng. Chắc chắn ông đã không tranh luận rằng nhӳng chu kỳ kinh doanh có thể đưӧc xóa bӓ - mӝt ý kiến sẽ làm cho hầu hết người Mӻ có ấn tưӧng là ngӟ ngẩn. Nhưng ông đã thӵc hiӋn chiến dӏch tranh cӱ của mình dӵa trên mӝt lời cam kết mơ hồ là sẽ “làm cho nưӟc Mӻ lại tiến lên”. Điều này chính xác có nghĩa gì trong thӵc tiễn là không rõ bởi vì nưӟc Mӻ đã thӏnh vưӧng vào thập kӹ 1950, ngoại trӯ mӝt cuӝc suy thoái cũng đáng kể là vào thời kỳ 1957-58 (mức thất nghiӋp trung bình là 6,8% vào năm 1958, tăng so vӟi mức 4,1% vào năm 1956). Nhưng lập luận của Kennedy không chӍ là thӏnh vưӧng hơn và ít đói nghèo đi. Ông gắn kết quả thӵc hiӋn kinh tế trong nưӟc vӟi khả năng đương đầu vӟi Liên bang Xô Viết ở bên ngoài. Trong diễn văn tranh cӱ, ông đã phát biểu: “Chúng ta phải nhận rõ quan hӋ mật thiết giӳa sức mạnh của chính nền kinh tế trong nưӟc của chúng ta và vӏ thế của chúng ta trên thế giӟi. Nếu chúng ta đứng vӳng ở đây, thì chúng ta sẽ đứng vӳng trên thế giӟi”.[50] Mười lăm năm sau Thế chiến II, lập luận đó vang dӝi mӝt cách mạnh mẽ vӟi hầu hết người Mӻ. Chiến tranh lạnh đã sản sinh ra cảm giác đe dӑa không ngӯng. ViӋc phóng vӋ tinh Sputnik của Liên bang Xô viết, vӋ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất vào năm 1957 đã làm cho người Mӻ bӏ sốc, làm cho niềm tin của hӑ vào sӵ vưӧt trӝi về công nghӋ của Mӻ bӏ lung lay. Sputnik đã làm cho nhӳng lời tuyên bố của Liên bang Xô viết trở nên đe dӑa hơn và đáng tin hơn rằng hӑ sẽ qua mặt nưӟc Mӻ về mặt kinh tế. Kennedy đã đặt cưӧc vào nhӳng nӛi sӧ hãi này, trong khi cũng lôi cuốn quyền lӧi trưӟc mắt của chính cӱ tri bằng mӝt xã hӝi thӏnh vưӧng hơn. Mặc dù không có mӝt chương trình nào hết, nhưng ông đã ở vào vӏ thế để chӍ đӏnh ra người làm viӋc này. Đứng đầu trong số đó là Walter Heller, mӝt nhà kinh tế hӑc 46 tuәi đến tӯ trường Đại hӑc Minnesota, ông đã trở thành chủ tӏch của Hӝi đồng cố vấn kinh tế của Kennedy (CEA - Council of Economic Advisers). Heller có lẽ là mӝt chủ tӏch CEA có ảnh hưởng nhất tӯ trưӟc đến nay, không phải vì ông là người lӛi lạc nhất mà vì ông đã thành công - nhiều hơn bất kỳ ai - trong viӋc làm cho tәng thống chấp nhận ý kiến của mình. Heller là người năng nә quảng bá cho cái mà rốt cuӝc đưӧc gӑi là “kinh tế hӑc mӟi” (new economics), mӝt cái mác phә biến của nhӳng người theo chủ nghĩa Keynes. Nhӳng quan điểm của Keynes đã hoàn toàn chi phối mӝt trào lưu chính giӳa các nhà kinh tế hӑc, và Heller đã quyết đӏnh đưa chúng vào thӵc tế. Vào thời điểm ông rời khӓi CEA vào năm 1964, ông đã thành công, có lẽ là vưӧt hơn cả sӵ tưởng tưӧng ngông cuồng nhất của ông. Sau vụ viӋc tәng thống Kennedy bӏ ám sát, Quốc hӝi đã thông qua mӝt cắt giảm thuế lӟn - như đã đưӧc các nhà kinh tế hӑc của ông đề nghӏ - để khuyến khích tăng trưởng kinh tế; và Lyndon Johnson đã ấp ủ quan điểm về quản lý kinh tế năng đӝng. Năm 1966, Heller đã viết mӝt cách đắc thắng rằng: Nền kinh tế đã đến thời kỳ trưởng thành vào thập niên 1960. Hai vӏ tәng thống (Kennedy và Johnson) đã nhận ra và hưӟng về mӝt nền kinh tế hiӋn đại như là nguồn gốc của sức mạnh quốc gia và quyền lӵc tәng thống. ViӋc hӑ sẵn lòng sӱ dụng lần đầu tiên toàn bӝ các loại công cụ của nền kinh tế hiӋn đại [thể hiӋn]... viӋc thu hẹp khoảng cách về trí tuӋ giӳa nhӳng nhà cố vấn kinh tế và nhӳng người ra quyết đӏnh. Sӵ kiềm chế làm tê liӋt huyền thoại kinh tế và nhӳng nӛi sӧ sai lầm về chính sách đã đưӧc nӟi lӓng, thậm chí có lẽ là đã bӏ phá vӥ.[51] Lòng nhiӋt tình của Heller là điển hình vào thời đó. Đưӧc tiếp sức bởi chiến thắng ở Thế chiến II và nhӳng tiến bӝ về công nghӋ sau chiến tranh (đi lại bằng máy bay, năng lưӧng hạt nhân, truyền hình), người Mӻ đã vô cùng tin tưởng ở sức mạnh của hӑ trong viӋc giải quyết các vấn đề. Heller chẳng hề là kẻ đơn đӝc vӟi quan điểm của mình. Ông đơn giản là người chӍ huy, dẫn đầu mӝt ban nhạc gồm nhӳng nhà kinh tế hӑc có cùng tư tưởng: Paul Samuelson ở Đại hӑc Massachusetts, là trưởng cố vấn của Kennedy trong chiến dӏch tranh cӱ;[52]James Tobin của Yale, mӝt thành viên của CEA; Robert Solow của MIT, mӝt nhà kinh tế hӑc, mӝt nhân viên cấp cao của CEA; Kermit Gordon đến tӯ Đại hӑc Williams, ban đầu là thành viên CEA và sau này là giám đốc Cục Ngân sách; và Seymour Harris, cố vấn Bӝ Tài chính, trưӟc kia làm viӋc ở Harvard sau này chuyển đến Đại hӑc California ở San Diego. Sức mạnh tәng hӧp về trí tuӋ của hӑ thật đáng kể. Ba người (Samuelson, Solow và Tobin) sau này đoạt giải Nobel về kinh tế; sách của Samuelson đưӧc dùng như sách giáo khoa của các trường đại hӑc hàng đầu trong rất nhiều năm; và Gordon sau đó trở thành người đứng đầu ViӋn Brookings, mӝt cơ quan tham mưu chính sách lӟn của Washington. Tất cả hӑ đều tin rằng nền kinh tế Mӻ có thể thể hiӋn tốt hơn. Ở mӝt mặt nào đó, tính tӵ phụ của hӑ thật đáng ngạc nhiên. So vӟi bất kỳ thời kỳ nào trong lӏch sӱ Mӻ, nền kinh tế đã thể hiӋn mӝt cách đầy ấn tưӧng kể tӯ sau Thế chiến II. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, cùng vӟi cuӝc Đại Suy thoái vẫn còn rõ rӋt trong tâm trí của người dân, thì nhӳng nӛi sӧ hãi về mӝt sӵ sụp đә kinh tế khác lại rất phә biến. Năm 1946, 60% người Mӻ cho rằng mӝt cuӝc Đại suy thoái có thể sẽ xảy ra chӍ trong vòng mӝt thập niên. Năm 1947, Harry S. Truman khuyến cáo rằng “Công viӋc hiӋn nay là quan tâm đến viӋc nưӟc Mӻ không bӏ tàn phá bởi nhӳng cuӝc suy thoái đang diễn ra và nhӳng thời kỳ thất nghiӋp dài”. HiӋn thӵc đã đặt nhӳng nӛi lo này lên vai của hӑ. Người Mӻ đã hưởng mӝt cuӝc bùng nә phi thường, đưӧc đánh dấu bằng mӝt viӋc đô thӏ hóa thiếu suy nghĩ và mӝt niềm đam mê về xe hơi và viӋc mua sắm các trang thiết bӏ. Trong thập kӹ 1950, dân số Mӻ tăng lên 28 triӋu, gần 1/5. Hai phần ba của sӵ tăng lên này là ở khu vӵc thành thӏ. Đã có lời bình luận rằng “Nếu như cuӝc điều tra dân số vào năm 1890 loan báo về cái chết của biên giӟi, thì cuӝc điều tra dân số vào năm 1960 loan báo về cái chết của thành phố lӟn”. Các đôi lứa hăng hái cho ra đời các em bé. Đây là thời hoàng kim của sӵ tăng vӑt tӍ lӋ sinh sản (baby boom) sau chiến tranh.[53] Trẻ em là dấu hiӋu của sӵ lạc quan đưӧc hồi phục lại và niềm tin của người Mӻ vào tương lai. Trong thập kӹ 1930, tӹ lӋ sinh đẻ giảm mạnh, thể hiӋn mӝt bầu không khí ảm đạm lan tràn. Nhưng sau chiến tranh, tinh thần người Mӻ đưӧc cải thiӋn cùng vӟi nền kinh tế. Đến năm 1960 và đã tính đến sӵ tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người tăng 24% so vӟi năm 1946 và 94% so vӟi năm 1929. So vӟi cuӝc Đại suy thoái, nhӳng cuӝc suy thoái diễn ra vào nhӳng năm 1949, 1953-54, 1957-58 và 1960 là khá ôn hòa. Mức thất nghiӋp hàng tháng cao nhất, 7,5% vào tháng 7/1958, cũng còn cách xa so vӟi nhӳng mức hai chӳ số của thập kӹ 1930, khi mà thất nghiӋp trung bình là 18%. Mối quan hӋ đưӧc cải thiӋn giӳa nền kinh tế và chính phủ cũng củng cố thêm niềm tin. Nhà kinh tế hӑc Herbert Stein sau này đã viết: “Dӵa vào trải nghiӋm của thập kӹ 1930, thật không thể tưởng tưӧng rằng chính phủ sẽ thất bại ở viӋc cam kết duy trì tình trạng có viӋc làm ở mức đӝ cao”. Quốc hӝi đã đưa ra sӵ cam kết đó vӟi Đạo luật viӋc làm (Employment Act) năm 1946, tạo ra Hӝi đồng cố vấn kinh tế để giám sát nhӳng điều kiӋn kinh tế và đưa ra nhӳng đề nghӏ cần cân nhắc cho tәng thống. Mӝt Quốc hӝi vӟi Đảng Dân chủ chiếm đa số đã thông qua Đạo luật viӋc làm, và trong thập kӹ 1950, mӝt tәng thống thuӝc Đảng Cӝng hòa, Dwight Eisenhower, đã đi theo sӵ đồng thuận mang tính cẩn trӑng đó. Ông đặt niềm tin vào cân bằng ngân sách và әn đӏnh giá cả. Nhưng ông cũng cho rằng chính phủ phải hành đӝng - nghĩa là vưӧt qua thâm hụt và cắt giảm lãi suất - nếu như nền kinh tế có nguy cơ chӏu đӵng rủi ro về mӝt cuӝc sa sút sâu sắc hay mӝt cuӝc suy thoái. Chính phủ sẽ ngăn chặn tai ương.[54] Và dưӟi thời của Eisenhower, người ta đã làm đưӧc điều đó. Các nhà kinh tế hӑc của Kennedy nhận thấy biӋn pháp đó là quá thận trӑng. Hӑ cho rằng chính phủ có thể làm nhiều hơn thay vì chӍ đơn thuần ngăn cản thảm hӑa. Heller và nhӳng người khác tin rằng hӑ có thể giӳ cho nền kinh tế phát triển liên tục và vận hành ở gần “tình trạng đầy đủ viӋc làm”. Khi mức thất nghiӋp trở nên quá cao, chính phủ có thể kích thích tiêu dùng và sản xuất. Nó có thể giảm thuế, tăng chi tiêu chính phủ - thậm chí là hoạch đӏnh mӝt sӵ thâm hụt - và cắt giảm lãi suất. Đây là “mồi nưӟc máy bơm” - hành đӝng để kích thích nền kinh tế tăng trưởng[55]- mӝt cách cần thiết, đầy phức tạp. Nếu “mồi nưӟc” vào quá nhiều thì sẽ làm lạm phát trở nên nghiêm trӑng - đẩy giá lên cao vì cầu nhiều hơn cung - và rồi quá trình có thể bӏ đảo ngưӧc. Thuế và lãi suất có thể bӏ nâng lên; chi tiêu chính phủ có thể bӏ cắt giảm; ngân sách có thể dao đӝng sang thặng dư. Nền kinh tế sẽ phát triển chậm lại; lạm phát sẽ giảm đi. Loại hình “nền kinh tế của nhà hoạt đӝng xã hӝi” này biến nhӳng nhà kinh tế hӑc thành nhӳng kӻ sư năng nә vì công chúng, nhӳng người có thể ban phát sӵ thӏnh vưӧng mãi mãi. Không phải là ngẫu nhiên, quyền lӵc và uy tín của hӑ sẽ đi lên. Rốt cuӝc, người ta gӑi biӋn pháp này là “Điều chӍnh” (fine-tuning). Mӝt số các nhà kinh tế hӑc của thời Kennedy-Johnson sau này phàn nàn rằng cái nhãn mác đó là mӝt sӵ đơn giản hóa mang tính báo chí và là mӝt sӵ cường điӋu. Nhưng không phải thế. Năm 1965, tәng thống Johnson - chắc chắn là nhӳng lời của ông đã đưӧc nhӳng nhà kinh tế hӑc viết ra hay thông qua - tuyên bố rằng “Tôi không tin là các cuӝc suy thoái là điều không thể tránh”. Đến cuối năm 1970, Arthur Okun, mӝt nhà kinh tế hӑc của Yale, người đã phục vụ trong đӝi ngũ CEA của Johnson trong khoảng thời gian 1964 đến 1969 (có mӝt năm là chủ tӏch), đã viết như sau: “Các cuӝc suy thoái giờ đây về cơ bản đưӧc xem như có thể ngăn ngӯa đưӧc, giống như ngăn ngӯa mӝt vụ rơi máy bay chứ không giống như ngăn ngӯa mӝt cơn bão”. Nhiều người trong số nhӳng nhà kinh tế hӑc này khuyến khích “điều chӍnh”, dù có mang tên gӑi nào đi nӳa. Cuӝc Đại Suy thoái đã ảnh hưởng hӑ mӝt cách sâu sắc. Có người đã nói “Lời nói và nhӳng số liӋu thống kê không thể truyền đạt cho nhӳng người không sống qua thời kỳ đó, nhӳng người không nhӟ đến bất kỳ thứ gì giống vӟi mӝt bức tranh đầy đủ của cuӝc Suy thoái. Chúng tôi thấy nạn thất nghiӋp, nhӳng hàng người chờ đưӧc phát chẩn, nhӳng căn nhà bӏ tӏch thu thế nӧ, nhӳng nông trại bӏ bӓ hoang mӝt cách trӵc tiếp, chứ không phải qua số liӋu thống kê hay phim truyền hình”.[56] Trong kinh tế hӑc cә điển, các chu kỳ kinh doanh là không thể tránh khӓi nhưng chúng có tính tӵ điều chӍnh. Nhӳng khôi phục sẽ tӵ nó xảy ra thông qua nhӳng thay đәi tӵ đӝng về tiền lương, giá cả và lãi suất. Giá cả thấp hơn sẽ thúc đẩy mua sắm nhiều hơn; mức lương thấp hơn sẽ thúc đẩy thuê mưӟn nhiều hơn; mức lãi suất thấp hơn cũng sẽ thúc đẩy vay mưӧn nhiều hơn. Tuy nhiên, điều này đã không hề xảy ra ở thập niên 1930. Dường như chӍ có Keynes mӟi có thể giải thích tại sao. Như ông đã biӋn luận, tiền lương mang tính chất “dính” và không thể hạ xuống mӝt cách thích đáng trong mӝt thời kỳ khủng hoảng. Thậm chí ở nhӳng mức lãi suất thấp, trong nhӳng ngành kinh doanh ảm đạm nhӳng nhà đầu tư có thể không vay mưӧn thêm nӳa. Do đó mà nhӳng điều chӍnh tӵ nó không phải lúc nào cũng chӍnh đốn lại nhӳng thời kỳ đình đốn kinh tế nghiêm trӑng đưӧc. Trӯ khi chính phủ can thiӋp vào, không thì nền kinh tế có thể đӏnh hình ở mӝt trạng thái trì trӋ vӟi mức thất nghiӋp cao. Keynes đã truyền vào nền kinh tế sӵ liên quan chính trӏ và năng lưӧng hӑc thức. Tobin đã viết “Chúng ta bӏ lôi cuốn vào chủ đề (kinh tế) bởi sӵ kết hӧp hạnh phúc giӳa sӵ phấn khích về trí tuӋ và mӝt lời hứa về sӵ cải thiӋn xã hӝi ngoạn mục”.[57] Vào thập niên 1960, nhӳng người Mӻ theo chủ nghĩa Keynes tin rằng nhӳng tiến bӝ kӻ thuật trong kinh tế sẽ cho phép hӑ vưӧt trӝi hơn. Trưӟc Thế chiến II, nhӳng số liӋu thống kê kinh tế là khá thô sơ - nhӳng báo cáo về sản lưӧng kinh tế (Tәng sản phẩm quốc nӝi), mức thất nghiӋp và lạm phát trở thành viӋc thường nhật chӍ vào thập niên 1940 và 1950.[58] Lúc đó người ta cho rằng có thể ưӟc tính đưӧc “sản lưӧng tiềm năng” của nền kinh tế - lưӧng của cải có thể đưӧc sản xuất ra khi tất cả các công ty vận hành ở năng suất cao nhất và tất cả nhӳng công nhân sẵn sàng làm viӋc đều có viӋc làm.[59] Nhӳng mô hình kinh tế phụ thuӝc vào máy tính đã giúp cho quá trình này. Nhӳng mô hình này cho thấy nhӳng biến số kinh tế khác nhau (chi tiêu của người tiêu dùng, các mức lãi suất, xây dӵng nhà cӱa) tương tác vӟi nhau như thế nào, vì thế người ta cho rằng chúng có thể đưa ra nhӳng dӵ đoán chính xác. Chúng có thể quyết đӏnh nền kinh tế có thể lӋch ra khӓi “sản lưӧng tiềm năng” xa tӟi mức nào. Người ta tin rằng chúng cũng có thể dӵ báo đưӧc nhӳng cuӝc suy thoái và lạm phát. Vì thế, nhӳng chính sách để chӍnh đốn có thể đưӧc chấp nhận. Nếu nền kinh tế ở dưӟi mức toàn dụng nhân công, thì nó có thể đưӧc đẩy nhẹ lên mӝt chút. Nếu nó ở trong vùng lạm phát, thì nó có thể đưӧc đè xuống mӝt chút. Vӟi thông tin và nhӳng lý thuyết tốt hơn, thì kinh tế hӑc dường như là mӝt dạng thức đáng tin cậy của viӋc điều chӍnh, lèo lái xã hӝi. Đưӧc tạo điều kiӋn bởi cuӝc Suy thoái, các nhà kinh tế hӑc thời Kennedy Johnson đã không mấy lo lắng về lạm phát. Tӯ năm 1958 đến 1961, mức thất nghiӋp trung bình hàng năm là 6,1% trong khi lạm phát chӍ có 1,5%. Tình trạng không có viӋc làm dường như là mӝt vấn đề gây sức ép. Lạm phát ở mức khiêm tốn đưӧc xem như là mӝt hiӋn tưӧng “chi phí đẩy” (tình trạng giá cả tăng vọt do chi phí sản xuất tăng vọt - ND). Mӝt số ngành công nghiӋp (thép, xe hơi, cao su), do mӝt số ít các công ty chi phối và vӟi lӵc lưӧng lao đӝng đưӧc tә chức thành công đoàn, đã có đủ sức mạnh về thӏ trường đӝc lập để đẩy tiền lương và giá cao hơn. Ngưӧc lại, lạm phát do “cầu kéo” (tình trạng giá cả tăng vọt do không đͯ hàng hóa và dịch vͭ để cung ͱng - ND) - cầu quá nhiều làm tăng giá cả - dường như không đe dӑa lắm. Các nhà kinh tế hӑc của Kennedy cảm thấy thoải mái vӟi “Đường cong Phillips”, có nӝi dung cho thấy mӝt mối quan hӋ cân bằng giӳa mức thất nghiӋp và lạm phát. Mӝt xã hӝi có thể chӑn lӵa kiểu “hӛn hӧp” lạm phát và mức thất nghiӋp mà nó thấy thích hӧp hơn cả. Đường cong này đưӧc đặt theo tên của nhà kinh tế hӑc người New Zealand A.W. Phillips, vào năm 1958 ông là người đầu tiên đã vẽ đồ thӏ về mối liên hӋ lӏch sӱ giӳa mức thất nghiӋp và tiền lương của nưӟc Anh (tiền lương theo sát giá cả). Khi các nhà kinh tế hӑc Paul Samuelson và Robert Solow xem xét các dӳ liӋu của Mӻ, hӑ đã kết luận rằng có mӝt “thӵc đơn để lӵa chӑn” đầy hứa hẹn. Hӑ đề nghӏ mức thất nghiӋp 3% có thể tồn tại cùng vӟi mức lạm phát thường trӵc là khoảng 4,5%. Đây có vẻ như là mӝt hӛn hӧp đáng khao khát về mặt xã hӝi và kinh tế[60]. Thӵc tế, Samuelson và Solow đã gӑi mức thất nghiӋp 3% là mӝt mục tiêu “của nhӳng người không hoàn hảo”, ngầm ý rằng sӟm hay muӝn nó thậm chí còn có thể thấp hơn nӳa. Chủ nghĩa lạc quan đang cho thấy nhӳng nhà kinh tế hӑc của Kennedy-Johnson không gặp phải vấn đề thiếu tӵ tin. Hӑ tӵ coi mình là nhӳng nhà truyền giáo vì lӧi ích chung có thể tạo ra đưӧc tӯ nền kinh tế hiӋn đại. Mӝt kӹ nguyên mӟi đang ngay trong tầm tay, chӍ cần dẹp đi sӵ kháng cӵ về chính trӏ và cӝng đồng. Heller viết, “Rào cản to lӟn của viӋc làm cho đất nưӟc lại tiến lên chính là sӵ chẳng biết gì về kinh tế và nhӳng khuôn mẫu giống nhau đang tràn lan khắp nơi. Tâm trí của con người phải đưӧc tạo điều kiӋn để chấp nhận cách suy nghĩ mӟi, nhӳng biểu tưӧng mӟi, và nhӳng quan điểm mӟi, rӝng hơn về lӧi ích chung”. Vấn đề là trong số “nhӳng khuôn mẫu giống nhau” có nhiều cái đã tạo ra “sӵ chẳng biết gì” không chӍ đưӧc duy trì bởi quần chúng nói chung mà còn bởi nhӳng nhà lãnh đạo chính trӏ của nó, kể cả Kennedy.[61] Trưӟc hết, trong số nhӳng khuôn mẫu giống nhau đó, là mӝt niềm tin phә biến vào ưu điểm của cân bằng ngân sách; điều này làm cho viӋc sӱ dụng sӵ thâm hụt có hoạch đӏnh trưӟc như là mӝt công cụ quản lý kinh tế trở nên khó khăn hơn nhiều. Theo nguyên tắc chung, người Mӻ tin rằng nӧ là xấu. Điều này bao gồm cả nӧ của chính phủ. Tiêu biểu là hӑ ví tiền bạc của chính phủ cũng như của chính hӑ. Người ta không nên “vung tay quá trán”. Cả chính phủ cũng không nên như thế. Hơn nӳa, viӋc cứ khăng khăng cho rằng nhӳng khoản thuế khó chӏu về mặt chính trӏ sẽ bù cho nhӳng chi tiêu dễ chӏu về mặt chính trӏ đã cản trở sӵ phát triển của chính phủ. Nhưng quan điểm này có tӯ lúc bắt đầu nền cӝng hòa, mặc dù chúng thường bӏ không đứng vӳng trong chiến tranh cũng như trong các cuӝc suy thoái, khi mà thâm hụt đưӧc chấp nhận như là điều tất yếu trong thӵc tiễn. Thật khó để trả giá cho nhӳng cuӝc chiến tốn kém bằng viӋc gia tăng thuế ở mức cao và ngay lập tức; tăng thuế cao hay nhӳng cắt giảm chi tiêu khi nền kinh tế đang suy sụp thì cũng khó như nhau. Nhưng kinh nghiӋm như thế không thể kéo dài sang để áp dụng vào viӋc duy trì nhӳng khoản thâm hụt mӝt cách có chủ ý trong thời kỳ hòa bình và thӏnh vưӧng. Bằng nhӳng châm ngôn này, viӋc hùng hә sӱ dụng thâm hụt ngân sách để đạt đưӧc tình trạng đầy đủ viӋc làm đã bӏ loại trӯ. Điều thứ hai của “sӵ chẳng biết gì” là thái đӝ thù đӏch phә biến đối vӟi lạm phát. Người ta thích giá cả әn đӏnh; các nhà kinh tế hӑc theo chủ nghĩa Keynes đã nhận ra điều đó. Nhưng hӑ tin rằng hầu hết người Mӻ đã sùng bái nó đến mức đáng chê trách. ChӍ đôi chút lạm phát - viễn cảnh đưӧc nêu ra bởi đường cong Phillips - sẽ tạo ra tính xây dӵng về mặt xã hӝi hơn. Nó sẽ cho phép nhӳng chính sách kinh tế cởi mở hơn, mức thất nghiӋp thấp hơn và sản lưӧng lӟn hơn. Phần lӧi thu đưӧc thì đáng để bӓ ra chi phí. Cuối năm 1974, Tobin đã viết, có “mӝt sӵ cường điӋu quá mức về nhӳng chi phí xã hӝi đối vӟi lạm phát”. Năm 1962, CEA đầu tiên của Kennedy đã chӍ rõ mức lạm phát 4% như là mӝt mục tiêu tạm thời cho “tình trạng đầy đủ viӋc làm”. Vӟi đường cong Phillips của Mӻ, điều đó ngầm ý rằng đất nưӟc có thể tiến hành mӝt cuӝc lạm phát tạm thời ở mức tӯ 3 đến 4%. Giả đӏnh là hầu hết người dân sẽ điều chӍnh cho mӝt mức lạm phát hơi cao hơn mӝt chút mà không hề có sӵ oán giận hay nhӳng tác dụng phụ về mặt kinh tế hay xã hӝi nào.[62] Chúng ta cũng có mӝt giả đӏnh hết sức quan trӑng là lạm phát sẽ әn đӏnh và không tăng tốc. Trở ngại cuối cùng để quản lý kinh tế năng đӝng có liên quan đến vàng. Vào lúc đó, Mӻ đã cam kết sẽ chuyển đәi đồng đôla mà chính phủ các nưӟc đang nắm giӳ sang vàng ở mức 35 đôla/ounce. Cam kết này, đưӧc thông qua ở mӝt hӝi nghӏ quốc tế vào năm 1944 tại Bretton Woods, New Hampshire, nhằm làm cho đồng đôla trở thành mӝt đồng tiền quốc tế đưӧc sӱ dụng trong nhӳng giao dӏch ngoại thương và để thanh toán nhӳng khoản nӧ giӳa các quốc gia. Đồng đôla sẽ đưӧc xem gần như là vàng. Nếu lạm phát của Mӻ làm xói mòn giá trӏ của đồng đôla, thì khi đó các chính phủ nưӟc ngoài có thể sẽ rút hết lưӧng vàng dӵ trӳ của Mӻ bằng viӋc đưa ra đồng đôla của hӑ để đәi lấy vàng. Để ngăn chặn viӋc đó, Mӻ sẽ buӝc phải làm chậm lại nền kinh tế của nó bằng viӋc nâng lãi suất hay thӵc hiӋn thặng dư ngân sách. Lạm phát và nhập khẩu sẽ hạ xuống bӟt. Đồng đôla ít đi ra khӓi biên giӟi hơn (người Mӻ đã trả nhӳng hàng hóa nhập khẩu của hӑ bằng đôla), và các chính phủ nưӟc ngoài sẽ có niềm tin vào đồng đôla hơn. Đó là quan điểm của hӋ thống tiền tӋ quốc tế Bretton Woods. Nhưng đối vӟi các nhà kinh tế hӑc của Kennedy, logic này có thể phá hoại các chính sách về “tình trạng đầy đủ viӋc làm” tại quê nhà. Chuӝc nền kinh tế nӝi đӏa bằng vàng, theo hӑ, là tӵ chuốc lấy thất bại. Tốt hơn hết là bӓ viӋc đảm bảo bằng vàng. Để đạt đưӧc nhӳng mục tiêu của hӑ, các nhà kinh tế hӑc của Kennedy đã phải xóa đi tất cả nhӳng cản trở về chính trӏ này - và công viӋc này đưӧc bắt đầu ở ngay Nhà Trắng. Theo bản năng, Kennedy chẳng thích sӵ thâm hụt ngân sách, và nhiều viên chức khác trong bӝ máy hành chính của ông cũng vậy. Không có sӵ thống nhất trong quan điểm, bởi vì Kennedy không muốn có sӵ thống nhất. Có lần ông đã nhận xét rằng: “Đơn giản là tôi không thể có mӝt ban cố vấn”. Vì vậy mà ông đã không có ban cố vấn. Không ngạc nhiên chút nào, C. Douglas Dillon, mӝt người theo đảng Cӝng hòa, bӝ trưởng bӝ Tài chính, đã phản đối nhӳng thâm hụtcố ý đó. Hơn nӳa, đào bӟi thành kiến về viӋc chống thâm hụt là mang tính rủi ro về chính trӏ. Nhӳng người thuӝc phe Cӝng hòa thường xuyên tấn công bằng viӋc cho nhӳng người thuӝc phe Dân chủ là nhӳng kẻ ăn tiêu hoang phí, nghiӋn viӋc tài chính thâm hụt. Trong Quốc hӝi, nhӳng người theo đảng Dân chủ miền Nam bảo thủ về mặt tài chính đã nắm giӳ nhiều vӏ trí chủ chốt. Đặc biӋt quan trӑng là thưӧng nghӏ sĩ Harry Byrd của bang Virginia, chủ tӏch Ủy ban Tài chính Thưӧng viӋn, có chức năng xem xét tính hӧp pháp của bất kỳ khoản thuế nào. Ủng hӝ nhӳng thâm hụt cố ý nghĩa là chứng minh nhӳng người theo phe Cӝng hòa là đúng và sẽ trở nên không thân thiӋn vӟi nhӳng người theo phe Dân chủ miền Nam. Và vì cái gì? Ngay cả Kennedy lúc đầu cũng nghi ngờ sӵ lôi cuốn chính trӏ ở nhӳng quan điểm của Heller. Ông đã ghi chú riêng vào đầu nhiӋm kỳ của mình rằng “94% người có viӋc làm không thể kém quan tâm hơn đến 6% người không có viӋc làm”.[63] Đến cuối năm 1962, Kennedy đã thay đәi quan điểm của mình. Mặc dù ngân sách đã hoàn toàn rơi vào thâm hụt, nhưng ông đã đề nghӏ mӝt mức cắt giảm thuế to lӟn vào đầu năm 1963. Phần nào, sӵ thay đәi này đã phản ánh chính con người ông. Kennedy tӵ thấy mình như là mӝt người thí nghiӋm đầy cẩn trӑng, cởi mở vӟi nhӳng ý tưởng mӟi. Hugh Sidey của tạp chí Time đã viết rằng “Các nhà kinh tế hӑc chưa bao giờ có mӝt vӏ Tәng thống nào lại lắng nghe hӑ mӝt cách sẵn lòng đến thế. Kennedy tin tưởng vào nhӳng sӵ thật khó khăn, chứ không phải nhӳng linh cảm”. Các nhà kinh tế hӑc đã làm ông tràn ngập vӟi nhӳng sӵ kiӋn mà “các chính trӏ gia không thể nào sánh đưӧc..., và vì thế ngài Kennedy thӵc dụng đã chuyển hưӟng sang các nhà kinh tế hӑc”. Kết quả thӵc hiӋn lờ đờ của nền kinh tế đã giúp vào viӋc chuyển hưӟng của ông. Mӝt cuӝc suy thoái vào đầu năm 1961 đã làm tăng mức thất nghiӋp lên 6,7%. Nhưng vào giӳa năm 1962, thất nghiӋp thôi không hạ xuống nӳa và duy trì ở mức 5,5% - tương đương vӟi mức của năm 1960. Vào tháng 6/1962, Kennedy phát biểu tại buәi lễ phát bằng ở Đại hӑc Yale vӟi ý tán thành mӝt cách thăm dò “nền kinh tế mӟi”. Ông phản đối “nhӳng chuyӋn hoang đường” về kinh tế, kể cả “chuyӋn hoang đường” cho rằng nhӳng thâm hụt về ngân sách là đương nhiên xấu. Tuy vậy, Kennedy đã không quyết đӏnh đưӧc mӝt sӵ cắt giảm lӟn về thuế cho đến cuối năm đó. Điều cuối cùng thuyết phục đưӧc ông là phản ứng đầy nhiӋt huyết đối vӟi mӝt bài diễn văn vào tháng 12 trưӟc Câu lạc bӝ kinh tế của New York, trong đó ông đã minh hӑa viӋc cắt giảm thuế như là viӋc cất đi “gánh nặng đối vӟi thu nhập cá nhân và nhӳng vấn đề ngăn cản các sáng kiến cá nhân do bӏ áp đặt bởi chính hӋ thống thuế hiӋn tại của chúng ta”. Khán giả, chủ yếu là nhӳng doanh nhân theo phe Cӝng hòa, đã phản ứng mӝt cánh nồng nhiӋt. Kennedy nói “Nếu tôi có thể thuyết phục đưӧc hӑ, thì tôi cũng có thể thuyết phục đưӧc bất kỳ người nào”.[64] Thӵc tế, ông đã không thể làm đưӧc viӋc này. Mӝt khi lời đề nghӏ đưӧc đưa ra trưӟc Quốc hӝi, thì nó suy yếu đi. Nhӳng người theo đảng Cӝng hòa dán cho nó cái mác “canh bạc lӟn nhất trong lӏch sӱ”. Mặc dù có mӝt số nhóm doanh nghiӋp ủng hӝ Kennedy, nhưng sӵ ủng hӝ của công chúng lại không gây đưӧc ấn tưӧng gì. Tháng 10/1963, Hạ nghӏ viӋn rốt cuӝc đã thông qua mӝt dӵ luật, số 271-151, nhưng viễn cảnh về hành đӝng của Thưӧng viӋn vẫn mù mờ. Sau vụ ám sát Kennedy vào tháng 11, mӝt cuӝc điều tra dư luận cho thấy “thiếu tinh thần trách nhiӋm về mặt tài chính” là mӝt khía cạnh không đưӧc tán thành nhất trong thời kỳ điều hành của ông. Không ai có thể biết đưӧc điều gì sẽ xảy ra nếu ông vẫn còn sống. Sӵ phê chuẩn lời đề nghӏ đó vào năm tiếp theo mӝt phần là do sӵ biết lӛi của đất nưӟc đối vӟi cái chết của ông, và mӝt phần là do sӵ tinh thông về quá trình lập pháp của Lyndon Johnson. Nhưng mӝt khi nó đã đưӧc thông qua thì dường như nó trở thành mӝt chiến thắng không cần bàn cãi. Nền kinh tế đã tăng lên 5,3% vào năm 1964 và 5,9% vào năm 1965. Mức thất nghiӋp giảm xuống mức 5% vào cuối năm 1964 và gần như là ở mức 4% mӝt năm sau đó. Trong cả hai năm, lạm phát duy trì ở mức chưa tӟi 2%. Nếu đây không phải là thiên đường kinh tế, thì còn đâu nӳa?[65] Chủ nghĩa tư bản dường như đã tiến đến mӝt tương lai vĩnh cӱu và tốt hơn. Để đánh dấu thời khắc này, tạp chí Time đã đưa Keynes lên trang bìa vào cuối năm 1965. Về biểu tưӧng, “nền kinh tế mӟi” đã tiến triển tӯ mӝt lý thuyết hàn lâm lờ mờ thành mӝt trụ cӝt của chủ nghĩa dân túy. Nó đưӧc khắp nơi áp dụng, dù là không đưӧc hiểu mӝt cách thấu đáo. Time cho rằng, nưӟc Mӻ “đã phát hiӋn ra bí mật của mӝt sӵ tăng trưởng vӳng chắc, әn đӏnh, không có lạm phát”. Nền kinh tế đã ở trong năm thứ năm của “sӵ thӏnh vưӧng to lӟn nhất, kéo dài và lan rӝng khắp trong lӏch sӱ”. Nhӳng người theo hӑc thuyết của Keynes đầu tiên đã thuyết phục nhӳng nhà kinh tế hӑc, sau đó là quần chúng và cuối cùng là nhӳng doanh nhân bảo thủ. Time nói rằng, “Hӑ tin rằng cho dù có xảy ra điều gì đi nӳa, Chính phủ, bằng cách nào đó, sẽ giӳ cho nền kinh tế hùng mạnh và tăng trưởng”. Có mӝt số dấu hiӋu cho thấy lạm phát đang nhích dần lên, nhưng Time đã tӵ tin rằng (cũng như hầu hết nhӳng nhà kinh tế hӑc đưӧc phӓng vấn) nó có thể đưӧc chặn lại mà không phải lo lắng quá nhiều.[66] III Chính trӏ hӑc, cũng như kinh tế hӑc, đã thay đәi. Tӯ đó trở đi, nhӳng cuӝc suy thoái và đình trӋ sẽ không đưӧc xem là điều không may và không thể tránh khӓi nӳa. Nhӳng người lãnh đạo chính trӏ sẽ bӏ kết tӝi bởi vì (bây giờ người ta thӯa nhận là như vậy) nhӳng chính phủ có năng lӵc có thể kiểm soát đưӧc chu kỳ kinh tế. Mặc dù “nền kinh tế mӟi” là tín ngưӥng của nhӳng người theo đảng Dân chủ, nhưng nhiều người theo đảng Cӝng hòa cũng mau chóng nắm bắt đưӧc tính phә biến, hӧp thời của nó và đi theo. “Tình trạng đầy đủ viӋc làm” trở thành mӝt tiêu chuẩn thuӝc về cả hai đảng mà dӵa vào nó người ta đo lường sӵ thành công của nền kinh tế. Sau khi đưӧc Richard Nixon lӵa chӑn giӳ mӝt chức vụ trong Ban cố vấn kinh tế của ông, Herbert Stein đã đưӧc vӏ tәng thống mӟi đắc cӱ (nhưng chưa chính thức nhậm chức) này hӓi vấn đề nào sẽ là vấn đề kinh tế nghiêm trӑng nhất của thời gian điều hành. Stein đã trả lời đó là lạm phát. Nixon phản đối: sau này Stein viết rằng: “Ông ấy ngay lập tức đã khuyến cáo tôi rằng chúng ta không đưӧc làm mức thất nghiӋp tăng lên. Lúc đó tôi đã không nhận ra rằng cảm xúc này sâu sắc đến mức nào hay nhӳng ngầm ý này nghiêm trӑng ra sao... Đất nưӟc đã coi trӑng tình trạng có viӋc làm cao và liên tục hơn cả viӋc әn đӏnh giá cả”. Nixon đặc biӋt coi trӑng điều này, bởi vì ông tin rằng ông đã thua ở cuӝc bầu cӱ năm 1960 bởi vì sӵ giảm tốc đӝ của nền kinh tế đã làm cho ông mất nhӳng lá phiếu cốt yếu. Nhưng tình cảm này đã phә biến.[67] Kết quả của kiểu suy nghĩ này là nhӳng sai lầm tương tӵ đã lặp đi lặp lại trong suốt mười lăm năm: Người ta đã đánh giá thấp lạm phát; các chính sách để “kích thích” nền kinh tế (giảm thuế, thâm hụt ngân sách, nӟi lӓng kiểm soát tiền tӋ) đã đưӧc sӱ dụng quá nhiều; và viӋc kiểm soát tiền lương - giá cả dù là “tӵ nguyӋn” hay bӏ bắt buӝc - tuy rằng đã thất bại liên miên - đều đưӧc xem là cách thức hӧp lý để củng cố lại “tình trạng đầy đủ viӋc làm” vӟi lạm phát thấp. Mơ tưởng đã chiến thắng. Người ta tin vào cái mà hӑ muốn tin. Đến năm 1966, lạm phát đã tăng lên 3,5%, mӝt mức cao so vӟi tiêu chuẩn của thập niên 50. Nhưng đó “không phải là mӝt vấn đề lӟn như lẽ ra nó phải như thế (trong tâm trí của chúng ta)”, nhà kinh tế hӑc Charles Schultze, giám đốc Cục Ngân sách dưӟi thời tәng thống Johnson sau này đã phát biểu như thế. Chính phủ và nhӳng chuyên gia dӵ báo cho khu vӵc kinh tế tư nhân đã thường xuyên đánh giá thấp lạm phát. Nhà kinh tế hӑc J. Bradford DeLong của Đại hӑc California ở Berkeley đã tường thuật rằng: “Trong tӯng năm mӝt của thập kӹ 70, dӵ báo đưӧc nhất trí (về lạm phát) đưӧc thӵc hiӋn vào cuối năm trưӟc đó đã nói giảm đi giá trӏ thӵc của lạm phát”.[68] Đường đồ thӏ biểu diễn mức đӝ tiếp thu kiến thức cӵc kỳ bằng phẳng (nghĩa là chẳng có tiếp thu thêm kiến thͱc nào mới - ND). Các đời tәng thống liên tiếp nhau, Quốc hӝi và nhӳng nhà cố vấn đều dính vào cùng mӝt hành đӝng tӵ chuốc lấy thất bại như nhau, rất giống kiểu của mӝt người bӏ ép ăn, biết viӋc tӑng đầy thức ăn là xấu nhưng không thể ngӯng đưӧc. Tại sao Nixon lại không rút đưӧc kinh nghiӋm tӯ Johnson, hay Carter không rút đưӧc kinh nghiӋm tӯ Nixon? Lời giải thích là các vӏ tәng thống xem kinh tế như là mӝt chủ đề còn lờ mờ và mang tính kӻ thuật mà buӝc hӑ phải tin cậy hoàn toàn vào các cố vấn - nhӳng nhà kinh tế hӑc chính thống rất chậm thay đәi suy nghĩ. Do đã tuyên bố vào thập niên 60 rằng hӑ có thể cải thiӋn kết quả của nền kinh tế (và do đó mà vӏ trí của hӑ cũng đưӧc nâng cao), hӑ đã miễn cưӥng thӯa nhận rằng đã phóng đại nhiều về trường hӧp của mình. Trong lúc cố khắc phục lại lời cam kết không thӵc tế lúc đầu, hӑ đã lần lưӧt làm theo mӝt loạt các lời khuyên tồi. Nhӳng ý tưởng là quan trӑng hàng đầu, và nhӳng ý tưởng đó lại sai lầm. Do nhӳng kỳ vӑng hӑ tạo ra cho công chúng và nhӳng kỳ vӑng chính trӏ là không thể đạt đưӧc nên nӛ lӵc để thӵc hiӋn nhӳng kỳ vӑng đó rốt cuӝc đã làm cho tình hình càng tӋ hại hơn. Nhưng cũng có mӝt nguyên nhân khác gây ra sӵ thất bại. Kiểm soát lạm phát là mӝt ý nghĩ đến quá muӝn màng, vӟi hầu hết các tәng thống. Nó không phải là vấn đề trung tâm mà hӑ hay các phe phái chính trӏ của hӑ theo đuәi - không phải là phần chính mà tham vӑng của hӑ muốn dành cho đất nưӟc hay cho chính bản thân hӑ - và vì thế nó chӍ đưӧc giải quyết khi lạm phát đã tăng lên. Khi nó trở nên xấu đi, hӑ không thể nào phӟt lờ nó đưӧc, nhưng nhӳng phản ứng của hӑ thì lại bất cẩn và tùy tiӋn - chủ yếu là “quản lý khủng hoảng”. Hầu hết sӵ thôi thúc đầu tiên của các vӏ tәng thống là ngăn cản lạm phát không cho nó làm hӓng nhӳng mục tiêu khác (kể cả mục tiêu về “tình trạng đầy đủ viӋc làm”) chứ không phải hy sinh nhӳng mục tiêu khác để kiềm chế lạm phát. Kết quả là nhӳng vӏ tәng thống này đã không bӓ thời gian hay không lưu ý nghiêm túc để tӵ đưa ra suy xét về nhӳng gì có thể làm hoặc nên làm đối vӟi lạm phát. Thay vào đó, hӑ lại làm theo nhӳng gì dường như là phù hӧp nhất. Tӵ cho mình là người kế nhiӋm của Franklin Roosevelt, Lyndon Johnson đã dấn thân vào mӝt Đại Xã hӝi (Great Society) của ông. Nó không chӍ bao gồm Medicare, Medicaid và “cuӝc chiến chống nghèo nàn” mà còn hơn thế nhiều[69]. Ông muốn xây dӵng các thành phố, mạng lưӟi giao thông và nhiều thứ nӳa. (Cả Bӝ Nhà ở và phát triển đô thӏ và Bӝ Giao thông đều đưӧc thiết lập dưӟi thời của Johnson). Vấn đề ViӋt Nam và lạm phát đã đe dӑa nhӳng tham vӑng của Johnson. Tӯ cuối năm 1964 đến đầu năm 1968, số lính Mӻ sang ViӋt Nam đã tăng tӯ 23.000 người lên đến hơn 500.000 người. Chi phí chiến tranh đã cạnh tranh trӵc tiếp vӟi quӻ xây dӵng Đại Xã hӝi. Johnson đã nhận thấy đưӧc tình huống nan giải, sau này ông đã viết: “Nếu tôi bӓ rơi người phụ nӳ mà tôi yêu thương thӵc sӵ - đó là Đại Xã hӝi - để dây dưa vӟi ả chiến tranh ở tận đầu bên kia thế giӟi, thì tôi sẽ mất tất cả ở quê nhà. Tất cả các chương trình của tôi. Tất cả hy vӑng của tôi... Tất cả giấc mơ của tôi”. Lạm phát, theo cách so sánh này, cùng lắm cũng chӍ là mӝt “cuӝc hẹn hò thất bại”. Chống lại nó bằng viӋc giảm tốc nền kinh tế sẽ dẫn đến mức thu về thuế bӏ co lại (lạm phát là mӝt giải pháp đưӧc ưa chuӝng có tӯ lâu đời để trang trải chi phí cho các cuӝc chiến) và sẽ làm xói mòn sâu hơn lòng ngưӥng mӝ của công chúng đối vӟi Johnson.[70] Khi Nixon và sau đó là Carter bưӟc vào Nhà Trắng, lӏch trình nghӏ sӵ của hӑ không bao gồm viӋc kiểm soát lạm phát trong đó. Tham vӑng to lӟn của Nixon là ở chính sách ngoại giao và chính trӏ. Ông muốn thoát khӓi vấn đề ViӋt Nam mӝt cách danh dӵ và sau đó đã quyết đӏnh mở ra nhӳng mối quan hӋ vӟi Trung Quốc. Như nhà sӱ hӑc Allen Matusow ở Đại hӑc Rice đã quan sát, Nixon cũng hy vӑng tạo ra mӝt sӵ tái liên kết đầu tiên về mặt chính trӏ (giӳa hai chính đảng lӟn) kể tӯ sau thời kỳ Đại Suy thoái. Nhӳng người theo đảng Cӝng hòa có thể trở thành mӝt đảng chiếm đa số, Nixon nghĩ, bằng viӋc nối kết nhӳng người theo truyền thống bảo thủ về kinh tế vӟi nhӳng người miền Nam đã hết hứng thú và nhӳng người lao đӝng thuӝc đảng Dân chủ, nhӳng người mà đã trở nên tách ly khӓi chủ nghĩa tӵ do bởi nhӳng biến đӝng về lối sống, tình dục và sắc tӝc của thập niên 60. Carter thì lại quyết tâm xóa bӓ vết nhơ của vụ Watergate, khôi phục tốc đӝ tăng trưởng kinh tế nhanh và - sau đó - trung gian hòa giải giӳa Israel và Ai Cập. Đối vӟi cả hai vӏ tәng thống này, lạm phát là mӝt sӵ chӋch hưӟng khó chӏu. Hӑ chӍ để ý khi không còn sӵ lӵa chӑn nào khác.[71] Chính sách kinh tế lúc đầu của Nixon, đưӧc chụp mũ vӟi cái tên là “chủ nghĩa thay đәi tӯng bưӟc mӝt” (gradualism), hứa hẹn sẽ giảm lạm phát mà không gây ra mӝt đau đӟn nào. Năm 1967, rốt cuӝc Johnson cũng đã đề nghӏ tăng thuế thu nhập, mà Quốc hӝi đã miễn cưӥng thông qua vào năm 1968. Khi Nixon trở thành tәng thống năm 1969, ngân sách đã chuyển sang trạng thái thặng dư mӝt lần duy nhất kể tӯ đầu thập niên 60 (và hóa ra đây là lần duy nhất cho đến tận năm 1998). Lãi suất cũng tăng lên. Ý tưởng về mӝt “chủ nghĩa thay đәi tӯng bưӟc mӝt” là mӝt sӵ giảm nhẹ về kinh tế và gây ra mӝt “sӵ ế ẩm” (nhӳng công nhân không đưӧc thuê mưӟn, dư thӯa trong công suất công nghiӋp) sẽ dần làm giảm nhӳng áp lӵc về tiền lương và giá cả. Mức thất nghiӋp, mà khi Nixon bưӟc vào Nhà Trắng là 3,4%, sẽ tăng ở mức hơn 4% mӝt chút - nghĩa là hơi nhiều mӝt chút so vӟi “tình trạng đầy đủ viӋc làm”. Sӵ cạnh tranh giӳa các công nhân và các công ty về viӋc làm và doanh thu sẽ kiềm chế lạm phát mà không gây ra mӝt cuӝc suy thoái. Hầu hết người Mӻ khó lòng mà thấy đưӧc. Các nhà kinh tế hӑc của Nixon trông chờ nhӳng kết quả tốt đẹp này vào năm 1969 và 1970. Nhưng điều xảy ra lại khác hẳn. Vào năm 1970, xảy ra mӝt cuӝc suy thoái nhẹ. Vào tháng 12, mức thất nghiӋp tăng lên 6%. Lạm phát hầu như chӍ giảm chút ít. Đó là 6,2% vào năm 1969 và 5,6% vào năm 1970. Đối vӟi công chúng và Nixon, “chủ nghĩa thay đәi tӯng bưӟc mӝt” là mӝt thất bại. Trong cuӝc bầu cӱ năm 1970, nhӳng người theo đảng Cӝng hòa đã không đạt đưӧc điều mà Nixon muốn (hӑ chӍ chiếm đưӧc ba ghế trong Thưӧng viӋn và lại để mất chín ghế trong Hạ viӋn). Ông đã nói vӟi cố vấn cấp cao của Nhà Trắng H.R. Haldeman sau cuӝc bầu cӱ rằng: “Nếu không bӏ lôi kéo về kinh tế, hẳn là chúng ta đạt đưӧc cả Hạ viӋn và Thưӧng viӋn”. Chán nản, Nixon đã thay đәi các bӝ trưởng bӝ Tài chính vào cuối năm 1970, thay David Kennedy, mӝt giám đốc ngân hàng ôn hòa, bằng John Connally, mӝt cӵu thống đốc bang Texas cường điӋu, mӝt người theo đảng Dân chủ bảo thủ, người đã ngồi cùng xe vӟi tәng thống John Kennedy khi ông bӏ ám sát. Nixon xem Connally như là mӝt đối tác trong viӋc xây dӵng lại sӵ ủng hӝ đa số mӟi và thậm chí còn xem ông ta như là mӝt người kế tục vai trò tәng thống của mình. Công viӋc đầu tiên của Connally là phản kháng gay gắt nhӳng cuӝc tấn công của Đảng Dân chủ. Để làm xấu mặt Nixon, phe Dân chủ trong Quốc hӝi đã thông qua mӝt pháp lӋnh vào tháng 8/1970 trao quyền hӧp pháp cho tәng thống để đưa ra nhӳng kiểm soát về tiền lương-giá cả. Không ai trông mong là Nixon sẽ sӱ dụng quyền lӵc này, vì ông và nhӳng cố vấn của mình công khai phản đối nhӳng biӋn pháp kiểm soát. ViӋc không thích kiểm soát của Nixon là theo bản năng. Suốt Thế chiến II ông đã phục vụ cho Văn phòng Quản lý Vật giá - mӝt cơ quan giám sát nhӳng kiểm soát thời chiến - và trở nên thù ghét chế đӝ phân bә và nhӳng cái không hiӋu quả của nhӳng quy đӏnh về tiền lương-giá cả. Đối vӟi người theo đảng Dân chủ, luật này là mӝt đòn giáng nặng nề vào quan hӋ công chúng. Nó cho phép hӑ tấn công vào Nixon vì sӵ thất bại của giải pháp hạ nhiӋt để kiềm chế lạm phát; vì thế, hӑ cũng có thể bắt ông phải chӏu trách nhiӋm về mức thất nghiӋp bӏ vưӧt quá.[72] Nixon cuối cùng đã làm đất nưӟc sӳng sờ và hài lòng khi ông công bố mӝt sӵ әn đӏnh về tiền lương-giá cả kéo dài 90 ngày vào 15/8/1971, khi mӝt phần của chương trình là để cho đồng đôla sụt giá và tӯ bӓ viӋc cam kết trả vàng cho các chính phủ nưӟc ngoài vӟi lưӧng đôla mà hӑ đang nắm giӳ. Quyết đӏnh này đơn giản là đã không đếm xӍa đến thái đӝ thù đӏch trưӟc đây của chính phủ đối vӟi viӋc kiểm soát. Vào tháng 6, Connally đã công bố bốn “không” trong chính sách của chính phủ: không kiểm soát; không bảng tiền lương-giá cả (nghĩa là không kiểm soát tӵ nguyӋn); không cắt giảm thuế để kích thích nền kinh tế; và không tăng chi tiêu chính phủ (vӟi cùng mục đích). Sau này nhìn lại, có thể dễ nghĩ rằng Nixon đã chấp nhận kiểm soát vì nhӳng lý do chính trӏ thô bӍ: Ông muốn cắt lạm phát như thế thì mӟi có thể kích thích viӋc tạo ra viӋc làm và đảm bảo cuӝc tái tuyển cӱ của ông vào năm 1972. Chắc chắn đó là mӝt phần của nhӳng gì đã xảy ra. Cả ngân sách Liên bang và chính sách của cục Dӵ trӳ trở nên mở rӝng vào cuối năm 1971. Vào tháng 6/1972, mức thất nghiӋp đã giảm xuống mức 5,5% so vӟi mức 6,1% vào tháng 8/1971. Nixon - bӏ phá hủy bởi nhӳng toan tính chính trӏ và bӏ ám ảnh ở viӋc đưӧc tái đắc cӱ - đã hiểu đưӧc nhӳng ngầm ý đó. Chắc chắn là ông đã thӵc hiӋn viӋc kiểm soát để cải thiӋn nhӳng triển vӑng của ông. Tuy vậy, sӵ đảo lӝn của ông cũng không hoàn toàn là mӝt hành đӝng tư lӧi về chính trӏ. Ở diӋn rӝng, ông đơn thuần đã đầu hàng trưӟc nhӳng sức ép quá mạnh tӯ công luận và nhӳng quan niӋm phә biến (conventional wisdom). Nixon “đã tӯ bӓ chủ nghĩa thay đәi tӯng bưӟc mӝt hầu như chӍ sau mӛi cá nhân xuất chúng của Đảng Dân chủ, hầu hết nhӳng nhà kinh tế hӑc chuyên nghiӋp, mӝt số lưӧng ngày càng tăng nhӳng người thuӝc Đảng Cӝng hòa, rất nhiều nhӳng cӝng đồng kinh tế, (chính nhӳng nhà kinh tế hӑc của ông) và công chúng buӝc ông phải làm như vậy”, lӏch sӱ gia Matusow đã viết như vậy. Mӝt cuӝc điều tra dân ý đã cho thấy 75% công chúng đồng thuận; mà chӍ mӝt thời gian ngắn trưӟc đó thì 73% đã không tán thành nhӳng chính sách kinh tế của ông. Cuối cùng, viӋc áp dụng sӵ kiểm soát đã giúp ông tái đắc cӱ, nhưng khi nhӳng kiểm soát này đưӧc tháo dӥ đi - sau khi đã trở nên không đưӧc ưa chuӝng và không thể kiểm soát đưӧc nӳa - thì lạm phát đã bùng nә ở mức hai chӳ số.[73] Xét đến lӏch sӱ - thất bại của Nixon và trưӟc đó là thất bại của Johnson ở viӋc kiểm soát lạm phát - điều ngạc nhiên là chính quyền Carter đã lâm vào tình trạng thậm chí còn tӋ hại hơn. Nhưng nó đã như thế. Đến đầu năm 1980, lạm phát gần như chạy đua ở mức 15% hàng năm. Lời giải thích chẳng gì là bí mật hết: “Tình trạng đầy đủ viӋc làm” vẫn là mӝt vấn đề ám ảnh. Đә lӛi nhӳng bùng nә tӋ hại nhất của lạm phát cho chiến tranh ViӋt Nam và nhӳng bùng nә về giá dầu - nhӳng sӵ kiӋn cũ rích đã miễn tӝi cho nhӳng chính sách kinh tế chuẩn tắc - đã gây ra mӝt sӵ tӵ mãn có tính tàn phá. ChӍ trưӟc khi Carter nhậm chức, cơ quan đӝc lập là Văn Phòng Ngân sách quốc hӝi (CBO - Congressional Budget Office) đã cho ra mӝt báo báo vӟi nhan đề S͹ khôi phͭc đầy thất vọng. Bài viết thể hiӋn mối lo ngại rằng thất nghiӋp có thể vưӧt mức 6,5% vào cuối năm 1978. Nó đề nghӏ nhӳng chính sách (giảm thuế, tăng chi tiêu) để cải thiӋn viễn cảnh viӋc làm. Carter đã xem xét đúng mӝt kế hoạch “kích thích” như thế. Lạm phát lúc đó là khoảng 6%, nhưng bài viết đã không thảo luận làm thế nào có thể giảm nó. Tại mӝt cuӝc điều trần ở quốc hӝi, người đứng đầu CBO Alice Rivlin đã nói rằng chương trình “kích thích” của Carter sẽ chӍ có mӝt tác đӝng “khá nhӓ bé” đối vӟi lạm phát. CBO dӵ báo rằng vào cuối năm 1978, lạm phát sẽ đâu đó giӳa 3,8% và 5,8%.[74] Tất cả nhӳng dӵ báo này là hết sức không chính xác. Vào cuối năm 1977 - trưӟc khi mà chương trình “kích thích” của Carter có nhiều tác đӝng đến thế - thì mức thất nghiӋp giảm xuống 5,4% và lạm phát lại tăng lên gần 7%. Nhưng cả quan điểm của Rivlin và các chính sách của Carter đều phản ánh dòng suy nghĩ chính thống. Cũng chính tại cuӝc điều trần đó, Paul McCracken, chủ tӏch đầu tiên của Hӝi đồng cố vấn kinh tế của Nixon, đã ủng hӝ mӝt chương trình “kích thích”, bào chӳa rằng rủi ro của lạm phát sẽ “chấp nhận đưӧc”. Sau này, kiểm chứng trưӟc mӝt ủy ban quốc hӝi khác, Reginald Jones, lúc đó là người đứng đầu General Electric, thậm chí còn nhấn mạnh hơn nӳa ở viӋc ưu ái mӝt chương trình “kích thích”. Ông nói: “Đây đó còn có quá nhiều sӵ trì trӋ trong nền kinh tế vào thời buәi này đến nӛi chúng ta tin rằng mӝt chương trình giảm thuế thường xuyên và nhӳng chương trình hưӟng nghiӋp vӟi quy mô khá nhӓ sẽ không gây ra lạm phát hay nhӳng thâm hụt không thể quản lý (nhưng) còn hơn là sẽ củng cố nền kinh tế để chống chӑi vӟi lạm phát và nhӳng thâm hụt trong tương lai”. IV Nhìn lại, thật dễ kết tӝi đối vӟi tất cả nhӳng sai lầm hàng loạt này. Chắc chắn, nhӳng vӏ tәng thống, nhӳng nhà kinh tế hӑc và nhӳng người cố vấn, nhӳng người tӯng đӏnh hình chính sách kinh tế tӯ thập niên 60 đến cuối thập niên 70 không thể nào hãnh diӋn đối vӟi công trình do chính tay mình tạo ra này. Kết quả thӵc hiӋn kinh tế của đất nưӟc cứ đều đều bӏ hủy hoại. Mӛi vӏ tәng thống tӯ Kennedy đến Carter đã góp phần vào sӵ thất bại ngoại trӯ mӝt ngoại lӋ có thể có: Gerald Ford. Hầu như tӯ thời điểm tӯ chức của Nixon vào tháng 8/1974 - nhục nhã và đối mặt vӟi sӵ buӝc tӝi trong vụ Watergate - Ford đã tập trung vào lạm phát. Vào tháng 9, ông triӋu tập mӝt hӝi nghӏ tại Nhà Trắng về vấn đề lạm phát, mà ông công bố là “kẻ thù trong nưӟc số mӝt của chúng ta”. Nhà Trắng đã ban ra WIN buttons (WIN là chӳ viết tắt của “Whip Inflation Now” - Hãy quất vào lạm phát ngay bây giờ), mặc dù về sau nhӳng vấn đề này gây ra sӵ dè bӍu bởi vì chúng trùng hӧp vӟi mӝt cuӝc suy thoái đang dần lӝ ra mà hóa ra là khắc nghiӋt đến không ngờ.[75] Nhưng cuӝc suy thoái đã có làm giảm lạm phát tӯ mức 12,3% vào năm 1974 xuống còn 4,9% vào năm 1976. Tài năng của Ford đã đưӧc đặt đúng chӛ, và nếu Ford có thêm đưӧc mӝt nhiӋm kỳ tәng thống thứ hai nӳa thì biết đâu lạm phát còn giảm nhiều hơn. Điều này thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết đưӧc. Nhưng thật sai lầm để đә tӝi cho cá nhân, trong khi nguồn gốc sai lầm là nằm ở nhӳng hӑc thuyết hiӋn hành. Đó là sức mạnh của ý tưởng đã gây ra sӵ thất bại, chứ không phải do nhӳng kém cӓi của cá nhân. Tất cả nhӳng vӏ tәng thống này và nhӳng người cố vấn của hӑ đã theo nhӳng khái niӋm cơ bản giống nhau mà, cho dù có nhӳng khác biӋt hết sức khiêm tốn và có nhӳng bất đồng vẫn không thể nào tránh khӓi viӋc dẫn hӑ đi đến nhӳng quyết đӏnh tồi tӋ nhân danh chính nghĩa. Nhӳng con người khác nhau nếu chấp nhận nhӳng quan điểm như nhau thì sẽ có kết cục gần như giống nhau vậy. Vì logic chính trӏ của “nền kinh tế mӟi” hầu như đảm bảo lạm phát xảy ra, do đó lạm phát sẽ tӵ đӝng tăng cao đến mức không thể kìm hãm lại mà không hề gây ra đau thương. ViӋc nóng lòng đưa mức thất nghiӋp xuống càng thấp càng tốt là mӝt tai hӑa. Các chính trӏ gia sẽ đòi hӓi nhӳng chính sách khuyến khích tạo ra viӋc làm cho đến khi có mӝt lý do nào đó để ngӯng lại - sӵ bùng nә của lạm phát nghiêm trӑng là giӟi hạn duy nhất rõ ràng. Nếu đó là mức thất nghiӋp 4%, theo ưӟc tính ban đầu của các nhà kinh tế hӑc về “tình trạng đầy đủ viӋc làm”, thì tốt. Nếu thấp hơn nӳa thì càng tốt. Các nhà kinh tế hӑc thӯa nhận rằng nhӳng ưӟc tính của hӑ là không chính xác, đã để mất thời gian mӝt cách đáng kể để thăm dò cho đến khi đạt đưӧc nhӳng giӟi hạn thӵc. Sӵ thật là thất nghiӋp có khuynh hưӟng giảm trưӟc khi lạm phát tăng lên (phản ánh mӝt “sӵ trễ” giӳa các thӏ trường lao đӝng khan hiếm và tiền lương cao hơn) chӍ làm cho chính sách càng thêm mạo hiểm. Nӛi ám ảnh về mӝt mức thất nghiӋp thấp dần có nghĩa là, thậm chí nếu không có chiến tranh ViӋt Nam hay sӵ bùng nә của giá dầu, lẽ ra phải có mӝt mức lạm phát cao. Kết quả này đưӧc gắn sẵn trong hӋ thống. Mӑi thứ đều dӵa trên mӝt ảo giác, đó là đường cong Phillips: quan điểm cho rằng có mӝt mối liên hӋ không đәi giӳa lạm phát và thất nghiӋp. Nếu đúng, điều đó có nghĩa là mӝt xã hӝi có thể chủ ý quyết đӏnh viӋc nó muốn cái này hay cái kia bao nhiêu tùy thích. Ví dụ như, nếu mức 4% thất nghiӋp và 4% lạm phát có vẻ như là tốt hơn so vӟi mức 5% thất nghiӋp và 3% lạm phát, thì mӝt xã hӝi có thể chӑn lӵa giải pháp đầu. Vấn đề là ở chӛ mối liên hӋ đó đã không tồn tại, ngoại trӯ nhӳng giai đoạn ngắn ngủi. Trong mӝt bài luận quan trӑng, nhà kinh tế hӑc Milton Friedman đã giải thích rằng, nếu chính phủ cố giӳ mức thất nghiӋp dưӟi mӝt “mức tӵ nhiên” nào đó, thì đơn giản kết quả sẽ là viӋc tăng tốc lạm phát. Nhà kinh tế hӑc Edmund Phelps của Đại hӑc Columbia hầu như cũng đã đồng thời phát triển quan điểm này. Theo logic của hӑ, nhӳng nӛ lӵc của chính phủ để đè thất nghiӋp xuống tӟi nhӳng mức phi thӵc tế tất phải thất bại. Mức thất nghiӋp thấp hơn sẽ xảy ra trong mӝt khoảng thời gian ngắn bởi vì công nhân đã không lường trưӟc đưӧc lạm phát. Nhu cầu tăng lương của hӑ sẽ chậm hơn nhӳng mức tăng giá, làm cho lao đӝng rẻ hơn trong nhӳng thời hạn “thӵc” và gây ra viӋc các công ty thuê mưӟn nhiều người hơn. Mӝt khi công nhân đã nhận thức đưӧc lạm phát cao hơn - nghĩa là, nhӳng kỳ vӑng của hӑ ở lạm phát thay đәi - thì hӑ sẽ đòi mức lương cao hơn, làm giảm đi nhӳng đӝng cơ để các công ty thuê thêm người. Lúc đó thất nghiӋp sẽ quay trở lại mức “tӵ nhiên” của nó, trӯ khi giờ đây lạm phát cũng lại trở nên cao hơn. Cách duy nhất mà chính phủ có thể giӳ thất nghiӋp dưӟi “mức tӵ nhiên” sẽ là làm tăng lạm phát vô hạn đӏnh, có như thế công nhân mӟi lại bӏ lӯa phӍnh về tiền lương của hӑ.[76]Friedman khuyến cáo, thậm chí viӋc nhắm vào “mức tӵ nhiên” cũng khó khăn, bởi vì người ta không thể ưӟc tính nó trưӟc mӝt cách chính xác và có thể nó cũng thay đәi qua thời gian, do bӏ tác đӝng bởi đặc điểm của lӵc lưӧng lao đӝng (như đӝ tuәi, trình đӝ hӑc vấn, thái đӝ) và luật pháp và các thể chế (như lương tối thiểu, bảo hiểm thất nghiӋp). Ví dụ, mӝt quốc gia có mức bảo hiểm thất nghiӋp hào phóng có thể có mӝt “mức tӵ nhiên” cao hơn là mӝt quốc gia có mức bảo hiểm thất nghiӋp ít ӓi: Nhӳng công nhân không có viӋc làm ở quốc gia đầu sẽ có ít lý do để nhận lấy mӝt công viӋc mӟi mà hӑ không thích. Nhӳng gì thӵc sӵ xảy ra vào thập niên 70 - sӵ tăng tốc nhanh và әn đӏnh của lạm phát - tất cả đều đưӧc dӵ báo trưӟc bởi Friedman và Phelps. Nhưng nhӳng ý kiến tốt không thể tӵ phát thế chӛ cho nhӳng ý kiến tồi cho đến khi kinh nghiӋm thӵc tế chứng minh đưӧc nhӳng khác biӋt, đặc biӋt là vì nhӳng ý kiến tồi về mặt chính trӏ lại hấp dẫn hơn nhӳng ý kiến tốt. Vào cuối thập niên 70, lạm phát chủ yếu là mӝt hiӋn tưӧng có tính chính trӏ và tâm lý, điều này chӍ có thể đảo ngưӧc lại vӟi điều kiӋn là quan điểm chính trӏ và tâm lý nền tảng đó đưӧc thay đәi. Người Mӻ - nhӳng công nhân, nhӳng người mua sắm, các chủ doanh nghiӋp nhӓ và các nhà quản lý công ty - tin rằng lạm phát, cũng như mức đӝ hӑ ghét nó, là mӝt quãng đường tạm thời trong cuӝc sống. Chính phủ sẽ không kìm hãm nó, bởi vì làm như thế về mặt chính trӏ sẽ liên quan đến nhӳng chi phí xã hӝi cao và không thể chấp nhận đưӧc - mức thất nghiӋp cao hơn, mức thu nhập và lӧi nhuận thấp hơn. Miễn là người dân còn tin vào điều này, có nghĩa là miễn là hӑ còn nuôi dưӥng nhӳng kỳ vӑng ở mức lạm phát cao, thì hӑ sẽ hành đӝng theo cách làm cho sӵ phát triển nhanh của lạm phát trở nên tӵ thӵc hiӋn. Công nhân sẽ tìm kiếm sӵ tăng lương để bù cho lạm phát đã qua, cӝng thêm mӝt chút, và các công ty sẽ đáp ứng nhӳng kỳ vӑng này, bởi vì hӑ tin rằng hӑ có thể khắc phục chi phí nhân công cao hơn ở giá cả cao hơn. Lạm phát sẽ tӵ nuôi dưӥng nó, và nếu chính phủ chấp nhận nó bằng viӋc tạo ra mӝt lưӧng tiền lӟn hơn bao giờ hết, thì nó sẽ không thể nào dӯng lại đưӧc. 3. SỰ NỐI KẾT TIỀN TỆ I Trong số nhӳng điểm nәi bật nơi công cӝng ở Washington thì Cục Dӵ trӳ liên bang không nằm trong nhӳng công trình hàng đầu. Đưӧc đặt gần Đài tưởng niӋm Lincoln và xây theo kiểu cә điển, vẻ bên ngoài đơn sơ của nó trái ngưӧc vӟi phần nӝi thất cao sang của nhӳng hành lang và cầu thang bằng đá cẩm thạch bên trong, phù hӧp vӟi vai trò là mӝt thành trì mang tính biểu tưӧng cho nền kinh tế của nưӟc Mӻ. Thông qua ảnh hưởng của nó đối vӟi lãi suất và lưӧng cung tiền, “Cục Dӵ trӳ”, hay Fed - như cái tên mà thông thường người ta vẫn gӑi - là mӝt kẻ đồng lõa chính trong cuӝc Đại lạm phát. Trách nhiӋm của nó nảy sinh tӯ sӵ thật hiển nhiên là tất cả nhӳng cuӝc lạm phát lӟn đều có liên quan đến “quá nhiều tiền đang đuәi bắt quá ít hàng hóa”. Lạm phát thời bình tồi tӋ nhất của Mӻ xảy ra bởi vì chính phủ, thông qua Cục Dӵ trӳ, đã tạo ra quá nhiều tiền. Cục Dӵ trӳ không nhóm lên ngӑn lӱa, nhưng nó cung cấp khí oxy để giӳ cho ngӑn lӱa bùng cháy, và mӝt khi nó ngưng không cung cấp khí oxy nӳa, thì ngӑn lӱa kia cũng lụi tàn. Nếu không có sӵ đồng ý ngầm của Cục Dӵ trӳ thì cuӝc Đại lạm phát có thể đã không xảy ra. Chính Milton Friedman là người đã phә biến lý lẽ cho rằng lạm phát “luôn luôn và ở bất kỳ nơi nào cũng là mӝt hiӋn tưӧng tiền tӋ theo nghĩa nó chӍ có thể đưӧc tạo ra khi số lưӧng tiền tăng nhanh hơn sản lưӧng (kinh tế)”. Lời nhận xét của Friedman chӍ đơn thuần trình bày lại “lý thuyết đӏnh lưӧng về tiền tӋ” cә điển, mà có ít nhất tӯ thời của nhà triết hӑc Scotland David Hume (1711-1776). Quan niӋm cơ bản của lý thuyết này mang tính hiển nhiên theo trӵc giác, như mӝt ví dụ đơn giản dưӟi đây cho thấy. Giả sӱ mӝt xã hӝi sản xuất ra 10 đơn vӏ hàng hóa và có mӝt lưӧng cung tiền tӋ là 10 đôla. Lúc đó giá của mӛi đơn vӏ là 1 đôla. Nếu tăng lưӧng cung tiền lên gấp đôi là 20 đôla trong khi xã hӝi đó vẫn sản xuất ra đưӧc 10 đơn vӏ hàng hóa, thì mӛi đơn vӏ hàng hóa bán đưӧc 2 đôla. Kết quả là mức lạm phát 100%. [77] Đối vӟi nhӳng lạm phát nhӓ, có thể có nhӳng nguyên nhân khác: cầu vưӧt quá cung (ví dụ như do dân số tạm thời tăng nhanh hơn viӋc sản xuất lương thӵc) hay ngành kinh doanh đӝc quyền và nhӳng quy đӏnh về lao đӝng. Nhưng nhận xét của Friedman áp dụng cho tất cả lạm phát vưӧt quá vài điểm phần trăm[78]hàng năm, và lẽ dĩ nhiên là nó đưӧc áp dụng cho lạm phát của Mӻ. Như đӏnh nghĩa phә biến trong thập kӹ 50 và 60, lưӧng cung tiền tӋ gồm có tiền mặt đưa vào lưu thông và các tài khoản thanh toán trong các ngân hàng. Trong thập kӹ 50, mức phát triển của lưӧng cung tiền tӋ là 23% chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của mӝt nền kinh tế đang mở rӝng. Ngưӧc lại, mức phát triển là 44% trong thập kӹ 60 và 78% trong thập kӹ 80. Theo đó thì lạm phát cũng trở nên tồi tӋ hơn.[79] Chính vấn đề tại sao Cục Dӵ trӳ lại tham gia vào lạm phát hai chӳ số mӟi là phần trӑng tâm trong câu chuyӋn của chúng ta. Lời giải thích cay đắng nhất là tӯ Arthur Burns, chủ tӏch Cục Dӵ trӳ tӯ năm 1970 đến 1978. Khi Nixon bә nhiӋm ông, Burns là mӝt trong nhӳng nhà kinh tế hӑc đưӧc trӑng vӑng nhất của đất nưӟc. Vӟi hình ảnh là mӝt vӏ giáo sư ngậm ống tẩu trưӟc đây tại trường đại hӑc Columbia, ông đưӧc xem là mӝt chuyên gia ưu viӋt ở lĩnh vӵc chu kỳ kinh doanh của Mӻ và đã đứng đầu Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia (National Bureau of Economic Research), mӝt cơ quan hӑc thuật đầy uy tín. Bất chấp nhӳng thành tích ấn tưӧng này, nhӳng gì Burns làm đưӧc trong vai trò chủ tӏch Cục Dӵ trӳ thật là ảm đạm. Trong suốt nhiӋm kỳ của ông, lạm phát tăng tӯ 5,9% lên tӟi mức cao nhất là 11% vào năm 1975. Trong năm 1978, nó vẫn giӳ ở mức 7,7%. Nền kinh tế cũng hứng chӏu điều này và tiếp đến là hứng chӏu cuӝc suy thoái tồi tӋ nhất kể tӯ sau Thế chiến II kéo dài tӯ năm 1973 đến 1975. Burns biết rằng thanh danh của ông bӏ ô uế, và có lẽ đã bӏ hủy hoại. Tháng 9 năm 1979, ông đã có mӝt bài diễn thuyết dài đưӧc gӑi là “Nӛi thống khә của ngân hàng trung ương”. Đó là mӝt lời biӋn hӝ, mӝt lời xin lӛi và mӝt nӛ lӵc để cứu nguy di sản của mình. (“Ngân hàng trung ương” ở đây chӍ nhӳng ngân hàng đưӧc chính phủ tạo ra, giống như Cục Dӵ trӳ, nói chung điều tiết hӋ thống tiền tӋ và tài chính của mӝt quốc gia).[80] Burns thӯa nhận rằng Cục Dӵ trӳ “có sức mạnh để phá bӓ lạm phát ở giai đoạn phôi thai vào mười lăm năm trưӟc hay bất kỳ thời điểm nào sau này”. Nếu lạm phát là viӋc quá nhiều tiền đang đuәi bắt quá ít hàng hóa, thì Cục Dӵ trӳ lẽ ra đã đánh bại nó bằng viӋc cung ứng ít tiền hơn. Thật ra, Cục Dӵ trӳ cũng đã “giẫm mạnh lên phanh tiền tӋ” vào năm 1966, 1969 và 1974, Burns nói. Nhưng rủi thay, nhӳng tác đӝng ban đầu lại là mӝt nền kinh tế trì trӋ và mức thất nghiӋp cao hơn - đó là nhӳng tӝi lӛi chính của xu hưӟng chính trӏ mӟi. Vì thế mӛi lần Cục Dӵ trӳ giảm cung tiền nhanh chóng trưӟc khi lạm phát nә ra, thì đều phải đầu hàng trưӟc sӵ chӍ trích tӯ Quốc hӝi và chính phủ. Cục Dӵ trӳ đã không thể bất chấp ý kiến của công chúng, Burns tranh luận. Ông nói rằng sӵ thӏnh vưӧng sau Thế chiến II đã “củng cố kỳ vӑng của công chúng về sӵ phát triển”. Đạo luật lao đӝng năm 1946 yêu cầu phải tối đa hóa viӋc làm. Quốc hӝi đã tạo ra nhӳng chương trình xã hӝi mӟi (phiếu đәi thức ăn, Medicare[81]) và mở rӝng nhӳng chương trình cũ (An sinh xã hӝi). Cục Dӵ trӳ phải cung cấp tiền để trả cho nhӳng phúc lӧi mӟi. Cục Dӵ trӳ không thể coi thường “ý chí của Quốc hӝi, cơ quan mà nó (Cục Dӵ trӳ) có trách nhiӋm báo cáo lên”. Vì thế, vai trò của Cục Dӵ trӳ trong viӋc thúc đẩy lạm phát chӍ là “phụ trӧ”, Burns tuyên bố. Nhӳng thủ phạm đích thӵc chính là “nhӳng hӑc thuyết về triết hӑc và chính trӏ” đã tạo ra nhӳng áp lӵc lạm phát. Đánh bại lạm phát đòi hӓi phải có mӝt “môi trường chính trӏ” mӟi. Lời giải trình của Burns chứa đӵng rất nhiều sӵ thật. Xu hưӟng xã hӝi và chính trӏ đã thay đәi; Cục Dӵ trӳ không thể nào tách rời hoàn toàn nӳa. Mặc dù về lý thuyết Cục Dӵ trӳ mang tính “đӝc lập” và nhӳng thành viên của nó không phải thông qua bầu chӑn, nhưng hӑ không thể thường xuyên bất chấp nhӳng trông đӧi của đại bӝ phận công chúng. Hoặc là hӑ phải làm theo nhӳng gì mà các vӏ lãnh đạo chính phủ muốn hoặc là thuyết phục nhӳng vӏ này rằng nhӳng chính sách của Cục Dӵ trӳ là nên làm, thậm chí nó có khó chӏu đi nӳa. Trӯ điều này ra thì “sӵ đӝc lập” của Cục Dӵ trӳ là dễ bӏ tấn công. Bảy thành viên Hӝi đồng thống đốc của Cục Dӵ trӳ đưӧc tәng thống chӍ đӏnh và Thưӧng viӋn phê chuẩn; sӵ lӵa chӑn và phê chuẩn (hay không phê chuẩn) nhӳng người mӟi này cho phép các nhà lãnh đạo chính trӏ thể hiӋn sӵ không thӓa mãn và thӵc thi sӵ ảnh hưởng của hӑ. Nếu điều đó không thӵc hiӋn đưӧc, thì tәng thống và Quốc hӝi có thể hạn chế quyền hạn của Cục Dӵ trӳ bằng viӋc điều chӍnh đӏa vӏ pháp lý của nó. Vì thế mà lời giải trình của Burns chӍ đúng có mӝt nӱa. Điều đang làm sai lạc là ông ngầm cho rằng Cục Dӵ trӳ bӏ lôi kéo vào viӋc ngoài ý muốn là thúc đẩy mӝt cuӝc lạm phát. Trong thӵc tế thì nó có dính líu đến vấn đề này. Cục Dӵ trӳ